Xã hội dân sự trong các chế độ cộng sản đang đổi mới: Logic xuất hiện

Trich tu Lam Yen Blog - Marcia A. Weigle và Jim Butter Field - Lâm Yến dịch - 25-07-2005

Các phân tích về sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự trong các chế độ kiểu Soviet được bắt đầu trong giai đoạn Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan năm 1980-81. Khi đó, các học giả bắt đầu tìm cách giải thích mô thức của sự tham dự xã hội độc lập (independent social participation) trong điều kiện xã hội nói chung bị chỉ đạo bởi nhà nước[1]. Từ năm 1985, khi hàng chục ngàn nhóm và chính đảng không chính thức xuất hiện ở USSR sau các chương trình cải cách glasnost và perestroika của Gorbachev, khái niệm xã hội dân sự lại được dùng để mô tả các vận động xã hội tích cực.[2] Mặc cho việc khái niệm này được sử dụng phổ biến ở cả Trung Âu và USSR, ít ai chịu so sánh sự phát triển của xã hội dân sự ở các chế độ kiểu Soviet, chủ yếu vì USSR là một trường hợp quá độc đáo do điều kiện lịch sử đặc biệt và sự phát triển bản địa của chủ nghĩa Mác - Lê nin ở đây.[3] Tuy vậy, dù có những khác biệt hiển nhiên giữa các quốc gia, một sự so sánh như thế vẫn có ích, khi mà nền khoa học chính trị phương Tây đang cố gắng lắp ghép các mảnh puzzle hậu toàn trị lại với nhau (từ các thông tin về hành vi nhóm và hành động tập thể) bằng cách khuyến khích các phân tích mang tính hệ thống hơn về các nguyên nhân và các hình thức tham dự xã hội trong các nhà nước Cộng sản đang chuyển đổi.[4]

Trong khi những diễn biến nhanh chóng và phức tạp ở Trung Âu và USSR không cho phép một sự phân loại chặt chẽ, chúng tôi dựa phân tích của mình trên các xu hướng khá rõ ràng trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở Trung Âu và so sánh chúng với các xu hướng ở Liên Xô (cũ). Kinh nghiệm ở Trung Âu cho thấy có bốn giai đoạn trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự: tự vệ- các cá nhân và nhóm độc lập [đấu tranh] với nhà nước để bảo vệ quyền tự chủ một cách chủ động hoặc bị động; xuất hiện- các nhóm và phong trào độc lập theo đuổi các mục tiêu giới hạn trong một không gian công đã được mở rộng (kết quả của sự nhượng bộ hoặc thừa nhận của nhà nước-đảng đang trong quá trình đổi mới); động viên- các nhóm và phong trào độc lập làm xói mòn tính chính đáng của đảng-nhà nước bằng cách giới thiệu các hình thức quản lý nhà nước mới cho xã hội (khi đó đã được chính trị hóa); và được thể chế hóa- các lãnh đạo (được công chúng ủng hộ) luật hóa các luật bảo đảm tính độc lập cho các hoạt động xã hội, dẫn tới quan hệ khế ước giữa nhà nước và xã hội cuối cùng được điều chỉnh bằng các cuộc bầu cử tự do.

Chúng tôi cho rằng trong 2 giai đoạn đầu (tự vệ và xuất hiện), xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR có thể được so sánh trên cơ sở kiểu chế độ. Có nghĩa là, các chế độ Cộng sản trong các hệ thống xã hội hậu toàn trị đã định hình một mô hình phát triển đặc biệt của xã hội dân sự: Trong các chế độ kiểu Soviet, những cuộc khủng hoảng có hệ thống, trong bối cảnh hậu toàn trị, đã đem lại một kiểu phát triển xã hội dân sự đặc biệt trong 2 giai đoạn đầu tiên, khi mà các nhà hoạt động xã hội nỗ lực bảo vệ sự tự chủ của mình khỏi sự thâm nhập của nhà nước-đảng và, khi có cơ hội thích đáng, sẽ bày lợi ích và yêu sách của họ trong một không gian công mở rộng. Sự mở rộng của các hoạt động độc lập sẽ ngày càng mâu thuẫn với nền tảng của tính chính đáng và quyền lực của một đảng cầm quyền, dẫn tới sự chấm dứt nền cai trị của Cộng sản. Một khi các nhà hoạt động xã hội trong các xã hội dân sự đang xuất hiện ngồi lại với nhau, nhằm đưa ra các phương pháp quản lý xã hội mới (và bằng các phương pháp mới đó, họ tìm cách thể chế hóa những thành quả mà xã hội độc lập đã đạt được), [thì khi đó], mô thức phát triển của xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR bắt đầu phân hóa. Trong 2 giai đoạn sau của diễn trình phát triển xã hội dân sự, các đặc trưng của xã hội dân sự mang tính độc đáo với từng nước, phụ thuộc phần lớn vào lịch sử, văn hóa chính trị (đặc biệt là khuynh hướng tự tổ chức của xã hội và quan hệ giữa các giai cấp xã hội khác nhau), các hình thái chủ nghĩa dân tộc nhất định, và bối cảnh xã hội cho sự phát triển thể chế.

Trong bài báo này, chúng tôi so sánh 2 giai đoạn đầu của diễn trình phát triển xã hội dân sự trong các nước Ba Lan, Hungary và Czechoslovakia với diễn trình ở USSR trên cơ sở kiểu chế độ, và với mục đích làm rõ logic xuất hiện của xã hội dân sự trong các chế độ kiểu Soviet. Hai giai đoạn cuối (trong đó các đặc điểm xã hội và văn hóa trở nên quan trọng hơn kiểu chế độ trong việc quy định sự phát triển của xã hội dân sự) sẽ là chủ đề của nghiên cứu tiếp theo. Ở đây, chúng tôi bắt đầu bằng cách làm rõ bối cảnh của “kiểu chế độ” và “xã hội dân sự” và nối tiếp bằng phần so sánh.

Bối cảnh: Hậu toàn trị

Các chế độ “hậu toàn trị” có được tên gọi của mình (với tư cách là một dạng chế độ chuyên chế đặc biệt) trong một tiểu luận nổi tiếng của Juan Linz.
[5] Lý luận của Linz là: các chế độ chuyên chế-kiểu-hậu toàn trị khác với các chế độ chuyên chế khác ở chỗ hậu toàn trị ít nhất cũng có mong muốn trở thành “toàn” xét về cơ sở tồn tại (raision d’etre) của nhà nước Stalinist. Mô hình nhà nước hậu toàn trị được đặc trưng bởi: (1) một quá trình chính trị xung đột hoàn toàn được cách ly với các yêu sách của các nhóm xã hội độc lập; (2) quá trình vận động và động viên tham dự xã hội chưa hoàn chỉnh; (3) sự khẳng định của nhà nước-đảng về tính chính đáng của họ dựa trên các nền tảng học thuyết và thành tích lãnh đạo, và (4) đảng khẳng định độc quyền đại diện cho các giá trị và lợi ích.

Các đặc trưng của hệ thống hậu toàn trị nhấn mạnh vào sự thống trị của đảng-nhà nước trong các quá trình xã hội và không chấp nhận các hoạt động xã hội độc lập, trong khi thừa nhận rằng các phương pháp thống trị và áp bức của nhà nước theo kiểu Stalinist (cái dẫn tới việc nguyên tử hóa xã hội) đã không còn đứng vững trong điều kiện xã hội đang hiện đại hóa và tính đa dạng của dân tộc. Trong khi các chế độ toàn trị kiểu Stalinist nhấn mạnh đến việc động viên tập trung [các nguồn lực] để thực hiện các mục tiêu xã hội và ý thức hệ theo sự lãnh đạo của đảng; thì các chế độ Cộng sản hậu toàn trị buộc phải hạn chế động viên [nguồn lực] bằng cách giảm kiểm soát các quá trình xã hội, trao quyền tự chủ rộng rãi hơn cho một số nhóm.
[6]

Việc các chế độ hậu toàn trị giải phóng [một phần] bằng cách chấp nhận sự tự chủ của xã hội và (ở một mức độ lớn hơn là) dân tộc đã là chủ đề chính của nhiều nghiên cứu về quá trình chính trị trong các xã hội kiểu Soviet trong những năm cuối thập kỷ 1960 và 1970. Khi phân tích các hậu quả của sự tham dự xã hội rộng rãi, một số phân tích gia đã lập luận rằng các nhà nước kiểu Soviet đã vận động theo một phiên bản của mô hình lợi ích nhóm.
[7] Đảng-nhà nước thừa nhận một số lợi ích thể chế là chính đáng, nhưng cũng nỗ lực kết hợp và kiểm soát các lợi ích này trong khuôn khổ các thể chế do nhà nước thống trị.[8] Trong khi diễn trình chính trị hậu toàn trị được đặc trưng bởi sự tổng hợp lợi ích, xung đột và giải pháp, và bị giới hạn trong các tham số của cơ chế nhà nước-đảng, thì quá trình chính trị vẫn được cách ly khỏi các lợi ích xã hội phi nhà nước và liên kết tự do. Trong những năm 1980, hiện tượng mô hình này không còn thỏa mãn được nhu cầu của chế độ (cũng như khát vọng của dân chúng) đã trở thành vấn đề trung tâm trong lĩnh vực [nghiên cứu] tham dự của công dân. Quá trình chuyển từ sự tham dự [do bị] động viên sang tự do liên kết và phát biểu lợi ích đã thúc đẩy các nghiên cứu về các xã hội dân sự đang xuất hiện tại Trung Âu và USSR. Trước khi khảo sát bản chất của quá trình này, chúng tôi muốn trình bày tiếp về bối cảnh của xã hội dân sự.

Xã hội dân sự

Thuật ngữ “xã hội dân sự” đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Âu và USSR bởi cả các học giả và các nhà vận động (activists). Trong khi thuật ngữ này không được áp dụng có hệ thống bởi cả hai nhóm, có một điểm hiển nhiên là: chủ đề xã hội dân sự trong quan hệ với các chế độ Cộng sản chỉ xuất hiện khi có sự hiện diện của các hoạt động xã hội dựa trên việc tự do liên kết (chứ không phải tham dự bắt buộc) và phát biểu các lợi ích cả từ bên dưới và bên trên. Tại điểm này, cần làm rõ xã hội dân sự được hiểu là gì, và từ góc độ lý thuyết, làm thế nào nó có thể xuất hiện trong bối cảnh chủ nghĩa hậu toàn trị.

Chúng tôi dùng một phiên bản định nghĩa được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu gần đây về Trung Âu: một hình thái tự tổ chức độc lập của xã hội, trong đó các nhân tố cấu thành của nó tự nguyện tham gia vào các hoạt động công nhằm tìm kiếm các lợi ích cá nhân, nhóm và dân tộc trong phạm vi quan hệ nhà nước-xã hội được pháp luật quy định. Theo định nghĩa này, xã hội dân sự gồm 2 phần. Phần đầu là khung pháp lý cho phép [tồn tại] hình thái tự tổ chức của xã hội và quy định tính chất của quan hệ giữa nhà nước-xã hội, vì thế, bảo đảm quyền tự chủ của các nhóm xã hội. Đó là nền tảng thể chế cho xã hội dân sự, một điều kiện cần thiết phổ quát, nhưng cũng là cái mang nhiều nét khác biệt giữa các nước, tùy theo bối cảnh hình thành các thể chế và bộ luật ở từng nước. Phần hai là bản sắc của các nhà hoạt động xã hội và mục tiêu trong các hoạt động của họ. Những yếu tố này quy định thêm đặc điểm và hình thức tổ chức của xã hội dân sự. Chúng tôi gọi nó là định hướng của xã hội dân sự, và nó khác nhau khá nhiều giữa các xã hội, phụ thuộc vào các giá trị ẩn bên dưới các hoạt động độc lập trong không gian công.
[9]

Sự khác biệt giữa nền tảng thể chế và định hướng của xã hội dân sự là điều kiện ban đầu để hiểu sự hình thành của xã hội dân sự trong các điều kiện lịch sử và quốc gia cụ thể đã diễn ra như thế nào. Các học giả đầu tiên của thuyết khế ước xã hội (contractarians) nhấn mạnh đến nền tảng thể chế của xã hội dân sự, đó là, một khế ước xã hội ràng buộc các thành viên của một cộng đồng tự nguyện vào các tập tục chung “nhằm cùng bảo vệ Cuộc sống, Tự do và Tài sản…”
[10] Khi xây dựng một mô hình hữu cơ hơn về các quan hệ giữa nhà nước-xã hội, Hegel đã xóa nhòa ranh giới giữa sự tồn tại về pháp lý của xã hội dân sự với các căn bản hoạt động diễn ra trong nội bộ của nó bằng việc khẳng định rằng nhà nước bao gồm cả xã hội dân sự, do vậy, trong khi các hoạt động độc lập diễn ra trong vương quốc xã hội dân sự, [thì] phương hướng của các nhà hoạt động xã hội lại tuân theo định hướng của các lãnh đạo nhà nước, gây ra tính duy lý tuyệt đối trong quan hệ nhà nước-xã hội.[11] Khi nói đến mô hình hữu cơ của Hegel, Marx đã xóa hoàn toàn mọi khác biệt giữa sự tồn tại về pháp lý của một không gian công độc lập và phương hướng của các nhà hoạt động của nó. Tức là, mọi khung pháp lý về xã hội dân sự được thiết kế bên trong bối cảnh các quan hệ xã hội tư sản sẽ không thể không bị thống trị bởi các hành vi công hướng tới việc thỏa mãn các lợi ích tư sản. Các phương hướng khác của các nhà hoạt động xã hội, ví dụ, hướng tới lợi ích của [giai cấp] công nhân, sẽ không bao giờ trở thành hiện thực trong khung thể chế tư sản. Trong khi chính trị hóa Marx, Gramsci nhận thấy có nhiều khả năng để đạt được các lợi ích đối lập hơn ngay cả trong các khung khổ các quan hệ xã hội và cấu trúc pháp luật [mang tính] bóc lột. Các nhóm đối lập có thể thúc đẩy các lợi ích của mình, nếu họ [chịu] đối mặt với quyền lãnh đạo của các giai cấp thống trị bằng cách tiến hành một cuộc “chiến tranh vị trí” trong việc truyền bá lợi ích của họ trong đa sống công cộng.[12] Xã hội dân sự của Gramsci có thể vận hành theo cách mà xã hội dân sự của Marx không thể. Trên đấu trường bày tỏ quan điểm, phát biểu lợi ích, và hoạt động liên kết, xã hội dân sự có thể được giai cấp lao động sử dụng để dần dần tạo dựng quyền lãnh đạo của chính nó về các lợi ích, các phương hướng văn hóa, quan điểm ý thức hệ, để đánh dấu khúc dạo đầu cho sự thống trị của chính nó đối với nhà nước, và cuối cùng hấp thu nhà nước vào trong [chính cái] xã hội dân sự bị thống trị bởi lợi ích của giai cấp lao động.

Trong khung cảnh sự cầm quyền của Cộng sản theo kiểu hậu toàn trị ở Trung Âu, cách tiếp cận khế ước với hành vi công cộng độc lập (independent public activity) hoàn toàn không khả thi.
[13] Không thể lựa chọn đại diện của mình vào bộ máy nhà nước, và do đó không thể có ảnh hưởng chính sách và không thể theo đuổi các lợi ích tư nhân trong một không gian công được luật pháp bảo vệ, những cá nhân trong xã hội không chấp nhận sự thống trị của nhà nước về liên kết và tham dự công cộng đành phải hoặc là rút về cuộc sống cá nhân và gia đình, hoặc xây dựng một cái thay thế-một mạng lưới liên kết và tham dự ngầm. Một cuộc cách mạng lật đổ, hoặc một sự thay đổi triệt để bộ máy nhà nước hoặc cơ sở xã hội cho quyền lực của nó, là chuyện không thể. Kinh nghiệm năm 1856 ở Hungary và năm 1968 ở Czechoslovakia đã cung cấp cho các nhà vận động độc lập và các đảng viên cải cách một bài học xương máu. Khi công chúng ngày càng hình thành rõ cho mình lộ trình cải cách trong những năm 1970 và 1980, lựa chọn duy nhất cho các tham dự độc lập là chấp nhận các ranh giới hệ thống của Cộng sản cầm quyền, và [chấp nhận] sự kiểm soát của chế độ đối với chính trị tầm cao, trong khi bày ra càng nhiều quyền tự chủ càng tốt trong không gian độc lập của các hoạt động công.[14] Theo cảm quan của Gramsci, những đường nét cơ bản của xã hội dân sự vì thế sẽ được hình thành ngay trong bối cảnh một nhà nước đàn áp.[15] Nói cách khác, các nhóm xã hội sẽ hình thành trên cơ sở các mục tiêu và lợi ích nhóm được phát biểu độc lập, tự giới hạn mục tiêu của mình trong các lĩnh vực không đe dọa đến quyền lực hay tính chính đáng của chế độ. Việc diễn dịch và bày tỏ lợi ích sẽ được theo đuổi độc lập (mặc dù vẫn liên hệ) với cấu trúc nhà nước thống trị và các quan hệ kinh tế.[16]

Vì thế, các thành phần hoạt động độc lập ở Trung Âu từ đầu những năm 1970 bắt đầu giả định rằng xã hội dân sự có thể xuất hiện bên trong các tham số của nhà nước hậu toàn trị. Sự xuất hiện này là khả thi thông qua việc bảo vệ quyền tự chủ của các nhà hoạt động xã hội, những người thông qua việc tham dự có phối hợp sẽ dần hình thành một cuộc “chiến tranh vị trí” chống lại các lợi ích của nhà nước Cộng sản, trong khi vẫn hoạt động trong các phạm vi được chế độ chấp nhận và không đe dọa đến tính chính đáng của nó. Kết quả có thể là sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước bị thống trị bởi một đảng duy nhất đang giữ vững sự kiểm soát trên các lộ trình kinh tế-chính trị rộng lớn, và một xã hội ngày càng độc lập được phép tự hình thành các lợi ích tư nhân hoặc địa phương (cái sẽ được hiện thực hóa thông qua các hình thức “tự quản lý” hoặc “tự quản trị”). Sáng kiến cho sự dàn xếp độc đáo này được hóa thân trong “chủ nghĩa tiến hóa mới” của Adam Michnik, là sản phẩm của các nhà hoạt động chính trị ở Ba Lan. Công thức này, nhìn từ một góc độ khác, được áp dụng dưới hình thức “nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa” của Gorbachev ở USSR.

Việc khảo sát tập hợp tình huống cụ thể (mà trong đó đã hình thành các xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR), cũng như diễn trình hoạt động của nó, cho thấy sự cân bằng tân-Gramsci (giữa một nhà nước thống trị và một xã hội ngày càng tự chủ hơn) là điều kiện cần cho sự phát triển của các xã hội dân sự ở các nước này, nhưng cũng là cái mang tính bất ổn định nội tại, và vì thế, chỉ có tính ngắn hạn. Ở Trung Âu, nền tảng tính chính đáng của chế độ vốn yếu kém, và xã hội có những nguồn lực để đưa ra các phương pháp quản lý xã hội mới thay thế. Ở USSR, nơi mà tính chính đáng của chế độ Cộng sản được cột chặt với (một vài dạng cá biệt của) chủ nghĩa dân tộc Nga, và các nhóm độc lập tỏ ra kém cố kết hơn trong hoạt động phản kháng của họ chống lại chế độ, thì giai đoạn bất ổn định còn kéo dài hơn nữa. Tuy nhiên, cuối cùng thì căng thẳng ẩn chứa sẵn trong quá trình chuyển giao quyền lực từ một nhà nước-đảng đang đổi mới sang một xã hội đang kiểm tra các giới hạn tham gia của mình sẽ phải được giải quyết, hoặc bằng việc nhà nước thu lại các đặc quyền tham gia [mà nó đã nhượng bộ], hoặc quá trình động viên của lực lượng đối lập sẽ [mạnh dần lên và] đủ khả năng đưa ra các hình thức quản lý xã hội mới. Các mẫu hình phát triển của xã hội dân sự đem đến nghịch lý về một đảng duy nhất tiếp tục cầm quyền trong bối cảnh các hoạt động xã hội ngày càng độc lập và phát triển theo khuynh hướng chính trị hóa. Tại điểm này, chúng tôi đã đi đến nghịch lý đó thông qua việc khảo sát các giai đoạn đầu của xã hội dân sự, từ chỗ nó bắt đầu tự bảo vệ mình chống lại sự thâm nhập của nhà nước, và sau đó xuất hiện với sự bùng phát các hoạt động thách thức lại đảng cầm quyền.

Khủng hoảng có hệ thống: I

Các giá trị và vận động xã hội tự chủ, và vì thế các hạt giống của xã hội dân sự, hình thành trong các chế độ hậu toàn trị là kết quả của một cuộc khủng hoảng có hệ thống. Cuộc khủng hoảng này có cội rễ từ chỗ các chế độ đã không thể đạt được thành công tối thiểu trong việc thực hành các chức năng tự định của mình về thiết lập giá trị và đại diện lợi ích. Trong trường hợp đầu, nỗ lực không thành công của nhà nước trong việc áp đặt gói giá trị lên dân chúng có thể được coi là thất bại về văn hóa hóa (enculturation). Touraine đã ghi nhận điểm này trong trường hợp của Ba Lan. “Ba Lan luôn có 2 mặt: một đất nước thực sự chưa bao giờ bị che đậy hoàn toàn bởi cái chính thức, một đời sống trí thức chưa bao giờ bị suy giảm [đến mức] chỉ còn lại chỉ còn ý thức hệ thống trị, và sự áp đặt của nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa (bất kể nhà nước đã sử dụng các áp lực táo bạo thế nào để áp đặt lên dân tộc, thì nó vẫn chỉ là một hồi kịch đen tối ngắn).
[17]

Rõ ràng là các giá trị do đảng-nhà nước truyền bá không được quần chúng chấp nhận và hấp thu.
[18] Cũng giống như nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một lớp người “thuộc chủng soviet”, nỗ lực của các chế độ này trong việc viết lại hệ thống giá trị xã hội bằng cách sử dụng quyền lực chính trị để áp đặt một hệ thống giá trị mới đã thất bại. Báo chí và các ấn bản chính thức được viết bằng một thứ ngôn ngữ, trong khi các tranh luận trong xã hội lại được thực hiện bằng một thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác.[19] Một [trong những] giá trị cụ thể không đi vào công chúng được là chủ nghĩa quốc tế cộng sản chủ nghĩa do Soviet thống trị. Bằng chứng của thất bại này là việc mỗi nước trong khối Soviet chọn các con đường tới chủ nghĩa xã hội khác nhau sau cái chết của Stalin, và ảnh hưởng của giới trí thức dân tộc chủ nghĩa Nga lên các chính sách Cộng sản của USSR.[20]

Trong thập kỷ 60 và 70, các chế độ Cộng sản ít tập trung hơn vào tuyên truyền các giá trị xã hội chủ nghĩa. Thay vào đó, trong khuôn khổ thể chế của mình, họ tập trung củng cố tập hợp lợi ích đang ngày càng trở nên phức tạp của xã hội. Đã thất bại trong việc thay đổi hình ảnh của mình trong xã hội, các chế độ hậu toàn trị tìm cách xây dựng các nhóm ủng hộ, đặc biệt là trong số các nhà quản trị, giới trí thức, và quan trọng nhất là, giới công nhân lao động. Với việc khẳng định [rằng mình] đại diện cho các lợi ích của một xã hội đang hiện đại hóa với tốc độ ngày càng nhanh chóng, đảng Cộng sản đã tài trợ cho các tổ chức, nhằm gộp các nhóm ủng hộ này vào trong các ranh giới tổ chức của chế độ. Khi các nỗ lực định hướng sự tham dự của xã hội đã tỏ ra thất bại, sự bất tương thích giữa đảng-nhà nước với các lợi ích của xã hội đã dẫn tới các biểu hiện bất mãn công khai.

Việc chế độ kiên quyết khẳng định vai trò độc tôn trong việc đại diện cho các lợi ích và kiểm soát các kênh tham dự - trong khi khoảng cách giữa các giá trị và lợi ích của tư nhân và công cộng ngày càng mở rộng - đã dẫn đến các kêu gọi “tự vệ” cho xã hội. Đến thời điểm này, việc bác bỏ độc quyền của đảng về cả các phần hữu hình (tổ chức xã hội) lẫn vô hình (đạo đức và văn hóa) của hệ thống xã hội đã được bộc lộ rõ nét. Các hình thức tự vệ cho quyền tự chủ của cá nhân và xã hội có nhiều nét khác nhau giữa các nước, phụ thuộc vào các quan hệ thể chế và khuynh hướng văn hóa.

Trường hợp Trung Âu:


Các cấu trúc tự vệ chính thức ở Ba Lan có một lịch sử lâu dài: nhà thờ, các tổ chức xã hội ngầm, các nhóm công nhân tích cực. Trong khi phần lớn xã hội vẫn thờ ơ với các quá trình chính trị chính thức,
[21] sự tồn tại của các thể chế và các nhóm xã hội độc lập tương đối chính là cái nhắc nhở rằng khẳng định độc tôn của đảng-nhà nước (về đại diện cho các lợi ích của xã hội) cùng lắm chỉ là sự khẳng định hời hợt. Nhà nước Ba Lan khoan dung cho nhiều mức độ tự chủ trong giai đoạn tự vệ [của xã hội dân sự] nhằm giữ ổn định và dung hợp. Chỉ khi chế độ buộc phải chấp thuận cho nới rộng không gian công dành cho các hoạt động công cộng trong giai đoạn cuối thập kỷ 1970, thì các diễn đàn công này mới cung cấp các phương tiện đã thiết kế sẵn cho công chúng nhằm làm suy yếu khả năng kiểm soát và tính chính đáng của đảng.

Ở Hungary và Czechoslovakia (những quốc gia phải trả giá bằng sự can thiệp của Soviet vì đã dung dưỡng các hoạt động độc lập của xã hội trong những năm 1956 và 1968), kêu gọi của giới trí thức nhằm bảo vệ các giá trị xã hội độc lập đã được hướng một cách có tính toán tới bộ phận công chúng chán ghét nhà nước ở mức độ cơ sở hơn. Vì thế, Vaclav Havel nhắc nhở các công dân Czechoslovakia rằng các hành vi công cộng nhìn bề ngoài có vẻ vô hại được thiết kế ra nhằm thỏa mãn các đòi hỏi của chế độ sẽ dẫn tới sự thoái hóa đạo đức nếu trên thực tế các giá trị của chế độ không được thực tâm công nhận. “Sống với sự thực” - hay rõ hơn là sự nhất quán giữa các giá trị cá nhân và hành vi công cộng, ngay cả khi bị chế độ trả thù - đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong công cuộc tự vệ trước sự thống trị của nhà nước-đảng.
[22] Ở Đông Đức, một nhóm những người theo chủ nghĩa hòa bình cho rằng độc lập cá nhân không phải là một vấn đề đạo đức, mà là một trách nhiệm công dân.[23] Chính trong giai đoạn này, những năm của thập kỷ 1960 và 1970, khái niệm “thành bang song song” bắt đầu xuất hiện trong văn học Đông Âu.[24] Trong một số trường hợp, “thành bang song song” diễn tả sự độc lập đạo đức của công dân trước các nỗ lực xóa bỏ không gian công của các chế độ hậu toàn trị, hoặc bằng cách làm nản lòng các sáng kiến dân sự, hoặc bằng cách thiết lập và tài trợ cho các tổ chức với mục đích thu hút sự tham dự của xã hội. Thành bang song song được cư ngụ bởi các công dân không hấp thụ các giá trị của chế độ.

Nhiều khi sự tự vệ của xã hội lại diễn ra dưới hình thức tổ chức. Ðó là khi các nhà hoạt động xã hội tạo ra các nhóm độc lập, nhằm thúc ép nhà nước thực hiện các cam kết mà nó đã hứa hẹn với các nhóm xã hội hay xã hội nói chung. Các nhóm xuất hiện trong những năm 1970 như Ủy ban Bảo vệ Công nhân (KOR) và Phong trào Bảo vệ các Quyền Dân sự và Con người (ROPCiO) ở Ba Lan, và Ủy ban Bảo vệ Người bị Ngược đãi (VONs) và Hiến chương 77 ở Czechoslovakia. KOR được thành lập với mục đích giúp đỡ công nhân và gia đình họ trước phản ứng tàn bạo của chế độ chống lại những người tham gia bãi công. ROPCiO và Hiến chương 77 là các nhóm do trí thức thiết lập, nhằm buộc chế độ phải có trách nhiệm thực hiện các cam kết về bảo vệ các quyền dân sự và con người, đưa vào hợp pháp ở các nước này, và với tư cách là những bên tham gia ký kết hiệp định Helsinki. Khuynh hướng viện đến hình thức tổ chức trong hoạt động tự vệ xã hội phụ thuộc vào mức độ đồng cảm với chế độ,
[25] mức độ thỏa mãn về kinh tế, sự độc lập của giới trí thức và tính quen thuộc của xã hội với hoạt động tổ chức. Vì thế, các nhóm hoạt động mạnh nhất đã xuất hiện ở Ba Lan. Hungary là nơi các cá nhân tin vào giới lãnh đạo nhiều hơn, mức sống cũng cao hơn, và sự chia rẽ giữa trí thức trong và ngoài đảng không sâu sắc như ở Ba Lan và Czechoslovakia, do vậy, kêu gọi tự vệ cũng bị giới hạn hơn.[26]

Trong những năm 1970, các thảo luận về “thành bang song song” tập trung vào sự độc lập đạo đức (với tư cách là cái thay thế cho sự độc tôn của chế độ trong các giá trị xã hội chính thức và việc đại diện cho các lợi ích) hơn là các kênh thể chế cho sự tham dự. Không ai đặt ra vấn đề thay thế sự lãnh đạo của đảng, thậm chí không ai đặt ra chuyện phải chấp nhận các phương pháp đại diện lợi ích mới. Các nhóm độc lập giới hạn hoạt động của mình trong việc, hoặc là giúp đỡ các nhóm xã hội khi bị nhà nước đàn áp (KOR), hoặc đòi nhà nước thực thi các trách nhiệm xã hội mà nó đã tuyên bố (Hiến chương 77 và ROPCiO). Nhà nước không thừa nhận quyền được công bố các yêu sách của các nhóm này, mặc dù trong một số trường hợp, các nhóm này được cho phép tồn tại nếu có lượng thành viên hạn chế và các mục tiêu đủ hạn hẹp (tức là không đặt vấn đề nghi vấn về tính chính đáng của chế độ).
[27]

Trường hợp Liên Xô: Bảo vệ Tính Độc lập

Dấu hiệu về một xã hội dân sự tự vệ ở Liên Xô xuất hiện không muộn hơn những dấu hiệu ở Trung Âu, thông qua bất đồng và các cố gắng bảo vệ sự độc lập về pháp lý và đạo đức, trước thâm nhập mạnh mẽ của nhà nước vào mọi dạng của đời sống xã hội. Các điều kiện bắt đầu cho một xã hội dân sự tiềm tàng đã được thiết lập, giống như ở Trung Âu, từ sự khủng hoảng có hệ thống. Đảng-nhà nước không thể loại trừ hoàn toàn hoặc kiểm soát mọi hình thức độc lập của xã hội, phần lớn vì nó đã bị chứng tỏ không hiệu quả trong việc khẳng định vai trò đại diện phổ quát.[28] Các nhóm độc lập xuất hiện hoặc để phản ứng lại các lợi ích bị nhà nước phớt lờ (trong trường hợp Liên Xô, phần lớn là vấn đề truyền bá thông tin), hoặc hối thúc nhà nước có trách nhiệm với các chính sách của nó. Hoạt động tự vệ trước sự thống trị của nhà nước được thực hiện dưới hình thức các phong trào bất đồng.

Mặc dù các nhà bất đồng chính kiến chia rẽ sâu sắc với nhau trong quan điểm về các mục tiêu của công cuộc đổi mới nhà nước Liên Xô,
[29] họ đều đồng ý trên một điểm: nhà nước chẳng có quyền pháp lý và đạo đức nào để tước đoạt quyền [tổ chức/tham gia] các hoạt động độc lập và tự chủ của các cá nhân cũng như các nhóm. Trong khi đại bộ phận trí thức tiến bộ phấn khởi trước triển vọng những cuộc cải cách của Khrushchev hướng tới nới lỏng sự kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động xã hội (trong những năm cuối thập kỷ 1950), rất nhanh sau đó người ta nhận ra rằng việc phi tập trung hóa của nhà nước, và việc giải phóng các hoạt động xã hội, sẽ đe dọa chính cái cốt lõi nhất của sự thống trị của đảng (và vì thế, các đặc quyền đặc lợi chính thức). Đến đầu những năm 1960, bất cứ hình thức hợp tác dài hạn nào giữa đảng-nhà nước và khu vực cải cách của xã hội Liên Xô đều đã trở nên bất khả thi.[30]

Trong điều kiện bị đàn áp giữa những năm 1960, các nhà cải cách hoặc chọn cách sử dụng các cấu trúc bày tỏ quan điểm và tham dự một cách hạn chế mà nhà nước cho phép, hoặc chọn cách chuyển sang hoạt động ngầm. Những người chuyển sang hoạt động ngầm xác định mục tiêu của họ là chống lại sự thống trị của nhà nước bằng cách bảo vệ sự tự chủ về đạo đức của cá nhân và xã hội. Ví dụ vào năm 1973, một thành viên của nhóm bất đồng chính kiến nhỏ có tên là Phong trào Dân chủ, ông Dmitrii Nelidov, đã mô tả các mục tiêu của nhóm này là “bày tỏ tính nhân văn trong một môi trường mà bản chất người đã bị xuyên tạc và đàn áp… [Phong trào này] mong muốn chuyển thành phong trào đấu tranh cho con người, cho các giá trị nhân cách người. Nó nỗ lực tự tách mình ra khỏi hệ thống cơ chế nhồi sọ ý thức hệ qua con đường vô thức.”
[31] Để phục vụ quá trình này, và để bù đắp lại việc nhà nước không nhìn nhận các nhu cầu chính đáng của xã hội, Phong trào Dân chủ đã xuất bản bản tin ngầm, Bản tin Sự kiện Thời sự (xuất hiện lần đầu vào tháng 4 năm 1968).[32]

Mặc dù một số thành viên của nhóm này cổ súy cho các cải cách kinh tế tận gốc rễ (tài sản tư nhân), cho tự do dân sự (tự do phát biểu ý kiến và tự do báo chí), và cho việc thừa nhận các nhu cầu dựa trên chủ nghĩa dân tộc (tự quyết), Phong trào Dân chủ nói chung lại thừa nhận đặc quyền của đảng-nhà nước trong việc thực thi các thay đổi, và vì thế bắt đầu họ đã hướng các nỗ lực của mình vào việc thuyết phục đảng-nhà nước tự đổi mới.
[33] Trong nỗ lực này, Phong trào Dân chủ chỉ là một ví dụ về các hoạt động bất đồng chính kiến xuất hiện ngày càng nhiều -mặc dù vẫn còn rời rạc- trong những năm cuối thập kỷ 1960 và đầu thập kỷ 1970. Mục đích của các hoạt động bất đồng chính kiến này là đòi nhà nước phải chịu trách nhiệm với các tiêu chuẩn pháp lý của chính họ. Một số người trong giới trí thức tư cách bảo vệ quyền tự quyết trong các hoạt động của họ bằng cách thách thức chế độ tôn trọng các tiêu chuẩn chính nó đặt ra về “tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa”. Chiến lược này được thiết kế với mục đích gây áp lực lên nhà nước, nhằm buộc nó phải tôn trọng các quy tắc pháp lý chính thức. Các nhà vận động cho chiến lược này hoạt động như thể các lãnh đạo đảng và nhà nước bị ràng buộc bởi luật pháp -mặc dù mọi người đều hiểu rằng thực ra không phải như vậy.[34] Thực ra, vì các lãnh đạo đảng và nhà nước không bị ràng buộc bởi các tiêu chuẩn pháp lý chính thức, những người sử dụng tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa để tự vệ không thể trông cậy vào các yêu sách của mình [sẽ được giới lãnh đạo đáp ứng]. Tuy nhiên, các nhóm độc lập với cấu trúc chặt chẽ đã được hình thành, nhằm buộc nhà nước phải công khai chịu trách nhiệm trước các cam kết mà nó thừa nhận chính thức trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Các ví dụ bao gồm Nhóm Quan sát Helsinki, Ủy ban vì các Quyền Con người, Quỹ Xã hội Nga Ủng hộ các Tù nhân Chính trị và Gia đình họ, và Nhóm Làm việc để Bảo vệ các Quyền Lao động, Kinh tế và Xã hội.[35]

Khi các chính quyền tăng đàn áp lên các nhóm bất đồng chính kiến trong những năm 1970, một số lượng lớn thành viên của họ bị bỏ tù, đuổi khỏi nơi cư trú hoặc ép phải lưu vong. Bị mất tinh thần, một số trong các nhà vận động còn lại quay sang cổ súy cho việc giải tán các nhóm hoạt động vì các nhóm này đã không hiệu quả trong việc khuyến khích và khởi xướng đổi mới. Tuy nhiên, những cá nhân nòng cốt lập luận rằng thay đổi chính sách bản thân nó không phải là mục tiêu chính, và nhấn mạnh nhu cầu tự vệ xã hội trước sự can thiệp của nhà nước, ít nhất trên lĩnh vực đạo đức -nếu không phải là trên lĩnh vực lập chính sách. Ví dụ Nelidov đã nhấn mạnh rằng sự thất bại ngày càng rõ của Phong trào Dân chủ trong việc thúc đẩy cải cách kinh tế, chính trị và xã hội không thể [là bằng chứng] bác bỏ ảnh hưởng của nhóm này tới “cuộc đấu tranh vì sự tự do tinh thần”. Chính sự tập trung vào quyền tự chủ đạo đức, sự thừa nhận các giá trị độc lập và các hiệp hội tự do trước sự thống trị của nhà nước đã khiến chúng tôi [muốn] so sánh quá trình tự vệ của xã hội dân sự ở Liên Xô và Trung Âu.

Tuy nhiên, bất đồng chính kiến nở rộ không giải thích thỏa đáng nền tảng cho sự phát triển của xã hội dân sự, đặc biệt là trường hợp Liên Xô. Trong khi ở Trung Âu, đại bộ phận dân cư trốn chạy khỏi đời sống công cộng, thái độ thỏa mãn đa phần là kết quả từ việc không thể thay đổi một cách hiệu quả chế độ được Moscow hậu thuẫn. Có một số các giá trị cùng được mọi người chia sẻ, bao gồm sự phẫn nộ bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc trước các chế độ bị Liên Xô thống trị, giữa các nhà bất đồng hoạt động tích cực với đám đông công dân thụ động -cái sẽ trở thành nền tảng cho các hoạt động đối lập có tổ chức trong các giai đoạn sau. Ở USSR, tình cảm chống chế độ không được đông đảo người chia sẻ như vậy. Sự phát triển bản địa của chủ nghĩa Mác-Lê nin, sự gặp gỡ giữa lợi ích của Liên Xô và lợi ích của dân tộc Nga, và các thành tựu đạt được dưới thời Stalin (công nghiệp hóa và vị trí siêu cường) đã khiến chế độ Cộng sản Liên Xô có được tính chính đáng [với dân chúng Liên Xô] nhiều hơn các đảng anh em của nó ở Trung Âu.
[36] Ðiều này, đi kèm với việc thiếu vắng một truyền thống đối lập công khai, khiến cho việc khoảng cách giữa các nhà bất đồng chính kiến hoạt động tích cực với quần chúng nói chung ở USSR lớn hơn nhiều so với ở Trung Âu.

Chất chỉ định cho kết luận này chính là sự thực rằng phong trào bất đồng chính kiến đã thu nạp được một bộ phận dân cư rất hạn chế ở Liên Xô. Thực ra, hầu hết các công dân đã không đồng cảm với những giá trị của nó.
[37] Không những nó không thể lấp đầy khoảng cách xã hội trên các mặt [thu hút] thành viên và cảm tình viên,[38] mà còn có vẻ như không có một sự chia sẻ nào về giá trị giữa các thành viên trí thức của phong trào bất đồng chính kiến và quần chúng nói chung.[39] Với khoảng cách này, sẽ là cẩu thả nếu chúng ta cho rằng phong trào bất đồng chính kiến là nguồn gốc duy nhất của một xã hội dân sự đang được thai nghén ở Liên Xô. Làm thế nào để lấp đầy khoảng cách giữa số lượng nhỏ các nhà bất đồng chính kiến với đám đông các nhà hoạt động xã hội (những người sẽ hình thành nên nền tảng cho một xã hội dân sự)? Câu trả lời được tìm thấy trong các hình thức tham dự được hình thành dưới thời Brezhnev.

Từ cách mạng 1917, các lãnh đạo Soviet đã tìm cách lái sự tham dự của xã hội qua các tổ chức do đảng thống trị và tài trợ. Đa phần những người quan sát hiện tượng “tham dự [do bị] động viên” này đều đồng ý rằng nó phục vụ cho mục đích nêu cao tính chính đáng của chế độ, sự một xác nhận mang tính lễ nghi về vai trò lãnh đạo và quyền kiểm soát mọi hoạt động xã hội của đảng. Người ta không đồng ý nhiều với nhau về vấn đề hiệu quả của chiến lược này, cả từ giác độ nhà nước lẫn góc độ của các công dân tích cực. Dù thế nào, mọi thứ cũng trở nên rõ ràng, rằng các tổ chức này (các soviet đa phương, các tổ chức nghề nghiệp, các nhóm thanh niên) đã không phản ứng được với những lợi ích đang thay đổi của một xã hội Soviet đang được hiện đại hóa. Các học giả Soviet mô tả các hình thức tham dự này là đã trở nên lố bịch, quan liêu quá đáng, và bị hướng quá nhiều vào việc duy trì các lợi ích quan liêu và tha hóa, hơn là phản ứng với các nhu cầu mà xã hội tự bày tỏ.
[40] Khi các kênh tham dự do đảng tài trợ càng trở nên vô hiệu bao nhiêu, thì các nhà hoạt động xã hội càng hướng tới các hình thức hiệp hội và tự tổ chức không chính thức.

Trong những năm 1970, các học giả Soviet ghi nhận sự xuất hiện của các lợi ích xã hội khác với những lợi ích do Đảng Cộng sản đại diện, và [sự xuất hiện này] bắt đầu làm xói mòn dần tính vững chắc của các quá trình xã hội hóa do đảng tài trợ. Thanh niên xa lánh các tổ chức thanh niên chính thức, và lập/tham gia vào các hiệp hội không chính thức,
[41] cuộc “cách mạng khoa học kĩ thuật” nuôi dưỡng các lợi ích của công nhân tay nghề cao và các nhóm quản lý, vốn không được đại diện một cách thỏa đáng bởi các tổ chức kinh tế và thương mại chính thức[42], và một bộ phận ngày càng đông các cư dân có học và được đô thị hóa, đã quay về với các quan hệ/hiệp hội phi chính thức, nhằm thỏa mãn các quyết tâm cá nhân và nghề nghiệp.[43] Nghiên cứu thực nghiệm do các học giả phương Tây thực hiện khẳng định rằng có một bộ phận đáng kể trong công chúng Liên Xô đã quay lưng lại với các kênh phát biểu lợi ích và tham dự chính thức để tham gia vào những dạng hoạt động “không chính thức”, không được tài trợ, thậm chí bất hợp pháp.[44] Sự bảo vệ tính tự chủ một cách tích cực từ phía các nhà bất đồng chính kiến trong những năm 1960 và 1970 trùng hợp với sự tự vệ ít tính đối kháng hơn bằng cuộc dịch chuyển các lợi ích nghề nghiệp và cá nhân từ phía công chúng. Trong khi cái thứ hai không tìm cách đối lập với hệ thống hoặc chế độ, sự kết hợp giữa hai yếu tố này đã tạo thành lực lượng nhà hoạt động xã hội sẵn sàng phản ứng lại với thách thức của Gorbachev về tăng cường hoạt động xã hội vào giữa những năm 1980.

Nền tảng của xã hội dân sự, vì thế, đã được hình thành qua hoạt động độc lập ngoài các kênh chính thức của cấu trúc chính trị và xã hội. Việc bảo vệ tính tự chủ, phong trào hướng tới các lợi ích tự xác định, và tự tổ chức, được duy trì hoặc chủ động bởi các nhà bất đồng chính kiến, hoặc thụ động bởi các cá nhân chỉ muốn có một cuộc sống tốt hơn nằm trong hệ thống, đã tạo nên giai đoạn “tự vệ” trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở USSR.

Khủng hoảng có hệ thống: II

Việc công dân Trung Âu và USSR ngày càng quay lưng lại với các giá trị và các kênh tham dự chính thức cho thấy rõ thất bại của đảng-nhà nước trong việc khẳng định vai trò độc tôn trong việc đại diện lợi ích và giá trị. Những thất bại này xuất hiện trong thời kỳ mà chúng tôi gọi tên là “giai đoạn tự vệ” trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự. Chúng đã xóa đi mọi hy vọng về tính chính đáng dựa trên nền tảng là sự trung thành [của dân chúng] với chế độ (quá trình này ở Trung Âu đã diễn ra nhanh hơn do quan hệ giữa chế độ ở mỗi nước với sự thống trị của Liên Xô).

Vì thế, các chế độ này đã quay lại các “yêu cầu tiên quyết về chức năng” của hệ thống, hay nói đơn giản hơn là quay lại dựa vào các thành tích kinh tế và chính trị. Khi mọi chuyện trở nên rõ ràng rằng tính chính đáng không thể được duy trì trên nền tảng các giá trị được chia sẻ hoặc các lợi ích chung, thì các chế độ buộc phải phát minh ra các “khế ước xã hội” mà theo đó công dân được hưởng một phần lợi từ hệ thống, [đồng thời khiến họ] phụ thuộc vào việc bảo đảm quyền lãnh đạo của đảng và việc duy trì trật tự xã hội. Đây là một chiến lược có tính toán của Kadar ở Hungary,
[45] được Brezhnev của USSR[46] và Husak của Czechoslovakia sao chép lại trong những năm cuối thập kỷ 1960 và thập kỷ 1970, được giới lãnh đạo Gierek ở Ba Lan thực hiện suốt cả thập kỷ 1970.[47] Theo thuật ngữ khế ước xã hội, chế độ bảo đảm tăng dần mức sống và phong phú hóa chủng loại/số lượng hàng tiêu dùng, cung cấp phúc lợi cho công chúng, tăng lương và các biện pháp khuyến khích khác cho công nhân. Đổi lại, các cá nhân phải chấp nhận sự thống trị của đảng trên toàn xã hội, gồm cả việc họ phải rút lui khỏi các hoạt động chính trị và các hiệp hội công cộng không được nhà nước cho phép.

Tuy nhiên, mặt kinh tế của khế ước này không đủ để giải thích cân bằng tương đối ở Trung Âu, vì, như Stephen White đã chỉ ra, trong các giai đoạn kinh tế suy thoái ở Hungary, Czechoslovakia, Romania và Yugoslavia, người ta đã không thấy bất kỳ một đe dọa nghiêm trọng nào đối với khả năng kiểm soát của chế độ.
[48] Thực ra, khế ước này đã sản sinh ra một hệ quả chính trị: nhờ việc nới lỏng tương đối sự kiểm soát về chính trị (đặc biệt là đối với các thành viên được tin tưởng trong giới trí thức ngoài đảng, tầng lớp ưu tú văn hóa và nghề nghiệp, và các nhà khoa học tự nhiên) mà các cá nhân này có nhiều khoảng tự do nghề nghiệp hơn khi chấp nhận quyền lãnh đạo của đảng.[49] Trong khi có nhiều phiên bản khác nhau về kiểu và các điều kiện của khế ước xã hội ở mỗi nước trong khu vực Trung Âu và USSR, các quy định chung đã cung cấp sự ổn định tương đối và ngăn ngừa được các hoạt động độc lập quy mô lớn trong suốt thập kỷ 1970.

Tuy nhiên, vào cuối thập kỷ này, nền tảng trên đó các chế độ thiết kế nên các khế ước xã hội đã bắt đầu đổ vỡ. Không chỉ chuyện nền kinh tế tập trung liên tục gặp khó khăn, mà chi phí cho việc bao cấp các thua lỗ của hệ thống khiến chế độ không thể thực hiện được các thỏa thuận kinh tế. Với việc cần phải áp dụng các biện pháp khắc khổ, các chế độ không còn khả năng dựa vào sự ủng hộ của những nhóm cảm tình viên truyền thống, đặc biệt là công nhân. Về mặt chính trị, các lãnh đạo nhận ra rằng khó mà nhượng bộ tự do từng phần cho các nhóm được ưu đãi trong xã hội mà không chịu rủi ro bị chỉ trích về các chính sách của chính họ và các áp lực tiếp tục giải phóng.
[50] Cuộc giải phóng về chính trị do chế độ khởi xướng đã tạo ra các sức ép mới bằng việc nuôi dưỡng một môi trường đa nguyên nhất định về lợi ích trong xã hội, trong khi [môi trường ấy] vẫn tiếp tục phê phán nghiêm khắc sự cai trị ngày càng kém hiệu quả của bộ máy đảng-nhà nước.

Sự tan rã của các khế ước xã hội đặt ra câu hỏi về tính chính đáng của chế độ dựa trên bảng thành tích kinh tế và chính trị [nghèo nàn]. Các cuộc khủng hoảng tính chính đáng đang tiềm tàng đẩy chế độ vào việc lựa chọn một chiến lược mà, dựa trên nhiều tình huống khác nhau, trở nên phổ biến tại các nước Trung Âu và Liên Xô. Chiến lược này, hoặc được phỏng đoán dựa trên áp lực xã hội, hoặc được thừa kế bởi giới lãnh đạo có đầu óc cải cách, là nhằm tạm ngăn chặn các cuộc khủng hoảng đang treo lơ lửng bằng cách nới rộng không gian hợp pháp cho các hoạt động công cộng độc lập. Bằng việc thừa nhận một phạm vi rộng rãi hơn cho các hoạt động độc lập, bất kể là chính sách chủ động (proactive) hay thụ động (reactive) với thực tế, các chế độ đã vô tình tạo ra một không gian cho xã hội dân sự phát triển. Tại những nơi các cuộc khủng hoảng kinh tế đóng vai trò chất xúc tác cho chính sách này, mục đích của chế độ thông qua chính sách này là nhằm chuyển một phần gánh nặng của cái đáng nhẽ ra là cải cách kinh tế của nhà nước sang vai các nhà hoạt động xã hội độc lập. Tại những nơi nổ ra các khủng hoảng chính trị, các chế độ này thấy cần phải giảm bớt các phong trào quy mô lớn có thể nổ ra bằng cách nhìn nhận tính hợp pháp của các nhóm độc lập. Trong cả hai trường hợp, các chế độ này đều hy vọng làm giảm căng thẳng bằng cách chấp nhận một số mức độ hoạt động độc lập giới hạn, trong khi tìm cách mở rộng cơ sở ủng hộ cho mình và giữ vững hệ thống cũng như quyền lực của Đảng Cộng sản.
[51]

Chính sách này đem lại cơ hội cho các nhà hoạt động xã hội và các nhóm tham gia vào không gian công, công khai bày tỏ các quan tâm của họ và các lộ trình cải cách. Đến thời điểm này, quá trình bảo vệ tính tự chủ của cá nhân và nhóm đã chuyển sang quá trình xuất hiện của xã hội dân sự, bùng lên với việc đảng-nhà nước cải cách nhượng bộ cho các nhà hoạt động độc lập tính chất bán-hợp pháp.

Sự xuất hiện của xã hội dân sự: Trung Âu

Bằng chứng đầu tiên về sự tồn tại của một xã hội dân sự tự tổ chức và độc lập ở khối Cộng sản là sự xuất hiện của Công đoàn Đoàn kết của Ba Lan vào năm 1980. Phong trào này được hình thành bởi một liên đoàn các ủy ban đình công được tổ chức và ủng hộ bởi công nhân và trí thức, và trình diện với giới lãnh đạo đảng như là một fait accompli (thực tế không thể đảo ngược). Vào đầu năm 1981, có khoảng trên 8 triệu người Ba Lan đã tham gia Công đoàn Đoàn kết, gồm cả một phần ba số đảng viên Cộng sản.[52] Chương trình của Công đoàn Đoàn kết bao gồm các mục tiêu kinh tế như giao quyền tự quản lý cho các doanh nghiệp và phi tập trung các quá trình kinh tế, các mục tiêu chính trị như hạn chế việc kiểm duyệt và mở rộng tự do dân sự, bao gồm cả tự do báo chí.[53] Bộ khung cho hoạt động tự tổ chức này đã được Adam Michnik phát triển vài năm trước đó (ông là một nhân vật nổi bật trong cả KOR lẫn Công đoàn Đoàn kết). Chủ nghĩa tiến hóa mới của ông là một chiến lược làm tăng hoạt động tự tổ chức của xã hội (cái sẽ “empower” -đem lại quyền lực cho- xã hội) trong khi vẫn chấp nhận vai trò lãnh đạo của đảng đối với các chức năng của nhà nước và với việc hoạch định kinh tế dài hạn.[54]

Chiến lược này khuyến khích “[các cuộc] đổi mới và cách mạng hướng tới việc mở rộng tự do dân sự và các quyền con người”, bắt nguồn không phải từ các nhóm đổi mới trong đảng, mà từ hoạt động của xã hội “hướng tới đối tượng là công chúng độc lập…”
[55] Nhà nước và cuộc cải cách lấy đảng làm trung tâm (dựa cả trên sự thay đổi trong đảng và các kêu gọi của giới trí thức yêu cầu đảng-nhà nước mở rộng các quyền dân sự) đã được chứng minh là thất bại ở Ba Lan, Hungary, và Czechoslovakia. “Chủ nghĩa tiến hóa mới” khác với các nỗ lực của các nhà cải cách ở giả định của nó về tính “không thể tự đổi mới” của đảng, và đặt “niềm tin vào quyền lực của giai cấp lao động” như là con đường duy nhất để gây áp lực đòi dân chủ hơn. Chiến lược mới này của lực lượng đối lập là nhượng bộ quyền lực của Đảng Cộng sản Ba Lan (được sự hậu thuẫn của Liên Xô) trên lĩnh vực các chức năng của nhà nước; trong khi khuyến khích xã hội đẩy lùi các đường biên kiển soát của đảng-nhà nước bằng cách chủ động đấu tranh đòi mở rộng tự do dân sự, tự do phát biểu ý kiến và tự chủ trong hành động.

Sự phát triển về tổ chức của Công đoàn Đoàn kết -với tư cách là một chủ thể hoạt động có khả năng thâm nhập vào không gian công và tìm cách ảnh hưởng (có thể là đưa ra) chính sách- đã đặt ra câu hỏi về sự xuất hiện của xã hội dân sự cùng tồn tại với đảng-nhà nước. “Chủ nghĩa tiến hóa mới” giả định rằng một phong trào xã hội độc lập có thể đạt được các mục tiêu của mình trên các lĩnh vực như công nhân tự quản trị (worker self-management) và công dân tự quản lý (citizen self-government), trong khi vẫn thừa nhận quyền lực của nhà nước đối với nền chính trị quốc gia (bao gồm, ban đầu là nomenklatura [nhóm quyền lực quan liêu]- quyền tự chọn lựa các nhân vật lãnh đạo chủ chốt không qua bầu cử dân chủ), hoạch định đường lối kinh tế, và các công cụ bạo lực. Cách tiếp cận tân-Gramsci này xuất hiện trong điều kiện mà khế ước giữa một xã hội độc lập và một nhà nước mềm mỏng đã trở nên không khả thi. Một khế ước như vậy sẽ phải gồm các bảo đảm thể chế cho hoạt động xã hội độc lập và các diễn đàn độc lập để phân xử những vi phạm khế ước. Cả hai yếu tố này sẽ xâm phạm vào các đặc quyền truyền thống của đảng trong việc duy trì sự lãnh đạo của mình. Với việc đảng nắm độc quyền đàn áp và mối đe dọa luôn hiển hiện từ phía Liên Xô, một xã hội độc lập tự tổ chức chấp nhận vai trò bá chủ của Đảng Cộng sản là cái tốt nhất có thể hy vọng đến, trong “thế giới của những điều có thể”.
[56]

Trong khi xác định lại mục tiêu của các cuộc đổi mới và ở một mức độ nào đó, định nghĩa lại ý nghĩa của “quyền lực”, những ảnh hưởng ban đầu của Công đoàn Đoàn kết có thể đã thấp hơn nhiều nếu không có sự thừa nhận chính thức từ phía nhà nước về sự tồn tại hợp pháp của nó. Stanislaw Kania, người đã thay thế Gierek năm ngày sau khi các hiệp ước Gdansk được ký kết vào tháng Tám năm 1980, đã buộc phải đưa ra sự thừa nhận pháp lý này vì tầm quan trọng của công nhân đối với sự ổn định xã hội và tính chính đáng của chế độ. Bộ máy lãnh đạo Kania muốn đưa Công đoàn Đoàn kết vào trong cấu trúc đảng-nhà nước đã tồn tại từ trước, buộc nó phải chia sẻ gánh nặng của các giải pháp khắc khổ không được quần chúng ủng hộ, mà không cho phép nó tích lũy bất cứ quyền lực nào trong cả quá trình đó.
[57] Ở Ba Lan, khủng hoảng kinh tế cuối thập kỷ 1970 đã buộc đảng phải nhượng bộ một vũ đài rộng rãi hơn cho sự tham dự độc lập (nhưng có kiểm soát) của công chúng, nhằm ngăn chặn thảm họa kinh tế và tan rã xã hội.[58]

Ở Hungary và Czechoslovakia, nơi các chế độ được thiết lập sau chính biến năm 1956 và 1968 đã loại trừ một cách hiệu quả các hoạt động độc lập ở quy mô lớn, yếu tố đưa đến sự ra đời của xã hội dân sự là các cuộc khủng hoảng tính chính đáng cả trên lĩnh vực chính trị và kinh tế.
[59] Sự khuyến khích của Gorbachev về “hoạt động sáng tạo của đám đông [của chính ông ta]” cũng như việc Liên Xô cắt bớt viện trợ cho các chế độ Cộng sản Trung Âu đã làm xói mòn vai trò lãnh đạo của chế độ gia trưởng Kadar ở Hungary và các chiến lược đàn áp của Husak ở Czechoslovakia, đem đến các động lực mới cho các nhà hoạt động xã hội độc lập.

“Chủ nghĩa tiến hóa mới” ảnh hưởng tới các hoạt động không chỉ của Công đoàn Đoàn kết cả trước và sau thiết quân luật của Jaruzelski năm 1981, mà còn của FIDESZ (Liên Đoàn các Nhà Dân chủ Trẻ) và HDF (Diễn Đàn Dân chủ Hungary), Phong trào vì Tự do Dân sự ở Czechoslovakia, và các nhóm hòa bình ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức vào cuối thập kỷ 1980.
[60] Trong mỗi trường hợp, số lượng các nhà hoạt động xã hội ngày một đông đã cố gắng một cách có ý thức nhằm tham gia vào các diễn đàn công cộng độc lập. Các nhóm độc lập được thành lập nhanh chóng nhằm biểu đạt các giá trị và lợi ích ngoài đảng (vốn đã được nêu ra một cách ngần ngại trong thời kỳ tự vệ) hoặc hành động theo các giá trị và lợi ích này. Các nhóm vốn chỉ đưa ra các yêu sách hạn chế trong giai đoạn tự vệ thì nay mở rộng chúng. Họ cũng thiết lập các kết nối tổ chức với các nhóm khác, nhằm biến mình thành những phương tiện truyền tải sự tham dự rộng rãi của xã hội.[61] Cùng lúc, các yêu sách của họ ngày càng trở nên tập trung vào chính trị khi đòi hỏi phạm vi rộng rãi hơn cho các hoạt động độc lập và được quyền tham dự vào các quá trình lập chính sách (trước đây vốn là độc quyền của chế độ Cộng sản phi hiệu quả).

Ví dụ như ở Hungary, nhóm Danube đã được thành lập năm 1984 nhằm phản đối việc xây dựng đập nước Danube, hoạt động trên giả định rằng các mục tiêu về môi trường là phi chính trị. Cho đến năm 1988, các bộ phận của nhóm này đã đi đến kết luận rằng sự thay đổi xã hội không thể đến nếu không có một cuộc đấu tranh chính trị công khai chống lại đảng.
[62] Cũng trong giai đoạn này, các nhóm độc lập ở Hungary bắt đầu tiến hành các chiến lược thừa nhận quyền lãnh đạo của đảng, nhưng kêu gọi sự hình thành một xã hội độc lập. Năm 1987, tạp chí đối lập Hungary Beszelo cho xuất bản một chương trình “đổi mới chính trị” theo đó “công nhận quyền lãnh đạo của đảng như là đã định trước” nhưng tiến tới một “nền đa nguyên được đưa vào luật”.[63] Chỉ trong một năm, nhiều kêu gọi cấp tiến hơn bởi các nhóm độc lập Hungary được nêu ra cho công chúng độc lập, dựa trên nền tảng là “xã hội có trách nhiệm tham gia vào việc hình thành bản sắc của chính nó,” vì “sự bảo đảm cao nhất và nơi chứa đựng dân chủ chính là một xã hội dân chủ, đã thức tỉnh về chính trị, chứ không phải nhà nước.”[64] Ở Czechoslovakia, Phong trào vì Tự do Dân sự (HOS) hướng các kêu gọi của họ tới công chúng chứ không phải tới nhà nước. Họ lập luận rằng chính công chúng phải tham dự vào vũ đài chính trị vì “các chính quyền toàn trị” không có khả năng thực hiện các thay đổi chính trị và kinh tế cần thiết để đem lại sức sống mới cho sự tồn tại của đất nước.[65]

Khi xã hội ngày càng phản ứng lại với thách thức, các nhà hoạt động xã hội độc lập càng xuất hiện rõ, và các hoạt động của họ cũng ngày càng sôi nổi (hoặc thông qua các nhóm xã hội, hoặc trong các cuộc biểu tình quy mô lớn), và các mục tiêu đấu tranh của họ ngày càng được chính trị hóa. Trong khi các đảng Cộng sản cầm quyền buộc phải nhượng bộ, họ cũng cố gắng phá hoại hoạt động độc lập tại mọi ngả rẽ, bằng cách trì hoãn việc đăng ký pháp lý, không cho tiếp cận các nguồn lực (Ba Lan và Hungary), hoặc đàn áp và bắt giam các nhà hoạt động nổi bật nhất (Czechoslovakia). Chính sách hai mặt, vừa đối thoại vừa đàn áp này đã gây hiệu ứng ngược lại tới các đảng [cầm quyền] vì sự chia rẽ nội bộ bắt đầu phát sinh trong việc xác định chiến lược nào có lợi nhất, đàn áp hay tăng cường tự do. Sự chia rẽ này dẫn đến việc từ chức hàng loạt từ đủ mọi thứ bậc trong đảng (Ba Lan năm 1980), và tăng cường sức mạnh của bộ phận cải cách trong các Đảng Cộng sản -những người muốn đàm phán với lực lượng đối lập bất kể mong muốn của các thành phần cứng rắn (Hungary và Czechoslovakia).
[66] Sự chia rẽ trong các đảng cầm quyền đem lại lợi thế cho lực lượng đối lập -những người đang gây áp lực lên các chế độ này qua các phương tiện như Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan, các nhóm có tổ chức ở Hungary, và các cuộc biểu tình rầm rộ ở Czechoslovakia, đòi tăng tốc độ cải cách. Cuối cùng, điều này đã đóng góp vào quá trình giải thể các chế độ cộng sản.

Ở Ba Lan, Hungary và Czechoslovakia, các nền tảng cho một xã hội dân sự độc lập được xây dựng trên cơ sở các sáng kiến xã hội từ bên dưới, được thiết kế nhằm đem lại quyền lực cho xã hội trong điều kiện Cộng sản thống trị toàn bộ các chính sách quốc gia. Chiến lược của các nhà hoạt động xã hội là chấp nhận vị trí độc tôn của đảng, trong khi lại tạo dần ra một vương quốc tự chủ được nhìn nhận là hợp hiến và hợp pháp bởi chính cái nhà nước vẫn đang bị thống trị bởi một đảng duy nhất. Ẩn ý là hoạt động độc lập sẽ phải tự giới hạn trong khi tìm kiếm các mục đích của mình, sao cho không đe dọa đến quyền lực quốc gia của đảng.

Lịch sử cho chúng ta thấy rằng chiến lược “chủ nghĩa tiến hóa mới” không thể tồn tại lâu dài. Các phong trào độc lập, bất kể sự xâm lấn của họ vào các chức năng nhà nước bị giới hạn đến đâu, vẫn không thể tự giới hạn mình trong bối cảnh các tiêu chí của đảng về tính chính đáng. Các đảng Cộng sản theo khuynh hướng cải cách và đang bị chia rẽ không thể chấp nhận các ẩn ý về hoạt động thực sự độc lập. Cân bằng quyền lực vì thế nhất thiết chỉ mang tính tạm thời. Bên nào sẽ là người chiến thắng phụ thuộc phần lớn vào các bối cảnh quốc tế và chính sách nội bộ của USSR.

Năm 1981, lãnh đạo Jaruzelski ở Ba Lan đàn áp Công đoàn Đoàn kết khi phong trào này bắt đầu động viên, không chỉ các thành viên của họ, mà còn dân chúng nói chung. Sau khi Gorbachev giải thích rõ các điều kiện mới cho quyền lực của các đảng cầm quyền và sự can thiệp của Liên Xô trở nên ngày càng ít khả năng, ở Ba Lan (1988), Hungary (1988-89) và Czechoslovakia (1989) đã có sự bùng lên của xã hội dân sự, và nó nhanh chóng động viên để tiến tới lật đổ các chế độ Cộng sản đã suy yếu. Không có sự hậu thuẫn của Liên Xô, các chế độ vốn đã suy yếu giờ đây phải đối mặt với một xã hội độc lập -mà trong đó các thành viên của nó lúc này đã có thể lựa chọn trung thành với bên nào. Các nỗ lực hời hợt ban đầu nhằm kiềm chế một xã hội dân sự tự tổ chức và độc lập -cái đang tìm kiếm một tạm ước với chế độ- đã đem lại cuộc động viên của các nhà hoạt động xã hội; và những cuộc động viên này lần lượt lật đổ các chế độ ở từng nước một. Bây giờ chúng tôi sẽ chuyển sang bàn về trường hợp của Liên Xô và so sánh các hình mẫu của diễn trình phát triển xã hội dân sự trong các giai đoạn hình thành của nó.

Liên Xô

Động cơ cho các tham dự độc lập ở USSR bắt nguồn từ các lãnh đạo đảng theo đường lối cải cách thay vì từ các áp lực nhịp nhàng của các nhà hoạt động xã hội độc lập (như ở Trung Âu). Chính Gorbachev và những người ủng hộ ông đã công khai nhìn nhận các yếu tố “tiền khủng hoảng” của hệ thống Soviet. Cuộc khủng hoảng lúc đầu được định nghĩa trong các giới hạn kinh tế và xã hội.[67] Nhưng cuối cùng, người ta [buộc phải] nhìn nhận là cuộc khủng hoảng tổng thể đó có nhiều âm hưởng chính trị. Sự nhìn nhận đó đi xa tới mức thừa nhận rằng CPSU (đảng Cộng sản Liên Xô) đã không thể lấy được lòng tin của công chúng Soviet. Giải pháp cho cuộc khủng hoảng này phụ thuộc vào sự ủng hộ tiêu cực từ xã hội, không chỉ để phục sinh các quá trình kinh tế và xã hội, mà còn để chống lại sự đối kháng chắc chắn từ giới quan chức đang trong các cơ quan quyền lực.

Bắt đầu từ 1985, các nhà cải cách của đảng và của giới trí thức đã khuyến khích các hoạt động độc lập của quần chúng -những người sẽ tham dự tập thể vào việc giải quyết các bài toán kinh tế và xã hội vốn trước đây bị đảng-nhà nước tảng lờ hoặc làm trầm trọng thêm. Lúc đầu được nhìn nhận là sự lên tiếng của công chúng về các bất bình (discontent) và quan điểm (opinion), cuối cùng, sự tham dự độc lập được chấp thuận trong ranh giới của “nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa”. Nếu xem xét tầm nhìn của nó về quan hệ nhà nước và xã hội được tái thiết lập, thì nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa của Gorbachev là một dạng “thuyết tiến hóa mới” bắt nguồn từ nhà nước. Trong khi thừa nhận quyền tự chủ của các cá nhân và nhóm, các nhà cải cách giả định rằng các hoạt động độc lập sẽ tự giới hạn và chỉ nằm trong ranh giới của chủ nghĩa xã hội mà đảng xác định. Hợp tác giữa đảng-nhà nước với hoạt động độc lập tự giới hạn sẽ dẫn tới một nền kinh tế năng động hơn, các điều kiện xã hội khỏe khoắn hơn, và một quá trình chính trị hiệu quả hơn.

Trong giai đoạn “xuất hiện” này của xã hội dân sự, hầu hết các nhà cải cách trong đảng và trong giới trí thức giả định rằng các hoạt động xã hội độc lập sẽ chỉ nằm trong khuôn khổ các mục tiêu do Đảng Cộng sản đặt ra, nhưng là cái mà giờ đây chịu ảnh hưởng bởi các phát biểu tự do công khai. Chiều hướng của các hoạt động trong một xã hội dân sự bán độc lập sẽ phải được quyết định bởi Đảng Cộng sản-mới-được-dân-chủ-hóa. Nhà phân tích xã hội Soviet, Andranik Migranian, viết năm 1987:

Khả năng thực tế duy nhất để xã hội có thể kiểm soát quyền lực là kích hoạt xã hội dân sự và thể chế hóa mối liên hệ chính của nó. Các nỗ lực gần đây do Đảng thực hiện nhằm xóa bỏ sự giám hộ và các quy định của các cơ quan quyền lực nhà nước (các bộ và các ban) đối với hoạt động của các tập thể lao động (work collectives), và trao cho họ quyền độc lập hơn trong việc giải quyết các bài toán kinh tế và xã hội trong doanh nghiệp của họ, và trong xã hội nói chung, là một bước quyết định trên con đường đi đến sự thay đổi cán cân lực lượng giữa bộ máy hành chính và xã hội dân sự theo hướng có lợi cho xã hội..., CPSU, với tư cách là lãnh đạo thực sự của giai cấp lao động và của người dân Soviet, đã trở thành người khởi xướng và dẫn dắt quá trình tái cấu trúc mang tính cách mạng này.
[68]

Trong khi các nhà cải cách khác suy đoán sự đối kháng giữa các nhóm xã hội (đại diện cho sự xuất hiện của xã hội dân sự) và đảng sẽ tăng lên, vì thế, ở một mức độ nhất định, họ thừa nhận xung đột là một phần sẵn có của xã hội dân sự, họ cũng mường tượng ra sự xuất hiện của nó trong bối cảnh “các mục tiêu chủ nghĩa xã hội,” “các nguyên tắc nhân văn,” và các nguyên lý nền tảng của “chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa nhân văn, và dân chủ.” Các nhà cải cách trong chính quyền hiếm khi đưa ra một cơ chế để xác định những thuật ngữ này khi [hiện thực đã] vượt ra ngoài status quo (nguyên trạng). Nhiệm vụ xác định các mục tiêu phát triển xã hội và quan hệ kèm theo giữa nhà nước và xã hội sẽ nằm trong quyền phán quyết của nhà nước độc đảng. Tầm nhìn của Gorbachev về “nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa” (ban đầu được chấp nhận bởi nhiều nhà cải cách ở cương vị cao) được dựa trên giả thuyết rằng nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa có thể cùng tồn tại với nhà nước độc đảng.

Ngôn ngữ của các nhà cải cách Soviet trong những năm đầu cầm quyền của Gorbachev cũng giống với của giới trí thức Trung Âu trong thập kỷ 1970 và đầu 1980 khi họ kêu gọi giải phóng xã hội khỏi nhà nước đàn áp và đang mất dần hiệu lực. Ví dụ Arbatov và Batolov viết rằng “sự nối tiếp lô gíc của quá trình hướng tới việc giải phóng cho các tổ chức xã hội đông đảo là việc phát triển mở rộng các hoạt động chính trị và xã hội của quần chúng toàn quốc.”
[69] Giống như các nhà quan sát sự xuất hiện của xã hội dân sự ở Trung Âu, họ lưu ý rằng quá trình giải phóng xã hội phải diễn ra trong khuôn khổ của nhà nước đổi mới, một nhà nước sẵn sàng đẩy lùi các ranh giới phán quyết của mình.

[Quá trình này có thể]…đến đồng thời từ bên trên -từ sự chỉ đạo của nhà nước, và từ bên dưới -từ các doanh nghiệp, các hiệp hội của công dân, các tổ chức quần chúng, những người không đơn giản chỉ biết hoan hô đảng và nhà nước, mà còn biết đưa ra các giải pháp thay thế bắt nguồn từ các sáng kiến của quần chúng, hiện thân của các kinh nghiệm cụ thể của họ, và có thể các giải pháp này còn khác biệt hẳn so với các khuyến nghị về quản lý các quá trình xã hội của bộ máy nhà nước.
[70]

Các nhà lý thuyết Soviet thừa nhận ảnh hưởng của một nhà nước quá hùng mạnh vốn khiến cho cá nhân và xã hội ngạt thở, và kêu gọi phát triển một xã hội dân sự dựa trên các tổ chức độc lập và các hoạt động công cộng độc lập khỏi các ràng buộc quan liêu và hành chính của nhà nước. Họ kêu gọi tái cấu trúc lại quan hệ giữa nhà nước và xã hội, nhằm tạo ra và bảo vệ biên giới của xã hội dân sự tự chủ ở USSR, cái sẽ bao gồm các tổ chức quần chúng độc lập, sự bình đẳng của công dân trước pháp luật, một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp, một nền hành chính trung lập, tự do thông tin và phát biểu ý kiến. Bộ máy nhà nước phải được hợp lý hóa để trở nên hiệu quả hơn trong tác nghiệp hành chính và thực thi chính sách.
[71] Đảng Cộng sản sẽ có được tính chính đáng trong kiểm soát bộ máy nhà nước nếu nó chấp nhận phê bình từ các nhóm xã hội, tham gia vào đối thoại chính sách, và chuyển hướng bộ máy quan liêu của nó khỏi các khuynh hướng lập chính sách và tập trung hơn vào các chức năng giới hạn của quản lý nhà nước.[72]

Kêu gọi (sự tham gia của xã hội) của Gorbachev được đáp lại một cách đáng ngạc nhiên. Giữa 1986 và 1988, có sự bùng nổ của các hoạt động nhóm độc lập, với khoảng xấp xỉ 30000 “nhóm không chính thức” (không đăng ký với nhà nước và không được tài trợ bởi Đảng Cộng sản) lộ diện hoặc được thiết lập hoàn toàn mới. Mục tiêu của các nhóm này trải rộng trên nhiều lĩnh vực và phân tán, bao gồm các quan tâm về môi trường, văn hóa, lịch sử, chủ nghĩa dân tộc, chính trị và xã hội. Trong khi phần lớn các nhóm tập trung vào các vấn đề “cuộc sống hàng ngày,”
[73] chứ không phải muốn thay đổi chính trị, chính hiện tượng tổ chức độc lập này đã có nhiều ý nghĩa trong việc làm xói mòn tính chính đáng và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Giống như ở Trung Âu, Đảng Cộng sản Soviet đã tìm cách đưa các nhóm không chính thức vào trong các tổ chức do đảng tài trợ, hoặc khi mục đích này thất bại, thì đưa các nhóm này vào dưới chiếc ô của các tổ chức mặt trận quần chúng do đảng ủng hộ.
[74] Trong khi hầu hết các nhóm lúc đầu đều ủng hộ chính sách perestroika (tái cấu trúc) của Gorbachev, cuối cùng thì người ta cũng thấy rằng sự quan liêu của đảng (với sự giúp đỡ của các lãnh đạo CPSU bảo thủ) không chỉ tìm cách phá hoại các hoạt động độc lập mà còn cản đường perestroika. Khi các nhóm tìm cách tổ chức, các ủy ban đảng địa phương và các Soviet đã từ chối cấp giấy phép cho các cuộc mít tinh công cộng và các cuộc biểu tình, kéo dài các thủ tục đăng ký hợp pháp hóa hoạt động độc lập, và tìm cách ngăn chặn các nhóm này tiếp cận tới các nguồn lực.[75] Tại mức độ toàn bang, quan chức các bộ tìm cách ngăn chặn bất cứ các hoạt động nhóm độc lập nào đe dọa đến quyền phán quyết của bộ trong việc tài trợ các dự án xã hội. Khi các cơ quan chức năng của đảng và nhà nước trở nên bất thỏa hiệp và hung hăng phản ứng lại các sáng kiến của xã hội, các nhà vận động độc lập trở nên lạnh nhạt với những thay đổi do nhà nước khởi xướng và quay lại nhạo báng perestroika của Gorbachev.[76] Giống như ở Trung Âu, nỗ lực của các nhóm độc lập nhằm hoạt động trong ranh giới bất định của các chương trình cải cách của Gorbachev, và theo đuổi các mục tiêu độc lập trong khuôn khổ pháp lý liên tục thay đổi, đã gặp phải cách đối xử hai mặt từ phía các quan chức của đảng và nhà nước. Điển hình là trường hợp nhóm Memorial (gồm nhiều trí thức Moscow tổ chức lại để xây dựng một khu tưởng niệm các nạn nhân của thời kỳ khủng bố Stalin). Hiến chương của nhóm quy định sự tôn trọng các chuẩn mực hợp pháp trong việc thiết lập và các hoạt động của nhóm.[77] Khi Bộ Văn hóa tìm cách vô hiệu hóa mục đích của Memorial bằng cách xây dựng riêng một khu tưởng niệm khác và sung công toàn bộ số tiền mà nhóm này quyên góp được, thì mọi người đều hiểu rõ rằng hiến pháp hiện có không phải là cái giúp bảo đảm quyền tự chủ của các hoạt động nhóm độc lập và tự tổ chức.

Ngay cả khi đối mặt với sự phá hoại [từ nhà nước] như thế, cũng như những trì hoãn kéo dài trong việc đưa ra các bảo đảm pháp lý đã được hứa hẹn từ trước cho các hiệp hội quần chúng độc lập,
[78] các nhà vận động độc lập vẫn kiên trì tổ chức các nhóm, nhằm nêu ra và tìm cách đạt được các mục tiêu độc lập. Khi các nhóm ngày càng giỏi quảng bá các hoạt động của họ và đến được với đông đảo công chúng, các mục tiêu của họ cũng ngày càng được chính trị hóa, giống như ở Trung Âu.[79] Các nhóm bắt đầu liên kết các mục tiêu của họ với những thay đổi trong toàn hệ thống, gồm cả việc tái cấu trúc quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Các nhà hoạt động xã hội ngày càng thấy rằng mục tiêu của họ không thể đạt được trong khuôn khổ hệ thống chính trị hiện tại. Khi mô tả các nỗ lực của người dân Moscow chống lại việc xây dựng một đại lộ cắt ngang qua khu đông dân cư sinh sống và có nhiều di sản lịch sử, một nhà phân tích Soviet đã nhận ra rằng “những người dân này vẫn chưa tìm thấy những người bảo vệ lợi ích thực sự của họ nơi các vị hội đồng địa phương.”[80] Trong một diễn biến giống với các quá trình tổ chức ở Trung Âu, các hội đồng -tự tài trợ của các chính quyền- tự tổ chức ở địa phương và các câu lạc bộ cử tri đã xuất hiện ở Liên Xô, nhằm theo đuổi các dự án địa phương vốn trước đây bị quản lý một cách phi hiệu quả bởi các Soviet.[81]

Ảnh hưởng của Chủ nghĩa Dân tộc.


Ở Ba Lan và Hungary và, với mức độ thấp hơn, ở Czechoslovakia, chủ nghĩa dân tộc đóng vai trò chất kết dính trong các nhóm độc lập và các hoạt động quần chúng, vì nó đã truyền bá một tập giá trị được mọi người chia sẻ khi xã hội dân sự hình thành trong bối cảnh một đảng thống trị. Khác biệt trong tính cố kết của xã hội dân sự ở Nga và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ cho thấy rõ vai trò đoàn kết của ý thức về chủ nghĩa dân tộc giữa các nhóm dân cư ở các vùng lãnh thổ khác nhau. Tại các nước cộng hòa ngoài-Nga này, chủ nghĩa dân tộc đóng vai trò là sức mạnh gắn kết hoạt động nhóm độc lập, khi các nhóm theo đuổi các mục tiêu khác nhau thống nhất lại trong các tổ chức “mặt trận nhân dân”, nhằm gây sức ép đòi độc lập. Trong khi tạm thời gạt sang một bên các xung đột chính trị và xã hội, và tập trung vào mục đích đoàn kết vì nền độc lập quốc gia, các phong trào quần chúng này đã hình thành mối quan hệ làm việc với các tổ chức Đảng Cộng sản trong các nước cộng hòa này, và cuối cùng đã thu hút các đảng cộng sản vào một nỗ lực chung là tranh thủ sự hộ của những cử tri có đầu óc độc lập. Với người Nga, không giống như những người không thuộc Nga, họ không có một tiêu điểm chung mà xung quanh nó, các giá trị chung về chủ nghĩa dân tộc có thể kết tinh. Không có một kẻ thù chung, và với sự cạnh tranh giữa các nhãn hiệu chủ nghĩa dân tộc khác nhau (gồm Bolshevist quốc gia, tự do phương tây, các phiên bản Slavophile, cũng như hàng loạt các nhãn hiệu chủ nghĩa sô-vanh quốc gia
[82]), không thể nào hình thành được một tập hợp các giá trị chung hay một vị trí chung để đối mặt với sự thống trị của chế độ. Sự thiếu vắng một chủ nghĩa dân tộc có tính kết dính đã đóng góp vào việc [tồn tại] nhiều khuynh hướng tách biệt của xã hội dân sự mới xuất hiện ở cộng hòa Nga.

Trong khi sự vắng bóng một chủ nghĩa dân tộc có tính kết dính đã cản trở các nỗ lực hình thành những mặt trận quần chúng, hoặc thống nhất các phong trào quần chúng lại để thách thức quyền lãnh đạo của nhà nước, phạm vi và mức độ của các hoạt động độc lập đã đủ để kéo dài sự phân rã của chế độ Cộng sản. Giống như trường hợp Trung Âu, Đảng Cộng sản Soviet bắt đầu chia rẽ khi các hoạt động xã hội độc lập đã đẩy các nỗ lực cải cách tiến lên với một tốc độ chóng mặt.
[83] Tới giữa năm 1991, một năm sau sự kiện hợp pháp hóa các đảng đối lập, bốn triệu thành viên CPSU đã rút khỏi đảng, và bộ phận năng động nhất, Democratic Platform, đã tách ra khỏi [Đảng Cộng sản] và lập nên đảng Cộng hòa. Việc giải tán chế độ Cộng sản chỉ đạt được sau cuộc đảo chính bất thành vào tháng Tám năm 1991. Thất bại gây ra bởi hàng loạt các yếu tố xuất hiện trực tiếp từ xã hội dân sự mới nổi, bao gồm các nguồn [nhân sự] khác cho vị trí quyền lực (Yelsin), sự phân mảnh của nhà nước, và biểu tình của xã hội phản đối trực tiếp việc sử dụng bất chính đáng quyền lực nhà nước.

Sự Xuất hiện của Xã hội Dân sự: Tóm tắt

Logic xuất hiện của xã hội dân sự tại các chế độ kiểu Soviet có thể được tóm tắt như sau: Trong giai đoạn xuất hiện này, các kênh bày tỏ lợi ích chính thức đã đóng lại đối với các nhà hoạt động xã hội độc lập. Thay vào đó, các nhóm sử dụng các phương pháp bày tỏ lợi ích không thuộc hệ thống như các cuộc biểu tình, tuần hành, và xuất bản ngầm. Ảnh hưởng của các chiến thuật như vậy đối với chính sách là không đều và thất thường. Nó phụ thuộc một phần vào nhận thức của giới lãnh đạo về khả năng bị tổn thương [của hệ thống]; trong khi các lãnh đạo có thể quyết định rằng thi thoảng nhượng bộ đôi chút là thích hợp, còn lâu họ mới chịu từ bỏ độc quyền nắm quyền lực và hợp pháp hóa sự tham dự nhóm độc lập bằng cách đưa ra những nhượng bộ quan trọng. Bộ máy quan liêu của đảng và nhà nước cũng tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng của chúng lên quá trình hoạch định chính sách khi chúng tìm cách thay đổi bản chất quan hệ giữa nhà nước và xã hội (và vì thế, bản chất và các mục tiêu của xã hội), thay vì chỉ thực thi các ngụ ý chính sách hình thành từ các vũ đài công cộng với sự tham dự của các nhà hoạt động xã hội độc lập. Nhưng khi cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc, đảng-nhà nước trở nên dễ bị thương tổn hơn trước áp lực từ các nhà vận động độc lập và ngày càng sẵn sàng đưa ra nhượng bộ. Đến thời điểm này, yêu sách của các nhóm bắt đầu có nội dung mới. Trong khi vẫn đòi thay đổi, yêu sách của họ bắt đầu đòi được tham dự chính thức vào quá trình chính trị.

Giai đoạn này có bản chất là không ổn định. Ranh giới mới giữa nhà nước và xã hội vẫn chưa ổn định vì nó không có sự bảo đảm thể chế. Các nhóm ban đầu đặt ra các mục tiêu “tự giới hạn”, ví dụ như không đe dọa vai trò lãnh đạo của đảng, thì nay ngày càng thấy rõ rằng không thể tự giới hạn được nữa vì nhận thức của đảng về tính chính đáng của nó [đã thay đổi], và việc động viên của nhiều nhóm độc lập khi họ bắt đầu theo đuổi các mục tiêu đối chọi với độc quyền của Đảng Cộng sản, bao gồm việc dành ghế đại diện tại các cơ quan quyền lực địa phương và quốc gia. Cả “thuyết tiến hóa mới” và “nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa” đều sai lầm khi cho rằng một đảng đổi mới có thể cùng tồn tại với các hoạt động xã hội độc lập. Hoặc chế độ bị đe dọa phản bội lại các hứa hẹn của nó đối với các nhà hoạt động độc lập và ngăn chặn các hoạt động tự tổ chức của quần chúng, hoặc theo như cách dùng từ của Arato, các nhóm độc lập sẽ động viên để “tìm một nhà nước thích hợp” cho họ.
[84] Những lãnh đạo đảng và nhà nước nhận ra các ẩn ý về một nền đa nguyên không bị trói buộc (hoặc do sự xói mòn chính cơ sở quyền lực của họ, hoặc do một trật tự xã hội do chính đảng khuyến khích), đã tìm cách đàn áp hoạt động độc lập và rút lui vào status quo ante (nguyên trạng trước đó). Nếu các nhà hoạt động độc lập thành công không chỉ trong phát biểu các lợi ích thay thế, mà còn có thể thỏa mãn chúng qua hoạt động xã hội, thì hiển nhiên sẽ có một quá trình tự nhiên từ “chính trị tầng thấp” ban đầu, dưới dạng các hoạt động độc lập, sang “chính trị tầng cao” khi họ chuyển sang đòi có đại diện trong các cấu trúc quyền lực chính thức và xóa bỏ nomenklatura của đảng.

Tóm Tắt và Ngụ ý

Việc so sánh các giai đoạn “tự vệ” và “xuất hiện” trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR được dựa trên ảnh hưởng của kiểu chế độ lên các dạng hoạt động độc lập, và các kiểu tái cấu trúc quan hệ giữa nhà nước và xã hội trong các quốc gia cộng sản đang đổi mới. Các chế độ Cộng sản hậu toàn trị, trong khi tìm cách cân bằng giữa quyền kiểm soát và giải phóng xã hội, đã thất bại trong cả việc tính toán tập hợp các giá trị xã hội được chia sẻ và đại diện cho tập hợp các lợi ích phổ quát. Trong thất bại đầu, các ý tưởng tự do về tự chủ cho các cá nhân và nhóm, kết hợp với nhiều hình thức khác nhau của chủ nghĩa dân tộc, đã gây xói mòn sự thống trị của chế độ trong hệ giá trị xã hội. Trong thất bại thứ hai, các quá trình hiện đại hóa trong xã hội, gồm cả tiến trình đô thị hóa, phát triển giáo dục rộng khắp, và một lực lượng lao động ngày càng có kĩ thuật cao, đã tạo ra những lợi ích xã hội tự chủ và nhu cầu phải thay đổi trong các tổ chức kinh tế xã hội vốn trước đây bị các chế độ Cộng sản tảng lờ hoặc từ chối. Việc các chế độ này không thể đáp ứng các đòi hỏi của một xã hội phức tạp và một nền kinh tế hiện đại đã dẫn tới sự thất vọng của dân chúng đối với thành tích kinh tế và chính trị của chế độ. Như các học giả Soviet và phương Tây đã chỉ ra, các nhà hoạt động xã hội đã xây dựng các lộ trình mà, theo đó, các chế độ Cộng sản hoặc sẽ không, hoặc sẽ không thể phản ứng lại.
[85] Tới những năm 1980, việc chế độ không (thể) phản ứng lại trước những tình trạng khẩn cấp trong quá trình thay đổi của xã hội đã tạo ra một tâm lý oán hận chung đối với các lãnh đạo đảng và nhà nước, và thai nghén một cuộc khủng hoảng tính chính đáng. Các nhà hoạt động xã hội độc lập đã không chỉ phát biểu các lợi ích tư nhân mà còn bắt đầu hoạt động theo các lợi ích ấy, trước khi cuộc khủng hoảng được các lãnh đạo Cộng sản theo khuynh hướng cải cách thừa nhận.

Tuy nhiên, các ý tưởng về tự chủ, chủ nghĩa dân tộc, và hiện đại hóa không đủ để giải thích sự xuất hiện của các xã hội dân sự tại các nước này. Với mỗi trường hợp, khả năng của các nhà hoạt động và các nhóm độc lập trong việc gây sức ép đòi các yêu sách của họ trên các đấu trường công cộng phụ thuộc vào cái mà các nhà xã hội học chính trị gọi bằng cái tên “các cấu trúc cơ hội chính trị.”
[86] Các nhà cải cách trong giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bị thúc ép bởi nhiều động cơ khác nhau, đã tạo ra các cơ hội cho các nhà hoạt động độc lập, để họ có thể công khai nêu các yêu sách (bằng cách mở rộng phạm vi có thể chấp nhận cho các hoạt động và các tổ chức tự phát của xã hội). Chiến lược này được khởi xướng hoặc từ sáng kiến của các lãnh đạo có tư tưởng đổi mới (những người muốn sử dụng hoạt động độc lập như là một công cụ để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống), hoặc bởi các chế độ miễn cưỡng phản ứng lại với ảnh hưởng của cuộc cải cách trong nước của Gorbachev và sự kiềm chế trong chính sách ngoại giao của Soviet đối với các nhà nước khách hàng của nó. Trong khi các giá trị độc lập, và các quá trình xã hội, đã tạo ra cơ sở cho sự xuất hiện của xã hội dân sự, vai trò của phía nhà nước trong việc nhìn nhận nhu cầu phải có các hoạt động độc lập (dù rằng bị hạn chế và tiếp cận dưới góc độ công cụ) là không thể bỏ qua. Cơ hội do các chế độ suy yếu đem lại, mặc dù mong manh và không ổn định, đã được các nhà vận động độc lập chộp lấy, họ đơn giản là không chịu nằm trong các ranh giới được định ra cho các hoạt động độc lập được chế độ chấp thuận.

Kết luận

Trong mỗi trường hợp, kết quả là sự tan rã của chế độ Cộng sản dưới tay của các nhà hoạt động xã hội độc lập đã được động viên (hoặc trong trường hợp Liên Xô cũ, là động viên một phần). Ở Ba Lan, Czechoslovakia và Hungary, nơi các đảng và phong trào chính trị độc lập đã đưa ra các hình thức cai trị mới qua bầu cử tự do hoặc bán tự do, các khó khăn của nhà nước hậu cộng sản (khi phải đối mặt với sự sụp đổ không thể tránh khỏi của khối đoàn kết xã hội) đã được làm nhẹ bớt ở một chừng mực nào đó bởi sự nhận thức rằng nền độc lập khỏi sự thống trị của Liên Xô đến với một cái giá đắt. Ở Nga, sự thống nhất có được chỉ trên sự thừa nhận tính chính đáng của Boris Yeltsin từ chỗ ông là người kế tục của Gorbachev. Những nhà đối lập của chế độ cũ đã không có sự thống nhất cả trong hình dạng và thực chất của nhà nước sau đảo chính. Những chỉ trích chua chát của các nhà độc lập thuộc đảng dân chủ về sự quay trở lại chế độ cai trị toàn trị của Yeltsin được cộng hưởng bởi sự trả miếng của ngài tổng thống, rằng sự can thiệp của các đảng viên dân chủ đang chia rẽ vào quá trình [lập] chính sách sẽ gây cản trở cho những cuộc cải cách cần thiết. Sự thiếu vắng các yếu tố gắn kết làm cho quá trình thể chế hóa các thành quả đã đạt được của xã hội dân sự trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Nhiệm vụ của chúng tôi [trong bài nghiên cứu này] là mô tả logic xuất hiện của các xã hội dân sự trong các điều kiện độc đáo của nhà nước hậu toàn trị ở Trung Âu và Liên Xô cũ. Những quan sát tiếp theo sẽ là cần thiết để có thể mô tả sự phát triển theo các hướng riêng biệt của những xã hội dân sự này. Những phân tích như thế sẽ phải hướng sự tập trung vào lượng biến số phong phú có vai trò định hình sự phát triển trong tương lai, bao gồm định hướng của các hoạt động độc lập, các hình thức hoạt động tập thể, hệ thống đảng chính trị, ảnh hưởng của khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc tới việc hình thành nhà nước, và văn hóa chính trị. Điểm chính là ở chỗ các nhà hoạt động vốn đã xây dựng nên các khối xã hội dân sự thì nay đang ở cương vị tham gia vào các quá trình mà cuối cùng có thể dẫn tới việc thể chế hóa sự tồn tại của nó.

Nguồn: Comparative Politics, Vol.25, No.1 (Oct.,1992) 1-23.

Duy Tân Trẻ giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt.


[1] Andrew Arato, "Civil Society against the State: Poland 1980-1981," Telos, 47 (1981), 23-47; Andrew Arato and Jean Cohen, “Social Movements, Civil Society, and the Problem of sovereignty," Praxis International, 4 (1984), 266-283; Z. A. Pelczynski, "Solidarity and the Rebirth of 'Civil Society,'" in John Keane, ed., Civil Society and the State (London: Verso, 1988), pp. 361-380; Zbigniew Rau, "Some Thoughts on Civil Society in Eastern Europe and the Lockean Contractarian Approach," Political Studies, 35 (1987), 573-592.
[2] Xem, ví dụ, Moshe Lewin, The Gorbachev Phenomenon: A Historical Perspective (Berkeley: University of California Press, 1988); Gail W. Lapidus, "State and Society: Toward the Emergence of Civil Society in the Soviet Union," in Seweryn Bialer, ed., Politics, Society, and Nationality inside Gorbachev's Russia (Boulder: Westview Press, 1989), pp. 121-147; S. Frederick Starr, "Soviet Union: A Civil Society," Foreign Policy, 70 (Spring 1988), 26-43.
[3] H. Gordon Skilling, Samizdat and an Independent Society in Central and Eastern Europe (Columbus: Ohio State University Press, 1989).
[4] Sidney Tarrow, "Aiming at a Moving Target: Social Science and the Recent Rebellions in Eastern Europe," PS: Political Science and Politics, 24 (March 1991), 12-20.
[5] Juan Linz, "Totalitarianism and Authoritarianism," in Fred I. Greenstein and Nelson W. Polsby, eds., The Handbook of Political Science, 3: Macropolitical Theory (Reading: Addison Wesley, 1975), pp. 336-350.
[6] Ibid., p. 340.
[7] Xem Gordon Skilling, "Interest Groups and Communist Politics," World Politics, 18 (April 1966), 435-451; Gordon Skilling and Franklyn Griffiths, eds., Interest Groups in Soviet Politics (Princeton: Princeton University Press, 1971); Jerry Hough, "Petrification or Pluralism?," Problems of Communism, 21 (March-April 1972), 25-45, Các phê phán về cách tiếp cận này dựa trên lập luận rằng bất kì một mô hình đa nguyên nào cũng đều không khả thi trong bối cảnh thể chế kiểu Soviet, nơi không có sự tham gia xã hội độc lập. Xem Andrew Janos, "Group Politics in Communist Society: A Second Look at the Pluralist Model," in Samuel P. Huntington and Clement H. Moore, eds., Authoritarian Politics in Modern Society (New York: Basic Books, 1970), pp. 437-450, and William Odom, "A Dissenting View on the Group Approach to Soviet Politics," World Politics, 28 (July 1976), 542-567.
[8] Valerie Bunce and John Echols, "Soviet Politics in the Brezhnev Era: 'Pluralism' or 'Corporatism'?," in Donald Kelley, ed., Soviet Politics in the Brezhnev Era (New York: Praeger Publishers, 1980).
[9] Maria Markus discusses this as the "framework" and "content" of private activities in "Overt and Covert Modes of Legitimation in East European Societies," in T. H. Rigby and Ferenc Feher, eds., Political Legitimation in Communist States (New York: St. Martin's Press, 1982), p. 86.
[10] John Locke, Two Treatises of Government (New York: Cambridge University Press, 1963), p. 395. Xem thêm Rau, pp. 582-583.
[11] Norberto Robbio, "Gramsci and the Conception of Civil Society," in Chantal Mouffe, ed., Gramsci and Marxist Theory (London: Routledge & Kegan Paul, 1979), p. 22.
[12] David Forgacs, ed., An Antonio Gramsci Reader (New York: Schocken Books, 1988).
[13] Rau, p. 584, lý luận rằng “các nhóm độc lập trỗi dậy như là hiệu ứng của khế ước xã hội kiểu Locke; và…, với tư cách là các cộng đồng đạo đức, là các xã hội dân sự kiểu Locke.” Mặc dù cách lập luận này có thể đúng với các nhóm -như là các cộng đồng đạo đức, nó xem nhẹ thực tế là các nhóm độc lập không cầu viện đến các phân xử pháp lý trong các xung đột giữa các nhóm với nhà nước, hay các chủ thể xã hội độc lập khác; mà cũng chẳng có bất kì những đảm bảo về mặt thể chế cho sự tự trị của các nhóm và cá nhân.
[14] Trong cách phân loại của Seweryn Bialer, "chính trị bậc cao" nói đến "các vấn đề chính trị chính yếu của xã hội, các ý tưởng và ngôn ngữ trừu tượng của chính trị học, các quyết định và hoạt động của các nhà lãnh đạo xã hội,” trong khi "chính trị bậc thấp" bao gồm “các quyết định trực tiếp liên quan đến cuộc sống hàng ngày của công dân, các vấn đề của đa phương, và các điều kiện ở nơi làm việc." XemSeweryn Bialer, Stalin's Successors: Leadership, Stability, and Change in the Soviet Union (Cambridge: Cambridge University Press, 1980), p. 166.
[15] Muốn khảo sát những năm tháng phát triển đầu tiên của xã hội dân sự ở Ba Lan, xem Jacques Rupnik, "Dissent in Poland, 1968-1978: The End of Revisionism and the Rebirth of Civil Society," in Rudolf L. Tokes, ed., Opposition in Eastern Europe (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1979), 60-112. For a distinction between civil and political society, Xem Pelczynski.
[16] Andrew Arato, "Civil Society, History and Socialism: Reply to John Keane," Praxis International, 9 (April-July 1989), 133-151, esp. 141 and 146.
[17] Alain Touraine, Solidarity: The Analysis of a Social Movement, Poland 1980-1981 (Cambridge: Cambridge University Press, 1983), p. 15.
[18] Xem Kasimierz Wojcicki, "The Reconstruction of Society," Telos, 47 (1981), 102-103, and Vaclav Benda, et al., "Parallel Polis or an Independent Society in Central and Eastern Europe: An Inquiry," Social Research, 55 (Spring-Summer 1988), 211-246; Ivan Volges, "Political Socialization in Eastern Europe," Problems of Communism, 23 (January-February 1974), 55.
[19] Xem Stephen White, "Propagating Communist Values in the USSR," Problems of Communism, 34 (November-December 1985), 1-17; Vladimir Shlapentokh, Public and Private Life of the Soviet People: Changing Values in Post-Stalin Russia (New York: Oxford University Press, 1989).
[20] Alexander Yanov, The Russian Challenge and the Year 2000 (Oxford: Basil Blackwell, 1987).
[21] David Mason, Public Opinion and Political Change in Poland, 1980-1982 (Cambridge: Cambridge University Press, 1985), p.47.
[22] Vaclav Havel, Living in Truth (London: Faber and Faber, 1986), pp.36-122.
[23] Vladimir Tismaneanu, "Nascent Civil Society in the German Democratic Republic," Problems of Communism, 38 (March-June 1989), 102.
[24] Benda et al. Nhà xã hội học người Hungary, Elemer Hankiss, đã phát triển khái niệm “xã hội thứ hai.”
[25] Xem Janina Frentzel-Zagorska, "Civil Society in Poland and Hungary," Soviet Studies, 42 (1990), 763, để có thống kê về lòng tin và sự ủng hộ đối với giới lãnh đạo Ba Lan và Hungary.
[26] Xem Ferenc Miszlivetz, "Civil Society in Eastern Europe? The Case of Hungary," World Futures, 29 (1990), 91, để có các giải thích tại sao quá trình này ở Hungary lại khó khăn hơn. Một trong những lý do quan trọng nhất là khoảng cách ngày càng rộng giữa giới trí thức Hungary và công chúng, đặc biệt là công nhân. Xem thêm Timothy Garton Ash, "The Hungarian Lesson," New York Review of Books, Dec. 5, 1985, pp. 5-9.
[27] Teresa Rakowska-Harmstone, "Nationalism and Integration in Eastern Europe: The Dynamics of Change," in Teresa Rakowska-Harmstone and Andrew Gyorgy, eds., Communism in Eastern Europe (Bloomington: Indiana University Press, 1981), pp. 320-321.
[28] Reddaway nhấn mạnh rằng một lý do đưa đến thất bại này là sự bất khả thi trong việc kéo dài mãi cái xã hội bị nguyên tử hóa của Stalin. Peter Reddaway, ed., Uncensored Russia: Protest and Dissent in the Soviet Union (New York: American Heritage Press, 1972), p. 39.
[29] Xem, ví dụ, cuộc bút chiến Sakharov-Solzhenitsyn trong Vladimir E. Maximov, ed., Kontinent (New York:Anchor Press/Doubleday, 1976), pp. 1-23.
[30] Reddaway, p. 18.
[31] Dmitrii Nelidov, "Ideocratic Consciousness and Personality," in Michael G. Meerson-Aksenov and Boris I. Shragin, eds., The Political, Social and Religious Thought of Russian 'Samizdat' (Belmont: Nordland Publishing Co., 1977), p. 290.
[32] Meerson-Aksenov and Shragin, p. 228.
[33] K. Zhitnikov, "The Decline of the Democratic Movement," in Meerson-Aksenov and Shragin, eds., pp. 237-238.
[34] Đây là giới hạn tự vệ của Andrei Amalrik, ví dụ, trong Involuntary Journey to Siberia (London: Harcourt Brace Jovanovich, 1970).
[35] Skilling, Samizdat and an Independent Society in Central and Eastern Europe, p. 203.
[36] Ferenc Feher, Agnes Heller, and Gyorgy Markus, eds., Dictatorship over Needs (New York: St. Martin's Press, 1983), pp. 137-155.
[37] Roy A. Medvedev, On Soviet Dissent (London: Constable, 1980), cited in David Lane, State and Politics in the USSR (New York: New York University Press, 1985), p. 271.
[38] Peter Reddaway, "Soviet Dissent," Problems of Communism, 32 (November-December 1983), 14; Jeffrey W. Hahn, Soviet Grassroots; Citizen Participation in Local Soviet Government (Princeton: Princeton University Press, 1988), pp. 285-287.
[39] Walter D. Connor, Socialism's Dilemma: State and Society in the Soviet Bloc (New York: Columbia University Press, 1988), p. 45.
[40] I. Zhukova et al., "Samodeiatel'nyie initsiativy: Neformal'nyi vzglad" ("Independent Initiatives: Informal View"), Kommunist, 9 (1988), 98.
[41] V. G. AlekXemva, "Neformarnye gruppy podrostkov v usloviiakh goroda" ("Informal Youth Groups in Urban Conditions"), Sotziologicheskie issledovania, 3 (1977), 60-70, khảo sát các nhóm thường niên tại các vùng đô thị và kêu gọi các nhà giáo dục phải tận tụy hơn trong việc xã hội hóa sinh viên.
[42] Tatiana I. Zaslavskaia, "Creative Activity of the Masses: Social Reserves of Growth," Problems of Economics, 29 (March 1987), 11.
[43] O. N. Ianitskii, Grazhdanskie initsiativy i samodeiatel'nost' mass (Citizen Initiatives and the Spontaneous Activity of the Masses) Moskow: Znanie, 1988).
[44] Philip G. Roeder, "Modernization and Participation in the Leninist Developmental Strategy," American Political Science Review, 83 (September 1989), 859-884; Donna Bahry and Brian D. Silver, "Soviet Citizen Participation on the Eve of Democratization," American Political Science Review, 84 (September 1990), 821-847.
[45] Bennett Kovrig, Communism in Hungary from Kun to Kadar (Stanford: Hoover Institution Press, 1979), p. 361.
[46] Peter Hauslohner, "Gorbachev's Social Contract," Soviet Economy, 3 (1987), 56-60.
[47] Jack Bielasiak, "The Party: Permanent Crisis," in Abraham Brumberg, ed., Poland: Genesis of a Revolution (New York: Random House, 1983), p. 19.
[48] Stephen White, "Economic Performance and Communist Legitimacy," World Politics, 38 (April 1986), 462-482.
[49] Ibid.
[50] Kovrig, p. 362, and Erik P. Hoffmann and Robbin F. Laird, Technocratic Socialism: The Soviet Union in the Advanced Industrial Era (Durham: Duke University Press, 1985), pp. 163-164.
[51] Xem, ví dụ, Gabor Demszky, "Initiatives for Hungary," East European Reporter, 3 (Autumn 1988), 49-54, and East European Newsletter, 3 (March 22, 1989), 2.
[52] Mason, p. 94.
[53] Ibid., pp. 112-115.
[54] Ví dụ, trong thỏa hiệp tháng Tám năm 1980 của Gdansk, Công đoàn Đoàn kết sẵn lòng chấp nhận vai trò lãnh đạo của PUWP đối với nhà nước, ngụ ý rằng quyền lực của đảng phải được hạn chế trong phạm vi các chức năng của nhà nước và hành chính. Xem Timothy Garton Ash, The Polish Revolution: Solidarity (New York: Scribner, 1984), p. 69. Trong một diễn biến tương tự, lực lượng đối lập Hungary năm 1987 chấp nhận vai trò lãnh đạo của đảng chỉ trong “phần được quy định bởi hiến pháp trong khung pháp lý của nhà nước.” Xem "A Social Contract: Conditions for Political Renewal," Beszelo (June 1987), in East European Reporter, 3 (October 1987), 57.
[55] Adam Michnik, Letters from Prison and Other Essays, (Berkeley: University of California Press, 1985), p. 142.
[56] Để biết các ảnh hưởng của doanh nghiệp tư trong việc nuôi dưỡng không gian công, xem Timothy Garton Ash, "Reform or Revolution?," New York Review of Books, Oct. 27, 1988, pp. 47-48.
[57] Ash, The Polish Revolution: Solidarity, p. 12.
[58] Các nguyên nhân trong trường hợp của Ba Lan phức tạp hơn nhiều, bao gồm từ rạn nứt sâu xa giữa nhà nước và xã hội khi cảnh sát Ba Lan bắn vào các công nhân biểu tình năm 1970, chuyến viếng thăm của giáo hoàng năm 1979, và thực tế rằng nhà thờ Catholic đã phát triển một triết lý xã hội, theo đó nó có trách nhiệm bảo vệ các quyền bất khả chia lìa của mọi người Ba Lan (một trách nhiệm mà nhà nước đã không thực hiện. Ibid., pp. 20, 30-1.
[59] Các động cơ kinh tế được phân tích trong Janos Kris, "Why Be Afraid?," East European Reporter, 3 (Autumn 1988). 51, and R. W. Apple, Jr., "Prague's Shaky Bargain: The Government Xemks to Stop the Decline in Industry before It Leads to a Rebellion," New York Times, Nov. 16, 1989, p. 1.
[60] Tismaneanu, p. 102.
[61] Sự xuất hiện của xã hội dân sự, vì thế, được mô tả bởi sự đoàn kết xã hội ngày một chặt chẽ, là kết quả của tăng cường trao đổi về các giá trị được chia sẻ, như cách diễn đạt của Timothy Garton Ash, "từ các giá trị tự chủ tới việc phát biểu các giá trị được chia xẻ.” Không gian hoạt động công được mở rộng cũng cho phép xã hội hình thành một “sự thức tỉnh về các giá trị được chia xẻ của nó." Ash, The Polish Revolution, p. 30.
[62] Miszlevitz, p. 89.
[63] "A Social Contract: Conditions for a Political Renewal," Beszelo (June 1987), in East European Reporter, 3 (October 1987), 56-57.
[64] Tuyên bố đầu tiên trong "Network of Free Initiative" vào tháng Ba năm 1988 "Call to Action," tuyên bố thứ hai bởi FIDESZ. Cả hai được trích dẫn trong Miszlevitz, pp. 90 and 94.
[65] "'Democracy for All:' The Manifesto of the Movement for Civil Liberties," East European Reporter, 3 (Spring-Summer 1989), special section, after p. 38.
[66] Với tình hình chia rẽ trong Đảng Cộng sản từ khi có cuộc lật đổ Janos Kadar vào tháng Năm 1988, nhà cải cách Imre Poszgay đã đấu tranh cho chính sách đối thoại với lực lượng đối lập, chống lại các nhóm bảo thủ ban đầu do Karoly Grosz làm thủ lĩnh. Ở Czechoslovakia tháng Ba 1989, Lãnh đạo Cộng sản Ladislev Adamec ủng hộ đàm phán với đối lập mặc cho mong muốn của bộ phận cứng rắn của Jackes trong đảng. Xem Eastern European Newsletter, 3 (March 22, 1989), 2.
[67] Theo ngôn ngữ của Marxist, quan hệ sản xuất không theo kịp công cụ và phương pháp sản xuất. Nó không chỉ đưa đến nền kinh tế phi hiệu quả mà còn xa lánh công nhân và đem lại các vấn đề xã hội, ví dụ tệ nghiện rượu chè và tội phạm. Xem Mikhail S. Gorbachev, Perestroika: New Thinking for Our Country and the World (New York: Harper and Row, 1987), pp. 18-25, and Tatyana Zaslavskaya, The Second Socialist Revolution: An Alternative Soviet Strategy (Bloomington: Indiana University Press, 1990), pp. 47-86.
[68] Andranik Migranian, "Interrelations of the Individual, Society, and the State in the Political Theory of Marxism," The Soviet Review (January-February 1989), 55-56.
[69] Nói chung, tới những năm 70, 80, hầu hết giới trí thức Trung Âu viết về sự giải phóng khỏi nhà nước và đảng, trong khi xu hướng này ở USSR là chỉ nói về sự giải phóng khỏi nhà nước. G.Arbatov and E.Batolov, "Politicheskaia reforma i evoliutziia ovetskogo gosudarstva" ("Political Reform and the Evolution of the Soviet State"), Kommunist, 4 (March 1989), 45.
[70] Ibid., pp. 43-44,
[71] Migranian, p. 55.
[72] Xem Ivan Szelenyi, "Socialist Opposition in Eastern Europe: Dilemmas and Prospects," in Tokes, ed., pp. 202-203, for a discussion of "formal rationality" versus "substantive rationality" as forms of bureaucratic activity in Communist regimes.
[73] Theo một nghiên cứu, 90% tổ chức cơ sở được hướng tới các hoạt động phi chính trị. Xem Ianitsky, Independent Initiatives, p. 8.
[74] Vera Tolz, "Informal Groups in the USSR in 1988," Radio Liberty Research, Oct. 30, 1988, pp. 1-12.
[75] Ví dụ về các khó khăn của hợp tác, xem Elisabeth Schillinger and Joel Jenswold. "Cooperative Business Ventures in the Soviet Union: The Impact of Social Forces on Private Enterprise," Sociology and Social Research, 73 (October 1988), 26-21, Để biết thêm về những cản trở quan liêu đối với các hoạt động độc lập theo con mắt của một nhà vận động xã hội Soviet, xem Olga Medvedkov, "The Moscow Trust Group: An Uncontrolled Grass-Roots Movement in the Soviet Union," The Mershon Quarterly Report, 12 (Spring 1988), 1-27.
[76] Để biết một phân tích thú vị về quá trình này, xem Igor Chubais, "The Democratic Opposition: An Insider's View," Report on the USSR, 3 (May 3, 1991), 4-15.
[77] "Ustav: Vsesoiuznogo dobrovol'nogo istoriko-prosvetitel'skogo obshchestva 'Memorial' (proekt)," (Charter: Ail-Union Voluntary Historical-Enlightenment Society 'Memorial' [Draft]), Ogonek, 4 (January 1989), 29.
[78] Sau gần 3 năm tranh luận giữa các nhóm trong đảng và giữa lãnh đạo đảng với các nhân vật độc lập, Luật về các Hiệp hội Công cộng được thông qua tháng Mười năm 1990. Xem "Zakon ob obshestvennykh ob'edineniakh" (Law on Public Associations), Pravda, Oct. 16, 1990, p. 3. Để biết đánh giá về luật này, bản thảo và các phiên bản khác, xem Vera Tolz, "The Law on Public Associations: Legalization of the Multi-party System,"Report on the USSR, 2 (November 16, 1990), 1-3.
[79] Điều này diễn ra, ví dụ, trong phong trào bảo vệ môi trường khi “các tham dự viên… nhận ra rằng kẻ thù nguy hiểm của họ không phải là thuốc trừ sâu, hay công nghệ, mà chính là hệ thống sử dụng chúng.” Oleg N. Ianitskii, "Environmental Movements in the Soviet Union," The Soviet Review, 32 (January-February 1991), 29.
[80] Oleg Ianitskii, "Lefortovo: Solving the Conflict between Designers and the Residents," Moscow, unpublished paper, 1989, p. 27.
[81] Xem Dawn Mann, "The Trends towards Public Initiative in Local Government," Report on the USSR, 2 (April 13, 1990), 7-8.
[82] Alexander J. Motyl, Sovietology, Rationality, Nationality: Coming to Grips with Nationalism in the USSR (New York: Columbia University Press, 1990), 167-168.
[83] Xem Peter Reddaway, "Resisting Gorbachev," New York Review of Books, Aug. 18, 1988, p. 38, để biết về một thảo luận gây chia rẽ giữa phe cánh Gorbachev và Ligachev trong CPSU về vấn đề các chính sách giải phóng dành cho các hoạt động độc lập.
[84] Andrew Arato, "Empire vs. Civil Society: Poland 1981-1982," Telos, 50 (1981-1982), 26.
[85] Migranian; Zhukova et al.; Starr; Lapidus; and Lewin, among others.
[86] Sidney Tarrow, "Struggling to Reform: Social Movements and Policy Change during Cycles of Protest," Cornell University Center for International Studies Occasional Paper, 15 (1984). Để biết ứng dụng khái niệm của ông này vào các sự kiện ở Trung Âu, xem Sidney Tarrow, "'Aiming at a Moving Target': Social Science and the Recent Rebellions in Eastern Europe," PS: Political Science & Politics, 24 (March 1991), 12-20. Cách nhìn về hiện đại hóa như một công cụ giải thích phải được đi kèm bởi sự khảo sát các chiến lược chính trị nhằm giải thích các mặt khác trong chính trị học Soviet, có thể đọc trong Connor, Socialism's Dilemma, and Thomas Remington, "Regime Transformation in Communist Systems: The Soviet Case," Soviet Economy, 6 (1990), 160-190.