Trich tu Lam Yen Blog - Øyvind Tønnesson - Lâm Yến dịch và giới thiệu, tháng 5 năm
2005.
Mohandas Gandhi (1869-1948) đã trở thành biểu tượng vĩ đại nhất
cho tinh thần bất bạo động trong thế kỷ XX. Hồi tưởng lại quá khứ, mọi người đều
thừa nhận rằng nhà lãnh đạo Ấn Độ này rất xứng đáng là người được lựa chọn để
trao giải Nobel Hòa bình. Ngài đã được đề cử nhiều lần, nhưng không bao giờ được
trao giải, lý do tại sao?
Những câu hỏi như thế này thường được
nhắc đi nhắc lại: Phải chăng tầm nhìn của Ủy ban Nobel Na Uy quá hạn hẹp? Phải
chăng các thành viên của Ủy ban này không đủ khả năng tôn vinh cuộc đấu tranh vì
tự do trong các cộng đồng ngoài Âu Châu? Hoặc, phải chăng các thành viên Ủy ban
Na Uy không dám trao tặng giải này vì lo ngại rằng hành động đó sẽ phương hại
đến quan hệ giữa đất nước họ với Vương quốc Anh?
Sinh thời, Mohandas Gandhi được nhiều người sùng kính, gồm
cả người trong nước và ở nước ngoài. Nhưng hành động tử vì đạo của ngài năm 1948
còn biến ngài trở thành một biểu tượng vĩ đại hơn nữa cho hòa bình. Hai mươi năm
sau, Gandhi được tôn vinh trên một con tem hai mặt phát hành tại Anh quốc. ©
Scanpix
Gandhi được đề cử giải Nobel năm
1937, 1938, 1939, 1947 và lần cuối cùng chỉ vài ngày trước khi ngài bị giết hại
vào tháng Một năm 1948. Các thành viên sau này của Ủy ban Nobel đã công khai bày
tỏ sự nuối tiếc về việc bỏ sót này; khi đức Dalai Lama được trao tặng giải Nobel
Hòa bình năm 1989, ngài Chủ tịch Ủy ban lúc đó đã nói rằng hành động này “một
phần để tưởng nhớ Mahatma Gandhi". Tuy nhiên, Ủy ban này chưa bao giờ bình luận
về những đồn đoán giải thích tại sao Gandhi lại không được trao giải, và chỉ rất
gần đây thôi, một số nguồn tin khả dĩ giúp giải thích sự kiện này mới được hé
lộ.
Thánh nhân Gandhi – Ngài là Ai?
Mohandas Karamchand – được biết đến như là một Thánh
Nhân, hay là “Tâm Hồn Vĩ Đại” – Gandhi sinh ra tại Porbandar, thủ phủ của một
công quốc nhỏ, giờ đây là tiểu bang Gujarat vùng Tây Ấn, nơi phụ thân ngài giữ
chức thủ tướng. Mẫu thân của ngài là một tín đồ Hindu mộ đạo. Bà và các thành
viên còn lại trong gia đình Gandhi thuộc về một hệ phái Hindu mà trong đó bất
bạo động và tính khoan dung giữa các nhóm tôn giáo được coi là vô cùng quan
trọng. Nguồn gốc gia đình sau này được coi là một nguyên nhân quan trọng lý giải
tại sao Mohandas Gandhi có thể đạt được vị trí như vậy trong xã hội Ấn Độ vào
thời đó. Trong nửa sau của thập kỷ 1880, Mohandas tới Luân Đôn nghiên cứu luật.
Sau khi tốt nghiệp khóa học, đầu tiên ngài quay lại Ấn và hành nghề luật sư, sau
đó vào năm 1893, tới Natal ở Nam Phi và làm việc cho một công ty thương mại Ấn
Độ.
Tại Nam Phi, Gandhi đã giúp cải thiện các điều kiện
sống của thiểu số người Ấn sinh sống tại đây. Công việc này -hướng đặc việt vào
việc chống hệ thống luật pháp ngày càng trở nên kỳ thị chủng tộc- đã khiến ngài
gắn bó ngày càng chặt chẽ với tôn giáo cũng như với quyền lợi của người Ấn, đồng
thời khai phát nơi ngài tinh thần sẵn sàng hi sinh cá nhân. Ngài đã truyền bá và
đã đạt được thành công lớn trong việc đưa phương pháp bất bạo động vào cuộc đấu
tranh của người Ấn đòi các quyền con người cơ bản. Phương pháp satyagraha – "sức
mạnh của sự thật" – là một phương pháp mang tính duy tâm cao; không chống lại
nguyên tắc pháp quyền, [phương pháp này cho rằng] những người Ấn cần phải phá bỏ
các luật lệ phi lý và mang tính đàn áp. Mỗi cá nhân phải chấp nhận sự trừng phạt
vì sự vi phạm luật pháp của mình. Tuy nhiên, anh ta phải bình thản và kiên định
chỉ ra tính bất chính đáng của những luật này. Hi vọng là sự đấu tranh đó sẽ
khiến đối phương – ban đầu là các chính quyền ở Nam Phi, sau này là chính quyền
Anh quốc ở Ấn Độ - nhìn nhận những điểm bất chính đáng trong hệ thống pháp luật
của họ.
Khi Gandhi quay lại Ấn Độ vào năm 1915, tin tức về
những thành công của ngài tại Nam Phi đã được lan truyền khắp đất nước quê hương
ngài. Chỉ trong vòng vài năm, giữa giai đoạn Thế Chiến I, ngài đã trở thành nhân
vật có ảnh hưởng bậc nhất trong Quốc Hội Ấn Độ. Xuyên suốt giai đoạn giữa hai
cuộc chiến, ngài đã khởi xướng một loạt các chiến dịch bất bạo động chống lại
các chính quyền Anh quốc. Cũng trong thời gian này, ngài đã có nhiều cố gắng
nhằm thống nhất các nhóm tín đồ Hindu, Hồi giáo và Ki tô trong xã hội Ấn Độ, và
đấu tranh nhằm giải phóng tầng lớp “tiện dân” trong xã hội Hindu. Trong khi
nhiều người theo chủ nghĩa quốc gia Ấn Độ ưa sử dụng các phương pháp bất bạo
động chống lại người Anh chỉ vì lý do chiến thuật, bất bạo động của Gandi lại là
một yếu tố mang tính nguyên tắc. Sự kiên định của Gandhi với nguyên tắc này
khiến mọi người kính trọng ngài, không kể thái độ của họ đối với chủ nghĩa quốc
gia Ấn Độ và với tôn giáo như thế nào. Ngay cả vị quan tòa người Anh, kẻ đã kết
án tù đày ngài, cũng buộc phải thừa nhận rằng Gandhi là một nhân cách tuyệt vời.
Lần đề cử Giải Nobel Hòa bình đầu
tiên
Trong số những người hết lòng kính trọng Gandhi có
các thành viên của một mạng lưới các hiệp hội ủng hộ Gandhi mang tên “Những
người bạn của Ấn Độ” được thành lập ở Âu Châu và Mỹ vào đầu những năm 1930.
Những người bạn của Ấn Độ đại diện cho các luồng tư tưởng khác nhau. Trong số
họ, những người theo đạo kính trọng Gandhi vì đạo hạnh của ngài. Số khác, gồm
những người chống chế độ quân phiệt và những người có quan điểm chính trị cấp
tiến, đồng cảm với triết lý bất bạo động của ngài và ủng hộ ngài trên danh nghĩa
một đối thủ của chủ nghĩa đế quốc. Năm 1937, một thành viên của Nghị viện Na Uy,
ông Ole Colbjørnsen (Đảng Lao động), đề cử trao tặng Gandhi Giải Nobel Hòa bình
của năm, và ngài đã được chọn lựa vào danh sách ngắn gồm 13 ứng cử viên của Ủy
ban Nobel Na Uy. Colbjørnsen không tự mình viết bản trình bày động cơ đề cử
Gandhi; thay vào đó, bài viết này được viết bởi các phụ nữ đứng đầu của chi
nhánh “Những người bạn của Ấn Độ” tại Na Uy, và ngôn ngữ được sử dụng trong đó
hẳn nhiên là hết sức tích cực đúng như dự đoán.
Một chính trị gia bình thường hay một đấng cứu thế? Trong bức hình
này, Gandhi đang lắng nghe các tín đồ Hồi giáo trong thời điểm đỉnh cao của cuộc
chiến diễn ra sau khi có sự chia cắt nước Ấn vào năm 1947. © Scanpix
Cố
vấn của Ủy ban, giáo sư Jacob Worm-Müller, người viết báo cáo về Gandhi, đã tỏ
ra thận trọng hơn nhiều. Một mặt, ông hoàn toàn thấu hiểu sự sùng kính của đám
đông đối với Gandhi với tư cách là một cá nhân: "Ông ấy hẳn nhiên là một con
người đạo đức, cao quý và khổ hạnh – một cá nhân nổi bật và xứng đáng được vinh
danh và được yêu kính bởi quần chúng Ấn Độ." Mặt khác, khi nhìn nhận Gandhi với
tư cách là một lãnh tụ chính trị, sự mô tả của giáo sư Na Uy này tỏ ra kém ưu ái
hơn nhiều. Ông viết: “có những bước ngoặt rõ nét trong các chính sách của
Gandhi, và những bước ngoặt này khó có thể được các môn đồ của ông giải thích
một cách thỏa đáng. (...) Ông là một người đấu tranh cho tự do, và là một kẻ độc
tài, một người duy tâm và một người theo chủ nghĩa dân tộc. Ông thường là một
Đấng Cứu Thế, nhưng ngay sau đó, lại đột ngột trở thành một chính trị gia bình
thường."
Trong phong trào hòa bình quốc tế, Gandhi bị khá
nhiều người chỉ trích. Nhà cố vấn của Ủy ban Nobel đã viện đến những lời chỉ
trích này nhằm chứng minh rằng Gandhi là một người theo chủ nghĩa hòa bình không
nhất quán, rằng ngài lẽ ra phải ý thức được một số chiến dịch bất bạo động của
ngài chống lại người Anh sẽ thoái hóa thành bạo lực và khủng bố. Chuyện như vậy
đã diễn ra trong Chiến dịch Bất-Hợp tác vào năm 1920-1921, khi đám đông ở Chauri
Chaura, Các Tỉnh Liên hiệp, tấn công một sở cảnh sát, giết hại nhiều cảnh sát
viên và thiêu đốt sở cảnh sát này.
Một chỉ
trích thường thấy khác trong số những người không có nguồn gốc Ấn Độ là: Gandhi
có quá nhiều phần là một người theo chủ nghĩa dân tộc Ấn. Trong báo cáo của
mình, giáo sư Worm-Müller bày tỏ nghi ngờ của chính ông về việc liệu các ý tưởng
của Gandhi mang tính nhân loại hay chỉ [phục vụ lợi ích của-ND] Ấn Độ: "Có thể
nói rằng cuộc tranh đấu nổi tiếng của ông ở Nam Phi là cuộc tranh đấu chỉ đại
diện cho người Ấn Độ mà thôi, và không phải cho những người da đen đang phải
sống trong những điều kiện còn tồi tàn hơn thế”
Danh tính
của chủ nhân Giải Nobel Hòa bình năm 1937 là Bá tước Cecil of Chelwood. Chúng ta không biết liệu Ủy ban Nobel Na Uy có xem
xét nghiêm túc khả năng trao giải cho Gandhi năm đó hay không, nhưng có vẻ là
không. Ole Colbjørnsen tiến cử ngài 2 lần nữa vào năm 1938 và 1939, nhưng cần
phải đến mười năm sau Gandhi mới lại lọt vào danh sách ngắn của Ủy ban này.
1947:
Chiến thắng và thất bại
Năm 1947, các đề cử Gandhi được gửi đi bằng điện tín
từ Ấn Độ, thông qua Văn phòng Đối ngoại Na Uy. Những người đề cử ngài bao gồm
B.G. Kher, Thủ tướng của Bombay, Govindh Bhallabh Panth, người đứng đầu Các Tỉnh
Liên hiệp, và Mavalankar, Chủ tịch Quốc hội Lập pháp Ấn Độ. Các lập luận ủng hộ
người được đề cử của họ được viết dưới dạng điện tín, giống như bản do Govind
Bhallabh Panth gửi đi: "Giới thiệu cho Giái Nobel Hòa bình năm nay Thánh nhân
Gandhi kiến trúc sư của dân tộc Ấn Độ nhân chứng sống tiêu biểu nhất cho trật tự
đạo đức và là chiến sỹ hiệu quả nhất trong cuộc tranh đấu cho hòa bình của thế
giới ngày hôm nay." Có 6 người lọt vào danh sách ngắn của Ủy ban Nobel, và
Mohandas Gandhi là một trong số đó.
Cố vấn
của Ủy ban Nobel, nhà sử học Jens Arup Seip, viết một báo cáo mới, chủ yếu nói
về vai trò của Gandhi trong lịch sử chính trị Ấn Độ sau năm 1937. "Mười năm tiếp
theo," Seip viết, "từ 1937 cho đến 1947, dẫn tới một sự kiện mà riêng đối với
Gandhi và phong trào của ông, vừa là chiến thắng vĩ đại nhất, cũng vừa là thất
bại thê thảm nhất – nền độc lập của Ấn Độ và sự chia cắt đất nước Ấn Độ." Báo
cáo này mô tả phản ứng của Gandhi trong ba cuộc xung đột riêng rẽ, nhưng có liên
quan với nhau mà Quốc hội Ấn Độ phải giải quyết trong vòng một thập kỷ trước khi
có độc lập: cuộc đấu tranh giữa người Ấn và người Anh; quyết định về sự can dự
của Ấn Độ trong Thế Chiến Thứ Hai; và cuối cùng, xung đột giữa các cộng đồng
Hindu và Hồi giáo. Trong tất cả các vụ việc đó, Gandhi đã kiên định theo đuổi
các nguyên tắc của chính ngài về bất bạo động.
Báo cáo
của Seip không phê phán Gandhi theo cách được sử dụng trong báo cáo của
Worm-Müller hồi mười năm trước. Thực ra, báo cáo này tỏ ra có thiện chí, nhưng
không thẳng thừng ủng hộ. Seip cũng viết vắn tắt về sự chia rẽ đang diễn ra trên
lãnh thổ Ấn Độ và nhà nước Hồi giáo mới Pakistan, và kết luận – cho đến giờ bị
coi là khá vội vã rằng: "Giống như báo The Times đưa tin vào ngày 15 tháng Tám,
năm 1947, người ta thường cho rằng nếu ‘cuộc đại phẫu’, được tiến hành bằng cách
chia hai nước Ấn Độ, không dẫn tới đổ máu trên quy mô lớn hơn nhiều, thì những
bài giảng của Gandhi, các nỗ lực của của các môn đồ của ngài, và sự hiện diện
của chính ngài, đã chiếm phần lớn trong cái vinh dự đó."
Sự chia cắt Ấn Độ năm 1947 đã dẫn tới một quá trình mà ngày ngay
chúng ta có thể miêu tả bằng cụm từ “tảo thanh sắc tộc”. Hàng trăm ngàn người đã
bị thảm sát và hàng triệu người phải di tản; Người Hồi giáo từ Ấn Độ sang
Pakistan, người Hindu di tản theo chiều ngược lại. Bức hình này chụp một phần
của đám đông dân tị nạn đang đổ dồn về thành phố New Delhi. ©
Scanpix
Chắc hẳn sau khi đọc bản báo cáo này, các thành viên của Ủy ban
Nobel Na Uy phải cảm nhận được những bước tiến mới trong giai đoạn cuối của cuộc
đấu tranh giành độc lập của người Ấn. Tuy nhiên, Ủy ban Nobel tính đến thời điểm
đó chưa từng tưởng thưởng giải này cho những cuộc đấu tranh như vậy. Họ cũng
buộc phải xem xét những vấn đề sau: Liệu Gandhi có được trao giải vì ông là biểu
tượng của tinh thần bất bạo động, và các hậu quả chính trị sẽ như thế nào khi
Giải Hòa bình được trao cho một lãnh tụ Ấn Độ có ảnh hưởng nhất – quan hệ giữa
Ấn Độ và Pakistan đã chẳng còn diễn biến theo chiều hướng hòa bình từ giữa mùa
thu năm 1947?
Từ nhật ký của Chủ tịch Ủy ban, ông Gunnar Jahn,
chúng ta nay biết được rằng các thành viên phải có quyết định vào ngày 30 tháng
Mười, 1947, hai vị thành viên thường trực, Ki tô hữu bảo thủ Herman Smitt
Ingebretsen và Ki tô hữu tự do Christian Oftedal muốn bầu cho Gandhi. Một năm
trước, họ đã rất ủng hộ John Mott, lãnh đạo của YMCA. Có vẻ như nhìn chung họ
muốn bầu cho các ứng cử viên có khả năng phụng sự như là các biểu tượng của đạo
đức và tôn giáo, trong một thế giới bị đe dọa bởi các xung đột xã hội và lý
tưởng. Tuy nhiên, trong năm 1947, họ đã không thể thuyết phục 3 thành viên còn
lại. Chính khách của Đảng Lao động, Martin Tranmæl, hết sức miễn cưỡng trong
chuyện trao giải cho Gandhi giữa khi xảy ra cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan, và cựu
Ngoại trưởng Birger Braadland tán thành quan điểm này của Tranmæl. Theo họ,
Gandhi gắn quá chặt vào một bên tham chiến. Thêm vào đó, cả Tranmæl và Jahn đã
biết được rằng trước đó một tháng, trong một lễ cầu nguyện, Gandhi đã có một
tuyên cáo cho thấy là ông đã xa rời quan điểm kiên quyết bác bỏ chiến tranh vốn
rất nhất quán trước đây. Dựa trên một điện tín của Reuters, The Times, vào ngày
27 tháng Chín, 1947, với tựa đề "Mr. Gandhi on 'war' with Pakistan" có nội dung
như sau:
"Quý ông Gandhi đã nói tại buổi lễ cầu nguyện tối hôm
nay rằng, mặc dù ông liên tục chống lại tất cả các cuộc chiến tranh, nhưng nếu
như không còn cách nào khác có thể bảo vệ công lý [khỏi sự xâm hại của-ND]
Pakistan và nếu Pakistan cứ khăng khăng không chịu nhìn nhận lỗi lầm đã được
minh định mà họ phạm phải và tiếp tục coi nhẹ nó, thì Chính phủ Liên hiệp Ấn Độ
buộc phải tiến hành chiến tranh chống lại Pakistan. Không ai muốn chiến tranh,
nhưng ông không thuyết phục được ai nhẫn nhục chịu đựng sự phi lý. Nếu tất cả
các tín hữu Hindus bị tiêu diệt vì một mục tiêu công lý, ông cũng không ngần
ngại. Nếu chiến tranh nổ ra, người Hindus tại Pakistan không thể trở thành các
nội gián. Nếu sự trung thành của họ không đặt nơi dân tộc Pakistan, họ phải ra
đi. Tương tự như vậy với những người Hồi giáo, với lòng trung thành dành cho
Pakistan, họ không thể tiếp tục lưu lại trong Liên hiệp Ấn Độ".
Gandhi nhìn thấy "không có chỗ đứng
nào cho ngài trong một trật tự mới nơi cái họ muốn là một lực lượng bộ binh, một
binh chủng hải quân, một binh chủng không quân và cái gì [họ] không [muốn]".
Trong bức hình này, truyền nhân tinh thần của Gandhi, Thủ tướng Pandit Nehru, Bộ
trưởng Quốc phòng Sardar Baldev Singh, và Tổng Chỉ Huy của ba Quân chủng đang
duyệt Đội Danh dự tại Pháo đài Đỏ, Delhi, vào tháng Tám, 1948. Năm mươi năm sau,
cả hai nước Ấn Độ và Pakistan đã độc lập phát triển và thử nghiệm vũ khí hạt
nhân. © Scanpix
Gandhi
ngay lập tức đã khẳng định rằng báo cáo này chính xác, nhưng không đầy đủ. Tại
buổi lễ, ngài đã nói thêm rằng bản thân ngài không thay đổi quan điểm của mình,
và rằng “ngài không có chỗ đứng trong một trật tự mới nơi cái họ muốn là một lực
lượng bộ binh, một binh chủng hải quân, một binh chủng không quân và cái gì [họ]
không [muốn]".
Cả Jahn và Tranmæl biết rằng báo cáo đầu tiên không
đầy đủ, nhưng họ đã trở nên rất nghi ngại. Trong nhật ký của mình, Jahn đã tự
trích dẫn mình khi nói rằng: "Trong khi đúng là ông (Gandhi) là một nhân cách
lớn nhất trong số tất cả những người được đề cử – có rất nhiều điều tốt có thể
nói về ông – chúng ta phải nhớ rằng ông không chỉ là một thánh tông đồ của hòa
bình; trước hết và quan trọng nhất ở ông là một người yêu nước. (...) Hơn thế,
chúng ta phải tỉnh táo mà thấy rằng Gandhi không ngây thơ. Ông là một nhà luật
học sắc sảo và một luật sư tuyệt vời." Có vẻ như vị Chủ tịch Ủy ban này đã nghi
ngờ tuyên cáo của Gandhi hồi một tháng trước là một bước đi có cân nhắc để tiến
tới việc khống chế sự hung hăng của người Pakistan. Ba trong số năm thành viên
vì thế đã chống lại việc trao tặng Giải năm 1947 cho Gandhi, và Ủy ban đã đạt
được đồng thuận trong việc trao giải này cho Quakers.
1948: Xem xét trao tặng Giải cho người đã
khuất
Mahatma Gandhi bị ám sát vào ngày 30 tháng Một năm
1948, hai ngày trước khi hết hạn đề cử cho giải Nobel Hòa bình năm đó. Ủy ban
này đã nhận được sáu lá thư đề cử Gandhi; trong số những người đề cử ông, có
Quakers và Emily Greene Balch, hai chủ nhân giải Nobel [của các năm trước-ND]. Và
lần thứ ba Gandhi lại lọt vào danh sách ngắn của Ủy ban – lần này danh sách ngắn
chỉ gồm ba người – và cố vấn của Ủy ban, Seip, đã viết báo cáo về các hoạt động
của Gandhi trong năm tháng cuối cùng của cuộc đời ngài. Ông kết luận rằng
Gandhi, trong suốt cuộc đời của mình, đã đặt một dấu ấn sâu đậm lên quan điểm
đạo đức và chính trị, và quan điểm này sẽ còn mãi với tư cách là một chuẩn mực
cho nhiều người, cả ở trong và ngoài đất nước Ấn Độ: "Với ý nghĩa đó, chỉ có thể
so sánh Gandhi với những người cha tinh thần đã sáng lập ra các tôn giáo."
Chưa ai từng được trao Giải Nobel Hòa bình khi họ đã
qua đời. Nhưng theo quy chế của Quỹ Nobel có hiệu lực vào lúc đó, Giải Nobel,
trong những tình huống nhất định, có thể được trao tặng cho người đã khuất. Vì
vậy, có thể trao giải này cho Gandhi. Tuy nhiên, Gandhi không thuộc một tổ chức
nào, ngài không để lại một tài sản gì, và cũng không có di chúc; vậy ai sẽ là
người nhận số tiền của Giải? Ngài Giám đốc Viện Nobel Na Uy, August Schou, hỏi ý
kiến một vị khác trong số các cố vấn của Ủy ban, luật sư Ole Torleif Røed, để
yêu cầu ông này xem xét các hậu quả thực tế nếu như Ủy ban trao tặng Giải cho
người đã khuất. Røed đưa ra một số giải pháp khả thi có thể áp dụng chung. Sau
đó ông xin ý kiến của các thể chế trao giải của Thụy Điển. Câu trả lời là không;
trao giải cho người đã khuất, theo họ, là không được phép trừ phi chủ nhân của
giải qua đời sau khi Ủy ban đã có quyết định chính thức.
Ngày 19
tháng Mười Một năm 1948, Ủy ban Nobel Na Uy đã quyết định không trao tặng giải
năm đó trên cơ sở rằng “không có ứng cử viên đang còn sống nào thích hợp”. Chủ
tịch Gunnar Jahn viết trong nhật ký của ông: "Theo tôi, không có gì phải nghi
ngờ rằng trao giải cho người đã khuất sẽ đi ngược lại dụng tâm của người để lại
di chúc [Alfred Nobel-ND]." Theo vị chủ tịch này, ba đồng nghiệp của ông cuối
cùng cũng đồng ý, chỉ duy nhất có quý ông Oftedal là ủng hộ việc trao giải
thưởng cho người đã khuất cho Gandhi.
Sau này,
có nhiều đồn đoán rằng các thành viên Ủy ban có thể đã nghĩ tới một nhà hoạt
động vì hòa bình đã khuất khác thay vì Gandhi khi họ tuyên bố rằng “không có ứng
cử viên đang còn sống nào thích hợp”, đó là công sứ người Thụy Điển của Liên hợp
quốc tại Palestine, Bá tước Bernadotte, ông này bị giết hại vào tháng Chín năm
1948. Ngày nay, lời đồn thổi này đã bị loại trừ; Bernadotte không được đề cử vào
năm 1948. Vì thế, sẽ là hợp lý nếu giả định rằng Gandhi sẽ được mời đến Oslo để
nhận Giải Nobel Hòa bình nếu như ngài sống thêm được một năm nữa.
Tại sao Gandhi không bao giờ được trao Giải
Nobel Hòa bình?
Cho đến
năm 1960, Giải Nobel Hòa bình được trao tặng hầu hết cho những người đến từ Âu
Châu và Mỹ. Vì vậy, khi hồi tưởng lại, tầm nhìn của các thành viên Ủy ban Nobel
Na Uy có thể đã quá hạn hẹp. Gandhi khác rất nhiều so với các chủ nhân khác của
Giải. Ngài không phải là một chính trị gia thực thụ, không phải là người đề
xướng luật lệ quốc tế, không nguyên nghĩa là một người hoạt động cứu trợ nhân
đạo và cũng không phải là một nhà tổ chức các đại hội hòa bình quốc tế. Ngài lẽ
ra thuộc về một nhóm mới trong số các chủ nhân của Giải.
Không có
một gợi ý nào từ các tài liệu lưu trữ cho thấy Ủy ban Nobel Na Uy đã từng lo
ngại đến sự phản ứng bất lợi của nước Anh đối với việc trao giải cho Gandhi. Vì
thế, có vẻ như chúng ta có thể loại trừ giả thuyết rằng sự bỏ sót Gandhi của Ủy
ban này bắt nguồn từ việc các thành viên không muốn chọc tức các chính quyền Anh
quốc.
Trong năm 1947, xung đột Ấn Độ và Pakistan và tuyên
cáo của Gandhi trong lễ cầu nguyện -khiến người ta nghi ngại rằng liệu ngài có
thể rời bỏ tư tưởng hòa bình của mình- có vẻ như là những lý do chính giải thích
tại sao ngài không được lựa chọn bởi đa số các thành viên của Ủy ban. Không
giống như ngày hôm nay, lúc đó không có một truyền thống nào liên quan tới việc
Ủy ban Nobel Na Uy sử dụng Giải Nobel Hòa bình như là một chất kích thích cho
các giải pháp hòa bình trong xung đột khu vực.
Trong
những tháng cuối cùng của cuộc đời ngài, Gandhi nỗ lực rất nhiều nhằm chấm dứt
bạo lực giữa người Hindu và người Hồi giáo diễn ra sau khi có sự chia cắt đất
nước Ấn Độ. Chúng ta không biết gì nhiều về các cuộc thảo luận trong Ủy ban
Nobel Na Uy liên quan đến sự đề cử Gandhi vào Giải Nobel năm 1948 – ngoài đoạn
trích ở trên đề ngày 18 tháng Mười Một trong nhật ký của Gunnar Jahn – nhưng có
vẻ như họ đã nghiêm túc cân nhắc đến khả năng trao giải cho người đã khuất.
Trong khi Ủy ban này, với lý do liên quan đến các thủ tục chính thức, đã đi đến
quyết định không trao tặng một giải như vậy, họ đã bảo lưu giải thưởng này, và
một năm sau, quyết định không chi tiền thưởng của giải năm 1948. Vị trí mà nhiều
người nghĩ rằng đó phải là chỗ của Mahatma Gandhi trong danh sách các chủ nhân
Giải Nobel Hòa bình vẫn được bỏ ngỏ, một cách thầm lặng và đầy kính trọng.
Nhóm Duy Tân Trẻ giữ bản quyền của bản dịch tiếng
Việt.
Nguồn: http://www.nobelprize.org/peace/articles/gandhi/index.html