Báo Việt
Phá
Vỡ Bức Tường Ngăn Cách (Nguyễn Ngọc Đức)
Du
sinh Việt
Ca Sĩ
và Giao Lưu Văn Hóa (Trần Đức Tường)
Hoàng Cơ Định Nghị Quyết 36 : Bước Lùi Quan Trọng Của CSVN Trong Năm 2004
Giáo
Hội Tin Lành Mennonite Liên Tục Bị Đàn Áp
Tin
Lành Khắp Nơi Kêu Gọi Cứu Giúp Mục Sư Nguyễn Khồng
Quang
HT
Thích Quảng Độ Bị Ngăn Cản Không Cho Đi Viếng
Thăm HT Thích Huyền Quang
Cộng
Sản Việt
Giá
Trị Của Dân Tộc Việt
Những
"Nghề" Mới Tại Việt
Thế
Giới và Chúng Ta : Dân Ukraine Biểu Dương Sức Mạnh
(Nguyễn Trúc Giang)
Những
Ngày Rất Dài ... Của Tháng 11 năm 2004 (Bùi Xuân Quang)
Sức
Nén Của Ngôn Từ (Hà Sĩ Phu)
Những
Mẩu Kính Màu (phần 5) (Nguyễn Minh)
Một
Ngày Như Mọi Ngày ... Của Tuấn ! (Chuyện ngắn
của Nguyễn Tuấn)
Phá Vỡ Bức Tường Ngăn Cách
Nguyễn
Ngọc Đức
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Tháng 11 vừa qua, thế
giới kỷ niệm 15 năm sụp đổ của bức tường
Bá Linh, chấm dứt tình trạng chia cắt Đông Tây
giữa lòng dân tộc Đức. Trong suốt 28 năm, kể
từ khi bức tường được dựng lên vào tháng 8 năm
1961, người Đức ở hai bên Đông và Tây Bá Linh vẫn
tìm mọi cách để liên lạc với nhau, hỗ trợ
nhau và đã tạo ra nhiều áp lực để buộc nhà
cầm quyền Đông Đức lùi bước liên tục. Vào năm
1961, mọi sự liên lạc, gặp gỡ giữa Đông và
Tây Bá Linh bị tuyệt đối ngăn cấm. Đến tháng
12/1963, nhà cầm quyền cộng sản Đông Đức
đã phải chấp nhận cho hàng trăm ngàn người Tây Đức
được sang bên Đông thăm viếng thân nhân, bạn bè vào các dịp
lễ cuối năm. Cuối năm 1964, đến lượt một số
người già cả tại Đông Bá Linh được phép sang phía Tây để
gặp gỡ thân nhân của họ. Năm 1972, khi Đông và Tây Đức
ký hiệp ước bình thường hóa bang giao trên một
số lãnh vực, một số chương trình học
bổng của Tây Đức đã cho phép nhiều sinh viên ở
phía Đông sang du học, tu nghiệp. Chính sự liên hệ,
giao tiếp ngày một mở rộng giữa người Đức
ở Đông và Tây đã góp một phần quan trọng đưa đến
sự sụp đổ bức tường Bá Linh.
Hiện nay, hoàn cảnh
của dân tộc Việt
Hiện tượng này
trước hết cần nhìn thấy như là một thất
bại của đảng CSVN. Họ đã thất bại
như đảng cộng sản Đông Đức đã thất bại
khi muốn ngăn cách người dân ở hai bên Đông và Tây Bá Linh.
Hiện tượng này còn được nhìn thấy như là
một thắng thế của dân tộc Việt
Hẳn nhiên, đảng
CSVN cũng nhìn thấy những yếu tố bất
lợi đối với họ, khi sự trao đổi trong ngoài
được mở rộng. Nhưng trước xu thế chung của
thời đại, đảng CSVN không thể quay đầu về lối
cũ, nên họ buộc phải xuôi theo xu hướng mở rộng
này, nhưng tìm cách khai thác và lủng đoạn. Họ khai
thác nguồn tài lực và nhân lực đến từ bên ngoài để
củng cố chế độ. Họ lủng đoạn tâm
lý của người Việt
Hiện nay, hàng ngũ
đảng CSVN không còn được kết lại bằng sự
keo sơn của một lý tưởng cao đẹp, mà họ
đang kết với nhau bằng quyền lợi. Vì quyền
lợi, họ có thể tương nhượng, thỏa hiệp để
cùng tồn tại. Nhưng cũng vì quyền lợi, họ
có thể đấu đá và thanh toán nhau không tương nhượng. Đây là
lý do mà nạn tham nhũng, bè phái chỉ có thể ngày
một leo thang theo đà mở rộng sự giao tiếp với
thế giới bên ngoài. Nguồn tài lực và nhân lực đến
từ ngoài, trở thành con dao hai lưỡi, vừa giúp cho chế
độ có thêm phương tiện củng cố, nhưng đồng thời
cũng phá nát giềng mối của chế độ từ
bên trong. Trong khi đó, với sự mở rộng ra với thế
giới bên ngoài, đồng bào trong nước vừa có thêm điều
kiện để cải thiện đời sống kinh tế, vừa
mở mang về mặt trí tuệ, đặc biệt thấy
được sự thành công của các nước tiền tiến
hiện nay hoàn toàn là vì họ đã xây dựng
xã hội dựa trên nền tảng dân chủ đa
nguyên. Do đó, thành phần có lợi nhiều nhất trong sự
mở rộng giao tiếp trong ngoài không phải là chế độ
CSVN, mà chính là đại khối dân tộc Việt
Về sự lủng
đoạn tâm lý, Hà Nội đã và đang cố tình tạo
sự nghi kỵ giữa người Việt
Sự lủng đoạn
tâm lý này sẽ được hóa giải một cách dễ
dàng khi người Việt
Nhắc nhở nhau như
vậy để có sự chọn lựa dứt khoát, như người
Đức ở Bá Linh đã chọn lựa sau năm 1961, đó là bằng
mọi cách mở rộng sự liên hệ, giao tiếp giữa
người Việt Nam ở trong và ngoài nước, hỗ trợ
và giúp đỡ nhau, để vừa tăng cường sức mạnh
đoàn kết, vừa tạo ra những sinh hoạt ngày một
đa dạng, ngày một độc lập với guồng máy cai
trị của chế độ độc tài. Đây là phương cách hữu
hiệu để phá vỡ bức tường ngăn cách mà đảng
CSVN đã tìm cách dựng lên giữa người Việt
Nguyễn
Ngọc Đức
Du sinh Việt
Đoàn Hùng
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Theo số liệu trong nước
thì tính đến mùa hè năm 2004, số sinh viên Việt Nam
đang du học tại khoảng 30 quốc gia lên đến gần
40 ngàn người, qua ba diện khác nhau. Thứ nhất là những
người ở dạng đi tu nghiệp, thực tập do sự
hợp tác giữa các trường đại học Việt
Tháng 8 vừa qua, Bộ Giáo Dục
- Đào Tạo của Cộng sản Việt Nam đã ban
hành một chỉ thị là nếu những du học sinh
nào không chịu về nước sau khi hoàn tất học
trình thì sẽ phải hoàn lại tất cả
những khoản tiền giúp đỡ của chính quyền
trong thời gian du học. Sự kiện này cho thấy là số
người thành tài sau khi du học trở về nước quá ít
khiến cho Hà Nội đã phải tung ra biện pháp "răn
đe" nhưng rồi cũng sẽ không giải quyết được
vấn đề, vì ba lý do sau đây :
- Thứ nhất là những
người đã thoát ra khỏi Việt
- Thứ hai là đa số các bậc
phụ huynh muốn con em mình tiếp tục sống
và làm việc tại hải ngoại để hy vọng với
đồng lương tại các quốc gia tự do có thể giúp cho
gia đình và nhất là cửa ngỏ để đi đoàn tụ
với con cái tại hải ngoại sau đó.
- Thứ ba là tình trạng
nhân dụng bê bết ở Việt Nam, cộng với lối
ưu đãi đối với con cháu cán bộ đảng viên, đa số
sinh viên dù có học thành tài về nước cũng sẽ
không được sử dụng đúng với khả năng và không được
tiến thân như làm việc tại các hãng xưởng ở
nước ngoài. Mặc dù ngày hôm nay, do nhu cầu giải quyết
những yếu kém kỹ thuật, đảng Cộng sản
đã trưng dụng nhiều trí thức ngoài đảng vào làm
việc một số cơ quan và giữ những trách vụ
quan trọng. Tuy nhiên, xu hướng chung vẫn là dành ưu tiên cho
những người của đảng đặc biệt là làm ở
các bộ liên quan đến các ngành kinh tế, thương mại, tài
chánh và ngân hàng nhà nước.
Nhưng lý do căn bản nhất
làm cho đa số du học sinh Việt
1/ Tuyên truyền và gieo vào đầu
các du sinh Việt Nam một hình ảnh cộng đồng
hải ngoại quá khích, cực đoan để từ đó làm cho
các du sinh e ngại và không những không dám tiếp xúc với
cộng đồng mà còn có những thành kiến xấu về
các nỗ lực đấu tranh của cộng đồng người
Việt trong 30 năm vừa qua.
2/ Dùng sự kiểm soát hộ
chiếu để ép buộc các du học sinh phải liên lạc
và tham gia vào những nhóm, hội do sứ quán lập ra ở
từng địa phương để qua đó theo dõi và kiểm soát
các hoạt động của sinh viên. Những ai bị nghi ngờ
là tiếp xúc với cộng đồng hoặc giao tiếp với
sinh viên Việt
Những thủ đoạn của Hà Nội nói trên cùng với
sự rụt rè của du học sinh tại môi trường
quá mới ở hải ngoại, đa số các du sinh sống
co cụm và không dám trao đổi hay mở rộng sự tiếp
xúc với cộng đồng hải ngoại. Đây là điều
đáng buồn vì nếu mà họ không bị đầu độc
và đến với cộng đồng Việt
Tuy rời khỏi đất nước
Việt
- Thứ nhất : không nên
coi toàn thể du học sinh Việt
- Thứ hai : ngoài những
thành phần không chủ tâm ra nước ngoài để học hỏi,
du sinh là thành phần trí tuệ vượt trội trong nước.
Với những kiến thức tiếp thu được ở
các nước tân tiến, các du sinh này sẽ đóng vai trò
quan trọng trong cơ chế nhà nước tương lai, có ảnh hưởng
đến vận mệnh của đất nước.
Ý thức được như vậy, chúng ta cần tìm
cách tiếp cận với các anh em du sinh, tạo được sự
cảm thông để hai bên có thể tin tưởng nhau, giúp đỡ
nhau, đến với nhau bằng tình đồng hương đúng
ý nghĩa nhất, để anh em du sinh có được một
điểm tựa tinh thần mà theo đuổi việc học
trong những ngày tháng cô đơn xa xứ. Làm được điều này
sẽ hóa giải được hình ảnh sai lạc của
cộng đồng người Việt hải ngoại mà đảng
và nhà nước CSVN cố tình tô vẽ để ngăn cản
sự tiếp cận của chúng ta.
- Thứ ba : Đa số các
du sinh là thành phần trẻ sinh sau năm 1975, không những
không hiểu nhiều về cuộc chiến quá khứ mà
còn có những nhận định không đúng qua những sách
vở của Hà Nội. Do đó, khi đến tiếp xúc, chúng ta
không nên buộc họ phải có ngay những thái độ -
chính trị - như chúng ta đã có từ 30 năm qua. Với những
tâm hồn trong sáng và công bằng của tuổi trẻ, với
khả năng suy nghĩ của một người có trình độ,
nếu chúng ta tạo cơ hội, giúp cho các anh em du sinh có những
phương tiện để tự do tìm hiểu những dữ
kiện lịch sử, chính trị, kinh tế trong và ngoài
nước, chắc chắn họ sẽ nhìn ra được
thực tế của Việt Nam ngày nay và sẽ cùng chúng ta
kết hợp để xây dựng đất nước.
- Thứ tư : vai chính trong
giai đoạn xây dựng và canh tân đất nước chính là thành
phần trẻ trong và ngoài nước. Do đó chúng ta cần quan
tâm đến suy nghĩ của giới trẻ tại Việt
- Thứ năm : phải ngăn
chận âm mưu gầy dựng một cộng đồng người
Việt thứ hai quy tụ bởi những du học sinh
và những người mang hộ chiếu Cộng Hòa
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà Cộng sản
Việt Nam đang cố xúc tiến. Mục tiêu của Hà Nội
là vừa gom tụ những người này vào vòng sự
kiểm soát của sứ quán để khoe với trong nước
là Hà Nội được - đồng bào hải ngoại - ủng hộ
chứ không còn chống đối như trước đây, vừa
tạo một thế đối đầu với các sinh hoạt
của cộng đồng người Việt tỵ nạn. Đây
là một âm mưu rất thâm độc của Hà Nội mà chúng ta
cần phải cảnh giác để không đẩy thành phần
du học sinh rơi vào thế bị cô lập và bị kiềm
tỏa bởi sứ quán Hà Nội.
Khi chúng ta nhận định được
một cách chính xác và tích cực về mối tương quan giữa
cộng đồng người Việt hải ngoại và các du
sinh, đặc biệt là để ngăn chận âm mưu dùng thành phần
du học sinh Việt Nam để gầy dựng cộng đồng
người Việt thứ hai nhằm tạo thế đối lực
với cộng đồng người Việt tỵ nạn,
chúng ta cần bắt tay vào việc hỗ trợ du học
sinh từ những việc làm nhỏ nhất cho đến những
sinh hoạt to lớn khác trong cộng đồng. Sau đây là những
đề nghị cụ thể :
- Thứ nhất, bằng
tình cảm của gia đình, chúng ta vận động
người Việt tỵ nạn có con cháu là những du học
sinh đang đi học hay tu nghiệp tại hải ngoại, giải
thích và hướng dẫn những người này hiểu rõ
về tình đoàn kết và sự gắn bó với quê
hương của người Việt hải ngoại để xóa đi những
tuyên truyền sai lạc của Hà Nội. Nếu có sự
góp tay tích cực từ thân nhân của các du học sinh tại
hải ngoại sẽ giúp cho họ gạt bỏ những
thụ động, e sợ để mạnh dạn tiếp xúc với
những người ở hải ngoại
- Thứ hai, bằng những
cởi mở và trong sáng của giới trẻ, chúng ta vận
động và khuyến khích con em của mình đang theo học
tại các đại học, tìm cách tiếp xúc, thăm hỏi
và giúp đỡ những du học sinh từ Việt Nam để
vừa tạo quen biết, vừa khuyến khích họ tham
gia các sinh hoạt của giới trẻ trong cộng đồng.
- Thứ ba, bằng sự chủ
động của cộng đồng, chúng ta có thể hỗ trợ
cho các hội sinh viên, các đoàn thể trẻ trong cộng đồng
mở ra những sinh hoạt hướng vào giới du học
sinh để họ có môi trường hoạt động ngoài
vòng ảnh hưởng của các sứ quán Việt
- Thứ tư, bằng những
yểm trợ thực tế, chúng ta có thể tìm giúp
cho thành phần du học sinh trong hoàn cảnh khó khăn những
chỗ ở rẻ tiền, những công việc làm thuận
tiện sau giờ học. Chính những yểm trợ thiết
thực này, chúng ta không chỉ giúp cho họ có được một
đời sống ổn định mà còn biểu hiện
cái tình của người Việt tỵ nạn đối với
con em của những người đang còn sống trong
vòng kiềm tỏa của cộng sản Việt
Con số du học sinh Việt
Nhìn như vậy, chúng ta
hãy tận dụng những ưu điểm của Cộng
đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại
để xây dựng tập thể du học sinh Việt Nam trở
thành nhịp cầu thông cảm giữa trong và ngoài nước
- cho bây giờ và cho mai sau - để hải ngoại và quốc
nội cùng nắm tay nhau tiến hành một cách hữu hiệu
công cuộc canh tân đất nước.
Đoàn Hùng
Ca Sĩ và Giao
Lưu Văn Hóa
Trần
Đức Tường
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Từ mấy năm nay, người ta ghi nhận sự xuất hiện tại hải ngoại của rất nhiều nghệ sĩ trong nước trong ngành tân nhạc cũng như cổ nhạc. Riêng trong năm 2004 này, có thể nói hầu hết các ca sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam đều đã xuất hiện và trình diễn đó đây trên các sân khấu, phòng trà, câu lạc bộ... hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ. Nhân sự kiện mới đây, hai ca sĩ trong nước là Bằng Kiều và Thu Phương mới bị nhà cầm quyền Hà Nội có biện pháp "trừng phạt" khiếm diện, câu hỏi được đặt ra là "Liệu sự kiện ca sĩ trong nước ra sinh hoạt văn nghệ tại hải ngoại có là "giao lưu văn hóa" theo chính sách tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản nhằm tấn công vào cộng đồng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại không ? Để có thể đánh giá đúng mức vấn đề này, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu hiện tượng văn nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn, mục tiêu của họ cũng như những mưu đồ của chế độ CSVN... Từ đó, có thể rút ra thái độ và phản ứng hợp lý của người Việt Hải Ngoại đối với hiện tượng này.
Năm nay cộng sản Hà Nội
tổ chức linh đình để kỷ niệm 50 năm chiến
thắng Điện Biên Phủ và cố tình cho trình
diễn lại những bài hát của một thời chiến
tranh. Nếu trong các buổi trình diễn, có một số
ít những mái đầu bạc, ngồi gật gù, cười tủm
như đang thả hồn về dĩ vãng khói lửa của
họ, thì cả nghệ sĩ mà hầu hết là giới
trẻ lẫn khán giả ngồi xem đều không có những
xúc cảm mà những người chủ trương tổ chức
chờ đợi. Nền văn nghệ ca tụng chiến tranh,
ca tụng anh hùng, kích động thanh thiếu niên... chỉ gợi
cho người ta nhớ lại một thời kỳ đen tối,
chết chóc, đói khổ mà Đảng CSVN đã dẫn đưa cả
nước đi vào.
Từ đầu thập niên 90,
tức là 15 năm sau khi cộng sản thôn tính miền Nam, nền
ca nhạc trong nước đã chuyển hướng một
cách rõ rệt. Có người cho rằng nó đã bị ảnh
hưởng bởi nền âm nhạc miền
Về ca sĩ, người ta nhận
thấy ngày càng có nhiều mầm non được đào tạo
chính quy, nắm vững nhạc lý. Đã có nhiều
kỳ thi tuyển lựa ca sĩ được tổ chức
trong nước. Trong nhóm mầm non, ngưòi ta chú ý đến
Lam Trường, Mỹ Tâm, Quang Dũng, Đàm Vĩnh Hưng chẳng
hạn... Nhưng so với những ca sĩ đã thành danh như
Cẩm Vân, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh..., cảm thấy
có một sự cách biệt về trình độ và nghệ
thuật trình diễn. Cũng phải công nhận là những
ca sĩ trong nước được đào tạo, huấn luyện về
kỹ thuật tại các trường âm nhạc và kịch nghệ
của chế độ, nên họ nắm vững nhạc
lý.
Về kỹ thuật
hòa âm và sử dụng nhạc khí, có nhiều nghệ
sĩ trong nước cũng tỏ ra rất tiến bộ so
với những năm sống trong sự "bao cấp"
của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Nhưng các buổi trình diễn văn nghệ, các đại nhạc
hội, có thể do sự kềm hãm của CSVN, không
thể nào huy hoàng tráng lệ và quy mô như ở hải ngoại
được. Lối hát giọng cao theo kiểu opera đã bớt
đi nhiều, nhưng vẫn còn tồn tại khiến người
không nghe quen cảm thấy khó chịu.
Về mặt thương mại,
nghề trình diễn và sản xuất băng dĩa rất
phát triển. Đa số ca sĩ, nghệ sĩ trình diễn
có thu nhập khá giả. Mỗi đêm, tại Hà Nội, Sài
Gòn và những thành phố lớn, họ đã phải :
"nhảy show" nhiều nhà hàng. Dĩa CD nhạc
trong nước cũng rất thịnh hành và được bày bán khắp
nơi với giá rẻ mạt so với hải ngoại :
2 đô la cho những CD sao chép "nguyên con" từ những
buổi trình diễn lớn, hoặc "xào nấu"
từ các CD khác ; từ 5 đến 8 Mỹ kim cho những
CD mới do chính ca sĩ thực hiện đặt bán tại
các quầy. Cũng nên nhắc là ở Việt
Cách đây khoảng hơn một chục
năm, khi mới mở cửa ra giao dịch với thế giới
Tây Phương, Hà Nội đã từng đưa nhiều phái đoàn chính
thức của Bộ Văn Hóa - Thông Tin ra hải ngoại
trình diễn, chủ yếu là dành cho khán giả ngoại
quốc, trong các chương trình trao đổi văn hóa giữa Việt
Nam và nước ngoài. Đó là các đoàn dân ca, dân nhạc, múa rối
nước, vv... Trước khi bình thường hóa quan hệ
ngoại giao với Hoa Kỳ, các phái đoàn này thường tới
các quốc gia Âu Châu như Thụy Điển, Pháp, Đan Mạch, Na
Uy vv... Các phái đoàn này thường được "quản
lý" rất chặt chẽ bởi hàng rào công an đại
sứ quán và cai văn nghệ từ trong nước đi theo đoàn. Những
người này cô lập hoàn toàn các nghệ sĩ của đoàn và
không cho tiếp xúc với "Việt Kiều".
Sau khi trình diễn chính thức, các nghệ sĩ được
ít ngày "tự do" du ngoạn, mua sắm. Thực
chất, những người lãnh đạo đoàn cũng có nhu
cầu đi mua sắm riêng và muốn tránh sự tò
mò của nghệ sĩ. Nghệ sĩ chỉ được
đi ban ngày và khoảng 11 giờ đêm là phải về ngủ
chung tại nhà tập thể hay khách sạn do đại sứ
quán bố trí. Do có thân nhân ở thành phố đang lưu diễn
hoặc do làm quen, móc nối với những người trong
các hội người Việt Nam thuộc hệ thống "Việt
Kiều Yêu Nước", các nghệ sĩ thường được
mời về tư gia trình diễn "văn nghệ bỏ
túi" có thù lao.
Về sau, phong trào du lịch
ra nước ngoài nở rộ, nhiều nghệ sĩ đã
ra hải ngoại bằng visa du lịch trong vòng 2 tuần
hoặc 1 tháng. Trong thời gian lưu lại nước ngoài, họ
có thể "nhảy dù" hát vài shows kiếm tiền
phụ trội. Nhưng thường thường thì công an biết
liền và khi về đều bị chặn và bị bắt "thành
thật khai báo" và bị bắt chia chác lợi nhuận.
Trong vài năm gần đây, nghệ
sĩ ra hải ngoại không phải chỉ lưu lại ngoài
này ít ngày, nhưng trong thời gian dài và có kế hoạch đi lưu
diễn nhiều nơi. Họ không còn nằm trong khuôn khổ
một phái đoàn chính thức của Nhà Nước mà hoạt động
riêng lẻ, với tính cách cá nhân. Theo sự dọ hỏi một
số nghệ sĩ thì được biết, để được
cấp visa du lịch, họ phải có những giàn xếp
và thỏa thuận ăn chia trước với công an văn hóa và cơ
quan cấp giấy xuất cảnh trước khi đi. Sự
giàn xếp cũng phải giải quyết với những
"bầu show" ở hải ngoại hầu thiết
lập chương trình, thỏa thuận giá cả. Tóm lại
một loại hợp đồng bảo đảm thù lao cho nghệ
sĩ phải được từ 15 đến 20 ngàn đô la một
tháng. Số thu nhập này, khi về nghệ sĩ còn
phải ăn chia với công an và cán bộ văn hóa-thông tin trong nước.
Cũng theo sự dọ hỏi những vũ trường,
phòng trà ca nhạc tại Hoa Kỳ thì các ca sĩ
trong nước tới trình diễn thường là thuộc
dạng ca sĩ "khách" đặc biệt. Cát xê
(cachet) trung bình cho mỗi ca sĩ "ăn khách"
như Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng... là từ 3.000 đến 4.000 Mỹ
kim một đêm trong những đêm dạ vũ cuối tuần.
Nghệ sĩ trong nước ra
hải ngoại có 2 thành phần khá rõ rệt : 1)
Những người ra và định cư tại hải ngoại như
Bằng Kiều, Lam Trường, Trần Thu Hà vv... vì họ
đã lập gia đình với người hải ngoại,
hoặc đã xin tỵ nạn như vợ chồng Thu Phương
- Huy MC. Những người này tuy đã định cư ở nước
ngoài, nhưng họ có nhu cầu về nước trình diễn
hoặc thăm viếng thân nhân, nên thường không biểu lộ
lập trường một cách rõ ràng ; 2) Những người
đi du lịch để trình diễn như Hồng Nhung, Mỹ
Linh, Quang Linh, Phương Thanh, Mỹ Tâm, Thanh Lam, Quang Dũng... Những
người này, vì phải sống trong 2 môi trường trong
nước và hải ngoại, nên họ không muốn làm
gì tạo khó khăn cho họ tại cả 2 môi trường
đó.
Về phía nhà cầm quyền
CSVN, người ta nhận xét thấy cũng có 2 loại nghệ
sĩ : loại khó đi và loại dễ đi. Chưa biết
lý do và tiêu chuẩn có phải là chính trị hay yếu
tố gì khác, như chia chác, đút lót không điệu nghệ...
nhưng mỗi khi bầu show hải ngoại đề nghị
tên một nghệ sĩ thì phía "bên kia"hường
bắt đợi một thời gian để xem xét thuộc loại
nào và giàn xếp cũng như tính toán tiền "cò".
Có nhiều xác suất là các nghệ sĩ được cấp
visa ra hải ngoại đã được CSVN dặn dò một
số điều nên làm và nên tránh cũng như một số điều
cần quan sát, dò la khi ra hải ngoại để khai báo
với họ.
Về phía khán thính giả
thì ở trong nước, các nghệ sĩ nổi danh đều
có trang nhà trên internet, và có những "fan clubs"
riêng. Báo chí Nhà Nước cũng có những mục dành riêng cho
văn hóa nghệ thuật. Tại hải ngoại, thành phần
hâm mộ nhạc trong nước nhiều nhất vẫn là du
sinh và người Việt
Mới đây, ngày 25/11/2004, báo Người
Lao Động của CSVN đã có một bài nhan đề "Tước
quyền công dân và nghệ sĩ của Bằng Kiều -
Thu Phương !". Tờ báo này cho biết : "Sau
khi rời tổ quốc sang Mỹ bằng con đường du lịch
- biểu diễn - kết hôn, ca sĩ Thu Phương và Bằng Kiều
đã có những phát biểu xuyên tạc, nói xấu chế
độ nhân quyền Việt Nam để những thế lực
phản động, thù địch lợi dụng vu cáo, chống
phá công cuộc xây dựng chế độ XHCN trong nước".
Cũng theo bài báo thì, hồi tháng 2/2004, Cục Nghệ
thuật - Biểu diễn có kiến nghị tạm dừng
các chương trình của Thu Phương và Bằng Kiều. Đến
ngày 22/11/2004 vừa qua, Bộ Văn Hóa - Thông Tin CSVN đã ban
hành công văn số 709/NTBD, gửi các đài phát thanh, truyền
hình trên toàn quốc, các nhà xuất bản, các đơn vị
nghệ thuật, tổ chức biểu diễn và các đơn vị
sản xuất băng dĩa, ca múa nhạc, sân khấu không sử
dụng dưới mọi hình thức các tiết mục
biểu diễn của hai ca sĩ, cũng như không sử dụng
những ca khúc do Bằng Kiều sáng tác. Tờ báo viết
thêm "Trên tinh thần đó, Thu Phương và Bằng Kiều
chính thức bị tước bỏ quyền công dân và nghệ
sĩ Việt
Bằng Kiều, tên thật
là Nguyễn Bằng Kiều, sinh năm 1973, tốt nghiệp Nhạc
Viện Hà Nội và bắt đầu hành nghề ca sĩ từ
năm 1990. Năm 2002, anh kết hôn với ca sĩ Trizzi Phương Trinh,
quốc tịch Mỹ và đã đi định cư tại Nam
California. Bằng Kiều đã tham gia một số hoạt
động ủy lạo đồng bào tỵ nạn tại Phi
Luật Tân và đã có lần phát biểu, mong muốn Cộng
Đồng Người Việt Tỵ Nạn chấp nhận anh
như một thành viên mới của Cộng Đồng. Hà Nội
cho đây là lời "phát biểu sặc mùi phản phúc và
bợ đỡ".
Thu Phương tên thật là Nguyễn
Thu Phương, sinh năm 1972, là ca sĩ ăn khách được người dân
trong nước ái mộ với nhiều bản tình ca mà
cô trình bày rất thành công như "Có phải em mùa thu
Hà Nội", "Dòng sông lơ đãng"...
Cô và chồng là ca sĩ Huy MC đã qua Hoa Kỳ bằng
visa du lịch năm 2003 và hiện đang xin được hưởng quy
chế tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ngày 22/7/2004 vừa
qua, với sự giúp đỡ của ca sĩ Việt Dzũng,
vợ chồng cô đã tổ chức một cuộc họp
báo ở Nam Cali để nói lên sự lựa chọn của
mình và cảnh báo về sự mất an toàn cho bản
thân vợ chồng cô, nếu cô phải trở về Việt
Nam.
Thái độ của Hà Nội rất
là hằn học đối với hai danh ca thuộc hạng "siêu
sao" của họ đã bỏ họ để xin tỵ
nạn chính trị tại Hoa Kỳ. Họ đã không quên
kể công đào tạo và cho hưởng nhiều ưu đãi, phần
thưỏng. Hành động của họ xuất phát từ tư tưởng
u tối của chủ nghĩa cộng sản. Ghét văn nghệ
sĩ, họ ghét luôn cả những tác phẩm văn hóa, nghệ
thuật là những đứa con tinh thần của các văn nghệ
sĩ, kể cả những tác phẩm nghệ thuật
không mang mầu sắc chính trị nào chống đối lại
họ. Họ muốn khai tử văn nghệ sĩ và tác phẩm
văn hóa nghệ thuật của các nạn nhân. Những
gì CSVN đang áp dụng cho Bằng Kiều - Thu Phương không
khỏi làm cho người ta nhớ lại những năm 50 của
thế kỷ trước khi CSVN đàn áp văn nghệ sĩ trong
nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Thời đó, Văn Cao bị cầm tù và
các nhạc phẩm trứ danh của ông, kể cả những
bài làm trong "kháng chiến" cũng bị tuyệt
đối cấm. Những người đàn áp ông đã chết. Cả
ông cũng đã ra người thiên cổ ; nhưng Thiên Thai,
Buồn Tàn Thu, Suối Mơ... vẫn trường tồn với
thời gian. Vì nó là văn hóa.
Một trong những vũ khí
lợi hại của cộng sản là tuyên truyền. Trong
chiến tranh lạnh, thế giới đã đề cập
với ít nhiều thán phục đến bộ máy "propaganda"
của Liên Xô và khối Cộng Sản. Trong hai cuộc chiến
tranh trên đất nước Việt Nam, cộng sản Hà Nội
đã tận dụng tuyên truyền để đánh lừa nhân
dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Sự thật chỉ
được phơi bày sau ngày 30/4/1975. Trong chính sách tuyên truyền của
CSVN, văn nghệ được tận dụng để thôi thúc
lòng yêu nước và lùa cả nước đi vào những cuộc
chiến tranh do Liên Xô ủy nhiệm.
Ngày nay CSVN vẫn tiếp tục
độc quyền nắm giữ thông tin tuyên truyền. Họ
đã đưa ra nhiều nghị quyết, luật lệ để
kiểm soát mọi thể loại văn hóa, nghệ thuật.
Tuy họ đã mất hoàn toàn khả năng chỉ đạo,
điều hướng, bắt buộc các văn nghệ sĩ phải
sáng tác theo yêu cầu của Đảng như trước đây, nhưng họ
vẫn còn khả năng kiểm soát nền văn hóa, nghệ
thuật, trong đó có nghệ thuật sân khấu là nơi quy tụ
đông đảo quần chúng, để không hoặc chưa thể có những
nội dung làm hại cho chế độ. Nói cách khác, công cụ
tuyên truyền "văn hóa văn nghệ" đang từ từ
vuột ra khỏi tay của đảng CSVN. Hiện tượng
này được thể hiện trong bài báo của tờ Người
Lao Động khi đánh giá về các biện pháp đối vói Bằng
Kiều và Thu Phương như sau : "cách hành xử của Bộ
Văn Hóa - Thông Tin có lẽ đúng đắn và phù hợp với thực
trạng rối rắm của đời sống ca nhạc
trong nước thời gian gần đây ; khi việc đổ
xô ra nước ngoài biểu diễn - hát chui, trốn thuế,
phát ngôn bừa bãi... bỗng trở thành hiện tượng
bất thường với những mặt tích cực lẫn
tiêu cực mà dư luận hết sức quan tâm !".
Nhằm trung hòa các nỗ
lực đấu tranh của Cộng Đồng Người Việt
Hải Ngoại, nhất là trên mặt ngoại vận ;
nhằm bình thường hóa sự có mặt của chế
độ tại hải ngoại và biến Cộng Đồng chống
cộng ở ngoài này thành cộng đồng Việt Kiều
của họ, mới đây, đảng CSVN đã đưa ra Nghị
Quyết 36 của Bộ Chính Trị, trong đó, họ nhấn
mạnh đến việc "giao lưu" giữa trong và
ngoài nước. Mũi tiến công đầu tiên của họ là
mũi văn hóa. Theo tin tức báo chí trong nước, Ban Tư Tưởng-Văn
Hóa Trung Ương của đảng CSVN vừa tổ chức một
cuộc hội thảo với sự có mặt của nhiều
quan chức cao cấp của ngành để bàn về "tính
chất văn hóa của đảng CSVN và nhu cầu xây dựng
văn hóa trong các tổ chức đảng". Điều lạ
là cuộc tọa đàm này không hề đề cập đến nền
văn hóa mácxít-lêninít như từ trước đến nay, mà họ lại
khẳng định rằng "nền tảng văn hóa đảng
là nền tảng văn hóa dân tộc" và quảng diễn
ra rằng "điểm đặc thù văn hóa đảng cộng sản
chính là sự cống hiến, hy sinh cho đất nước, cho
dân tộc...".
Biết rõ người dân và
cả đảng viên của họ không còn ai tin tưởng
vào chủ nghĩa cộng sản nữa, đảng CSVN đang
tìm cách thoát xác bằng chiêu bài dân tộc. Phải nhớ
rằng, ý niệm quốc gia, dân tộc là những
ý niệm bị chủ nghĩa cộng sản lên án
vì ngăn cản tiến tới thế giới đại đồng.
Như vậy, nếu CSVN tìm cách sơn phết bộ mặt
bằng lớp sơn văn hóa thì chắc chắn là họ
có mục đích, một mặt biến thái từ độc tài
vô sản sang độc tài độc đảng ; mặt khác dễ
bề chiêu dụ cộng đồng người Việt Hải
Ngoại. Không thể khinh xuất đối với nghị
quyết 36 của họ vì họ có phương tiện và
nhân sự cũng như kỹ thuật để đạt được
mục đích của họ đối với cộng đồng Người
Việt Hải Ngoại, mà phần lớn là nạn nhân của
họ trong nhiều thập niên qua.
Dưới chiêu bài "giao lưu
văn hóa", họ sẽ tìm cách lung lạc tinh thần
đấu tranh chống lại họ ở hải ngoại.
Dù họ không thể dùng lời ca tiếng hát mang nội
dung kích động như xưa ; nhưng lời ca tiếng hát có thể
dẫn những đội hùng binh của họ theo sau để
đánh phá trên nhưng lãnh vực khác nhau của cộng đồng.
Thử tìm hiểu các phản
ứng của đồng bào ta đối với vấn đề
này trên những lãnh vực khác nhau.
Đối với các sản phẩm,
tác phẩm văn hóa nghệ thuật, hiện nay người Việt
Hải Ngoại coi sự có mặt của các sách truyện,
CD, VCD, DVD, dĩa karaokê vv.. là bình thường. Các tiệm
sách và băng nhạc đều có bày nhan nhản những sản
phẩm này, từ nhạc thiếu nhi, cải lương, phim truyện,
đến tân nhạc. Điều đáng ghi nhận là cho đến nay,
không có cơ quan truyền thông thính thị như radio, truyền hình
nào của người Việt ở hải ngoại sử dụng
các băng nhạc hay hình từ trong nước đưa ra. Các sản
phẩm này thường chỉ được sử dụng tại
tư gia.
Đối với các nghệ sĩ
từ trong nước ra, có thể ghi nhận rằng, với
tinh thần nhân bản và đoàn kết sẵn có, người Việt
Hải Ngoại dễ dàng chấp nhận sự có mặt
sinh hoạt văn nghệ của các nghệ sĩ trong nước
ra hải ngoại. Không thấy dư luận chống đối
một ca sĩ, nghệ sĩ nhất định nào. Tuy nhiên một
số ca sĩ được cộng sản phong cho danh hiệu
nghệ sĩ ưu tú hay nghệ sĩ nhân dân, đôi khi gặp sự
chê bai của khán thính giả hải ngoại. Cũng như đối
với các sản phẩm thính thị, chưa có ca sĩ, nghệ
sĩ nào từ trong nước ra ngoài này có tiếng hát trên các
hệ thống truyền thanh, truyền hình của Hải
Ngoại.
Các buổi tổ chức quy
mô dưới hình thức đại nhạc hội lớn,
quy tụ nhiều nghệ sĩ trong nước, hoặc có
đoàn văn công thì thường bị cộng đồng địa
phương, các tổ chức đấu tranh chống đối, từ
mức độ ra tuyên cáo tẩy chay đến biểu tình
phản đối.
Đối với các buổi văn
nghệ bỏ túi, nhạc thính phòng, hoặc các
phòng trà, khiêu vũ, lúc đầu cũng có một số
phản ứng ; nhưng về sau không thấy có sự phản
đối gay gắt. Hiện tượng ca sĩ sinh hoạt tại
các nơi này dần dần trở nên bình thường tại
Ở các cộng đồng, nhất
là từ ngày có nghị quyết 36 của cộng sản Hà
Nội, nhiều tổ chức và cá nhân đã đưa công tác "chống
giao lưu văn hóa" lên hàng đầu. Nhưng việc chống đối
này cũng không được sự đồng tình của tất
cả mọi người. Giới trẻ sinh ra hay lớn lên
tại hải ngoại không hiểu được hành động chống
đối này của thế hệ đi trước. Đại đa số
đồng bào thuộc quần chúng thầm lặng thì thờ
ơ trước vấn đề. Câu hỏi được đặt ra là thái
độ của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại
đối với "giao lưu văn hóa" ra sao ? Chống
hay không chống ? Chống như thế nào ?
Văn hóa là gì, chắc ai cũng
đã hiểu. Nhưng thiết tưởng cũng cần phải
tìm ra định nghĩa của hai chữ "giao
lưu" của chế độ cộng sản Hà Nội .
Cuốn "Từ Điển Tiếng Việt" do Nhà
Xuất Bản Đà Nẵng (Trung Tâm Từ Điển Học) xuất
bản năm 1997 đã định nghĩa "Giao Lưu là có sự
tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai giòng, hai
luồng khác nhau". Căn cứ theo định nghĩa này
thì thấy không ổn vì người Việt
Mặt khác, cũng cần phải
phân biệt rõ ràng văn nghệ sĩ chân chính và những
cán bộ tuyên truyền trá hình. Dù với tinh thần
luôn luôn cảnh giác cao độ, cũng phải nhận xét thấy
rằng đại đa số văn nghệ sĩ trong nước ra hải
ngoại đều là những người dân bình thường,
sống trong chế độ độc tài với những vấn
nạn phải đương đầu giống như những thành phần
quần chúng khác. Thông thường thì mọi người sống
dưới một thể chế độc tài, nhất là độc
tài cộng sản đều có thể phải chấp nhận
bị sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp
như là một công cụ của chế độ. Nhưng điều
đó không có nghĩa họ là cán bộ của chế độ.
Giới văn nghệ sĩ cũng không thoát được tình trạng
này. Tuy nhiên, nếu không khéo léo, hải ngoại có thể biến
họ hoặc đẩy họ đứng vào hàng ngũ của
chế độ.
Vụ Bằng Kiều - Thu
Phương vừa qua cho thấy, mặc dù họ là những người
được chế độ đào tạo và dành nhiều ưu đãi về
mặt nghệ thuật, nhưng khi được sống trong môi trường
tự do, dân chủ, được hít thở không khí tự do, dân
chủ, được đồng bào hải ngoại đối xử một
cách nhân bản, thì họ sẽ có sự lựa chọn
chính đáng cho mình. Từ đó, phải chăng phương cách để
hóa giải tốt nhất âm mưu dùng văn hóa, dùng chiêu bài "giao
lưu" để lủng đoạn cộng đồng hải
ngoại, là khai thác lợi điểm của môi trường tự
do và cách đối xử với những văn nghệ sĩ
trong nước ra bằng tình đồng bào, bằng tấm
lòng nhân bản ? Khi người Việt ở hải
ngoại có được sự cảm thông với các văn nghệ
sĩ ra ngoại quốc trình diễn để kiếm
ăn, trong lúc vẫn phải sống dưới chế độ độc
tài cộng sản, đến với họ trong tình đồng
bào, đồng hương, với tình tự dân tộc, thì
sẽ có thêm những "Bằng Kiều - Thu Phương"
khác dứt khoát chọn lựa tự do, hay ít ra cũng đánh
động được tâm thức của họ không chấp nhận
chế độ cộng sản độc tài hiện nay tại
Việt Nam.
Có thể có người còn
bị những ấn tượng quá khứ với những kẻ
nằm vùng, len lỏi trong hàng ngũ quốc gia mà không đồng
tình với những điều trình bày ở trên, vẫn
lo ngại và cho rằng những văn nghệ sĩ trong nước
ra hải ngoại là những cán bộ cộng sản tuyên
truyền phá hoại cộng đồng. Điều lo ngại này
cũng cần được ghi nhận, nhưng với sự tỉnh
táo và khách quan, để tránh tình trạng "nhìn
đâu cũng thấy kẻ thù". Mặt khác, với môi
trường dân chủ tự do tại các nước văn minh hiện
đại, có thông tin chính xác hàng ngày hàng giờ, người Việt
hải ngoại thừa khả năng phán xét để vạch trần
và loại bỏ tất cả những luận điệu
tuyên truyền của một chế độ vốn đã mất
định hướng và thối nát từ thượng tầng cho đến
cơ sở. Việc giao lưu văn hóa, trao đổi tích cực giữa
quần chúng hải ngoại và quốc nội, sự tiếp
cận của người dân trong nước (bất kể thành
phần nào) với thế giới văn minh, tự do, dân chủ
đều góp phần vào tiến trình xây dựng tâm thức
tích cực cho người dân và có lợi cho công cuộc chung.
Từ nhiều năm qua, CSVN luôn
luôn tìm cách lủng đoạn cộng đồng người Việt
hải ngoại. Giao Lưu Văn Hóa chỉ là một trong nhiều
thế đánh của họ. Đối phó với thế đánh này
không phải là đơn giản đối với Cộng Đồng Hải
Ngoại. Khó nhưng không phải không làm được. Nếu nhu đạo
dùng sức địch thủ để quật ngã địch
thủ thì đấu tranh vận dụng là phải biết
khai thác ngay những ngón đòn của địch để bẻ
gẫy các mũi tấn công của họ. Nếu cộng
sản dùng văn hóa như đội quân tiên phong trong ngón đòn "giao
lưu văn hóa" thì ta phải khai thác, vận dụng
ngay để hóa giải mũi tấn công đó, biến quân của
địch thành quân của ta bằng chính sách nhân bản và
tình tự dân tộc. Đừng vụng về đẩy những
người vốn cũng chẳng ưa gì chế độ trở
thành những cán bộ nhiệt tình của chế độ.
Trần Đức Tường
HOÀNG CƠ ĐỊNH
Nghị Quyết 36 : Bước Lùi Quan Trọng Của CSVN
Trong Năm 2004
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Kể từ khi Nhà Cầm Quyền CSVN ban hành Nghị Quyết 36, đã có nhiều bình luận gia hoặc quý vị lãnh đạo tổ chức, cộng đồng tại hải ngoại lên tiếng về Nghị Quyết này. Nói chung, mối bận tâm của đại đa số thường đặt nặng vào những suy nghĩ như "làm sao ngăn chặn sự bành trướng của CSVN tại hải ngoại qua Nghị Quyết 36 hoặc làm sao vô hiệu hóa Nghị Quyết này". Xu hướng khác thì tìm cách phản luận toàn bộ Nghị Quyết và lên án các luận điệu tuyên truyền lừa bịp của địch hàm chứa trong đó. Ngoài hai thái độ trên, thiết nghĩ chúng ta cũng cần có một góc nhìn chủ động hơn, trong tinh thần khai dụng bản văn này của đối phương.
Khách quan mà xét, khi đưa ra
một Nghị Quyết, đối phương không chỉ nhằm
tuyên truyền hay Ềxâm nhậpỂ cộng đồng người
Việt hải ngoại ( hiểu theo nghĩa cộng đồng
người Việt Tỵ Nạn ), mà còn có mục tiêu hướng
dẫn cán bộ và quần chúng của họ. Vì vậy
người Việt Tỵ Nạn không thể chỉ tìm
cách "chống cự" hay "lên án" mà cần
phân tích nội dung của Nghị Quyết này và thử
tìm hiểu xem :
1/ Tình trạng và
sự suy nghĩ của chính quyền CSVN ra sao ?
2/ Đánh giá các biện
pháp đối phương dự trù.
3/ Tìm cách hóa giải
các mục tiêu tranh thủ của đối phương và khai thác Nghị
Quyết này làm sao có lợi cho phía ta.
1/ Tình trạng và
sự suy nghĩ của chính quyền CSVN :
Thoạt tiên, ngay trong
phần mở đầu, CSVN đã nhận định về
chính sách của họ trong mấy thập niên qua về "Người
Việt ở nước ngoài" bằng một bản tự
kiểm "Ba Đã" "Tám Chưa" nguyên
văn như sau :
- Đã đề ra nhiều
chủ trương
- Đã được đổi mới
- Đã có chuyển biến tích cực
- Chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy
đủ
- Chưa theo kịp những chuyển biến mới
- Chưa được quan tâm đúng mức
- Chưa đồng bộ
- Chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết
dân tộc
- Chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở
nước ngoài
- Chưa có hình thức thỏa đáng
- Chưa thực sự đổi mới.
Và Đảng CSVN giải
thích rằng : Nguyên nhân của những yếu kém là
vì các cấp dưới chưa nhận thức đầy đủ
và sâu sắc các quan niệm chỉ đạo của Đảng !
Thưa quý bạn đọc : Chỉ đạo hàng mấy
chục năm mà cấp dưới vẫn chưa nhận thức được
thì không phải lỗi tại cấp dưới mà chỉ
vì sự chỉ đạo quá tồi dở và Đảng
CSVN đã tự thú nhận là không có khả năng và xứng
đáng trong vai trò lãnh đạo.
Nay, chúng ta thử
tìm hiểu Nghị Quyết 36 như một cố gắng
mới của guồng máy chính quyền CSVN xem sao. Xét toàn bộ
nghị quyết này, ta thấy một phần là những
luận điệu tuyên truyền quen thuộc của CSVN, phần
còn lại là một số chủ trương hợp lý
bình thường mà bất cứ một chính quyền nào
cũng phải tìm cách thực hiện. Nếu chú tâm
vào chuyện tố cáo CSVN tuyên truyền lừa bịp chúng
ta sẽ không mang lại điều gì mới lạ, mà nếu
lên án chung toàn bộ Nghị Quyết thì sẽ dễ
thành công kích cả những điều hợp lý. Trong khi
đó, nội dung của Nghị Quyết không phải chỉ
chứa đựng những luận điệu tuyên truyền, những
khía cạnh khác trong Nghị Quyết 36 cho chúng ta thấy :
- CSVN đang đối diện
với một tập thể người Việt Hải Ngoại
gồm 2 thành phần : Khối người Việt Tỵ
Nạn chính trị giầu có và thành công trong các xã hội
Âu - Mỹ - Úc và khối kiều ào mang thông hành CSVN đang sống
chật vật tại Á châu, Liên Bang Nga và Đông Âu.
Đối với nhóm Kiều Bào, CSVN đang phải tìm cách
giải quyết cho họ những : khó khăn trong việc
ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế
rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị
kỳ thị.
Trong khi với nhóm người
Việt Tỵ Nạn thì :
Một bộ phận
đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để
tận mắt thấy được những thành tựu của
công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm,
nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước.
Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung
của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá
hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở
tại với Việt
Điều này nói lên mức
độ nhậy cảm của CSVN đối với ảnh hưởng
chính trị của các cộng đồng tỵ nạn lên
chính sách đối ngoại của quốc gia tiếp cư trong
bang giao với VN. Ngoài ra, Nghị Quyết 36 cũng nhấn
mạnh vào một yếu tố mà CSVN chưa có và rất cần
hiện nay là :
- Sự đóng góp của
bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về
tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
- những chuyên gia, trí
thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình
độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản
lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật
cao cho đất nước,
- chuyên gia, trí thức
người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở
trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp
tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước
ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ
tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ
giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.
- Tranh thủ cộng
đồng người Việt
- Phát huy khả năng của
người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ,
thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt
Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp,
các tổ chức và cá nhân nước ngoài.
Về mặt kinh tế,
CSVN đã thấy việc phát triển bền vững
không thể nào chỉ trông cậy vào vốn ngoại quốc
đầu tư vào VN (mà đối tác lại là thành phần cán bộ
tham nhũng chỉ lăm le ăn cắp và tẩu tán tài sản ra
ngoại quốc). Trong giai đoạn trước mặt sự
phát triển của VN đòi hỏi một đội ngũ
chuyên gia có tấm lòng vì dân tộc, có khả năng "chuyển
giao công nghệ", "vận động, tư vấn về
pháp lý trong quan hệ với các xã hội Tây
phương" và "thiết lập và mở rộng kênh
tiêu thụ hàng hóa VN trên thế giới"... Những
chuyên gia này chỉ có thể kiếm được trong khối
người Việt Tỵ Nạn tại hải ngoại.
Khối người Việt
Tỵ Nạn này là một thực thể không nằm trong
khả năng thống trị của Đảng CSVN, nhưng qua ngả
du lịch và Internet lại chứng tỏ có khả năng ảnh
hưởng lên sự suy nghĩ và phần nào cả đời sống
của đồng bào trong nước. Trong khi đó, đối với quốc
gia tiếp cư , người Việt Tỵ Nạn cũng tạo
được một ảnh hưởng chính trị mà CSVN đã phải
thừa nhận. Ảnh hưởng chính trị này chắc chắn
sẽ có tác dụng lên sự bang giao giữa thế giới
với chế độ CSVN. Cho nên, tuy không chấp nhận đối
lập ở trong nước, nhưng vì buộc phải giao
thương với thế giới bên ngoài, khối người Việt
Tỵ Nạn đã trở thành một thực thể đối
lập chính trị buộc CSVN phải "nhìn nhận".
Thực thể chính trị đối lập tại hải
ngoại này, với khả năng giao lưu và truyền thông của
thế kỷ 21, đã có tác dụng gần như một thực
thể đối lập tại nội địa.
Người Việt Nam ở
nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một
nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ
hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước.
Và CSVN hứa hẹn :
Chủ động mở
rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài, kể cả với những người
còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước
và chế độ ta.
Trước những nhận
định và nhu cầu đã được nêu bên trên, CSVN đã dự
phóng một số biện pháp liệt kê trong phần III của
Nghị Quyết.
Về các biện pháp
này, chúng ta cần phân biệt loại hướng về khối
Kiều Bào mang thông hành CSVN và loại hướng về khối
người Việt Tỵ Nạn.
2/ Đánh giá các biện
pháp dự trù của CSVN.
Trong số 9 mục của
phần III , những mục hướng về khối người
Việt Tỵ Nạn mang tính chất biện pháp rõ rệt
là III-5, III-6. Còn lại là hướng về khối Kiều
Bào, hoặc chỉ là những điều ước muốn hoặc
những lập luận tuyên truyền (thí dụ như mục
III-7).
Trong số những biện
pháp của CSVN, ngoại trừ chuyện đầu tư vào việc
dậy tiếng Việt cho trẻ em tại hải ngoại,
tựu trung không có gì mới lạ. Trong lãnh vực
này, một số vị bầy tỏ ưu tư đối với
các tài liệu giáo khoa từ trong nước gửi ra. Tuy nhiên,
nếu đối phương chủ tâm gài vào những luận điệu
tuyên truyền, thì trong các xã hội tự do tại
hải ngoại, các luận điệu đó sẽ chỉ có tác dụng
ngược ! Còn nếu đó là sản phẩm của
các nhà giáo dục chân chính từ quốc nội , cộng đồng
hải ngoại chúng ta sẽ ngại gì mà không dám dùng,
mà còn coi như đó như là hành động cụ thể để
khuyến khích các sinh hoạt văn hóa vì dân tộc đang có ở
trong nước.
Nhìn vào những
điều CSVN mong muốn ở khối người Việt Tỵ
Nạn và phải giải quyết ở khối Kiều
Bào, ta không dự liệu được hiệu quả đáng kể
từ những biện pháp này. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải
nhìn lại một số biện pháp chống đối
cố hữu của "phe ta" như "biểu
tình chống giao lưu văn hoá", các biện pháp này
đã không thật sự tác dụng lên những người
Việt trẻ tuổi thành công ở hải ngoại mà đối
phương đang muốn tranh thủ. Những người trẻ này
có thể không quan tâm tới các buổi trình diễn
văn nghệ đó, hoặc ngược lại nếu hiện diện,
thì họ là những người vào coi văn nghệ chứ
không thuộc nhóm đứng biểu tình ở bên ngoài. Xét
cho cùng, chúng ta cũng chẳng cần phải lo ngại là
họ sẽ bị lôi cuốn bởi tuyên truyền CS khi
vào coi các buổi trình diễn của nghệ sĩ
trong nước vì đã có cả mấy trăm ngàn người
Việt hải ngoại về thăm VN, đã coi biết bao
nhiêu buổi trình diễn văn nghệ ở trong nước,
mà sau đó có ai khâm phục và trở nên ưa thích CSVN đâu ?
Còn đối với
chính giới hay báo giới ngoại quốc, việc biểu
tình chống lại một số văn nghệ sĩ từ
trong nước ra hải ngoại trình diễn sẽ khó
có thể nói lên quan điểm "tranh đấu cho tự
do" và chắc chắn không phải là một phương thức
tốt để tạo cảm tình và thuyết phục
chính giới ngoại quốc về tình trạng vi phạm
nhân quyền của CSVN tại quê nhà.
3/ Làm sao hóa giải các
mục tiêu tranh thủ của đối phương và khai thác ngược
lại NQ 36 để có lợi cho phía ta.
Điều đầu tiên cần
lưu ý là NQ36 không phải chỉ dành cho cộng đồng
người Việt Tỵ Nạn mà gồm chung cả cộng
đồng Kiều Bào mang thông hành CSVN , đồng thời phải
nhìn mục tiêu tranh thủ của CSVN rộng rãi
hơn là "tăng cường xâm nhập hải ngoại".
Từ đó những biện pháp cần tiến hành sẽ nhằm
các điểm sau (tất nhiên không phải chỉ giới hạn
trong những điểm này) :
Đối với khối
Kiều Bào mang thông hành CSVN, chúng ta sẽ trình bầy
rõ sự bất công của NQ36. Nghị Quyết này chỉ
nhằm ve vuốt và "phục vụ" khối
người Việt Tỵ Nạn thành công về kinh tế và
có địa vị trong các xã hội Âu Mỹ mà bỏ rơi
khối Kiều Bào đang gặp khó khăn và bị đối xử
kỳ thị. Không những thế Kiều Bào còn phải
đóng thuế cho Nhà Nước mà không được hưởng một dịch
vụ nào. Sự vô hiệu của các biện pháp của
NQ36 đối với hoàn cảnh khó khăn của Kiều Bào sẽ
là điều cần nêu lên để thấy rõ sự vô tích
sự của Nhà Nước CSVN.
Mặt khác, cộng đồng
người Việt Tỵ Nạn cần mở rộng
vòng tay để tăng cường liên hệ và tìm mọi
cách giúp đỡ khối Kiều Bào đang bị Nhà Nước CSVN
khai thác và bỏ rơi. Bằng tinh thần tự nguyện,
tình nghĩa đồng bào, khả năng vật chất,
liên hệ quốc tế... Khối người Việt Tỵ
Nạn có thể giúp đỡ khối Kiều Bào một cách cụ
thể, thiết thực và cho thấy những hứa hẹn
trong NQ36 của Nhà Nước CSVN chỉ là những lời hứa
xuông của một chính quyền bất lực và bị động.
Đối với cộng đồng người Việt Tỵ Nạn,
qua NQ36, có 4 lãnh vực chúng ta có thể tác động :
Thứ Nhất : Với
những điều CSVN muốn : Đó là thành phần chuyên gia
có khả năng chuyển giao công nghệ, tư vấn về kinh
tế, tài chánh và tiếp thị , chúng ta sẽ không dùng đối
sách tiêu cực là Ềngăn chặnỂ sự hợp tác của
họ với CSVN... Chúng ta cần hợp tác với những
chuyên gia này. CSVN với tới họ thì còn xa,
trong khi đối với chúng ta, họ là những người bạn
cùng hãng xưởng, là con em trong nhà, hãy làm sao để
chính họ sẽ là người nêu lên những nhu cầu về
nhân quyền và dân chủ trong mọi đối tác với CSVN.
Ngoài ra, sự góp phần của chuyên gia hải ngoại cũng
là cơ hội để giúp giới chuyên gia trong nước có thêm điều
kiện giao tiếp với thế giới bên ngoài và nâng cao
vốn khoa học kỹ thuật của toàn dân tộc.
CSVN chỉ là giai đoạn, Dân Tộc Việt
Thứ Nhì : Với
những điều CSVN e ngại : Đó là khả năng ảnh
hưởng về kinh tế, chính trị và xã hội của
người Việt Tỵ Nạn tại quốc gia tiếp
cư. Từ "Nghị Quyết Cờ Vàng" tới
Nghị Quyết giới hạn sự xuất hiện của
quan chức CSVN tại một số địa phương, đã
chứng tỏ rằng người Việt Tỵ Nạn có thể
vận động cho những đạo luật tại quốc
gia sở tại, có tác dụng về chính trị và kinh tế
đối với chế độ CSVN. Sáng kiến của chúng ta
sẽ không ngừng lại ở hai Nghị Quyết này mà
thôi....
Thứ Ba : Với
những điều CSVN chủ trương : Chúng ta có thể dùng
ngay một số điều CSVN hứa hẹn, tỷ dụ
như "Chủ động mở rộng tiếp xúc với
cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể
cả với những người còn có định kiến,
mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta."
để làm mục tiêu tranh đấu với đối phương trên dư
luận quốc tế và khuyến khích sinh hoạt đối
lập ở trong nước. Từ thái độ coi người Việt
Tỵ Nạn như "
Hai mươi năm trước đây,
có thể khẩu hiệu "Glasnost" đã được
nhiều người từ cả hai phía cho rằng đó chỉ
là lời kêu gọi lừa mị, nhưng bằng những vận
động tích cực, glasnost đã trở thành hiện thực.
Chúng ta sẽ không ngây thơ để bị lừa dối bởi
một thủ đoạn tuyên truyền, nhưng chúng ta phải đủ
bản lãnh để đẩy một hành động giả vờ
nhượng bộ thành một nhượng bộ thật sự.
Thứ Tư : Với
những điều CSVN đe dọa : Thay vì "tố
cáo" hay "lên án", chúng ta hãy coi đó như những
nhắc nhở rất cụ thể về "mối
nguy cơ CSVN" để cộng đồng chúng ta thêm đoàn kết
hơn và năng động hơn.
***
Tóm lại, Nghị Quyết
36 không mang tính chất một đòn tấn công như CSVN mong
đợi và một số đồng bào lầm tưởng. Nghị
Quyết này đã để lộ ra một số ý đồ
và khá nhiều nhược điểm của chế độ. Từ
những gì chúng ta thấy qua NQ36, chúng ta sẽ hoạt
động trong một tư duy mới : Mục đích chính của
chúng ta sẽ không phải là làm sao ngăn cản không cho CSVN
bành trướng tại hải ngoại, mục đích chính của
chúng ta là chấm dứt chế độ độc tài đó tại
Việt
Hoàng Cơ Định
Giáo Hội Tin
Lành Mennonite Liên Tục Bị Đàn Áp
(LÊN MẠNG
THỨ BA 21 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Theo bản tin của Tổ
Chức Thông Tin Tin Lành Quốc Tế Compass phổ biến
trên Internet ngày 2/11, thì nhà cầm quyền Việt Nam sẽ
đưa Mục Sư Nguyễn Hồng Quang ra tòa vào ngày 12/11 tới
đây để xử về tội "xúi giục người
khác chống người thi hành công vụ".
Trái với các vụ xử án
không có tính cách chính trị, và đồng thời cũng trái với
luật lệ hình sự của chế độ, Việt
Nam đã không cho bà vợ của Mục Sư Quang một bản
cáo trạng để biết chồng bà bị truy tố về
tội gì, ngày ông bị đưa ra tòa và cũng không có
trát tòa tống đạt thông báo để thân nhân bị cáo
kịp thời thuê mướn luật sư và chuẩn bị bào
chữa bảo vệ quyền lợi bị cáo.
Vẫn theo Tin Compass, thì
nhà cầm quyền Việt Nam nhìn nhận với Hội
Thánh Tin Lành Mennonite ở Sài Gòn, lý do chính khiến
Mục Sư Quang bị bắt là vì ông đã phổ biến
quá nhiều tin tức, tài liệu "chống phá nhà nước
Việt Nam" khi tố cáo các vụ đàn áp tôn giáo trên Internet.
Nhưng vì áp lực quốc tế, đặc biệt từ
phía Hoa Kỳ, nên Việt Nam không dám xử tội ông theo kiểu
vu cáo "gián điệp" hoặc "lợi dụng
các quyền tự do dân chủ, gây nguy hại cho nhà nước..."
mà chỉ ở mức độ "chống người thi
hành công vụ..."
Bản tin Compass còn cho biết,
nhà cầm quyền Việt
Được biết đến 95%
trong tổng số 2 triệu tín đồ Tin Lành ở Việt
Nam không chịu gia nhập các tổ chức Tin Lành quốc
doanh.
Ngày 12-11-2004, phiên tòa xử
án mục sư Nguyễn Hồng Quang và 5 người cộng sự
đã được khai diễn vào hồi 8 giờ sáng và theo
hình thức gọi là "xử kín". Chỉ
có một số ít thân nhân được phép vào dự phiên
tòa : bà MS Quang, cha của Thầy Phạm Ngọc
Thạch, cha của cô Lê Thị Hồng Liên, mẹ và vợ
của Thầy Nguyễn Văn Phương, mẹ và em gái của Thầy
Nguyễn Thanh Nhà, Nguyễn Hiếu Nghĩa. Phía những
người bị xử có Luật sư Trần Vũ Hải biện
hộ cho MS Quang và Luật sư Bùi Đức Trường biện hộ
cho 5 người còn lại. Cả hai vị luật sư này
chỉ có vài ngày tham khảo hồ sơ và tiếp xúc với
các thân chủ trước ngày xử.
Trước giờ xử án, có
khoảng hơn 200 người đã đến dự phiên tòa
để ủng hộ tinh thần, trong số này có hơn 100 Mục
sư, Truyền đạo, tín hữu Mennonite thuộc các sắc tộc.
Có hai xe ngoại giao đoàn, trong đó có đại diện Tòa
Lãnh Sự Hoa Kỳ đến xin tham dự nhưng bị từ
chối.
Cũng như những phiên xử
các nhà đối kháng khác, công an được huy động để bảo
vệ phiên tòa và kiểm tra an ninh chặt chẽ, cũng
như đe dọa những người ủng hộ.
Phiên tòa kết thúc vào hồi
2 giờ trưa với kết quả như sau :
1/ MS Nguyễn Hồng Quang, 3
năm tù.
2/ Truyền đạo Phạm Ngọc
Thạch, 2 năm tù.
3/ Truyền đạo Nguyễn
Văn Phương, 12 tháng tù
4/ Cô Lê Thị Hồng Liên, 12
tháng tù
5/ Truyền đạo Nguyễn
Thanh Nhà, 9 tháng tù
6/ Chấp sự Nguyễn Hiếu
Nghĩa, 9 tháng tù.
Có khoảng trên 50 tín hữu
Mennonite sắc tộc ở Tây Nguyên, vì mến mộ
Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, người lãnh đạo
tinh thần của họ, đã về Sài Gòn để
dự phiên tòa xử án mục sư, mặc dù chỉ được
đứng bên ngoài phòng xử, trong khuôn viên tòa án. Tuy
nhiên, những tín đồ này khi trở về địa phương lo
sợ là sẽ bị chính quyền đàn áp như họ đã từng
đối xử với gia đình Mục Sư Nguyễn Công
Chính và rất nhiều tín hữu khác.
Riêng cô Lê Thị Hồng Liên, năm
nay 21 tuổi, vì niềm tin của mình đã phải
chịu cảnh tù ngục, để lại nhà cha mẹ già và
người em tật nguyền. Sau lần thăm viếng cuối
cùng đầy khó khăn vất vả, gia đình cô Liên đã
thật sự đau xót khi thấy con gái mình bị hành hạ
tới mức trở thành mất trí.
Ngoài ra, nguồn tin riêng của
Đài Á Châu Tự Do cho biết hơn 30 công an, nhân viên an ninh, dân
phòng và đại diện Ủy ban Nhân dân Quận 2
đã tiến hành việc khám nhà Mục sư Nguyễn Hồng
Quang vào khuya hôm thứ hai rạng sáng hôm thứ ba, tức từ
11giờ30 ngày 15-11 cho đến 0giờ30 sáng thứ ba 16-11,
vì chỗ ở của Mục sư Nguyễn Hồng
Quang cũng là nơi đặt trụ sở của Hội thánh
Tin Lành Mennonite Việt Nam.
Ngày 13/11/2004, các Linh Mục
Chân Tín, Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi đã cho
phổ biến rộng rãi một lá thư nội dung nhận
định về hiện trạng tôn giáo tại Việt Nam, đặc
biệt là lên án nhà cầm quyền CSVN đã đàn áp tôn giáo
qua vụ án của MS Quang. Lá thư có đoạn viết "Chúng
tôi xác nhận mục sư Quang cùng các truyền đạo viên
đã chỉ hành xử quyền công dân và quyền tự
do tôn giáo chứ không vi phạm bất cứ điều luật
chính đáng nào. Chúng tôi quyết liệt đòi hỏi nhà cầm
quyền CSVN phải lập tức trả tự do vô điều
kiện cho mục sư Nguyễn Hồng Quang và các cộng sự
viên của ngài". Cuối thư, ba vị Linh Mục đã
kêu gọi "toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài
nước và mọi người thiện chí khắp thế giới
hãy cùng hợp lực với mọi lãnh đạo
tinh thần đang tranh đấu tại Việt Nam để đập
tan gông cùm Pháp lệnh tôn giáo của CS, vì Pháp lệnh
này không những là hiểm họa cho các tôn giáo mà còn
cho cả dân tộc. Đất nước đang ngày càng đi xuống
hố sâu của sự hủy hoại tinh thần, luân
lý, văn hóa, phong tục và nhân cách, mà thủ phạm chính
là chế độ CS vô thần, toàn trị, chuyên chế. Trong
hiện tình này, tôn giáo cần phải được tự do
để góp phần giải cứu dân tộc".
Tại Hoa Kỳ, Hội Đồng
Liên Tôn Việt
Trong một Kháng Thư phổ biến
toàn cầu ngày 16/11, Ủy ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực
Nhà Văn bị cầm tù đã lên án và phản đối nhà nước
Việt
Văn Bút Quốc Tế yêu cầu
các Trung tâm hội viên gởi thư phản đối án tù áp đặt
bất công đối với mục sư Quang và đòi Nhà nước
Việt Nam phóng thích ông tức khắc và vô điều kiện,
theo đúng Điều 19 của Công Ước Quốc Tế về
các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký
kết.
Để góp phần đấu tranh
thiết thực cho các tín đồ Tin Lành đang bị áp bức,
Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng đã phiên dịch
ra tiếng Anh bản tóm tắt kết quả vụ xử
và 2 bức thư của Linh mục Chân Tín và 22 Mục sư Tin
Lành về cách đối xử của chế độ đối với
Mục sư Nguyễn Hồng Quang và các cộng sự viên của
ông, để dễ dàng phổ biến đến công luận thế
giới, và kêu gọi đồng bào khắp nơi gởi đồng
loạt bản văn này đến các tổ chức bảo vệ
nhân quyền và tôn giáo, các văn phòng dân cử địa
phương và đại sứ các nước đã bỏ tiền trợ
giúp chính quyền Việt Nam cải tổ hệ thống
luật pháp trong nhiều năm qua như Canada, Nhật Bản, Thụy
Điển, v.v...
Tin Lành Khắp Nơi Kêu Gọi Cứu Giúp Mục Sư Nguyễn Khồng Quang
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Tín Hữu Tin Lành Việt
9353 Bolsa Ave., H54 .
Bức Tâm Thư
Kính Gửi :
Quý Con Dân Chúa Thuộc các
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Tại Hải Ngoại
Thưa quý anh chị em,
Trước hết, chúng tôi kính lời
chào thăm quý anh chị em trong tình yêu đời đời
của Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta. Chúng tôi cũng dâng lời
cảm tạ Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta về sự
bình an và những phước hạnh mà Ngài không ngừng
tuôn đổ trên đời sống của con dân Ngài. Nguyện
Thánh Linh của Chúa cảm động lòng mỗi người
khi đọc bức tâm thư này.
Thưa quý anh chị em,
Lời Kinh Thánh trong sách
Ê-xơ-tê, thuật lại rằng : Gần hai ngàn năm trăm
năm trước, Satan đã có lần mưu toan mượn tay bạo
quyền Ha-man để diệt chủng con dân Chúa thuộc dân
tộc
Ngày hôm nay, Satan lại mưu toan
mượn tay bạo quyền Việt cộng để tiêu diệt
con dân Chúa thuộc Hội Thánh Việt
Đức Chúa Trời đã đặt
để không phải chỉ có Một mà là hàng ngàn, hàng chục
ngàn Ê-xơ-tê Việt
Chúng tôi không đại diện
cho một tổ chức giáo hội của giáo phái nào ;
mà là một tập thể Tin Lành ở rải rác khắp
nơi, đang cảm nhận và xúc động trước sự đau đớn
của anh chị em cùng đức tin với chúng ta trong nước
dưới sự bách hại của bạo quyền cộng sản.
Chúng tôi tha thiết kêu gọi các anh chị em quan tâm đến
sự sống còn của những Hội Thánh Chúa tại
Việt
Thưa quý anh chị em,
Trong khả năng và phương tiện
mà chúng ta đang có, xin hãy lên tiếng với chính quyền
sở tại, Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân
quyền... để kêu gọi can thiệp cho anh em chúng ta.
Ngoài ra hãy đến tham dự buổi hội thảo về
những vấn đề liên quan đến sự bách hại của
đảng CSVN trên con cái Chúa và đồng bào chúng ta tại quê nhà,
được tổ chức lúc 1 giờ ngày Thứ Bảy,
27/11/2004 sắp tới tại Bat Dat Seafood Restaurant (góc đường
Hazard và Brokhurst) 14541 Brookhurst St. # A-3, Westminster, CA 92683.
Nguyện Ba Ngôi Đức Chúa Trời
đặt để gánh nặng dốc lòng cầu thay và bênh
vực cho anh chị em mình trong linh hồn của mỗi
chúng ta.
Hải ngoại ngày 16 tháng 11
năm 2004
Thân kính trong Đấng Christ,
- Chung Tử Lân, Hội Thánh Cộng
Đồng Thiên Thành, Westminster, CA.
- Lê Anh Huy, Trưởng Ban Điều Hành www.prayers4vn.net
- Huỳnh Christian Timothy, Quản nhiệm Hội Thánh Tucson,
Arizona, USA ; www.tinlanhvietnam.net
- Huỳnh Quốc Bình, Minister, Rose City Church of the
Nazarene- Portland, Oregon, USA ; www.danviet.net
- Nguyễn Huệ Nhật, Quản nhiệm Hội Thánh
Đông Berlin, Germany
- Nguyễn Thanh Vũ, Trưởng Ban Điều Hành ;
www.mucsu.net
HT Thích Quảng Độ Bị Ngăn Cản Không
Cho Đi Viếng Thăm HT Thích Huyền Quang
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Ngày 18/11, Đức Tăng Thống
Thích Huyền Quang, người cầm đầu Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã bị xuất huyết
dạ dày và sức khỏe bị suy yếu trầm trọng.
Ngay sau khi được tin Đức
Tăng Thống lâm trọng bệnh, tăng ni phật tử khắp
trong và ngoài nước đã tổ chức lễ cầu an.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
viếng thăm HT Huyền Quang và HT Thích Quảng Độ.
Vào lúc 15 giờ chiều chủ
nhật 21.11, ông tân Đại sứ Hoa Kỳ, Michael W. Marine,
cùng với phu nhân đã đến thăm tại bệnh viện
Đa khoa ở Quy Nhơn. Do sức khỏe của Ngài còn quá
yếu, nên ông Đại sứ chỉ ngồi thăm và hàn huyên
trong vòng mười lăm phút.
Cùng lúc đó, tại Thanh Minh Thiền
viện ở Sài Gòn vào lúc 2 giờ rưởi chiều chủ
nhật 21.11, phái đoàn Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ đến vấn
an Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng
Viện Hóa Đạo. Phái đoàn do bà Elizabeth Dugan, Trợ lý
Ngoại trưởng Hoa kỳ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền
và Lao động, cầm đầu cùng với ông Seth D. Winnick, Tổng
lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon và ba viên chức cao cấp
khác.
Cuộc tiếp xúc diễn ra
gần hai tiếng. Hòa thượng trình bày hiện
trạng khó khăn, nguy cấp mà Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất đang phải đương đầu, và kêu gọi
chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ khẩn cấp gây sức ép
nhằm chận đứng những vi phạm nhân quyền trầm
trọng cũng như hậu thuẫn các nỗ lực vận
động cho tự do tôn giáo và cải cách dân chủ tại
Việt Nam. Phái đoàn Hoa Kỳ thông báo cho Hòa thượng biết
rằng vừa qua Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã quyết
định liệt Việt Nam vào danh sách những quốc gia "cần
đặc biệt quan tâm" vì lý do đàn áp tôn giáo,
mà sắc luật Tự do Tôn giáo trên thế giới được
Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua năm 1998 có những biện
pháp chế tài thích nghi áp dụng cho những quốc gia bị
liệt kê vào danh sách này.
Trong dịp này, Hòa thượng
Thích Quảng Độ cũng trình bày cho phái đoàn Hoa Kỳ
biết là Hòa thượng sẽ ra Bình Định thăm Đức
Tăng thống vào 6 giờ sáng thứ hai, 22.11.
Sau khi Phái đoàn Bộ Ngoại
giao Hoa Kỳ vừa ra về, thì Hòa thượng
Thích Quảng Độ nhận được Giấy mời của
Ủy ban Nhân dân Quận Phú Nhuận yêu cầu Hòa thượng
trình diện vào 8 giờ sáng ngày thứ hai để làm việc,
nhưng không ghi rõ làm việc gì. Hòa thượng
không ký vào giấy mời và ra lệnh cho chư Tăng Ni ở
Thanh Minh Thiền viện không ai được thay mặt Hòa
thượng ký vào giấy triệu tập, vì
Hòa thượng đã quyết định lên đường ra
Bình Định.
Công an chặn xe và áp tải
HT Quảng Độ về Sài Gòn.
Sáng thứ hai, 22.11, một
chiếc xe gồm 10 chư Tăng do Thượng tọa Thích Viên Định
hướng dẫn lên đường sang Thanh Minh Thiền viện
đón Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng đi. Nhưng xe vừa
rời khỏi chùa Giác Hoa vào lúc 5 giờ 30 sáng (giờ Việt
Nam), chạy được chừng vài trăm thước thì bị
công an chận lại ở Ngã Ba Trường Vẽ, ngay
trước Công ty Điện lực Gia Định ở góc đường
Phan Đăng Lưu và Đinh Tiên Hoàng không cho đi. Chư Tăng ở chùa Giác Hoa
nghe tin liền kéo nhau ra chỗ chận xe để bảo vệ
phái đoàn, 50 Tăng sĩ làm thành một vòng vây bao quanh xe,
không cho công an lôi kéo xe đi.
Sau một thời gian giằng
co, xe của chư tăng đã rời khỏi Sài Gòn, nhưng
đi đến Trảng Bom thì bị chặn lại và Chiếc
xe chở phái đoàn Viện Hóa Đạo đã bị hai chiếc
xe Jeep và 102 chiếc moto của công an áp giải quay về
Sài Gòn vào lúc 15 giờ 30 giờ Việt Nam.
Hòa Thượng Thích Quảng
Độ bị gọi lên trụ sở công an làm việc.
Sau khi áp giải Hòa Thượng
Thích Quảng Độ và phái đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất trở về Sài Gòn ngày 22/11/2004, Ủy
Ban Nhân Dân quận Phú Nhuận đã gửi giấy
đòi ngài đến trụ sở vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ
tư 24 tháng 11, để bàn về điều mà họ nói là "sở
hữu trái phép bí mật nhà nước".
Đến nơi, công an bắt
Hòa thượng Thích Quảng Độ phải ngồi chờ
nửa giờ đồng hồ. Sau đó cuộc "làm việc"
xoay quanh những chuyện lông bông đâu chẳng vào đâu,
Hòa thượng liền ngắt quãng và nói : "Các
ông mời tôi ra đây nói chuyện "tài liệu bí mật Nhà
nước", thì xin đi ngay vào đề. Và tôi cũng chỉ
nói chuyện với các ông về đề tài này với điều
kiện các ông phải bỏ ngay chữ "chiếm đoạt".
Chúng tôi không hề "chiếm đoạt" gì của
nhà nước cả. Trái lại, nhà nước này không ngừng
chiếm đoạt của chúng tôi".
Phía công an nại cớ họ
đã tịch thu tài liệu trong túi xách của Hòa thượng
hồi chận bắt ở Lương sơn năm ngoái ngày 9.10.2003.
Hòa thượng yêu cầu cho xem. Công an đưa ra một xấp
tài liệu bìa màu hồng. Hòa thượng liền
bác bỏ và nói : Năm ngoái sau Đại hội Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Tu viện Nguyên Thiều,
ngày 1.10.2003, có nhiều văn kiện Đại hội, từ đạo
từ, diễn từ, danh sách chư tăng cung thỉnh vào Hội
Đồng Lưỡng Viện, v.v... khi ra về tôi mang theo tất
cả những gì ở Tu viện Nguyên Thiều. Xấp
tài liệu mà các ông tịch thu năm ngoái ở Lương Sơn bìa
màu vàng chứ không phải màu hồng. Vậy tôi không công nhận
nói chuyện trên những chứng liệu không thật.
Lúc ấy đã đến gần
12 giờ trưa, câu chuyện còn đang dùng dằng, thì
Hòa thượng đứng dậy đòi ra về. Hòa
thượng cho công an biết hôm qua vừa đi khám bệnh tim,
bác sĩ làm siêu âm và dặn phải tĩnh dưỡng không được
làm việc thái quá, bây giờ đã đến giờ uống
thuốc nên phải về chùa. Công an yêu cầu Hòa thượng
trở lại làm việc vào chiều hôm ấy và ngày hôm
sau. Nhưng Hòa thượng từ khước nói rằng : "Về
việc đề cập sáng hôm nay, tôi không có gì phải
nói thêm. Tôi sẽ không trở lại đây nữa. Nếu các
ông muốn làm việc tiếp về chuyện này thì cứ
ra Quyết định bắt tôi vào tù rồi hẳn tiếp tục
thẩm vấn".
Thế là gần 4 giờ làm
việc chẳng đi đến đâu với những điều tố
cáo vu vơ, mà mục đích chỉ muốn cầm chân một công
dân không được hưởng những quyền tự do cơ bản,
một nhà tôn giáo không được sống theo đức tin của
mình.
Đại sứ Hoa Kỳ kêu gọi
chính quyền Việt
Ngày 26/11 đại sứ Hoa kỳ
tại Việt
Ông Marine cũng bày tỏ quan
tâm đối với việc Hòa Thượng Thích Quảng Độ,
người đứng hàng thứ nhì trong giới lãnh đạo
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã
bị nhà chức trách ngăn không cho đi thăm Đức Tăng Thống
Thích Huyền Quang, là người lãnh đạo giáo hội hiện
được điều trị khẩn cấp tại một bệnh
viện ở miền Trung.
Trước đó, ngày 15/11/2004,
Hòa Thượng Thích Quảng Độ, viện trưởng Viện
Hóa Đạo - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
phổ biến một thông bạch tố cáo tội ác của
đảng và nhà nước CSVN với chủ tâm đàn áp Giáo Hội
qua tài liệu mang tựa đề "Tài liệu mật của
đảng CS và Bộ Công An nhằm chống phá và tiêu diệt
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất"
được phổ biến tại Đại Hội Khoáng Đại
kỳ 3 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
được tổ chức vào ngày 9/10 vừa qua tại Tu Viện
Bảo Pháp tại Los Angeles, Hoa Kỳ. Ngài kêu gọi Phật
tử các nơi hãy khẩn cấp phiên dịch tài liệu
này và phổ biến rộng rãi tài liệu này để cảnh
giác đồng bào mọi giới cũng như tố cáo trước
dư luận quốc tế dã tâm đàn áp tự do tôn giáo của
nhà nước CSVN.
Cộng Sản Việt
Lê Trần
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Vừa qua Quốc Hội Hoa
Kỳ tập trung quan tâm đến sự vi phạm tự do
tôn giáo trên toàn thế giới. Một ủy ban của quốc
hội đã xem xét báo cáo thường niên của Bộ Ngoại
Giao nước này tập trung trên 190 quốc gia. Trong số đó
có tám nước được đưa vào danh sách những quốc gia có
tình hình vi phạm tự do tôn giáo cần được
quan tâm nhất, đó là :
Hàng ngàn công dân Việt
Vậy tại sao Chính phủ
Việt
Tất cả các chế độ
cộng sản trên toàn thế giới đều có những
chính sách giống nhau đối với tôn giáo. Đây không phải
là điều ngẫu nhiên, mà các chính sách này đều xuất phát
từ những những nhà kinh điển của Chủ
nghiã Marx-Lenin. Khi đề cập đến tôn giáo trong
lý thuyết của mình, Karl Marx đã miêu tả
tôn giáo như một công cụ áp bức. Ông gọi tôn giáo là "Sự
mê hoặc lòng người" [("The opium of the
people"], (P.3, Awake, April 22, 2001)
Theo sau Marx, Lenin đã tuyên bố :
"Bất kỳ một ý tưởng tôn giáo nào, bất
cứ một khái niệm nào của bất kỳ đấng
Thượng đế nào, tất cả... chỉ là tình trạng
dơ bẩn nhất" [("Any religious idea, any idea of any
god at all...is the most inexpressible foulness"],(P.3, wake, April 22,
2001).
Từ những lời phát biểu
mang tính miệt thị của những "Đấng sáng tạo
ra chủ nghĩa Cộng sản", như những phát
súng đầu tiên có sức tàn phá ghê gớm của những
nhà độc tài tiếp theo tại các quốc gia cộng sản
tấn công không thương tiếc, tàn phá từ vật chất
như các nhà thờ, chùa và những nơi thờ phượng khác đến
hành hạ tinh thần của các nhà tu hành thuộc tất cả
các tôn giáo. Nhiều thành viên trong gia đình các tôn giáo dưới
chế độ cộng sản đẵ bị cưỡng chế,
tù đày đến bị bức tử, bị giết chóc, đày ải
kéo dài suốt nhiều thập niên qua. Rất may mắn, tại
một số nước Đông Âu sau khi thoát khỏi chế độ
cộng sản, tình hình tôn giáo được cải thiện
đáng kể. Trong khi những quốc gia cộng sản
còn lại trong đó có Việt
Nhớ lại rằng, khi thế
chiến thứ hai bùng nổ, chế độ cộng sản
tại các nước Đông Âu đặc biệt là Liên Xô đã tỏ
ra ưu ái các tôn giáo nhằm thu hút sự ủng hộ cho chiến
tranh và kết quả họ đã thành công trong mục tiêu
này. Sau khi chiến tranh kết thúc, như con đường đã định
sẵn là hạn chế, loại trừ và tiêu diệt tôn
giáo không hề thay đổi. Tại Việt
Nhận thức mơ hồ :
Trong các tác phẩm triết học Marx-Lenin, quan điểm về
chủ nghĩa duy vật được hiểu như sự thừa
nhận về vật chất có trước, phần còn
lại thuộc về duy tâm. Từ những khái niệm mà
Marx gọi là đã rút được những hạt nhân hợp
lý và tư duy ngược lại từ các tinh hoa của triết
học cổ điển Đức mà đại biểu ưu tú nhất
là Hegel.
Một chút về Hegel
(1770-1831) - Nhà triết học lỗi lạc người Đức.
Ông nhìn nhận lịch sử con người như sự
phát triển của các tư tưởng tự do. Hegel đãcó ảnh
hưởng rất lớn trong nhiều tôn giáo và chính trị
trong đó bao gồm cả Marx. Kết quả của lối
tư duy này là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đại họa
cho nhân loại nói chung, tôn giáo nói riêng. Đó là sự tấn
công điên cuồng vào tôn giáo và kết cục bi thảm của
nó dưới các chế độ cộng sản..
Từ nhận thức về
thế giới quan là vật chất có trước, tất cả
các tư tưởng khác được xem là duy tâm. Xa hơn nữa bắt đầu
từ Lenin, cụm từ "Duy tâm" được đồng
nghĩa với mê tín, dị đoan và sự dơ bẩn của
tôn giáo. Và từ đây nối tiếp nhau của các thế hệ
lãnh đạo trong các nước cộng sản thẳng tay
trừng trị và phá phách vào bất cứ lãnh vực
nào của đời sống xã hội mà được liệt
kê như "Duy tâm", trong đó tôn giáo là mục tiêu cần
tiêu diệt.
Cũng như thế, các nhà
lãnh đạo tại các quốc gia cộng sản luôn lo
sợ cái gọi là "diễn biến hoà bình",
mà hai lực lượng đáng gờm nhất của chế độ
là trí thức và tôn giáo. Chế độ chưa bao giờ nghĩ
rằng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng và không
thể tách rời của xã hội. Tôn giáo gắn chặt
giữa niềm tin và tinh thần dân tộc, là nét đẹp và
mang giá trị của nền văn hóa đó. Duới sự cai trị
của các chế độ cộng sản, họ luôn ý
thức được rằng, tôn giáo luôn tập hợp được
lòng người. Nếu không kiểm soát chặt chẽ lực
lượng này, thì vị trí độc quyền cai trị của
họ sẽ bị đe doạ. Vì thế họ cho rằng
tôn giáo là một trong những mối hiểm họa thường
trực không thể chấp nhận trong bất cứ thể
chế cộng sản nào.
Sự đàn áp tôn giáo : Trong
quá trình phát sinh, phát triển và trên con đường tự
diệt vong của nó, các chế độ cộng sản
đã gây không biết bao nhiêu tội ác, đặc biệt đối
với các tôn giáo. Liên Xô trước đây, hầu hết các nhà thờ
tôn giáo đã bị phá hủy hoặc bị chính quyền
sử dụng vào các mục đích không tôn giáo. Các nhà hành đạo,
các tu sĩ đã bị bắt đi "học tập cải
tạo" trong các nhà tù khổ sai, nơi mà nhiều người
đã bị bỏ mạng. Phần lớn những trung
tâm đày ải con người này là ở
"Tự do tôn giáo hay là chết" đó là tư tưởng rất cương quyết đấu
tranh của Linh Mục Nguyễn Văn Lý (người
đã bị bắt tù ngày 17/5/2001 vì theo đuổi
lý tưởng này). Để thực hiện được hoài
bão đó dưới một chế độ vô cùng hà khắc,
công cuộc tranh đấu với bạo quyền, gian xảo
không phải ít khó khăn và gian khổ, song quyền sống của
con người nói chung, tôn giáo nói riêng phải được tự
do. Tôn giáo ra đời trước tất cả các đảng phái
chính trị của bất cứ nơi nào trên trái đất này và
là niềm tin bất diệt của mọi thành viên trong gia
đình tôn giáo. Vì vậy nó cần được tự do
và phải được tự do. Sống dưới chế độ
hiện hành của Việt
- Thứ nhất, những tổ
chức tôn giáo được Nhà nước công nhận chính thức,
phải chịu sự lãnh đạo và kiểm soát của
đảng cộng sản và chính quyền các cấp từ cơ
cấu tổ chức, tấn phong các hàng giáo phẩm, các buổi
lễ thờ phượng, việc đào tạo tu sinh... Nói tóm lại
tất cả phải báo cáo và phụ thuộc sự cho
phép của chính quyền. Thậm chí, chính quyền còn
bổ nhiệm đảng viên cộng sản trong các vị
trí lãnh đạo các tôn giáo. Những tổ chức tôn
giáo này sẽ được phép hành đạo như đã nói trong khuôn
khổ qui định của đảng và nhà nước Việt
- Thứ hai, các tổ chức
tôn giáo khác không được sự chấp thuận chính thức
của Đảng và nhà nước Việt Nam, trong số này có
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Tin Lành,
Cơ Đốc Giáo của người Thượng và sắc tộc
Hmong (Montagnard and Hmong Christians)... những tổ chức này
tiếp tục bị đàn áp. Các nhà lãnh đạo của họ
vẫn sẽ bị bắt bớ, hành hạ. Những
thành viên của nhóm luôn bị quấy phá, các địa điểm
thờ phượng vẫn là những mục tiêu tấn công của
nhà cầm quyền.
Tương lai, do sự chịu đựng
và mất mát quá nhiều và quá dài trong chiến tranh, cộng
với sự đàn áp, trừng trị thẳng tay và có hệ
thống của chính quyền đối các cấp với các
thành viên và gia đình họ trong những nhóm tôn giáo này, do
quá sợ hãi và một phần do lợi ích của gia
đình, nhiều người muốn giữ im lặng trong
cam chịu. Một số sẽ bị qui phục của
chính quyền và sẽ nhập vào các tổ chức "Giáo
hội quốc doanh". Một khi chính quyền
còn đủ mạnh trong việc dùng bạo lực, số
lượng người qui phục sẽ gia tăng. Như một kết
quả thành công trong việc sử dụng vũ lực của
chính quyền đối với tôn giáo trong giai đoạn nhất
định. Tuy nhiên việc dùng vũ lực và nhà tù để đàn
áp không phải là phương thức lúc nào cũng có thể sử
dụng được một khi có sự phản ứng của
cộng đồng quốc tế và phong trào dân chủ trong nước
đủ mạnh.
Trong khi đó, những nhóm khác như
đã nói ở trên, với một lòng tin sắt đá
vào tự do tôn giáo, họ sẽ đấu tranh đến cùng cho
niềm tin này. Cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo tại
Việt
Tóm lại, tùy theo từng hoàn
cảnh và các phản ứng quốc tế mà một nhà nước
cộng sản sẽ có những chính sách ứng xử với
tôn giáo để phục vụ cho những mục đích của
nó. Nhìn lại tại các nước Cộng Sản Đông Âu
trước đây và gần đây nhất là cộng sản Hà Nội
mà người đứng đầu nhà nước - Thủ tướng cộng
sản Phan Văn Khải đã tiếp kiến và nói những
lời đường mật với Hòa Thượng Thích Huyền
Quang - người đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất. Nhiều ý kiến cho rằng Việt
Nam đang có những cải thiện đáng kể về tự
do tôn giáo. Tuy nhiên, đừng bao giờ nhầm lẫn giữa
các ứng xử ngắn hạn là thích ứng để mang lại
lợi ích cho tập đoàn lãnh đạo và mục tiêu lâu
dài là tiêu diệt tôn giáo của bất kỳ chế độ
cộng sản nào trên toàn thế giới. Muốn có tự
do tôn giáo dưới một chế độ cộng sản chỉ
là mơ ước mang tính không tưởng. Hoài bão này chỉ trở
thành hiện thực một khi không còn tồn tại
nhà nước cộng sản mà thôi.
Lê Trần
Giá Trị Của Dân Tộc Việt
Nguyễn
Thị Thanh Vân
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Buổi chiều hôm ấy
tôi còn nhớ mãi. Ngồi trên xe, tôi thoáng nghe đài
RFI ở Paris loan tin có nhiều người Việt Nam đến
Hồng Kông với vũ khí trong tay đã bị bắt và
bị xử án tù hơn 20 tháng. Điều làm cho tôi chấn động
hơn là khi họ nói về nguyên nhân mà những thuyền nhân
này bị bắt : họ mang thật nhiều vũ khí
để bị bắt ở tù càng lâu càng tốt vì như thế
bảo đảm có chỗ ăn chỗ ngủ ! ! !
Trăm ngàn dấu chấm than cũng không thể diễn tả
được tâm trạng tôi lúc đó ! Và tôi đi tìm lại mẫu
tin này trên internet, tôi tìm thấy được trong bản tin
trên báo Người Việt online như sau :
"HONGKONG 05-11 (TH).-
Nhà cầm quyền Hongkong bỏ tù 12 người đàn ông Việt
Nam từ ngày 21 Tháng Mười đến 24 Tháng Mười với
các cáo buộc nhập cảnh bất hợp pháp vào
lãnh địa này với võ khí, theo tin của cơ quan
tư pháp địa phương trong ngày Thứ Sáu 5 Tháng Mười Một
2004. Những người kể trên đã nhận tội,
theo lời phát ngôn viên Bộ Tư Pháp Hongkong Felix Leung, và bị
truy tố hình sự gồm sở hữu đạn dược
bất hợp pháp, tàng trữ vũ khí tấn công bất hợp
pháp và ở lậu tại Hongkong. Mười một người
bị kêu án mỗi người 21 tháng còn một người
bị 24 tháng, theo lời Leung. Các bị cáo nói trên nằm
trong nhóm 39 người Việt
Nhật Báo Thanh Đảo
ở Hongkong đặt giả thuyết rằng số người
nói trên cố tình nhập cảnh lậu và để bị
bắt với võ khí để ỀđượcỂ ở tù.
Bởi vì trong tù, họ được ăn uống đầy đủ
và còn được chữa bệnh không tốn tiền.
Leung không bình luận gì về tin tức như vậy."
Với những sự
kiện xảy ra như thế, tôi tự hỏi : người
Việt mình bây giờ không còn biết hai chữ Ềtự
trọngỂ nữa hay sao ? Tại sao những người
này có thể chấp nhận làm thân tù xứ người để
chỉ đổi lấy hai bữa cơm ? Cho đến giờ
có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa hết xót xa với
những câu chuyện nàng dâu Đài Loan, hay nạn buôn bán trẻ
em đã từng làm chấn động dư luận quốc tế
và đồng bào hải ngoại vào đầu năm nay.
Vì đâu mà dân tộc
ta ra nông nỗi này ? ? ?
****
Có lần một vị
chính giới Ba Lan đã nêu câu hỏi : "Tôi
đã có dịp tiếp xúc với nhiều người Việt,
tôi thấy quý vị hiền hòa và nhân hậu quá,
nhưng tôi không hiểu được vì sao một chế độ
tàn ác như chế độ CSVN vẫn tiếp tục tồn tại,
ai là những người hỗ trợ họ ?"
Thưa ông, chỉ có những
người sống nhờ vào chế độ là những người
ủng hộ đảng và nhà nước CSVN. Có lẽ nhân dân ai cũng
quá khổ với chế độ này, cộng sản đi tới
đâu thì người dân ở đó đều phải tìm cách
trốn chạy. Tới nỗi nếu cột đèn có chân nó cũng
chạy ... Điều tàn ác hơn nữa, là lúc nào người cộng
sản cũng tìm cách lợi dụng những cuộc
trốn chạy này để thủ lợi cho mình, từ
tài chính đến an ninh, chính trị, họ không từ chối
điều gì hết.
- Năm 1954, đảng CSVN
lên cầm quyền tại miền Bắc, với sự
can thiệp của Pháp, gần 1 triệu người đã rời
bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại mồ mả
cha ông đi vào
- Năm 1975, đảng CSVN
thống trị trên toàn cõi Việt
- Kể từ cuối
thập niên 80, khi các nước tự do không chịu nhận
những người vượt biển tỵ nạn nữa, người
dân lại tìm cách thoát khỏi Việt Nam bằng cách
đi du lịch rồi tìm cách ở lại, đi làm lậu
để kiếm ăn qua ngày trong khi chờ đợi được cứu
xét đơn xin tỵ nạn. Lúc này thì công an lại đi tổ
chức những đường dây đưa người đi du lịch lậu,
đưa người sang du lịch tại Nga, nơi mà sứ quán CSVN
còn được quyền tự tung tự tác đối với
kiều dân ở đây, họ đã tổ chức rầm rộ
những chuyến du lịch Việt Nam - Nga bằng giấy
tờ giả, rồi từ đây tìm cách đưa họ vượt
biên giới để đến các nước đông âu cựu CS mà sinh
sống như Tiệp, Ba Lan, Đức...
Và làn sóng người vượt
biên kiểu này cứ tiếp tục cho đến nay. Nhiều
người đã phải đi vay để trả 5000 đô la một
chuyến vượt biên mà họ không thể tưởng tượng
được sự cam go như thế nào... Được đường dây tổ
chức đưa tới Nga, sau đó họ được thả lỏng để
tự vượt đường rừng sang Tiệp, sang Ba Lan, sang Đức...
Một tiếng ngoại ngữ không biết, băng rừng
trong đêm dưới những cơn mưa tuyết mùa đông, lắm khi bị
cơ quan an ninh các nước này bắt nhốt tù vài tháng vì
nhập cư bất hợp pháp. Khi được thả ra, họ lại
tiếp tục con đường chông gai để tìm đến những
nơi tạm sống yên ổn. Nhưng khổ nổi, định cư
tại những nước này một cách bất hợp pháp, họ
phải trốn chui trốn nhủi và đi làm lậu để
kiếm sống. Họ kiếm ăn rất vất vả, chật
vật lắm mới sống nổi. Thế mà người ta
vẫn tiếp tục đi như thế, ngay cả những người
dân ở vùng quê của "Bác", vùng đất Nghệ
An "oai hùng anh dũng của Bác"...
- Hễ cứ
ngõ ngách nào mở đường cho người dân có lối
thoát ra khỏi nước thì dân cứ tìm cách để
đi. Người dân rủ nhau đi lao động ở nước ngoài.
Đây là chính sách của nhà nước nên nhà nước tha hồ mà tổ
chức những đường dây đưa người ra nước ngoài lao
động mà không hề quan tâm đến việc bảo vệ
quyền lợi của dân mình. Mỗi người muốn
đi lao động nước ngoài phải nộp tiền cho nhà nước
không biết bao nhiêu mà kể, nhưng họ vẫn đi, vì
thà như vậy mà còn kiếm được chút đỉnh tiền
gửi về giúp đỡ gia đình.
- Một con đường
khác để đi ra khỏi nước là du học hay tu nghiệp với
những chương trình trao đổi văn hóa giáo dục với
các nước tiên tiến. Các vị có chức có quyền lại
thêm một cơ hội lường gạt dân, tự đứng ra
xưng là cơ quan trung gian để tuyển sinh, nhận tiền để
đưa người đi mà không đi tới đâu hết như trường hợp
nhóm Carlyle Group vừa mới bị phanh phui vào ngày 2/11 vừa
qua.
- Và những con đường
khác ... ngày càng tồi tệ hơn. Cha mẹ bán con để sống,
phụ nữ phải đi lấy chồng xứ lạ để
có nơi nương tựa... Tất cả những đường dây này được
tổ chức trên qui mô lớn thì chắc chắn công
an nhà nước đã được chia chác nhiều phần, điều
này đã được xác nhận trước ống kính của
báo chí và các cơ quan thiện nguyện quốc tế.
Trước sự kiện
mới mẻ ở Hồng Kông lần này, có lẽ một
vài anh công an đã có sáng kiến để đưa người ra nước
ngoài theo kiểu mới, khỏi cần phải làm lụng
kiếm ăn, chỉ chịu nhục mang án ngồi tù ở xứ
người để được nuôi ăn nuôi ở và chăm sóc sức khỏe...
***
Dạy cho dân quên mất
đi sự tự trọng, quên mất đi cái liêm sỉ của
con người là cái tội không thể tha thứ được, và
chỉ có đảng và nhà nước CSVN mới đào tạo ra những
con người nhẫn tâm đưa dân tộc mình xuống hố
sâu đầy bùn nhơ như thế !
Nguyễn thị Thanh
Vân
Những "Nghề" Mới Tại Việt
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Thời buổi cả nước
được đảng cộng sản đưa vào con đường chủ
nghĩa tư bản hoang dã, xã hội Việt
Nghề... "đấm người"
ở xứ Thanh
Đêm. Bãi biển Sầm
Sơn lồng lộng gió biển. Xen giữa tiếng gió, tiếng
sóng và tiếng hát karaoke trong các nhà hàng là tiếng rao "quất
đê... !" vòng vọng. Sau tiếng rao một
lúc, du khách mới thấy một vài đứa trẻ đen sạm
nắng biển cầm chiếu đi qua. Mời mọc từng
người mà chỉ nhận được cái lắc đầu, chúng lại
bước về phía toán du khách khác với những bước đi
xiêu vẹo dưới ánh trăng vằng vặc biển đêm Sầm
Sơn... Ở xứ Thanh, nghề "đấm người"
- nghề tẩm quất không chỉ có ở những đứa
trẻ lem luốc Sầm Sơn mà còn là "nghề kiếm
cơm" của những người mù ở một góc phố
Hàng Than, thành phố Thanh Hóa ...
"Kiến bò,
cò mổ, nhổ bão !"
"Quất...
đ..ê... !". Tiếng rao của
thằng bé 10 tuổi tên Hoàng làm nghề tẩm quất dạo
cứ dội đến tai chúng tôi lúc xa lúc gần giữa mịt
mùng biển đêm Sầm Sơn. Hình như lúc này còn quá sớm
để du khách tìm đến dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ di động này. Tiếng rao của thằng bé cứ
mỏng dần, mỏng dần rồi chìm lắng
trong tiếng sóng biển ồn ào. Đêm đen kịt và buông hờ
hững trên bãi biển. Dạo một vòng ở
bãi C vẫn không có khách, Hoàng trải chiếc chiếu
đơn mang theo ngồi nhìn ra đại dương thăm thẳm, có lẽ
nó đang chờ đến giờ "hoàng đạo" sắp
đến. Đó là thời điểm sau 10 giờ tối, khi khách du
lịch bắt đầu cảm thấy mệt mỏi sau cả
ngày quần nhau với sóng và gió Sầm Sơn, với khí hậu
nóng nực xứ Thanh. Có những đêm, hội "đấm
người" của Hoàng thay nhau làm mà vẫn không hết
việc.
Cứ mỗi dịp hè về,
những đứa trẻ nghèo ven biển Sầm Sơn với những
mái tóc vàng hoe, nước da cháy nắng lại ôm theo manh chiếu
lượn lờ khắp bãi biển tìm khách. Cậu
bé Lê Huy Hùng (xã Quảng Cư) làm nghề "đấm người"
đã 2 năm nay. Mỗi dịp nghỉ hè, khi mà du khách đến
Sầm Sơn bắt đầu tấp nập thì Hùng và các bạn
trong xóm lại cắp chiếu lang thang trên khắp các
bãi biển "làm hè". Tất cả những
bài tẩm quất "truyền" vào người khách,
Hùng đều học được từ những tháng ngày "làm
ăn xa" trên Hà Nội cách đây hai mùa hè. Hùng nhớ lại...,
khi đó em rời quê lang thang bán kẹo cao su ở khu vực
Ga Hà Nội. Sau mỗi tối về khu vực Cửa Nam
tìm chỗ ngủ, em học mót dần dần được
ngón nghề của dân "đấm người" nổi
tiếng ở đây đem về quê kiếm tiền. Theo Hùng, nghề
tẩm quất dễ kiếm tiền, vả lại nhà em
có tới 7 người, đều sống dựa vào chài lưới
nên rất vất vả, cứ nghỉ hè là em lại gác
sách vở sang một bên và ra biển... "đấm"
khách.
Trong đội quân "cầm
chiếu" ở các bãi biển Sầm Sơn, Hoàn "đen"
nổi tiếng hơn cả. Hoàn mới 15 tuổi, cao ấp
xỉ 1,1m nhưng đã có "thâm niên" đến 6 năm
trong nghề tẩm quất. Bạn cùng nghề kể, nhà
Hoàn vốn nghèo, bố không làm ra tiền lại hay cờ bạc,
rượu chè bê tha rồi về đánh chửi vợ con. Cách đây
3 năm, bố Hoàn bỏ mấy mẹ con bơ vơ trong nghèo khó rồi
đi lấy vợ hai ở một nơi khác. Một mẹ và 3
con lặng lẽ nương tựa vào nhau lầm lũi sống
trong căn nhà tồi tàn ven biển Quảng Cư. Mẹ Hoàn ngày
ngày đi kéo lưới thuê nhưng không đủ tiền ăn, tiền học
cho mấy đứa con. Hoàn nghỉ học từ lớp 5 để
phơi người ra bãi biển làm đủ nghề kiếm sống.
Hoàn từng nhặt phế liệu, bán bánh đa, kéo lưới và
hiện nay là tẩm quất. Ở bãi biển Sầm
Sơn những thân phận như Hoàn "đen", Lê Huy Hùng
không ít vì các em hầu hết đều là con nhà nghèo làm
thêm trong dịp hè.
Với đội ngũ "đấm
người" trên bãi biển Sầm Sơn, những "chiêu"
dễ và quen thuộc để "tiếp khách" là "kiến
bò, cò mổ, nhổ bão". Những bài
khó và hấp dẫn hơn là "cào cào đá móc, cóc nhảy song
phi, ngựa phi nước đại, vác cày qua núi...". "Lành
nghề" như Hùng, Hoàn "đen", Thoan "gầy"...
trung bình mỗi ngày cũng kiếm được trên dưới
50.000 đồng. Mỗi lần "tiểu quất"
như cạo gió, bao đầu khách chỉ trả có 3-5 nghìn
đồng. Mỗi lần "đại quất" với
thời gian 30-40 phút, "thợ quất" thu 10 - 15
nghìn. Thoạt nhìn ai cũng tưởng nghề "đấm
người" ở đây đơn giản như... trải chiếu.
Nhưng theo lời "tay quất" Hoàn "đen",
trải chiếu ra, mời được khách nằm xuống chiếu
là ... cả một vấn đề ! Hoàn "đen"
bảo, trước tiên phải biết nịnh khách và khuyến
mãi bằng vài đường cơ bản cho khách ... "mê"
đã. Hùng cười nham nhở : "Cũng mệt,
gặp ông nào gầy thì ... đau tay vì xương, gặp
ông nào béo tốt, to bụng thì cũng... toát mồ
hôi !". Cậu bé cho biết thêm, mỗi đêm phải
phục vụ nhiều khách nên dân tẩm quất như nó cũng
học được các ngón nghề của "đàn anh Cửa
Nam" là biết điều hoà sức lực khi "ra
đòn". Nhiều khi khách tưởng "thợ quất"
đang "làm việc hết mình" với những
tiếng vỗ bôm bốp vào da thịt, tiếng kêu răng rắc
ở các khớp xương nhưng thực ra đó chỉ là một chút
mẹo nhỏ. Hùng cười : "Phải làm như thế
chứ ! Nếu không đánh xong cho 2 khách là mình đã
phải nhờ người khác... tẩm quất cho rồi !".
Khoảng sáng giữa đêm đen !
Phố Hàng Than, thành phố
Thanh Hóa, có một ngôi nhà cứ 7 giờ tối lại nhộn
nhịp người ra vào. Đó là câu lạc bộ Tẩm quất
của Hội người mù Thanh Hóa mà các thành viên ở đây thường
gọi với cái tên "câu lạc bộ tình
thương". Khi thành phố bắt đầu lên đèn, tiếng
đấm, tiếng "chặt" vào da thịt vang lên
bồm bộp khắp căn phòng 20m2. Xen giữa những
hồi đánh là tiếng đọc thơ, tiếng hát của những
"thợ quất" mù. Tiếng đọc thơ vang lên trong
đêm, những người mù làm nghề "đấm người"
đang muốn giải bày điều gì ?
Vừa đánh cho khách, từng "thợ
quất" bắt đầu kể về mình, về
số phận bất hạnh phải gắn bó cả đời
với đêm đen dằng dặc. Họ rụt rè nói về
mình rồi lại trầm ngâm theo nhịp "kiến
bò, cò mổ, nhổ bão" lên thân thể
khách. Họ làm việc với sự đam mê, nhiệt
tình hiếm thấy để lấp láp nỗi buồn
mù loà trong sâu thẳm. Đó là khoảng sáng hiếm hoi giữa
đêm đen mà không phải ai cũng thấy ở những "thợ
quất" mù xứ Thanh này.
Trước đây, nơi câu lạc bộ
tẩm quất đang hoạt động bây giờ là những
mái nhà tranh tồi tàn, rách nát của Hội người mù Thanh
Hoá. Từ công việc "truyền thống" của
người mù là làm tăm tre, cách đây 2 năm, câu lạc bộ tẩm
quất đã ra đời. Nếu chỉ làm tăm tre, que kem
không thì hội viên sẽ chết đói. Cho nên câu lạc
bộ đã mời người về dạy nghề tẩm
quất cho anh em. Nghe nói khu vực Cửa Nam (Hà Nội) nổi
tiếng về nghề tẩm quất, anh Quyết cùng mấy
anh em trong hội đã lặn lội ra đó học tập
kinh nghiệm đúng ba đêm. Kết hợp với một vài hội
viên đã từng đi đánh lang thang khắp nơi quay về gia
nhập hội, thế là câu lạc bộ tẩm quất
ra đời vào ngày 24 tháng 2 năm 1995. Tất cả các anh chị
em đều xem hội như mái nhà chung của mình. Và cũng
tại đây, biết bao nhiêu câu chuyện cảm động
đã ra đời...
"... số con bất hạnh
mẹ ơi
Muốn nhìn chẳng thấy mặt trời ở đâu
Đêm khuya thắp đó đèn dầu
Một con với mẹ nỗi đau khổ lòng
Đỏ đèn mẹ hỏi thấy không ?
Mẹ ơi nhìn mãi con không thấy
gì !..."
Đây là bài thơ xúc động như một
tự cảm của một hội viên Hội người mù
Thanh Hóa đã trở thành "bài thơ cửa miệng"
của anh em trong câu lạc bộ tẩm quất mỗi
lúc vui buồn. Người "đấm" tôi hôm đó là anh
Nguyễn Quốc Tiến, một trong những "thợ
lành nghề của câu lạc bộ." Anh Tiến bị
mù bẩm sinh nhưng may mắn học được nghề tẩm
quất sau nhiều năm phiêu bạt tứ phương. 17 năm đánh
lang thang, hành nghề tẩm quất dạo từ
Cùng cảnh mù lòa lang
thang như anh Tiến là ông Nguyễn Văn Tý năm nay đã sắp
bước sang tuổi "thất thập". Ông cũng
là người không có gia đình, họ hàng thân thích. Mọi
người kể lại rằng ông bị đẻ rơi ở nhà
thờ, bị mù bẩm sinh. Ông Tý lớn lên trong sự
cưu mang của người dân quanh nhà thờ thị xã
Thanh Hóa. Khi ông đã nhông nhống, người ta mang ông về
nuôi. Lớn lên ông lại đi, lại lang thang khắp nơi chỉ
với chiếc gậy và chiếc bị cói. Hàng chục
năm trời phiêu bạt ông đã học được nghề tẩm
quất dạo kiếm cơm để rồi cuối đời lại
lần hồi về Thanh Hóa. Trong một lần đi đánh tẩm
quất dạo vào ban đêm, ông Tý bị xe máy húc gãy
chân. Biết tin, Hội Người Mù thành phố đã mời
ông vào câu lạc bộ tẩm quất, không phải đi đâu mà
mỗi tháng ông cũng kiếm được 500-600 nghìn.
"Khoảng sáng" đẹp nhất trong đêm đen của những
người mù thanh phố Thanh Hóa là có những người hiểu
nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng. Đó là vợ chồng
anh Nam chị Hải ở xã Đông Hương (Đông Sơn). Anh Nam là
thương binh hỏng mắt, chị Hải là người mù bẩm
sinh. Anh chị cùng làm tăm tre với nhau, thương nhau và quyết
định vượt qua trăm nghìn gian lao của cuộc sống
để trọn đời bên nhau. Đó còn là trường hợp
của chị Đào Thị Thành (phường Phú Sơn) và anh Lê Ngọc
Thể (xã Đông Hương). Anh Thể đi Thanh Niên Xung Phong bị
hỏng mắt, chị Thành bị mù bẩm sinh. Cả hai
người cùng lỡ bước. Khi vào hội cả hai anh chị
đều đã xấp xỉ 50, thương nhau nên tự nguyện
gắn bó trọn đời bên nhau nhưng lấy nhau chưa lâu, anh
Thể đột ngột bị cảm rồi mất, để
lại mình chị Thành bơ vơ.
Cảm động nhất là chuyện
của anh Lê Thanh Giai (xã Đông Cương), một thành viên câu lạc
bộ tẩm quất. Trước đây anh là công an tăng cường
vào Tây Nguyên, chẳng biết do đi rừng rú nhiều hay bệnh
gì mà mắt anh cứ mờ dần. Anh bị nghỉ
việc vì mất sức lao động và về quê với
vợ con. Từ hôm mắt bị mù hẳn, anh Giai chán chường,
vớ bất cứ cái gì có thể để ném vợ
xua con khiến gia đình lao đao đến nỗi ai cũng tưởng
anh và chị sẽ chia tay nhau. Hiểu nỗi đau của chồng,
chị Nguyễn Thị Tiếp, vợ anh, đã hết
lòng khuyên nhủ và đi tìm hội người mù cho chồng
sinh hoạt, nhưng khi đó chưa có. Cứ thế, anh chán chường
bao nhiêu thì chị sẻ chia bấy nhiêu. Năm 1994, khi
nghe tin nói về chuyện kết nạp hội viên người
mù, chị Tiếp đã lọc cọc đến hội xin
cho chồng gia nhập. Khi mới vào hội, anh Giai trong tổ
làm tăm tre. Suốt 3 năm trời quãng đường từ Đông
Cương đến phố Hàng Than, chị cần mẫn đưa đi đón về
người chồng mù của mình. Năm 1996, anh chuyển
sang học nghề tẩm quất và trở thành một
trong những "thợ quất" cứng nhất
của câu lạc bộ. Hiện nay anh Lê Thanh Giai đang học
thêm nghề mát-xa ở Trường Y Học Tuệ Tĩnh (Hà
Đông) để về truyền lại cho anh em trong câu lạc bộ.
Những số phận mù
lòa, những cảnh đời khác nhau, những câu chuyện
cảm động, chân tình ở câu lạc bộ tẩm
quất tôi không thể kể hết. Chỉ biết, trong
ngôi nhà nhỏ cuối phố Hàng Than ấy hằng đêm vẫn
vang lên những "âm thanh tẩm quất" rộn
ràng xen lẫn tiếng đọc thơ ngắt quãng, trăn trở.
Tôi biết, đó là một khoảng sáng. Khoảng sáng nhỏ
nhoi giữa đêm đen... !
* "Khoảng sáng"
trong đêm đen !
Dân
Nguyễn
Trúc Giang
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Tại thành phố
Tuy nhiên, cuộc biểu
tình này không xảy ra vào đầu thập niên 90, mà đúng
vào ngày 22 tháng 11 năm 2004, diễn ra chẳng những tại
Kiev mà còn lan tràn tại rất nhiều thành phố
khác như Lviv. Họ biểu tình vì họ cho rằng
cuộc bầu cử tổng thống diễn ra ngày chủ
nhật 21/11 trước đó đã có nhiều gian lận. Hai ứng
viên tổng thống là ông Victor Yakounovitch và ông Victor
Youshchenko, hai người về đầu trong vòng một diễn
ra vào đầu tháng 11. Theo kết quả mà Viện Bảo Hiến
Ukraine không cho công bố thì ông Yakounovitch đã thắng
cuộc bầu cử với 49% số phiếu, hơn ông
Youshchenko 3% trong khi các viện thăm dò trước đó đều
tiên đoán ông Yushchenko sẽ thắng với hơn 10%. Các quan sát
viên quốc tế Tây phương đều tuyên bố rằng cuộc
bầu cử không được trung thực, trong lúc tổng thống
Nga Poutine cho rằng không có gì đáng trách trong cuộc bầu
cử này.
Ông Yakounovitch, 54 tuổi, đương
kim thủ tướng từ tháng 11 năm 2002, và là người được
đương kim tổng thống Leonid Kouchna ủng hộ cũng
như một số tài phiệt. Ông xuất thân là thợ từ
vùng miền Đông xứ Ukraine, cạnh Nga. Trước khi là thủ
tướng, ông là tổng đốc tỉnh Donestk, một tỉnh
miền Đông, có rất nhiều người gốc Nga. Ông rất
được dân chúng tại vùng này ưa chuộng, đặc biệt
là các người làm việc trong các mỏ than.
Ông Youshchenko cũng gốc miền
Đông xứ Ukraine, là một kỹ sư kiêm kinh tế gia. Ông
đã có lần giữ chức Thống Đốc Ngân Hàng Quốc
Gia từ năm 1993 đến năm 1999, và có công làm giảm lạm
phát cũng như đưa đồng hryvnia, năm 1996, thay thế đồng
rouble của Nga, mà Ukraine vẫn sử dụng sau khi độc
lập vào năm 1990. Năm 1999, ông được tổng thống Leonid
Kouchna mời làm thủ tướng. Trong thời gian này ông
đã dẹp bớt nạn tham nhũng cũng như
tình trạng lộng quyền của một số tài
phiệt, có thể vì thế mà ông đã bị tổng
thống Kouchna truất phế vào năm 2001. Từ mấy
tháng nay ông bị một căn bệnh lạ kỳ làm hư da và
nhiều người cho rằng ông đã bị chánh quyền
đầu độc. Phải nói rằng trong những năm gần
đây, nhân quyền thường hay bị chà đạp, nhiều nhà
báo đã bị thủ tiêu và các bài trên Internet bị cầm
đoán, truyền thông tư không được tán phát tại nhiều
vùng, nhất là các vùng phía Đông Ukraine. Chánh sách của hai ông
Youshchenko và Yakounovitch đề nghị trong lúc bầu cử
hoàn toàn trái ngược.
Ông Yakounovitch chủ trương một
chánh sách gần Nga hơn và dự định thành lập cùng với
Ông Youshchenko trái lại muốn
Đại diện của Hoa Kỳ
là người đầu tiên đã lên án cuộc bầu cử và
cho rằng dân
Đảng Cộng sản Trung
Quốc ủng hộ ông Yanoukovitch vì ông này có chủ
trương bảo thủ như họ, siết chặt kiểm soát
chính trị, kềm kẹp truyền thông, nghĩa là chính
sách họ đang áp dụng tại Trung Quốc.
Các quốc gia Tây Phương cũng
lên án, nhưng với những lời lẽ hiền hòa
hơn Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong Hiệp Hội Âu Châu có hai thái độ
rõ rệt, một đằng là các quốc gia vừa gia
nhập lên tiếng rất cứng rắn, và tổng thống
Ba Lan với tư cách là chủ tịch của Hội Đồng
Âu Châu đã yêu cầu thiết lập một hội nghị
để giải quyết vấn đề. Hội nghị
đã bắt đầu vào ngày 26 tháng 11 với sự tham gia
của Ba Lan, các quốc gia Balte và đại diện của Hiệp
Hội Âu Châu cũng như tổng thống Kouchna và hai ứng
cử viên. Các quốc gia Đông Âu rất e ngại có xung đột
hay nội chiến tại Ukraine, vì trong trường hợp
này, việc giúp đỡ những người trốn tránh chiến
tranh sẽ gây thêm gánh nặng cho nền kinh tế cua họ.
Họ cũng không muốn viễn cảnh một nước
Nga mở rộng đến ngay bên cạnh họ.
Trái lại, đối với các
quốc gia Tây Âu, thì Ukraine không phải là mối quan
tâm hàng đầu mà cũng không phải là một khách hàng kinh tế
đáng kể. Pháp thì nhẹ nhàng hơn, vì hiện thời
trên chính trường quốc tế chỉ còn Nga là đồng
minh, sau khi Pháp bất đồng ý kiến với Hoa Kỳ
và Anh về vấn đề Iraq, đặc biệt là sau khi tổng
thống Chirac bị các quốc gia Đông Âu tẩy chay vì
lên giọng trích thượng các quốc gia này về vấn đề
Iraq.
Việc biểu tình rầm
rộ của dân chúng thế nào cũng sẽ đưa đến một
giải pháp tốt đẹp cho Ukraine, mặc dù các ủng hộ
viên của Yanoukovitch đã đáp xe lửa để đến Kiev
bày tỏ lập trường. Cho đến nay, hai đám biểu
tình vẫn đối thoại một cách vui vẻ, mỗi
bên cố gắng giải thích lập trường của
mình. Cuộc biểu tình đã làm thức tỉnh
nhiều người nhất là giới ký giả của
các cơ quan truyền thông công lập, họ bắt đầu
loan tin một cách trung thực và không nghe các chỉ thị
từ trên phủ tổng thống như trước đây. Nhiều
quan sát viên nghĩ rằng quân đội sẽ trung lập và
có thể thiên về phía đối lập, nghĩa là về
phía ông Yushchenko. Cuộc nội chiến chắc ít xác suất
xảy ra như nhiều người lo ngại, nhưng có thể
Ukraine sẽ chia đôi nếu không có một cuộc bầu cử
thật sự dân chủ trong những ngày tháng gần đây và
nếu chánh quyền mới không biết hàn gắn.
Quyền lợi tối thượng
của Ukraine là hướng về phía Âu châu để mở rộng
kinh tế. Tuy nhiên, Hiệp Hội Âu châu phải có những
biện pháp giúp đỡ như là hạ bớt thuế trên các
nông phẩm. Ngoài ra, Ukraine hướng về Âu châu còn để
thoát khỏi ảnh hưởng của Nga và có điều kiện
hơn để giải quyết vấn đề biên giới với
Nga.
Trên vấn đề biên giới
này, cũng tương tự như Việt Nam với Trung Quốc,
Ukraine đang phân chia lại ranh giới với Nga, trên đất
liền cũng như trên biển Azov. Biển Azov là biển nằm
giữa Nga và Ukraine, là một phần nhỏ của biển
Đen, rất quan trọng trên mặt quân sự đối với
Nga và Ukraine. Đó là nơi có một số căn cứ hải quân của
Nga. Do đó, Nga không muốn các quốc gia Tây phương lui tới để
quan sát. Điều này có thể xảy ra nếu Ukraine gia nhập
vào NATO. Biển này cũng có nhiều hầm dầu hỏa
chưa khai thác. Đây là một tiềm năng quan trọng có thể
giúp Ukraine thoát khỏi sự lệ thuộc vào Nga. Nếu
vấn đề biên giới trên đất liền đã được
ký kết vào năm 1997 và chỉ còn những tranh cải
nhỏ tại một vài địa phương, thì việc phân
chia vùng biển Azov chưa được ký kết. Leonid Kouchna,
mặc dù muốn nhượng và chấp nhận những
đòi hỏi của Poutine, nhưng vẫn không dám ký,
vì quốc hội Ukraine hăm dọa sẽ cách chức nếu
ký nhượng một phần biển. Nhờ sự
cương quyết của cơ chế dân cử này, nên cuộc tranh
chấp trên biển Azov giữa Ukraine và Nga vẫn tiếp
tục. Trong khi đó ở Việt
Dân Ukraine đã dành lại độc
lập nhờ sự sụp đổ của Liên xô cách đây gần
15 năm. Ngày hôm nay, sức mạnh của người dân sẽ
giúp cho họ tìm được dân chủ. Đó là điều mà ai cũng
chúc họ thành công và người Việt Nam sẽ cố gắng
học những bài học quý giá này.
Nguyễn Trúc Giang
Những Ngày Rất Dài
... Của Tháng
11 năm 2004
Bùi Xuân
Quang
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Như vậy George W. Bush vẫn
còn lãnh đạo trong bốn năm sắp tới. Sau
cuộc bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ, bỗng
nhiên các cơ quan truyền thông Tây phương hình như cụt hứng
và không liên tục đưa những tin tức thảm hại của
quân đội Mỹ tại Iraq lên hàng đầu. Lúc đã biết
rằng quyền lực ở Hoa Kỳ không trao vào tay ông
Kerry, các nhà báo và trí thức muốn đánh đổ ông Bush với
những bài chỉ trích thẳng tay, hay những cú giò
lái rất nghề nghiệp giang hồ, cũng phải giữ
im lặng như để tìm lại sức. Cách truyền
tin về vụ tấn công Faludja, với hơn 2000 người chết,
rõ ràng là nhẹ tay, không moi móc, đối với những
tin tức về quân đội Mỹ tại Iraq từ trước
đến nay.
Condoleezza Rice lên thay thế
Colin Powell, các nhà quan sát chính trị chuyên nghiệp thường
hay bên vực thái độ "bồ câu" của Colin
Powell và chỉ trích cánh "diều hâu" của
Condoleezza Rice không có vẻ mến tiếc quá đáng Colin Powell.
Ngược lại, những bài viết về Condoleeza Rice lại
có vẻ "chờ đợi với một nét thích thú
không dám nói ra". Họ nhấn mạnh tài năng khác thường
của Condoleeza Rice về âm nhạc (bố mẹ đặt
tên bà với một từ trong âm nhạc "con
dolcezza", với nét nhẹ nhàng), vì "Condi"
cùng chơi hòa tấu dương cầm với những tài năng
xuất chúng của thế giới như hòa tấu Bramhs
với Yo Yo Ma. Đấy là không nói đến tài nghệ thể
thao của bà ta lúc còn trẻ. Trong tháng mười một
này, các nhà quan sát Âu châu đang bị mờ mắt, hụt hơi,
và chưa tìm lại cảm hứng nghề nghiệp để
chỉ trích Condoleezza Rice.
Ngoài việc cơ quan truyền
thông Tây phương có thái độ thay đổi rõ rệt với TT.
Bush và quân đội Mỹ, thì người lính Mỹ ở
Yasser Arafat, chủ tịch Tổ
Chức Quyền Lực Palestine qua đời. Có người cho rằng
Arafat không muốn hòa bình, vì không muốn làm
quốc trưởng một nước nhược tiểu mà chỉ
muốn cả thế giới tôn trọng ông như một người
đấu tranh để xây dựng một quốc gia Palestine
lý tưởng nhưng trừu tượng. Từ lúc Arafat mất,
hình bà vợ trẻ của ông, tín đồ Thiên Chúa giáo,
mới được phơi bày trên báo với những con số lạ
lùng về gia tài riêng của ông. Claude Imbert cho rằng Arafat "ve
vãn" huyền thoại chứ không chú tâm đến
lịch sử (Le Point 18/11/2004). Thật vậy, đối với
một người tay đã dính máu nhiều lần, giết
11 lực sĩ và người trong ban tổ chức Do Thái tại
Thế Vận hội Munich 1972, thế giới vẫn tôn
vinh, giải thưởng Nobel Hòa Bình 1994 (cùng với
Shimon Peres, Tổng trưởng ngoại giao Iraẽl, và Yitzhak Rabin,
Thủ tướng). Mười năm sau giải thưởng Nobel
Hòa Bình, cuộc chiến vẫn tiếp diễn,
hận thù triền miên, không ngõ thoát. Cho nên, dù cho thế
nào chăng nữa, người ta vẫn đặt một tí hy vọng
lúc thấy ván cờ Palestine hoàn toàn đổi thay với cái chết
của Arafat.
Hiện giờ, các bạn cũng
như tôi đang theo dõi tình hình tại
Năm 1973, Henry Kissinger nhận giải
thưởng Nobel Hòa Bình (trong khi Lê Đức Thọ từ
chối) ; năm 1994, Arafat nhận giải thưởng này cùng
với Peres và Rabin. Giải thưởng Nobel Hòa Bình
có mục đích "vinh danh một nhân vật có công giúp các
dân tộc thông cảm với nhau, giúp sức đem lại
hòa bình". Nhìn lại lịch sử,
chúng ta thấy rằng không phải có ký kết trên giấy
mà có hòa bình.
Ở Trung Đông hận thù, giết
chóc là cơm bữa, con đường đi đến hòa bình
còn ngàn dặm chông gai. Không biết các lãnh tụ
Palestine có muốn hòa bình, có muốn xây dựng một
quốc gia, có muốn người dân Palestine được sống một
đời sống bình thường, có quyền nghĩ đến
tương lai của mình và của con cháu mình ?
Ở Việt
Tháng mười vừa qua, anh
Phan Văn Hưng có ghé qua Paris. Một buổi chiều chủ nhật
anh Hưng cho anh em thưởng thức những bài nhạc của
anh, và anh kể cho chúng tôi nghe những kinh nghiệm nho nhỏ
của anh tại Ba Lan, với những người sinh trưởng
và còn sống trong lòng chế độ cộng sản.
Anh Hưng chứng minh một cách nhẹ nhàng rằng những
người Việt tuy gốc gác khác nhau, tuy kinh nghiệm sống
khác nhau, nhưng vẫn rất gần gũi với nhau trong cảm
xúc, trong tâm tình. Lúc hướng về quê hương thì chúng
ta rất dễ gặp gỡ nhau. Trong giây khắc, tôi chợt
nghĩ, có lẽ đấy là con đường sống của dân tộc.
Bùi Xuân Quang
KÍNH TẶNG HƯƠNG HỒN CỐ THI
SĨ PHÙNG CUNG
SỨC NÉN CỦA NGÔN TỪ
Hà Sĩ Phu
(LÊN MẠNG CHỦ NHẬT 7
THÁNG MƯỜI MỘT 2004)
Để khen nhau mà nói "hơi bị
đẹp đấy" thì đã lạ rồi, nhưng tấm
tắc khen nhau "hơi bị đểu đấy" thì các
cụ nhà ta sống lại chắc không tài nào hiểu nổi
bọn con cháu định nói gì.
Bởi nó "ngược đời" !
Bởi đó là kiểu ngôn từ
đã bị lộn ngược !
Thứ ngôn ngữ lộn ngược
này, tuỳ theo tạng của mỗi người, ta có thể
thích hoặc không thích, nhưng sự tồn tại một cách
rất có sức sống của nó khiến tôi giật
mình. Hegel chẳng nói : cái tồn tại là cái có
lý đó sao ?
Mà có lý thật.
Hãy nói về chữ
"Bị". "Bị" vốn là một từ biểu
hiện ý niệm thua kém, tiêu cực, như bị thua, bị
xấu, bị lỗ vốn, bị khinh…Nhưng nay lại có
"bị đẹp" , " bị ngon" , "bị
tuyệt vời"…thì thật trái khuấy ! Lạ
nữa là nếu thêm một từ chỉ sự hạn chế
như "hơi" ( nghĩa là chỉ một chút thôi) thì
giá trị muốn khen lại còn tăng lên gấp bội.
Hơi bị đẹp là rất đẹp. Hơi bị tuyệt vời
là tuyệt vời vô cùng.
Đến một lúc ta lại
khám phá ra rằng trong các cụm từ gồm những yếu
tố ngược nhau, chống nhau kia toát lên một ẩn ức :
dường như người nói phải khẳng định một giá
trị mà biết chắc là sẽ rất nhiều người
muốn phủ định. Hơn thế , người nói dường
như biết mình là thiểu số, là không chính thống,
nhưng lại tin chắc sự thật và cái đúng nằm ở
phía mình. Ngôn ngữ được phát ra trong một tương quan
tranh chấp.
Khen một người đẹp, một
hành động đẹp đích thực mà phải nói là "bị đẹp" ?
Khẳng định là rất đẹp nhưng cũng chỉ dám nói
là "hơi bị đẹp" thôi ! Sự "khiêm tốn"
, nhượng bộ ấy cho thấy người nói tự biết
mình đúng, nhưng vẫn phải cố nói cho "phải
đạo" , như thể đang đứng trước những người
đã trực sẵn để chống lại ý kiến
của mình vậy. Nhưng sự khiêm tốn ở đây xem
ra chỉ là khiêm tốn bất đắc dĩ, bên trong vẫn
như ngầm chứa một sự đối chọi, lại
còn đùa cợt, trêu ngươi. Tuy đã rất khiêm tốn,
người nói vẫn khẳng định lập trường khen
chê của mình. Thậm chí hiệu quả tương phản
của ngôn ngữ khiến cho càng bị nén xuống
thì sự khẳng định lại càng tăng lên.
Vả lại, nói ngược chắc
gì đã ngược, chữ "bị" chắc
gì đã là thua kém. Chẳng hạn "Bị" làm
đày tớ thì sướng hơn cái "được" làm chủ
rành rành rồi. Trong một không gian đảo lộn thật
giả thì có khi nói ngược mới chính là nói xuôi. Vậy
chính bối cảnh xã hội đã tạo ra tâm
lý thích nói ngược, và nhu cầu phải nói ngược !
Nhưng dù gì đi nữa, sự
xung đột giữa hai thành phần đối chọi nhau trong
các cụm từ có chữ "bị" này cũng cho ta
thông điệp về một sự dồn nén, tranh chấp, cọ
sát giữa những giá trị đang bị đảo lộn ( hoặc
do chênh nhau về thế hệ, hoặc bởi danh một
đường thực một nẻo ; hoặc bởi thang
giá trị đã bị lộn ngược, quay đầu xuống
đất, cái tử tế bị coi là tồi tàn, cái tồi
tàn thì lên ngôi chúa tể ), và tất yếu phải đấu
tranh để xác lập lại thang giá trị ấy.
Bây giờ nói về chữ
"Đểu"
"Đểu" là một cái
gì đó xấu xa, tồi tàn, lừa đảo, mất dạy…
khỏi cần nói. Nhưng ĐỂU lại ghép với một
danh từ, tính từ hay động từ mang nội hàm tử
tế, tốt đẹp, đạo đức …thì xưa nay chưa có
bao giờ. Ví dụ xưa nay vẫn nói "thằng đểu"
chứ không thể ghép với chữ ông thành "ông đểu
" được.
Nhưng đây, tôi ví dụ. Trước
ngày 30-4-1975 thì đài (máy thu thanh) còn quý lắm.
Mấy thằng ma-cô ăn mặc giả bộ đội, thấy
một ông già ngồi nghỉ ở chỗ vắng, đang nghe
chiếc đài Xiang-Mao. Chúng xán đến chào hỏi lễ phép, rồi
nói với vẻ quan tâm :
Bố
có cái đài đẹp quá, (rồi chìa tay ra), bố cho con xin
nhé, thôi tặng con đi, bố già rồi, giữ lấy sức
khoẻ mà sống, nghe làm gì ?
Nếu hiểu "ngôn ngữ
của thời đại" và tình huống bất khả
kháng của mình thì ông già hãy ngoan ngoãn biếu
chiếc đài đi để được yên thân. Nếu ngoan cố chống
lại thì chẳng những mất cái đài mà còn
xơi thêm mấy cái tát hay gì nữa cũng chưa biết chừng.
Động tác "xin" của chúng như thế là một bài
giảng về khái niệm "xin đểu" ! Một
động tác cướp nhưng không phải cướp giật, mà là
"xin" ! Xin và tặng vốn là những động
tác của sự lịch sự, thân ái !
Tôi nhớ trong một tuyện
ngắn , nhà văn Bùi Minh Quốc đã gọi mẹo ấy
là "biến cuộc trấn lột thành một cuộc
hiến dâng tự nguyện". Thật chí lý. Đầy
tính "thời đại" ( !). Những chuyện xin đểu,
giúp đểu, quan tâm đểu, phục vụ đểu, đổi mới
đểu, thân ái đểu, nhân ái đểu…( mà thực chất là
ăn cướp, là trấn lột) bây giờ đã nhan nhản
ra rồi. Trong những quán "cơm tù" chúng cũng phục
vụ nhân dân đấy nhưng là "phục vụ đểu" !
Đấy là "đểu" ghép
với động từ hoặc tính từ.
"Đểu" cũng có thể
ghép với một danh từ hàm ý tử tế.
Một lần ra chợ giời,
tôi mua về một chiếc radio-cassette hiệu Sony,
còn khá mới, giá lại khá rẻ, nhưng lắp băng vào
nghe được một lúc thì băng rối, cố mở ra
thì núm văng một đằng, bánh xe một nẻo. Anh bạn
tôi liền ái ngại và diễu tôi : "Thôi thôi bố
ơi, bố mua phải "Sony đểu " rồi !".
Sony là một thương hiệu có uy tín, ghép với chữ đểu
tạo thành một từ đầy ấn tượng. Nếu gọi
là Sony giả, Sony dởm thì mất hết giá trị
trong ngôn ngữ. Phải là "Sony đểu" mới lột
được cái thần của thực trạng. Hàng giả,
hàng dởm…là những từ chết. "Hàng đểu"
là ngôn ngữ sống động không thể thay thế, nó
không chỉ thông báo về chất lượng món hàng, mà nó thông
báo toàn cục , cả tâm địa, cung cách , trào lưu, khung cảnh,
nền tảng, nguy cơ… và cả cảm xúc của người
nói nữa, nghĩa là toàn bộ bối cảnh , toàn bộ
"sinh thái học" của vấn đề.
Nhưng, ở một xứ sở
toàn những mẹo Trạng Quỳnh thì sẽ có mẹo
để chống lại mẹo, sẽ có "đểu" trị
lại "đểu", sẽ có "đểu" lương thiện
chống lại "lương thiện đểu" ..v…v.., (rồi
phải có "đểu" cương trực, "đểu"
khôn ngoan, "đểu" tử tế nữa). Thế là một
lần nữa, ngôn ngữ lại phải lộn ngược
, và khi ấy những người tử tế lại phải
khen nhau "hơi bị đểu đấy !" (trong tổ hợp
này thì chữ "đểu" lại đóng vai nhân tố
tốt đẹp, "đểu" tương tự như "đẹp",
nên vẫn ngược chiều với chữ "bị",
theo đúng nguyên tắc tương phản của cách diễn đạt
này). Viết một câu đối ra mà được bạn bè gật
gù, tủm tỉm phán rằng : "Hơi bị đểu đấy !"
thì có thể yên tâm mở rượu ăn mừng. Ngôn ngữ
quỷ quái thật.
Nói đến chữ ĐỂU tôi rất
phục sự phát hiện của một cây bút tên là Bắc
Hà mà tôi chưa có hân hạnh biết là ai. Bắc Hà viết về
một nghề cổ truyền của đất Cổ Nhuế
rất dễ thương với lời ca "ba sẵn
sàng" : Thanh niên Cổ Nhuế xin thề, chưa đầy
hai sọt chưa về quê hương. Bắc Hà viết rằng Cứt
rất có giá nên người ta trộn cả đất vào để
tăng trọng lượng. Cứt không đúng là cứt thì gọi
là cứt đểu. (Trong tổ từ này Cứt là một giá
trị đẹp, hữu dụng, tương phản với chữ
đểu là từ có nghĩa xấu). (Mới đây trong vụ
án siêu nghiêm trọng mà đại tướng Võ Nguyên Giáp, thượng
tướng Nguyễn Nam Khánh và nhiều tướng lĩnh anh
hùng của ta yêu cầu Bộ Chính Trị phải đem ra xét
xử và nghiêm trị, ông Bắc Hà này còn phát hiện
ra khái niệm "Chủ tịch nước đểu",
"đại tướng đểu" nữa !)
Kinh tế hàng hóa thật lắm
chuyện. Nhưng ham lợi trước mắt mà tàng trữ
"hàng đểu" thì tội to, lợi bất cập
hại đấy !.
Đến đây, tôi phải mở
ngoặc, xin bạn đọc một phút thôi, kẻo vô
tình ta xúc phạm đến phẩm chất của Cứt.
Cố thi sĩ Phùng Cung có bài ca ngợi phẩm chất ấy
như sau : "Cứt không thèm với tay vịn gió đổi
mùi, và nguyện hôi thối hết mình để người
đời khỏi ngộ nhận... ". Cứt tự biết
mình là thối, lại nguyện hôi thối hết
mình để người đời khỏi ngộ nhận. Cái
đức "chân thật" đó của Cứt thật đáng ngợi
ca thay ! Lương thiện thay ! Cố bốc thơm mà làm
gì ?
Trở lại câu chuyện
ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là một kho tàng
văn hóa. Nó là phương tiện giao lưu, phương tiện truyền bá
toàn diện nền văn minh, làm cho thế hệ sau tiếp
nhận được hết các thành quả của thế hệ
trước, đứng lên vai thế hệ trước mà tiến xa
hơn. Nhưng chính ngôn ngữ cũng là một thể sống, nó
hút sinh khí của môi trường giao tiếp mà tu chỉnh , mà
nâng cao, mà sinh sản nữa.
Thời đại nào đẻ ra
ngôn ngữ ấy. Thời đại của Tin học, của
máy vi tính cho ta khái niệm "nén thông tin". Vẫn nội
hàm ấy, nhưng tùy độ nén mà tạo ra các dạng thông tin
khác nhau. Thử đem khái niệm ấy vào văn học :
Thông tin từ cõi nhân sinh thì mênh mông vô tận, nhà
văn nén nó vào tiểu thuyết, nén nữa thành các truyện ngắn,
nén nữa thành thơ, nén nữa thành câu đối, nén nữa thành
các khái niệm, ngôn từ. Sức đúc kết của ngôn từ
thì thật kinh khủng.
Những danh từ như Cách mạng,
Dân chủ … thật tối thiêng liêng, nhưng nếu không thực
tâm vì Nhân dân, vì Đất nước mà để cho Chủ
nghĩa cá nhân vị kỷ ỷ thế làm càn, hại dân hại
nước thì miệng người đời ngọng gì
mà không kèm một chữ "đểu" theo sau ? Bao
nhiêu năm trời dân mới sáng tác được, mới nén được
một chữ "đểu" của mình, hẳn dân
biết dùng cho đích đáng.
Nhân nhắc đến câu đối,
tôi nhớ hai câu thách đối mà tôi cho là cô đọng và khó đối
nhất trong các câu đối hiện đại . Một câu là chữ
nghĩa văn chương, của Phan Hiền, đăng báo Quân đội Nhân
dân đã lâu lắm. Thách đối như sau : " Sai đâu sửa
đấy, sai đấy sửa đâu, sửa đâu sai đấy !".
Chữ nghĩa tối giản, lộn ngược lộn
xuôi, luẩn quẩn, tráo đi tráo lại, mà ý tứ
thì hàm xúc vĩ mô, bình luận cả ngày không hết !
Còn câu kia là một câu thách đối thuộc ngôn ngữ
"tếu táo" lưu truyền trong dân gian, nhưng gói ghém toàn
bộ tính chất và hiệu quả của nền kinh tế
chỉ huy và phân phối bao cấp XHCN : "Cái cứt
gì cũng phân, mà phân thì như cứt !" . Ôi ,
lại Phân với Cứt, những từ ngữ sao mà vĩ
đại !
Những Câu đối tài như thế,
lắt léo như thế, bao trùm như thế thì kể cũng
"hơi bị đểu" và " hơi bị tuyệt vời
" thật ! Biết khen thế nào khác được ?
Câu đối là thể loại
đã nén thông tin rất cô đọng, nhưng đến đơn vị
cơ bản là những ngôn từ thì sức nén còn
cô đọng hơn. Chỉ một chữ "BỊ", một
chữ "ĐỂU" thôi, được sử dụng một
cách "tai quái" và bi hài như vừa phân tích trên đây đã
nén vào trong nó thông điệp của cả một thời , một
thời có một không hai trong lịch sử dân tộc ta vậy.
Hà Sĩ Phu - 10 / 2004
Truyện TAM QUỐC… CHOÉ
Hồi thứ … - xứ chột
làm vua , giở mẹo , anh khùng đâm giáp thủng !
- cờ tàn đấm tốt , dùng mưu , võ tướng trị
lê cùn !
( Cuộc giao tranh thắng bại
thế nào , xem hồi sau sẽ rõ )
Hà Sĩ Phu
Những Mẩu Kính
Màu (phần 5)
Nguyễn
Minh
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Nhìn cánh tay cụt
quá khuỷu của Minh, người chủ cơ sở bất
giác mủi lòng. Dù sao gia đình ông cũng ăn chay mỗi
tháng bốn ngày cơ mà... Thế nhưng, công việc là công việc
- liệu một anh chàng cụt tay như thế này sẽ giúp
được gì cho cơ sở vẽ bảng quảng cáo của
ông ?
- Thôi để tui kêu vợ
soạn cho chú ít quần áo tiền bạc, chú thông cảm
... về chuyện nhận chú vô làm thì không được
đâu ! Ông nói, cố không nhìn vào người đối diện.
- Dạ, xin lỗi bác
cháu không phải là ăn xin ! Minh nói ngay, giọng đau đớn :
- Cháu chỉ muốn
làm việc để đổi lấy miếng ăn ...
-
Minh ngẩn người.
Cũng không thể trách ông ta được, ai có thể tin được
một gã cụt tay như Minh lại có thể vẽ, mà
vẽ đẹp nữa cơ chứ ?
Sau vài giây suy nghĩ,
Minh quyết định. Anh đến cạnh một anh thợ
đang hí hoáy tô màu da cho cô gái trên tấm biển hiệu uốn
tóc.
- Cảm phiền cho
mình mượn cọ và màu vẽ... Anh nói.
Và trước cặp mắt
kinh ngạc của ông chủ cùng một đống người
giúp việc Minh - bằng những nét cọ tự tin, chuẩn
xác đã hoàn tất hình vẻ cô gái trong vòng nửa
giờ, một thời gian kỷ lục - nhanh gấp nhiều
lần kẻ khác !
- Được, được ...
tui nhận chú ! Ông chủ nói ngay sau khi anh buông cọ.
Đã lâu rồi cơ sở của ông thiếu một tay chủ
lực như vậy, ông đã quá già - nét cọ đã kém phần
sắc sảo và óc sáng tạo đã cùn lụt. Đây chính là
kẻ ông cần ...
***
Thế là sau hai ngày trở
lại Sài Gòn, Minh đã lại có một công việc.
Tuy nhiên có một điều anh giấu biệt mà ngay cả
ông chủ tốt bụng cũng không bao giờ ngờ tới :
để hàng ngày lui tới cơ sở vẻ bảng quảng
cáo, Minh từng đêm phải chợp mắt ở những ghế
đá công viên ! Anh không muốn ông chủ phải sợ
hãi khi giúp đỡ cho một kẻ vô gia cư, chết vô địa
táng như mình ...
- Dạ cháu ở nhà
thuê, trên mạn Gò Vấp ! Anh trả lời khi ông
chủ hỏi đến.
Cuộc sống trôi dạt
hàng đêm từ công viên này đến gầm cầu khác đã
khiến Minh cảm thấy thú vị. Anh chợt nhận
ra sự tự do đích thực đã đánh mất từ lâu bởi
một cuộc hôn nhân thất bại, là sự ngu xuẩn
cuối cùng của mình ...
Được hơn nửa
tháng, sau khi tắm giặt ở khu Diên Hồng như mọi kẻ
bụi đời khác, anh lủi đầu vào một rạp xi
nê.
Đó là một bộ phim
buồn nhưng không hay. Lối dàn dựng hết sức kinh
điển của các đạo diễn Xô Viết quả là không
chê vào đâu được nhưng xem xong, để đọng lại nơi anh một
lấp lánh tình người thì loại phim này không làm
được ! Kẻ ái quốc trong phim mang dáng dấp của
người chậm phát triển tâm lý và những cuộc
tình trong phim cứ như tình yêu của các thánh tông đồ
với Chúa Jesus ! Minh ngủ một giấc trong rạp
và coi như đấy là biện pháp gỡ gạc tiền vé cho một
phim tồi !
Nơi anh chọn để
qua đêm là một mái hiên lớn của Ngân Hàng Công Thương. Dựa
lưng vào vách, Minh chậm rãi hút thuốc - thả tâm tưởng
đi vào những ngóc ngách của ký ức, nơi chỉ chất
đầy sự xúc phạm, thói tàn ác của người đời
và một chút xíu mờ nhạt của tình yêu, của
vợ, của con ...
Dường như ở góc tối
cách nơi Minh nghỉ lưng năm, bảy mét gì đó có một cuộc
ẩu đả. Cũng thường thôi, cuộc sống bụi
đời là như vậy mà !
Có tiếng con gái ...
Minh hơi tò mò cố nhìn vào bóng tối. Chẳng
thấy gì ngoài chấp chóa những thân hình vật
nhau. Tiếng khóc rồi tiếng đấm đá vọng đến tận
chỗ Minh làm anh bực bội. Cuộc sống hè phố
có một nguyên tắc bất di bất dịch : không phải
việc của mình thì chớ có xía vào !
Lại có tiếng
khóc, tiếng chửi bới ... Minh bất giác ngờ ngợ.
Anh đứng bật dậy và đi về phía có cuộc ấu đả.
Dĩ nhiên, để thủ thân - trên tay Minh là khúc gậy tre
anh vẫn mang theo để qua đêm những nơi đầy bất trắc.
Nhác thấy có bóng người, bọn đang gây ra cuộc ấu
đả dừng lại.
- Cứu con với chú
ơi ! Tiếng con gái lanh lảnh giữa đêm khuya.
Không còn nghi ngờ
gì nữa, Minh xấn nhanh đến nơi giơ gậy vụt
...
Cách xung trận của
anh quá bạo lực nên nháy mắt lũ tiểu yêu hè phố
kéo nhau chạy mất ...
Ngồi thu lu trong góc tối
là một cô bé ! Nhìn con bé, Minh ước chỉ trạc
mười hai mười ba tuổi là cùng ... Anh cau mày khi hiểu
ra cớ sự.
- Tụi nó đã làm
gì cháu chưa ? Minh hỏi không khỏi có chút ân hận
vì can thiệp có phần do dự, chậm trễ.
Con bé chỉ bưng mặt
khóc rưng rức, Minh cúi xuống nói nhỏ :
- Thôi cháu đừng khóc nữa,
nín đi ... Theo chú ra đây ngồi cho sáng sủa !
Đợi một lát vẫn
không thấy con bé đứng dậy dù đã nín khóc, Minh ngạc
nhiên hỏi :
- Sao, tính ngồi trong
góc tối này luôn à ?
Con bé ngần ngừ một
lúc rồi lại khóc thút thít :
- Cái quần ... đâu mất
tiêu rồi !
Minh sực hiểu. Mặt
anh đỏ bừng, vội vàng anh quay về chỗ, lấy
từ chiếc túi xách đầu gối ra một chiếc quần
đùi đem lại cho con bé. Ngoài thứ ấy, con bé quá nhỏ
con để có thể mặc được thứ gì khác.
Khi đã hoàn hồn,
con bé bắt đầu kể chuyện về mình.
Mẹ mất từ
lúc chấm dứt chiến tranh, bố bị tù quân lao
Gò Vấp từ năm 1973 ... Châu - tên con bé, cùng hai đứa
em tá túc nhà bà con ở thị xã Tam Kỳ. Đến lúc
không còn cưu mang nổi, gia đình người bà con ấy
tống khứ ba chị em ra đường với lời nhắn
nhẹ :
- Vào Sài Gòn mà
tìm ba của tụi bây !
Vào đến Sài Gòn,
Châu để hai em ở lại một nhà ga rồi đi tìm
thứ có thể ăn được. Nó đi lạc suốt mấy ngày
mới tìm về được chỗ cũ. Hỡi ôi, hai đứa
em đã biến mất !
Cho đến hôm nay, con bé
đã lang thang khắp Sài Gòn để tìm em và không
dám đi đâu xa hơn khu vực nhà ga, mong sẽ gặp lại hai đứa
em ... Cũng đã vài lần con bé bị bọn xấu
tìm cách giở trò đốn mạt nhưng đều có người
can thiệp ...
Nhận ra con bé rất
xinh xắn, Minh buột miệng :
- Cháu năm nay bao nhiêu tuổi
rồi ?
- Dạ con mười
lăm ! Châu nhỏ nhẹ đáp.
Minh giật mình.
Quả thực anh không ngờ con bé loắt choắt như đứa
bé mười hai, mười ba lại có tuổi mười lăm !
Nếu vậy, cuộc sống lang thang theo kiểu đầu
đường xó chợ này đối với con bé quả là không ổn !
***
Buổi sáng Minh đi làm
hơi muộn. Anh đưa con bé đến một nhà người quen để
gởi tạm. Trước khi đi, anh dặn dò :
- Châu cứ ở đây đợi
chú, chú đi làm về sẽ qua đón ...
Cuối buổi làm việc,
Minh thu dọn dụng cụ xong và đến gặp ông chủ.
Nhận ra vẻ rụt rè trong cử chỉ của anh, ông
chủ hỏi luôn :
- Có chuyện gì vậy
cháu ? Cứ nói đừng ngại ...
- Dạ cháu muốn
vay trước ít tiền rồi làm việc trừ lại sau
... Minh đắn đo một lúc mới thốt ra lời.
Ông chủ bật cười
ha hả. Sau cùng ông giải thích trước vẻ ngơ ngác của
Minh :
- Từ hôm chú vô làm đến
nay tui cứ thắc mắc hoài, sao chú này không thấy xài tiền
... Chờ hoài tới bây giờ mới thấy hỏi tiền !
Thực ra ... Ông ngừng lại một chút rồi tiếp :
- Tiền lương ở
đây được tính công nhật và cuối tuần là đưa, thấy
chú không hỏi, bà xã tui bàn cứ giữ lại cho chú,
sau này chú lấy vợ !
Số tiền lương tích
lũy được ông chủ trao cho Minh hóa ra khá nhiều. Anh cứ
ngỡ là sẽ rất ít nên ngoài hai bữa cơm ký sổ
nợ ở quán đối diện cơ sở, anh chẳng dám xài
gì gọi là cho có xài ... Số tiền dằn lưng lúc rời
quê vợ ra đi đã cạn sạch từ hôm qua ...
Thế là, Minh trở về
nhà quen đón con bé Châu. Cả hai ra chợ Bến Thành, Minh mua
cho con bé vài bộ quần áo và, như đã suy nghĩ khá kỹ,
anh tìm thuê một căn nhà nhỏ nằm ven kinh Nhiêu Lộc
cất bằng ván tạp và tôn mục với giá rẻ đến
độ không còn có thể rẻ hơn. Mua sắm thêm vài thứ
lặt vặt và đong gạo, nước mắm ... số tiền
lĩnh lương của Minh coi như "xong xuôi".
Căn nhà nhỏ xíu nhưng cũng
được Minh ngăn làm đôi. Phía ngoài rộng hơn một chút được
anh dùng làm phòng khách dù biết rằng chẳng bao giờ
có bạn bè gì và đồng thời nơi này, mỗi tối
được anh móc lên chiếc võng cực lớn của Mỹ
... Anh đã quen với cách ngủ võng từ thời
còn là một trung sĩ bộ binh nên tỏ ra hết sức
thich thú với chiếc võng dù dành cho biệt kích này.
Võng có cả mùng lưới hình tam giác, tha hồ chống
muỗi !
Phía trong tấm rideau vải
rẻ tiền là giang sơn của con bé Châu. Anh mỉm cười
giải thích cho con bé :
- Phải cho cháu một
chiếc gường riêng rộng rãi để sau này nếu
gặp lại hai đứa em mới có chổ cho tụi nó chứ
... phải không ?
Con bé chớp chớp
mắt cảm động. Thực vậy, cứ buổi chiều
đi làm về, Minh lại đưa con bé cùng ra nhà ga Sài Gòn ...
- Biết đâu gặp lại
mấy đứa nó ? Minh nói.
Mỗi bận đi rồi
về không thấy tăm dạng của những đứa em,
Châu đều rơm rớm nước mắt. Những lúc ấy
Minh chỉ biết thở dài...
Bước ngoặt trong
cuộc đời anh chàng phế binh chế độ cũ hai
mươi bảy tuổi không ít,nhưng làm thay đổi hẳn toàn bộ
cuộc sống của anh, có lẽ chỉ có một lần.
Đó là một buổi trưa, Minh đang lùa vội những muỗng
cơm cuối cùng để trở về thực hiện dứt
điểm một bức vẽ cho quán càfé mới mở.
- Anh Minh ơi, có người
tìm... Cậu bé học việc chạy sang bảo.
Đó là người đàn ông
trung niên với mái tóc hoa râm và ăn mặc hết sức lịch
sự. Ngay sau khi tự giới thiệu là "một
người làm ăn" bình thường, ông ta hỏi
luôn :
- Anh có phải là người
thực hiện bức tranh khắc gỗ của câu lạc
bộ không ?
- Vâng, có chuyện
gì không anh ? Minh lễ phép hỏi lại.
- Nếu như khắc gỗ
bức tranh ấy với tỷ lệ cực nhỏ nhưng
chính xác hoàn toàn đến từng chi tiết, ông thực hiện
được không ?
- Tất nhiên thưa ông,
nhưng thời gian có lâu hơn khắc lớn như kích thước
nguyên bản và...
- Tiền công đắt
hơn ? Ông khách mỉm cười hỏi.
- Vâng, nhưng cũng chẳng
chênh lệch gì nhiều ! Minh đáp.
- Anh vẻ rồi khắc
trên kim loại được chứ ? Như đồng chẳng hạn
...
- Với mỗi loại
chất liệu lại có những phương pháp riêng thưa ông,
nhưng tất cả đều nằm trong khả năng của tôi
...
Người khách tỏ vẻ
hài lòng và đặt ngay hai bức khắc thu nhỏ của
tác phẩm "Mẹ Âu Cơ và trăm con" bằng chất
liệu gỗ và đồng. Kích thước của mỗi bức
chỉ bằng một ... quyển tự điển bỏ
túi, nhưng giá trị thì cực kỳ ngon lành. Ông ta
còn hứa thưởng nữa cho Minh nếu giao hàng sớm...
Hai ngày hôm sau Minh giao
hàng và tiếp tục nhận được lời đặt mua một
bức khắc kẽm hết sức tỉ mỉ và dĩ
nhiên, rất được giá !
Sự thân mật tăng
dần khi ông Già Tư - tên vị khách theo lời tự giới
thiệu, liên tục rủ Minh đi nhậu mỗi buổi
chiều khi xong công việc. Cho đến một ngày, Già Tư đến
nhà Minh thuê để thăm anh theo lời mời.
- Sao lại ở chỗ
tệ thế này ? Không được rồi ... Già Tư thốt
lên.
Bằng tất cả
những lý lẽ đầy thuyết phục, Già Tư thuê
cho Minh một căn phòng khác khang trang hơn và rộng gần
gấp đôi căn nhà ọp ẹp nọ. Chẳng những vậy,
ông ta còn quyết định "giúp đỡ" Minh
bằng cách bán trả góp cho anh chiếc honda DD70, loại xe
đắt nhất trên thị trường lúc bấy giờ. Ngay
buổi ăn mừng xe mới, Già Tư mới ngỏ ý lúc
chuẩn bị ra về :
- Mình muốn cậu
giúp cho mình một việc ...
Khi biết được Già
Tư muốn nhờ anh khắc một con dấu đồng theo
mẫu mã trên giấy chứng nhận, Minh hiểu rằng
anh đã thực sự "vào thế".
Con dấu đầu tiên
được Già Tư "bồi dưỡng" cho Minh bốn
chỉ vàng 24 K, sau đó theo gợi ý của ông ta, Minh bắt
đầu theo một tay cao thủ - bạn của Già Tư, để
học môn in lụa và tráng rọi phim lá ...
Sau nửa năm "cộng
tác" với nhóm của Già Tư, Minh trở nên giàu sụ.
Một ngày giáp Tết, Minh sắp xếp công việc ở
cơ sở vẽ bảng quảng cáo để có thể nghỉ
được vài ngày. Anh về nhà bảo con bé Châu - lúc này đã
lớn phổng phao ra dáng một thiếu nữ :
- Chuẩn bị đi
công chuyện với chú ...
Ngồi trên chuyến
xe khách cuối ngày trở về quê vợ, nơi xảy ra biết
bao chuyện buồn tủi và cay đắng đối với
mình, Minh nhìn ra phía trước, cố tập trung tư
tưởng để tính toán sắp xếp mọi việc phải
làm. Ngồi cạnh anh, con bé Châu cứ xuýt xoa trước
vẻ đẹp của những cánh đồng lúa trải dài bát
ngát như biển hai bên bờ quốc lộ. Con bé đã thôi
vẻ mặt u sầu tăm tối ngày anh mới gặp để
hoàn toàn lột xác thành một thiếu nữ xinh đẹp.
Con bé vui vẻ và sống động bên cạnh anh, một
gã phế binh trầm lặng ít nói, càng làm tương phản
hai cuộc sống của hai kẻ không may ...
Về đến thị
xã, Minh mua sắm một ít đồ đạc và bắt đầu
dặn dò con bé.
- Sao chú không vào để
trực tiếp nói chuyện ? Châu thắc mắc.
Anh cốc đầu con
bé một cái rồi nói, như một tiếng thở dài :
- Tất nhiên cũng
có lý do để không thể vào gặp trực tiếp,
ai không muốn cơ chứ !
***
Mới rời bỏ
quê vợ chưa đầy một năm nên hầu như chẳng có
gì thay đổi từ cảnh vật đến cách bày trí
trong nhà. Minh đảo qua một cách kín đáo cùng con bé Châu rồi
trở về. Phần việc còn lại là của con
bé...
- Dạ con hổng biết,
có người biểu con mang lại cho con tiền ! Châu trả
lời tỉnh rụi theo lời dặn dò kỹ lưỡng
của Minh.
- Bây giờ người
đó đâu rồi ? Năm Lan hỏi.
- Người đó sau khi cho
con tiền rồi đi mất tiêu ! Châu trả lời.
Năm Lan thừ người
suy nghĩ. Cô vừa về nhà hôm qua để Út Huệ đi Sài
Gòn tìm Minh. Trớ trêu thật, cô nghĩ, ngay lúc
này thì Minh lại quay về để gởi quà, tiền
cho con và bà mẹ vợ tốt bụng. Đúng như cô nhận định
từ buổi ban đầu, Minh là người sống rất có
thủy chung và có đạo đức ... Dù đi xa bởi những
lý do mà đến giờ này Năm Lan vẫn chưa hiểu
rõ, anh ta vẫn nhớ đến trách nhiệm với con
và thậm chí, với gia đình vợ !
Năm Lan cũng lờ mờ
đoán ra, giữa hai vợ chồng Minh ắt đã có chuyện
gì đó dẫn đến đổ vỡ chứ không đơn giản
Minh ra đi, nhưng hễ cô đề cập thì Út Huệ lắc
đầu nguầy nguậy với đôi mắt đỏ hoe. Riết
cô đâm ra không muốn hỏi dù có linh cảm việc đổ vỡ
của vợ chồng cô em út có dính líu đến ông chồng
mình. Bà mẹ, từ ngày Út Huệ về quê với đứa
cháu ngoại, bà khỏe lên trông thấy. Ba đứa con hy sinh
trong chiến tranh đã dẫn đến việc mù lòa
của bà, niềm an ủi duy nhất cuối đời của
bà là sự trở về của đứa con út. Thế nhưng,
đứa con rể rất có hiếu đễ và trầm lặng
của bà lại bỏ đi mất, bà không hiểu vì sao
nhưng chắc là có chuyện gì đó với chồng con
Năm ! Mỗi lần nhắc đến con rể út, bà cứ
thở dài sườn sượt.
Khi con bé mang giúp quà
đã đi mất, Năm Lan và bà mẹ bắt đầu soạn
gói quà.
Đôi gò má nhăn nheo của
bà cụ chợt chảy dài hai giòng nước mắt khi
bà cầm lấy món quà của đứa con rể út. Nó hiểu
bà đến độ, món quà dành cho bà là chiếc radio cassette Sony
nhỏ xíu và ba cuộn băng cải lương !
Năm Lan cũng xúc động
không kém khi đọc mảnh giấy ghi tên người nhận
quà là cô... Minh rõ là người thật ý tứ, anh gởi
cho cô chị vợ một đôi giày cao gót để thay cho đôi guốc
gỗ đã mòn vẹt nước sơn. Đúng là thứ cô cần
nhưng chưa bao giờ dám bỏ tiền ra mua do thói quen cần
kiệm.
Quà dành cho con bé Thảo,
ngoài chiếc cặp táp da - thứ mà còn lâu lắm con
bé mới đến tuổi sử dụng, là một phong
bì dày cộm toàn tiền giá trị lớn và mới
toanh. Bên cạnh đó, một hộp nhỏ đựng đồ
trang điểm của Hồng Kông và chai nước hoa Tabou hết
sức đắt tiền được Minh gởi cho vợ. Tất
cả đều vắn tắt tên người nhận ... Đặc
biệt, có một gói nhỏ đựng cục xà bông Camay và
cây bút Pilot, gởi cho... Ba Tí !
Sực nghĩ ra một
chuyện, Năm Lan vội chạy ra cổng. Lát sao cô quay vào,
vẻ mặt đầy thất vọng.
- Gì đó Năm ? Bà
Mẹ hỏi.
- Dạ con chợt nhớ
ra ... con bé mang quà đến lạ hoắc, chắc chắn do
dượng út kêu đến từ Sài Gòn chớ đâu phải
dân ở đây, vậy là nó phải biết dượng út ở
đâu, con muốn hỏi thăm công chuyện làm ăn sinh sống của
dượng út cho biết ! Năm Lan trả lời.
Buổi chiều, Ba Tí
đến nhà. Khi biết Minh có về để gởi quà cho gia
đình vợ, anh ta có vẻ sốt ruột. Nại cớ
có công việc, Ba Tí quay trở lên tỉnh và cho người đi
tìm tung tích của Minh. Cũng may, Minh và con bé Châu
đã rời phòng trọ lên xe về Sài Gòn trước
đó hai tiếng đồng hồ.
- Lần sau tụi bây
gặp nó về cứ bắt lại, đem về đây tao
tính ! Ba Tí hạ lệnh. Lúc này anh ta đang thuận lợi
đường công danh, nghe nói có quy hoạch về ban giám đốc
công an tỉnh trong nhiệm kỳ sắp tới...
***
- Lan Huệ sầu ai
Lan Huệ héo, Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi ...
Minh ca lớn ù bằng giọng khê đặc của một đệ
tử lưu linh đã ngấm ... Từ lúc quay lên Sài
Gòn, anh uống rượu suốt. Lúc thì rủ Già
Tư, lúc đến cơ sở "uống chút dỉnh" với
ông chủ, lại có lúc lôi cả đám thợ học việc
đến nhà gầy cuộc nhậu. Cũng may đã sát Tết,
mọi công việc đã dứt điểm và thôi nhận hợp
đồng nên mới chẳng ảnh hưởng gì đến
cơ sở của ông chủ ... Người bị ảnh hưởng
trực tiếp lại là con bé Châu !
Mọi chuyện, từ
những chi tiết lặt vặt cần thiết cho cuộc
nhậu đến công tác dọn bãi chiến trường của
đám đệ tử lưu linh bỏ lại, thậm chí đến những
ô uế của Minh sau cuộc "chiến đấu"
đều dựa vào sự siêng năng cần mẫn của con
bé. Châu chẳng nề hà gì nhưng thực sự nó cảm
thấy đau xót thay cho Minh ... Nó biết, anh ta buồn chuyện
vợ con nên sinh ra bê tha phí đời !
- Chú đừng nhậu nữa
có được không ? Cứ kéo dài như vầy, con nghi chú tiêu
quá ! Con bé nhân một lúc Minh hơi gọi là tỉnh táo.
Minh nhìn con bé với
ánh mắt đầy xúc động. Anh đã quen rồi với
sự thờ ơ ghẻ lạnh của con người đối với
anh. Thân phận của một kẻ tồn tại như một
cái bóng với ánh sáng của chế độ mới đã buộc
anh phải rúc sâu vào vỏ ốc của mình hầu bớt
đi nỗi đau đớn khi bị xúc phạm. Lâu dần trở
nên quen thuộc và tập tính đã biến thành cá tính, anh
trở nên chai lì cảm xúc và quên dần cái tôi của
mình đã có một thời đầy tự hào, thời
của một tuổi trẻ có nhiệt huyết và tài hoa.
- Ừ, thì để
chú bớt lại... Minh hứa với con bé.
Mới hứa buổi
sáng, đến giờ chiều, vài ông bạn nhậu đã đến
rủ rê...
Gần mười giờ
đêm Minh được đưa về nhà trong tình trạng say khướt,
thân thể rủ ra như tàu lá héo. Con bé phụ với những
ông bạn nhậu để đưa Minh vào được giường trong
khi các "tửu đồ" rút lui, con bé lui cui pha nước
lau mặt cho Minh. Vừa dọn dẹp nhà cửa vừa
nhìn Minh nằm như một xác chết, con bé nước mắt
lưng tròng, lầu bầu :
- Vậy mà hứa bớt
nhậu ! Bớt kiểu gì kỳ ...
Nửa đêm Minh thức
giấc. Anh lọ mọ đi xuống bếp uống nước
... Chợt nhớ ra, Minh đi lên nhà bật đèn sáng ... Con bé Châu
đang nằm chèo queo dưới nền gạch bông phòng
khách, tấm mền mỏng bị đạp xuống chân lọt
vào một góc gầm tủ.
Dậy đi, vào trong giường
mà ngủ ... Sao nằm dưới đất ? Minh lay con bé dậy.
- Con để chú ngủ
giường, con ngủ võng ... Ai ngờ ngủ võng
đau lưng quá trời nên con xuống đất ngủ luôn... Châu trả
lời trong lúc còn ngái ngủ ...
- Thôi vào trong ngủ, để
chú ra ngoài này ngủ võng được rồi ... Minh nói.
Con bé ậm ừ mấy
tiếng rồi vẫn nhắm tịt mắt. Tuổi đang
lớn dễ gì tỉnh ngủ được ngay. Gọi
thêm mấy tiếng không thấy con bé trả lời, Minh
phát hiện con bé đã ngủ lại, thở đều !
Anh bất giác mỉm
cười. Nhìn con bé nằm phong phanh trên nền gạch,
Minh cảm thấy không ổn. Anh cúi xuống xốc con bé
lên cánh tay còn lại của mình, cánh tay cụt cũng
đở với gáy của nó ... Cứ thế anh đi thẳng
vào phòng trong đặt con bé xuống giường ... Quay ra lấy
tấm mền vào, Minh đắp lên mình con bé rồi quay
ra xổ tấm võng xuống ... Anh ngủ lại thật
nhanh.
Đúng mồng hai tết,
Minh bị đưa đi cấp cứu ở bệnh viện đa khoa
Gia Định ... Cũng như mọi khi, anh nhậu từ sáng sớm
ở nhà một người bạn cùng nghề vẽ quảng
cáo. Đến trưa, anh lại nhậu cùng Già Tư và các chiến hữu
đặc biệt, chợt anh ho rủ rượi và nôn ra máu !
Cũng may, sau khi chiếu
X quang và khám điều trị cả tuần lễ, các bác sĩ
mới xác định được anh chỉ xuất huyết dạ
dày, không phải là lao phổi ... Dĩ nhiên, chẳng cần
đến ai bảo ban khuyên nhủ, Minh giã từ các cuộc
nhậu túy lúy càn khôn kể từ hôm ấy ... Kẻ mừng
nhất là con bé Châu. Kể từ lúc Minh sa đà nhậu nhẹt,
gần như anh đã quên bẵng việc chở con bé ra ga
Sài Gòn để tìm tung tích những đứa em lưu lạc
vào mỗi chiều.
Sau khi bình phục,
Minh trở lại với công việc của mình. Anh vẫn
tập trung vào cơ sở vẽ bảng quảng cáo và tránh né
việc "cộng tác" với nhóm Già Tư. Anh sợ,
với một kẻ có lý lịch như anh, nếu vở
lở - giá phải trả dĩ nhiên là rất nặng nề !
Thời gian này, một
sự việc thú vị xảy ra đối với cái gia
đình nhỏ bé của anh. Con trai út của ông chủ cơ
sở vẽ bảng quảng cáo, một hôm đến nhà
tìm Minh có việc gấp nhưng không gặp. Tiếp cu cậu
là con bé Châu...
Đối với anh, Châu
vẫn còn là đứa bé con nhưng trong thực tế - con
bé đã trổ mã và đẹp lạ lùng ! Chỉ
hơn một năm kể từ ngày gặp Minh và về sống
như một đứa con nuôi ở nhà, con bé vụt lớn hẳn
lên và nẩy nở thành một thiếu nữ đẹp mặn
mòi. Trong con mắt của mọi người, con bé hứa
hẹn sẽ làm điên đảo khối anh chàng háo sắc... Chỉ
có riêng một người không nhận ra và cũng không bao giờ
để ý để nhận ra là Minh. Cậu con trai của
ông chủ mê con bé tít thò lò và liên tục tìm cớ
lui tới nhà anh để được gặp và nói chuyện tào lao
với con bé. Năm nay cậu chỉ vừa hai mươi tuổi,
còn quá sớm để nói đến bất kỳ chuyện
gì... Vậy mà một buổi đẹp trời - cậu
đã bặm gan thú thật với Minh để xin "được
yêu" con bé !
Thằng si tình
con ông chủ vừa về, Minh vừa buồn cười vừa
suy nghĩ một giải pháp nghiêm túc cho vấn đề thoạt
nhìn tưởng chừng như đơn giản. Anh gọi con bé
lên nhà trên, hỏi nó với bộ mặt cố lấy vẻ
nghiêm trang :
- Thằng Luận mới
nói chuyện với chú, nó xin được đến để tìm
hiểu... tức là ... đặt vấn đề để yêu Châu,
cháu nghĩ sao ?
Châu cau mày. Con bé không
thích Luận, cậu ta còn quá trẻ con đối với
nó, nhưng từ chối thẳng thừng liệu có tiện
không khi cậu ta là con ông chủ của Minh ? Con bé cắn
môi một lúc mà chẳng biết phải mở miệng trả
lời làm sao.
Gật gù như đã hiểu
ý con bé, Minh nói luôn :
- Vậy được rồi...
Cháu im lặng tức là đồng ý phải không nào ?
- Không... Con không chịu !
Con bé phản đói bằng
giọng như muốn khóc :
- Con còn nhỏ
mà, nghĩ chi đến chuyện đó chú ơi !
Minh ngẩn người
nhìn con bé. Cũng đúng thôi - có đứa cỡ tuổi này
đã bồ bịch lung tung thậm chí có khi phải lén
lút "đi giải quyết hậu quả", nhưng cũng
có đứa "chẳng biết mẹ gì"... kể
cả xấu hổ !
- Cháu cũng lớn rồi,
bắt đầu suy nghĩ cho tương lai của mình là vừa
rồi ! Minh nói một cách ỡm ờ có tính nước
đôi vì anh thực sự cũng chẳng phải là người
có kinh nghiệm gì cho lắm trong những việc đại
loại như vậy.
- Chú ơi... Giọng con
bé chợt nhỏ nhẹ trong lúc gương mặt đỏ lừng
và đôi bàn tay xoắn lấy nhau trước ngực.
- Gì ? Minh hơi
ngạc nhiên trước vẻ bẻn lẻn khác thường của
con bé.
- Con muốn chú giúp con
một chuyện ... Chuyện này con mơ ước lâu lắm rồi
mà chưa dám nói ! Con bé nói một cách rụt rè.
- Cháu cứ nói, nếu
được chú giúp ngay... Minh đáp.
- Con muốn được học
nghề uốn tóc với trang điểm cô dâu ! Con bé nói.
Minh ngẩn người
trước đề nghị của con bé. Quả là anh dở ẹt !
Một cái nghề khả dĩ nuôi sống con bé thế mà
anh không nghĩ ra để tạo điều kiện cho nó đi học,
để đến lúc nó nói anh mới thấy hết sự đề
nghị này ! Thấy anh im lặng, Châu tưởng anh không
đồng ý, nó vội nói :
- Đó là con nói vậy chớ
nếu không được cũng tốt thôi chú ơi ! Con ở
nhà nấu cơm cho chú về ăn hàng ngày cũng được rồi ...
Anh xua tay. Anh châm một
điếu thuốc hút chậm rãi rồi nói với giọng
ôn tồn :
- Từ mai chú sẽ
đưa cháu đi học nghề, buổi trưa chú đón về bên chỗ
làm của chú ăn cơm ... Chiều về đi qua chợ mua đồ
ăn về nấu ăn cơm sau ... Rồi, sắp xếp cứ
như vậy mà thực hiện !
Con bé lặng nhìn
anh, lòng tràn ngập cảm xúc, vừa biết ơn, vừa
thương mến. Thế là từ sau hôm ấy, con bé được đưa
đi học nghề uốn tóc trang điểm cô dâu theo đúng mơ ước
và việc này, dĩ nhiên tiêu tốn của Minh một khoản
không nhỏ.
- Chú mầy phải nhẫn
nại mới được, ít ra cũng phải đợi con bé học
xong cái nghề rồi chú mầy hãy đến mà nói tiếng
yêu thương với nó, tao nghĩ vậy ! Minh khuyên cậu
con trai ông chủ khi nó tiếp tục lui tới tán tỉnh
con bé Châu...
(Còn tiếp)
Nguyễn Minh
Một Ngày
Như Mọi Ngày
... Của Tuấn !
Chuyện
ngắn của Nguyễn Tuấn
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
Chẳng cần một hồi
kẻng đánh thức, cũng chẳng cần ai lay chân..., Tuấn
vẫn cứ thức giấc và đi xuống sàn nước lĩnh
một ca nước sạch theo - tiêu chuẩn vào đúng 5 giờ
sáng. Không riêng gì Tuấn, hầu như chiếc đồng hồ
sinh học nào của 19 con người ở phòng K5 tạm
giam đều hoạt động chính xác đến từng phút, thậm
chí từng giây.
Nếu trên đời có một
loại hoạt động phong phú và đa dạng nhất, chính
là giờ tập thể dục sau đó của toàn bộ phạm
nhân đang ở trại tạm giam. Ở một góc
phòng, vài ông tóc bạc múa Thái Cực Quyền theo kiểu
ú ớ hoặc làm ít động tác gọi là Dịch Cân Kinh. Giữa
phòng là những chàng trai có vẻ khỏe mạnh (có vẻ
thôi nhé !) chạy huỳnh huỵch với đủ kiểu
vận động. Và trong một góc gần nhà vệ sinh là
nhóm "giang - hồ - gốc" chẳng buồn tập
thể dục, dù đó là quy định. Họ ngồi ngáp vắn
ngáp dài nhìn những người tập thể dục bằng
cặp mắt của một kẻ mộng du. "Báo
cáo anh buồng trưởng... tôi bị trộm !". Một
chủ vựa gạo kêu lên thảng thốt... Thế là buổi
tập được ngừng lại để nhóm đại diện
phạm nhân được cán bộ trại cắt cử, tiến
hành "điều tra truy xét" ! Tang vật
còn lại gồm một ít mì gói rơi vãi trên
sàn nước và bao bì của quà bánh được kẻ gian vùi
vào tận đáy thùng rác để phi tang. Trong phòng giam chưa đầy
30m2, kẻ gian không thể lẩn tránh đi đâu và "tai mắt"cũng
không ít nên chỉ sau mươi phút, vụ án đã được khám phá
với những 5 thủ phạm. Thay cho giờ đọc báo
Nhân Dân và báo địa phương hàng ngày, toàn thể phạm nhân
trong phòng được triệu tập để họp và hành.
Một biên bản được xác lập với đề nghị
của đa số : "Kỷ luật thật nặng
những "kẻ-đi-chợ-đêm"". Ngay cả
trong một biên bản nghiêm túc để chuyển đến Ban
Quản Giáo, từ lóng chỉ việc Trộm của phạm
nhân với nhau là "Đi-Chợ-Đêm" vẫn được
dùng một cách đầy ấn tượng ! "Các Tổ
lãnh nước sôi !" Anh chàng trực sinh ngày hôm ấy
dõng dạc. Bên cạnh việc chà rửa nhà vệ
sinh, đổ rác cho phòng theo hình thức luân phiên, "trực
sinh" cũng có những giây phút trở nên quan trọng
là giờ chia cơm phát nước.
Mỗi người tự "chế
tạo" lấy cho mình một món điểm tâm và đều
có vẻ tự đắc khi dùng những món... "hổng-giống-ai" !
Tất nhiên, có những anh chàng "Con-Bà-Phước"
(không gia đình thăm nuôi) sẽ phải dùng bữa sáng với
Bánh Ngáp và Phở Ngóng. Nhưng thi thoảng việc giúp đỡ lẫn
nhau không phải là không có nên cũng sống được ! Việc
giúp đỡ ấy dù là một việc rất người nhưng
khổ nỗi lại bị nghiêm cấm nên để thực
hiện lòng bác ái phải được giữ kín. Nguyên nhân
của sự cấm đoán ấy, cũng là do bọn đại
bàng đầu gấu dùng cái gọi là giúp đỡ lẫn nhau để
bóc lột những phạm nhân yếu thế hiền lành.
Sau giờ dùng bữa sáng tự
túc, tất cả phạm nhân đều phải ngồi nghiêm
túc, cách vách tường 20cm để tránh ngủ gật và sau đó học
nội quy. Nội dung học chỉ bao gồm những quy
định của trại giam nhưng nếu như không thuộc như
cháo chảy dù chấp hành một cách nghiêm chỉnh, vẫn
bị những hình thức chế tài của trại.
Nguyên nhân chính của việc buộc phạm nhân học tập
thảo luận, hóa ra là để phạm nhân không có thì
giờ tụm năm tụm ba bàn chuyện không tốt. Thỉnh
thoảng cánh cửa sắt của phòng giam lại mở
ra để anh chàng trật tự gọi tên những ai phải
đi ra ngoài làm việc theo yêu cầu của cảnh sát điều
tra. Tất cả phạm nhân khi ra ngoài đều phải mặc
một bộ quần áo sọc, được gọi đùa là đồng
phục Juventus ! Cánh cửa sắt lại mở. Lần
này là một gương mặt đầy dầu mỡ thò vào để
hỏi lại về yêu cầu hâm nấu của
phòng. Để đảm bảo đồ ăn, quà bánh của gia
đình gởi vào không bị ôi thiu, phải bỏ ra vài
nghìn đồng để thuê "Tổ Hâm Nấu"
chế biến lại. Nhưng tất nhiên, do trù phòng
đã thực hiện đại trà nên cũng xảy ra lắm
chuyện dở khóc dở cười. Ngay như Tuấn đã
có lần phải ăn chè đậu xanh có hương vị càri và ăn càri
có mùi mắm ruốc !
Thỉnh thoảng tất cả
cánh mũi được vễnh lên để hít hà, để dáo dác
vì mùi thuốc lá thơm do cán bộ hút theo gió lùa vào... Từ
năm 1998, có lệnh cấm hút thuốc trong tất cả các
trại tạm giam đã làm giá thuốc mua theo con đường
"lậu" (hệt như bên ngoài) lên đến 600.000 đồng/gói
nếu là thuốc Jet, 1.000.000 đồng cho 1 gói 555 và 300.000 đồng/lạng
thuốc lào. Đã có lúc vi phạm nội quy ở trại
tạm giam lên đến 8-90% là vì hút thuốc và giấu
tiền vào mua thuốc hút. Việc ngăn cấm ấy là do áp
dụng biện pháp ngăn ngừa bọn tội phạm hút
chích tìm cách mang vào phòng giam ma túy. Nhưng dù có cấm
một cách triệt để, vẫn không phải là không có con
đường ma quỷ để tuồn vào. Ngày hôm nay, mọi sinh
hoạt thường nhật được tạm hoãn. Đơn giản
là : Ngày Thăm Nuôi !
Tuấn soạn giỏ và
bình lọ từ chiều tối hôm qua. Mãi đến
gần trưa, tên của Tuấn mới được xướng lên ở
ô cửa tò vò dù Tuấn biết chắc rằng
vợ của mình đã đến từ rất sớm.
Với hàng trăm hàng ngàn phạm nhân và lực lượng giữ
trật tự, kiểm tra giám sát chưa đến 40 người, như
thế cũng còn là may !
Ngăn cách với người thân bằng
một dãy bệ xi măng và tấm lưới, việc sờ
nắm được tay nhau hoặc bồng bế con cái, xem như
không thể. Cuộc gặp của Tuấn với vợ
con diễn ra theo quy định chưa đến 5 phút trong tiếng ồn
ào như Chợ Bình Tây và tiếng quát tháo của những
phạm nhân thành án được giao nhiệm vụ kiểm tra,
giám sát. Thỉnh thoảng, những trường hợp đặc
biệt cũng được trại cho gặp thêm một suất,
nhưng làm sao đủ với lòng mong nhớ giữa con người
và con người ? Tuấn cùng đoàn người quay lưng đi vào
không dám quay lại nhìn vì sợ rằng mình
sẽ khóc òa lên như một đứa trẻ con khi gặp
ánh mắt đau đáu dõi theo của người thân.
Tất cả quà cáp được
kiểm tra chặt chẽ đến mức, không thể lọt
vào kể cả một mẩu giấy vấn thuốc hoặc
một chiếc đinh ghim. Mọi thứ được sử dụng
trong trại tạm giam đều bằng nhựa...
Bữa ăn trưa với một
món thịt hoặc cá biển kho cùng một ít canh "đại
dương" (gọi thế vì toàn là nước với nước).
Vào ngày thăm nuôi, những món ăn của trại cấp đều
chẳng ai đụng đến dẫu đó là một đại gia hay
là một anh chàng bụi đời "Con Bà Phước".
Khi tiếng kẻng ngủ
trưa vừa vang lên, mọi sinh hoạt đều ngừng lại.
Dù có buồn ngủ hay không, thử đi lại khỏi nơi quy
định xem, lập tức không tránh khỏi một mức
độ kỷ luật nào đó.
Chiều đến, những
gương mặt chờ đợi chuyển dần sang thất vọng
và đau buồn khi tiếng kẻng nghỉ việc vang lên. Thế
là hết một ngày Giỗ Tổ - theo cách gọi của
phạm nhân chỉ ngày thăm nuôi.
Sau bữa ăn chiều, tất
cả đều xếp hàng chờ đến lượt đi tắm.
Kể cả những nơi được xem là tuyệt vời nhất
thì mức nước cấp phát dành cho việc tắm
táp cũng không quá 8 lít. Ở những nơi gọi là hơi bị
tệ, có khi chỉ được 3 lít. Ấy thế mà vẫn tắm
- mà là tắm có kỳ cọ, giặt khăn hẳn hoi !
Buổi tối có phần thoải
mái hơn. Phạm nhân túm tụm theo từng nhóm để nói chuyện
rù rì. Những câu chuyện bàn tán tập trung chỉ có
ba thứ : mức án của mình sắp phải nhận ;
chuyện quá khứ huy hoàng và tất nhiên, bàn về phụ
nữ ! Ở những phòng có vị trí thuận lợi,
hoặc là đối diện hoặc là sát vách với
phòng giam nữ phạm, luôn luôn có nhiều chuyện để
nói hơn.
Những cuộc tình "mì
- tôm, đường - tán" xảy ra không ít. Thư tình được
viết bằng giấy bao mì và thuốc ghẻ chuyển
qua lại bằng đủ kiểu, nhất là con đường
phơi phóng quần áo. Những vụ bị phác giác đều dẫn
đến một hình thức kỷ luật, nhưng... "thương
nhau mấy núi cũng trèo", huống hồ hình
phạt ! Những anh chàng Từ Hải không thiếu
gì cách lấy lòng người đẹp. Yêu cầu của
nàng, sau khi đã đưa ra được vài cử chỉ tỏ lộ
tình yêu biển cả ( ?) lập tức được
chàng đáp ứng. Vẫy bàn tay theo cách cá lội ? Trưa nay sẽ
gởi cho nàng cá chiên ! Búng tay như tôm nhảy ? Sẽ
có tôm rim ! Đập hai bàn tay vào hông ? Sẽ là gà rôti hoặc
luộc !
Đập dẹp một chiếc
đinh ghim và kiên trì mài mỏng, sẽ có ngay một kim
khâu và dùng chỉ rút từ khăn rằn ra, nàng may cho chàng một
chiếc áo gối bằng vải của bộ quần áo
ngủ. Thêu hai trái tim hoặc cặp bồ câu thô như ngỗng
Bắc Kinh, gởi cho chàng ? Thế là chàng tha hồ hao
tốn không ít quà bánh, những quà bánh mà vợ con chàng
đã nhịn ăn nhịn mặc gởi cho
chàng ! ! !
Chiều chiều, để được
chạy đến bên cửa tò vò nhìn sang "bên
nớ" và "bên nớ" nhìn sang "bên
tê" nháy nhó với nhau, cả nàng lẫn chàng đều
phải tiêu tốn không ít cho trưởng phòng và trật
tự khu. Tất nhiên khoản "tình - phí" ấy,
đều do hoặc chàng hoặc nàng, ai yêu nhiều hơn, người
đó đảm nhận. Để thông tin cho nhau, các phạm nhân sử
dụng hai cách. Hoặc đánh chữ bằng quạt hoặc
bằng ngón tay, mọi nội dung từ yêu đương đến
thông cung đều được thực hiện dễ dàng. Tuy nhiên,
ở một số trại tạm giam, không phạm nhân nào
dám sử dụng phương cách này. Không phải họ sợ bị
kỷ luật hoặc khó thực hiện mà là vì, cán bộ
ở đó đọc loại mật hiệu này còn nhanh và
chuẩn xác hơn tù !
Để tiễn một phạm
nhân ra tòa vào ngày mai, thường thì một party được
tổ chức với hầu bao của chính đương sự. Cũng
có ca nhạc hẳn hoi và thậm chí có cả nhảy đầm
một cách xôm tụ, tùy theo "đẳng cấp" của
kẻ tổ chức. Ban nhạc thường chỉ có một
người và nhạc khí là một chiếc xô nhựa để
úp lót phía trên một tấm chăn cho "ấm tiếng".
Giang hồ gọi kiểu này là "gõ bo". Phải
thành thực mà nói, một tay gõ bo siêu hạng như Hậu
bô chẳng hạn, sẽ làm cho cử tọa phải thực
sự kinh ngạc. Phùng Trọng thuở xưa cũng đến
thế là cùng ! Loại âm nhạc được sử dụng
có thể gọi là "một nền văn hoá boléro"
và là một kho tàng "sáng tạo ngôn ngữ". Bất
kỳ một bài nhạc nào, dù nghiêm túc hay lãng mạn
trữ tình, đều được xử lý để ra một
thứ nhạc hết sức đậm đặc tù tội, lưu
manh.
Cuộc vui nào rồi cũng
tàn, nhất là khi tiếng kẻng ngủ vang lên vào lúc 21giờ30.
Chỉ mươi mười lăm phút sau, tất cả đều yên ắng.
Tuy nhiên, chen lẫn trong tiếng ngáy râm ram khá nhiều tiếng
thở dài. Thậm chí nếu thính tai, có thể nhận ra cả
tiếng sụt sùi của ai đó đang nhớ vợ thương con...
Hay, xót xa cho chính mình ?
Nguyễn Tuấn