DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM HIỆN THỰC VÀ KHẢ NĂNG ?
Trich tu Canh En - Lê Tùng Minh
DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM đã và đang là vấn đề Thời Sự, không chỉ trong phạm vi Quốc Gia, mà còn là sự quan tâm của Quốc Tế Dân Chủ! Từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đã cưởng ép Miền Nam Quốc Gia hợp nhất với Miền Bắc Cộng Sản, áp đặt một chế độ chính trị chuyên chính độc tài do ĐCSVN độc quyền lãnh đạo, dưới chiêu bài Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).
Thực tế lịch sử đã cho chúng ta thấy: Kể từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975, với sự kiện chính trị được gọi là “Hội Nghị Hiệp Thương Chinh Trị Thống Nhất Tổ Quốc”, và cuộc Tổng tuyển cử mị dân vào ngày 25-4-1976 để bầu ra Quốc hội bù nhìn của nước “Việt Nam thống nhất”, thì nhân dân miền Nam nói riêng, toàn dân Việt Nam nói chung, đã hoàn toàn mất tự do và không có quyền làm chủ số phận của mình (!) Quyền sinh, quyền sát đều do ĐCSVN độc quyền quyết định. Đảng muốn cho ai sống thì người đó mới được quyền sống. Đảng muốn bắt kẻ nào chết thì kẻ đó nhất định phải chết!
Thế nhưng, bộ máy tuyên truyền của ĐCSVN thì lúc nào cũng huênh hoang về cái gọi là “Nhà Nước Phap Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa”, rằng :”Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.” (Xem “Văn Kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ IX”, Nhà XB Chính Trị Quốc Gia, Hànội 2001, trang 131). Ngay Nông Đức Mạnh - Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương ĐCSVN khóa IX – cũng công khai lừa gặt đảng viên CSVN, ru ngủ quần chúng lương thiện rằng: “Chúng ta đã từng bước xây dựng được nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền dân chũ xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…” (Xem “35 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh”, Nhà XB Chính Trị Quốc Gia, Hànội 2004, trang 245)
Để góp phần vạch trần thủ đoạn chính trị vô cùng thâm độc này của ĐCSVN trước công luận ở trong nước và ở hải ngoài; đồng thời góp thêm sức mạnh cho công cuộc đấu tranh thực hiện DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM đi đến thắng lợi, trong giai đoạn lịch sử (2005-2010) – là giai đụan có tính quyết định “Ai Thắng Ai” - Đảng CSVN hay Lực Lượng Dân Chủ ? Chúng tôi công bố bài nghiên cứu vừa mang tính chất lịch sủ vừa có ý nghĩa thời sự chính trị này, ngoài mục đích đã nói ở trên, còn muốn được sự trao đổi, rhảo luận với những bằng hữu thật sự quan tâm, cùng nhau tìm ra một phương sách thích hợp và hữu hiệu nhất, cho sự nghiệp DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM!
Phần I
HIỆN THỰC VỀ CÁI GỌI LÀ “DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”.
Trước khi xét đến hiện thực về cái gọi là “Dân chủ Xã hội Cgủ nghĩa”, chúng ta hãy nghiên cứu về luận điệu Dân chủ của ĐCSVN suốt trong hơn nửa thế kỷ nay (1945-2005), xem như thế nào?
A- “Luận điệu Dân chủ” của Đảng CSVN
Lịch sử thành lập “chế độ dân chủ” của ĐCSVN, đến nay đã trải qua hai thời kỳ: Thời kỳ “Dân Chủ Nhân (1946-1975) của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), ở miền Bắc Việt Nam. Thời kỳ “Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa” (1975 đến nay} của Nhà nước CHXHCNVN, trên cả nước Việt Nam. Thật ra, hai chế độ Dân chủ này chỉ khác nhau về mặt từ ngữ. Nhưng, nếu xét về bản chất, trên căn bản, thì không có gì khác nhau!
Luận điệu Dân chủ của Đảng CSVN đều được bắt nguồn từ học thuyết Marx-Lénine, thông qua sự truyền bá của ông Hồ Chí Minh. Và từ sau khi ông Hồ Chí Minh đã chết (2-9-1969), Ban chấp hành Trung ương ĐCSVN các khóa (III đến IX) đều lợi dụng “Tư tưởng Hồ Chí Minh” để ru ngủ đảng viên và quần chúng nhân dân Việt Nam. Tác phẩm “35 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Chũ Tịch Hồ Chí Minh” là công trình tuyên truyền mới nhất về “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” của Đảng CSVN (Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hànội, 2004, dày 828 trang, khổ 16 . 24cm)
Trong thời kỳ xác lập và xây dựng Nhà nước VNDCCH (tức chế độ Dân Chủ Nhân Dân), ông Hồ Chí Minh đã tô vẻ rằng: Chế độ Dân Chủ Nhân Dân (DCND) là chế độ mà “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc nước là việc chung, mỗi một người con Rồng cháu Tiên, bất kỳ già trẻ, gái trai, giàu nghèo, noi giống, tôn giáo đều phải gánh vác một phần” Và “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhằ. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử… Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hôi. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân.” (theo “Hồ Chí Minh toàn tập”, xuất bản lần thứ hai, nxb Chính trị Quốc gia, Hànội 1995, t.4, trang 133).
Ông Hồ Chí Minh cũng quảng cáo về “NHÀ NƯỚC CỦA DÂN” như sau: “Chính phủ của ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân.” Hơn nữa, “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân…” ( Theo “Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật”, nxb Pháp lý, Hànội 1985, các trang 221 và 275). Và căn cứ vào quan điểm đó cũa ông Hồ Chí Minh, các bản Hiến pháp của nước VNDCCH năm 1946 và 1960, cũng như các bản Hiến pháp năm 1980 và 1992 của nước CHXHCNVN, đều có ghi rằng: “Các cơ quan Nhà nước, can bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lien hệ chặt chẽ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.” (Xem Hiến pháp 1992, Điều 8 )
Còn về “NHÀ NƯỚC DO DÂN” thì ông Hồ Chí Minh đã biểu đạt quyền của nhân dân, bằng những từ ngử hấp dẩn người nghe, trên các vấn đề như :
-“Toàn bộ công dân không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, tín ngưỡng, nam nữ, tôn giáo đều có quyền bầu cử tự do chọn ra các đại biểu cho Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp.”
- “Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước và các cơ quan trong bộ máy của Nhà nước để quản lý xã hội…”
– “Chính phủ là cơ quan hành chánh cao nhất của Nhà nước, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, chấp hành pháp luật.”
-“Mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước về đối nội, đối ngoại đều chỉ là sự
thực hiện ý chí của nhân dân, do nhân dân.”
(Xem “Hồ Chí Minh toàn tập”, sách đã dẫn, trang 161 )
Về vấn đề “NHÀ NƯỚC VÌ DÂN”, ông Hồ Chí Minh đã giảng giải như sau: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta phải hết tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu và kính ta.” Về quyền lợi thiết thân của nhân dân, ông Hồ Chí Minh đã nêu ra bón vấn đề cụ thể như :
“Làm cho dân có ăn.
Làm cho dân có mặc.
Làm cho dân có chỗ ở.
Làm cho dân có học hành.”
(Xem “Hồ Chí Minh toàn tập”, sách đã dẫn, trang 152)
Đến thời kỳ hình thành Nhà nước CHXHCNVN (tức chế độ Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa) từ 1975 đến nay, về luận điệu căn bản về cái gỏi là “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” không có gì khác hơn những luận điệu trước năm 1975, nhưng những luận điệu đó, đã được ĐCSVN sung bái thành “tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước” (như đã trình bày ở trên). Nếu có khác chăng, chỉ là cách dung từ ngữ và đề cao tính chất giai cấp của chế độ XHCN mà thôo I (!). Sau đây, là vài dẫn chứng cụ thể :
1- Đại hội Đại Biểu Toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN (khai mạc ngày 15-12-1986), được xem là “đánh dấu sự đổi mới…về tư duy, phong cách, tổ chức và cán bộ.” của ĐCSVN, như tuyên bố của Nguyễn Văn Linh, Tổng Bó thư Ban chấp hàng Trung ương Đảng khóa VI (1986-1991). Và trong Nghị quyết của Đại hội VI đã có ghi “Quyền Làm Chủ Tập Thể Của Nhân Dân Lao Động” (chớ không phải nhân dân nói chung như ông Hồ đã nói?), trong đó có ghi rõ rằng:
“Toàn Đảng, từ các đồng chí lãnh đạo đến mọi đảng viên, phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dạn lao động, chớ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào.” Ý thức phục vụ nhân dân phải được thấu suốt trong hoạt động của cán bô, đảng viên, nhân viên nhà nước. Đó là tiêu chuẩn hang đàu đánh giá phẩm chất của mỗi người.
“Quyền làm chủ của nhân dân cần được thể chế hóa bằng pháp luật và tổ chức.Dân chủ đi đôi với kỹ luật, quyền hạn và lợi ích đi đôi với trách nhiêm và nghĩa vụ.Mỗi người đều phải làm chủ lao động của mình, làm việc có kỹ luật, với năng suất và hiệu quả cao, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Mọi công dân phải tham gia việc giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, chống địch phá hoại, bảo vệ tổ quốc, coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của mình.”
“Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định…. Chỉnh đốn tổ chức, thi hành những biện pháp có hiệu lực trừ diệt các tệ hối lộ, cửa quyền, loại bỏ và nghiêm trị những phần tử biến chất lợi dụng danh nghĩa đảng và chính quyền để đục khoét nhân dân, áp bức quần chúng. Các cơ quan tòa án, kiểm sát, thanh tra, an ninh… dựa vào nhân dân để phát hiện và xử lý kịp thời những vụ vi phạm quyền công dân.”
(Theo Văn kiện Đại hội lần thứ VI, nhà xb Sự Thật, Hànội 1987, các trang 110-111, 112-113)
2- Trong diễn văn bế mạc Đại hội Đại biểu Toàn quốc Lần thứ VIII (1-7-1996), Đổ Mười, Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành Trung Ương khóa 8, đã tuyên bố rằng: “Đại hội VIII của Đảng là đại hội tiếp tục đổi mới vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.”
Với luận điệu ấy, họ cứ tiếp tục cái lý thuyêt kinh viện, giáo điều, củ rich, về cái gọi là “Dân chủ Xã hội Chủ nghĩa” để lừa mị quần chúng lương thiện (!) Trong vấn đề Phát Huy Vai Trò Làm Chủ Của Nhạn Dân, Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước CHXHCNVN, nghị quyết của Đại hội VIII có nêu rõ như sau:”Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị… dể thực hiện phương chân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thong qua đại diện, làm chủ trực tiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ sở.” (Xem Văn kiện Đại hội VIII, nxb Chính trị Quốc gia, Hànội, 1996, trang 44) Đồng thời nghị quyết này cũng khẳng định một cách tự phụ về vai trò lãnh đạo của ĐCSVN như sau: “Phải khiên định sự lãnh đạo của Đảng, vì ở nước ta không có sự lãng đạo của Đảng cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà nước của dân, do dân, vì dân, không thể thực hiện được công bằng xã hội, không thể có chủ nghĩa xã hội.” (Văn kiện đã dẩn, trang 47)
Nghị quyết của Đại hội VIII của ĐCSVN cũng xác quyết về các quan điểm cơ bản trong việc hoàn thiện Nhà nước CHXHCNVN như sau:
“-Xây dựng Nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân; lấy lien minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
“-Quyền lực nhà nước là thống nhất… trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
“-Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
“-Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
“-Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.”
(Văn kiện Đại hội VIII, đã dẩn, trang 122).
3- Theo như ngôn ngũ “dao to búa lớn”, tự hào không biết ngượng mồm của Trần Đức Lương, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính Trị BCHTƯ Đảng khóa VIII, thì Đại hội Đại biểu Toàn quốc Lần thứ IX của ĐCSVN khai mạc vào ngày 19-4-2001, là: “Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới, thể hiện ý chí kiên cường và niềm hy vọng lớn lao của cả dân tộc.” “là một mốc son lịch sử đánh dấu thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.” (Xem Văn Kiện Đại hội IX, nhà xb Chính trị Quốc gia, Hànội, 2001, trang 8)
Luận điệu Dân chủ của ĐCSVN vào năm 2001, về căn bản không khác gí hơn 45 năm trước (1956-2000), tuy nhiên về mặt sử dụng từ ngữ có phần khôn khéo và tinh vi hơn, nhưng cũng không che dấu được thủ đoạn mị dân của chế độ Đảng trị độc tài! Dưới đây là Luận Điêu Dân Chủ XHCN hiện đại nhất của ĐCSVN:
“Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát hu dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành.
“Chính sách và pháp luật của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân và sinh hoạt dân chủ trong xã hội….
“Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển…
“Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.”
(Văn kiện Đại hội IX, đã dẩn, các trang 45-46)
Không chỉ có như thế, Nghị quyết Đại hội IX của ĐCSVN còn tô vẻ một cách đậm nét về Dân Chủ và Nhân Quyền như sau:
“Thực hiện tốt Quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng. Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức. Xây dựng Luật trưng cầu ý dân.
“Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.” (Văn kiện Đại hội IX, đã dẩn, trang 134)
Trên đây, là một phần tư liệu căn bản, xác thực 100%, có thể giúp cho
những ai muốn so sánh, đối chiếu với hiện thực dân chu của xã hội Việt
Nam suốt trong 30 năm qua (1975-2005), dưới chế độ CHXHCN do Đảng CSVN
độc quyền lãnh đạo!
B- Hiện Thực Về Cái Gọi Là “Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa”
Có thể khẳng định rằng: Nhà nước CHXHCNVN là “Nhà nước của Đảng, do Đảng
và vì Đảng” ( thay vì Nhà nước của dân, do dân và vì dân, như luận điệu
tuyên truyền của Đảng CSVN!). Và trong thực tế lịch sử cái gọi là “Dân
chủ Xã hội Chủ nghĩa” chỉ là những mỹ từ mị dân, bởi vì bản chất của chế
độ CHXHCNVN là “mất Tự do, không có Dân chủ và vi phạm Nhân quyền”!
Sau đây là những bằng chứng điển hình, cấu thành những “bản án lịch sử”
để cho toàn dân tộc Việt Nam phán xét!
1- Thống nhất Bắc – Nam không qua trưng cầu dân ý!
Việc sát nhập hai miền Nam-Bắc để trở thành một Quốc gia Việt Nam thống nhất là một tất yếu lịch sử, là nguyện vọng tối cao của toàn dân tộc, chớ không phải ý muốn của riêng ai (?) Nhưng việc tiến hành thống nhất đất nước không thể tùy tiện, do sự quyết định của một nhóm người, chỉ vì lợi ích của đảng phái, coi thường nguyện vọng của toàn dân, cưởng ép quy luật phát triền khách quan của xã hội. Nếu hành động trái nghịch với sự phát triển chính thường của lịch sử, chắc chắn sẽ gặt hai những hậu quả tai hại không lường cho quốc gia dân tộc!
Vào thời điểm lịch sử tháng 11 năm 1975, sự khác biẹt quá lớn về mọi mặt – Kinh tế-Chính trị, Văn hóa-Xã hội - giữa miền Nam Tự do và miền Bắc Cộng sản, chưa có đầy đủ điều kiện chủ quan và khách quan để tiến thống nhất đất nước ngay! Nhưng, vì mưu đồ bá chủ của chủ Chủ nghĩa Xã hội-Chủ nghĩa Cộng sản, mà ký thật là quyền lợi ích kỷ của Đảng CSVN mạo danh “lợi ích của quốc gia dân tộc”, nên tập đoàn Lê Duẫn-Lê Đức Thọ-Trường Chinh-Phạm Văn Đồng-Phạm Hùng…đã vội vàng quyết định tiến hành “Hội nghị Hiệp thương Chính trị Thống nhất Tổ quốc” (từ ngày 15 đến ngày 21-11-1975). Cái goi là “Hiệp thương Chính trị” chỉ là sụ lừa mị quần chúng, thật ra đó là sự “Cưởng ép Chính trị”, theo đường lối độc đoán, chuyên chế của Đảng cầm quyền (!)
Tại sao tập đoàn lãnh đạo tới cao của Đảng CSVN lại vội vã cưởng ép miền Nam Tự do thống nhất với miền Bắc Cộng sản ngay vào cuối năm 1975 ?
Tại vì hai nguyên nhân chính sau đây:
1/- Vì sợ sự tồn tại lâu dài của một miền Nam giàu có về kinh tế, tự do dân chủ và nhân quyền về mặt chính tri-văn hoá-xã hội, sè tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đối với xã hội miền Bắc nghèo nàn, không có tự do dân chủ và nhân quyền! Sự tác động và ảnh hưởng ngược từ Nam ra Bắc đó, về lâu dài sẽ bất lợi cho quyền thống trị độc tôn của Đảng CSVN, cho việc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội tiến lên Chủ nghĩ Cộng sản (!) Do đó, chủ trương cưỡng ép thống nhất Bắc-Nam đi đôi với chính sách Bần Cùng Hóa Miền Nam, được khoát bằng cái áo “Cải tạo Cộng Thương Nghiệp Tư Bản Tư Doanh” và “Hợp Tác Hóa Nông Nghiệp”, nhằm mục đích “San Bằng Sự Khác Biệt Giữa Miền Nam Và Miền Bắc”!
Ông Nguyễn Văn Trấn, nguyên Phó Bí thư Xứ ủy Cộng sản Nam kỳ, đã phê phán chủ trương Thống nhất Tổ quốc của tập đoàn lãnh đạo Đảng CSVN như sau: “Nhưng nếu anh đã gấp rút “thống nhất về hành chánh” hai miền đất nước, thì sự phát triển kinh tế đòi hỏi mọt sự chỉ đạo chiến lược cho sự phát triển toàn diện. Mà hởi ôi! Nơi đây lại bo bo địa phương chủ nghĩa. Tư tưởng địa phương Chúa (miền Bắc) đối với địa phương Chư hầu (miền Nam). Cho nên, đã dẩn đến những hậu quả vô cùng tai hại : “Cái miền Bắc “xí phần” với miền Nam mà cưỡng ép sự thống nhất đã phá hoại môi trường của chính phủ cách mạng miền Nam tranh thủ sự giúp đỡ của những nước tư bản, của ASEAN.” “Cái thống nhất cùng sánh vai tiến lên chủ nghĩa xạ hội, đối ngoại thì làm xâu đi quan hệ có thể thiết lập được, đối nội thì gây một sụ sợ hãi ngay trong từng lớp trung lưu giàu có và trí thức.” (Xem “VIẾT CHO MẸ & QUỐC HỘI” của Nguyễn Văn Trấn, nhà xb Văn Nghệ 1995, California USA, các trang 246 và 252).
2/- Lo sợ khuynh hướng “Một Việt Nam Hai Thể Chế” phát triển mạnh mẽ trong hang ngủ lãnh đạo Mặt Trận DTGPMNVN và trong Chính phu CMLTMNVN sẽ làm cho Đảng CSVN không giữ được bá quyền, độc tôn thống trị cả nước Việt Nam (!) Vì vậy, Lê Duẫn – Tổng Bí thư BCHTƯ Đảng CSVN – đã nuốt ngay lời hứa trước khi “giải phóng miền Nam” đối với Mặt Trận DTGPMNVN và Chính Phủ CMLTCHMNVN. Lê Duẫn đã hứa như sau: “Sauk hi đã giải phóng hoan toàn miền Nam, Đảng vẫn để cho Chính Phủ CMLTMNVN điều hành và quản trị miền Nam theo thể chế Dân chủ Cộng hòa, song song tồn tại với miền Bắc XHCN, cùng thi đua xây dựng đất nước Việt Nam theo phương hướng Dân giàu Nước mạnh… Đến khi nào toàn dân yêu cầu Thống Nhất Tổ Quốc thì sẽ tiến hành Tổng Tuyển Cử Dân chủ để bầu ra một Quốc Hội Thống Nhất và một Chính Phủ Thống Nhất … Tiến trình lịch sử đó là xu thế tất yếu, nhưng không thể cưỡng ép, làm trái nguyện vọng của nhân dân hai miền…” (Theo lời truyền đạt của ông Mười Cúc, tức Nguyễn Văn Linh, Phó Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ CMLTCHMNVN, vào tháng 5-1969. tại mật khu Mỏ Vẹt-biên giới Việt-Campuchia)
Vì tin tưởng vào lời hứa của Lê Duẫn, mà Chính phủ CMLTCHMNVN, do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (đảng viên Cộng sản dấu mặt)- Chủ tịch Chính phủ - đã chủ trì “Ủy Ban Dự Thảo Kế Hoạch Hậu Chiến cho Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” Theo sự tiết lộ của ông Trần Bửu Kiếm, Bộ trưởng văn phòng Chính phủ CMLTCHMNVN, thì bản “Dự Thảo Kế Hoạch Hậu Chiến Cho Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” đã soạn thảo xong từ trước khi tiến hành Chiến dịch Hồ Chí Minh, tức vào cuối năm 1974.Bản Dự Thảo đã nêu ra một số điểm căn bản như sau:
“1)- Chế độ Cộng hòa Miền Nam là một chế độ Dân chủ rộng rãi, tiến bộ.
2)- Xây dựng nền Kinh tế Độc lập, Tự chủ, Cải thiện Dân sinh.
3)- Xây dựng nền Văn hóa, Giáo dục Dân tộc Dân chủ.
4)- Thực hiện Dân tộc Bình đẳng, Nam nữ Bình quyền, Bảo vệ quyền lợi chính đáng của Ngoại kiều và Kiều bào.
5)- Thực hiện chính sách Ngoại giao Hòa bình, Trung lập.
6)- Lập lai quan hệ bình thường giửa hai miền Nam-Bắc, tiến tới Hòa bình Thống nhất Tổ quốc bằng Trưng cầu Dân ý va Tổng tuyễn cử Tự do.”
Vào đầu tháng 7-1975, trong một phiên họp bất thường của Hội Động Chính Phủ CMLTCHMNVN, tại Sàigòn, đã quyết định trình bản “Dự Thảo Kế Hoạch Hậu Chiến Của Chính Phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” lên BCT Trung ương Đảng CSVN, để xin ý kiến (?) Khi nhận được bản Dự Thảo này, Lê Duẩn đã nổi nóng, triệu tập ngay Thường trực BCT gồm có Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Phạm Hùng, không phại để thảo luận, mà để nghe quyết đĩnh của Tổng Bí Thư về việc “Giải Tán Chính Phủ CMLTCHMNVN Và Sát Nhập MTDTGPMNVN Vào MTTQVN”. Lê Duẩn tuên bố dứt khoát rằng: “Đảng ta không chấp nhận chủ nghĩa địa phương cục bộ của một số phần tử trí thức miền Nam! Đảng ta kiên quyết không dung dưởng ý thức “hai thể chế trong một nước Việt Nam thống nhất! Đảng ta không thể chần chờ, kéo dài thời gian tồn tại của hai miền, mà phải gấp rút Thống nhất Tổ quốc trước năm 1976, đưa cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhằm triệt tiêu tàn dư Tư bản Chủ nghĩa trên mảnh đất miền Nam, phòng ngừa sự bất lợo trên con đường xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản của nước ta!” (Theo tiết lộ của ông Nguyễn Văn Đại, bí thư riêng của Phạm Hùng)
Thế là bản “Dự Thảo Kế Hoạch Hậu Chiến” của Chính phù CMLTCHMNVN đã bị tập đoàn Duẩn-Thọ ném vào xọt rác một cách không luyến tiếc. Lê Duẩn đã nuốt lời hứa một cách trắng trợn. Và hành động tráo trở này, của tập đoàn Duẫn - Thọ đã gây nên một sự bất mãn tram trọng đối với tầng lớp “tri thức cách mạng giải phóng” miền Nam. Trong số đó có các trí thức đảng viên Cộng sản như: luật sư Nguyễn Hửu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tắn Phát, kỹ sư Nguyễn Văn Hiếu, kỹ sư Trương Như Tảng, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, nhạc sĩ Huỳnh Minh Siêng (tức Lưu Hữu Phước), nhà văn hóa Lữ Phương v.v… Các trí thứ nmgoài Đảng như: luật sư Trịnh Đình Thảo, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, giáo sư Trần Văn Giáp, giáo sư Lê Văn Hảo v.v….Nhưng, nói chung sự bất mản của họ chỉ là bất mãn trong tư tưởng mà không dám biến thành hành động chống đối ra mặt, vì sợ búa riều của Đảng (!) Chịu không nổi nửa thì chạy trốn ra nước ngoài như trường hợp của Trương Như Tảng và Lê Văn Hảo….Thực tế đó, đã gây cho số đông “trí thức quốc gia” yêu nước, còn ở lại miềm Nam sau 30-4-1975, mong muốn góp sức xây dựng và phát triển đất nước trong thời hậu chiến, cũng chán ngán, hoang mang, hoảng sợ sự độc tài, chuyên chế, bạo tàn của Đảng CSVN, nên đành đau long bỏ nước ra đi tìm tự do ở xứ người!
2- Thực Hiện Triệt Để Chính Sách “Xã Hội Chủ Nghĩa Hóa Tôn Giáo”
Đảng CSVN luôn luôn ghi nhớ lời dạy của ông tổ Karl Marx rắng “Tôn gío là nha phiến”, do đó, lúc nào Đảng cũng chỉ thị cho đảng viên phải đề cao cảnh giác với các tôn giáo, đặc biệt là các tôn giáo ở miền Nam Việt Nam – Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…là những tôn giáo mà họ đã từng lợi dụng, góp phần làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa (!)
Thế Nào Là “Xã Hội Chủ Nghĩa Hóa Tôn Giáo”?
Chuyên chính hóa tôn giáo có nghĩa là: Bắt buộc các tôn giáo phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng CSVN và Nhà nước CHXHCNVN! Các tôn giáo chỉ có thể tự do hoạt động theo sự quy định của pháp lệnh tôn giáo do Quốc hội CHXHCNVN ban hành. Các tôn giáo hợp pháp đều là thành viên của MTTQVN, và phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Tôn Giáo trực thuộc Trung ương Đảng CSVN!
(Xem tài liệu của Ban Tôn Giáo Trung Ưong phổ biến nội bộ trong tháng 9-1979, về “Trách nhiệm của Đảng ta đối với Giáo Hội Công Giáo”)
Và như nghị quyết của Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX đã ghi rằng :”Nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẻ nhân dân, chia rẻ các dân tộ, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.” (Văn Kiện Đại hội IX, đã dẫn, trang 128)
Đảng CSVN đã lợi dụng pháp luãt của cái gọi là “chuyên chính vô sản” để công khai trấn ap các tôn giáo nào dám đấu tranh đòi Tự Do Tôn Giáo! Thực tế lịch sử Việt Nam suốt trong 30 năm qua (1975-2005) đã ghi rõ ách nạn này đối với các tôn giáo của nhân dân miền Nam Việt Nam! Sau đây, là những bằng chứng điển hình:
1/- Trấn Áp Thiên Chúa Giáo:
- Mở đầu là Chính quyền CSVN ra lệnh trục xuất Đức Khâm sứ Lemaitre cùng Đức Cha Seitz (5-6-1975) Và các linh mục, tu sĩ ngoại quốc đã bị đuổi khéo bằng cách “về thăm gia đình” kể từ ngày 12-8-1975 (!)
- Ngày 15-8-1975, Đức Phó Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận đã bị Công an CSVN bắt ngay tại Đại chủng viện Sàigòn. Tiếp theo sau đó, Công an vũ trang thành phố tiến hành càn quét dữ dội đối với xứ đạo Tân Sa Châu (Sàigòn), bắt Linh mục Bình Định và nhiều linh mục cùng giáo dân khác về tội “tổ chức lực lượng vũ trang , âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng” (!)
[Ngày 24-11-1988, chính quyền CSVN phóng thíc Đức cha Nguyễn Văn Thuận, và đuổi ra nước ngoài bằng thủ đoạn “cho phép đi thăm cha mẹ và Đức Giáo Hoàng” rồi cấm không cho về nước!]
- Cuộc tấn công nhà thờ Vinh Sơn ở Sàigòn, do Công an thành phố tiến hành (12-2-1976), bắt linh mục Quang Minh và một số người khác thuộc tổ chức Liên Tôn, và giết chết 3 tín đồ tại chổ. Và hơn 200 linh mục bị bắt giam sau vụ Vinh Sơn (!)
- Tháng 9-1981, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền (Huế) bị chính quyền CSVN cấm không cho sang Vatican để dự cuộc họp của Bộ Truyền Giáo vào ngày 12-9-1981, vì tội “xách động tín đồ chống chế độ.”
- Ngày 18-5—1983, Công an tỉnh Đồng Nai đã đến bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý tại nhà cha mẹ ở xứ đạo Quảng Biên, huyện Thống Nhất (khu vự Trảng Bom, trên Hố Nai). Ngày 13-12-1983, chính quyền CSVN đã mỡ phiên tòa xét xử Linh mục Lý với tội danh “chống phá chế độ XHCB”, và tuyên án 10 năm tù giam và 4 năm quãn chế (!) Ngày 31-7-1992, chính quyền CSVN đã phóng thíc Linh mục Lý trước thời hạn, cho về ngụ tại Toà Tổng Giám mục Huế, với lý do là “cải tạo tốt” (?), nhưng “không được làm chức năng linh mục, không được cử hành thánh lể trong nhà thờ, không được giảng dạy hoặc ban các phép bí tích cho giáo dân”.
- Ngày 9-6-1983, tòa án CSVN ở Sàigòn đã xử “vụ án Dòng Tên”, và đã kết án 12 linh mục-tu sĩ về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, gồm có các linh mục: Nguyễn Văn Hòa (chung than), Đỗ Quang Chính, Khuất Duy Linh, Hoàng Sĩ Quý, Lê Thanh Quế, Đinh Văn Trung (đều bị 15 năm tù) Nguyễn Công Đoan (12 năm), Vũ Đức Hòa, Hoàng Kim Thanh, Phạm Hữu Lai, Trương Văn Tuyên, Nguyễn Văn Hiền (đều bị 10 năm tù).
- Ngày 23-2-1984, Chính quyền CSVN ra lệnh bắt giam 27 nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng, cùng với cha Mao và cha cố Tân Hưng. Ngay sau đó, Đức cha Nguyễn Kim Điền và Đức cha Phạm Ngọc Chi đã bị công an Huế gọi lên thẩm vấn suốt trong hai tháng 3 và 4-1984 (!) Và suốt trong năm 1986, Đức cha Nguyễn Kim Điền bị công an gọi thẩm vấn lien tục đến lâm bệnh nặng, phải nằm điều trị tại nhà thương Huế.
- Từ ngày 15 đến 21-5-1987, Công an vũ trang của thành phố HCM mở trận càn quét Dòng Đồng Công ở Thủ Đức, bắt giam 40 tu sĩ và linh mục Trần Đình Thủ. Linh mục Trần Đình Thủ bị kết án tù chung than về tội “âm mưu lật đổ chính quyền” (18-10-1987).Nhờ sự phản ứng mạnh mẽ của giáo dân ờ khắp nơi và áp lực của Vatican, ngày 18-5-1993, chính quyền CSVN bắt buộc phải tha linh mục Trần Đình Thủ, nhưng vẫn bị quản thúc tại gia!
- Ngày 16-5-1990, Chính quyền thành phố HCM bắt và đày Linh mục Chân Tín ra huyện Duyên Hải, vì tội dám kêu gọi Đảng CSVN “Sấm Hối”. Và quản thúc cựu linh mục, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan tại gia ở Sàigòn (Hai nhân vật công giáo này, trước 30-4-1975 là cộng tác viên đắc lực của NTDTGPMNVN, nhưng bây giờ đã trở thành những phần tử đối kháng.) Ngày 12-5-1993, linh mục Chân Tín được trả tự do.
- Từ ngày 18-8-1993 đến ngay 1-11-1993, Chính quyền CSVN ra lệnh cho Công an mở chiến dịch càn quét, truy lung “những phần tử công giáo phản động” ở xứ đạo La Vang (Quảng Trị), ở xứ đạo Long Thành (Đồng Nai), bởi vì hai nơi này đã xuất hiện nhiều truyền đơn chống Cộng của “Phong Trào Đòi Tự Do Cho Công Giáo”.
- Ngày 17-5-2001, Công an vũ trang Thừa Thiên đã đến bắt Linh Mục Nguyễn Văn Lý tâi nhà thờ An Truyền. (Nên biét: ngày 26-2-2001, UBND tỉnh Thừa Thiên đã ra quyết định số 401/QĐUB do Phó chủ tịch Nguyễn Văn Xuân ký, ban hành lệnh quản chế linh mục Nguyễ Văn Lý tại nhà thờ An Truyền trong thời hạn 2 năm, kể từ ngày 27-2-2001). Chính quyền CSVN, quyết định bắt linh mục Lý, bởi vì Linh mục Lý dám ngang nhiên đưa ra “Tuyên ngôn 10 điểm” về Tự Do Tôn Gáo Tại Việt Nam (24-11-1994), và ra các “Lời Kêu Gọi” từ số 1 đến số 9, trong thời gian từ tháng 12-2000 đến tháng 2-2001, nhằm tố cáo chính sách trấn áp tôn giáo của chính quyền CSVN! Bị bắt lần thứ hai này, linh mục Nguyễ Văn Lý lại bị tòa án CSVN xử án 15 năm tù giam và 5 năm quản chế (!) Nhưng, do áp lực của Cao trào Tự do Tôn giáo ở trong và ngoài nước, và áp lực của quốc tế, đặc biệt là của Quốc hội Hoa Kỳ, nên ngày 16-6-2004 Chinh quyền CSVN đã quyết định giảm án cho Linh mục Nguyễn Văn Lý, chỉ còn 5 năm tù (thay vì 10 năm) và vẫn giữ nguyên 5 năm quản chế tại gia sau khi ra tù! Nhưng đến ngày 1-2-2005, vì muốn cho quốc tế giảm nhẹ áp lực về tự do tôn giáo , nên Chính quyền CSVN đành phải trả tự do cho linh mục Nguyễn Văn Lý.
2/- Khûng Bố Phật Giáo.
Nếu đối với Thiên Chúa Giáo, Đảng CSVN thẳng tay trấn áp (như những bằng chứng đã nêu ở trên), thì đối với Phật giáo, vào những năm đầu họ có nương tay hơn. Bởi vì hai lý do căn bản sau đây: 1)-Phật giáo có thể xem là Quốc Giào (người Việt Nam theo đạo Phật chiếm đến 80% dân số), do đó không thể đối xử trắng trợn như đối xử với các tôn giáo khác! 2)- Trong “cuộc kháng chiến chống Mỹ”, Phật giáo đã có công lao, góp phần lớn nhất (so với các tôn giáo khác) làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thượng tọa Thích Trí Quang…đã một thời là “đòng chí” của Đảng CSVN).
Thế nhưng, BCT Trung ương Đảng CSVN vẫn ra chỉ thị “Mật” cho các Đảng bộ Cộng sản các địa phương miền Nam, là cứ “âm thầm bắt giam những hòa thượng, thượng tọa, đại đức nào có hành động (hoặc tư tưởng) chống đối chế độ XHCNVN” (Theo “Hồ Sơ Mật” năm 1975-1977, mang ký hiệu A1-76/ BCT, lưu trữ tại văn phòng Ban Bí thư Trung ương Đảng). Vì vậy, từ sau tháng 4-1975 đến cuối năm 1977, có ít nhât 100 hòa thượng, thượng tọa, đại đức ở các địa phương miền Nam đã bị bắt giam (Trong số đó có cả hai vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ).
Tiếp theo thủ đoạn mờ ám ở trên, ngày 9-6-1977, chính quyền CSVN đã ra lệnh cho cong an thành phố HCM công khai bắt Hòa thượng Thiện Minh, vì ngài dám viết “Lời kêu gọi của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đấu tranh cho tự do tôn giáo và bảo vệ nhân quyền…”
-Tháng 10-1979, nhà sư Thích Thiện Minh đã bị công an thị xã Bặcliêu bắt
về tội “âm mưu lật đổ chính quyền” (?),Ông đã bị giải về thành phố HCM,
và bị biệt giam tại Sở công an thành phố…Từ đó, chư tăng và Phật tử ở
Bặcliêu không còn biết gì về tin tức của nhà sư Thích Thiện Minh nửa !
Có tin đồn là nhà sư đã “chết một cách bí ẩn” trong ngục tối (?) Nhưng,
mãi đến 26 năm sau, vào ngày 1-2-2005, thì trong danh sách 6 người tù
chính trị đã được chính quyền CSVN “ân xá”, trong đó có tên nhà sư Thích
Thiện Minh!
Sau đó, Đảng CSVN thấy cần phải triệt để thực hiện chính sách “XHCN hóa
Phật giáo”, nên ra lệnh cho Ban Tôn giáo Trung ương phải tiến hành ngay
việc thống nhất hai Giáo Hội Phật Giáo của hai miền Bắc-Nam thành một
đoàn thể thuộc Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (MTTQVN). Do vậy, ngày
4-11-1981 Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo Viẹt Nam đã được tiến hành tại
Hànội. Và Hòa thượng Thích Trí Thủ-Viện trưởng Viện Hóa Đạo (miền Nam)
đã được bầu làm Trị sự trưởng “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” (GHPGVN), mà
chư tăng, Phật tử Việt Nam thường gọi là “Giáo Hội Quốc Doanh” ( hay
Giáo Hội Nhà Nước). Từ đây, hòa thượng Huyền Quang sẽ quyền Viện trưởng
Viện Hóa Đạo cho đến khi họp Đại Hội để bầu Viện trưởng đúng theo Hiến
Chương của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất (GHVNTN) không lệ thuộc MTTQVN -
Đối lập với GHPGVN!
Cũng chính vì các hòa thượng lãnh tụ GHPGVNTN kiên quyết không chịu XHCN hóa Phật giáo, nên Đảng CSVN quyết tâm thực hiện mọi thủ đoạn khống chế Phật giáo đối lập! Và lịch sử đã ghi nhận những bằng chứng điển hình sau đây:
- Cuối năm 1981, Hòa thượng Thích Tâm Hoàn vì dám phản đối chính sách khống chế Phật gíáo của Đảng CSVN, nên đã bị chính quyền CSVN tại Quy Nhơn (Bình Định) bức tử một cách mờ ám (?)
- Sau khi được chính quyền CSVN thả về không bao lâu, hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quang Độ lại bị trủc xuất ra khỏi thành phố HCM vào cuối tháng 2-1982. Hòa thượng Huyền Quang bị đày ra Quảng Ngãi (miền Trung). Hòa thượng Quảng Độ thì bị đày ra Thái Bình (miền Bắc). Càng độc ac hơn, lấy lý do “nhân đạo” cho mẹ con sống chung với nhau, ngày 10-3-1982, Chính quyền CSVN bắt than mẩu của ngài Quảng Độ đưa ra Thái Bình. Vì tuổi già sức yếu, không chịu nổi cảnh lưu đày nên bà đã mất ở xứ lạ quê người vào ngày 4-1-1985, tâi xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tình Thái Bình (!)
- Vì tình thế bắt buộc, hòa thượng Thích Trí Thủ mới nhận chức Trị sự trưởng GHPGVN, nhưng ngài không triệt để thực hiện chính sách “XHCN hóa Phật giáo” của Đảng CSVN. Vì thế, Ban Tôn giáo Trung ương luôn luôn gây áp lực đối với ngài, làm cho ngài phải lâm bệnh … Hòa thượng Thích Trí Thủ đã được đưa vào bệnh viện Thống Nhất tại Sàigòn (tức bệnh viẹn Vì Dân cũ), vào giữa năm 1984, và ngài đã chết một cách mờ ám tại bệnh viện Trung-Cao cấp này (!)
Cùng thời gian này, chính quyền CSVN đã bắt hòa thượng Thích Đức Nhuận tại Sàigòn và đem đi biệt giam ở nhà tù A-20 (tức là nhà tù Phan Đăng Lưu).
- Ngày 28-9-1988, chính quyền CSVN lại bắt và đưa ra tòa xét xử hai Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ và Thích Trí Siêu, về tội “không chấp hành pháp chế tôn gíao của Đảng và Nhà nước” (?). Tòa án CSVN đã kết án tử hình đối với hai vị thượng tọa này, nhưng vì dư luận trong và ngoài bước đã phản đối kịch liệt, đặc biệt là hang triệu Phật tử miền Nam dũng cảm đấu tranh đòi trả tự do cho hai thượng tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu. Cho nên tòa án CSVN phải tự xé bỏ bản án tử hình đối với hai vị chân tu!
Từ năm 1992 về sau, có thể nói là những năm Pháp Nạn của GHPGVNTN!
Mở đàu là sự viên tịch của Hòa thượng Thích Đôn Hậu tại chùa Linh Mụ (Huế) vào ngày 23-4-1992. Chúc thư của ngài Đôn Hậu có ghi “trao chức Viện trưởng Viện Hóa Đạo cho Hòa thượng Huyền Quang”, đã làm cho chính quyềnb CSVN không vừa lòng! Vì vậy, chính quyền CSVN không cho Hòa thượng Huyền Quang chủ trì tang lể của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu (!)
- Liên tiếp trong hai ngày (4 và 5-8-1992), hòa thượng Thích Huyền Quang bị gọi đi “lảm việc” (thục chất là bị thẩm vấn) với đại diện của Bộ Nội Vụ - Chính phủ CSVN. Lý do bị gọi thẩm vấn là: 1)- Vì ngài Huyền Quang đã tuyên bố “sẽ cùng nhiều tăng sĩ tuyệt thực và tự thiêu”, nếu Nhà nước CHXHCNVN không cho ngài đứng ra tổ chức tang lể cho cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu! 2)- Vì ngài Huyền Quang dám gửi thư “tố cáo chế độ CSVN vi phạm nhân quyền”, cho Ủy Ban Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc, mà không thong qua sự chuẩn y của Nhà nước CSVN!
- Ngày 5-9-1992,Công an thành phố HCM đã bắt Đại đức Thiện Ẩn tại chùa Hoa
Nghiêm ở Thủ Đức, đem đi biệt giam ở ngay Sở công an thành phố. Đại đức
Thiện Ẳn bị tra tấn dã man cho đến chết (!) Nhưng công an thànnh phố HCM
đã đêm thi thể của Đại đức để ở nhà xác của bệnh viện Chợ Rảy, rồi thong
báo cho than nhân của Đai đức đến lãnh, và bọn công an giải thích rằng:
ông đã vì “sợ tội” mà tự tử (?)
-Ngày 2-10-1992, Thượng tọa Không Tánh, trụ trì chùa Liên Trì ở Thủ Đức,
đã bị Công an thành phố HCM bắt, vì tội “ra khỏi chùa không có giấy
phép”, và tội “mang tài liệu chống phá cách mạng và nhà nước” (Sự thật
chỉ là tài liệu của GHPGVNTN). Đại đức Thích Trí Lự cũng bị bắt trong
dịp này.
-Để có chứng cớ (giả tạo) xác minh rằng: Chúc thư của Cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu để lại cho chư tăng, Phật tử của GHPGVNTN là giả! Chính quyền CSVN đã cho bắt nhiều nhà sư và ép cung họ, bắt phải khai theo như lơi “mớm cung” của Công an thẩm vấn. Thí dụ như: Đại đức Hãi Tạng ở chùa Long An và Đại đức Trí Tựu ở chùa Linh Mụ (Huế) đã bị Công an Thừa Thiên bắt cùng ngày 17-11-1992, và bị ép cung, bắt buộc hai vị Đại đức này phải thừa nhận “Chúc thư của Cô Hòa thượng Đôn Hậu là giả” (?). Hòa thượng Nhật Liên, trụ trì chùa Long Thọ ở Đồng Nai, lien tiếp trong 10 ngày (từ ngày 2 đên 12-12-1992) đã bị Công an tỉnh Đồng Nai, gọi lên thẩm vấn, truy bức, bắt phải khai man về “Chúc thư giả của Cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu” …Rõ rang, Công an Cộng sản đã trắng trợn vi phạm Hiền Pháp 1992 của Quốc hội nước CHXHCNVN, tải Điều 71, đoạn 3 rằng: “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự nhân phẩm của công dân.” `
- Ngày 9-3-1993, sau khi đi thăm Hòa thượng Huyền Quang đang bị quản thúc tại chùa Hội Phước (Quảng Ngãi), trên đường về Huế Đại đức Hải Tạng đã bị công an quận Bình Sơn chặn bắt ngay trên xe đò, tịch thu tất cả đồ đạc cá nhận và một số tài liệu Phật hôc… rồi đưa về cơ quan công an quận tra khảo và giam cầm về tội “mang theo trong mình bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền” (?)
- Ngày 12-4-1993, tất cả khách du lịch đến tham quan thành phố Huế đề bị cấm đến thăm và phải tránh xa Chùa Linh Mụ trong chu vi 1 cây số! Bởi vì, tại chùa Linh Mụ đang làm Lể Tiểu Tường (lể giổ đầu) của Cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, mà chính quyền CSVN ra lệnh ngăn cấm các tăng ni, phật tử trên toàn miền Nam về dự, kể cả Hòa thượng Thích Huyền Quang từ Quảng Ngãi ra…Nhưng vân không cấm được hang nghìn tăng ni, phật tử ở Huế đã tề tựu tại chùa Linh Mụ!
Hậu quả của chính sách khống chế Phật gíáo như trên, đã gây nên 5-một số vụ “Tử Vì Đạo” sau đây: Ngày 10-12-1992, Đại đức Trí Tựu, giám tự chùa Linh Mụ, đã “phát nguyện tự thiêu’ nhân ngày Quốc tế Nhân quyền, và khẳng định lá Chúc Thư của Cố Hòa thương Đôn Hậu là đúng sự thật! (nhưng do chư tăng, phật tử ngăn cản, nên phát nguyện tự thiêu không thành) Ngày6-4-1993, Phật tử Phạm Gia Bình, pháp danh Viên Lạc, cư trú tại tiểu bang Massachusetts (Hoa kỳ) đã tự thiêu để “kêu gọi thế giới hổ trợ cho công cuộc đấu tranh vì Tự do Tôn giáo ở Việt Nam”! Ngày 12-4-1993, một ni cô 16 tuổi ở Nam Quảng Ngãi đã tự thiêu để cầu nguyện cho Tự do Tôn giáo! Ngày 30-4-1993, một nam Phật tử đã tự thiêu trước rạp hát Rex ở thành phố HCM để tố cáo Chính quyền CSVN khủng bố Phật giáo!Ngày 21-5-1993, một cư sĩ Phật giáo đã tự thiêu ngang trong khuôn viên chùa Linh Mụ, trước ngôi Bảo tháp của Cố Hòa thượng Thích Độn, để cầu nguyẹn “Bình an cho Phật giáo Việt Nam”!
Ngày 28-5-1994, Đại đức Huệ Thâu, trụ trì tại Tịnh xá Ngọc Phật ở xã Ba Càng (Tam Bình-Vĩnh Long) đã tự thiêu để “Bảo Vệ Chánh Pháp”…
Từ tháng 5 đến tháng 11-1993, lien tiếp diễn ra những vụ bắt bớ và khủng bố của Chính quyền CSVN đối với GHPGVNTN, làm chấn động dư luận ở trong và ngoài nước! Sau đây là một số bằng chứng cụ thể: Ngày 20-5-1993, hai Đại đức Hải Tạng và Giải Lý bị bắt tại Nhà Bưu điện Đà Nẳng. Ngày 24-5-1993, Đại đức Trí Tựu bị bắt tại chùa Linh Mụ, hang ngàng Phạt tử Huế đã xuống đường chống lại lệnh bắt Đại đức Trí tựu, liền bị công an vũ trang đàn áp bằng lựu đạn cay và vòi rồng phun nước. với cả dùi cui! Dại đúc Trí Tựu thoát nạn hôm đó, nhưng hang trăm Phật tử đã bị bắt! Và đến ngày 5-6-1993, thì Đại đức Trí Tựu lại bị bắt và bị tống giam vào nhà lao Thừa Phủ (Huế) vì tội “gửi thư cho Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người “ở Paris (Pháp) để tố cáo chính sách khung bố Phật giáo của Nhà nước CSVN! - Từ ngày 5-6-1993, tất cả cư sỉ Phật giáo ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa, Vũng Tàu… đều bị chính quyền CSVN ra lệnh cấm “An Cư Kiêt Hạ”, và bắt hang ngày phải đến trình diện tại cơ quan công an địa phương, để chịu thẩm vấn và giáo dục (!?)- Ngày 9-7-1993, Công an vũ tranh Bà Rịa-Vủng Tàu tiến hành bố ráp chùa Linh Sơn, trục xuất Đại Đức Hạnh Đức cùng 33 tăng chúng ra khỏi chùa, với lý do là “cư trú bất hợp pháp” (?) Hàng ngàn Phật tử Bà Rịa-Vũng Tàu biểu tinh phản đối liền bị đàn áp, và hàng trăm phật tử bị bắt giam! – Ngày 15-11-1993, tại Huế, tòa án CSVN đã xữ và kết án: Hai Đại đức Trí Tựu và Hải Tạng 4 năm tù, hai Đại đức Hải Thanh va Hải Chánh 3 năm tù, sáu Phật tử khác 6 tháng đến 3 năm tù, về tội “chống chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước CHXHCNVN” (?)
Một hành động khống chế Phật giáo vô cùng trắng trợn là: Ban Tôn Giáo Trung Ương của Đảng CSVN đã ban hành công văn số 248-CV/TGCP, đề ngày 25-7-1993, trong đó kết tội “hoạt động của GHPGVNTN là phi pháp” và :Hòa thưoiọng Huyền Quang đã , ạo danh Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo” (?) Căn cứ vào công văn đó, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ra quyết định số 1110-QĐ/UB, cấm Hòa thượng Thích Huyền Quang 3 điều như sau:1/- Không cho dung danh nghĩa Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN. 2/- Không cho xử dụng con dấu của Viện Hóa Đạo, và phải giao nộp cho Cọng an tỉnh. 3/- Không cho xử dụng chùa Hội Phước hoặc bất cứ chùa nào trong tỉngh Quảng Ngãi làm văn phòng Viện Hóa Đạo. Hòa thượng Thích Huyền Quang đã bị chính quyền CSVN quản chế tờ năm 1980! Đến cuối năm 1993, Ngài vẫn bị quản chế một cách nghiêm ngặt hơn.
- Ngày 4-8-1994, công an thành phố HCM đã bắt Đại đức Thích Giác Nguyện và 9 tăng ni, cùng 15 Phật tử, từ Trà Vinh lên “ biểu tình ngồi “đưa kháng thư đòi Tự do Tôn gíáo, cho UBND thành phố, từ ngày 1-8-1994, được đông đảo Phật tử Sàigòn ủng hộ!
- Ngày 5-11-1994, công an thành phố HCM đã vây bắt 60 tăng ni và 300 Phật tử tại Ngả Bảy Sàigòn, tịch thu toàn bộ vật phẩm, không cho họ đi cứu trợ đồng bào bị bảo lụt ở miền Tây Nam bộ (!?)
- Ngày 7-12-1994, công an Thừa Thiên bắt Hòa thượng Như Đại, ủy viên trung ương GHPGVN (giáo hội Nhà nước) và 12 tăng sinh của Trường Cơ Bản Phật Học Thừa Thiên-Huế, về tội dám đưa “Thỉnh nguyện Thư” yêu cầu Tự do Tôn giáo, cho Hòa thượng Thiện Siêu (Đại biểu Quốc hội CSVN). Đến ngày 25-12-1994, cùng một lúc, công an Huế tràn vào khám xét hai chùa Phước Duyên và Linh Quang, bắt hai Đại đức Thái Hưng và Hạnh Đức về tội “cắt giấu tài liệu chống Đảng và Nhà nước” (?)
- Ngày 31-12-1994, công an thành phố HCM xông vào lục soát Chùa Thanh Minh Thiền Viện, ở đường Trần Huy Liệu (quận 3), nơi Hòa thượng Thích Quảng Độ trụ trì. Và đến ngày 4-1-1995 thì chính quyền CSVN ra lệnh bắt Hòa thượng Thích Quảng Độ, về tội ”không xin phép, tự động dựng bảng “Văn Phòng Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo Lưu Vong” tại Thanh Minh Thiền Viện.”, và tội “công khai ra thông cáo kêu gọi các cấp giáo hội thuộc GHPGVNTN trên toàn quốc dựng lại bảng tên GHPGVNTN”. Rõ rang, đây là một thách thức lớn đối với Nhà nước CHXHCNVN!
- Ngày15-8-1995, chính CSVN tại thành phố HCM đã mở phiên tòa xử án các nhà sư được gọi là “Nhóm nhà sư đối kháng do Thích Quảng Độ cầm đầu” (theo ngôn từ của tòa án CSVN).Phiên tòa vội vã này đã kết án: Hòa thượng Thích Quảng Độ và Thương tọa Thích Không Tánh đều phải bị 5 năm tù, Thượng tọa Nhật Ban 4 năm tù, Thượng tọa Trí Lực 2 năm tù, Cư sĩ Nhật Thường 3 năm tù. nữ cư sĩ Đọng Ngọc 2 năm tù … về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước!” Do áp lực đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng Phật giáo ở trong và và ngoài nước, buộc tòa án CSVN phải xử phúc thẩm cho vụ án này, vào ngày 28-10-1995, nhưng bản án vẫn không có gì thay đổ. Hòa thượng Thích Quảng Độ kiên quyết không ra dự phiên tòa phúc thẩm và Ngài đã tuyên bố rằng: “Tôi không chống án vì không công nhận cách xét xử vô pháp luật của cái gọi là Tòa án Nhân dân. Nếu pháp quyền thực sự hiện hữu trên đất nước này thì bản án ngày 15-8-1995 đối với chư tăng và Phật tử, thuộc GHPGVNTN, phải hủy bỏ ngay tức khắc, và chúng tôi phải được trả tự do vô điều kiện”. Sau đó, Hòa thượng Thích Quảng Độ bị đưa đi “cải tảo” ở trại Ba Sao (Nam Hà). Từ tháng 5-1996, Ngài Quảng Độ lại bị chuyễn về trại B.14 (tức trại Thanh Liệt cũ). v.v…
Nếu 20 năm trước (1976-1995) GHPGVNTN luôn luôn bị Đảng CSVN khống chế đến tàn bạo, thì ở 9 năm sau (1996-2004) về bản chất, sự khống chế của Đảng CSVN đối với GHPGVNTN vẫn không có gì thay đổi! Tuy nhiên, nếu nhìn bề ngoài của các sự kiện, thì hình như bạo lực cộng sản đối với GHPGVNTN có giảm nhẹ đáng kể, bởi vì hầu hết đối tượng “Phật giáo Phản kháng” đã bị bắt giam, bị quản chế nghiêm ngặt…Cho nên Đảng CSVN thay đổi sách lược, từ sự khống chế Phật giáo bằng bạo lực chuyển sang thực hiện chính sách khống chế bằng “thủ đoạn chính kết hợp với bạo lực khi cần thiết” (!)
Trong năm 1996, có hai sự kiện khủng bố Phật Giáo đã làm chấn động dư luận cả trong nước và hải ngoại! Đó là:
- Ngày 30-10-1996, một đội Công an vũ trang của thị trấn Đà Lạt, theo lệnh của Ty Công an Lâm Đồng, đã tấn công vào Chùa Long Thọ, bắt Thượng tọa Thích Minh Đạo về tội: “xách động tăng ni Phật tử đòi quyền Tự Do Tôn Giáo, chống lại sự sát nhập vào GHPGVN!”, đuổi 34 tăng ni ra khỏi chùa! Sau đó, bọn Công an đã phá sập chùa Long Thọ, một ngôi chùa lâu đời của GHPGVNTN!
- Ngày 22-11-1996, Chính quyền CSVN tỉnh Thừa Thiên viện cớ rằng: “Phải làm trong sạch hang ngủ Phật giáo yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.”, Ty Công an Thừa Thiên đã phái hai đại đội công an vũ trang, bất ngờ tấn công vào chùa Linh Mụ… bắt hai Đại đức Thích Hải Chánh và Thích Hải Thinh, đuổi hết tăng ni và Phật tử ra khỏi chùa! Chùa :inh Mụ đã bị niêm phong từ hôm đó. Một thời gian sau, chùa Linh Mụ đã biến thành tài sản của công ty du lịch Huế (!)
Trong giai đoạn 1996-2004, hai vị Hòa thượng Thích Huyền Quang (Tăng thống GHPGVNTN) và Thích Quảng Độ (Viện trưởng Viện Hóa Đạo/GHPGVNTN), là đối tượng chính, là hai tảng đá cản đường thự hiện âm mưu “sat nhập GHPGVNTN vào GHHPGVN” của Đảng CSVN!
Cho đến năm 2004, Đức Tăng thống Thí Huyền Quang vẫn còn bị quản chế tại tu viện Nguyễn Thiều (Bình Định). Để trấn an dư luận về việc quản chế ngài Tăng thống, và cũng để cho quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, thấy rằng Nhà nước CHXHCNVN vẫn có “Tự do Tôn giáo”; nên ngày 28-4-2004, Chính phủ CSVN đã chấp nhận cho ông Raymond Burghardt - Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam - đến tại tu viện Nguyễn Thiều để vấn an Đức Tăng thống Huyền Quang, và nghe Ngài trình bày về “Hiện trạng khó khăn và nguy kịch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất!”
Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng bị quản chế không thời hạn ở tại chùa Thanh Minh Thiền Viện (Quận 3, thành phố HCM). Ngài cũng bị công an thành phố HCM dung bạo lực ngăn chặn, không cho Ngài đi thăm Đức Tăng thống Huyền Quang đang lâm bệnh nặng! Vì mục đích chính trị như trường hợp của Đức Tăng thống Huyền Quang, Chính quyền CSVN bắt buộc phải cháp nhận để cho Phái đoàn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, do bà Ehzabeth Dugan - Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động - cầm đầu, đến thăm và vấn an Hòa thượng Thich Quảng Độ tại chùa Thanh Minh Thiền Viện, vào ngày 21-11-2004. Nhân cuộc thăm viếng ngắn ngủi này, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã nói với Phái đòan Ngoại giao Hoa Kỳ rằng:”Muốn Việt Nam theo kịp, ngang hang với các nước trong vùng Đông Nam Á thì điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải có Tự Do Dân Chủ thật sự!” Đối với âm mưu sat nhập GHPGVNTN vào GHPGVN, Hòa thượng Thích Quảng Độ thẳng thắn nói: “Tôi muớn Nhà nước CHXHCNVN để cho GHPGVN tách khỏi sự lệ thuộc MTTQVN, không chịu sự lãnh đạo của Ban Tôn Giáo trung ương, hoạt động độc lập như GHPGVNTN.”
Trong năm 2004, Đảng CSVN bị áp lực khá mạnh về “Quyền Tự Do” của hai vị Hòa thượng lãnh đạo hang đầu của GHPGVNTN. Đó là:
- Đại Hội Nhân Quyền Thế Giới họp tại thủ đô Quito (Trung Mỹ) vào ngày 6-3-2004, đã lên tiếng đòi trả tự do cho hai vị Hòa thượng Huyền Quang và Quảng Độ!
- Ngày 15-9-2004, Chính phủ Hoa Kỳ đã liệt Nhà nước CHXHCNVN vào danh sách “những nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo!” Và Hoa Kỳ sẽ dành quyền trừng phạt kinh tế đối với các nước này, sau 6 tháng kể từ ngày thong báo, nếu các nước đó không có sửa đổi về tự do tôn giáo. Như vậy, Nhà nước CSVN chỉ còn một tháng rưởi nửa (Kể từ 1-1-2005 đến 15-3-2005) để sửa sai về quyền tự do tôn giáo> Nếu không thì sẽ bị Hoa Kỳ thực hiện sự trừng phạt kinh tế (?)
- Tại Hội nghị Thượng đinh ASEAN kỳ V, họp ở Hànội (7-10-2004), 25 vị nguyên thủ quốc gia đã yêu cầu Liên Minh Châu Âu phải đòi Chính phủ CHXHCNVN “trả tự do tức khắc và vô điều kiện cho hai vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ…”
- Ngày 26-11-2004. Tân Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Marine, đã lên tiếng kêu gọi nhà cầm quyền CSVN “hãy để cho Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ được tự do đi lại và phát biểu ý kiến.”
Đứng trước áp lực quốc tế nặng nề ấy, liệu Đảng CSVN sẽ làm gì? Chính quyền CSVN sẽ bải bỏ sự quản chế cho hai vị Hòa thượng lãnh đạo hang đầu của GHPGVNTN, và dám để cho hai Ngài tự do phát biểu ý kiến về tôn giáo và công cuộc xây dựng đất nước hay không?
Chúng ta hãy chờ xem. Điều gì sẽ tới phải tới!
3/ -Triệt Hạ Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo.
Đạo Tin Lành ở miền Nam, sau ngày 30-4-1975, đã bị chính quyền CSVN xếp vào loại phải kiểm soát và theo dõi gắt gao, bởi vì họ cho rằng: ‘Các mục sư Tin Lành ở miền Nam Việt Nam đều là do CIA đào tạo, hoặc làm việc và ăn lương của CIẠ’ (Theo tiết lộ của Trung tá Nguyễn Hoàng, PhóPhòng PẠ15 của Sở Công An thành phố HCM, năm 1976). Do đó các mục sư Tin Lành trên khắp miền Nam đều bị kiểm tra chặt chẻ, và bị liệt vào diện ‘thà bắt lầm hơn là bỏ sót’, để bảo đảm nền an ninh cho chính quyền do Đảng CSVN mớI xác lập ở miền Nam! Cho nên, sau ngày 30-4-1975 cả miền Nam có 500 mục sư, thì số mục sư bị bắt giam, ở tù, bị tập trung cải tạo lao động Ẩ có đến 300 ngườI (Theo số liệu của của Cục Trại Giam/Bộ NộI Vụ, năm 1980).
Sau đây là một số trường hợp điển hình:
- Mục sư Đào Quang Long bị bắt vào tháng 5-1975, về tội dám dung kinh thánh tong bài giảng tại HộI Thánh Phúc Âm II, rằng: ‘Khi ngườI ta nói hòa bình và yên ổn thì thình lình tai họa sẽ xảy đến!’để am chỉ ‘chế độ Công sản Việt Nam sẽ sụp đổ!’ Mục sư Long bị Chính quyền CSVN kết án 8 năm tù!
- Mục sư Bùi Văn Nhàn thuộc HộI Thánh Phú Long, bị bắt vào tháng 12-1977, về tộI ‘dụ dỗ ngườI vào Đạo’... Chính quyền CSVN kết án mục sư 7 năm tù!
- Cũng trong năm 1977, mục sư Trần TuộI chủ nhiẹm HộI Thánh Quốc Âm I, bị bắt về tộI ‘tụ tập giao dân tại nhà thờ không xin phép chính quyền’. Mục sư TuộI bị chính quyền CSVN kết án 8 năm tù!
- Mục sư Nguyễn Hữu Cương, là mục sư sang lập HộI Phúc Âm An Đông (Sàigòn) vào đàu năm 4975, đã bị bắt giam, và nhà thờ An Đông cũng bị đóng cửa, vào tháng 6-1983 về tộI ‘làm việc cho CIA’ (?) Tháng 12-1983, Mục sư Hồ Hiếu Hà, ỡ nhà thờ Trần Cao Vân (Sàigòn) đã bi6 bắt giam, sau khi nhà thờ đã Trần Cao Vân đã bị đóng cửa! Ngày 27-8-1987, cả hai mục sư Cương và Hà đều bị đüa ra tòa. Tòa án CSVN đã xử hai mục sư về tộI ‘Tuyên trruyền chống cách mạng’ (?) và xữ 10 năm tù đói vớI cả 2 ngườI!
- Mục sư Võ Xuân, nguyên là Tuyên úy của Quân Lực VNCH, đã bị bắt đi ‘cải tạo’ từ tháng 6-1975 đến tháng 6-1987, N hung đến ngày 4-12-1989, ông lại bị bắt về tộI ‘gặp gở các tín đồ ở Bịnh Tuy tại nhà riêng của gọ một cách trái phép’ (?). Mục sư Xuân bị giam cầm tại Thuận Hãi!
- Mục sư Trần Xuân Tú ở nhà thờ Võ Đắc huyện Hàm Tân, đã bị bắt giam vào cuối năm 1985 về tộI ‘tổ chức các buổI học kinh thánh tại gia một cách trái phép’. Mục sư Tú cũng bị giam cầm tại Thuận Hãi!
- Tháng 8-1989, Mục sư R’mah Boi, ngườI gốc dân tộc thiểu số Jarai ở Chu Pa, huyện Gia Rai, tỉnh Kongtum, đã bị bắt về tộI ‘tổ chức học kinh thánh tại gia trái phép’ và ‘vận động tín đồ tụ tập núp dướI hình tương treợ sản xuất’ (?). Ông bị giam cầm tại trại Ạ20 (Phú Yên.
- Tháng 12-1989, Mục sư Võ Minh Hùng đã bị bắt giam tại Pleiku về tộI ‘tổ chức những buổI học khinh thánh tại gia trái phép’’(?) Ông bị giam cầm tại trại Ạ20 ở Phú Yên!
- Tháng 6-1990, Mục sư Ya Tiêm ngườI thuộc sắc tộc Koho, là mục sư của 14 cộng đoàn thiểu số trên miền Cao nguyên, đã bị bắt giam tại Đà Lạt (Lâm Đồng).
- Mục sư Trần Thiẹn Phước, đã bị bắt trên đường đi thăm hỏi tín đồ, và bị kết tộI là ‘gây rối loạn’! Ông bị giam cầm chưng vớI tũ hình sự, tại trại Tống Lê Chân.
- Mục sư Đinh Thuện Từ, làm mục vụ tại Giáo HộI Tin Lành do Nhà nước CHXHCNVN công nhận và cho phép hoạt động, là mục sư đứng đàu Phong Trào Đọc Kinh Tại Gia Mạnh Nhất ở Việt Nam trong những năm 1975-1990. nhưng đến ngày 22 -2-1991, mục sư Từ đã bị bắt về tộI ‘xúi giục tín đồ gây rối loạn’ (?) Ông bị biệt giam tại nhà tù T.20 (tức trại tù Phan Đăng Lüu - Sàigòn). Do sự can thiệp của HộI Ân Xá Quốc Tế, nên ông được trả tự do vào ngày 6-4-1993.
- Mục sư Trần Đình Ái là mục sư giữ trách nhiệm nhiều giáo phận Tin Lành ở miền Nam, và có lien lạc mật thiết vớI Giáo hộI Pentacostal ở nước ngoài, đã bị bắt vào ngày 27-2 -1991, về tộI ‘hoạt động tôn giáo trái phép và chống chế độ’ (?) Ông bị biệt giam ở nhà tù Chí Hòa (Sàigòn). Ngày 31-10-1991, Mục sư Trần Mai đã bị bắt về tộI ‘hoạt động tôn giáo bát hợp pháp’ (?) Ông bị biệt giam ở nhà tù Phan Đăng Lüu. Nhờ ự can thiệp của HộI Ân Xá Quốc Tế, nên hai mục sư Ái và Mai đẵ được tự do cùng ngày 6-4 -1993. -v.v...
Phần lớn những mục sư bị chính quyển CSVN băt đều không được đem ra xử, và toàn bộ tài sản của hộI thánh đều bị nhà nước chiếm đoạt!
Ngay cả những Mục sư ngườI Việt ở hãi ngoại về nước vớI mục đích làm công tác Từ Thiện, cũng bị chính quyền CSVN nghi ngờ là ‘gián điệp’, nên không cho nhập cảnh, như hai trường hợp sau đây:
1) -Mục sư Nguyễn Xuân Bảo, mục sư chính của thánh đường Sàigòn tại Westminster (California-Hoa Kỳ), thuộc Giáo HộI Cơ Đốc Cải Cách Mỹ Châu, cùng phái đoàn Tin Lành vừa đến phi trường NộI Bài-HànộI, vào ngày 14-4-1993, thì bị chính quyền CSVN ra lệnh trục xuất về Mỹ ngay!
2) -Mục sư Nguyễn Quang Minh ở miền Nam tiểu bang California, thuộc Giáo HộI Tin Lành Phúc Âm Liên Phái, vừa bay đến phi trường Tân Sơn Nhất vào ngày 19-5-1995, liền bị công an Cục Bảo vệ Chính trị 3 thuộc Bộ NộI Vụ của Nhà nước CHXHCNVN bắt! Họ giải ông về về văn phòng Cục tại số 325 Nguyễn Văn Cừ, để thẩm vấn ‘mục đích về Việt Nam’ của mục sư. Họ lục soát hành lý của ông và tịch thu toàn bộ tài liệu của Giáo HộI và bài viết của ông. Sau đó trục xuất mục sư trở về Mỹ!
Tai hoạ thường xuyên giáng lên đàu của các mục sư Tin Lành ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam! Điển hình như ngày 24-9-2003, hơn 200 cảnh sát dã chiến, vũ trang đày đũ, thuộc đơn vị 113 của Cục Cảnh sát CSVN, đã xông vào nhà thờ và nơi ở của Mục sư Nguyễn Công Chính tại tỉnh Kongtum Họ đã tịch thu toàn bộ tài sản của Nhà thờ và của cá nhân mục sư Chính, rồi phóng hỏa đốt Nhà thờ và nơi ở của mục sư Chính (!) Mục sư Chính đã trốn thoát, nhưng vợ con bị bắt và bị đánh đập rất tàn nhẫn! (Theo tài liệu của ‘Human Rights Watch’, 21 October 2003)
Tại Sàigòn , ngày 2-3-2004, Mục sư Nguyễn Hồng Quang và 12 nhà truyền đạo Tin Lành ở phường Bình Khánh Quận 2 *thành phố HCM), đã bị cảnh sát dã chiến cùng công an phường đánh đập một cách tàn nhẩn, vì mục sư Quang và các nhà truyền đạo ngăn cản không cho họ tịch thu sách và tài liệu truyền đạo (?) Đến ngày 8-6 -2004, mục sư Nguyễn Hồng Quang đã bị một toán công an vũ trang, xông vào nhà bắt đêm đi! Nhà truyền đạoTrương Trí Hiền ở cùng nhà vớI mục sư Quang thì bị lệnh quản chế tại chổ! Công an thành phố cũng đã tịch thu máy điện toán , tất cả giấy tờ trong đó có cả giấy tờ nhà của mục sư Quang...Và đến ngày 12-11-2004, tòa án CSVN thành phố HCM đã đem xử án mục sư Nguyễn Hồng Quang và một số nhà truyền giáo Tin Lành, như sau: Mục sư Nguyễn Hồng Quang 3 năm tù ở, Truyền đạo Nguyễn Ngọc Thanh 2 năm tù ở, Truyền đạo Nguyễn Văn Phương và Nguyễn Thị Liên cùng bị 1 năm tù ở, Truyền đạo Nguyễn Thành Nhân và Nguyễn Hiếu Nghĩa đều bị 9 tháng tù (!)
Đạo Cao Đài đã được Đảng CSVN liệt vào loại ‘nguy hiểm cho chế độ XHCN’! Do đó ‘cần phải triệt hạ tận gốc’ ngay từ sau ngày 30-4-1975!
Tại sao?
Tại vì mấy lý do sau đây:
‘Đạo Cao Đào đã có đến 3.000.000 tín đồ, rải khắp nơi và cắm rể rất sâu trong quần chúng nhân dân Nam Bộ! Đạo Cao Đài đả có một hệ thống tổ chức chặt chẻ và vững chắc, lại có một lực lượng vũ trang khá mạnh và có kinh nghiệm chiến đãu! Đạo Cao Đài đã có một truyền thống chống cách mạng từ 1945 đến nay!’ (Theo tài liệu nghiên cứu của Ban Tôn Giáo Trung ương của Đảng CSVN vào đàu năm 1974, ‘chuan bị cho công cuộc tiếp thu miền Nam’-Theo tiết lộ của ông Nguyễn Hoài, Viện phó Viện Thông Tin Khoa Học Xã HộI, cộng tác viên nghiên cứu tài liệu này.)
Dưới đây là những bằng chứng hung hồn, tớ cáo chính sách triệt hạ tận gố đói vớI Đạo Cao Đài của Đảng CSVN:
Sau khi chiếm được miền Nam, Quân ủy Trung ương CSVN đã ra lệnh cho cho một Trung đoàn bộ binh (thuộc sư đoàn 5, mang mật danh Công trường 5) tiến chiếm Tòa thánh Tây Ninh-Thánh đîa của Đạo Cao Đào! Họ bắt giữ và trục xuất các vị chức sắc ra khỏi Tòa Thánh ngay tức khắc! BCT trung ương Đảng CSVN ra lệnh bắt giam các vị: Phối sư Trần Quang Vinh, cựu Tổng Tư Lệnh quân đội Cao Đài. Chánh phối sư Thượng Nhã Thanh. Nguyễn Tấn Mạnh nguyên Thiếu tướng quân độI Cao Đài...và 25 vị chức sắc khác...Sau 6 tháng ‘tập trung cải tạo’, các vị chức sắc già yếu quá, thì Nhà nước CSVN mở long ‘nhân đạo’ cho các vị trở về vớI gia đình, nhưng cấm ‘không cho hành đạo’! Riêng cái chết của Phối sư Trần Quang Vinh ở trong tù, cho đến nay vẫn là một bí ẩn (!?)
Quân độI CSVN phong tỏa Tòa Thánh, nộI bất xuất ngoại bất nhập, trong vòng 100 ngày để ‘thanh lý toàn bộ cơ sở vật chat của Tòa Thánh Tây Ninh’!
Nhà nước CSVN đã ‘thanh lý’ những tài sản gì của Giáo HộI Cao Đài?
Họ đã tịch thu tất cả tài sản có giá trị của Tòa Thánh, trong đó có toàn bộ máy móc của Đài Phát Thanh, 11 trung tâm phát hành kinh sách kể cả 3 nhà in và toàn bộ ấn phẩm. Họ tiêu hủy toàn bộ Thư Viện trung ương của Giáo HộI vớI hang ngàn văn khố và sách quí hiếm, đóng cửa và tịch thu tài sản của Viện Đại Học Cao Đài và 2 trường Trung học cùng một số trường Tiểu học, biến các cơ sở đó thành nhà ờ của cán bộ và trại lính! Họ đóng cửa Viện Âm Nhạc, Trường Mỹ Thuật và tịch thu toàn bộ tài sản của hai cơ sở này. Tổng cộng có 35 cơ sở vật chat của Giáo HộI Cao Đài đã bị Nhà nước CSVN ‘thanh lý’ sạch sẽ, trong đó không biết lọt vào túi riêng của bọn Cán bộ cao cấp của Quân độI Nhân dân và đîa phương Tây Ninh là bao nhiêu?
Các chức sắc cao cấp trong hang ngũ lãnh đạo của Giáo Hội Cao Đào, từ trung ương đến địa phương, không chịu cộng tác với Ban Tôn Giáo CSVN, thì bị Nhà nước
Các chức sắc cao cấp trong hang ngũ lãnh đạo của Giáo Hội Cao Đào, từ trung ương đến địa phương, không chịu cộng tác với Ban Tôn Giáo CSVN, thì bị Nhà nước CHXHCNVN ghép vào tội “thành lập mặt trận lien tôn âm mưu lật đổ chế độ!”, để xử án tù chung than hoặc xử tử! Đây là những trương hợp điển hình: Các vị Huỳnh Thanh Khiết, Hồ Hữu Hia, Lê Tài Thượng, Nguyễn Văn Mạnh, Lê Văn N ho, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Thành, Nguyễn Văn Bảy…đã bị chính quyền CSVN lập “Tòa Án Nhân Dân” ngay trong Tòa Thánh Tây Ninh, để xử án tử hình đối với các vị đó (!) Còn các vị bị kết án tù chung than là: Cao Tường Xuân, Nguyễn Minh Quang, Châu Thị Mỹ Kim, Lý Thành Trọng, Trần Minh Quang, Đinh Tiến Mậu, Nguyễn Thai Dũng, Đoàn Văn Bạch, Phan Đăng Chức, Trương Phước Đức, Nguyễn Ngọc Đệ, Võ Văn Thắng, Nguyễn Mạnh Bảo…Tại Quảng Nam, chính quyền CSVN đã ra lệnh xử tử các vị Phạm Ngọc Trảng, Nguyễn Thành Điểm, Đặng Ngọc Liêm…
Tiếp theo hành động triệt hạ đa số các vị chức sắc lãnh đạo của Giáo Hội Cao Đài trước tháng Tư 1975, Ban Tôn Giáo Trung ương CSVN đã cử ông Trương Ngọc Anh, “chức sắc Cao Đài XHCN” về nắm quyền ở Tòa Thánh Tây Ninh. Đồng thời, chính quyền CSVN ra lệnh giải tán Hội Thánh, cấm chức sắc cũ hành đạo, gây áp lực và vô hiệu hóa vai trò của các ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, Đầu sư Ngọc Nhượng Thanh đối với tín đồ!
Trường hợp ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa là một tấn thảm kịch, trong “chính sách triẹt hạ Cao Đài” của Đảng CSVN! Lúc đầu, ngày bị giam lỏng tại Giáo Tông Đường…Rồi đột nhien ông bị gài vào tội “tang trữ vũ khí và lập mặt trận để lật đổ Nhà nước CHXHCNVN”(?) Thế là, ngài bị đem ra xử công khai tại sân vận động Long Hoa (Tây Ninh). Nhưng, bịquần chúng tín đồ và nhân dân Tây Ninh phản đối, bằng cách khóc than thảm thiết, kêu oan cho ngài Bảo Đạo, nên chính quyền CSVN không dám xử tù chung than, mà thực hiện chính sách “quản chế tại gia vô thời hạn” đối với ngài Bảo Đạo (!) Và Nhà nước CSVN đã ếp buộc Hội Đồng Chưởng Quản của Giáo Hội Cao Đài, phải ký quyết định giáng chức ngài xuống hang đạo hữu. Vào năm 1984, con trưởng của Ngài là Hiền tài Hồ Thái Bạch đã bị bắt tại thánh phố HCM, và đã bị xử tử cùng một số chiến hữu thuộc “Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam”.
Để quàn lý chặt chễ khu Tòa Thánh, chính quyền CSVN cho tổ chức một Hội Đồng Chưởng Quản mới, đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của MTTQVN huyên Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Trước năm 2000, người được Chính quyền CSVN giao giữ chức Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản Tòa Thánh Tây Ninh là Phối sư Thượng Thơ Thanh - người Phối sư đã công khai “ca ngợi Đảng CSVN”
Năm 1980, UBND tỉnh Tây Ninh ra quyết sđịnh số 124/QĐ-UB ngày 4-6-1980, giải tán Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh! Và Ban Tôn Giáo trung ương của CSVN đã công khai khuyến dụ các chức sắc Cao Đài trung ương chấp nhận bỏ TÂN LUÃT và PHÁP CHÁNH TRUYỀN, chịu soạn thảo HIẾN CHƯƠNG theo sự chỉ đạo của Đảng CSVN, thì sẽ được cấp pháp nhân (!) Rõ rang Đảng CSVN muốn thực hiện xí đồ biến Đạo Cao Đài thành m55ột đoàn thể quần chúng, xóa bỏ tính chất tôn giáo của Cao Đài! Đến ngày 29-7-1995, Nhà nước CHXHCNVN đã ra quyết định số 01/QĐ-TGCP, công nhận tư cách pháp nhân cho hệ phái Cao Đài Tiên Thiên , vì hệ phái này chịu viết Hiến Chương, và cơ sở tu đạo của họ không được gọi là Thánh Th1ất, mà gọi là Tịnh Thất (!?)
Gần đây, chính sách triệt hạ Đạo Cao Đài đã giảm bớt tính chất chuyên chế của Nhà nước Cộng sản, tuy nhiên vẩn còn bắt bớ vị chức sắc nào muốn vượt ra ngoài sự quản lý của MTTQVN, không theo sự chỉ đạo của Ban Tôn Giáo CSSVN! Thí dụ: Giữa tháng 8-2004, Công huyện Cai Lậy (Mỹ Tho) đã bắt Hiền Tài Hồng Thiện Hạnh, 57 tuổi, về tội gọi là “lợi dụng dân chủ để truyền đạo bất hợp pháp” (?)
Đạo Hòa Hảo cũng bị Đảng CSVN liệt vào “đố tượng nguy hiểm cho chế độ “! Do đó, ngay từ sau “Tháng Tư Đen” (4-1975), đã ra lệnh cho quân khu IV (Miền Tây Nam Bộ) “bằng bất cứ giá nào phải tiêu diệt cho kỳ hết lực lượng vũ trang của Hòa Hảo, và triệt hạ Thánh Địa Hòa Hảo nhằm không cho tín đổ Hòa Hão còn có nơi để sung bái…”(Theo tiết lộ của Đại tá Hai Nguyên - Trưởng phờng Quân Báo (quân khu IV) trong thời gian 1975-1980)
Quân ủy Cộng sản Quân khu Miền Tây Nam Bộ, sau 30-4-1975 do Võ Văn Kiệt làm Bí thư, đã chỉ thị cho Đại tá Lê Đức Anh (Tư Lệnh Quân khu MTNB), một mât tìm cách tiếp xúc và thuyết phục cụ Lương Trọng Tường khêu gọi quân đội v1à dân quân vũ trang của giáo phái Hòa Hão buông vũ khí, một mặt đưa quân đội mở những trận tấn công chớp nhoáng để tiêu diệt toàn bộ lực lượng vũ trang của Hòa Hão tại khu căn cứ địa trong vùng Thất Sơn (huện Tịnh Biên Châu Đốc). Sau chiến công tiêu diệt phần lớn lực lượng vũ trang Hòa Hão (1976-1978), nên Lê Đức Anh đã được thăng vượt cấp, từ Đại tá lên thẳng Trung tướng!
Đồng thời với hành động tấn công tiêu diệt lực lượng vũ trang của giáo phái Hòa Hão, Nhà nước CSVN ra Thông Cáo (19-6-1975) “Ra lệnh giải tán toàn bộ hệ thống Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hão và Ban Chấp Hành Dân Xã Đảng!”- Biết rằng:Hệ thống tổ chức của Giáo Hội PGHH gồm co Ban Trị Sự Trung ương, 28 Ban Trị Sự cấp tỉnh, 82 Ban Trị Sự cấp Quận, 476 Ban Trị Sự cấp Xã và 3.100 Ban Trị Sự cấp Ấp; cùng các tổ chức Bảo an, Thanh niên, Phụ nử, Cựu Chiến sĩ, Xã hộ, Phòng Thuốc Nam từ thiện … đều bị giải tán! Thâm độc nhất là Nhà nước CSVN lại mạo danh “Tổ Đình Phật Giáo Hòa Hão” để ra thong cáo đó (!) 36,000 Trị sự viên các cấp, 2.700 cán bộ phổ thong giáo lý, 6.000 cán bộ độc giảng viên đều bị tập trung cải tạo, và bị cấm hoạt động sau khi đi cải tạo về! Toàn bộ tài sản thuộc các cơ sở từ Trung ương đến địa phương của Giáo Hội PGHH đểu bị tịch thu, sung làm của công hoặc phân chia cho cán bộ có chức quyền ở địa phương có cơ sở đã bị chiếm đoạt !
Thánh Địa Hòa Hão bị phong tỏa, liểm soát gắt gau, làm khó dễ đối với những ai lui tới! Tât cả tín đồ PGHH đều bị cấm không cho tụ họp ở các cơ sở đạo! Chính quyền CSVN cũng cấm cử hành Giáo lể tại Thánh Địa! Họ cũng không cho tín đồ tổ chức Đại Lể Kỹ Niệm Đức Huỳnh Giáo Chủ vào ngày 18 tháng 5 âm lịch hang năm! Hơn thế nửa, họ còn bắt buộc các gia đình tin đồ dẹp bỏ bàn thờ, tiêu hủy kinh sách, hạ bỏ hình Đức Huỳnh Giáo Chủ, và bắt buộc treo hinh ông Hồ Chí Minh thay vào đó (!) Nếu ai không nghiêm chỉnh chấp hành lệnh trên sẽ bị nghiêm trị!
Chính quyền CSVN còn ra lệnh xử tử một số chức sắc cương quyết bảo vệ Đạo, như các ông: Huỳnh Văn Lâu, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Đệ, Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Văn Khiết, Nguyễn Văn Oanh, Lê Chơn Tịnh, Nguyễn Văn Cội, Nguyễn Văn Út…Còn các vị bị xử tù chung than là” Nguyễn Văn Đấu, Nguyễn Văn Hùng, Nguyển Văn Trân, Nguyễn Văn Dũng, Tô Bá Hộ…Các chức sắc đã chết trong các trại cải tạo của CSVN như:Phan Bá Cầm, Tổng Bí Thư Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng. Cá tướng Lâm Thành Nguyên, Trình Quốc Khánh… Cụ Trần Hữu Duyên, đã bị chính CSVN bắt giam từ sau 30-4-1975 . Đến 1990, cụ được thả về vì tuổi già (68 tuổi), nhưng đến năm 1992, chính quyền CSVN lại bắt cụ Trần Hữu Duyên và kết án 10 năm tù về tội “âm mưu lật đổ chính quyền CHXHCNVN” (?)
Đảng CSVN quyết triệt hạ tận gốc Đạo Hòa Hảo, không chỉ ra sức tiêu diệt lực lượng vũ trang của GHPGHH, mà còn khủng bố ác liệt đối với các tu sĩ Hòa Hão, không có một tấc sắt trong tay (!) Thí dụ: Đầu năm 1993, chính quyền CSVN tỉnh An Giang ra lệnh cho tu sĩ Hòa Hảo Lê Minh Triết phải phá nỏ căn nhà lụp xụp nghèo nàn của ông, với lý do ông đã dung căn nhà đó làm “am cốc để tu hành bất hợp pháp”(?) Ông Lê Minh Triết sợ bị bắt vào tù, nên đã bỏ trốn. Vậy mà họ cũng không tha, đuổi bà mẹ già và người chị mù lòa của ông ra khỏi nhà, và san bằng ngôi nhà xơ xác nghèo nàn không đáng giá ấy (!)
Hiện nay, nếu nhìn bề ngoài, thì các tôn giáo (Phạt giáo, Thiên chúa gíáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hão…) đều sinh hoạt bình thường; hơn nửa còn cò “tư do tín ngưởng” (như tự do thờ phượng, tự do đi chùa, tự do đi nhà thờ…) và “tự do hành đạo” (như tự do phát hành khinh sách, tụ do thuyết pháp, giảng đạo…) Nếu người nước ngoài nào đến Việt Nam đúng dịp Lể Phật Đản hay Đêm Giáng Sinh (noel) thì họ không thể không tin rằng “nước Việt Nam Cộng sản đã có Tự Do Tôn giáo”. Nhưng họ có biết đâu, đó chỉ là kiểu Tự Do Hình Thức!
Những sinh hoạt tôn giáo bề ngoài, đang tồn tại ở Việt Nam chỉ là “các tôn giáo đã được xã hội chủ nghĩa hóa” Hay nói trắng ra là “các tôn giáo đã bị quốc doanh hóa”! Bước vào năm 2005, nan đề tôn giáo đã làm cho Đảng CSVN nhức đầu là sự phản ứng quyết liệt của các tôn giáo đối với “Pháp lệnh Tôn giáo” của Quốc hội CSVN đã thong qua và bắt đầu có hiệu lực!
3- Bóp Nghẹt Tự Do Ngôn Luận, Chà Đạp Quyền Sống Của Con Người!
Bóp nghẹt Tự Do Ngôn Luận là chính sách cố hữu, là bản chất chuyên chính độc tài, nhằm bảo vệ quyền độc tôn lãnh đạo quốc gia của Đảng CSVN! Lịch sử hiện đại Việt Nam từ sau tháng TYư 1975 đến nay, đã minh chứng rõ rang sự thật này! Chính lời chỉ thị của Lê Duẫn-=Tổng Bí Thư BCHTƯ Đảng- về cái gọi là “xây dựng nền văn hóa XHCN” ở miền Nam, sau ngày 30-4-1975, là một bằng chứng tạo điều kiện cho việc bóp nghẹt Tụ Do Ngôn Luận. : Lê Duẫn đã chỉ thị rằng:
“Việc trấn áp và xây dựng văn hóa ở miền Nam là hai mặt khắng khít nhau. Trấn áp những tư tưởng phản động, quét sạch tàn dư văn học đồi trụy, và truy lung những tay sai văn hóa phản động, là một nhiệm vụ tối quan trọng để bả vệ, xây dựng và phát triển nền văn hóa XHCN ở miền Nam hiện nay.”(Tạp chí Văn Hóa, Hànội, số tháng 6-1976).
Hậu quả của chỉ thị mang tính hận thù, đồng thời biểu lộ sự lo sợ sức mạnh tiềm ẩn của “QuyềnTự Do Ngôn Luận Trên Diễn Đàn Văn Hóa Văn Nghệ “ở miền Nam (và cả nước), sẽ làm sụp đô nền chuyên chính độc tài của Đảng CSVN! Mờ đầu cho chính sách bóp nghẹt tự do ngôn luận ở miền Nam sau tháng Tư 1975, là tiến hành Chiến Dịch Truy Quét Và Thiêu Hủy Toàn Bộ Sách Báo của Chế Độ Cũ (!) Đồng thời, Đảng CSVN cũng ra lệnh bắt tất cả trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo của chế độ củ, đi tập trung cải tạo, nhằm Trấn Áp Và Bịt Miệng Của Những Con Người Vốn Đã Quen Xử Dụng Vũ Khí Tự Do Ngôn Luận Để Bảo Vệ Nhân Quyền! (Theo tờ báo L’Humanité ở Pháp, các số phát hành từ 21-3-1977, thì có 321 văn nghệ sĩ, nhà báo của chế độ củ ở miền Nam đã bị tập trung cải tạo.
Sau tháng Tư 1975, hầu hét các tòa soạn báo chí tư nhân của chế độ VNCH đều bị đóng cửa. (ngoại trừ một vài tờ báo đã cộng tác với MTDTGP trước 30-4-1975, như các nhật báo “Tin Sáng, “Dạn Chủ Mới”…nhưng cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, rồi cũng bị khai tử luôn!) Bởi vì, trong chế độ gọi là XHCN không cho phép tư nhân tự do hành nghề báo chí! Báo chí trong chế độ XHCN đều phải thuộc độc quyền chi phối của Đảng CSVN (qua Ban Tuyên Huấn Trung Ương). Các tờ báo xuất hiện ở miền Nam sau tháng Tư 1975, như “Nhạn Dân’, Sàigòn Giải Phóng”, “Tuổi Trẻ”, “Thanh Niên”, “Phụ Nữ”, “Lao Động” v.v… đều là báo quốc doanh!
Do đó, các Chủ nhiệm, Tổng biên tập hay Thư ký tòa soạn đều phải là Đảng viên do Ban Tuyên Huấn tuyển chọn.
Trực tiếp lãnh đạo tòa soạn của mỗi tờ báo (hay tạp chí) là Ban chấp hành Đảng ủy. Tất cả các bài báo hay bản tin đều phải thong qua sự kiểm duyệt của Đảng ủy tòa soạn mới được phổ biến công khai trên mặt báo (hay tạp chí). Đảng ủy tòa soạn chịu trách nhiệm về nội dung tờ báo (hay tạp chí) với Ban Tuyên Huấn. Ban Tuyên Huấn chịu trách nhiệm với Trung ương Đảng về mọi sai trái của báo chí trên toàn quốc. Vụ Báo Chí trực thuộc Ban Tuyên Huấn Trung ương, là cơ quan làm công tác theo dõi, kiểm tra và phát hiện sự sai trái của báo chí trong cả nước, để kịp thời báo cáo cho Ban Lãnh Đạo của Ban Tuyên Huấn Trung ương, đặng có biện pháp xử lý, thi hành kỹ luật đối với tờ báo, hay tạp chí nào… đã phạm sai lầm, vượt ra ngoài “dường lối báo chí của Đảng”! Nghĩa là, không được nói gì khác các nghị quyết của Đảng về các lĩnh vực Kinh tế-Chính trị, Văn hóa-Xã hội…Hay nói trắng ra rằng: Chỉ được nói cái gì gọi là “tính ưu việt” của XHCN, cái gì hay và tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội do Đảng CSVN lãnh đạo! Phải che dấu, không được nói những cái gì xấu và sai lầm của Đảng và Nhà nước CSVN,tuyệt đối không được phơi bày cho quảng đại quần chúnh nhân dân biết sự thật (!)
Rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, trong chế độ gọi là CHXHCNVN do Đảng CSVN lãnh đạo từ khi thống nhất tổ quốc, đã bị bóp nghẹt đến không còn chổ để thở lấy một chút không khí tự do cho những người cầm bút!
Mãi đến Đại Hội VI (12-1986) của Đảng CSVN, và với “dường lối đổi mới” của tân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, dù chỉ là đổi mới nửa vời, tuy nhiên giới báo chí cùng văn nghệ sĩ đã có cơ hội tự do ngôn luận trong một giới hạn nhất định, theo tinh thần chỉ thị “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm sử dụng báo chí tốt hơn trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực.”(Chỉ thị của Ban Bí Thư trung ương Đảng CSVN, tháng 2-1987). Nhưng, Tố Hữu - Ủy viên trung ương đặc trách văn nghệ, lại cảnh cáo rằng : “Phê phán ai cũng được, nhưng không thể phê phán Đảng, vì Đảng là Đấng Tối Thượng!
(Lời của Tố Hữu nói với một số Văn Nghệ Sĩ ở Hànội, vào tháng 5-1987)
Chính vì tin tưởng lời tuyên bố “Cởi Trói Văn Nghệ” của Nguyễn Văn Linh, kèm theo Nghị Quyết 05 của Bộ Chính Trị (12-1987) về vấn đề được gọi là “phát huy khả năng sang tạo, đưa văn học-nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”, mà một số nhà bái và văn nghệ sĩ yêu chuộng tự do, đã bị liệt vào Sổ Đen của Chính quyền CSVN, và mang danh là “những phần tử chống Đảng!”
Các tờ báo “Lao Động”, “Đại Đoàn Kết”, Tuần Tin Tức”… đến “Tuổi Trẻ”, “Thanh Niên” xông vào cuộc gọi là “Cởi trói tư duy”, bằng những bài phê phán tệ quan lêu, tham ô, hủ hóa, hà hiếp dân lành … của một số cơ quan Đảng và Nhà nước, của một số Cán bộ có chức có quyền! Sau đó tờ “Văn Nghệ” do nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng Biện Tập. Thế là, chính sách “cởi trói văn nghệ” bắt đầu trở thành chủ trương “cột chặt văn nghệ”(!)
Vào đầu tháng 9-1988, theo chỉ thị của ông Tố Hữu, Hội Nhà Văn đã họp 5 ngày liền (từ ngày 5 đến ngày 9-9-1988), và đã ra nghị quyết “chấn chỉnh những sai lầm về cởi trói tư duy của tờ Văn Nghệ”. Số phận của nhà văn Nguyên Ngọc đang bọ đe dọa! Do đó, các nhà văn thứ tỉnh ở các địa phương Hànội, Huế, Lâm Đồng, Phú Khánh, Nghĩa Bình … mà dẫn đầu là nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, đã phát động một phong trào kháng nghị, phản đối nghị quyết “bóp nghẹt tự do sang tác” của Hôi Nhà Văn Việt Nam, công cụ chuyên chính của Đảng CSVN đối với Văn Nghệ Sĩ! Dù vậy, đến tháng 12-1988, nhà văn Nguyên Ngọc vẫn bị Hội Nhà Văn ra quyết định cách chức TBT báo Văn Nghệ (chấp hành chỉ thị của Ban Tuyên Huấn Trung ương!). Hai tờ báo “Tổ Quốc”(của Đảng Xã Hội) và “Dân Chủ” (của Đảng Dân Chủ) ở Hànội, đều bị đình bản vào cuối năm 1988! Và đầu tháng 1-1989, Bộ Thông Tin ra quyết định kiểm soát nghiêm ngặt các hoạt động của ngành báo chí và in ấn, vớ nội dung như sau: “Ngay tức khắc, tạm thời đình chỉ việc cấp giấy phép cho ấn hành báo chí, cơ quan phát hành sách báo và nhà in!”. Với quyết định này, có thể xem là mở đầu sự chấm dứt thời kỳ gọi là “cởi trói văn nghệ”, cũng đã xác định tính chất “đổi mới nửa vời” của Đảng CSVN!
Trong Hội nghị lần thứ 6 của BCHTƯ Đảng CSVN khóa VI, đã quyết địng chấm dưt chủ trương “cởi trói tư duy”, và đưa ra 6 nguyên tắc “xiết chặt nội bộ Đảng và ngăn cấm mọi ý kiến đòi hỏi đa nguyên, đa Đảng!”Có thể tóm tắt 6 nguyên tắc đó như sau> 1)-Phải thực hiện thành cọng việc tiến lên XHCN! 2)-Chủ trương đổi mới không thể làm tổn hại đến XHCN! 3)-Chính sách đổi mới là nhằm tăng cường quyền lực lãnh đạo quốc gia của Đảng! 4)-Các địa phương phải triệt để chấp hành sự lãnh đạo sang suốt của Đảng! 5)-Dân chủ ở nước ta là Dân chủ XHCN, không thể ngộ nhận là Dân chủ TBCN. Dân chủ XHCN là Dân chủ tập trung! 6)-Yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội! (Theo Văn Kiện Đảng, tập 1986-1990, nxb Chính trị Quốc gia, Hànội 1990). Và con cờ bị thí đầu tiên trong BCTTƯ Đảng là Trần Xuân Bách! Trần Xuân Bách bọ loại ra khỏi BCTTƯ Đảng từ giửa năm 1990, vì tội “đòi đổi mới thật sự và quảng bá chủ trương đa nguyên đa Đảng” (!)
Cùng số phận với ông Trần Xuân Bách, ông Nguyễn Hộ (nguyên Phó chủ tịch Tổng Công Đoàn Việt Nam, nguyên Thường vụ Thành ủy Thành phớ HCM) và ôngg Tạ Bá Tòng (nguyên Thành ủy viên Thành phố HCN) đã bị BCTTƯ Đảng ghép vào tội: “Vụ chống Đảng sau Nhân Văn Giai Phẩm” (!)
Bảo tố năm 1990 còn giáng lên đầu của giới báo chí và văn nghệ sĩ thức tỉnh! Sau vụ cách chức TBT báo Văn Nghệ của nhà văn Nguyên Ngọ, hang loạt nhà báo, nhà văn, nhà thơ…đã bị Đảng thi hành kỹ luật, loại ra khỏi chức vụ lãnh đạo như:
- Nhà thơ Bùi Minh Quốc, TBT Báo Lang bian (Lâm Đồng).
- Nhà văn Tô Nhuận Vĩ, TBT tâp chí Sông Hương (Huế)
- Nhà báo Tô Hòa, TBT báo Sàigòn Giải Phóng (thành phố HCM)
- Nữ nhà báo Kim Hạnh, Phó TBT báo Tuổi Trẻ (thành phố HCM)
- Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, TBT báo Cửa Việt (Quảng Trị)
- Nhà văn Nguyễn Xuân Quang, TBT báo Sông Bé (tỉnh Sông Bé)
- Nhà báo Lê Phúc, TBT báo Dối Thoại (Vĩnh Long)
- Nhà báo Kim Tịnh, Phó TBT báo Ap Bắc (Mỹ Tho)
v.v…
Họ đã lần lượt bị cách chức, khai trừ Đảng tịch, chỉ vì họ đã tích cực hưởng ứng chủ trương “cởi troi tư duy” của ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, chỉ vì họ dám cho đăng những bài tố cáo tệ quan lieu cửa quyền, nạn tham nhũng, phản ánh thảm trạng đau khổ của hang triệu người dân lương thiện…và đòi quyền tự do dân chủ. Đòi quyền sống của con người!
Sau khi ông Nguyễn Hộ - chủ nhiệm Cạu Lãc Bộ Những Người Kháng Chién Cũ – công khai tuyên bố từ bỏ khỏi Đảng CSVN (21-3-1990), làm chấn động nhân tâm của hầu hết cán bộ, đảng viên trong cả nước, vang động đến hải ngoại… (qua bài viết của nhà báo người Anh Nick Malloni, đăng trên tờ Asia Week -Hongkong). Nguyển Văn Linh và BCTTƯ Đảng CSVN vô cùng tức giận, quyết tâm trửng trị “Nhóm Nguyễn Hộ” và những người “ủng hộ Nguyễn Hộ”, nên họ đã ra lệnh bắt Đỗ Trung Hiếu (23-4-1990), Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Ngọc Long và luật sư Đoàn Thanh Liêm (cùng ngày 29-4-1990), Linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Loan (cùng ngày 16-5-1990). Bác sĩ Nguyển Đan Quế, người sáng lập “Cao Trào Nhân Bản” ở Sàigòn, đã bị bắt ngày 14-6-1990.( Ông Quế đã bị tòa án CSVN kết án 20 năm tù vào ngày 20-11-1991)
- Ngày 7-9-1990 ông Nguyễn Hộ cũng đã bị bắt tại vùng căn cứ kháng chiến cũ ở Sông Bé (!) Tiếp theo, hàng trăm người kháng chiến cũ ở Sàigòn-Giađịnh, ở các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang, An Giang, Minh Hải, Sông Bé… đã bị bắt! Ông Đoàn Viết Hoạt, thành viên của “Diễn đàn Dân chủ” cũng bị bắt trong thời gian này (17-11-1990). Đến ngày 20-3-1993, tòa án CSVN đã kết án ông Đoàn Viết Hoạt 20 năm tù, nhưng sau đó giảm xuống 15 năm tù!
Năm 1990 là năm từ bỏ Đảng nhiều nhất, của những người Cộng Sản Thức Tỉnh, trong lịch sừ của Đảng CSVN từ khi thành lập (3-2-1930) đến nay. Đã có hang 100.000 Đảng viên các cấp, đa số là ở các tỉnh thuộc Nam Bộ, đã tự động ly khai ra khỏi Đảng! (Theo tiết lộ của ông Phan Triêm, nguyên Phó Ban Tổ Chức Trung Ưong)
Trong những năm 1991-1996, dưới thời thống trị của tập đoàn ĐôổMười-Lê Đức Anh, tình trạng chà đạp quyền sống của con người càng trầm trọng hơn! Bất cứ ai, nếu dám lên tiếng phê phán đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, dám đòi hỏi tự do dân chủ, dám chỉ trích hang ngủ lãnh đạo của Trung ương, dám tố cáo tội tham nhũng của các cấp lãnh đạo chính quyền từ địa phương đến trung ương… đều bị trấn áp! Sau đây, chỉ trưng ra một số bằng chứng điển hình:
- Ngày 13-4-1991, Bộ Nội Vụ CSVN đã ra lệnh bắt nhà văn nử Dương Thu Hương, tác giả của những tác phẩm làm chấn động trong văn giới Hànội kúc ấy, như: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đưoơng mù”, “Còn bến không chồng”. Bà bị kết tội “chuyễn tài liệu chống Đảng và Nhà nước ra nước ngoài” Nhưng nhờ Hội Văn Bút Quốc Tế và Hội Ân Xá Quốc Tế hết long can thiệp, nên nhà văn nử Dương Thu Hương chỉ bị ở tù có hơn 7 tháng.
- Tháng 1-1994, chính quyền CSVN lại ra lệnh bắt ông Nguyễn Hộ lần thứ hai, vì tội đã dám phổ biến bài viếi của ông, về “Quan điểm và cuộc sống”ra nước ngoài, mà không thong qua sự cho phép của Đảng và Nhà nước (!) Nhưng vì bị sự phản đối mạnh mẽ của phong trào dân chủ ở trong và ngoài nước, nên chính quyền CSVN buộc long phải thả ông vêề nhà (25-6-1994), đồng thời ra lệnh “quản chế tại gia”, mà thực chất là “giam tại nhà”, vì không được đi ra khỏi nhà, không được tiếp xúc với ai, và có công an chìm canh gát 24/24 ! (Nên biết: Ngày 20-3-1994, Ban Văn Hóa Tư Tưởng Trung ương Đảng CSVN đã phổ biến trong nội một tài liệu với đầu đề là “Hoạt động của một số lực lượng thù địch”, trong đó có tên của hai ông Nguyễn Hộ & Hoàng Minh Chính!)
- Ngày 14-4-1995, BCTTƯ Đảng CSVN đã chỉ thị cho Ban Tổ Chức trung ương (do Lê Đức Anh ký) thi hành kỷ luật hai ông Nguễn Trung Thành và Lê Hồng Hà, khai trừ ra khỏi Đảng (26-6-1995), vì tội “có hành động chống Đảng” (Nguyễn Trung Thành nguyên là Ủy viên Thường trực Ban Bảo Vệ Chính trị Trung ương Đảng. Lê Hồng Hà nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Tổng hợp Bộ Công An.)
- Ngày 3-6-1995, Chính quyền CSVN đã ra lệnh bắt ông Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết Học, về tội : “Một, trả lời phỏng vấn của phóng viên Ba Lan(tên là Jacek Hugo Bader) mà không xin phép Đảng và Nhà nước. Hai, phân phát bất hợp pháp tài liệu chống chế độ XHCN Việt Nam!” Cùng ngày hôm đó, ông Đổ Trung Hiếu cũng bị Công an thành phố HCM bắt vì phạm tội: “Một, đã liên lạc với ông Hoàng Minh Chính. Hai, phân phát bất hợp pháp tài liệu chống Đảng và Nhà nước!” (Theo thong báo của Lê Minh Hương, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ CSVN, trong hội nghị bàn về “Tình Hình An Ninh Chính Trị” (3-7-1995), thì đã có 148 tài liệu chống Đảng và Nhà nước đang được lưu hành trong nhân dân; và hiện có đến 8 nhóm “chống Đảng” đang hoạt động trên cả nước, trong đó đáng lưu ý nhất là “Nhóm Hoàng Minh Chính”& “Nhóm Trần Độ” & “Nhóm Nguyễn Trung Thành-Lê Hồng Hà”( ? ) Ngày…tháng 11-1995, tòa án CSVN đã xử án ông Hoàng Minh Chính (12 tháng tù) và ông Đổ Trung Hiếu (15 tháng tù), với tội danh “Lôi dụng quyền tự do dân chủ để chống Đảng và Nhà nước” (?)
- Trong hai ngày 11 và 12-8-1995, tòa án CSVN đã xử và kết án ông Nguyễn Đinh Huy (Liên Minh Dân Chủ) 15 năm tù, về tội “Âm mưu lật đổ chế độ!” (Mãi đến ngày 1-2-2005 thì ông Huy đã được trả tự do trước 5 năm.) Hai ông Trần Quang Liêm và Nguyễn Tấn Tri (đều là người Mỹ gốc Việt() cùng bị kết án 4 năm tù về tội “Liên hệ hoạt động lật đổ chế độ XHCN với Nguyễn Đình Huy!”(nhưng đến ngày 7-11-1995 thì hai ông Liêm & Tri đã bị trục xuất về Mỹ!)
- Ngày 2-11-1995, Chính quyền CSVN tại thành phố HCM, chấp hanh chỉ thị của BCTTƯ Đảng CSVN, đã ra lệnh “cấm lưu hành và tịch thu” tác phẩm “cực kỳ phản động” của người Cộng Sản Lão Thành Nguyễn Văn Trân (nguyên là Phó Bí thư Xứ ủy Nam kỳ, nguyên là Vụ trưởng Khoa Giáo Trung ương) – tác phẩm “Viết Cho Mẹ & Quốc Hội” . Câu kết luận của tác giả trong cuốn sách này là : “Có báo chí tự do người dân mới khôn. Dân khôn mới đẻ ra người lãnh đạo sang suốt.” “Chỉ có một phương pháp chứng tỏ tôi là người tự do thì Quốc hội hảy ra sắc lệnh (decreter) cho mọi người đều được ra báo không phải xin phép!” Ông Hai Cù Nèo (tụ danh của tác giả) đã thọc trúng tử huyệt của Đảng CSVN!
- Ngày 5-12-1995, Bộ Nội Vụ CSVN đã ra lệnh cho Sở Công An Hànội “bắt khẩn cấp” Phó Tiến sĩ Sinh học Nguyễn Sinh Tụ (bút danh Hà Sĩ Phu) ngay trước cửa nhà ông Nguyễn Kiên Giang ở Hànội, trước khi ông trở về Đà Lạt, về tội vận động tổ chức chống Đảng!” Sau đó, ông Nguyễn Kiên Giang cũng bị bắt (!)
- Trong tháng 12-1995, Bộ Nội Vụ CSVN đã ra lệnh bắt ông Lê Hồng Hà và Đại tá Phạm Quế Dương, nguyên Tổng Biên Tập Tạp chí Kịch Sử Quân Đội, là người viết bài đòi “giải oan cho các nạn nhân trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm”, nhân khi nhà thơ Phùng Quán từ trần (21-1-1995)
- Tháng 8-1996, chính quyền CSVN ở Hànội đã lập phiên tòa xử và kết tội các ông: Lê Hồng Hà 2 năm tù ở, Hà Sỉ Phu 1 năm tù ở, và Nguyễn Kiên Giang 15 tháng tù treo (!) Trong phiên tòa này, Hà Sĩ Phu đã bị buộc tội “có hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật của Nhà nước”(Sự thật là 2 bản photocopy bức thư của ông Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính Tri…!?) Các Văn Nghệ Sĩ Phản Kháng như nhà văn Hoàng Tiến, nhà thơ Bùi Minh Quốc…đã lên tiếng tố cáo Tòa án CSVN đã dung Luật Rừng đối với các ông : ê Hồng Hà, Nguyễn Kiên Giang và Hà Sĩ Phu!
- Sau khi tờ đặc san “Truyền Thống Kháng Chiến” của nhom Nguyễn Hộ-Tạ Bá Tòng đã bị cấm ấn hành (giửa năm 1990) thì báo chí luồn lách ngoài sự kiểm soát của Đảng và Nhà nước CSVN, tạm thời vắng bong trên thị trường báo chí bán hợp pháp (!) Nhưng đến cuối năm 1996, thì các cơ quan Đảng và Chính quyền CSVN ở các địa phương trên cả nước, đã nhận được một Văn Thư Khẩn, số 998-CV/VPTƯ, của Văn phòng Trung Ương Đảng, đề ngày 1-11-1996, cho biết: Theo lệnh của BCTTƯ Đảng “Phải tịch thu toàn bộ và cấm lưu hành, tàng trữ tờ báo NGƯỜI SÀIGÒN! Đồng thời phải ráo riết truy lung, bắt cho được những kẻ chủ biên và phat hành bât hợp pháp tờ báo vô cùng độc hại này!”
Tờ bao bất hợp pháp NGƯỜI SÀIGÒN xuất hiện trong dân chúng miền Nam, trước hết là ở Sàigòn và các tỉnh Nam bộ, từ đầu thányh 8-1996. Người chủ biên không ai khác là Ông Già Chợ Đệm, tức Hai Cù Nèo, tức Nguyển Văn Trấn, tác giả cuốn “Viết Cho Mẹ & Quốc Hội”. Và đồng chí Bảy Trấn, nhà lão thành cách mạng, người Cộng sản già đã bị Công an truy xét gắt gao, sau khi hoàn thành 32 số Tuần Báo Người Sàigòn (từ 8-1996 đến 11-1996), đành phải rời khỏi căn nhà số 28/4 đường Bạch Đằng (quận Bình Thạnh-thành phố HCM), bởi vì Sở Công An thành phố HCM đã nhận được chỉ thị của BCTTƯ Đảng là phải bắt cho được “tên phản Đảng Nguyễn Văn Trấn!”. Ông Nguyễn Văn Trấn phải lẫn trốn trong sự che chở của quần chúng nhân dân Sàigòn-Chợlớn-Giađịnh… cho đến ngày ông qua đời (1-5-1998) !
Nhân vụ án báo “Người Sàigòn”, Liên Bộ Nội Vụ- Văn Hóa Thông Tin của chính quyền CSVN, đã ra quyết định “Tổng kiểm trat các nhà in, nhà xuất bản, các trung tâm phát hành sách báo trên toàn quốc.,”để truy quét đến tận cùng các loại sách báo có di hại cho chế độ XHCNVN (theo chỉ thị Liên Bộ số 02/CT-LB ngày 9-11-1997). Bảo tố lại giáng lên đầu những người cầm bút yêu chuộng tự do (!)
Trong những năm 1997-1998, cựu Trung tướng Trần Độ (nguyên Phó Chính ủy BTL Quân Giải Phóng Miền Nam, nguyên Ủy viên TƯ kiêm Trưởng Ban Văn Hóa Văn Nghệ của Trung ương Đảng , nguyên Phó chủ tịch Quốc hội nước CHXHCNVN), đã bị liệt vào danh sách “Nhóm Chống Đảng nguy hiểm nhất”! Và Trần Độ đã bị Cục Bảo Vệ Chính Trị Trung Ương tình nghi là “kẻ lãnh đạo nông dân Thái Bình nổi dậy trong mùa Hè-Thu 1997”, mà vẫn chưa bị bắt ! Tại sao ? Chính Phạm Thế Duyệt, Ủy viên BCTTU Đảng khóa VIII, đã giải thích như sau: “Kỹ luật Trần Độ ngay trong thời điểm này tức là châm lừa vào một cánh đồng cỏ khô đang chờ bốc cháy!”(Theo tiết lộ của Lê Xuân Tùng, Bí thư Thành ủy Hànội, tháng 2-1998) Đến khi dẹp xong “Vụ Nổi Dậy Ở Thái Bình”, BCTTƯ Đảng mới chỉ thị cho Ban Tổ Chức Trung ương Đảng, ra “Thông Báo Nội Bộ” vào ngày 4-1-1999, cho toàn Đảng biết rằng: “Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khóa VIII đã quyết định khai trừ Trần Độ ra khỏi Đảng, vì Trần Độ đã vi phạm Điều Lệ Đảng một cách nghiêm trọng!” Vụ khai trừ Trần Độ ra khỏi Đảng đã chấn động tinh thần của nhiều Đảng viên Cộng sản Trung – Cao cấp trong quân đội, mà Đại tá Phạm Quế Dương là người phản đối quyết liẹt nhất, là tự động từ bỏ Đảng tịch, bằng cách trả thẻ Đảng cho Đảng!
Trước khi Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ IX của Đảng CSVN sẽ tiến hành vào giữa cuối tháng 4-2001, BCTTƯ Đảng khóa VIII có ra chỉ thị cho Bộ Nội Vụ rằng: “tạm thời ngưng hành động trấn áp những phần tử phản kháng Đảng, để trấn an dư luận ỏ trong và ngoài nước, nhằm tạo ra một không khí dân chủ trước khi khai mạc Đại Hội IX/”
(Theo tiết lộ của Nguyễn Văn Hùng, thư ký riêng của ông Cố Vắn Võ Văn Kiệt).
Vì thế, sau Đại Hội IX, các nhân vật phản kháng Đảng CVSVN đang ở trong nước, mà sau năm 2001 được gọi là các Nhà Dân Chủ ở trong nước, vì chính nhưng nhà Dân Chủ này đã họp nhau lại, lập ra Câu Lạc Bộ Dân Chủ. Đồng thời nhà Dân Chủ Phạm Quế Dương đã đề xuất việc thành lập Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng (2-9-2001), gọi tắt là HNDVNCTN. Có lể, các nhà dân chủ ở trong nước như các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Hoàng Tiến, …đã tin phần nào vào Nghị Quyết Chống Tham Nhũng đã thong qua trong Đại Hội IX, của Đảng CSVN, có đoạn rằng: “Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở….” (Theo Văn Kiện Đại Hội IX, sách đã dẫn, trang 136). Nào ngờ, khi ông Phâm Quế Dương mới nêu ý kiến trong bài viết về HNDVNCTN, thì bị đám bồi bút của cái gọi là Ban Văn Hóa Tư Tưởng của trung ương Đảng, đua nhau lên án các nhà Dân Chủ (!).Đảng và Nhà nước CSVN không chỉ không cho thành lập HNDVNXTN, mà còn bắt đầu tiến hành cuộc trấn áp mới!
Điển hình như các vụ án sau đây:
- Trong năm 2002, có 4 chiến sĩ Dân Chủ bị chinh quyền CSVN bắt giam, và kết tội oan cho họ là “làm gián điệp cho nước ngoài”, chỉ vì họ dám viết bài nói những sự thật sai lầm nghiêm trọng của Đảng và Nhà nước CSVN, công bố cho mọi người ở trong và ngoài nước biết! Đó là: Cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn bị bắt vào ngày 8-1-2002. Luật sư Lê Chí Quang bị bắt vào tháng 2-2002. Bác sĩ Phạm Hồng Sơn bị bắt ngày 27-3-2002. Nhà báo Nguyễn Vũ Bình bị bắt vào tháng 9-2002. (Ông Ngfuyễn Vụ Bình là người công khi làm đơn gữi cho Quốc hội và chính phủ CHXHCNVN, xin thành lập Đảng Tự Do Dân Chủ) Đến nay, trong dịp Tết Ất Dậu (2-2005) họ vẫn còn ăn cơm tù của Đảng và Nhà nước CSVN (Riêng trường hợp Luật sư Lê Chí Quang, vì bịnh tình quá nặng, với áp lực mạnh mẻ của quốc tế,nên buộc chính quyền CSVN buộc phải thả ông vào ngày 12-6-2004)
- Cựu Đại tá Phạm Quế Dương lại bị bắt lần thứ hai vào tháng12- 2002. Và giáo sư Trần Khuê cũng bị bắt cùng thời gian với ông Phạm Quế Dương. Sau 18 tháng giam cầm hai ông, chính quyền CSVN mới đưa giáo sư Trần Khuê ra tòa vào ngày 9-7-2004. Tòa án CSVN đã kết án ông 19 tháng tù, về tội “ lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước”(trong lệnh bắt thì kết tội làm gián điệp?). Như vậy, vào tháng 8-2004 thì giáo sư Trần Khuê đã mãn hạn tù! – Ngày 14-7-2004, chính quyền CSVN lại đưa cựu Đại tá Phạm Quế Dương ra tòa để xét xử. Tòa án CSVN cũng kết án ông 19 tháng tù về tội giống như tội của giáo sư Trần Khuê, mặc dù trong lệnh bắt thì ghi tội “làm gián điệp cho nước ngoài”. (!?)
- Ngày 19-2-2004, chính quyền CSVN ở tỉnh Đắc Lắc đả đưa 4 người Thượng , mà họ cho là “lien quan đến cuộc biểu tình của hàng vạn người Thượng hồi tháng 2-2001, để đòi tự do tôn giáo và đòi đất đai…” Tòa án CSVN đả kết tội 4 người Thượng này là: Phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, gây mất trật tự an ninh quốc gia” (?) Người cầm đầu “Nhóm Thượng Phản Động” (từ của tòa án CSVN) đã bị kết án tù chung than. Còn 3 thành viên trong nhóm thì bị kết án 20 năm tù khổ sai (!)
Đó là chưa kể nhửng thủ đoạn khống chế tự do đối với những trí thức yêu nước, có tinh thần xây dựng và phát triển công cuộc Dân Chủ Hóa đất nước Việt Nam! Thí dụ như:
- Ngày 18-1-2004, Công an Đà Lạt lại bày trò sách nhiễu và trủ đập gia đình ông Hà Sĩ Phu…bắt buộc bà Đặng Thị Thanh Biên, phu nhân của ông Hà Sĩ Phu, phải gửi đơn lên chính quyền trung ương để khiếu nại hành bạo ngược của công an Đà Lạt (!?)
- Chiều ngày 6-8-2004, Bộ Cọng An (bộ phận phía Nam) “mời” kỷ sư kinh tế ngân hang Đổ Nam Hải (bút danh Phương Nam-Việt kiều Úc về nước làm việc ) về văn phòng Công An quận Tân Bình để “làm việc” (thực chất là thẩm vấn về những tiểu luận của ông đã viết về “sự đổi mới”, về “nhận thức lại”, khi còn ở Úc?), rồi giữ luôn đến hết ngày 8-8-2004! Đến ngày 3-12-2004, cũng những khuôn mặt công an kỳ trước, lại “mời” ông về văn phòng Công An quận Phú Nhuận để thẩm vấn, rồi giam giữ ông suốt 24 tiếng đồng hồ…Và theo thư của Đổ Nam Hải viết kháng cáo với Đảng và Chính phủ CSVN, đã cho ta thấy rõ thủ đoạn khống chế, bức bách của bọn Công An CSVN, rằng: trong thời gian 4 tháng qua, tôi còn bị hang chục lần phải đi làm việc theo yêu cầu của công an: Khi thì ở nhà hang, khi thì ở trong những phòng kín của các khách sạn khác nhau, khi thì trên một chiếc xe cứu thương bít bùng trên bờ kênh Nhiêu Lộc…Máy tính của tôi (cục CPU) cũng đã bị tạm giữ từ ngày 4-12-2004 tại công an quận Phú Nhuận.” (Trích thư của Phương Nam Đổ Nan Hải, đã dẫn, trang 2)
- Ngày 13-1-2005, Chính quyền CSVN ở thành phố HCM
ra lệnh cho Sở Công An khởi tố nử ký giả Lan Anh (báo Tuổi Trẻ) về tội
“viết bài tố cáo tham nhũng cho đăng trên trang Web
<tintucvietnam.com>”. Thật là mỉa mai! Nữ ký giả Lan Anh chỉ hưởng ứng
Lởi Kêu Gọi Chống Tham Nhũng của ông Tổng Bí Thư Nông BCHTƯ Đảng Nông
Đức Mạnh và ông Thủ Tướng Chính Phủ Phan Văn Khải, vậy mà bị hạ cấp của
hai ông khởi tố … Như thế, còn gì là pháp luật? Theo đà bóp ngẹt tự do
ngôn luận đó, cuối tháng 1-2005, chính quyền CSVN ở Bà Rịa-Vũng Tàu đã
ra lệnh đóng cửa tạp chí “Nhà Báo & Công Luận” vì
dám đăng các bài tố cáo tham nhũng của nhà cầm quyền địa phương (!?)
Trên đây, chỉ là một số bằng chứng điển hình mà thôi! Sự thật ở nước
CHXHCNVN ngày nay: ở xã nào, quận-huyện nào, tỉnh-thành nào khắp cả
nước… chuyện bóp nghẹt tụ do ngôn luận và chà đạp quyền sống của con
người là chuyện diễn ra hang ngày, là chuyện xảy ra ở mọi nơi, như trong
dân gian thường nói: “Đó là chuyện cơm bửa!”
[ Còn tiếp phần II : Khả Năng Thực Hiện Dân Chủ Hóa ]