Lam Yen Blog - Khải Minh, Lâm
Yến - 31-07-2005
Để tìm hiểu nguyên nhân đằng sau những
hạn chế của “phong trào” bất đồng chính kiến Việt Nam hiện nay (đã nêu trong
tiểu luận số 1), chúng tôi sẽ sử dụng một số khái niệm và mô hình thông dụng
trong các nghiên cứu về bất đồng chính kiến và chuyển đổi dân chủ ở các chế độ
hậu toàn trị. Chúng tôi cố gắng chỉ giới thiệu những khái niệm thật cần thiết
nhằm không làm loãng mục đích chính của tiểu luận: đó là các khái niệm không
gian công, không gian công toàn trị và nguyên tử hoá. Ngoài ra, chúng tôi cũng
đưa ra hai khái niệm mới là ly khai từ bên trên và đối lập từ bên dưới (tiểu
luận số 3).
Tiểu luận số 2 sẽ đặc biệt đề cập đến nội dung của khái niệm
không gian công; phân tích sự hình thành và quá trình thăng giáng của nó trong
lịch sử Việt Nam hiện đại. Chúng tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng không gian công
ở Việt Nam bắt đầu hình thành từ đầu thế kỉ 20, bị toàn trị hoá ở miền Bắc kể từ
1956 và ở miền Nam từ 1975. Từ 1975 đến cuối thập kỉ 80, chỉ còn tồn tại không
gian công toàn trị. Không gian công phi chính thống (đối lập với không gian công
toàn trị) bắt đầu xuất hiện từ cuối thập kỉ 80 trở đi.
Định nghĩa
không gian công
Trong mọi xã hội, đời sống tinh thần cá nhân bao
gồm hai mảng là đời sống riêng tư (cá nhân) và đời sống công cộng (xã hội). Mỗi
mảng đời sống này tồn tại trong một dung môi được các học giả phương Tây gọi là
sphere (không gian). Không gian tư (private sphere) là dung môi cho đời sống
riêng tư như gia đình, công sở, các nhóm bạn nhậu, các câu lạc bộ thể thao,
khiêu vũ v.v. Không gian công (public sphere) là dung môi cho đời sống công cộng
của cá nhân.
Khái niệm không gian công đặc biệt quan trọng trong lý
thuyết chính trị chuyển đổi, là một khái niệm nền tảng để giải thích rất nhiều
hiện tượng trong chuyển đổi dân chủ. Người đầu tiên định nghĩa không gian công
là Habermas. Theo ông [1] , không gian công là:
“…một lĩnh vực
của đời sống xã hội trong đó những gì [tư tưởng, phát biểu, hành động] hướng vào
dư luận xã hội (public opinion) đều có thể được hình thành. Cơ hội tiếp cận vào
không gian này được mở cho mọi công dân. Một bộ phận của không gian công thành
hình trong thảo luận (conversation), mà trong đó các cá nhân riêng lẻ tập hợp
lại để hợp thành một cơ thể công cộng (public body).”
Như thế, theo
ông, không gian công là một môi trường cho phép tất cả những hình thức thông tin
và đối thoại giữa con người với nhau và có tính hướng công cộng (các trao đổi
giữa các cá nhân riêng lẻ và trong những nhóm đóng kín không thuộc về cái không
gian công này). Những ví dụ tiêu biểu của không gian công là truyền thông, gồm
báo chí (báo in, phát thanh, truyền hình) và xuất bản - gồm cả hợp pháp và không
hợp pháp, các hành động tập thể hướng công luận như mít tinh, biểu tình, các
diễn đàn, các vũ đài chính trị mở v.v. Một không gian công lành mạnh, theo
Habermas, phụ thuộc vào khả năng truy cập các thông tin thích hợp liên quan đến
các hoạt động của chính phủ và cơ hội cho các công dân được tham dự vào tranh
luận để hình thành công luận (public opinion) và ảnh hưởng tới hành vi của chính
phủ.
Nguyên tử hóa xã hội là hiện tượng các cá nhân trong xã hội
bị chia cắt và cô lập, mất năng lực tự do liên kết để trao đổi và thông tin do
bị khủng bố hay tẩy não.
Trong các xã hội tự do, các ý kiến khác biệt
không bị đàn áp, và vì thế chúng tự do lưu chuyển, tương tác với nhau trong một
không gian công thống nhất trên toàn xã hội. Trong xã hội toàn trị, không gian
công bị phân chia thành không gian công toàn trị hay không gian công chính thống
(hợp pháp, do nhà nước kiểm soát, là công cụ của ý thức hệ) và một không gian
phi chính thống (hay không gian công thứ hai) - xuất phát từ xã hội và không phụ
thuộc vào ý thức hệ - là kết quả từ sự phản ứng của xã hội trước việc nhà nước
kiểm soát không gian công chính thống.
Không gian công ở Việt
Nam trước giai đoạn toàn trị hoá
Cùng với sự du nhập của kĩ
thuật in ấn, truyền thông (bưu chính, điện tín v.v.) và đi kèm với chúng là các
hình thức tổ chức xã hội mới (hội đoàn, báo chí, các buổi mít tinh, diễn thuyết
v.v.), không gian công trong xã hội Việt Nam đầu thế kỉ 20 hình thành, bắt đầu
từ các đô thị lớn. (Trước thế kỉ 19, không gian công ở Việt Nam hầu như không
tồn tại vì thiếu cơ sở kĩ thuật cho việc thông tin và đối thoại công cộng giữa
dân chúng. Người dân bị chia cắt trong các làng xã cổ truyền biệt lập). Nó phản
ánh nhu cầu của một dân tộc đang cố gắng xác định bản sắc của mình sau khi mất
chủ quyền, trong một thế giới hiện đại không chỉ còn có Trung Hoa.
Bất
chấp sự kiểm soát lúc gắt gao lúc nới lỏng của người Pháp, không gian công ở
Việt Nam lớn mạnh không ngừng, mở rộng tới nhiều tầng lớp dân cư, nhiều lúc
thách thức trực tiếp chính quyền bảo hộ. Các hội đoàn nhằm mục đích trao đổi và
truyền bá tư tưởng (như phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục v.v.) hình
thành từ rất sớm. Cho đến những năm 40, báo chí và xuất bản tiếng Việt dùng chữ
quốc ngữ liên tục phát triển. Theo DeFrancis, từ khoảng 35 tờ báo tiếng Việt năm
1925, cho đến năm 1930 lên đến 75 tờ, và bùng nổ sau đó, tới vài trăm tờ. Tổng
số báo phát hành bằng tiếng Việt ở Đông Dương trong giai đoạn thuộc địa lên tới
490 tờ. [2]
Không gian công này không chỉ cho phép giới tinh hoa có học
trao đổi với nhau để hình thành những tư tưởng và hệ giá trị chung, mà còn cho
phép họ hướng đến quần chúng. Nhiều cuộc vận động văn hoá và chính trị theo
nhiều khuynh hướng khác nhau đã chuẩn bị nền móng cho một xã hội Việt Nam hiện
đại. Đã xuất hiện một loại quyền lực mới chưa từng có trong xã hội phong kiến:
quyền lực từ không gian công. Trong không gian công này, những nhân vật có uy
tín như Phan Chu Trinh, Phan Văn Hùm, Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Nhất Linh, Hoàng
Đạo, và các tờ báo lớn như Phong Hoá, Nam Phong, Thanh Nghị, Ngày Nay, các phong
trào như Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Truyền bá Quốc ngữ, Mặt trận Bình dân
v.v. có những ảnh hưởng xã hội rất đáng kể. Nhiều tư tưởng cách mạng xã hội được
phát triển, lưu giữ và lan truyền trong không gian công, và thi thoảng lại bùng
lên thành những hành động xã hội. (Chẳng hạn, phong trào Xin xâu Kháng thuế ở
Trung Kì năm 1908, thường được coi là kết quả của cuộc vận động Duy Tân). Các
lãnh tụ cộng sản Việt Nam hiểu rõ ảnh hưởng của không gian công mới hình thành ở
Việt Nam, nên họ cũng hết sức chú trọng đến việc lợi dụng sức mạnh của nó: xuất
bản các tờ báo có khuynh hướng cộng sản từ rất sớm. Tờ Thanh Niên do Thanh niên
Cách mạng Đồng chí Hội thành lập (ngày 21 tháng Sáu 1925-sau này được chọn là
ngày Báo chí Việt Nam [3] ), tổ chức các hội đoàn chính trị và dân sự, khơi dậy
nhiều cuộc biểu tình, bãi công v.v.
Từ 1954 đến 1975 ở miền Nam, dù dưới
một chế độ không dân chủ [4] , không gian công cũ tiếp tục phát triển nhờ sự đa
nguyên trong xã hội. Các phong trào xã hội và chính trị rộng lớn (chống độc tài
gia đình trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm (1963),chống đàn áp Phật giáo (1963,
1966) [5] , sinh viên phản chiến, phong trào Nhân dân chống tham nhũng (1974),
v.v.) trong không gian công này nhiều lúc làm rung chuyển chế độ. Và một lần
nữa, những người cộng sản lại lợi dụng triệt để không gian công này vì mục đích
của mình.
Thủ tiêu không gian công, nguyên tử hoá xã hội và
thiết lập không gian công toàn trị
Sau khi Đảng Cộng sản củng
cố được quyền lực của mình đủ để áp đặt chế độ toàn trị lên miền Bắc, thì họ
tiến hành thủ tiêu không gian công cũ bằng hàng loạt biện pháp thẳng tay. Nhà
nước toàn trị thực hiện việc này qua những đợt “phóng tay vận động quần chúng”.
Các tổ chức độc lập theo khuynh hướng không cộng sản hoặc bị giải tán, khủng bố
hoặc sáp nhập vào các tổ chức do Đảng hậu thuẫn ngay trong thời kì 1945-1946 [6]
. Các đợt chỉnh huấn từ năm 1950 áp đặt ý thức hệ toàn trị lên tầng lớp trí thức
trong bộ máy công quyền vốn theo kháng chiến vì lòng yêu nước [7] . Vụ Nhân
văn-Giai phẩm là sự thanh trừng khuynh hướng đòi thoát li khỏi không gian công
toàn trị của các văn nghệ sỹ [8] . Báo chí độc lập bị thủ tiêu trên toàn miền
Bắc.
Sau năm 1975, kịch bản cũ lại lặp lại. Không gian công tương đối cởi
mở ở miền Nam bị quét sạch trong thời gian ngắn, với những biện pháp thẳng tay
hơn nhiều và với quy mô to lớn hơn nhiều. Các tổ chức và phong trào chính trị,
xã hội và tôn giáo có ảnh hưởng đều bị cấm, các lãnh tụ của họ đều bị giam chặt
trong các trại cải tạo nhiều năm trời [9] . Không chỉ báo chí, mà phần lớn các
di sản sách, băng đĩa nhạc của miền Nam bị đấu, đốt, cấm [10] . Đến đây, không
gian công cũ/phi toàn trị được bồi đắp từ đầu thế kỉ 20 chấm dứt sự tồn tại của
mình trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Đi xa hơn các nhà nước độc tài,
trong các xã hội toàn trị [11] , nhà nước luôn tìm cách nguyên tử hoá (atomize)
xã hội, tức là sử dụng các biện pháp nhằm triệt tiêu cơ hội tự do giao tiếp/trao
đổi thông tin và chính kiến giữa người với người mà không nằm trong các kênh mà
nhà nước định trước. Trong một xã hội bị nguyên tử hoá triệt để, các cá nhân
trong xã hội, khiếp sợ và tê liệt trước khả năng bị chế độ khủng bố, trở nên
nghi ngờ lẫn nhau. Họ chủ động rút lui khỏi đời sống công cộng để quay về với
cái không gian riêng tư an toàn của mình, trên các trang nhật ký/tự truyện viết
lén lút, hoặc rộng hơn thì giữa các thành viên trong gia đình và trong vòng bè
bạn thân cận.
Đối tượng tấn công đầu tiên của chính sách nguyên tử hóa là
giới trí thức tinh hoa. Từ 1956 sau khi đập tan các tờ báo Nhân văn và Giai phẩm
- cuộc gắng gượng cuối cùng của không gian công cũ, bộ máy nhà nước-đảng ở Việt
Nam không dừng lại ở đó. Nó tiếp tục tấn công vào các nhóm văn nghệ sỹ độc lập
nhằm buộc họ tự nguyện phục tùng ý thức hệ. Một chiến dịch cải tạo trí thức được
tổ chức vào tháng Một năm 1958 cho gần 500 nhà văn và nghệ sỹ. Trong tháng Ba và
tháng Tư năm đó, lại có một đợt học tập cho 304 nhà văn, nhà thơ và các cán bộ
văn hoá. Kết quả là tất cả 304 người này phải kí một bức thư ngày 14 tháng Tư
gửi cho Đảng Lao động, chấp nhận các nguyên tắc của cuộc cải tạo trí thức. Tháng
Bảy cùng năm, 58 trong tổng số 92 thành viên của Hội Văn học Nghệ thuật phải đi
“thực tế”. [12] Các trí thức bị chia rẽ, buộc tội lẫn nhau. Những người cứng đầu
nhất hoặc bị giam cầm, hoặc bị cô lập và phải im tiếng trong nhiều thập kỉ (như
trường hợp của Đào Duy Anh, Văn Cao, Lê Đạt, Trần Dần v.v.). Trần Dần, một nạn
nhân của nguyên tử hóa, viết về những trí thức đã từng cùng ông lên tiếng trong
phong trào Nhân văn Giai phẩm:
„Một ngón tay Nhân văn cũng không
có! Non năm nay họ đã nằm ẹp cả xuống, vắt tay lên trán, suy nghĩ như các nhà
hiền triết cả rồi. Họ còn cái khao khát chiến thắng của những người tiến bộ nữa
đâu? ... Họ tự coi họ bất lực, ngay mỗi việc chống đỡ những miếng cắn của thành
kiến vẫn liên tục cắn họ vô cớ, họ cũng đã thấy bất lực, nên chỉ đành thúc thủ,
nằm ì ra, cho cắn chán đi thì ắt phải thôi! Tóm lại, cái lực lượng Nhân văn quý
báu và ghê gớm kia, họ đang tranh nhau đi vào con đường cầu an...“ [13]
.
Nguyên tử hóa cũng diễn ra trong các tầng lớp dân chúng. Các quan
hệ xã hội truyền thống (quan hệ láng giềng, họ hàng, bạn bè) bị huỷ diệt bởi các
cuộc “đánh”, “đấu tố”, trong đó một bộ phận dân chúng bị lợi dụng để chống lại
một bộ phận khác theo mô hình vận động chính trị quần chúng của Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Tiêu biểu là cuộc cải cách ruộng đất vào năm 1953 (giai đoạn thử
nghiệm) và lên tới cao trào từ năm 1955 đến tháng Mười năm 1956 đã gây ra những
xáo trộn chưa từng có trong đời sống nông thôn Việt Nam [14] . Cấu trúc xã hội
của làng xã truyền thống cũng bị phá huỷ do cuộc cải cách ruộng đất - trong đó
một bộ phận của dân chúng bị sử dụng để đánh lại một bộ phận khác [15] . (Lưu ý
rằng các lãnh tụ cộng sản luôn khẳng định cuộc cải cách ruộng đất không đơn
thuần nhằm mục tiêu phân phối lại ruộng đất cho dân nghèo - như những cuộc cải
cách ruộng đất được thực hiện ở các nước khác, mà còn nhằm mục tiêu chính trị -
là áp đặt tư tưởng toàn trị lên các cộng đồng cổ truyền).
Như thế, chế độ
toàn trị sau khi đã xoá bỏ cái không gian công làm dung môi cho các trao đổi tri
thức và quan điểm của xã hội, lại tiếp tục tiến hành nguyên tử hoá xã hội, làm
cho mạng lưới xã hội cũ bị băm nát thành các nguyên tử rời rạc và trở nên dễ cai
trị.
Thế chỗ cho cái không gian công đã bị diệt vong, nhà nước toàn trị
lập nên một không gian công toàn trị - thông qua việc thiết lập và tài trợ cho
các đoàn thể, tổ chức, mặt trận, báo chí và các phương tiện truyền thông được
nhà nước bao cấp cả về tư tưởng, tài chính và nguồn lực - trong đó, mọi trao
đổi, mọi hành vi công cộng đều được nhà nước nhào nặn, kiểm soát và dàn dựng,
phục vụ cho ý thức hệ và các mục tiêu của chế độ cộng sản. Trong dung môi do chế
độ điều chế ra được gọi là không gian công toàn trị này, các cá nhân chỉ là
những nguyên tử rời rạc trôi nổi vô định trong những kênh vạch sẵn, mất khả năng
tự liên kết với nhau.
Để phục vụ mục tiêu truyền bá ý thức hệ và vận động
quần chúng vào các hoạt động tập thể mà chế độ mong muốn, nhà nước toàn trị đã
lập ra hàng loạt các “tổ chức chính trị xã hội”. Các “tổ chức chính trị xã hội”
này đều nằm trong vòng kiểm soát của bộ máy Nhà nước -Đảng, hoặc chỉ đơn giản là
công cụ của nó, phụ thuộc hoàn toàn vào nó. (Chẳng hạn, các hội nghề nghiệp như
Hội Nhà văn, hay các tổ chức “xã hội” như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Cựu chiến binh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đều được tài trợ bởi ngân
sách, và nhân viên trong các tổ chức này được coi là viên chức hưởng lương).
Theo Abuza, cho đến năm 1990, có tới 124 tổ chức quần chúng cấp trung ương và
hơn 200 tổ chức cấp tỉnh và địa phương. Bốn tổ chức lớn nhất là Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam với 3.3 triệu thành viên vào năm 1989, Hội Nông dân Việt Nam
với 7 triệu thành viên và 10.000 chi hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
với các chi đoàn ở tất cả các trường học, và Hội Phụ nữ Việt Nam. Cho tới nay, ở
Việt Nam đã có hơn 600 tờ báo (viết, nói, hình) hợp pháp, nhưng tất cả đều thuộc
sở hữu của nhà nước với người chủ quản là một cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước -
Đảng.
Sự vắng mặt của không gian công phi chính thống thời kỳ
trước thập kỷ 90
Đời sống bị nguyên tử hoá trong xã hội toàn trị
là một bệnh thái bất thường trong đời sống xã hội. Nó tước bỏ đi nhu cầu tự
nhiên của con người, như nhu cầu bày tỏ, thông tin và tự do giao kết mà mọi xã
hội trước toàn trị đều có. Vì thế, phản ứng - cũng mang tính tự nhiên - của xã
hội thường diễn ra dưới hình thức cố gắng tái liên kết với nhau. Các nguyên tử
bị cô lập trôi nổi trong dung môi không gian công toàn trị, qua những va đập
ngẫu nhiên, sẽ tìm cách hình thành các lưới liên kết ngày càng trở nên rộng và
vững chắc hơn. Lưới liên kết ấy bao gồm các hoạt động độc lập, các mạng lưới,
các nhóm, tổ chức, hội đoàn tự hình thành từ bên dưới (không được nhà nước “cấp
phép”, nhưng nhà nước có thể “công nhận” như trường hợp ở Ba Lan nửa sau thập kỷ
1980), các diễn đàn, báo chí, các hoạt động xuất bản ngầm. Kết quả là cho ra đời
cái gọi là không gian công thứ hai, hay không gian công phi chính thống - là
không gian dành cho các hoạt động thông tin và thảo luận được hình thành từ bên
dưới, tức là từ sự vận động của xã hội, không bị nhà nước kiểm soát và chi phối
(mặc dù có thể bị chế độ đàn áp và tìm cách bóp chết).
Trong thời kỳ cực
thịnh của chủ nghĩa toàn trị ở Liên Xô và Đông Âu (thí dụ dưới thời kỳ cai trị
của chủ nghĩa Stalin), không gian công chính thống gần như là cái duy nhất tồn
tại. Các cá nhân muốn bảo vệ giá trị/niềm tin của mình chỉ còn cách rút lui về
đời sống cá nhân thuần tuý, trong các vòng gia đình, bè bạn hạn hẹp, trong các
hồi ký, nhật ký cá nhân. Chỉ khi Đông Âu chuyển sang chế độ hậu toàn trị thì
không gian công phi chính thống mới phát triển [16] . Ở Việt Nam, không gian
công chính thống gần như nắm vai trò độc tôn trong xã hội cho mãi đến đầu thập
kỉ 90. Trong những năm 70 và 80, khi samizdat mọc như nấm ở các nước cộng sản
Đông và Trung Âu [17] thì không có bất cứ tài liệu nào cho thấy hoạt động này
từng xuất hiện ở Việt Nam cho đến tận cuối thập kỉ 80.
Nguyên nhân quan
trọng nhất bắt nguồn từ thực tế là sự tồn tại không gian công phi chính thống
phụ thuộc rất lớn vào trí thức, những người có tư duy độc lập, có khả năng chống
lại sự giật dây và nhồi sọ một cách có hệ thống và bài bản của bộ máy Nhà nước -
Đảng. Dễ nhận thấy là từ 1956 ở miền Bắc, và sau khi thực hiện chính sách cải
tạo ở miền Nam sau 1975, Việt Nam không có một đội ngũ trí thức độc lập có tiếng
nói ảnh hưởng đến xã hội với tư cách là một lực lượng xã hội độc lập . (Đáng chú
ý là theo một sắc lệnh từ năm 1953, “trí thức không được coi là một giai cấp đặc
biệt”. Luật sư, kĩ sư, văn nghệ sỹ, bác sỹ được gộp chung vào một nhóm rất rộng
gồm “các nghề tự do” [18] ). Các trí thức độc lập thời Pháp thuộc đều đã quá cố,
hoặc đã bị hấp thu vào hệ thống hoặc đã lụi bại. Tàn dư cuối cùng của các trí
thức độc lập cất thành tiếng nói bất đồng trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm
xuất hiện trong một bối cảnh không thuận lợi đã nhanh chóng bị chế độ đàn áp
không mấy khó khăn. Hệ thống trí thức độc lập dưới chế độ Sài Gòn sau năm 1975
thì phần lớn tìm cách di tản ra nước ngoài. Số ít ỏi còn lại sau các đợt vượt
biên cuối những năm 1970 và đầu thập kỷ 1980 thì hoặc im lặng, hoặc nếu lên
tiếng thì bị đưa vào giam giữ trong các nhà tù/trại cải tạo ròng rã nhiều năm.
Vì thế, họ không tồn tại với tư cách là một lực lượng có tiếng nói độc lập và
quan trọng trong xã hội.
Hệ thống trí thức “mới” do chế độ đào tạo cũng
chưa bao giờ là một đội ngũ lớn mạnh và có ảnh hưởng trong xã hội. (Theo lịch sử
chính thống, “năm 1955, cả miền Bắc chỉ có 30 kỹ sư và cán bộ kĩ thuật” [19] ).
May lắm thì họ chỉ vừa đủ về con số và chất lượng để giúp cỗ máy hệ thống vận
hành “bình thường”. Xã hội nhìn nhận họ như là những công chức - trí thức, tức
là những kỹ thuật viên của cỗ máy hệ thống chứ không phải với tư cách là những
trí thức đại diện cho trí tuệ và các giá trị cao quý của dân tộc. Họ không phải
là các biểu tượng đạo đức, và không hề có sức thu hút quần chúng [20]
.
Nguyên do thứ hai là những điều kiện thuận lợi cho một không gian công
phi chính thống phát triển còn chưa xuất hiện. Nền kinh tế thứ hai mặc dù luôn
tồn tại dai dẳng để sửa chữa tình trạng bất hợp lý của chế độ phân phối và bao
cấp. Tuy nhiên, ảnh hưởng của nền kinh tế thứ hai khá nhỏ, vì bản thân quy mô
của nền kinh tế miền Bắc trước 1975 và cả nước trước 1986 đều rất nhỏ và phụ
thuộc vào viện trợ của các nước XHCN. Sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, báo chí độc lập
bị thủ tiêu, độc quyền về truyền thông là tuyệt đối. Văn hóa thứ hai vì thế
không thể xuất hiện. Ý thức hệ thay thế cũng rất hạn chế, một phần do tình trạng
thời chiến mà tính chính đáng của Đảng Cộng sản được duy
trì.
Sự nới lỏng ngắn ngủi của không gian công toàn trị và sự
xuất hiện của không gian công phi chính thống, giai đoạn cuối thập kỉ 80 - đầu
thập kỉ 90
Vào nửa đầu thập niên 80, Việt Nam chịu vô số sức ép
phải nới lỏng hệ thống toàn trị: sa lầy ở Campuchia, thiệt hại do các xung đột
với Trung Quốc kể từ chiến tranh biên giới năm 1979, khủng hoảng kinh tế trầm
trọng (trong đó nạn đói xảy ra ở nhiều nơi), dân chúng mệt mỏi với các cuộc vận
động triền miên, nhất là về nhân mạng cho các cuộc chiến, và vật lực cho Lào và
Campuchia. Viện trợ của Liên Xô giảm nhanh, cộng với sự phá sản của chính sách
kinh tế sai lầm (thay thế nhập khẩu, ưu tiên công nghiệp nặng, hợp tác
hoá).
Cái chết của Lê Duẩn - nhà toàn trị thế hệ đầu tiên (tương tự như
vai trò của Stalin ở Liên Xô, và Mao Trạch Đông ở Trung Quốc) đã tặng cho giới
lãnh đạo kế cận một cơ hội hiếm có để nới lỏng các giới hạn về kinh tế cho dân
chúng, nhằm tránh một thảm hoạ kinh tế và xã hội. Đảng Cộng sản công nhận “xé
rào”, bỏ đường lối hợp tác hoá, thừa nhận khoán sản phẩm cho hộ nông dân. Nông
nghiệp phát triển và có sản phẩm dư thừa để trao đổi trên thị trường. Vì thế,
thị trường song song xuất hiện, dù còn nhỏ yếu so với khu vực quốc doanh (lúc
này vẫn dùng cơ chế chỉ tiêu pháp lệnh thay vì cơ chế giá).
Việc nới lỏng
không gian công chính thống được mở màn bằng cuộc “cởi trói” của Nguyễn Văn Linh
(Tổng Bí thư) và Trần Độ (Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương) cho giới văn
nghệ sỹ, nới lỏng kiểm duyệt và khuyến khích giới báo chí “nói thẳng nói thật”
trong chừng mực. Trong văn học, xuất hiện những xu hướng mạnh bạo hơn, phê phán
hiện thực bi đát và các ảo tưởng ý thức hệ, với sự nổi lên của một loạt nhà văn
như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Lựu, xoay quanh một số tờ
báo dũng cảm như Văn Nghệ (do Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập), Sông Hương, Lang
Bian. Tuy nhiên, việc nới lỏng này bị chặn lại khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn
thấy sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu. [21]
Khi kiểm duyệt bị thắt chặt
trở lại, bên ngoài không gian công chính thống (truyền thông hợp pháp) đã xuất
hiện những nỗ lực đầu tiên nhằm xây dựng không gian công ngầm thay thế. Chẳng
hạn như tờ Diễn đàn Tự do của nhóm Đoàn Viết Hoạt (4 số, trong năm 1990), hay tờ
Truyền thống Kháng chiến của Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ của nhóm
Nguyễn Hộ (phát hành được 3 số trong năm 1990). Những phong trào này và tờ báo
của chúng nhanh chóng bị đàn áp và dập tắt. Tám biên tập viên của Diễn đàn Tự do
bị kết án 4 đến 15 năm tù; Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ bị cấm hoạt
động, nhiều lãnh tụ của Câu lạc bộ bị bắt, tù hay quản chế [22] . Mặc dù chỉ tồn
tại trong vài năm, chúng đã mở ra một khoảng tồn tại ngắn ngủi của không gian
công phi chính thống trước giai đoạn của công nghệ Internet và thông tin toàn
cầu, tạo nguồn cảm hứng cho các phong trào và nỗ lực hình thành không gian công
phi chính thống sau này.
Như thế, ngay cả trong thời kì này thì về cơ
bản, thế độc quyền tuyên truyền và thông tin của bộ máy Nhà nước - Đảng vẫn chưa
bị phá vỡ. Các phương tiện in ấn nhỏ gọn (photocopy, máy in cá nhân, và nhất là
internet) chưa xuất hiện. Thông tin đến với dân chúng chỉ qua báo chí và truyền
thông hợp pháp. Đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công hạn chế của
phong trào dân chủ trong giai đoạn đó. Từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, cùng với
việc Việt Nam ngày càng hội nhập vào cộng đồng thế giới, kèm theo sự phát triển
của mạng lưới thông tin toàn cầu internet và làn sóng dân chủ hoá thứ ba (third
wave), không gian công phi chính thống của Việt Nam lại được hồi sinh. Tuy
nhiên, đây sẽ là nội dung được đề cập đến trong các tiểu luận sau.
Trong
giai đoạn này, những yếu tố thuận lợi cho một không gian công thứ hai (nền kinh
tế phi tập trung, sự phá vỡ độc quyền về truyền thông và tuyên truyền, văn hóa
thứ hai và ý thức hệ thứ hai) vẫn chưa phát triển mạnh. Những mầm mống của nền
văn hoá thứ hai, như pop-culture chưa đóng vai trò năng động như giai đoạn từ
nửa sau thập kỉ 90 trở về sau, khi các mối giao lưu với nước ngoài mở rộng hơn
nhờ bỏ cấm vận. Mặt khác, thị trường cho các dòng văn hoá như thế chưa thể hình
thành trong giai đoạn này, khi phần đông dân chúng đang vươn lên từ đói nghèo,
và tầng lớp trung lưu chưa xuất hiện. Các giá trị mới như dân chủ, tự do vẫn khá
xa lạ với số đông trí thức và dân chúng (nhất là người dân miền Bắc). Họ còn
đang phải vật lộn để tồn tại trong thế hỗn mang giữa thị trường đang phôi thai
và kinh tế tập trung trì trệ. Dân chủ, với tư cách là một paradigm thay thế cho
chủ nghĩa toàn trị còn đang phôi thai.
Tóm lại, trong tiểu luận này,
chúng tôi đã trình bày khái niệm không gian công, không gian công chính thống và
phi chính thống. Chúng tôi cũng trình bày sơ lược lịch sử không gian công của
Việt Nam, từ một không gian công xuất phát từ trong lòng xã hội thuộc địa, đến
khi bị thủ tiêu và thay thế bằng không gian công chính thống do nhà nước toàn
trị tạo ra và kiểm soát; và cuối cùng là sự phản ứng của xã hội trước sự ngột
ngạt của không gian công chính thống, để từ đó hình thành mầm mống của một thứ
không gian công “ngầm” (phi chính thống). Đến đây, chúng ta đã xây dựng xong bối
cảnh để chuẩn bị cho việc giải thích nguồn gốc hình thành và các hạn chế của bất
đồng chính kiến ở Việt Nam ở phần 3.
© 2005 Duy Tân Trẻ
© 2005
talawas
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Jürgen
Habermas: "The Public Sphere: An Encyclopedia Article". New German Critique 1
(1974): 49-55.
[2]John DeFrancis, Colonialism and Language Policy in Vietnam,
Mouton Publisher, 1977, trang 217
[3]Gia Định báo - tờ báo quốc ngữ Việt Nam
đầu tiên – ra số 1 tại Sài Gòn sáu mươi năm trước đó, ngày 15-4-1865.
[4]Ví
dụ về những vi phạm dân chủ của nền Cộng hòa Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa: gian lận
trong cuộc Trưng cầu dân ý đã đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống (1955), hay
việc ông Diệm chèn ép các đảng phái Quốc gia như Đại Việt, Việt Nam Quốc dân
Đảng; vụ đàn áp Phật giáo năm 1963. Ví dụ về những vi phạm dân chủ trong nền
Cộng hòa Đệ Nhị: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu áp đặt các điều kiện khó khăn để
hạn chế số lượng ứng cử viên vào chức tổng thống trước khi ông ứng cử lần 2; hay
Đạo luật 007 hạn chế báo chí năm 1974 khiến nhiều tờ báo phải đóng cửa và hơn
900 kí giả thất nghiệp. Xem thêm Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 tập 1, Tiên
Rồng, 2004.
[5]Để biết thêm về sự đàn áp Phật giáo ở Nam Việt Nam, xem thêm,
thí dụ: Nature of the Buddhist conflict in South Vietnam (CIA declassified
report, september, 27, 1963):
http://library.usask.ca/vietnam/index.php?state=view&id=465
[6]Xem Lê
Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995 tập 1, Tiên Rồng, 2004.
[7]Để có hình dung về
phương pháp mới được du nhập từ Trung Quốc, chúng tôi xin đưa lại hai trích dẫn
rất tiêu biểu từ Lê Xuân Khoa (sách đã dẫn).
Ông Vũ Thư Hiên, một nhà văn
miền Bắc chống chế độ và bỏ việc làm ở Nga chạy sang Pháp tị nạn từ 1996 đã kể
lại kinh nghiệm bản thân về học tập chỉnh huấn năm 1951 như sau:
“Cứ đinh
ninh rằng mình cũng tựa như những tráng sĩ thời xưa, thanh gươm yên ngựa sa
trường. Đến chỉnh huấn mới ngã ngửa ra rằng không phải: đi theo cách mạng trước
hết là để cải tạo những tư tưởng thối tha, bao giờ cũng có sẵn trong mình như
một thứ tội tổ tông truyền. Phải cải tạo tư tưởng để xứng đáng là người của
Đảng, của xã hội mới… Những cán bộ vừa dự chỉnh phong ở Hoa Nam về làm hướng dẫn
viên. Những người đã qua một cuộc đại tẩy não ở nước bạn rất nghiêm nghị, ít
cười nói, trong bộ đồng phục Trung Quốc, với cây bút Kim Tinh cài trước ngực,
với cuốn sổ tay có hình Mao Chủ tịch phương phi.
Thoạt đầu hướng dẫn viên
giới thiệu một số tài liệu - bài giảng của Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Ngãi Tư
Kỳ - dành cho cán bộ. Sau đó, mỗi học viên liên hệ những điều học hỏi được với
tư tưởng và hành động của bản thân, phân tích, phê phán. Chúng tôi lén gọi những
buổi phê phán đó là những tự xỉ vả. Ai tự xỉ vả nhiều được coi là thành khẩn.
Những bản cung khai tội lỗi xuất sắc nhất được báo cáo trước toàn thể hội nghị,
gọi là báo cáo điển hình”.
“Boudarel, một trí thức tả phái người Pháp bỏ nghề
dạy học ở Sài Gòn để theo Việt Minh vì lí tưởng từ 1950 đến 1964, đã mô tả lớp
chỉnh huấn được diễn ra trong “một không khí tu viện”, hoàn toàn cắt đứt mọi
liên hệ với đời sống bên ngoài. “Những bài giảng không nhằm vào việc gợi óc suy
tư hay phê phán bằng lí trí mà chỉ là để diệt trừ những khả năng này như một căn
bệnh tâm thần… Cuối cùng là một bản thú tội công khai như trong những buổi sinh
hoạt xưng tội của tôn giáo”.
[8]Xem Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất
Bắc, Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, 1959 và loạt bài Hồ sơ Nhân văn-Giai phẩm,
khởi đăng từ tháng 5/2004 tại www.talawas.org, mục Chính trị Việt
Nam.
[9]Sagan và Denney ước lượng khoảng hơn 1 triệu người Việt Nam bị giữ
trong 150 trại, tiểu trại và nhà tù. Họ tuyên bố là có 500.000 người được thả
trong vòng 3 tháng đầu, 240.000 bị giữ từ 2-4 năm, và 240.000 bị giữ ít nhất 5
năm, và trong năm 1983 có khoảng 60.000 người còn lại. Ginette Sagan and Stephen
Denney, Violations of Human Rights in the Socialist Republic of Vietnam, Palo
Alto; CA, Aurora Foundation, 1993
[10]Chẳng hạn, theo điều 3, Thông báo số
1435 của Bộ Văn hóa Thông tin thể thao và du lịch - nay là Bộ Văn hóa Thông tin
- ký ngày 10.8.1991 (đến nay vẫn còn hiệu lực) có ghi chi tiết cấm sử dụng một
số bài hát như sau: "Cấm sử dụng toàn bộ các bài hát, bản nhạc của các nhạc sĩ
bỏ Tổ quốc ra đi đã có thái độ và việc làm chống lại Cách mạng và nhân dân ta
như: Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Nguyệt Ánh, Việt Dũng. Các bài hát, bản nhạc của
các tác giả đã bỏ Tổ quốc ra đi hiện chưa rõ thái độ chính trị của họ thì tạm
không sử dụng".
[11]Để tham khảo thế nào là hậu toàn trị và so sánh nó với
các loại chế độ khác như độc tài, toàn trị, xem thêm Linz & Stepan: “Các vấn
đề của chuyển đổi và củng cố dân chủ”. Nhà xuất bản Johns Hopkins -1996, phần do
Khải Minh dịch và giới thiệu trên talawas tháng 7 năm 2005.
[12]Các số liệu
về vụ Nhân văn Giai phẩm trong đoạn này được lấy từ Abuza, sách đã dẫn. Abuza
không trích dẫn nguồn cho các số liệu trên. Số liệu từ cuốn “Ghi” của nhà văn
Trần Dần tương đối khác với Abuza như sau:
Tháng 1 năm 1958 có Nghị quyết số
30 của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam về việc chấn chỉnh công tác văn
nghệ
Tháng 2 năm 1958 có lớp học “đấu tranh tư tưởng” cho 272 văn nghệ sĩ
đảng viên
Tháng 3 và 4 năm 1958 có đợt học tập tại Thái Hà Ấp cho 304 cán bộ
văn hoá văn nghệ (nhưng bức thư gửi cho Đảng thì không thấy nhắc đến). Tuy nhiên
tháng 6 năm 1958 có nghị quyết do 800 văn nghệ sĩ kí phê phán Nhân văn Giai
phẩm.
Vì chưa có điều kiện kiểm chứng, chúng tôi ghi lại cả hai nguồn này,
mong được nghe góp ý từ các độc giả.
[13]Trần Dần, Ghi 1954-1960, Phạm Thị
Hoài biên soạn, td mémoire xuất bản, Văn Nghệ phát hành, 2001
[14]Đáng tiếc
là vẫn chưa có những nghiên cứu sâu rộng về hậu quả của cuộc cải cách ruộng đất
lên các quan hệ xã hội ở nông thôn. Để có cảm nhận về những ảnh hưởng xã hội của
nó, xin xem thêm tiểu thuyết Dương Thu Hương, Những thiên đường mù. Bản điện tử
ở trang www.vnthquan.net, đường dẫn
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1nmnqn0n31n343tq83a3q3m3237nvn
[15]Xem
Hoàng Văn Chí, Từ Thực dân đến Cộng sản, bản dịch của Mạc Định. Xem Bản điện tử
tại www.thuvienvn.com
[16]Về sự phát triển của không gian công phi chính
thống ở Đông Đức, xen: Janina Frentzel-Zagorska: “Civil society in Poland and
Hungary” Soviet Studies, Vol. 42, No. 4 (Oct., 1990), 759-777. Bản dịch tiếng
Việt do Lâm Yến thực hiện và giới tín hiệu trên talawas, tháng 6 năm
2005.
[17]Xem thêm Marcia A. Weigle, Jim Butterfield: Civil Society in
Reforming Communist Regimes, Comparative Politics, October 1992. Bản Việt ngữ do
Lâm Yến dịch và giới thiệu trên talawas, tháng 6, 2005.
[18]Xem Lê Xuân Khoa,
sách đã dẫn, trang 131-132
[19]Lê Mậu Hãn (chủ biên). Đại cương lịch sử Việt
Nam, tập III, 1945-2000. Nhà xuất bản Giáo dục, 2001.
[20]Liên quan đến vấn
đề này, Phạm Thị Hoài (2001) đã cho ra mắt một tiểu luận sâu sắc về tư cách (phò
chính thống và học trò) của trí thức Việt Nam. Xem “Tư cách của trí thức Việt
Nam”, đăng trên http://www.ykien.net/bnpthtrithuc.html
[21]Để có một bức
tranh tương đối đầy đủ về thời kì này, xin xem Zachary Abuza, Renovating
Politics in Contemporary Vietnam, Lynne Rienner Publishers, 2001
[22]Abuza,
sách đã dẫn, chương 5.