Báo Việt Nam Dân Chủ THÁNG 12/2004

Phá Vỡ Bức Tường Ngăn Cách (Nguyễn Ngọc Đức)

Du sinh Việt Nam : Nhịp Cầu Canh Tân Đất Nước (Đoàn Hùng)

Ca Sĩ và Giao Lưu Văn Hóa (Trần Đức Tường)

Hoàng Cơ Định Nghị Quyết 36 : Bước Lùi Quan Trọng Của CSVN Trong Năm 2004

Giáo Hội Tin Lành Mennonite Liên Tục Bị Đàn Áp

Tin Lành Khắp Nơi Kêu Gọi Cứu Giúp Mục Sư Nguyễn Khồng Quang

HT Thích Quảng Độ Bị Ngăn Cản Không Cho Đi Viếng Thăm HT Thích Huyền Quang

Cộng Sản Việt Nam và Tôn Giáo (Lê Trần)

Giá Trị Của Dân Tộc Việt Nam Đi Về Đâu ? ? ? (Nguyễn Thị Thanh Vân)

Những "Nghề" Mới Tại Việt Nam : Nghề ... "Đấm Người" Ở Xứ Thanh (Nam Thanh)

Thế Giới và Chúng Ta : Dân Ukraine Biểu Dương Sức Mạnh (Nguyễn Trúc Giang)

Những Ngày Rất Dài ... Của Tháng 11 năm 2004 (Bùi Xuân Quang)

Sức Nén Của Ngôn Từ (Hà Sĩ Phu)

Những Mẩu Kính Màu (phần 5) (Nguyễn Minh)

Một Ngày Như Mọi Ngày ... Của Tuấn ! (Chuyện ngắn của Nguyễn Tuấn)

 

 

 

Phá Vỡ Bức Tường Ngăn Cách
Nguyễn Ngọc Đức
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Tháng 11 vừa qua, thế giới kỷ niệm 15 năm sụp đổ của bức tường Bá Linh, chấm dứt tình trạng chia cắt Đông Tây giữa lòng dân tộc Đức. Trong suốt 28 năm, kể từ khi bức tường được dựng lên vào tháng 8 năm 1961, người Đức ở hai bên Đông và Tây Bá Linh vẫn tìm mọi cách để liên lạc với nhau, hỗ trợ nhau và đã tạo ra nhiều áp lực để buộc nhà cầm quyền Đông Đức lùi bước liên tục. Vào năm 1961, mọi sự liên lạc, gặp gỡ giữa Đông và Tây Bá Linh bị tuyệt đối ngăn cấm. Đến tháng 12/1963, nhà cầm quyền cộng sản Đông Đức đã phải chấp nhận cho hàng trăm ngàn người Tây Đức được sang bên Đông thăm viếng thân nhân, bạn bè vào các dịp lễ cuối năm. Cuối năm 1964, đến lượt một số người già cả tại Đông Bá Linh được phép sang phía Tây để gặp gỡ thân nhân của họ. Năm 1972, khi Đông và Tây Đức ký hiệp ước bình thường hóa bang giao trên một số lãnh vực, một số chương trình học bổng của Tây Đức đã cho phép nhiều sinh viên ở phía Đông sang du học, tu nghiệp. Chính sự liên hệ, giao tiếp ngày một mở rộng giữa người Đức ở Đông và Tây đã góp một phần quan trọng đưa đến sự sụp đổ bức tường Bá Linh.

Hiện nay, hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam cũng có những nét tương tự. Biến cố 30/4/1975 đã vô tình chia cắt dân tộc ta thành hai bộ phận. Trong thập niên đầu tiên sau biến cố này, đảng cộng sản Việt Nam (CSVN) cũng thiết lập một bức tường, tuy vô hình, nhưng vô cùng chặt chẽ, nhằm cách ly hai bộ phận trong ngoài của dân tộc Việt Nam. Hậu quả của chính sách "tự cô lập" này ai cũng nhìn thấy, đó là tình trạng tụt hậu về mọi mặt của Việt Nam. Đứng trước nguy cơ phá sản toàn diện, đảng CSVN buộc phải mở cửa ra với thế giới bên ngoài và khi khối Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, Hà Nội phải xoay chiều với tốc độ nhanh hơn, tìm chỗ dựa ở những nước tư bản, kể cả kẻ thù cũ là Hoa Kỳ. Từ đó, bức tường ngăn cách trong ngoài không còn kín bưng như trước, mà đã có những sự liên hệ, giao tiếp giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước ngày một nhiều hơn và ngày một mở rộng hơn.

Hiện tượng này trước hết cần nhìn thấy như là một thất bại của đảng CSVN. Họ đã thất bại như đảng cộng sản Đông Đức đã thất bại khi muốn ngăn cách người dân ở hai bên Đông và Tây Bá Linh. Hiện tượng này còn được nhìn thấy như là một thắng thế của dân tộc Việt Nam, khi bạo quyền đã mất dần khả năng cô lập, giam hãm đại khối đồng bào trong nước. Và sau cùng, hiện tượng này cũng cần được nhìn thấy như là một lợi khí đấu tranh cho dân chủ, vì nếu sự liên hệ, giao tiếp và hỗ trợ giữa hai bộ phận của dân tộc ngày được mở rộng, khả năng kiểm soát của guồng máy độc tài sẽ bị thu hẹp và sức mạnh đấu tranh cho dân chủ của người Việt Nam sẽ ngày một gia tăng.

Hẳn nhiên, đảng CSVN cũng nhìn thấy những yếu tố bất lợi đối với họ, khi sự trao đổi trong ngoài được mở rộng. Nhưng trước xu thế chung của thời đại, đảng CSVN không thể quay đầu về lối cũ, nên họ buộc phải xuôi theo xu hướng mở rộng này, nhưng tìm cách khai thác và lủng đoạn. Họ khai thác nguồn tài lực và nhân lực đến từ bên ngoài để củng cố chế độ. Họ lủng đoạn tâm lý của người Việt Nam, tạo ra những nghi kỵ, những hố sâu để phá vỡ sự đoàn kết. Đây là ý muốn của đảng CSVN, nhưng thực hiện được hay không, lại là chuyện khác.

Hiện nay, hàng ngũ đảng CSVN không còn được kết lại bằng sự keo sơn của một lý tưởng cao đẹp, mà họ đang kết với nhau bằng quyền lợi. Vì quyền lợi, họ có thể tương nhượng, thỏa hiệp để cùng tồn tại. Nhưng cũng vì quyền lợi, họ có thể đấu đá và thanh toán nhau không tương nhượng. Đây là lý do mà nạn tham nhũng, bè phái chỉ có thể ngày một leo thang theo đà mở rộng sự giao tiếp với thế giới bên ngoài. Nguồn tài lực và nhân lực đến từ ngoài, trở thành con dao hai lưỡi, vừa giúp cho chế độ có thêm phương tiện củng cố, nhưng đồng thời cũng phá nát giềng mối của chế độ từ bên trong. Trong khi đó, với sự mở rộng ra với thế giới bên ngoài, đồng bào trong nước vừa có thêm điều kiện để cải thiện đời sống kinh tế, vừa mở mang về mặt trí tuệ, đặc biệt thấy được sự thành công của các nước tiền tiến hiện nay hoàn toàn là vì họ đã xây dựng xã hội dựa trên nền tảng dân chủ đa nguyên. Do đó, thành phần có lợi nhiều nhất trong sự mở rộng giao tiếp trong ngoài không phải là chế độ CSVN, mà chính là đại khối dân tộc Việt Nam.

Về sự lủng đoạn tâm lý, Hà Nội đã và đang cố tình tạo sự nghi kỵ giữa người Việt Nam với nhau. Hầu hết du sinh ở trong nước ra đều được gieo trong đầu về một hình ảnh rất đen của cộng đồng người Việt hải ngoại. Nên trong giai đoạn đầu, họ không dám chủ động đến với cộng đồng, sống co cụm và tự cô lập với những người Việt chung quanh. Trong khi đó, cũng có những người Việt hải ngoại, xem hầu hết những du sinh trong nước ra là người của chế độ, nên đã nhìn với cặp mắt nghi kỵ, không đối xử với họ bằng tình đồng bào và lòng nhân bản.

Sự lủng đoạn tâm lý này sẽ được hóa giải một cách dễ dàng khi người Việt Nam luôn luôn nhắc nhở nhau là phải biết phân biệt rõ rệt giữa chế độ độc tài và dân tộc Việt Nam. Nhắc nhở nhau là không phải ai sống ở trong nước cũng đều là người của đảng CSVN. Nhắc nhở nhau là đại khối đồng bào đang sống trong khung của chế độ độc tài cũng đang có những nỗ lực đa dạng để dần dần vượt thoát và phá vỡ cái khung độc tài đang kiềm hãm họ.

Nhắc nhở nhau như vậy để có sự chọn lựa dứt khoát, như người Đức ở Bá Linh đã chọn lựa sau năm 1961, đó là bằng mọi cách mở rộng sự liên hệ, giao tiếp giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước, hỗ trợ và giúp đỡ nhau, để vừa tăng cường sức mạnh đoàn kết, vừa tạo ra những sinh hoạt ngày một đa dạng, ngày một độc lập với guồng máy cai trị của chế độ độc tài. Đây là phương cách hữu hiệu để phá vỡ bức tường ngăn cách mà đảng CSVN đã tìm cách dựng lên giữa người Việt Nam. Khi bức tường này bị phá vỡ, chế độ cộng sản chắc chắn sẽ cáo chung, như nó đã cáo chung trên nước Đức cách đây 15 năm.

Nguyễn Ngọc Đức

 

 

 

Du sinh Vit Nam : Nhp Cu Canh Tân Đất Nước
Đoàn Hùng
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Theo số liệu trong nước thì tính đến mùa hè năm 2004, số sinh viên Việt Nam đang du học tại khoảng 30 quốc gia lên đến gần 40 ngàn người, qua ba diện khác nhau. Thứ nhất là những người ở dạng đi tu nghiệp, thực tập do sự hợp tác giữa các trường đại học Việt Nam với các trung tâm nghiên cứu quốc tế. Thứ hai là những người ở dạng nghiên cứu hậu đại học do một số trường đại học hoặc do một số quốc gia tiên tiến cấp học bổng qua những chương trình hỗ trợ giáo dục cho Việt Nam. Thứ ba là những người đi học tại các trường đại học do nhận được học bổng của chính phủ nước ngoài, của chính quyền Hà Nội hoặc do tự túc của gia đình. Trong ba thành phần này, dạng thứ ba là đông nhất và cũng là lứa tuổi trong sáng nhất vì là tuổi trẻ, mong muốn xây dựng tương lai vững chắc cho mình và ít nhiều mang hoài bão góp phần xây dựng xã hội, đất nước.

Tháng 8 vừa qua, Bộ Giáo Dục - Đào Tạo của Cộng sản Việt Nam đã ban hành một chỉ thị là nếu những du học sinh nào không chịu về nước sau khi hoàn tất học trình thì sẽ phải hoàn lại tất cả những khoản tiền giúp đỡ của chính quyền trong thời gian du học. Sự kiện này cho thấy là số người thành tài sau khi du học trở về nước quá ít khiến cho Hà Nội đã phải tung ra biện pháp "răn đe" nhưng rồi cũng sẽ không giải quyết được vấn đề, vì ba lý do sau đây :

- Thứ nhất là những người đã thoát ra khỏi Việt Nam đều mong muốn hưởng không khí tự do ở nước ngoài, nếu không bị những ràng buộc gia đình ở trong nước. Đa số những người này thuộc dạng thứ nhất hoặc thứ hai ở trên, khi muốn được tiếp tục thăng tiến những ngành nghề mình đang nghiên cứu tại môi trường hải ngoại.

- Thứ hai là đa số các bậc phụ huynh muốn con em mình tiếp tục sống và làm việc tại hải ngoại để hy vọng với đồng lương tại các quốc gia tự do có thể giúp cho gia đình và nhất là cửa ngỏ để đi đoàn tụ với con cái tại hải ngoại sau đó.

- Thứ ba là tình trạng nhân dụng bê bết ở Việt Nam, cộng với lối ưu đãi đối với con cháu cán bộ đảng viên, đa số sinh viên dù có học thành tài về nước cũng sẽ không được sử dụng đúng với khả năng và không được tiến thân như làm việc tại các hãng xưởng ở nước ngoài. Mặc dù ngày hôm nay, do nhu cầu giải quyết những yếu kém kỹ thuật, đảng Cộng sản đã trưng dụng nhiều trí thức ngoài đảng vào làm việc một số cơ quan và giữ những trách vụ quan trọng. Tuy nhiên, xu hướng chung vẫn là dành ưu tiên cho những người của đảng đặc biệt là làm ở các bộ liên quan đến các ngành kinh tế, thương mại, tài chánh và ngân hàng nhà nước.

Nhưng lý do căn bản nhất làm cho đa số du học sinh Việt Nam không muốn trở về là vì họ nhìn thấy đời sống quá chênh lệch và môi trường làm việc không phù hợp với những gì họ được học hỏi và hướng dẫn tại môi trường tự do. Đương nhiên cũng có một số du học sinh trở về nước, nhưng thành phần này rất ít và đa số là những con em cán bộ đã được cất nhắc vào những trách vụ đã được dành sẵn. Vì biết là du học sinh sẽ không về nước sau khi thành tài, nên Hà Nội muốn tiếp tục kiểm soát thành phần này - qua nhu cầu triển hạn hộ chiếu do họ cấp hàng năm cho sinh viên - để tìm cách chiêu dụ, lôi kéo thành phần du sinh luôn luôn đi bên cạnh các sứ quán. Để làm điều này, đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện một thủ đoạn khá thâm độc. Đó là :

1/ Tuyên truyền và gieo vào đầu các du sinh Việt Nam một hình ảnh cộng đồng hải ngoại quá khích, cực đoan để từ đó làm cho các du sinh e ngại và không những không dám tiếp xúc với cộng đồng mà còn có những thành kiến xấu về các nỗ lực đấu tranh của cộng đồng người Việt trong 30 năm vừa qua.

2/ Dùng sự kiểm soát hộ chiếu để ép buộc các du học sinh phải liên lạc và tham gia vào những nhóm, hội do sứ quán lập ra ở từng địa phương để qua đó theo dõi và kiểm soát các hoạt động của sinh viên. Những ai bị nghi ngờ là tiếp xúc với cộng đồng hoặc giao tiếp với sinh viên Việt Nam không thuộc diện du học liền bị khiển trách và bị hăm dọa rút hộ chiếu.
Những thủ đoạn của Hà Nội nói trên cùng với sự rụt rè của du học sinh tại môi trường quá mới ở hải ngoại, đa số các du sinh sống co cụm và không dám trao đổi hay mở rộng sự tiếp xúc với cộng đồng hải ngoại. Đây là điều đáng buồn vì nếu mà họ không bị đầu độc và đến với cộng đồng Việt Nam một cách cởi mở và thoải mái thì sẽ góp phần không nhỏ để tạo những xoay chuyển tốt đẹp cho đất nước cho bây giờ và về sau. Vấn đề là sau khi nhìn rõ bản chất của vấn đề du học sinh Việt Nam, chúng ta cần có một cái nhìn đúng đắn để có một sự quan tâm hơn vào thành phần này vì nếu không, họ sẽ mãi mãi đi song song với khối người Việt tỵ nạn trong cuộc sống lưu vong hiện nay.

 

Những Cái Nhìn Cần Có

 

Tuy rời khỏi đất nước Việt Nam trong những hoàn cảnh khác nhau, mỗi du học sinh Việt Nam sau khi đến sống và học tập tại môi trường hải ngoại, đều có chung một tâm tư như người tỵ nạn cộng sản là thấy Việt Nam quá nghèo và quá lạc hậu. Ai ai cũng muốn làm một cái gì đó cho Việt Nam để sớm thoát ra khỏi hoàn cảnh trì trệ này. Đương nhiên, do nhiều năm sống trong bưng bít thông tin và tuyên truyền một chiều của đảng Cộng sản, đa số du học sinh có cái nhìn không giống như cái nhìn của người Việt tỵ nạn về chế độ Hà Nội và cách giải quyết bài toán Việt Nam. Nhưng nếu có dịp thảo luận và trao đổi thì đa số du học sinh đều nhìn rõ vấn đề căn cốt rằng chính sự độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam là nguồn gốc của những trì trệ hiện nay trên đất nước Việt Nam. Tuy họ không dám nói ra vì những ám ảnh của sự theo dõi, của thói quen chịu đựng, nhưng đa số đều có những suy nghĩ rất thoáng và không hài lòng với tình cảnh của đất nước Việt Nam hiện nay. Ngoại trừ một thiểu số là con cháu cán bộ đảng viên cao cấp hay những thanh niên được chế độ ưu đãi để làm - cảnh báo viên - cho sứ quán trong hàng ngũ du học sinh có những thái độ bênh vực đảng Cộng sản, phê phán sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, còn đa số du học sinh đều mong muốn đến gần với cộng đồng để tìm đến một thứ tình tự quê hương mới, khác với cái môi trường mà họ đã sống ở trong nước. Trong tinh thần đó, chúng ta cần phải có một số cái nhìn như sau :

- Thứ nhất : không nên coi toàn thể du học sinh Việt Nam là những người của chế độ Hà Nội, dù họ cầm hộ chiếu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì hoàn cảnh của đất nước, thành phần du học sinh đã phải sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ Cộng sản nhưng họ không phải là người của chế độ ; ngoại trừ một thiểu số là con cháu cán bộ đảng viên được đưa đi du học qua các học bổng của nhà nước hay của các trung tâm nghiên cứu quốc tế. Với cái nhìn này, giúp chúng ta phân biệt giữa người dân với chế độ độc tài để không coi tất cả những người đang sống trong nước đều là kẻ thù hay là người của chế độ Hà Nội.

- Thứ hai : ngoài những thành phần không chủ tâm ra nước ngoài để học hỏi, du sinh là thành phần trí tuệ vượt trội trong nước. Với những kiến thức tiếp thu được ở các nước tân tiến, các du sinh này sẽ đóng vai trò quan trọng trong cơ chế nhà nước tương lai, có ảnh hưởng đến vận mệnh của đất nước.
Ý thức được như vậy, chúng ta cần tìm cách tiếp cận với các anh em du sinh, tạo được sự cảm thông để hai bên có thể tin tưởng nhau, giúp đỡ nhau, đến với nhau bằng tình đồng hương đúng ý nghĩa nhất, để anh em du sinh có được một điểm tựa tinh thần mà theo đuổi việc học trong những ngày tháng cô đơn xa xứ. Làm được điều này sẽ hóa giải được hình ảnh sai lạc của cộng đồng người Việt hải ngoại mà đảng và nhà nước CSVN cố tình tô vẽ để ngăn cản sự tiếp cận của chúng ta.

- Thứ ba : Đa số các du sinh là thành phần trẻ sinh sau năm 1975, không những không hiểu nhiều về cuộc chiến quá khứ mà còn có những nhận định không đúng qua những sách vở của Hà Nội. Do đó, khi đến tiếp xúc, chúng ta không nên buộc họ phải có ngay những thái độ - chính trị - như chúng ta đã có từ 30 năm qua. Với những tâm hồn trong sáng và công bằng của tuổi trẻ, với khả năng suy nghĩ của một người có trình độ, nếu chúng ta tạo cơ hội, giúp cho các anh em du sinh có những phương tiện để tự do tìm hiểu những dữ kiện lịch sử, chính trị, kinh tế trong và ngoài nước, chắc chắn họ sẽ nhìn ra được thực tế của Việt Nam ngày nay và sẽ cùng chúng ta kết hợp để xây dựng đất nước.

- Thứ tư : vai chính trong giai đoạn xây dựng và canh tân đất nước chính là thành phần trẻ trong và ngoài nước. Do đó chúng ta cần quan tâm đến suy nghĩ của giới trẻ tại Việt Nam để tạo cho họ có những cái nhìn đúng đắn về vai trò của cộng đồng hải ngoại. Muốn làm được điều này, du học sinh Việt Nam sẽ là nhân tố giúp chúng ta tạo nhịp cầu cảm thông giữa giới trẻ ở trong và ngoài Việt Nam. Có làm được như vậy chúng ta mới vận dụng giới trẻ hải ngoại mở ra những sự trao đổi rộng rãi với giới trẻ quốc nội qua môi giới của thành phần du học sinh, vốn còn giữ nhiều liên hệ với giới trẻ ở trong nước.

- Thứ năm : phải ngăn chận âm mưu gầy dựng một cộng đồng người Việt thứ hai quy tụ bởi những du học sinh và những người mang hộ chiếu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mà Cộng sản Việt Nam đang cố xúc tiến. Mục tiêu của Hà Nội là vừa gom tụ những người này vào vòng sự kiểm soát của sứ quán để khoe với trong nước là Hà Nội được - đồng bào hải ngoại - ủng hộ chứ không còn chống đối như trước đây, vừa tạo một thế đối đầu với các sinh hoạt của cộng đồng người Việt tỵ nạn. Đây là một âm mưu rất thâm độc của Hà Nội mà chúng ta cần phải cảnh giác để không đẩy thành phần du học sinh rơi vào thế bị cô lập và bị kiềm tỏa bởi sứ quán Hà Nội.

 

Những Hỗ Trợ Cần Thiết

 

Khi chúng ta nhận định được một cách chính xác và tích cực về mối tương quan giữa cộng đồng người Việt hải ngoại và các du sinh, đặc biệt là để ngăn chận âm mưu dùng thành phần du học sinh Việt Nam để gầy dựng cộng đồng người Việt thứ hai nhằm tạo thế đối lực với cộng đồng người Việt tỵ nạn, chúng ta cần bắt tay vào việc hỗ trợ du học sinh từ những việc làm nhỏ nhất cho đến những sinh hoạt to lớn khác trong cộng đồng. Sau đây là những đề nghị cụ thể :

- Thứ nhất, bằng tình cảm của gia đình, chúng ta vận động người Việt tỵ nạn có con cháu là những du học sinh đang đi học hay tu nghiệp tại hải ngoại, giải thích và hướng dẫn những người này hiểu rõ về tình đoàn kết và sự gắn bó với quê hương của người Việt hải ngoại để xóa đi những tuyên truyền sai lạc của Hà Nội. Nếu có sự góp tay tích cực từ thân nhân của các du học sinh tại hải ngoại sẽ giúp cho họ gạt bỏ những thụ động, e sợ để mạnh dạn tiếp xúc với những người ở hải ngoại

- Thứ hai, bằng những cởi mở và trong sáng của giới trẻ, chúng ta vận động và khuyến khích con em của mình đang theo học tại các đại học, tìm cách tiếp xúc, thăm hỏi và giúp đỡ những du học sinh từ Việt Nam để vừa tạo quen biết, vừa khuyến khích họ tham gia các sinh hoạt của giới trẻ trong cộng đồng.

- Thứ ba, bằng sự chủ động của cộng đồng, chúng ta có thể hỗ trợ cho các hội sinh viên, các đoàn thể trẻ trong cộng đồng mở ra những sinh hoạt hướng vào giới du học sinh để họ có môi trường hoạt động ngoài vòng ảnh hưởng của các sứ quán Việt Nam. Cùng làm việc chung, cùng chia sẻ tâm tình với nhau, chắc chắn giới trẻ hải ngoại sẽ giúp chuyển hóa tâm thức của thành phần du học sinh để họ có những cách nhìn tích cực hơn về tương lai xây dựng đất nước.

- Thứ tư, bằng những yểm trợ thực tế, chúng ta có thể tìm giúp cho thành phần du học sinh trong hoàn cảnh khó khăn những chỗ ở rẻ tiền, những công việc làm thuận tiện sau giờ học. Chính những yểm trợ thiết thực này, chúng ta không chỉ giúp cho họ có được một đời sống ổn định mà còn biểu hiện cái tình của người Việt tỵ nạn đối với con em của những người đang còn sống trong vòng kiềm tỏa của cộng sản Việt Nam.

 

Kết Luận

 

Con số du học sinh Việt Nam sẽ ngày một gia tăng do những nhu cầu mở cửa nhà nước Cộng sản Việt Nam. Hà Nội chờ đợi là những du học sinh này sẽ trở về làm việc sau khi tốt nghiệp. Nhưng thực tế cho thấy là số người về sẽ rất ít - không phải vì họ chống đối lại chế độ - mà chỉ vì khả năng của họ không được phát triển trong một chế độ độc tài. Đối với chúng ta, thành phần du học sinh là khối trí tuệ cần thiết để cùng với lực lượng chất xám tại hải ngoại góp phần xoay chuyển tình hình đất nước, đồng thời cũng là chất keo nối kết giữa hai thế hệ trẻ ở trong và ngoài nước để cùng xây dựng và canh tân Việt Nam.

Nhìn như vậy, chúng ta hãy tận dụng những ưu điểm của Cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại để xây dựng tập thể du học sinh Việt Nam trở thành nhịp cầu thông cảm giữa trong và ngoài nước - cho bây giờ và cho mai sau - để hải ngoại và quốc nội cùng nắm tay nhau tiến hành một cách hữu hiệu công cuộc canh tân đất nước.

Đoàn Hùng

 

 

 

 

Ca Sĩ và Giao Lưu Văn Hóa
Trần Đức Tường
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Từ mấy năm nay, người ta ghi nhận sự xuất hiện tại hải ngoại của rất nhiều nghệ sĩ trong nước trong ngành tân nhạc cũng như cổ nhạc. Riêng trong năm 2004 này, có thể nói hầu hết các ca sĩ nổi tiếng nhất Việt Nam đều đã xuất hiện và trình diễn đó đây trên các sân khấu, phòng trà, câu lạc bộ... hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ. Nhân sự kiện mới đây, hai ca sĩ trong nước là Bằng Kiều và Thu Phương mới bị nhà cầm quyền Hà Nội có biện pháp "trừng phạt" khiếm diện, câu hỏi được đặt ra là "Liệu sự kiện ca sĩ trong nước ra sinh hoạt văn nghệ tại hải ngoại có là "giao lưu văn hóa" theo chính sách tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản nhằm tấn công vào cộng đồng người Việt tỵ nạn ở hải ngoại không ? Để có thể đánh giá đúng mức vấn đề này, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu hiện tượng văn nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn, mục tiêu của họ cũng như những mưu đồ của chế độ CSVN... Từ đó, có thể rút ra thái độ và phản ứng hợp lý của người Việt Hải Ngoại đối với hiện tượng này.

 

Vài Nét Về Nền Văn Nghệ Trong Nước Hiện Nay

 

Năm nay cộng sản Hà Nội tổ chức linh đình để kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và cố tình cho trình diễn lại những bài hát của một thời chiến tranh. Nếu trong các buổi trình diễn, có một số ít những mái đầu bạc, ngồi gật gù, cười tủm như đang thả hồn về dĩ vãng khói lửa của họ, thì cả nghệ sĩ mà hầu hết là giới trẻ lẫn khán giả ngồi xem đều không có những xúc cảm mà những người chủ trương tổ chức chờ đợi. Nền văn nghệ ca tụng chiến tranh, ca tụng anh hùng, kích động thanh thiếu niên... chỉ gợi cho người ta nhớ lại một thời kỳ đen tối, chết chóc, đói khổ mà Đảng CSVN đã dẫn đưa cả nước đi vào.

Từ đầu thập niên 90, tức là 15 năm sau khi cộng sản thôn tính miền Nam, nền ca nhạc trong nước đã chuyển hướng một cách rõ rệt. Có người cho rằng nó đã bị ảnh hưởng bởi nền âm nhạc miền Nam trước năm 1975 thường được mô tả là "nhạc vàng". Trước nguy cơ phá sản của nền kinh tế, đảng CSVN bị buộc phải mở cửa giao dịch với thế giới bên ngoài và phải chuyển hóa nền kinh tế theo hướng thị trường, sinh hoạt văn nghệ nhờ đó đã nở rộ kể cả về mặt nghệ thuật lẫn thương mại. Các nhạc sĩ cũ cũng như mới đã mở ra nhiều hướng sáng tác khá phong phú, đa dạng đáp ứng được thị hiếu của giới mộ điệu. Một vài nhạc sĩ trứ danh của thời tiền chiến còn được người đời nhắc đến như những cây cổ thụ của ngành âm nhạc Việt Nam một thời thanh bình, nhưng nay không còn sáng tác nữa. Nhạc Trịnh Công Sơn vẫn được nhiều người ưa thích. Một số những nhạc sĩ mới thành danh hiện nay như Phú Quang, Dương Thụ, Trần Tiến, Thanh Tùng, Quốc Bảo, Bảo Chấn đã sáng tác nhiều thể loại nhạc khác nhau. Một số bài hát được ca sĩ và giới mộ điệu ưa chuộng như Thân Phận của Trịnh Công Sơn, Quê Hương của Trần Tiến, Tình Yêu của Phú Quang và Bảo Chấn thường được trình diễn trên các sân khấu phòng trà ca nhạc. Nói chung, tính chất đa dạng của nền âm nhạc trong nước hiện nay là ở chỗ người ta có thể tìm thấy nhiều thể loại : nhạc buồn, nhạc vui, nhạc tình, nhạc trẻ, nhạc già, nhạc bình dân, nhạc trình độ nghệ thuật cao...

Về ca sĩ, người ta nhận thấy ngày càng có nhiều mầm non được đào tạo chính quy, nắm vững nhạc lý. Đã có nhiều kỳ thi tuyển lựa ca sĩ được tổ chức trong nước. Trong nhóm mầm non, ngưòi ta chú ý đến Lam Trường, Mỹ Tâm, Quang Dũng, Đàm Vĩnh Hưng chẳng hạn... Nhưng so với những ca sĩ đã thành danh như Cẩm Vân, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh..., cảm thấy có một sự cách biệt về trình độ và nghệ thuật trình diễn. Cũng phải công nhận là những ca sĩ trong nước được đào tạo, huấn luyện về kỹ thuật tại các trường âm nhạc và kịch nghệ của chế độ, nên họ nắm vững nhạc lý.

Về kỹ thuật hòa âm và sử dụng nhạc khí, có nhiều nghệ sĩ trong nước cũng tỏ ra rất tiến bộ so với những năm sống trong sự "bao cấp" của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhưng các buổi trình diễn văn nghệ, các đại nhạc hội, có thể do sự kềm hãm của CSVN, không thể nào huy hoàng tráng lệ và quy mô như ở hải ngoại được. Lối hát giọng cao theo kiểu opera đã bớt đi nhiều, nhưng vẫn còn tồn tại khiến người không nghe quen cảm thấy khó chịu.

Về mặt thương mại, nghề trình diễn và sản xuất băng dĩa rất phát triển. Đa số ca sĩ, nghệ sĩ trình diễn có thu nhập khá giả. Mỗi đêm, tại Hà Nội, Sài Gòn và những thành phố lớn, họ đã phải : "nhảy show" nhiều nhà hàng. Dĩa CD nhạc trong nước cũng rất thịnh hành và được bày bán khắp nơi với giá rẻ mạt so với hải ngoại : 2 đô la cho những CD sao chép "nguyên con" từ những buổi trình diễn lớn, hoặc "xào nấu" từ các CD khác ; từ 5 đến 8 Mỹ kim cho những CD mới do chính ca sĩ thực hiện đặt bán tại các quầy. Cũng nên nhắc là ở Việt Nam, sở hữu văn hóa chưa được tôn trọng nên nạn CD lậu, giả tràn lan, ảnh hưởng đến thu nhập của tác giả và các nghệ sĩ. Giá rẻ hợp với túi tiền của dân trong nước ; nhưng cũng chiêu dụ được khách hàng từ hải ngoại về du lịch. Ai về nước cũng mang ra hàng chục CD. Hơn thế nữa, những CD sản xuất trong nước còn được xuất khẩu ra hải ngoại và được bày bán tại các tiệm nhạc Việt Nam khắp nơi trên thế giới.

 

Nghệ Sĩ Trong Nước Ra Hải Ngoại

 

Cách đây khoảng hơn một chục năm, khi mới mở cửa ra giao dịch với thế giới Tây Phương, Hà Nội đã từng đưa nhiều phái đoàn chính thức của Bộ Văn Hóa - Thông Tin ra hải ngoại trình diễn, chủ yếu là dành cho khán giả ngoại quốc, trong các chương trình trao đổi văn hóa giữa Việt Nam và nước ngoài. Đó là các đoàn dân ca, dân nhạc, múa rối nước, vv... Trước khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, các phái đoàn này thường tới các quốc gia Âu Châu như Thụy Điển, Pháp, Đan Mạch, Na Uy vv... Các phái đoàn này thường được "quản lý" rất chặt chẽ bởi hàng rào công an đại sứ quán và cai văn nghệ từ trong nước đi theo đoàn. Những người này cô lập hoàn toàn các nghệ sĩ của đoàn và không cho tiếp xúc với "Việt Kiều". Sau khi trình diễn chính thức, các nghệ sĩ được ít ngày "tự do" du ngoạn, mua sắm. Thực chất, những người lãnh đạo đoàn cũng có nhu cầu đi mua sắm riêng và muốn tránh sự tò mò của nghệ sĩ. Nghệ sĩ chỉ được đi ban ngày và khoảng 11 giờ đêm là phải về ngủ chung tại nhà tập thể hay khách sạn do đại sứ quán bố trí. Do có thân nhân ở thành phố đang lưu diễn hoặc do làm quen, móc nối với những người trong các hội người Việt Nam thuộc hệ thống "Việt Kiều Yêu Nước", các nghệ sĩ thường được mời về tư gia trình diễn "văn nghệ bỏ túi" có thù lao.

Về sau, phong trào du lịch ra nước ngoài nở rộ, nhiều nghệ sĩ đã ra hải ngoại bằng visa du lịch trong vòng 2 tuần hoặc 1 tháng. Trong thời gian lưu lại nước ngoài, họ có thể "nhảy dù" hát vài shows kiếm tiền phụ trội. Nhưng thường thường thì công an biết liền và khi về đều bị chặn và bị bắt "thành thật khai báo" và bị bắt chia chác lợi nhuận.

Trong vài năm gần đây, nghệ sĩ ra hải ngoại không phải chỉ lưu lại ngoài này ít ngày, nhưng trong thời gian dài và có kế hoạch đi lưu diễn nhiều nơi. Họ không còn nằm trong khuôn khổ một phái đoàn chính thức của Nhà Nước mà hoạt động riêng lẻ, với tính cách cá nhân. Theo sự dọ hỏi một số nghệ sĩ thì được biết, để được cấp visa du lịch, họ phải có những giàn xếp và thỏa thuận ăn chia trước với công an văn hóa và cơ quan cấp giấy xuất cảnh trước khi đi. Sự giàn xếp cũng phải giải quyết với những "bầu show" ở hải ngoại hầu thiết lập chương trình, thỏa thuận giá cả. Tóm lại một loại hợp đồng bảo đảm thù lao cho nghệ sĩ phải được từ 15 đến 20 ngàn đô la một tháng. Số thu nhập này, khi về nghệ sĩ còn phải ăn chia với công an và cán bộ văn hóa-thông tin trong nước. Cũng theo sự dọ hỏi những vũ trường, phòng trà ca nhạc tại Hoa Kỳ thì các ca sĩ trong nước tới trình diễn thường là thuộc dạng ca sĩ "khách" đặc biệt. Cát xê (cachet) trung bình cho mỗi ca sĩ "ăn khách" như Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng... là từ 3.000 đến 4.000 Mỹ kim một đêm trong những đêm dạ vũ cuối tuần.

Nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại có 2 thành phần khá rõ rệt : 1) Những người ra và định cư tại hải ngoại như Bằng Kiều, Lam Trường, Trần Thu Hà vv... vì họ đã lập gia đình với người hải ngoại, hoặc đã xin tỵ nạn như vợ chồng Thu Phương - Huy MC. Những người này tuy đã định cư ở nước ngoài, nhưng họ có nhu cầu về nước trình diễn hoặc thăm viếng thân nhân, nên thường không biểu lộ lập trường một cách rõ ràng ; 2) Những người đi du lịch để trình diễn như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Quang Linh, Phương Thanh, Mỹ Tâm, Thanh Lam, Quang Dũng... Những người này, vì phải sống trong 2 môi trường trong nước và hải ngoại, nên họ không muốn làm gì tạo khó khăn cho họ tại cả 2 môi trường đó.

Về phía nhà cầm quyền CSVN, người ta nhận xét thấy cũng có 2 loại nghệ sĩ : loại khó đi và loại dễ đi. Chưa biết lý do và tiêu chuẩn có phải là chính trị hay yếu tố gì khác, như chia chác, đút lót không điệu nghệ... nhưng mỗi khi bầu show hải ngoại đề nghị tên một nghệ sĩ thì phía "bên kia"hường bắt đợi một thời gian để xem xét thuộc loại nào và giàn xếp cũng như tính toán tiền "cò". Có nhiều xác suất là các nghệ sĩ được cấp visa ra hải ngoại đã được CSVN dặn dò một số điều nên làm và nên tránh cũng như một số điều cần quan sát, dò la khi ra hải ngoại để khai báo với họ.

Về phía khán thính giả thì ở trong nước, các nghệ sĩ nổi danh đều có trang nhà trên internet, và có những "fan clubs" riêng. Báo chí Nhà Nước cũng có những mục dành riêng cho văn hóa nghệ thuật. Tại hải ngoại, thành phần hâm mộ nhạc trong nước nhiều nhất vẫn là du sinh và người Việt Nam ở các nước Đông Âu vì họ quen với loại âm nhạc này. Kế đến là thành phần trẻ trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn vì họ nhận thấy nhạc "vàng" không thích hợp với họ. Nếu họ không nghe nhạc ngoại quốc thì họ thường tìm nghe những ca khúc trẻ sáng tác trong nước. Từ nhiều năm nay, tình hình sáng tác của các nhạc sĩ hải ngoại có vẻ lắng đọng và rất ít có những sáng tác mới. Chính giới ca sĩ hải ngoại như Tuấn Ngọc, Nguyên Khang ... đôi khi cũng hát những bài sáng tác trong nước. Ngược lại, trong CD của Hồng Nhung, Quang Dũng, Cẩm Vân chẳng hạn có nhiều bài nhạc "vàng" trước 1975 được họ hát và thu thanh. Phải chăng đây là một hiện tượng giao lưu văn hóa tự nhiên do thị hiếu của khán thính giả đưa tới ?

 

Câu Chuyện Bằng Kiều - Thu Phương

 

Mới đây, ngày 25/11/2004, báo Người Lao Động của CSVN đã có một bài nhan đề "Tước quyền công dân và nghệ sĩ của Bằng Kiều - Thu Phương !". Tờ báo này cho biết : "Sau khi rời tổ quốc sang Mỹ bằng con đường du lịch - biểu diễn - kết hôn, ca sĩ Thu Phương và Bằng Kiều đã có những phát biểu xuyên tạc, nói xấu chế độ nhân quyền Việt Nam để những thế lực phản động, thù địch lợi dụng vu cáo, chống phá công cuộc xây dựng chế độ XHCN trong nước". Cũng theo bài báo thì, hồi tháng 2/2004, Cục Nghệ thuật - Biểu diễn có kiến nghị tạm dừng các chương trình của Thu Phương và Bằng Kiều. Đến ngày 22/11/2004 vừa qua, Bộ Văn Hóa - Thông Tin CSVN đã ban hành công văn số 709/NTBD, gửi các đài phát thanh, truyền hình trên toàn quốc, các nhà xuất bản, các đơn vị nghệ thuật, tổ chức biểu diễn và các đơn vị sản xuất băng dĩa, ca múa nhạc, sân khấu không sử dụng dưới mọi hình thức các tiết mục biểu diễn của hai ca sĩ, cũng như không sử dụng những ca khúc do Bằng Kiều sáng tác. Tờ báo viết thêm "Trên tinh thần đó, Thu Phương và Bằng Kiều chính thức bị tước bỏ quyền công dân và nghệ sĩ Việt Nam !". Trước đó, trong nước có tin đồn cho rằng Bộ Văn Hóa - Thông Tin sẽ tiến hành thu hủy các tác phẩm của Bằng Kiều và Thu Phương. Dư luận có vẻ bất thuận lợi cho CSVN, nên theo báo Lao Động ngày 24/11/2004, Lê Tiến Thọ, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa - Thông Tin đã phải lên tiếng chính thức như sau : "Tinh thần của Bộ VHTT là không thu hủy và sẽ không bao giờ tiến hành làm chuyện đó, vấn đề hiện nay là nghiêm cấm các công ty, đơn vị sản xuất các chương trình ca nhạc ở cả hai khu vực nhà nước và tư nhân tiếp tục sản xuất và tái xuất bản (những ấn phẩm đã được cấp phép trước đây) các ca khúc, chương trình của Bằng Kiều và Thu Phương dưới mọi hình thức, vì họ đã có những hành động và phát biểu mang tính chất thù địch với xuyên tạc không đúng về xã hội chúng ta tại nước ngoài".

Bằng Kiều, tên thật là Nguyễn Bằng Kiều, sinh năm 1973, tốt nghiệp Nhạc Viện Hà Nội và bắt đầu hành nghề ca sĩ từ năm 1990. Năm 2002, anh kết hôn với ca sĩ Trizzi Phương Trinh, quốc tịch Mỹ và đã đi định cư tại Nam California. Bằng Kiều đã tham gia một số hoạt động ủy lạo đồng bào tỵ nạn tại Phi Luật Tân và đã có lần phát biểu, mong muốn Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn chấp nhận anh như một thành viên mới của Cộng Đồng. Hà Nội cho đây là lời "phát biểu sặc mùi phản phúc và bợ đỡ".

Thu Phương tên thật là Nguyễn Thu Phương, sinh năm 1972, là ca sĩ ăn khách được người dân trong nước ái mộ với nhiều bản tình ca mà cô trình bày rất thành công như "Có phải em mùa thu Hà Nội", "Dòng sông lơ đãng"... Cô và chồng là ca sĩ Huy MC đã qua Hoa Kỳ bằng visa du lịch năm 2003 và hiện đang xin được hưởng quy chế tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ngày 22/7/2004 vừa qua, với sự giúp đỡ của ca sĩ Việt Dzũng, vợ chồng cô đã tổ chức một cuộc họp báo ở Nam Cali để nói lên sự lựa chọn của mình và cảnh báo về sự mất an toàn cho bản thân vợ chồng cô, nếu cô phải trở về Việt Nam.

Thái độ của Hà Nội rất là hằn học đối với hai danh ca thuộc hạng "siêu sao" của họ đã bỏ họ để xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ. Họ đã không quên kể công đào tạo và cho hưởng nhiều ưu đãi, phần thưỏng. Hành động của họ xuất phát từ tư tưởng u tối của chủ nghĩa cộng sản. Ghét văn nghệ sĩ, họ ghét luôn cả những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật là những đứa con tinh thần của các văn nghệ sĩ, kể cả những tác phẩm nghệ thuật không mang mầu sắc chính trị nào chống đối lại họ. Họ muốn khai tử văn nghệ sĩ và tác phẩm văn hóa nghệ thuật của các nạn nhân. Những gì CSVN đang áp dụng cho Bằng Kiều - Thu Phương không khỏi làm cho người ta nhớ lại những năm 50 của thế kỷ trước khi CSVN đàn áp văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Thời đó, Văn Cao bị cầm tù và các nhạc phẩm trứ danh của ông, kể cả những bài làm trong "kháng chiến" cũng bị tuyệt đối cấm. Những người đàn áp ông đã chết. Cả ông cũng đã ra người thiên cổ ; nhưng Thiên Thai, Buồn Tàn Thu, Suối Mơ... vẫn trường tồn với thời gian. Vì nó là văn hóa.

 

Chính Sách Văn Hóa Thông Tin Của CSVN

 

Một trong những vũ khí lợi hại của cộng sản là tuyên truyền. Trong chiến tranh lạnh, thế giới đã đề cập với ít nhiều thán phục đến bộ máy "propaganda" của Liên Xô và khối Cộng Sản. Trong hai cuộc chiến tranh trên đất nước Việt Nam, cộng sản Hà Nội đã tận dụng tuyên truyền để đánh lừa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Sự thật chỉ được phơi bày sau ngày 30/4/1975. Trong chính sách tuyên truyền của CSVN, văn nghệ được tận dụng để thôi thúc lòng yêu nước và lùa cả nước đi vào những cuộc chiến tranh do Liên Xô ủy nhiệm.

Ngày nay CSVN vẫn tiếp tục độc quyền nắm giữ thông tin tuyên truyền. Họ đã đưa ra nhiều nghị quyết, luật lệ để kiểm soát mọi thể loại văn hóa, nghệ thuật. Tuy họ đã mất hoàn toàn khả năng chỉ đạo, điều hướng, bắt buộc các văn nghệ sĩ phải sáng tác theo yêu cầu của Đảng như trước đây, nhưng họ vẫn còn khả năng kiểm soát nền văn hóa, nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật sân khấu là nơi quy tụ đông đảo quần chúng, để không hoặc chưa thể có những nội dung làm hại cho chế độ. Nói cách khác, công cụ tuyên truyền "văn hóa văn nghệ" đang từ từ vuột ra khỏi tay của đảng CSVN. Hiện tượng này được thể hiện trong bài báo của tờ Người Lao Động khi đánh giá về các biện pháp đối vói Bằng Kiều và Thu Phương như sau : "cách hành xử của Bộ Văn Hóa - Thông Tin có lẽ đúng đắn và phù hợp với thực trạng rối rắm của đời sống ca nhạc trong nước thời gian gần đây ; khi việc đổ xô ra nước ngoài biểu diễn - hát chui, trốn thuế, phát ngôn bừa bãi... bỗng trở thành hiện tượng bất thường với những mặt tích cực lẫn tiêu cực mà dư luận hết sức quan tâm !".

Nhằm trung hòa các nỗ lực đấu tranh của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, nhất là trên mặt ngoại vận ; nhằm bình thường hóa sự có mặt của chế độ tại hải ngoại và biến Cộng Đồng chống cộng ở ngoài này thành cộng đồng Việt Kiều của họ, mới đây, đảng CSVN đã đưa ra Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị, trong đó, họ nhấn mạnh đến việc "giao lưu" giữa trong và ngoài nước. Mũi tiến công đầu tiên của họ là mũi văn hóa. Theo tin tức báo chí trong nước, Ban Tư Tưởng-Văn Hóa Trung Ương của đảng CSVN vừa tổ chức một cuộc hội thảo với sự có mặt của nhiều quan chức cao cấp của ngành để bàn về "tính chất văn hóa của đảng CSVN và nhu cầu xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng". Điều lạ là cuộc tọa đàm này không hề đề cập đến nền văn hóa mácxít-lêninít như từ trước đến nay, mà họ lại khẳng định rằng "nền tảng văn hóa đảng là nền tảng văn hóa dân tộc" và quảng diễn ra rằng "điểm đặc thù văn hóa đảng cộng sản chính là sự cống hiến, hy sinh cho đất nước, cho dân tộc...".

Biết rõ người dân và cả đảng viên của họ không còn ai tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản nữa, đảng CSVN đang tìm cách thoát xác bằng chiêu bài dân tộc. Phải nhớ rằng, ý niệm quốc gia, dân tộc là những ý niệm bị chủ nghĩa cộng sản lên án vì ngăn cản tiến tới thế giới đại đồng. Như vậy, nếu CSVN tìm cách sơn phết bộ mặt bằng lớp sơn văn hóa thì chắc chắn là họ có mục đích, một mặt biến thái từ độc tài vô sản sang độc tài độc đảng ; mặt khác dễ bề chiêu dụ cộng đồng người Việt Hải Ngoại. Không thể khinh xuất đối với nghị quyết 36 của họ vì họ có phương tiện và nhân sự cũng như kỹ thuật để đạt được mục đích của họ đối với cộng đồng Người Việt Hải Ngoại, mà phần lớn là nạn nhân của họ trong nhiều thập niên qua.

Dưới chiêu bài "giao lưu văn hóa", họ sẽ tìm cách lung lạc tinh thần đấu tranh chống lại họ ở hải ngoại. Dù họ không thể dùng lời ca tiếng hát mang nội dung kích động như xưa ; nhưng lời ca tiếng hát có thể dẫn những đội hùng binh của họ theo sau để đánh phá trên nhưng lãnh vực khác nhau của cộng đồng.

 

Phản ứng Của Hải Ngoại Từ Trước Tới Nay

 

Thử tìm hiểu các phản ứng của đồng bào ta đối với vấn đề này trên những lãnh vực khác nhau.

Đối với các sản phẩm, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, hiện nay người Việt Hải Ngoại coi sự có mặt của các sách truyện, CD, VCD, DVD, dĩa karaokê vv.. là bình thường. Các tiệm sách và băng nhạc đều có bày nhan nhản những sản phẩm này, từ nhạc thiếu nhi, cải lương, phim truyện, đến tân nhạc. Điều đáng ghi nhận là cho đến nay, không có cơ quan truyền thông thính thị như radio, truyền hình nào của người Việt ở hải ngoại sử dụng các băng nhạc hay hình từ trong nước đưa ra. Các sản phẩm này thường chỉ được sử dụng tại tư gia.

Đối với các nghệ sĩ từ trong nước ra, có thể ghi nhận rằng, với tinh thần nhân bản và đoàn kết sẵn có, người Việt Hải Ngoại dễ dàng chấp nhận sự có mặt sinh hoạt văn nghệ của các nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại. Không thấy dư luận chống đối một ca sĩ, nghệ sĩ nhất định nào. Tuy nhiên một số ca sĩ được cộng sản phong cho danh hiệu nghệ sĩ ưu tú hay nghệ sĩ nhân dân, đôi khi gặp sự chê bai của khán thính giả hải ngoại. Cũng như đối với các sản phẩm thính thị, chưa có ca sĩ, nghệ sĩ nào từ trong nước ra ngoài này có tiếng hát trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình của Hải Ngoại.

Các buổi tổ chức quy mô dưới hình thức đại nhạc hội lớn, quy tụ nhiều nghệ sĩ trong nước, hoặc có đoàn văn công thì thường bị cộng đồng địa phương, các tổ chức đấu tranh chống đối, từ mức độ ra tuyên cáo tẩy chay đến biểu tình phản đối.

Đối với các buổi văn nghệ bỏ túi, nhạc thính phòng, hoặc các phòng trà, khiêu vũ, lúc đầu cũng có một số phản ứng ; nhưng về sau không thấy có sự phản đối gay gắt. Hiện tượng ca sĩ sinh hoạt tại các nơi này dần dần trở nên bình thường tại Nam, Bắc Cali, Houston,...

Ở các cộng đồng, nhất là từ ngày có nghị quyết 36 của cộng sản Hà Nội, nhiều tổ chức và cá nhân đã đưa công tác "chống giao lưu văn hóa" lên hàng đầu. Nhưng việc chống đối này cũng không được sự đồng tình của tất cả mọi người. Giới trẻ sinh ra hay lớn lên tại hải ngoại không hiểu được hành động chống đối này của thế hệ đi trước. Đại đa số đồng bào thuộc quần chúng thầm lặng thì thờ ơ trước vấn đề. Câu hỏi được đặt ra là thái độ của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại đối với "giao lưu văn hóa" ra sao ? Chống hay không chống ? Chống như thế nào ?

 

Chống Hay Không Chống "Giao Lưu Văn Hóa" ?

 

Văn hóa là gì, chắc ai cũng đã hiểu. Nhưng thiết tưởng cũng cần phải tìm ra định nghĩa của hai chữ "giao lưu" của chế độ cộng sản Hà Nội . Cuốn "Từ Điển Tiếng Việt" do Nhà Xuất Bản Đà Nẵng (Trung Tâm Từ Điển Học) xuất bản năm 1997 đã định nghĩa "Giao Lưu là có sự tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai giòng, hai luồng khác nhau". Căn cứ theo định nghĩa này thì thấy không ổn vì người Việt Nam trong nước và người Việt Nam ở Hải Ngoại cùng thuộc về một dân tộc, cùng một luồng văn hóa. Nhưng cứ cho là giữa hai bộ phận dân tộc có hai luồng văn hóa khác nhau, thì giao lưu theo định nghĩa nói trên là phải có hai chiều tiếp xúc, trao đổi thông thương và không bị hạn chế bởi bất cứ áp lực gì. Cộng đồng hải ngoại không đồng ý với chính sách giao lưu một chiều và đòi hỏi trong nước cũng phải có sự tự do để sản xuất, in ấn những văn hóa phẩm của hải ngoại.

Mặt khác, cũng cần phải phân biệt rõ ràng văn nghệ sĩ chân chính và những cán bộ tuyên truyền trá hình. Dù với tinh thần luôn luôn cảnh giác cao độ, cũng phải nhận xét thấy rằng đại đa số văn nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại đều là những người dân bình thường, sống trong chế độ độc tài với những vấn nạn phải đương đầu giống như những thành phần quần chúng khác. Thông thường thì mọi người sống dưới một thể chế độc tài, nhất là độc tài cộng sản đều có thể phải chấp nhận bị sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp như là một công cụ của chế độ. Nhưng điều đó không có nghĩa họ là cán bộ của chế độ. Giới văn nghệ sĩ cũng không thoát được tình trạng này. Tuy nhiên, nếu không khéo léo, hải ngoại có thể biến họ hoặc đẩy họ đứng vào hàng ngũ của chế độ.

Vụ Bằng Kiều - Thu Phương vừa qua cho thấy, mặc dù họ là những người được chế độ đào tạo và dành nhiều ưu đãi về mặt nghệ thuật, nhưng khi được sống trong môi trường tự do, dân chủ, được hít thở không khí tự do, dân chủ, được đồng bào hải ngoại đối xử một cách nhân bản, thì họ sẽ có sự lựa chọn chính đáng cho mình. Từ đó, phải chăng phương cách để hóa giải tốt nhất âm mưu dùng văn hóa, dùng chiêu bài "giao lưu" để lủng đoạn cộng đồng hải ngoại, là khai thác lợi điểm của môi trường tự do và cách đối xử với những văn nghệ sĩ trong nước ra bằng tình đồng bào, bằng tấm lòng nhân bản ? Khi người Việt ở hải ngoại có được sự cảm thông với các văn nghệ sĩ ra ngoại quốc trình diễn để kiếm ăn, trong lúc vẫn phải sống dưới chế độ độc tài cộng sản, đến với họ trong tình đồng bào, đồng hương, với tình tự dân tộc, thì sẽ có thêm những "Bằng Kiều - Thu Phương" khác dứt khoát chọn lựa tự do, hay ít ra cũng đánh động được tâm thức của họ không chấp nhận chế độ cộng sản độc tài hiện nay tại Việt Nam.

Có thể có người còn bị những ấn tượng quá khứ với những kẻ nằm vùng, len lỏi trong hàng ngũ quốc gia mà không đồng tình với những điều trình bày ở trên, vẫn lo ngại và cho rằng những văn nghệ sĩ trong nước ra hải ngoại là những cán bộ cộng sản tuyên truyền phá hoại cộng đồng. Điều lo ngại này cũng cần được ghi nhận, nhưng với sự tỉnh táo và khách quan, để tránh tình trạng "nhìn đâu cũng thấy kẻ thù". Mặt khác, với môi trường dân chủ tự do tại các nước văn minh hiện đại, có thông tin chính xác hàng ngày hàng giờ, người Việt hải ngoại thừa khả năng phán xét để vạch trần và loại bỏ tất cả những luận điệu tuyên truyền của một chế độ vốn đã mất định hướng và thối nát từ thượng tầng cho đến cơ sở. Việc giao lưu văn hóa, trao đổi tích cực giữa quần chúng hải ngoại và quốc nội, sự tiếp cận của người dân trong nước (bất kể thành phần nào) với thế giới văn minh, tự do, dân chủ đều góp phần vào tiến trình xây dựng tâm thức tích cực cho người dân và có lợi cho công cuộc chung.

 

Tạm Kết

 

Từ nhiều năm qua, CSVN luôn luôn tìm cách lủng đoạn cộng đồng người Việt hải ngoại. Giao Lưu Văn Hóa chỉ là một trong nhiều thế đánh của họ. Đối phó với thế đánh này không phải là đơn giản đối với Cộng Đồng Hải Ngoại. Khó nhưng không phải không làm được. Nếu nhu đạo dùng sức địch thủ để quật ngã địch thủ thì đấu tranh vận dụng là phải biết khai thác ngay những ngón đòn của địch để bẻ gẫy các mũi tấn công của họ. Nếu cộng sản dùng văn hóa như đội quân tiên phong trong ngón đòn "giao lưu văn hóa" thì ta phải khai thác, vận dụng ngay để hóa giải mũi tấn công đó, biến quân của địch thành quân của ta bằng chính sách nhân bản và tình tự dân tộc. Đừng vụng về đẩy những người vốn cũng chẳng ưa gì chế độ trở thành những cán bộ nhiệt tình của chế độ.

Trần Đức Tường

 

 

 

HOÀNG CƠ ĐỊNH
Ngh Quyết 36 : Bước Lùi Quan Trng Ca CSVN Trong Năm 2004
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 20 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

 

Kể từ khi Nhà Cầm Quyền CSVN ban hành Nghị Quyết 36, đã có nhiều bình luận gia hoặc quý vị lãnh đạo tổ chức, cộng đồng tại hải ngoại lên tiếng về Nghị Quyết này. Nói chung, mối bận tâm của đại đa số thường đặt nặng vào những suy nghĩ như "làm sao ngăn chặn sự bành trướng của CSVN tại hải ngoại qua Nghị Quyết 36 hoặc làm sao vô hiệu hóa Nghị Quyết này". Xu hướng khác thì tìm cách phản luận toàn bộ Nghị Quyết và lên án các luận điệu tuyên truyền lừa bịp của địch hàm chứa trong đó. Ngoài hai thái độ trên, thiết nghĩ chúng ta cũng cần có một góc nhìn chủ động hơn, trong tinh thần khai dụng bản văn này của đối phương.

Khách quan mà xét, khi đưa ra một Nghị Quyết, đối phương không chỉ nhằm tuyên truyền hay Ềxâm nhậpỂ cộng đồng người Việt hải ngoại ( hiểu theo nghĩa cộng đồng người Việt Tỵ Nạn ), mà còn có mục tiêu hướng dẫn cán bộ và quần chúng của họ. Vì vậy người Việt Tỵ Nạn không thể chỉ tìm cách "chống cự" hay "lên án" mà cần phân tích nội dung của Nghị Quyết này và thử tìm hiểu xem :

1/ Tình trạng và sự suy nghĩ của chính quyền CSVN ra sao ?

2/ Đánh giá các biện pháp đối phương dự trù.

3/ Tìm cách hóa giải các mục tiêu tranh thủ của đối phương và khai thác Nghị Quyết này làm sao có lợi cho phía ta.

1/ Tình trạng và sự suy nghĩ của chính quyền CSVN :

Thoạt tiên, ngay trong phần mở đầu, CSVN đã nhận định về chính sách của họ trong mấy thập niên qua về "Người Việt ở nước ngoài" bằng một bản tự kiểm "Ba Đã" "Tám Chưa" nguyên văn như sau :

- Đã đề ra nhiều chủ trương
- Đã được đổi mới
- Đã có chuyển biến tích cực
- Chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ
- Chưa theo kịp những chuyển biến mới
- Chưa được quan tâm đúng mức
- Chưa đồng bộ
- Chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết dân tộc
- Chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài
- Chưa có hình thức thỏa đáng
- Chưa thực sự đổi mới.

Và Đảng CSVN giải thích rằng : Nguyên nhân của những yếu kém là vì các cấp dưới chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc các quan niệm chỉ đạo của Đảng ! Thưa quý bạn đọc : Chỉ đạo hàng mấy chục năm mà cấp dưới vẫn chưa nhận thức được thì không phải lỗi tại cấp dưới mà chỉ vì sự chỉ đạo quá tồi dở và Đảng CSVN đã tự thú nhận là không có khả năng và xứng đáng trong vai trò lãnh đạo.

Nay, chúng ta thử tìm hiểu Nghị Quyết 36 như một cố gắng mới của guồng máy chính quyền CSVN xem sao. Xét toàn bộ nghị quyết này, ta thấy một phần là những luận điệu tuyên truyền quen thuộc của CSVN, phần còn lại là một số chủ trương hợp lý bình thường mà bất cứ một chính quyền nào cũng phải tìm cách thực hiện. Nếu chú tâm vào chuyện tố cáo CSVN tuyên truyền lừa bịp chúng ta sẽ không mang lại điều gì mới lạ, mà nếu lên án chung toàn bộ Nghị Quyết thì sẽ dễ thành công kích cả những điều hợp lý. Trong khi đó, nội dung của Nghị Quyết không phải chỉ chứa đựng những luận điệu tuyên truyền, những khía cạnh khác trong Nghị Quyết 36 cho chúng ta thấy :

- CSVN đang đối diện với một tập thể người Việt Hải Ngoại gồm 2 thành phần : Khối người Việt Tỵ Nạn chính trị giầu có và thành công trong các xã hội Âu - Mỹ - Úc và khối kiều ào mang thông hành CSVN đang sống chật vật tại Á châu, Liên Bang Nga và Đông Âu.
Đối với nhóm Kiều Bào, CSVN đang phải tìm cách giải quyết cho họ những : khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị.

Trong khi với nhóm người Việt Tỵ Nạn thì :

Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam.

Điều này nói lên mức độ nhậy cảm của CSVN đối với ảnh hưởng chính trị của các cộng đồng tỵ nạn lên chính sách đối ngoại của quốc gia tiếp cư trong bang giao với VN. Ngoài ra, Nghị Quyết 36 cũng nhấn mạnh vào một yếu tố mà CSVN chưa có và rất cần hiện nay là :

- Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

- những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước,

- chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước, làm việc cho các chương trình, dự án hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam với nước ngoài hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu dành cho người Việt Nam và tư vấn trong các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài.

- Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến hành hoạt động vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống.

- Phát huy khả năng của người Việt Nam ở nước ngoài làm dịch vụ, thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa Việt Nam, các quan hệ hợp tác và đầu tư với các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Về mặt kinh tế, CSVN đã thấy việc phát triển bền vững không thể nào chỉ trông cậy vào vốn ngoại quốc đầu tư vào VN (mà đối tác lại là thành phần cán bộ tham nhũng chỉ lăm le ăn cắp và tẩu tán tài sản ra ngoại quốc). Trong giai đoạn trước mặt sự phát triển của VN đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia có tấm lòng vì dân tộc, có khả năng "chuyển giao công nghệ", "vận động, tư vấn về pháp lý trong quan hệ với các xã hội Tây phương""thiết lập và mở rộng kênh tiêu thụ hàng hóa VN trên thế giới"... Những chuyên gia này chỉ có thể kiếm được trong khối người Việt Tỵ Nạn tại hải ngoại.

Khối người Việt Tỵ Nạn này là một thực thể không nằm trong khả năng thống trị của Đảng CSVN, nhưng qua ngả du lịch và Internet lại chứng tỏ có khả năng ảnh hưởng lên sự suy nghĩ và phần nào cả đời sống của đồng bào trong nước. Trong khi đó, đối với quốc gia tiếp cư , người Việt Tỵ Nạn cũng tạo được một ảnh hưởng chính trị mà CSVN đã phải thừa nhận. Ảnh hưởng chính trị này chắc chắn sẽ có tác dụng lên sự bang giao giữa thế giới với chế độ CSVN. Cho nên, tuy không chấp nhận đối lập ở trong nước, nhưng vì buộc phải giao thương với thế giới bên ngoài, khối người Việt Tỵ Nạn đã trở thành một thực thể đối lập chính trị buộc CSVN phải "nhìn nhận". Thực thể chính trị đối lập tại hải ngoại này, với khả năng giao lưu và truyền thông của thế kỷ 21, đã có tác dụng gần như một thực thể đối lập tại nội địa.

Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước.

Và CSVN hứa hẹn :

Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta.

Trước những nhận định và nhu cầu đã được nêu bên trên, CSVN đã dự phóng một số biện pháp liệt kê trong phần III của Nghị Quyết.

Về các biện pháp này, chúng ta cần phân biệt loại hướng về khối Kiều Bào mang thông hành CSVN và loại hướng về khối người Việt Tỵ Nạn.

2/ Đánh giá các biện pháp dự trù của CSVN.

Trong số 9 mục của phần III , những mục hướng về khối người Việt Tỵ Nạn mang tính chất biện pháp rõ rệt là III-5, III-6. Còn lại là hướng về khối Kiều Bào, hoặc chỉ là những điều ước muốn hoặc những lập luận tuyên truyền (thí dụ như mục III-7).

Trong số những biện pháp của CSVN, ngoại trừ chuyện đầu tư vào việc dậy tiếng Việt cho trẻ em tại hải ngoại, tựu trung không có gì mới lạ. Trong lãnh vực này, một số vị bầy tỏ ưu tư đối với các tài liệu giáo khoa từ trong nước gửi ra. Tuy nhiên, nếu đối phương chủ tâm gài vào những luận điệu tuyên truyền, thì trong các xã hội tự do tại hải ngoại, các luận điệu đó sẽ chỉ có tác dụng ngược ! Còn nếu đó là sản phẩm của các nhà giáo dục chân chính từ quốc nội , cộng đồng hải ngoại chúng ta sẽ ngại gì mà không dám dùng, mà còn coi như đó như là hành động cụ thể để khuyến khích các sinh hoạt văn hóa vì dân tộc đang có ở trong nước.

Nhìn vào những điều CSVN mong muốn ở khối người Việt Tỵ Nạn và phải giải quyết ở khối Kiều Bào, ta không dự liệu được hiệu quả đáng kể từ những biện pháp này. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn lại một số biện pháp chống đối cố hữu của "phe ta" như "biểu tình chống giao lưu văn hoá", các biện pháp này đã không thật sự tác dụng lên những người Việt trẻ tuổi thành công ở hải ngoại mà đối phương đang muốn tranh thủ. Những người trẻ này có thể không quan tâm tới các buổi trình diễn văn nghệ đó, hoặc ngược lại nếu hiện diện, thì họ là những người vào coi văn nghệ chứ không thuộc nhóm đứng biểu tình ở bên ngoài. Xét cho cùng, chúng ta cũng chẳng cần phải lo ngại là họ sẽ bị lôi cuốn bởi tuyên truyền CS khi vào coi các buổi trình diễn của nghệ sĩ trong nước vì đã có cả mấy trăm ngàn người Việt hải ngoại về thăm VN, đã coi biết bao nhiêu buổi trình diễn văn nghệ ở trong nước, mà sau đó có ai khâm phục và trở nên ưa thích CSVN đâu ?

Còn đối với chính giới hay báo giới ngoại quốc, việc biểu tình chống lại một số văn nghệ sĩ từ trong nước ra hải ngoại trình diễn sẽ khó có thể nói lên quan điểm "tranh đấu cho tự do" và chắc chắn không phải là một phương thức tốt để tạo cảm tình và thuyết phục chính giới ngoại quốc về tình trạng vi phạm nhân quyền của CSVN tại quê nhà.

3/ Làm sao hóa giải các mục tiêu tranh thủ của đối phương và khai thác ngược lại NQ 36 để có lợi cho phía ta.

Điều đầu tiên cần lưu ý là NQ36 không phải chỉ dành cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn mà gồm chung cả cộng đồng Kiều Bào mang thông hành CSVN , đồng thời phải nhìn mục tiêu tranh thủ của CSVN rộng rãi hơn là "tăng cường xâm nhập hải ngoại". Từ đó những biện pháp cần tiến hành sẽ nhằm các điểm sau (tất nhiên không phải chỉ giới hạn trong những điểm này) :

Đối với khối Kiều Bào mang thông hành CSVN, chúng ta sẽ trình bầy rõ sự bất công của NQ36. Nghị Quyết này chỉ nhằm ve vuốt và "phục vụ" khối người Việt Tỵ Nạn thành công về kinh tế và có địa vị trong các xã hội Âu Mỹ mà bỏ rơi khối Kiều Bào đang gặp khó khăn và bị đối xử kỳ thị. Không những thế Kiều Bào còn phải đóng thuế cho Nhà Nước mà không được hưởng một dịch vụ nào. Sự vô hiệu của các biện pháp của NQ36 đối với hoàn cảnh khó khăn của Kiều Bào sẽ là điều cần nêu lên để thấy rõ sự vô tích sự của Nhà Nước CSVN.

Mặt khác, cộng đồng người Việt Tỵ Nạn cần mở rộng vòng tay để tăng cường liên hệ và tìm mọi cách giúp đỡ khối Kiều Bào đang bị Nhà Nước CSVN khai thác và bỏ rơi. Bằng tinh thần tự nguyện, tình nghĩa đồng bào, khả năng vật chất, liên hệ quốc tế... Khối người Việt Tỵ Nạn có thể giúp đỡ khối Kiều Bào một cách cụ thể, thiết thực và cho thấy những hứa hẹn trong NQ36 của Nhà Nước CSVN chỉ là những lời hứa xuông của một chính quyền bất lực và bị động. Đối với cộng đồng người Việt Tỵ Nạn, qua NQ36, có 4 lãnh vực chúng ta có thể tác động :

Thứ Nhất : Với những điều CSVN muốn : Đó là thành phần chuyên gia có khả năng chuyển giao công nghệ, tư vấn về kinh tế, tài chánh và tiếp thị , chúng ta sẽ không dùng đối sách tiêu cực là Ềngăn chặnỂ sự hợp tác của họ với CSVN... Chúng ta cần hợp tác với những chuyên gia này. CSVN với tới họ thì còn xa, trong khi đối với chúng ta, họ là những người bạn cùng hãng xưởng, là con em trong nhà, hãy làm sao để chính họ sẽ là người nêu lên những nhu cầu về nhân quyền và dân chủ trong mọi đối tác với CSVN. Ngoài ra, sự góp phần của chuyên gia hải ngoại cũng là cơ hội để giúp giới chuyên gia trong nước có thêm điều kiện giao tiếp với thế giới bên ngoài và nâng cao vốn khoa học kỹ thuật của toàn dân tộc. CSVN chỉ là giai đoạn, Dân Tộc Việt Nam mới là trường cửu, cuộc đấu tranh chấm dứt độc tài phải được tiến hành song song với những chuẩn bị cho tương lai lâu dài của Dân Tộc.

Thứ Nhì : Với những điều CSVN e ngại : Đó là khả năng ảnh hưởng về kinh tế, chính trị và xã hội của người Việt Tỵ Nạn tại quốc gia tiếp cư. Từ "Nghị Quyết Cờ Vàng" tới Nghị Quyết giới hạn sự xuất hiện của quan chức CSVN tại một số địa phương, đã chứng tỏ rằng người Việt Tỵ Nạn có thể vận động cho những đạo luật tại quốc gia sở tại, có tác dụng về chính trị và kinh tế đối với chế độ CSVN. Sáng kiến của chúng ta sẽ không ngừng lại ở hai Nghị Quyết này mà thôi....

Thứ Ba : Với những điều CSVN chủ trương : Chúng ta có thể dùng ngay một số điều CSVN hứa hẹn, tỷ dụ như "Chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người còn có định kiến, mặc cảm với Nhà nước và chế độ ta." để làm mục tiêu tranh đấu với đối phương trên dư luận quốc tế và khuyến khích sinh hoạt đối lập ở trong nước. Từ thái độ coi người Việt Tỵ Nạn như "Tay sai ngoại bang", CSVN đã lùi tới mức coi chúng ta là "có định kiến và mặc cảm" đối với chế độ... Chúng ta sẽ đẩy CSVN lùi thêm tới mức độ phải thay thế mấy chữ "định kiến và mặc cảm" bằng 2 chữ "bất đồng" và họ sẽ phải đối thoại với cả những người bất đồng ở trong lẫn ngoài nước. Chúng ta sẽ không ngừng lại ở những thách đố với mục tiêu lên án chế độ, mà sẽ tìm cách để buộc CSVN phải thật sự "chủ động mở rộng tiếp xúc" với thành phần bất đồng với chế độ. Nghị Quyết 36 cũng có thể là phương tiện cho những thành phần đảng viên sáng suốt trong ĐCSVN tránh cho Đảng bị xụp đổ toàn diện mà có thể trở thành một tổ chức chính trị sinh hoạt bình thường trong một xã hội đa nguyên tương lai tại VN.

Hai mươi năm trước đây, có thể khẩu hiệu "Glasnost" đã được nhiều người từ cả hai phía cho rằng đó chỉ là lời kêu gọi lừa mị, nhưng bằng những vận động tích cực, glasnost đã trở thành hiện thực. Chúng ta sẽ không ngây thơ để bị lừa dối bởi một thủ đoạn tuyên truyền, nhưng chúng ta phải đủ bản lãnh để đẩy một hành động giả vờ nhượng bộ thành một nhượng bộ thật sự.

Thứ Tư : Với những điều CSVN đe dọa : Thay vì "tố cáo" hay "lên án", chúng ta hãy coi đó như những nhắc nhở rất cụ thể về "mối nguy cơ CSVN" để cộng đồng chúng ta thêm đoàn kết hơn và năng động hơn.

***

Tóm lại, Nghị Quyết 36 không mang tính chất một đòn tấn công như CSVN mong đợi và một số đồng bào lầm tưởng. Nghị Quyết này đã để lộ ra một số ý đồ và khá nhiều nhược điểm của chế độ. Từ những gì chúng ta thấy qua NQ36, chúng ta sẽ hoạt động trong một tư duy mới : Mục đích chính của chúng ta sẽ không phải là làm sao ngăn cản không cho CSVN bành trướng tại hải ngoại, mục đích chính của chúng ta là chấm dứt chế độ độc tài đó tại Việt Nam. Phương pháp hữu hiệu nhất là làm sao cộng đồng người Việt hải ngoại chúng ta đoàn kết và gắn bó hơn với Tổ Quốc, làm sao tăng cường liên hệ và hỗ trợ cho khối Kiều Bào đang bị ngược đãi tại Á Châu, Liên Bang Nga và Đông Âu, làm sao tăng cường thông tin hỗ trợ và hợp tác với đồng bào trong nước...

Hoàng Cơ Định

 

 

 

Giáo Hi Tin Lành Mennonite Liên Tc B Đàn Áp
 (LÊN MẠNG THỨ BA 21 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Theo bản tin của Tổ Chức Thông Tin Tin Lành Quốc Tế Compass phổ biến trên Internet ngày 2/11, thì nhà cầm quyền Việt Nam sẽ đưa Mục Sư Nguyễn Hồng Quang ra tòa vào ngày 12/11 tới đây để xử về tội "xúi giục người khác chống người thi hành công vụ".

Trái với các vụ xử án không có tính cách chính trị, và đồng thời cũng trái với luật lệ hình sự của chế độ, Việt Nam đã không cho bà vợ của Mục Sư Quang một bản cáo trạng để biết chồng bà bị truy tố về tội gì, ngày ông bị đưa ra tòa và cũng không có trát tòa tống đạt thông báo để thân nhân bị cáo kịp thời thuê mướn luật sư và chuẩn bị bào chữa bảo vệ quyền lợi bị cáo.

Vẫn theo Tin Compass, thì nhà cầm quyền Việt Nam nhìn nhận với Hội Thánh Tin Lành Mennonite ở Sài Gòn, lý do chính khiến Mục Sư Quang bị bắt là vì ông đã phổ biến quá nhiều tin tức, tài liệu "chống phá nhà nước Việt Nam" khi tố cáo các vụ đàn áp tôn giáo trên Internet. Nhưng vì áp lực quốc tế, đặc biệt từ phía Hoa Kỳ, nên Việt Nam không dám xử tội ông theo kiểu vu cáo "gián điệp" hoặc "lợi dụng các quyền tự do dân chủ, gây nguy hại cho nhà nước..." mà chỉ ở mức độ "chống người thi hành công vụ..."

Bản tin Compass còn cho biết, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục đè nặng áp lực lên Hệ Thống Tin Lành Mennonite ở khu vực Tây Nguyên. Mặt khác, ngày 27 tháng 10/2004, nguồn tin trên cho hay khoảng một chục sinh viên và bà Mục Sư Quang đã bị công an triệu hồi đến phường Bình Khánh, quận 2, Sài Gòn, để nghe tuyên bố rằng nhiều người đã cư ngụ bất hợp pháp trong nhà của Mục Sư Quang cũng như nghe nhắc nhở rằng "nhiều hành vi bất hợp pháp" vẫn tiếp diễn ở đó dù từng bị nhà cầm quyền địa phương khuyến cáo nhiều lần. "Hành vi bất hợp pháp" mà nhà cầm quyền Việt Nam nói đến là các buổi học tập kinh thánh, các buổi lễ thờ phượng Thiên Chúa.

Được biết đến 95% trong tổng số 2 triệu tín đồ Tin Lành ở Việt Nam không chịu gia nhập các tổ chức Tin Lành quốc doanh.

 

Mục sư Nguyễn Hồng Quang bị kết án 3 năm tù

 

Ngày 12-11-2004, phiên tòa xử án mục sư Nguyễn Hồng Quang và 5 người cộng sự đã được khai diễn vào hồi 8 giờ sáng và theo hình thức gọi là "xử kín". Chỉ có một số ít thân nhân được phép vào dự phiên tòa : bà MS Quang, cha của Thầy Phạm Ngọc Thạch, cha của cô Lê Thị Hồng Liên, mẹ và vợ của Thầy Nguyễn Văn Phương, mẹ và em gái của Thầy Nguyễn Thanh Nhà, Nguyễn Hiếu Nghĩa. Phía những người bị xử có Luật sư Trần Vũ Hải biện hộ cho MS Quang và Luật sư Bùi Đức Trường biện hộ cho 5 người còn lại. Cả hai vị luật sư này chỉ có vài ngày tham khảo hồ sơ và tiếp xúc với các thân chủ trước ngày xử.

Trước giờ xử án, có khoảng hơn 200 người đã đến dự phiên tòa để ủng hộ tinh thần, trong số này có hơn 100 Mục sư, Truyền đạo, tín hữu Mennonite thuộc các sắc tộc. Có hai xe ngoại giao đoàn, trong đó có đại diện Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ đến xin tham dự nhưng bị từ chối.

Cũng như những phiên xử các nhà đối kháng khác, công an được huy động để bảo vệ phiên tòa và kiểm tra an ninh chặt chẽ, cũng như đe dọa những người ủng hộ.

Phiên tòa kết thúc vào hồi 2 giờ trưa với kết quả như sau :

1/ MS Nguyễn Hồng Quang, 3 năm tù.

2/ Truyền đạo Phạm Ngọc Thạch, 2 năm tù.

3/ Truyền đạo Nguyễn Văn Phương, 12 tháng tù

4/ Cô Lê Thị Hồng Liên, 12 tháng tù

5/ Truyền đạo Nguyễn Thanh Nhà, 9 tháng tù

6/ Chấp sự Nguyễn Hiếu Nghĩa, 9 tháng tù.

Có khoảng trên 50 tín hữu Mennonite sắc tộc ở Tây Nguyên, vì mến mộ Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, người lãnh đạo tinh thần của họ, đã về Sài Gòn để dự phiên tòa xử án mục sư, mặc dù chỉ được đứng bên ngoài phòng xử, trong khuôn viên tòa án. Tuy nhiên, những tín đồ này khi trở về địa phương lo sợ là sẽ bị chính quyền đàn áp như họ đã từng đối xử với gia đình Mục Sư Nguyễn Công Chính và rất nhiều tín hữu khác.

Riêng cô Lê Thị Hồng Liên, năm nay 21 tuổi, vì niềm tin của mình đã phải chịu cảnh tù ngục, để lại nhà cha mẹ già và người em tật nguyền. Sau lần thăm viếng cuối cùng đầy khó khăn vất vả, gia đình cô Liên đã thật sự đau xót khi thấy con gái mình bị hành hạ tới mức trở thành mất trí.

Ngoài ra, nguồn tin riêng của Đài Á Châu Tự Do cho biết hơn 30 công an, nhân viên an ninh, dân phòng và đại diện Ủy ban Nhân dân Quận 2 đã tiến hành việc khám nhà Mục sư Nguyễn Hồng Quang vào khuya hôm thứ hai rạng sáng hôm thứ ba, tức từ 11giờ30 ngày 15-11 cho đến 0giờ30 sáng thứ ba 16-11, vì chỗ ở của Mục sư Nguyễn Hồng Quang cũng là nơi đặt trụ sở của Hội thánh Tin Lành Mennonite Việt Nam.

 

Những tiếng nói ủng hộ

 

Ngày 13/11/2004, các Linh Mục Chân Tín, Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi đã cho phổ biến rộng rãi một lá thư nội dung nhận định về hiện trạng tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt là lên án nhà cầm quyền CSVN đã đàn áp tôn giáo qua vụ án của MS Quang. Lá thư có đoạn viết "Chúng tôi xác nhận mục sư Quang cùng các truyền đạo viên đã chỉ hành xử quyền công dân và quyền tự do tôn giáo chứ không vi phạm bất cứ điều luật chính đáng nào. Chúng tôi quyết liệt đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải lập tức trả tự do vô điều kiện cho mục sư Nguyễn Hồng Quang và các cộng sự viên của ngài". Cuối thư, ba vị Linh Mục đã kêu gọi "toàn thể đồng bào trong cũng như ngoài nước và mọi người thiện chí khắp thế giới hãy cùng hợp lực với mọi lãnh đạo tinh thần đang tranh đấu tại Việt Nam để đập tan gông cùm Pháp lệnh tôn giáo của CS, vì Pháp lệnh này không những là hiểm họa cho các tôn giáo mà còn cho cả dân tộc. Đất nước đang ngày càng đi xuống hố sâu của sự hủy hoại tinh thần, luân lý, văn hóa, phong tục và nhân cách, mà thủ phạm chính là chế độ CS vô thần, toàn trị, chuyên chế. Trong hiện tình này, tôn giáo cần phải được tự do để góp phần giải cứu dân tộc".

Tại Hoa Kỳ, Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam đã viết thư yêu cầu nhà nước Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho Mục sư Nguyễn Hồng Quang. Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người VN tại Pháp cũng lên án phiên tòa này và cho biết là phiên tòa này xảy ra hai ngày sau khi Bộ Ngoại Giao Anh Quốc công bố bản "Báo cáo nhân quyền Việt Nam", qua đó, Bộ Ngoại Giao Anh "đặc biệt quan tâm trước tình hình nghiêm trọng của các công đồng Phật Giáo và Tin Lành không được nhà nước Việt Nam công nhận". Bộ Ngoại Giao Anh cũng lo ngại cho số phận của các vị giáo phẩm Phật Giáo và Tin Lành, như Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Quảng Độ, cũng như Mục Sư Nguyễn Hồng Quang thuộc Hội Thánh Tin Lành Mennonite Việt Nam.

Trong một Kháng Thư phổ biến toàn cầu ngày 16/11, Ủy ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị cầm tù đã lên án và phản đối nhà nước Việt Nam về phiên xử này. Văn Bút Quốc Tế nhận định rằng Việt Nam đã vi phạm quyền tự do phát biểu, thành lập và gia nhập hội đoàn của các tín hữu Tin Lành.

Văn Bút Quốc Tế yêu cầu các Trung tâm hội viên gởi thư phản đối án tù áp đặt bất công đối với mục sư Quang và đòi Nhà nước Việt Nam phóng thích ông tức khắc và vô điều kiện, theo đúng Điều 19 của Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà họ đã ký kết.

Để góp phần đấu tranh thiết thực cho các tín đồ Tin Lành đang bị áp bức, Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng đã phiên dịch ra tiếng Anh bản tóm tắt kết quả vụ xử và 2 bức thư của Linh mục Chân Tín và 22 Mục sư Tin Lành về cách đối xử của chế độ đối với Mục sư Nguyễn Hồng Quang và các cộng sự viên của ông, để dễ dàng phổ biến đến công luận thế giới, và kêu gọi đồng bào khắp nơi gởi đồng loạt bản văn này đến các tổ chức bảo vệ nhân quyền và tôn giáo, các văn phòng dân cử địa phương và đại sứ các nước đã bỏ tiền trợ giúp chính quyền Việt Nam cải tổ hệ thống luật pháp trong nhiều năm qua như Canada, Nhật Bản, Thụy Điển, v.v...

 

 

 

Tin Lành Khp Nơi Kêu Gi Cu Giúp Mc Sư Nguyn Khng Quang
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Tín Hữu Tin Lành Việt Nam
9353 Bolsa Ave., H54 . Westminster . CA 92683 . USA . (714) 531-1620

Bức Tâm Thư

Kính Gửi :

Quý Con Dân Chúa Thuộc các Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Tại Hải Ngoại

Thưa quý anh chị em,

Trước hết, chúng tôi kính lời chào thăm quý anh chị em trong tình yêu đời đời của Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta. Chúng tôi cũng dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta về sự bình an và những phước hạnh mà Ngài không ngừng tuôn đổ trên đời sống của con dân Ngài. Nguyện Thánh Linh của Chúa cảm động lòng mỗi người khi đọc bức tâm thư này.

Thưa quý anh chị em,

Lời Kinh Thánh trong sách Ê-xơ-tê, thuật lại rằng : Gần hai ngàn năm trăm năm trước, Satan đã có lần mưu toan mượn tay bạo quyền Ha-man để diệt chủng con dân Chúa thuộc dân tộc Israel. Thuở đó, Đức Chúa Trời đã sắm sẵn một thiếu nữ mồ côi để giải cứu con dân của Ngài. Đức Chúa Trời đã đặt để Ê-xơ-tê vào ngôi vị hoàng hậu để bà có tư thế nói lên sự sai trái, bất công, và độc ác của bạo quyền Ha-man đối với dân tộc của bà. Mặc dù, biết trước cái giá phải trả cho sự đứng lên bênh vực lẽ phải cho dân tộc mình có thể là mất mạng vì vi phạm cấm lệnh của triều đình, hoàng hậu Ê-xơ-tê đã khẳng khái tuyên bố : "Nếu tôi phải chết, thì tôi chết !" Lòng yêu thương dân tộc cùng tinh thần quả cảm của Ê-xơ-tê đã dẫn đến sự giải cứu toàn dân Israel, tiêu diệt bạo quyền Ha-man, và đánh tan mưu toan thâm độc của Satan.

Ngày hôm nay, Satan lại mưu toan mượn tay bạo quyền Việt cộng để tiêu diệt con dân Chúa thuộc Hội Thánh Việt Nam. Gần ba mươi năm trôi qua, chế độ CSVN liên tục là một công cụ đắc lực trong bàn tay Satan, nhằm tiêu diệt sự thờ phượng Đức Chúa Trời và sự rao giảng Tin Lành cứu rỗi của Ngài cho đồng bào của chúng ta. Hàng trăm nhà thờ bị phá sập, hàng ngàn Thánh Ca và Kinh Thánh bị đốt, hàng chục ngàn con dân Chúa tại Việt Nam đã bị bắt bớ, cướp bóc, hãm hiếp, tù đày, tra tấn, thậm chí bị tàn sát tập thể vì xưng nhận mình là tín đồ của Đấng Christ, vì rao giảng ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời, vì lên tiếng trước những bất công, thối nát, của nhà cầm quyền cộng sản, vi phạm hiến pháp, đi ngược lại những luật lệ do chính họ thiết lập... Máu của những con chiên và những người chăn tử đạo đã, đang, và sẽ còn tiếp tục chảy ra trên quê hương yêu dấu của chúng ta ! Satan đang say máu của các thánh đồ Việt Nam !

Đức Chúa Trời đã đặt để không phải chỉ có Một mà là hàng ngàn, hàng chục ngàn Ê-xơ-tê Việt Nam nơi hải ngoại để giải cứu con dân của Ngài tại Việt Nam. Chúng tôi muốn nói, Đức Chúa Trời đã đặt để các anh chị em và chúng tôi tại hải ngoại, trong tư thế là công dân của các cường quốc tôn trọng tự do, công bình, và bác ái để chúng ta có thể gióng lên tiếng nói của lương tâm, bênh vực lẽ phải cho anh chị em cùng đức tin của mình đang bị bách hại bởi bạo quyền viêt cộng trong nước. Lời Chúa dạy : "Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân !" (1 Cor 12 :27). "Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu..." (1 Cor 12 :26). Căn cứ vào lời dạy nầy, chúng tôi nhân Danh Thánh của Đức Chúa Jesus Christ, là đầu của Hội Thánh, tha thiết kêu gọi các anh chị em hãy cùng chia sẻ sự đau đớn vì danh Chúa của các anh chị em chúng ta trong nước. Chúng ta hãy cùng nhau hiệp nhất đứng lên nói to cho thế giới biết những sự sai trái, bất công, và độc ác của bạo quyền cộng sản Việt Nam đối với Hội Thánh của Chúa trong nước. Vì Thánh Kinh có dạy : "Hãy mở miệng con nói lên thay cho những người thấp cổ bé miệng ; hãy bênh vực duyên cớ của những người bất hạnh đau thương" (Châm-ngôn 31 :8). Chúng tôi tin rằng lòng yêu thương thành thật và tinh thần quả cảm của các Ê-xơ-tê Việt Nam thời đại khi ôn hoà lên tiếng phản đối hành động đàn áp dân lành của nhà cầm quyền CSVN, sẽ giải cứu con dân Chúa tại Việt Nam ra khỏi bàn tay ác độc của những kẻ vô thần, đánh tan mưu toan thâm độc của Satan, và mở ra một vận hội mới cho dân tộc Việt Nam được tự do nghe và tiếp nhận Tin Lành cứu rỗi.

Chúng tôi không đại diện cho một tổ chức giáo hội của giáo phái nào ; mà là một tập thể Tin Lành ở rải rác khắp nơi, đang cảm nhận và xúc động trước sự đau đớn của anh chị em cùng đức tin với chúng ta trong nước dưới sự bách hại của bạo quyền cộng sản. Chúng tôi tha thiết kêu gọi các anh chị em quan tâm đến sự sống còn của những Hội Thánh Chúa tại Việt Nam. Hãy cùng nhau tổ chức các buổi cầu nguyện tại các thánh đường, tư gia, để xin Thiên Chúa ban cho anh em chúng ta sự bình an. Trường hợp Mục Sư Nguyễn Hồng Quang và quý truyền đạo, tín hữu, bị nhà cầm CSVN kêu án tù trong phiên xử ngày 12 tháng 11 năm 2004 vừa qua là một điển hình. Anh em chúng ta đã bị CSVN gán ép những tội danh rất mơ hồ, nhưng thực chất mọi người chỉ thi hành quyền tự do tín ngưỡng đã được nêu ra trong hiến pháp của Nhà Nước CSVN. Anh em chúng ta bị đàn áp, tù đày chỉ vì rao giảng lời Chúa, chúng ta đang sống đời tự do, chúng ta cần bày tỏ tình yêu thương anh em mình bằng những hành động cụ thể, để mọi người nhận biết chúng ta là con cái của Ngài.

Thưa quý anh chị em,

Trong khả năng và phương tiện mà chúng ta đang có, xin hãy lên tiếng với chính quyền sở tại, Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền... để kêu gọi can thiệp cho anh em chúng ta. Ngoài ra hãy đến tham dự buổi hội thảo về những vấn đề liên quan đến sự bách hại của đảng CSVN trên con cái Chúa và đồng bào chúng ta tại quê nhà, được tổ chức lúc 1 giờ ngày Thứ Bảy, 27/11/2004 sắp tới tại Bat Dat Seafood Restaurant (góc đường Hazard và Brokhurst) 14541 Brookhurst St. # A-3, Westminster, CA 92683.

Nguyện Ba Ngôi Đức Chúa Trời đặt để gánh nặng dốc lòng cầu thay và bênh vực cho anh chị em mình trong linh hồn của mỗi chúng ta.

Hải ngoại ngày 16 tháng 11 năm 2004

Thân kính trong Đấng Christ,

- Chung Tử Lân, Hội Thánh Cộng Đồng Thiên Thành, Westminster, CA.
- Lê Anh Huy, Trưởng Ban Điều Hành www.prayers4vn.net
- Huỳnh Christian Timothy, Quản nhiệm Hội Thánh Tucson, Arizona, USA ; www.tinlanhvietnam.net
- Huỳnh Quốc Bình, Minister, Rose City Church of the Nazarene- Portland, Oregon, USA ; www.danviet.net
- Nguyễn Huệ Nhật, Quản nhiệm Hội Thánh Đông Berlin, Germany
- Nguyễn Thanh Vũ, Trưởng Ban Điều Hành ; www.mucsu.net

 

 

 

HT Thích Qung Độ B Ngăn Cn Không Cho Đi Viếng Thăm HT Thích Huyn Quang
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Ngày 18/11, Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, người cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã bị xuất huyết dạ dày và sức khỏe bị suy yếu trầm trọng. Chư tăng mong muốn đưa Ngài vào điều trị ở Sài Gòn nhưng công an Bình Định không cho phép và muốn ép Ngài ra Hà Nội chữa trị. Sau một thời gian tranh luận, các Phật tử và HT Huyền Quang quyết định đến bệnh viện Quy Nhơn chữa trị chứ không ra Bắc.

Ngay sau khi được tin Đức Tăng Thống lâm trọng bệnh, tăng ni phật tử khắp trong và ngoài nước đã tổ chức lễ cầu an.

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ viếng thăm HT Huyền Quang và HT Thích Quảng Độ.

Vào lúc 15 giờ chiều chủ nhật 21.11, ông tân Đại sứ Hoa Kỳ, Michael W. Marine, cùng với phu nhân đã đến thăm tại bệnh viện Đa khoa ở Quy Nhơn. Do sức khỏe của Ngài còn quá yếu, nên ông Đại sứ chỉ ngồi thăm và hàn huyên trong vòng mười lăm phút.

Cùng lúc đó, tại Thanh Minh Thiền viện ở Sài Gòn vào lúc 2 giờ rưởi chiều chủ nhật 21.11, phái đoàn Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ đến vấn an Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo. Phái đoàn do bà Elizabeth Dugan, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa kỳ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, cầm đầu cùng với ông Seth D. Winnick, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon và ba viên chức cao cấp khác.

Cuộc tiếp xúc diễn ra gần hai tiếng. Hòa thượng trình bày hiện trạng khó khăn, nguy cấp mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang phải đương đầu, và kêu gọi chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ khẩn cấp gây sức ép nhằm chận đứng những vi phạm nhân quyền trầm trọng cũng như hậu thuẫn các nỗ lực vận động cho tự do tôn giáo và cải cách dân chủ tại Việt Nam. Phái đoàn Hoa Kỳ thông báo cho Hòa thượng biết rằng vừa qua Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã quyết định liệt Việt Nam vào danh sách những quốc gia "cần đặc biệt quan tâm" vì lý do đàn áp tôn giáo, mà sắc luật Tự do Tôn giáo trên thế giới được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua năm 1998 có những biện pháp chế tài thích nghi áp dụng cho những quốc gia bị liệt kê vào danh sách này.

Trong dịp này, Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng trình bày cho phái đoàn Hoa Kỳ biết là Hòa thượng sẽ ra Bình Định thăm Đức Tăng thống vào 6 giờ sáng thứ hai, 22.11.

Sau khi Phái đoàn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa ra về, thì Hòa thượng Thích Quảng Độ nhận được Giấy mời của Ủy ban Nhân dân Quận Phú Nhuận yêu cầu Hòa thượng trình diện vào 8 giờ sáng ngày thứ hai để làm việc, nhưng không ghi rõ làm việc gì. Hòa thượng không ký vào giấy mời và ra lệnh cho chư Tăng Ni ở Thanh Minh Thiền viện không ai được thay mặt Hòa thượng ký vào giấy triệu tập, vì Hòa thượng đã quyết định lên đường ra Bình Định.

Công an chặn xe và áp tải HT Quảng Độ về Sài Gòn.

Sáng thứ hai, 22.11, một chiếc xe gồm 10 chư Tăng do Thượng tọa Thích Viên Định hướng dẫn lên đường sang Thanh Minh Thiền viện đón Hòa thượng Thích Quảng Độ cùng đi. Nhưng xe vừa rời khỏi chùa Giác Hoa vào lúc 5 giờ 30 sáng (giờ Việt Nam), chạy được chừng vài trăm thước thì bị công an chận lại ở Ngã Ba Trường Vẽ, ngay trước Công ty Điện lực Gia Định ở góc đường Phan Đăng Lưu và Đinh Tiên Hoàng không cho đi. Chư Tăng ở chùa Giác Hoa nghe tin liền kéo nhau ra chỗ chận xe để bảo vệ phái đoàn, 50 Tăng sĩ làm thành một vòng vây bao quanh xe, không cho công an lôi kéo xe đi.

Sau một thời gian giằng co, xe của chư tăng đã rời khỏi Sài Gòn, nhưng đi đến Trảng Bom thì bị chặn lại và Chiếc xe chở phái đoàn Viện Hóa Đạo đã bị hai chiếc xe Jeep và 102 chiếc moto của công an áp giải quay về Sài Gòn vào lúc 15 giờ 30 giờ Việt Nam.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ bị gọi lên trụ sở công an làm việc.

Sau khi áp giải Hòa Thượng Thích Quảng Độ và phái đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trở về Sài Gòn ngày 22/11/2004, Ủy Ban Nhân Dân quận Phú Nhuận đã gửi giấy đòi ngài đến trụ sở vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ tư 24 tháng 11, để bàn về điều mà họ nói là "sở hữu trái phép bí mật nhà nước".

Đến nơi, công an bắt Hòa thượng Thích Quảng Độ phải ngồi chờ nửa giờ đồng hồ. Sau đó cuộc "làm việc" xoay quanh những chuyện lông bông đâu chẳng vào đâu, Hòa thượng liền ngắt quãng và nói : "Các ông mời tôi ra đây nói chuyện "tài liệu bí mật Nhà nước", thì xin đi ngay vào đề. Và tôi cũng chỉ nói chuyện với các ông về đề tài này với điều kiện các ông phải bỏ ngay chữ "chiếm đoạt". Chúng tôi không hề "chiếm đoạt" gì của nhà nước cả. Trái lại, nhà nước này không ngừng chiếm đoạt của chúng tôi".

Phía công an nại cớ họ đã tịch thu tài liệu trong túi xách của Hòa thượng hồi chận bắt ở Lương sơn năm ngoái ngày 9.10.2003. Hòa thượng yêu cầu cho xem. Công an đưa ra một xấp tài liệu bìa màu hồng. Hòa thượng liền bác bỏ và nói : Năm ngoái sau Đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Tu viện Nguyên Thiều, ngày 1.10.2003, có nhiều văn kiện Đại hội, từ đạo từ, diễn từ, danh sách chư tăng cung thỉnh vào Hội Đồng Lưỡng Viện, v.v... khi ra về tôi mang theo tất cả những gì ở Tu viện Nguyên Thiều. Xấp tài liệu mà các ông tịch thu năm ngoái ở Lương Sơn bìa màu vàng chứ không phải màu hồng. Vậy tôi không công nhận nói chuyện trên những chứng liệu không thật.

Lúc ấy đã đến gần 12 giờ trưa, câu chuyện còn đang dùng dằng, thì Hòa thượng đứng dậy đòi ra về. Hòa thượng cho công an biết hôm qua vừa đi khám bệnh tim, bác sĩ làm siêu âm và dặn phải tĩnh dưỡng không được làm việc thái quá, bây giờ đã đến giờ uống thuốc nên phải về chùa. Công an yêu cầu Hòa thượng trở lại làm việc vào chiều hôm ấy và ngày hôm sau. Nhưng Hòa thượng từ khước nói rằng : "Về việc đề cập sáng hôm nay, tôi không có gì phải nói thêm. Tôi sẽ không trở lại đây nữa. Nếu các ông muốn làm việc tiếp về chuyện này thì cứ ra Quyết định bắt tôi vào tù rồi hẳn tiếp tục thẩm vấn".

Thế là gần 4 giờ làm việc chẳng đi đến đâu với những điều tố cáo vu vơ, mà mục đích chỉ muốn cầm chân một công dân không được hưởng những quyền tự do cơ bản, một nhà tôn giáo không được sống theo đức tin của mình.

Đại sứ Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam để cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Độ tự do đi lại.

Ngày 26/11 đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam đã lên tiếng kêu gọi Hà Nội hãy để cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Hòa Thượng Thích Quảng Độ được tự do đi lại và phát biểu ý kiến.

Ông Marine cũng bày tỏ quan tâm đối với việc Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người đứng hàng thứ nhì trong giới lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã bị nhà chức trách ngăn không cho đi thăm Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, là người lãnh đạo giáo hội hiện được điều trị khẩn cấp tại một bệnh viện ở miền Trung.

Trước đó, ngày 15/11/2004, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, viện trưởng Viện Hóa Đạo - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phổ biến một thông bạch tố cáo tội ác của đảng và nhà nước CSVN với chủ tâm đàn áp Giáo Hội qua tài liệu mang tựa đề "Tài liệu mật của đảng CS và Bộ Công An nhằm chống phá và tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất" được phổ biến tại Đại Hội Khoáng Đại kỳ 3 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được tổ chức vào ngày 9/10 vừa qua tại Tu Viện Bảo Pháp tại Los Angeles, Hoa Kỳ. Ngài kêu gọi Phật tử các nơi hãy khẩn cấp phiên dịch tài liệu này và phổ biến rộng rãi tài liệu này để cảnh giác đồng bào mọi giới cũng như tố cáo trước dư luận quốc tế dã tâm đàn áp tự do tôn giáo của nhà nước CSVN.

 

 

 

Cng Sn Vit Nam và Tôn Giáo
Lê Trần
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Vừa qua Quốc Hội Hoa Kỳ tập trung quan tâm đến sự vi phạm tự do tôn giáo trên toàn thế giới. Một ủy ban của quốc hội đã xem xét báo cáo thường niên của Bộ Ngoại Giao nước này tập trung trên 190 quốc gia. Trong số đó có tám nước được đưa vào danh sách những quốc gia có tình hình vi phạm tự do tôn giáo cần được quan tâm nhất, đó là : Burma, China, North Korea, Sudan, Erittea, Saudi Arabia và Việt Nam. Với Việt Nam, một Nghị sĩ thuộc Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ nói : "Chúng ta duy trì sự đảm bảo không im lặng, trong khi Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục ngược đãi các nhà bất đồng tôn giáo, chính trị và các sắc tộc thiểu số" (Voice of America, Dan Robinson, Washington - 7 October 2004).

Hàng ngàn công dân Việt Nam đang bị ngược đãi đơn giản chỉ bởi họ biểu thị niềm tin tôn giáo của mình ngoài khu vực hạn chế của chính phủ. Hai năm vừa qua tình trạng vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam càng trở nên tồi tệ. Chính phủ đàn áp hầu hết các tôn giáo không được Nhà nước Việt Nam công nhận chính thức từ Phật giáo, Thiên chúa giáo, đến đạo Tin lành, Cơ đốc giáo của những người Thượng và sắc tộc Hmong tại cao nguyên Trung phần Việt Nam. Điểm qua vài nét về sự vi phạm này như việc bắt tù dài hạn Linh mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ... chỉ với lý do đơn giản những tù nhân này đòi hỏi tự do cho tôn giáo tại Việt Nam. Gần đây nhất sáng 24 tháng 9 vừa qua hơn 200 cảnh sát vũ trang thuộc đơn vị 113 của Việt Nam đã đột nhập bất ngờ tấn công nhà thờ và nơi ở của Mục sư Nguyễn Công Chính tại tỉnh Kontum. Họ đã tịch thu tài sản, đốt nhà thờ và nhà ở của Mục sư Chính. Tuy đã chạy trốn nhưng vợ và các con Mục sư đã bị bắt lên trụ sở quận Vinh Quang từ 9 :30 sáng đến 4 :30 chiều. Vợ Mục sư đã bị đánh vào bụng trong khi đang mang thai 7 tháng (Human Rights Watch, 21 October 2004).

Vậy tại sao Chính phủ Việt Nam và đảng cộng sản lại căm thù và chống lại một cách dã man và điên cuồng tôn giáo đến thế ? Và tương lai tôn giáo Việt Nam sẽ đi đến đâu ? Bài viết này sẽ trình bày một số cho những câu hỏi đó.

 

Cơ sở phi tôn giáo của các chế độ cộng sản.

 

Tất cả các chế độ cộng sản trên toàn thế giới đều có những chính sách giống nhau đối với tôn giáo. Đây không phải là điều ngẫu nhiên, mà các chính sách này đều xuất phát từ những những nhà kinh điển của Chủ nghiã Marx-Lenin. Khi đề cập đến tôn giáo trong lý thuyết của mình, Karl Marx đã miêu tả tôn giáo như một công cụ áp bức. Ông gọi tôn giáo là "Sự mê hoặc lòng người" [("The opium of the people"], (P.3, Awake, April 22, 2001)

Theo sau Marx, Lenin đã tuyên bố : "Bất kỳ một ý tưởng tôn giáo nào, bất cứ một khái niệm nào của bất kỳ đấng Thượng đế nào, tất cả... chỉ là tình trạng dơ bẩn nhất" [("Any religious idea, any idea of any god at all...is the most inexpressible foulness"],(P.3, wake, April 22, 2001).

Từ những lời phát biểu mang tính miệt thị của những "Đấng sáng tạo ra chủ nghĩa Cộng sản", như những phát súng đầu tiên có sức tàn phá ghê gớm của những nhà độc tài tiếp theo tại các quốc gia cộng sản tấn công không thương tiếc, tàn phá từ vật chất như các nhà thờ, chùa và những nơi thờ phượng khác đến hành hạ tinh thần của các nhà tu hành thuộc tất cả các tôn giáo. Nhiều thành viên trong gia đình các tôn giáo dưới chế độ cộng sản đẵ bị cưỡng chế, tù đày đến bị bức tử, bị giết chóc, đày ải kéo dài suốt nhiều thập niên qua. Rất may mắn, tại một số nước Đông Âu sau khi thoát khỏi chế độ cộng sản, tình hình tôn giáo được cải thiện đáng kể. Trong khi những quốc gia cộng sản còn lại trong đó có Việt Nam, tình trạng đàn áp tôn giáo vẫn nguyên vẹn tuân theo những nguyên tắc và thủ đoạn mà các nhà cộng sản tiền bối đã đặt ra. Về mặt hình thức, người quan sát dễ bị đánh lạc hướng bởi nhà cầm quyền. Song thực chất tùy theo từng giai đoạn, từng mục tiêu cụ thể mà chế độ đối xử với tôn giáo.

Nhớ lại rằng, khi thế chiến thứ hai bùng nổ, chế độ cộng sản tại các nước Đông Âu đặc biệt là Liên Xô đã tỏ ra ưu ái các tôn giáo nhằm thu hút sự ủng hộ cho chiến tranh và kết quả họ đã thành công trong mục tiêu này. Sau khi chiến tranh kết thúc, như con đường đã định sẵn là hạn chế, loại trừ và tiêu diệt tôn giáo không hề thay đổi. Tại Việt Nam, chiến lược copy này được tôn trọng nghiêm ngặt và thực hành ngày một tinh vi, xảo quyệt hơn các bậc thày của họ. Chẳng hạn, không ít người Việt Nam và đặc biệt người ngoại quốc cho rằng hiện nay Việt Nam đã có tự do tôn giáo khi họ nhìn thấy chùa (dưới sự kiểm soát của nhà nước Trung ương, hoặc địa phương) nhiều nơi được khôi phục, nhưng họ không đủ thông tin để hiểu được bản chất chính sách về tôn giáo của mọi chế độ cộng sản nói chung, Việt Nam là một trong các thể chế còn sót lại đó nói riêng. Các thông tin về sự bắt bớ, tù đày và quản thúc các nhà lãnh đạo tôn giáo và sự tàn phá các nơi thờ phượng hầu như được nằm trong bí mật. trong rất ít trường hợp rò rỉ thông tin, những người bị bắt đều được xem như tội phạm hình sự. Từ các nhà sáng lập đến các nhà thực hành mô hình nhà nước cộng sản đều thống nhất là loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống của người dân. Mọi niềm tin nói chung, niềm tin tôn giáo nói riêng bị tước đoạt để nhường cho niềm tin mang tính tuyên truyền ỀĐảng và BácỂ.

 

Từ nhận thức mơ hồ đến đàn áp tôn giáo

 

Nhận thức mơ hồ : Trong các tác phẩm triết học Marx-Lenin, quan điểm về chủ nghĩa duy vật được hiểu như sự thừa nhận về vật chất có trước, phần còn lại thuộc về duy tâm. Từ những khái niệm mà Marx gọi là đã rút được những hạt nhân hợp lý và tư duy ngược lại từ các tinh hoa của triết học cổ điển Đức mà đại biểu ưu tú nhất là Hegel.

Một chút về Hegel (1770-1831) - Nhà triết học lỗi lạc người Đức. Ông nhìn nhận lịch sử con người như sự phát triển của các tư tưởng tự do. Hegel đãcó ảnh hưởng rất lớn trong nhiều tôn giáo và chính trị trong đó bao gồm cả Marx. Kết quả của lối tư duy này là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đại họa cho nhân loại nói chung, tôn giáo nói riêng. Đó là sự tấn công điên cuồng vào tôn giáo và kết cục bi thảm của nó dưới các chế độ cộng sản..

Từ nhận thức về thế giới quan là vật chất có trước, tất cả các tư tưởng khác được xem là duy tâm. Xa hơn nữa bắt đầu từ Lenin, cụm từ "Duy tâm" được đồng nghĩa với mê tín, dị đoan và sự dơ bẩn của tôn giáo. Và từ đây nối tiếp nhau của các thế hệ lãnh đạo trong các nước cộng sản thẳng tay trừng trị và phá phách vào bất cứ lãnh vực nào của đời sống xã hội mà được liệt kê như "Duy tâm", trong đó tôn giáo là mục tiêu cần tiêu diệt.

Cũng như thế, các nhà lãnh đạo tại các quốc gia cộng sản luôn lo sợ cái gọi là "diễn biến hoà bình", mà hai lực lượng đáng gờm nhất của chế độ là trí thức và tôn giáo. Chế độ chưa bao giờ nghĩ rằng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời của xã hội. Tôn giáo gắn chặt giữa niềm tin và tinh thần dân tộc, là nét đẹp và mang giá trị của nền văn hóa đó. Duới sự cai trị của các chế độ cộng sản, họ luôn ý thức được rằng, tôn giáo luôn tập hợp được lòng người. Nếu không kiểm soát chặt chẽ lực lượng này, thì vị trí độc quyền cai trị của họ sẽ bị đe doạ. Vì thế họ cho rằng tôn giáo là một trong những mối hiểm họa thường trực không thể chấp nhận trong bất cứ thể chế cộng sản nào.

Sự đàn áp tôn giáo : Trong quá trình phát sinh, phát triển và trên con đường tự diệt vong của nó, các chế độ cộng sản đã gây không biết bao nhiêu tội ác, đặc biệt đối với các tôn giáo. Liên Xô trước đây, hầu hết các nhà thờ tôn giáo đã bị phá hủy hoặc bị chính quyền sử dụng vào các mục đích không tôn giáo. Các nhà hành đạo, các tu sĩ đã bị bắt đi "học tập cải tạo" trong các nhà tù khổ sai, nơi mà nhiều người đã bị bỏ mạng. Phần lớn những trung tâm đày ải con người này là ở Siberia, vùng Viễn Đông hay Kazakstan. Những trung tâm này được đảng cộng sản Việt Nam copy để áp dụng tại Việt Nam. Sau 1954, miền Bắc dưới sự cai trị của chế độ hiện hành, hầu như các nhà thờ, chùa bị phá hủy hoặc trở thành nơi chứa phân Urê, thuốc trừ sâu hoặc nơi giữ trẻ, trường học. Các giáo sĩ, các nhà tu hành bị tù đày, hành hạ, bức tử hoặc bị mang đi biệt tăm. Sau ngày cộng sản kiểm soát miền Nam, cả nước rơi vào cùng một ngục tù đen tối. Đã có nhiều cuộc biểu tình ôn hòa đòi tự do, nhân quyền nói chung, tự do tôn giáo nói riêng, song tất cả đều bị đàn áp. Không ít các nhà lãnh đạo của các tôn giáo đã bị tù đày, hành hạ. Gần đây nhất là cuộc đấu tranh đòi đất và tự do tôn giáo và của đồng bào Thượng tại cao nguyên Trung phần Việt Nam. Kết cục cuộc đấu tranh đã bị đàn áp thẳng tay bằng các lực lượng cảnh sát và quân đội của chế độ.

 

Triển vọng tôn giáo tại Việt Nam

 

"Tự do tôn giáo hay là chết" đó là tư tưởng rất cương quyết đấu tranh của Linh Mục Nguyễn Văn Lý (người đã bị bắt tù ngày 17/5/2001 vì theo đuổi lý tưởng này). Để thực hiện được hoài bão đó dưới một chế độ vô cùng hà khắc, công cuộc tranh đấu với bạo quyền, gian xảo không phải ít khó khăn và gian khổ, song quyền sống của con người nói chung, tôn giáo nói riêng phải được tự do. Tôn giáo ra đời trước tất cả các đảng phái chính trị của bất cứ nơi nào trên trái đất này và là niềm tin bất diệt của mọi thành viên trong gia đình tôn giáo. Vì vậy nó cần được tự do và phải được tự do. Sống dưới chế độ hiện hành của Việt Nam, như đã phân tích ở trên, thì không thể có tự do tôn giáo theo nghĩa đích thực của nó. Trong quá khứ, hiện tại, tôn giáo tại Việt Nam luôn bị áp bức. Trong tương lai, có thể nhận thấy những xu hướng sau đây :

- Thứ nhất, những tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận chính thức, phải chịu sự lãnh đạo và kiểm soát của đảng cộng sản và chính quyền các cấp từ cơ cấu tổ chức, tấn phong các hàng giáo phẩm, các buổi lễ thờ phượng, việc đào tạo tu sinh... Nói tóm lại tất cả phải báo cáo và phụ thuộc sự cho phép của chính quyền. Thậm chí, chính quyền còn bổ nhiệm đảng viên cộng sản trong các vị trí lãnh đạo các tôn giáo. Những tổ chức tôn giáo này sẽ được phép hành đạo như đã nói trong khuôn khổ qui định của đảng và nhà nước Việt Nam và thường được gọi là các tổ chức tôn giáo quốc doanh.

- Thứ hai, các tổ chức tôn giáo khác không được sự chấp thuận chính thức của Đảng và nhà nước Việt Nam, trong số này có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Tin Lành, Cơ Đốc Giáo của người Thượng và sắc tộc Hmong (Montagnard and Hmong Christians)... những tổ chức này tiếp tục bị đàn áp. Các nhà lãnh đạo của họ vẫn sẽ bị bắt bớ, hành hạ. Những thành viên của nhóm luôn bị quấy phá, các địa điểm thờ phượng vẫn là những mục tiêu tấn công của nhà cầm quyền.

Tương lai, do sự chịu đựng và mất mát quá nhiều và quá dài trong chiến tranh, cộng với sự đàn áp, trừng trị thẳng tay và có hệ thống của chính quyền đối các cấp với các thành viên và gia đình họ trong những nhóm tôn giáo này, do quá sợ hãi và một phần do lợi ích của gia đình, nhiều người muốn giữ im lặng trong cam chịu. Một số sẽ bị qui phục của chính quyền và sẽ nhập vào các tổ chức "Giáo hội quốc doanh". Một khi chính quyền còn đủ mạnh trong việc dùng bạo lực, số lượng người qui phục sẽ gia tăng. Như một kết quả thành công trong việc sử dụng vũ lực của chính quyền đối với tôn giáo trong giai đoạn nhất định. Tuy nhiên việc dùng vũ lực và nhà tù để đàn áp không phải là phương thức lúc nào cũng có thể sử dụng được một khi có sự phản ứng của cộng đồng quốc tế và phong trào dân chủ trong nước đủ mạnh.

Trong khi đó, những nhóm khác như đã nói ở trên, với một lòng tin sắt đá vào tự do tôn giáo, họ sẽ đấu tranh đến cùng cho niềm tin này. Cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Việt Nam sẽ không bị lẻ loi. Với sự sẵn sàng, tích cực yểm trợ từ các thành viên tôn giáo trong cộng đồng người Việt hải ngoại, những người thực sự được hưởng quyền tự do trong đó có tự do tôn giáo là lực lượng đáng tin cậy trong công cuộc vận động có hiệu quả tại các nước họ đang sống hỗ trợ cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo tại quê nhà. Với nhiều áp lực về chính trị, kinh tế và ngoại giao của quốc tế từ sự vận động của đồng bào hải ngoại, chính quyền cộng sản Việt Nam sẽ phải chùn bước trong việc đàn áp tôn giáo. Lực lượng đắu tranh cho dân chủ nói chung, cho tự do tôn giáo tại Việt Nam nói riêng sẽ lớn dần về số lượng và mạnh dần về chất lượng. Chế dộ cộng sản phải lụi tàn. Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam sẽ được sống trong một nền dân chủ và quyền làm người đích thực. Mọi thành viên trong gia đình tôn giáo Việt Nam sẽ được tự do trong niềm tin của mình.

Tóm lại, tùy theo từng hoàn cảnh và các phản ứng quốc tế mà một nhà nước cộng sản sẽ có những chính sách ứng xử với tôn giáo để phục vụ cho những mục đích của nó. Nhìn lại tại các nước Cộng Sản Đông Âu trước đây và gần đây nhất là cộng sản Hà Nội mà người đứng đầu nhà nước - Thủ tướng cộng sản Phan Văn Khải đã tiếp kiến và nói những lời đường mật với Hòa Thượng Thích Huyền Quang - người đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam đang có những cải thiện đáng kể về tự do tôn giáo. Tuy nhiên, đừng bao giờ nhầm lẫn giữa các ứng xử ngắn hạn là thích ứng để mang lại lợi ích cho tập đoàn lãnh đạo và mục tiêu lâu dài là tiêu diệt tôn giáo của bất kỳ chế độ cộng sản nào trên toàn thế giới. Muốn có tự do tôn giáo dưới một chế độ cộng sản chỉ là mơ ước mang tính không tưởng. Hoài bão này chỉ trở thành hiện thực một khi không còn tồn tại nhà nước cộng sản mà thôi.

Lê Trần

 

 

 

Giá Tr Ca Dân Tc Vit Nam Đi V Đâu ? ? ?
Nguyễn Thị Thanh Vân
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Buổi chiều hôm ấy tôi còn nhớ mãi. Ngồi trên xe, tôi thoáng nghe đài RFI ở Paris loan tin có nhiều người Việt Nam đến Hồng Kông với vũ khí trong tay đã bị bắt và bị xử án tù hơn 20 tháng. Điều làm cho tôi chấn động hơn là khi họ nói về nguyên nhân mà những thuyền nhân này bị bắt : họ mang thật nhiều vũ khí để bị bắt ở tù càng lâu càng tốt vì như thế bảo đảm có chỗ ăn chỗ ngủ ! ! ! Trăm ngàn dấu chấm than cũng không thể diễn tả được tâm trạng tôi lúc đó ! Và tôi đi tìm lại mẫu tin này trên internet, tôi tìm thấy được trong bản tin trên báo Người Việt online như sau :

"HONGKONG 05-11 (TH).- Nhà cầm quyền Hongkong bỏ tù 12 người đàn ông Việt Nam từ ngày 21 Tháng Mười đến 24 Tháng Mười với các cáo buộc nhập cảnh bất hợp pháp vào lãnh địa này với võ khí, theo tin của cơ quan tư pháp địa phương trong ngày Thứ Sáu 5 Tháng Mười Một 2004. Những người kể trên đã nhận tội, theo lời phát ngôn viên Bộ Tư Pháp Hongkong Felix Leung, và bị truy tố hình sự gồm sở hữu đạn dược bất hợp pháp, tàng trữ vũ khí tấn công bất hợp pháp và ở lậu tại Hongkong. Mười một người bị kêu án mỗi người 21 tháng còn một người bị 24 tháng, theo lời Leung. Các bị cáo nói trên nằm trong nhóm 39 người Việt Nam nhập cảnh bất hợp pháp và bị bắt hồi đầu năm. Hầu hết đều đi bằng ghe máy xuất xứ từ Hải Phòng hoặc một điểm nào ở miền Bắc Việt Nam. Một số nhỏ thì cư ngụ quá thời hạn của chiếu khán du lịch. Khi bắt giữ những người trên, cảnh sát đã tịch thu 4 ống sắt, một số dao và một số đạn. Tuy nhiên không có khẩu súng nào.

Nhật Báo Thanh Đảo ở Hongkong đặt giả thuyết rằng số người nói trên cố tình nhập cảnh lậu và để bị bắt với võ khí để ỀđượcỂ ở tù. Bởi vì trong tù, họ được ăn uống đầy đủ và còn được chữa bệnh không tốn tiền. Leung không bình luận gì về tin tức như vậy."

Với những sự kiện xảy ra như thế, tôi tự hỏi : người Việt mình bây giờ không còn biết hai chữ Ềtự trọngỂ nữa hay sao ? Tại sao những người này có thể chấp nhận làm thân tù xứ người để chỉ đổi lấy hai bữa cơm ? Cho đến giờ có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa hết xót xa với những câu chuyện nàng dâu Đài Loan, hay nạn buôn bán trẻ em đã từng làm chấn động dư luận quốc tế và đồng bào hải ngoại vào đầu năm nay.

Vì đâu mà dân tộc ta ra nông nỗi này ? ? ?

****

Có lần một vị chính giới Ba Lan đã nêu câu hỏi : "Tôi đã có dịp tiếp xúc với nhiều người Việt, tôi thấy quý vị hiền hòa và nhân hậu quá, nhưng tôi không hiểu được vì sao một chế độ tàn ác như chế độ CSVN vẫn tiếp tục tồn tại, ai là những người hỗ trợ họ ?"

Thưa ông, chỉ có những người sống nhờ vào chế độ là những người ủng hộ đảng và nhà nước CSVN. Có lẽ nhân dân ai cũng quá khổ với chế độ này, cộng sản đi tới đâu thì người dân ở đó đều phải tìm cách trốn chạy. Tới nỗi nếu cột đèn có chân nó cũng chạy ... Điều tàn ác hơn nữa, là lúc nào người cộng sản cũng tìm cách lợi dụng những cuộc trốn chạy này để thủ lợi cho mình, từ tài chính đến an ninh, chính trị, họ không từ chối điều gì hết.

- Năm 1954, đảng CSVN lên cầm quyền tại miền Bắc, với sự can thiệp của Pháp, gần 1 triệu người đã rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại mồ mả cha ông đi vào Nam để mưu tìm tự do. CSVN đã tìm cách gài người vào đoàn di cư để vào lủng đoạn miền Nam.

- Năm 1975, đảng CSVN thống trị trên toàn cõi Việt Nam, hàng triệu người đã phải vượt biển vượt biên để mưu tìm một cuộc sống tự do, bất chấp những hiểm nguy một sống hai chết trên con đường đi tìm tự do đầy mạo hiểm. Điều oái oăm nhất là thấy người dân đổ xô đi tìm đường vượt biển, thì chính những tay công an bộ đội đã đứng ra tổ chức các đường dây bán chính thức để bóc lột tiền của dân, và nhẫn tâm hơn hết là họ đã bắn vào dân khi ghe vừa rời bến.

- Kể từ cuối thập niên 80, khi các nước tự do không chịu nhận những người vượt biển tỵ nạn nữa, người dân lại tìm cách thoát khỏi Việt Nam bằng cách đi du lịch rồi tìm cách ở lại, đi làm lậu để kiếm ăn qua ngày trong khi chờ đợi được cứu xét đơn xin tỵ nạn. Lúc này thì công an lại đi tổ chức những đường dây đưa người đi du lịch lậu, đưa người sang du lịch tại Nga, nơi mà sứ quán CSVN còn được quyền tự tung tự tác đối với kiều dân ở đây, họ đã tổ chức rầm rộ những chuyến du lịch Việt Nam - Nga bằng giấy tờ giả, rồi từ đây tìm cách đưa họ vượt biên giới để đến các nước đông âu cựu CS mà sinh sống như Tiệp, Ba Lan, Đức...

Và làn sóng người vượt biên kiểu này cứ tiếp tục cho đến nay. Nhiều người đã phải đi vay để trả 5000 đô la một chuyến vượt biên mà họ không thể tưởng tượng được sự cam go như thế nào... Được đường dây tổ chức đưa tới Nga, sau đó họ được thả lỏng để tự vượt đường rừng sang Tiệp, sang Ba Lan, sang Đức... Một tiếng ngoại ngữ không biết, băng rừng trong đêm dưới những cơn mưa tuyết mùa đông, lắm khi bị cơ quan an ninh các nước này bắt nhốt tù vài tháng vì nhập cư bất hợp pháp. Khi được thả ra, họ lại tiếp tục con đường chông gai để tìm đến những nơi tạm sống yên ổn. Nhưng khổ nổi, định cư tại những nước này một cách bất hợp pháp, họ phải trốn chui trốn nhủi và đi làm lậu để kiếm sống. Họ kiếm ăn rất vất vả, chật vật lắm mới sống nổi. Thế mà người ta vẫn tiếp tục đi như thế, ngay cả những người dân ở vùng quê của "Bác", vùng đất Nghệ An "oai hùng anh dũng của Bác"...

- Hễ cứ ngõ ngách nào mở đường cho người dân có lối thoát ra khỏi nước thì dân cứ tìm cách để đi. Người dân rủ nhau đi lao động ở nước ngoài. Đây là chính sách của nhà nước nên nhà nước tha hồ mà tổ chức những đường dây đưa người ra nước ngoài lao động mà không hề quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi của dân mình. Mỗi người muốn đi lao động nước ngoài phải nộp tiền cho nhà nước không biết bao nhiêu mà kể, nhưng họ vẫn đi, vì thà như vậy mà còn kiếm được chút đỉnh tiền gửi về giúp đỡ gia đình.

- Một con đường khác để đi ra khỏi nước là du học hay tu nghiệp với những chương trình trao đổi văn hóa giáo dục với các nước tiên tiến. Các vị có chức có quyền lại thêm một cơ hội lường gạt dân, tự đứng ra xưng là cơ quan trung gian để tuyển sinh, nhận tiền để đưa người đi mà không đi tới đâu hết như trường hợp nhóm Carlyle Group vừa mới bị phanh phui vào ngày 2/11 vừa qua.

- Và những con đường khác ... ngày càng tồi tệ hơn. Cha mẹ bán con để sống, phụ nữ phải đi lấy chồng xứ lạ để có nơi nương tựa... Tất cả những đường dây này được tổ chức trên qui mô lớn thì chắc chắn công an nhà nước đã được chia chác nhiều phần, điều này đã được xác nhận trước ống kính của báo chí và các cơ quan thiện nguyện quốc tế.

Trước sự kiện mới mẻ ở Hồng Kông lần này, có lẽ một vài anh công an đã có sáng kiến để đưa người ra nước ngoài theo kiểu mới, khỏi cần phải làm lụng kiếm ăn, chỉ chịu nhục mang án ngồi tù ở xứ người để được nuôi ăn nuôi ở và chăm sóc sức khỏe...

***

Dạy cho dân quên mất đi sự tự trọng, quên mất đi cái liêm sỉ của con người là cái tội không thể tha thứ được, và chỉ có đảng và nhà nước CSVN mới đào tạo ra những con người nhẫn tâm đưa dân tộc mình xuống hố sâu đầy bùn nhơ như thế !

Nguyễn thị Thanh Vân

 

 

Nhng "Ngh" Mi Ti Vit Nam : Ngh ... "Đấm Người" X Thanh
Nam Thanh
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Thời buổi cả nước được đảng cộng sản đưa vào con đường chủ nghĩa tư bản hoang dã, xã hội Việt Nam có nhiều "nghề" mới lạ... Một số nghề hoàn toàn không có trước đây, và một số nghề không còn hoạt động, nay được vực dậy. Nhiều công việc nghe qua người ta không thể nghĩ là chuyện thực, nhưng nó thực sự hiện hữu như câu chuyện mới đây về "nghề" "ngủ trưa ôm" !. Hôm nay báo chí nhà nước cống hiến bà con một câu chuyện khác : Nghề... "đấm người" ở xứ Thanh. Xin mời quý độc giả theo dõi câu chuyện dưới đây

Nghề... "đấm người" ở xứ Thanh

Đêm. Bãi biển Sầm Sơn lồng lộng gió biển. Xen giữa tiếng gió, tiếng sóng và tiếng hát karaoke trong các nhà hàng là tiếng rao "quất đê... !" vòng vọng. Sau tiếng rao một lúc, du khách mới thấy một vài đứa trẻ đen sạm nắng biển cầm chiếu đi qua. Mời mọc từng người mà chỉ nhận được cái lắc đầu, chúng lại bước về phía toán du khách khác với những bước đi xiêu vẹo dưới ánh trăng vằng vặc biển đêm Sầm Sơn... Ở xứ Thanh, nghề "đấm người" - nghề tẩm quất không chỉ có ở những đứa trẻ lem luốc Sầm Sơn mà còn là "nghề kiếm cơm" của những người mù ở một góc phố Hàng Than, thành phố Thanh Hóa ...

"Kiến bò, cò mổ, nhổ bão !"

"Quất... đ..ê... !". Tiếng rao của thằng bé 10 tuổi tên Hoàng làm nghề tẩm quất dạo cứ dội đến tai chúng tôi lúc xa lúc gần giữa mịt mùng biển đêm Sầm Sơn. Hình như lúc này còn quá sớm để du khách tìm đến dịch vụ chăm sóc sức khoẻ di động này. Tiếng rao của thằng bé cứ mỏng dần, mỏng dần rồi chìm lắng trong tiếng sóng biển ồn ào. Đêm đen kịt và buông hờ hững trên bãi biển. Dạo một vòng ở bãi C vẫn không có khách, Hoàng trải chiếc chiếu đơn mang theo ngồi nhìn ra đại dương thăm thẳm, có lẽ nó đang chờ đến giờ "hoàng đạo" sắp đến. Đó là thời điểm sau 10 giờ tối, khi khách du lịch bắt đầu cảm thấy mệt mỏi sau cả ngày quần nhau với sóng và gió Sầm Sơn, với khí hậu nóng nực xứ Thanh. Có những đêm, hội "đấm người" của Hoàng thay nhau làm mà vẫn không hết việc.

Cứ mỗi dịp hè về, những đứa trẻ nghèo ven biển Sầm Sơn với những mái tóc vàng hoe, nước da cháy nắng lại ôm theo manh chiếu lượn lờ khắp bãi biển tìm khách. Cậu bé Lê Huy Hùng (xã Quảng Cư) làm nghề "đấm người" đã 2 năm nay. Mỗi dịp nghỉ hè, khi mà du khách đến Sầm Sơn bắt đầu tấp nập thì Hùng và các bạn trong xóm lại cắp chiếu lang thang trên khắp các bãi biển "làm hè". Tất cả những bài tẩm quất "truyền" vào người khách, Hùng đều học được từ những tháng ngày "làm ăn xa" trên Hà Nội cách đây hai mùa hè. Hùng nhớ lại..., khi đó em rời quê lang thang bán kẹo cao su ở khu vực Ga Hà Nội. Sau mỗi tối về khu vực Cửa Nam tìm chỗ ngủ, em học mót dần dần được ngón nghề của dân "đấm người" nổi tiếng ở đây đem về quê kiếm tiền. Theo Hùng, nghề tẩm quất dễ kiếm tiền, vả lại nhà em có tới 7 người, đều sống dựa vào chài lưới nên rất vất vả, cứ nghỉ hè là em lại gác sách vở sang một bên và ra biển... "đấm" khách.

Trong đội quân "cầm chiếu" ở các bãi biển Sầm Sơn, Hoàn "đen" nổi tiếng hơn cả. Hoàn mới 15 tuổi, cao ấp xỉ 1,1m nhưng đã có "thâm niên" đến 6 năm trong nghề tẩm quất. Bạn cùng nghề kể, nhà Hoàn vốn nghèo, bố không làm ra tiền lại hay cờ bạc, rượu chè bê tha rồi về đánh chửi vợ con. Cách đây 3 năm, bố Hoàn bỏ mấy mẹ con bơ vơ trong nghèo khó rồi đi lấy vợ hai ở một nơi khác. Một mẹ và 3 con lặng lẽ nương tựa vào nhau lầm lũi sống trong căn nhà tồi tàn ven biển Quảng Cư. Mẹ Hoàn ngày ngày đi kéo lưới thuê nhưng không đủ tiền ăn, tiền học cho mấy đứa con. Hoàn nghỉ học từ lớp 5 để phơi người ra bãi biển làm đủ nghề kiếm sống. Hoàn từng nhặt phế liệu, bán bánh đa, kéo lưới và hiện nay là tẩm quất. Ở bãi biển Sầm Sơn những thân phận như Hoàn "đen", Lê Huy Hùng không ít vì các em hầu hết đều là con nhà nghèo làm thêm trong dịp hè.

Với đội ngũ "đấm người" trên bãi biển Sầm Sơn, những "chiêu" dễ và quen thuộc để "tiếp khách""kiến bò, cò mổ, nhổ bão". Những bài khó và hấp dẫn hơn là "cào cào đá móc, cóc nhảy song phi, ngựa phi nước đại, vác cày qua núi...". "Lành nghề" như Hùng, Hoàn "đen", Thoan "gầy"... trung bình mỗi ngày cũng kiếm được trên dưới 50.000 đồng. Mỗi lần "tiểu quất" như cạo gió, bao đầu khách chỉ trả có 3-5 nghìn đồng. Mỗi lần "đại quất" với thời gian 30-40 phút, "thợ quất" thu 10 - 15 nghìn. Thoạt nhìn ai cũng tưởng nghề "đấm người" ở đây đơn giản như... trải chiếu. Nhưng theo lời "tay quất" Hoàn "đen", trải chiếu ra, mời được khách nằm xuống chiếu là ... cả một vấn đề ! Hoàn "đen" bảo, trước tiên phải biết nịnh khách và khuyến mãi bằng vài đường cơ bản cho khách ... "mê" đã. Hùng cười nham nhở : "Cũng mệt, gặp ông nào gầy thì ... đau tay vì xương, gặp ông nào béo tốt, to bụng thì cũng... toát mồ hôi !". Cậu bé cho biết thêm, mỗi đêm phải phục vụ nhiều khách nên dân tẩm quất như nó cũng học được các ngón nghề của "đàn anh Cửa Nam" là biết điều hoà sức lực khi "ra đòn". Nhiều khi khách tưởng "thợ quất" đang "làm việc hết mình" với những tiếng vỗ bôm bốp vào da thịt, tiếng kêu răng rắc ở các khớp xương nhưng thực ra đó chỉ là một chút mẹo nhỏ. Hùng cười : "Phải làm như thế chứ ! Nếu không đánh xong cho 2 khách là mình đã phải nhờ người khác... tẩm quất cho rồi !". Khoảng sáng giữa đêm đen !

Phố Hàng Than, thành phố Thanh Hóa, có một ngôi nhà cứ 7 giờ tối lại nhộn nhịp người ra vào. Đó là câu lạc bộ Tẩm quất của Hội người mù Thanh Hóa mà các thành viên ở đây thường gọi với cái tên "câu lạc bộ tình thương". Khi thành phố bắt đầu lên đèn, tiếng đấm, tiếng "chặt" vào da thịt vang lên bồm bộp khắp căn phòng 20m2. Xen giữa những hồi đánh là tiếng đọc thơ, tiếng hát của những "thợ quất" mù. Tiếng đọc thơ vang lên trong đêm, những người mù làm nghề "đấm người" đang muốn giải bày điều gì ?

Vừa đánh cho khách, từng "thợ quất" bắt đầu kể về mình, về số phận bất hạnh phải gắn bó cả đời với đêm đen dằng dặc. Họ rụt rè nói về mình rồi lại trầm ngâm theo nhịp "kiến bò, cò mổ, nhổ bão" lên thân thể khách. Họ làm việc với sự đam mê, nhiệt tình hiếm thấy để lấp láp nỗi buồn mù loà trong sâu thẳm. Đó là khoảng sáng hiếm hoi giữa đêm đen mà không phải ai cũng thấy ở những "thợ quất" mù xứ Thanh này.

Trước đây, nơi câu lạc bộ tẩm quất đang hoạt động bây giờ là những mái nhà tranh tồi tàn, rách nát của Hội người mù Thanh Hoá. Từ công việc "truyền thống" của người mù là làm tăm tre, cách đây 2 năm, câu lạc bộ tẩm quất đã ra đời. Nếu chỉ làm tăm tre, que kem không thì hội viên sẽ chết đói. Cho nên câu lạc bộ đã mời người về dạy nghề tẩm quất cho anh em. Nghe nói khu vực Cửa Nam (Hà Nội) nổi tiếng về nghề tẩm quất, anh Quyết cùng mấy anh em trong hội đã lặn lội ra đó học tập kinh nghiệm đúng ba đêm. Kết hợp với một vài hội viên đã từng đi đánh lang thang khắp nơi quay về gia nhập hội, thế là câu lạc bộ tẩm quất ra đời vào ngày 24 tháng 2 năm 1995. Tất cả các anh chị em đều xem hội như mái nhà chung của mình. Và cũng tại đây, biết bao nhiêu câu chuyện cảm động đã ra đời...

"... số con bất hạnh mẹ ơi
Muốn nhìn chẳng thấy mặt trời ở đâu
Đêm khuya thắp đó đèn dầu
Một con với mẹ nỗi đau khổ lòng
Đỏ đèn mẹ hỏi thấy không ?
Mẹ ơi nhìn mãi con không thấy gì !..."

Đây là bài thơ xúc động như một tự cảm của một hội viên Hội người mù Thanh Hóa đã trở thành "bài thơ cửa miệng" của anh em trong câu lạc bộ tẩm quất mỗi lúc vui buồn. Người "đấm" tôi hôm đó là anh Nguyễn Quốc Tiến, một trong những "thợ lành nghề của câu lạc bộ." Anh Tiến bị mù bẩm sinh nhưng may mắn học được nghề tẩm quất sau nhiều năm phiêu bạt tứ phương. 17 năm đánh lang thang, hành nghề tẩm quất dạo từ Nam ra Bắc anh đã học được nhiều kinh nghiệm cho riêng mình. Khi câu lạc bộ tẩm quất được thành lập, Hội người mù đã mời anh về tham gia và dạy thêm cho mọi người. Vừa dùng hai tay chặt, chém, xoa, bóp, vặn ... vào lưng tôi, anh Tiến vừa nói : "Gần nửa cuộc đời lang thang ngoài xã hội, nay được về với câu lạc bộ là điều hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Tôi chẳng có gia đình, đây chính là gia đình yên ấm nhất của chúng tôi !".

Cùng cảnh mù lòa lang thang như anh Tiến là ông Nguyễn Văn Tý năm nay đã sắp bước sang tuổi "thất thập". Ông cũng là người không có gia đình, họ hàng thân thích. Mọi người kể lại rằng ông bị đẻ rơi ở nhà thờ, bị mù bẩm sinh. Ông Tý lớn lên trong sự cưu mang của người dân quanh nhà thờ thị xã Thanh Hóa. Khi ông đã nhông nhống, người ta mang ông về nuôi. Lớn lên ông lại đi, lại lang thang khắp nơi chỉ với chiếc gậy và chiếc bị cói. Hàng chục năm trời phiêu bạt ông đã học được nghề tẩm quất dạo kiếm cơm để rồi cuối đời lại lần hồi về Thanh Hóa. Trong một lần đi đánh tẩm quất dạo vào ban đêm, ông Tý bị xe máy húc gãy chân. Biết tin, Hội Người Mù thành phố đã mời ông vào câu lạc bộ tẩm quất, không phải đi đâu mà mỗi tháng ông cũng kiếm được 500-600 nghìn.

"Khoảng sáng" đẹp nhất trong đêm đen của những người mù thanh phố Thanh Hóa là có những người hiểu nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng. Đó là vợ chồng anh Nam chị Hải ở xã Đông Hương (Đông Sơn). Anh Nam là thương binh hỏng mắt, chị Hải là người mù bẩm sinh. Anh chị cùng làm tăm tre với nhau, thương nhau và quyết định vượt qua trăm nghìn gian lao của cuộc sống để trọn đời bên nhau. Đó còn là trường hợp của chị Đào Thị Thành (phường Phú Sơn) và anh Lê Ngọc Thể (xã Đông Hương). Anh Thể đi Thanh Niên Xung Phong bị hỏng mắt, chị Thành bị mù bẩm sinh. Cả hai người cùng lỡ bước. Khi vào hội cả hai anh chị đều đã xấp xỉ 50, thương nhau nên tự nguyện gắn bó trọn đời bên nhau nhưng lấy nhau chưa lâu, anh Thể đột ngột bị cảm rồi mất, để lại mình chị Thành bơ vơ.

Cảm động nhất là chuyện của anh Lê Thanh Giai (xã Đông Cương), một thành viên câu lạc bộ tẩm quất. Trước đây anh là công an tăng cường vào Tây Nguyên, chẳng biết do đi rừng rú nhiều hay bệnh gì mà mắt anh cứ mờ dần. Anh bị nghỉ việc vì mất sức lao động và về quê với vợ con. Từ hôm mắt bị mù hẳn, anh Giai chán chường, vớ bất cứ cái gì có thể để ném vợ xua con khiến gia đình lao đao đến nỗi ai cũng tưởng anh và chị sẽ chia tay nhau. Hiểu nỗi đau của chồng, chị Nguyễn Thị Tiếp, vợ anh, đã hết lòng khuyên nhủ và đi tìm hội người mù cho chồng sinh hoạt, nhưng khi đó chưa có. Cứ thế, anh chán chường bao nhiêu thì chị sẻ chia bấy nhiêu. Năm 1994, khi nghe tin nói về chuyện kết nạp hội viên người mù, chị Tiếp đã lọc cọc đến hội xin cho chồng gia nhập. Khi mới vào hội, anh Giai trong tổ làm tăm tre. Suốt 3 năm trời quãng đường từ Đông Cương đến phố Hàng Than, chị cần mẫn đưa đi đón về người chồng mù của mình. Năm 1996, anh chuyển sang học nghề tẩm quất và trở thành một trong những "thợ quất" cứng nhất của câu lạc bộ. Hiện nay anh Lê Thanh Giai đang học thêm nghề mát-xa ở Trường Y Học Tuệ Tĩnh (Hà Đông) để về truyền lại cho anh em trong câu lạc bộ.

Những số phận mù lòa, những cảnh đời khác nhau, những câu chuyện cảm động, chân tình ở câu lạc bộ tẩm quất tôi không thể kể hết. Chỉ biết, trong ngôi nhà nhỏ cuối phố Hàng Than ấy hằng đêm vẫn vang lên những "âm thanh tẩm quất" rộn ràng xen lẫn tiếng đọc thơ ngắt quãng, trăn trở. Tôi biết, đó là một khoảng sáng. Khoảng sáng nhỏ nhoi giữa đêm đen... ! Nam Thanh

* "Khoảng sáng" trong đêm đen !

 


Dân Ukraine Biu Dương Sc Mnh
Nguyễn Trúc Giang
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Một cuộc biểu tình kéo dài hằng tuần dưới tuyết

 

Tại thành phố Kiev, thủ đô của Ukraine, hằng trăm ngàn người xuống đường biểu tình và hằng chục ngàn người không chịu giải tán dù đêm khuya và trời tuyết lạnh. Mới nghe qua tin này, ai cũng nghĩ đến việc xảy ra vào đầu thập niên 1990, khi Liên Xô sụp đổ, mọi người ào ra đường để hít một chút không khí tự do, một chút không khí dân chủ và cũng để bảo đảm rằng công an sẽ không tìm cách bảo vệ những mảnh quyền lực cuối cùng của một chánh quyền đang bị truất phế.

Tuy nhiên, cuộc biểu tình này không xảy ra vào đầu thập niên 90, mà đúng vào ngày 22 tháng 11 năm 2004, diễn ra chẳng những tại Kiev mà còn lan tràn tại rất nhiều thành phố khác như Lviv. Họ biểu tình vì họ cho rằng cuộc bầu cử tổng thống diễn ra ngày chủ nhật 21/11 trước đó đã có nhiều gian lận. Hai ứng viên tổng thống là ông Victor Yakounovitch và ông Victor Youshchenko, hai người về đầu trong vòng một diễn ra vào đầu tháng 11. Theo kết quả mà Viện Bảo Hiến Ukraine không cho công bố thì ông Yakounovitch đã thắng cuộc bầu cử với 49% số phiếu, hơn ông Youshchenko 3% trong khi các viện thăm dò trước đó đều tiên đoán ông Yushchenko sẽ thắng với hơn 10%. Các quan sát viên quốc tế Tây phương đều tuyên bố rằng cuộc bầu cử không được trung thực, trong lúc tổng thống Nga Poutine cho rằng không có gì đáng trách trong cuộc bầu cử này.

 

Hai chương trình tranh cử đối nghịch

 

Ông Yakounovitch, 54 tuổi, đương kim thủ tướng từ tháng 11 năm 2002, và là người được đương kim tổng thống Leonid Kouchna ủng hộ cũng như một số tài phiệt. Ông xuất thân là thợ từ vùng miền Đông xứ Ukraine, cạnh Nga. Trước khi là thủ tướng, ông là tổng đốc tỉnh Donestk, một tỉnh miền Đông, có rất nhiều người gốc Nga. Ông rất được dân chúng tại vùng này ưa chuộng, đặc biệt là các người làm việc trong các mỏ than.

Ông Youshchenko cũng gốc miền Đông xứ Ukraine, là một kỹ sư kiêm kinh tế gia. Ông đã có lần giữ chức Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia từ năm 1993 đến năm 1999, và có công làm giảm lạm phát cũng như đưa đồng hryvnia, năm 1996, thay thế đồng rouble của Nga, mà Ukraine vẫn sử dụng sau khi độc lập vào năm 1990. Năm 1999, ông được tổng thống Leonid Kouchna mời làm thủ tướng. Trong thời gian này ông đã dẹp bớt nạn tham nhũng cũng như tình trạng lộng quyền của một số tài phiệt, có thể vì thế mà ông đã bị tổng thống Kouchna truất phế vào năm 2001. Từ mấy tháng nay ông bị một căn bệnh lạ kỳ làm hư da và nhiều người cho rằng ông đã bị chánh quyền đầu độc. Phải nói rằng trong những năm gần đây, nhân quyền thường hay bị chà đạp, nhiều nhà báo đã bị thủ tiêu và các bài trên Internet bị cầm đoán, truyền thông tư không được tán phát tại nhiều vùng, nhất là các vùng phía Đông Ukraine. Chánh sách của hai ông Youshchenko và Yakounovitch đề nghị trong lúc bầu cử hoàn toàn trái ngược.

Ông Yakounovitch chủ trương một chánh sách gần Nga hơn và dự định thành lập cùng với Nga, Belarus và Kazachtan một thị trường chung. Ông không đồng ý việc Ukraine gia nhập vào Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương (OTAN, NATO). Phải nói rằng, Ukraine tùy thuộc rất nhiều vào Nga trên vấn đề năng lượng, nhất là sau biến cố Tchernobyl, các lò nguyên tử tại quốc gia này đều bị ngưng. Vì chánh sách gần với Nga, nên ông rất được các đồng bào ở vùng Đông ưa thích. Chúng ta cũng nên biết rằng, một phần lãnh thổ của vùng Đông trước đây là thuộc Nga, như bán đảo Crimée mà chính ông Kroutchev đã sát nhập vào Ukraine năm 1954, với ý đồ muốn Nga hóa luôn cả Ukraine. Lịch sử của Ukraine và Nga vẫn dính liền nhau từ hơn mười mấy thế kỷ. Triều đình đầu tiên của Nga phát xuất từ thành phố Kiev, nay là thủ đô của Ukraine và cựu tổng bí thư Leonid Brejnev cũng gốc gác từ miền Đông Ukraine. Chánh sách gần Nga cũng làm cho những người làm mỏ ưa thích vì họ lo ngại khi sát gần lại với Tây phương, các hầm mỏ sẽ bị đóng cửa, họ càng lo ngại hơn vì không được thông tin đầy đủ về các kế hoạch của ông Youshchenko.

Ông Youshchenko trái lại muốn Ukraine trở thành hội viên của NATO, cũng như ông dự định làm đơn để Ukraine gia nhập vào Hiệp Hội Âu Châu trong tương lai. Ông muốn cải tổ toàn diện lại kinh tế của Ukraine, dẹp bớt các hệ thống quyền lực đang ảnh hưởng trên nền kinh tế và chính trị của xứ này. Vì thế ông được giới trí thức cũng như giới sinh viên ủng hộ. Ông cũng được dân chúng phía Tây Ukraine ủng hộ, vì dân ở vùng này có nhiều liên hệ với Ba Lan. Trong lịch sử họ thuộc phần đất Ba Lan trong nhiều thế kỷ và việc gia nhập vào Hiệp Hội Âu Châu sẽ cho họ nhiều cơ hội kinh tế. Họ vẫn không thích ảnh hưởng của Nga mà họ cho rằng còn quá nhiều sau khi được độc lập.

 

Phản ứng của quốc tế

 

Đại diện của Hoa Kỳ là người đầu tiên đã lên án cuộc bầu cử và cho rằng dân Ukraine đã bị lừa trắng trợn. Như chúng ta đã biết, tổng thống Poutine cho rằng không có gì đáng nói trong cuộc bầu cử dân chủ này và người dân Ukraine đã lựa chọn người lãnh đạo. Việc chọn lựa một ứng cử viên thân Nga là một thắng lợi lớn cho họ, nhất là họ rất ngại ngày NATO đến cạnh biên giới của họ. Nếu tình hình biến chuyển, nhiều người dân Ukraine lo ngại là họ sẽ có thể đi đến việc can thiệp quân sự như nhiều tin đồn suốt trong tuần từ ngày 21/11, nhưng việc này khó có thể xảy ra vì áp lực quốc tế và cũng vì quân đội Nga không còn hùng mạnh như xưa.

Đảng Cộng sản Trung Quốc ủng hộ ông Yanoukovitch vì ông này có chủ trương bảo thủ như họ, siết chặt kiểm soát chính trị, kềm kẹp truyền thông, nghĩa là chính sách họ đang áp dụng tại Trung Quốc.

Các quốc gia Tây Phương cũng lên án, nhưng với những lời lẽ hiền hòa hơn Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong Hiệp Hội Âu Châu có hai thái độ rõ rệt, một đằng là các quốc gia vừa gia nhập lên tiếng rất cứng rắn, và tổng thống Ba Lan với tư cách là chủ tịch của Hội Đồng Âu Châu đã yêu cầu thiết lập một hội nghị để giải quyết vấn đề. Hội nghị đã bắt đầu vào ngày 26 tháng 11 với sự tham gia của Ba Lan, các quốc gia Balte và đại diện của Hiệp Hội Âu Châu cũng như tổng thống Kouchna và hai ứng cử viên. Các quốc gia Đông Âu rất e ngại có xung đột hay nội chiến tại Ukraine, vì trong trường hợp này, việc giúp đỡ những người trốn tránh chiến tranh sẽ gây thêm gánh nặng cho nền kinh tế cua họ. Họ cũng không muốn viễn cảnh một nước Nga mở rộng đến ngay bên cạnh họ.

Trái lại, đối với các quốc gia Tây Âu, thì Ukraine không phải là mối quan tâm hàng đầu mà cũng không phải là một khách hàng kinh tế đáng kể. Pháp thì nhẹ nhàng hơn, vì hiện thời trên chính trường quốc tế chỉ còn Nga là đồng minh, sau khi Pháp bất đồng ý kiến với Hoa Kỳ và Anh về vấn đề Iraq, đặc biệt là sau khi tổng thống Chirac bị các quốc gia Đông Âu tẩy chay vì lên giọng trích thượng các quốc gia này về vấn đề Iraq.

 

Tiếng nói của người dân sẽ là tiếng nói cuối cùng

 

Việc biểu tình rầm rộ của dân chúng thế nào cũng sẽ đưa đến một giải pháp tốt đẹp cho Ukraine, mặc dù các ủng hộ viên của Yanoukovitch đã đáp xe lửa để đến Kiev bày tỏ lập trường. Cho đến nay, hai đám biểu tình vẫn đối thoại một cách vui vẻ, mỗi bên cố gắng giải thích lập trường của mình. Cuộc biểu tình đã làm thức tỉnh nhiều người nhất là giới ký giả của các cơ quan truyền thông công lập, họ bắt đầu loan tin một cách trung thực và không nghe các chỉ thị từ trên phủ tổng thống như trước đây. Nhiều quan sát viên nghĩ rằng quân đội sẽ trung lập và có thể thiên về phía đối lập, nghĩa là về phía ông Yushchenko. Cuộc nội chiến chắc ít xác suất xảy ra như nhiều người lo ngại, nhưng có thể Ukraine sẽ chia đôi nếu không có một cuộc bầu cử thật sự dân chủ trong những ngày tháng gần đây và nếu chánh quyền mới không biết hàn gắn.

Quyền lợi tối thượng của Ukraine là hướng về phía Âu châu để mở rộng kinh tế. Tuy nhiên, Hiệp Hội Âu châu phải có những biện pháp giúp đỡ như là hạ bớt thuế trên các nông phẩm. Ngoài ra, Ukraine hướng về Âu châu còn để thoát khỏi ảnh hưởng của Nga và có điều kiện hơn để giải quyết vấn đề biên giới với Nga.

Trên vấn đề biên giới này, cũng tương tự như Việt Nam với Trung Quốc, Ukraine đang phân chia lại ranh giới với Nga, trên đất liền cũng như trên biển Azov. Biển Azov là biển nằm giữa Nga và Ukraine, là một phần nhỏ của biển Đen, rất quan trọng trên mặt quân sự đối với Nga và Ukraine. Đó là nơi có một số căn cứ hải quân của Nga. Do đó, Nga không muốn các quốc gia Tây phương lui tới để quan sát. Điều này có thể xảy ra nếu Ukraine gia nhập vào NATO. Biển này cũng có nhiều hầm dầu hỏa chưa khai thác. Đây là một tiềm năng quan trọng có thể giúp Ukraine thoát khỏi sự lệ thuộc vào Nga. Nếu vấn đề biên giới trên đất liền đã được ký kết vào năm 1997 và chỉ còn những tranh cải nhỏ tại một vài địa phương, thì việc phân chia vùng biển Azov chưa được ký kết. Leonid Kouchna, mặc dù muốn nhượng và chấp nhận những đòi hỏi của Poutine, nhưng vẫn không dám ký, vì quốc hội Ukraine hăm dọa sẽ cách chức nếu ký nhượng một phần biển. Nhờ sự cương quyết của cơ chế dân cử này, nên cuộc tranh chấp trên biển Azov giữa Ukraine và Nga vẫn tiếp tục. Trong khi đó ở Việt Nam, Quốc Hội chỉ là một cơ chế bù nhìn của đảng CSVN, nên đã nhắm mắt phê chuẩn những ký kết vô cùng bất lợi cho đất nước !

Dân Ukraine đã dành lại độc lập nhờ sự sụp đổ của Liên xô cách đây gần 15 năm. Ngày hôm nay, sức mạnh của người dân sẽ giúp cho họ tìm được dân chủ. Đó là điều mà ai cũng chúc họ thành công và người Việt Nam sẽ cố gắng học những bài học quý giá này.

Nguyễn Trúc Giang

 

 

Nhng Ngày Rt Dài ... Ca Tháng 11 năm 2004
Bùi Xuân Quang
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Như vậy George W. Bush vẫn còn lãnh đạo trong bốn năm sắp tới. Sau cuộc bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ, bỗng nhiên các cơ quan truyền thông Tây phương hình như cụt hứng và không liên tục đưa những tin tức thảm hại của quân đội Mỹ tại Iraq lên hàng đầu. Lúc đã biết rằng quyền lực ở Hoa Kỳ không trao vào tay ông Kerry, các nhà báo và trí thức muốn đánh đổ ông Bush với những bài chỉ trích thẳng tay, hay những cú giò lái rất nghề nghiệp giang hồ, cũng phải giữ im lặng như để tìm lại sức. Cách truyền tin về vụ tấn công Faludja, với hơn 2000 người chết, rõ ràng là nhẹ tay, không moi móc, đối với những tin tức về quân đội Mỹ tại Iraq từ trước đến nay.

Condoleezza Rice lên thay thế Colin Powell, các nhà quan sát chính trị chuyên nghiệp thường hay bên vực thái độ "bồ câu" của Colin Powell và chỉ trích cánh "diều hâu" của Condoleezza Rice không có vẻ mến tiếc quá đáng Colin Powell. Ngược lại, những bài viết về Condoleeza Rice lại có vẻ "chờ đợi với một nét thích thú không dám nói ra". Họ nhấn mạnh tài năng khác thường của Condoleeza Rice về âm nhạc (bố mẹ đặt tên bà với một từ trong âm nhạc "con dolcezza", với nét nhẹ nhàng), vì "Condi" cùng chơi hòa tấu dương cầm với những tài năng xuất chúng của thế giới như hòa tấu Bramhs với Yo Yo Ma. Đấy là không nói đến tài nghệ thể thao của bà ta lúc còn trẻ. Trong tháng mười một này, các nhà quan sát Âu châu đang bị mờ mắt, hụt hơi, và chưa tìm lại cảm hứng nghề nghiệp để chỉ trích Condoleezza Rice.

Ngoài việc cơ quan truyền thông Tây phương có thái độ thay đổi rõ rệt với TT. Bush và quân đội Mỹ, thì người lính Mỹ ở Iraq còn có nhiều lý do để thêm tinh thần lúc biết dân Mỹ đặt tin cậy nơi TT Bush và quân đội Mỹ, để chiến thắng tại Iraq. Những lỗi lầm của TT Bush và chính phủ Hoa Kỳ tạm được để qua một bên.

Yasser Arafat, chủ tịch Tổ Chức Quyền Lực Palestine qua đời. Có người cho rằng Arafat không muốn hòa bình, vì không muốn làm quốc trưởng một nước nhược tiểu mà chỉ muốn cả thế giới tôn trọng ông như một người đấu tranh để xây dựng một quốc gia Palestine lý tưởng nhưng trừu tượng. Từ lúc Arafat mất, hình bà vợ trẻ của ông, tín đồ Thiên Chúa giáo, mới được phơi bày trên báo với những con số lạ lùng về gia tài riêng của ông. Claude Imbert cho rằng Arafat "ve vãn" huyền thoại chứ không chú tâm đến lịch sử (Le Point 18/11/2004). Thật vậy, đối với một người tay đã dính máu nhiều lần, giết 11 lực sĩ và người trong ban tổ chức Do Thái tại Thế Vận hội Munich 1972, thế giới vẫn tôn vinh, giải thưởng Nobel Hòa Bình 1994 (cùng với Shimon Peres, Tổng trưởng ngoại giao Iraẽl, và Yitzhak Rabin, Thủ tướng). Mười năm sau giải thưởng Nobel Hòa Bình, cuộc chiến vẫn tiếp diễn, hận thù triền miên, không ngõ thoát. Cho nên, dù cho thế nào chăng nữa, người ta vẫn đặt một tí hy vọng lúc thấy ván cờ Palestine hoàn toàn đổi thay với cái chết của Arafat.

Hiện giờ, các bạn cũng như tôi đang theo dõi tình hình tại Ukraine. Không biết ngày mai như thế nào nhưng cho đến bây giờ thì chúng ta chưa thấy đổ máu. Tuy hai vùng Đông và Tây của nước Ukraine hoàn toàn khác biệt, những nhà lãnh đạo cố gắng hết sức để khỏi phân chia đất nước, tránh nói những lời lẽ có thể gây hận thù, tránh xô xát đổ máu. Chính ông Poutine cũng không muốn đổ dầu vào lửa. Nếu Ukraine tìm ra được một giải pháp êm đẹp, thì đấy sẽ là một bước tiến không nhỏ cho cả vùng và cũng là một kinh nghiệm đáng được vui mừng. Năm 1986, trong thời kỳ Nga Sô Viết, tai nạn trung tâm nguyên tử Tchernobyl (hơn 10 000 người chết hàng triệu người bị nhiễm chất độc) đã cho dân xứ Ukraine biết rằng Nga Sô cộng sản không thể bảo đảm an toàn cho người dân 100%, và trong cơn hoạn nạn, Tây phương có thể là một người bạn không xấu.

Năm 1973, Henry Kissinger nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình (trong khi Lê Đức Thọ từ chối) ; năm 1994, Arafat nhận giải thưởng này cùng với Peres và Rabin. Giải thưởng Nobel Hòa Bình có mục đích "vinh danh một nhân vật có công giúp các dân tộc thông cảm với nhau, giúp sức đem lại hòa bình". Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rằng không phải có ký kết trên giấy mà có hòa bình.

Ở Trung Đông hận thù, giết chóc là cơm bữa, con đường đi đến hòa bình còn ngàn dặm chông gai. Không biết các lãnh tụ Palestine có muốn hòa bình, có muốn xây dựng một quốc gia, có muốn người dân Palestine được sống một đời sống bình thường, có quyền nghĩ đến tương lai của mình và của con cháu mình ?

Ở Việt Nam, tuy bề ngoài người dân tươi cười làm ăn (ở các thành phố lớn), nhưng Đảng cộng sản cứ để hận thù chồng chất vì vậy họ vẫn sợ tự do, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng. Nếu người ta cho rằng công cuộc đấu tranh cho nhân quyền đã lỗi thời, không ai theo, thì tại sao, nói lên một câu, viết lên một chữ vẫn bị vào tù. Tại sao lại vẫn có trường hợp của những Nguyễn Đan Quế, những Nguyễn Thanh Giang ?

Tháng mười vừa qua, anh Phan Văn Hưng có ghé qua Paris. Một buổi chiều chủ nhật anh Hưng cho anh em thưởng thức những bài nhạc của anh, và anh kể cho chúng tôi nghe những kinh nghiệm nho nhỏ của anh tại Ba Lan, với những người sinh trưởng và còn sống trong lòng chế độ cộng sản. Anh Hưng chứng minh một cách nhẹ nhàng rằng những người Việt tuy gốc gác khác nhau, tuy kinh nghiệm sống khác nhau, nhưng vẫn rất gần gũi với nhau trong cảm xúc, trong tâm tình. Lúc hướng về quê hương thì chúng ta rất dễ gặp gỡ nhau. Trong giây khắc, tôi chợt nghĩ, có lẽ đấy là con đường sống của dân tộc.

Bùi Xuân Quang

 

 

KÍNH TNG HƯƠNG HN C THI SĨ PHÙNG CUNG
SC NÉN CA NGÔN T
Hà Sĩ Phu
(LÊN MNG CH NHT 7 THÁNG MƯỜI MT 2004)

Để khen nhau mà nói "hơi bị đẹp đấy" thì đã lạ rồi, nhưng tấm tắc khen nhau "hơi bị đểu đấy" thì các cụ nhà ta sống lại chắc không tài nào hiểu nổi bọn con cháu định nói gì.

Bởi nó "ngược đời" !

Bởi đó là kiểu ngôn từ đã bị lộn ngược !

Thứ ngôn ngữ lộn ngược này, tuỳ theo tạng của mỗi người, ta có thể thích hoặc không thích, nhưng sự tồn tại một cách rất có sức sống của nó khiến tôi giật mình. Hegel chẳng nói : cái tồn tại là cái có lý đó sao ?

Mà có lý thật.

Hãy nói về chữ "Bị". "Bị" vốn là một từ biểu hiện ý niệm thua kém, tiêu cực, như bị thua, bị xấu, bị lỗ vốn, bị khinh…Nhưng nay lại có "bị đẹp" , " bị ngon" , "bị tuyệt vời"…thì thật trái khuấy ! Lạ nữa là nếu thêm một từ chỉ sự hạn chế như "hơi" ( nghĩa là chỉ một chút thôi) thì giá trị muốn khen lại còn tăng lên gấp bội. Hơi bị đẹp là rất đẹp. Hơi bị tuyệt vời là tuyệt vời vô cùng.

Đến một lúc ta lại khám phá ra rằng trong các cụm từ gồm những yếu tố ngược nhau, chống nhau kia toát lên một ẩn ức : dường như người nói phải khẳng định một giá trị mà biết chắc là sẽ rất nhiều người muốn phủ định. Hơn thế , người nói dường như biết mình là thiểu số, là không chính thống, nhưng lại tin chắc sự thật và cái đúng nằm ở phía mình. Ngôn ngữ được phát ra trong một tương quan tranh chấp.

Khen một người đẹp, một hành động đẹp đích thực mà phải nói là "bị đẹp" ? Khẳng định là rất đẹp nhưng cũng chỉ dám nói là "hơi bị đẹp" thôi ! Sự "khiêm tốn" , nhượng bộ ấy cho thấy người nói tự biết mình đúng, nhưng vẫn phải cố nói cho "phải đạo" , như thể đang đứng trước những người đã trực sẵn để chống lại ý kiến của mình vậy. Nhưng sự khiêm tốn ở đây xem ra chỉ là khiêm tốn bất đắc dĩ, bên trong vẫn như ngầm chứa một sự đối chọi, lại còn đùa cợt, trêu ngươi. Tuy đã rất khiêm tốn, người nói vẫn khẳng định lập trường khen chê của mình. Thậm chí hiệu quả tương phản của ngôn ngữ khiến cho càng bị nén xuống thì sự khẳng định lại càng tăng lên.

Vả lại, nói ngược chắc gì đã ngược, chữ "bị" chắc gì đã là thua kém. Chẳng hạn "Bị" làm đày tớ thì sướng hơn cái "được" làm chủ rành rành rồi. Trong một không gian đảo lộn thật giả thì có khi nói ngược mới chính là nói xuôi. Vậy chính bối cảnh xã hội đã tạo ra tâm lý thích nói ngược, và nhu cầu phải nói ngược !

Nhưng dù gì đi nữa, sự xung đột giữa hai thành phần đối chọi nhau trong các cụm từ có chữ "bị" này cũng cho ta thông điệp về một sự dồn nén, tranh chấp, cọ sát giữa những giá trị đang bị đảo lộn ( hoặc do chênh nhau về thế hệ, hoặc bởi danh một đường thực một nẻo ; hoặc bởi thang giá trị đã bị lộn ngược, quay đầu xuống đất, cái tử tế bị coi là tồi tàn, cái tồi tàn thì lên ngôi chúa tể ), và tất yếu phải đấu tranh để xác lập lại thang giá trị ấy.

Bây giờ nói về chữ "Đểu"

"Đểu" là một cái gì đó xấu xa, tồi tàn, lừa đảo, mất dạy… khỏi cần nói. Nhưng ĐỂU lại ghép với một danh từ, tính từ hay động từ mang nội hàm tử tế, tốt đẹp, đạo đức …thì xưa nay chưa có bao giờ. Ví dụ xưa nay vẫn nói "thằng đểu" chứ không thể ghép với chữ ông thành "ông đểu " được.

Nhưng đây, tôi ví dụ. Trước ngày 30-4-1975 thì đài (máy thu thanh) còn quý lắm. Mấy thằng ma-cô ăn mặc giả bộ đội, thấy một ông già ngồi nghỉ ở chỗ vắng, đang nghe chiếc đài Xiang-Mao. Chúng xán đến chào hỏi lễ phép, rồi nói với vẻ quan tâm :


- Bố có cái đài đẹp quá, (rồi chìa tay ra), bố cho con xin nhé, thôi tặng con đi, bố già rồi, giữ lấy sức khoẻ mà sống, nghe làm gì ?

Nếu hiểu "ngôn ngữ của thời đại" và tình huống bất khả kháng của mình thì ông già hãy ngoan ngoãn biếu chiếc đài đi để được yên thân. Nếu ngoan cố chống lại thì chẳng những mất cái đài mà còn xơi thêm mấy cái tát hay gì nữa cũng chưa biết chừng. Động tác "xin" của chúng như thế là một bài giảng về khái niệm "xin đểu" ! Một động tác cướp nhưng không phải cướp giật, mà là "xin" ! Xin và tặng vốn là những động tác của sự lịch sự, thân ái !

Tôi nhớ trong một tuyện ngắn , nhà văn Bùi Minh Quốc đã gọi mẹo ấy là "biến cuộc trấn lột thành một cuộc hiến dâng tự nguyện". Thật chí lý. Đầy tính "thời đại" ( !). Những chuyện xin đểu, giúp đểu, quan tâm đểu, phục vụ đểu, đổi mới đểu, thân ái đểu, nhân ái đểu…( mà thực chất là ăn cướp, là trấn lột) bây giờ đã nhan nhản ra rồi. Trong những quán "cơm tù" chúng cũng phục vụ nhân dân đấy nhưng là "phục vụ đểu" !

Đấy là "đểu" ghép với động từ hoặc tính từ.

"Đểu" cũng có thể ghép với một danh từ hàm ý tử tế.

Một lần ra chợ giời, tôi mua về một chiếc radio-cassette hiệu Sony, còn khá mới, giá lại khá rẻ, nhưng lắp băng vào nghe được một lúc thì băng rối, cố mở ra thì núm văng một đằng, bánh xe một nẻo. Anh bạn tôi liền ái ngại và diễu tôi : "Thôi thôi bố ơi, bố mua phải "Sony đểu " rồi !". Sony là một thương hiệu có uy tín, ghép với chữ đểu tạo thành một từ đầy ấn tượng. Nếu gọi là Sony giả, Sony dởm thì mất hết giá trị trong ngôn ngữ. Phải là "Sony đểu" mới lột được cái thần của thực trạng. Hàng giả, hàng dởm…là những từ chết. "Hàng đểu" là ngôn ngữ sống động không thể thay thế, nó không chỉ thông báo về chất lượng món hàng, mà nó thông báo toàn cục , cả tâm địa, cung cách , trào lưu, khung cảnh, nền tảng, nguy cơ… và cả cảm xúc của người nói nữa, nghĩa là toàn bộ bối cảnh , toàn bộ "sinh thái học" của vấn đề.

Nhưng, ở một xứ sở toàn những mẹo Trạng Quỳnh thì sẽ có mẹo để chống lại mẹo, sẽ có "đểu" trị lại "đểu", sẽ có "đểu" lương thiện chống lại "lương thiện đểu" ..v…v.., (rồi phải có "đểu" cương trực, "đểu" khôn ngoan, "đểu" tử tế nữa). Thế là một lần nữa, ngôn ngữ lại phải lộn ngược , và khi ấy những người tử tế lại phải khen nhau "hơi bị đểu đấy !" (trong tổ hợp này thì chữ "đểu" lại đóng vai nhân tố tốt đẹp, "đểu" tương tự như "đẹp", nên vẫn ngược chiều với chữ "bị", theo đúng nguyên tắc tương phản của cách diễn đạt này). Viết một câu đối ra mà được bạn bè gật gù, tủm tỉm phán rằng : "Hơi bị đểu đấy !" thì có thể yên tâm mở rượu ăn mừng. Ngôn ngữ quỷ quái thật.

Nói đến chữ ĐỂU tôi rất phục sự phát hiện của một cây bút tên là Bắc Hà mà tôi chưa có hân hạnh biết là ai. Bắc Hà viết về một nghề cổ truyền của đất Cổ Nhuế rất dễ thương với lời ca "ba sẵn sàng" : Thanh niên Cổ Nhuế xin thề, chưa đầy hai sọt chưa về quê hương. Bắc Hà viết rằng Cứt rất có giá nên người ta trộn cả đất vào để tăng trọng lượng. Cứt không đúng là cứt thì gọi là cứt đểu. (Trong tổ từ này Cứt là một giá trị đẹp, hữu dụng, tương phản với chữ đểu là từ có nghĩa xấu). (Mới đây trong vụ án siêu nghiêm trọng mà đại tướng Võ Nguyên Giáp, thượng tướng Nguyễn Nam Khánh và nhiều tướng lĩnh anh hùng của ta yêu cầu Bộ Chính Trị phải đem ra xét xử và nghiêm trị, ông Bắc Hà này còn phát hiện ra khái niệm "Chủ tịch nước đểu", "đại tướng đểu" nữa !)

Kinh tế hàng hóa thật lắm chuyện. Nhưng ham lợi trước mắt mà tàng trữ "hàng đểu" thì tội to, lợi bất cập hại đấy !.

Đến đây, tôi phải mở ngoặc, xin bạn đọc một phút thôi, kẻo vô tình ta xúc phạm đến phẩm chất của Cứt. Cố thi sĩ Phùng Cung có bài ca ngợi phẩm chất ấy như sau : "Cứt không thèm với tay vịn gió đổi mùi, và nguyện hôi thối hết mình để người đời khỏi ngộ nhận... ". Cứt tự biết mình là thối, lại nguyện hôi thối hết mình để người đời khỏi ngộ nhận. Cái đức "chân thật" đó của Cứt thật đáng ngợi ca thay ! Lương thiện thay ! Cố bốc thơm mà làm gì ?

Trở lại câu chuyện ngôn ngữ.

Ngôn ngữ là một kho tàng văn hóa. Nó là phương tiện giao lưu, phương tiện truyền bá toàn diện nền văn minh, làm cho thế hệ sau tiếp nhận được hết các thành quả của thế hệ trước, đứng lên vai thế hệ trước mà tiến xa hơn. Nhưng chính ngôn ngữ cũng là một thể sống, nó hút sinh khí của môi trường giao tiếp mà tu chỉnh , mà nâng cao, mà sinh sản nữa.

Thời đại nào đẻ ra ngôn ngữ ấy. Thời đại của Tin học, của máy vi tính cho ta khái niệm "nén thông tin". Vẫn nội hàm ấy, nhưng tùy độ nén mà tạo ra các dạng thông tin khác nhau. Thử đem khái niệm ấy vào văn học : Thông tin từ cõi nhân sinh thì mênh mông vô tận, nhà văn nén nó vào tiểu thuyết, nén nữa thành các truyện ngắn, nén nữa thành thơ, nén nữa thành câu đối, nén nữa thành các khái niệm, ngôn từ. Sức đúc kết của ngôn từ thì thật kinh khủng.

Những danh từ như Cách mạng, Dân chủ … thật tối thiêng liêng, nhưng nếu không thực tâm vì Nhân dân, vì Đất nước mà để cho Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ ỷ thế làm càn, hại dân hại nước thì miệng người đời ngọng gì mà không kèm một chữ "đểu" theo sau ? Bao nhiêu năm trời dân mới sáng tác được, mới nén được một chữ "đểu" của mình, hẳn dân biết dùng cho đích đáng.

Nhân nhắc đến câu đối, tôi nhớ hai câu thách đối mà tôi cho là cô đọng và khó đối nhất trong các câu đối hiện đại . Một câu là chữ nghĩa văn chương, của Phan Hiền, đăng báo Quân đội Nhân dân đã lâu lắm. Thách đối như sau : " Sai đâu sửa đấy, sai đấy sửa đâu, sửa đâu sai đấy !". Chữ nghĩa tối giản, lộn ngược lộn xuôi, luẩn quẩn, tráo đi tráo lại, mà ý tứ thì hàm xúc vĩ mô, bình luận cả ngày không hết ! Còn câu kia là một câu thách đối thuộc ngôn ngữ "tếu táo" lưu truyền trong dân gian, nhưng gói ghém toàn bộ tính chất và hiệu quả của nền kinh tế chỉ huy và phân phối bao cấp XHCN : "Cái cứt gì cũng phân, mà phân thì như cứt !" . Ôi , lại Phân với Cứt, những từ ngữ sao mà vĩ đại !

Những Câu đối tài như thế, lắt léo như thế, bao trùm như thế thì kể cũng "hơi bị đểu" và " hơi bị tuyệt vời " thật ! Biết khen thế nào khác được ?

Câu đối là thể loại đã nén thông tin rất cô đọng, nhưng đến đơn vị cơ bản là những ngôn từ thì sức nén còn cô đọng hơn. Chỉ một chữ "BỊ", một chữ "ĐỂU" thôi, được sử dụng một cách "tai quái" và bi hài như vừa phân tích trên đây đã nén vào trong nó thông điệp của cả một thời , một thời có một không hai trong lịch sử dân tộc ta vậy.

Hà Sĩ Phu - 10 / 2004

Truyện TAM QUỐC… CHOÉ

Hồi thứ … - xứ chột làm vua , giở mẹo , anh khùng đâm giáp thủng ! - cờ tàn đấm tốt , dùng mưu , tướng trị cùn !

( Cuộc giao tranh thắng bại thế nào , xem hồi sau sẽ rõ )

Hà Sĩ Phu

 

 

Nhng Mu Kính Màu (phn 5)
Nguyễn Minh
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Nhìn cánh tay cụt quá khuỷu của Minh, người chủ cơ sở bất giác mủi lòng. Dù sao gia đình ông cũng ăn chay mỗi tháng bốn ngày cơ mà... Thế nhưng, công việc là công việc - liệu một anh chàng cụt tay như thế này sẽ giúp được gì cho cơ sở vẽ bảng quảng cáo của ông ?

- Thôi để tui kêu vợ soạn cho chú ít quần áo tiền bạc, chú thông cảm ... về chuyện nhận chú vô làm thì không được đâu ! Ông nói, cố không nhìn vào người đối diện.

- Dạ, xin lỗi bác cháu không phải là ăn xin ! Minh nói ngay, giọng đau đớn :

- Cháu chỉ muốn làm việc để đổi lấy miếng ăn ...

- Tay chú thế kia mà làm gì được ! Ông chủ độp luôn.

Minh ngẩn người. Cũng không thể trách ông ta được, ai có thể tin được một gã cụt tay như Minh lại có thể vẽ, mà vẽ đẹp nữa cơ chứ ?

Sau vài giây suy nghĩ, Minh quyết định. Anh đến cạnh một anh thợ đang hí hoáy tô màu da cho cô gái trên tấm biển hiệu uốn tóc.

- Cảm phiền cho mình mượn cọ và màu vẽ... Anh nói.

Và trước cặp mắt kinh ngạc của ông chủ cùng một đống người giúp việc Minh - bằng những nét cọ tự tin, chuẩn xác đã hoàn tất hình vẻ cô gái trong vòng nửa giờ, một thời gian kỷ lục - nhanh gấp nhiều lần kẻ khác !

- Được, được ... tui nhận chú ! Ông chủ nói ngay sau khi anh buông cọ. Đã lâu rồi cơ sở của ông thiếu một tay chủ lực như vậy, ông đã quá già - nét cọ đã kém phần sắc sảo và óc sáng tạo đã cùn lụt. Đây chính là kẻ ông cần ...

***

Thế là sau hai ngày trở lại Sài Gòn, Minh đã lại có một công việc. Tuy nhiên có một điều anh giấu biệt mà ngay cả ông chủ tốt bụng cũng không bao giờ ngờ tới : để hàng ngày lui tới cơ sở vẻ bảng quảng cáo, Minh từng đêm phải chợp mắt ở những ghế đá công viên ! Anh không muốn ông chủ phải sợ hãi khi giúp đỡ cho một kẻ vô gia cư, chết vô địa táng như mình ...

- Dạ cháu ở nhà thuê, trên mạn Gò Vấp ! Anh trả lời khi ông chủ hỏi đến.

Cuộc sống trôi dạt hàng đêm từ công viên này đến gầm cầu khác đã khiến Minh cảm thấy thú vị. Anh chợt nhận ra sự tự do đích thực đã đánh mất từ lâu bởi một cuộc hôn nhân thất bại, là sự ngu xuẩn cuối cùng của mình ...

Được hơn nửa tháng, sau khi tắm giặt ở khu Diên Hồng như mọi kẻ bụi đời khác, anh lủi đầu vào một rạp xi nê.

Đó là một bộ phim buồn nhưng không hay. Lối dàn dựng hết sức kinh điển của các đạo diễn Xô Viết quả là không chê vào đâu được nhưng xem xong, để đọng lại nơi anh một lấp lánh tình người thì loại phim này không làm được ! Kẻ ái quốc trong phim mang dáng dấp của người chậm phát triển tâm lý và những cuộc tình trong phim cứ như tình yêu của các thánh tông đồ với Chúa Jesus ! Minh ngủ một giấc trong rạp và coi như đấy là biện pháp gỡ gạc tiền vé cho một phim tồi !

Nơi anh chọn để qua đêm là một mái hiên lớn của Ngân Hàng Công Thương. Dựa lưng vào vách, Minh chậm rãi hút thuốc - thả tâm tưởng đi vào những ngóc ngách của ký ức, nơi chỉ chất đầy sự xúc phạm, thói tàn ác của người đời và một chút xíu mờ nhạt của tình yêu, của vợ, của con ...

Dường như ở góc tối cách nơi Minh nghỉ lưng năm, bảy mét gì đó có một cuộc ẩu đả. Cũng thường thôi, cuộc sống bụi đời là như vậy mà !

Có tiếng con gái ... Minh hơi tò mò cố nhìn vào bóng tối. Chẳng thấy gì ngoài chấp chóa những thân hình vật nhau. Tiếng khóc rồi tiếng đấm đá vọng đến tận chỗ Minh làm anh bực bội. Cuộc sống hè phố có một nguyên tắc bất di bất dịch : không phải việc của mình thì chớ có xía vào !

Lại có tiếng khóc, tiếng chửi bới ... Minh bất giác ngờ ngợ. Anh đứng bật dậy và đi về phía có cuộc ấu đả. Dĩ nhiên, để thủ thân - trên tay Minh là khúc gậy tre anh vẫn mang theo để qua đêm những nơi đầy bất trắc. Nhác thấy có bóng người, bọn đang gây ra cuộc ấu đả dừng lại.

- Cứu con với chú ơi ! Tiếng con gái lanh lảnh giữa đêm khuya.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Minh xấn nhanh đến nơi giơ gậy vụt ...

Cách xung trận của anh quá bạo lực nên nháy mắt lũ tiểu yêu hè phố kéo nhau chạy mất ...

Ngồi thu lu trong góc tối là một cô bé ! Nhìn con bé, Minh ước chỉ trạc mười hai mười ba tuổi là cùng ... Anh cau mày khi hiểu ra cớ sự.

- Tụi nó đã làm gì cháu chưa ? Minh hỏi không khỏi có chút ân hận vì can thiệp có phần do dự, chậm trễ.

Con bé chỉ bưng mặt khóc rưng rức, Minh cúi xuống nói nhỏ :

- Thôi cháu đừng khóc nữa, nín đi ... Theo chú ra đây ngồi cho sáng sủa !

Đợi một lát vẫn không thấy con bé đứng dậy dù đã nín khóc, Minh ngạc nhiên hỏi :

- Sao, tính ngồi trong góc tối này luôn à ?

Con bé ngần ngừ một lúc rồi lại khóc thút thít :

- Cái quần ... đâu mất tiêu rồi !

Minh sực hiểu. Mặt anh đỏ bừng, vội vàng anh quay về chỗ, lấy từ chiếc túi xách đầu gối ra một chiếc quần đùi đem lại cho con bé. Ngoài thứ ấy, con bé quá nhỏ con để có thể mặc được thứ gì khác.

Khi đã hoàn hồn, con bé bắt đầu kể chuyện về mình.

Mẹ mất từ lúc chấm dứt chiến tranh, bố bị tù quân lao Gò Vấp từ năm 1973 ... Châu - tên con bé, cùng hai đứa em tá túc nhà bà con ở thị xã Tam Kỳ. Đến lúc không còn cưu mang nổi, gia đình người bà con ấy tống khứ ba chị em ra đường với lời nhắn nhẹ :

- Vào Sài Gòn mà tìm ba của tụi bây !

Vào đến Sài Gòn, Châu để hai em ở lại một nhà ga rồi đi tìm thứ có thể ăn được. Nó đi lạc suốt mấy ngày mới tìm về được chỗ cũ. Hỡi ôi, hai đứa em đã biến mất !

Cho đến hôm nay, con bé đã lang thang khắp Sài Gòn để tìm em và không dám đi đâu xa hơn khu vực nhà ga, mong sẽ gặp lại hai đứa em ... Cũng đã vài lần con bé bị bọn xấu tìm cách giở trò đốn mạt nhưng đều có người can thiệp ...

Nhận ra con bé rất xinh xắn, Minh buột miệng :

- Cháu năm nay bao nhiêu tuổi rồi ?

- Dạ con mười lăm ! Châu nhỏ nhẹ đáp.

Minh giật mình. Quả thực anh không ngờ con bé loắt choắt như đứa bé mười hai, mười ba lại có tuổi mười lăm ! Nếu vậy, cuộc sống lang thang theo kiểu đầu đường xó chợ này đối với con bé quả là không ổn !

***

Buổi sáng Minh đi làm hơi muộn. Anh đưa con bé đến một nhà người quen để gởi tạm. Trước khi đi, anh dặn dò :

- Châu cứ ở đây đợi chú, chú đi làm về sẽ qua đón ...

Cuối buổi làm việc, Minh thu dọn dụng cụ xong và đến gặp ông chủ. Nhận ra vẻ rụt rè trong cử chỉ của anh, ông chủ hỏi luôn :

- Có chuyện gì vậy cháu ? Cứ nói đừng ngại ...

- Dạ cháu muốn vay trước ít tiền rồi làm việc trừ lại sau ... Minh đắn đo một lúc mới thốt ra lời.

Ông chủ bật cười ha hả. Sau cùng ông giải thích trước vẻ ngơ ngác của Minh :

- Từ hôm chú vô làm đến nay tui cứ thắc mắc hoài, sao chú này không thấy xài tiền ... Chờ hoài tới bây giờ mới thấy hỏi tiền ! Thực ra ... Ông ngừng lại một chút rồi tiếp :

- Tiền lương ở đây được tính công nhật và cuối tuần là đưa, thấy chú không hỏi, bà xã tui bàn cứ giữ lại cho chú, sau này chú lấy vợ !

Số tiền lương tích lũy được ông chủ trao cho Minh hóa ra khá nhiều. Anh cứ ngỡ là sẽ rất ít nên ngoài hai bữa cơm ký sổ nợ ở quán đối diện cơ sở, anh chẳng dám xài gì gọi là cho có xài ... Số tiền dằn lưng lúc rời quê vợ ra đi đã cạn sạch từ hôm qua ...

Thế là, Minh trở về nhà quen đón con bé Châu. Cả hai ra chợ Bến Thành, Minh mua cho con bé vài bộ quần áo và, như đã suy nghĩ khá kỹ, anh tìm thuê một căn nhà nhỏ nằm ven kinh Nhiêu Lộc cất bằng ván tạp và tôn mục với giá rẻ đến độ không còn có thể rẻ hơn. Mua sắm thêm vài thứ lặt vặt và đong gạo, nước mắm ... số tiền lĩnh lương của Minh coi như "xong xuôi".

Căn nhà nhỏ xíu nhưng cũng được Minh ngăn làm đôi. Phía ngoài rộng hơn một chút được anh dùng làm phòng khách dù biết rằng chẳng bao giờ có bạn bè gì và đồng thời nơi này, mỗi tối được anh móc lên chiếc võng cực lớn của Mỹ ... Anh đã quen với cách ngủ võng từ thời còn là một trung sĩ bộ binh nên tỏ ra hết sức thich thú với chiếc võng dù dành cho biệt kích này. Võng có cả mùng lưới hình tam giác, tha hồ chống muỗi !

Phía trong tấm rideau vải rẻ tiền là giang sơn của con bé Châu. Anh mỉm cười giải thích cho con bé :

- Phải cho cháu một chiếc gường riêng rộng rãi để sau này nếu gặp lại hai đứa em mới có chổ cho tụi nó chứ ... phải không ?

Con bé chớp chớp mắt cảm động. Thực vậy, cứ buổi chiều đi làm về, Minh lại đưa con bé cùng ra nhà ga Sài Gòn ...

- Biết đâu gặp lại mấy đứa nó ? Minh nói.

Mỗi bận đi rồi về không thấy tăm dạng của những đứa em, Châu đều rơm rớm nước mắt. Những lúc ấy Minh chỉ biết thở dài...

Bước ngoặt trong cuộc đời anh chàng phế binh chế độ cũ hai mươi bảy tuổi không ít,nhưng làm thay đổi hẳn toàn bộ cuộc sống của anh, có lẽ chỉ có một lần. Đó là một buổi trưa, Minh đang lùa vội những muỗng cơm cuối cùng để trở về thực hiện dứt điểm một bức vẽ cho quán càfé mới mở.

- Anh Minh ơi, có người tìm... Cậu bé học việc chạy sang bảo.

Đó là người đàn ông trung niên với mái tóc hoa râm và ăn mặc hết sức lịch sự. Ngay sau khi tự giới thiệu là "một người làm ăn" bình thường, ông ta hỏi luôn :

- Anh có phải là người thực hiện bức tranh khắc gỗ của câu lạc bộ không ?

- Vâng, có chuyện gì không anh ? Minh lễ phép hỏi lại.

- Nếu như khắc gỗ bức tranh ấy với tỷ lệ cực nhỏ nhưng chính xác hoàn toàn đến từng chi tiết, ông thực hiện được không ?

- Tất nhiên thưa ông, nhưng thời gian có lâu hơn khắc lớn như kích thước nguyên bản và...

- Tiền công đắt hơn ? Ông khách mỉm cười hỏi.

- Vâng, nhưng cũng chẳng chênh lệch gì nhiều ! Minh đáp.

- Anh vẻ rồi khắc trên kim loại được chứ ? Như đồng chẳng hạn ...

- Với mỗi loại chất liệu lại có những phương pháp riêng thưa ông, nhưng tất cả đều nằm trong khả năng của tôi ...

Người khách tỏ vẻ hài lòng và đặt ngay hai bức khắc thu nhỏ của tác phẩm "Mẹ Âu Cơ và trăm con" bằng chất liệu gỗ và đồng. Kích thước của mỗi bức chỉ bằng một ... quyển tự điển bỏ túi, nhưng giá trị thì cực kỳ ngon lành. Ông ta còn hứa thưởng nữa cho Minh nếu giao hàng sớm...

Hai ngày hôm sau Minh giao hàng và tiếp tục nhận được lời đặt mua một bức khắc kẽm hết sức tỉ mỉ và dĩ nhiên, rất được giá !

Sự thân mật tăng dần khi ông Già Tư - tên vị khách theo lời tự giới thiệu, liên tục rủ Minh đi nhậu mỗi buổi chiều khi xong công việc. Cho đến một ngày, Già Tư đến nhà Minh thuê để thăm anh theo lời mời.

- Sao lại ở chỗ tệ thế này ? Không được rồi ... Già Tư thốt lên.

Bằng tất cả những lý lẽ đầy thuyết phục, Già Tư thuê cho Minh một căn phòng khác khang trang hơn và rộng gần gấp đôi căn nhà ọp ẹp nọ. Chẳng những vậy, ông ta còn quyết định "giúp đỡ" Minh bằng cách bán trả góp cho anh chiếc honda DD70, loại xe đắt nhất trên thị trường lúc bấy giờ. Ngay buổi ăn mừng xe mới, Già Tư mới ngỏ ý lúc chuẩn bị ra về :

- Mình muốn cậu giúp cho mình một việc ...

Khi biết được Già Tư muốn nhờ anh khắc một con dấu đồng theo mẫu mã trên giấy chứng nhận, Minh hiểu rằng anh đã thực sự "vào thế".

Con dấu đầu tiên được Già Tư "bồi dưỡng" cho Minh bốn chỉ vàng 24 K, sau đó theo gợi ý của ông ta, Minh bắt đầu theo một tay cao thủ - bạn của Già Tư, để học môn in lụa và tráng rọi phim lá ...

Sau nửa năm "cộng tác" với nhóm của Già Tư, Minh trở nên giàu sụ. Một ngày giáp Tết, Minh sắp xếp công việc ở cơ sở vẽ bảng quảng cáo để có thể nghỉ được vài ngày. Anh về nhà bảo con bé Châu - lúc này đã lớn phổng phao ra dáng một thiếu nữ :

- Chuẩn bị đi công chuyện với chú ...

Ngồi trên chuyến xe khách cuối ngày trở về quê vợ, nơi xảy ra biết bao chuyện buồn tủi và cay đắng đối với mình, Minh nhìn ra phía trước, cố tập trung tư tưởng để tính toán sắp xếp mọi việc phải làm. Ngồi cạnh anh, con bé Châu cứ xuýt xoa trước vẻ đẹp của những cánh đồng lúa trải dài bát ngát như biển hai bên bờ quốc lộ. Con bé đã thôi vẻ mặt u sầu tăm tối ngày anh mới gặp để hoàn toàn lột xác thành một thiếu nữ xinh đẹp. Con bé vui vẻ và sống động bên cạnh anh, một gã phế binh trầm lặng ít nói, càng làm tương phản hai cuộc sống của hai kẻ không may ...

Về đến thị xã, Minh mua sắm một ít đồ đạc và bắt đầu dặn dò con bé.

- Sao chú không vào để trực tiếp nói chuyện ? Châu thắc mắc.

Anh cốc đầu con bé một cái rồi nói, như một tiếng thở dài :

- Tất nhiên cũng có lý do để không thể vào gặp trực tiếp, ai không muốn cơ chứ !

***

Mới rời bỏ quê vợ chưa đầy một năm nên hầu như chẳng có gì thay đổi từ cảnh vật đến cách bày trí trong nhà. Minh đảo qua một cách kín đáo cùng con bé Châu rồi trở về. Phần việc còn lại là của con bé...

- Dạ con hổng biết, có người biểu con mang lại cho con tiền ! Châu trả lời tỉnh rụi theo lời dặn dò kỹ lưỡng của Minh.

- Bây giờ người đó đâu rồi ? Năm Lan hỏi.

- Người đó sau khi cho con tiền rồi đi mất tiêu ! Châu trả lời.

Năm Lan thừ người suy nghĩ. Cô vừa về nhà hôm qua để Út Huệ đi Sài Gòn tìm Minh. Trớ trêu thật, cô nghĩ, ngay lúc này thì Minh lại quay về để gởi quà, tiền cho con và bà mẹ vợ tốt bụng. Đúng như cô nhận định từ buổi ban đầu, Minh là người sống rất có thủy chung và có đạo đức ... Dù đi xa bởi những lý do mà đến giờ này Năm Lan vẫn chưa hiểu rõ, anh ta vẫn nhớ đến trách nhiệm với con và thậm chí, với gia đình vợ !

Năm Lan cũng lờ mờ đoán ra, giữa hai vợ chồng Minh ắt đã có chuyện gì đó dẫn đến đổ vỡ chứ không đơn giản Minh ra đi, nhưng hễ cô đề cập thì Út Huệ lắc đầu nguầy nguậy với đôi mắt đỏ hoe. Riết cô đâm ra không muốn hỏi dù có linh cảm việc đổ vỡ của vợ chồng cô em út có dính líu đến ông chồng mình. Bà mẹ, từ ngày Út Huệ về quê với đứa cháu ngoại, bà khỏe lên trông thấy. Ba đứa con hy sinh trong chiến tranh đã dẫn đến việc mù lòa của bà, niềm an ủi duy nhất cuối đời của bà là sự trở về của đứa con út. Thế nhưng, đứa con rể rất có hiếu đễ và trầm lặng của bà lại bỏ đi mất, bà không hiểu vì sao nhưng chắc là có chuyện gì đó với chồng con Năm ! Mỗi lần nhắc đến con rể út, bà cứ thở dài sườn sượt.

Khi con bé mang giúp quà đã đi mất, Năm Lan và bà mẹ bắt đầu soạn gói quà.

Đôi gò má nhăn nheo của bà cụ chợt chảy dài hai giòng nước mắt khi bà cầm lấy món quà của đứa con rể út. Nó hiểu bà đến độ, món quà dành cho bà là chiếc radio cassette Sony nhỏ xíu và ba cuộn băng cải lương !

Năm Lan cũng xúc động không kém khi đọc mảnh giấy ghi tên người nhận quà là cô... Minh rõ là người thật ý tứ, anh gởi cho cô chị vợ một đôi giày cao gót để thay cho đôi guốc gỗ đã mòn vẹt nước sơn. Đúng là thứ cô cần nhưng chưa bao giờ dám bỏ tiền ra mua do thói quen cần kiệm.

Quà dành cho con bé Thảo, ngoài chiếc cặp táp da - thứ mà còn lâu lắm con bé mới đến tuổi sử dụng, là một phong bì dày cộm toàn tiền giá trị lớn và mới toanh. Bên cạnh đó, một hộp nhỏ đựng đồ trang điểm của Hồng Kông và chai nước hoa Tabou hết sức đắt tiền được Minh gởi cho vợ. Tất cả đều vắn tắt tên người nhận ... Đặc biệt, có một gói nhỏ đựng cục xà bông Camay và cây bút Pilot, gởi cho... Ba Tí !

Sực nghĩ ra một chuyện, Năm Lan vội chạy ra cổng. Lát sao cô quay vào, vẻ mặt đầy thất vọng.

- Gì đó Năm ? Bà Mẹ hỏi.

- Dạ con chợt nhớ ra ... con bé mang quà đến lạ hoắc, chắc chắn do dượng út kêu đến từ Sài Gòn chớ đâu phải dân ở đây, vậy là nó phải biết dượng út ở đâu, con muốn hỏi thăm công chuyện làm ăn sinh sống của dượng út cho biết ! Năm Lan trả lời.

Buổi chiều, Ba Tí đến nhà. Khi biết Minh có về để gởi quà cho gia đình vợ, anh ta có vẻ sốt ruột. Nại cớ có công việc, Ba Tí quay trở lên tỉnh và cho người đi tìm tung tích của Minh. Cũng may, Minh và con bé Châu đã rời phòng trọ lên xe về Sài Gòn trước đó hai tiếng đồng hồ.

- Lần sau tụi bây gặp nó về cứ bắt lại, đem về đây tao tính ! Ba Tí hạ lệnh. Lúc này anh ta đang thuận lợi đường công danh, nghe nói có quy hoạch về ban giám đốc công an tỉnh trong nhiệm kỳ sắp tới...

***

- Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo, Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi ... Minh ca lớn ù bằng giọng khê đặc của một đệ tử lưu linh đã ngấm ... Từ lúc quay lên Sài Gòn, anh uống rượu suốt. Lúc thì rủ Già Tư, lúc đến cơ sở "uống chút dỉnh" với ông chủ, lại có lúc lôi cả đám thợ học việc đến nhà gầy cuộc nhậu. Cũng may đã sát Tết, mọi công việc đã dứt điểm và thôi nhận hợp đồng nên mới chẳng ảnh hưởng gì đến cơ sở của ông chủ ... Người bị ảnh hưởng trực tiếp lại là con bé Châu !

Mọi chuyện, từ những chi tiết lặt vặt cần thiết cho cuộc nhậu đến công tác dọn bãi chiến trường của đám đệ tử lưu linh bỏ lại, thậm chí đến những ô uế của Minh sau cuộc "chiến đấu" đều dựa vào sự siêng năng cần mẫn của con bé. Châu chẳng nề hà gì nhưng thực sự nó cảm thấy đau xót thay cho Minh ... Nó biết, anh ta buồn chuyện vợ con nên sinh ra bê tha phí đời !

- Chú đừng nhậu nữa có được không ? Cứ kéo dài như vầy, con nghi chú tiêu quá ! Con bé nhân một lúc Minh hơi gọi là tỉnh táo.

Minh nhìn con bé với ánh mắt đầy xúc động. Anh đã quen rồi với sự thờ ơ ghẻ lạnh của con người đối với anh. Thân phận của một kẻ tồn tại như một cái bóng với ánh sáng của chế độ mới đã buộc anh phải rúc sâu vào vỏ ốc của mình hầu bớt đi nỗi đau đớn khi bị xúc phạm. Lâu dần trở nên quen thuộc và tập tính đã biến thành cá tính, anh trở nên chai lì cảm xúc và quên dần cái tôi của mình đã có một thời đầy tự hào, thời của một tuổi trẻ có nhiệt huyết và tài hoa.

- Ừ, thì để chú bớt lại... Minh hứa với con bé.

Mới hứa buổi sáng, đến giờ chiều, vài ông bạn nhậu đã đến rủ rê...

Gần mười giờ đêm Minh được đưa về nhà trong tình trạng say khướt, thân thể rủ ra như tàu lá héo. Con bé phụ với những ông bạn nhậu để đưa Minh vào được giường trong khi các "tửu đồ" rút lui, con bé lui cui pha nước lau mặt cho Minh. Vừa dọn dẹp nhà cửa vừa nhìn Minh nằm như một xác chết, con bé nước mắt lưng tròng, lầu bầu :

- Vậy mà hứa bớt nhậu ! Bớt kiểu gì kỳ ...

Nửa đêm Minh thức giấc. Anh lọ mọ đi xuống bếp uống nước ... Chợt nhớ ra, Minh đi lên nhà bật đèn sáng ... Con bé Châu đang nằm chèo queo dưới nền gạch bông phòng khách, tấm mền mỏng bị đạp xuống chân lọt vào một góc gầm tủ.

Dậy đi, vào trong giường mà ngủ ... Sao nằm dưới đất ? Minh lay con bé dậy.

- Con để chú ngủ giường, con ngủ võng ... Ai ngờ ngủ võng đau lưng quá trời nên con xuống đất ngủ luôn... Châu trả lời trong lúc còn ngái ngủ ...

- Thôi vào trong ngủ, để chú ra ngoài này ngủ võng được rồi ... Minh nói.

Con bé ậm ừ mấy tiếng rồi vẫn nhắm tịt mắt. Tuổi đang lớn dễ gì tỉnh ngủ được ngay. Gọi thêm mấy tiếng không thấy con bé trả lời, Minh phát hiện con bé đã ngủ lại, thở đều !

Anh bất giác mỉm cười. Nhìn con bé nằm phong phanh trên nền gạch, Minh cảm thấy không ổn. Anh cúi xuống xốc con bé lên cánh tay còn lại của mình, cánh tay cụt cũng đở với gáy của nó ... Cứ thế anh đi thẳng vào phòng trong đặt con bé xuống giường ... Quay ra lấy tấm mền vào, Minh đắp lên mình con bé rồi quay ra xổ tấm võng xuống ... Anh ngủ lại thật nhanh.

Đúng mồng hai tết, Minh bị đưa đi cấp cứu ở bệnh viện đa khoa Gia Định ... Cũng như mọi khi, anh nhậu từ sáng sớm ở nhà một người bạn cùng nghề vẽ quảng cáo. Đến trưa, anh lại nhậu cùng Già Tư và các chiến hữu đặc biệt, chợt anh ho rủ rượi và nôn ra máu !

Cũng may, sau khi chiếu X quang và khám điều trị cả tuần lễ, các bác sĩ mới xác định được anh chỉ xuất huyết dạ dày, không phải là lao phổi ... Dĩ nhiên, chẳng cần đến ai bảo ban khuyên nhủ, Minh giã từ các cuộc nhậu túy lúy càn khôn kể từ hôm ấy ... Kẻ mừng nhất là con bé Châu. Kể từ lúc Minh sa đà nhậu nhẹt, gần như anh đã quên bẵng việc chở con bé ra ga Sài Gòn để tìm tung tích những đứa em lưu lạc vào mỗi chiều.

Sau khi bình phục, Minh trở lại với công việc của mình. Anh vẫn tập trung vào cơ sở vẽ bảng quảng cáo và tránh né việc "cộng tác" với nhóm Già Tư. Anh sợ, với một kẻ có lý lịch như anh, nếu vở lở - giá phải trả dĩ nhiên là rất nặng nề !

Thời gian này, một sự việc thú vị xảy ra đối với cái gia đình nhỏ bé của anh. Con trai út của ông chủ cơ sở vẽ bảng quảng cáo, một hôm đến nhà tìm Minh có việc gấp nhưng không gặp. Tiếp cu cậu là con bé Châu...

Đối với anh, Châu vẫn còn là đứa bé con nhưng trong thực tế - con bé đã trổ mã và đẹp lạ lùng ! Chỉ hơn một năm kể từ ngày gặp Minh và về sống như một đứa con nuôi ở nhà, con bé vụt lớn hẳn lên và nẩy nở thành một thiếu nữ đẹp mặn mòi. Trong con mắt của mọi người, con bé hứa hẹn sẽ làm điên đảo khối anh chàng háo sắc... Chỉ có riêng một người không nhận ra và cũng không bao giờ để ý để nhận ra là Minh. Cậu con trai của ông chủ mê con bé tít thò lò và liên tục tìm cớ lui tới nhà anh để được gặp và nói chuyện tào lao với con bé. Năm nay cậu chỉ vừa hai mươi tuổi, còn quá sớm để nói đến bất kỳ chuyện gì... Vậy mà một buổi đẹp trời - cậu đã bặm gan thú thật với Minh để xin "được yêu" con bé !

Thằng si tình con ông chủ vừa về, Minh vừa buồn cười vừa suy nghĩ một giải pháp nghiêm túc cho vấn đề thoạt nhìn tưởng chừng như đơn giản. Anh gọi con bé lên nhà trên, hỏi nó với bộ mặt cố lấy vẻ nghiêm trang :

- Thằng Luận mới nói chuyện với chú, nó xin được đến để tìm hiểu... tức là ... đặt vấn đề để yêu Châu, cháu nghĩ sao ?

Châu cau mày. Con bé không thích Luận, cậu ta còn quá trẻ con đối với nó, nhưng từ chối thẳng thừng liệu có tiện không khi cậu ta là con ông chủ của Minh ? Con bé cắn môi một lúc mà chẳng biết phải mở miệng trả lời làm sao.

Gật gù như đã hiểu ý con bé, Minh nói luôn :

- Vậy được rồi... Cháu im lặng tức là đồng ý phải không nào ?

- Không... Con không chịu !

Con bé phản đói bằng giọng như muốn khóc :

- Con còn nhỏ mà, nghĩ chi đến chuyện đó chú ơi !

Minh ngẩn người nhìn con bé. Cũng đúng thôi - có đứa cỡ tuổi này đã bồ bịch lung tung thậm chí có khi phải lén lút "đi giải quyết hậu quả", nhưng cũng có đứa "chẳng biết mẹ gì"... kể cả xấu hổ !

- Cháu cũng lớn rồi, bắt đầu suy nghĩ cho tương lai của mình là vừa rồi ! Minh nói một cách ỡm ờ có tính nước đôi vì anh thực sự cũng chẳng phải là người có kinh nghiệm gì cho lắm trong những việc đại loại như vậy.

- Chú ơi... Giọng con bé chợt nhỏ nhẹ trong lúc gương mặt đỏ lừng và đôi bàn tay xoắn lấy nhau trước ngực.

- Gì ? Minh hơi ngạc nhiên trước vẻ bẻn lẻn khác thường của con bé.

- Con muốn chú giúp con một chuyện ... Chuyện này con mơ ước lâu lắm rồi mà chưa dám nói ! Con bé nói một cách rụt rè.

- Cháu cứ nói, nếu được chú giúp ngay... Minh đáp.

- Con muốn được học nghề uốn tóc với trang điểm cô dâu ! Con bé nói.

Minh ngẩn người trước đề nghị của con bé. Quả là anh dở ẹt ! Một cái nghề khả dĩ nuôi sống con bé thế mà anh không nghĩ ra để tạo điều kiện cho nó đi học, để đến lúc nó nói anh mới thấy hết sự đề nghị này ! Thấy anh im lặng, Châu tưởng anh không đồng ý, nó vội nói :

- Đó là con nói vậy chớ nếu không được cũng tốt thôi chú ơi ! Con ở nhà nấu cơm cho chú về ăn hàng ngày cũng được rồi ...

Anh xua tay. Anh châm một điếu thuốc hút chậm rãi rồi nói với giọng ôn tồn :

- Từ mai chú sẽ đưa cháu đi học nghề, buổi trưa chú đón về bên chỗ làm của chú ăn cơm ... Chiều về đi qua chợ mua đồ ăn về nấu ăn cơm sau ... Rồi, sắp xếp cứ như vậy mà thực hiện !

Con bé lặng nhìn anh, lòng tràn ngập cảm xúc, vừa biết ơn, vừa thương mến. Thế là từ sau hôm ấy, con bé được đưa đi học nghề uốn tóc trang điểm cô dâu theo đúng mơ ước và việc này, dĩ nhiên tiêu tốn của Minh một khoản không nhỏ.

- Chú mầy phải nhẫn nại mới được, ít ra cũng phải đợi con bé học xong cái nghề rồi chú mầy hãy đến mà nói tiếng yêu thương với nó, tao nghĩ vậy ! Minh khuyên cậu con trai ông chủ khi nó tiếp tục lui tới tán tỉnh con bé Châu...

(Còn tiếp)

Nguyễn Minh

 

 

Mt Ngày Như Mi Ngày ... Ca Tun !
Chuyện ngắn của Nguyễn Tuấn
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 23 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

Chẳng cần một hồi kẻng đánh thức, cũng chẳng cần ai lay chân..., Tuấn vẫn cứ thức giấc và đi xuống sàn nước lĩnh một ca nước sạch theo - tiêu chuẩn vào đúng 5 giờ sáng. Không riêng gì Tuấn, hầu như chiếc đồng hồ sinh học nào của 19 con người ở phòng K5 tạm giam đều hoạt động chính xác đến từng phút, thậm chí từng giây.

Nếu trên đời có một loại hoạt động phong phú và đa dạng nhất, chính là giờ tập thể dục sau đó của toàn bộ phạm nhân đang ở trại tạm giam. Ở một góc phòng, vài ông tóc bạc múa Thái Cực Quyền theo kiểu ú ớ hoặc làm ít động tác gọi là Dịch Cân Kinh. Giữa phòng là những chàng trai có vẻ khỏe mạnh (có vẻ thôi nhé !) chạy huỳnh huỵch với đủ kiểu vận động. Và trong một góc gần nhà vệ sinh là nhóm "giang - hồ - gốc" chẳng buồn tập thể dục, dù đó là quy định. Họ ngồi ngáp vắn ngáp dài nhìn những người tập thể dục bằng cặp mắt của một kẻ mộng du. "Báo cáo anh buồng trưởng... tôi bị trộm !". Một chủ vựa gạo kêu lên thảng thốt... Thế là buổi tập được ngừng lại để nhóm đại diện phạm nhân được cán bộ trại cắt cử, tiến hành "điều tra truy xét" ! Tang vật còn lại gồm một ít mì gói rơi vãi trên sàn nước và bao bì của quà bánh được kẻ gian vùi vào tận đáy thùng rác để phi tang. Trong phòng giam chưa đầy 30m2, kẻ gian không thể lẩn tránh đi đâu và "tai mắt"cũng không ít nên chỉ sau mươi phút, vụ án đã được khám phá với những 5 thủ phạm. Thay cho giờ đọc báo Nhân Dân và báo địa phương hàng ngày, toàn thể phạm nhân trong phòng được triệu tập để họp và hành. Một biên bản được xác lập với đề nghị của đa số : "Kỷ luật thật nặng những "kẻ-đi-chợ-đêm"". Ngay cả trong một biên bản nghiêm túc để chuyển đến Ban Quản Giáo, từ lóng chỉ việc Trộm của phạm nhân với nhau là "Đi-Chợ-Đêm" vẫn được dùng một cách đầy ấn tượng ! "Các Tổ lãnh nước sôi !" Anh chàng trực sinh ngày hôm ấy dõng dạc. Bên cạnh việc chà rửa nhà vệ sinh, đổ rác cho phòng theo hình thức luân phiên, "trực sinh" cũng có những giây phút trở nên quan trọng là giờ chia cơm phát nước.

Mỗi người tự "chế tạo" lấy cho mình một món điểm tâm và đều có vẻ tự đắc khi dùng những món... "hổng-giống-ai" ! Tất nhiên, có những anh chàng "Con-Bà-Phước" (không gia đình thăm nuôi) sẽ phải dùng bữa sáng với Bánh Ngáp và Phở Ngóng. Nhưng thi thoảng việc giúp đỡ lẫn nhau không phải là không có nên cũng sống được ! Việc giúp đỡ ấy dù là một việc rất người nhưng khổ nỗi lại bị nghiêm cấm nên để thực hiện lòng bác ái phải được giữ kín. Nguyên nhân của sự cấm đoán ấy, cũng là do bọn đại bàng đầu gấu dùng cái gọi là giúp đỡ lẫn nhau để bóc lột những phạm nhân yếu thế hiền lành.

Sau giờ dùng bữa sáng tự túc, tất cả phạm nhân đều phải ngồi nghiêm túc, cách vách tường 20cm để tránh ngủ gật và sau đó học nội quy. Nội dung học chỉ bao gồm những quy định của trại giam nhưng nếu như không thuộc như cháo chảy dù chấp hành một cách nghiêm chỉnh, vẫn bị những hình thức chế tài của trại. Nguyên nhân chính của việc buộc phạm nhân học tập thảo luận, hóa ra là để phạm nhân không có thì giờ tụm năm tụm ba bàn chuyện không tốt. Thỉnh thoảng cánh cửa sắt của phòng giam lại mở ra để anh chàng trật tự gọi tên những ai phải đi ra ngoài làm việc theo yêu cầu của cảnh sát điều tra. Tất cả phạm nhân khi ra ngoài đều phải mặc một bộ quần áo sọc, được gọi đùa là đồng phục Juventus ! Cánh cửa sắt lại mở. Lần này là một gương mặt đầy dầu mỡ thò vào để hỏi lại về yêu cầu hâm nấu của phòng. Để đảm bảo đồ ăn, quà bánh của gia đình gởi vào không bị ôi thiu, phải bỏ ra vài nghìn đồng để thuê "Tổ Hâm Nấu" chế biến lại. Nhưng tất nhiên, do trù phòng đã thực hiện đại trà nên cũng xảy ra lắm chuyện dở khóc dở cười. Ngay như Tuấn đã có lần phải ăn chè đậu xanh có hương vị càri và ăn càri có mùi mắm ruốc !

Thỉnh thoảng tất cả cánh mũi được vễnh lên để hít hà, để dáo dác vì mùi thuốc lá thơm do cán bộ hút theo gió lùa vào... Từ năm 1998, có lệnh cấm hút thuốc trong tất cả các trại tạm giam đã làm giá thuốc mua theo con đường "lậu" (hệt như bên ngoài) lên đến 600.000 đồng/gói nếu là thuốc Jet, 1.000.000 đồng cho 1 gói 555 và 300.000 đồng/lạng thuốc lào. Đã có lúc vi phạm nội quy ở trại tạm giam lên đến 8-90% là vì hút thuốc và giấu tiền vào mua thuốc hút. Việc ngăn cấm ấy là do áp dụng biện pháp ngăn ngừa bọn tội phạm hút chích tìm cách mang vào phòng giam ma túy. Nhưng dù có cấm một cách triệt để, vẫn không phải là không có con đường ma quỷ để tuồn vào. Ngày hôm nay, mọi sinh hoạt thường nhật được tạm hoãn. Đơn giản là : Ngày Thăm Nuôi !

Tuấn soạn giỏ và bình lọ từ chiều tối hôm qua. Mãi đến gần trưa, tên của Tuấn mới được xướng lên ở ô cửa tò vò dù Tuấn biết chắc rằng vợ của mình đã đến từ rất sớm. Với hàng trăm hàng ngàn phạm nhân và lực lượng giữ trật tự, kiểm tra giám sát chưa đến 40 người, như thế cũng còn là may !

Ngăn cách với người thân bằng một dãy bệ xi măng và tấm lưới, việc sờ nắm được tay nhau hoặc bồng bế con cái, xem như không thể. Cuộc gặp của Tuấn với vợ con diễn ra theo quy định chưa đến 5 phút trong tiếng ồn ào như Chợ Bình Tây và tiếng quát tháo của những phạm nhân thành án được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Thỉnh thoảng, những trường hợp đặc biệt cũng được trại cho gặp thêm một suất, nhưng làm sao đủ với lòng mong nhớ giữa con người và con người ? Tuấn cùng đoàn người quay lưng đi vào không dám quay lại nhìn vì sợ rằng mình sẽ khóc òa lên như một đứa trẻ con khi gặp ánh mắt đau đáu dõi theo của người thân.

Tất cả quà cáp được kiểm tra chặt chẽ đến mức, không thể lọt vào kể cả một mẩu giấy vấn thuốc hoặc một chiếc đinh ghim. Mọi thứ được sử dụng trong trại tạm giam đều bằng nhựa...

Bữa ăn trưa với một món thịt hoặc cá biển kho cùng một ít canh "đại dương" (gọi thế vì toàn là nước với nước). Vào ngày thăm nuôi, những món ăn của trại cấp đều chẳng ai đụng đến dẫu đó là một đại gia hay là một anh chàng bụi đời "Con Bà Phước".

Khi tiếng kẻng ngủ trưa vừa vang lên, mọi sinh hoạt đều ngừng lại. Dù có buồn ngủ hay không, thử đi lại khỏi nơi quy định xem, lập tức không tránh khỏi một mức độ kỷ luật nào đó.

Chiều đến, những gương mặt chờ đợi chuyển dần sang thất vọng và đau buồn khi tiếng kẻng nghỉ việc vang lên. Thế là hết một ngày Giỗ Tổ - theo cách gọi của phạm nhân chỉ ngày thăm nuôi.

Sau bữa ăn chiều, tất cả đều xếp hàng chờ đến lượt đi tắm. Kể cả những nơi được xem là tuyệt vời nhất thì mức nước cấp phát dành cho việc tắm táp cũng không quá 8 lít. Ở những nơi gọi là hơi bị tệ, có khi chỉ được 3 lít. Ấy thế mà vẫn tắm - mà là tắm có kỳ cọ, giặt khăn hẳn hoi !

Buổi tối có phần thoải mái hơn. Phạm nhân túm tụm theo từng nhóm để nói chuyện rù rì. Những câu chuyện bàn tán tập trung chỉ có ba thứ : mức án của mình sắp phải nhận ; chuyện quá khứ huy hoàng và tất nhiên, bàn về phụ nữ ! Ở những phòng có vị trí thuận lợi, hoặc là đối diện hoặc là sát vách với phòng giam nữ phạm, luôn luôn có nhiều chuyện để nói hơn.

Những cuộc tình "mì - tôm, đường - tán" xảy ra không ít. Thư tình được viết bằng giấy bao mì và thuốc ghẻ chuyển qua lại bằng đủ kiểu, nhất là con đường phơi phóng quần áo. Những vụ bị phác giác đều dẫn đến một hình thức kỷ luật, nhưng... "thương nhau mấy núi cũng trèo", huống hồ hình phạt ! Những anh chàng Từ Hải không thiếu gì cách lấy lòng người đẹp. Yêu cầu của nàng, sau khi đã đưa ra được vài cử chỉ tỏ lộ tình yêu biển cả ( ?) lập tức được chàng đáp ứng. Vẫy bàn tay theo cách cá lội ? Trưa nay sẽ gởi cho nàng cá chiên ! Búng tay như tôm nhảy ? Sẽ có tôm rim ! Đập hai bàn tay vào hông ? Sẽ là gà rôti hoặc luộc !

Đập dẹp một chiếc đinh ghim và kiên trì mài mỏng, sẽ có ngay một kim khâu và dùng chỉ rút từ khăn rằn ra, nàng may cho chàng một chiếc áo gối bằng vải của bộ quần áo ngủ. Thêu hai trái tim hoặc cặp bồ câu thô như ngỗng Bắc Kinh, gởi cho chàng ? Thế là chàng tha hồ hao tốn không ít quà bánh, những quà bánh mà vợ con chàng đã nhịn ăn nhịn mặc gởi cho chàng ! ! !

Chiều chiều, để được chạy đến bên cửa tò vò nhìn sang "bên nớ""bên nớ" nhìn sang "bên tê" nháy nhó với nhau, cả nàng lẫn chàng đều phải tiêu tốn không ít cho trưởng phòng và trật tự khu. Tất nhiên khoản "tình - phí" ấy, đều do hoặc chàng hoặc nàng, ai yêu nhiều hơn, người đó đảm nhận. Để thông tin cho nhau, các phạm nhân sử dụng hai cách. Hoặc đánh chữ bằng quạt hoặc bằng ngón tay, mọi nội dung từ yêu đương đến thông cung đều được thực hiện dễ dàng. Tuy nhiên, ở một số trại tạm giam, không phạm nhân nào dám sử dụng phương cách này. Không phải họ sợ bị kỷ luật hoặc khó thực hiện mà là vì, cán bộ ở đó đọc loại mật hiệu này còn nhanh và chuẩn xác hơn tù !

Để tiễn một phạm nhân ra tòa vào ngày mai, thường thì một party được tổ chức với hầu bao của chính đương sự. Cũng có ca nhạc hẳn hoi và thậm chí có cả nhảy đầm một cách xôm tụ, tùy theo "đẳng cấp" của kẻ tổ chức. Ban nhạc thường chỉ có một người và nhạc khí là một chiếc xô nhựa để úp lót phía trên một tấm chăn cho "ấm tiếng". Giang hồ gọi kiểu này là "gõ bo". Phải thành thực mà nói, một tay gõ bo siêu hạng như Hậu bô chẳng hạn, sẽ làm cho cử tọa phải thực sự kinh ngạc. Phùng Trọng thuở xưa cũng đến thế là cùng ! Loại âm nhạc được sử dụng có thể gọi là "một nền văn hoá boléro" và là một kho tàng "sáng tạo ngôn ngữ". Bất kỳ một bài nhạc nào, dù nghiêm túc hay lãng mạn trữ tình, đều được xử lý để ra một thứ nhạc hết sức đậm đặc tù tội, lưu manh.

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, nhất là khi tiếng kẻng ngủ vang lên vào lúc 21giờ30. Chỉ mươi mười lăm phút sau, tất cả đều yên ắng. Tuy nhiên, chen lẫn trong tiếng ngáy râm ram khá nhiều tiếng thở dài. Thậm chí nếu thính tai, có thể nhận ra cả tiếng sụt sùi của ai đó đang nhớ vợ thương con... Hay, xót xa cho chính mình ?

Nguyễn Tuấn