Việt Nam và Con Đường Phục Hưng Đất Nước
Thông Luan - Nguyễn Vũ Bình - 18-12-2005
Phạm Đỉnh: Bài viết dưới đây là một chứng từ quan trọng trong
tập Hồ sơ Nguyễn Vũ Bình, một trí thức trẻ đã sớm ý thức con đường sống
mới cho Việt Nam tương lai dân chủ và đa nguyên. Bài viết ra mắt công
chúng Việt Nam yêu dân chủ đã lâu rồi, nhưng vẫn không giảm tính thời
sự của nó. Vì những vấn đề tác giả nêu ra vẫn còn nguyên vẹn đó.
Những gì đang xảy ra cho Nguyễn Vũ Bình đang là một nhức nhối cho lương
tâm Việt Nam. Thế giới dân chủ bên ngoài đã và đang tích cực can thiệp
trên cơ sở bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền tự do ngôn luận và
những quyền công dân căn bản khác, của công dân Nguyễn Vũ Bình.
Nhà nước độc đảng toàn trị tại Việt Nam đã không giấu được nỗi sợ hãi
của họ trước một sự thật: thế hệ trí thức trẻ Việt Nam ý thức rất sáng
con đường sáng cho Việt Nam tương lai. Nguyễn Vũ Bình là ngọn đèn báo
hiệu cho cơn bão dân chủ đang tích tụ trên quê hương.
Việt Nam và Con Đường Phục Hưng Đất Nước
Nguyễn Vũ Bình
Sau một thời gian tăng trưởng kinh tế ở mức cao (8-9%/năm), nền kinh tế
Việt Nam đang trong thời kỳ suy giảm. Năm 1998 mức tăng trưởng đạt
5,8%, năm 1999 là 5%. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1998 chỉ bằng
1/3 của năm 1997 và năm 1999 bằng 1/3 năm 1998. Vấn đề quan trọng là xu
hướng giảm của tăng trưởng kinh tế và đầu tư nước ngoài ngày càng rõ
nét. Tình trạng tham nhũng trở thành quốc nạn tham nhũng đã được Đảng,
Quốc hội, Chính phủ và nhân dân thừa nhận. Tệ nạn xã hội - nỗi đau lớn
nhất của dân tộc - đang phát triển không gì ngăn cản nổi. Gần đây,
người ta khám phá ra vụ buôn bán, tiêu thụ ma túy lớn nhất từ trước tới
nay, vụ án được xét xử ngày 13-6 tại Nam Định.
Trước tình hình thực tế của đất nước, có hai cách nhìn nhận, lý giải và
đánh giá. Theo quan điểm chính thống của Đảng và nhà nước thì rõ ràng
những thành tựu mà nước ta đạt được trong thập kỷ vừa qua là vô cùng
ngoạn mục. Tuy nhiên, mấy năm cuối thập kỷ, do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế - tiền tệ châu Á, mức tăng trưởng của nền kinh tế có phần
giảm sút song vẫn ở mức cao nhất khu vực và châu Á. Quốc nạn tham nhũng
thì Đảng và Chính phủ, Quốc hội cũng không bao giờ quên. Bài diễn văn
nào, cuộc họp nào cũng nhắc tới, thậm chí những cuộc tiếp xúc ngắn ngủi
giữa lãnh đạo Đảng với dân, tham nhũng cũng bị đưa ra bàn bạc, mổ xẻ.
Tệ nạn xã hội đích thị là do kinh tế thị trường (mặt trái của kinh tế
thị trường). Không còn phải nghi ngờ gì nữa, chúng ta chấp nhận kinh tế
thị trường cũng phải chấp nhận mặt trái của nó và tệ nạn xã hội là
đương nhiên. Vấn đề là giáo dục đạo đức và khắc phục mặt trái của kinh
tế thị trường.
Một cách nhìn nhận khác, trái hẳn với cách nhìn nhận thông thường,
chính thống. Cách nhìn nhận này thực ra đã được các nhà cách mạng lão
thành, những trí thức tâm huyết với đất nước ở trong và ngoài nước bằng
nhiều hình thức góp ý với Đảng và Nhà nước. Cũng là điều bình thường
khi người đi sau tổng hợp và phát triển với một ý chí và quyết tâm cao
trên cơ sở nhận thức của bản thân.
Đến thời điểm này, tôi cho rằng Việt Nam đang đứng trước một cuộc tổng
khủng hoảng lớn nhất của chế độ hiện hành. Có thể khái quát trạng thái
hiện nay của tình hình đất nước là : Bế tắc về đường lối, đình trệ về
kinh tế và dồn nén về xã hội. Sau đây sẽ phân tích từng vấn đề.
1 - Bế tắc về đường lối
Vấn đề lớn đầu tiên là đường lối về chính trị. Với ý thức hệ Mác- Lênin
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động và phát triển nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt
Nam đang đưa đất nước vào ngõ cụt bởi những lý do:
Thứ nhất, hệ tư tưởng Mác- Lênin khái quát thực tế lịch sử từ trước cho
đến thế kỷ XIX, hiện nay chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, không thể lấy
những kết luận của thế kỷ XIX làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
mọi hành động ở thế kỷ XXI được.
Thứ hai, dù nói cách nào thì sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và các nước
Đông Ấu đã chứng minh ý thức hệ tư tưởng Mác- Lênin không phù hợp với
lịch sử và đã bị đào thải.
Thứ ba, theo nhà toán học Phan Đình Diệu, khái niệm "Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN"
là một khái niệm mâu thuẫn. Chủ nghĩa xã hội, với tư cách là một thể
chế xã hội (theo định nghĩa kinh điển), là một chế độ mà về mặt kinh tế
phải xây dựng trên cơ sở công hữu hóa về tư liệu sản xuất, quản lý tập
trung và kế hoạch hóa vv... rõ ràng mâu thuẫn với kinh tế thị trường.
Mâu thuẫn trong cơ sở lý luận sẽ dẫn tới những biện pháp nửa vời trong
thực tiễn hành động. Đây là lý do quan trọng nhất dẫn tới bế tắc về
đường lối phát triển kinh tế hiện nay. Với quan điểm kinh tế Nhà nước (nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước)
giữ vai trò chủ đạo, nền kinh tế Việt Nam không thể phát triển được.
Trên thế giới chưa có một nước nào mà doanh nghiệp nhà nước hoạt động
có hiệu quả và thực tế đau đớn của Liên Xô và các nước Đông Ấu cũng như
những nước gọi là CNXH, trong đó có Việt Nam còn tồn tại chẳng phải đã
là những minh chứng rõ như ban ngày hay sao ?
Một vấn đề rất quan trọng nữa về đường lối, đó là đường lối hội nhập.
Chúng ta đều biết rằng, sự phát triển của một nền kinh tế ngày nay
không thể tách rời khỏi sự phát triển của nền kinh tế khu vực và thế
giới. Để thu hút vốn, kỹ thuật và trình độ quản lý cho phát triển kinh
tế thì hội nhập là yêu cầu tuyệt đối đối với bất cứ nền kinh tế nào.
Song hội nhập lại đòi hỏi các nền kinh tế phải đáp ứng đầy đủ những
nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. Và bất kỳ nền kinh tế nào đi
ngược lại hoặc chưa bảo đảm về cơ bản các nguyên tắc thị trường đều bị
tổn thương trong quá trình hội nhập. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ
châu Á vừa qua đã chứng minh rất rõ luận điểm này. Theo tôi, các nước
vừa qua bị khủng hoảng do đã vi phạm hai nguyên tắc rất quan trọng của
nền kinh tế thị trường, đó là : Thị
trường phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế và tính minh
bạch và trung thực của thông tin trong nền kinh tế thị trường. Như
vậy, với nền kinh tế nước ta hiện nay, các nhà lãnh đạo đều cảm nhận
được sự nguy hiểm của hội nhập và chính vì vậy đã dẫn tới sự nửa vời,
bị động và bế tắc trong đường lối hội nhập.
2 - Đình trệ về kinh tế
Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học cuối năm 1999 đã đưa nhiều số liệu
về việc tồn đọng một số sản phẩm cơ bản của nền kinh tế như : xi măng,
sắt, thép, phân bón, đường,vv... cũng như tình hình thất nghiệp rất lớn
trong các doanh nghiệp hiện nay. Đó là một trong những biểu hiện đình
trệ của nền kinh tế. Nhưng quan trọng hơn là đi vào tìm hiểu bản chất
của nền kinh tế nước ta hiện nay. Thú thực, là một người Việt Nam nhưng
tôi không thể vui mừng được trước những cái gọi là thành tựu của công
cuộc đổi mới như tăng trưởng kinh tế 8-9%, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 33%
xuống còn 17% theo số liệu chính thức. Ở đây chưa bàn đến phương pháp
thống kê (tính GDP) cũng như định nghĩa về hộ đói nghèo mà vấn đề là
những gì đang diễn ra đằng sau những con số đó. Chỉ tiêu tăng trưởng
kinh tế có một khuyết điểm rất lớn là nó không chỉ cho người ta biết
được khả năng thanh toán hay khả năng trả nợ của một nền kinh tế - và
đây là điểm quan trọng nhất. Tôi hình dung nền kinh tế Việt Nam như một
quỹ tín dụng nhân dân khổng lồ (dân gian gọi là chủ hụi) chưa bị vỡ nợ.
Đặc điểm của những quỹ tín dụng này là khả năng che đậy thực lực tài
chính bằng phương pháp vay của người sau trả cho người trước và nó chỉ
bị vỡ tung khi bị phát hiện hoặc không vay được nữa.
Theo số liệu công bố chính thức, tổng số nợ của nước ta là 11 tỉ USD, nhưng số nợ thực có thể là gấp rưỡi hoặc gấp đôi (xấp xỉ 20 tỉ USD), tức là số nợ gần tương đương hoặc bằng 2/3 tổng sản phẩm quốc nội của nước ta. (GDP của Việt Nam khoảng 30 tỉ USD nhưng có người nhận định chỉ vào khoảng 20 tỉ USD). Nhưng vấn đề quan trọng là một nền kinh tế không có hiệu quả (sẽ phân tích),
với đường lối và phương thức phát triển như hiện nay thì khả năng trả
nợ sẽ là con số không ! Điều này lý giải tại sao tất cả những số liệu,
thông tin về vấn đề này đều thuộc bí mật quốc gia. Xin lấy một ví dụ cụ
thể về hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Theo số liệu của Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học thì số nợ quá hạn
của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta là 7% trên tổng dư nợ, cộng
với 7% khoanh nợ cho các doanh nghiệp nhà nước là 14% (theo các chuyên gia nước ngoài là 23-25%).
Trong khi đó, bất kể ngân hàng nào trên thế giới, số nợ quá hạn trên
tổng dư nợ là 5% thì ngân hàng đó đã phải phá sản ! Như vậy hệ thống
ngân hàng của nước ta có số nợ quá hạn cao gấp 3 đến 5 lần giới hạn cho
phép mà vẫn tồn tại ung dung, vui vẻ. Điều mấu chốt là những thông tin
này phải được giữ bí mật, nhất là đối với những người gửi tiền vào ngân
hàng.
Vấn đề đói nghèo cũng có kịch bản tương tự. Đằng sau những con số mỹ
miều về thành tích xóa đói giảm nghèo là cuộc sống cùng cực của những
người công nhân, nông dân, những người lao động. Bởi vì những con số
chỉ phản ánh được mức tăng đơn thuần về lượng của thu nhập mà không
biết tới một chu kỳ "tiêu dùng mới"
của toàn xã hội trong những năm qua. Trong 10 năm (1990-1999) qua,
chúng ta đã bước sang một chu kỳ tiêu dùng mới với những chi tiêu cho
giáo dục, y tế, những khoản đóng góp mới, với chi tiêu cho những hủ tục
ở nông thôn mới trỗi dậy và những khoản tiêu cực phí cho bất kỳ công
việc nào,vv... Những con số tăng lên nhỏ nhoi về thu nhập liệu có lấp
đầy những chi phí phát sinh trong chu kỳ tiêu dùng mới của nhưng hộ đói
nghèo ? Có nên tự hào về những con số đó không khi mà những gia đình
này phải có những khoản tiền khổng lồ đối với họ thì con họ mới học lên
được trung học và đại học.
Tình trạng đình trệ về kinh tế được phân tích rất rõ trong Báo cáo kinh
tế của Viện Kinh tế học. Nguyên nhân trực tiếp của việc tồn đọng những
sản phẩm cơ bản là do chi phí sản xuất quá cao so với các nước trong
khu vực và trên thế giới. Nguyên nhân về cơ cấu - mục tiêu là do : thứ
nhất, phần lớn lượng vốn xã hội đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà
nước không có hiệu quả "Doanh
nghiệp nhà nước (DNNN) sử dụng hơn 80% lượng vốn xã hội, giữ vai trò
quan trọng trong sản xuất và đóng góp vào ngân sách nhà nước nhưng khả
năng tích luỹ còn rất hạn chế. Trên thực tế, tổng số nợ của DNNN năm
1999 đã lên tới khoảng 200.000 tỉ đồng. Nếu tính đầy đủ những khoản như
xóa nợ, khoanh nợ không phải thanh toán, bao cấp lãi suất, vv... thì
các DNNN này chẳng những không tạo ra được tích lũy mà còn khó tái tạo
được nguồn vốn ban đầu . Dù muốn lập luận như thế nào chăng nữa hơn 80%
lượng vốn xã hội sử dụng theo phương cách trên vẫn là nguyên nhân của
tình trạng giảm sút tăng trưởng và kìm hãm cầu" (Tạp chí Cộng sản,
số 2, tháng 1-2000, trang 32) ; Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân không
phát triển được. Chúng ta đều biết, kinh tế tư nhân là động lực phát
triển của tất cả các nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới.
Khu vực kinh tế này không phát triển được thì nền kinh tế cũng không
thể phát triển.
Có ba nguyên nhân quan trọng làm cho khu vực kinh tế tư nhân không phát
triển. Một là, không thừa nhận sở hữu tư nhân dẫn tới việc tư nhân kinh
doanh không được bảo đảm và bảo vệ bằng pháp luật. Hai là, kinh tế thị
trường chưa chín muồi (chưa tạo lập đầy đủ và đồng bộ các thị trường),
chưa có hệ thống pháp luật cho kinh tế thị trường phát triển, dư luận
xã hội đối với kinh tế tư nhân còn nhiều nặng nề, định kiến. Ba là, sự
méo mó của hoạt động sản xuất kinh doanh do việc ưu tiên quá mức cho
các DNNN.
Với hai nguyên nhân cơ cấu-mục tiêu nêu trên, nền kinh tế nói chung
không có hiệu quả. Kết hợp với việc sụt giảm đầu tư nước ngoài và đường
lối hội nhập bế tắc, sự đình trệ của nền kinh tế là một tất yếu.
3 - Dồn nén về xã hội
Đối với mỗi một nhà phân tích có lương tâm, vấn đề xã hội của đất nước
hiện nay là nỗi đau lớn nhất bởi tính chất nghiêm trọng và khả năng
khôi phục cực kỳ khó khăn, lâu dài của nó. Có thể nói, những nền tảng
cơ bản của xã hội Việt Nam đã bị phá hủy hoàn toàn. Điều này thể hiện
trên những phương diện sau :
- Tính trung thực xã hội đã bị phá hủy hoàn toàn. Tính trung thực xã
hội là nền tảng quan trọng nhất để một xã hội phát triển lành mạnh.
Song, chúng ta đều biết rằng, qua thời gian tính trung thực xã hội đã
biến mất. Trước hết, sự không trung thực bắt nguồn từ hệ thống chính
trị, thẩm thấu vào hệ thống quản lý và lan tỏa ra toàn xã hội. Một đặc
trưng của xã hội hiện nay là không một ai nói thật và rất sợ sự thật.
Không phải ngẫu nhiên mà phương châm hành động của Đại hội VI là nói
đúng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật và đánh giá đúng sự thật.
- Đạo đức xã hội đã bị phá hủy nghiêm trọng. Những quan hệ xã hội,
trong đó quan hệ con người với con người là cơ bản, và quan hệ tình cảm
hợp thành nền tảng đạo đức xã hội đều bị phá hủy nghiêm trọng bởi sự ra
đời và lên ngôi của một thứ quan hệ "đồng chí". Thực ra quan hệ "đồng
chí" không có nội dung xã hội và không thể tồn tại, song chính vì vậy
mà nó đã tồn tại bằng một sự lên gân và tiêu diệt các mối quan hệ khác.
Không có gì ngạc nhiên khi ngày nay người ta thường gọi những người mà
mình ghét và khó chịu là "đồng chí". Trải qua một thời gian dài, khi mà
quan hệ đồng chí không còn nữa thì cũng là lúc mà những quan hệ khác đã
bị phá hủy hoàn toàn.
- Những giá trị xã hội và thước đo giá trị xã hội đã bị đảo lộn. Bằng
sự can thiệp sâu rộng của chính trị vào tất cả các lĩnh vực và trên mọi
phương diện, đến nay những giá trị xã hội và thước đo giá trị xã hội đã
bị đảo lộn hoàn toàn. Những gì là đúng, là sai, là hay, là dở không thể
nào thống nhất và phân biệt được. Con người nào là tài, là giỏi, là
dốt, là cơ hội,vv... không có thước đo xã hội làm chuẩn mục đánh giá.
Đây đúng là bi kịch của xã hội Việt Nam bởi vì chúng ta không thể nào
huy động và sử dụng được những con người tài giỏi, trí tuệ nhất của đất
nước để thoát ra khỏi tình trạng hiện nay .
- Con người bị tha hóa. Biểu hiện cuối cùng và cao nhất về sự xuống cấp
xã hội là sự tha hóa của con người. Người ta không được phép nói ra
những điều mình suy nghĩ, hành động theo những gì người ta cho là đúng,
tức là mình không phải là mình. Có người nói rằng, con người ngày nay
là con người nhị nhân cách, song theo tôi thì những người nhị nhân cách
đó là những người không có nhân cách. Làm sao mà có nhân cách được
trong khi tất cả các phát biểu chính thức, những cuộc họp, hội thảo anh
nghĩ một đằng lại nói một nẻo.
Lý giải nguyên nhân của tất cả những vấn đề xã hội nêu trên là một điều
hết sức khó khăn. Song cũng có một vài điều để chúng ta suy nghĩ về
nguyên nhân. Tuyệt đối hóa mục đích trong các hoạt động thực tiễn, tức
là phải đạt được mục đích bằng mọi biện pháp, mọi giá, không cần xem
xét tới hậu quả - có thể là nguyên nhân khởi nguồn, đầu tiên. Tuyệt đối
hóa quyết định cấp trên - mệnh lệnh, một nguyên tắc của chiến tranh
được đưa vào quản lý xã hội. Và cuối cùng, kết hợp với ảo tưởng về một
xã hội dựa trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất.
Trên nền của một xã hội như vậy, số lượng ngày càng tăng của tội phạm
và tính chất man rợ và nghiêm trọng của tội ác không phải là điều gây
quá nhiều ngạc nhiên. Vấn đề là hiện nay đang có sự dồn nén đặc biệt về
xã hội được tạo ra bởi những khó khăn của nông dân, công nhân, những ức
chế của giới trí thức, những hoài nghi và lo lắng của cán bộ lão thành,
cán bộ hưu trí. Có ba nguyên nhân dẫn tới những dồn nén xã hội.
* Một là, điều kiện sống,
sinh hoạt khổ cực của nông dân và công nhân. Điều này không cần dẫn
chứng và phân tích nhiều bởi vì đối với công nhân, tình trạng không có
việc làm và thu nhập thấp là phổ biến và rõ như ban ngày. Đối với nông
dân, sự cùng cực và dồn nén đã bùng nổ ở Thái Bình mà nguyên nhân cơ
bản của nó đã được phân tích hoàn hảo trong bài "Từ thực tế một xã, suy
ngẫm về sự đóng góp của nông dân" của Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Trọng
đăng trên Tạp chí cộng sản số 16, tháng 8-1997. Trong bài báo
có hai điều cần lưu ý, đó là sự dư thừa của lực lượng lao động từ
50-60% ở vùng đồng bằng sông Hồng. Điều này phản ánh sự bế tắc trong
việc tạo lập môi trường làm ăn thuận lợi cho nông dân. Thứ hai là mức
đóng góp rất lớn của nông dân từ 13-21 khoản chiếm tới trên 70% thu
nhập, dẫn tới thu nhập thực tế của nông dân ở mức cực kỳ khốn khổ:
28.400 đồng/người/tháng của lao động thuần nông và 40.000
đồng/người/tháng cho người có thêm thu nhập phụ (điều này phản ánh
chính sách hà khắc đối với nông dân). Với mức thu nhập thấp, cộng với
những tiêu cực phát sinh ở địa phương (cán bộ tham ô, tham nhũng, hách
dịch...) những người nông dân Thái Bình nổi dậy đã thực sự cảnh báo
nguy cơ tổng khủng hoảng của toàn xã hội.
* Hai là, bất công xã hội do sự phân hóa giàu – nghèo,
giữa nông thôn và thành thị đang diễn ra ngày càng sâu sắc. Trong khi
những người nông dân ở nông thôn, những người công nhân đang vật lộn
với cuộc sống khổ cực thì lại có một tầng lớp mới (tuyệt đại bộ phận là
những kẻ có chức, có quyền nằm trong bộ máy Nhà nước, Đảng) giàu nứt đố
đổ vách, ăn tiêu xa xỉ cả đời không hết của. Trong khi hàng tiêu dùng
bão hòa ở thành thị thì người nông dân ở nông thôn vẫn rách rưới, thiếu
thốn và không thể nào mua nổi. Pháp luật chỉ nghiêm minh đối với những
người thấp cổ bé họng và nghèo khổ nhưng lại né tránh những kẻ có quyền
và có tiền.
* Ba là, cảm nhận về sự bế tắc của tương lai.
Đối với người nông dân và công nhân, người ta không nhìn thấy một tương
lai khả quan nào về việc làm cũng như cải thiện thu nhập của họ. Giới
trí thức và những người có tâm huyết với đất nước cũng không nhìn thấy
một tia sáng nào dưới đường hầm tăm tối của đường lối phát triển đất
nước hiện nay. Việc không nhìn thấy lối thoát đã góp phần tạo ra sự thụ
động xã hội và cuối cùng là sự dồn nén xã hội.
Trên đây là những khái quát và phân tích về tình hình đất nước. Song
tất cả thực trạng này mới chỉ là tiền đề cho sự thay đổi có tính chất
cách mạng của xã hội Việt Nam. Nếu dựa vào kinh nghiệm rút ra từ những
nước thay đổi chế độ trong vòng 15 năm trở lại đây, chúng ta không nhìn
thấy tương lai của sự thay đổi. Ở Việt Nam, sự thay đổi chế độ bắt
nguồn từ sự thay đổi đường lối chính trị do những người lãnh đạo cao
nhất khởi xướng bị loại trừ hoàn toàn. Mặt khác, sự sụp đổ về kinh tế
dẫn tới động loạn xã hội và thay đổi về chính trị (như Anbani và
Indonexia) rất khó xảy ra bởi khả năng can thiệp và tinh thần cảnh giác
cao của Nhà nước trước những biến động kinh tế. Vậy thì phải chăng là
sự gia tăng của ba yếu tố khó khăn kinh tế, dồn nén xã hội, sự phân hóa
của tầng lớp lãnh đạo cùng với sự xuất hiện của lực lượng đối lập sẽ là
câu trả lời về sự thay đổi của đất nước.
Đứng trước tình hình hiện nay, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là gì
? Liệu Đảng Cộng sản có khả năng tự thay đổi mình và xoay chuyển được
tình thế để vẫn giữ được vị trí lãnh đạo đất nước trong tương lai không
? Câu trả lời là không và có.
- Không: Tất
cả sự lựa chọn và thay đổi khó khăn nhất của Đảng CS tập trung vào hai
điểm mấu chốt là Doanh nghiệp Nhà nước và chống tham nhũng. Nếu từ
bỏ được quan điểm DNNN giữ vai trò chủ đạo, đồng nghĩa với việc phát
triển kinh tế tư nhân, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế của đất
nước và chống được tham nhũng, đồng nghĩa với việc làm trong sạch Đảng
và lấy lại được uy tín trước nhân dân thì Đảng CS vẫn ung dung một mình
lãnh đạo đất nước tiến vào thế kỷ XXI . Nhưng than ôi ! điều đó nằm
ngoài khả năng hiện thực. Bởi vì loại bỏ DNNN cũng chính là từ bỏ lợi
ích sống còn của tầng lớp lãnh đạo, lợi ích được bao phủ bởi vẻ đẹp
huyền ảo (không ai hiểu được) của định hướng XHCN, của con đường đi lên
CNXH hiện nay. Còn chống tham nhũng ư ? tham nhũng ở Việt Nam là phương
thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức
lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan, bán tước nở rộ hiện nay.
Liệu ĐCS có thể chống được tham nhũng không ?
- Có: Trước khi trả lời câu hỏi, cần phải có sự thống nhất về nhận thức.
Nếu cho rằng tình hình đất nước hiện nay chỉ là những khó khăn tạm
thời, không liên quan gì tới bản chất chế độ, thì không có gì phải bàn
ở đây. Song nếu Đảng CS nhận thức được nguy cơ thực sự của tình hình
đất nước, khả năng thay đổi chế độ xã hội trong tương lai gần là có
thực và không tránh được, thì vấn đề là Đảng phải làm gì để tự thay đổi
và giữ được khả năng lãnh đạo (tất nhiên là không phải độc quyền lãnh
đạo nữa) trong điều kiện ổn định của xã hội. Trong tình hình như vậy,
Đảng CS phải có một quyết tâm và một sự hy sinh cực kỳ to lớn nhưng cần
thiết. Đó là Đảng CS cần tự đặt mình vào thử thách sống còn trước khi
bị xã hội làm điều đó. Và tôi tin rằng nếu Đảng CS thực sự vì dân, vì
nước, thực sự muốn lấy lại lòng tin của nhân dân để tiếp tục lãnh đạo
đất nước thì quyết định duy nhất đúng hiện nay là từ bỏ độc quyền lãnh
đạo, đồng ý thực hiện đa nguyên tư tưởng, đa đảng đối lập. Tôi xin phân
tích thêm ý nghĩa của quyết định này .
Nếu quyết định này (đồng ý thực hiện đa nguyên, đa đảng) chỉ là giải
pháp để giữ vị trí lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam trong giai đoạn nhất
định, thì đối với lịch sử của đất nước, nó lại là một quyết định, một
chiến công vĩ đại nhất từ trước tới nay. Nhìn lại toàn bộ lịch sử nước
ta, truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, truyền thống chống ngoại
xâm vô cùng oanh liệt nhưng nhân dân chưa bao giờ được tự do, đất nước
chưa một ngày có dân chủ. Hiện nay đất nước đang ở thời điểm quyết định
cho bước chuyển biến lớn nhất của lịch sử, và lịch sử đang trao trọng
trách cho tất cả chúng ta. Chúng ta, trước hết là ĐCS, cần phải nắm bắt
và khai thác được thời cơ có một không hai này để mở ra cho toàn xã hội
một chân trời mới của sự phát triển. Tôi tin tưởng tuyệt đối và mãnh
liệt rằng, dù có bất kỳ trở ngại nào, dù ý muốn chủ quan của bất kỳ cá
nhân nào, lực lượng nào cản trở, dân tộc Việt Nam vẫn đi tới đích của
lịch sử : Tự do của cá nhân và Dân chủ cho toàn xã hội.
Là một người dân Việt, với nhận thức về tình hình đất nước và xu thế
không thể đảo ngược, tôi chỉ có một mong muốn duy nhất là làm sao góp
phần giảm thiểu tối đa những tổn thất mà nhân dân phải gánh chịu, nảy
sinh từ bước chuyển biến đau đớn nhưng đầy vinh quang sắp tới. Lý do
cũng rất đơn giản, một thay đổi lớn của lịch sử nếu không có sự chuẩn
bị về tinh thần của nhân dân sẽ rơi vào hỗn loạn, dẫn tới hậu quả khôn
lường cho xã hội. Chính vì vậy, cần có một lực lượng đối lập ngay trong
lòng xã hội hiện nay để một mặt, thúc đẩy tất cả các yếu tố sẵn có đi
tới chín muồi và mặt khác, cùng với thời gian và sự thay đổi, tạo ra
nền tảng vững chắc cho một cơ cấu dân chủ trong tương lai (tránh tình
trạng như nước Nga, khi thay đổi chế độ không có một chính đảng thực sự
thay thế dẫn tới việc kéo dài thời gian xây dựng thiết chế dân chủ).
Trên tinh thần đó, Tôi đã làm đơn xin thành lập đảng Tự do - Dân chủcó gửi kèm theo đây). Xin trình bày một số nét sơ lược về đảng Tự do - Dân chủ cũng như suy nghĩ của bản thân về con đường phát triển đất nước.
Đảng Tự do - Dân chủ có mục đích tự thân là đấu tranh cho Tự do cá nhân
và Dân chủ xã hội. Trong bất kỳ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, nếu Đảng
không còn đấu tranh cho Tự do và Dân chủ, thì Đảng sẽ không còn là đảng
Tự do - Dân chủ. Mục tiêu cơ bản và lâu dài của đảng Tự do - Dân chủ là
xây dựng một xã hội : Nhân dân tự do - giàu có, Quốc gia hùng mạnh, Xã
hội dân chủ - công bằng - văn minh.
Để thực hiện được mục tiêu cao đẹp trên, cần xây dựng được tiền đề, nội
dung và điều kiện cho sự phát triển đất nước. Đó là : Dân chủ hóa xã
hội, Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và phát triển, Quốc tế
hóa mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội .
a/ Dân chủ hóa xã hội. Nói tới dân chủ hóa xã hội là phải
tôn trọng những nguyên tắc chung của dân chủ, tức là phải thừa nhận
những quyền cơ bản của con người, quyền công dân mà bất kỳ chế độ dân
chủ nào cũng phải thừa nhận. Đó là quyền được sống và mưu cầu hạnh
phúc, quyền được tự do ứng cử và bầu cử. Mặt khác, cần xây dựng hệ
thống luật pháp làm nền tảng cơ bản cho chế độ chính trị dân chủ. Một
luật pháp cần bảo đảm được những quyền con người và quyền công dân cơ
bản, bảo đảm được sự phát triển và thay đổi bằng tiến hóa trong ổn định
và quan trọng nhất là tạo ra khả năng lựa chọn cái tốt nhất cho đất
nước. Điều cần lưu ý là xây dựng chế độ dân chủ phải là một quá trình
liên tục, tự điều chỉnh, tự bổ sung và hoàn thiện. Cần huy động được sự
cống hiến của mọi người, không loại trừ người nào trong quá trình thực
hiện dân chủ.
b/ Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường thì quyền tư hữu tài sản là nền tảng phát
triển, quyền sở hữu trí tuệ là động lực phát triển. Cần phải tuyệt đối
bảo đảm và bảo vệ hai quyền này bằng luật pháp. Đồng thời tuân thủ
nguyên tắc số một của kinh tế thị trường là : thị trường phân bổ có
hiệu quả các nguồn lực. Nền kinh tế hiện đại gắn liền với xã hội thông
tin, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Với tiềm năng trí tuệ và khả
năng sáng tạo của con người Việt Nam, chúng ta hy vọng một sự bùng nổ
khi mỗi một cá nhân được tự do phát triển.
c/ Quốc tế hóa các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đây vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để phát triển của tất cả các quốc
gia trên thế giới . Xét trên góc độ hội nhập, đó là việc tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại nhằm phát huy văn hóa dân tộc lên tầm cao mới.
Xét trên giác độ toàn cầu hóa, đó là thực hiện sự luân chuyển tự do của
các yếu tố : nhân lực, thông tin, vốn, kỹ thuật. Trong điều kiện hiện
nay, đẩy mạnh quốc tế hoá các hoạt động trên mọi lĩnh vực chính là điều
kiện để thực hiện dân chủ hoá xã hội và xây dựng nền kinh tế thị trường
hiện đại .
***
Bài viết này tập hợp tất cả trí tuệ và tâm huyết của bản thân tôi. Với
tâm niệm rằng, cần phải có một đảng chân chính và trung thực ngay từ
buổi đầu thành lập, bằng phương thức đấu tranh công khai và hoà bình
cho Tự do và Dân chủ ở Việt Nam. Tôi biết rằng, có thể tôi sẽ phải hy
sinh nhưng vẫn tin tưởng tuyệt đối là : Lịch sử sẽ sang trang, nhân dân
Việt Nam nhất định sẽ được hưởng Tự do và Dân chủ trong một tương lai
không xa nữa. Và trên nền của Tự do và Dân chủ, nhân dân Việt Nam sẽ
làm cho cả thế giới phải kinh ngạc về dân tộc mình, đất nước mình không
kém những gì họ đã làm trong lịch sử.
Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 2000
Nguyễn Vũ Bình
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
Đơn xin thành lập Đảng Tự Do - Dân chủ
Kính gửi : Ông Trần Đức Lương
Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đồng kính gửi : Ông Nông Đức Mạnh
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tên tôi là : Nguyễn Vũ Bình, phóng viên Tạp chí Cộng sản, thường trú
tại số nhà 26, tổ 67b, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình đất nước, tôi có
nhận thức rằng Việt Nam hiện nay đang đứng trước một cuộc tổng khủng
hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị và xã hội. Theo nhận định của
tôi, trong tương lai không xa nữa, sẽ có một sự thay đổi lớn của lịch
sử đất nước và đó chính là sự thay đổi về chế độ xã hội. Việc có một
lực lượng đối lập, mà đại diện là một chính đảng trong lòng xã hội hiện
nay là yêu cầu bức thiết và tất yếu để giảm thiểu những tổn thất mà
nhân dân phải gánh chịu trong quá trình thay đổi. Trên cơ sở nhận thức
như vậy, tôi mạnh dạn làm đơn này, đề nghị và kính mong các Ông, vì
tương lai đất nước, vì lợi ích của dân tộc, cho phép tôi thành lập đảng
Tự Do - Dân Chủ.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 2000
Người làm đơn
Nguyễn Vũ Bình
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: