Lá Cờ Vàng
Trich tu trang nha http://chuaphatquang.com/
Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã trải qua một giai đoạn lịch sử đầy biến động của thời Pháp thuộc và rồi chiến tranh tương tàn Nam-Bắc, nhưng lá cờ vàng tiêu biểu cho linh hồn dân tộc đã khởi đầu từ thuở xa xưa mà lịch sử từng ghi chép. Trong thời Bắc thuộc, khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Tô Định năm 40AD, hai Bà đã mặc áo giáp vàng cưỡi voi ra trận dưới bóng cờ vàng. Suốt gần một ngàn năm Bắc thuộc, lá cờ dân tộc dưới hình thức này hay hình thức khác vẫn xuất hiện trong những cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán như của Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục nhưng phải đợi đến thời Ngô Vương Quyền đánh tan quân Hán trên sông Bạch Đằng gây dựng nền độc lập năm 938, lá cờ dân tộc mới lại phất phới tung bay. Trải qua các triều đại tự chủ tiếp theo như Đinh, Lê, Lý, Trần, nước ta luôn có quốc kỳ hình vuông hoặc chữ nhật gồm có nhiều màu viền quanh theo màu của ngũ hành, ngoài cùng là tua răng cưa và có hình con rồng hoặc một chữ Hán chỉ tên triều đại ngay chính giữa.
Mãi đến triều Nguyễn, lá quốc kỳ mới được chính thức design một cách cẩn thận hơn. Vua Gia Long (1802-1820) dùng màu vàng tiêu biểu cho vương quyền và lá cờ vàng tiêu biểu cho quốc gia Việt Nam. Vua Khải Định (1916-1925) thêm hai vạch đỏ tượng trưng cho hình rồng vào giữa lá cờ vàng thành Cờ Long Tinh. Năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim thêm một vạch đỏ đứt khúc vào giữa hai vạch đỏ của cờ Long Tinh thành cờ Quẻ Ly (Quẻ thứ tư trong Bát Quái Đồ theo Kinh Dịch, tượng trưng cho mặt trời, văn minh). Năm 1948, Hoàng Đế Bảo Đại một lần nữa ra lệnh nối liền vạch đứt khúc ở giữa để cờ Quẻ Ly trở thành cờ Quẻ Càn (Quẻ thứ nhất trong Bát Quái Đồ, tượng trưng cho trời, quyền lực) và vào ngày 2 tháng 6, 1948, chính phủ lâm thời Nguyễn Văn Xuân chính thức dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳ của quốc gia Việt Nam. Từ đó, lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ đã tung bay khắp mọi miền đất nước từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu .
Vào cuối thế kỷ 19, vì thất trận mà Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp do Hòa Ước 1862. Hòa Ước Patenôtre 1884 chia lãnh thổ còn lại của nước ta thành hai xứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ dưới quyền bảo hộ của Pháp và Triều Đình Huế kể từ đây bị kiềm chế hoàn toàn bởi người Pháp. Nhiều sĩ phu đã nối tiếp nhau nổi lên chống lại Pháp ngay từ khi Pháp khởi chiếm Nam Kỳ đứng chung dưới một bóng cờ vàng với mục đích dành lại chủ quyền và nền độc lập cho quốc gia. Hai vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Khải Định và Bảo Đại chỉ là bù nhìn vì thực quyền đều nằm trong tay người Pháp; do đó, những cuộc tranh thủ độc lập của Việt Nam kể từ 1928-1954, mạnh ai nấy làm nhiều khi chẳng cần theo lệnh từ Triều Đình Huế nữa. Hầu hết các đảng phái nổi lên kháng Pháp là đảng phái quốc gia như Việt Nam Độc Lập do Nguyễn Thế Tuyên (1926), Tân Việt Cách Mạng Đảng (1926), Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học (1927), Đại Việt Dân Chính (1938) do Nguyễn Tường Tam mà chỉ có Đệ Tứ Quốc Tế do Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh thành lập năm 1928 và Đảng Cộng Sản Đông Dương do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930. Từ năm 1920, Hồ Chí Minh đã là đảng viên của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Bolshevik và từ đó được CSQT huấn luyện, ủng hộ để trở thành đảng viên nòng cốt "Kominten" thi hành kế hoạch bành trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Đông Nam Á bằng xương máu dân Việt. Lẽ ra Đảng CSVN phải hợp lực với các đảng phái khác chống lại nước Pháp, ủng hộ Triều Đình Huế thì Hồ Chí Minh lại tuân lệnh quan thầy Nga Hoa, đấu tranh cho quyền lợi khối CSQT. Thay vì hợp lực với triều đình Huế cùng các đảng phái quốc gia yêu nước khác đánh đuổi quân Pháp thì Hồ Chí Minh đã ly khai với Triều Đình Huế, lợi dụng cảnh "giậu đổ bìm leo" để "đục nước béo cò" cho tham vọng cá nhân, âm mưu cướp chính quyền vào tháng 9 năm 1945 biến Đảng CSVN thành một lực lượng phản bội lại dân tộc.
Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, Hồ Chí Minh cùng Đảng CSVN chiếm đoạt miền Bắc, tiếp thu Hà Nội mới tổ chức lễ thượng kỳ đầu tiên ngày 10 tháng 10 năm 1954 và đảng kỳ nền đỏ sao vàng chính thức trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSBV). Trong khi đó, Hoàng Đế Bảo Đại trị vì miền Nam dưới sự bảo hộ của Pháp và dần dần được Pháp trả lại quyền hành cùng nền độc lập qua Hiệp Ước Vịnh Hạ Long (1948). Năm 1954, Bảo Đại thoái vị, ông Ngô Đình Diệm được nhân dân miền Nam bầu thành tổng thống nước Việt Nam Cộng Hòa qua cuộc tổng-tuyển-cử dân chủ vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 tiếp nối giòng chính sử nước ta bằng cách thay thế triều Nguyễn và giữ lá cờ vàng ba sọc đỏ truyền thống làm quốc kỳ của Miền Nam.
Năm 1975, cưỡng chiếm nốt miền Nam, CSBV đã bỏ mất một cơ hội tạo dựng thế chính nghĩa và thu phục nhân tâm toàn dân bằng cách thi hành một chính sách đoàn kết dân tộc nghiêm chỉnh theo đường lối "vương đạo." Trái lại, Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (XHCNVN) đã áp đặt chế độ Cộng Sản độc tài, đảng trị trên toàn thể đất nước và chà đạp thô bạo nền luân lý tốt đẹp và nhân phẩm dân Việt. Chế độ CSVN dùng bạo lực để kềm kẹp dân chúng, cấm đoán tất cả các quyền tự do căn bản của con người, từ chối mọi hình thức sinh hoạt chính trị theo dân chủ. Chính sách tàn bạo, thất-nhân-tâm của chế độ CSVN tại quê nhà đang xô đẩy dân chúng từ quốc nội đến hải ngoại vào công cuộc đấu tranh chống lại chế độ bạo tàn đó. Dưới nhãn quan của người Việt quốc gia chân chính, giòng sử chính truyền qua chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam mà chế độ CSBV chỉ là thành phần ly khai khỏi cộng đồng dân tộc, làm tay sai Cộng Sản Quốc Tế; vì thế, lá cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ chính thống của quốc gia Việt Nam mà lá cờ đỏ chỉ tượng trưng cho chế độ Cộng Sản độc tài sắt máu, mang nghèo khổ, lạc hậu và tang thương đến cho dân Việt.