Từ hậu bán thế kỷ 19 tới nay, trước những biển chuyển trọng đại của thời cuộc, những cơn bão táp của lịch sử, dân tộc ta loay hoay tìm kiếm những giải pháp cho đất nước. Dân tộc ta đã có những quyết định nông nổi, thậm chí sai lầm ! . Từ chính sách bế quan toả cảng, nhằm bảo vệ mình, của triều đình nhà Nguyễn trước nền văn minh phương tây, đến công cuộc đấu tranh giành độc lập, mà người ta tưởng đâu như có độc lập dân tộc là có tất cả ("không gì quí hơn độc lập, tự do" đã là khẩu hiệu động viên mọi người) và công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh (với khẩu hiệu "yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội"). Tới nay, có thể coi là có độc lập chính trị nhưng thực trạng đất nước không cho phép kết luận là chúng ta có tất cả, chúng ta hết khổ; thậm chí thực tế là điều ngược lại, dù dân tộc đã có những mất mát, hy sinh to lớn từ hơn nửa thế kỷ tới nay !. Thực tế đáng buồn buộc chúng ta phải suy nghĩ lại và phải đặt câu hỏi phải chăng chúng ta đã và đang phạm phải những sai lầm nghiêm trọng ? và vì sao ?.
Xin sơ lược nêu lên một số sai lầm: chính sách đấu tố địa chủ, "đánh" tư sản mại bản, chiến dịch đổi tiền sau 1975 (thực chất là sự cướp trắng tài sản của nhân dân), chính sách tịch thu ruộng, đất và nhà ở, chính sách "cải tạo nguỵ quân, nguỵ quyền" (thực chất là không thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc như họ đã hứa), chủ nghĩa lý lịch, các vụ án như "Nhân văn giai phẩm", "xét lại, chống đảng", trong thời kỳ 1968-1969: có lẽ do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao, rất triệt để, tàn bạo và có chiến thuật "biển người", nên áp dụng chính sách khủng bố (vụ thảm sát ở Huế) và "nướng" quân của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam hơi nhiều (về mặt thiệt hại nhân sự, chiến dịch năm 1969 là một thất bại quân sự, có nhiều hậu quả về sau); ngày nay, họ tiếp tục chính sách tiêu diệt những người không cùng chính kiến (một cách tạo khoảng trống chính trị đầy thâm độc), chính sách trấn áp tự do tư tưởng, ngôn luận, văn hoá (với nền văn nghệ minh hoạ, có nghĩa là bồi bút), báo chí, tín ngưỡng (và lập các giáo hội quốc doanh để kiểm soát và tạo mâu thuẫn trong chính tôn giáo này, là một đòn "gậy ông đập lưng ông", tạo thêm vấn đề cho dân tộc), để "trụ" được, họ sử dụng công an trấn áp và để cho đám này lộng hành (ngày càng trở thành chế độ "công an trị"), ... với các tệ nạn như kẻ có quyền cao chức trọng tha hồ vơ vét của công (các doanh nghiệp quốc doanh), tham nhũng, cửa quyền, ...
Trước tiên, xin xem xét cách giải quyết các thử thách, vấn đề của dân tộc, từ lãnh đạo tới dân thường, trong lịch sử Việt Nam cận đại. Xin tổng hợp thành ba đặc điểm dưới đây:
Phản ứng của bản năng.
Trước những thử thách của thời cuộc, cho tới nay, người Việt ta hầu như chỉ có những phản ứng của bản năng mà thôi. Giặc tới nhà thì chúng ta đánh giặc như truyền thống chống ngoại xâm từ nghìn xưa của cha, ông ta; thay vì có những lý giải sâu xa hơn. Tinh thần cảm tính, phe phái, hận thù, định kiến, mộng tưởng, kinh điển, phong kiến, gia trưởng, tự ty và tự tôn, thu vén cá nhân, ... đã là các nguyên nhân của những sai lầm nghiêm trọng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập trước đây và xây dựng đất nước sau này. Hơn nữa, ngày nay phản ứng của kẻ cầm quyền là chỉ biết bảo vệ cái ghế ngồi của họ, với nỗi ám ảnh có "trụ" được không, còn vận nước ra sao thì chẳng buồn lý tới và không hiểu được mối liên hệ giữa cái ghế ngồi của họ với vận nước; trong khi đó dân chúng chúi nhũi lo làm ăn, thu vén cho bản thân, coi đây là điều thực tế nhất, sống cuộc đời cam chịu, không hiểu được là dù có cố gắng cam chịu thì ngày nào đó cũng không thể cam chịu được !. Tinh thần "tới đâu, hay đó" và "nắng mưa là chuyện của giời" của nông dân ta, vẫn bàng bạc trong xã hội ta, trong khi thời cuộc có những thay đổi lớn và chỉ những ai biết chuẩn bị mới hy vọng gặt hái được những thành quả sau này !.
Khả năng nhận thức giới hạn.
Xin xem xét ba thời kỳ: ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, Pháp và thời kỳ tìm con đường cứu nước, giải phóng ách thực dân.
Ngoài phong tục, tập quán thể hiện cá tính của dân tộc, nền văn hoá Việt Nam chỉ là nền văn hoá vay mượn; cần xét lại niềm tự hào về bốn nghìn năm văn hiến này. Trong bốn nghìn năm này, có hai nghìn năm là nền văn hoá bộ tộc, ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước của Trung Hoa; một nghìn năm nô lệ và tất nhiên là nô lệ văn hoá, gần một nghìn năm còn lại chịu ảnh hưởng của Tống Nho (một lý thuyết Nho giáo được giản lược hoá) và ngày càng có tinh thần thủ cựu, hẹp hòi, câu nệ.
Trong 80 năm nô lệ thực dân Pháp, sự tiếp thu tư tưởng tây phương, văn hoá Pháp, rất có giới hạn (tất nhiên một phần do chính quyền thực dân cố ý giới hạn) và sự tiếp thu tư tưởng nhân quyền với nền tảng triết học của nó phải gián tiếp thông qua Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi hay Tôn Dật Tiên vì các vị tiền bối không có khả năng tiếp thu trực tiếp !.
Về mặt chính trị, trước nhu cầu giành độc lập, do giới hạn của nhận thức, các vị tiền bối đã phải vay mượn tư tưởng và coi là phương tiện thực hiện mục đích chính trị của mình: từ phong trào Cần Vương (như của Phan Ðình Phùng, Hoàng Hoa Thám, ... dựa vào giá trị phong kiến truyền thống), Ðông Du (của Phan Bội Châu, muốn dựa vào Nhật Bản với một loại "giá trị châu Á" thời đó và từ kinh nghiệm canh tân đất nước của Minh Trị Thiên Hoàng), Duy Tân (của Phan Chu Trinh, muốn tiếp thu nền văn minh tây phương), Việt Nam Quốc Dân Ðảng (của Nguyễn Thái Học, dựa và thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên), tới thuyết Dân Tộc Sinh Tồn (của Lý Ðông A, Ðại Việt, có lẽ đi từ các chủ thuyết dân tộc tại Âu châu thời 1930), phong trào Ðệ Tứ Quốc Tế (của Tạ Thu Thâu) và Ðệ Tam Quốc Tế (của Hồ Chí Minh, Trần Phú, ... vì chỉ có chủ nghĩa vô sản, thời Lê-nin, mới ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc nô lệ).
Tất nhiên cần có sự trân trọng thành tâm, thiện ý, nhiệt tình của các bậc tiền bối, nhưng cũng cần phải xem xét, phán đoán lại về công việc làm của họ và những ảnh hưởng của nó, nếu như chúng ta muốn tìm ra nguyên uỷ của nỗi thống khổ của dân tộc và rút ra những bài học cần thiết cho tương lai.
Dân tộc ta không có khả năng sáng tạo tư tưởng và do đó khả năng nhận thức (trong đó có nhận thức chính trị) giới hạn là điều hầu như không cần chứng minh. Hơn nữa, đây cũng là hệ quả của tinh thần cảm tính nặng nề của dân tộc, là giới hạn của phản ứng của bản năng.
Sự đưa đẩy của lịch sử.
Ðể thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, có hai vấn đề cơ bản: 1) ngoài đấu tranh vũ trang (phương pháp bạo động), có thể nào có phương pháp khác ?; 2) chỉ dựa vào sức mạnh của mình mà không cần các thế lực bên ngoài ?.
Trong thời kỳ này, các nước thực dân (Anh, Pháp cũng như các nước khác) đều dùng bạo lực trấn áp để bảo vệ chế độ của họ, ngoại trừ Ấn Ðộ là một dân tộc lớn cả về văn hoá lẫn dân số mới có thể dùng tư tưởng (một giá trị nền tảng của nền văn minh Anh quốc là tôn trọng công lý: mọi người sinh ra đều bình đẳng, do đó ngay cả dân thuộc địa cũng phải được bình đẳng !) và phương pháp bất bạo động để đuổi chính quyền bảo hộ Anh, còn các dân tộc khác, như Việt Nam, có lẽ không còn phương pháp nào khác bạo động cả.
Trước đây, tương quan lực lượng giữa xâm lược phương bắc và dân tộc không quá cách biệt, do đó chỉ dựa vào sức mạnh của toàn dân cũng có thể giữ được độc lập như lịch sử đã chứng minh. Thời kỳ thực dân, với quân đội và vũ khí hiện đại của họ, rất khó chống trả lại họ với một đội quân chỉ có gậy gộc, giáo mác, voi, ngựa truyền thống; hơn nữa, đây là thời kỳ thống trị của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới và do đó hầu như không thể nào không có ngoại viện được.
Ngoài ra, ý niệm đánh giặc nằm trong tiềm thức của dân tộc khiến cho chúng ta khó thể có ý nghĩ nào khác. Từ nghìn xưa chúng ta đánh giặc nên ngày nay chúng ta cũng làm giống như xưa mà thôi. Cần mở ngoặc ở đây là ngày nay, có những người chống cộng, với cách nhìn giản dị, cũng muốn đánh "giặc cộng" hệt như truyền thống dân tộc và coi "cộng" là nguồn gốc của mọi khổ đau nên khi diệt được "giặc" rồi, tự khắc sẽ hết khổ, còn con người và xã hội Việt Nam có những khuyết tật gì cần phải khắc phục, dân chủ và xây dựng đất nước ra sao, ... không phải là vấn đề đối với họ !, nếu như thế thì phải chăng lịch sử Việt Nam vẫn sẽ là sự lập lại ?. Mong rằng tương lai dân tộc không chỉ đơn thuần là sự lập lại chuyện đánh giặc, từ "giặc này" tới "giặc kia" !.
Lịch sử đã đưa đẩy dân tộc ta phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, có ảnh hưởng lâu dài (trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai), khiến cho dân tộc kiệt quệ, cả về vật chất lẫn con người và các giá trị tinh thần. Lịch sử cũng khiến dân tộc phải theo chủ nghĩa vô sản, mặc dù từ dân thường tới lãnh đạo, chẳng ai hiểu chủ nghĩa này ra sao và cũng không ai có thì giờ để tìm hiểu cả. Dân tộc ta giống như một con cá, không rơi vào "rọ" lịch sử này, thì cũng vào "rọ" khác thôi !.
Ðây là hoàn cảnh lịch sử khách quan. Với phản ứng của bản năng và khả năng nhận thức giới hạn thì khi nằm trong "rọ" rồi, dân ta chỉ biết giẫy dụa và than thở mà thôi, còn kiếm được đường ra, cho tới nay, vẫn chỉ là điều mơ ước !.
Từ ba đặc điểm nêu trên, xin đưa vài nhận định về một số sự kiện lịch sử:
Niềm tin sắt đá. Trong thời kỳ Cách Mạng Dân Tộc và Dân Chủ, thường được gọi là Cách Mạng Tháng Tám, cả dân tộc hồ hởi, phấn khởi đứng lên đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Với niềm tin mãnh liệt, người ta tưởng đâu như mọi nỗi thống khổ của dân tộc là do phong kiến và thực dân gây ra và chỉ cần tiêu diệt giai cấp phong kiến, chủ nghĩa thực dân là tức khắc hết khổ, có ngay thiên đường. Tinh thần của Cách Mạng Dân Tộc và Dân Chủ trong thời kỳ này là như vậy. Thời kỳ chống Mỹ được coi là tiếp nối của Cách Mạng Tháng Tám để dân tộc ta có được độc lập trên toàn lãnh thổ; sau khi có độc lập, chúng ta sẽ xây dựng đất nước giàu đẹp bằng mười hiện nay; tất nhiên cũng có vài đặc điểm thời cuộc: chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân kiểu mới và tư sản mại bản cấu kết với đế quốc. Trong 30 năm (1945-1975), chúng ta sống với niềm tin sắt đá như vậy và tất cả chỉ là niềm tin, còn cơ sở nào để chứng minh được là chỉ cần diệt được kẻ địch là ta sẽ tự khắc phất lên; hơn nữa, làm sao chứng minh là đi từ tình trạng một nước hoang tàn, kiệt quệ vì chiến tranh lại có thể nhanh chóng vươn lên như mong đợi thi hầu như ít ai nghĩ tới !.
Tự tôn và lý luận !. Trong thời kỳ này, cái mà người ta hình dung được nằm trong tinh thần phe phái, địch-ta : tiêu diệt được địch (phong kiến, thực dân và sau này có thêm tư sản mại bản, đế quốc) có nghĩa là ta thắng (giải quyết được vấn đề ai thắng ai), mà ta thắng được hiểu là ta chỉ có thể vươn lên thôi, còn khả năng địch thua nhưng ta cũng gần chết thì ít ai buồn nghĩ tới !. Người ta thường lý luận: nguyên nhân nỗi thống khổ của dân tộc là thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ, do đó đánh đuổi được các kẻ thù này có nghĩa là hết khổ, dân một nước độc lập tất nhiên là sướng !. Người ta cũng thường lý luận: đánh Mỹ là chuyện cực kỳ khó khăn, do đó khi dân ta đã thắng Mỹ thì chuyện xây dựng đất nước và chủ nghĩa xã hội là điều dân ta dư sức làm và chỉ cần 15, 20 năm là bắt kịp các nước tiến tiến như Nhật Bản !. Thực tế từ hơn 25 năm nay cho thấy là cuộc sống không quá giản dị như vậy.
Phản ứng tự vệ. Trong dân gian, đa số đều sống theo cảm tính, "giặc tới nhà, đàn bà phải đánh" và chỉ cần đuổi được giặc là dân ta cũng đủ hả hê, có được ông vua ta là đỡ hơn phải khấu đầu ông vua tàu như kinh nghiệm dân gian từ nghìn xưa tới nay. Lịch sử chống ngoại xâm, từ Ðinh, Lê, Lý, Trần, .. là như thế cả và do đó rất khó để có thể thấy được là ngày nay chưa chắc đã giống ngày xưa !.
Khả năng nhận thức giới hạn. Vì những lý do lịch sử, công cuộc đấu tranh giành độc lập phải dựa vào phong trào vô sản. Chủ nghĩa vô sản đệ tam được đảng Cộng Sản Việt Nam đưa vào Việt Nam bằng cuốn sách "chủ nghĩa cộng sản yếu lược" của Staline, là quyển sách vỡ lòng về chủ nghĩa này. Dân ta hiểu chủ nghĩa này như là một quan niệm, triết lý sống tương tự như "tứ hải giai huynh đệ" trong lý thuyết Khổng tử với tinh thần chia ngọt, xẻ bùi của xóm làng Việt Nam, với niềm ước mơ "một ngày mai ca hát" đầy tâm linh tín ngưỡng tôn giáo và do đó chủ nghĩa này rất hợp với khẩu vị của dân ta vậy !. Còn nền tảng triết học (tây phương), những giá trị của lý thuyết này, những giải pháp của chủ nghĩa này đề ra nhằm giải quyết những vấn đề của các xã hội phương tây và ngay cả bối cảnh lịch sử của các xã hội này trong thời kỳ tư bản tự phát (hay tư bản man dại) là điều dân ta và cả những người lãnh đạo rất mơ hồ.
Nếp xưa, lệ cũ. Trong cuộc vận động quần chúng, một cảm tình viên của đảng, khi đã "giác ngộ" và được kết nạp vào đảng, người này phải bái "ba ông tây" (Marx, Engels và Lénine), giống như bái các ông tổ của một ngành, nghề nào đó (như ông tổ nghề gốm, làm giấy ...). Sự "giác ngộ giai cấp" ở đây là tinh thần "thù nhà, nợ nước" đầy cảm tính của tình tự dân tộc và là chuyện có minh quân mới ("ba ông tây" và lãnh tụ đi theo các ông này) sẽ thay thế chế độ cũ như từ nghìn xưa tới nay.
Ấu trĩ và nóng vội. Từ 1954 (*2) ở miền Bắc và từ 1975 trên toàn lãnh thổ, người ta bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ðể xây dựng (*3), người ta tung ra các chiến dịch tiêu diệt giai cấp phong kiến với khẩu hiệu "phú, hào, địa chủ, đào tận gốc, bật tận rễ" và tiêu diệt "tư sản mại bản", chỉ thấy "phá" chứ không thấy "xây" ở đâu cả !. Ðây là một nguyên nhân của sự phá sản kinh tế về sau này. Trong hoàn cảnh một nước sau chiến tranh, cần có thời kỳ chuyển tiếp để đi từ tình trạng hoang tàn sang nền kinh tế mới, xã hội chủ nghĩa hay không; sự chuyển đổi này phải được thực hiện từng bước, nhẹ nhàng, tránh gây xáo trộn, là sự hướng dẫn nền kinh tế quốc dân đi theo phương hướng mong muốn của người cầm quyền chứ không thể là sự cưỡng ép; tóm lại là không thể vừa "phá" vừa "xây" được. Sự nóng vội, đầy cảm tính, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của giới lãnh đạo thời đó là một sai lầm lớn về phương pháp.
Giáo điều. Ðể xây dựng chủ nghĩa xã hội, đảng hăng hái nhắm mắt thực hiện những giáo điều của chủ nghĩa, với tinh thần tôn trọng "khuôn vàng, thước ngọc" của Khổng giáo (*4) như từ nghìn xưa tới nay và tệ hơn nữa là cung cách "đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành" đầy tính dân gian thôn dã (*5) !. Khi hậu quả kinh tế quá trầm trọng, có ông bí thư tỉnh uỷ, muốn cho nông dân đỡ khổ bằng cách áp dụng chính sách "làm khoán" thì cũng phải làm lén !. Trong thời kỳ đổi mới, để biện minh sự (tạm thời) từ bỏ chế độ kinh tế bao cấp (đúng theo quan điểm vô sản), người ta phải moi trong chồng kinh điển của Lê-nin, có đoạn nói về Nép (*6) để chứng minh là đảng không sai lập trường (*7) !. Không hiểu vì sao những người cộng sản Việt Nam, tự nhận là rất sáng tạo, lại phải khổ sở, loay hoay tự biện minh như vậy ?.
Một thể hiện thu nhỏ của những điều trình bày trên là các cộng đồng người Việt hải ngoại. Rời bỏ Việt Nam với tất cả những uất hận cộng sản, do đó họ chỉ có thể có những phản ứng nhằm phát tiết những uẩn ức của họ mà thôi. Về mặt lý thuyết, hầu như họ không có một luận điểm nào cả, ngoại trừ tinh thần chống cộng ít, nhiều cực đoan; họ sẵn sàng chạy theo các đảng phái cực hữu và chẳng cần biết là đa số các đảng này có tinh thần kỳ thị chủng tộc, dùng chiêu bài chống di dân ngoại quốc để mị dân, kiếm phiếu. Về mặt tổ chức, đây là sự bát nháo khó tả, với những chia rẽ, tị hiềm cá nhân. Trong khi công cuộc dân chủ hoá xã hội Việt Nam đòi hỏi cái nhìn sâu xa hơn, về chế độ độc tài cộng sản trị và cả về những vấn đề của chính con người và xã hội Việt Nam.
Trước đây, nhu cầu tình cảm thúc đẩy dân tộc ta đứng lên làm Cách Mạng Tháng Tám. Có thể nói đây là cuộc cách mạng của cảm tính; trong suốt quá trình 30 năm, về đại thể, hầu như tất cả đều là tình tự dân tộc (từ tinh thần hy sinh, vượt muôn nghìn khó khăn tới ý chí đấu tranh giành độc lập), còn cái gọi là chủ nghĩa thì rất mơ hồ, từ dân thường tới lãnh đạo, chẳng ai hiểu rõ ra sao và cũng không có điều kiện để tìm hiểu, thậm chí chủ nghĩa còn trở thành ảo ảnh (thiên đường cộng sản) củng cố niềm tin tưởng về một ngày mai ca hát (có độc lập và xây dựng một xã hội bình đẳng, mọi người đều là anh em). Ngoài tính chất hào hùng, đầy lãng mạn, cuộc cách mạng này cũng không phải chỉ gồm những điểm son, những sai lầm vẫn còn có hậu quả tới ngày nay.
Thực tế từ 1975 tới nay cho thấy cần phải xem xét lại những vấn đề của dân tộc, bao gồm con người, xã hội và cơ chế chính trị cũng như công cuộc (thực sự) xây dựng đất nước, phát triển kinh tế. Ðiều này có nghĩa là chúng ta cần phải từ bỏ những phản ứng của cảm tính, dùng tri thức và lý trí để xem xét và giải quyết các vấn đề.
Trong công cuộc xây dựng đất nước, trước hết, cần phải xác định nhu cầu của con người, xã hội, từ đó, định ra mục tiêu, phương hướng và sau cùng là đề ra chiến lược với các phương pháp, biện pháp thực hiện.
Từ tình trạng một nước chậm tiến và bị tàn phá bởi chiến tranh, nhu cầu của con người, xã hội Việt Nam thật lớn, bao gồm tất cả mọi mặt: từ cái ăn, ở đến y tế, giáo dục, văn hoá, pháp luật, ...; từ vật chất đến tinh thần; từ nhu cầu cá nhân đến cơ chế, tổ chức xã hội, chính trị, ...; từ nhu cầu nội tại của đất nước đến ngoại giao, quốc phòng và hoà nhập với thế giới, đi theo được đà phát triển của thế giới. Mặc dù có rất nhiều lãnh vực nhưng có thể tóm lược lại là làm sao để mỗi người có được khoảng không gian (vật chất và tinh thần) sống tối thiểu, xứng đáng là cuộc sống của một con người, điều này có nghĩa là con người không thể chỉ sống như loài thú với nhu cầu duy nhất là cái ăn, cái sinh tồn trước mắt. Xây dựng đất nước, trong đó có thể chế chính trị, chính là để phục vụ con người, để cải thiện đời sống của họ, trước mắt và trong tương lai.
Quan niệm này ngược với quan niệm của cách mạng vô sản, trong đó chủ nghĩa là cứu cánh, con người là phụ thuộc, chỉ là một cá thể trong cái tập thể (giai cấp vô sản), dưới sự thống trị của nền chuyên chính vô sản và phải bị cải tạo (xoá bỏ con người cũ, còn đầy hơi hám của phong kiến và/hay tư bản chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa); hơn nữa giới lãnh đạo còn thường buộc mọi người phải hy sinh để xây dựng một ngày mai ca hát mộng tưởng nào đó (mà chẳng ai có thể khẳng định là cái gì !).
Từ nhu cầu của con người, xã hội Việt Nam và quan niệm nhằm đáp ứng nhu cầu này như đã trình bày ở trên, những mục tiêu chính là quyền sống của con người (là nhân quyền, vì đây là quan niệm cơ bản, tối thiểu về quyền sống con người) và cải thiện điều kiện sống. Ðể cải thiện đời sống của họ, trong công cuộc xây dựng đất nước, cần phải dân chủ hoá xã hội, phát triển (kinh tế và các điều kiện phát triển kinh tế) và hiện đại hoá đất nước; ba mục tiêu này đã được trình bày trong bài "Về dân chủ, phát triển và hiện đại".
Ðể đáp ứng các mục tiêu trên, cần có một chiến lược xây dựng đất nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, dân ta chịu sự thống trị của một chế độ độc tài đảng trị với phương thức cộng sản trị, do đó nhu cầu dân chủ hoá trở thành cấp thiết (nếu muốn tránh bùng nổ, bạo loạn xã hội, chính trị, đây tất nhiên không phải là "diễn biến hoà bình"). Xu hướng toàn cầu hoá về mọi mặt cũng khiến dân chủ là điều kiện không thể thiếu để hoà đồng, hội nhập với thế giới. Hơn nữa, khuynh hướng dân chủ hoá trên toàn thế giới ngày càng phát triển và trở thành tất yếu, không dân chủ hoá có nghĩa là "tụt hậu" so với đà tiến hoá của nhân loại. Do đó, một chiến lược xây dựng đất nước lấy dân chủ làm cốt lõi là điều tối cần thiết; đây là một chiến lược toàn bộ, nhất quán (dựa trên nhân quyền và dân chủ) và lâu dài; khác với chiến lược "tứ hiện đại", và chủ trương mở cửa về kinh tế, đóng cửa về chính trị của Ðặng Tiểu Bình mà những người cầm quyền hiện nay muốn bắt chước. Chiến lược "tứ hiện đại" là một chiến lược cục bộ, chỉ nhằm giải quyết nhu cầu cải cách kinh tế dưới sự kiểm soát của đảng Cộng sản Trung quốc (không muốn thực hiện các cải cách cần thiết khác) và thiếu nhất quán (vừa muốn xây dựng kinh tế thị trường, vừa muốn theo "định hướng xã hội chủ nghĩa" !), chứa đầy mâu thuẫn bùng nổ vì chính tính chất cục bộ và thiếu nhất quán của nó.
Trong công cuộc vận động dân chủ, bao gồm vận động quần chúng và đấu tranh đòi thực hiện dân chủ, cần xác định các phương pháp, biện pháp thực hiện phù hợp với hoàn cảnh, trước mắt và lâu dài. Trước mắt vì chính trị vốn là "nghệ thuật của khả năng", lâu dài vì dân chủ hoá là việc làm dài hơi. Hơn nữa, phương pháp và biện pháp thực hiện cũng phải đi đôi với quan niệm, mục tiêu đã được trình bày ở trên. Ðây là việc làm vừa mang tính nhất thời vừa lâu dài, vừa chiến thuật vừa chiến lược, vừa có điểm vừa có diện; rất khó để khảng định "đúng, sai" hay tính "duy nhất" của nó và tuỳ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh. Trong bài tác giả sẽ không đề cập tới các vấn đề này.
Bỏ ra ngoài các tranh cãi có tính cách hơn thua, phe phái và tính nội chiến trong cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai. Giả sử như cuộc Cách Mạng Dân Tộc và Dân Chủ chấm dứt vào ngày 30-04-1975, với sự kiện dân tộc ta giành được độc lập, chủ quyền trên toàn lãnh thổ. Tính từ ngày này, cuộc Cách Mạng Dân Tộc và Dân Chủ mới chỉ là cuộc Cách Mạng Dân Tộc vì sau khi bỏ được ách thực dân, cả dân tộc, trên toàn lãnh thổ, lại có cái gông mới là nền chuyên chính vô sản !.
Từ nhận định trên, cũng từ ngày lịch sử này, đánh dấu sự giành được độc lập và thống nhất đất nước, trong công cuộc xây dựng đất nước, nhu cầu của con người và xã hội Việt Nam là Dân Sinh (quyền sống con người) và Dân Chủ (cơ chế chính trị); tóm gọn là Dân Chủ. Ðây là Ý Nghĩa và Nội Dung của Dân Chủ tại Việt Nam.
Trước tiên, cần xem xét những điều mà dân chủ có thể đem lại cho chúng ta, đây là ý nghĩa của dân chủ. Ðể thực hiện những điều này, phải xây dựng xã hội dân chủ, bao gồm giá tri tinh thần, nền tảng pháp lý, thể chế chính trị và cơ chế xã hội với các tổ chức dân sự đây là nội dung của công cuộc dân chủ hoá xã hội Việt Nam.
Sau đây, xin xem xét đại thể về dân chủ và xây dựng đất nước:
1. Về mặt con người
Ý nghĩa căn bản của dân chủ tại Việt Nam là phục hồi và xây dựng Nhân quyền và Dân quyền của người dân, hãy trả lại các quyền căn bản của con người như quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc và những quyền tự do cá nhân của họ. Phục hồi, vì trước đây, ngay cả trong chế độ phong kiến hay thực dân, ở một mức độ nhất định, người dân cũng còn có một số quyền tối thiểu của một con người và ít ra là con người không bị đảng cưỡng ép nhét vào đầu cái chủ nghĩa của họ. Hơn nữa, trước đây, đảng Cộng Sản Việt Nam nhân danh chủ nghĩa xã hội và mục tiêu lý thuyết cao đẹp của nó để buộc mọi người phải chấp nhận chế độ chuyên chính vô sản với hệ giá trị của nó; ngày nay, họ nhân danh điều gì để buộc cả dân tộc phải theo họ, khi chế độ hiện nay, về thực tế buộc phải từ bỏ chủ nghĩa này và trở thành một chế độ độc tài đảng trị "tiền và súng" như đại đa số các chế độ độc tài khác, khi chính họ không thể giải thích được "định hướng xã hội chủ nghĩa" là gì ? và khi chính họ không hề thực hiện những điểm được ghi trong Hiến Pháp của chính họ ?. Xây dựng, vì bề sâu của xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến Khổng Mạnh, quan hệ giữa người và người, công dân và chính quyền vẫn là quan hệ đẳng cấp, vua-tôi và do đó cần phải xây dựng các quan hệ xã hội dựa trên nguyên tắc bình đẳng và có khế ước. Xây dựng cũng để bảo đảm cho một cá nhân có phương tiện sống tổi thiểu trong những lúc khó khăn, mặc dù truyền thống liên đới làng xóm Việt Nam, "lá lành dùm lá rách", rất tốt đẹp nhưng trên bình diện quốc gia vẫn cần định chế hoá các bảo hiểm xã hội cho mọi người vì đây là một nguyên tắc điều hành của một xã hội nhân bản.
Trong hoàn cảnh hiện nay, dân chủ cũng có nghĩa là chống tham nhũng, lạm quyền và lộng quyền, hà hắc, độc đoán của đại đa số các quan chức, nói chung là của chế độ. Chống được các tệ nạn trên có nghĩa là tạo điều kiện để người có tài có thể ngóc đầu lên được, có vai trò tương xứng trong xã hội, nói cách khác là không cần phải nịnh bợ, dựa vào đảng để thăng quan, tiến chức và sau đó tất nhiên là dựa vào địa vị độc tôn này mà chèn ép người khác. Có chống được các tệ nạn này thì các chương trình kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, ... mới thể hiện được tính bình đẳng, có lợi cho tất cả, thực sự phục vụ nhân dân; nếu không thì chỉ có béo bở cho các quan lớn cách mạng mà thôi, mặc dù cái lưỡi gỗ cung đình của họ ồn ào quảng cáo cho cái mục tiêu lý thuyết tốt đẹp nào đó.
2. Về mặt nhận thức.
Dân chủ có nghĩa là có nhận thức cao hơn về con người và quyền sống tối thiểu của họ (bao gồm cả nhu cầu kinh tế, y tế, giáo dục tối thiểu), về pháp luật bảo đảm những quyền này, về chức năng của chính quyền và về quan hệ bình đẳng, kế ước giữa chính quyền và nhân dân. Trong một xã hội còn chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng Khổng Mạnh, nhận thức là điều rất cơ bản và bao trùm mọi lãnh vực trên toàn xã hội: từ tư tưởng, văn hoá, giáo dục, nếp sống, chính tri, ... tới cơ chế tổ chức xã hội, chính tri, ... Không có nhận thức sâu sắc về dân chủ làm nền tảng thực hiện dân chủ, thì những cải tổ cơ chế chỉ là hình thức và những văn kiện pháp lý dân chủ đẹp đẽ vẫn chỉ là một mớ giấy lộn.
3. Về mặt thực hiện.
Ðể thực hiện (xây dựng, bảo vệ và phát triển) nhân quyền và dân quyền tất nhiên cần phải xây dựng thể chế dân chủ và nhà nước pháp trị. Trong việc xây dựng đất nước trong đó có việc xây dựng chế độ dân chủ, cần nhìn lại một số sự kiện, trong quá khứ và hiện tại, và rút ra những bài học cần thiết.
Trước đây, về cuối đời, Lê-nin đã từng than thở về cái cơ chế xã hội chủ nghĩa mà chính ông đã cố công xây dựng (đại ý) : "té ra chúng ta chỉ thừa kế cái cơ chế phong kiến". Những người cộng sản Việt Nam, tự nhận là học trò của Lê-nin, nhưng lại quên đi bài học lịch sử này với hậu quả là chế độ hiện nay còn rất nặng mùi phong kiến nông dân Ðông Á. Cách mạng Tháng Tám đã giải quyết được vấn đề độc lập dân tộc, nhưng về mặt dựng nước thì xin nhắc lại lời Lê-nin. Về sau này, trong việc xây dựng đất nước, dân chủ hoá xã hội có nghĩa là xoá bỏ tinh thần quan lại trong các quan hệ xã hội, xây dựng và định chế hoá các mối quan hệ này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng con người.
Trước đây, trong dự tính xây dựng sau chiến tranh giải phóng, đảng cộng sản muốn đi tắt, xây dựng chủ nghĩa xã hội không đi qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa; điều này có nghĩa là phải tiêu diệt tức khắc phương thức sản xuất phong kiến và các mầm mống của chủ nghĩa tư bản; do đó họ tung ra các chiến dịch cải cách ruộng đất (đấu tố địa chủ), cải tạo công, thương nghiệp (đánh tư sản "mại bản"). Mục tiêu của họ là xoá bỏ cơ chế kinh tế tư bản và họ làm đúng theo lời dậy của Mác là phải tiêu diệt mọi mầm mống của chủ nghĩa tư bản, từ tiểu thương, tiểu chủ, người bán hàng rong trở đi (chính sách ngăn sông, cấm chợ). Về mặt kinh tế, đảng đã mù quáng đi theo chủ nghĩa này và việc áp dụng nó là một chủ nghĩa duy ý chí mà không nhằm đáp ứng nhu cầu và điều kiện kinh tế khách quan nào cả. Hậu quả tất yếu là sự phá sản kinh tế như mọi người đều thấy.
Ngày nay, đảng phải chấp nhận nền kinh tế thị trường nhưng lại kèm theo cái đuôi "theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Về mặt lý thuyết, điều này có nghĩa là họ buộc phải đi theo tư bản chủ nghĩa, còn cái đuôi là một nghịch lý mà không một nhà lý luận biện chứng vô sản nào có thể giải thích được. Về mặt thực tế, cái đuôi này nhằm mục đích tiếp tục bảo vệ quyền lợi của đảng mà thôi vì cái đuôi này có nghĩa là đảng tiếp tục nắm mọi quyền quyết định và giải thích "định hướng" ra sao cũng được; theo cách nói dân gian thì cái bánh kinh tế chỉ được chia cho đảng viên (cỡ bự) và vài kẻ cúi đầu theo họ mà thôi. Ðiều này tạo nên mâu thuẫn đối kháng giữa giai tầng cầm quyền và nhân dân, là một yếu tố bùng nổ xã hội và chính trị.
Quan niệm của chủ nghĩa cộng sản coi chủ nghĩa là cứu cánh, con người là phụ thuộc và thậm chí phải tiêu diệt con người cũ, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, cả về vật chất (vô sản hoá) và tinh thần (chủ nghĩa là chân lý); từ đó họ thẳng tay tiêu diệt con người bằng các phương pháp và biện pháp tàn bạo nhất: hàng triệu người đã bị giết, bị thủ tiêu ý chí, tư tưởng khác biệt, ... trong các chế độ Staline, Mao, ... Ở Việt Nam, sự tàn bạo được đo bằng các nạn nhân của đấu tố, thảm cảnh thuyền nhân, các vụ đàn áp và nhất là nỗi thống khổ của con người Việt Nam cúi đầu lặng lẽ cam chịu.
Về mặt tổ chức hành chính, sau 30-4-1975, người lãnh đạo thời đó ôm mộng xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tập hợp nhiều tỉnh thành một đơn vị, một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và cả quốc phòng. Trong thời chiến, ông ta vốn là một chiến lược gia nên quan điểm xây dựng đất nước của ông ta cũng đậm mùi chiến lược chiến tranh !. Ý định này hoàn toàn là chủ nghĩa duy ý chí, không dựa vào thực trạng kinh tế nào cả; về sau này người ta phải trở lại hệ thống hành chính cũ và than thở (đại ý): "cụ bầy cho lắm vào, chỉ khổ người dọn !". Sự tích hợp tỉnh, chia tỉnh của ta là như vậy !.
Cũng xin nhấn mạnh ở đây là xem xét những sai lầm cũ để rút kinh nghiệm cần thiết cho sau này, chứ không phải để sử dụng như các lý lẽ với mục đích phân biệt "chính, tà" hay để "chống phá cách mạng" !
Về sau này, nếu có một cuộc Cách Mạng Dân Sinh và Dân Chủ ở Việt Nam thì cuộc cách mạng này phải là cách mạng của tri thức chứ không thể chỉ đơn thuần là phản ứng đầy cảm tính của lòng yêu nước như trong cuộc Cách Mạng Dân Tộc và Dân Chủ trước đây. Ðây là ý nghĩa tự tại của cuộc Cách Mạng Dân Sinh và Dân Chủ. Ðiều này có nghĩa là cách nghĩ, cách làm, cách vận động, ... đều rất mới mẻ đối với chúng ta, với những điều kiện mới, những khó khăn và thuận lợi mới.
Quyền sống của con người, nhận thức về quyền sống và thực hiện những quyền này bằng cách xây dựng thế chế dân chủ và nhà nước pháp trị là những điều mà dân chủ đem lại cho chúng ta và là cốt lõi trong công cuộc xây dựng đất nước. Ngoài ra, trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam (phong kiến, lạc hậu, hậu quả của chiến tranh còn đè nặng, ...), có một số nét đặc thù, bao gồm những yếu tố có thể làm cản trở công cuộc xây dựng đất nước và những điều chủ yếu cần phải xây dựng:
III.1. Xoá bỏ tinh thần gia trưởng, phong kiến.
Cho tới nay, mặc dù có những biến đổi trong phong tục, tập quán, nếp sống, ... do thời cuộc và do cả chiến tranh, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến. Quan hệ người và người, trong một tổ chức, giữa chính quyền và nhân dân vẫn không mấy thay đổi. Tinh thần gia trưởng, quan liêu vẫn bàng bạc thể hiện trong cung cách, phép xử thế trong xã hội ta. Hơn nữa, chế độ xã hội chủ nghĩa trước đây là một xã hội "đóng", do đó tinh thần này không có chỗ "thoát" (chịu ảnh hưởng của những biển đổi thời cuộc, tiến hoá xã hội); đây là đặc điểm chung của các nước (cựu) xã hội chủ nghĩa.
Xin đưa vài dẫn chứng. Trước đây, có người viết một truyện ngắn đầu tay có tựa là "Cây táo ông Lành", vì dám nêu tên cúng cơm của một vị lãnh đạo nên sự nghiệp văn chương của người này chấm dứt tại đây !. Trong thời kỳ "cởi trói" văn nghệ, những truyện, ký như "Cái đêm hôm ấy hôm gì", ... cho thấy cái bề sâu của xã hội nông thôn vẫn không mấy thay đổi. Quan hệ giữa chính quyền (cách mạng) và người dân, ở trong nước và ngay cả giữa sứ quán và Việt kiều - nhất là tại các nước cựu xã hội chủ nghĩa, ít nhiều vẫn có tính cách quan liêu, với cung cách "cha, mẹ dân". Tệ hại và trầm trọng hơn cả là chế độ cung đình hiện nay, với các cuộc đấu đá nội cung, các thủ thuật chính trị, ... vừa giống như thời phong kiến trước đây, vừa thô bạo, nặng mùi dân gian thôn dã; kẻ nắm quyền không do khả năng của họ, mà chỉ vì nắm được guồng máy đảng mà thôi; hậu quả tai hại nhất là với cơ chế cung đình này, ngay cả người có lòng cũng không thể thực hiện cải cách được, vì họ sẽ tức khắc bị trấn áp.
III.2. Xoá bỏ tinh thần phe phái.
Tinh thần phe phái đậm nét của người Việt có lẽ đã có từ rất lâu, tối thiểu là từ thời kỳ vua Lê, chúa Trịnh. Trong lịch sử các dân tộc, sự chia phe và tranh chấp giữa các phe là điều thường thấy; cũng không thiếu những chuyện lạm quyền, tìm cách lật vua, chiếm ngai vàng của các quan lại (thường là Tể Tướng) hay thân cận và tất nhiên trong thời kỳ này có tối thiểu là hai phe, theo vua hay theo thế lực mới, nhưng thời kỳ tranh chấp này thường khá ngắn và không có chuyện "sống chung hoà bình", chấp nhận cả vua lẫn kẻ lăm le chiếm ngai vàng. Có lẽ chỉ có ở Việt Nam mới có chuyện vua Lê, chúa Trịnh với hai đặc điểm: 1) sự chấp nhận cả vua lẫn chúa trong một nền quân chủ tập trung cao, với nền luân lý truyền thống Khổng Mạnh ("tôi trung một chúa (hay vua ?!), gái ngay một chồng"), từ dân tới quan đều coi sự song song tồn tại này là điều bình thường !, 2) sự kéo dài của tình trạng rắn hai đầu này (hàng trăm năm). Cũng trong thời kỳ này, còn có tranh chấp "đàng trong, đằng ngoài", Trịnh-Nguyễn phân tranh !. Có lẽ không ai có thể xác định được mức độ ảnh hưởng của tinh thần phe phái trầm trọng này đối với lịch sử cận đại của dân tộc, nhưng dù sao không thể phủ nhận ảnh hưởng này và tối thiểu đây là bằng chứng về tinh thần phe phái của chúng ta.
Trong lãnh vực chính trị, lịch sử cận đại của Việt Nam cũng đầy rẫy các tranh chấp phe phái. Tại hải ngoại, các cộng đồng Việt Nam (chống cộng, thân cộng, phi chính trị, ...) cũng không phải là một mẫu mực đoàn kết, mặc dù có những tổ chức chỉ là để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt chung hay tương thân, tương trợ giữa những người xa xứ.
Ngoài tinh thần phe phái, cái "máu" nghệ sĩ đầy cảm tính của người Việt khiến cho chúng ta khó tìm được sự đồng ý cần thiết và sự thực hành nghiêm túc cho đại đa số các công việc cần làm chung. Từ việc chuẩn hoá và chấp nhận chuẩn (thí dụ: chuẩn hoá chữ Việt hay các chuẩn kỹ nghệ như điện thế - ở Việt Nam người ta dùng cả hai điện thế 110V và 220V !), tới việc xây dựng các tổ chức xã hội, chính trị.
Tinh thần phe phái là một cản trở lớn trong công cuộc xây dựng đất nước, trong đó có công cuộc dân chủ hoá xã hội. Tinh thần này nằm trong tiềm thức của người Việt, rất khó tháo gỡ và nếu không xoá bỏ được thì sự tìm kiếm đồng thuận rất khó khăn và ngay cả khi có sự đồng thuận trên lý thuyết về dân chủ cũng không có nghĩa là có thể nhanh chóng thực hiện được, vì các "ý đồ" của phe này, phái kia sẽ làm ung thối chính cái đồng thuận này; điều này vừa do tinh thần phe phái nặng nề vừa do tính so đo, kèn cựa, sợ người khác hơn mình. Tâm lý và tâm lý chính trị của người Việt Nam thật là phức tạp !.
III.3. Hoá giải hận thù.
Một nguyên tắc của dân chủ là chấp nhận khác biệt và tìm ra những điểm tương đồng thông qua thương thảo để giải quyết một vấn đề với sự đồng ý của đa số. Trong khi hận thù sẽ dẫn tới sự chia thành phe phái để đấu đá và thậm chí tìm cách tiêu diệt kẻ địch để thoả mãn nhu cầu trả thù của mình; điều này ngược với nguyên tắc nêu trên, do đó, hận thù là một cản trở trong công cuộc thực hiện dân chủ và để xây dựng dân chủ, cần phải hoá giải hận thù. Ðiều này giống như phải làm đất trước khi gieo mạ, để dân chủ có cơ đơm hoa, kết hạt.
Trong hoàn cảnh Việt Nam, bao gồm hiện trạng chính trị và khuôn khổ văn hoá, xã hội cũng như tính khí người Việt, dùng từ "hoá giải hận thù" có lẽ là phù hợp hơn cả.
Ðiều đáng lo là mặc dù đã 25 năm qua, kể từ ngày chấm dứt chiến tranh, nhưng hận thù vẫn còn dai dẳng trong lòng người Việt. Có rất nhiều lý do để hận thù vẫn còn tồn tại:
Hậu quả trực tiếp của chiến tranh. Hơn 30 năm chiến tranh đã để lại các mối hận thù, ở bên này hay bên kia chiến tuyến. Ðây là hậu quả tự tại, tất yếu của chiến tranh, không thể tránh được.
Chính sách tuyên truyền, khích động, gây hận thù (từ "hận thù giai cấp" đến "cộng sản tham tàn", ...) của các phe tham chiến đã để lại dấu ấn trong lòng nhiều người, nhất là những người có ít, nhiều dính lứu đến các cuộc chiến tranh này.
Các chính sách sai lầm của đảng cộng sản:
1. Chính sách đấu tố thời 1953 đã là một nguyên nhân chính khiến cho khoảng 1 triệu người di cư vào Nam với hận thù cộng sản nặng chĩu trong lòng.
2. Thời 1975 là cơ hội bằng vàng và độc nhất để thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ (hay ít nhất là giảm thiểu phần lớn) được hận thù và mở ra một trang sử mới: thực sự xây dựng đất nước trong độc lập, hoà bình và toàn vẹn lãnh thổ. Ðáng tiếc là những người cộng sản thời đó, với cơn say chiến thắng, tinh thần nóng vội và bụng dạ tiểu nhân đã không thực hiện điều này. (Có lẽ nếu họ thực hiện điều này thì năm 1979, Trung quốc đã phải suy nghĩ kỹ hơn khi muốn cho Việt Nam một bài học). Hậu quả tất yếu là hận thù tăng lên với sự ra đi của khoảng 1,5 triệu (?) thuyền nhân.
3. Bức tường Bá Linh sụp đổ cũng là một cơ hội để họ có thể vớt vát, xí xoá lỗi lầm của họ vì không phải chỉ có họ sai lầm, các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng đều như thế cả !. Cũng có một số nét phấn khởi trong năm đầu của chính sách "đổi mới" (1986-1987), đặc biệt về tâm tư, tình cảm của những người vẫn còn giữ niềm tin tưởng, hy vọng vào "cách mạng". Lo sợ không 'trụ" được nên đảng áp dụng chính sách "đóng cửa" chính trị, khiến cho hận thù và thất vọng không có lối thoát !.
4. Hiện nay, đảng cộng sản áp dụng chính sách co cụm, trấn áp từ trong trứng nước tất cả mọi khuynh hướng không theo ý họ, kể cả những người thành tâm, thiện ý muốn bày tỏ ý kiến giúp họ thấy được một số vấn đề. Hơn nữa, chính sách o ép tôn giáo, dựng lên các loại tổ chức tôn giáo quốc doanh dùng làm tổ chức ngoại vi của đảng chỉ khiến cho xã hội bị xâu xé thêm và có thêm hận thù (tôn giáo). Chính sách này là chính sách kiểm soát, bưng bít, từ con người tới tư tưởng, thậm chí tâm linh và tất nhiên sẽ chỉ làm tăng thêm áp xuất của cái nồi hơi xã hội đầy uẩn ức chỉ đợi dịp bùng lên mà thôi. Có một nghi vấn cần nêu lên là không rõ đảng áp dụng chính sách trấn áp chỉ vì lo cho quyền lợi trước mắt của họ hay là sự cố ý, tạo khoảng trống chính trị và khiêu khích đối đầu, vì tin tưởng vào sức mạnh công an của họ ?.
5. Chế độ hiện nay trở thành một chế độ "tiền và súng", những áp bức, bất công, thôi nát, tham nhũng, ... ngày càng tăng và tất nhiên hận thù không thể giảm được.
Ngày nay, có người viện lý vì nửa dân số Việt Nam là giới trẻ sinh sau chiến tranh (1975), nên không còn bị hận thù quá khứ đè nặng. Ðây chỉ là cái nhìn bề nổi, vì quá khứ của họ dù sao cũng ít, nhiều dính lứu với quá khứ của cha, anh họ và ngày nay, mãi lo cho miếng ăn trước mắt nên nhất thời có vẻ yên ắng, nhưng khi không kiếm được cái ăn thì những vấn đề quá khứ sẽ trở lại cộng thêm bế tắc hiện tại sẽ dồn lại thành một nồi hơi lớn. Quá khứ không phải là điều dễ quên, ngoại trừ trường hợp dân tộc ta chỉ là một con vật có hai chân !.
Từ những nhận định trên, có lẽ tình hình Việt Nam sẽ bùng nổ trước khi có được dân chủ với hậu quả là đẩy lùi dân chủ tới một điểm hẹn xa xăm khác; trong trường hợp này, xã hội Việt Nam lại có thêm những vết thương mới !.
III.4. Phục hồi những giá trị tinh thần, đạo lý truyền thống.
Ngoài việc xoá bỏ tinh thần gia trưởng, phe phái và việc hoá giải hận thù như đã trình bày ở trên, là những vấn đề thuộc về bề sâu của xã hội Việt Nam hay hậu quả của chiến tranh và là những cản trở công cuộc dân chủ hoá xã hội; trước khi xem xét việc phục hồi những giá trị truyền thống, cần phải xem xét những cái gọi là "giá trị" bất thành văn bản hiện nay trong xã hội ta. Xin đưa vài dẫn chứng:
Tuổi đảng. Không rõ từ lúc nào người ta coi "tuổi đảng" là một "giá trị". Hiện nay, trong đời sống thường ngày, "tuổi đảng" (hàm nghĩa trung kiên) là một giá trị tuyệt đối, là một giá trị luân lý, đạo đức, xã hội, tinh thần, ...!; người ta dùng nó để đạt đủ mọi mục đích: quí vị cách mạng thâm niên vẫn thường lôi tuổi đảng của mình ra hù hoạ đàn em, để thăng quan tiến chức, ... và cũng (phải dùng) để biện minh chống lại những kẻ muốn tố mình (là "phản đảng"), "tuổi đảng" trở thành một nhãn hiệu (label) có cầu chứng tại toà hệt như nhãn hiệu "quân tử" thời xưa vậy; đây là chuyện phong kiến "tân trang" của xã hội ta !. Hầu như không ai (dám) đặt câu hỏi "tuổi đảng" là cái gì và nhất là "đảng" là cái gì, tượng trưng cho cái gì ?, nếu không phải chỉ đơn thuần là một tổ chức do con người tạo ra, vinh quang (nếu có) là do con người tạo ra và là chuyện đã qua của những con người thời đó và người thời nay chả nên "thấy người sang, bắt quàng làm họ" vậy. Hơn nữa, trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, "trung kiên" có ý nghĩa ngược lại với "phản bội" (theo giặc), nhưng kể từ ngày có độc lập, "trung kiên" có ý nghĩa gì khi trong chính trị chỉ có các phương hướng, lựa chọn (có phần) đúng hay sai mà thôi và đánh giá, phán đoán là quyền của mỗi người, chẳng qua người ta muốn sử dụng những ý nghĩa quá khứ làm thủ thuật đấu đá hay trấn áp mà thôi.
Nói xấu cách mạng. Ðây là một "giá trị" ngược, vì "cách mạng" có nghĩa là tuyệt đối tốt nên những kẻ nói xấu cách mạng chỉ có thể là có tội mà thôi !. Ngoài ra, còn có những tội như "có người thân ở nước ngoài", "có ý chống phá cách mạng, đòi đa nguyên, đa đảng", "xét lại, chống đảng", ... !. Ðúng là người ta muốn kết tội sao cũng được. Chuyện như đùa, nhưng đây là thực tế đáng buồn của xã hội ta.
Có công với cách mạng. Sau 75, những người "có công" được đền bù xứng đáng !. Ðã là "dũng sĩ diệt Mỹ", "chiến sĩ Trường Sơn" thì tất nhiên phải được làm giám đốc một xí nghiệp nào đó (nếu không có khả năng thì đã có chính sách "vừa làm, vừa học", tu tại chức) và con cái của họ được nâng điểm trong các kỳ thi !. Guồng máy quốc gia trở thành nơi thu xếp chuyện gia đình của họ và mang tính chất lục lâm thảo khấu !. Người Việt ở nước ngoài cũng có loại "Việt kiều" (yêu nước) và cũng được hưởng tý quyền lợi như được về thăm nhà, được bớt vài đồng trong một dịch vụ nào đó !. Tất nhiên, chỉ những kẻ có quyền thế mới có thể lên tiếng kể công (và đòi đền bù), còn những người có công khác thường ở trong một cái xó nào đó, không ai biết tới !.
Những điều kỳ quái trên có thể tóm gọn lại thành một thứ chủ nghĩa lý lịch và nặng mùi đông Á (lý lịch ba đời). Chủ nghĩa này gồm hai chiều: chiều thuận, "theo cách mạng" và chiều nghịch lại với tất cả những biến thể và hậu quả của nó. Các "giá trị" này chẳng qua chỉ là hệ quả của chế độ độc tài, cộng sản trị với nét đặc thù đông Á (Khổng giáo); khi có chế độ dân chủ, các "giá trị" này sẽ tự nhiên biến mất mà thôi.
Ðiều đáng lo ngại là ngày nay, con người và xã hội Việt Nam đang trên đà tha hoá. Qua một số triệu trứng về con người ở miền Bắc, có lẽ là xã hội miền Bắc bị băng hoại nhiều hơn ở miền Nam; có vẻ như con người miền Bắc, kể cả con người ở đất nghìn năm văn vật (Hà nội), trở nên khá táo tợn, vị kỷ. Những giá trị tinh thần, đạo lý cổ truyền bị mất mát khá nhiều, một phần do chiến tranh, phần khác do sự áp dụng các chính sách giáo dục, văn hoá, tư tưởng "phù hợp với quan điểm giai cấp và đường lối của đảng" và nền văn nghệ minh hoạ xã hội chủ nghĩa có nghĩa là mọi người đều phải nói dối, nịnh bợ đảng, bóp chết mọi khả năng sáng tạo, thăng hoa. Một dẫn chứng cụ thể là số lượng xuất bản sách tại Việt Nam, một con số đáng buồn và tự nó cũng đủ để nói lên sự thật. Về mặt chất lượng, ngoài một số tác phẩm trong thời chiến tranh và dòng văn nghệ phản kháng, từ 1954 tới nay, nền văn hoá dân tộc là nền văn hoá thui chột !.
Ngày nay, điều khẩn thiết là phải phục hồi lại một số những giá trị truyền thống, để cho con người còn thấy được đâu là đạo lý, tình người, sự tôn trọng sự thật, chính-tà phân biệt, còn có được một niềm tin nào đó về con người; chớ không phải chỉ biết lo cho cái ăn trước mắt, mánh mung, dối trá, tìm mọi cách để thăng quan, tiến chức ... Tóm lại là một phong trào về nguồn về tinh thần, văn hoá, tư tưởng.
III.5. Xây dựng những giá trị mới.
Trước tiên, cần xem xét lại khái niệm "giá trị". Giá trị thường được hiểu là gắn liền với đạo đức, luân lý và trong xã hội ta là khuôn mẫu Khổng-Mạnh; với tinh thần chê bai kẻ giàu (thường bị coi là trọc phú, trong xã hội với đẳng cấp tinh thần "sĩ, nông, công, thương" thì thương gia chiếm hạng chót), thương người nghèo, với khuôn mẩu người quân tử chỉ có thể là ông thánh sống, không có một tỳ vết nào cả và nếu có khuyết tật nhỏ nào đó thì chỉ có thể để "làm duyên" cho họ thôi, chứ không thể làm xấu họ được (mẫu mực người hùng đông Á là người hùng "chăm phần chăm"). Ngày nay, cần thấy là từ "giá trị" không chỉ đơn thuần nằm trong khuôn khổ đạo đức (đông Á); cần phải xem xét từ này trong hoàn cảnh một xã hội Việt Nam mới, có nền sản xuất cao (kỹ nghệ hoá, kể cả kỹ nghệ hiện đại), có nền kinh tế thị trường, có xã hội công dân (bao gồm nhiều thành phần, tổ chức xã hội và trong hoàn cảnh Việt Nam, có nhiều sắc tộc), có cơ chế chính trị dân chủ và có nhà nước pháp trị; đây là sự phát triển xã hội đã xẩy ra tại các nước phương tây. Những giá trị này thường được hiểu là những giá trị phương tây và có thể khiến cho có người lo ngại dân tộc ta sẽ mất gốc. Cần thấy là các xã hội phương tây là các xã hội phát triển trước chúng ta; do đó nếu xã hội Việt Nam cũng phát triển như vậy thì sự có cùng những đặc tính (không nhất thiết liên quan đến đạo đức) của các xã hội phát triển tây phương là điều bình thường; còn bản sắc dân tộc - dù muốn, dù không - tất nhiên cũng có những tiến hoá theo thời cuộc.
Cũng cần nhắc lại ở đây là dân tộc ta vốn không có nền văn hoá riêng nên đối với chúng ta tất cả đều là "ngoại lai" thôi (từ văn hoá Trung quốc, tây phương hay chủ nghĩa cộng sản). Ðiều cơ bản là biết tiếp thu cái hay của người, biết bỏ cái dở của họ, tóm lại là biết hội nhập, phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu xã hội, thời cuộc.
Xây dựng những giá trị mới có ý nghĩa rất quan trọng: về lâu dài, đây là nền tảng tinh thần để xây dựng xã hội mới, về ngắn hạn, trong tình trạng tổng khủng hoảng xã hội ở Việt Nam hiện nay, khi khủng hoảng kinh tế xẩy ra, với khả năng dẫn tới bùng nổ xã hội và chính trị, những giá trị mới có hiệu quả hướng dẫn hay giảm thiểu những đổ vỡ, hậu quả của bùng nổ.
Dưới đây, chỉ xin trình bày một số đặc tính:
III.5. 1. Kỷ luật.
Ðây là một đặc tính cần thiết trong một xã hội có nền sản xuất kỹ nghệ hoá và nhìn toàn bộ là nền kinh tế phát triển ở mức cao, nhằm mục đích nâng cao hiệu năng kinh tế. Ðây không phải là một đức tính của giai cấp công nhân như Mác cố gắng giải thích và "vơ vào" cho giai cấp công nhân tất cả những cái mà ông ta cho là tốt nhất; vì chính phương pháp sản xuất kỹ nghệ (có nghĩa là tư bản) đòi hỏi người nông dân phương tây phải thích ứng. Hơn nữa, kỷ luật không phải là một giá trị đạo đức nào cả và con người không ai thích bị rằng buộc cả, ngày nay, trong các xã hội có nền kỹ nghệ cao, người ta ngày càng có nhu cầu đi nghỉ hè, chính vì sự căng thẳng, bó buộc, phải sống có kỷ luật, ... làm họ cần phải "sả xú bắp". Trong công việc làm ăn, người nông dân Việt cũng sẽ phải thích ứng với cuộc sống có kỷ luật mà thôi.
III.5. 2. Lợi nhuận.
Ðây là động cơ phát triển nền kinh tế thị trường, khi chấp nhận nền kinh tế này thì phải chấp nhận lợi nhuận như là một đặc tính của nó. Trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là một đặc tính; tất nhiên không thể gắn cho nó một giá trị đạo đức nào cả, không thể theo cách nhìn đạo đức Khổng-Mạnh hay chủ nghĩa vô sản để coi nó là cái xấu xa, đáng khinh bỉ. Nói tới lợi nhuận là nói tới quyền tư hữu, không thể vừa hô hào nhân dân "hãy làm giàu đi" và vừa tiếp tục phủ nhận quyền tư hữu (hiện nay, người dân chỉ có quyền sử dụng ruộng, đất và không có quyền tư hữu ruộng, đất); sự phủ nhận này cũng có hậu quả là người hiểu biết chỉ làm ăn cầm chừng, ngắn ngày và thường trực nghe ngóng cái đuôi "định hướng xã hội chủ nghĩa", xem xét động tĩnh và sẵn sàng có những biện pháp thích ứng. Công nhận quyền tư hữu là một vấn đề pháp lý, nếu như kẻ cầm quyền muốn tthực sự xây dựng một chế độ pháp trị.
III.5. 3. Tự do.
Tự do vốn là một nhu cầu trong bản năng của con người, không ai muốn bị kẻ khác đè đầu, cưỡi cổ, bắt nạt mình cả. Trong thời kỳ sơ khai, con người vì sợ hãi các thế lực thiên nhiên, bí ẩn thần linh nên buộc phải cúi đầu cam chịu; trong thời kỳ phong kiến, thế lực phong kiến tự coi mình là đại diện thượng đế tối cao nào đó để buộc giai cấp bị trị phải thần phục và nếu chống đối thì họ sẵn sàng dùng bạo lực trấn áp (về mặt tư tưởng, họ dùng thuyết thần quyền, ở đông Á là thuyết Khổng-Mạnh, để thống trị); mãi tới thời kỳ cách mạng Nhân quyền (1789), con người mới bắt đầu xoá bỏ được sự thống trị tư tưởng của các thế lực siêu nhiên (hay tự nhận là siêu nhiên). Khi từ bỏ được sự chi phối của các thế lực siêu nhiên và thần quyền, tự do trở thành nhu cầu thiết yếu của con người, ngay cả trong khẩu hiệu của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng ghi rõ "Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc" !.
Chủ nghĩa Mác dùng chuyên chính vô sản để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, khi thành công thì sẽ xoá bỏ chuyên chính vô sản. Ngày nay, đảng Cộng Sản Việt Nam, tự nhận là theo chủ nghĩa Mác, dùng chuyên chính vô sản để giải phóng dân tộc đem lại tự do thật sự cho người dân và tất nhiên nếu có ai chống đối thì họ dùng "bạo lực cách mạng"" trấn áp (hệt như chế độ phong kiến). Câu hỏi đặt ra là chừng nào họ từ bỏ chuyên chính vô sản ?. Chỉ thấy là hiện nay, bất cứ ai có ý khác với tập đoàn cầm quyền đều bị trấn áp và chế độ ngày càng trở thành một chế độ "tiền và súng" rất gớm ghiếc !. Do đó, đấu tranh đòi đảng Cộng Sản Việt Nam từ bỏ chế độ chuyên chính vô sản, trả lại tự do cho người dân cũng là một ý nghĩa cơ bản khác của tự do.
Ðể xây dựng và hiện đại hoá đất nước, dân tộc ta cần phải có nhiều sáng tạo, để có thể sáng tạo tất nhiên cần có tự do. Tự do cho người cầm bút để họ có thể nói lên những suy nghĩ của mình, xây dựng nền văn hoá đa diện, đa dạng, có chiều sâu và nhất là nêu lên những vấn đề của con người, xã hội Việt Nam, từ đó có được những giải pháp cần thiết. Cho tới nay, nền văn nghệ minh hoạ, hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ là nền văn nghệ bồi bút, tệ hại hơn, nó tiêu diệt nền văn hoá của dân tộc (kể từ 1954 đến nay, ngoại trừ dòng văn nghệ nói về tình tự dân tộc trong thời đấu tranh giành độc lập hay phản kháng, không có một trào lưu văn hoá nào cả !). Trong lãnh vực giáo dục, tự do có nghĩa là không còn bị nhét vào đầu cái lý thuyết về chủ nghĩa bao trùm trên mọi bộ môn, mà từ thầy tới trò đều ngán ngẩm !, hơn nữa, để đào tạo được các chuyên viên có trình độ cao, để tiếp thu kiến thức hiện đại (trong các nghành mới như tin học, sinh học), để nghiên cứu, ... thì tất nhiên không thể đi theo "ánh sáng" của cái chủ nghĩa này được. Về kinh tế, tự do có nghĩa là từ bỏ qui chế "xin-cho", cô-ta, cái đuôi "định hướng xã hội chủ nghĩa" (nền kinh tế quốc gia phải dựa vào các doanh nghiệp quốc doanh) mà thực chất chỉ là ý đồ của đảng muốn tiếp tục kiểm soát nhân dân và thậm tệ hơn là để nhóm cầm quyền tha hồ bòn rút của công thông qua các doanh nghiệp quốc doanh; tự do có nghĩa là để người dân có quyền tự do làm ăn.
III.5. 4. Chấp nhận dị biệt.
Con người sinh ra tất nhiên có nhiều khác biệt so với người khác, chấp nhận dị biệt là chấp nhận các khác biệt này (tất nhiên với một mẫu số chung, là các giá trị nhân bản, vì không thể chấp nhận những kẻ giết người, tàn bạo, ... được). Chấp nhận dị biệt trước tiên là vấn đề quan niệm. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, chấp nhận dị biệt có nghĩa là phải từ bỏ tinh thần địa phương (bắc, nam, ...), chủng tộc (người Kinh, Thượng, Hoa, ...), tín ngưỡng (tôn giáo, vô thần, ...), phe phái ("quốc", "cộng", ...), ... mà lịch sử đã để lại những hậu quả ít, nhiều nặng nề.
III.5. 5. Bình đẳng.
Bình đẳng là một giá trị nhân bản, là một vấn đề thường trực của con người và xã hội, bao gồm nhiều lãnh vực sinh hoạt con người (bình đẳng pháp lý, kinh tế, các quan hệ xã hội, cách cư xử, tư tưởng, văn hoá, giáo dục, chính trị, ...). Cần xây dựng tinh thần bình đẳng trong các quan hệ giữa người và người, các cộng đồng, các sắc tộc. Ðể thực hiện bình đẳng, trước tiên phải biết chấp nhận dị biệt như đã trình bày.
III.5. 6. Tương trợ.
Tinh thần tương trợ trong một xã hội nông nghiệp như Việt Nam được thể hiện qua tình xóm làng. Ngoài tính chất tốt đẹp của tình người, còn có khía cạnh tiêu cực của tinh thần "một người làm quan, cả họ được nhờ" và "họ" ở đây hiểu theo nghĩa rộng, gồm cả những người đồng hương, cùng xóm, làng với họ; vì tinh thần này rất dễ trở thành tinh thần phe phái.
Trong hoàn cảnh con người và xã hội tha hoá như hiện nay, cần giữ gìn khía cạnh tốt của tinh thần này, vì có lẽ ngày nay chúng ta không còn giá trị tinh thần nào khác !.
Kinh tế thị trường và sự kỹ nghệ hoá nền sản xuất sẽ làm xã hội phân hoá, tinh thần tương trợ truyền thống không những cần thiết mà còn cần xây dựng, phát triển tinh thần này theo nhu cầu mới. Tương trợ trở thành tinh thần liên đới, giữa con người với nhau và với các tổ chức xã hội; một tổ chức có tính thương mại như một xí nghiệp tư nhân cũng cần có tinh thần tương trợ với các nhân viên của nó và với cả xã hội bên ngoài. Một đơn vị sản xuất, thương mại cũng có vai trò xã hội của nó và có thể cần phải định chế hoá vai trò này (thí dụ: một hãng lớn phải có nhà giữ trẻ cho nhân viên của họ); điều này có nghĩa là một tổ chức thương mại, không chỉ thuần tuý nhằm mục đích kiếm lợi, vai trò xã hội của nó tuỳ thuộc vào tầm vóc, điều kiện riêng.
Trên bình diện quốc gia, phải định chế hoá sự tương trợ này, để mỗi người dân được giúp đỡ khi cần thiết; tất nhiên là dựa trên tinh thần công bằng. Không thể để có tình trạng vì một tỉnh nào đó là quê hương của một vị cách mạng lão thành nên ông ta buộc chính phủ phải đầu tư vào quê hương của ông ta, còn lợi hại chung ra sao thì không cần biết tới !.
III.5. 7. Dân chủ.
Những khái niệm như tự do, bình đẳng, ... cũng nằm trong khái niệm dân chủ. Ðiều muốn nêu lên ở đây là cơ chế chính trị dân chủ chỉ là những thể hiện về mặt tổ chức chính quyền của xã hội dân chủ, cần lưu ý là có hai giá trị cơ bản:
Về mặt quyền lợi, dân chủ có nghĩa là một người có các quyền cơ bản của con người (Nhân quyền), một công dân có các quyền cơ bản của người dân (Dân quyền).
Về mặt quan hệ giữa các thành viên xã hội, có ba khía cạnh của dân chủ cần phải xây dựng: quan hệ giữa người và người (bao gồm cả quan hệ giữa nam và nữ, cha mẹ và con cái, thầy và trò, ...), quan hệ giữa người và tổ chức (bao gồm cả quan hệ giữa người dân và chính quyền, thành viên và một tổ chức xã hội, ...), quan hệ giữa tổ chức và tổ chức (bao gồm cả quan hệ giữa các tổ chức chính trị, hành chính như đảng cầm quyền và đối lập, chính quyền và quốc hội, ... các tổ chức dân sự, xã hội như công đoàn, nghiệp đoàn, hội từ thiện, ... và liên hệ giữa cơ quan chính quyền và tổ chức dân sự). Ðối với một xã hội còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tinh thần phong kiến Ðông Á, xây dựng tinh thần dân chủ là một công cuộc lớn lao, lâu dài. đòi hỏi ý chí chính trị và cả văn hoá và văn hoá chính trị (một thí dụ là xây dựng một tổ chức tư nhân có tính dân chủ hay không là việc của những thành viên của tổ chức này chứ không thể là sự cưỡng ép và không chắc gì những người này đã có ý thức dân chủ đúng mức).
Xây dựng tinh thần dân chủ có nghĩa là có được nhận thức sâu, rộng về hai điều trên. Tinh thần dân chủ là nền tảng để xây dựng, phát triển và bảo vệ cơ chế chính trị dân chủ. Cơ chế dân chủ là vật chất, hình thức, tổ chức; giá trị dân chủ là tinh thần, nội dung, nhân bản. Vật chất và tinh thần phải đi đôi với nhau. Quan niệm này khác với quan niệm của người cộng sản, chỉ biết chê bai nền "dân chủ tư sản" là dân chủ vỏ, hình thức, còn "dân chủ vô sản" mới là ruột, nội dung; trong khi trên thực tế cái nền dân chủ của họ "ít hơn gấp triệu lần" nền dân chủ mà các nước phương tây đã thực hiện được (thông qua các áp lực quần chúng và cả ý chí chính trị).
III.5. 8. Công lý.
Trong khuôn khổ của dân chủ, công lý đi đôi với dân chủ, là thể hiện của dân chủ về mặt pháp lý. Mọi người phải được bình đẳng trước pháp luật. Mọi tổ chức, kể cả các tổ chức chính trị đều phải được định chế hoá trên tinh thần bình đẳng. Ðể mỗi người đều có quyền sống tối thiểu, tất nhiên cần có nền pháp lý (bao gồm luật pháp và cơ chế thi hành luật) bảo đảm các quyền này.
Công lý là một giá trị tinh thần cần có để bảo đảm, làm chỗ dựa cho dân chủ. Tại các nước dân chủ phương tây, sở dĩ giới quân sự, tài phiệt không thể sử dụng sức mạnh của mình để lũng đoạn xã hội được như ý muốn cũng chính vì người dân của họ (gồm mọi giai cấp, giai tầng xã hội, kể cả giai tầng thượng lưu) có tinh thần tôn trọng công lý cao, sẵn sàng bảo vệ công lý. Tại các nước chậm tiến, trong đó tất nhiên có Việt Nam, những kẻ có quyền hành cứ việc tự tôn, tự tác và ai phản đối thì họ lấy súng (hay công an) ra doạ !.
III.6. Khoảng không gian sống tối thiểu.
Con người tất nhiên có nhu cầu tối thiểu về kinh tế (cái ăn, mặc, nhà ở), y tế, giáo dục và văn hoá, tâm linh; nhu cầu có ít, nhiều thay đổi tuỳ theo tuổi tác (nhu cầu của trẻ thơ, người già, ...), giới tính, trình độ văn hoá, .... Ðây là khoảng không gian sống tối thiểu của con người.
Ðiều xem xét ở đây là ý thức về quyền sống tối thiểu của con người, xây dựng và phát huy ý thức này. Cho tới nay, chúng ta sống theo cảm tính với tinh thần đùm bọc xóm làng, "thấy người đói rách thì thương"; còn ý thức về vấn đề này rất nông cạn.
Dân đã vậy, còn giới cầm quyền đã có những chính sách đáng tiếc: với tinh thần chủng tộc hẹp hòi, họ đã có chính sách kỳ thị, trấn áp các sắc tộc khác như người Hoa (chính sách xua đuổi họ sau 1975), người Thượng (trước và sau 75), trẻ em lai (sau 75, người ta coi là một dấu tích của thời kỳ nô lệ nhục nhã và cần phải thủ tiêu dấu vết này). Họ không thấy được là dù sao những người này cũng là con người, cần tôn trọng quyền sống của họ. Di dân người Hoa ở Việt Nam từ lâu nay, có nhiều đóng góp xây dựng đất nước, có những gắn bó quyền lợi; đất nước này cũng là của họ. Người Thượng vốn là một sắc tộc sống cùng với người Kinh từ thời dựng nước; đất nước này tất nhiên cũng là của họ. Trong trường hợp trẻ lai, dù sao các em vẫn là người Việt Nam và không có lý do gì để bạc đãi trẻ thơ; ngày nay, điều đáng thương là các em này sống ở Mỹ, mặc dù hình hài người da trắng, nhưng tâm tính, văn hoá Việt Nam và thường khó hội nhập trong xã hội sở tại, ở trong tình trạng "không giống ai".
Về mặt nhận thức, kẻ cầm quyền không có ý thức về quyền sống con người, về mặt chính trị, nếu như họ biết cởi mở, chấp nhận mọi người, thì đây mới là chính sách đại nhân, đại nghĩa tương xứng với chiến thắng 75 và tiếp nối, phát huy chiến thắng này, chớ không phải là tinh thần so đo, cố chấp, hẹp hòi và các chính sách tiểu nhân của họ.
Tại các quốc gia đã được hình thành lâu đời, quyền sống thường được gắn với ý niệm chủng tộc, "máu mủ", hầu như chỉ những người cùng huyết tộc mới có quyền sống trên lãnh thổ của họ; do đó mới có chuyện "ngoại quốc ăn cắp bánh mì của tây" (ý nói người ngoại quốc tới lấy việc làm của dân bản xứ). Tại các nước mới lập, đa số gồm các di dân, ý niệm này được thay thế bằng ý niệm "đất đai" (người đã sống trên đất này có quyền sống như mọi người). Ý niệm này nhân bản hơn và phù hợp với Việt Nam, ở trong hoàn cảnh có nhiều sắc dân, mặc dù Việt Nam là một nước được hình thành từ lâu và rất khó để từ bỏ ý niệm huyết thống (người Kinh); hơn nữa có lẽ chúng ta chưa khi nào duyệt xét lại những điều này !. Tất nhiên bất cứ một sắc tộc nào cũng phải tôn trọng luật lệ sở tại và bảo vệ quyền lợi quốc gia.
Ngoài vấn đề sắc tộc, thân phận dân Việt (người Kinh) cũng không hơn gì. Với chế độ độc tài hiện nay thì chỉ trừ một thiểu số rất nhỏ kẻ có chức quyền, còn ngoài ra ai cũng có số phần ít, nhiều khốn khổ (từ người bán hàng rong tới tiểu công chức, cán bộ và ngay cả các anh công an "tép riu" đầu đường) . Trong số này, có ba trường hợp cùng cực cần nêu lên:
Hoàn cảnh những tù nhân (bao gồm các tù không án, có án, học tập cải tạo, bị coi là chính trị phạm hay thường phạm) : cuộc sống trong tù thể hiện ý chí trấn áp, buộc con người phải thần phục, dùng tất cả mọi thủ đoạn, kể cả thủ thuật tâm lý, nhằm tiêu diệt cá tính, nhân phẩm con người của chế độ. Thân phận của họ là bằng chứng về tính chất độc đoán, tàn bạo của nền chuyên chính vô sản Việt Nam.
Hoàn cảnh những thương phế binh "nguỵ" : đây là những người nằm dưới đáy xã hội, vừa chịu số phận của những người tàn tật, vừa bị đối xử như những người thuộc chế độ cũ. Có lẽ thân phận của họ tượng trưng cho số phận hẩm hiu của dân tộc.
Hoàn cảnh những người Việt sống tại các nước thuộc khối Ðông Âu cũ, nhất là tại Nga, đa số thuộc diện đi lao động tại các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Họ sống vật vờ, vất vưởng như môt đám ma chơi. Có lẽ thân phận của họ tượng trưng cho nỗi tủi nhục của dân tộc.
Ý thức được nỗi khổ đau của một kiếp người cũng là một cách để ý thức được quyền sống của con người. Ý thức về quyền sống là cơ sở của ý thức dân chủ.
III.7. Khai phóng con người Việt Nam.
Từ bao đời nay, con người Việt Nam sống trong một mảnh đất nhỏ hẹp, chỉ biết trông chờ "nắng thuận, mưa hoà", ở trong cảnh "đất hẹp, người đông" và "người khôn, của khó", lại thường trực lo chống ngoại xâm. Khi dân tộc các nước phương tây, nhờ sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, nhờ xoá bỏ được thuyết thần quyền và sự thống trị của giai cấp phong kiến và giai tầng giáo sĩ, bắt đầu vươn lên, thì dân tộc ta lại lâm cảnh đô hộ của thực dân. Từ 30-4-1975, có được độc lập, nhưng tự do vẫn là điều mơ ước, thậm chí còn mất đi một số tự do !. Chế độ cung đình xã hội chủ nghĩa còn hà hắc hơn cả các chế độ cũ !. Dân ta vẫn sống trong cảnh lầm than, ăn thì chắt chiu từng miếng thịt, nói thì phải giữ mồm mép, "cúi đầu cam chịu" vẫn là kiếp sống của dân ta !.
Những điều mà dân tộc mong đợi cũng tầm thường, bình thường và cần thiết như không khí để thở, giống như các dân tộc khác mong muốn và đã có rất nhiều dân tộc trên thế giới đạt được: đây là Nhân quyền và Dân quyền, là quyền sống tối thiểu của mỗi con người. Xin nêu lên vài nhận xét về cái bình thường này:
Chừng nào lưu thông trên các thành phố lớn như Sai gòn, Hà nội có trật tự hơn, chừng đó dân ta bắt đầu từ bỏ nếp sống nông nghiệp và chuyển sang đời sống tân tiến, có trình độ tổ chức và tinh thần kỷ luật vậy.
Chừng nào người cầm bút không còn cái ban văn hoá tư tưởng đảng ở trên đầu, chừng đó dân ta có tự do (ngôn luận, tư tưởng) vậy
Chừng nào người bán hàng rong ngoài đường dám mắng vào mặt anh công an gác đường vì vòi vĩnh đòi tiền quà bánh, chừng đó dân tộc ta có quyền sống vậy.
Chừng nào người cầm quyền không còn coi dân chúng như bầy cừu và tự cho mình cái quyền dẫn dắt (theo lối "làm sao cho dân tin, dân theo"), thậm chí đe nẹt và dùng công an trấn áp người bị trị, chừng đó dân tộc ta có dân chủ vậy.
Quyền sống là khởi điểm để khai phóng con người Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để dân tộc vượt qua các thử thách thời đại và vươn lên xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phát triển và hiện đại.
IV. 1. Công nhận các quyền cơ bản của con người, công dân.
Trước tiên, tất nhiên phải công nhận các quyền sống cơ bản của con người đã được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền và Dân Quyền; cũng như các văn kiện cơ bản khác về quyền con người đã được Liên Hiệp Quốc công bố và tuyệt đại đa số các quốc gia đã thừa nhận. Sự công nhận này có nghĩa là phải xoá bỏ các điều mâu thuẫn với các văn kiện này (mà chính quyền này đã thừa nhận) trong Hiến Pháp hiện nay.
IV. 2. Xây dựng quan hệ công ước giữa chính quyền và nhân dân.
Trước đây, trong thời đấu tranh giành độc lập, người cộng sản tự cho mình có quyền dẫn dắt dân tộc trong công cuộc này; sau khi có độc lập và thống nhất, họ vẫn tự cho mình cái quyền lãnh đạo với "vai trò lịch sử" của họ. Tất nhiên, một cá nhân hay một tổ chức đều có quyền mơ ước, tự đặt mục tiêu của mình; nhưng câu hỏi đặt ra là nhân dân có thực sự chấp nhận vai trò của họ không và khi họ không thực hiện được mục tiêu mong muốn của dân tộc thì họ có để cho người khác hay tổ chức khác làm việc này hay không ?
Ðiều này có 3 ý nghĩa căn bản:
1. Trong một xã hội còn nặng tính phong kiến như xã hội Việt Nam, cần xóa bỏ quan niệm vua-dân, ai (hay giòng họ nào) đã làm vua thì họ sẽ làm vua muôn đời hay bị nhân dân lật đổ và phục tùng ông vua mới. Trong hoàn cảnh hiện nay, đảng cộng sản không còn khả năng lãnh đạo nhưng vẫn muốn ngồi lỳ và phải chăng dân tộc cần phải lật đổ họ để có thể thực hiện được mục tiêu mong muốn; với tất cả những hậu quả khó lường: bạo động, nổi dậy, nội chiến ..., giống như thời phong kiến trước đây ?
2. Ðể tránh cái vòng ân oán đầy hận thù và đổ vỡ đã có từ hàng nghìn năm nay, trong tương lai, cần thiết lập một chế độ dân chủ với quan hệ chính quyền - nhân dân dựa trên một kế ước tín nhiệm: người nắm chính quyền là do nhân dân tín nhiệm bầu lên và có cơ chế (dân chủ) để thực hiện quyền chọn lựa này.
3. Từ hai điểm nêu trên, dân tộc ta cần có những chuẩn bị cần thiết để giải quyết vướng mắc hiện tại (trong hoàn cảnh hiện nay, chế độ này chỉ muốn "trụ" được bằng bất cứ giá nào, kể cả dùng bạo lực trấn áp) và xây dựng tương lai thực sự vững chắc. Có rất nhiều chuyện phải làm trong công cuộc vận động dân chủ và xây dựng xã hội dân chủ.
Ngoài quan hệ kế ước (hay công ước) giữa chính quyền và nhân dân như đã trình bày trên, cần định chế hoá các mối quan hệ xã hội khác để có thể giải quyết các khác biệt, tranh chấp trong pháp lý và hoà bình.
IV. 3. Xây dựng "đệ tứ quyền"
Quyền tự do ngôn luận, báo chí là một quyền căn bản của con người, nằm trong quyền tự do tư tưởng (và phổ biến, trao đổi ý kiến của mình). Về mặt xây dựng chế độ dân chủ, tự do ngôn luận, thông tin là một yếu tố xây dựng, bảo vệ dân chủ; báo chí là tai, mắt của nhân dân trong công cuộc chống tham nhũng, lạm quyền, lộng quyền. Trước đây, chính sách "cởi trói" báo chí thời 1986-1987 đã chứng tỏ điều này và cũng vì sợ hại điều này mà chế độ hiện nay xoá bỏ chính sách này, trở lại thời kỳ đen tối, xoá bỏ tự do ngôn luận.
Trong chế độ dân chủ, tư nhân phải có quyền thành lập có các cơ quan ngôn luận (như báo chí, nhà xuất bản, ...) riêng, độc lập với chính quyền và các cơ quan thông tin công cộng (như truyền thanh, truyền hình, ...) phải là tài sản của tất cả mọi người, có nghĩa là độc lập với đảng nắm chính quyền và có sự giám sát của nhiều đảng chính trị khác nhau, các tổ chức xã hội nhằm bảo đảm tính độc lập này.
Thường các cơ quan ngôn luận công và tư cần sự tài trợ của chính quyền (như cô-ta giấy trong ngành báo chí), sự tài trợ này phải được công khai hoá và định chế hoá để chính quyền không thể sử dụng nó làm áp lực.
Tự do báo chí cũng có nghĩa là các cơ quan chính quyền không được ra báo công cộng như loại báo Công An thành phố, vì công an có thể sự dụng nó để tố cáo người dân mà không cần sự xét xử của ngành tư pháp. Ai cho phép họ có quyền tố cáo người khác, thậm chí bới móc đời tư của họ khi chưa có xét xử ?. Loại báo này là điều quái gỡ của chế độ hiện nay.
IV. 4. Xây dựng thể chế dân chủ pháp trị.
Cơ chế chính trị hiện nay là cơ chế hàng dọc kiểu kim tự tháp ở mức độ cao, với đảng lãnh đạo, nhà nước (chính phủ) thực hiện (các quyết định của đảng) và nhân dân làm chủ (về thực tế nói là nhân dân ngồi chửi thì đúng hơn). Với đảng làm nòng cốt, sau đó là guồng máy chính quyền và các tổ chức quần chúng (kể cả các tổ chức tôn giáo quốc doanh) là ngoại vi của đảng (là tai mắt của đảng để kiểm soát toàn bộ nhân dân). Ðể xây dựng thể chế dân chủ, điều trước tiên phải làm là xoá bỏ cơ chế độc tài đảng trị này.
Xây dựng thể chế dân chủ có nghĩa là xây dựng thế đối trọng và cơ cấu phân, chia quyền. Một thể hiện cụ thể của đối trọng là chế độ đa đảng, đảng đối lập có vai trò giám sát và quan trọng hơn là khả năng thay thế đảng nắm chính quyền khi đảng này không thực hiện được các yêu cầu của xã hội. Mục đích của sự phân, chia quyền là làm giảm thiểu khả năng độc quyền của giai tầng, đảng cai trị (vì quyền lực làm ung thối, nói theo người phương tây) với hai nguyên tắc phân quyền (tam quyền phân lập: lập pháp, tư pháp và hành pháp) và tản quyền. Tại các nước dân chủ phương tây, phân quyền đã chứng tỏ hiệu quả của nó. Có nhiều hình thức tản quyền: chia bớt quyền cho chính quyền địa phương, các hình thức "dân chủ trực tiếp" như trưng cầu dân ý, tăng cường vai trò của nhân dân trong việc quản lý, thực hiện một số công việc hay sử dụng các phương tiện hiện đại về thông tin để người dân có những đóng góp trực tiếp hơn, ...; tại một nước có nhiều sắc tộc như Việt Nam cần có các biện pháp nâng đỡ các sắc tộc thiểu số và tạo điều kiện để họ tham gia đời sống chính trị quốc gia.
Riêng về tản quyền, cần xem xét tính khả thi của nó đối với tình trạng hiện nay của đất nước: về trình độ, khả năng của dân tộc (hiện nay rất thiếu người) cũng như các tác dụng có thể xấu của nó (như tình trạng vô chính phủ, xứ quân, ...). Tản quyền là một nguyên tắc tổ chức tốt trong công cuộc dân chủ hoá xã hội nhưng không phải chỉ là sự áp dụng một cách máy móc hay vì sự tốt đẹp lý thuyết của nó mà không xem xét sâu rộng hơn (*8).
Tất nhiên cần có luật pháp làm cơ sở để xây dựng thể chế dân chủ. Ðây là vấn đề pháp lý của dân chủ
Trước đây, những người cầm quyền có quan niệm kỳ quái là các chế độ tư bản có nhiều luật pháp rắc rối vì có quá nhiều mâu thuẫn, đối kháng xã hội; còn chế độ xã hội chủ nghĩa của ta ưu việt, ít mâu thuẫn xã hội, mọi chuyện đã có đảng anh minh giải quyết tất cả và không cần (nhiều) luật lệ làm gì !. Do đó, họ không thấy cần phải có bộ luật hình sự, ngày nay có phần khá hơn tý chút và cách đây vài năm họ mới ì ạch làm bộ luật này. Về mặt lý thuyết, hình thức đã vậy, về mặt thực tế, ngành tư pháp của ta còn tệ hại hơn, không có luật thì tất nhiên muốn giải thích ra sao cũng được, còn có luật thì người thừa hành thiếu khả năng hiểu, áp dụng luật và tất nhiên là mọi chuyện đều do đảng ta quyết định mà thôi, toà án chẳng qua là cái hình thức vậy thôi; hơn nữa còn có các "tội" không thành văn bản và chẳng ai biết định nghĩa ra sao như tội "nói xấu cách mạng", "có ý đồ xấu", ...
Ðể xây dựng nhà nước pháp trị, điều cần xoá bỏ trước tiên là địa vị đứng trên luật pháp của đảng; thể hiện tính bình đẳng trước pháp luật giữa các thành viên (cá nhân, tổ chức) xã hội. Về mặt lý thuyết, cần phải thay đổi, bổ xung Hiến pháp, luật pháp hiện nay trên mọi lãnh vực, từ hình sự tới các luật về kinh tế, xã hội, ... Về mặt tổ chức, phải xây dựng cơ chế tư pháp độc lập với chính trị. Về mặt thực hiện, giải quyết tình trạng thiếu chuyên viên luật pháp, hậu quả của tinh thần chính trị là thống soái và đảng quyết định tất cả.
IV. 5. Xây dựng chế độ bảo hiểm xã hội.
Tại các nước phương tây, về mặt thực tế, chế độ bảo hiểm xã hội mới có từ khoảng thập niên 1930 và từ sau đệ nhị thế chiến mới thực sự phát triển, đạt tới mức độ cao. Ngày nay, tại các nước phát triển khác cũng có chế độ này.
Chế độ bảo hiểm xã hội là nền tảng của xã hội tiến tiến, một Việt Nam hiện đại có nghĩa là xây dựng được cơ chế bảo hiểm xã hội ở mức độ cao.
Trước tiên là nhận thức sâu sắc về vấn đề này. Xã hội Việt Nam hiện nay vẫn là một xã hội cảm tính, với tình cảm xóm làng, người dân dựa vào nhau mà sống. Chế độ chính trị vẫn là một chế độ phong kiến: khi dân thiếu đói, vua (đảng) ban, phát cho dân ít thóc gạo hay giảm thuế cho dân và do đó dân phải đội ơn vua (đảng) !. Nhận thức về bảo hiểm xã hội có nghĩa là nhận thức về quyền sống (về kinh tế) của con người: khi có người ở trong hoàn cảnh khó khăn, họ có quyền đòi hỏi xã hội (có nghĩa là chính quyền) giúp đỡ họ và khi có điều kiện, họ có nghĩa vụ đóng góp cho xã hội (đóng thuế) và họ không cần phải đội ơn một ông vua nào cả !. Bảo hiểm xã hội cũng là một bảo đảm ổn định xã hội, nói theo kiểu Mác là giảm được đấu tranh giai cấp, khiến cho chế độ chính trị thực sự vững chắc (thực sự "trụ" được).
Bảo hiểm xã hội là xây dựng cơ chế bảo hiểm, bao gồm luật lệ, qui chế điều hành và xây dựng các tổ chức, công cộng và tư nhân (các tổ chức từ thiện, hãng bảo hiểm tư, ...). Về nguyên tắc tổ chức, chính quyền có vai trò chủ đạo, điều hành; tư nhân là thứ yếu. Hơn nữa chính quyền thường trực có vai trò phân phối lợi nhuận quốc gia, thông qua chính sách thuế hợp lý, để làm giảm cách biệt giàu, nghèo (một nguyên nhân gây căng thẳng xã hội) và giúp đỡ người gặp khó khăn (người già, trẻ mồ côi, ...); đây là vai trò, nhiệm vụ xã hội của nhà nước. Tóm lại là định chế hoá bảo hiểm xã hội, xã hội Việt Nam sẽ không còn chỉ đơn thuần là một xã hội cảm tính (đặc tính của một xã hội nông nghiệp).
Ðể có được bảo hiểm xã hội, tất nhiên phải có phương tiện và là một công cuộc lâu dài, cần làm từng bước. Một nền kinh tế phát triển mới có khả năng chi trả cho bảo hiểm xã hội. Phát triển kinh tế lại tuỳ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có y tế, giáo dục, chính trị, ... Tóm lại, đây là một tổng thể các vấn đề và phải giải quyết song song, từng bước với sự nhậy cảm, linh động của người làm chính trị. Ðiều này có nghĩa là một chương trình xây dựng đất nước quá cục bộ kiểu "tứ hiện đại" sẽ dẫn đến sự mất cân xứng trong nhiều lãnh vực và cái giá phải trả có thể là rất đắt (bùng nổ xã hội, chính trị và khả năng tan rã nhà nước tập quyền chuyên chính vô sản Trung quốc, có nghĩa là khả năng nội chiến). Ðáng tiếc là ngày nay, đảng Cộng sản Việt Nam, vì một lý do nào đó (cận thị chính trị, truyền thống khấu đầu, ...) chỉ muốn làm cái đuôi của Trung quốc !.
IV. 6. Xây dựng xã hội công dân.
Quan niệm xã hội công dân nẩy sinh trong thời kỳ tư bản tự phát, mục đích giải quyết sự lũng đoạn xã hội của giai tầng thống trị (tư bản), thay thế tình trạng cá lớn nuốt cá bé hoang dại bằng các tổ chức dân sự, vừa đối kháng, vừa chấp nhận lẫn nhau, tạo thế đối trọng và do đó không ai có thể độc đoán được.
Vì lý do lịch sử này, với cách nhìn phe phái, người ta thường cho là quan niệm này là "của" phe tả. Trước đây, trong thời kỳ đổi mới, để giải quyết bế tắc, cũng có người trong đảng nêu lại quan niệm này. Trên thực tế, xã hội công dân cũng là xã hội dân chủ mà thôi; do đó khi họ thấy quan niệm này tất dẫn đến sự xoá bỏ chuyên chính vô sản nên bèn tịt ngòi mà thôi. Quý vị cầm quyền bèn tiếp tục khẩu hiệu "đảng với ta, tuy hai là một" (có nghĩa: tài sản quốc gia là của đảng và đảng là ta !) và "ta với đảng, tuy một là hai" (có nghĩa: khi ta đã có của thì của ta là của ta !).
Trong hoàn cảnh hiện nay, xây dựng xã hội công dân có hai vế:
1. Xây dựng các tổ chức dân sự, bao gồm các đảng chính trị, tổ chức xã hội, tôn giáo, công đoàn, nghiệp đoàn, hội từ thiện, bất vụ lợi, chuyên ngành, chuyên nghề v.v...; tất nhiên đây là các tổ chức độc lập với chính quyền, tự cung (trong trường hợp cần tài trợ, sự tài trợ này phải công khai, vô tư), tự quản. Xây dựng cơ sở pháp lý và cơ chế điều hành, giải quyết các tranh chấp.
2. Xây dựng tinh thần biết bảo vệ tổ chức mình nhưng cũng biết chấp nhận dị biệt và nhất là chấp nhận công lý. Về lý thuyết điều này có vẻ dễ làm vì hầu như ai cũng thấy đây là lẽ phải, trên thực tế, nhất là trong lãnh vực chính trị, với tinh thần phe phái nặng nề của người Việt Nam, ai cũng muốn "chính nghĩa" về mình cả, nên cần có thời gian và các biện pháp thích ứng.
Xã hội công dân là nền tảng của cơ chế chính trị dân chủ, bất cứ một thế lực quân phiệt nào muốn lũng đoạn xã hội cũng sẽ gặp phải phải ứng của xã hội này. Nói theo dân gian, một tổ chức dân sự giống như một chiếc đũa, nhiều tổ chức gộp lại thành bó đũa và trở nên vững chắc, ngay cả lực sĩ cũng khó bẻ gẫy được.
IV. 7. Xây dựng tương lai.
Tất nhiên có được quyền sống, quyền được làm con người (dân sinh) mới có thể nghĩ đến chuyện xây dựng tương lai được (trong khi ngày nay, ở nước ta, không có cả quyền được xét xử; công an muốn bắt ai thì bắt, muốn "làm việc" với ai thì cứ tự tiện, thế thôi !). Ðể thực hiện, bảo đảm quyền sống cần phải có một phương thức tổ chức xã hội (cơ chế dân chủ).
Về mặt cơ chế, tự do ngôn luận (đệ tứ quyền, là tai mắt của nhân dân), thể chế dân chủ (với đối lập và đối trọng, phân quyền và tản quyền) và nhà nước pháp trị (để bảo đảm công lý, không có một thế lực nào đứng trên pháp luật được) tạo thành thế chân vạc, hỗ trợ lẫn nhau trên nền tảng một xã hội công dân (với các tổ chức dân lập, độc lập với chính quyền và sẵn sàng bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi cần) khiến cho chế độ dân chủ rất lành mạnh và vững chắc, ổn định. Ðây chẳng qua chỉ là cơ chế dân chủ ở các nước phương tây được hình thành từ lâu, thông qua quá trình xây dựng tư tưởng (nhân quyền), ý chí chính trị và áp lực xã hội (nhu cầu xã hội và các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi), và cho tới nay đã chứng tỏ sự cần thiết và hiệu quả của nó. (Cần mở ngoặc ở đây là chế độ hiện nay thường rêu rao về cái "ổn định" của họ, cái "ổn định" này chỉ có thể có một trong hai nghĩa: 1) ổn định của nhà mồ trong đó người sống cam chịu và lặng thinh như người chết, 2) ổn định của cái nồi đầy hơi bị (công an) bịt kín mít trước giờ bùng nổ !).
Quyền sống và cơ chế xã hội (bao gồm thể chế chính trị) thực hiện, bảo đảm quyền này là bước đầu trong công cuộc (thực sự) xây dựng đất nước và tương lai dân tộc. Dân chủ hoá là nòng cốt trong việc xác định một chiến lược toàn bộ, nhất quán và lâu dài để xây dựng đất nước với các mục tiêu cơ bản :
1. Người Việt Nam có quyền làm người, có tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Các quyền này được thể chế dân chủ pháp trị thực hiện và bảo đảm.
2. Giảm thiểu các tiêu cực, tệ đoan xã hội hiện nay do chế độ độc tài, cộng sản trị với tinh thần phong kiến nông dân gây ra hay làm trầm trọng hơn như tham nhũng, cửa quyền, tha hoá con người, ... Dân chủ sẽ khiến cho mọi người (không phần biệt quá khứ, thành phần, tôn giáo, chủng tộc, chính kiến - kể cả đảng viên cộng sản, ...) có dịp thi thố tài năng, có vai trò, địa vị đúng với khả năng của họ và không phải dựa vào cơ chế (đảng cộng sản) để ngoi lên mà không cần khả năng nào cả (đúng hơn là chỉ cần "tài" nịnh hót). Tương lai dân tộc tuỳ thuộc vào khả năng và điều kiện phát huy khả năng của người dân Việt chứ không phải là do sự "lãnh đạo" của đảng Cộng Sản với nền chuyên chính của họ !.
3. Dân chủ hoá là nòng cốt trong chiến lược hội nhập với thế giới. Dù muốn dù không, mọi dân tộc đều bị chi phối bởi xu thế toàn cầu hoá (với sự cạnh tranh gay gắt, với các tác động tích cực và tiêu cực) và do đó mỗi dân tộc phải chuẩn bị, tìm ra con đường hội nhập tốt nhất. Hơn nữa trong hoàn cảnh Việt Nam, dân chủ và hội nhập (với điều kiện có một chiến lược hội nhập đúng) là hai yếu tố bảo vệ hoà bình, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, kể cả các hải đảo.
4. Trong vùng Ðông Nam Á, một Việt Nam dân chủ trước Trung quốc sẽ góp phần thúc đẩy trào lưu dân chủ hoá Trung quốc; một Trung quốc dân chủ là yếu tố quan trọng hàng đầu để có hoà bình và thịnh vượng chung cho toàn vùng, liên hệ giữa các quốc gia sẽ dựa trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, thương thảo, vì ích lợi chung và không nước nào bị thiệt thòi quá đáng hay bị trấn áp phải cúi đầu cam chịu nhất thời. Công cuộc dân chủ hoá ở Việt Nam có thể có ý nghĩa chính trị rất lớn trong vùng với tác động gián tiếp trên thế giới !.
Chìa khoá dân chủ hiện nay vẫn còn nằm trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam, mong rằng dân tộc ta không phải tiến hành một cuộc cách mạng mới giành lại chiếc chìa khoá này !. Mong lắm thay !.
Trich tu mang Y Kien - Bruxelles, ngày 23-08-2000
*2 : Trước đó, khoảng 1953, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao, có đợt "chỉnh quân" và đấu tố "địa chủ" nhằm chuẩn bị chuyển từ giai đoạn du kích chiến sang vận động chiến, giải phóng đất nước và chuẩn bị tương lai xây dựng chủ nghĩa xã hội.
*3 : Sau chiến tranh, tại đại đa số các nước, là thời kỳ phục hồi (kinh tế), có nghĩa là tạm để cho nhân dân tự sắp xếp, ổn định đời sống trong khi chính phủ (tiếp tục) chuẩn bị các kế hoạch phục hồi. Ðây là sự thận trọng cần thiết. Thật là rùng mình khi nhìn lại lịch sử Cam-bốt: vừa sau chiến thắng, Khờ-me đỏ tức khắc đốt tiền, di dân (hàng triệu người), thực hiện chính sách khủng bố nhằm tiêu diệt con người cũ còn hơi hám của phong kiến và chủ nghĩa tư bản. Tại Việt Nam, tình hình không đến nỗi như vậy, nhưng chủ trương "tiến nhanh, tiến thẳng, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" là điều đảng cổ vũ và hăng hái buộc nhân dân phải đi theo; sự nóng vội này khiến cho chính sách "nền kinh tế năm thành phần" trong thời kỳ chuyển tiếp hầu như bị lờ đi (làm sao thực hiện nền kinh tế năm thành phần khi đảng tung ra chiến dịch đánh "tư sản mại bản" ?) với hậu quả tất yếu là chỉ trong vòng vài năm nền kinh tế lụn bại (thường phải xin viện trợ Liên Xô và họ cũng thường than thở về cái thùng không đáy Việt Nam) và đi tới chỗ phá sản và buộc đảng phải "đổi mới", với khẩu hiệu "đổi mới hay là chết", mà thực chất chẳng qua chỉ là sự từ bỏ chủ trương "tiến nhanh, tiến thẳng" này và để mặc dân chúng (kể cả cán bộ, đảng viên vì đảng không còn khả năng trả lương cho họ) tự xoay sở !.
*4 : Cần phân biệt chủ thuyết nguyên thuỷ của Khổng tử và sự áp dụng, phát triển chủ thuyết này để xây dựng và bảo vệ nền quân chủ tập trung cao độ ở Trung Hoa, bắt đầu từ triều đại nhà Hán (Lưu Bang); giai cấp phong kiến Trung Hoa tất nhiên sử dụng chủ thuyết này theo hướng có lợi cho họ, từ đó trở thành chủ thuyết của giai cấp phong kiến và sau này trở thành phổ cập, khiến nhiều người ngộ nhận, quên đi ý nghĩa ban đầu. Tư tưởng của đạo Khổng (với Khổng tử, Mạnh tử, ...) không nhất thiết chỉ có tính tiêu cực, phong kiến, phản dân chủ và ngày nay chỉ đáng phủ nhận, vứt bỏ; nhất là đối với những người tha thiết với dân chủ. Chủ thuyết Khổng-Mạnh được đề cập trong bài là chủ thuyết bị chính trị hoá và phong kiến hoá.
*5 : Trong thời kỳ đấu tố, ở miền Bắc, người bị coi là "phú, hào, địa chủ" khi muốn ăn thịt gà thì cũng phải ăn lén, vô ý vứt lông gà vào thùng rác, bị người tố cáo thì thật là vô phúc !. Chính sách đấu tố là một trong những nguyên nhân của sự di cư của khoảng một triệu người miền Bắc năm 1954, có hậu quả là tính chất nội chiến trong cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai rõ nét hơn (trong khi khởi đầu là Cách Mạng Tháng Tám đầy tính dân tộc).
*6 : Trước sự thất bại của chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa tại Liên-Xô, Lê-nin phải đưa ra chính sách này, với một số biện pháp thả lỏng cho tư nhân làm ăn, theo quan điểm chiến lược một bước lùi, hai bước tiến.
*7 : Sau đó, nghe đâu ông bí thư tỉnh uỷ Kim Ngọc bị tố và bị thất sủng và tới thời kỳ "đổi mới", chính sách "cởi trói" kinh tế trong nông nghiệp chẳng qua cũng chỉ là chính sách làm khoán mà thôi !. Cho tới nay, thái độ của đảng vẫn là sự phớt lờ ông này. Vì tinh thần gia trưởng (không chịu chính thức công nhận sai lầm của mình) hay vì lý do nào khác ?.
*8 : Trong chính trị, một lý thuyết tốt đẹp và một diễn tiến xấu ngoài dự tính là điều thường xẩy ra. Xin đưa ra một giả thuyết: để thực hiện dân chủ, tất nhiên cần thực hiện tản quyền, trong trường hợp chính quyền hiện nay sụp đổ, xẩy ra tình trạng hỗn loạn, chính quyền địa phương tan rã, một chính quyền trung ương dân chủ mới được hình thành, chưa / không đủ khả năng tái lập uy quyền; vậy làm sao để thực hiện tản quyền (có nghĩa là thực hiện dân chủ) ?. Do cuộc sống thiên biến vạn hoá, nên cần có nhiều phương án, với các phản đề cần thiết. Ðiều này có nghĩa là không thể chỉ đơn thuần có niềm tin thần thánh về một lý thuyết tốt đẹp nào đó; kinh nghiệm của cả loài người về thiên đường cộng sản vẫn còn trước mắt và quá tai hại để chúng ta phải rút ra những bài học cần thiết (tất nhiên, một thái độ bi quan, ba phải kiểu "tả hay hữu, gì cũng xấu cả" không phải là đúng và chỉ là một thứ chủ nghĩa đầu hàng mà thôi).