Trich tu Lam Yen Blog - Lâm
Yến - 15-07-2005
(Loạt bài: Bất đồng Chính kiến, Ly khai từ Bên Trên vs.
Đối lập từ Bên Dưới và Vai trò của Không gian Công phi Chính
thống)
Giữa những
ngày giữa hè nóng bỏng này, trong khi một số “nhà bất đồng chính kiến” (hay còn
được gọi là các nhà dân chủ) đang hưởng giây phút vinh danh và tự do giao kết ít
ỏi tại bữa tiệc chiêu đãi do Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tổ chức nhân ngày Quốc khánh
Hoa Kỳ[i] thì hai nhân vật nổi tiếng trong giới văn
nghệ sĩ là Đỗ Minh Tuấn và Trần Mạnh Hảo lại đang kịch chiến trên trang mạng
Talawas và công khai phê phương án chế độ và bày tỏ quan điểm ly khai chính
thống của mình. Trong khi đó, “con hùm xám đường 4” một thời, tướng Đặng Văn
Việt lại chọn đài RFA để phàn nàn rằng việc hệ thống tiếp tục bám víu lúc ấy
những quan điểm lạc hậu như độc quyền lãnh đạo [của Đảng Cộng sản] đang gây cản
trở sự phát triển của xã hội[ii]. Cách đây không lâu, nghệ sỹ nhân dân Trần Văn Thuỷ [iii] còn chọn VietnamNet- một diễn đàn chính thống của chế
độ- để thẳng thừng chỉ trích rằng hệ thống chính trị hiện tại không hề có dân
chủ.
Những diễn biến như thế cho chúng ta một không khí dân chủ sôi nổi
và khiến chúng ta có cảm tưởng lạc quan rằng phong trào bất đồng chính kiến của
Việt Nam hẳn đang có dấu hiệu lớn mạnh và các trí thức/văn nghệ sỹ cùng các cựu
chiến binh ngày càng sẵn sàng lên tiếng ly khai chính thống. Có thực sự là phong
trào dân chủ đang tiến những bước dài rất đáng lạc quan không? Bài nghiên cứu
này muốn đưa ra một cách nhìn khác về bất đồng chính kiến ở Việt Nam và tập
trung phân tích sự hình thành của không gian công phi chính thống cũng như vai
trò tiềm tàng của nó trong việc đem lại sự chuyển biến về chất cho “phong trào”
bất đồng chính kiến.
Bất Đồng Chính kiến ở Việt Nam
Năm năm trước,
trong một nghiên cứu hiếm hoi về phong trào bất đồng chính kiến ở Việt Nam,
Zachary Abuza nhận xét rằng bất đồng chính kiến ở Việt Nam còn non trẻ, yếu ớt,
không được giới trí thức ủng hộ và bị chia rẽ do nguồn gốc đa dạng và phức tạp
của những người tham gia phong trào này. Khi nói về hiện trạng và thiếu sót của
phong trào, ông viết:
“…có ít trí thức dám thò cổ ra thách thức lại nhà nước
vì nhà nước kiểm soát công ăn việc làm của họ. Đây là một khó khăn thực sự nếu
[phong trào bất đồng chính kiến] muốn đạt được cơ sở ủng hộ rộng rãi hơn từ giới
tinh hoa nhằm kêu gọi nhà nước thay đổi các chính sách hiện hành của họ. Như ông
Tiêu Dao Bảo Cự, một nhà bất đồng chính kiến từng than thở: “Trong cuộc đấu
tranh cho dân chủ ngày hôm nay, trí thức đáng lẽ ra phải nắm ngọn cờ đầu. Nhưng
liệu có phải thế không? Hay là ngược lại? Phải chăng sâu thẳm bên trong, trí
thức ghét sợ dân chủ, vì dân chủ có thể đưa đến việc họ bị mất các đặc quyền đặc
lợi vốn được coi là của riêng họ qua bao đời.” Ông đã đưa ra một nhận định quan
trọng. Lý do gì khiến các nhà bất đồng chính kiến không huy động được nhiều
người đi theo mình? Lý do nằm ở sự thiếu sót của phong trào: Họ gặp khó khăn
thực sự khi làm việc cùng với nhau. Điều này dễ hiểu thôi nếu chúng ta biết tất
cả các nguồn gốc bất đồng xuất phát từ đâu. Các nhà bất đồng chính kiến bao gồm
những động viên cộng sản kỳ cựu, những người ủng hộ chế độ Sài Gòn cũ, các tu sĩ Phật giáo và các trí thức chỉ muốn quyền tự do bày tỏ ý
kiến. Họ thường không tin tưởng nhau, và do bị chia rẽ, Hà nội có thể cô lập và
kiểm soát họ.”[iv]
Abura đã đúng khi nhận định rằng thành phần bất
đồng chính kiến của Việt Nam rất đa dạng và chính vì thế, họ hầu như không tìm
được tiếng nói chung. Ngoài nguồn gốc đa dạng và số lượng ít ỏi mà Abuza đã đề
cập (ít nhất 54 người theo Ân xá Quốc tế và khoảng 200 người theo Bộ Ngoại giao
Mỹ[v]), bất đồng chính kiến ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện
tại còn có hàng loạt những bất lợi khác: Thứ nhất, họ sống rải rác trên nhiều
địa phương khắp cả nước, từ Hà Nội, Hải Phòng tới Đà Lạt, Sài Gòn. Hà Nội và Sài
Gòn là 2 thành phố tập trung các nhà bất đồng chính kiến đông đảo nhất. Tuy
nhiên, trong số những người có tên tuổi được biết đến rộng rãi, thì ngay cả ở
hai thành phố này, con số cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Thứ hai, nghiên
cứu của Abura cho thấy phần lớn trong số các nhà bất đồng chính kiến là những
người cao tuổi. Trong số 25 nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất mà Abura khảo
sát năm 2000, độ tuổi trung bình của họ là 62[vi]. Gần đây có xuất hiện một số nhân vật trẻ tuổi hơn, nhưng
số này nhanh chóng bị bỏ tù với những mức án nặng nề. Có người sau khi ra tù đã
không tiếp tục lên tiếng nữa (ví dụ trường hợp của Lê Chí Quang).
Với tư
cách là một nhà quan sát nước ngoài, những nhận xét của Abura đã là những đóng
góp tiên phong, rất hữu ích cho một hướng nghiên cứu xã hội còn đang bỏ ngỏ ở
Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng những hạn chế sâu sắc khiến cho các nhà
bất đồng chính kiến không thể “huy động được nhiều người đi theo mình” không chỉ
bao gồm số lượng ít ỏi và sự đa dạng về nguồn gốc như Abura chỉ ra[vii]. Trong phần đầu của tiểu luận này, chúng tôi xin bổ sung
thêm những hạn chế khác với bất đồng chính kiến ở Việt Nam.
Một điểm dễ
nhận thấy là các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam chưa bao giờ được dân chúng
coi là các biểu tượng cho đạo đức và lương tri dân tộc. Dĩ nhiên họ cũng có một
số cảm tình viên từ các tầng lớp xã hội, nhưng hào quang của họ không vượt ra
ngoài những vòng gia đình và bè bạn và những người đã biết về họ khá rõ. Một
phần lớn những người ít biết về các nhà bất đồng chính kiến này khi nghe nói đến
các hành động/quan điểm của họ thì hoặc cho họ là những người gàn dở bất đắc chí, hoặc ít nhiều nghi kỵ về động cơ của các nhà bất
đồng chính kiến khi họ chọn cho mình con đường đối lập trực diện với hệ thống.
Vì thế, ở mức độ nào đó, họ bị cô lập khỏi xã hội và không được các thành phần
xã hội khác như sinh viên, trí thức, công nhân và nông dân ủng hộ.
Điểm
bất lợi thứ tư là họ không có hoặc có rất ít sáng kiến vận động xã hội, và do đó
thường chỉ khẳng định lập trường bất đồng bằng một số bài viết và dừng lại ở đó.
Thực ra, điều này cũng dễ hiểu nếu chúng ta đã nhận ra các điểm yếu trước như
không có tiếng nói chung, sống tản mát khắp nơi, tuổi cao và bị quản chế chặt
chẽ. Sáng kiến vận động xã hội cần có môi trường màu mỡ để hình thành, và một
trong những điều kiện tiên quyết là cần có môi trường để thảo luận/trao đổi và
cọ xát. Việc đứng ra xin lập hội “Nhân dân Việt Nam Ủng hộ
Đảng và Nhà nước Chống Tham nhũng” của hai ông Trần Khuê và Phạm Quế Dương[viii] có thể coi là một trong những sáng kiến ít ỏi xuất hiện
trong điều kiện tương đối thuận lợi của những năm 2001-2002, khi Đảng cộng sản
còn đang bối rối với những chỉ trích gay gắt về vấn đề biên giới và cơ cấu quyền
lực trong bộ máy còn đang trong giai đoạn củng cố sau Đại hội IX. Tuy nhiên,
ngay cả trong trường hợp của sáng kiến này thì số người ký đơn quanh quẩn vẫn là
các nhà bất đồng chính kiến đã có tên tuổi chứ không hề có sự tham gia từ bên
ngoài. Sự cô lập của các nhà bất đồng chính kiến (điểm yếu thứ 3 nêu trên) được
thể hiện khá rõ ràng trong ví dụ này.
Thứ năm là họ không được tiếp cận
hoặc không chủ động tìm cách tiếp cận với các lý thuyết về chuyển đổi dân chủ,
với thực tiễn sinh động và các kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào dân
chủ/nhân quyền khắp nơi trên thế giới. Thật đáng ngạc nhiên là cho đến thời điểm
này, đại bộ phận giới trí thức, bao gồm cả trí thức bất đồng chính kiến chưa
biết gì về các khái niệm vốn đã trở thành phổ biến trong các xã hội hiện đại như
“xã hội dân sự” (civil society)[ix], “quyền lực của những người không có quyền lực[x]” (power of the powerless), các lý thuyết về đấu tranh bất
bạo động[xi] (nonviolence); những thành công vĩ đại, những gương mặt
lỗi lạc, nguồn cảm hứng và các bài học kinh nghiệm phong phú của các phong trào
đấu tranh dân chủ trên thế giới[xii]. Ngay cả Trần Mạnh Hảo, người gần đây đã lên án gay gắt
bản chất của chế độ hiện hành[xiii] cũng suy diễn một cách đơn giản và ngây ngô rằng “xã
hội dân sự=xã hội dân làm chủ mọi sự”. Hay như Đỗ Minh Tuấn, trong một bài báo
dài khẳng định dứt quát lập trường ly khai chính thống của mình[xiv] (cái mà ông gọi là “rửa tay gác kiếm”) cũng không rõ
ràng hơn. Ông lầm lẫn giữa các thành quả cá nhân, khoảng tự do cá nhân hoặc khả
năng gây ảnh hưởng lên hệ thống của cá nhân với tư cách là một người nằm trong
hệ thống hoặc gắn bó với hệ thống, sử dụng các quan hệ cá nhân và hướng vào các
mục tiêu cá nhân với khái niệm quyền lực của con người trong xã hội dân sự theo
nghĩa thực của nó[xv].
Việc thiếu các lý thuyết và các bài học kinh
nghiệm của các phong trào dân chủ của thế giới cũng một phần giải thích hiện
tượng thiếu sáng kiến vận động xã hội của các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam.
Nó cũng là một trong những lý do giải thích vì sao không có nhiều nhân vật trong
giới tinh hoa ủng hộ hoặc tham gia vào nhóm bất đồng chính kiến. Không được
trang bị thông tin và lý thuyết cần thiết, kể cả những người đã “thức tỉnh” cũng
cảm thấy bất lực và buông xuôi, không dám quan hệ với những người bất đồng chính
kiến thành danh, chứ đừng nói là có ý định trở thành một trong số
họ.
Những vụ đình công/biểu tình
quy mô lớn đang diễn ra thường xuyên đến nỗi báo thanh niên gọi đây là “nghịch
lý đình công”, rõ ràng nó là một hiện tượng “lạ lùng” với chế độ vốn vẫn khẳng
định mình đại diện cho quyền lợi của người lao động. Tuy thế, người ta chưa hề
thấy vai trò của các nhà bất đồng chính kiến (đối lập) trong những sự kiện như
thế này. Trên nóc chiếc xe hơi kia vẫn thiếu hình ảnh một nhà đối lập có tài
minh biện.
Một bất lợi khác của bất đồng chính kiến ở Việt Nam
là quan tâm đơn chiều. Tuyệt đại đa số các nhà bất đồng chính kiến tập trung vào
phê phán chính trị trực diện với hệ thống thượng tầng. Ngoài hai ngoại lệ hi hữu
là hai cuộc vận động chống tham nhũng và chống các hiệp ước về chủ quyền lãnh
thổ được cho là bất bình đẳng[xvi], họ chủ yếu tập trung vào đòi hỏi tự do báo chí, tự do
bày tỏ chính kiến, đòi dân chủ pháp trị. Họ không quan tâm đến các biểu hiện
sinh động của sinh hoạt dân chủ trong đời sống, và vì thế, không hướng vào đấu
tranh nhằm hình thành hoặc mở rộng các biểu hiện sinh động ấy. Tự do báo chí
hoặc tự do ngôn luận là cái xa lạ với những người lao động Việt Nam bình thường,
vốn ít khi dành thời gian đọc báo và không quan tâm đến chính trị. Với những
người nông dân mất đất do nhà nước thu hồi để xây các khu công nghiệp, thương
mại và giải trí, nhu cầu này có vẻ hiện thực hơn. Nhưng tiếc thay, ngoài ngoại
lệ hi hữu là Nguyễn Khắc Toàn, một nhà bất đồng chính kiến đang ngồi tù[xvii] - người đã đứng ra giúp nông dân thảo đơn kêu oan với
chính phủ, hoặc Phương Nam, một nhà bất đồng chính kiến mới xuất hiện, gần đây
đã chụp ảnh với những người dân quận Bình Thạnh, Sài Gòn ra Hà Nội khiếu kiện[xviii], thì chẳng có ai nào đứng ra giúp dân chúng minh biện
các nhu cầu của họ và lên tiếng cho các đòi hỏi của họ.
Nếu những bài báo
dài dằng dặc trên tạp chí cộng sản không hấp dẫn được quần chúng, thì những bài
phê phán nghiêm khắc chủ nghĩa Mác của các nhà bất đồng chính kiến đăng trên các
trang mạng cũng xa lạ như thế. Cái chính trị mà dân chúng quan tâm là cái chính
trị biểu hiện cụ thể trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày chứ không phải cái đúng
sai của một học thuyết mà họ chẳng bao giờ quan tâm đến. Vì thế, khẩu hiệu đổi
mới chính trị mà những nhà bất đồng chính kiến này đưa ra vừa bị chính quyền hằn
học, vừa bị quần chúng thờ ơ. Chúng thiếu cái sinh khí xã hội và trở nên khô
cứng không khác gì những giáo điều của hệ thống. Nếu khẩu hiệu mà hệ thống đưa
ra là giáo điều thì các khẩu hiệu mà các nhà bất đồng chính kiến đưa ra cũng
không kém giáo điều hơn, vì chúng không được chi tiết hoá
bằng những diễn biến hiện thực của cuộc sống.
Thứ bảy, họ là những
người phê phán hệ thống, nhưng không phải là những người thách thức hệ thống
bằng một mô hình khác được minh biện kỹ lưỡng. (có lẽ Abuza cũng ít nhiều ám chỉ
điều này khi ông gọi họ là các nhà đối lập trung thành (loyal opposition)). Các
nhà bất đồng chính kiến Việt Nam nhiều khi cũng nói đến một thể chế dân chủ pháp
trị thay thế cho thể chế cộng sản, nhưng đã không có một nỗ lực cụ thể nào hướng
tới việc nghiên cứu nền dân chủ phương tây và cấu trúc nên các mô hình dân chủ
cho một xã hội phương Đông chậm phát triển và có nhiều điểm đặc thù như Việt
Nam. Điều này không phải là khó hiểu, vì các tài liệu nghiên cứu về dân chủ
phương Tây bằng tiếng Việt hầu như không tồn tại ở Việt Nam sau năm 1975. Khả
năng tiếp cận vào kho kiến thức chính trị của thế giới từ trong nước trở nên cực
kỳ hạn chế và đòi hỏi vốn tiếng Anh tốt- là cái mà tuyệt đại đa số các nhà bất
đồng chính kiến cao tuổi không có được. Có lẽ Phạm Hồng Sơn là người đầu tiên
trong số các nhà bất đồng chính kiến trẻ hơn của Việt Nam đã nhìn ra tầm quan
trọng của việc nghiên cứu mô hình thay thế này và ông đã thực hiện việc dịch tập
tài liệu “thế nào là dân chủ”. Có lẽ vì đảng cộng sản cũng nhìn thấu mối nguy
hiểm tiềm tàng của việc hiện hữu một mô hình thay thế, họ đã tống giam ông với
mức án hà khắc[xix].
Điều gì khiến bất đồng chính kiến ở Việt Nam
mang trong mình những hạn chế như thế? Và làm thế nào để bất đồng chính kiến
thực sự là một phong trào với diện mạo mới và sức mạnh mới khác hẳn với giá trị
tượng trưng của bất đồng chính kiến hiện nay? Chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết
những câu hỏi này bằng việc phân tích nguồn gốc của các nhà ly khai, và việc
thiếu vắng một không gian công phi chính thống, trong các phần sau.
Duy
Tân Trẻ giữ bản quyền.
[i] RFA: Tổng
Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn mở tiếp tân có sự tham dự của đại diện tôn giáo và
các nhà dân chủ Việt Nam; phát thanh ngày 5 tháng 7 năm 2005
[ii] RFA: Cảm
tưởng của ông Đặng Văn Việt về Dự Thảo Báo cáo Chính trị cho Đại hội 10.
Phát thanh ngày 6 tháng 7 năm 2005
[iii] VietnamNet: Xây dựng hình ảnh
đất nước Việt Nam mới; đưa lên mạng ngày 29 tháng 4 năm 2005
[iv] Zachary Abuza: Loyal
Opposition: The Rise of Vietnamese Dissidents; Havard Asia Quarterly, Volume
IV, No. 2. Spring 2000.
[v] Zachary Abuza: ibid
[vi] Zachary Abuza: ibid
[vii] Zachary Abuza: ibid
[viii] Xem đơn xin thành lập Hội nhân dân ủng hộ đảng và nhà nước
chống tham nhũng tại: http://www.ykien.net/vdhchongtn.html
[ix] Theo Larry Diamond:
“Xã hội dân sự ở đây được hiểu là một
mảng của đời sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự tái tạo, (hầu như)
tự tài trợ, độc lập với nhà nước, và gắn bó với nhau bằng một trật tự pháp lý
hay một số nguyên tắc chung. Nó khác với “xã hội” nói chung ở chỗ nó gồm các
công dân hành động tập thể trong môi trường công (public sphere) để thể hiện các
lợi ích, quan tâm và các ý tưởng của họ, cũng như trao đổi thông tin, giành các
mục tiêu chung, yêu sách với nhà nước, và trông chừng các quan chức. Xã hội dân
sự là một thực thể trung gian, nằm giữa môi trường tư (private sphere) và nhà
nước. Như vậy, nó loại trừ đời sống cá nhân và gia đình, các hoạt động nhóm
hướng nội (ví dụ như thể thao, giải trí hay tâm linh), các hoạt động kiếm lời
của các doanh nghiệp, và các nỗ lực chính trị nhằm giành quyền kiểm soát chính
quyền. Các nhân vật trong xã hội dân sự cần sự bảo vệ bởi một trật tự pháp luật
được thể chế hoá nhằm bảo đảm quyền tự trị của họ và quyền tự do hành động. Do
đó, xã hội dân sự không chỉ hạn chế sức mạnh nhà nước mà còn đem lại chính nghĩa
cho quyền lực nhà nước, khi quyền lực đó dựa trên pháp quyền (rule of law). Khi
bản thân nhà nước lại không có luật lệ và coi thường quyền tự trị của cá nhân và
các nhóm, xã hội dân sự vẫn có thể tồn tại (dù chỉ dưới hình thức sơ khai hay
hoang tàn) nếu như các thành tố của nó vận hành theo một nhóm các nguyên tắc
được chia sẻ (thí dụ như những [nguyên tắc] tránh sử dụng bạo lực và tôn trọng
đa nguyên). Đây là điều kiện không thể tối giản trong chiều cạnh “dân sự” của
nó.”
Để hiểu thêm về xã hội dân sự và vai trò của nó, bạn đọc có thể tham
khảo các bản dịch trong series “xã hội dân sự” do nhóm Duy Tân Trẻ dịch và giới
thiệu trên Talawas.
[x] Đón xem Chính luận “Quyền Lực của Không Quyền Lực” của
Vaclav Havel do nhóm Duy Tân Trẻ dịch và chuẩn bị cho ra mắt bạn đọc trong thời
gian gần.
[xi] Đón xem chuỗi bài về Bất bạo động do nhóm Duy Tân Trẻ dịch
và chuẩn bị cho ra mắt bạn đọc.
[xii] Bạn đọc có thể tham khảo trong series bài về Giải Nobel
Hòa Bình do Duy Tân Trẻ giới thiệu trên Talawas.
[xiii] Trần Mạnh Hảo: Con
người có quyền lực gì trong một xã hội phi dân sự?; Talawas, Tháng 6,
2005.
[xiv] Ðỗ Minh Tuấn: Quyền
lực con người trong xã hội dân sự; Talawas, Tháng 6, 2005
[xv] Trong lý thuyết chính trị học hiện đại, quyền lực con người
trong xã hội dân sự được hiểu là quyền lực của những người không có quyền lực
khi, bằng hành vi của mình, họ bộc lộ bản chất thực của hệ thống mà nhà cầm
quyền luôn tìm cách che dấu, và bằng việc liên kết với nhau để hình thành một xã
hội song song (với nền văn hóa song song, cơ sở kinh tế song song và hệ tư tưởng
song song) họ làm xói mòn cơ sở quyền lực của nhà cầm quyền, hoặc bằng việc tự
tổ chức lại, họ trở thành những chủ thể quyền lực có sức mặc cả với hệ
thống.
[xvi] Ngay cả trong trường hợp đấu tranh chống tham nhũng (hay
nói chính xác hơn là lên án tham nhũng) và đấu tranh bảo vệ lãnh thổ (đúng hơn
là lên án đảng cộng sản nhượng đất cho Trung Quốc) thì các nhà bất đồng chính
kiến cũng thường đi đến cùng của vấn đề và thường là dẫn tới những đòi hỏi dân
chủ.
[xvii] Amnesty International trong thông cáo báo chí số 240, ra
ngày 20 tháng 12 năm 2002 đã nói về Nguyễn Khắc Toàn như sau:
“…ông được cho
là đã phát tán tài liệu về các cuộc biểu tình tại Hà Nội và các thư thỉnh nguyện
của nông dân lên án tình trạng bị chính quyền cướp đất ra cho các nhóm vận động
Việt Nam ở nước ngoài. Rõ ràng là ông cũng giúp các đại diện của nông dân khi họ
có mặt ở Hà Nội như thảo giúp các thỉnh nguyện thư gởi chính phủ.”
(kiểu chữ
nghiêng do tác giả thêm vào)
[xviii] Xem thư và hình ảnh của Phương Nam chụp chung với nhóm
người biểu tình tại: http://www.ykien.net/khieukien07.html
[xix] Theo thông cáo báo chí ra ngày 1 tháng 6 năm 2005 của
Amnesty International:
“Bác sỹ Phạm Hồng Sơn, 37 tuổi, một thương gia và một
bác sỹ có tài, bị bắt ngày 27 tháng 3 năm 2002 vì đã viết và gửi các bài bộ áo
về dân chủ và nhân quyền lên Internet. Tại phiên tòa xét xử ông vào ngày 18
thágn 6 năm 2003, ông bị kết tội “gián điệp” theo điều 80, bộ luật hình sự và bị
kết án 13 năm tù giam cộng thêm 3 năm quản chế sau khi ra tù. Ông hiện đang bị
giam giữ tại trại giam Yên Định, Thanh Hóa”
Xem: http://web.amnesty.org/library/Index/ENGASA410182005