Chung quanh vấn đề Ý niệm Dân chủ

Trich tu mang http://www.pttndt.org/  Bảo Dân

Sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt , những luồng tư tưởng dân chủ đánh bại những chế độ phong kiến. Nhưng trong diễn tiến những luồng tư tưởng hai niệm dân chủ tự do và dân chủ xã hội đều nói đến tự do và bình đẳng , thật sự thì ý niệm dân chủ tự do nghiên về tự do nhiều hơn , ý niệm dân chủ xã hội nghiên về bình đẳng nhiều hơn - Tuy nhiên kết quả giá trị của nó không phải như nhau , đưa đến kết quả tốt xấu lợi hại hòan toàn khác nhau xét dưới khía cạnh lý tưởng tự do và bình đẳng .

Trong chế độ dân chủ tự do nghiên về việc bảo vệ tự do , nó đưa đến bất bình đẳng , nhưng nhờ có tự do mà người dân tự vệ được đối với chánh quyền nên có một số quan niệm khác nhau chung quanh vấn đề

Ý niệm Dân chủ

Sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt , những luồng tư tưởng dân chủ đánh bại những chế độ phong kiến. Nhưng trong diễn tiến những luồng tư tưởng ấy có một hiện tượng đối chọi nhau mảnh liệt đưa đến mức độ thanh toán nhau một mất một còn đó là ý niệm dân chủ xã hội và ý niệm dân chủ tự do .

Xét về mặt căn bản thì 2 phe đều tự xưng là dân chủ, vì lẽ cùng chủ trương là con người phải có tự do và bình đẳng , do đó quốc gia là sở hửu của toàn dân chứ không thuộc về cá nhân nào, giòng họ nào hay đảng phái nào , người dân trong một quốc gia chỉ phục tùng theo luật pháp. mà luật pháp được soạn thảo theo ý muốn của toàn dân, luật pháp không dựa vào ý kiến của một cá nhân hay một đảng phái nào , luật pháp rất quan trọng nên cộng đồng phải có một thủ tục làm luật pháp rõ rệt và tất cả mọi việc đều làm theo luật pháp qui định . Theo thông thường các nước dân chủ áp dụng có một luật căn bản gọi là hiến pháp , hiến pháp soạn thảo phải có tính cách lâu dài , luật pháp phải phù hợp với hiến pháp . Chánh quyền được bổ nhiệm theo luật pháp , và chiếu theo luật pháp mà làm việc . Một số quyền lợi đặc biệt cuả người dân dựa trên căn bản tự do và bình đẳng phải được hiến pháp và các luật pháp bảo đảm .

Trên đây là những nguyên tắc căn bản mà cả hai phe tự xưng có phần giống nhau , nhưng dựa trên cứu cánh và chủ trương đã đưa ra những qui tắc áp dụng khác nhau trong đời sống thực tế .

Về cứu cánh , theo quan niệm dân chủ tự do thì lấy việc bảo vệ cá nhân tức là con người là trọng , còn dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ tập thể tức là bảo vệ cộng đồng là trọng .

Xét về tập thể và cộng đồng chỉ có quyền lợi vật chất và tinh thần là duy nhứt , trong khi cá nhân trong tập thể thì có nhiều quyền lợi và tinh thần khác nhau . Vì chỗ lấy tập thể , lấy cá nhân làm trọng cho nên quan niệm dân chủ xã hội và quan niệm dân chủ tự do có những chủ trương khác nhau - Dân chủ tự do chủ trương đa phương - Dân chủ xã hội chủ trương toàn diện .

Những quốc gia theo lý tưởng cộng sản áp dụng chế độ dân chủ xã hội theo qui tắc độc đảng không công nhận đối lập - Những quốc gia theo lý tưởng tự do áp dụng chế độ dân chủ tự do theo qui tắc đa đảng .

Quan niệm dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ tập thể làm cứu cánh , nhưng tập thể chỉ có quyền lợi vật chất và tinh thần , đảng Cộng sản được thành lập để phục vụ quyền lợi đó . Vì vậy, chỉ có đảng Cộng sản mới được cầm quyền điều khiển công việc quốc gia , trong khuôn khổ dân chủ xã hội , ai chống lại đảng Cộng sản, chỉ trích đảng Cộng sản là chống lại quyền lợi tập thể tức là quyền lợi chung cuả mọi người - Do đó ai có khuynh hướng đối lập thì bị ghép tội danh như phản quốc hại dân - Trong chế độ dân chủ xã hội chỉ có đảng Cộng sản hoạt động cầm quyền , cũng có những đảng nhỏ khác được tồn tại vì những lý do đặc biệt được dung nạp , chẳng qua những đảng nhỏ không được tự do hoạt động thường khi đóng vai trò phụ trợ cho đảng Cộng sản - Những ngôi vị lãnh đạo được hạn chế trong khuôn khổ đảng Cộng sản chứ không được sự tham dự của tòan dân .

Quan niệm dân chủ tự do lấy việc bảo vệ cá nhân là cứu cánh, mỗi cá nhân có quyền lợi vật chất và tinh thần riêng, quyền lợi nầy không hợp nhứt là một được - Do đó trong chế độ dân chủ tự do chấp nhận để công dân kết hợp nhau trong nhiều đảng , mỗi chánh đảng bênh vực một số quyền lợi cá nhân đó - Các chánh đảng được tự do hoạt động bành trướng thế lực và được tham dự chánh quyền qua tinh thần dân chủ phổ thông đầu phiếu , nếu chánh đảng nào có đường lối hoạt động phù hợp với quyền lợi của toàn dân thì được bầu lãnh đạo chánh quyền , còn đảng nào không được đủ tín nhiệm thì làm đối lập , điều nầy chúng ta thấy hầu hết các quốc gia có nền dân chủ tự do như Canada, Hoa Kỳ , Úc Châu - Vì họ lấy nền tảng căn bản vững chắc như vậy mà làm cho việc phát triển đất nước giàu mạnh .

Vì cứu cánh và chủ trương của quan niệm dân chủ tự do và quan nìệm dân chủ xã hội đưa đến những qui tắc khác nhau - Chế độ dân chủ xã hội theo nguyên tắc tập quyền , chế độ dân chủ tư do theo nguyên tắc phân quyền .

Việc tổ chức hành chánh trong nước - Các nước cộng sản theo chế độ dân chủ xã hội đều tập trung quyền trong tay đảng Cộng sản nắm quyền tối hậu mọi vấn đề , dầu có nhiều cơ quan khác nhau nhưng quyền quyết định đều phải qua chỉ thị của đảng cs chớ không thể quyết định khác được - Các nước theo chế độ dân chủ tự do thì có sự phân quyền giưã 3 cơ quan : lập pháp , hành pháp và tư pháp - Sự liên hệ 3 cơ quan ấy có sự khác nhau tuỳ theo mỗi nước , nhưng nói chung mỗi cơ quan đều có quyền riêng của mình , không có cơ quan nào được trọn quyền quyết định và bắt cơ quan khác phải theo ý mình , sự hiện diện nhiều chánh đảng và chấp nhận cho đối lập tự do hoạt động làm cho không chánh đảng nào có thể nắm giữ hết các cơ quan khác .

Chế độ dân chủ xã hội lấy việc bảo vệ tập thể làm cứu cánh , coi nhẹ quyền lợi cá nhân . Do đó , khi quyền lợi tập thể bị đe dọa , nhà cầm quyền có thể sẽ trừng phạt những cá nhân mà họ cho rằng có những hoạt động bất lợi cho tập thể . Những hoạt động bất lợi cho tập thể theo quan niệm của nhà cầm quyền cộng sản theo chế độ dân chủ xã hội không được minh xác rõ ràng thường được gồm chung vào những tội danh mơ hồ như " phản động " , nhiều khi trừng phạt không đủ bằng cớ , do đó có nhiều người bị xử oan ức mà đối với chế độ dân chủ xã hội không quan trọng vì cá nhân phải hy sinh cho tập thể .

Chế độ dân chủ tự do thì ngược lại , lấy việc bảo vệ cá nhân làm cứu cánh , luật pháp bảo vệ quyền lợi cho người dân không bị trừng phạt oan ức , người dân chỉ bị truy tố trước pháp luật khi vi phạm một điều luật đã được ban hành , có khi một việc làm mà mọi người cho là sai quấy , nếu không có điều luật nào cho đó là vi phạm và ấn định sự trừng phạt thì người dân làm việc đó sẽ không bị truy tố . Muốn trừng phạt một người trong chế độ dân chủ tự do phải có đủ bằng cớ chứng minh người ấy vi phạm pháp luật , nếu không có bằng cớ rõ rệt thì phải tha bổng người đó, qui tắc tha lầm một người có tội chứ không thể trừng phạt một người vô tội , vì qui tắc nầy mà vai trò vị thẩm phán rất quan trọng , phải độc lập với nhà cầm quyền lập pháp và hành pháp . Chế độ phân quyền và sự hiện diện của đối lập giúp cho sự bảo đảm độc lập vai trò của các vị thẩm phán .

Đối với quyền tư hữu, theo quan niệm dân chủ xã hội không chấp nhận cho tư nhân có quyền tư hữu trên các phương tiện sản xuất , vì cho rằng việc nầy đưa đến nạn tư bản bóc lột nhân dân . Vì vậy trong chế độ cộng sản tất cả phương tiện sản xuất đều thuộc nhà nước gọi là quốc hữu hoá , quốc doanh , do chánh quyền điều khiển, tất cả công dân đêu làm công cho nhà nước . Trong chế độ cộng sản, quan niệm dân chủ xã hội kiểm soát đời sống người dân rất chặt chẽ, sự sinh sống của toàn dân hoàn toàn lệ thuộc nhà cầm quyền .

Trong chế độ tự do xem quyền tư hữu là quyền căn bản cuả người dân , do đó sự giới hạn quyền tư hữu tuy có thể chấp nhận vì lý do công ích ,nhưng không đi quá xa, đa số người dân điều có quyền có của cải riêng được dùng vào việc sản xuất . Về sự sinh sống của người dân trong chế độ dân chủ tự do ít tuỳ thuộc vào nhà nước hơn trong chế độ dân chủ xã hội .

Để so sánh hai chế độ , dân chủ xã hội và dân chủ tự do , ta nhận thấy chế độ nào cũng có ưu và nhược điểm của nó .

Về mặt thuần tuý - Chế độ dân chủ xã hội có ưu điểm : quyền lợi chung của tập thể so với quyền lợi cá nhân thì quyền lợi chung toàn thể nhân dân rỏ ràng là quan trọng hơn , và đáng được bảo vệ - Người cầm quyền có công và có tài được tôn sùng và phục vụ lâu dài không bị các cuộc bầu cử loại bỏ khi dân chúng thay đổi ý kiến bất thường , hoặc bất mãn vô lý vì những khó khăn tự nhiên mà chánh quyền nào cũng gặp phải .

Về mặt thực tế - Chánh quyền trong chế độ dân chủ xã hội quyết định được nhanh chóng kín đáo, và có thể huy động tòan dân được dể dàng ,nên rất hiệu quả trong sự hoạt động chánh trị và quân sự.

Nhưng trong chế độ dân chủ xã hội mang các nhược điểm tai hại - Chánh quyền trong chế độ dân chủ xã hội luôn luôn nằm trong tay một chánh đảng duy nhất , không có đảng nào hoặc nhóm nào khác hơn để thay thế một cách bình thường , do đó nhà cầm quyền dễ trở thành chuyên chế ,và dễ đưa đến phục vụ quyền lợi riêng mà nhân dân không sao chống chọi được , nhà cầm quyền nắm giữ cả các lực lượng hành chánh , quân sự , cảnh sát , giữ luôn cả lực lượng kinh tế trong tay nên người dân bị chế ngự không cách gì đứng dậy , ngay cả có ý kiến đóng góp cho dù ý kiến đó có hay mà ngược lại chánh sách của nhà cầm quyền cũng bị kết tội , nói chung là người dân bị chế ngự không sao có thể đương đầu lại chánh quyền một cách có hiệu lực , người dân cam chịu không thể nào ngóc đầu lên nổi. Mỗi một lần thay đổi quyền lực là sự tranh giành xảy ra trong đảng , sự tranh giành thường được kết thúc bằng sự thanh toán lẫn nhau chứ ít khi được thay đổi bằng phương pháp hòa bình . Những sự thanh toán nhau như vậy làm các phần tử có khả năng bị loại trừ , mặt khác làm cho các nhân viên chánh quyền không có sáng kiến . Đời sống nhân dân không được bảo đảm , bị áp chế thường trực có thể bị bắt giam hay thanh toán lúc nào cũng được .

Về kinh tế , trong chế độ dân chủ xã hội , người dân bị bắt buộc phải phục vụ cho các mục tiêu do chánh quyền ấn định và không được hưởng trọn kết quả công việc mình làm - Thiếu quyền lợi cá nhân làm động lực , người dân không hăng hái làm việc , do đó , chế độ dân chủ xã hội thường thất bại về sản xuất kinh tế. Lãnh vực công nghiệp , có thể do lường được mức lương cao thắp khác nhau , dùng sự khen thưởng để khuyến khích những công nhân làm việc giỏi được đánh giá qua các sản phẩm tạo ra hằng ngày , do đó nền công nghiệp các nước cộng sản đạt được một số kết quả tốt - Ngành nông nghiệp không phân biệt kết quả công việc hằng ngày môt cách cụ thể , chánh quyền cộng sản không có biện pháp hữu hiệu để phân biệt người làm việc giỏi và người làm việc dở để thưởng phạt một cách công bình , do đó nền nông nghiệp các nước cộng sản thường bị thất bại nặng nề .

Trong chế độ dân chủ tự do , người dân thật sự có tự do , chánh quyền không thể bức hiếp người dân , nếu người dân không có làm điều gì phạm pháp - Người dân có quyền làm chủ các tài sản của mình , làm việc được hưởng trọn vẹn kết quả mình làm , do đó mà người dân hăng hái làm việc , hăng hái hoạt động tăng sản xuất mọi ngành - Nói chung , về mặt kinh tế trong chế độ dân chủ tự do thường thành công hơn chế độ dân chủ xã hội

Về chánh trị - Các chánh đảng hoạt động công khai ,các chánh đảng thay phiên nhau nắm lấy chánh quyền qua các cuộc bầu cử , sự chuyển quyền êm thắm hòa bình . Sự tự do tranh luận làm cho những sai lầm về đường lối chánh sách có thể được nhận thức rõ và điều chỉnh sửa đổi ôn hòa .

Tuy vậy, chế độ dân chủ tự do có những yếu điểm , chẳng hạn như sự tự do hoạt động kinh tế và quyền tư hữu nảy sinh ra một số người quá giàu có , đa số người sống trong thiếu thốn - Những người giàu có thường có nhiều phương tiện dĩ nhiên được hưởng và ưu đãi hơn người nghèo , từ đó sự tự do bình đẳng cho mọi người trên lý thuyết thật sự có lợi cho người giàu hơn người nghèo - Trước kia chế độ dân chủ tự do đưa đến tình trạng tư bản bốc lột , nhưng ngày nay chế độ dân chủ tự do đã cải thiện rất nhiều , nhưng sự chênh lệch giưã giàu nghèo và việc người giàu được ưu đãi vẫn không chấm dứt được - Chánh quyền dân chủ tự do có nhiều cơ quan khác nhau, nên nhà cầm quyền dễ bị ngăn trở, thường khi phải thuyết phục, tranh luận trước khi quyết định giải quyết một vấn đề , do đó công việc thường chậm chạp không kín đáo , có khi không có hiệu lực - Sự tự do quá độ làm cho tệ trạng xã hội xảy ra như khiêu dâm , ma tuý , ghiền ma tuý , để tiết lộ bí mật một cách bừa bãi, rất khó khăn giải quyết vì sự tự do không được ấn định rỏ ràng .

Đi sâu vào sự dị biệt giữa hai quan niệm dân chủ xã hội và dân chủ tự do ,nó phát xuất từ bản chất dị biệt giữa hai nguyên tắc làm gốc cho tư tưởng dân chủ là tự do và bình đẳng - Hai nguyên tắc nầy không phải lúc nào cũng tác động theo một chiều hướng với nhau - Quan niệm dân chủ tự do đã nghiên về tự do nhiều hơn - Quan niệm dân chủ xã hội đã nghiên về bình đẳng nhiều hơn .

Ý niệm dân chủ dựa trên nguyên tắc tự do và bình đẳng , những nhà lý thuyết về dân chủ thường ghép tự do và bình đẳng đi chung với nhau - Trong công cuộc tranh đấu giải phóng nô lệ thì tư tưởng tự do và bình đẳng hổn hợp vào nhau - Vì theo luồng tư tưởng tự do và xã hội thì con người sinh ra ai cũng như ai nên những người chủ trương hủy bỏ chế độ nô lệ không chấp nhận việc người nầy bắt giữ người kia trong địa vị tù hãm và thấp kém - Trong sự phát triển các xã hội tây phương thì lý tưởng tự do và bình đẳng phát triển một chiều hướng chung về mặt chánh trị .

Những chế độ quân chủ Âu châu xây dựng phân chia giai cấp, và quyền chuyên chế của nhà vua - Khi chế độ tự do mới được thành lập thì chỉ có những người nam giới thuộc hạng quí tộc, hào phú, trí thức mới được tham dự chánh quyền qua việc bầu cử và tranh cử , nhưng đối với mọi người đều có quyền tự do căn bản , nhờ vậy mà người dân có tiếng nói , dần dà đòi hỏi được quyền phổ thông đầu phiếu cho đàn ông , sau đó đến phụ nữ - Như vậy , trong chế độ dân chủ tự do tạo ra được sự bình đẳng về chánh trị .

Trên bình diện thực tế thì hai nguyên tắc tự do và bình đẳng đối chọi nhau - Vì con người mạnh yếu , giỏi dở , khôn dại khác nhau , dù cho khởi đầu bằng nhau thì người mạnh phải hơn người yếu, người giỏi hơn người dở , người khôn hơn người dại - Muốn cho mọi người cùng địa vị như nhau thì phải kềm chế người mạnh , người giỏi , người khôn để cho người yếu , người dở , người dại tiến lên , làm như vậy đâu còn tự do nữa .

Trong lãnh vực kinh tế , hai nguyên tắc tự do và bình đẳng đối chọi nhau rõ rệt. Tuy chế độ dân chủ tự do cá nhân được tự do hoạt động , do đó sự chênh lệch giàu nghèo xảy ra , đưa đến nạn tư bản bốc lột người vô sản - Những người theo quan niệm dân chủ xã hội muốn chấm dứt tệ trạng tư bản bốc lột vô sản để mang lại bình đẳng kinh tế - Cho nên những nước cộng sản theo chế độ dân chủ xã hội chủ trương hủy diệt quyền tư hữu trên các dụng cụ sản xuất và thực hiện xã hội cộng sản không còn hạng tư bản làm chủ phương tiện sản xuất và vô sản làm công cho tư bản - Nhưng khi tất cả các phương tiện sản xuất đều quốc hữu hóa thì người dân phải tùy thuộc vào chánh quyền trong việc sinh sống - Những người chống đối chánh quyền không thể tìm được việc mà sinh sống ,do đó đời sống người dân bị chánh quyền kềm chế và mất hết tự do - Chế độ cộng sản khắc nghiệt hơn các chế độ chuyên chế khác như chế độ toàn diện hữu phái , trong chế độ nầy chánh quyền nắm độc quyền về chánh trị , hành chánh , cảnh sát , quân sự - Còn chế độ chuyên chế cộng sản nắm độc quyền luôn cả kinh tế .

Qua sự phân tích trên cho thấy sự khác biệt và xung khắc nhau giữ hai ý niệm dân chủ : dân chủ xã hội và dân chủ tự do , sự dị biệt chung qui là sự áp dụng thực hiện hai nguyên tắc tự do và bình đẳng , thực tế nhứt về mặt kinh tế - Muốn con người có tự do , chế độ dân chủ tự do bảo vệ quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất, nhờ quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất mà người chống đối chánh quyền có thể tiếp tục sống một cách bình thường và tranh đấu thay thế nhà cầm quyền . Nhưng sự bảo vệ quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất đưa đến tình trạng bất bình đẳng về kinh tế và nạn bốc lột - Để chấm dứt sự bất bình đẳng đó , chế độ dân chủ xã hội hủy diệt quyền tư hữu trên phương tiện sản xuất , nhưng việc nầy đưa đến người dân mất tự do .

Như vậy , trên mặt lý thuyết , hậu quả sai lầm của chế độ tự do đã được sửa chửa lần lần , cuối cùng làm bớt sự bất bình đẳng - Hiện nay sự chênh lệch nghèo giàu vẫn còn , nhưng tư bản không bốc lột vô sản một cách thái quá , chế độ an ninh xã hội như việc phép đánh thuế của các xã hội tự do làm sự bất bình đẳng giảm bớt .

Ý niệm dân chủ xã hội chủ trưong thực hiện bình đẳng kinh tế bằng chế độ cộng sản - Chế độ nầy làm người dân mất tự do,chính vì mất tự do mà người dân trong chế độ cs không tranh đấu được bảo vệ quyền lợi của mình - Từ đó , đảng Cộng sản đã để cho các lảnh tụ , cán bộ và các đảng viên của mình được hưởng nhiều đặc quyền ,đặc lợi ,người dân cam chịu phục tùng giai cấp nầy , chứ không thể đứng dậy đòi hỏi chấm dứt được .

Vậy, chế dân chủ tự do bảo vệ được tự do , còn làm dịu bớt sự bất bình đẳng - Trong khi chế độ dân chủ xã hội đã hủy diệt tự do rồi làm xuất hiện sự bất bình đẳng - Cuối cùng trong xã hội dân chủ tự do , tự do và bình đẳng còn duy trì được , còn trong xã hội dân chủ xã hội, tự do và bình đẳng đều mất hết.

Bài viết " Một cái nhìn trở lại " của cựu tướng cộng sản Trần Độ mới đây ( 23-9-1998 ) - Ông tự phê , phê bình chính Ông , phê bình đảng cộng sản từ tư tưởng đảng , tổ chức đảng , lãnh đạo đảng , dân chủ tập trung của đảng đã đưa đến kết quả là nhân dân mất hết tự do và bình đẳng - Bài viết của Ông có tánh cách thuyết phục và thúc giục đảng CSVN phải chọn kết quả tối hậu - " Cần phải thấy nguy cơ tụt hậu - Đất nước thì tụt hậu với thế giới , còn đảng thì tụt hậu với xã hội và dân tộc - Phải vượt qua nguy cơ đó bằng quan niệm : đổi mới là dân chủ hóa trong đảng , cũng như dân chủ hóa toàn xã hội - Phải quan niệm như vậy và hành động đúng như vậy "

Có phải chăng đảng CSVN không còn chất keo để hàn dính - Từ hiện tượng Trần Độ đến giới trí thức được gọi là sĩ phu đã chuyển hóa tư duy qua các bài viết gởi đồng bào, gởi cho đảng - Chỉ có một con đường đảng CSVN phải đi là để cho nhân dân được hưởng tự do và sau đó sẽ chấm dứt sự bất bình đẳng - Điều nầy , những người cộng sản chánh thống đã mơ ước mà không thực hiện được , vì chính họ áp dụng lạc hướng từ lúc khởi đầu.