Báo Việt Nam Dân Chủ THÁNG 01/2005

 

Quan điểm : Bài học nào sau vụ sóng thần ở Ðông Nam Á ? (Nguyễn Ngọc Ðức)

Tình Hình Chính Trị của Việt Nam năm 2004 (Trần Đức Tường)

Tình Hình Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 2005 (Đoàn Hùng)

Thế Giới 2004 : Dân Chủ Không Ngừng Tiến Bước (Nguyễn Trúc Giang)

Những Vấn Đề Lớn của Thế Giới Trong năm 2005 (Trần Sơn)

Thảm Họa Cuối Năm (Thanh Thảo tổng hợp)

Việt Nam Nên Hay Không Nên Theo Chế Độ Đa Đảng ? (Đỗ Nam Hải)

Nhận Định : Từ Phương Nam Đến Đỗ Nam Hải (Trà Bồng)

Chủ Quyền Biển và Họa Đồ Hải Phận (Vũ Hữu San)

Tâm tình nhân dịp Giáng Sinh 2004 (LM Phan Văn Lợi - LM Nguyễn Hữu Giải)

Việt Nam Ngày Nay : Những Người Kém Ưu Tiên (Phan Kiến Quốc)

Dân Ta Trên Xứ Người : Tự Hào Là Người Việt Nam ? (Nguyễn Sáng)

Tản Mạn Về Sợ (Trần Trung Đạo)

Những Mẩu Kính Màu (phần 6) (Nguyễn Minh)

 

 

Bài hc nào sau v sóng thn Ðông Nam Á ?
Nguyễn Ngọc Ðức
 (LÊN MẠNG CHỦ NHẬT 2 THÁNG GIÊNG 2005)

Năm 2004 vừa chấm dứt. Chấm dứt với một tai họa khủng khiếp chưa từng có. Cơn động đất ở ngoài khơi đảo Sumatra đã tạo thành những cơn sóng thần tại Ấn Ðộ Dương, gây ra một trận thiên tai lớn nhất trong lịch sử cận đại của nhân loại. Hơn 120 ngàn người đã bị thiệt mạng và con số này có thể gia tăng gấp đôi, gấp ba, nếu không kịp thời có những biện pháp để khẩn cấp cứu giúp hàng triệu người đang sống trong cảnh màn trời, chiếu đất.

Con người không thể ngăn được thiên tai, nhưng con người có thể giảm thiểu sự thiệt hại về nhân mạng, nếu có những biện pháp đề phòng thích đáng. Các vụ động đất ở California, Nhật Bản, mặc dù sự thiệt hại về vật chất rất lớn, nhưng không có bao nhiêu người chết. Trong khi đó, cũng cùng mức độ động đất xảy ra ở Mễ Tây Cơ, Iran, số người chết lên đến hàng chục ngàn. Nếu vụ động đất và sóng thần vừa qua không xảy ra ở ngoài khơi Nam Dương, mà ở vùng biển của Nhật Bản hay Hoa Kỳ, thì có lẽ số người chết sẽ không cao như thế. Vì từ lâu, các nước này đã có một hệ thống báo động sóng thần dưới lòng biển Thái Bình Dương và nó có thể giúp cho họ kịp thời di tản dân chúng trước khi sóng thần ập tới.

Xét cho cùng, chỉ vì chậm tiến, mỗi thiên tai ở các nước của thế giới thứ ba đều là một tai họa khủng khiếp. Chỉ vì chậm tiến, nhà cửa, cầu đường, đô thị của các nước này đã không được xây dựng theo những tiêu chuẩn khả dĩ chống chọi được với thiên tai. Chỉ vì chậm tiến, các nước của thế giới thứ ba đã không có khả năng thiết lập những hệ thống báo động, những phương tiện để di tản nhanh chóng, những điều kiện để cứu trợ cấp thời,...

Việt Nam cũng là một nước chậm tiến. Ðiều may mắn cho nước ta là cơn động đất chín chấm trên thang Richter vừa qua đã xảy ra phía Tây của đảo Sumatra. Nếu nó xảy ra ở phía Ðông của bán đảo Mã Lai, thì chắc chắn 2500 cây số bờ biển của Việt Nam sẽ bị sóng thần càn quét và mức thiệt hại về sinh mạng không thể đo lường được.

Trong những năm vừa qua, nước ta cũng xảy ra những tai họa, tuy không ở mức độ khủng khiếp như đợt sóng thần ở Ðông Nam Á, nhưng các nguyên nhân của nó cũng là những bài học cần rút tỉa. Cuối năm 1999, miền Trung bị lụt. Nhưng khác với các năm trước, trận lụt này gây ra số tử vong rất lớn và làm cho khoảng 1 triệu người lâm cảnh màn trời, chiếu đất. Sự tàn phá môi sinh và khả năng cứu trợ thấp kém là hai nguyên nhân chính của tai họa này. Tháng 10/2002, vụ cháy Trung Tâm Thương Mãi ở Sài Gòn cũng là một tai họa đáng được ghi nhận, vì nó cũng gây ra số tử vong khá lớn, mà lẽ ra có thể giảm thiểu được, nếu có những biện pháp phòng cháy, chữa cháy thích đáng. Tất cả chỉ vì nước ta chậm tiến.

Việt Nam và các nước trong thế giới thứ ba không có 36 cách để tránh những tai họa khủng khiếp tương tự như vụ sóng thần ở Ðông Nam Á vừa qua. Chỉ có một cách là phải phát triển nhanh chóng và bền vững.

Tuy nhiên, trong phát triển, nhiều chính quyền chỉ quan tâm đến yếu tố nhanh, không màn đến yếu tố bền vững. Ðiển hình là sự phát triển ngành du lịch. Ðể có thể thu hút ngoại tệ một cách nhanh chóng, nhà cầm quyền Việt Nam đã để mặc cho các đô thị quanh bờ biển phát triển một cách vô lối. Nhà cửa, hotel, khu giải trí,... đã mọc lên một cách vội vã, không tuân thủ những quy luật cơ bản về kiến thiết đô thị, về xây cất, về an toàn, về môi sinh... Nhìn trên bề mặt, người ta có thể hài lòng và cho đó là phát triển. Nhưng thật ra, đây là hiện tượng "ăn xổi, ở thì", là biểu hiện của sự vô trật tự và không thể bền vững. Các nước ở chung quanh bờ Ấn Ðộ Dương cũng từng hài lòng như vậy. Du khách Tây phương xem các bờ biển này là thiên đàng, vì ở đó có biển ấm, có các khu giải trí đủ tiện nghi và giá cực rẻ, so với các khu du lịch ở Âu Châu hay Bắc Mỹ. Nhưng chỉ sau 1 giờ càn quét của sóng thần, nỗ lực xây dựng nhiều năm của các nước này trở thành mây khói. Thiệt hại đầu tư của các đại công ty du lịch quốc tế thì đã có các hãng bảo hiểm hoàn trả. Thiệt hại của người dân ai sẽ hoàn trả, khi hầu như nhu cầu đóng bảo hiểm cá nhân không bao giờ được đặt ra ở các nước chậm tiến ?

Ðể có thể phát triển bền vững, Việt Nam phải chấm dứt tình trạng xây cất vô lối như hiện nay. Mặt khác, sự phát triển bền vững cũng không thể đi đôi với sự tàn phá về thiên nhiên và môi trường sinh thái. Do hoàn cảnh thiên nhiên, miền Trung của nước ta vẫn thường xuyên bị lụt. Nhưng trong những năm gần đây, tình trạng lụt ngày một tác hại to lớn. Trong các trận thiên tai sau này, nước lũ chảy rất siết và dâng nhanh với tốc độ khủng khiếp. Ðây là hậu quả trực tiếp của nạn "thi đua" phá rừng của nhiều bộ phận của nhà nước và đảng CSVN, nhân danh phát triển ! Ngoài ra, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí, tình trạng sa mạc hóa đất đai,... đều là những vấn nạn nghiêm trọng mà Việt Nam đang gặp phải. Mặc dù các tổ chức môi sinh quốc tế đã lên tiếng báo động, nhiều chuyên gia Việt Nam ở hải ngoại cũng góp phần cảnh báo và đề nghị nhiều biện pháp chấn chỉnh, nhưng với não trạng đóng khung và đa nghi của giới lãnh đạo đảng CSVN, những lời cảnh báo và đề nghị này chẳng những không được lưu tâm, mà còn có khi bị xem là "tìm cách phá hoại công cuộc phát triển Việt Nam".

Xét cho cùng, Việt Nam chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững nếu chấm dứt được tình trạng độc quyền đất nước của đảng CSVN hiện nay. Sự độc quyền này là nguồn gốc sản sinh ra nhiều tai họa cho đất nước, từ quốc nạn tham nhũng, đến sự phung phí tài nguyên quốc gia và tàn phá môi sinh.

Tai họa đến từ Trời, không dân tộc nào có thể tránh được. Nhưng tai họa đến từ người, dân tộc nào cũng có thể giải quyết được. Chỉ khi nào dân tộc Việt Nam giải quyết được tình trạng độc quyền đất nước của đảng cộng sản, thì mới có thể tiến nhanh trên con đường phát triển bền vững, mới có điều kiện để đề phòng và đối phó với những thiên tai to lớn như cơn sóng thần vừa qua tại Ðông Nam Á.

Nguyễn Ngọc Ðức

 

 

Tình Hình Chính Tr ca Vit Nam năm 2004
Trần Đức Tường
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Khẩu hiệu "ổn định chính trị" luôn luôn ở trên đầu môi chót lưỡi của các cán bộ đảng cộng sản Việt Nam (CSVN) từ trung ương cho đến địa phương. Hà Nội đã hết lời khoe khoang tình trạng ổn định chính trị trong Hội nghị Thượng Đỉnh Á-Âu (ASEM). Họ đã tận dụng khẩu hiệu này để kêu gọi đầu tư quốc tế. Họ cũng đưa nó lên hàng đầu trên các quảng cáo du lịch. Trên thực tế, tình hình chính trị tại Việt Nam có thật sự ổn định như cộng sản Hà Nội vẫn khẳng định hay không ? Theo dõi và phân tích những gì đã xảy ra suốt năm 2004 trong nội bộ đảng CSVN cầm quyền, trong bộ máy chính quyền của chế độ, trong quần chúng nhân dân trong nước cũng như cộng đồng người Việt Hải Ngoại, trên lãnh vực kinh tế, ngoại giao... người ta không thể nào đồng ý với những lời xác quyết của cộng sản Hà Nội được.

 

Nội tình đảng CSVN

 

Trước khi đề cập đến những vấn đề nghiêm trọng đang diễn ra trong nội bộ đảng CSVN, thiết tưởng cũng nên nhắc lại một số hiểu biết của chúng ta về bối cảnh của chế độ trong quá khứ cũng như hiện tại.

Quy luật của các chế độ độc tài, đặc biệt độc tài cộng sản, là thu tóm quyền lực. Quyền lực càng nhiều thì đấu tranh nội bộ để tranh giành quyền lực lại càng gay gắt, dẫn đến những thủ đoạn bỉ ổi, những cuộc đấu đá chí mạng, những cuộc thanh trừng đẫm máu. Lịch sử cận đại đã cho chúng ta thấy rõ ở Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng sản khác. Cộng sản Việt Nam là một chế độ độc tài cũng nằm trong quy luật đó.

Vì bản chất lệ thuộc của chế độ cộng sản Việt Nam nên quyền lực trong đảng phải dựa vào thế lực của ngoại bang. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ngoại bang là các nước cộng sản đàn anh và người ta đã biết có sự tranh giành ảnh hưởng của hai phe thân Liên Xô và thân Trung Cộng trong nội bộ đảng CSVN. Ngày nay, hệ thống cộng sản thế giới đã sụp đổ. Do muốn có lực lượng và bộ máy để nắm giữ và bảo vệ chính quyền, CSVN đã cố gắng duy trì khung sườn và chủ trương xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong lúc chuyển hướng kinh tế theo tư bản và mở cửa giao dịch với thế giới bên ngoài. Cũng vì thế mà CSVN đã sao chép nguyên văn quy thức của Bắc Kinh đồng thời một xu hướng mạnh trong đảng chủ trương dựa vào thế lực Bắc Kinh để củng cố quyền lực trong đảng, trong lúc các xu hướng khác chưa rõ rệt và yếu thế.

Sự kiện phe cánh, đấu đá nội bộ trên thượng tầng kiến trúc của CSVN trải dài xuống các cơ sở theo hệ thống ô dù là một thực tế hiển nhiên. Thiết tưởng không cần đi vào chi tiết. Nhưng năm 2004 vừa qua là năm nổ tung những mâu thuẫn đó. Đảng CSVN không còn khả năng, (và đây là một điều quan trọng cần ghi nhận), để bưng bít những âm mưu, những thủ đoạn đê tiện nhất giữa những nhân vật chóp bu của hệ thống lãnh đạo mà lâu nay chân tướng vẫn thuờng được ngụy trang bởi những chiếc mặt nạ "giai cấp", "cách mạng", "yêu nước", vv... Đó là vụ Tổng Cục 2 thuộc Bộ Quốc Phòng của chế độ CSVN.

Tổng Cục II, trước đây là Cục II, vốn là cơ quan tình báo quân sự của quân đội CSVN, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Vào cuối năm 1996, khi Lê Đức Anh làm Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, đã biến nó thành Tổng Cục Ii và đặt nó trực thuộc Bộ này. Khi Lê Đức Anh lên làm chủ tịch nước, rồi cố vấn cho Trung Ương đảng CSVN, Tổng Cục II đã được giao cho rất nhiều quyền hạn kể cả theo dõi và triệt hạ những đối thủ của phe mình trong thượng tầng lãnh đạo đảng CSVN. Tổng Cục II được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đặng Vũ Chính, trung tướng và Nguyễn Chí Vịnh, thiếu tướng. Cơ quan này đã không ngần ngại tạo bằng chứng giả để tố cáo hầu hết nhũng người lãnh đạo đảng và Nhà Nước hiện nay là tay sai của CIA Hoa Kỳ. Nhưng, theo nhà báo Bùi Tín thì mũi dùi mạnh nhất nhắm vào Võ Nguyên Giáp. Những vụ đấu đá nội bộ trong đảng CSVN là điều mà ai cũng có thể tin chắc là đã có từ lâu ; nhưng nó chỉ ló dạng vào cuối thế kỷ trước, khi tập đoàn cộng sản ký kết nhượng đất, nhượng biển cho Bắc Kinh vào năm 1999 và năm 2000. Phải chờ đến năm 2004, năm kỷ niệm 50 năm "chiến thắng Điện Biên Phủ", lúc cộng sản Hà Nội phải đưa Võ Nguyên Giáp ra trước sân khấu thì ông này cùng với đàn em ông mới có dịp thuận lợi để phản công. Lá thư đầu năm 2004 của ông Giáp và nhất là lá thư đề ngày 17/06/2004 của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh đã phá tung bức màn bưng bít khiến nhiều người trong nước cũng như hải ngoại đều biết. Tiếp theo đó là một loạt các thư, kiến nghị của những cán bộ cộng sản tại chức cũng như hồi hưu đòi lãnh đạo đảng phải làm sáng tỏ vấn đề, truy tố những thủ phạm về tội phản quốc.

Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh và tất cả tập đoàn lãnh đạo đều đánh giá vụ Tổng Cục II "là vụ án chính trị cực kỳ nghiêm trọng". Họ đã tìm mọi cách bưng bít kể cả đang đêm đổ công an xông vào nhà ông Lê Hồng Hà với lý do tìm ra tài liệu ngày 17/6/2004, mà theo lời của viên đại tá Đào Trọng Sĩ chỉ huy đội lục soát thì "tài liệu này vô cùng quan trọng, nếu để lọt ra ngoài dân chúng thì có thể gây tác hại vô cùng lớn lao cho Đảng". Nhưng đến nay thì hầu hết các tài liệu liên quan đến vụ án đã lọt ra không những trong dân chúng ở Việt Nam mà còn ra đến hải ngoại.

Có thể nói, đây là một vụ nổ lớn cho người ta thấy một cách rất rõ những đấu đá nội bộ tập đoàn lãnh đạo chóp bu của CSVN. Từ đó, người ta cũng có thể rút ra kết luận là trong đảng CSVN sự thống nhất chỉ là huyền thoại, và sự chia rẽ ở tầng cấp lãnh đạo cao nhất sẽ là một mầm mống của tiêu diệt. Nhưng, với kinh nghiệm, người ta cũng có thể dễ dàng suy đoán là vụ án chính trị này, dù là nghiêm trọng và bị phơi bày trước ánh sáng, cũng chưa đủ để làm chế độ này sụp đổ ngay tức khắc. Hơn ai hết CSVN biết chắc rằng "đắm thuyền thì chết tất cả". Không những tập đoàn lãnh đạo sẽ lo be bờ mà cả các cấp cán bộ ở dưới cũng sẽ tìm cách để đảng còn tồn tại và tiếp tục nắm chính quyền. Đó là giải pháp liên quan đến quyền lợi và sống chết của họ. Họ sẽ có thể dàn xếp nội bộ cho tạm êm bằng cách hy sinh một vài con dê tế thần. Trong vụ này cũng cần hiểu rằng, dù phe nào nắm quyền lực của đảng CSVN, phe đó vẫn tìm cách duy trì chế độ độc tài, độc đảng, vẫn tiếp tục đàn áp nguyện vọng dân chủ của người dân.

 

Nội Tình guồng máy cai trị CSVN

 

Đảng CSVN độc quyền lãnh đạo guồng máy Nhà Nước và đang bị phân hóa vì những vụ đấu đá "nghiêm trọng", thì đương nhiên bộ máy cai trị, guồng máy chế độ bị ảnh hưởng. Có thể thấy rõ 2 loại ảnh hưởng là sự mất kỷ cương trong bộ máy và phản ứng gia tăng khủng bố đàn áp đối với quần chúng nhân dân.

Mất Kỷ Cương.

Chưa bao giờ câu nói của người xưa : "thượng bất chính, hạ tắc loạn" lại ứng vào thời đại ngày nay đối với chế độ cộng sản trên đất nước Việt Nam ta như bây giờ. Chủ thuyết Mác-Lê đã bị phá sản và bị thế giới vứt bỏ từ trên chục năm nay rồi. Lãnh đạo trên thượng tầng thì lem nhem, bê bối. Bất kể những người lãnh đạo tối cao bị Tổng Cục II tố cáo đúng hay sai ; bất kể những người chủ chốt Tổng Cục II có lộng quyền hay không..., quần chúng đảng viên bên dưới nhìn lên không biết đàng nào mà mò, không còn tin ai được nữa. Mạnh ai nấy vét, mạnh phe nào rào phe nấy. Rất nhiều trường hợp địa phương cưỡng lệnh trung ương, cấp dưới không chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Quan chức Nhà Nước từ Phan Văn Khải, thủ tướng đến các bộ trưởng trong chính phủ đã nhiều lần than phiền về hiện tượng mà họ gọi nguyên văn là "trên bảo dưới không nghe". Chính vì nạn bao che, ô dù và tình trạng mất kỷ cương mà từ hơn chục năm qua, chế độ đã chịu bó tay, không diệt được nạn tham nhũng ngày càng tràn lan trên mọi lãnh vực : kinh tế, xây dựng, giáo dục, y tế, xã hội vv...

Tình trạng tham ô, lãng phí đã làm bộc lộ bộ mặt xấu xa của đảng, bản chất tham lam, cậy quyền của cán bộ cộng sản khiến người dân ngày càng oán ghét, khinh bỉ. Đảng CSVN nhận thấy rõ họ đã mất quần chúng, mất lòng tin của nhân dân. Trước đây ít năm, các biện pháp họ đưa ra để bài trừ tham nhũng đều chỉ là hình thức bao che cho nhau. Cán bộ bị tố tham nhũng được thuyên chuyển đến chỗ khác làm lớn hơn, có nhiều quyền hành hơn. Ngày nay trước sự đấu tranh tuy còn giới hạn của dân chúng qua các vụ khiếu kiện tập thể và vượt cấp lên tận trung ương, CSVN bắt buộc phải có những biện pháp mạnh hơn. Nhưng thực chất, những kẻ bị mang ra xét xử đều là cán bộ tép riu. Những con hạm cỡ lớn với tài sản hàng chục triệu đô la nằm ngay trên thượng tầng kiến trúc của đảng thì vẫn bình chân như vại. Trong việc tố tham nhũng, Hà Nội đã bật đèn xanh cho báo chí của họ phanh phui một số vụ việc điển hình, không nhằm để tiễu trừ nạn tham nhũng, nhưng để người dân hả giận đối với nhà nước thối nát hiện nay.

Tình trạng loạn quân, loạn quan sẽ còn kéo dài vì nạn thượng tầng xâu xé lẫn nhau, dẫn đến tham nhũng bất trị sẽ khiến cho đời sống người dân ngày càng khó khăn, ngày càng bị đàn áp bóc lột. Nhất thiết phải có những thông tin khách quan và trung thực đến cho nhân dân ta để người dân biết được những quyền lợi thiết thân của họ hầu đấu tranh đòi hỏi, đấu tranh giành lấy những quyền lợi này.

Độc Tài Cộng Sản Gia Tăng Đàn Áp.

Từ đầu năm 2004, vì tình hình nội bộ, đảng CSVN đã muốn chứng tỏ sự vững mạnh của mình đối với dân chúng và sự ổn định chính trị trong nước đối với giới đầu tư nước ngoài bằng những hành động trấn áp và đàn áp mãnh liệt tất cả mọi mầm mống chống đối chế độ. Hành động đàn áp để khủng bố tinh thần người dân, gây sợ hãi trong quần chúng và tổ chức lễ hội để người dân vui chơi, quên đi ý định chống đối chế độ là hai phương sách cổ điển của cộng sản. Năm 2004 là năm cộng sản kỷ niệm 50 năm "chiến thắng Điện Biên Phủ", họ có cớ để tổ chức lớn hòng huy động lòng dân. Nhưng năm nay cũng là cái năm mà Võ Nguyên Giáp lựa chọn để phát pháo tấn công phe đối nghịch đã từng trù dập ông ta trong nhiều năm với vụ Tổng Cục II. Vì thế CSVN đã phải cùng lúc tiến hành hai phương sách là một mặt đàn áp đẫm máu đồng bào thiểu số trên Cao Nguyên Miền Trung và những vụ đấu tranh khác như đấu tranh cho tự do tôn giáo cũng như đấu tranh vì quyền lợi của nhân dân, một mặt tổ chức rầm rộ các ngày lễ hội và hội nghị quốc tế Á-Âu (ASEM).

 

Tình hình quần chúng, tôn giáo, đối kháng trong nước

 

Tình Hình Cao Nguyên Miền Trung.

Sau cuộc nổi dậy của đồng bào thiểu số tại Cao Nguyên Miền Trung bị đàn áp đẫm máu nhân dịp Lễ Phục Sinh hồi tháng 4/2004, tuy CSVN nhất thời vãn hồi được trật tự ; nhưng họ vẫn chưa đạt được ổn định chính trị trong vùng. Việc họ duy trì các lực lượng quân sự và công an tăng cường và việc nhiều quan chức cao cấp đảng và Nhà Nước CSVN lui tới Tây Nguyên, đồng thời đưa ra nhiều biện pháp phủ dụ, tuyên truyền, hăm dọa, bắt bớ là những chỉ dấu của sự lo âu bất ổn có thể trở lại bất cứ lúc nào.

Vấn đề tại Cao Nguyên Miền Trung nói riêng và vấn đề các dân tộc thiểu số tại Việt Nam nói chung là ở chỗ từ khởi thủy chế độ, CSVN đã có chính sách sai lầm hoàn toàn. Chính sách này xuất phát từ tư tưởng thù nghịch của chủ thuyết cộng sản. Trong đầu óc cộng sản, các dân tộc thiểu số đều đã có quá trình cộng tác với các thế lực thực dân, đế quốc. Chính sách và thái độ nghi ngờ, kỳ thị của cộng sản đối với các dân tộc thiểu số đã được chứng minh trong suốt hơn nửa thế kỷ qua tại miền Bắc cũng như miền Nam và vẫn còn tiếp tục. Bao lâu cộng sản không thấu hiểu được Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa, đa chủng tộc và có chính sách đúng đắn đối với mọi người và mỗi người dân, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, văn hóa... thì tình hình các vùng thượng du và cao nguyên vẫn còn là mầm mống bất ổn định.

Vấn Đề Bất Phục Tùng Của Người Dân.

Nếu nói đến hiện tượng bất phục tùng của dân chúng thì vụ nổi dậy ở Cao Nguyên Miền Trung năm 2001 và vừa qua vào tháng 4/2004 cũng là những biểu hiện của sự bất phục tùng. Điều muốn nói ỏ đây là hiện tượng này không những chỉ có nơi đồng bào thiểu số ở vùng thượng du phía Bắc hay ở Cao Nguyên Miền Trung, mà cả đồng bào Kinh ở khắp nơi trong nước đều đã có những hành động chống lại các quyết định của nhà cầm quyền CSVN. Các hành động này được biểu hiện dưới hình thức khiếu kiện cá nhân hay tập thể, theo hệ thống hay vượt hệ thống. Hầu hết những vụ khiếu kiện này đều liên quan đến nạn quan chức đảng và Nhà Nước cậy quyền, cậy thế, ngang nhiên cướp đoạt tài sản, ruộng vườn, đất đai của ngưòi dân. Một số không nhỏ các vụ khác liên quan đến việc xử án oan, khiến người vô tội bị tù đầy, thiệt hại...

Những nguyên nhân chính của các vụ án này là trình độ ngu dốt của toàn bộ cán bộ xét xử, viện kiểm sát, hệ thống tư pháp cộng sản và nạn tham nhũng, hối lộ, bao che nhau, trù dập nạn nhân. Tóm lại, là sự thối nát của ngành tư pháp CSVN. Những vụ khiếu kiện có khi kéo dài hàng chục năm không được giải quyết. Đơn chất thành núi. Từng đoàn người từ tận các tỉnh miền Nam Việt Nam đã kéo nhau ra tận Hà Nội, trước các trụ sở đảng và Nhà Nước, thậm chí cả tư dinh tập đoàn lãnh đạo chóp bu của chế độ để chặn xe đưa đơn. Sức chịu đựng và sự kiên nhẫn của người dân có hạn. Ở một số nơi, ngưòi dân đã không còn tay cầm đơn nộp cho chính quyền cộng sản nữa. Họ đã cầm gậy gộc, gạch đá, chai xăng để ném vào mặt bọn ăn cướp ngày như ở Ba Vì và Kim Nỗ vừa qua, Họ đã công khai bất phục tùng và tấn công cán bộ, nhân viên, công an Nhà Nước để ngăn chặn những vụ cướp đất của họ xây cất các trung tâm du lịch, giải trí cho bọn tư bản đỏ và người nước ngoài. Qua hiện tượng này, người ta thấy rõ, người dân đã không còn sợ hãi bạo lực và cũng không còn tin vào những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của chế độ nữa. Cuộc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi thiết thân của đồng bào chống lại chế độ độc tài khủng bố thật là không cân bằng lực lượng. Vì vậy, nỗ lực chung là phải thông tin và ủng hộ những cuộc đòi quyền sống của đồng bào thường bị cộng sản Hà Nội đàn áp, bưng bít.

Vấn Đề Tôn Giáo.

Sự kiện CSVN chà đạp tự do tôn giáo đã được thế giới biết rất rõ. Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu và nhiều tổ chức Nhân Quyền quốc tế đã lên án bằng vô số nghị quyết, văn bản, văn thư gửi những người lãnh đạo CSVN. Chủ trương, thái độ chống tôn giáo của CSVN xuất phát từ chủ thuyết cộng sản duy vật, vô thần. Mặt khác, nó cũng xuất phát từ bản chất độc tài khống chế con người từ tư tưởng đến vật chất, nên nó đã muốn tiếm vị các tôn giáo để bắt dân chúng chỉ tin vào đảng cộng sản. Một hình thức tà đạo không hơn không kém. Nhưng thực tế đã cho thấy, không ở một nơi nào trên thế giới cộng sản thành công trong âm mưu đen tối này. Vì ngoài tín ngưỡng, con người luôn hướng tới những giá trị cao cả, những giá trị chân thiện mỹ thực sự chỉ có trong các tôn giáo, trong lúc chủ nghĩa cộng sản không có bất cứ một giá trị nào khả dĩ giải quyết được những vấn đề của đời sống con người, kể cả về vật chất lẫn tinh thần.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có tín ngưỡng và tự bản chất, không chấp nhận vô thần cộng sản. Chính vì vậy mà tôn giáo vẫn luôn là một vấn đề lớn đối với chế độ độc tài cộng sản ở Việt Nam. Ở thời điểm hiện nay, cộng sản không còn có thể ngang nhiên cấm đạo, phá hoại chùa chiền, thánh thất... Tuy vậy, với bản chất ngoan cố, họ vẫn không chấp nhận tự do tôn giáo. Một mặt, họ đã tìm cách dựng lên những giáo hội mà họ gọi là Ềgiáo hội yêu nướcỂ và nôm na, người dân gọi là "quốc doanh" để khống chế tín đồ các tôn giáo ; mặt khác dùng những thủ đoạn bỉ ổi để nếu không tiêu diệt được ngay các tôn giáo, cũng để ngăn chặn sự phát triển của các tôn giáo. Pháp Lệnh Về Tín Ngưỡng, Tôn Giáo mới đây đã cho người ta thấy rõ chính sách kềm chế tôn giáo của cộng sản Hà Nội.

Tuy đang phải sống trong sự kềm kẹp, khó khăn, các tôn giáo vẫn không ngừng đấu tranh cho tự do tôn giáo. Giáo Hội Công Giáo tuy bị khống chế, nhưng vẫn tiếp tục đòi chế độ phải hoàn trả tài sản cho giáo hội. Giáo Hội PGVNTN dù bị tù đầy, quản thúc vẫn đấu tranh đòi phục hoạt. Giáo hội Tin Lành đang bị bách hại trầm trọng vẫn kiên trì trung thành với Đức Tin. Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo tiếp tục đấu tranh đòi được phục hoạt và tự do hành đạo. Những biến động ở Cao Nguyên Miền Trung hồi tháng 4/2004 vừa qua có liên quan đến tôn giáo.

Con đường duy nhất là phải công nhận và thật sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo cho người dân Việt Nam. Các tôn giáo trong nước cần sự ủng hộ của toàn dân trong cũng như ngoài nước và của cả quốc tế.

Tình Hình Đối Kháng.

Cũng như đối với các tôn giáo, cộng đồng người Việt Hải Ngoại dã góp phần tích cực trong việc thông tin đến các cơ quan quốc tế về Ân Xá và Nhân Quyền về những vụ đàn áp, bắt bớ những người bất đồng chính kiến với chế độ. Những người "đối kháng" hay "tù nhân lương tâm" này đã được các cơ quan trên đây bênh vực trên các diễn đàn quốc tế, can thiệp trực tiếp với chế độ CSVN. Đây quả là một sức ép quan trọng đối với Hà Nội. Vì phải tạo khuôn mặt "dân chủ" dù là giả tạo, cộng sản Hà Nội đã phải đáp ứng phần nào những đòi hỏi của quốc tế. Chính dưới sức ép này mà Hà Nội đã phải trả tự do cho ông Lê Chí Quang, kết án lấy lệ đối với các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê. Hai người này hiện đã được trả tự do.

Hiện nay, các nhà đối kháng đã tự nhận là những người dân chủ đang đòi hỏi chế độ CSVN phải làm sáng tỏ vụ Tổng Cục II một cách công khai. Những người đấu tranh cho dân chủ ngày càng xuất hiện thêm những khuôn mặt mới, những khuôn mặt của tuổi trẻ. Gần đây có ông Phương Nam Đỗ Nam Hải đã mạnh dạn viết những bài phê phán chế độ và đề nghị một cuộc trưng cầu dân ý. Trong tiểu luận "Viết tiếp về nhận thức lại", Phương Nam đã viết nguyên văn như sau : "ĐCS Việt Nam hãy tạo điều kiện để cho dân tộc ấy được thể hiện ý chí và nguyện vọng của họ, thông qua một cuộc Trưng Cầu Dân Ý về bất cứ điều gì mà từ trước đến nay ĐCS Việt Nam vẫn luôn cho rằng : "Đó là sự lựa chọn của nhân dân và của lịch sử !"."

Nhìn chung, mặc cho có bị đàn áp bằng nhà tù, quản chế, phong trào đối kháng từ quần chúng nhân dân, từ các tôn giáo và từ những nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước ngày một gia tăng cả về con số lẫn về nội dung và hình thức đấu tranh,

 

Tình hình cộng đồng người Việt hải ngoại

 

Viết về tình hình chính trị của Việt Nam mà không đề cập đến vai trò và tầm quan trọng của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại (CĐNVHN) là một thiếu sót lớn. Tư thế và khả năng của Cộng Đồng tác động lên một số chính sách ngoại giao nhất định của các quốc gia đối với chế độ cộng sản Hà Nội đã gia tăng đáng kể. Tại Hoa Kỳ, đã có nhiều Tiểu Bang và thành phố công nhận cờ vàng ba sọc đỏ như là biểu tượng của cộng đồng, bất chấp sự phản đối ngoại giao của CSVN. Được biết Cộng Đồng Người Việt ở Úc cũng đang vận động một chiến dịch tương tự.

Tầm vóc và vai trò của CĐNVHN lại càng lớn mạnh với sự trưởng thành của thế hệ trẻ lớn lên và được đào tạo tại các quốc gia văn minh tiên tiến, trong môi trường dân chủ tự do. Ở tất cả các quốc gia, họ đã tạo nên niềm tự hào của dân tộc có hàng ngàn năm văn hiến. Họ có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có địa vị vững chắc trong xã hội. Nhiều người đã tham gia vào những sinh hoạt chính trị giòng chính tại các quốc gia sở tại. Với kiến thức và nỗ lực tìm hiểu, họ đã thấy rõ tình trạng tụt hậu của Việt Nam dưới chế độ độc tài cộng sản. Với tinh thần thương quê, nhớ cội, họ đang tìm hướng để thay đổi hiện trạng tại Việt Nam.

Hải ngoại hiện nay đã là hậu phương lớn trong công cuộc đấu tranh chấm dứt độc tài cộng sản. Chế độ CSVN nhìn ra điều này và đang có những kế hoạch để tấn công. Nghị quyết 36 của bộ chính trị đảng CSVN đã đầu tư sức người, sức của vào âm mưu này. Họ không chỉ nhằm thu hút tiền bạc hàng năm gần 3 tỷ Mỹ kim của đồng bào hải ngoại. Họ nhằm phá hoại tinh thần và thành trì chống cộng, phá hoại ý chí đấu tranh của đồng bào hải ngoại. Nếu họ thành công thì họ dễ dàng lừa bịp thế giới như họ đã làm trong cuộc xâm lăng miền Nam trước đây. Lúc đó, sẽ không còn ai vạch trần những dối trá, gian manh của họ trước công luận thế giới. Biết được âm mưu của cộng sản Hà Nội, cộng đồng hải ngoại phải có kế hoạch phương cách đối phó hữu hiệu. Cụ thể nhất là đừng vô tình hay cố ý tiếp tay cho cộng sản bằng cách gây chia rẽ, ly gián giữa cộng đồng.

Các thế hệ đi trước đã từng đóng góp xương máu cho đất nước, có nhiệm vụ truyền lại cho các thế hệ đi sau những bài học về cuộc đấu tranh kiên cường của quân dân miền Nam. Năm 2005 là năm đánh dấu 30 năm ngày quốc hận 30/4. Kể lại không phải để than thân, trách phận, để đổ lỗi cho người ngoài. Kể lại để rút kinh nghiệm về tinh thần trách nhiệm đối với non sông đất nước.

 

Kết Luận

 

Sau khi duyệt lại sơ lược tình hình chính trị tại Việt Nam trong năm 2004, người ta thấy rõ là mọi vấn đề sẽ còn tồn tại và kéo dài qua năm 2005. Những vụ đấu đá trên thượng tầng vẫn tiếp diễn, tuy không gay gắt vì các phe phái có khả năng sẽ tương nhượng để tránh nguy cơ dẫn đến sự nổ tung của cả chế độ. Nhưng chắc chắn nó sẽ chuyển sang một giai đoạn mới cũng không kém phần ngoạn mục. Đó là giai đoạn sắp xếp nhân sự lãnh đạo chuẩn bị cho đại hội toàn đảng CSVN kỳ 10 vào năm 2006. Năm nay được coi như năm bản lề. Hiện tượng trên bảo dưới không nghe, tình trạng tham ô, lãng phí sẽ tiếp diễn vì đây là năm cuối vét đối với một số cán bộ chắc chắn sẽ về vườn sau đại hội 10. Bất công xã hội, phân cực giầu nghèo sẽ gia tăng. Chế độ càng cảm thấy yếu kém thì lại càng gia tăng đàn áp để cố giữ "ổn định chính trị". Tóm lại, đối với cộng sản Việt Nam, năm 2005 hứa hẹn nhiều khó khăn trên mọi mặt từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội.

Nhiều người cho rằng dân ta trong nước chỉ mong có được một cuộc sống đủ ăn, đủ mặc, chứ không cần biết dân chủ tự do. Nói như vậy là không đúng. Với trí tuệ, tính siêng năng, cần cù, óc sáng tạo và tài nguyên phong phú cũng như tiến bộ khoa học kỹ thuật thời đại, dân ta có đủ điều kiện để có một cuộc sống tươi đẹp hơn là đủ ăn, đủ mặc. Điều tiên quyết là phải chấm dứt chế độ độc tài cộng sản, nguyên nhân của sự trì trệ trong hơn nửa thế kỷ qua, đặc biệt là trong suốt 30 năm sau khi thôn tính miền Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975. Các tôn giáo và giới đối kháng phải tiếp tục đấu tranh, khai thác những điểm yếu của chế độ để đòi cho được tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, vv.... Các lực lượng đấu tranh ở hải ngoại cần đẩy mạnh cánh cửa vào Việt Nam để cùng đồng bào trong nước đấu tranh trực diện với cộng sản ngay trên trận địa quốc nội. "Tấn công CSVN ngay trên phần đất họ đang thống trị" phải là khẩu hiệu của chúng ta trong năm 2005. Dân sinh, dân quyền, tự do tôn giáo, dân chủ nhân bản là ba mặt trận mà chúng ta phải tích cực hỗ trợ đồng bào trong nước đấu tranh giành thắng lợi cuối cùng.

Trần Đức Tường

 

 

Tình Hình Đảng Cng Sn Vit Nam năm 2005
Đoàn Hùng
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Năm 2005 đánh dấu 30 năm ngày đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt ách thống trị trên toàn cõi đất nước. 30 năm đã qua, nhưng Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chậm tiến để vươn lên. Năm 2005 là năm đàm phán sau cùng để Việt Nam có thể bước vào tổ chức WTO. Năm 2005 cũng là năm bản lề của Đại Hội Toàn Đảng kỳ X của đảng CVSN. Với vụ Tổng Cục 2, những xung khắc nội bộ là ngòi nổ có thể bùng lên, khi đảng cộng sản chuẩn bị thay thế nhân sự lãnh đạo.

 

Dẫn Nhập

 

Trước khi lượng duyệt tình hình Cộng sản Việt Nam trong năm 2005, chúng ta cần nhìn lại một số sự kiện đáng chú ý trong năm 2004 liên hệ đến các nỗ lực của đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, đảng Cộng sản Việt Nam đã dành khá nhiều công sức quảng cáo chiến thắng Điện biên phủ, nhân kỷ niệm 50 năm ngày quân Pháp bại trận tại thung lũng Điện biên phủ, dẫn đến hiệp định đình chiến, chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17 vào ngày 20 tháng 7 năm 1954. Tuy là một biến cố mang tính lịch sử nhưng Hà Nội đã dành khá nhiều tiền bạc và công sức để tuyên truyền về công lao của đảng trong cuộc chiến chống Pháp, hầu củng cố uy tín của đảng đang bị suy thoái trầm trọng hiện nay. Trong nỗ lực này, Hà Nội bắt buộc phải dựng lại hình ảnh của tướng Võ Nguyên Giáp, vốn bị đảng đẩy vào bóng tối hậu trường từ năm 1975 cho đến nay. Vì cuộc chiến đã kết thúc quá lâu và hậu quả của nó đưa đến sự chia đôi Việt Nam, dẫn đến thảm cảnh chiến tranh kéo dài 20 năm sau đó, đa số người dân và giới cựu chiến binh không mấy "hồ hỡi" về lễ kỷ niệm 50 năm của chiến thắng Điện Biên. Chỉ có cán bộ đảng viên được vui hơn ngày thường đôi chút vì được đảng cho tham dự những buổi chiêu đãi mừng chiến thắng Điện Biên. Ngoài ra, ngày 20 tháng 12 vừa qua, Cộng sản Việt Nam đã tổ chức buổi mít tinh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập quân đội nhân dân. Điểm đáng nói trong buổi lễ này là Hà Nội đã dành một sự "biệt đãi" lần thứ hai cho tướng Giáp khi ông được mời lên phát biểu ngay sau bài phát biểu của ông Nông Đức Mạnh. Và ngay sau khi ông Giáp phát biểu vừa dứt, thì ông Tổng bí thư Nông Đúc Mạnh đã từ bên dưới hội trường, mang một liễng hoa lên tặng cho tướng Giáp và ôm ông Giáp một cách nồng thắm trước sự chứng kiến của các Thái thượng hoàng Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu. Sự ứng xử quá đáng của ông Nông Đức Mạnh đã cho người ta thấy là Bộ chính trị đang muốn o bế tướng Giáp để mong ông không làm lớn chuyện vụ án siêu nghiêm trọng của Tổng cục 2.

Thứ hai, lợi dụng khung cảnh kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ Nguyên Giáp đã viết một lá thư gửi Bộ chính trị đề cập về nhiều vấn đề liên quan đến việc kiện toàn và chấn chỉnh đảng vào tháng 1 năm 2004. Trong phần cuối của lá thư này, Tướng Giáp đã đặt vấn đề tội ác của Tổng cục 2 thuộc bộ quốc phòng liên quan đến một số vụ án như vụ Sứ Sáu, vụ Xiêm Riệp, vụ T4, một hình thức gián tiếp tấn công uy quyền của nhóm Lê Đức Anh, mở đầu cho những xung đột giữa các phe nhóm trong guồng máy quân đội nói riêng và trong toàn đảng nói chung. Đến đầu tháng 4 năm 2004, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cùng một số tướng lãnh khác cũng đã viết một lá thư gửi trung ương đảng yêu cầu mang ra xét xử những nhân sự trong tổng cục 2 một cách công khai và nhất là chấn chỉnh lại các hoạt động của Tổng cục 2 để không bị thao túng bởi một số cá nhân, dùng cơ chế quốc gia để khống chế quyền lực riêng tư. Sự hậu thuẫn của Tướng Khánh đối với tưóng Giáp đã tạo ra thế đối đầu gay gắt giữa hai nhóm tướng lãnh trong quân đội, kích thích nhiều cựu chiến binh lên tiếng tố cáo nhóm Lê Đức Anh một cách dữ dội. Trước những xung đột này, nhóm cầm quyền gồm Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Diễn thì muốn giải quyết kín đáo trong nội bộ ; nhưng phe tướng Giáp thì chủ trương xét xử công khai để tạo chú ý trong dư luận và triệt hạ uy tín của nhóm Lê Đức Anh. Hiện tại thì Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh đang cố đi đêm giữa hai phe để dàn xếp bên trong nội bộ nhưng đa số nhóm cựu chiến binh không đồng ý và đòi phải mang ra xử công khai. Tình hình hiện nay rất căn thẳng và làm ảnh hưởng rất nhiều vào việc chuẩn bị nhân sự và nội dung cho đại hội toàn đảng kỳ thứ X sẽ diễn ra vào mùa Xuân năm 2006.

Thứ ba, Hội nghị ASEM 5, diễn đàn trao đổi giữa nguyên thủ của các quốc gia Á Châu và Âu Châu tổ chức hai năm một lần đã diễn ra tại Hà Nội hồi trung tuần tháng 10 năm 2004, được đánh giá là cao điểm của đường lối ngoại giao mở rộng của đảng CSVN, từ sau khi chính thức nối lại bang giao với Hoa Kỳ vào năm 1995. Hội nghị này đã giúp cho Hà Nội đạt được hai kết quả mà họ mong đợi trong thời gian qua là :

1/Việt Nam đạt được sự ủng hộ toàn diện của khối EU để gia nhập vào WTO và

2/Sự cam kết của Nhật Bản hỗ trợ việc phát triển qua Quỹ ODA. Với kết quả này, bộ máy tuyên truyền của Hà Nội đã khai thác tạo thành một viễn cảnh khá lạc quan của Việt Nam trên con đường đàm phán gia nhập WTO vào năm 2005.

Trong thực tế thì những lạc quan nói trên đã không che dấu những khó khăn của Hà Nội trong vòng đàm phán với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nam Hàn... trong thời gian tới. Dù vậy, phải nói là trong năm 2004, Cộng sản Việt Nam đã tích cực mở ra với thế giới bên ngoài, tham dự nhiều hội nghị quốc tế, cũng như cử nhiều phái đoàn cao cấp viếng thăm một số nước. Tuy nhiên, nếu theo dõi các diễn tiến ngoại giao này, người ta thấy là Hà Nội vẫn luôn luôn giữ thế đu dây trong các quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự kiện này cho thấy là Cộng sản Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi sức kềm của Trung Quốc không chỉ về mặt chính trị mà còn cả kinh tế, xã hội so với nhu cầu tiếp cận với Hoa Kỳ gần hơn để tranh thủ sự hậu thuẫn cho việc gia nhập WTO. Đây là bài toán mà Cộng sản Việt Nam sẽ phải giải quyết trong năm 2005.

Thứ tư, nhằm đáp ứng các đòi hỏi của những nước chủ nợ và cũng là các nước đầu tư, Cộng sản Việt Nam đã dồn khá nhiều công sức vào việc chỉnh đốn môi trường đầu tư ở trong nước qua ba sự kiện nổi bật trong năm 2004. Đó là :

1/Xây dựng hệ thống đường xá với hai kế hoạch lớn là xây dựng đường xa lộ có tên là Hồ Chí Minh, nối liền trục giao thông Bắc Nam và hệ thống xe điện ngầm tại Sài Gòn và Hà Nội mà mục tiêu hoàn thành là năm 2015 ;

2/Công bố việc tu sửa hàng chục bộ luật liên quan đến vấn đề phát triển, đầu tư, đồng thời chỉ thị các cơ quan thống nhất chính sách một khuôn dấu trong thủ tục hành chánh ;

3/Tổ chức hàng chục hội nghị cấp quốc gia để giải quyết tình trạng xuống cấp của lãnh vực giáo dục và đào tạo, đang tạo thành một quan tâm lớn của toàn xã hội.

Trong ba nỗ lực lớn này, có lẽ những dự án liên quan đến giao thông đang được tiến hành suông sẻ nhờ những vay mượn từ các định chế tài chánh quốc tế và Nhật Bản ; trong khi đó, nỗ lực thực hiện chính sách thống nhất hành chánh và cải thiện hệ thống giáo dục và đào tạo, đang gặp rất nhiều khó khăn, mà những khó khăn này lại phát sinh từ bản chất của chế độ độc tài chuyên chính. Nói cách khác, vấn đề thống nhất một khuôn dấu được Phan Văn Khải ra chỉ thị áp dụng từ tháng 4 năm 2004, hầu tránh nạn cửa quyền và tham nhũng ; nhưng đã không được các địa phương thi hành. Trong khi đó, vì không muốn dân giỏi hơn đảng và sợ bị thu hẹp tầm ảnh hưởng trong quần chúng, đảng "xã hội hóa giáo dục" của các nhà giáo dục có tâm huyết tại Việt Nam. Do đó, những mâu thuẫn về tình trạng cải tổ hành chánh và cải cách giáo dục mà Hà Nội áp dụng trong năm 2004 cho thấy là đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chỉ tạo ra một sân chơi cung phụng cho giới đầu tư ngoại quốc, còn việc đáp ứng các nguyện vọng chung của người dân Việt Nam vẫn còn là một viễn cảnh xa vời.

Thứ năm, khẩu hiệu "đại đoàn kết dân tộc" đã được đảng Cộng sản Việt Nam triệt để khai thác trong năm 2004 để giải quyết hai nhu cầu lớn của đảng đã đặt ra từ nhiều năm trước. Đó là :

1/Ngăn chận tình trạng đảng đang mất dần sự ảnh hưởng lên các mặt đời sống của người dân ;

2/Tìm cách tiếp cận và tạo sự hiện diện bình thường trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Để thực hiện nỗ lực này, Hà Nội đã một mặt tái phối trí thành phần nhân sự và phạm vi hoạt động của Mặt Trận Tổ Quốc trong một đại hội vào cuối tháng 10 năm 2004, để cho một số đại biểu của Mặt Trận ở hải ngoại, được tham gia vào thành phần chủ tịch đoàn.

Mặt khác, Bộ Chính Trị tung ra nghị quyết 36 nhắm vào khối kiều bào hải ngoại để huy động các cơ quan ở trong và ngoài đảng, tập trung vào việc khai thác tài nguyên, trí tuệ và lũng đoạn sự đoàn kết của cộng đồng người Việt. Hà Nội còn dụng công tổ chức chuyến du lịch Việt Nam của ông Nguyễn Cao Kỳ để quảng cáo chiêu bài "đại đoàn kết dân tộc", nhưng đã không đạt kết quả như mong muốn. Điều trớ trêu là khi đảng Cộng sản Việt Nam cố thổi chủ trương đại đoàn kết dân tộc, hàng chục ngàn đồng bào sắc tộc tại Tây Nguyên đã lũ lượt đổ về Buôn Mê Thuột biểu tình đòi lại ruộng đất và đòi tự do tôn giáo nhân mùa lễ Phục sinh vào tháng 4 năm 2004, đã làm cho Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mất điểm sau gần 3 năm nỗ lực ổn định vùng Tây nguyên sau cuộc nổi dậy lần đầu tiên vào tháng 2 năm 2001.

Rút tỉa từ những sự kiện nói trên, chúng ta có hai nhận xét về tình hình Cộng sản Việt Nam trong năm 2004 :

1/Cộng sản Việt Nam gặp khá nhiều thuận lợi trong quan hệ đối ngoại. Đây có thể coi là năm mà Cộng sản Việt Nam đã mở cửa đón tiếp nhiều quốc gia cũng như tổ chức nhiều hội nghị quan trọng tại Hà Nội. Điều này giúp ích cho Hà Nội rất nhiều trong việc thuyết phục các nước ủng hộ Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO. Tuy nhiên theo kết quả của vòng đám phán thứ 9 vào trung tuần tháng 12 năm 2004 tại Genève thì phía Hà Nội chỉ chuẩn bị xong các hồ sơ cơ bản để thảo luận về lãnh vực hàng hóa và dịch vụ, con đường gia nhập WTO còn rất nhiều chông gai.

2/Trong khi gặp nhiều thuận lợi trên mặt đối ngoại, Cộng sản Việt Nam lại gặp khá nhiều rối rắm trong nội bộ như vụ án siêu nghiệm trọng của Tổng Cục 2, những vụ tham nhũng bị phanh phui hàng loạt trong năm 2004 như vụ chạy quota hàng may mặc tại Bộ thương mại, vụ chiếm dụng đất của công làm của riêng tại Phú Quốc, vụ biển thủ tiền trong Tổng Công Ty Thủy Sản... Các sự kiện này tuy chỉ là những vấn đề của nội bộ đảng, nhưng chính nó đang làm soi mòn khả năng lãnh đạo cũng như mất dần ảnh hưởng của đảng trong quần chúng. Đây là các biến động thường xảy ra vào những giờ phút cuối của các đảng cực quyền.

 

Dự Kiến Tình Hình Cộng Sản Việt Nam trong Năm 2005

 

Năm 2005 là năm có một số điểm đặc thù như sau :

1/Đây là năm đánh dấu 30 năm ngày Cộng sản Việt Nam dùng vũ lực cưỡng chiến miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đối với dân tộc Việt Nam thì đây là ngày tang đau buồn nhất trong dòng sử cận đại vì do thảm kịch này mà 30 năm qua, đất nước đã bị tụt hậu và loay hoay trong sự nghèo đói triền miên.

2/Đây cũng là năm đánh dấu khả năng đàm phán sau cùng của Cộng sản Việt Nam đối với 20 quốc gia còn sót lại trong Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ ... để được chính thức thu nhận vào làm thành viên WTO vào cuối năm 2005.

3/ Đây là năm mà Hà Nội phải giải quyết êm thấm những xung đột nội bộ, đặc biệt là vụ án siêu nghiêm trọng của Tổng Cục 2 thuộc Bộ quốc phòng. Nếu không thì những xung đột có thể bùng nổ lớn sẽ làm ảnh hưởng đến việc chuẩn bị nhân sự và nội dung cho đại hội toàn đảng kỳ thứ X dự tính sẽ diễn ra vào mùa xuân năm 2006.

Bên cạnh những điểm đặc thù nói trên, năm 2005, chắc chắn là Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng các quan hệ đối ngoại để vận động sự hậu thuẫn gia nhập vào WTO, cũng như tích cực hơn trong việc tạo quan hệ với Hoa Kỳ - một mắc xích - mà theo nhiều chuyên gia của Hà Nội đánh giá là nước đang nắm phần quyết định của Việt Nam trong việc gia nhập WTO. Trong tiến trình quan hệ đó, Bắc Kinh sẽ không để cho Hà Nội tự do đi gần hơn với Hoa Kỳ mà sẽ tìm cách làm chậm lại các quan hệ này, bằng những "quấy phá" về mặt kinh tế và thương mại ở vùng biên giới phía Bắc. Trên bề mặt, Bắc Kinh tỏ vẻ ủng hộ các mối quan hệ gần gũi giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội nhưng thực tế bên trong, Bắc Kinh không muốn Hà Nội tiến gần với Hoa Kỳ mà phải luôn luôn ở cạnh Trung Quốc như một đàn em. Trong nhiều năm qua, Bắc Kinh đã tăng số lượng trao đổi mậu dịch với Hà Nội và đạt con số 5 tỷ Mỹ Kim hàng năm như Trung Quốc đã hứa vào năm 2004, và sẽ tăng lên thành 15 tỷ cho đến năm 2015. Bắc Kinh cũng đã đề nghị Hà Nội lập hai vòng đai kinh tế ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây nối với các Tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn với Việt Nam. Vòng đai kinh tế này chính là vòng kim cô kềm tỏa Hà Nội trong lâu dài. Do đó mà người ta dự kiến là mối quan hệ giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn trong năm 2005 sẽ có nhiều sóng gió hơn.

Nhưng, vượt lên trên những quan hệ đối ngoại phức tạp với nhiều ẩn số nói trên, trong năm 2005, Cộng sản Việt Nam sẽ nhức đầu vì những vấn đề nội bộ sau đây :

Thứ nhất là vấn đề xung đột giữa ông hai tướng Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Anh.

Các vụ án như Xiêm Riệp, Sáu Sứ, T4 chỉ là những cái cớ để cho các phe quân đội, đứng đầu bởi Tướng Giáp và Tướng Anh, tranh đoạt quyền lực với nhau. Phe đang nắm quyền thì muốn ém nhẹm nội vụ và giải quyết trong bóng tối để không cho nhiều người biết vì sợ là sẽ làm mất tư thế lãnh đạo của cấp chỉ huy. Trong khi phe đã về hưu nhưng lại chiếm đa số trong giới cựu chiến binh, thì muốn mang ra ánh sáng công lý, không phải để xét xử nghiêm minh, mà nhân cơ hội tố cáo thêm một số tội ác khác của phe đang cầm quyền, hầu tấn công vào thanh danh và uy tín của nhóm đang lãnh đạo hiện nay. Trong hàng ngũ của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, giới quân đội có tư thế và chiếm đa số ở trong đảng so với giới công an hay chuyên môn. Họ là những người đã từng liên hệ đến hai cuộc chiến tranh quá khứ mà đảng Cộng sản đang muốn thổi lên để biện minh cho sự độc tôn quyền lực cai trị nên vô hình chung đã tạo cho giới cựu chiến binh này một vị trí đặc biệt ở trong đảng so với các thành phần khác. Chính yếu tố này đã làm cho phe cầm quyền hiện nay khó xử mạnh tay khi một số cựu chiến binh lên tiếng công kích mạnh mẽ giới lãnh đạo đã bao che hay e sợ không dám mang ra xử công khai vụ án Tổng cục 2.

Theo những lượng định của một số nhà quan sát chính trị tại Hà Nội thì vụ án Tổng cục 2 khó giải quyết rốt ráo mà sẽ ngấm ngầm như một ngòi nổ có thể bộc phát bất cứ lúc nào khi một trong hai phe vượt lên chiếm ưu thế. Hiện cả hai phe Tướng Giáp lẫn phe Tướng Anh đều ngang ngửa nhau về tầm ảnh hưởng ở trong quân đội lẫn trong đảng. Chính vì lý do này mà nhóm cầm quyền hiện nay đã dùng tình cảm o bế Tướng Giáp để ông ta không làm lớn chuyện. Trong đợt mít tinh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập quân đội hôm 20 tháng 12 vừa qua, Cộng sản Việt Nam đã giới thiệu Tướng Giáp lên nói chuyện một cách trang trọng và chính Nông Đức Mạnh, từ bên dưới hội trường mang hoa lên tặng tướng Giáp ở trên bục nói chuyện. Không những thế, nhóm cầm quyền còn đưa Tướng Giáp đi nói chuyện và phát biểu tại nhiều nơi tổ chức các lễ mít tinh nói trên. Qua hình ảnh này, nhóm cầm quyền muốn chứng tỏ với dư luận là không có chuyện lục đục dữ dội giữa Tướng Giáp và Tướng Anh, đồng thời dùng sự cung phụng đối với tướng Giáp để mong làm giảm cường độ chống đối của phe tướng Giáp. Người ta dự kiến là vấn đề Tổng cục 2 sẽ bùng nổ lớn sang năm lúc các đảng bộ đi vào tiến trình chọn lựa đại biểu đi tham dự đại hội đảng kỳ thứ X.

Thứ hai là vấn đề sắp xếp nhân sự cho đại hội kỳ X.

Nhiều tin tức được tiết lộ tại Hà Nội thì bộ ba Nông Đức Mạnh (Tổng bí thư), Trần Đức Lương (Chủ tịch nước) và Phan Văn Khải (Thủ tướng) sẽ ra đi trong đại hội toàn đảng kỳ thứ X. Trong ba nhân vật này, Phan Văn Khải đã quá mệt mỏi và không còn năng lực để tiếp tục công việc lãnh đạo chính phủ ; trong khi Nông Đức Mạnh thì bị thay thế vì không có năng lực giải quyết nhũng vấn đề khủng hoảng nội bộ, mà nếu không thay thì sẽ tạo ra nhiều nan đề lớn trong nội bộ. Riêng Trần Đức Lương thì muốn ở thêm một nhiệm kỳ nữa nhưng ý kiến của đa số thì khi Mạnh và Khải đều muốn rút thì không lý gì Trần Đức Lương ở lại, rất khó cho ê - kíp trẻ lên thay thế và điều động công việc.

Điều khó cho đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không phải là thay bộ ba Mạnh - Lương - Khải mà là tìm nhân sự thích hợp thay thế để không tạo ra lỗ hổng về lãnh đạo. Hiện nay có 4 nhân vật được coi là có nhiều triển vọng đưa lên vị trí lãnh đạo, đó là

1/Nguyễn Minh Triết (Bí thư thành Ủy Sài Gòn) ;

2/Nguyễn Tấn Dũng (Đệ nhất phó thủ tướng) ;

3/Phan Diễn (Thường trực ban bí thư) và

4/Vũ Khoan (phó thủ tướng).

Trong bốn nhân vật này, người có nhiều triển vọng ngồi vào ghế của Nông Đức Mạnh là Phan Diễn và người thay thế Phan Văn Khải sẽ là Vũ Khoan. Trước đây, Nguyễn Tấn Dũng có nhiều xác xuất thay thế vai trò của Phan Văn Khải nhưng từ khi vụ Tây Nguyên xảy ra lần thứ hai vào tháng 4 năm 2004 và nhất là thất bại trong việc cam kết với Mỹ trong việc giải quyết vấn đề hành chánh đã không được suông sẽ nên uy tín của Dũng đang xuống một cách thê thảm. Trong khi đó, Vũ Khoan được đánh giá là nhận vật khôn ngoan và được lòng cả Mỹ lẫn Trung Quốc, trong việc thúc đẩy những cải cách kinh tế, đáp ứng các yêu cầu của những doanh nhân Mỹ và Trung Hoa.

Tuy nhiên đây cũng chỉ là những dự đoán dựa theo tình hình hiện tại, trong khi các mâu thuẫn quyền lợi giữa những phe nhóm ở trong đảng luôn luôn biến thái, nhất là vụ án Tổng cục 2 chưa giải quyết dứt khoát. Chính vì vậy mà vụ sắp xếp nhân sự lãnh đạo cho đại hội X sẽ rất phức tạp và có thể làm cho trung ương đảng điên đầu khi mà phe của Tướng Giáp bất hợp tác.

Thứ ba là những áp lực của xu hướng đa nguyên hóa xã hội.

Mùa hè vừa qua, hầu hết các chuyên gia về giáo dục đã đồng loạt yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội phải chấp nhận "xã hội hóa giáo dục", tức là cho tư nhân tham gia vào công tác giáo dục để cứu vãn tình trạng xuống cấp quá độ của nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Kết quả là Quốc hội đã phải chấp nhận cho tư nhân tham gia vào công tác giáo dục. Cũng mùa hè vừa qua, Quốc hội Cộng sản Việt Nam đã mặc nhiên chấp nhận cho tư nhân tham gia vào công tác xuất bản, khi đồng ý cho tư nhân sử dụng các giấy phép của những nhà xuất bản quốc doanh để in sách báo. Trong khi đó, ngày 22 tháng 12 vừa qua, ban tổ chức giải thi Trí Tuệ Việt Nam đã chính thức hủy bỏ giải thưởng Trí Tuệ Việt Nam năm 2003 cấp cho nhóm iCMS vì đã ăn cắp bản quyền ở nước ngoài. Điều đáng nói là cuộc vận động đưa đến kết quả nói trên là do sự tự phát của giới trẻ trên diễn đàn thông tin, khi tìm ra những sai quấy của nhóm iCMS và ban tổ chức của giải Trí Tuệ Việt Nam.

Những diễn biến nói trên đã biểu hiện xu hướng muốn thoát ra khỏi vòng quản lý của chế độ. Đây là kết quả tất nhiên của sự nảy nở ý thức tự chủ nơi người dân khi mà họ nhìn thấy chế độ ngày một bất lực giải quyết những vấn đề trong đời sống và trong sinh hoạt xã hội. Khi đảng Cộng sản Việt Nam cố gắng vận động tham gia vào WTO, họ sẽ phải thỏa thuận một số nguyên tắc làm ăn với những quốc gia tiên tiến. Chính trong bối cảnh này, Hà Nội mất dần khả năng khống chế xã hội và mặc nhiên chấp nhận những hình thái sinh hoạt ngoài khuôn khổ của chế độ. Dấu hiệu này sẽ phát tác ngày một nhiều hơn trong năm 2005 vì hai lý do : một là do những áp lực mở cửa từ bên ngoài, và hai là do những đấu đá nội bộ khiến cho các phe không còn đủ tâm trí để kiềm chế xã hội như quá khứ. Khi nhìn thấy những dấu hiệu của đa nguyên đang bén rễ tại Việt Nam, chúng ta có quyền lạc quan rằng, khả năng khống chế của đảng Cộng sản đang bị thu hẹp ; trong khi tầm ảnh hưởng của chúng ta trong xã hội Việt Nam đang ngày một mở rộng.

Thứ tư là sự bùng nổ của những điểm nóng ở nông thôn.

Theo dõi sự xung đột giữa nông dân xã Kim Nổ, Hà Tây và Tây Nguyên với công an và cán bộ xã vì những tranh chấp về ruộng đất cho thấy là chính sách về nông nghiệp và nông thôn mà đảng Cộng sản đang áp dụng hiện nay sẽ gây ra nhiều bất mãn trong quần chúng nông thôn. Nguyên nhân thì rất nhiều nhưng có hai điểm nổi bật khiến cho nông dân luôn luôn bất mãn nhà nước. Thứ nhất là tình trạng chênh lệch giàu nghèo quá đáng giữa nông thôn và đô thị trong khi nhà cầm quyền lại có những cách ứng xử rất bất công giữa các vùng, nhất là ở những vùng xa và vùng núi. Thứ hai là sự cưỡng đoạt ruộng đất của dân không giải thích và không bồi thường đúng mức đã làm gia tăng sự bất tín của người dân lên chế độ. Tình trạng xung đột nói trên sẽ chỉ ngày một gia tăng vì những oan ức của nông dân đã chất chồng hàng chục năm vừa qua, kể từ khi Cộng sản Việt Nam phát động chiến dịch cải cách ruộng đất vào năm 1953. Những bất mãn và chống đối của nông dân thể hiện dưới nhiều mức độ khác nhau từ bất hợp tác, kiến nghị, khiếu kiện, chận đánh cán bộ lên đến bắt giữ cán bộ để ra những yêu sách như đã từng xảy ra ở Thái Bình, Đồng Nai.

Ngoài ra, khi Hà Nội tham gia vào WTO, nền nông nghiệp của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề do việc nhập cảng những nông sản từ các nước vào. Với một đất nước nghèo và lạc hậu, chắc chắn nông sản Việt Nam không thể nào cạnh tranh nổi với các nước lớn nên sẽ bị thua thiệt rất nhiều. Hậu quả là đời sống của nông dân sẽ khó khăn, nhiều người sẽ bỏ ruộng lang thang trên những thành phố để tìm công ăn việc làm, tạo ra những tiêu cực mới trong xã hội. Đây là điều mà Hà Nội rất lo sợ vì nó đã phá đổ chỗ dựa của đảng ở nông thôn.

 

Kết Luận

 

Ba mươi năm trước (1975-2005), đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến vào Sài Gòn trong sự ngạo mạn của kẻ chiến thắng. Trong khi đảng Cộng sản tự đắc cho là họ đã đứng trên "đỉnh cao trí tuệ loài người" vì đã thắng Hoa Kỳ cũng như khống chế toàn vùng Đông Dương, toàn thể dân tộc Việt Nam ở cả hai miền Nam và Bắc đã trải qua những ngày tháng đau khổ và tuyệt vọng, dưới gọng kềm của chuyên chính vô sản. Ngày hôm nay ở thời điểm của năm 2005, vị trí nói trên đã thay đổi. Đảng Cộng sản Việt Nam đang ở trong tình huống suy yếu nhất do những xung đột quyền lực trong nội bộ và nhất là do những sức ép đấu tranh một cách bền bỉ của các lực lượng dân tộc. Trong khi dân tộc Việt Nam đang có nhiều dấu hiệu thuận lợi đễ tạo dựng sức mạnh đoàn kết của hai tập hợp dân tộc ở trong và ngoài nước, để cô lập Hà Nội trên mọi diễn đàn, trên mọi chiến tuyến. Đặc biệt là với những khó khăn mà đảng Cộng sản Việt Nam sẽ gặp phải trong năm 2005 như phân tích ở trên, dân tộc Việt Nam càng có nhiều triển vọng để biến những khó khăn của Hà Nội thành những điểm nóng, làm bộc phát những phong trào đấu tranh quần chúng như đã từng diễn ra tại Đông Âu và Liên Xô cách nay 15 năm.

Đoàn Hùng

 

 

Thế Gii 2004 : Dân Ch Không Ngng Tiến Bước
Nguyễn Trúc Giang
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Cũng như mọi năm, năm 2004 đã trôi qua với những biến cố lớn nhỏ, thay đổi đời sống của rất nhiều người. Cũng như mọi năm, có những thảm trạng do thiên nhiên gây ra như cơn "sóng thần" đã gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho dân ở vùng Nam Á. Có những thảm trạng do con người gây ra như cuộc chiến vẫn tiếp diễn tại nhiều nơi, ô nhiểm vẫn hoành hành, bệnh AIDS vẫn tiếp tục giết người. Nhưng nếu nhìn lại các biến cố chính trị, thì năm 2004 cũng có một số đặc điểm, vì có nhiều cuộc bầu cử đặc biệt.

Còn một phần tư dân số không có quyền bầu cử.

Thật ra, trong đầu thế kỷ thứ 21 này, thì bầu cử dân chủ là một việc thông thường, hơn ba phần tư dân thế giới được trực tiếp chọn những người sẽ đại diện mình quản trị đất nước. Một phần tư còn lại, mà phần lớn đang sống tại Đông Á, nghĩa là tại Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn. Dân của các quốc gia này cũng mang tiếng là đi bầu cử nhưng thật họ chỉ cầm lá phiếu để chỉ định những người đã được chọn trước, những người này là người cùng phe, nghe theo một chỉ thị, và tham vọng duy nhất của họ là làm sao vào được chổ để tham nhũng, để quơ tiền của dân. Trong một quốc gia chậm tiến như Việt Nam hay Trung quốc, mà lợi tức hằng tháng của người dân hằng tháng không đủ để mua một hộp banh để chơi trên sân cù, thì một ông tổng trưởng, một ông thứ trưởng, dù lương hướng có cao hơn, tiền đâu mà có thể lấy máy bay để ra ngoại quốc chơi golf. Nếu không phải là tiền vét của dân, tiền của quỹ nhà nước. Ngay chính Giang Trạch Dân khi còn đương nhiệm có lần tuyên bố rằng với lương tổng trưởng, không có thể sống sang trọng như các ông tổng trưởng Trung quốc đang sống. Nhưng Giang Trạch Dân chỉ nói mà không ngăn mà cũng không cấm các tổng trưởng đừng lấy tiền của dân, đừng đục tiền nhà nước, vì Giang Trạch Dân cũng hốt tiền, y như các tổng trưởng. Chúng ta đừng mong rằng chánh quyền cộng sản Việt Nam sẽ bài trừ tham nhũng, vì họ cốt bám vào quyền để có thể tham nhũng. Tham nhũng chính là mục tiêu tối hậu của hầu hết cán bộ cao cấp cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Và cũng vì thế không bao giờ họ tổ chức bầu cử tự do.

Bầu cử tự do là một việc thông thường tại các quốc gia khác. Nếu cứ tính mỗi bốn hay năm năm, có một cuộc bầu cử quốc hội hay tổng thống, thì hằng năm cũng phải có ít nhất là 20 hay 30 quốc gia tổ chức bầu cử. Năm 2004 cũng thế. Nhưng trong các cuộc bầu cử của năm 2004 có vài cuộc bầu cử mang nhiều ý nghĩa để chúng ta ôn lại vào dịp cuối năm.

Bầu cử tại Đài Loan : một hăm dọa vô hiệu quả.

Trước tiên là cuộc bầu cử tổng thống tại Đài Loan, giữa ông Trần Thủy Biển (Chen Shui Bian), đương kim tổng thống, của đảng Dân Chủ Tiến Bộ và ông Liên Sơn (Lien Chan) của đảng Quốc Dân. Năm 2000, ông Trần Thủy Biển đã thắng cử rất chật vật và khi ra tranh cử lần này, ông đã phải vừa tranh cử chống lại đối thủ mà còn phải chống lại ảnh hưởng của Bắc Kinh. Đảng ông Trần Thủy Biển chủ trương đưa Đài Loan đến chổ hoàn toàn độc lập, không còn liên hệ chính trị với lục địa và trong tương lai sẽ liên hệ ngoại giao với lục địa như hai quốc gia.

Đây là một điều mà Bắc Kinh không thể chấp nhận, vì lo ngại là một khi Đài Bắc thật sự tách rời, thì nhiều vùng khác như Tân Cương hay cả Quảng Đông sẽ theo gương đòi tách rời. Bắc Kinh lần này không hăm dọa bằng quân sự như cách đây 4 năm, nhưng sử dụng võ khí kinh tế, và lớn tiếng hăm dọa sẽ không cho phép các nhà đầu tư Đài Loan thiết lập các nhà máy trên lục địa để hưởng nhân công rẻ tiền cũng như cắt đứt mọi liên hệ thương mãi và sẽ dùng ảnh hưởng để cô lập kinh tế Đài Loan. Nhưng một lần nữa, Bắc Kinh thất bại, Trần Thủy Biển được tái cử vào chức Tổng thống cho đến năm 2008 và hứa sẽ có một trưng cầu dân ý trên chủ đề độc lập này, mặc dù Hoa Kỳ cố làm áp lực để tránh một cuộc xung đột trong một vùng mà họ mong yên ổn, trong khi họ đang bận tâm tại Trung Đông và đang nhờ Bắc Kinh chỉnh Bắc Hàn đang hăm he sản xuất võ khí nguyên tử. Đây đến năm 2007 là năm có cuộc trưng cầu dân ý, có thể Hoa Kỳ sẽ nghĩ khác và có thể chính Trung Quốc lúc đó cũng sẽ nghĩ khác, vì sẽ phải giải quyết một số vấn đề nội bộ hiện đang chống chất, như là sự bất mãn ngày càng tăng của giới nông dân, không chịu đựng được thêm các cướp bóc của các cán bộ cộng sản các cấp.

Ngay chính người Trung Hoa còn không chấp nhận sự xen vào nội bộ của một nhóm Trung Hoa khác, không lý do gì mà chúng ta phải chấp nhận một chế độ luôn luôn riu ríu theo chỉ thị của quan thầy Bắc Kinh ?

Bầu cử tại Ấn Độ : bị trừng phạt vì phát triển không đều.

Một cuộc bầu cử khác đáng cho chúng ta lưu ý là cuộc bầu cử vừa qua tại Ấn Độ. Nếu ai đọc báo chí Pháp cũng như nghe lời tuyên bố của các chánh trị gia Pháp, thì Ấn Độ là một quốc gia tồi tàn, ăn mày đi lênh khênh trên khắp phố phường, với muôn ngàn bất công xã hội, ... tóm lại một quốc gia không tương lai, ham chiến tranh nên luôn luôn gây chiến với các láng giềng. Nghĩa là khác hẳn với Trung Quốc ! Các chánh trị gia Pháp có biệt tài là chỉ nhìn thấy những gì mà họ cho rằng hợp với ý kiến của họ. Họ quên rằng Ấn Độ là quốc gia có truyền thống dân chủ, các chánh phủ Ấn Độ từ trung ương đến địa phương đều được dân bầu thật sự và tuy Ấn Độ có nghèo thật, nhưng chưa bao giờ Ấn Độ có những nạn đói giết chết hằng chục triệu người như tại Trung Quốc.

Ngoài Nhật Bản, Ấn Độ có trình độ học vấn cao nhất tại Á Châu, (theo tỷ lệ các sinh viên tốt nghiệp đại học). Ấn Độ cũng có một bước tăng trưởng kinh tế khá quan trọng mà chắc chắn rất nhiều quốc gia mong muốn. Đây là nước có một nền công nghiệp tri thức hàng đầu, có thể giúp nước này nhập vào thế giới tân tiến một cách nhanh chóng. Kết quả này là công của ông Atal Vajpayee, thuộc đảng Bharatiya Janata (Dân Quốc) trong suốt thời kỳ ông làm thủ tướng, nghĩa là từ năm 1998. Trước khi bầu cử, ông Vajpayee lại rất can đảm lấy một thái độ ôn hòa với Hồi Quốc để giải quyết vấn đề Kashmir, mà hai bên đã tranh chấp từ hơn 25 năm nay. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử năm nay, đảng của ông và các đồng minh lại thất cử trước đảng Congress (Hội Nghị) do bà Sonia Gandhi, một người Ấn gốc Ý, vợ của cố thủ tướng Rajiv Gandhi, một gia đình đã làm thủ tướng từ mấy đời, từ đời ông, là ông Nehru, đến đời mẹ là bà Andira Gandhi. Sự thất bại của đảng Bharatiya Janata, không phải vì đối thủ là bà Sonia Gandhi, mà vì người dân thấy họ không hưởng được những thành quả của sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong những năm qua. Họ thất bại vì người nông dân bị họ bỏ rơi, quên lãng. Để tiến nhanh trên đường phát triển, chánh quyền Vajpayee đã chú tâm quá nhiều đến các tầng lớp trí thức, mà không lo đủ việc phát triển các vùng nông thôn, quá chú tâm trang bị các hệ thống viễn thông, mà trang bị không đủ các hệ thống phân phối hàng hóa và phân bón cũng như hệ thống dẫn thủy nhập điền.

Chính sự trừng phạt này của người nông dân đã chứng mình trình độ dân chủ của Ấn Độ hiện không thua kém các quốc gia tiền tiến. Vả lại, các quan sát viên ngoại quốc đều ngạc nhiên khi nghe kết quả bầu cử và điều này cũng thường thôi, vì các quan sát viên ngoại quốc kể luôn các nhà báo Tây phương ít khi đến các vùng nông thôn. Cũng vì thế mà chúng ta có thể nghi ngờ sự đánh giá kinh tế của Trung Quốc, vì đa số các ký giả Tây phương chỉ quây quần trong các thành phố nguy nga như Thượng Hải hay Quảng Châu. Nhưng cũng phải châm chế cho họ là vì muốn đi vào vùng quê thì rất nhiêu khê và phải qua không biết bao nhiêu cửa ải.

Nếu có một sự bầu cử tự do tại Việt Nam hay Trung Quốc, chắc chắn là các đảng nắm quyền sẽ bị người nông dân trừng phạt nặng nề vì họ là những người hoàn toàn bị bỏ rơi trong thời gian qua tại Việt Nam và Trung Quốc.

Bầu cử tại Nam Dương : Một cuộc bầu cử êm đềm.

Một quốc gia khá cũng đông dân, năm nay cũng có bầu cử đó là Nam Dương, một quốc gia mà chỉ cách đây vài năm còn sống dưới một chế độ độc tài và có thể nói là quân phiệt. Sau khi lật đổ được chế độ độc tài, họ đã bầu ra một chánh quyền dân sự và những chánh phủ dân sự liên tiếp đã tỏ ra không đáp ứng được với tình hình khó khăn vì nhiều lý do : kinh tế sa sút, tranh chấp tại nhiều địa phương, quân đội không thật sự tuân lệnh, và nhiều nơi bạo động vẫn tiếp diễn. Trước cuộc bầu cử, người ta còn lo ngại sẽ có nhiều bất ổn. Người ta còn lo ngại hơn vì sau vụ cuộc chiến tại Trung Đông, nhiều nhóm khủng bố Nam Dương, liên kết với nhóm Al Qaida, đã đặt bom nhiều lần tại những nơi đông dân cư và du khách. Ai cũng nghĩ rằng với quá khứ dân chủ quá ít oi, trong một tình trạng hổn độn, hai cuộc bầu cử Quốc hội và tổng thống sẽ diễn ra trong một khung cảnh đẵm máu. Nhưng rồi hai cuộc bầu cử đã xẩy ra trong êm đềm, rất ít xung đột. Nhưng cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 4 không đưa ra được một đa số có thể quản trị đất nước, mọi người đều chú tâm đến cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 7 cho vòng đầu và tháng 9 cho vòng nhì. Tổng thống đương nhiệm, bà Megawati Soekarno, con gái của người giành độc lập cho Nam Dương, thuộc đảng Dân Chủ Đấu Tranh đã thua trước ông Susilo Bambang Yudhoyono, một vị cựu tướng lãnh, do đảng Dân Chủ đề cử.

Hai cuộc bầu cử đã xảy một cách êm đềm. Chứng tỏ rằng người dân khi có lá phiếu trong tay, họ trưởng thành rất mau chóng, trái với sự suy nghĩ của ông Lý Quang Diệu, cho rằng phải cần thời gian lâu dài người dân mới sử dụng được quyền công dân của họ. Cũng vì ông Lý Quang Diệu nghĩ thế mà Tân Gia Ba vẫn tiếp tục là một thành phố có nhiều cấm đoán và là một quốc gia không dân chủ. Thật ra ông Mahathir Bin Mohammad, cựu thủ tướng Mã Lai cũng nghĩ thế, nên đã cầm tù hết các đối lập, kể cả những người cùng đảng mà không đồng ý với ông. Năm nay, sau 22 năm, ông nhượng chức thủ tướng và một cuộc bầu cử tự do được tổ chức. Người dân Mã Lai đã bỏ phiếu cho mặt trận của ông nhiều hơn là khi ông tại chức, có lẽ chính vì ông không còn nắm quyền. Nhưng người kế vị của ông, ông Abdullah Badawi, muốn tiếp tục ở lại lâu dài thì cũng nên tiếp tục các cuộc cải tổ đã khởi sự từ khi ông thay thế ông Mahathir.

Bầu cử tại Hoa Kỳ : bất nhất trong chánh trị là thất bại.

Khi nói đến bầu cử năm 2004, chúng ta không thể quên đến cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ, siêu cường duy nhất còn lại, và cả thế giới đều mong muốn cử tri Hoa Kỳ bầu người tổng thống hợp với ý mình. Dĩ nhiên mỗi lần bầu cử là có phân nửa người thất vọng. Năm nay thất vọng nhiều nhất là các trí thức, đặc biệt là trí thức thiên tả. Một ông trí thức thiên tả Hoa Kỳ đã nói một câu nghe rất chướng tai, vì rất phản dân chủ. Ông cho là cuộc bầu cử này chỉ do người ngu bầu, có lẽ là vì họ không bầu như ông. Nếu đó là quan niệm dân chủ của những người thiên tả, thì chúng ta hiểu tại sao có những quốc gia gọi là thiên tả mà thiếu dân chủ. Cũng may, ông trí thức vừa kể chỉ nằm trong một thiểu số không đáng kể.

Người dân Hoa Kỳ đã tín nhiệm lại ông Bush, không vì họ ham chiến tranh, cũng không phải là vì họ chuộng đạo, nhưng vì đối thủ của ông Bush bất nhất, không có một thái độ rõ rệt trên một số vấn đề then chốt. Ông Kerry không biết có nên dẹp khủng bố bằng võ lực hay không, trong khi ông biết rằng không có phương cách nào khác. Ông Kerry muốn Hoa Kỳ theo một chánh sách kinh tế thị trường nhưng ông muốn cấm sự tự do lựa chọn phương tiện sản xuất, ... Riêng về vấn đề Việt Nam, thì ông Kerry tuy là người khuyến khích và đề cao dân chủ, nhưng lại không muốn có áp lực để nhân quyền được tôn trọng tại Việt Nam. Vì thế, lần này người Việt Nam rất vui mừng với kết quả bầu cử tổng thống vừa qua tại Hoa Kỳ. Tất cả người Việt Nam, dĩ nhiên trừ thiểu số cộng sản đang nắm quyền tại Hà Nội.

Bầu cử tại Á Phú Hãn và Ukraine : Dân là chủ.

Còn hai cuộc bầu cử khác trong năm 2004 đáng chúng ta lưu tâm. Thứ nhất là cuộc bầu cử tổng thống tại A Phú Hãn. Từ hơn một phần tư thế kỷ, A Phú Hãn đắm chìm trong chiến tranh, trước đó thì chế độ hoàng gia còn rất phong kiến, cho nên có thể nói rằng cuộc bầu cử năm nay là cuộc bầu cử đầu tiên của A Phú hãn. Không một ai tin rằng cuộc bầu cử có thể diễn ra, vì các tướng vùng, vì các tù trưởng chưa chấp nhận quyền của trung ương, vì nhóm quá khích Taliban vẫn còn đó, vì Al Qaida vẫn hăm dọa. Mặc dù tình thế rối ren đó, cuộc bầu cử đã diễn ra, trong một không khí tương đối êm đềm, ông Harmid Karzai đã được đắc cử ngay trong vòng đầu. Chắc chắn là ông Karzai biết rằng, dân chủ cần phải được vun bồi để tiếp tục được duy trì và đó cũng là điều kiện then chốt cho việc phát triển hài hòa cho người dân cũng như cho quốc gia.

Đây là một điều mà lãnh đạo của một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ không muốn biết đến. Điển hình là tổng thống Kuchna của Ukraine. Sau hai lần tại chức, ông tìm đủ mọi cách để cho phe đảng tiếp tục nắm quyền. Nhưng dân Ukraine không đồng ý với cái nhìn của ông nên đã bày tỏ quan niệm một cách rầm rộ. Cuối cùng cuộc bầu cử gian lận phải bị phế bỏ. Ngày 26 tháng 12, nghĩa là sau ngày Giáng sinh, họ đã ồ ạt đi bỏ thăm, lần này với hằng chục ngàn quan sát viên để ngăn chận những cuộc tráo phiếu, đốt thùng phiếu, ... Cuối cùng người dân đã thắng, phe màu cam đã thắng và ông Yuschenko sẽ là tổng thống Ukraine. Những âm mưu của các nước láng giềng để lưu giữ một nhóm người tham nhũng đã thất bại. Nếu trong cuộc biến động tại Liên Xô vào cuối thập niên 90, người dân Ukraine bổng nhiên được thừa hưởng tự do nhờ các dân tộc khác phá vỡ khối Liên Xô, thì lần này, chính họ đã đấu tranh để bảo vệ dân chủ.

Bài học nào cho chúng ta ?

Qua các cuộc bầu cử của năm 2004, chúng ta thấy rằng dân chủ theo kiểu Tây phương có thể áp dụng cho bất cứ dân tộc nào, kể luôn những người bị ảnh hưởng Khổng giáo như ở Đài Loan, cho những người theo đạo Hồi như ở Nam Dương. Điều này để chứng minh rằng ông Lý Quang Diệu và những người dựa theo lý luận của ông này hoàn toàn sai. Một trăm phần trăm sai.

Điều thứ nhì, là bầu cử trung thực có thể tổ chức ở khắp nơi, vì có nơi nào nguy hiểm và khó khăn hơn là A Phú Hãn nhưng vẫn tổ chức được.

Điều thứ ba, người ta thường nói là dân chủ cần thời gian để cho dân chúng quen và hiểu được sự quan trọng của lá phiếu, điều đó đúng. Nhưng thời gian không phải là mấy thế hệ, người Nam Dương đã chứng minh điều đó trong vòng vài năm.

Điều thứ tư là khi nắm quyền phải chu toàn quyền lợi cho mọi thành phần, không thể vì lý do này hay lý do khác chỉ ưu đãi một thành phần thì mới tiếp tục được sự tín nhiệm của người dân, người dân Ấn Độ đã nhắc khéo các chánh trị gia của họ.

Và điều cuối cùng nên nhớ là trong một thể chế dân chủ, người ta có quyền bầu khác hơn mình, điều này để nhắc những người, trí thức hay không trí thức, thiên tả hay không thiên tả, thường rất bực mình khi thấy đa số không đồng ý kiến với mình. Bài học này chắc phải là bài học đầu tiên cho mọi người, kể cả người Hoa Kỳ và đặc biệt cho chúng ta, người Việt Nam.

Năm 2005 cũng sẽ có những cuộc bầu cử khác, mà chúng ta sẽ theo dõi như cuộc bầu cử để thay thế ông Arafat. Tuy rất nhiều người ghét ông Arafat, vì quá khứ khủng bố của ông, nhưng không ai có thể chối cải ông là người yêu dân tộc Palestine. Thay vì sống cuộc đời giàu sang với số tiền kết sù mà ông đã gom được khi làm kỹ sư và thầu khoán, ông đã dấn thân, đã dành một mảnh đất cho dân tộc Palestine, từ hơn 50 năm nay vẫn tiếp tục sống trong các trại tỵ nạn. Ngày nay, ông chết rồi, Do Thái sẽ không còn lý do nào để từ chối thảo luận với những người thay thế, hầu tìm cách chung sống hòa bình trên một mảnh đất mà lịch sử đã đưa họ đến với nhau. Ông Sharon cũng nên nhớ rằng các nhà lập quốc Do Thái cũng đã mang tiếng là khủng bố. Khi có giải pháp cho Palestine, vấn đề Trung Đông sẽ dễ giải quyết hơn vì các nhóm cực đoan Á Rập sẽ không còn lý do để kết án Tây phương. Cũng trong 2005 sẽ có cuộc bầu cử tại Irak, lúc đó người ta mới biết rằng cuộc chiến tại Iraq đúng hay sai và sự hạ bệ Saddam có đem lợi ích cho người dân Iraq hay không ?

Nguyễn Trúc Giang

 

 

Nhng Vn Đề Ln ca Thế Gii Trong năm 2005
Trần Sơn
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Năm 2004 đã bắt đầu với nhiều điều khó dự kiến như mối đe dọa khủng bố, tình hình ở Iraq, giá cả đồng đôla và dầu hỏa kết quả bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ, v.v... Ngoài kết quả bầu cử ở Hoa Kỳ, năm 2005 sẽ bắt đầu gần như với những câu hỏi tương tự. Nhưng câu hỏi tiếp là chính sách của chính quyền Bush 2 sẽ là gì đối với thế giới. Và các vùng như Âu Châu, Trung Đông, Nga, Nhật, Trung Quốc có chờ đợi gì trong năm 2005 ? Và nếu cuối năm 2003 các chuyên viên kinh tế đều dự đoán sự tăng trưởng trong năm 2004, thì hầu như mọi người đều đồng ý là năm 2005 sẽ khó khăn hơn. Và cuối cùng, đồng đôla và dầu hỏa sẽ tiến triển ra sao ?

1. Chính trị tổng quát :

Hoa Kỳ.

Đầu năm 2005, G.W. Bush sẽ tuyên thệ nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ lần thứ nhì. Vì không có nhu cầu phải tái đắc cử nữa, nhiều người hy vọng ông Bush sẽ rảnh tay hơn để giải quyết rốt ráo một số vấn đề nóng bỏng như Iraq và Trung Đông. Và nhiều người cũng dự đoán ông Bush sẽ cố gắng làm gì để ghi tên mình mãi mãi trong lịch sử của đầu thế kỷ 21. TT Bush có thể sẽ bớt dứt khoát hơn xưa đối với phe Dân Chủ, đối với các nước Âu Châu.

Trên mặt nội địa, TT Bush sẽ vẫn tiếp tục chính sách giảm thuế để ủng hộ kinh tế. Nhưng chính sách này gây sự thâm hụt ngân sách khủng khiếp : 2300 tỷ đôla. Bên cạnh thâm hụt này, các thâm hụt khác như hệ thống y tế (Medicare) và hưu bổng (Social Security) càng ngày sẽ tăng cùng với sự lão hoá của dân Mỹ.

Về phương diện ngoại giao, tình hình bất ổn ở Iraq là mối đe dọa lớn nhất của TT Bush. Nếu cuộc tổng tuyển cử tháng 01/2005 ở Iraq đi đến một chính quyền đáng tin cậy, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cần sự ủng hộ của các quốc gia đồng minh, đặc biệt là ở Âu Châu, để xây dựng một nước Iraq dân chủ và thịnh vượng. Từ khi tình hình ở Iraq trở thành khó khăn hơn, TT Bush đã tỏ ra dễ dãi hơn với những "đồng minh" đã chống lại Hoa Kỳ trước chiến tranh. Các quốc gia như Pháp và Đức cũng nên giúp Mỹ thành công tại Iraq vì đây cũng là quyền lợi lâu dài chung của các nước Tây Phương. Một số người phân tích rằng nếu Hoa Kỳ chấp nhận giải quyết rốt ráo cuộc xung đột Palestine-Israel bằng cách buộc Do Thái chấm dứt chính sách di dân thuộc địa và chấp nhận sự thiết lập quốc gia Palestine, các nước Âu Châu có thể sẽ gửi quân đến Iraq, giúp lính Mỹ ổn định tình hình trong vùng.

Liên Hiệp Âu Châu.

Vấn đề lớn của Liên Hiệp Âu Châu (EU) trong năm 2005 là các cuộc trưng cầu dân ý về Hiến Pháp chung. Các nhà trí thức Âu Châu đã bỏ ra 2 năm để đi đến một bản văn hiến pháp. Bây giờ đến phiên việc thông qua Hiến Pháp Âu Châu trong vòng hai năm tới. Trên 25 nước của EU, 10 nước đã chọn phương pháp trưng cầu dân ý trước khi Quốc Hội thông qua hay không Hiến Pháp, như Tiệp, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha. Các nước có nhiều thành phần không thích EU như Anh và Đan Mạch sẽ tổ chức trưng cầu dân ý trong năm 2006, với hy vọng rằng tất cả nước khác sẽ thông qua Hiến Pháp, tạo ra một động lực tích cực cho chính dân của họ chấp nhận luôn. Các cuộc trưng cầu dân ý là cơ hội của các phe chống Âu Châu đưa ra những vấn đề như chủ quyền đất nước, sự nhập cư của các dân chúng Phi Châu và Á Rập, sự gia nhập hay không của Thổ Nhỉ Kỳ, một quốc gia Hồi Giáo trong một Liên Hiệp Âu Châu đa số Thiên Chúa Giáo, v.v... Chỉ cần một quốc gia không chấp nhận bản văn thì Hiến Pháp sẽ không được áp dụng. Nếu một quốc gia lớn và thuộc EU từ lâu như Pháp hay Anh từ chối Hiến Pháp thì dự án này được xem như hủy bỏ luôn.

Iraq / Trung Đông.

Sự kiện quan trọng nhất trong những ngày đầu năm 2005 là cuộc tuyển cử cuối tháng giêng. Vì sự phá hoại rất mãnh liệt của các nhóm nổi dậy, nhiều người e rằng cuộc tuyển cử sẽ phải hoãn lại. Nhưng cuộc tuyển cử này là mối hy vọng lớn nhất để giải quyết tình hình. Chỉ có một chính phủ được bầu ra một cách dân chủ mới có chính nghĩa phản công lại các nhóm cực đoan. Và mặc dầu sự hung bạo của phe nổi dậy, gần như đại đa số người Iraq vẫn muốn đi tham dự cuộc bầu cử. Điều tốt nhất có thể xảy ra là một chính phủ được người dân bầu ra, kết hợp được các thành phần Chiites, Sunnites, và Kurdes trong một liên minh dân tộc. Chính phủ này sẽ được cộng đồng thế giới ủng hộ về mặt tài chánh cũng như quân sự để đập tan các lực lượng khủng bố cực đoan nước ngoài đổ vào. Đồng thời, chính phủ này sẽ soạn thảo một hiến pháp mới cho Iraq.

Tại Do Thái, năm 2005 mang lại nhiều gay go. Thủ tướng Ariel Sharon sẽ cố gắng tiến tới nghị quyết tháo gỡ các thuộc địa Do Thái trong dải Gaza, mặc dầu sẽ gặp nhiều sự chống đối của đảng Likoud. Cộng đồng quốc tế sẽ ủng hộ ông Sharon trên sự hành động này, nhưng đó vẫn chưa đủ để đạt được hòa bình trong vùng. Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trên vấn đề Palestine-Israel trong năm 2005. Chuyện này càng rõ ràng hơn nếu tình hình ở Iraq không tiến bộ vì Hoa Kỳ sẽ muốn gây lại một phần nào sự tin cậy của họ trong vùng.

Nhật / Nga.

Rất nhiều người đã quên rằng Nhật và Nga chưa bao giờ ký hiệp ước hòa bình từ Đệ Nhị Thế Chiến. Năm 1904-05, Nhật và Nga đã đụng độ nhau vì tranh chấp các vùng Mãn Châu và Đại Hàn, với sự chiến thắng của Nhật. Trong phần lớn của Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật và Nga giữ hiệp ước trung lập, không chiến tranh với nhau. Nhưng vào ngày 08/08/1945, Nga lại tấn công Nhật và chiếm một số hòn đảo phía bắc Nhật Bản. Từ đó đến nay, chưa có hiệp ước hòa bình chính thức nào giữa hai quốc gia. Vào những năm gần đây, quan hệ giữa hai nước có sự tiến bộ rõ ràng vì Nhật có tiền nhưng không có dầu hỏa. Và Nga lại có dầu hỏa nhưng thiếu tiền. Cả hai đều có quyền lợi chung trong sự hợp tác đôi bên. Năm 2004 trong dịp hội nghị thượng đỉnh của nhóm G8 tại Sea Island, thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi và TT Nga Vladimir Poutine đã đồng ý trên một chương trình dẫn đến việc ký hiệp ước hòa bình trong năm 2005, nhân kỷ niệm 150 năm hiệp ước bang giao đầu tiên giữa hai quốc gia. Nhưng hiệp ước hòa bình chỉ có nếu Nhật và Nga vượt qua vấn đề nhóm hòn đảo mà Nga vẫn chiếm đóng.

Trung Quốc / Đài Loan / Ấn Độ.

Năm 1962, Trung Quốc và Ấn Độ đã có đụng độ ngắn nhưng mãnh liệt trên vấn đề biên giới. Trong những thập niên sau đó, hai quốc gia đông dân số nhất thế giới đã tìm nhiều cách khiêu khích nhau. Trung Quốc liên kết với Pakistan, kẻ thù của Ấn Độ. Trong khi đó, Ấn Độ lại cho Đức Đạt Lai Lạt Ma tỵ nạn. 40 năm sau, tình hình đã thay đổi nhiều. Hai quốc gia đang trên đà hợp tác kinh tế mặc dầu vẫn còn nghi ngờ lẫn nhau. Năm 2002, thủ tướng Trung Quốc Zhu Rongji đã tuyên bố với Ấn Độ : "Các ông rất giỏi về phần mềm (software), còn chúng tôi rất giỏi về máy móc (hardware). Nếu chúng ta hợp tác, thì chúng ta sẽ trở thành vô địch thế giới". 3 năm sau, lời tuyên bố này có thể đang trên đà thực hiện. Quan hệ kinh tế giữa hai nước càng ngày càng gia tăng (15 tỷ đôla trong năm 2005). Con số này gần bằng quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ (18 tỷ đôla), nhưng còn xa quan hệ Trung Quốc Hoa Kỳ (181 tỷ).

Một số thời điểm quan trọng của năm 2005

Tháng 1 : Tổng tuyển cử tại Irak, nếu có đủ điều kiện an toàn (30/01).
Tháng 2 : Tết Ất Dậu (9/02).
Tháng 3 : Đại hội cộng đồng nói tiếng Pháp (francophonie 19-20/03).
Tháng 4 : Kỷ niệm 30 năm mất nước.
Tháng 5 : Bầu cử tại Anh Quốc.
Tháng 6 : Cuộc họp ở Tân Gia Ba các Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng các nước Á Châu Thái Bình Dương để lượng định tình hình an ninh trong vùng.
Tháng 7 : Cuộc họp của G8 tại Gleneagles, Scotland.
Tháng 8 : Ngày Tuổi Trẻ Quốc Tế thứ 20 (Journée Mondiale de la Jeunesse) tại Koln, Đức Quốc.
Tháng 9 : Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc lần thứ 60 tại New York.
Tháng 10 : Tại La Haye, Hòa Lan, Tòa Án Quốc Tế thông báo bản án của Slobodan Milosevic.
Tháng 11 : Hội Nghị tại Busan, Nam Hàn, của 21 quốc gia thuộc Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu và Thái Bình Dương (APEC).
Tháng 12 : Hội Nghị của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (TWO) tại Hồng Kông.

2. Kinh tế :

Trong năm 2004, sự tăng trưởng kinh tế thế giới đã vượt hơn 4,5%, một mức rất cao so với 3 thập niên qua. Trên 176 quốc gia, chỉ có 5 nước đã thụt lùi vì những lý do nội chiến hoặc thiên tai như HaitiIvory Coast. Nhưng sự thịnh vượng đã qua. Kinh tế thế giới sẽ giảm đi trong năm 2005, cản trở bởi những chính sách tiền tệ gắt gao hơn và sự đắt đỏ của nguyên liệu. Sự dự đoán này có vẻ bi quan nhưng thực tại còn có thể bi quan hơn nếu đồng đôla phải tụt giá trầm trọng, hay giá thùng dầu thô tăng vọt nhanh, hay giá cả trên thị trường nhà cửa trên thế giới phải sụp đổ. Kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng trên trung bình các quốc gia trong Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế (OECD, 2,7%). Mậu dịch thế giới sẽ giảm đi một phần trong năm 2005, nhưng vẫn còn cao so với thập niên 90. Kinh tế thế giới vẫn nằm dưới sự đe dọa của giá dầu hỏa cao, đồng đôla thấp và sự tăng cao tỷ suất lợi tức. Chúng ta hãy thử phân tích xu hướng của hai mối quan tâm của nhiều người trên thế giới : đồng đôla và giá dầu hỏa.

Đôla.

Đồng đôla sẽ tiếp tục yếu trước đồng Euro vì hai thâm hụt khổng lồ (mậu dịch và ngân sách) của nước Mỹ. Trong năm 2005, thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ sẽ lên tới 500 tỷ đôla, còn thâm hụt ngân sách sẽ vượt trên 600 tỷ. Chưa bao giờ trong lịch sử, một đồng tiền vẫn duy trì được giá trị với những thâm hụt như vậy. Đồng đôla còn sống được vì đây là nhu cầu sống còn chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, các ngân hàng Á Châu (đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, và Đại Hàn) ủng hộ hàng ngày tờ giấy xanh lá cây để cho nó không mất giá thêm, bằng cách mua ngân phiếu quốc gia của Mỹ. Ba quốc gia này đã mua hơn 1200 tỷ đôla từ năm 2001. Trong hệ thống này, các bên đều có lợi chung : các nước Á Châu cho Hoa Kỳ mượn tiền để mua hàng hóa Á Châu. Nhưng với chiều hướng toàn cầu hóa, vài ngân hàng quốc gia hợp lại cũng chưa đủ để đổi chiều hướng của thị trường. Vì vậy, đồng đôla sẽ mất giá thêm trong năm 2005, tới mức 1 đôla = 0,6 euro.

Một tiện lợi thứ nhì khi các quốc gia Á Châu mua nhiều ngân phiếu Mỹ là tránh sự tăng trưởng quá nhanh của lãi suất. Từ 4 năm nay, lãi suất rất thấp trên thế giới, khiến giá cả trên thị trường nhà cửa tăng nhanh. Tại 11 quốc gia lớn trên thế giới, giá nhà hay văn phòng tính theo thước vuông đã tăng hơn 10% trong 3 năm liên tiếp. Sự tăng giá nhanh chóng này khiến cho nhiều gia đình có nhà cảm thấy mình đang giàu hơn và khuyến khích họ tiêu thụ nhiều hơn. Sự tăng giá này cũng an ủi những người đã mất nhiều tiền trên thị trường chứng khoán sau khi các công ty "Internet" sập tiệm vào năm 2000. Nếu giá cả trên thị trường nhà cửa sụp đi thì chắc chắn mức tiêu thụ của tư nhân sẽ đứng tại chỗ lập tức. Đều này chắc không xảy ra, nhưng giá nhà đã quá cao và sẽ giảm từ từ hoặc không tăng nữa.

Dầu hỏa.

Trong năm 2005, thế giới còn phải đối đầu với thùng dầu thô đắt đỏ. Lý do là một phần còn rất nhiều rủi ro chính trị tại các nước sản xuất dầu, như Nigeria, Iraq, hoặc Á Rập Saudi, một phần khác vì mức tiêu thụ dầu hỏa của thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt do kinh tế Trung Quốc. Tổ chức các nước sản xuất dầu hỏa (OPEC) không muốn giá dầu sụt giá như năm 1998 khi dầu chỉ có 10-12 đôla một thùng. Vì vậy, các nước trong OPEC sẽ uyển chuyển mức sản xuất để giá dầu vẫn duy trì ở mức 40 đôla một thùng. Nhưng thực tế là OPEC không còn nhiều ảnh hưởng trên thị trường dầu hỏa như trong thập niên 70 và 80. Dẫn đầu OPEC là Á Rập Saudi vì nước này có trữ lượng dầu mỏ nhiều nhất trên thế giới. Khi giá dầu tăng nhanh, các nước Tây phương và Nhật Bản thúc Á Rập Saudi tăng mức sản xuất để đáp ứng nhu cầu quốc tế. Nhưng sau nhiều năm không đầu tư trong máy móc hiện đại, Á Rập Saudi không còn khả năng gia tăng nhanh chóng mức sản xuất dầu như xưa nữa. Tóm lại, xu hướng dầu đắt đỏ sẽ không thay đổi trên dài hạn vì số trữ lượng dầu mỏ ít đi mỗi năm, trong khi mức tiêu thụ ngày càng tăng, đặc biệt với sự kỹ nghệ hóa của các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tây, v.v... Ngoài ra, cũng có nhiều quốc gia sản xuất dầu nhưng không thuộc trong OPEC như Nga hay Na Uy, và các nước này không có lý do gì muốn thùng dầu rẻ tiền.

Trần Sơn

 

 

Thm Ha Cui Năm
Thanh Thảo tổng hợp
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Niềm hân hoan vui hưởng Đêm Giáng Sinh 2004 chưa kịp dứt thì thế giới lại bàng hoàng với cơn thiên tai tàn phá cả một vùng đất du lịch nổi tiếng vùng ven biển Ấn Độ Dương.

Cơn động đất mạnh dưới đáy biển đảo Sumatra (Nam Dương) vào lúc 0giờ 59 ngày 26/12, cơ quan địa chấn Hoa Kỳ nói lên tới 9 độ trên thang địa chấn Richter, mạnh nhất từ 40 năm qua, gây thiệt hại nhân mạng quan trọng tại 9 nước Á châu từ Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Maldives, dư chấn còn lan tới một số nước Phi châu. Tới giờ này con số nạn nhân cứ tăng dần chưa dừng lại ở mức 125 ngàn người chết, tin tức ngày 30/12 cho biết như thế. Nặng nề nhất là tại Nam Dương (Aceh) 80.000 người chết, Tích Lan với 27.000, Ấn Độ 13.000, Thái Lan 4500. Vì là mùa du lịch cuối năm số người Tây phương tới các nước bị sóng thần tàn phá lên tới gần 20.000 người.

Cơn động đất chính kéo theo 9 loạt dư chấn. Động đất xuất phát từ dưới lòng biển Sumatra đẩy một khối lượng nước lớn lao cao trên 50 thước, di chuyển với tốc độ 500 cây số giờ về phía Tích Lan và Ấn Độ. Trong khi đó tại Thái Lan sóng thần đã ập vào bờ biển Phuket miền nam Thái Lan lúc 08g30 sáng, vào thời điểm có nhiều khách du lịch đang tắm ở bãi biển. Nhiều khách du lịch ngoại quốc bị sóng ập vào sau đó rút họ ra biển. Đảo Maldive miền nam Ấn Độ, bị sóng thần chụp xuống khiến 2/3 thành phố Male (thủ đô Maldive) chìm xuống biển, hiện giờ chưa biết được chính xác số thiệt thại nhân mạng vì liên lạc bị gián đoạn, nhưng người ta dự đoán là rất cao vì thành phố này nằm dưới mực nước biển 1 thước.

Tìm hiểu về sóng thần

Mặc dù ít xảy ra ở Ấn Độ Dương trong những thế kỷ gần đây, sóng thần từng có mặt trên mọi vùng biển của thế giới, nhiều nhất vẫn là ở Thái Bình Dương. Các chuyên gia cảnh báo không sớm thì muộn, mọi đường bờ biển sẽ bị tấn công bởi sóng thần. Các nhà khoa học đã từng tìm thấy dấu vết về một vụ va chạm thiên thạch lớn mà họ dự đoán đã tạo nên cơn sóng thần quét ngang trái đất, làm ngập lụt mọi thứ trừ những ngọn núi, vào khoảng 3,5 triệu năm trước. Bờ biển của các lục địa đã bị thay đổi đáng kể và hầu hết sự sống trên mặt đất bị huỷ diệt.

Sóng thần dịch ra từ chữ Tsunami, tiếng Nhật Bản. Hiện tượng này khá phổ biến ở Nhật và hàng nghìn người dân nước này đã bị sóng thần tiêu diệt trong những thế kỷ qua. Sóng thần là một loạt các con sóng lớn được tạo ra từ một trận động đất dưới đáy biển, sụt lở đất hoặc phun trào núi lửa. Cũng có khi sóng thần được tạo ra bởi một đợt xói mòn đất lớn đổ xuống đại dương, hoặc một khối thiên thạch lớn rơi xuống biển.

Một trận động đất có thể gây nên sóng thần nếu nó đủ mạnh, trong đó có sự di chuyển mạnh mẽ của các mảng thạch quyển, từ đó tạo nên sự di chuyển đột ngột của khối nước lớn. Nhưng nó cũng phụ thuộc phần lớn vào độ sâu của nước tại vùng xảy ra động đất.

Sóng thần không phải là một con sóng đơn lẻ mà là một loạt đợt sóng liên tiếp, còn được gọi là chuỗi sóng . Đợt sóng đầu tiên trong sóng thần không hẳn là kinh hoàng nhất. Sóng thần có thể mất vài phút tới một ngày để di chuyển tới bờ.

Sóng thần không phải là sóng thuỷ triều. Nó có thể rất dài (tới 100 km) và tới cách nhau khoảng 1 giờ. Chúng có thể vượt toàn bộ đại dương mà không mất đi nhiều sức mạnh.

Một trong những sự kinh hoàng nhất về sóng thần là một trận động đất ở phía bên này Thái Bình Dương có thể gây ra sóng thần và phá huỷ toàn bộ khu vực ở phía bên kia. Các nhà khoa học cho biết trận động đất lớn 9 độ richter tấn công vùng tây bắc Thái Bình Dương năm 1.700 đã tạo nên sóng thần và gây lũ lụt mãi tận ở vùng biển Nhật Bản của Thái Bình Dương.

Ở vùng nước sâu, sóng thần có thể di chuyển mà không thể nhận biết với tốc độ 800 km/giờ, vượt qua toàn bộ đại dương trong một ngày hoặc ít hơn. Các nhà khoa học có thể dự đoán thời điểm đến của sóng thần dựa trên độ sâu của nước và khoảng cách.

Sóng thần có thể cao không quá 30 cm ở giữa đại dương và không thể nhận ra. Nhưng đợt sóng mạnh mẽ đó lại di chuyển băng băng ở phía dưới, khi tới vùng đất nông, nó giảm dần tốc độ, dồn nén năng lượng và dâng cao vút một cách tức thì.

Những đặc điểm địa lý như vách núi, vịnh, cửa sông và những cấu trúc dưới biển có thể tiêu giảm sức mạnh của sóng thần. Tại một số nơi, sóng thần chỉ khiến mặt biển dâng cao vài cm hoặc vài mét. Ở những nơi khác, sóng thần có thể vươn cao tận 30 m. Lũ lụt có thể xâm lấn lục địa khoảng 300 m hoặc xa hơn. Sức mạnh kinh hoàng của sóng thần có thể nhấc bổng các tảng đá lớn, lật đổ xe cộ và phá huỷ nhà cửa. Sóng thần có thể cập bờ với tốc độ 160 km/giờ

Sóng thần không nhất thiết cập bến bằng một loạt các con sóng dữ. Nó có thể giống như một đợt thuỷ triều nhanh. Trường hợp này thường đi kèm với xoáy nước, hút mọi người ở dưới và tung xoáy đồ vật nặng ở phía trên. Nhiều người cho biết sóng thần có tiếng động như một chiếc tàu chở hàng.

Thái Bình Dương là nơi có nhiều sóng thần nhất. Nhưng sóng thần đã xảy ra ở mọi vùng, bao gồm cả biển Carraĩbe, Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Các con sóng thần hung dữ nhất trong lịch sử là vào năm 1782 tiếp theo sau trận động đất ở biển Nam Trung Quốc giết chết 40.000 người. Năm 1883, khoảng 36.500 người đã thiệt mạng bởi sóng thần ở biển South Jave, theo sau đợt phun trào núi lửa Krakatoa ở Indonesia. Ở bắc Chile, hơn 25.000 người chết vì sóng thần vào năm 1868.

Dấu hiệu nào cảnh báo sóng thần sẽ đến ?

Một trận động đất là dấu hiệu cảnh báo tự nhiên về sóng thần. Ta cần nên biết là một trận động đất có thể gây ra sóng thần cách đó hàng nghìn cây số vài giờ sau khi cơn rung chấn xảy ra. Nhiều người nói rằng khi sóng thần sắp xảy ra, mặt nước biển thường có sự tăng giảm bất thường.

Sóng thần là một loạt các con sóng lớn và đợt sóng đầu tiên chưa phải là nguy hiểm nhất. Mối nguy của sóng thần có thể kéo dài vài giờ sau đợt đổ bộ đầu tiên. Một Ềcon tàu sóngỂ gồm liên tiếp các đợt sóng tới cách nhau từ 5 phút cho tới 1 tiếng. Chu kỳ được đánh dấu bằng sự lên xuống lặp lại của đại dương. Sóng thần có thể nhỏ ở khu vực này nhưng lại rất to ở một nơi khác. Đừng cho rằng ở chỗ này chỉ có dấu hiệu nhỏ thì mọi chỗ khác cũng như vậy. Sóng thần có thể lan tới tận các con sông và suối đổ ra biển, do đó nên tránh xa những sông suối dẫn ra biển khi có nguy cơ sóng thần.

Nhận thức được mối nguy hiểm này của sóng thần, Tổ chức khảo sát địa chất Mỹ và Ủy ban xử lý tình trạng khẩn cấp liên bang đã khởi động chương trình dự đoán sóng thần chính xác hơn. Khi sóng thần băng qua đại dương, một hệ thống các máy thu nhạy cảm đặt trên đáy biển sẽ đo sự thay đổi áp suất trong nước, gửi thông tin về những bộ cảm ứng gắn trên phao, từ đó truyền thông tin qua các vệ tinh về trung tâm cảnh báo.

- Hệ thống cảnh báo sóng thần (TWS) ở Thái Bình Dương, gồm 26 quốc gia thành viên, theo dõi các trạm thuỷ triều và địa chấn học trên toàn bộ Thái Bình Dương. Hệ thống này sẽ đánh giá những trận động đất tiềm năng và gửi cảnh báo về sóng thần. Không có hệ thống cảnh báo sóng thần quốc tế ở Ấn Độ Dương.

Liên Hiệp Quốc Yêu Cầu Đóng Góp 130 Triệu Đôla Đối Phó Với Các Nhu Cầu Khẩn Cấp.

Nhiều nước Tây phương đã hồi hương nhiều ngàn kiều dân du lịch tại vùng bị nạn may mắn sống sốt như tại Maldives, Tích Lan. Phuket, hay ở Thái Lan. Nhiều nước cũng bắt đầu gửi các phi cơ chở thực phẩm, thuốc men và vật dụng cứu cấp tới. Jan Egeland, một giới chức phụ trách các vấn đề nhân đạo Liên Hiệp Quốc tuyên bố, động đất gây ra nạn thủy triều dâng làm thiệt hại nhân mạng lớn lao, thiệt hại vật chất lên tới "nhiều tỉ đôla", phải huy động một lực lượng cứu trợ nhân đạo đông đảo nhất trong lịch sử Liên Hiệp Quốc và kêu gọi các nước thành viên đóng góp số tiền 130 triệu đôla. Hoa Kỳ cho biết đã gửi khẩn cấp tới giúp 15 triệu đôla. Nhật Bản loan báo đóng góp 30 triệu đôla. Số tiền này sẽ được phân chia để giúp các nước bị tàn phá nặng nhất : "70 triệu cho Tích Lan, 40 triệu cho Nam Dương và 20 triệu cho Maldives". Hơn nữa, theo ông Egeland, ngoài 130 triệu đôla này, Liên Hiệp Quốc dự trù đưa ra một kêu gọi gây quỹ khác quan trọng hơn vào 6/1/2005, có thể do đích thân Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan lên tiếng.

Ông Egeland chưa đưa ra con số cho nhu cầu trong đợt kêu gọi tháng giêng. Ngoài ra còn có một số nhu cầu thêm cho quỹ tái thiết tại các nước bị thiệt hại nặng nề nhất. Cho đến nay cộng đồng quốc tế đã cam kết đóng góp 220 triệu đôla đáp ứng kêu gọi khẩn cấp 130 triệu vì đa số hứa giúp đã được trao cho Hồng thập tự hay các tổ chức ONG, mà không riêng cho các hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc. Theo ông Egeland ngoài ra còn phải kêu gọi giúp cho Somalia và các nước khác ở Phi châu bị thiệt hại do động đất và sóng thần ngày 26/12, sau khi lượng giá nhu cầu.

Ủy Ban Hồng Thập Tự Quốc Tế Kêu Gọi Khẩn Cấp Giúp Vùng Á Châu Bị Thiên Tai.

Ủy ban Hồng Thập Tự quốc tế (CICR) bày tỏ lo ngại dịch bệnh xuất hiện có thể truyền đi theo dòng thủy triều gây ngập lụt khắp 9 nước Đông Nam Á và Nam Á. Phát ngôn nhân của CICR, Marie François Borel xác nhận cơ quan và Hội Lưỡi Liềm đỏ đã họp lại tập trung số thuốc men cho 2.000 trường hợp bệnh tiêu chảy, cũng như thuốc trị bệnh nhiễm trùng các loại cho 100.000 người.

Thiệt Hại Do Sóng Thần Gây Ra Tại Á Châu Có Thể Trên 10 Tỉ Đôla.

Theo đánh giá của chuyên gia Gerhard Berz, công ty bảo hiểm Muchich Re (Thụy Sĩ) trên đài truyền hình Deutsche Welle (Đức) hôm 29/12, động đất và sóng thần tác hại lên 8 nước châu Á gây tổn thất vật chất lên tới 10 tỉ euros (13 tỉ đôla). Munich Re là công ty tái bảo hiểm hàng đầu thế giới. Theo các chuyên gia kinh tế, những cam kết viện trợ của nhiều nước, và hàng viện trợ đang đổ vào các nước bị thiên tai có thể giúp các nước này không cần phải vay những khoản nợ mới từ Ngân hàng thế giới (WB) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

Hiện đã có hơn 20 nước cam kết viện trợ khoảng 60 triệu mỹ kim, cùng với Liên Hiệp Quốc tiến hành giúp đỡ khẩn cấp cho các nước bị nạn trong vùng. Về phần mình, Ngân hàng Thế giới cam kết cho các nước có nhiều món nợ đáo hạn, có thể vay thêm để sớm khôi phục hạ tầng cơ sở sau thiên tai. IMF cũng cho biết sẵn sàng hỗ trợ các khoản tiền vay ưu đãi cho các nước trong vùng động đất và sóng thần. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế quốc tế, có thể chỉ có Tích Lan và Nam Dương là hai nước chịu thiệt hại về người và vật chất nặng nề nhất trong thảm họa 26/12, sẽ phải vay tiền từ hai định chế tài chánh quốc tế này.

***

Trước thảm trạng của thiên tai này, nhiều quốc gia Á Châu đã hủy bỏ các lễ đón mừng năm mới 2005, dành thời giờ để thương tiếc, để tang các nạn nhân của trận động đất và các đợt sóng thần gây nhiều tang tóc vừa qua.

Các thứ trang trí tươi vui, để đón mừng năm mới 2005, tại các khách sạn sang trọng hay tại các trung tâm nghỉ mát, phần lớn dành cho các người Tây Phương, đi trốn cái lạnh của Âu Châu, các dinh thự, cơ quan chính phủ từ Sri Lanka, cho đến Indonesia, Mã Lai Á, Thái Lan, Ấn Độ... đều đã được tháo bỏ, sau khi các nước này, đã quyết định bãi bỏ các buổi lễ đón mừng năm mới, để thương tiếc hàng loạt các nạn nhân đã qua đời vì các đợt sóng thần vừa qua.

 

 

Ð NAM HI
Yêu cu t chc mt cuc trưng cu dân ý Vit Nam đ quyết đnh đa đng hay không .
(LÊN MNG TH BA 14 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

THÀNH phố Hồ chí Minh, ngày 10/12/2004.

Thư ngỏ

Kính gửi :
- Quốc hội và Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
- Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
- Các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước.
- Các bạn bè quan tâm.

Tên tôi là : Đỗ Nam Hải - Sinh năm 1959, tại Hà Nội.
Thường trú tại : 441 Nguyễn Kiệm - Phường 9 - Quận Phú Nhuận - Tp. HCM.
Nghề nghiệp : kỹ sư kinh tế ngân hàng.

Tôi viết thư ngỏ này gửi tới các cơ quan trên và các bạn bè quan tâm, để trình bày một số vấn đề sau đây :

 

1) Những bài viết của tôi :

 

Trong thời gian sinh sống tại ÚC (Australia), với bút hiệu là Phương Nam, tôi có viết 5 bài tiểu luận :
- Việt Nam đất nước tôi. (6/2000)
- Việt Nam và sự đổi mới. (4/2001)
- Suy nghĩ về nhận thức lại. (6/2001)
- Viết về chủ tịch Hồ Chí Minh (7/2001)
- Viết tiếp về nhận thức lại.
(8/2001) (đang được đăng trên 1 số trang web như : Đàn Chim Việt & Mạng Ý Kiến online. Click : www.danchimviet.com & www.ykien.net - Mục Tác giả).

Những nội dung chính được tôi nêu ra trong 5 bài viết ấy là : đặt vấn đề nhận thức lại những vấn đề quan trọng của đất nước, thường được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải, các nhà trường, học viện ở Việt Nam giảng dạy như : chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên nhân của 2 cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975), sự hình thành và tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa (1917-1991), công cuộc đổi mới hiện nay và sự tụt hậu của Việt Nam so với các nước trong khu vực & thế giới. Đồng thời, nêu lên ý kiến đề nghị tổ chức 1 cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt Nam (được trình bày cụ thể tại phần 4, trong bài Việt Nam đất nước tôi), nhằm mở đường cho dân tộc giải quyết tận gốc sự tụt hậu hiện nay. Đầu năm 2002, tôi đã trở về Việt Nam và tháng 10/2004 vừa qua, tôi có bài trả lời phỏng vấn đài Á Châu Tự Do (RFA), với nội dung điểm lại những quan điểm của mình, đã được thể hiện trong 5 bài viết trên.

 

2) Hoàn cảnh khó khăn hiện nay của tôi :

 

Chiều ngày 6/8/2004, trong khi tôi đang làm việc tại ngân hàng thì có một số sĩ quan thuộc Cơ quan an ninh - Bộ công an đến tận nơi, khéo léo mời tôi lên một chiếc xe hơi để đi làm việc tại ngôi biệt thự số : 310 đường Trường Chinh - Phường 13 - Quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh. Sau đó, tôi bị giữ lại đây hơn 2 ngày (từ 16 giờ ngày 6/8/2004 đến 18 giờ ngày 8/8/2004), để "Trả lời một số vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia", theo như nội dung ghi trong Giấy Mời. Bốn tháng sau, tôi lại bị các sĩ quan công an trên giữ lại 24 tiếng (từ 17 giờ ngày 3/12/2004 đến 17 giờ ngày 4/12/2004) tại trụ sở Công an quận Phú Nhuận, số : 181 đường Hoàng Văn Thụ - Phường 8 - quận Phú Nhuận - Tp. HCM. Cũng trong khoảng thời gian 4 tháng qua, tôi còn bị hàng chục lần phải đi làm việc theo yêu cầu của công an : khi thì ở nhà hàng, khi thì trong những phòng kín của các khách sạn khác nhau ; khi thì trên một chiếc xe cứu thương bít bùng trên bờ kênh Nhiêu Lộc, thuộc quận Tân Bình. Máy tính của tôi (cục CPU) cũng đã bị tạm giữ từ ngày 4/12/2004 tại Công an quận Phú Nhuận, và theo lời giải thích miệng của công an là : "khi nào chúng tôi xóa hết các dữ liệu trong đó thì sẽ trả cho anh".

Vì vậy, hiện nay tôi không có phương tiện làm việc tại nhà.

Trong những lần gặp trên, tôi đã trả lời các sĩ quan công an (từ cấp úy đến cấp đại tá), đại ý rằng : "Đúng, tôi đã viết những bài tiểu luận ấy. Động cơ duy nhất để tôi viết và phổ biến chúng trên Internet là lòng yêu nước. Tôi mong muốn và nguyện đóng góp một phần nhỏ bé của mình để thúc đẩy cho nền dân chủ ở Việt Nam tiến lên phía trước. Còn hiện nay thì rõ ràng là trên đất nước ta không có dân chủ. Cái gọi là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, xét về thực chất chỉ là thứ dân chủ lừa mị, giả hiệu ; dân chủ cho thiểu số trong Ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam. Nó, nếu có trong xã hội thì cũng chỉ là những mẩu vụn của nền dân chủ đích thực mà thôi.

Rất dễ dàng để chứng minh cho nhận xét trên, và điều này thì có nhiều người dân chủ Việt Nam trước và sau tôi đã làm. Biểu hiện cụ thể và sống động nhất là việc tôi phải ngồi đây, phải trả lời những câu hỏi của các anh ; phải bắt buộc mở những hộp thư điện tử của mình, cũng như phải mở diễn đàn Nhà Việt Nam, là diễn đàn mà tôi tham gia từ tháng 6/2003. Các anh gọi những bài viết của tôi và những tài liệu mà tôi mang theo là những tài liệu phản động, chống đối đảng và nhà nước. Nhưng tôi thì lại có quan niệm khác, tôi cho rằng đấy là những tài liệu dân chủ ; chúng đã được đăng tải đầy đủ và rộng rãi trên Internet trước đó. Tôi rất mong ngày càng có nhiều người Việt Nam, nhất là ở trong nước đọc chúng, và tôi công nhận rằng mình đã làm nhiều điều cho công việc này. Thực lòng, tôi không trách các anh, đơn giản là vì các anh phải làm nhiệm vụ được giao. Điều đáng trách là cái thể chế chính trị độc đảng, được luật hóa trong điều 4 của Hiến pháp Việt Nam hiện hành. Chính nó đã, đang và sẽ luôn là vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra biết bao nỗi tai ương đau đớn và sự tụt hậu đến nhục nhã cho đất nước này, dân tộc này.

Về những mối quan hệ của tôi với mọi người ở cả trong và ngoài nước trong hơn 4 năm qua (6/2000 - 12/2004), thì tất cả đều là những mối quan hệ chỉ thuần tuý trao đổi cho nhau những bài viết về dân chủ. Tôi luôn ý thức được rằng mình hoàn toàn có đủ bản lĩnh và sự tự tin để sẵn sàng đối thoại với tất cả mọi người, dù họ là ai, quá khứ và hiện tại của họ thế nào. Nếu họ đúng thì tôi ủng hộ, còn nếu họ sai thì tôi phản đối. Tôi không hề hẹn hò, kích động ai để gây bạo loạn hay lật đổ ; đặt bom hay đặt mìn ở đâu cả. Ngược lại, những người đối thoại với tôi cũng vậy : họ luôn tôn trọng tôi và thấu hiểu rất rõ quan điểm của tôi, được thể hiện trong những bài viết của mình là : chỉ ủng hộ những cách làm dân chủ, nhằm tạo ra những bước chuyển mình thực chất cho dân tộc mà thôi. Các anh đã đọc những bức thư của tôi gửi đi và của mọi người gửi đến cho tôi (kể cả bắt buộc lẫn đọc trộm) ; đã đọc những ý kiến của tôi và mọi người trao đổi với nhau trên diễn đàn Nhà Việt Nam thì cũng thấy rất rõ điều này.

Theo tôi, dân tộc Việt Nam hôm nay muốn tìm được một lối ra phù hợp, nhằm hòa nhập được tốt vào thế giới hiện đại, thì điều quan trọng tiên quyết là phải nhận thức và xử lý cho tốt nguyên nhân sinh ra biết bao nỗi tai ương đau đớn và sự tụt hậu đến nhục nhã cho đất nước như đã nêu ở trên. Đồng thời, phải tránh một quan niệm hết sức sai lầm cho rằng : hễ cứ ai đấu tranh cho một xã hội Việt Nam đa nguyên và một thể chế chính trị Việt Nam đa đảng thì họ chính là những người có "mưu toan lật đổ Đảng cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch trong và ngoài nước". Tôi cho rằng : chính nguy cơ bị mất quyền lãnh đạo đất nước bởi các lực lượng chính trị đối lập khác, sẽ là một áp lực rất quan trọng và rất cần thiết để ĐCSVN ngày càng trở nên tử tế hơn trước dân tộc và lịch sử. Nó sẽ có tác dụng tích cực để chống lại sự thoái hóa, biến chất với quy mô và tốc độ ngày càng cao của đại bộ phận những người hiện đang nắm quyền lực trong ĐCSVN ; trong bộ máy chính quyền từ trung ương tới địa phương và cơ sở ở Việt Nam hôm nay.

Nói một cách khác, nó chính là chiếc chìa khóa vàng để giúp ĐCSVN xốc lại đội ngũ của mình, nhằm thay thế cho việc "bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ ta" bằng phương cách "chuyên chính vô sản hóa" toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong suốt nửa thế kỷ qua. "Trái bóng" hiện thuộc về những người đang nắm thực quyền trong Bộ chính trị và Ban bí thư trung ương ĐCSVN. Chúng ta không sợ đất nước không có những dự án đúng để xây dựng và phát triển, mà chỉ sợ đường đi của cả dân tộc bị chọn sai ! Dân tộc hôm qua đã chọn sai đường thì hôm nay dân tộc đó hãy dũng cảm vượt qua chính mình để cùng nhau nhận thức lại, cùng nhau hợp sức để chọn lại con đường mới sáng sủa hơn, nhân bản hơn cho dân tộc mình ; đấy là lẽ bình thường. Đừng nên để đến một ngày nào đó, với tiếng thét ầm vang của nhân dân phẫn nộ, mà phải diễn ra cái cảnh như ở Rumani vào tháng 12 năm 1989 ; với kết cục là cái chết đích đáng và nhục nhã của vợ, chồng tên độc tài Ceausescu (bị xử tử). Lúc đó thì đã là quá muộn. Tôi là người Việt Nam yêu dân chủ, tôi không bao giờ mong muốn đất nước mình phải chuyển biến trong cái hỗn cảnh đó.

 

3) Nhận xét và kiến nghị :

 

a) Những nhận xét :
- Một trong những đặc điểm đậm nét của thời đại ngày nay là thời đại sụp đổ của tất cả các chế độ độc tài, độc đảng trên phạm vi toàn thế giới. Chỉ 20 năm trở lại đây, nhân loại đã chứng kiến sự cáo chung của rất nhiều chế độ như vậy, như ở Nam Hàn, Chilê, Philippines, Indonesia, Nam Tư , Afghanistan, Iraq ; cũng như ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ Đông Âu, … Các quốc gia trên dẫu đã, đang và sẽ phải trải qua những khó khăn, thử thách ở những mức độ khác nhau ; nhưng sớm muộn gì họ cũng sẽ thực hiện thành công bước chuyển từ một xã hội thần dân lạc hậu sang một xã hội dân sự tiến bộ ; nó cũng chính là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Không ai hoặc bất cứ thế lực nào, dù có bảo thủ và tàn bạo đến đâu, có thể ngăn cản được xu thế tất yếu ấy. Xin ai hãy đừng đắc chí mà chỉ chăm chăm đi bới tìm những khó khăn trong bước đầu chuyển mình của các quốc gia trên, để hòng làm con ngoáo ộp đe dọa nhân dân Việt Nam anh hùng. Bởi vì, làm như thế cũng chính là tội ác ! Mà một khi đã gây tội ác thì sớm muộn gì cũng bị trừng phạt.


- Hễ chừng nào còn chế độ độc đảng trên đất nước ta thì chừng đó sự bất công, đói nghèo và tụt hậu càng trở nên sâu sắc và trầm trọng - Đó là điều khẳng định. Đất nước đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh gần 30 năm rồi, nhưng hôm nay con đường đi của dân tộc ấy vẫn loằng ngoằng, quờ quạng như đường đi của người bị khiếm thị nặng : đã đi trên con đường lạ thì chớ mà lại còn bị mất kính, mất gậy ! Chế độ ấy cũng hòan tòan bất lực trước quốc nạn tham nhũng và cũng không thể ngăn chặn được tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng như hiện nay. Dẫu rằng, những khẩu hiệu hô hào cho những mục tiêu đó thì không hề thiếu. Lòng tin ngây ngô của nhiều người Việt Nam, về cái gọi là đường lối : "Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (là thứ không hề có trong các bộ sách kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin), cũng chẳng khác nào sự cả tin đến thương hại của chú bé ngày xưa - trên cánh đồng, trong thơ Hoàng Cầm : Cứ mải mê đi tìm chiếc "lá Diêu Bông" mà không hề biết rằng "bà chị" kia đã len lén đi "lấy chồng" từ hồi nảo, hồi nào rồi ! Những "chú bé" kia hiện đang chiếm đa số trong xã hội Việt Nam cứ mãi vẫn nghèo, đã làm "bệ phóng" tốt cho một thiểu số như cha con nhà Mai Văn Dâu nọ mãi vẫn giàu !

Tôi cũng không rõ là những sĩ quan công an đã làm việc với tôi trong hơn 4 tháng qua có sự so sánh nào không, trước sự tương phản giữa mức sống của tôi, của các anh và gia đình (mà tôi tin rằng mức sống của chúng ta vẫn còn hơn biết bao nỗi nhọc nhằn có đầy trên mặt đất Việt Nam này), với những "hào kiệt" trong ngành dầu khí kia ?

Ở đó, họ đã làm ảo thuật để chia chác với nhau hàng triệu đô la Mỹ, mà cứ tỉnh như người ta chia mớ cá ao làng vậy. Những "hào kiệt" như vậy ngày nay xuất hiện "trù mật" trên khắp mọi miền đất nước. Điều mà các anh vẫn hằng tin rằng : mình đang bảo vệ nền an ninh quốc gia, thì xét ở một khía cạnh nào đó lại là đang bảo vệ cho một chế độ tham nhũng ăn tàn, phá hại nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc ta. Nó đang hàng ngày, hàng giờ bòn rút tới rỗng ruột tài sản của đất nước và tiềm ẩn những món nợ xấu nước ngoài, mà sau này con cháu chúng ta sẽ phải è cổ ra trả. Tốc độ tích lũy tư bản của các "hào kiệt" thời nay nhanh đến mức chóng mặt. Đúng như nhận xét của cựu chủ tịch Công đoàn Đoàn kết, cựu tổng thống Ba Lan - Lếch Valêxa (Lech Walesa) : Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất để đi từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa tư bản ! ( cái thứ tư bản ở Việt Nam hôm nay lại là cái thứ tư bản dỏm, chứ phải chi nó là cái tư bản thứ thiệt như thiên hạ thì đã đi một nhẽ !). Chế độ ấy cũng đã làm mất đất, mất biển mà mồ hôi, máu xương của ông cha ta đã đổ xuống.

b) Kiến nghị :

Vượt lên trên khó khăn hiện nay của mình như đã trình bày. Tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ và Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam hãy nghiên cứu, xem xét ý kiến đề nghị của tôi về 1 cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt Nam.

Trong đó, câu hỏi duy nhất cần nhân dân Việt Nam trả lời là :

Việt Nam nên hay không nên theo chế đa đảng ?

Nếu ai đồng ý thì ghi . Ai không đồng ý thì ghi Không.

Tôi sẽ rất vui lòng và sẵn sàng cùng các bạn hữu trong và ngoài nước của mình chờ đợi những cuộc đối thoại từ phía Quốc hội, Chính quyền hay ĐCSVN tổ chức, để làm rõ hơn ý kiến đề nghị trên của mình. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm của các cơ quan trên và xin chân thành cảm ơn trước. Trường hợp các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam thấy rằng : những việc làm của tôi là có điều gì trái pháp luật thì tôi sẵn sàng đối diện với khả năng xấu nhất có thể xảy ra với mình. Còn tình trạng hiện nay của tôi là rất ụ ụ, xọe xọe, rất không đàng hòang, mà Cơ quan an ninh - Bộ công an Việt Nam đã áp dụng với tôi trong hơn 4 tháng qua. Thay cho lời kết, tôi xin được ghi lại câu nói của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900 - 1944) :

"Tự do không thể van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có !"

Ðỗ Nam Hải

 

 

Từ Phương Nam Đến Đỗ Nam Hải
Trà Bồng
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Khi rời Việt Nam để ra nước ngoài, người Việt thường tập trung vào một số hoạt động khác nhau. Nhưng nói chung ai cũng lo tích lũy. Kẻ lo tích lũy tiền của, người thì thu gom bằng cấp. Tùy hoàn cảnh định cư tỵ nạn hay tạm cư vì công vụ, học vấn mà sự thu gom tích lũy có mức độ khẩn trương khác nhau. Nhưng rất ít thấy ai lo tích lũy thông tin "độc hại" để thắp sáng hàng nửa thế kỷ tù mù về thông tin của dân tộc Việt Nam, hay nhỏ nhoi hơn, của cá nhân mình.

Ít tức là có, dù không được nhiều người. Thông tin bây giờ thì không khó kiếm. Nhưng vấn đề trước tiên là mình có dám thắc mắc hay không. Khi dám cả gan thắc mắc rồi thì gặp phải một vấn nạn khác : có dám tìm hiểu hay không. Sau khi tìm hiểu rồi thì vấn nạn còn... khốn nạn hơn : có dám nhìn nhận câu trả lời hay không ?

Nay chúng ta biết có một "Chàng Trai Nước Việt" không phải đợi ra nước ngoài mới thắc mắc, mà đã thắc mắc từ hồi rời Hà Nội vào Sài Gòn không lâu, sau ngày đất nước thống nhất. Thắc mắc mà có cơ hội là Chàng hỏi ngay. Câu hỏi đầu tiên là : "Thế hồi tết Mậu Thân năm 68, các chị có đi tải đạn cho các anh bộ đội giải phóng không ?" Chàng hỏi các cô gái ở Sài Gòn như vậy, vì muốn biết tỷ lệ đó thực sự là bao nhiêu % ( !) Các cô gái Sài Gòn trong lứa tuổi được mô tả qua bài hát Cô Gái Sài Gòn Đi Tải Đạn của nhạc sỹ Lưu Nhất Vũ đã trả lời rằng : "Làm gì có zdụ đó !"(1)

Sang Úc năm 1994 là cơ hội cho Chàng tìm thêm câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Những thắc mắc to tát hơn nhiều so với ba cái "zdụ" tải đạn kia. Chàng Trai Nước Việt tìm hiểu về nền dân chủ đa nguyên, với hệ thống chính trị đa đảng của thế giới hiện đại.

Hàng triệu người đã rời Hà Nội vào Sài Gòn trong hoàn cảnh đó. Hàng chục ngàn người Việt Nam vẫn ra ngoại quốc công tác, học tập hàng năm. Nhưng không mấy ai thắc mắc. Cũng như không biết bao nhiêu triệu người bước vào bồn tắm hàng ngày, vậy mà chỉ có một Archimedes(2).

Chàng Trai Nước Việt đã tìm được câu trả lời cho những thắc mắc của mình. Và Chàng đã reo lên "Eureka, eureka..." - tìm ra rồi, tìm ra rồi - bằng mấy bài viết ngắn công phu. Nhưng Chàng không chạy tồng ngồng ra đường như huyền thoại về Archimedes năm xưa. Chàng phải thận trọng che thân bằng bút hiệu Phương Nam.

Tám năm ở Úc, Phương Nam đã sống trong một nền dân chủ pháp trị đa nguyên rất trưởng thành. Phương Nam đã chứng kiến 2 lần bầu cử chính quyền liên bang, và 2 lần bầu cử các chính quyền tiểu bang Victoria và New South Wales, nơi mình tạm trú. Phương Nam đã thấy ứng viên thất cử gọi điện thoại chúc mừng người thắng cử, và người thắng cử cám ơn lời chúc mừng đó trước toàn dân Úc. Đảng nào thắng nhiều ghế trong quốc hội thì lập chính phủ để điều hành quốc gia. Đảng thắng ít ghế thì thành lập nội các đối lập để bới móc, phân tích, phê phán và phanh phui các bê bối của chính quyền. Diễn đàn quốc hội và các cơ quan truyền thông độc lập, cả tư nhân lẫn chính phủ, là phương tiện của họ. Họ lãnh lương của người dân Úc để làm việc này. Họ phải làm một cách rất chuyên nghiệp vì đó là vai trò của họ. Cử tri sẽ có phán quyết về khả năng của các vị này trong kỳ bầu cử tới. Họ có thể là những ứng cử viên độc lập không đảng phái, hay thuộc về một chính đảng nào đó, với đường lối chủ trương và lập trường rõ rệt.

Đặc biệt trong thời gian này nước Úc có một cuộc Trưng cầu dân ý để chọn lựa đường hướng tương lai. Một là tiếp tục nhìn nhận Nữ Hoàng (hoặc Vua) nước Anh là Quốc Trưởng. Hai là loại bỏ hẳn mối liên hệ có tính lịch sử với Hoàng Gia nước Anh, để thành lập nền Cộng Hoà và tự bầu Quốc Trưởng người Úc.

Nước Úc trên thực tế là một quốc gia độc lập hoàn toàn về mọi mặt. Nhưng trên danh nghĩa thì vẫn là thuộc địa của nước Anh. Trong lần Trưng cầu dân ý này phe vận động cho một nước Úc Cộng Hoà đã thua. Dù thất vọng, nhưng họ sẽ tiếp tục vận động cho một cuộc Trưng cầu dân ý khác trong tương lai. Sẽ có một cuộc Trưng cầu dân ý khác về một vấn đề nào đó khi người dân đòi hỏi. Cũng như sẽ có một cuộc bầu cử khác khi một ứng viên hay một đảng hết nhiệm kỳ. Tiến trình này là hơi thở của mọi nền dân chủ thật sự. Đó là nền dân chủ đa nguyên.

Phương Nam không chỉ quan sát và học hỏi. Anh còn thực tập sống rất dân chủ nhờ khả năng lắng nghe nhiều ý kiến khác nhau mà không mất bình tĩnh hay nổi nóng. Những người này không nhất thiết là có cùng cách suy tư như Phương Nam. Từ người phụ trách những đài phát thanh Việt Ngữ mà nhà nước Cộng Sản Việt Nam hay gọi là "đài địch" cho tới một số tờ báo trong nước anh đều muốn đối thoại. Từ những người của chính quyền Việt Nam cho đến những nhà văn, nhà báo "cực kỳ phản động" ở hải ngoại, anh đều muốn kết thân.

Tận dụng quyền tự do của mình khi ở Úc, Phương Nam cũng đã làm quen với các thành viên của nhiều tổ chức chính trị hải ngoại, mà anh có dịp tiếp xúc qua Internet. Điều đáng ngạc nhiên là Phương Nam có những mối liên hệ cá nhân tốt đẹp với tất cả mọi người của những tổ chức, đảng phái vốn có đường lối, chủ trương đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam rất khác nhau, thậm chí là đối nghịch nhau. Phương Nam là một cá nhân độc lập. Anh tiếp xúc rộng rãi, nhưng không hề tham gia vào bất cứ hoạt động của một đoàn thể hay tổ chức nào cả.

Anh cũng đã đọc thật nhiều sách vốn không được phổ biến ở Việt Nam. Từ sách mới như cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của Nguyễn Gia Kiểng tới "Từ Thực Dân tới Cộng Sản" của Hoàng Văn Chí. Từ những bài đoạn tuyệt rất ân tình, nhưng dứt khoát của ông Hà Sĩ Phu với Chủ Nghĩa Cộng Sản, tới những bài phê phán nhưng chứa đầy vấn vương của Giáo Sư Trần Khuê và Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang.

Phương Nam đặc biệt lưu ý tới những người trẻ, và có quan hệ tốt đẹp với họ. Chính những bạn trẻ ở Melbourne tại Úc đã giúp anh rất nhiều trong việc phổ biến các bài viết đi khắp mọi nơi, nhất là về Việt Nam.

Người đọc có thể đồng ý hoặc không đồng ý với tác giả. Nhưng khó có thể nói Phương Nam là bồi bút hay văn nô cho Đảng. "Khó" chứ không phải là "không", vì Phương Nam có nhận được những lá thư nặng lời như vậy khi các bài viết mới được đưa lên Net. Có người bạn đã bảo với anh là các thư như vậy hơi đâu mà trả lời. Nhưng nếu có dịp đọc thư trả lời của Phương Nam gởi cho tác giả những lá thư đó thì người đọc bình tâm sẽ ngạc nhiên hơn nữa. Không hề gay gắt, cũng chẳng phiền hà. Phương Nam chỉ có những lời lẽ ôn tồn mở rộng đường cho việc đối thoại tiếp.

Sau bữa cơm tối từ biệt tại một nhà hàng ở Sydney, mà ông chủ vốn là một đầu bếp của Phủ Thủ Tướng xưa, thì bạn bè đường ai nấy đi. Người ở Úc tiếp tục đi cày để vun đắp hiện tại và tương lai ở xứ người. Người trở về Việt Nam thì lo chuyện hiện tại và tương lai ở nước mình. Bạn bè những tưởng Phương Nam sẽ hoà tan vào với nhịp sống và lề thói của xã hội Việt Nam và ...chấm hết ! Nhưng không, về Việt Nam Phương Nam vẫn tiếp tục tham gia các diễn đàn internet, có phần hăng say hơn. Đã có lúc bạn bè có cảm giác Phương Nam làm việc này full-time ! Trong khi đó thì có người trong nước đã chụp ngay cái đuôi ".au" (australia) trong địa chỉ email của Phương Nam, tin rằng anh là "Việt kiều phản động, ăn phải bả đế quốc, sài lang" và không tiếc lời thóa mạ.

Sống ở Việt Nam là cơ hội cho Phương Nam tìm gặp những người mà mình ngưỡng mộ. Đó là các ông Trần Khuê ở Chợ Lớn và Hà Sĩ Phu ở Đà Lạt. Ngay cả ông Nguyễn Thanh Giang ở tận Hà Nội nhưng khi vào Sài Gòn thì họ cũng đã gặp nhau, để cùng trao đổi những vấn đề quan tâm.

Giao tiếp với những người mình thích là quyền chính đáng của con người khắp thế giới, trừ Việt Nam. Có lẽ những lần tiếp xúc "lạy ông tôi ở bụi này" đó đã khiến anh lọt vào mắt chính quyền, giúp họ nhận diện anh chính là Phương Nam, dẫn tới việc anh bị tạm giữ lần đầu vào tháng 8 năm 2004.

Phương Nam đã giữ lời cam kết mà công an áp đặt lên anh, là không cho ai biết chuyện anh bị tạm giữ. Nhưng những lần "mời làm việc" bất minh và bất thường tiếp sau đó làm anh lo ngại cho sự an toàn của mình. Phương Nam vẫn không nói ra, nhưng bạn bè ở ngoại quốc đã đọc được sự lo lắng này và bắt đầu tìm cách che chắn.

Thế là ông bạn Tưởng Năng Tiến bắt đầu tính chuyện "mua bảo hiểm" cho anh. Qua email và điện thoại, ông Tưởng Năng Tiến đã nhờ vả, mời mọc, đốc thúc bạn bè của ông trong giới truyền thông khắp nơi chạy bài và tìm cách phỏng vấn Phương Nam. Cuộc phỏng vấn Phương Nam trên RFA - Đài Á Châu Tự do - vào tháng 10 năm 2004 là kết quả của cố gắng này. Dù chưa gặp nhau lần nào, tuổi tác thì cách biệt, quá khứ thì như nước với lửa nhưng Phương Nam và Tưởng Năng Tiến đã là bạn "nhậu" của nhau, qua email từ ngày Phương Nam còn ở Úc.

Sau cuộc phỏng vấn đó, đầu tháng 12/2004 thì sự quấy nhiễu của công an đối với Phương Nam đã tiếp tục theo một diễn biến mới. Đã có lệnh xét nhà, mà công an chỉ cho Phương Nam xem rồi lấy lại. Phương Nam cho họ biết trước là trong nhà anh có rất nhiều tài liệu về dân chủ, và cảnh báo họ về sức khoẻ mong manh của mẹ anh : "Mẹ tôi năm nay gần 80 tuổi, lại mắc bệnh tim và huyết áp cao. Các anh làm gì thì làm, nhưng nếu mẹ tôi mà ngã lăn ra đấy thì các anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm". Tuổi đời của Phương Nam chưa bằng tuổi đảng của cha, mẹ mình, cho nên sự chấn động chắc chắn sẽ khó lường. Vì thế Phương Nam đã đồng ý giao nộp cục CPU của máy vi tính một cách không ồn ào, theo yêu cầu của công an.

Tới nước này thì Phương Nam đã không còn nín tiếp được nữa. Anh quyết định nói thật các chuyện đã xảy ra với mình trong suốt hơn 4 tháng, qua lá Thư Ngỏ gởi Quốc hội, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Ban chấp hành trung ương ĐCS Việt Nam, các cơ quan truyền thông trong - ngoài nước, và ký tên thật của mình là Đỗ Nam Hải.

Đỗ Nam Hải có được sự kiên trì không mệt mỏi của ông Nguyễn Thanh Giang, thái độ hoà nhã nhưng sắc bén của ông Hà Sĩ Phu và tính bộc trực, thân thiện của ông Trần Khuê. Đỗ Nam Hải có một hiện tại trong sáng, một quá khứ trong sạch và một di sản nhẹ tênh của những Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn.

Đòi hỏi một cuộc Trưng cầu dân ý(3) ở Việt Nam của Đỗ Nam Hải là một đòi hỏi chính đáng, dù tôi có nghi ngờ về tính thực tế của nó. Nó giống như chuyện muốn bay vào không gian, khi chưa biết làm máy bay cánh quạt. Thật ra chưa biết làm không tệ bằng không được phép làm. Nhưng tệ hại nhất phải nói là không được phép học cách làm, mà các vị "đầy tớ của nhân dân" đang áp dụng với những "ông bà, chủ" của mình.

Muốn có Trưng cầu dân ý đúng nghĩa thì phải có quyền thành lập tổ chức để vận động việc bầu "thuận" hay "chống". Tức là quyền tự do lập hội, đoàn, đảng và tự do ngôn luận phải có. Báo chí và các phương tiện truyền thông phải được trả tự do. Phải có luật bảo vệ tính độc lập của các cơ quan thông tin đại chúng. Không một đảng phái hay thế lực nào được phép bóp nghẹt tự do ngôn luận, khen ngợi hoặc im lặng thì được nhưng chê trách thì cách chức hay đóng cửa, như hiện nay.

Chúng ta không thể đoán được những gì nhà cầm quyền Việt Nam sẽ làm để ngăn tiếng nói của Đỗ Nam Hải. Nhưng rõ ràng, những án tù chứng tỏ sự hèn kém và thiếu quân tử, áp đặt lên những nhà dân chủ trong nước nhằm bịt miệng họ đã thất bại. Đỗ Nam Hải nói với bạn bè rằng anh đã sẵn sàng chọn con đường chông gai trước mặt. Hy vọng rằng con đường đó sẽ ngắn hơn tuổi đời còn lại của anh.

Trà Bồng
(Mùa Giáng Sinh năm 2004)

(1) Viết Tiếp về Nhận Thức Lại - Phương Nam Tiểu Luận, Tháng 8 năm 2001, Úc Đại Lợi
(2) Nhà toán học và vật thể học Hy Lạp - hơn 200 năm trước Tây Lịch - người khám phá ra trọng lượng nước bị dời chỗ...
(3) Thư Ngỏ, Đỗ Nam Hải - Việt Nam, Tháng 12 năm 2004.

 

 

Ch Quyn Bin và Ha Đồ Hi Phn
Vũ Hữu San
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Những Biến cố Mất-mát và Xâm-phạm hải-phận.

Chưa bao giờ trong Việt-Sử chúng ta bị mất quá nhiều chủ-quyền lãnh-thổ, đặc-biệt là mất mát hải-phận nhiều như vậy trong ít năm vừa qua. Không những Việt-Nam thiệt hàng chục ngàn Km2 tại Vịnh Bắc-Việt cho Trung-Cộng, ngay vùng có tiềm năng dầu khí giữa Vịnh ; nước ta còn mất nhiều ngàn Km2 cho Thái-Lan tại Vịnh Phú-Quốc và mất mát nhiều chục ngàn Km2 nữa cho Nam Dương tại vùng biển phía Nam Côn-Sơn.

Theo Ông Lê Minh Nghĩa Về vấn đề hải-phận Việt Thái, giữa hai nước có một vùng chồng lấn rộng khoảng 6000 km2 do Việt Nam có tính đến hiệu lực của đảo Thổ Chu, còn Thái Lan thì phủ nhận hiệu lực của đảo Thổ Chu. Từ năm 1992 hai bên đàm phán qua 9 vòng cấp chuyên viên.

Ngày 9/8/1997 hai nước ký Hiệp định về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước. Theo hiệp định, Việt Nam được 32,5% diện tích vùng chồng lấn.

Năm 1972, Indonesia và chính quyền Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm của Indonesia là phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của hai bên, quan điểm của Sài gòn là trung tuyến Giữa bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai quan điểm tạo nên vùng chồng lấn rộng khoảng 37,000 km2. (Đảo Natuna bắc là đảo xa nhất của Indonesia đối diện với miền Nam Việt Nam cách Bornéo 320 km ; Côn đảo, đảo đối diện với Natuna bắc chỉ cách đất liền 90 km)

Từ năm 1978 CHXHCN Việt NamIndonesia bắt đầu đàm phán. Indonesia giữ quan điểm cũ, quan điểm của ta dựa vào định nghĩa thềm lục địa là sự kéo dài tự nhiên của lục địa, do đó ranh giới nên theo đường rãnh ngầm ngăn cách sự kéo dài tự nhiên của hai thềm lục địa, hai quan điểm tạo ra vùng tranh chấp lúc đầu rộng khoảng 92,000 km2.

Qua 10 vòng đàm phán hai bên đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp xuống còn khoảng 4,500 km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề nghị huỷ bỏ toàn bộ kết quả đàm phán từ 1978 đến 1992 và đàm phán lại từ đầu.

Không bản-đồ nào được tiết-lộ. Khi muốn biết phải tìm tài-liệu Thái-Lan và Indonesia...

Trung-Cộng vẫn tiếp-tục lấn-áp Việt-Nam.

Sự mất mát hải-phận rất đau lòng. Sự mất mát không tạo hòa-bình cho người dân Việt làm ăn yên-ổn như người CS tính-toán. Trung-Cộng vẫn tiếp-tục lấn-áp qua nhiều hình-thức khác nhau :

- Trung Quốc phản-đối, cản-trở không muốn cho Việt-Nam gọi đấu thầu các lô dầu khí Phú Khánh, ngoài bờ biển Phú-Yên Khánh-Hòa. Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

- Trung Quốc mang dàn khoan KANTAN 3 đến hoạt động tại khu vực có tọa độ 17 độ 26 phút 42 giây Vĩ độ Bắc, 108 độ 19 phút 05 giây Kinh độ Đông, cách bờ biển Việt Nam 63 hải lý, cách bờ biển đảo Hải Nam, Trung Quốc 67 hải lý từ ngày 19/11 đến 31/12/2004. Cũng căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

- Trung Quốc gửi tàu thuyền xâm phạm chủ quyền vùng biển VN. Từ đầu năm 2004 đến nay, riêng Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng đã phát hiện 1,017 lượt tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt-Nam, uy hiếp ngư dân làm ăn trên biển. Trong đó đã gây ra 89 vụ tông va, làm chết và mất tích 23 người, bị thương 6 người, chìm và hư hỏng 10 phương tiện, 12 thúng câu, mất cắp trên 13,000m lưới các loại... Ngoài Đà Nẵng, những vùng duyên-hải khác không biết tình-hình ra sao ? Có lẽ cũng vậy !

Đi tìm Bản-đồ Hải-phận.

Những chuyện lộn-xộn với Trung-Quốc sẽ còn tiếp-tục. Địa-điểm này hay địa-điểm kia có nằm trong hải-phận Việt-Nam hay không ? Chúng ta cần phải có tấm bản-đồ hải-phận mới có thể xác-nhận được.

Công-việc vẽ bản-đồ Đất Nước (kể cả hải-phận) là bổn-phận của chính-quyền. Ngay khi vào học lớp Vỡ lòng hay Đồng Ấu gần trăm năm trước, học trò Việt-Nam nào cũng thấy tấm bản-đồ nước ta trên vách tường. Ranh giới "Đất" như vậy đã có từ lâu, còn ranh-giới "Nước" cho đến hôm nay vẫn chưa ai nhìn thấy !

Mọi tài-liệu về địa-lý, chính-trị, giáo-dục trong nước Việt-nam đều đã xác quyết vùng hải-phận Việt-nam rộng lớn gần l triệu km2 tức gấp 3 lần diện tích đất liền. "Nhà Nước đã và đang cố-gắng vẽ địa-đồ chữ "S nhỏ 329,560km2" cho thêm chính-xác. Bản-đồ chữ "S lớn 1,329,560 km2" và bản-đồ hải-phận Việt-Nam 1,000,000 km2 tức gấp 100 lần vùng biển đã mất cho Trung-Cộng cũng phải cho nhân-dân biết mà cùng nhau bảo-toàn Đất Nước Tổ Việt-Nam."

Truy lùng sách vở tài-liệu, người ta đã tìm thấy một số bản-đồ được vẽ một cách phỏng chừng bởi người nước ngoài. Cá-nhân chúng tôi cũng từng vẽ một số sơ-đồ với các đường ranh giới hải-phận kinh-tế theo những giả-thuyết trong sách "Địa lý Biển Đông với Hoàng-Sa, Trường-Sa".Để chấm dứt bài viết, chúng tôi mạo muội trình-bày một số bản-dồ hải-phận kiểu "giả-thuyết" như vậy và mong mỏi sớm thấy một bản-đồ chính-thức cho quốc-gia.

Những hành động xâm lược của Trung Quốc.

Người phát ngôn của Trung Quốc là bà Chương Khải Nguyệt đã tuyên bố rằng Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với các quốc gia khác trong khối ASEAN, kể cả Việt Nam, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, và đôi bên cùng có lợi. Trung Quốc cho rằng, các nước liên hệ nên tích cực tìm kiếm những phương thức để thực hiện các kế hoạch phát triển chung trong vùng biển Đông. Theo Ông Trần Đức : Hành động và những lời tuyên bố của Trung Quốc cho thấy, một là Trung Quốc ngang ngược, xâm phạm lãnh hải của Việt Nam khoan dầu rồi kêu gọi Việt Nam hợp tác ; hai là Trung Quốc đã dựa trên những thỏa thuận đã được chính quyền Hà Nội ký kết với họ để hành xử quyền hạn của họ. Như thế, lời phản đối của Hà Nội chỉ mang tính chất hình thức để làm dịu sự bất mãn của quần chúng (1). Liệu Hà Nội còn có thể làm được gì thêm để bảo vệ bờ cõi ? Kể cả tấm bản-đồ hải-phận Việt-Nam họ cũng không làm. Tại sao ?

Hà Nội mập-mờ để tiếp-tục bán thêm biển hay sao ?

... phải nhìn thấy trong hành động, kéo giàn khoan xâm phạm thềm lục địa Việt Nam để khoan dầu là một hành động xâm lược.

... phải nhìn thấy trong hành động cấm cản Việt-Nam gọi đấu thầu các lô dầu khí Phú Khánh, ngoài bờ biển Phú-Yên Khánh-Hòa là một hành động xâm lược.

... phải nhìn thấy trong hành động tàu thuyền Trung-Cộng xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt-Nam, uy hiếp ngư dân làm ăn trên biển là những hành động xâm lược.

Muốn giữ được cõi bờ, dân phải giầu, nước phải mạnh ; người dân phải được tham gia quản lý đất nước. Đồng-bào Việt-Nam chúng ta không thể trông cậy vào đảng CSVN vốn dĩ thông đồng với ngoại bang làm hại đất nước.

Chúng ta có thể đề-nghị, thỉnh-cầu các Ông Tổng Bí-Thư Nông Đức Mạnh (vốn là Học viên Trường trung cấp nông lâm, từng vẽ và sử-dụng bản-đồ nông-lâm) với Chủ tịch Trần Đức Lương (2) (từng học sơ cấp, học bổ túc trung cấp địa chất, vốn là họa-viên chuyên-nghiệp của Nhà Nước) vẽ hay chỉ-thị nhân-viên vẽ ngay Bản-đồ hình chữ "S lớn 1,329,560 km2" và bản-đồ hải-phận Việt-Nam 1,000,000 km2 (gấp 3 lần lãnh-thổ) mà các Ông và Nhà Nước đã công-bố từ lâu, trước khi quá muộn.

Sự cần-thiết vận động Dân Chủ cho Việt-Nam.

Chẳng nhẽ đất nước này chỉ của riêng đảng viên Cộng sản Việt Nam hay sao ? Không có đối-lập thì Cộng sản Việt Nam cứ tự-tung tự tác một mình, không cần "sợ" ai hết !

Người Việt Nam cũng như toàn thể nhân-loại có nhu cầu Dân Chủ. Nếu dân được làm chủ đất nước thì dân đương-nhiên bảo-vệ quyền-lợi của dân, của đất nước.

Những nhà trí thức lớn tuổi như Phan Đình Diệu, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê... đã thực sự kinh qua chế độ cộng sản và những thay đổi đầy hung hiểm của nó. Họ thấy chế độ cộng sản và những thoái hóa của nó đã và đang là một trở lực cho bước đi của dân tộc, cản đà phát triển của đất nước, làm khổ toàn dân. Còn giới Trí Thức Trẻ Việt Nam, như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Đỗ Nam Hải, họ đều sinh ra lớn lên trong lòng chế độ Cộng Sản Miền Bắc, đúng ra, họ là thành phần mà cộng đảng hy vọng chọn làm người thừa kế cho chế độ. Nhưng nay, họ đã tỉnh giác, thà để bị chế độ trừng phạt tù đầy, chứ nhất định không chịu thừa hưởng cái gia tài độc tài đảng trị của Cộng Sản, để phải trả giá đối với sự nổi giận của toàn dân. Họ đích thật là tiếng nói đại diện cho toàn thể Trí Thức Trẻ Việt Nam ở trong nước, lớp người đang đứng lên làm lịch sử, và là tiếng nói đại diện cho nhu cầu Dân Chủ của Việt Nam.

Chúng ta, Người Việt Hải Ngoại, đặc-biệt là giới trẻ, cần vận động Toàn Dân và Quốc Tế hỗ trợ những người Trẻ Việt Nam ở trong nước.

Vũ Hữu San

(1) "Làm sao giữ được bờ cõi ?" Trần Đức. (VNN) ngày 18/11/2004, Lên mạng Thứ tư 24, Tháng Mười Một 2004.

(2) Tiểu-sử "Đồng chí Trần Đức Lương" được ghi như sau : Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam

2.1970-8.1975 : Phó Cục trưởng Cục Bản đồ Địa chất, Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Cục.

9.1975-7.1977 : Học Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Bí thư chi bộ lớp.

8-1977-2.1987 : Phó Liên đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ Địa chất, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất (sau đổi là Tổng cục Mỏ Địa chất). Bí thư Đảng ủy Liên đoàn, Ủy viên Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam, Bí thư Ban cán sự đảng Tổng cục. Đại biểu QH khóa VII, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và kỹ thuật của QH. Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt- Xô. Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V.

 

 

Tâm tình nhân dp Giáng Sinh 2004
LM Phan Văn Li - LM Nguyn Hu Gii
(LÊN MNG TH SÁU 24 THÁNG MƯỜI HAI 2004)

KÍNH thưa toàn thể đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,

Kính thưa toàn thể anh chị em Kitô hữu,

Lễ Giáng sinh lại về trên khắp địa cầu. Sứ điệp Giáng sinh đầy hy vọng lại tiếp tục vang lên mọi chốn. Nhưng câu chuyện Giáng sinh đầy tang thương cũng tiếp tục tái diễn ở nhiều nơi, đặc biệt trên đất nước Việt Nam thân yêu và bất hạnh của chúng ta.

 

I- Dù đã trải qua hơn 2000 năm, Đức Giêsu xuống thế làm người vẫn tiếp tục chịu cảnh vơ nơi quê nhà, cảnh khó nghèo cùng cực, cảnh bạo vương đàn áp và cảnh long đong nơi đất khách.

 

1- Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh bơ vơ nơi quê nhà trong những con người Việt Nam -vô vàn vô số- đang sống trên mảnh đất hình chữ S không phải như công dân tự do của một đất nước dân chủ độc lập, thành viên trong một đại gia đình dân tộc yêu thương nhau, nhưng như những thần dân mất hết mọi quyền suy nghĩ, ăn nói, hành động và xây dựng cuộc sống cá nhân theo ý mình, làm chủ vận mạng của mình, đến nỗi không ít kẻ mơ về một vùng đất hứa xa xôi, trong nỗi đoạn trường phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh vơ nơi quê nhà trong những dân tộc thiểu số bị cướp lấy đất đai tổ tiên đã để lại bao đời, bị tước mất đức tin ông bà đã lãnh nhận thuở trước, đến nỗi phải trốn chạy vào rừng sâu. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh vơ nơi quê nhà trong những nông dân nghèo khổ bỏ quê lên thành phố, rời Bắc vào miền Nam để kiếm sống với tình trạng tứ cố vô thân, sức lao động bị bóc lột, nhân phẩm bị khinh rẻ. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh vơ nơi quê nhà trong những cư dân vùng quy hoạch bị giải tỏa cách thô bạo, được đền bù một cách bất công đến nỗi chỉ một sớm một chiều trở thành kẻ không đất không nhà, lang thang đây đó. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh bơ vơ nơi quê nhà trong những nhà đấu tranh dân sự hay tôn giáo, những tù nhân lương tâm bị bằng hữu xa lánh, đồng nghiệp tẩy chay, đồng đạo bỏ mặc, bề trên dửng dưng.

2- Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực trong các con dân đất Việt bình quân không kiếm đủ 2 mỹ kim một ngày, thiếu thốn những phương tiện phát triển, những cơ hội học hành, những hoàn cảnh thuận lợi để tiến thân, những điều kiện cần thiết để xây dựng tương lai cho mình và cho con cháu. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực trong những gia đình điêu đứng vì phải chạy đủ thứ phí vô lý cho việc học, phải bán con đi làm vợ ngoại kiều, làm điếm lân bang, phải gởi thân nhân ra nước ngoài lao động để rồi mắc những món nợ không bao giờ trả nổi. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực trong những sinh viên thiếu ăn và trầy trật kiếm mảnh bằng tốt nghiệp để rồi thất nghiệp vì không đủ tiền bạc mua một chỗ làm ; trong những di dân lao động bị bóc lột tận xương tủy ở nhiều khu chế xuất, xí nghiệp công ty, đến độ phải bán thân, đẻ thuê để kiếm thêm thu nhập ; trong những nhà giáo lương không đủ sống tới nỗi phải bán cả nhân cách của mình qua việc dạy thêm, móc ngoặt. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực trong những con người nghèo nhân phẩm vì bị tước hết mọi nhân quyền cơ bản, chỉ còn quyền xin phép, đút lót và vâng lệnh ; trong những con người nghèo niềm tin vì bị cản trở, hăm dọa trong thực hành tôn giáo ; nghèo độc lập tự do vì bị coi như một cá thể trong một bầy đàn dưới ngọn roi độc tài toàn trị ; nghèo tự hào dân tộc vì đất nước tụt hậu, chính thể thối nát, xã hội nhiễu nhương, đất biển của tổ tiên bị dâng cho ngoại quốc.

3- Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh bạo vương đàn áp trong những thần dân đất Việt đang sống dưới quyền cai trị của những ông vua cũng da vàng máu đỏ nhưng đã mất hết lòng nhân ái, tính liêm chính và ý thức trách nhiệm ; đang nơm nớp lo sợ khủng bố từng ngày, dè dặt trong lời ăn tiếng nói hành động từng giây, vì đủ mạng lưới theo dõi kiểm soát dày đặc của chính quyền, đoàn đảng, công an, quân đội, mặt trận... ; đang bất lực trong việc kêu oan, trình bày lẽ phải, đòi hỏi công lý, vì toàn bộ chính quyền, tòa án, quốc hội, phương tiện truyền thông, lực lượng an ninh đều nằm trong bàn tay thao túng của đảng CS ; đang thấy tương lai u tối vì quyền quyết định vận mạng đất nước và định hướng tiền đồ dân tộc không thuộc về nhân dân vốn bị xem như cỏ rác, thậm chí như nô lệ. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh bạo vương đàn áp trong hàng triệu trẻ thơ bị phanh thây mỗi năm ngay nơi dạ mẹ vì một chính sách dân số áp đặt và tàn nhẫn, trong những nhà đối kháng dân chủ bị bắt bớ vô lý, bị xét xử vô luật, bị giam cầm vô nhân đạo trong những quần đảo Goulag của thế kỷ 21. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh bạo vương đàn áp trong những tín đồ nghe thấy nhà cầm quyền lớn tiếng công bố tôn trọng tự do tôn giáo nhưng thủ sẵn ý đồ thâm độc diệt đạo, như Hêrôđê ngày xưa nhắn ba đạo sĩ tìm cho ra nơi ở của Chúa Hài nhi để cùng đến thờ lạy nhưng thực ra rắp tâm hãm hại Người. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh bạo vương đàn áp trong các lãnh đạo tinh thần vì đòi hỏi tự do cho con người, con Chúa, con Phật mà phải bị vu khống, hăm dọa, cản trở, quản chế, tù đày, ám sát ; trong những tín đồ sắc tộc bị ép uổng bỏ đạo bằng đấu tố cầm giam ; trong những tín đồ Hội thánh tại gia bị đánh nhừ tử chính khi tụ họp cầu nguyện nơi gia đình...

4- Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh long đong nơi đất khách quê người trong những thiếu nữ còn thơ ngây chưa tới 10 tuổi đã bị bắt qua Cam bốt làm điếm tại những động mãi dâm kinh hoàng, trong những thanh nữ thôn quê bị dụ sang Trung quốc, Mã Lai làm việc, sang Đài Loan, Singapore làm dâu, nhưng rồi đã mau chóng bị biến thành những nô lệ lao công, nô lệ tình dục không có ngày về trước sự dửng dưng của của chính quyền quê hương và đại diện ở hải ngoại. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh long đong nơi đất khách quê người trong những thanh niên trai tráng bị lừa đảo sang Indonesia, Hàn quốc, Đài Loan v.v... để thành những tù nhân khổ sai, lao công nô dịch với những món nợ bị gán cách bất công mà có nằm mơ cũng không trả nổi, với những vấn đề an sinh, quyền lợi, thương tật mà những công ty môi giới quốc nội chẳng thèm quan tâm, với những hăm dọa trù dập nếu bỏ trốn chỗ làm, nếu tố cáo kẻ lường gạt, nếu vạch trần tội ác bao che của những kẻ cầm quyền trong nước. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh long đong nơi đất khách trong những Việt kiều đã đứt ruột rời bỏ quê hương yêu dấu, nay muốn trở về đóng góp xây dựng tổ quốc nhưng đụng phải bức tường kỳ thị, ánh mắt nghi ngờ, chính sách lợi dụng và ý đồ bóc lột công sức của họ để phục vụ bè đảng thay vì phục vụ nhân dân ; trong những Việt kiều vì ý thức nhu cầu tự do dân chủ của đất nước, đã lên tiếng hỗ trợ phong trào đấu tranh quốc nội, vận động sự giúp đỡ của quốc tế, nên bị hăm dọa trên quê người và bị cấm ngặt trở về thăm viếng quê nhà thân thuộc.

 

II- Tuy nhiên, sứ điệp Giáng sinh đầy hy vọng vẫn còn đó, vẫn nhắc nhở, mời gọi, vẫn chiếu tỏa, sáng soi.

 

1- Đức Giêsu xuống thế mang thân phận người vì muốn chia sẻ kiếp người, vì mến yêu bản tính con người, vì quyết đề cao phẩm giá loài người. Ngài đã thực sự làm người để mỗi chúng ta được làm người thực sự, với tất cả mọi quyền lợi và nghĩa vụ, với tất cả mọi tiềm lực và khả năng, với tất cả mọi điều kiện và cơ hội. Ngài đã đến nhắc lại ý định tình yêu muôn thuở của Thiên Chúa Cha trên trời là mỗi người phải được sống, sống thực sự, sống tự do, sống dồi dào, sống phát triển trong một cộng đoàn huynh đệ yêu thương giữa một môi trường thiên nhiên phong phú. Ai ngăn cản ý định đầy tình yêu và khôn ngoan đó bằng cách chà đạp nhân phẩm, tước mất nhân quyền, lũng đoạn xã hội, tàn phá môi trường, triệt tiêu cơ hội, không tạo điều kiện cho anh em nên người đúng nghĩa, làm người xứng danh chính là chống lại Thiên Chúa và chống lại con người .

2- Hơn thế nữa, Đức Giêsu xuống thế với tư cách con Thiên Chúa mang thân phận con người để mỗi con người được trở thành con Thiên Chúa. Ngài đã thông phần nhân tính của chúng ta để thông chia cho chúng ta thần tính của Ngài. Ngài đã đến bày tỏ ý định tình yêu kỳ diệu của Tạo Hóa là mỗi người phải được biết Thiên Chúa là cha, mến Thiên Chúa như con, phải được thông ban và có quyền đón nhận sự sống thần linh, sự sống vĩnh cửu, sự sống hạnh phúc, sự sống yêu thương trong một cộng đoàn huynh đệ vĩ đại mang danh Nước Trời, gồm tất cả những ai đang sống ở thế giới bên kia và thế giới bên này. Ngài đã không muốn chúng ta chỉ là con cái của trái đất nhưng còn là con cái của trời cao, nghĩa tử của Thiên Phụ, với tất cả mọi quyền lợi và nghĩa vụ, được cùng Ngài đồng thừa hưởng những phúc lộc chốn thiên đàng. Ngài đã cho biết chúng ta chỉ thực là con người một khi trở thành con Chúa, hạnh phúc của chúng ta chỉ thực là trọn vẹn khi đạt đến Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc. Ai ngăn cản ý định kỳ diệu vĩ đại đó bằng cách tiêu diệt tôn giáo, phá hoại Tin Mừng, trói buộc Giáo Hội, không tạo điều kiện cho anh em nên tín đồ đúng nghĩa, tín đồ xứng danh, không để tự do cho anh em tiến về Đấng Chân Thiện Mỹ chính là chống lại Thiên Chúa và chống lại con người.

3- Trong đêm Giáng sinh, thiên thần đã hát :

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương".

Vinh quang của Thiên Chúa chính là sự bình an giữa nhân loài. Thiên Chúa được vinh danh khi loài người được bình an trong tâm hồn và trong xã hội để sống như một con người và con Chúa phải sống, khi loài người được tự do trong con tim và trong tập thể để phát triển những tiềm năng của mình, để thực hiện những dự định của Thiên Chúa dành cho mình và cho toàn thể nhân loại. Ai tìm cách tiêu diệt bình an và tự do mà Thiên Chúa đã ban như thế, ban cho nhân tâm và ban cho xã hội, bằng cách phá hủy ý thức tôn giáo, sự hướng thượng của lòng người, bằng cách áp đặt những quan điểm vô thần duy vật, gieo rắc khủng bố và hận thù, nô lệ hóa cá nhân và tập thể, thì chính là chống lại Thiên Chúa và chống lại con người.

Kính thưa toàn thể Quý vị, đấy là bấy nhiêu tâm tình mà hai anh em chúng tôi, linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, trong niềm hiệp thông với linh mục Chân Tín và linh mục Nguyễn Văn Lý, xin kính gởi đến toàn thể Quý vị với lời chúc mừng Giáng sinh và Năm mới tốt đẹp nhất.

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Tự do nhân phẩm cho người Việt Nam".

Gởi đi từ Huế ngày 17-12-2004.
Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

 


Nhng Người Kém Ưu Tiên
Phan Kiến Quốc
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Một.

 

Ngày 7/12/2004 vừa qua, ngày khai mạc cúp bóng đá Tiger Cup, bạn tôi từ Mỹ về thăm nhà hí hửng sắp xếp công việc để đi xem trận ra mắt của đội VN đụng Singapore lúc 19g45 tại sân Thống Nhất ở Sàigòn. Lúc đến mới ngã ngửa ra rằng vé đã bán hết sạch từ trước đó cả tuần. Tuy nhiên ở VN cái gì thiếu thì thiếu, chứ vé chợ đen không hề thiếu. Bạn tôi phải bấm bụng bỏ ra 150 ngàn để mua cái vé hạng cá kèo và hớn hở bước vô sân vận động. Tuy nhiên (lại tuy nhiên) ở VN cái gì thiếu thì thiếu, chứ nghịch lý thì không bao giờ thiếu. Bạn tôi hăm hở bước vô và ôi thôi sự thật phũ phàng : không còn chỗ để đứng chứ đừng nói chỗ ngồi. Kiễng chân cho thật cao thì cũng chỉ thấy được cái đỉnh của màn ảnh đại tuyến. Trong sân tiếng cổ vũ inh trời mà mắt mũi chả thấy gì, tức muốn lộn ruột, đành phải bỏ ra về mà vẫn còn tiếc tiền.

Khi về đến nhà thuật lại cho tôi cái nỗi niềm của mình thì tôi phá ra cười :

- Sao ông không rủ tôi đi với ? Thảo nào bị hố là phải.

Bạn tôi vẫn còn sùng máu nạt :

- Hố là hố làm sao ?

- Hết vé cả tuần nay rồi, nên chỉ đá được ít phút là nhân viên nó mở cửa xả dàn với lý do là để đông người cổ vũ cho đội nhà. Tôi thấy nó làm đúng đấy chứ ! Vé in ra bán hết rồi kiểm soát làm quái gì cho mệt,với lại cho tụi nhóc vô còn được mang tiếng dễ dãi.

- Dễ với chẳng dễ, thế thì ông trả lời sao cho những người mất tiền mua vé chợ đen rồi phải về nhà coi ti vi như tôi. Tôi thấy dễ dãi như thế là mất công bằng.

Tôi chột dạ. Thằng này nói đúng ! Ở vị trí của nó mình cũng sẽ phải nghĩ như vậy. Vốn là dân ghiền bóng đá nhưng chỉ trên ti-vi nên tôi hoàn toàn không biết những mánh của bọn đầu cơ vé Ềmóc ngoặcỂ với bọn kiểm soát vé. Khi đi hỏi tới nơi tới chốn thì mới ngã ngửa ra là mình quá ngây thơ : Vé in ra đã được tuồn ra ngoài ngả chợ đen kiếm chác và chung chi với khâu phân phối. Kiểm soát viên thì móc ngoặc để thu tiền mặt và đưa người của mình vào chứ chẳng có thằng nhóc nào vào đây cả nên mới xảy ra tình trạng vé (chợ đen) thì còn nhưng chỗ thì hết. Sự phi lý lại càng được khuếch đại hơn khi sân Thống Nhất là sân chỉ xếp chỗ ở khán đài A còn hạng cá kèo thì ngồi trên thềm, có nghĩa là trên nguyên tắc số người mua vé (kể cả vé chợ đen) phải ít hơn số vé in ra. Vậy mà không có chỗ chen chân thì số tiền đám soát vé bỏ túi quả không ít. Vừa có người cổ vũ, vừa có tiền, vừa mang tiếng dễ dãi... chỉ chết mấy thằng mua vé đàng hoàng. Đáng giận là phải.

Nhưng suy cho cùng. Đây không phải là trường hợp duy nhất để người ta phải nổi khùng. Trong xã hội VN những thí dụ như thế đầy rẫy, một ngày một nhiều và ngày càng trầm trọng hơn.

 

Hai.

 

Cũng cách đây ít lâu một người em bị xe đụng. Kẻ gây tai nạn vừa lạng lách vừa chạy ngược chiều. Hắn ta nhăn nhó tỏ ra đau đớn và xin lỗi em tôi rồi bỏ đi mặc cho em tôi và chiếc xe trầy sướt khắp nơi.

- Thế em không bắt nó bồi thường à ?

- Ở đây không có chuyện đó. Mọi người chỉ giải quyết bằng cách "hòa giải" như thế thôi ! Chẳng thấy có ai kiện cáo gì cả.

Lúc ấy tôi thấy quả cách cư xử "nhân trị" như thế thật hay. Vì với số lượng tai nạn như ở VN, sẽ chẳng có tòa án nào giải quyết nổi. Mặt khác, cách giải quyết "huề cả làng" như thế phản ánh cái bản tính xuề xòa của người mình. Nhưng bây giờ xét cho cùng thì phương thức "chín bỏ làm mười" này lại không hay, đặc biệt là trong một xã hội như VN.

Kiều bào về VN thăm nhà không ai không khỏi khiếp đảm về cung cách đi đứng của người mình. Có lẽ trên thế giới không có một nước nào trên thế giới người ta có thể ung dung đi ngược chiều với tốc độ kinh hoàng như ở VN. Hàng ngày trên báo đều có đăng tai nạn giữa hai xe mô tô chạy ngược chiều, và thường là dẫn đến tử vong. Có sống được cũng tàn phế suốt đời. Vậy mà khi có tai nạn chỉ giải quyết kiểu "nhân bản", kiểu "xuề xòa" như thế thì làm sao giảm được tai nạn ? Giải quyết kiểu như thế chỉ tổ khuyến khích những người chạy ngược chiều, vượt đèn đỏ ... vì không có biện pháp nào xử lý họ, và rốt cuộc là những người chân chính như anh bạn xem bóng đá của tôi là từ thua tới thiệt. Quả đúng là dễ dãi kiểu này càng nuôi dưỡng bất công và làm cho xã hội và dân trí ngày càng thấp đi.

Không chỉ xuề xòa trong các tại nạn lưu thông, mà ngay trong những va chạm trong đời sống thường ngày cũng thường được giải quyết theo con đường hòa giải vì tâm lý ai cũng sợ kiện tụng. Vừa mất thì giờ lại vừa tốn kém. Hay nhất là tự thương lượng với nhau. Nhưng phương cách này chỉ tốt trong một xã hội có tầm ý thức công dân cao, khi hai bên tranh chấp không cố ý vi phạm. Chẳng hạn như cố ý xâm chiếm lộ giới, xâm chiếm đất đai rồi đòi giải quyết qua con đường thương lượng với thâm ý vòi tiền nạn nhân. Chứ còn xử lý hòa giải trong một xã hội như nước mình thì chỉ tổ gây thiệt hại cho người chân chính.

 

Ba.

 

Một trong những vấn đề gây nhức nhối cho việc quy hoạch đô thị là tình trạng xây dựng trái phép tràn lan. Đây là một thí dụ điển hình của việc dễ dãi tạo ra bất công lớn nhất trong xã hội. Khởi đầu trong một con hẻm thông, thoáng, một vài người có hoàn cảnh khó khăn đến xin đặt một cái chòi nơi đầu hẻm bán thuốc lá lẻ, bán nước giải khát ; lâu dần họ xin phép quây cái "quầy hàng" ấy bằng những vật liệu nhẹ để ngủ luôn ở đấy khỏi phải đi lại phiền toái. Và sau cùng năm này qua tháng nọ họ "mua đứt" lại cái không gian ấy để xây một căn nhà cho dù chiều rộng chỉ hơn 2 mét qua chủ trương hợp thức hóa đất đai của nhà nước.

Nghe qua thì quả là một chính sách nhân đạo, nhưng con hẻm bỗng nhiên hẹp mất 2 mét vì tất cả nhà trong con hẻm ấy đều đồng loạt cơi nới ra (anh làm được tội gì tôi không làm). Vì thế có nhiều con hẻm còn hơn 1 mét để qua lại ! Khi có hai người đi mô tô, một người phải nhường. Nếu có hỏa hoạn thì chỉ có nước ôm nhau mà chết. Nạn nhân đầu tiên của chính sách này là những người đầu hẻm, nơi quán cà phê ngày nào xin tá túc, bỗng nhiên bị mất vị trí tốt nhất là cạnh một con hẻm khang trang.

Bây giờ trong hơn 1000 con đường trong Sài Gòn, tính đổ đồng 10 ngàn con hẻm, đố có tìm được một hẻm nào không xảy ra tình trạng lấn chiếm như trên. Bây giờ có muốn trở lại tình trạng đầu vừa khó vừa tốn vì phải bỏ tiền ra đền bù cho những quán nước tự phát và đã được hợp thức hóa đó. Với tình trạng "tấc đất tấc vàng" hiện nay, đây là một số tiền không nhỏ trong ngân sách, đó là chưa kẻ biết bao xáo động trong xã hội có thể xảy ra nếu trở lại tình trạng trước năm 1975. Đúng là chỉ dễ dãi mà hậu hoạn khôn lường. Những quan chức đã nhận tiền hợp thức hóa đã cao bay xa chạy, những người khố rách áo ôm thuở nào cũng sang lại căn chòi đi nơi khác, chỉ có những người chân chính, cả đời tôn trọng luật pháp là khổ.

 

Bốn.

 

Trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học hàng năm, rất nhiều cảnh ngộ đáng thương đã xảy ra. Nhiều em học xanh máu mặt nhưng rớt vì chỉ thiếu 1 điểm, thậm chí nửa điểm trong khi nhiều em khác thiếu 2, 3 điểm nhưng thuộc diện ưu tiên nên lại được chấm đậu. Đây lại là một thí dụ của sự ưu đãi đưa đến tình trạng bất công trong xã hội VN.

Chính sách ưu đãi này đã có từ năm 1945 tại miền Bắc và 1975 tại miền Nam. Có 7 đối tượng ưu tiên gồm : người dân tộc thiểu số, gia đình liệt sĩ, gia đình thương binh (1), gia đình bà mẹ VN anh hùng (2), gia đình anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, gia đình vùng sâu vùng xa. Những tiêu chuẩn này không có tính loại trừ, cụ thể là nếu vừa trong một gia đình liệt sĩ, ở vùng sâu, vừa là người dân tộc có thể được cộng thêm tới 6 điểm. 6 điểm trên điểm tối đa là 30 thì quả là quá lớn. Cụ thể là nếu điểm quy định đậu (được gọi là điểm chuẩn) là 23/30, thì một em không thuộc các diện ưu tiên trên có 22,75 cũng rớt, và một em chỉ có 17 điểm nhưng thuộc diện ưu tiên cũng đậu. Có trường hợp điểm chuẩn chỉ 15/30 thì với điểm ưu tiên, một em chỉ 9 điểm (dưới trung bình 5 điểm) cũng đậu, và dĩ nhiên qua đó một em 14,75 không thuộc diện ưu tiên cũng rớt. Đây quả là một bất công to lớn vì nó đã loại ra biết bao học sinh giỏi.

Điều đáng nói thêm là rất nhiều em đậu trong diện ưu tiên này đã được "ra trường sớm" vì học kém, vì kỷ luật. Đại đa số là con nhà "công thần", con nhà thuộc dạng 5C (3), mang tính ỷ lại vào gia đình, không quen cố gắng. Những chỗ trống này lại không được tuyển thêm vì đã vào năm thứ 2. Các em bị loại vì thiếu nửa điểm nơi đầu vào lại có lý do để thất vọng thêm.

Đã từ lâu, rất nhiều kiến nghị đến từ các nhà giáo lẫn các bậc phụ huynh yêu cầu sửa đổi (chứ không hủy bỏ) quy định này. Theo họ, chỉ nên cấp học bổng và phương tiện cho các diện ưu tiên này có thêm điều kiện học tập chứ không cộng thêm điểm, mà nếu có cộng thì cũng tối đa 2 điểm.

Các kiến nghị chính đáng này đều rơi vào khoảng không ! Vì các thế lực bảo thủ, các đầu óc "công thần" vẫn còn quá mạnh. Dựa vào lý luận phải ưu đãi cho những người có công, dựa vào bản chất nhân hậu phải ưu đãi cho người nghèo, rốt cuộc lại loại ra ngoài biết bao nhân tài, nếu không muốn nói là tiếp tục đào tạo những con người tiếp nối "con đường hại dân hại nước".

***

Trong 4 mục kể trên, giải quyết mục số 1 là khả thi nhất. Tuy nhiên căn cứ vào những gì xảy ra năm ngoái tại SEA Games, và mới đây tại sân Thống Nhất, người ta ai ai cũng nghĩ là sẽ không thể cải tiến trong tương lai gần. Cũng như mọi người, ai cũng mong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như báo, đài vẫn thường nhắc đến hàng ngày. Trong ba mục tiêu trên, tôi thật sự không biết phải chọn mục tiêu nào khả thi nhất vì có lẽ chúng liên kết với nhau như một bộ phận không thể tách rời.

Trong khi chờ đợi ngày ấy, tôi chỉ có cái ước vọng nhỏ nhoi là trở về con hẻm nhỏ bé của tôi một cách lành lặn. Nơi ấy các con của tôi vẫn còn đang phấn đấu để vượt qua thân phận kém ưu tiên của gia đình.

Sài Gòn, 8/12/2004
Phan-Kiến-Quốc

(1) : dĩ nhiên là thương binh cộng sản, chứ thương binh chế độ VNCH thì trừ thêm thì có.
(2) : phụ nữ có chồng, con chết trong chiến tranh (dĩ nhiên cũng phải là phía cộng sản).
(3) : có nghĩa là Con Cháu Các Cụ Cả.

 


T Hào Là Người Vit Nam ?
Nguyễn Sáng
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ trước cha mẹ tôi phải chạy gần hết của cải trong nhà để cho tôi được Đảng và Nhà nước cử sang nước CHDC Đức anh em để lao động và học tập, trau dồi kiến thức để sau này về Tổ quốc góp phần xây dựng và bảo vệ nước VN XHCN. Hòi đó tôi cũng như những thanh niên VN khác vẫn còn bừng bừng khí thế, say sưa trong hào quang chiến thắng, tự hào là người VN vì đã đánh bại ba đế quốc lớn, sừng sỏ nhất thế giới là thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ. Cứ theo đà này, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng sẽ đưa nước ta từ thắng lợi này sang thắng lợi khác thì theo như Đảng ta nhận đînh (thời điểm 75-76) chúng ta trong 10 năm sẽ phát triển vượt Liên xô và sau 20 năm sẽ vượt Nhật.

Khi sang đến nước bạn, những tưởng bạn bè Đức tiếp đón long trọng những người bạn VN anh hùng với tấm lòng bốn phương vô sản đều là anh em đòng chí vì chúng ta đã hoàn thành sứ mạng lịch sử bảo vệ oanh liệt nước VN và cả phe XHCN. Nào ngờ mọi cuộc đón tiếp đều ở mức độ xã giao bình thường, không ca tụng không tung hứng.

Từ đấy tôi bắt đầu cụt hứng và khi có chút tiếng Đức cơ bản tôi bắt đầu quan tâm đến những vấn đề xã hội của Thiên đường XHCN này. Qua các tài liệu và bạn bè Đức tôi được biết trong lòng xã hội Đức còn vô số những vấn đề mâu thuẩn, bê bối, người dân có cả kho truyện tiếu lâm nói về chế độ XHCN, nói về chính phủ, về lãnh đạo, ông Erich Honnecker, về bầu cử... Dần dần tôi được biết chả thấy ba dòng thác cách mạng đâu mà chỉ thấy những cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary, của mùa Xuân Praha, của nhân dân Đông Đức, của công đoàn Đoàn Kết Ba Lan. Những cuộc nổi dậy này đã bị đàn áp ít nhiều đẫm máu. Bản thân người dân Đông Đức thấy đòng D-mark thì thèm nhỏ rãi, mua được bánh xà phòng thơm trong Intershop là chỉ có trong giấc mơ. Đến đây tôi bắt đầu ngờ vực tính ưu việt của CNXH mà nếu tôi vẫn ở VN thì chắc chắn là vẫn còn mơ hồ.

Trong thập niên 80, VN đưa ồ ạt người sang CHDC Đức làm lao động thuê, nhiều đến nỗi có người nói vui là bất cứ một làng nào có dân số từ 100 người và 10 con bò trở lên là sẽ có mặt người lao động VN tại đó, đông đến nỗi tôi không muốn ra đường để làm đông thêm nữa. Theo chân với những người lao động này là các tệ nạn xã hội, các thói hư tật xấu đi cùng như : buôn lậu, trộm cắp, sát phạt, trấn lột nhau, mua hết những hàng hóa khan hiếm ở các cửa hàng, từ đó người Đức bắt đầu khinh ghét người VN.

Thời gian này tôi được về thăm gia đình ở VN, sau mấy năm xa nhà, xa quê hương, cả chặng đường bay hồi hộp, nao nức sắp được gặp bố mẹ gia đình làng xóm quê hương. Xuống đến sân bay, mấy đồng chí công an, hải quan gầy gò đen đủi mặt khó đăm đăm hành cả tiếng đòng hồ, khi mời các anh hút tạm cây thuốc lá thì mới được cho ra. Gặp bố mẹ rơi nước mắt vì chỉ mới mấy năm mà bố mẹ già đi nhiều quá, khắc khổ quá, dọc đường về làng quê tiêu điều, trâu bò vêu vao trên đường quốc lộ, nước mắt tôi lưng tròng thương bố mẹ quá, thương quê hương quá.

Về đến nhà gia đình mừng mừng tủi tủi, con chó chắc đói quá đứng không vững phải tựa hông vào chân cột nhà mới sủa to được mấy tiếng mừng người đi xa về. Thắm thoát đã hết thời gian thăm nhà tôi lại sang Đức làm nốt nhiệm vụ.

Cuối khóa học cũng là lúc Đại Hội Đoàn toàn Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Sau mấy ngày tham luận, báo cáo, kiểm điểm, khen thưởng, học tập nghị quyết và thể thao, buổi cuối người bí thư chi bộ mang về cho mỗi đoàn viên một bản kiểm điểm cá nhân,trong đó mỗi người tự nêu ưu khuyết điểm của mình trong thời gian qua và phương hướng rèn luyện trong thời gian tới. Lần này ngoại lệ có thêm một câu hỏi cuối cùng là : Đồng chí có tự hào là người VN không ? Đồng chí bí thư chi bộ giải thích thêm là cứ nói thẳng nói thật những ý nghĩ của mình lãnh đạo sẽ không truy cứu trách nhiệm, đây chỉ là câu hỏi phụ thôi. Tôi thật thà làm đúng những điều trăn trở bấy lâu của tôi và đã gạch vào ô không rồi đem nộp lại. Tưởng như vậy là xong nào ngờ buổi chiều họp tổ đồng chí bí thư chi bộ răn đe rằng trong mấy trăm đoàn viên thì chỉ có một đoàn viên trong tổ ta trả lời là không tự hào là người VN, tổ chức sẽ xem xét sau. Tôi lạnh cột sống nghĩ rằng chắc là mình sẽ bị kỷ luật đây. Sợ quá từ đó tôi im thin thít, không dám nói gì nữa. Cũng may là mọi việc dừng lại ở đó và tôi không bị kỷ luật. Chắc cũng có nhiều người chửi tôi là ngu, ăn cháo đá bát, là không hiểu lịch sử hào hùng của dân tộc ta nhưng tôi cũng chấp nhận vì đó là ý nghĩ của tôi (và chắc còn của một số người nữa) trong thời điểm đó, trong hoàn cảnh đó.

Không tự hào tức là xấu hổ là người VN. Đúng tôi đã xấu hổ. Không xấu hổ làm sao được khi trên các phương tiện giao thông công cộng có đến 2/3 hành khách là những người đồng hương tôi, nói năng oang oang, cử chỉ mất lịch sự, trên tầu nằm ngủ dài trên ghế, gác cả giầy dép lên chổ ngồi, mồm há to ra ngáy khò khò... không ý tứ, để ý gì đến hành khách đi cùng.

Không xấu hổ làm sao được khi các đồng hương tôi mang chăn len ra ngủ xếp hàng trước cửa hàng xe máy, xe đạp từ hồi tối hôm trước để hy vọng ngày mai cửa hàng có thể có một vài chiếc xe bán ra thì mình là một trong những người may mắn được mua còn những người ngủ sau mình thì phải về tay không.

Không xấu hổ thì tại sao khi những người nước ngoài hỏi : anh là người nước nào ? thì không riêng gì tôi mà nhiều người đều trả lời là người Nhật, người Hàn quốc hoặc người Trung quốc.

Không xấu hổ làm sao được khi sau này người VN ta ở Đức lập ra các băng đảng mafia để trấn lột nhau, để chia thị trường buôn thuốc lá lậu ? Năm 1996, cảnh sát đã phát hiện ra xác của 5 thanh niên VN bị xử bắn trong một căn hộ ở Berlin. Đây là vụ thanh toán nhau giữa các băng nhóm mafia và chỉ là phần nổi của núi băng. Đài truyên hình Đức đưa tin đây là tội ác dã man nhất xảy ra ở Đức từ sau thế chiến thứ 2. Chưa thấy một cộng đồng nước ngoài nào lại xử nhau như cộng đồng người VN ở đây.

Không xấu hổ làm sao được khi nước nhà còn biết bao nhức nhối, đau lòng, khi đạo đức xã hội suy đồi, xuống cấp trầm trọng, tham nhũng lộng hành, ăn chơi trác táng trụy lạc, lãng phí trong khi đại bộ phận dân chúng vẫ đói khổ. Có xã hội nào mà chức to ăn to, chức nhỏ ăn nhỏ, chia bè kéo phái công khai mua bán chức quyền bằng cấp. Tổ trưởng tổ chống buôn lậu lại là trùm buôn lậu (Phùng Long Thất). Đội trưởng đội chống buôn ma túy thì là trùm buôn ma túy (Vũ Xuân Trường). Ngành công an để trấn áp tội phạm thì cấu kết với xã hội đen để ăn chia (Vụ Năm Cam). Trong ngành tòa án thì nếu có đủ tiền thì sẽ chạy được tội. Ngành y tế và giáo dục là hai ngành mà VN trước đây tự hào nhất là không mất tiền, được nhà nước bảo trợ hết thì bây giờ bê bối nhất, nhiều gia đình không đủ tiền cho con đi học hoặc không đủ tiền trả viện phí. Không xấu hổ làm sao được khi tôi là người Việt Nam 100% mang hộ chiếu của Bộ ngoại giao VN cấp vẫn còn hạn mà về nước lại phải lên sứ quán xin (mua) thị thực để được về nước, có khác gì trước khi về nhà ta phải qua ông trưởng thôn để xin phép : Bác cho tôi về nhà tôi.

Không xấu hổ làm sao được khi xã hội thì tối tăm tương lai thì mù mịt mà người VN ta hoặc là cố tình hoặc là ngu dốt không biết vẫn làm ngơ, nhất là thanh niên VN, trí thức trẻ ; ở đâu, làm gì mà không lên tiếng, không trăn trở với vận mệnh của đất nước. Ta có đáng xấu hổ với tổ tiên của ta không ? Người thanh niên trẻ Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt giữa đường vì trăn trở cách đánh giặc bảo vệ nước mà lính dọn đường cho vua đi lấy giáo đâm thủng đùi vẫn mãi mê suy nghĩ vẫn không biết ( cảm kích vì ý chí của người thanh niên, vua đã trọng dụng và ông sau này đã trở thành tướng tài của nhà Trần. Bây giờ thì chỉ việc công an dẹp đường cho đày tớ của dân đi mà không chạy nhanh cũng đủ để ra tòa với tội danh - chống lại người thi hành công vụ - chưa kể dám trăn trở với việc ta mất đất mất biển cho Tàu.

Không xấu hổ làm sao được khi thanh niên VN ta vẫn còn mãi đua xe máy, mãi ăn chơi sành điệu, du lịch giao lưu, mãi làm giàu theo lời Đảng gọi, nhiều người thì chạy trốn thực tế bằng cách hút hít. Thật xấu hổ khi thanh niên, trí thức trẻ không dám gánh vác trách nhiệm đấu tranh đòi dân chủ, cải tổ xã hội hiện nay mà để cho các bậc cha chú thuộc tuổi - thất thập cổ lai hi - như các ông Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Dũng Tiến, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu ... đi đòi dân chủ cho chúng ta và phải chịu đọa đày, cầm tù. Tuổi của các ông đáng lẽ phải được ngã lưng ở salon đọc báo, vui với cháu chắt nội ngoại, xem con cháu điều hành quản lý đất nước.

Giới trẻ hiện nay cần học lại các bài "Tuyên ngôn độc lập" của Lý Thường Kiệt, "Hịch Tướng Sĩ" của Trần Quốc Tuấn và "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi.

Trên đây là một số lý do làm tôi mất lòng tự hào là người Việt Nam trong mấy thập niên qua. Nhưng trong vài năm gần đây, từ ngày các nhà lão thành cách mạng, những nhà trí thức có tâm huyết với đất nước đã bất chấp những thiệt thòi cho bản thân, gia đình, không chùn bước trước đàn áp giam tù, anh dũng lên tiếng đòi tự do dân chủ cho xã hội.

Nhất là từ ngày những trí thức trẻ tuổi như các anh Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình ... dám lên tiếng đấu tranh cho tự do dân chủ, cho sự vẹn toàn của đất nước, thẳng thắn trình bày những trăn trở của mình với những người lãnh đạo đất nước, không hề suy tính thiệt hơn về kinh tế, không sợ bị bôi nhọ danh dự, không sợ bị trù dập và không nghĩ đến cả sinh mạng của mình. Từ đó tôi cảm giác trong tôi có cái gì đó đang được ấp ủ, âm ỉ, đang chuẩn bị được hình thành và đang sắp cháy thành một ngọn lửa. Ngọn lửa này tôi tin rằng sẽ là ngọn lửa của niềm tự hào dân tộc mà trước đây nó bị tắt rụi trong tôi. Hiện tại trong tôi vẫn còn nhen nhóm chưa bùng lên thành ngọn lửa, nên nếu không được che chắn, nâng đỡ, thổi lên thì rất dễ bị tắt nên tôi hy vọng càng ngày càng nhiều thanh niên, trí thức VN tham gia vào việc gánh vác vận mệnh đất nước, trách nhiệm đấu tranh cho tự do dân chủ để thanh niên ta không phải xấu hổ với tổ tiên, với những người đã khuất, để lịch sử không phỉ nhổ chúng ta là một thế hệ thanh niên bạc nhược, coi việc ăn chơi phè phỡn, trác táng và kiếm tiền hơn cả việc cứu xã hội thoát khỏi lầm than áp bức, và sau cùng là để điều ấp ủ trong tôi cháy bùng thành ngọn lửa, ngọn lửa của lòng tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống oai hùng của dân tộc ta, tự hào về thế hệ trẻ hiện nay biết noi gương cha ông trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

Nguyễn Sáng

 

 

Tn Mn V S
Trần Trung Đạo
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Trong năm 2004, có thể ít có buổi phỏng vấn nào gây nhiều xôn xao trong dư luận hơn buổi phỏng vấn của ông Nguyễn Xuân Hiển, Tổng Giám đốc Vietnam Airlines dành cho đài BBC hôm 8 tháng 12 vừa qua. Trên mạng lưới Internet, hàng trăm trang Web, trong và ngoài nước đều qua cách này hay cách khác, nối âm buổi phỏng vấn dài năm phút này.

Khi được hỏi tại sao Vietnam Airlines lại không mở tuyến đường bay Việt Mỹ cùng lúc với United Airlines, ông Hiển, một cán bộ ngang cấp Thứ trưởng và đảm nhiệm một chức vụ rất nặng về ngoại giao, trả lời : "Bởi vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa thích".

Không giống như những ngày đầu với hàng trăm điện thư gởi đến đài BBC, đa số để bày tỏ sự bất bình trước cách trả lời "hơi thiếu văn hóa đấy" (chữ của ông Nguyễn Xuân Hiển), hôm nay, nội dung buổi phỏng vấn đã trở thành chuyện vui cười hè phố. Ít ra, sau nỗi buồn Tiger Cup bị Indonesia đá bại ba bàn trắng, dân Việt trong những ngày cuối năm có một chuyện khôi hài để kể nhau nghe.

Câu trả lời "Bởi vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa thích", đã không còn làm nhiều người giận dữ, trái lại, tôi tin sẽ sớm trở thành những câu trích dẫn được dùng quen thuộc trong quần chúng. Tối nay, nếu vợ của anh chàng nghiện ngập nào đó nổi giận khi thấy chàng ta đang vịn cửa vào nhà : "Tại sao anh không chịu cai rượu ?" anh chồng đã có cách trả lời : "Bởi vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa thích". Tương tự, chiều nay, nếu vợ một nhà thơ nào đó cằn nhằn "Tại sao anh không đi kiếm việc làm, suốt ngày ngồi đó mà thơ với thẩn ?" nhà thơ cũng đã thủ sẵn câu thần chú "Bởi vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa thích". Trước ngày 8 tháng 12, trả lời như thế có thể dẫn đến "tan đàn xẻ nghé" hay ít nhất cũng vác chiếu ra hè ngủ, hôm nay lại là một lối thoát vui vẻ cả nhà.

Khi nghe buổi phỏng vấn lần đầu, tôi rất giận. Tôi có cảm tưởng ông Nguyễn Xuân Hiển không chỉ mắng anh chàng phóng viên BBC mà còn ám chỉ luôn đến cả những người Việt, trong đó có tôi, vì "xa tổ quốc" nên "thiếu văn hóa". Tuy xa tổ quốc thật nhưng tôi không bao giờ quên học hỏi, thậm chí còn học được nhiều hơn so với lúc ở nhà. Tôi cũng rất ghét những người dùng tổ quốc như chiếc đòn kê, đụng một chút là nhân danh tổ quốc. Khi các ông quan giương cao ngọn cờ tổ quốc cũng là lúc tai họa sắp sửa đổ xuống đầu nhân dân.

Khi nghe lần thứ hai, cơn giận trong lòng tôi lắng xuống bớt một chút. Tự nhủ mình cũng nên nhìn mọi góc cạnh khi đánh giá một vấn đề. Biết đâu hôm ấy ông Tổng Giám đốc có quá nhiều việc khó khăn phải giải quyết trong ngày, hoặc có chuyện không vui nên "giận cá chém thớt" đó thôi, không nên dùng một trường hợp, một sơ sót để suy diễn cho cả sự nghiệp của một người. Tôi hy vọng đó chỉ là một trường hợp cá biệt, bởi vì nếu mỗi ngày hay mọi buổi phỏng vấn ông đều ăn nói như thế thì Vietnam Airlines còn ra thể thống gì. Dù sao, ông Hiển cũng là người như tôi với tất cả đặc tính vui buồn, thương ghét. Ngày mai sau khi nghe lại, ông sẽ gọi điện thoại hay gởi điện thư xin lỗi anh chàng phóng viên tội nghiệp kia. Nói chung, sau hai lần nghe, tôi thông cảm với ông nhiều hơn là gay gắt.

Tuy nhiên sau khi nghe lần thứ ba, cơn giận giảm xuống rất nhiều sau khi khám phá ra bí mật làm cháy bùng lên cơn giận dữ trong ông Tổng Giám đốc. "Thì ra là vì chữ sợ", tôi tự nói với mình như thế. Anh chàng phóng viên đài BBC vô tình ném cây diêm vào luồng nhiệt khí đang luân lưu trong ý thức ông. Quả thật là như vậy. Nếu anh phóng viên hỏi rằng "Ông không ngại (thay vì sợ) sẽ cạnh tranh với những hãng rất là sừng sỏ trên thế giớỉ" thì có thể ông Tổng Giám đốc không nổi trận lôi đình lên như thế. Lỗi là tại anh ta nhắc đến một mối ám ảnh, ai cũng mang nặng trong lòng nhưng ít người có can đảm nói ra : Sợ.

Hẳn nhiên không phải lỗi tại anh phóng viên và cũng chẳng lỗi riêng gì của ông Tổng Giám đốc. Sợ là căn bịnh chung của thời đại. Giống như ánh sáng tuy không phải là lý do của bịnh đau đầu kinh niên nhưng mỗi khi bệnh nhân bước vào căn phòng quá sáng hay đèn bật sáng bất ngờ, cơn nhức đầu lại bừng bừng nổi dậy. Anh phóng viên đã bật đèn sáng không đúng lúc nên vô tình làm cho nỗi lo sợ đang đè nặng trong tâm thức của những người lãnh đạo Việt Nam và cũng là một bệnh trạng của xã hội Việt Nam nhiều chục năm nay, chợt bùng lên và phát cháy.

Trong nước, từ một em bé tiểu học cho đến một cán bộ đảng hồng như ráng trời chiều đều có ít nhiều vi khuẩn sợ trong người. Từ những bài tập viết văn cho đến các tiểu luận, biên khảo vẫn nặng phần trích dẫn. Thậm chí trong một bài viết vỏn vẹn hai trang đã hơn một nửa là trích dẫn những câu kinh điển do các "lãnh tụ anh minh" để lại. Trích dẫn không phải để chứng minh cho cái đúng hay che giấu cái dốt của mình, mà quan trọng hơn là để an tâm. Trong nhiều trường hợp, những câu trích dẫn lại không ăn nhập gì vấn đề tác giả đang bàn. Trong buổi họp, nếu ai lên tiếng phàn nàn, phản đối trước một đề nghị nào đó, người chủ tọa chỉ cần dọa "một lần đề nghị đó cũng chính là ước vọng của lãnh tụ anh minh", tức khắc sự phàn nàn dù không ai khuyên răn cũng xẹp đi như chiếc bong bóng xì hơi.

Thói quen dựa hơi những người được trao cho quyền "bất khả xâm phạm" trong xã hội, dù còn sống hay đã chết, cũng đều từ sự sợ hãi mà ra. Thói quen đó đã theo thời gian phát triển thành một cố tật trong sinh hoạt văn hóa xã hội tại Việt Nam. Bịnh sợ hãi còn gây ra hai biến chứng trầm trọng khác là nịnh bợ và đổ thừa.

Tôi nhớ có lần đọc một bài viết của một giáo sư trong nước viết về tình thương theo kinh Pháp Cú nhưng lại cố tình nhét cho được vài câu nói của Lenin vào trong bài viết. Một tham luận hết sức nghiêm túc bỗng dưng thành rẻ tiền chỉ vì sự nịnh bợ một cách vô ý thức của tác giả. Trong các bài tự phê bình chính thức hay không chính thức, những lý do khách quan bao giờ cũng nhiều hơn chủ quan. "Chậm tiến là vì", "nghèo đói là vì", "tham nhũng là vì", ..., nhưng tuyệt nhiên không có cái vì nào trong số đó là lỗi của mình.

Sợ là một ý thức hiển nhiên gắn liền với số phận con người. Sợ sống, sợ già, sợ đau, sợ chết, nói chung, sợ tất cả những hiện tượng mà con người luôn phải đối đầu nhưng chưa giải thích được bản chất của chúng. Tôi không biết nhiều về các tôn giáo khác nhưng trong Phật Giáo bản chất của sợ hãi được nhắc nhiều mỗi khi bàn về thuyết Vô Ngã. Vạn vật không có gì là thường trụ và bất biến, tất cả đều do nhân duyên sinh khởi, đến và đi theo luật vô thường. Ta đến với hai bàn tay không và ra đi cũng thế. Cái trong ta mà còn không phải của ta thì tại sao phải tiếc thương, lo lắng, sợ hãi cho những cái không phải của ta.

Trong lãnh vực tâm lý, theo Krishnamurti, sự sợ hãi còn phát xuất từ mặc cảm, và mặc cảm lại là kết quả của sự so sánh. Ông viết : "Cho nên trong cuộc đời chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân vật hay trở thành người vô danh, thì cũng vậy. Tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kỵ, thói ghen tị, căm thù." (On Fear, Krishnamurti, bản dịch của Danny Viet). Tâm lý đó, áp dụng vào trường hợp ông Hiển, chính là mặc cảm bắt nguồn từ việc so sánh giữa tài sản khiêm nhượng của công ty ông với 7 chiếc Boeing và 12 Airbus, với nguồn vốn khổng lồ của các hãng hàng không quốc tế.

Trong lúc sự sợ hãi là một phần của số phận con người như vừa trình bày, nó chỉ trở nên tai họa tập thể khi mức sợ hãi phát triển thành một bịnh trạng của cả xã hội, tồn tại như một phần của đời sống văn hóa dân tộc, gây nên những phản động lực cản trở sự phát triển tinh thần của con người và ngăn chận sự thăng tiến của xã hội.

Trong lịch sử của nhân loại thời cận đại, xã hội Liên Xô dưới thời Stalin và Bắc Hàn trong thời Kim Nhật Thành, có thể được xem là những nơi căn bệnh sợ hãi đã bị xã hội hóa đến mức độ gần như toàn diện.

Dưới chế độ toàn trị của Stalin, con người thấy chung quanh họ không có ai là bạn mà chỉ toàn là kẻ thù, kể cả cha mẹ, vợ chồng, anh em, bè bạn. Đảng có kẻ thù của đảng, nhà nước có kẻ thù của nhà nước, nhân dân có kẻ thù của nhân dân. Solzhenitsyn đã viết trong "The Gulag Archipelago" : "Bất cứ một người lớn nào trong quốc gia này, từ một nông dân hợp tác tập thể cho đến một ủy viên bộ chính trị đều biết rằng chỉ cần một lời nói hay một cử chỉ thiếu thận trọng, ông ta sẽ vĩnh viễn rơi xuống đáy vực ngay." (Any adult inhabitant of this country, from a collective farmer up to a member of the Politburo, always knew that it would take only one careless word or gesture and he would fly off irrevocably into the abyss). Chủ trương trồng cấy vi khuẩn sợ hãi vào toàn bộ xã hội Liên Xô của Stalin thành công đến mức có lần ông ta cho rằng các cơ quan an ninh trong quần chúng có thể không còn cần thiết. Lý do Stalin tự tin như thế bởi vì sợ hãi đã có thể tự quản được trong chính mỗi con người.

Bệnh trạng sợ hãi tại Bắc Hàn so với Liên Xô còn trầm trọng hơn vì nhiều nơi tại Bắc Hàn con người được thuần hóa đến mức không còn biết sợ là gì. Một phần nhân tính quan trọng trong con người là sợ hãi, đã không còn tồn tại trong ý thức của nhiều người dân Bắc Hàn nữa. Nhận thức của con người họ phụ thuộc hoàn toàn vào một trung tâm chỉ đạo ý thức được điều khiển từ bên ngoài. Nhiều người dân Bắc Hàn hoàn toàn mất ý niệm không gian và thời gian. Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi thay sau khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD đang được dùng trên thế giới và thay vào đó bằng lịch Juche, lấy năm sinh của ông ta làm chuẩn. Ví dụ, năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ đối với phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ mới là năm Juche 99.

Trong một bài bình luận của Rodong Sinmun, cơ quan thông tin chính thức của Đảng Công nhân Triều Tiên phát hành ngày 31 tháng 8 năm 1997, viết về Kim Chính Nhất : "Nhân dân Triều Tiên tuyệt đối tôn kính, tin tưởng và theo chân Tướng Quân như Thượng Đế. Tư tưởng quý giá này căn cứ vào sự kiện rằng họ đã cảm nhận một cách sâu sắc sự vĩ đại của Tướng Quân từ đáy lòng họ. Tướng Quân là thầy giáo vĩ đại dạy nhân dân Triều Tiên ý nghĩa thật sự của cuộc sống, là người cha đã ban cho họ đức tính liêm khiết chính trị quý giá và là một ân nhân có trái tim nồng ấm dịu dàng, đã mang đến cho nhân dân Triều Tiên niềm hạnh phúc trọn vẹn... Tướng Quân là cây trụ tinh thần và là vầng thái dương vĩnh cửu của nhân dân Triều Tiên." Nếu lý luận theo quan điểm kinh tế của Mác, khi mức độ xã hội hóa của nền kinh tế đạt đến mức toàn diện, chế độ kinh tế tất yếu sẽ biến thái, thì sự biến thái của các xã hội khống chế bằng nỗi lo sợ toàn diện như trường hợp Bắc Hàn, không có gì khác hơn là mang con người trở về thời nguyên thủy.

Tản mạn về sợ, ngoài ra, để thấy rằng người Việt Nam trong thời đại này may mắn hơn nhiều so với người dân bất hạnh thời Stalin hay người dân đã mất đi tính sợ ở Bắc Hàn, bởi vì dù sao tại Việt Nam sợ vẫn còn là một điều có thực.

Trần Trung Đạo

 

 

Nhng Mu Kính Màu (phn 6)
Nguyễn Minh
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)

Hai tháng sau, Minh lại rủ con bé Châu cùng đi về quê... Anh cảm thấy nhớ con và, có phần nhớ vợ - - Dù Út Huệ đối với anh có phần nào phủ phàng. Gom góp được một ít tiền, Minh định bụng sau chuyến thăm này, anh sẽ không thường xuyên trở về, bỡi lẽ... anh có cảm giác đã trở nên hèn hạ nếu còn tìm về vợ con sau những đau đớn đã gánh chịu.

Lần này anh không cần đưa con bé về tận quê, anh ở lại nhà trọ và dặn dò kỹ lưỡng con bé mọi việc. Khi con bé đã đi khỏi, cảm thấy buồn... Minh thả bộ dọc theo con lộ chính của tỉnh lỵ. Chẳng hiểu sao, bước chân quen lại đưa anh về phía nhà trọ trước kia của Út Huệ khi còn thầu bán cơm ở bệnh viện.

- Ủa, dượng Út... đi đâu vầy nè ? Có tiếng ai đó gọi giật giọng.

Minh giật mình nhìn lại. Cô con gái chủ nhà trọ thuở xưa đang mỉm cười :

- Dượng đi đâu vậy ? Nghe đâu dượng bỏ lên Sài Gòn làm ăn phải không ?

Chẳng đặng đừng, Minh bèn gật đầu cho có lệ. Cô gái hỏi tiếp :

- Vậy trên đó dượng ở lối nào ? Làm dì út đi kiếm tở mở hết trơn !

- Ai kiếm hả cô ? Minh ngạc nhiên hỏi lại

- Thì còn ai ! Vợ dượng kiếm chứ hổng lẽ... tui ! Cô gái cười khúc khích.

Minh ngẩn người trước thông tin của cô gái. Tại sao cô gái chỉ anh qua nhà nghỉ công đoàn để tìm vợ. Rõ ràng cô gái biết nhiều hơn anh tưởng và có thể có mối quan hệ nào đó với cả Út Huệ lẫn Ba Tí...

Anh đã đoán không sai... Chính cô gái muốn mọi việc vở lỡ. Trước khi Út Huệ trở về, cô đã từng là nhân tình của Ba Tí để đổi lại một ít quyền lợi. Việc giới thiệu Út Huệ thuê nhà của cô, mục đích của Ba Tí là để an toàn, kín kẻ... Thế nhưng anh ta đã quên đi một yếu tố quan trọng : Lòng ghen tuông !

Đứng ra khuấy tung mọi chuyện thì quá hiểu rõ Ba Tí nên cô nhân tình cũ làm sao dám, nhưng đứng ở phía sau để xô người chồng vào cuộc thì có lẽ đơn giản hơn nhiều... Cô đã tìm cách nhưng chưa có một cơ hội nào vẹn toàn thì đêm ấy, Minh tự tìm tới... Cô cứ nghĩ sẽ có chuyện lùm xùm khiến Ba Tí phải co vòi mà quay lại với cô, nào ngờ Ồ gã chồng của Út Huệ quá nhu nhược, gã thay gì làm toáng lên lại lẳng lặng bỏ đi ! Mà như thế, chẳng có ích lợi gì cho cô cả... Út Huệ đi tìm Minh là chuyện có thực, cô được nghe Ba Tí nói lại với vẻ hết sức hằn học, khó chịu...

Họ trở về được với nhau thì hay biết mấy ! Cô nghĩ vậy và quyết định thúc đẩy tình huống ngay khi vừa vô tình bắt gặp Minh...


- Dượng về lại nhà đi thôi, tui thấy vợ dượng thất điên bát đảo vì đi tìm đượng đó, bỏ cả công việc làm ăn... Cô nói với giọng cố tỏ ra tình cảm.

Minh thì khác. Anh đang cảm thấy một nguy cơ... Đối với anh, bất kỳ ai, có dính líu đến Út Huệ và Ba Tí... mà biết anh đang có mặt ở tỉnh lỵ, đều là một hiểm họa, có thể xảy ra tức thời nếu anh không kịp đối phó.

- Thôi, dẫu có thế nào cũng cứ phải cảm ơn cô...Tôi về đây ! Anh nói và lật đật trở gót.

Cô gái nhìn theo mỉm cười. Cô tin rằng Minh sẽ quay trở lại với vợ. Nếu không anh đâu từ Sài Gòn về quê làm gì ?

Chờ Minh đi khuất, cô gái thay bộ quần áo đến chỗ gặp được Ba Tí cũng sở công an huyện tìm Ba Tí. Từ nhà cô đến chỗ gặp được Ba Tí cũng phải hơn nữa giờ đi honda, hơi cực nhưng cô nghĩ đến gương mặt thất vọng của gã nhân tình cũ khi biết người chồng bạc nhược ấy rốt cuộc cũng quay trở về, cô cảm thấy vui vẻ...

Ruột nóng như lửa đốt, Minh chờ con bé Châu về để lập tức rời xa vùng nguy hiểm. Sau sự việc hai tên lạ mặt tìm đến tận nhà để chém anh, anh đã hiểu hết sự nguy hiểm của kẻ có quyền lực nhưng thiếu đạo đức như Ba Tí. Gã sẵn sàng làm tất cả mọi chuyện dù tán tận lương tâm đến mấy, miễn là có lợi... Có lẽ cũng nhờ tính chất tàn độc ấy mà gã mới leo cao đến thế trên nấc thang quyền lực.

Vừa nhác trông thấy con bé quay về, Minh mừng húm. Anh lôi tuột con bé theo mình ra bến xe mặc cho con bé ngơ ngác.

- Gì mà chú làm thấy ghê quá vậy ? Con bé hỏi.

- Đừng hỏi nhiều... Minh vừa gắt gỏng vào dáo dác nhìn quanh bến xe.

Cuối cùng thì họ cũng trèo lên được chuyến xe gần như cuối cùng. Mãi đến lúc đó Minh mới có thể thở phào nhẹ nhõm. Cũng có thể anh đã quá lo xa, nhưng dẫu sao Ồ cẩn thận ở vùng đất quyền lực thao túng lẽ phải, vẫn an toàn hơn ! Xe lăn bánh được hơn chục cây số sắp ra đến quốc lộ, cậu lơ xe có gương mặt đầy mụn cám tiến lại. Minh cầm hai tấm vé trên tay vẫy ra hiệu đã mua rồi.

- Dạ thưa, chú có phải tên Minh ? Cậu lơ xe lễ phép hỏi.

- Đúng rồi,mà có chi không em ? Minh hỏi lại với vẻ mặt đầy cảnh giác.

- Cô Năm nhờ con hỏi dùm... Nếu đúng thì cô Năm muốn nói chuyện ! Vừa nói cậu lơ xe vừa đưa tay chỉ ra hàng ghế ở đầu xe cạnh tài xế. Nhìn theo hướng chỉ, Minh nhìn thấy ngay Năm Lan ! Cô mặc bộ quần áo công nhân Liên Xô, theo đúng model thời thượng, ngoái nhìn Minh đưa tay vẫy... Không thể làm khác hơn, Minh gật đầu chào. Năm Lan vẫn xinh đẹp không khác ngày trước tuy cô có gầy và xanh đi nhiều... Đứng dậy rời khỏi hàng ghế, cô đi xuống chỗ Minh đang ngồi cùng con bé Châu. Nhận ra gương mặt quen thuộc của người đã gặp lần trước tại nhà vợ Minh, con bé lộ vẻ bối rối quay qua nhìn anh.

- Dượng về hai lần rồi, tại sao không vô nhà ? Có giận gì con Út thì cũng nên nghĩ đến má và chị Năm chớ ? Ai lại như thế bao giờ ! Năm Lan trách.

Minh ngẩn người chưa biết phải trả lời sao, chẳng lẽ anh lại nói huỵch toẹt ra rằng : Với gia đình bên vợ thì chẳng sao, còn với ông anh cột chèo thì quá sức mất an toàn ! Năm Lan nhận ra vẻ lúng túng của em rể, cô ngồi xuống băng ghế trống ở cạnh, nói với vẻ tự nhiên :

- Con Út đi lên Sài Gòn kiếm dượng rất nhiều lần nhưng không gặp, lần này có nó ở nhà thì dượng lại không vào... Gì thì gì, vợ chồng cũng phải gặp nhau mà nói chuyện cho ra ngô ra khoai, ai lỗi ai phải như thế nào, đàng này dượng cứ đi biệt, rốt cuộc - khi má hỏi, chị với con Út hổng biết đường đâu mà trả lời !

Chưa kịp giải thích, xe đột ngột thắng gấp. Tiếng tài xế oang oang :

- Trời đất ơi, tối mịt đến nơi rồi còn lập trạm đột xuất... Ai đi buôn gì giờ này mà kiểm tra không biết nữa !

Minh tái mặt. Anh đoán ra mục đích của cái gọi là kiểm tra đột xuất này ! Quả thật vừa bước lên xe, anh chàng đeo băng đỏ trực ban hình sự đã dáo dác tìm và khi nhận ra gương mặt Minh, anh ta lập tức đi tới.


- Cảm phiền anh cho xem giấy tờ ! Anh ta nói với giọng sắc cạnh.

Cầm giấy tờ của Minh trên tay, anh chàng hất hàm nói một cách trịch thượng :

- Chú mầy đi theo tụi tao, xuống xe mau !

Minh vừa nhớm đứng dậy, đã có tiếng một người đàn bà chặn lại :

- Không đi đâu cả ! Giấy tờ của anh đầy đủ, anh không phạm pháp quả tang, không có lệnh bắt khẩn cấp, muốn bắt anh sao được...

Anh chàng trực ban hình sự tái cả mặt quay phắt lại nhìn xem ai vừa cả gan thốt ra câu nói ấy. Ánh mắt dữ tợn của anh ta vội cụp ngay xuống và vẻ hống hách biến đi đâu mất khi anh ta phát hiện người vừa nói là Năm Lan - vợ của xếp và giữ một chức vụ còn lớn hơn cả chồng ! Anh ta gật đầu chào rồi cười gượng trước khi rút lui...

- Nè, chú chưa cho tui biết... Phải ông Ba Tí ra lệnh cho các chú lập trạm tìm cách bắt anh Minh này không ? Năm Lan chặn tay, cất tiếng hỏi.

- Dạ đâu có, đây là công việc thường xuyên của tụi em thôi mà chị Năm ! Anh chàng trực ban hình sự cười giả lả, giải thích. Anh ta thừa hiểu, nếu Năm Lan làm căng, cả bọn lập trạm trái phép này đều máng áo như chơi ! Lỗi ở xếp, ông ta ra lệnh mà không lường trước việc có mặt của bà vợ trên chuyến xe mắc dịch này...

- Chú giải thích nghe không lọt tay. Thứ nhứt, tôi qua lại tuyến đường này đã lâu, có bao giờ thấy lập trạm ở chỗ này mà lại vào giờ này ? Thứ hai, các chú thuộc công an huyện, tuyến đường này thuộc tỉnh lỵ, công an thị xã quản lý chứ sao lại là các chú ?

Nhận thấy gương mặt của anh chàng trực ban hình sự hết đỏ lại tái. Năm Lan chợt thở dài. Cô hiểu, với thân phận của những kẻ như anh ta, làm sao dám trái lệnh cấp trên ? Nếu đấu tranh, chỉ là không tưởng, cơ chế này đâu cho phép một sự nổi loạn ?

- Thôi các chú đi đi, về nói với ông Ba Tí, người đã bất chấp luật pháp để sử dụng các chú vào việc riêng, là Năm Lan đã hiểu và sẽ nói chuyện đâu đó rõ ràng khi kết thúc khóa học... Nhớ là, tôi nói với tư cách một người trong chính quyền chớ không phải với tư cách vợ ông ấy ! Năm Lan nói và phẩy tay coi như không muốn tiếp tục câu chuyện.

Xe ra đến quốc lộ, Năm Lan vẫn ngồi im lặng suy nghĩ... Giờ thì cô đã hiểu, Minh đã không thể không ra đi trước sự bủa vây của một tên cường hào ác bá kiểu mới. Đúng là không còn danh từ nào khác để gọi ông chồng yêu quý của cô... Chỉ còn một vấn đề cô lờ mờ nhưng chưa thể xác định : Vì sao Ba Tí bằng mọi giá muốn triệt tiêu Minh ? Phải chăng có dính líu đến Út Huệ ? Và thực chất sự dính líu ấy là gì ?

Càng nghĩ, Năm Lan càng sợ câu trả lời... Cô yêu chồng biết bao, nếu không cô đâu liều chết dùng carbine bắn vào đám lính cộng hòa, thu hút hỏa lực về mình để tạo điều kiện cho đồng đội dìu Ba Tí thoát hiểm ? Rồi vì ai, cô phải chịu biết bao điều khảo tra khắp các nhà tù để giờ đây cô mất luôn khả năng làm mẹ ?

Thế nhưng càng về sau, cô càng nhận ra Ba Tí không còn là một Ba Tí trước đây trong chiến tranh. Ba Tí giờ đây tham lam, nhỏ mọn và hết sức hiểm ác... Cô đã từng thấy cách anh ta dùng để triệt hạ đối phương trong chiến tranh, rồi cô lại thấy những thủ đoạn tương tự trong việc đấu đá giành quyền lực của anh ta thời gian gần đây. Hễ cô khuyên nhủ, Ba Tí lại cấm cản ra điều là cô muốn chặn bước tiến chồng, sợ chồng hơn mình. Chính vì vậy Năm Lan không muốn tìm hiểu về công việc của chồng nữa ! Liếc qua Minh, anh đang nhìn ra cửa sổ xe, bên cạnh là con bé đang tựa đầu vào vai anh ngủ ngon lành. Năm Lan chợt cảm thấy kính nể anh chàng phế binh em rể của mình. Anh ta đã phải bỏ đi vì ông chồng quái ác của mình nhưng vẫn không nói một lời trách móc. Tất nhiên, về Út Huệ - vợ Minh, sẽ còn rất nhiều bí ẩn mà anh đành lưu giữ trong lòng. Không phải tự dưng mà Minh bỏ đi, khi trở về thăm con lại tìm cách tránh mặt vợ. Minh không phải là loại người hành xử vô lý. .. Ắt phải có lý do !

- Chị hỏi thiệt, có phải con Út có lỗi với em ? Năm Lan hỏi sau khi suy nghĩ thật lâu. Minh lắc đầu, anh không cần đắn đo để đi đến quyết định không nói ra những gì đã biết về Ba Tí và Út Huệ. Anh là vậy...

(Còn tiếp)