Giải Nobel
Hoà bình 1989
Trich
tu Lam Yen Blog - Egil Aarvik - Lâm Yến
dịch - 14-07-2005
Giải Nobel Hoà bình
là một trong sáu giải thưởng mang tên Alfred Nobel được trao tặng trong ngày hôm
nay. Năm trong số đó được trao tại Stockholm. Ủy ban
Nobel Na Uy muốn nhân dịp này gửi lời chúc mừng các vị chủ nhân giải được vinh
danh tại thủ đô Thụy Điển
hôm nay. Lễ trao giải năm nay cũng là một dịp tưởng thưởng đặc biệt cho chúng
ta, những người Na Uy, vì một trong số người nhận là người Na Uy, giáo sư Trygve
Haavelmo, người đã đoạt Giải Nobel về Kinh tế học. Chúng ta hân hoan chúc mừng
ông vì vinh dự này.
Giải Nobel Hoà bình
năm nay được trao cho H.H. Dalai Lama, trước hết vì sự phản đối bền bỉ của ngài
đối với việc sử dụng vũ lực trong cuộc đấu tranh dành tự do cho dân chúng Tây
Tạng.
Từ năm 1959, Dalai Lama, cùng với vài trăm ngàn đồng bào của
ngài, đã sinh sống trong một cộng đồng tỵ nạn có tổ chức ở Ấn Độ. Hẳn nhiên đây
không phải là cộng đồng tỵ nạn đầu tiên trên thế giới, nhưng đây thực sự là cộng
đồng đầu tiên và duy nhất trên thế giới đã không tổ chức phong trào giải phóng
quân sự. Chính sách bất bạo động này đặc biệt gây ấn tượng khi được xem xét cùng
với những khổ nạn mà dân tộc Tây Tạng phải gánh chịu dưới ách thống trị của nước
ngoài. Phản ứng của Dalai Lama luôn là đề đạt một giải pháp hòa bình, mà theo đó sẽ đáp ứng rất nhiều những lợi ích
của Trung Quốc. Sẽ khó chỉ ra một ví dụ lịch sử về đấu tranh của một dân tộc
thiểu số nào khác mà trong đó thái độ hòa giải
với kẻ thù lại được chấp nhận nhiều như trong trường hợp của Dalai Lama. Sẽ là
tự nhiên khi ta muốn so sánh ngài với Thánh nhân Gandhi, một trong những người
cổ vũ mạnh mẽ nhất cho hòa bình trong thế kỷ này, và Dalai Lama muốn coi mình là
một trong những người kế tục Gandhi. Người ta đôi khi tự hỏi tại sao bản thân
Gandhi lại không được trao thưởng Giải Nobel Hòa bình. Ủy ban Nobel hiện nay
cũng chia sẻ nỗi ngạc nhiên đó, và xem Giải Nobel Hoà bình
năm nay một phần dành để tưởng nhớ Thánh nhân Gandhi. Chủ nhân năm nay của giải
còn có thể kỷ niệm một sự kiện đặc biệt khác, vì nay đã là 50 năm kể từ khi ngài
được thành kính tấn phong ngôi vị Dalai Lama thứ 14 của dân tộc Tây Tạng, khi
ngài mới chỉ vừa 4 tuổi. Theo đuổi quá trình chọn lựa dẫn đến việc chọn ra ngài,
sẽ kèm theo việc buộc phải xâm phạm vào cái mà, theo người Tây phương, là terra
incognita (lĩnh vực chưa được nhận thức), nơi tín ngưỡng, ý niệm và hành động
tồn tại trong một chiều tồn tại mà chúng tôi không biết hoặc đơn giản là đã
quên.
Theo truyền thống của Đạo Phật, mỗi vị Dalai Lama mới là hiện thân
của người tiền nhiệm của mình, và khi vị Dalai Lama thứ 13 qua đời năm 1933, một
cuộc kiếm tìm lập tức được thực hiện nhằm tìm ra hiện thân của ngài. Người ta đã
tham vấn các vị tiên tri và các Lạt-ma uyên bác, và đã quan sát các dấu hiệu.
Các đám mây có hình thù kỳ lạ cuốn trôi trên các thiên đường, người chết được
đặt theo tư thế Phật, quay mặt về hướng nam, hai ngày sau được tìm thấy đang
quay mặt về hướng đông. Điều đó minh định rằng cuộc tìm kiếm phải được thực hiện
ở phía đông, và đoàn người bắt đầu khởi hành, đầu tiên là tới một trong các hồ
thiêng của Tây Tạng, nơi tương lai có thể được hé lộ trên mặt nước, một tu viện
được xác định, kèm theo đó là một ngôi nhà với mái lợp màu lam. Đoàn người tiếp
bước và họ tìm thấy tu viện, sau đó là ngôi nhà trong làng của người Takster ở
Đông Tây Tạng. Đó là nhà của một chủ trại nhỏ và gia đình ông, và người ta hỏi
ông xem họ có đứa con nào không. Họ có một con nhỏ 2 tuổi tên là Tenzin Gyatso.
Hàng loạt các hành vi không thể giảng nghĩa được của đứa nhỏ đã thuyết phục đoàn
người rằng họ đã kết thúc cuộc hành trình và rằng vị Dalai Lama thứ 14 đã được
tìm ra.
Cũng giống như nhiều chuyện khác trong lĩnh vực tôn giáo, đây
không phải là thứ chúng ta buộc phải thấu hiểu bằng lý tính: chúng ta đối mặt
với một hiện tượng thuộc về một hiện thực khác với hiện thực của chúng ta, và vì
thế, không nên phản ứng với nó bằng một nỗ lực giải thích duy lý, mà phải bằng
sự kinh ngạc tôn kính.
Trong suốt lịch sử của mình, Tây Tạng luôn là một
đất nước đóng kín, với rất ít quan hệ với thế giới bên ngoài. Điều này đúng ngay
cả trong thời hiện đại và có lẽ đó là lí do tại sao các lãnh tụ của Tây Tạng đã
không nhận ra một sự thừa nhận pháp lý chính thức về Tây Tạng như một nhà nước
tự trị là rất quan trọng. Đến lượt nó, điều này lại có thể là một trong các lý
do tại sao thế giới bên ngoài không cảm nhận được trách nhiệm phải giúp đỡ Tây
Tạng, khi đất nước này vào năm 1950 và các năm sau đó, dần dần bị đô hộ bởi
Trung Quốc-đất nước mà ngược lại với người Tây Tạng- tuyên bố rằng Tây Tạng luôn
là một phần của Trung Quốc. Bằng việc xâm lược của mình, Trung Quốc đã, theo kết
luận của Ủy ban Luật gia Quốc tế, phạm vào “tội ác nguy hiểm nhất mà một cá nhân
hay một quốc gia có thể phạm phải, đó là, cố ý hủy diệt cả một dân
tộc”.
Trong lúc đó, Tenzin Gyatso đã được 16 tuổi, và trong tình hình
hiểm nguy như vậy đang đặt ra, ngài đã bắt buộc phải đóng vai trò lãnh tụ chính
trị của dân tộc mình. Trước đó, đất nước ngài vẫn được cai trị bởi các quan
nhiếp chính nhân danh ngài. Ngài phải thu hồi lại quyền lực gắn với danh hiệu
Dalai Lama, một đứa trẻ ở tuổi 16, không có kinh nghiệm chính trị, và không được
hưởng sự giáo dục nào khác ngoài kiến thức Phật giáo, cái mà ngài đã hấp thu qua
nhiều năm tháng dưỡng dục. Cuốn tự truyện Cuộc đời tôi và Dân tộc tôi đã cho
chúng ta thấy một cách sinh động quá trình tu tập của ngài dưới sự chỉ dẫn của
các vị Lạt-ma Tây Tạng, và ngài khẳng định rằng những gì ngài được học không
phải là sự chuẩn bị cho nghề nghiệp được định sẵn của ngài, nhất là không phải
cho phần chính trị trong nghề nghiệp đó. Trên nền tảng Phật học, hiện nay ngài
đã hình thành chính sách bất bạo động và dùng nó làm công cụ đấu tranh với những
kẻ xâm lược Trung Quốc. Là một tu sĩ Phật giáo, trách nhiệm của ngài là không
bao giờ gây hại cho một sinh linh nào, mà luôn có tình thương đối với mọi loài.
Có lẽ không cần phải ngạc nhiên gì về việc những người quá gắn bó với cái họ gọi
là thế giới hiện thực cần phải xem xét triết lý của ngài một cách khác hẳn với
những tính toán thông thường về chiến lược quân sự.
Hẳn nhiên là chính
sách bất bạo động cũng dựa trên những tính toán thực dụng: một dân tộc với
khoảng 6 triệu linh hồn, không có một lực lượng quân sự nào, phải đối chọi với một trong những siêu cường quân sự thế giới.
Trong tình huống như thế, cách tiếp cận bất bạo động, theo Dalai Lama, là cách
thực tế duy nhất.
Theo cách này, ngài đã có nhiều nỗ lực trong suốt những
năm 1950 nhằm thương thuyết với người Trung Quốc. Mục đích của ngài là đạt đến
một giải pháp cho cuộc xung đột theo hướng có thể chấp nhận được cho cả hai bên,
dựa trên việc tôn trọng và cùng chịu đựng lẫn nhau. Để đạt được điều này, ngài
đã sử dụng toàn bộ quyền lực của một Dalai Lama để ngăn chặn việc sử dụng bất kì
hình thức vũ lực nào từ phía người Tây Tạng; và quyền lực của ngài tỏ ra có tính
quy định, vì với tư cách là một Dalai Lama, theo tín ngưỡng của Phật giáo, không
chỉ là một lãnh đạo theo nghĩa tầm thường: ngài là biểu tượng cho cả một dân
tộc. Chính bản thân ngài được thấm đẫm những phẩm chất của thánh thần. Sự thấm
đẫm này hiển nhiên là nguyên nhân lý giải tại sao thần dân của ngài, mặc cho bị
sỉ nhục và khiêu khích đến tột độ, vẫn giữ được một mức tuân phục cao như vậy
với ý nguyện của ngài và kiềm chế không sử dụng bạo lực.
Từ nơi tị nạn
của ngài tại Ấn Độ, Dalai Lama đang tiến hành cuộc đấu tranh phi vũ trang cho
dân tộc ngài với một sự kiên nhẫn không mệt mỏi. Ngài có đầy đủ quyền hợp lý để
đặt tên cuốn tự truyện của ngài là Cuộc đời tôi và Dân tộc tôi, vì cuộc sống của
người Tây Tạng thực tế cũng là cuộc sống của ngài. Nhưng sự ủng hộ chính trị từ
thế giới bên ngoài vẫn thiếu vắng trong khi cần phải có mặt, ngoại trừ một vài
nghị quyết chẳng có chút hiệu lực nào của UN vào những năm 1961 và 1965. Trong
suốt những năm của thập kỷ 1960, 1970, Dalai Lama bị coi là một nhân vật bệnh
hoạn của quá khứ xa xôi: các triết lý tuyệt đẹp và đầy ý nghĩa của ngài về hòa
bình, rất không may, lại không có chỗ đáp ứng trong thế giới [hiện
đại-ND].
Nhưng trong dòng chảy lịch sử những năm 1980, mọi chuyện đã có
chuyển biến sâu sắc. Có nhiều lý do cho sự chuyển biến này. Những gì đã và đang
diễn ra ở Tây Tạng đã được nhiều người biết tới, và cộng đồng các dân tộc đã bắt
đầu cảm nhận được trách nhiệm chung cho tương lai của người Tây Tạng. Rằng nỗi
gian nan và khổ cực mà họ phải gánh chịu đã không đánh bại được tinh thần của
người Tây Tạng là một lý do khác; ngược lại, cảm nhận của họ về niềm tự hào và
bản sắc dân tộc, cùng với quyết tâm tồn tại của họ đã được củng cố, và biểu hiện
qua những cuộc biểu tình khổng lồ. Ngay tại đây, cũng như ở các phần khác của
thế giới, người ta ngày càng hiểu rõ rằng các vấn đề không thể được giải quyết
thông qua việc sử dụng sức mạnh quân sự tàn bạo để nghiền nát các cuộc biểu
tình. Ở Tây Tạng, cũng như các nơi khác, xung đột phải được giải quyết bằng
chính trị thông qua con đường đàm phán trung thực.
Chính sách đàm phán
của Dalai Lama đã nhận được sự hậu thuẫn của nhiều quốc hội ở các nước, và của
một số tổ chức quốc tế, ví dụ như Thượng nghị viện Hoa Kỳ, Bundestag (Hạ viện)
Tây Đức, Nghị viện Châu Âu, 86 nghị sĩ Australia, Hạ viện Mỹ, Quốc hội Thụy Sỹ.
Chúng ta cũng không được quên rằng Dalai Lama cũng là người nhận hàng loạt các
giải thưởng và sự tôn vinh của quốc tế cho hoạt động của ngài và ủng hộ sự
nghiệp của ngài. Có vẻ như hiện nay mọi chuyện đang đi đúng hướng, và những gì
đạt được về mặt này hoàn toàn thuộc về chính sách nhất quán của Dalai Lama về
bất bạo động.
Vì những lý do hoàn toàn dễ hiểu, chính sách bất bạo động
thường được nhắc tới như là một yếu tố tiêu cực, như thể là một thất bại trong
việc thiết lập một chính sách tốt, như một sự thiếu vắng các sáng kiến và một
khuynh hướng lẩn trốn vấn đề và chấp nhận thái độ thụ động. Nhưng nó không phải
vậy: chính sách bất bạo động là một chiến lược đấu tranh được suy tính kỹ lưỡng
ở tầm cao, nó đòi hỏi một hành vi chuyên tâm và đầy mục đích, và là hành vi
không viện đến việc sử dụng bạo lực. Người chấp nhận chiến lược này hoàn toàn
không phải là người chùn
bước: họ thể hiện sự dũng cảm đạo
đức, mà khi được nói ra và được thực hiện, sẽ vượt xa [sự dũng cảm, nếu có, của]
những kẻ viện đến nòng súng. Chính là sự dũng cảm này, cùng với mức độ kỷ luật
tự giác phi thường, đã được thể hiện trong thái độ của Dalai Lama. Chính sách
bất bạo động của ngài cũng được tính toán và quyết định một cách kỹ lưỡng. Như
ngài đã từng nói vào hồi tháng Tư năm ngoái, sau sự cố lực lượng quân đội xả
súng bắn vào một cuộc tuần hành hoà bình
tại Lhasa: “Như tôi đã từng giải thích nhiều lần, bất bạo động đối với chúng ta
là con đường duy nhất. Khá rõ ràng là trong trường hợp của chúng ta, bạo động
cũng có nghĩa là tự sát. Vì lý do này, dù chúng ta có muốn hay không, bất bạo
động vẫn là con đường duy nhất, và là con đường đúng đắn. Cái chúng ta cần là
kiên nhẫn hơn và kiên định hơn”.
Năm 1987, Dalai Lama đệ trình kế hoạch
hòa bình cho Tây Tạng. Nội dung chính của nó là đòi cấp cho Tây Tạng quy chế
“vùng hòa bình” giống như những gì đã được đề xuất cho Nepal, một đề xuất mà
Trung Quốc trên thực tế đã công nhận. Kế hoạch này cũng tiên liệu chấm dứt việc
di cư của người Trung Quốc tới Tây Tạng. Quá trình di cư này đã được tiến hành
với quy mô lớn tới mức người Tây Tạng gặp phải nguy cơ trở thành thiểu số ngay
trên đất nước mình. Thú vị không kém là kế hoạch này cũng đề cập đến các giải
pháp bảo tồn môi trường tự nhiên độc đáo của Tây Tạng. Các hoạt động khai thác
gỗ quy mô lớn trong các cánh rừng dọc các sườn núi của dãy Himalayas đã dẫn tới
tình trạng xói
mòn đất thảm khốc, và là một trong
những nguyên nhân dẫn tới thảm họa lương thực cho người Ấn Độ và Bangladesh. Kế
hoạch hòa bình không khởi xướng được một cuộc đàm phán nào với Trung Quốc, mặc
dù sự khác biệt giữa hai bên không đặc biệt sâu sắc.
Thiện ý muốn thỏa
hiệp của Dalai Lama còn được thể hiện đặc biệt rõ trong bài phát biểu của ngài
trước Nghị viện Âu châu vào ngày 15 tháng Năm năm ngoái, nơi ngài đã tuyên bố
sẵn sàng từ bỏ yêu sách đòi độc lập hoàn toàn cho Tây Tạng. Ngài thừa nhận rằng
Trung Quốc, với tư cách là một siêu cường châu Á, có những lợi ích chiến lược ở
Tây Tạng, và đã chuẩn bị để chấp nhận sự hiện diện quân sự của Trung Quốc với
bất kỳ cơ số nào cho đến khi kế hoạch hòa bình khu vực có thể được chấp thuận.
Ngài cũng bày tỏ tâm nguyện trao cho Trung Quốc quyền thực hành chính sách ngoại
giao và quốc phòng. Đổi lại, người Tây Tạng phải được hưởng trọn vẹn quyền tự
trị nội bộ. Trong các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, Dalai Lama đã chỉ ra rằng những
gì ngài muốn đạt được không phải là quyền lực dựa trên sự trả giá của người
khác. Ngài đòi hỏi cho thần dân của mình không nhiều hơn những gì mà những người
khác -hẳn nhiên phải kể cả người Trung Quốc- thừa nhận như là những quyền con
người căn bản. Trong một thế giới nơi nghi kỵ và hằn thù từ lâu đã là đặc trưng
trong quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia, và nơi chính sách duy nhất mang tính
thực tế vẫn là dựa vào sử dụng sức mạnh, một tuyên thệ về đức tin đang xuất
hiện. Đó là: giải pháp thiếu hiện thực nhất trong tất cả các giải pháp cho vấn
đề xung đột là việc sử dụng bạo lực thường xuyên. Vũ khí hiện đại trên thực tế
đã loại bỏ những giải pháp như thế.
Thế giới đã co bé lại. Các dân tộc và
quốc gia ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Không ai còn có thể chỉ chạy theo
lợi ích vị kỷ. Vì thế, bắt buộc chúng ta phải chấp nhận trách nhiệm chung về tất
cả các vấn đề kinh tế, chính trị, và sinh thái.
Trong cách nhìn này, ngày
càng ít người dám quay lưng lại với triết lý của Dalai Lama và coi đó là không
tưởng: ngược lại, người ta ngày càng cảm thấy đúng khi nói rằng cuốn phúc âm về
bất bạo động của ngài thực sự là bám rễ trong hiện thực, và là hi vọng to lớn
nhất cho tương lai. Và nó không chỉ áp dụng cho Tây Tạng mà còn cho bất cứ cuộc
xung đột nào khác. Niềm hi vọng tương lai của hàng triệu người bị đàn áp ngày
hôm nay được kết nối để trở thành đoàn hùng binh không sử dụng vũ khí, vì tâm
nguyện của họ sẽ chiến thắng và dành lấy hòa bình: hơn thế, sự công bằng trong
các đòi hỏi của họ đã trở nên quá rõ ràng và sức mạnh bình thường của cuộc đấu
tranh ấy đã trở nên bất khuất tới mức việc sử dụng vũ lực cùng lắm chỉ tạm dừng
bước họ trong chốc lát mà thôi.
Bằng việc trao thưởng Giải Nobel Hòa bình
cho Dalai Lama, chúng ta khẳng định sự ủng hộ không mệt mỏi của chúng ta cho
công việc vì
hòa bình của ngài, và cho quần chúng
phi vũ trang ở nhiều nơi đang tuần hành vì tự do, hòa bình và phẩm giá con
người.
Nguồn: http://nobelprize.org/peace/laureates/1989/presentation-speech.html
Duy Tân Trẻ giữ bản quyền bản dịch tiếng
Việt