ÐÔI DÒNG GHI NHỚ

Trich tu GiaMy.com - Hồi Ký Chính Trị - PHẠM BÁ HOA

Lời nói cuối

Thay Lời Kết

quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ

Những ngày cuối Tháng Tư, thường gợi lại trong mỗi người cựu quân nhân chúng ta dấu ấn sâu đậm nhất trong đời quân ngũ, những ngày đó thật là ngắn ngủi đối với lịch sử, nhưng là những ngày mà thế hệ chúng ta để lại một vệt đen trong dòng lịch sử đương đại. "Vệt đen đó" có thật sự là do lỗi lầm của chúng ta hay không, còn phải chờ lịch sử phán xét, nhưng có điều chắc chắn là chúng ta phải gánh vác trách nhiệm đó, trách nhiệm chưa tròn của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa!

Cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của chúng ta chống cộng sản, thật sự là tôi không rõ bắt đầu từ lúc nào. Tính từ ngày ngưng bắn theo Hiệp Ðịnh Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, hay tính từ năm thứ 3 sau đó?

Sở dĩ tôi nêu câu tự hỏi "tính từ năm thứ ba..." là vì Hiệp Ðịnh dự liệu 2 năm sau đó sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất toàn quốc. Với lại 2 năm dự liệu trong Hiệp Ðịnh, cộng sản chưa có hoạt động công khai nào nên xem như thanh bình. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc bầu cử đã nói trong Hiệp Ðịnh, vì chánh phủ không ký vào đó nên không chấp nhận sự ràng buộc phải thi hành. Thế là cộng sản công khai gây chiến ngay từ năm thứ ba, tức năm 1957.

Năm 1964, Bộ Tổng Tham Mưu có ban hành một văn kiện, theo đó thì cuộc chiến tính từ ngày 1 tháng 1 năm 1960. Thật ra thì nội dung này không có tính cách xác định chiến tranh bắt đầu từ ngày đó, mà nhằm có một định điểm tương đối về thời gian để ấn định niên hiệu trên cuống huy chương "Chiến Dịch Bội Tinh". Chiến Dịch Bội Tinh trên ngực áo của hầu hết quân nhân có 1 hoặc 2 niên hiệu: Niên hiệu 1945-1954 đối với những quân nhân phục vụ từ trước đến khi kết thúc cuộc chiến đó. Và niên hiệu thứ hai mới có số "1960-......." đối với những quân nhân mới vào quân đội sau ngày đình chiến tháng 7 năm 1954. Và niên hiêu thứ hai này mới có 4 số đầu. Tôi nghĩ, một triệu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt trên quê hương Việt Nam đến lúc 10 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta tự động ghi lên niên hiệu 4 số kế tiếp là "1975". Không cần ghi lên cuống huy chương có nền xanh trắng, mà chúng ta chỉ cần ghi vào ký ức chúng ta là đủ.

Tôi cũng nghĩ rằng, chúng ta nên thực hiện thêm niên hiệu thứ ba với 4 số đầu là "1976-......", vì tuy chúng ta thua trận với hằng trăm ngàn đồng đội vào tù, hằng trăm ngàn đồng đội khác đang lẩn trốn hay đang sống khổ đau dưới chế độ độc tài của cộng sản ngay trên quê hương Việt Nam, và hằng triệu người gồm đồng bào đồng đội vượt thoát tìm tự do khắp năm châu bốn biển. Nhưng những hành động của tất cả chúng ta bằng cách này hay cách khác, đều thể hiện ý nghĩa của một cuộc chiến tranh khác trong mục đích tiếp tục chống ch? d? cộng sản độc tài trên đất nước Việt Nam. Tôi muốn nói đến năm 1975 một cuộc chiến kết thúc, năm 1976 một cuộc chiến khác bắt đầu. Và cuộc chiến đó đến nay là năm 2004, vẫn đang tiếp diễn và ngày càng quyết liệt.

Vậy, chiến tranh bắt đầu từ ngày nào? Theo tôi, tôi tính từ ngày 20 tháng 7 năm 1954, là ngày ký Hiệp Ðịnh đình chiến tại Genève, vì cộng sản đã từ đó bắt đầu thực hiện kế hoạch gi?u hằng chục ngàn cán bộ các loại của chúng ở lại nam vĩ tuyến 17 khi chúng "tập kết" (danh từ dùng trong Hiệp Ðịnh) ra bắc vĩ tuyến 17. Như vậy, về phía cộng sản thì họ bắt đầu ngay từ ngày ấy cho một cuộc chiến kế tiếp sau cuộc chiến 1945-1954. Và nếu tính từ đó, thì chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc của chúng ta đến ngày "thua trận cuối cùng" 30 tháng 4 năm 1975 của một giai đoạn chiến tranh tự vệ, là 20 năm 9 tháng 10 ngày, hay là 7583 ngày!

Với thời gian hơn 20 năm không phải là dài đối với lịch sử, nhưng trong thời gian đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta lần lượt do 7 vị Tổng Thống hay Quốc Trưởng lãnh đạo, là: Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cũng là Thủ Tướng hơn 9 năm, Quốc Trưởng Dương Văn Minh 3 tháng, Quốc Trưởng Nguyễn Khánh 9 tháng, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu 8 tháng, Quốc Trưởng Nguyễn Văn Thiệu và 2 năm sau đắc cử Tổng Thống, gần 10 năm, Tổng Thống Trần Văn Hương 7 ngày, và sau cùng là Tổng Thống không do dân bầu Dương Văn Minh chưa được 2 ngày.

Tổng Thống Thiệu -tính cả thời gian giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia- gần 10 năm, là người trị vì lâu nhất, và vị có nhiệm kỳ ngắn nhất là Tổng Thống Dương Văn Minh chỉ có 40 tiếng đồng hồ. Ông là vị Tướng can đảm nhất khi tình nguyện nhận chức Tổng Thống, và ông cũng là vị Tướng nhục nhã nhất khi tuyên bố đầu hàng cộng sản. Nhưng không biết người dân Việt Nam Cộng Hòa chúng ta nói chung và thị dân Sài Gòn nói riêng, có nên cám ơn ông hay không, vì "nhờ" ông đầu hàng mà Sài Gòn không bị tàn phá bởi hỏa tiển và đạn đại bác của cộng sản? Nhưng chẳng lẽ ông "tình nguyện" giành chức Tổng Thống để đầu hàng sao? Nếu mục đích chỉ có như vậy thì đâu cần đến vị Tướng mà lại là Tướng 4 sao nữa chớ! Chắc không phải vậy. Nhưng điều nhục nhã đó đã xảy ra như vậy, biết giải thích sao đây!

Ðến cấp lãnh đạo quốc gia hàng thứ hai, tức Thủ Tướng, đã qua tay 11 vị, là: Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, Thủ Tướng Nguyễn Khánh (kiêm nhiệm), Thủ Tướng Trần Văn Hương, Thủ Tướng Phan Huy Quát, Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc, Thủ Tướng Trần Văn Hương (lần 2), Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, và sau cùng là Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu chưa kịp trình diện chánh phủ thì Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng! Người "trị vì" lâu nhất là Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm hơn 9 năm, và vị có nhiệm kỳ ngắn nhất là Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu.

Ðến chức Tổng Trưởng Quốc Phòng, lần lượt 10 vị, là: Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiêm nhiệm, Trung Tướng Trần Văn Ðôn, Trung Tướng rồi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng rồi Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm, Trung Tướng Trần Văn Ðôn (lần 2), và sau cùng là giáo sư Bùi Tường Huân trong nội các của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu.

Có 8 vị lần lượt giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng hay tương đương, là: Thiếu Tướng, rồi Trung Tướng, rồi Ðại Tướng Lê văn Tỵ (khi lâm trọng bệnh, Trung Tướng Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Cách Mạng hành sử chức năng Quốc Trưởng, đã gắn cấp bậc Thống Tướng 5 sao trước khi ông từ trần), Trung Tướng Trần Văn Ðôn kiêm nhiệm, Trung Tướng rồi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm, Trung Tướng Nguyễn Khánh kiêm nhiệm, Trung Tướng Trần Văn Minh, Thiếu Tướng rồi Trung Tướng Nguyễn Hữu Có kiêm nhiệm, Thiếu Tướng rồi Trung Tướng, rồi Ðại Tướng (4 sao) Cao Văn Viên, và sau cùng là Trung Tướng Vĩnh Lộc.

Chức "nguyên soái" này trong tay Ðại Tướng Cao Văn Viên là lâu nhất, đến 9 năm rưởi, và Trung Tướng Vĩnh Lộc là vị Tổng Tham Mưu Trưởng có thời gian ngắn nhất, chỉ có 18 tiếng đồng hồ!

Hoạt động của quân cộng sản. Trong thời gian từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1959 (4 năm rưởi), hoạt động của cộng sản chỉ trong phạm vi chính trị với những cuộc biểu tình quanh quẩn các thị trấn nhỏ, và hoạt động kinh tài vùng nông thôn (cưỡng bách dân đóng thuế), cứ xem như là thời gian hòa bình tương đối. Từ đầu năm 1960 đến cuối năm 1964 (5 năm), cộng sản mở rộng sang hoạt động quân sự từ cấp Tiểu Ðội, dần lên cấp Trung Ðội, Ðại Ðội, và lác đác có vài trận đánh đến cấp Tiểu Ðoàn. Tất cả chỉ trong hình thái chiến tranh du kích. Từ đầu năm 1965, vừa áp dụng du kích chiến và vừa chuyển sang hình thái vận động chiến với cấp Trung Ðoàn. Từ năm 1966, quân lực Việt Nam Cộng Hòa và quân lực Ðồng Minh, bắt đầu đánh nhau với quân chính qui cộng sản cấp Sư Ðoàn từ lãnh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của họ xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta theo hành lang rặng núi Trường Sơn. Và 2 tháng sau cùng của cuộc chiến hơn 20 năm, cộng sản đã điều động cấp Quân Ðoàn tấn công vào thủ đô Sài Gòn, nơi tập trung toàn bộ các cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta từ 150.000 người vào năm 1956, với trang bị các loại vũ khí do Pháp và Mỹ sản xuất từ trước và trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ 2, với tổ chức đơn vị chỉ đến cấp Tiểu Ðoàn. Theo đà bành trướng chiến tranh của quân cộng sản, quân đội phải phát triển lên đến 1.100.000 quân vào năm cuối của cuộc chiến, và được trang bị các loại vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất, trong đó có một số loại vũ khí thuộc thế hệ mới nhất, thậm chí còn trong thời kỳ trắc nghiệm nữa.

Về tổ chức. Các đơn vị từ cấp Tiểu Ðoàn được phát triển lên cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, Quân Ðoàn, với đầy đủ các binh chủng yểm trợ tác chiến, và các binh sở chuyên môn yểm trợ hành chánh tài chánh, hành chánh nhân viên, hành chánh tiếp vận.

Về quản trị con người. Từ làm bằng tay xem từng hồ sơ phiếu, từng bước tiến lên quản trị bằng máy điện toán IBM 360/20 rồi 360/40, do Trung Tâm Ðiện Toán Nhân Viên trực thuộc Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tham Mưu trách nhiệm .

Về quản trị quân dụng. Cũng từ công tác làm bằng tay đã tiến lên sử dụng máy điện toán IBM 360/40 và sau cùng là máy IBM 360/50, do Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận trách nhiệm. Vào năm 1975, máy IBM 360/50 là loại máy tối tân nhất đối với các quân đội trong vùng Ðông Nam Á mà hội nghị Tiếp Vận các quốc gia vùng tây Thái Bình Dương tại Okinawa dã đánh giá như vậy.

Một hệ thống quân trường gồm các Trung Tâm Huấn Luyện, các Trường Chuyên Môn, các Trường Võ Bị, Trường Chỉ Huy Tham Mưu, Trường Hải Quân, Trường Không Quân, và cao hơn hết là Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng, có nhiệm vụ huấn luyện căn bản, và từng bước nâng cao trình độ huấn luyện từ người quân nhân có cấp bậc thấp nhất đến sĩ quan các cấp và Tướng Lãnh. Nhiều vị Tướng và cấp Ðại Tá thâm niên đã theo học các lớp Quản Trị Quốc Phòng tại Hoa Kỳ. Nhiều sĩ quan tham mưu và sĩ quan các binh chủng binh sở, được đào tạo các trường tại Pháp và t?i các quốc gia thuộc địa của Pháp từ trước năm 1954, về sau du học Hoa Kỳ. Ðặc biệt là Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt với chương trình 4 năm, đào tạo đội ngũ sĩ quan có khả năng trong những trách nhiệm hàng lãnh đạo các ngành sinh hoạt quốc gia trong tương lai, sau thời gian gạn lọc qua kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm tham mưu, và nhất là kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy quân đội ở các cấp đơn vị.

Tuy chưa phải là hoàn hảo, nhưng tất cả những khả năng đó gộp lại, đã tạo cho quân đội một sức mạnh dũng mảnh về vật chất lẫn tinh thần, mà chính quân cộng sản -qua các tài liệu tịch thu được- phải thừa nhận là họ dễ dàng chấp nhận đánh nhau với quân đội Hoa Kỳ hơn là đương đầu với quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dù rằng hỏa lực của Hoa Kỳ là cực kỳ mạnh.

Về phí tổn chiến tranh. Ngân sách quốc phòng tiêu tốn xấp xỉ con số 3.000 tỉ bạc Việt Nam, và phần Hoa Kỳ viện trợ quân sự tính thành tiền cũng khoản 8 tĩ mỹ kim. Cũng nên nói thêm rằng, trong ngân sách quốc phòng Việt Nam, phần viện trợ của Hoa Kỳ chiếm 25% và được gọi là "viện trợ chung đậu". Phần viện trợ này phân phối rải rác trong các chương của ngân sách, nghĩa là nó hòa trong các chi tiêu chớ không phải viện trợ chỉ để trả lương (dã có không ít người lầm tưởng như vậy). Riêng phần quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân, Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), con số chi tiêu lến đến 104 tĩ mỹ kim (theo tài liệu của Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1973, nhưng họ nói là chưa chính xác).

Một quân đội phát triển theo nhu cầu chiến trường: Với một hệ thống tổ chức chặt chẻ từ hạ tầng đến thượng tầng, và luôn có những biến cải thích nghi với tình thế, dù chưa phải là hoàn thiện. Với tài liệu và phương pháp huấn luyện dựa theo Hoa Kỳ nặng về kỹ thuật, theo kinh nghiệm chiến tranh du kích do Viện Nghiên Cứu Quân Sự Ðông Dương của quân đội Pháp đúc kết, và tài liệu do Tổng Cục Quân Huấn/ Bộ Tổng Tham Mưu cùng các quân trường sáng tạo qua kinh nghiệm thực tiển chiến trường. Với nổ lực áp dụng khoa học kỹ thuật và sử dụng phương tiện tân tiến vào công tác quản trị con người, quản trị quân dụng một cách nhanh chóng và chính xác. Với một phí tổn gồm của Việt Nam Cộng Hòa lẫn của Hoa Kỳ là hết sức lớn lao, và nhất là với một tinh thần phục vụ quân đội, một tinh thần chiến đấu dũng cảm của "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", cùng với tinh thần chống cộng quyết liệt của các viên chức hành chánh, cán bộ, và nhân dân. Ấy vậy mà Việt Nam Cộng Hòa chúng ta thua trận sau hơn 20 năm chống giữ!

Trách nhiệm mất nước do đâu? Do tập thể quân đội, do cấp lãnh đạo quốc gia, cấp lãnh đạo quân đội, hay là do tất cả gộp lại? Và liệu Hoa Kỳ có phần trách nhiệm trong này không?

Tôi nghĩ, rất có thể là các bạn đồng ý với tôi rằng, chúng ta chiến đấu chống cộng sản là chiến đấu cho dân tộc Việt Nam chúng ta, chiến đấu để bảo vệ tổ quốc Việt Nam chúng ta, chớ không phải chúng ta chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho bất cứ quốc gia nào khác. Vì vậy mà tôi không nghĩ đến trách nhiệm của Hoa Kỳ trong sự thua trận của chúng ta. Khi khẳng định điều đó tôi vẫn hiểu rằng, quân đội Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên đất nước chúng ta và tham chiến bên cạnh chúng ta, là để chứng tỏ rằng họ chiến đấu ngăn chận sự bành trướng ý thức hệ cộng sản, đó là thế giới đối nghịch với thế giới tự do mà Hoa Kỳ là nước lãnh đạo, chớ không phải thuần nhất là họ chiến đấu cho riêng quốc gia chúng ta đâu. Xin nhớ rằng, trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình cảm, mà tất cả vì quyền lợi của quốc gia, ngoại trừ các quốc gia cộng sản là vì quyền lợi của đảng họ.

Tôi cũng thừa nhận rằng, trong thực trạng của Việt Nam chúng ta từ năm 1954, nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ thì cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của chúng ta chắc chắn là vô vàn khó khăn. Nhưng đã nói đi thì cũng nên nghĩ lại, đó là ở vào bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ, một bối cảnh chia ra 2 khối trong một thế giới: Một bên là dân chủ tự do do Hoa Kỳ lãnh đạo, và một bên là cộng sản độc tài do Nga Sô lãnh đạo. Cả hai cường quốc này đều sử dụng các quốc gia nhỏ chịu ảnh hưởng của họ vào mục tiêu chiến lược trải rộng tầm ảnh hưởng của họ bao trùm thế giới, hay ít ra cũng là phần lớn thế giới. Với bối cảnh như vậy, sự kiện quân lực Hoa Kỳ chiến đấu chống cộng sản trên đất nước Ðại Hàn, trên eo biển Ðài Loan, trên đất nước Việt Nam chúng ta... cũng là sự kiện mà Hoa Kỳ phải làm, vì tất cả đều nằm trong mục tiêu chiến lược của họ. Vì thế, tôi vừa cảm ơn các vị lãnh đạo nước Mỹ và nhân dân Mỹ đã giúp chúng ta chiến đấu bảo vệ tổ quốc, và vừa rút lại lời cảm ơn đó chỉ riêng đối với các vị lãnh đạo Hoa Kỳ, vì các vị lãnh đạo hiệp chủng quốc Hoa Kỳ đã khống chế quá mức đối với các vị lãnh đạo của chúng ta.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ngay trước khi tuyên bố từ chức Tổng Thống vào đêm 21 tháng 4 năm 1975, đã "cáo buộc" Hoa Kỳ phản bội đồng minh Việt Nam, bỏ rơi Việt Nam, ... và ông hy vọng là sự từ chức của ông, Việt Nam Cộng Hòa sẽ được Hoa Kỳ tái viện trợ quân sự ... Qua hệ thống truyền thông công cộng trong nước cũng như trên thế giới trong những tháng đầu năm 1975, và đặc biệt là trong 2 tháng cuối cùng của cuộc chiến, họ cung cấp cho khán thính giả trên toàn thế giới -trong đó có chúng ta- hiểu rằng, Hoa Kỳ đang lật trang cuối cùng về sự can dự của họ vào cuộc chiến tranh giữa tự do với độc tài trên lãnh thổ Việt Nam, trong ý nghĩa bại trận về phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Thế mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại "hy vọng" Mỹ sẽ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự sau khi ông từ chức! Chắc chắn là Tổng Thống Thiệu thừa hiểu điều đó hơn ai hết, vì ông là Tổng Thống cho dù Tổng Thống cũng chỉ là một con người, nhưng nhất thiết con người Tổng Thống phải hơn hẳn những người khác chớ, nếu không như vậy thì hóa ra là "đồng hạng" sao! Vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã vì lý do gì đó như bị một áp lực từ hậu trường chính trị chẳng hạn, nên ông đưa ra lời cáo buộc để sang tay cho vị kế nhiệm khi thấy con đường chiến đấu phía trước đầy chông gai nguy hiểm, rồi ung dung bỏ chạy và lại là chạy sớm ra ngoại quốc nữa chớ! Chẳng lẽ Tổng Thống Thiệu nói là bị Mỹ áp lực mà ông phải từ chức thì nghe không ổn, vì ông là Tổng Thống, là vị lãnh đạo quyền uy nhất nước! Nhưng nếu thật sự ông nghĩ hay ông tuyên bố như vậy, thì liệu trong 10 năm trên ngôi vị lãnh đạo quốc gia, có phải thật sự ông người lãnh đạo đất nước Việt Nam hay Hoa Kỳ là người lãnh đạo? Hay là ông chạy trốn trách nhiệm? Vì 10 năm trị vì với đầy đủ quyền uy của một Tổng Thống, ông đã bao lần ra lệnh cho đơn vị này, chỉ thị đơn vị kia, cổ vũ tại các quân trường, hô hào tại các diễn đàn quan trọng, đều trong nỗ lực khuyến khích thúc đẩy mọi người -nhất là quân nhân- hãy hi sinh thân mình bảo vệ tổ quốc. Vậy mà, khi tổ quốc thật sự lâm nguy thì ông quên hết các mệnh lệnh của ông, của vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Ðội mà ông đã từng dõng dạc tuyên bố, để rồi ông lặng lẽ để lại đằng sau tất cả những gì không phải của ông và gia đình ông!

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng từng tuyên bố rằng: "Ðất nước còn thì còn tất cả, đất nước mất thì mất tất cả". Lời của Tổng Thống rất đúng, và đúng với tất cả công dân Việt Nam Cộng Hòa, ngoại trừ ông và những vị lãnh đạo khác là không đúng.

Vì các vị có mất gì đâu dù rằng đất nước mất! Nhà ở của quí vị là các dinh thự thuộc tài sản quốc gia, xe đi của quí vị hằng ngày cũng là tài sản quốc gia, cơ sở kinh doanh của quí vị cầm chắc là không do đồng lương thật sự của quí vị tạo nên, vườn tược đất đai đồn điền chắc cũng thế, gia đình và thân nhân cùng chạy theo quí vị, thậm chí có thân nhân của ít nhất là một trong số quí vị chạy ra ngoại quốc bằng Hàng Không Việt Nam do ngân sách quốc gia đài thọ nữa chớ! Còn chúng tôi, "Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", nhà cửa bị cộng sản cướp, xe cộ bị cộng sản đoạt, nhiều chục ngàn người trong số chúng tôi trong tình trạng vợ con bị cộng sản lùa vào những nơi mà chúng gọi là "khu kinh tế mới", hoặc đi lấy chồng vì không nơi nương tựa! Bản thân chúng tôi, đã có nhiều ngàn đồng bào đồng đội, đã bỏ xác trong các vùng rừng núi hoang vu từ miền Nam, miền Trung, đến miền Việt Bắc trong hơn 200 trại tù trên khắp miền đất nước! Nghĩa là mất tất cả đúng như Tổng Thống đã tiên liệu một cách chính xác!

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội ngay trong cuộc tổng công kích của quân cộng sản vào dịp Tết Mậu Thân đầu năm 1968, đã tuyên bố: Ðồng bào đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỷ những gì cộng sản làm. Lời của Tổng Thống hoàn toàn đúng. Vì một trong những bản chất của cộng sản là dối trá, họ chỉ có tuyên truyền chớ không có thông tin, thành ra những gì cộng sản nói đếu là tuyên truyền cả, mà đã là tuyên truyền thì có gì là thật đâu. Nhưng tối 21 tháng 4 năm 1975, ngay sau khi tuyên bố từ chức Tổng Thống, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có nói với đồng bào với quân đội rằng: quân đội sẽ có thêm một chiến sĩ... được hiểu là Trung Tướng sẽ trở về hàng ngũ quân đội là chiến đấu. Nhưng mấy ngày sau đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ chạy! Vậy, riêng trường hợp này thôi, liệu đồng bào và quân đội có nên nhìn kỷ hành động của Trung Tướng hơn là nghe Trung Tướng nói không?

Ðến vị lãnh đạo quốc gia hàng thứ hai là Ðại Tướng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Vị Thủ Tướng 5 năm rưỡi, và đó là thời gian trị vì chỉ đứng sau thời gian của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiêm nhiệm. Cả hai thời gian này cộng lại là 15 năm, và hơn 5 năm còn lại lần lượt chuyền tay nhau giữa 9 vị. Nếu chia đều thì mỗi vị chỉ có mấy tháng cầm quyền chơi! Tôi nói "cầm quyền chơi" là vì chỉ có mấy tháng thì mỗi vị Thủ Tướng chỉ kịp duyệt qua công tác của các Bộ trong chánh phủ là hết thời gian rồi, đâu còn thì giờ để soạn thảo những kế hoạch, những dự án, những mục tiêu quốc gia, nói chung là sách lược quốc gia để phục vụ dân tộc.

Ðầu năm 1970, bà Trần Thiện Khiêm, trong cuộc đàm thoại hơn nửa tiếng đồng hồ, bà thuật cho tôi nghe câu chuyện thật ngắn với nội dung như sau: "... Trên chuyến bay Sài Gòn - Ðà Lạt mà trên phi cơ chỉ có gia đình Tổng Thống Thiệu và gia đình Ðại Tướng Khiêm, Tổng Thống Thiệu mời Ðại Tướng Khiêm giữ chức Thủ Tướng, bà Khiêm hơi to tiếng khi hỏi lại Tổng Thống Thiệu rằng: Tổng Thống biết anh Khiêm không thích làm chính trị mà còn kêu làm Thủ Tướng, có phải là Tổng Thống muốn anh Khiêm ngồi đó để Tổng Thống làm gì thì làm không? Tổng Thống Thiệu gạt ngang: Chuyện của đàn ông, bà biết gì mà nói".

Riêng về chuyện kể ngắn ngủi này chỉ có thế, nhưng tôi muốn lặp lại ở đây để có thêm một chứng minh về con người của Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm như tôi đã nhận định hồi năm 1964 trước khi ông cùng gia đình lưu vong. Theo lời bà Khiêm trên đây thì Ðại Tướng Khiêm vẫn là con người không thích dấn thân vào chính trị, mà Thủ Tướng là chức vụ chính trị cấp quốc gia. Ðiều này lại nhắc tôi liên tưởng đến vụ đảo chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 do Thiếu Tướng Lâm Văn Phát lãnh đạo, và Trung Tá Lê Hoàng Thao chỉ huy một Trung Ðoàn của Sư Ðoàn 25 Bộ Binh vào chiếm Bộ Tổng Tham Mưu, ông nói với tôi là có Trung Tá Phạm Ngọc Thảo (cộng sản hồi chánh, nhưng không rõ là giả hay thiệt) từ tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ -lúc đó đại sứ là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm- về tham gia, nếu thành công thì Ðại Tướng Khiêm trở về cầm quyền. Tôi rất nghi ngờ lời nói của Trung Tá Lê Hoàng Thao. Cũng có thể là tôi chủ quan chăng, nhưng tôi vẫn giữ nguyên cách nhìn của tôi như vậy.

Ðến đây tôi xin mở ngoặc để thuật lại câu chuyện liên quan mà tôi đã trao đổi với cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm tối 21 tháng 10 năm 2003. Sau khi ông hỏi tôi những chi tiết trong cuộc đảo chánh này, tôi liền hỏi lại ông: (trong câu chuyện, cựu Ðại Tướng Khiêm xưng là anh Tư và ông gọi tôi là chú, tôi thì xưng em)

- Thưa anh Tư, em xin hỏi anh Tư trong vụ Thiếu Tướng Phát đảo chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965, theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao nói với em là có Trung Tá Phạm Ngọc Thảo từ tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ về tham gia, dự trù khi thành công thì anh Tư về cầm quyền. Ðiều đó có đúng không anh Tư? -

- Trời ơi! Bây giờ chú hỏi Anh mới biết là tại sao lúc đó mấy anh nhà báo Mỹ nhất là tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh. "Họ hỏi Anh biết gì về cuộc đảo chánh đó?" Anh trả lời là Anh không biết gì hết, và đang chờ tin tức từ Việt Nam. Còn cái vụ ông Thảo về Việt Nam là do ông Khánh (Trung Tướng Nguyễn Khánh) gởi công điện gọi ông Thảo về gấp đó. Anh có nghe nói là khi ông Thảo về tới phi trường Tân Sơn Nhất, được người nào đó cho biết là ông Khánh đã phái người chận bắt ông Thảo đem đi giết, nên người đó giúp ông Thảo chạy trốn luôn. Về sau, bị nhóm nào đó bắt được và giết chết -

- Vậy thì anh Lê Hoàng Thao đã không đúng -

Xin đóng ngoặc/

Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm không phải là con người chính trị, cũng không thích dấn thân vào chính trị, nhưng lại giữ chức vụ chính trị mà là chức vụ chỉ dưới quyền Tổng Thống thôi, cho nên hơn 5 năm trong ngôi vị Thủ Tướng, ông không có gì xuất sắc về mặt lãnh đạo với chức vụ khá nhiều quyền uy trong tay, dù rằng về phong cách và cá tính thì ông vẫn là người chinh phục được cảm tình của nhiều giới trong xã hội. Nhưng chẳng lẽ con người chính trị trong chức Thủ Tướng chỉ cần trang bị ngần đó thôi sao! Và rồi ông bỏ chạy, cũng là chuyện bình thường dù rằng ông đã bàn giao chức Thủ Tướng khoảng 3 tuần trước đó.

Ðại Tướng Cao Văn Viên là vị Tướng tuy đứng hàng thứ tư sau vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao là Tổng Thống, Thủ Tướng, và Tổng Trưởng Quốc Phòng, nhưng theo hệ thống tổ chức, thì chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng thật sự quan trọng bậc nhất đối với quân đội về tổ chức đơn vị, trang bị vật chất, trang bị tinh thần, huấn luyện và tái huấn luyện, quân phong quân kỹ, chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc đời sống, và quan trọng về mặt chiến lược chiến thuật để hướng dẫn quân đội biết cách đánh và biết cách thắng địch.

Bộ Quốc Phòng nghe rất to nhưng trong tổ chức thì Bộ không có khả năng đảm trách chiến lược mà nặng về điều hành, còn những gì thuộc về chiến lược thì Bộ Quốc Phòng gần như chỉ là "hộp thơ" giữa Tổng Tham Mưu Trưởng với Thủ Tướng và Tổng Thống thôi. Trách nhiệm chính của Bộ Quốc Phòng hầu như chỉ tập trung vào hoạt động của Tổng Nha Tài Chánh Và Thanh Tra Quân Phí, với vài trách nhiệm khác về Quân Sản, Quân Pháp, và Nhân Lực.

Vì vậy mà Ðại Tướng Cao Văn Viên, trong thực tế là vị lãnh đạo bậc nhất của quân đội hơn một triệu người. Quyền hành rộng lớn bao nhiêu thì trách nhiệm phải nặng nề bấy nhiêu, Trách nhiệm và quyền hạn trong bất cứ chức vụ nào cũng phải cân bằng như vậy. Trong 7 năm đầu, những ai khó tánh đến đâu cũng phải công nhận là ông rất nhiệt tình với quân đội về các mặt, nhưng cho dù dễ tính đến mấy cũng nhận thấy ít nhất là 2 năm sau cùng (1973-1975), Ðại Tướng Viên đã không làm hết trách nhiệm của vị Tổng Tham Mưu Trưởng. Trên phương diện cá nhân, vì Tổng Thống Thiệu không chấp nhận cho ông từ chức nên ông chỉ quanh quẩn nơi bàn giấy với ngày hai buổi đi làm bằng trực thăng từ nhà do ông tự lái (đường Ngô Quyền, Quận 5) đến Bộ Tổng Tham Mưu (cạnh phi trường Tân Sơn Nhất), tựa như viên chức già trong ngành hành chánh "sáng vác ô (dù) đi tối vác về" vậy. Hành động đó của ông, cứ cho là đúng cũng được. Nhưng khỗ nỗi, ông vẫn là vị Ðại Tướng 4 ngôi sao mỗi bên cổ áo và là vị Tổng Tham Mưu Trưởng trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, để rồi lúc quân đội cần ông nhất thì ông lên phi cơ -và cũng như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm- ông bỏ lại đằng sau tất cả những gì không phải của ông và gia đình ông!

Thế hệ chúng ta, đã tiếp nhận một giang sơn gấm vóc, một truyền thống hào hùng của những bậc tiền nhân lừng danh thế giới trong mở nước và giữ nước, một nền văn hoá dân tộc trải dài nhiều ngàn năm trong lịch sử, trong đó con người được trân trọng. Ðến lượt chúng ta, chúng ta chiến đấu giữ nước và phát triển đất nước, nhưng đã để đất nước vào tay chế độ cộng sản độc tài, một chế độ tàn bạo nhất trong lịch sử thế giới! Tuy nhóm lãnh đạo cũng là người cùng chủng tộc, nhưng họ rập khuôn theo cộng sản quốc tế mà cai trị dân tộc với những chính sách độc tài nghiệt ngã! Và thật sự là họ đã tàn bạo hơn quân xâm lược Trung Hoa phong kiến, và nghiệt ngã hơn thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam nữa!

Trong lịch sử, cũng có những tiền nhân bị mất nước, nhưng cái nhục của thế hệ chúng ta là mất nước không phải vì đánh nhau thua trận, mà vì lý do nào đó, hay vì trách nhiệm của giới chức nào, tập thể nào, hay là tất cả gộp lại, chúng ta phải chờ lịch sử soi sáng qua từng góc cạnh của những vị lãnh đạo, từng góc cạnh của bối cảnh quốc gia quốc tế liên quan. Nhưng nếu chúng ta nói rằng, "chúng ta mất nước là trách nhiệm của Hoa Kỳ", thì liệu chúng ta có còn liêm sỉ khi đứng trước bàn thờ tổ quốc dù chưa phải là trên quê hương Việt Nam không? Bởi vì, đất nước là đất nước Việt Nam, dân tộc là dân tộc Việt Nam, các vị lãnh đạo quốc gia và lãnh đạo quân đội đều là Việt Nam, tất cả quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đều là Việt Nam, thì đối với lịch sử, chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm đã để mất nước!

Thật là đau lòng, vì đã hơn một phần tư thế kỷ lưu vong, chưa một vị lãnh đạo đầy quyền uy nào của chúng ta thuở ấy, dám nhận trách nhiệm với lịch sử cả. Trái lại, vẫn cho rằng "mất nước là tại Mỹ bỏ rơi!" Có một vị Tướng trong lần phỏng vấn của đài phát thanh Little Saigon cuối tháng 4 năm 1999, đã trả lời rằng: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Mất nước là trách nhiệm chung của mọi người, tôi chỉ là một trong số đó, tại sao lại gắn trách nhiệm đó cho tôi!" Tất nhiên là không ai có thẩm quyền gắn trách nhiệm đó cho riêng vị Tướng trên đây, vì trên vị Tướng này còn những vị Tướng khác nữa, với quyền lực cao hơn và nhiều hơn nữa, nhưng chia đều trách nhiệm một cách bình quân như vậy, e không công bằng chút nào. Bởi vì trách nhiệm phải cân bằng với quyền lực, mà quyền lực của người dân hay người lính rất ư là giới hạn nếu không nói là có gì đáng kể đâu.

Trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình cảm mà chỉ có quyền lợi quốc gia thôi, Hoa Kỳ giúp chúng ta là do quyền lợi của họ, và Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam cũng do quyền lợi của họ, vấn đề là "khả năng và bản lãnh" của người lãnh đạo trong mọi hoàn cảnh đất nước, sẽ tạo thế đứng cho những vị đó trong lịch sử: Hoặc được người đời vinh danh hay bị người đời nguyền rủa!

Theo các bạn, thế hệ chúng ta vừa để lại những gì cho thế hệ tiếp nối chúng ta, và những thế hệ sau nữa? Phải chăng là "kinh nghiệm mất nước", một kinh nghiệm luôn dằn xé chúng ta trong quảng đời còn lại?

Thưa quí đồng đội, từ góc độ đạo lý mà soi rọi vào thảm cảnh chúng ta, phải chăng là chúng ta bị Tổ Quốc trừng phạt vì chúng ta không thực hiện tròn vẹn lời tuyên thệ trước bàn thờ Tổ Quốc trong những buổi lễ tốt nghiệp tại các trường Võ Bị? Bởi thế mà nhiều chục ngàn bạn đồng đội khi đặt chân lên đất nước Hiệp Chủng Quôc Hoa Kỳ đã bị cái "sốc" khi bước vào một xã hội v?a l?nh lùng v?a thực tế, thực tế đến độ tàn nhẫn của cuộc sống với biết bao gian truân của người dân mất nước! Trong khi hằng trăm ngàn đồng đội chúng tôi, gồm: quân nhân, viên chức, cán bộ, các vị dân cử, các nhà kinh danh sản xuất, các vị hoạt động chính trị, bị cộng sản lưu đày trong các nhà tù, vợ con bị đày đọa trong các khu kinh tế mới mà thực chất là những nơi lưu đày, tài sản thì bị chúng tịch thu. Ðời sống của chúng tôi trong các trại tập trung, cũng như vợ con chúng tôi trong các khu kinh tế mớI hay trong xã h?i d?c tài, không nói thì các bạn cũng thừa hiểu là vô cùng thảm thương! Lòng hận thù tột cùng của cộng sản, đã thể hiện qua những chính sách đối với chúng tôi và gia đình chúng tôi, không sao kể xiết! Chỉ có thể nói là chúng tàn bạo hơn thời dân ta bị phong kiến thực dân cai trị nữa!

*****

Thưa quí vị quí bạn, ký ức tôi chỉ còn lưu lại ngần ấy thông tin cùng với nét nhìn của tôi trong những biến cố chính trị đã xảy ra từ đêm "thiết quân luật" 20 tháng 8 năm 1963. được gói ghém trong gần 400 trang giấy mà quí vị quí bạn lần lượt đọc qua. Tôi không có kết luận về trách nhiệm do đâu hay do ai mà mất nước vào ngày cuối tháng 4 năm 1975, vì thiết nghĩ, phải trông chờ vào các sử gia mới có điều kiện thu thập sử liệu mới có được kết luận, và kết luận đó sẽ bao gồm những gì mà chúng ta đã làm cho dù là tốt lẫn không tốt, cho dù là hay lẫn dở, thậm chí cho dù đó là tội lỗi với tổ quốc, với dân tộc, chúng ta phải nhận trách nhiệm đó. Và đó, sẽ là một trong những bài học kinh nghiệm trong hành trang vào đời cho những thế hệ tiếp sau chúng ta.

Tất cả chúng ta, "Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", cho dù diễn giải như thế nào đi nữa, cũng phải thừa nhận là chúng ta có chung trách nhiệm về ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà tổ quốc và dân tộc Việt Nam chúng ta bị cộng sản xâm chiếm cai trị! Chúng ta hãy can đảm mà nhận trách nhiệm đó, vì có như vậy, chúng ta mới vơi bớt nỗi dày vò trong trái tim "người lính thua trận cuối cùng". Nhận trách nhiệm không chỉ là lời nói suông, mà tùy mỗi hoàn cảnh của chúng ta và bằng cách này hay cách khác, góp phần xây dựng cộng đồng Việt Nam tị nạn chúng ta có một sức mạnh tập thể, mà một trong những phần quan trọng trong đó là hổ trợ và khuyến khích con cháu chúng ta trau dồi kiến thức khoa học kỹ thuật, và rèn luyện nghị lực với một tinh thần trách nhiệm cộng đồng, từ sức mạnh đó góp phần vào công cuộc dân chủ hoá trên quê hương Việt Nam, để cùng nhau xây dựng một xã hội dân chủ pháp trị trên nền tảng nguyện vọng của toàn dân.

Và tôi xin hết lời./.

Houston, ngày 15 tháng 8 năm 1994.

Bổ túc lần 1, mùa thu năm 1995.

Bổ túc lần 2, mùa thu năm 1998.

Bổ túc lần 3, mùa đông năm 2001-2002.

Bổ túc lần 4, mùa đông năm 2003-2004.