Về dân chủ, phát triển và hiện đại

Phần I. Những đặc điểm, khả năng và khuynh hướng phát triển.

Trong thời bao cấp, nền kinh tế hoạch định dẫn đến phá sản kinh tế. Ðể giải quyết tình trạng này, những người cầm quyền không còn cách nào khác hơn là từ bỏ cơ chế kinh tế này và để cho dân chúng tự do làm ăn, "hãy làm giàu đi" là khẩu hiệu của kẻ cầm quyền từ hơn mười năm nay, thật là ngược với trước đây, những thường dân nếu có tí của thì bị coi là phú nông hay tư sản mại bản với tất cả những hậu quả của các từ này. Sự kiện cho tự do làm ăn có nghĩa là giải phóng sức dân, sức sản xuất, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế rõ nét. Người ta hồ hởi, hăm hở làm ăn và đối với đa số thì thời kỳ đói khổ đã vĩnh viễn qua rồi; tương lai có lẽ không quá phấn khởi như họ tưởng. Tất nhiên, sự tăng trưởng kinh tế là một yếu tố thuận lợi trong công cuộc phát triển kinh tế về sau này. Tất nhiên, sự tăng trưởng kinh tế cũng sẽ kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội, chính trị khác. Và cũng tất nhiên, không có sự tăng trưởng kinh tế nào là vĩnh cửu cả. Sự chấp nhận nền kinh tế thị trường có nghĩa là đi theo sự phát triển kinh tế tư bản, ngày nay, Việt Nam đang ở trong thời kỳ tư bản tự phát (với ngôn từ chính thống thì người ta gọi là kinh tế thị trường với cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa", còn theo dân gian thì là "tư bản đỏ"), với tất cả những tác động tích cực và nhất là tiêu cực của nó:

Tất nhiên tương lai Việt Nam cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh quốc tế. Tình hình quốc tế cũng có những khuynh hướng phát triển cơ bản :

Phần II. Nhu cầu xã hội : dân chủ, phát triển và hiện đại.

Trên đây là những đặc điểm, khả năng và khuynh hướng thời đại, tại Việt Nam và trên thế giới. Trong hoàn cảnh này, đâu là mục tiêu, phương hướng, phương pháp và biện pháp xây dựng đất nước, tương lai dân tộc ?. Trước đây, người ta lấy mục tiêu của chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu của mình (xây dựng thiên đường cộng sản), lấy phương hướng xây dựng chủ nghĩa làm phương hướng của mình (xoá bỏ giai cấp phong kiến, tư sản, "chế độ là chế độ của giai cấp công nhân"), lấy phương pháp và biện pháp Mác-Lê làm của mình (bạo động, bạo lực, triệt để, diệt tận gốc các mầm mống của chủ nghĩa tư bản). Ngày này, mục tiêu, phương hướng, phương pháp và biện pháp không thay đổi, người ta chỉ tý toáy áp dụng thủ đoạn "lùi một bước" (chấp nhận kinh tế thị trường) của Lê-nin mà thôi (cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa" chứng minh điều này). Về lý thuyết, đây là điều rất nguy hiểm và tai hại vì sự ngoan cố rắp tâm đi theo một chủ nghĩa không tưởng, sai lầm, đầy bạo động và hủy diệt con người, dân tộc để khi "tình hình chín mùi" thì người ta sẽ lòi cái đuôi chủ nghĩa vô sản ra và dân tộc chỉ còn biết "ô hô, ai tai" mà thôi. Về thực tế, lịch sử sẽ đi hướng khác vì ngay cả những kẻ cầm quyền, với mũ áo cách mạng ra trò và sau khi đã vơ vét được một mớ của cải thì chỉ muốn được chính thức hoá (công nhận quyền tư hữu) cái của cải cuỗm được này mà thôi. Xét cả về lý thuyết và thực tế thì đây là chuyện đầu voi, đuôi chuột hay ngược lại và chỉ có thể có kết luận là không thể kéo dài cái chế độ này được, dân tộc cần phải "ô hô, ai tai" cái chế độ này, càng sớm càng tốt, nếu không muốn các dân tộc khác tội nghiệp và nói xã giao "ô hô, ai tai" trước cái (xác không) quan tài của mình.

Ðể xác định mục tiêu, cần phải xem xét nhu cầu hiện tại và tương lai của xã hội; trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam thì cần xem xét ba nhu cầu : dân chủ, phát triển và hiện đại. Ðể tìm ra các phương hướng, cần xem xét các đặc điểm, khả năng và khuynh hướng tại Việt Nam và trên thế giới cũng như sức lực, tiềm năng của dân tộc. Phương pháp, biện pháp là công việc của các chuyên viên.

Về quan niệm, quan điểm toàn bộ thì điều cần tránh là tinh thần cực đoan, quá khích, triệt để, thủ cựu, hẹp hòi, hận thù ... với các phương châm "tránh đổ vỡ, bạo động không cần thiết", "trong hoàn cảnh hiện có, tìm cái tối ưu, tốt nhất cho tất cả", "không tiêu diệt con người, kể cả những kẻ tồi tệ nhất, đáng treo cổ nhất", mục đích là "xây" (dựng cơ chế, tổ chức) chứ không phải là "diệt" (con người, giai cấp) ...

II.1. Dân chủ.

Lý thuyết cộng sản không còn, nhưng chế độ cộng sản vẫn còn (chế độ độc tài đảng trị với nguyên tắc chuyên chính vô sản). Phải chăng dân ta chỉ cần có phở húp là được rồi, còn chuyện dân chủ là "chuyện của tây" ?. Trong dân gian, khi đảng ta nói về "dân chủ" thì người ta thường nói đùa lại là "dân chửi"; điều này chứng tỏ dân ta cũng cần dân chủ như các dân tộc khác vậy, chẳng ai muốn sống như con giun, cái kiến cả; vả chăng, "con giun xéo mãi cũng quằn".

Trước khi xem xét vấn đề vận động dân chủ, cần xem xét trở lại quan niệm về thay đổi cơ chế chính trị. Trước đây, sự thay đổi cơ chế thường được hiểu là kết quả của một cuộc cách mạng đẫm máu nhằm giành chính quyền giữa giai cấp thống trị (phong kiến, tư bản) và giai cấp bị trị (tư bản, vô sản); kẻ thắng lên nắm trọn quyền, tìm cách tiêu diệt "trọn gói" địch thủ và kẻ bại chỉ còn nước chạy trốn (cách mạng 1789, cách mạng tháng Mười).

Trong xã hội phong kiến Việt Nam trước đây, sự thay đổi cơ chế có nghĩa là triều đại cũ xuống, triều đại mới lên, đây là "mệnh trời", với kết quả "được làm vua, thua làm giặc". Trong xã hội Việt Nam, từ cận đại tới nay, tinh thần phong kiến (vua, giặc) vẫn còn và được / bị trầm trọng hoá bởi "cuộc chiến đấu một mất, một còn" giữa "địch" (thực dân, phong kiến, xâm lược, tư bản) và "ta" (dân tộc, bị áp bức, vô sản), để giải quyết chuyện "ai thắng ai" (đấu tranh giai cấp) và khi giai cấp vô sản nhẩy lên vũ đài chính trị, tự xưng vô địch thì không thể có chuyện xuống vũ đài làm người bình thường được vì giai cấp này còn phải "làm nhiệm vụ lịch sử" là "tiêu diệt giai cấp tư bản" (được dịch nôm na là "đào tận gốc, bật tận rễ"). Ðối với những người theo các chế độ cũ ở miền Nam trước đây thì vì thua nên ở trong cảnh "nước mất, nhà tan" và tất nhiên mang mối hận phục thù (tìm cách lật đổ chế độ đương thời, khôi phục lại triều đại đã mất; hệt như Nguyễn Ánh chống nhà Nguyễn Tây Sơn vậy).

Ngày nay, ý nghĩa của cơ chế và thay đổi cơ chế gồm ít nhất hai điểm : 1) xây dựng cơ chế (mới) để thực hiện nhân quyền và dân quyền, 2) cơ chế trước tiên là cách tổ chức, điều hành xã hội và cải tổ cơ chế là cải tổ cách tổ chức, điều hành cho phù hợp với quan niệm, hoàn cảnh mới (nhân bản, bình đẳng hay cải tiến hiệu quả ...) khi cần thiết. Ðiều này có nghĩa là tách rời những vấn đề về tổ chức và quyền lợi của giai tầng thống trị bám víu vào cơ chế kiếm lợi. Xây dựng cơ chế mới không có nghĩa là tiêu diệt giai tầng thống trị hiện nay, cũng không có nghĩa là phục thù. Xây dựng cơ chế mới không có nghĩa là xây dựng lại chế độ cũ ở miền Nam trước đây (các chế độ cũ cũng chỉ là các chế độ ít nhiều độc tài hay quan lại mà thôi). Rất có thể là trong chế độ mới, những người cầm quyền hiện nay vẫn tiếp tục cầm quyền, đây không phải là điều quan trọng, điều quan trọng là có cơ chế chính trị dân chủ để thực hiện nhân quyền và dân quyền mà thôi.

Tất nhiên, nếu nhóm cầm quyền vẫn mù quáng vì quyền lợi trước mắt mà thẳng tay tiêu diệt tất cả những khuynh hướng đòi cải cách thì công cuộc vận động dân chủ hoá có thêm vấn đề phải giải quyết : đấu tranh và đề ra chiến lược đấu tranh thích ứng.

Có bốn cản trở lớn trong công cuộc vận động dân chủ hoá :

1. Cơ chế cung đình.

Sau khi giành được độc lập, cơ chế cũ bị thay thế bởi cơ chế chính trị mới, về tổ chức thì dựa theo mô hình các nước XHCN, về thực chất thì đây chỉ là sự tiếp nối cơ chế cung đình mà thôi. Triều đình được thay thế bởi bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng, hậu cung là những kẻ nắm được guồng máy tổ chức đảng (như ban tổ chức) và các phe phái quyền lợi nằm trong bóng tối giật giây. Mỗi phe phái đều có các con chủ bài riêng như nắm được tật xấu cá nhân của đối thủ (như thích gái, có "bồ nhí" - là tội "hủ hoá" -, ăn hối lộ, lem nhem tiền bạc...) hay xử dụng thủ đoạn chụp mũ thường thấy. Có trường hợp kẻ có quyền thừa biết là có người bị kết tội oan, như tội theo chủ nghĩa xét lại, nhưng không dám bênh vì sẽ tức khắc bị phe kia truy vào cùng tội và vì ở thế yếu hơn nên đành "trơ mắt ếch" thôi. Chuyện cụp lạc nhất và dễ thấy nhất là cứ mỗi lần đại hội bầu ban chấp hành và bộ chính trị là có vị đang mạnh khoẻ và có nhiều triển vọng vào bộ chính trị bỗng dưng đột tử vì bệnh hiểm nghèo gì đó, dân gian chẳng hiểu ra sao (cơ chế dân chủ chính là để giải quyết vấn đề đột tử này thông qua định chế và các qui tắc điều hành). Có lẽ những người lãnh đạo đảng cũng thừa biết thôi, nhưng vấn đề là làm sao giải quyết và nhất là làm sao để các phe phái cùng chấp nhận xoá bỏ các thủ thuật này trong luật chơi của họ, khi đã trở thành thông lệ từ bao năm nay trong các cuộc đấu đá nội cung và dưới con mắt các phe phái khác thì kẻ từ bỏ thủ thuật này chỉ là kẻ ngáo thôi và sẽ tức khắc bị "làm thịt". Tất nhiên đàng sau các cuộc đấu đá này là quyền hành, bổng lộc với sự tham gia tích cực của đám kiêu binh thời đại ở bộ Công An và một số tướng tá trong quân đội. Tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng (hãy xem diễn tiến các kỳ đại hội gần đây : khi chia ghế thì thường bất phân thắng bại và phải kéo dài đại hội) vì có nhiều phe phái quyền lợi và không phe nào đủ mạnh để "làm chủ" cả, đây là tình trạng sứ quân tân thời của chế độ ta, điều này cũng giải thích vì sao thường có trường hợp kẻ lãnh đạo cao nhất lại có vẻ rất khù khờ (sự khù khờ trở thành một bảo đảm để người này không thể làm hại phe nào cả). Một khi xoá bỏ được cái luật chơi quái ác này thì công cuộc dân chủ hoá đảng mới có cơ thực hiện được. Hiện nay, không thấy ai có đủ can đảm, khả năng và uy quyền chính trị để làm chuyện này.

2. Chế độ toàn trị.

Nội cung đã vậy, ngoại cung chỉ là cánh tay nối dài của nội cung. Chế độ được tổ chức nhằm thực hiện chuyên chính vô sản trên toàn xã hội : đảng là nòng cốt (đảng lãnh đạo), dưới đảng có đoàn (thanh niên cộng sản) là chân tay và là hậu duệ của đảng, còn nhà nước chỉ là công cụ để thực hiện các quyết định của đảng; sau đảng-đoàn, nhà nước là các tổ chức quần chúng (mặt trận tổ quốc, các hội đoàn như hội nhà văn, phụ nữ, các tổ chức tôn giáo quốc doanh ...).

Tất nhiên để có bộ máy kiểm soát khổng lồ này thì phải chi tiêu rất lớn và ngày nay, trong nền kinh tế thị trường thì điều này trở thành mâu thuẫn giữa guồng máy tổ chức và hiệu năng kinh tế (giá thành sản phẩm); nền kinh tế này sẽ thẳng tay trừng trị những ai không tuân theo qui luật phát triển của nó.

Tất nhiên trong cơ chế này cũng có rất nhiều quan - quan đảng, quan đoàn, quan bộ, quan hội và cả quan việt kiều ! - và vì dân ta rất thích làm quan nên rất ngại thay đổi chế độ chính trị vì sợ mất cái chức quan !.

Ngoài ra, để bảo đảm tính chất toàn trị của chế độ, đảng thẳng tay đàn áp tất cả các tổ chức tư nhân, dân lập; bất cứ một ý định thành lập tổ chức nào không chịu sự khống chế của đảng cũng đều bị trấn áp, kềm chế (một thí dụ là trước đây sự phá sản của nền giáo dục nhà nước đã khiến cho một số giáo chức hảo tâm muốn thành lập đại học dân lập Thăng Long nhưng cũng bị nghi ngờ, làm khó dễ đủ chuyện).

3. Tinh thần cam chịu.

Xưa nay dân ta thường có câu "nắng mưa là chuyện của giời" và do đó dân đen thì chỉ biết chịu đựng khi có hạn hán hay bão lụt khiến cho mất mùa, thiếu ăn. Chuyện giời đã vậy, chuyện người thì cũng thế thôi, vua là con giời (thiên tử), vua bảo sao thì tôi ("dân ngu, khu đen") nghe vậy. Chuyện xưa đã vậy, chuyện nay là tiếp nối chuyện xưa !. Mọi chuyện trước tiên là phải "đội ơn đảng" đã, có muốn đi kiếu nại thì trước tiên phải cờ quạt, hình ảnh rất tôn ti trật tự giống như ngày xưa đi kiện quan vậy. Dân đã thế, sĩ phu thì cũng còn người chỉ muốn dâng sớ thôi, mỗi lần dâng sớ thì phải gõ đầu xuống sàn binh binh, vua không chịu nghe thì lại binh binh !. Tới khi được tý gì đó thì ai nấy hỉ hả vui cười vì vua thương dân, vua nghe (bầy) tôi !. Ðiều này có vẻ như chuyện tiếu lâm và có lẽ có nhiều độc giả cho là chuyện diễu (dở) cho vui thậm chí có người nổi nóng cho là coi thường dân tộc. Nhưng nên ngẫm nghĩ lại vì ngoài phần cường điệu có thể có nhưng nhận xét trên vẫn bàng bạc thể hiện tinh thần cam chịu từ hàng nghìn năm nay của dân tộc ta. Thật khác xa với liên hệ chính quyền - nhân dân ở tây phương : đây là tinh thần kế ước giữa người cai trị và người bị trị và kế ước này chỉ là kế ước có nhiệm kỳ. Tất nhiên dân ta không phải chỉ biết cúi đầu, khi nổi đoá lên (người sính dùng từ ngữ cách mạng thì là "tình hình đã chín mùi") sẽ nổi loạn, khả năng bùng nổ, bạo loạn là có khi xét tính khí của dân tộc (chính vì tính khí dân ta kỳ dị nên ngay cả các cường quốc số một, số hai trên thế giới là Mỹ và Pháp phải ôm đầu máu chạy dài và không hiểu tại sao một dân tộc bề ngoài có vẻ yếu đuối, ngơ ngáo lại có thể đuổi họ đi), tình trạng kinh tế bấp bênh và chính sách trấn áp triệt để hiện nay.

4. Thu vén cá nhân.

Từ tinh thần cúi đầu cam chịu dẫn tới việc tìm kiếm những giải pháp cá nhân. Người ta thường tự an ủi rằng trong thời kỳ bao cấp, đói khổ là thế nhưng vẫn chịu đựng được nên ngày nay dù sao vẫn hơn ngày xưa !. Do đó, chẳng nên bỏ chuyện "quốc gia đại sự" vào cái đầu nhỏ bé của mình làm gì vì nếu "có vấn đề" thì chỉ khổ thân, cứ áp dụng câu "vạn sự bất như ỳ" là yên thân. Trong thời kỳ chiến tranh, có lẽ sự tìm kiếm những giải pháp cá nhân là điều cần thiết vì cả hai phe đều lo đánh nhau và mặc xác thường dân với số phận hẩm hiu của họ, nhưng trong công cuộc xây dựng đất nước thì cần phải áp dụng câu "thất phu hữu trách", chế độ chính trị phải do họ (đấu tranh) dựng nên, nếu không thì họ chỉ nên cúi đầu cam chịu đựng tiếp cái số phận hẩm hiu của họ mà thôi (người phương tây có câu "chính quyền nào, dân tộc ấy").

Ngoài ra, còn có những cản trở lớn khác, nhất là những khó khăn của chính cuộc vận động dân chủ hoá này như cách tiếp cận, giải quyết vấn đề, nhận thức chính trị thấp kém, ... của người Việt, chưa cần đề cập tới trong bài này.

Từ các nhận định trên, công cuộc vận động dân chủ hoá xã hội Việt Nam đòi hỏi những giải pháp thích ứng riêng.

Xây dựng thể chế chính trị dân chủ là công trình của các chuyên viên như luật sư, chuyên viên tổ chức, hành chính ..., tác gỉa không dám lạm bàn. Mong đợi độc giả bổ túc phần này.

Về cụ thể có 4 lãnh vực cần thay đổi : 1) chuyển đổi và dân chủ hoá cơ chế chính trị (thực hiện tổng tuyển cử lập hiến), 2) dân chủ hoá nông thôn, 3) dân chủ hoá đảng CSVN, chuẩn bị để đưa đảng này trở về vị trí một chính đảng trong một chế độ đa đảng, 4) dân chủ hoá xã hội : xây dựng xã hội công dân. Bốn điểm này đã được trình bầy trong bài "thực hiện dân chủ trong ổn định".

II.2. Phát triển.

Vì dân ta đi từ tình trạng "không có gì" (chế độ bao cấp dẫn đến sự phá sản toàn diện), ngoại trừ kinh tế cần xét riêng (từ vài năm nay ở tình trạng "có tý của"), còn tất cả các lãnh vực khác đều phải xem xét và định hướng phát triển đi từ tình trạng phá sản này.

Có hai khía cạnh trong công cuộc phát triển : 1) xác định mục tiêu và phương hướng thực hiện, 2) đề ra chương trình, biện pháp cụ thể. Tất nhiên đây là công trình to lớn của cả dân tộc, trong phần này tác giả chỉ xin có vài gợi ý về mục tiêu, phương hướng và vài biện pháp cụ thể trên 3 lãnh vực : giáo dục, y tế và kinh tế :