Phải chăng Chế Ðộ Dân Chủ Tự Do và Kinh Tế Thị Trường là mô hình tổ chức nhân xã cuối cùng của nhân loại?
Trích từ Diển Đàn Dân Chủ
Lời dịch giả Trực Ngôn:
Thưa Quí Anh Chị và Quí vị Ðộc giả,
nhân đọc bài phỏng vấn ông Francis Fukuyama, tôi thấy
hay và có nhiều ý nghĩa, tôi xin tạm lược dịch,
để chúng ta cùng đọc, cùng suy nghĩ, cùng
đặt câu hỏi : «
Phải chăng chế độ dân chủ tự
do và kinh tê thị trưòng là mô hình tổ chức nhân
xã cuối cùng của nhân loại ? « , ngõ hầu tìm ra
một hoặch đồ tổ chức nhân xã thích hợp
cho đất nưóc chúng ta, để thay thế cho hoạch
đồ tổ chức nhân xã Mác Lê đã lỗi thời,
đang kìm hãm đất nưóc Việt trong độc
đoán, độc tài và chậm tiến.
Ông Francis Fukuyama, mà tôi có dịp nói tới trong một
số bài của tôi đăng trên mạng Internet Diễn
Ðàn Trí Thưc, báo Con Ong và một số báo ngưòi Việt
hải ngoại, hiện là giáo sư kinh tế chính trị
quốc tế tại đại học John Hopkins, Hoa thịnh
Ðốn, với quyển sách nổi tiếng «
The End of History and The Last Man «
( Sự
Kết Thúc Lịch sử và Con Nguòi cuối cùng),
xuất bản năm 1992. Sự kết thúc lịch sử
đây không phải là sự kết thúc lịch sử
những biến cố, mà là sự kết thúc tiến
trình hình thành những mô hình tổ chức nhân xã,
đi từ mô hình nhiều mâu thuẫn đến ít
mâu thuẫn, từ tổ chức nhân xã thô sơ bộ
lạc, qua chế độ quân chũ phong kiến, dộc
đoán độc tài quân phiệt hay mác xít, rồi sau
cùng tới chế độ dân chủ tự do ; và con
nguòi sống ở chế độ dân chủ tự do
là mẫu người cuối cùng.
Bài phỏng vấn đuọc tuần báo Pháp, Le
Nouvel Observateur, số 1936,á từ ngày 13 tới ngày
19/12/2001, thực hiện. Quí vị nào muốn đọc
bản chính, xin tìm số báo trên.
«
Không có một chế độ nào thay thế chế
độ dân chủ tự do và kinh tế thị truòng
mà có thể đứng vững và tồn tại. »
( Francis Fukuyama )
Le
Nouvel Observateur :
«
Chiến tranh tôn giáo, tiếng đổ vỡ của
những nền văn hóa, sự xung đột, kình chống
giữa những nền văn minh : cái nhìn bi quan của
Samuel Huntington, người đối thủ to lớn của
ông, có vẻ như đưọc xác nhận... »
Francis
Fukuyama :
« Huntington là giáo sư của tôi ở đại học
Harvard. Tôi kính trọng ông. Phải chăng những sự
đổ vỡ của lịch sử bắt nguồn từ
những nguyên do văn hóa hay tôn giáo hơn là những
nguyên do ý thức hệ ? Tôi không
rõ. Nhưng ông có lý khi ông hoài nghi
về sự thâu hút của những giá trị Tây
phương, hoài nghi về sự kiện phầøn còn lại
của thế giới chấp nhận những giá trị
trên một cách tự động. Hoa kỳ cũng nhận
thấy thế giới Hồi giáo chối bỏ một
số giá trị của Hoa Kỳ, qua việc Hoa Kỳ gặp
những khó khăn trong việc làm thế nào để
hội nhập
những làn sóng di dân mới, làn sóng nàyï chối
từ hố xâu ngăn cách chung và tìm cách giữ lại
văn hóa và những giá trị của mình, tương
tự như
những dân di trú của quí quốc la ó bài quốc
ca Pháp «
La Marseillaise « , trong một trận đá banh . »
Le Nouvel Observateur :
«
Phải chăng ông đã lầm khi ông tiên đoán
«
Sự
Kết thúc lịch sử
« , theo đó chế độ dân chủ tự do
và chủ nghĩa tư bản sẽ là tương lai không
cưõng lại đưọc của phần thế giới
còn lại. »
F. Fukuyama :
« Không phải như vậy. Tôi không bao giờ
ngây thơ nghĩ rằng lịch sử là một
đưòng thẳng, rằng con đưòng dẫn tới
tiến bộ loại trừ những giai đoạn dật
lùi hay những giai đoạn bất động.
Nhưng tôi quả quyết rằng không có một thể
chế nào thay thế chế độ dân chủ tự
do và kinh tế tự do mậu dịch mà có thể đứng
vững và tồn tại. Trong ngắn hạn, chính chế
độ dân chủ tự do và kinh tế mậu dịch
tự do sẽ dẫn dắt nhân loại tới tiến
bộ và tới thềm của «
lịch sử «
theo nghĩa mà nhà triết học Hegel đã dùng.
Hãy nhìn chung quanh chúng ta. Ðâu là những quốc gia đã
chống lại giá trị của dân chủ tự do và
kinh tế mậu dịch tự do và đề nghị một
chế độ thay thế chế độ này ? Trung quốc
? Quốc gia này cuối cùng đã chọn kinh tế thị
trưòng để thoát khỏi tình
trạng chậm tiến, và mới vào Tổ chức
Thương
mại Quốc tế
để đẩy mạnh chiều hưóng này. Mặc
dầu chính quyền cộng sản và những vi phạm
nhân quyền liên tục, Trung quốc đã từ từ
sát gần lại Tây phương. Cái gọi là
«
mô hình A¨ châu «
của Lý quang Diệu, cựu tổng thống của
Singapour ?
Mô hình này đã tỏ ra yếu kém trong kỳ
khủng khoảng vừa qua ( khủng khoảng kinh
tế năm 1997 lời chú thích của dịch giả
). Chủ nghĩa cộng sản đã chết. Chủ
nghĩa xã hội chỉ hoạt động dưói hình
thức đuòng lối thứ ba, điển hình tại
Anh và Ðức. Trong một quốc gia thần quyền như
Ba Tư , hai phần ba dân số dưói 35 tuổi, mong muốn
có thế quyền. Khi dân không thể chọn lựa một
cách dân chủ, thì họ bầu cử với hai bàn
chân, có nghĩa là họ đi tị nạn. Chỉ còn
một vài chế độ bảo thu,û mà đôi khi
chúng ta khuyến khích bằng cách từ chối trò chơi
bầu cử tự do, là chống lại chế độ
dân chủ tự do và kinh tế thị truòng. Nhưng về
dài hạn, sự thế gian hóa quyền hành ( sự
phân chia giữa thế quyền và thần quyền lời
chú thích của dịch giả) sẽ thắng chủ nghĩa
quá khích tôn giáo « .
Le Nouvel Observateur :
«
Chế độ dân chủ và chủ nghĩa tư
bản đang chiến thắng, nhưng thưòng dưói
hình thức pha loãng ... »
F. Fukuyama :
«
Tôi không tin ở một mô hình duy nhất của
dân chủ. Tôi luôn luôn biện hộ cho sự đa dạng.
Thụy Ðiển chẳng hạn, nơi mà Nhà nưócThánh
đức ( lEtat-Providence) giữ một vai trò rất lớn,
tất nhiên cũng là một trong những thành phần của
dân chủ mà theo đó những quốc gia nào muốn
đi theo hình thái dân chủ này cũng có thể phát triển.
»
Le Nouvel Observateur :
«
Con đưòng tất yếu dẫn đến tiến
bộ mà ông đồng hóa với Tây phương dân chủ
tự do, bắt nguồn, theo ông, từ hai động lực
chính : những thành quả của kỹ thuật và cuộc
đấu tranh để được công nhận. Nhưng
nưóc Mỹ không «
công nhận « đạo Hồi, những giá trị,
những ưóc nguyện, những thiếu thốn thất
vọng của họ. Vả lại, nưóc Mỹ mơ
ưóc oanh tạc Irak với nguy cơ là tạo nên một
cuộc chiến toàn dịên. »
F. Fukuyama :
«
Rất nhiều quốc gia Hồi giáo có những
ưóc nguyện hoàn toàn phù hợp với tiến trình
hiện đại hóa. Về Irak, chúng tôi quả quyết
rằng nưóc này có vũ khí hóa học và vi trùng có
thể sát hại hàng loạt. Phải ngừng chuyện
đó. Tôi không tin ở một cuộc leo thang : sự
chính thống sẽ đi theo quyền hành. Nếu chúng
ta vô hiệu hóa Ben Laden, sự thu hút của ông ta sẽ
biến mất. »
Le Nouvel Observateur :
«
Những luận thuyết của ông có vẻ như
đề cao sự ưu việt của mô hình Hoa Kỳ...
»
F. Fukuyama :
«
Hoàn toàn là không. Sẽ là một sự trái ngưọc
lớn nếu nghĩ rằng những quyển sách của
tôi là để bảo vệ và vinh danh Hoa Kỳ. Tôi
không có một tý gì thiện cảm cho những năm
90, khi Hoa Kỳ thi hành một chính sách ngoại giao ngắn
hạn, dùng Pakistan quản trị A Phú Hãn sau khi quân
Taliban chiến thắng Liên Xô. Tôi cũng không bao cho giờ
mạo nhận rằng thị truòng sẽ giải quyết
tất, như đã chứng minh rằng thuốc sản
xuất bởi những viện bào chế tư nhân
không thể nào tiêu trừ hoàn toàn những bệnh dịch.
Trong những năm 90, Hoa kỳ rất là kiêu hãnh, ích kỷ,
tham lam, cận thị. Khi tôi nói đến sự kết
thúc lịch sử, tôi tự đặt mình trong một
viễn tưọng lâu dài. Tôi không bao giờ tin ở
tính chất máy móc, giản tiện hóa, và những quyển
sách gần đây của tôi ( «
The Great Disruption », 1998) ( Một Sự Gián Ðoạn Lớn
)
gần như một bài thơ ca tụng tính chất
đa dạng và, ngoài những cơ chế vĩ mô, còn
ca tụng tính chất phức tạp của những nền
văn hóa, đó là những mãnh đất duy nhất,
trên đó ngưòi ta có thể xây dựng lên những
chế độ dân chủ và những nền kinh tế
mở rộng. Vì tôi cũng tin tuỏng rất nhiều
ở tiến bộ kỹ thuật, quyển sách tới
của tôi sẽ chứng minh rằng những ngành kỹ
thuật sinh vật học có thể thành công ở chỗ
mà ngành kỹ thuật xã hội hoc đã thất bại.
»
Phỏng vấn thực hiện bởi Jean-Gabriel
Fredet
Ba lê ngày 6/01/2002
Trực Ngôn lược dịch