Báo Việt
Quan
điểm : Bài học nào sau vụ sóng
thần ở Ðông Nam Á ?
(Nguyễn Ngọc Ðức)
Tình
Hình Chính Trị của Việt
Tình
Hình Đảng Cộng Sản Việt
Thế
Giới 2004 : Dân Chủ Không Ngừng
Tiến Bước (Nguyễn
Trúc Giang)
Những
Vấn Đề Lớn của Thế Giới Trong năm 2005 (Trần Sơn)
Thảm
Họa Cuối Năm (Thanh
Thảo tổng hợp)
Việt
Nhận
Định : Từ Phương
Chủ
Quyền Biển và Họa Đồ Hải Phận (Vũ Hữu San)
Tâm
tình nhân dịp Giáng Sinh 2004
(LM Phan Văn Lợi - LM Nguyễn Hữu Giải)
Việt
Dân
Ta Trên Xứ Người : Tự Hào Là
Người Việt
Tản
Mạn Về Sợ (Trần
Trung Đạo)
Những
Mẩu Kính Màu (phần 6)
(Nguyễn Minh)
Bài học nào
sau vụ sóng thần ở
Ðông
Nguyễn
Ngọc Ðức
(LÊN MẠNG
CHỦ NHẬT 2 THÁNG GIÊNG 2005)
Năm 2004 vừa chấm
dứt. Chấm dứt với
một tai họa khủng khiếp chưa từng
có. Cơn động đất ở ngoài khơi đảo
Con người không thể ngăn được
thiên tai, nhưng con người có thể giảm
thiểu sự thiệt hại về nhân mạng, nếu
có những biện pháp đề phòng thích đáng. Các vụ động đất ở
Xét cho cùng, chỉ vì chậm
tiến, mỗi thiên tai ở các nước
của thế giới thứ ba đều là một tai họa
khủng khiếp. Chỉ vì chậm tiến, nhà cửa,
cầu đường, đô thị của các nước này đã
không được xây dựng theo những tiêu
chuẩn khả dĩ chống chọi được với thiên
tai. Chỉ vì chậm tiến, các nước của thế
giới thứ ba đã không có khả năng thiết lập
những hệ thống báo động, những phương tiện
để di tản nhanh chóng, những điều kiện để cứu
trợ cấp thời,...
Việt
Trong những năm vừa qua, nước
ta cũng xảy ra những tai họa,
tuy không ở mức độ khủng khiếp như đợt sóng
thần ở Ðông Nam Á, nhưng các nguyên nhân của nó cũng
là những bài học cần rút tỉa. Cuối
năm 1999, miền Trung bị lụt. Nhưng
khác với các năm trước, trận lụt này gây ra số tử
vong rất lớn và làm cho khoảng 1 triệu người lâm
cảnh màn trời, chiếu đất. Sự tàn phá môi
sinh và khả năng cứu trợ thấp kém là hai nguyên nhân
chính của tai họa này. Tháng 10/2002, vụ
cháy Trung Tâm Thương Mãi ở Sài Gòn cũng là một
tai họa đáng được ghi nhận, vì nó cũng gây ra số
tử vong khá lớn, mà lẽ ra có thể giảm thiểu
được, nếu có những biện pháp phòng cháy, chữa
cháy thích đáng. Tất cả chỉ vì nước
ta chậm tiến.
Việt
Tuy nhiên, trong phát
triển, nhiều chính quyền chỉ quan tâm đến yếu
tố nhanh, không màn đến yếu tố bền vững. Ðiển hình là sự
phát triển ngành du lịch. Ðể có thể thu hút ngoại tệ một cách nhanh chóng, nhà
cầm quyền Việt
Ðể có thể
phát triển bền vững, Việt
Xét cho cùng, Việt
Tai họa đến
từ Trời, không dân tộc nào có thể tránh được. Nhưng tai họa đến từ
người, dân tộc nào cũng có thể giải quyết được.
Chỉ khi nào dân tộc Việt Nam giải quyết được
tình trạng độc quyền đất nước của đảng
cộng sản, thì mới có thể tiến nhanh trên
con đường phát triển bền vững, mới có điều
kiện để đề phòng và đối phó với những
thiên tai to lớn như cơn sóng thần vừa qua tại Ðông
Nam Á.
Nguyễn Ngọc Ðức
Tình Hình Chính Trị của Việt
Trần
Đức Tường
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Khẩu hiệu "ổn
định chính trị" luôn luôn ở trên đầu môi chót lưỡi
của các cán bộ đảng cộng sản Việt
Trước khi đề
cập đến những vấn đề nghiêm trọng đang diễn
ra trong nội bộ đảng CSVN, thiết tưởng cũng
nên nhắc lại một số hiểu biết của
chúng ta về bối cảnh của chế độ trong quá
khứ cũng như hiện tại.
Quy luật của các chế
độ độc tài, đặc biệt độc tài cộng sản,
là thu tóm quyền lực. Quyền
lực càng nhiều thì đấu tranh nội bộ để
tranh giành quyền lực lại càng gay gắt, dẫn đến
những thủ đoạn bỉ ổi, những cuộc đấu
đá chí mạng, những cuộc thanh trừng đẫm máu.
Lịch sử cận đại đã cho chúng
ta thấy rõ ở Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng
sản khác. Cộng sản Việt
Vì bản
chất lệ thuộc của chế độ cộng sản
Việt
Sự kiện phe cánh, đấu
đá nội bộ trên thượng tầng kiến trúc của
CSVN trải dài xuống các cơ sở theo hệ
thống ô dù là một thực tế hiển nhiên. Thiết tưởng không cần đi vào chi tiết.
Nhưng năm 2004 vừa qua là năm nổ tung những
mâu thuẫn đó. Đảng CSVN không còn khả năng, (và đây là
một điều quan trọng cần ghi nhận), để bưng
bít những âm mưu, những thủ đoạn đê tiện nhất
giữa những nhân vật chóp bu của hệ thống
lãnh đạo mà lâu nay chân tướng vẫn thuờng được
ngụy trang bởi những chiếc mặt nạ "giai
cấp", "cách mạng", "yêu nước",
vv... Đó là vụ Tổng Cục 2 thuộc Bộ
Quốc Phòng của chế độ CSVN.
Tổng Cục II, trước
đây là Cục II, vốn là cơ quan tình báo quân sự của
quân đội CSVN, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Vào cuối năm 1996, khi Lê Đức Anh làm Bộ Trưởng
Bộ Quốc Phòng, đã biến nó thành Tổng Cục
Ii và đặt nó trực thuộc Bộ này. Khi Lê Đức
Anh lên làm chủ tịch nước, rồi cố vấn cho
Trung Ương đảng CSVN, Tổng Cục II đã được giao
cho rất nhiều quyền hạn kể cả theo dõi và triệt hạ những đối
thủ của phe mình trong thượng tầng lãnh đạo
đảng CSVN. Tổng Cục II được đặt
dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Đặng
Vũ Chính, trung tướng và Nguyễn Chí Vịnh, thiếu tướng.
Cơ quan này đã không ngần ngại tạo bằng chứng
giả để tố cáo hầu hết nhũng người
lãnh đạo đảng và Nhà Nước hiện nay là tay sai của
CIA Hoa Kỳ. Nhưng, theo nhà báo Bùi Tín thì mũi dùi mạnh
nhất nhắm vào Võ Nguyên Giáp. Những vụ đấu
đá nội bộ trong đảng CSVN là điều mà ai cũng có thể
tin chắc là đã có từ lâu ; nhưng nó chỉ ló dạng
vào cuối thế kỷ trước, khi tập đoàn cộng sản
ký kết nhượng đất, nhượng biển cho Bắc
Kinh vào năm 1999 và năm 2000. Phải chờ đến năm 2004, năm kỷ
niệm 50 năm "chiến thắng Điện Biên Phủ",
lúc cộng sản Hà Nội phải đưa Võ Nguyên Giáp ra
trước sân khấu thì ông này cùng với đàn em ông mới
có dịp thuận lợi để phản công. Lá thư đầu năm 2004 của ông Giáp và nhất là
lá thư đề ngày 17/06/2004 của thượng tướng Nguyễn
Nam Khánh đã phá tung bức màn bưng bít khiến nhiều người
trong nước cũng như hải ngoại đều biết. Tiếp
theo đó là một loạt các thư, kiến
nghị của những cán bộ cộng sản tại chức
cũng như hồi hưu đòi lãnh đạo đảng phải
làm sáng tỏ vấn đề, truy tố những thủ phạm
về tội phản quốc.
Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam
Khánh và tất cả tập đoàn lãnh đạo đều đánh
giá vụ Tổng Cục II "là vụ án
chính trị cực kỳ nghiêm trọng". Họ
đã tìm mọi cách bưng bít kể cả đang đêm đổ
công an xông vào nhà ông Lê Hồng Hà với lý do tìm ra
tài liệu ngày 17/6/2004, mà theo lời của viên đại tá
Đào Trọng Sĩ chỉ huy đội lục soát thì "tài
liệu này vô cùng quan trọng, nếu để lọt ra ngoài
dân chúng thì có thể gây tác hại vô cùng lớn lao cho Đảng".
Nhưng đến nay thì hầu hết các tài liệu liên quan
đến vụ án đã lọt ra không những
trong dân chúng ở Việt
Có thể nói, đây
là một vụ nổ lớn cho người ta thấy một
cách rất rõ những đấu đá nội bộ tập
đoàn lãnh đạo chóp bu của CSVN. Từ đó, người ta cũng có
thể rút ra kết luận là trong đảng CSVN sự thống
nhất chỉ là huyền thoại, và sự chia rẽ ở
tầng cấp lãnh đạo cao nhất sẽ là một
mầm mống của tiêu diệt. Nhưng, với kinh
nghiệm, người ta cũng có thể dễ dàng suy đoán là vụ
án chính trị này, dù là nghiêm trọng và bị
phơi bày trước ánh sáng, cũng chưa đủ để làm chế độ
này sụp đổ ngay tức khắc. Hơn ai hết
CSVN biết chắc rằng "đắm thuyền
thì chết tất cả". Không những tập
đoàn lãnh đạo sẽ lo be bờ mà cả các cấp
cán bộ ở dưới cũng sẽ tìm cách để đảng
còn tồn tại và tiếp tục nắm chính quyền.
Đó là giải pháp liên quan đến quyền lợi
và sống chết của họ. Họ sẽ có thể
dàn xếp nội bộ cho tạm êm bằng cách hy sinh một
vài con dê tế thần. Trong vụ này cũng cần hiểu
rằng, dù phe nào nắm quyền lực của đảng
CSVN, phe đó vẫn tìm cách duy trì chế độ độc
tài, độc đảng, vẫn tiếp tục đàn áp nguyện vọng
dân chủ của người dân.
Đảng CSVN độc quyền
lãnh đạo guồng máy Nhà Nước và đang bị phân hóa
vì những vụ đấu đá "nghiêm trọng",
thì đương nhiên bộ máy cai trị, guồng máy chế độ
bị ảnh hưởng. Có thể thấy rõ 2 loại ảnh
hưởng là sự mất kỷ cương trong bộ máy và phản
ứng gia tăng khủng bố đàn áp đối với quần
chúng nhân dân.
Mất Kỷ
Cương.
Chưa bao giờ câu nói của
người xưa : "thượng bất
chính, hạ tắc loạn" lại ứng vào thời
đại ngày nay đối với chế độ cộng sản
trên đất nước Việt
Tình trạng
tham ô, lãng phí đã làm bộc lộ bộ mặt xấu
xa của đảng, bản chất tham lam, cậy quyền của
cán bộ cộng sản khiến người dân ngày càng oán
ghét, khinh bỉ. Đảng CSVN
nhận thấy rõ họ đã mất quần chúng,
mất lòng tin của nhân dân. Trước đây
ít năm, các biện pháp họ đưa ra để bài trừ tham nhũng
đều chỉ là hình thức bao che cho nhau. Cán bộ
bị tố tham nhũng được thuyên chuyển đến chỗ
khác làm lớn hơn, có nhiều quyền hành hơn. Ngày
nay trước sự đấu tranh tuy còn giới hạn của
dân chúng qua các vụ khiếu kiện tập thể và vượt
cấp lên tận trung ương, CSVN bắt buộc phải có những
biện pháp mạnh hơn. Nhưng thực chất, những
kẻ bị mang ra xét xử đều là cán bộ tép riu. Những
con hạm cỡ lớn với tài sản hàng chục triệu
đô la nằm ngay trên thượng tầng kiến trúc của đảng
thì vẫn bình chân như vại. Trong việc tố
tham nhũng, Hà Nội đã bật đèn xanh cho báo chí của
họ phanh phui một số vụ việc điển
hình, không nhằm để tiễu trừ nạn tham nhũng,
nhưng để người dân hả giận đối với nhà nước
thối nát hiện nay.
Tình trạng
loạn quân, loạn quan sẽ còn kéo dài vì nạn
thượng tầng xâu xé lẫn nhau, dẫn đến tham nhũng
bất trị sẽ khiến cho đời sống người
dân ngày càng khó khăn, ngày càng bị đàn áp bóc lột. Nhất thiết phải có những thông tin
khách quan và trung thực đến cho nhân dân ta để người
dân biết được những quyền lợi thiết thân của
họ hầu đấu tranh đòi hỏi, đấu tranh giành
lấy những quyền lợi này.
Độc Tài Cộng
Sản Gia Tăng Đàn Áp.
Từ đầu năm 2004, vì
tình hình nội bộ, đảng CSVN đã muốn
chứng tỏ sự vững mạnh của mình đối
với dân chúng và sự ổn định chính trị trong nước
đối với giới đầu tư nước ngoài bằng những
hành động trấn áp và đàn áp mãnh liệt tất cả
mọi mầm mống chống đối chế độ. Hành động đàn áp để khủng bố tinh thần
người dân, gây sợ hãi trong quần chúng và tổ chức
lễ hội để người dân vui chơi, quên đi ý định
chống đối chế độ là hai phương sách cổ điển
của cộng sản. Năm 2004 là năm cộng sản kỷ
niệm 50 năm "chiến thắng Điện Biên Phủ",
họ có cớ để tổ chức lớn hòng huy động
lòng dân. Nhưng năm nay cũng là cái năm mà
Võ Nguyên Giáp lựa chọn để phát pháo tấn công
phe đối nghịch đã từng trù dập ông ta trong nhiều
năm với vụ Tổng Cục II. Vì thế CSVN
đã phải cùng lúc tiến hành hai phương sách là một mặt
đàn áp đẫm máu đồng bào thiểu số trên Cao Nguyên Miền
Trung và những vụ đấu tranh khác như đấu tranh cho tự
do tôn giáo cũng như đấu tranh vì quyền lợi của
nhân dân, một mặt tổ chức rầm rộ các ngày lễ
hội và hội nghị quốc tế Á-Âu (ASEM).
Tình Hình Cao Nguyên
Miền Trung.
Sau cuộc nổi dậy của
đồng bào thiểu số tại Cao Nguyên Miền Trung bị
đàn áp đẫm máu nhân dịp Lễ Phục Sinh hồi tháng
4/2004, tuy CSVN nhất thời vãn hồi được trật
tự ; nhưng họ vẫn chưa đạt được ổn định
chính trị trong vùng. Việc họ duy trì các lực lượng
quân sự và công an tăng cường và việc nhiều quan chức
cao cấp đảng và Nhà Nước CSVN lui tới Tây Nguyên, đồng
thời đưa ra nhiều biện pháp phủ dụ, tuyên truyền,
hăm dọa, bắt bớ là những chỉ dấu của
sự lo âu bất ổn có thể trở lại bất cứ
lúc nào.
Vấn đề tại Cao Nguyên
Miền Trung nói riêng và vấn đề các dân tộc thiểu
số tại Việt
Vấn Đề
Bất Phục Tùng Của Người Dân.
Nếu nói đến hiện tượng
bất phục tùng của dân chúng thì vụ nổi dậy
ở Cao Nguyên Miền Trung năm 2001 và vừa qua vào tháng 4/2004
cũng là những biểu hiện của sự bất phục
tùng. Điều muốn nói ỏ đây là hiện tượng này không
những chỉ có nơi đồng bào thiểu số ở vùng
thượng du phía Bắc hay ở Cao Nguyên Miền Trung, mà cả
đồng bào Kinh ở khắp nơi trong nước đều đã
có những hành động chống lại các quyết định
của nhà cầm quyền CSVN. Các hành động này được biểu
hiện dưới hình thức khiếu kiện cá nhân hay
tập thể, theo hệ thống hay vượt
hệ thống. Hầu hết những vụ khiếu kiện
này đều liên quan đến nạn quan chức đảng và Nhà
Nước cậy quyền, cậy thế, ngang nhiên cướp
đoạt tài sản, ruộng vườn, đất đai của
ngưòi dân. Một số không nhỏ các vụ khác liên
quan đến việc xử án oan, khiến
người vô tội bị tù đầy, thiệt hại...
Những nguyên nhân chính của
các vụ án này là trình độ ngu dốt
của toàn bộ cán bộ xét xử, viện kiểm sát, hệ
thống tư pháp cộng sản và nạn tham nhũng, hối
lộ, bao che nhau, trù dập nạn nhân. Tóm lại,
là sự thối nát của ngành tư pháp CSVN. Những vụ khiếu kiện có khi kéo dài hàng chục
năm không được giải quyết. Đơn chất thành núi. Từng
đoàn người từ tận các tỉnh miền Nam Việt
Nam đã kéo nhau ra tận Hà Nội, trước các trụ sở
đảng và Nhà Nước, thậm chí cả tư dinh tập đoàn
lãnh đạo chóp bu của chế độ để chặn
xe đưa đơn. Sức chịu đựng và sự kiên
nhẫn của người dân có hạn. Ở một số
nơi, ngưòi dân đã không còn tay cầm
đơn nộp cho chính quyền cộng sản nữa. Họ
đã cầm gậy gộc, gạch đá, chai xăng để ném
vào mặt bọn ăn cướp ngày như ở Ba Vì và Kim Nỗ
vừa qua, Họ đã công khai bất phục tùng và tấn
công cán bộ, nhân viên, công an Nhà Nước để ngăn chặn
những vụ cướp đất của họ xây cất các
trung tâm du lịch, giải trí cho bọn tư bản đỏ và
người nước ngoài. Qua hiện tượng này,
người ta thấy rõ, người dân đã không còn
sợ hãi bạo lực và cũng không còn tin vào
những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của
chế độ nữa. Cuộc đấu
tranh để bảo vệ quyền lợi thiết thân của
đồng bào chống lại chế độ độc tài khủng
bố thật là không cân bằng lực lượng.
Vì vậy, nỗ lực chung là phải
thông tin và ủng hộ những cuộc đòi quyền sống
của đồng bào thường bị cộng sản Hà Nội
đàn áp, bưng bít.
Vấn Đề
Tôn Giáo.
Sự kiện CSVN chà đạp
tự do tôn giáo đã được thế giới biết rất
rõ. Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu và nhiều tổ chức
Nhân Quyền quốc tế đã lên án
bằng vô số nghị quyết, văn bản, văn thư gửi
những người lãnh đạo CSVN. Chủ
trương, thái độ chống tôn giáo của CSVN xuất phát từ
chủ thuyết cộng sản duy vật, vô thần.
Mặt khác, nó cũng xuất phát từ bản
chất độc tài khống chế con người từ tư tưởng
đến vật chất, nên nó đã muốn tiếm vị
các tôn giáo để bắt dân chúng chỉ tin vào đảng cộng
sản. Một hình thức tà đạo
không hơn không kém. Nhưng thực tế
đã cho thấy, không ở một nơi nào trên thế giới
cộng sản thành công trong âm mưu đen tối này.
Vì ngoài tín ngưỡng, con người luôn hướng tới những
giá trị cao cả, những giá trị chân thiện mỹ
thực sự chỉ có trong các tôn giáo, trong lúc chủ nghĩa
cộng sản không có bất cứ một giá trị nào khả
dĩ giải quyết được những vấn đề của
đời sống con người, kể cả về vật chất
lẫn tinh thần.
Dân tộc Việt
Tuy đang phải sống
trong sự kềm kẹp, khó khăn, các tôn giáo vẫn không ngừng
đấu tranh cho tự do tôn giáo.
Giáo Hội Công Giáo tuy bị khống chế,
nhưng vẫn tiếp tục đòi chế độ phải
hoàn trả tài sản cho giáo hội. Giáo
Hội PGVNTN dù bị tù đầy, quản thúc vẫn đấu
tranh đòi phục hoạt. Giáo hội
Tin Lành đang bị bách hại trầm trọng vẫn kiên
trì trung thành với Đức Tin. Giáo Hội Phật
Giáo Hòa Hảo tiếp tục đấu tranh đòi được
phục hoạt và tự do hành đạo. Những
biến động ở Cao Nguyên Miền Trung hồi tháng
4/2004 vừa qua có liên quan đến tôn giáo.
Con đường duy nhất là phải
công nhận và thật sự tôn trọng quyền tự do
tôn giáo cho người dân Việt
Tình
Hình Đối Kháng.
Cũng như đối với các
tôn giáo, cộng đồng người Việt Hải Ngoại
dã góp phần tích cực trong việc thông tin đến
các cơ quan quốc tế về Ân Xá và Nhân Quyền về những
vụ đàn áp, bắt bớ những người bất đồng
chính kiến với chế độ. Những người "đối
kháng" hay "tù nhân lương tâm" này đã được
các cơ quan trên đây bênh vực trên các diễn đàn quốc tế,
can thiệp trực tiếp với chế độ CSVN. Đây quả là một sức ép quan trọng đối
với Hà Nội. Vì phải tạo
khuôn mặt "dân chủ" dù là giả tạo, cộng
sản Hà Nội đã phải đáp ứng phần nào những
đòi hỏi của quốc tế. Chính dưới sức
ép này mà Hà Nội đã phải trả tự do cho ông Lê
Chí Quang, kết án lấy lệ đối với
các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê. Hai người này hiện
đã được trả tự do.
Hiện nay, các nhà đối kháng
đã tự nhận là những người dân chủ đang
đòi hỏi chế độ CSVN phải làm sáng tỏ vụ
Tổng Cục II một cách công khai. Những
người đấu tranh cho dân chủ ngày càng xuất hiện
thêm những khuôn mặt mới, những khuôn mặt của
tuổi trẻ. Gần đây có ông Phương Nam Đỗ Nam Hải
đã mạnh dạn viết những bài phê phán chế độ
và đề nghị một cuộc trưng cầu dân ý. Trong
tiểu luận "Viết tiếp về nhận thức
lại", Phương Nam đã viết nguyên văn như sau : "ĐCS
Việt Nam hãy tạo điều kiện để cho dân tộc
ấy được thể hiện ý chí và nguyện vọng
của họ, thông qua một cuộc Trưng Cầu Dân Ý
về bất cứ điều gì mà từ trước đến
nay ĐCS Việt Nam vẫn luôn cho rằng : "Đó là sự
lựa chọn của nhân dân và của lịch sử !"."
Nhìn chung, mặc cho có bị
đàn áp bằng nhà tù, quản chế, phong trào đối kháng từ
quần chúng nhân dân, từ các tôn giáo và từ những nhà đấu
tranh dân chủ ở trong nước ngày một gia tăng cả về
con số lẫn về nội dung và hình thức đấu
tranh,
Viết về
tình hình chính trị của Việt
Tầm vóc và vai trò của
CĐNVHN lại càng lớn mạnh với sự trưởng
thành của thế hệ trẻ lớn lên và được đào tạo
tại các quốc gia văn minh tiên tiến, trong môi trường
dân chủ tự do. Ở tất cả các quốc
gia, họ đã tạo nên niềm tự hào của dân tộc
có hàng ngàn năm văn hiến. Họ có
trình độ khoa học kỹ thuật cao, có địa vị
vững chắc trong xã hội. Nhiều
người đã tham gia vào những sinh hoạt chính trị
giòng chính tại các quốc gia sở tại. Với kiến thức và nỗ lực tìm hiểu,
họ đã thấy rõ tình trạng tụt hậu
của Việt
Hải ngoại
hiện nay đã là hậu phương lớn trong công cuộc đấu
tranh chấm dứt độc tài cộng sản. Chế độ CSVN nhìn ra
điều này và đang có những kế hoạch để tấn
công. Nghị quyết 36 của bộ
chính trị đảng CSVN đã đầu tư sức người, sức
của vào âm mưu này. Họ không chỉ nhằm thu hút tiền bạc hàng năm gần 3 tỷ Mỹ
kim của đồng bào hải ngoại. Họ
nhằm phá hoại tinh thần và thành trì chống cộng,
phá hoại ý chí đấu tranh của đồng bào hải
ngoại. Nếu họ thành công thì họ dễ
dàng lừa bịp thế giới như họ đã làm trong
cuộc xâm lăng miền
Các thế hệ
đi trước đã từng đóng góp xương máu cho đất nước,
có nhiệm vụ truyền lại cho các thế hệ đi
sau những bài học về cuộc đấu tranh kiên cường
của quân dân miền
Sau khi duyệt lại
sơ lược tình hình chính trị tại Việt
Nhiều người cho rằng
dân ta trong nước chỉ mong có được một cuộc sống
đủ ăn, đủ mặc, chứ không cần biết dân chủ
tự do. Nói như vậy là không đúng. Với
trí tuệ, tính siêng năng, cần cù, óc sáng tạo và tài nguyên
phong phú cũng như tiến bộ khoa học kỹ thuật
thời đại, dân ta có đủ điều kiện để có một
cuộc sống tươi đẹp hơn là đủ ăn, đủ mặc. Điều
tiên quyết là phải chấm dứt chế độ độc
tài cộng sản, nguyên nhân của sự trì trệ
trong hơn nửa thế kỷ qua, đặc biệt là trong suốt
30 năm sau khi thôn tính miền Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975. Các
tôn giáo và giới đối kháng phải tiếp tục đấu
tranh, khai thác những điểm yếu của chế độ
để đòi cho được tự do tín ngưỡng, tự do tư
tưởng, tự do ngôn luận, vv.... Các lực
lượng đấu tranh ở hải ngoại cần đẩy mạnh
cánh cửa vào Việt
Trần Đức Tường
Tình Hình Đảng Cộng Sản Việt
Đoàn Hùng
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Năm 2005 đánh dấu 30 năm ngày
đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt ách thống trị
trên toàn cõi đất nước. 30 năm đã
qua, nhưng Việt
Trước khi lượng
duyệt tình hình Cộng sản Việt
Thứ nhất, đảng Cộng sản Việt Nam đã
dành khá nhiều công sức quảng cáo chiến thắng Điện
biên phủ, nhân kỷ niệm 50 năm ngày quân Pháp bại trận
tại thung lũng Điện biên phủ, dẫn đến hiệp
định đình chiến, chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến
17 vào ngày 20 tháng 7 năm 1954. Tuy là một biến cố mang tính
lịch sử nhưng Hà Nội đã dành khá nhiều tiền
bạc và công sức để tuyên truyền về công lao của đảng trong cuộc chiến chống
Pháp, hầu củng cố uy tín của đảng đang bị
suy thoái trầm trọng hiện nay. Trong nỗ lực này,
Hà Nội bắt buộc phải dựng lại hình ảnh
của tướng Võ Nguyên Giáp, vốn bị đảng đẩy
vào bóng tối hậu trường từ năm 1975 cho đến nay.
Vì cuộc chiến đã kết thúc quá lâu và hậu
quả của nó đưa đến sự chia đôi Việt Nam, dẫn
đến thảm cảnh chiến tranh kéo dài 20 năm sau đó, đa số
người dân và giới cựu chiến binh không mấy "hồ
hỡi" về lễ kỷ niệm 50 năm của chiến
thắng Điện Biên. Chỉ có cán bộ đảng viên được
vui hơn ngày thường đôi chút vì được đảng cho tham dự
những buổi chiêu đãi mừng chiến thắng Điện
Biên. Ngoài ra, ngày 20 tháng 12 vừa qua, Cộng sản Việt
Nam đã tổ chức buổi mít tinh kỷ niệm 60
năm ngày thành lập quân đội nhân dân. Điểm đáng nói trong buổi
lễ này là Hà Nội đã dành một sự "biệt
đãi" lần thứ hai cho tướng Giáp khi ông được
mời lên phát biểu ngay sau bài phát biểu của ông Nông Đức
Mạnh. Và ngay sau khi ông Giáp phát biểu vừa dứt,
thì ông Tổng bí thư Nông Đúc Mạnh đã từ bên dưới
hội trường, mang một liễng hoa lên tặng cho tướng
Giáp và ôm ông Giáp một cách nồng thắm trước sự
chứng kiến của các Thái thượng hoàng Đỗ Mười,
Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu. Sự ứng
xử quá đáng của ông Nông Đức Mạnh đã cho người
ta thấy là Bộ chính trị đang muốn o bế tướng
Giáp để mong ông không làm lớn chuyện vụ án siêu nghiêm trọng của Tổng cục 2.
Thứ hai, lợi dụng khung cảnh kỷ niệm
50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Tướng Võ
Nguyên Giáp đã viết một lá thư gửi Bộ chính trị
đề cập về nhiều vấn đề liên quan đến
việc kiện toàn và chấn chỉnh đảng vào tháng 1 năm
2004. Trong phần cuối của lá thư này, Tướng Giáp
đã đặt vấn đề tội ác của Tổng cục
2 thuộc bộ quốc phòng liên quan đến một số
vụ án như vụ Sứ Sáu, vụ Xiêm Riệp, vụ T4, một
hình thức gián tiếp tấn công uy quyền của
nhóm Lê Đức Anh, mở đầu cho những xung đột giữa
các phe nhóm trong guồng máy quân đội nói riêng và trong toàn đảng
nói chung. Đến đầu tháng 4 năm 2004, Thượng tướng Nguyễn
Nam Khánh cùng một số tướng lãnh khác cũng
đã viết một lá thư gửi trung ương đảng yêu cầu
mang ra xét xử những nhân sự trong tổng cục 2 một
cách công khai và nhất là chấn chỉnh lại các hoạt
động của Tổng cục 2 để không bị thao túng bởi
một số cá nhân, dùng cơ chế quốc gia để khống
chế quyền lực riêng tư. Sự hậu thuẫn của
Tướng Khánh đối với tưóng Giáp đã tạo ra thế
đối đầu gay gắt giữa hai nhóm tướng lãnh
trong quân đội, kích thích nhiều cựu chiến binh lên tiếng
tố cáo nhóm Lê Đức Anh một cách dữ dội. Trước
những xung đột này, nhóm cầm quyền gồm Nông Đức
Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Diễn thì muốn
giải quyết kín đáo trong nội bộ ; nhưng phe tướng
Giáp thì chủ trương xét xử công khai để tạo chú
ý trong dư luận và triệt hạ uy tín của nhóm Lê Đức
Anh. Hiện tại thì Đỗ Mười và Nông
Đức Mạnh đang cố đi đêm giữa hai phe để dàn xếp
bên trong nội bộ nhưng đa số nhóm cựu chiến binh
không đồng ý và đòi phải mang ra xử công khai.
Tình hình hiện nay rất căn thẳng và làm ảnh
hưởng rất nhiều vào việc chuẩn bị nhân sự
và nội dung cho đại hội toàn đảng kỳ thứ X
sẽ diễn ra vào mùa Xuân năm 2006.
Thứ ba, Hội nghị ASEM 5, diễn đàn trao đổi
giữa nguyên thủ của các quốc gia Á Châu và Âu Châu tổ
chức hai năm một lần đã diễn ra tại Hà Nội
hồi trung tuần tháng 10 năm 2004, được đánh giá là cao điểm
của đường lối ngoại giao mở rộng của
đảng CSVN, từ sau khi chính thức nối lại bang
giao với Hoa Kỳ vào năm 1995. Hội nghị này đã
giúp cho Hà Nội đạt được hai kết quả mà họ
mong đợi trong thời gian qua là :
1/Việt
2/Sự cam kết
của Nhật Bản hỗ trợ việc phát triển
qua Quỹ ODA. Với
kết quả này, bộ máy tuyên truyền của Hà Nội
đã khai thác tạo thành một viễn cảnh khá lạc
quan của Việt
Trong thực tế thì những
lạc quan nói trên đã không che dấu những khó khăn của
Hà Nội trong vòng đàm phán với Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Trung Quốc, Nam Hàn... trong thời gian tới. Dù vậy, phải
nói là trong năm 2004, Cộng sản Việt Nam đã tích cực
mở ra với thế giới bên ngoài, tham dự nhiều
hội nghị quốc tế, cũng như cử nhiều
phái đoàn cao cấp viếng thăm một số nước. Tuy
nhiên, nếu theo dõi các diễn tiến
ngoại giao này, người ta thấy là Hà Nội vẫn luôn
luôn giữ thế đu dây trong các quan hệ giữa Hoa Kỳ
và Trung Quốc. Sự kiện này cho thấy
là Cộng sản Việt
Thứ tư, nhằm đáp ứng các đòi hỏi của
những nước chủ nợ và cũng là các nước đầu
tư, Cộng sản Việt Nam đã dồn khá nhiều
công sức vào việc chỉnh đốn môi trường đầu
tư ở trong nước qua ba sự kiện nổi bật
trong năm 2004. Đó là :
1/Xây dựng hệ thống
đường xá với hai kế hoạch lớn là xây dựng
đường xa lộ có tên là Hồ Chí Minh, nối liền trục
giao thông Bắc Nam và hệ thống xe điện ngầm tại
Sài Gòn và Hà Nội mà mục tiêu hoàn thành là năm 2015 ;
2/Công bố việc tu sửa
hàng chục bộ luật liên quan đến vấn đề phát
triển, đầu tư, đồng thời chỉ thị các cơ
quan thống nhất chính sách một khuôn dấu trong thủ
tục hành chánh ;
3/Tổ chức
hàng chục hội nghị cấp quốc gia để giải
quyết tình trạng xuống cấp của lãnh
vực giáo dục và đào tạo, đang tạo thành một quan
tâm lớn của toàn xã hội.
Trong ba nỗ lực lớn
này, có lẽ những dự án liên quan đến giao thông đang được
tiến hành suông sẻ nhờ những vay mượn từ
các định chế tài chánh quốc tế và Nhật Bản ; trong khi đó, nỗ lực thực
hiện chính sách thống nhất hành chánh và cải thiện
hệ thống giáo dục và đào tạo, đang gặp rất
nhiều khó khăn, mà những khó khăn này lại phát sinh từ
bản chất của chế độ độc tài chuyên chính.
Nói cách khác, vấn đề thống nhất một khuôn dấu
được Phan Văn Khải ra chỉ thị áp dụng từ
tháng 4 năm 2004, hầu tránh nạn cửa quyền và tham nhũng ;
nhưng đã không được các địa phương thi hành. Trong khi đó,
vì không muốn dân giỏi hơn đảng và sợ bị thu hẹp tầm ảnh hưởng trong quần
chúng, đảng "xã hội hóa giáo dục" của
các nhà giáo dục có tâm huyết tại Việt
Thứ năm, khẩu hiệu "đại đoàn kết
dân tộc" đã được đảng Cộng sản Việt
Nam triệt để khai thác trong năm 2004 để giải quyết
hai nhu cầu lớn của đảng đã đặt ra từ
nhiều năm trước. Đó là :
1/Ngăn chận tình trạng
đảng đang mất dần sự ảnh hưởng lên các mặt
đời sống của người dân ;
2/Tìm cách tiếp
cận và tạo sự hiện diện bình thường
trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Để thực hiện nỗ lực này, Hà
Nội đã một mặt tái phối trí thành phần
nhân sự và phạm vi hoạt động của Mặt Trận
Tổ Quốc trong một đại hội vào cuối tháng 10
năm 2004, để cho một số đại biểu của Mặt
Trận ở hải ngoại, được tham gia vào thành phần
chủ tịch đoàn.
Mặt khác, Bộ Chính Trị
tung ra nghị quyết 36 nhắm vào khối kiều bào hải
ngoại để huy động các cơ quan ở trong và ngoài đảng,
tập trung vào việc khai thác tài nguyên, trí tuệ và lũng
đoạn sự đoàn kết của cộng đồng người
Việt. Hà Nội còn dụng công tổ chức chuyến
du lịch Việt Nam của ông Nguyễn Cao Kỳ để
quảng cáo chiêu bài "đại đoàn kết dân tộc",
nhưng đã không đạt kết quả như mong muốn. Điều
trớ trêu là khi đảng Cộng sản Việt Nam cố
thổi chủ trương đại đoàn kết dân tộc, hàng chục
ngàn đồng bào sắc tộc tại Tây Nguyên đã lũ
lượt đổ về Buôn Mê Thuột biểu tình
đòi lại ruộng đất và đòi tự do tôn giáo
nhân mùa lễ Phục sinh vào tháng 4 năm 2004, đã làm cho Phó
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mất điểm sau
gần 3 năm nỗ lực ổn định vùng Tây nguyên sau cuộc
nổi dậy lần đầu tiên vào tháng 2 năm 2001.
Rút tỉa từ những sự
kiện nói trên, chúng ta có hai nhận xét về tình
hình Cộng sản Việt
1/Cộng sản
Việt
2/Trong khi gặp nhiều thuận
lợi trên mặt đối ngoại, Cộng sản Việt
Nam lại gặp khá nhiều rối rắm trong nội bộ
như vụ án siêu nghiệm trọng của Tổng Cục 2,
những vụ tham nhũng bị phanh phui hàng loạt trong
năm 2004 như vụ chạy quota hàng may mặc tại Bộ
thương mại, vụ chiếm dụng đất của công làm
của riêng tại Phú Quốc, vụ biển thủ tiền
trong Tổng Công Ty Thủy Sản... Các sự
kiện này tuy chỉ là những vấn đề của nội
bộ đảng, nhưng chính nó đang làm soi mòn khả năng
lãnh đạo cũng như mất dần ảnh hưởng của
đảng trong quần chúng. Đây là các biến
động thường xảy ra vào những giờ phút cuối
của các đảng cực quyền.
Năm 2005 là năm có một số
điểm đặc thù như sau :
1/Đây là năm đánh dấu 30 năm ngày
Cộng sản Việt Nam dùng vũ lực cưỡng chiến
miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đối với dân tộc
Việt Nam thì đây là ngày tang đau buồn nhất trong
dòng sử cận đại vì do thảm kịch này
mà 30 năm qua, đất nước đã bị tụt hậu và
loay hoay trong sự nghèo đói triền miên.
2/Đây cũng là năm đánh dấu
khả năng đàm phán sau cùng của Cộng sản Việt Nam
đối với 20 quốc gia còn sót lại trong Tổ
Chức Mậu Dịch Thế Giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc,
Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ ... để được chính
thức thu nhận vào làm thành viên WTO vào cuối năm 2005.
3/ Đây là năm mà Hà Nội phải
giải quyết êm thấm những xung đột nội bộ,
đặc biệt là vụ án siêu nghiêm trọng
của Tổng Cục 2 thuộc Bộ quốc phòng.
Nếu không thì những xung đột có thể bùng nổ
lớn sẽ làm ảnh hưởng đến việc chuẩn bị
nhân sự và nội dung cho đại hội toàn đảng kỳ
thứ X dự tính sẽ diễn ra vào mùa xuân năm 2006.
Bên cạnh những điểm đặc
thù nói trên, năm 2005, chắc chắn là Cộng sản Việt
Nam sẽ tiếp tục mở rộng các quan hệ đối
ngoại để vận động sự hậu thuẫn gia nhập
vào WTO, cũng như tích cực hơn trong việc tạo quan hệ
với Hoa Kỳ - một mắc xích - mà theo nhiều chuyên
gia của Hà Nội đánh giá là nước đang nắm phần quyết
định của Việt Nam trong việc gia nhập WTO. Trong
tiến trình quan hệ đó, Bắc Kinh sẽ không để
cho Hà Nội tự do đi gần hơn với Hoa Kỳ mà sẽ
tìm cách làm chậm lại các quan hệ này, bằng những
"quấy phá" về mặt kinh tế và thương mại
ở vùng biên giới phía Bắc. Trên bề mặt, Bắc
Kinh tỏ vẻ ủng hộ các mối quan hệ gần
gũi giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội nhưng thực
tế bên trong, Bắc Kinh không muốn Hà Nội tiến gần
với Hoa Kỳ mà phải luôn luôn ở cạnh Trung Quốc
như một đàn em. Trong nhiều năm qua, Bắc Kinh đã tăng
số lượng trao đổi mậu dịch với Hà Nội
và đạt con số 5 tỷ Mỹ Kim hàng năm như Trung Quốc
đã hứa vào năm 2004, và sẽ tăng lên thành 15 tỷ cho đến
năm 2015. Bắc Kinh cũng đã đề nghị Hà Nội lập
hai vòng đai kinh tế ở vùng Quảng
Đông và Quảng Tây nối với các Tỉnh Hải
Phòng, Lạng Sơn với Việt
Nhưng, vượt lên trên những
quan hệ đối ngoại phức tạp với nhiều ẩn
số nói trên, trong năm 2005, Cộng sản Việt Nam sẽ
nhức đầu vì những vấn đề nội bộ
sau đây :
Thứ nhất
là vấn đề xung đột giữa ông hai tướng Võ
Nguyên Giáp và Lê Đức Anh.
Các vụ án như Xiêm Riệp,
Sáu Sứ, T4 chỉ là những cái cớ để cho các phe
quân đội, đứng đầu bởi Tướng Giáp và Tướng
Anh, tranh đoạt quyền lực với nhau. Phe
đang nắm quyền thì muốn ém nhẹm nội vụ
và giải quyết trong bóng tối để không cho nhiều
người biết vì sợ là sẽ làm mất tư thế
lãnh đạo của cấp chỉ huy. Trong khi phe
đã về hưu nhưng lại chiếm đa số trong giới
cựu chiến binh, thì muốn mang ra ánh sáng công
lý, không phải để xét xử nghiêm minh, mà nhân cơ hội
tố cáo thêm một số tội ác khác của phe đang cầm
quyền, hầu tấn công vào thanh danh và uy tín của nhóm
đang lãnh đạo hiện nay. Trong hàng ngũ
của đảng Cộng sản Việt
Theo những lượng định
của một số nhà quan sát chính trị tại Hà Nội
thì vụ án Tổng cục 2 khó giải quyết rốt
ráo mà sẽ ngấm ngầm như một ngòi nổ có thể
bộc phát bất cứ lúc nào khi một trong hai phe vượt
lên chiếm ưu thế. Hiện cả hai phe Tướng
Giáp lẫn phe Tướng Anh đều ngang ngửa nhau về tầm
ảnh hưởng ở trong quân đội lẫn trong đảng.
Chính vì lý do này mà nhóm cầm quyền hiện nay
đã dùng tình cảm o bế Tướng Giáp để ông
ta không làm lớn chuyện. Trong đợt mít tinh kỷ niệm
60 năm ngày thành lập quân đội hôm 20 tháng 12 vừa qua, Cộng
sản Việt Nam đã giới thiệu Tướng Giáp lên
nói chuyện một cách trang trọng và chính Nông Đức Mạnh,
từ bên dưới hội trường mang hoa lên tặng tướng
Giáp ở trên bục nói chuyện. Không những
thế, nhóm cầm quyền còn đưa Tướng Giáp đi nói
chuyện và phát biểu tại nhiều nơi tổ chức
các lễ mít tinh nói trên. Qua hình ảnh này, nhóm cầm
quyền muốn chứng tỏ với dư luận là không có
chuyện lục đục dữ dội giữa Tướng Giáp
và Tướng Anh, đồng thời dùng sự cung phụng đối
với tướng Giáp để mong làm giảm cường độ chống
đối của phe tướng Giáp. Người ta dự kiến là
vấn đề Tổng cục 2 sẽ bùng nổ lớn sang
năm lúc các đảng bộ đi vào tiến trình chọn lựa
đại biểu đi tham dự đại hội đảng kỳ
thứ X.
Thứ hai là vấn đề
sắp xếp nhân sự cho đại hội kỳ X.
Nhiều tin tức được tiết
lộ tại Hà Nội thì bộ ba Nông Đức Mạnh
(Tổng bí thư), Trần Đức Lương (Chủ tịch nước)
và Phan Văn Khải (Thủ tướng) sẽ ra đi trong đại hội
toàn đảng kỳ thứ X. Trong ba nhân vật này, Phan Văn Khải
đã quá mệt mỏi và không còn năng lực để
tiếp tục công việc lãnh đạo chính phủ ;
trong khi Nông Đức Mạnh thì bị thay thế
vì không có năng lực giải quyết nhũng vấn đề
khủng hoảng nội bộ, mà nếu không thay thì
sẽ tạo ra nhiều nan đề lớn trong nội bộ.
Riêng Trần Đức Lương thì muốn ở thêm một
nhiệm kỳ nữa nhưng ý kiến của đa số
thì khi Mạnh và Khải đều muốn rút thì
không lý gì Trần Đức Lương ở lại, rất
khó cho ê - kíp trẻ lên thay thế và điều động công việc.
Điều khó cho đảng
Cộng sản Việt
1/Nguyễn Minh Triết (Bí thư
thành Ủy Sài Gòn) ;
2/Nguyễn Tấn Dũng (Đệ
nhất phó thủ tướng) ;
3/Phan Diễn (Thường trực
ban bí thư) và
4/Vũ Khoan (phó
thủ tướng).
Trong bốn nhân
vật này, người có nhiều triển vọng ngồi vào
ghế của Nông Đức Mạnh là Phan Diễn và người
thay thế Phan Văn Khải sẽ là Vũ Khoan. Trước đây, Nguyễn Tấn Dũng có nhiều
xác xuất thay thế vai trò của Phan Văn Khải
nhưng từ khi vụ Tây Nguyên xảy ra lần thứ hai vào
tháng 4 năm 2004 và nhất là thất bại trong việc cam kết
với Mỹ trong việc giải quyết vấn đề
hành chánh đã không được suông sẽ nên uy tín của Dũng
đang xuống một cách thê thảm. Trong khi đó, Vũ Khoan được
đánh giá là nhận vật khôn ngoan và được lòng cả
Mỹ lẫn Trung Quốc, trong việc thúc đẩy những
cải cách kinh tế, đáp ứng các yêu cầu của những
doanh nhân Mỹ và Trung Hoa.
Tuy nhiên đây cũng chỉ là những
dự đoán dựa theo tình hình
hiện tại, trong khi các mâu thuẫn quyền lợi giữa
những phe nhóm ở trong đảng luôn luôn biến thái, nhất
là vụ án Tổng cục 2 chưa giải quyết dứt
khoát. Chính vì vậy mà vụ sắp xếp
nhân sự lãnh đạo cho đại hội X sẽ rất
phức tạp và có thể làm cho trung ương đảng điên đầu
khi mà phe của Tướng Giáp bất hợp tác.
Thứ ba là những
áp lực của xu hướng đa nguyên hóa xã hội.
Mùa hè vừa qua, hầu hết
các chuyên gia về giáo dục đã đồng loạt yêu cầu
nhà cầm quyền Hà Nội phải chấp nhận "xã
hội hóa giáo dục", tức là cho tư nhân tham gia vào
công tác giáo dục để cứu vãn tình trạng
xuống cấp quá độ của nền giáo dục Việt
Nam hiện nay. Kết quả là Quốc hội
đã phải chấp nhận cho tư nhân tham gia vào công tác
giáo dục. Cũng mùa hè vừa qua, Quốc hội Cộng
sản Việt Nam đã mặc nhiên chấp nhận cho tư
nhân tham gia vào công tác xuất bản, khi đồng ý cho tư
nhân sử dụng các giấy phép của những nhà xuất
bản quốc doanh để in sách báo. Trong khi đó, ngày 22 tháng 12
vừa qua, ban tổ chức giải thi Trí Tuệ Việt
Nam đã chính thức hủy bỏ giải thưởng Trí
Tuệ Việt Nam năm 2003 cấp cho nhóm iCMS vì đã
ăn cắp bản quyền ở nước ngoài. Điều đáng
nói là cuộc vận động đưa đến kết quả nói
trên là do sự tự phát của giới trẻ trên diễn
đàn thông tin, khi tìm ra những sai quấy của nhóm iCMS
và ban tổ chức của giải Trí Tuệ Việt
Những diễn
biến nói trên đã biểu hiện xu hướng muốn
thoát ra khỏi vòng quản lý của chế độ. Đây là kết quả tất
nhiên của sự nảy nở ý thức tự chủ
nơi người dân khi mà họ nhìn thấy chế độ
ngày một bất lực giải quyết những vấn
đề trong đời sống và trong sinh hoạt xã hội.
Khi đảng Cộng sản Việt
Thứ tư là sự
bùng nổ của những điểm nóng ở nông thôn.
Theo dõi sự xung đột
giữa nông dân xã Kim Nổ, Hà Tây và Tây Nguyên với công
an và cán bộ xã vì những tranh chấp về ruộng
đất cho thấy là chính sách về nông nghiệp và nông thôn
mà đảng Cộng sản đang áp dụng hiện nay sẽ
gây ra nhiều bất mãn trong quần chúng nông thôn. Nguyên nhân thì rất nhiều nhưng có hai điểm
nổi bật khiến cho nông dân luôn luôn bất mãn nhà
nước. Thứ nhất là tình trạng
chênh lệch giàu nghèo quá đáng giữa nông thôn và đô thị trong
khi nhà cầm quyền lại có những cách ứng xử
rất bất công giữa các vùng, nhất là ở những
vùng xa và vùng núi. Thứ hai là sự cưỡng đoạt ruộng
đất của dân không giải thích và không bồi thường
đúng mức đã làm gia tăng sự bất tín của người
dân lên chế độ. Tình trạng xung đột nói trên sẽ
chỉ ngày một gia tăng vì những oan ức của
nông dân đã chất chồng hàng chục năm vừa qua, kể
từ khi Cộng sản Việt Nam phát động chiến dịch
cải cách ruộng đất vào năm 1953. Những bất
mãn và chống đối của nông dân thể hiện dưới
nhiều mức độ khác nhau từ bất hợp tác, kiến
nghị, khiếu kiện, chận đánh cán bộ lên đến
bắt giữ cán bộ để ra những yêu sách như đã
từng xảy ra ở Thái Bình, Đồng Nai.
Ngoài ra, khi Hà Nội tham gia vào
WTO, nền nông nghiệp của Việt Nam sẽ bị ảnh
hưởng nặng nề do việc nhập cảng những
nông sản từ các nước vào. Với một
đất nước nghèo và lạc hậu, chắc chắn nông sản
Việt
Ba mươi năm trước
(1975-2005), đảng Cộng sản Việt
Đoàn Hùng
Thế Giới 2004 : Dân Chủ Không Ngừng Tiến Bước
Nguyễn
Trúc Giang
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Cũng như mọi
năm, năm 2004 đã trôi qua với những biến cố lớn
nhỏ, thay đổi đời sống của rất nhiều
người. Cũng như mọi
năm, có những thảm trạng do thiên nhiên gây ra như cơn "sóng
thần" đã gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho
dân ở vùng Nam Á. Có những thảm trạng do con người
gây ra như cuộc chiến vẫn tiếp diễn tại nhiều
nơi, ô nhiểm vẫn hoành hành, bệnh AIDS vẫn tiếp tục
giết người. Nhưng nếu nhìn lại các biến cố
chính trị, thì năm 2004 cũng có một số đặc
điểm, vì có nhiều cuộc bầu cử đặc biệt.
Còn một
phần tư dân số không có quyền bầu cử.
Thật ra, trong đầu thế
kỷ thứ 21 này, thì bầu cử dân chủ là một
việc thông thường, hơn ba phần tư dân thế giới được
trực tiếp chọn những người sẽ đại diện
mình quản trị đất nước. Một
phần tư còn lại, mà phần lớn đang sống tại
Đông Á, nghĩa là tại Trung Quốc, Việt
Bầu cử tự do là một
việc thông thường tại các quốc gia khác. Nếu cứ tính mỗi bốn hay năm năm, có một
cuộc bầu cử quốc hội hay tổng thống,
thì hằng năm cũng phải có ít nhất là 20 hay 30 quốc
gia tổ chức bầu cử. Năm 2004 cũng
thế. Nhưng trong các cuộc bầu cử
của năm 2004 có vài cuộc bầu cử mang nhiều
ý nghĩa để chúng ta ôn lại vào dịp cuối
năm.
Bầu cử tại Đài Loan : một hăm dọa vô hiệu quả.
Trước tiên là cuộc bầu
cử tổng thống tại Đài Loan, giữa ông Trần
Thủy Biển (Chen Shui Bian), đương kim tổng
thống, của đảng Dân Chủ Tiến Bộ và ông Liên
Sơn (Lien Chan) của đảng Quốc Dân. Năm 2000, ông Trần
Thủy Biển đã thắng cử rất chật vật
và khi ra tranh cử lần này, ông đã phải vừa
tranh cử chống lại đối thủ mà còn phải
chống lại ảnh hưởng của Bắc Kinh. Đảng
ông Trần Thủy Biển chủ trương đưa Đài Loan đến chổ
hoàn toàn độc lập, không còn liên hệ chính trị với
lục địa và trong tương lai sẽ liên hệ ngoại giao
với lục địa như hai quốc gia.
Đây là một điều mà Bắc
Kinh không thể chấp nhận, vì lo ngại là một
khi Đài Bắc thật sự tách rời, thì nhiều
vùng khác như Tân Cương hay cả Quảng Đông sẽ theo gương đòi tách rời. Bắc Kinh lần
này không hăm dọa bằng quân sự như cách đây 4 năm, nhưng sử
dụng võ khí kinh tế, và lớn tiếng hăm dọa
sẽ không cho phép các nhà đầu tư Đài Loan thiết lập các
nhà máy trên lục địa để hưởng nhân công rẻ tiền
cũng như cắt đứt mọi liên hệ thương mãi và
sẽ dùng ảnh hưởng để cô lập kinh tế Đài
Loan. Nhưng một lần nữa, Bắc Kinh thất bại,
Trần Thủy Biển được tái cử vào chức Tổng
thống cho đến năm 2008 và hứa sẽ có một trưng cầu
dân ý trên chủ đề độc lập này, mặc dù Hoa
Kỳ cố làm áp lực để tránh một cuộc xung đột
trong một vùng mà họ mong yên ổn, trong khi họ đang bận
tâm tại Trung Đông và đang nhờ Bắc Kinh chỉnh Bắc
Hàn đang hăm he sản xuất võ khí nguyên tử. Đây đến
năm 2007 là năm có cuộc trưng cầu dân ý, có thể Hoa Kỳ
sẽ nghĩ khác và có thể chính Trung Quốc lúc đó cũng
sẽ nghĩ khác, vì sẽ phải giải quyết một
số vấn đề nội bộ hiện đang chống chất,
như là sự bất mãn ngày càng tăng của giới nông
dân, không chịu đựng được thêm các cướp bóc của
các cán bộ cộng sản các cấp.
Ngay chính người Trung Hoa
còn không chấp nhận sự xen vào nội bộ của
một nhóm Trung Hoa khác, không lý do gì mà chúng ta phải
chấp nhận một chế độ luôn luôn riu ríu theo chỉ
thị của quan thầy Bắc Kinh ?
Bầu cử tại Ấn
Độ : bị trừng phạt
vì phát triển không đều.
Một cuộc bầu cử
khác đáng cho chúng ta lưu ý là cuộc bầu cử vừa
qua tại Ấn Độ. Nếu ai đọc báo chí Pháp cũng
như nghe lời tuyên bố của các chánh trị gia Pháp,
thì Ấn Độ là một quốc gia tồi tàn, ăn mày
đi lênh khênh trên khắp phố phường, với muôn ngàn bất
công xã hội, ... tóm lại một quốc gia không
tương lai, ham chiến tranh nên luôn luôn gây chiến với các
láng giềng. Nghĩa là khác hẳn với Trung Quốc ! Các chánh trị gia
Pháp có biệt tài là chỉ nhìn thấy những
gì mà họ cho rằng hợp với ý kiến của
họ. Họ quên rằng Ấn Độ là quốc gia
có truyền thống dân chủ, các chánh phủ Ấn Độ
từ trung ương đến địa phương đều được dân bầu
thật sự và tuy Ấn Độ có nghèo thật, nhưng chưa
bao giờ Ấn Độ có những nạn đói giết chết
hằng chục triệu người như tại Trung Quốc.
Ngoài Nhật Bản, Ấn Độ
có trình độ học vấn cao nhất tại Á Châu, (theo tỷ lệ các sinh viên tốt nghiệp
đại học). Ấn Độ cũng có một bước tăng
trưởng kinh tế khá quan trọng mà chắc chắn rất
nhiều quốc gia mong muốn. Đây là nước
có một nền công nghiệp tri thức hàng đầu, có thể
giúp nước này nhập vào thế giới tân tiến một
cách nhanh chóng. Kết quả này là công của ông Atal
Vajpayee, thuộc đảng Bharatiya Janata (Dân Quốc) trong suốt
thời kỳ ông làm thủ tướng, nghĩa là từ năm
1998. Trước khi bầu cử, ông Vajpayee lại rất can
đảm lấy một thái độ ôn hòa với Hồi
Quốc để giải quyết vấn đề
Chính sự trừng
phạt này của người nông dân đã chứng mình
trình độ dân chủ của Ấn Độ hiện
không thua kém các quốc gia tiền tiến. Vả lại, các quan sát viên ngoại quốc
đều ngạc nhiên khi nghe kết quả bầu cử và
điều này cũng thường thôi, vì các quan sát viên ngoại
quốc kể luôn các nhà báo Tây phương ít khi đến các vùng nông
thôn. Cũng vì thế mà chúng ta có thể nghi ngờ sự
đánh giá kinh tế của Trung Quốc, vì đa số các
ký giả Tây phương chỉ quây quần trong các thành phố
nguy nga như Thượng Hải hay Quảng Châu. Nhưng
cũng phải châm chế cho họ là vì muốn đi vào
vùng quê thì rất nhiêu khê và phải qua không biết bao
nhiêu cửa ải.
Nếu có một sự bầu
cử tự do tại Việt
Bầu cử tại
Một quốc gia khá cũng
đông dân, năm nay cũng có bầu cử đó là Nam Dương, một quốc
gia mà chỉ cách đây vài năm còn sống dưới một chế
độ độc tài và có thể nói là quân phiệt. Sau khi lật
đổ được chế độ độc tài, họ đã bầu
ra một chánh quyền dân sự và những chánh phủ dân
sự liên tiếp đã tỏ ra không đáp ứng được với
tình hình khó khăn vì nhiều lý do : kinh tế sa sút, tranh chấp tại
nhiều địa phương, quân đội không thật sự tuân lệnh,
và nhiều nơi bạo động vẫn tiếp diễn. Trước cuộc bầu cử, người ta
còn lo ngại sẽ có nhiều bất ổn. Người
ta còn lo ngại hơn vì sau vụ cuộc chiến tại
Trung Đông, nhiều nhóm khủng bố Nam Dương, liên kết với
nhóm Al Qaida, đã đặt bom nhiều lần tại những
nơi đông dân cư và du khách. Ai cũng nghĩ rằng
với quá khứ dân chủ quá ít oi, trong một tình trạng
hổn độn, hai cuộc bầu cử Quốc hội và
tổng thống sẽ diễn ra trong một khung cảnh
đẵm máu. Nhưng rồi hai cuộc bầu
cử đã xẩy ra trong êm đềm, rất ít xung đột.
Nhưng cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 4 không đưa
ra được một đa số có thể quản trị đất
nước, mọi người đều chú tâm đến cuộc bầu
cử tổng thống vào tháng 7 cho vòng đầu và tháng
9 cho vòng nhì. Tổng thống đương nhiệm, bà
Megawati Soekarno, con gái của người giành độc lập cho
Nam Dương, thuộc đảng Dân Chủ Đấu Tranh đã thua
trước ông Susilo Bambang Yudhoyono, một vị cựu tướng
lãnh, do đảng Dân Chủ đề cử.
Hai cuộc bầu
cử đã xảy một cách êm đềm. Chứng tỏ rằng người dân khi có lá
phiếu trong tay, họ trưởng thành rất mau chóng, trái với
sự suy nghĩ của ông Lý Quang Diệu, cho rằng
phải cần thời gian lâu dài người dân mới sử
dụng được quyền công dân của họ. Cũng vì ông Lý Quang Diệu nghĩ thế
mà Tân Gia Ba vẫn tiếp tục là một thành phố có
nhiều cấm đoán và là một quốc gia không dân chủ.
Thật ra ông Mahathir Bin Mohammad, cựu thủ tướng
Mã Lai cũng nghĩ thế, nên đã cầm tù hết
các đối lập, kể cả những người cùng đảng
mà không đồng ý với ông. Năm nay, sau 22 năm, ông nhượng
chức thủ tướng và một cuộc bầu cử tự
do được tổ chức. Người dân Mã
Lai đã bỏ phiếu cho mặt trận của ông nhiều
hơn là khi ông tại chức, có lẽ chính vì ông không
còn nắm quyền. Nhưng người kế
vị của ông, ông Abdullah Badawi, muốn tiếp tục ở
lại lâu dài thì cũng nên tiếp tục các cuộc
cải tổ đã khởi sự từ khi ông thay thế
ông Mahathir.
Bầu cử tại Hoa Kỳ : bất nhất trong chánh trị
là thất bại.
Khi nói đến bầu cử
năm 2004, chúng ta không thể quên đến cuộc bầu cử
ở Hoa Kỳ, siêu cường duy nhất còn lại, và
cả thế giới đều mong muốn cử tri Hoa Kỳ
bầu người tổng thống hợp với ý
mình. Dĩ nhiên mỗi lần bầu cử
là có phân nửa người thất vọng. Năm nay thất vọng nhiều nhất là các trí thức,
đặc biệt là trí thức thiên tả. Một ông trí
thức thiên tả Hoa Kỳ đã nói một câu nghe rất
chướng tai, vì rất phản dân
chủ. Ông cho là cuộc bầu cử này chỉ do người
ngu bầu, có lẽ là vì họ không
bầu như ông. Nếu đó là quan niệm dân chủ
của những người thiên tả, thì chúng ta hiểu
tại sao có những quốc gia gọi là thiên tả mà thiếu
dân chủ. Cũng may, ông trí thức vừa kể chỉ
nằm trong một thiểu số không đáng kể.
Người dân Hoa Kỳ đã
tín nhiệm lại ông Bush, không vì họ ham chiến
tranh, cũng không phải là vì họ chuộng đạo,
nhưng vì đối thủ của ông Bush bất nhất,
không có một thái độ rõ rệt trên một số vấn
đề then chốt. Ông Kerry không biết có nên dẹp
khủng bố bằng võ lực hay không, trong khi ông biết
rằng không có phương cách nào khác. Ông Kerry muốn Hoa Kỳ
theo một chánh sách kinh tế thị trường nhưng ông muốn
cấm sự tự do lựa chọn phương tiện sản
xuất, ... Riêng về vấn đề Việt Nam, thì
ông Kerry tuy là người khuyến khích và đề cao dân chủ,
nhưng lại không muốn có áp lực để nhân quyền được
tôn trọng tại Việt Nam. Vì thế, lần này
người Việt Nam rất vui mừng với kết quả
bầu cử tổng thống vừa qua tại Hoa Kỳ.
Tất cả người Việt Nam, dĩ nhiên trừ thiểu
số cộng sản đang nắm quyền tại Hà Nội.
Bầu cử tại Á Phú
Hãn và
Còn hai cuộc
bầu cử khác trong năm 2004 đáng chúng ta lưu tâm. Thứ nhất là cuộc bầu
cử tổng thống tại A Phú Hãn. Từ hơn
một phần tư thế kỷ, A Phú Hãn đắm
chìm trong chiến tranh, trước đó thì chế độ
hoàng gia còn rất phong kiến, cho nên có thể nói rằng
cuộc bầu cử năm nay là cuộc bầu cử đầu
tiên của A Phú hãn. Không một ai tin rằng cuộc bầu
cử có thể diễn ra, vì các tướng vùng, vì
các tù trưởng chưa chấp nhận quyền của trung
ương, vì nhóm quá khích Taliban vẫn còn đó, vì Al
Qaida vẫn hăm dọa. Mặc dù tình thế
rối ren đó, cuộc bầu cử đã diễn ra, trong
một không khí tương đối êm đềm, ông Harmid Karzai đã
được đắc cử ngay trong vòng đầu. Chắc chắn là ông Karzai biết rằng, dân chủ
cần phải được vun bồi để tiếp tục được
duy trì và đó cũng là điều kiện then chốt cho việc
phát triển hài hòa cho người dân cũng như cho quốc
gia.
Đây là một điều
mà lãnh đạo của một số quốc gia thuộc
Liên Xô cũ không muốn biết đến. Điển hình là tổng thống
Kuchna của
Bài học nào cho chúng ta ?
Qua các cuộc bầu cử của
năm 2004, chúng ta thấy rằng dân chủ theo kiểu Tây
phương có thể áp dụng cho bất cứ dân tộc nào, kể
luôn những người bị ảnh hưởng Khổng giáo
như ở Đài Loan, cho những người theo đạo Hồi như ở
Nam Dương. Điều này để chứng minh rằng ông Lý
Quang Diệu và những người dựa theo lý luận
của ông này hoàn toàn sai. Một trăm phần trăm sai.
Điều thứ
nhì, là bầu cử trung thực có thể tổ chức
ở khắp nơi, vì có nơi nào nguy hiểm và khó khăn hơn là
A Phú Hãn nhưng vẫn tổ chức được.
Điều thứ
ba, người ta thường nói là dân chủ cần thời gian
để cho dân chúng quen và hiểu được sự quan trọng
của lá phiếu, điều đó đúng. Nhưng thời gian không phải
là mấy thế hệ, người Nam Dương đã chứng
minh điều đó trong vòng vài năm.
Điều thứ tư là khi nắm
quyền phải chu toàn quyền lợi
cho mọi thành phần, không thể vì lý do này hay
lý do khác chỉ ưu đãi một thành phần thì
mới tiếp tục được sự tín nhiệm của
người dân, người dân Ấn Độ đã nhắc khéo
các chánh trị gia của họ.
Và điều cuối cùng nên nhớ
là trong một thể chế dân chủ, người ta có quyền
bầu khác hơn mình, điều này để nhắc những
người, trí thức hay không trí thức, thiên tả hay không
thiên tả, thường rất bực mình khi thấy đa
số không đồng ý kiến với mình. Bài học này chắc phải là bài học đầu
tiên cho mọi người, kể cả người Hoa Kỳ và đặc
biệt cho chúng ta, người Việt
Năm 2005 cũng sẽ có những
cuộc bầu cử khác, mà chúng ta sẽ theo
dõi như cuộc bầu cử để thay thế ông
Arafat. Tuy rất nhiều người ghét ông
Arafat, vì quá khứ khủng bố của ông, nhưng không
ai có thể chối cải ông là người yêu dân tộc
Nguyễn Trúc Giang
Những Vấn Đề Lớn của Thế Giới Trong
năm 2005
Trần
Sơn
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Năm 2004 đã bắt đầu
với nhiều điều khó dự kiến như mối đe dọa
khủng bố, tình hình ở Iraq, giá cả đồng
đôla và dầu hỏa kết quả bầu cử tổng
thống ở Hoa Kỳ, v.v... Ngoài kết quả bầu cử
ở Hoa Kỳ, năm 2005 sẽ bắt đầu gần như với
những câu hỏi tương tự. Nhưng câu hỏi
tiếp là chính sách của chính quyền Bush 2 sẽ là
gì đối với thế giới. Và các vùng như Âu
Châu, Trung Đông, Nga, Nhật, Trung Quốc có chờ đợi
gì trong năm 2005 ? Và nếu cuối
năm 2003 các chuyên viên kinh tế đều dự đoán sự tăng
trưởng trong năm 2004, thì hầu như mọi người đều
đồng ý là năm 2005 sẽ khó khăn hơn. Và cuối cùng, đồng
đôla và dầu hỏa sẽ tiến triển ra sao ?
1. Chính trị tổng quát :
Hoa Kỳ.
Đầu năm 2005,
G.W. Bush sẽ tuyên thệ nhậm chức tổng thống
Hoa Kỳ lần thứ nhì. Vì không có nhu cầu phải tái đắc
cử nữa, nhiều người hy vọng ông Bush sẽ rảnh
tay hơn để giải quyết rốt ráo
một số vấn đề nóng bỏng như
Trên mặt nội
địa, TT Bush sẽ vẫn tiếp tục chính sách giảm
thuế để ủng hộ kinh tế. Nhưng chính sách này gây sự thâm hụt ngân sách
khủng khiếp : 2300 tỷ đôla. Bên cạnh thâm hụt này, các thâm hụt khác như hệ
thống y tế (Medicare) và hưu bổng (Social Security) càng ngày
sẽ tăng cùng với sự lão hoá của dân Mỹ.
Về phương diện
ngoại giao, tình hình bất ổn ở
Liên Hiệp Âu Châu.
Vấn đề lớn của
Liên Hiệp Âu Châu (EU) trong năm 2005 là các cuộc trưng cầu
dân ý về Hiến Pháp chung. Các nhà trí thức Âu Châu đã bỏ ra 2 năm để
đi đến một bản văn hiến pháp. Bây
giờ đến phiên việc thông qua Hiến Pháp Âu Châu trong
vòng hai năm tới. Trên 25 nước của EU, 10 nước
đã chọn phương pháp trưng cầu dân ý trước khi
Quốc Hội thông qua hay không Hiến Pháp, như Tiệp, Bồ
Đào Nha, Ba Lan, Pháp, Tây Ban Nha. Các nước có nhiều thành phần
không thích EU như Anh và Đan Mạch sẽ tổ chức trưng cầu
dân ý trong năm 2006, với hy vọng rằng tất cả
nước khác sẽ thông qua Hiến Pháp, tạo ra một động
lực tích cực cho chính dân của họ chấp nhận
luôn. Các cuộc trưng cầu dân ý là cơ hội của các
phe chống Âu Châu đưa ra những vấn đề như chủ quyền
đất nước, sự nhập cư của các dân chúng Phi Châu
và Á Rập, sự gia nhập hay không của Thổ Nhỉ
Kỳ, một quốc gia Hồi Giáo trong một Liên Hiệp
Âu Châu đa số Thiên Chúa Giáo, v.v... Chỉ cần
một quốc gia không chấp nhận bản văn thì
Hiến Pháp sẽ không được áp dụng. Nếu một
quốc gia lớn và thuộc EU từ lâu như Pháp hay Anh từ
chối Hiến Pháp thì dự án này
được xem như hủy bỏ luôn.
Sự kiện
quan trọng nhất trong những ngày đầu năm 2005 là cuộc
tuyển cử cuối tháng giêng. Vì sự phá hoại rất
mãnh liệt của các nhóm nổi dậy, nhiều người
e rằng cuộc tuyển cử sẽ phải hoãn lại.
Nhưng cuộc tuyển cử này là mối hy vọng
lớn nhất để giải quyết tình hình.
Chỉ có một chính phủ được bầu
ra một cách dân chủ mới có chính nghĩa phản công lại
các nhóm cực đoan. Và mặc dầu sự hung bạo
của phe nổi dậy, gần như đại đa số người
Tại Do Thái, năm 2005 mang lại
nhiều gay go. Thủ tướng Ariel Sharon sẽ
cố gắng tiến tới nghị quyết tháo gỡ
các thuộc địa Do Thái trong dải
Nhật / Nga.
Rất nhiều
người đã quên rằng Nhật và Nga chưa bao giờ
ký hiệp ước hòa bình từ Đệ Nhị
Thế Chiến. Năm 1904-05, Nhật
và Nga đã đụng độ nhau vì tranh chấp các vùng
Mãn Châu và Đại Hàn, với sự chiến thắng của
Nhật. Trong phần lớn của Đệ Nhị Thế
Chiến, Nhật và Nga giữ hiệp ước trung lập,
không chiến tranh với nhau. Nhưng vào ngày
08/08/1945, Nga lại tấn công Nhật và chiếm một số
hòn đảo phía bắc Nhật Bản. Từ đó đến
nay, chưa có hiệp ước hòa bình chính thức nào
giữa hai quốc gia. Vào những năm gần đây, quan hệ
giữa hai nước có sự tiến bộ rõ ràng
vì Nhật có tiền nhưng không có dầu hỏa. Và Nga lại có dầu hỏa nhưng thiếu tiền.
Cả hai đều có quyền lợi chung
trong sự hợp tác đôi bên. Năm 2004 trong dịp hội nghị
thượng đỉnh của nhóm G8 tại Sea Island, thủ tướng
Nhật Junichiro Koizumi và TT Nga Vladimir Poutine đã đồng
ý trên một chương trình dẫn đến việc
ký hiệp ước hòa bình trong năm 2005, nhân kỷ
niệm 150 năm hiệp ước bang giao đầu tiên giữa hai
quốc gia. Nhưng hiệp ước hòa
bình chỉ có nếu Nhật và Nga vượt qua vấn đề
nhóm hòn đảo mà Nga vẫn chiếm đóng.
Trung Quốc /
Đài Loan / Ấn Độ.
Năm 1962, Trung Quốc
và Ấn Độ đã có đụng độ ngắn nhưng
mãnh liệt trên vấn đề biên giới. Trong những thập niên sau
đó, hai quốc gia đông dân số nhất thế giới
đã tìm nhiều cách khiêu khích nhau. Trung Quốc liên kết với
Một số thời điểm
quan trọng của năm 2005
Tháng 1 :
Tổng tuyển cử tại Irak, nếu có đủ điều
kiện an toàn (30/01).
Tháng 2 : Tết Ất Dậu (9/02).
Tháng 3 : Đại hội cộng đồng
nói tiếng Pháp (francophonie 19-20/03).
Tháng 4 : Kỷ niệm 30 năm mất nước.
Tháng 5 : Bầu cử tại Anh Quốc.
Tháng 6 : Cuộc họp ở Tân Gia Ba
các Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng các nước Á
Châu Thái Bình Dương để lượng định tình
hình an ninh trong vùng.
Tháng 7 : Cuộc họp của G8 tại
Tháng 8 : Ngày Tuổi Trẻ Quốc Tế
thứ 20 (Journée Mondiale de la Jeunesse) tại
Tháng 9 : Đại Hội Đồng Liên Hợp
Quốc lần thứ 60 tại
Tháng 10 : Tại La Haye, Hòa Lan,
Tòa Án Quốc Tế thông báo bản án của Slobodan
Milosevic.
Tháng 11 : Hội Nghị tại Busan, Nam Hàn, của 21 quốc
gia thuộc Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu và Thái
Bình Dương (APEC).
Tháng 12 : Hội Nghị của Tổ
Chức Mậu Dịch Thế Giới (TWO) tại Hồng
Kông.
2. Kinh tế :
Trong năm 2004, sự tăng trưởng
kinh tế thế giới đã vượt hơn 4,5%,
một mức rất cao so với 3 thập niên qua. Trên 176
quốc gia, chỉ có 5 nước đã thụt lùi vì những
lý do nội chiến hoặc thiên tai
như
Đôla.
Đồng đôla sẽ tiếp tục
yếu trước đồng Euro vì hai thâm hụt khổng
lồ (mậu dịch và ngân sách) của nước Mỹ.
Trong năm 2005, thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ sẽ
lên tới 500 tỷ đôla, còn thâm hụt ngân sách sẽ
vượt trên 600 tỷ. Chưa bao giờ trong lịch
sử, một đồng tiền vẫn duy trì được
giá trị với những thâm hụt như vậy. Đồng
đôla còn sống được vì đây là nhu cầu sống
còn chung của nhiều quốc gia
trên thế giới. Vì vậy, các ngân hàng Á Châu (đặc
biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, và Đại Hàn) ủng
hộ hàng ngày tờ giấy xanh lá cây để cho nó không mất
giá thêm, bằng cách mua ngân phiếu quốc gia của Mỹ.
Ba quốc gia này đã mua hơn 1200 tỷ đôla từ năm 2001.
Trong hệ thống này, các bên đều có lợi chung : các nước Á Châu cho Hoa Kỳ mượn
tiền để mua hàng hóa Á Châu. Nhưng với chiều
hướng toàn cầu hóa, vài ngân hàng quốc gia hợp lại
cũng chưa đủ để đổi chiều hướng của thị
trường. Vì vậy, đồng đôla sẽ mất
giá thêm trong năm 2005, tới mức 1 đôla = 0,6
euro.
Một tiện lợi thứ
nhì khi các quốc gia Á Châu mua nhiều ngân phiếu Mỹ
là tránh sự tăng trưởng quá nhanh của lãi suất. Từ 4 năm nay, lãi suất rất thấp trên
thế giới, khiến giá cả trên thị trường nhà
cửa tăng nhanh. Tại 11 quốc gia lớn trên thế
giới, giá nhà hay văn phòng tính theo thước
vuông đã tăng hơn 10% trong 3 năm liên tiếp. Sự tăng giá
nhanh chóng này khiến cho nhiều gia đình có nhà cảm thấy
mình đang giàu hơn và khuyến khích họ tiêu thụ nhiều
hơn. Sự tăng giá này cũng an ủi những
người đã mất nhiều tiền trên thị trường
chứng khoán sau khi các công ty "Internet" sập tiệm
vào năm 2000. Nếu giá cả trên thị trường
nhà cửa sụp đi thì chắc chắn mức tiêu thụ
của tư nhân sẽ đứng tại chỗ lập tức.
Đều này chắc không xảy ra, nhưng giá nhà
đã quá cao và sẽ giảm từ từ hoặc không
tăng nữa.
Dầu hỏa.
Trong năm 2005, thế
giới còn phải đối đầu với thùng dầu
thô đắt đỏ. Lý do là
một phần còn rất nhiều rủi ro chính trị
tại các nước sản xuất dầu, như
Trần Sơn
Thảm Họa Cuối Năm
Thanh Thảo
tổng hợp
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Niềm hân hoan vui hưởng
Đêm Giáng Sinh 2004 chưa kịp dứt thì thế giới lại
bàng hoàng với cơn thiên tai tàn phá cả một
vùng đất du lịch nổi tiếng vùng ven biển Ấn
Độ Dương.
Cơn động đất mạnh
dưới đáy biển đảo Sumatra (Nam Dương) vào lúc 0giờ 59
ngày 26/12, cơ quan địa chấn Hoa Kỳ nói lên tới 9 độ
trên thang địa chấn Richter, mạnh nhất từ 40 năm
qua, gây thiệt hại nhân mạng quan trọng tại 9 nước
Á châu từ Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Mã Lai, Nam
Dương, Maldives, dư chấn còn lan tới một số nước
Phi châu. Tới giờ này con số nạn nhân cứ tăng dần
chưa dừng lại ở mức 125 ngàn người chết,
tin tức ngày 30/12 cho biết như thế. Nặng nề nhất
là tại Nam Dương (Aceh) 80.000 người chết, Tích Lan với 27.000, Ấn Độ 13.000, Thái Lan
4500. Vì là mùa du lịch cuối năm số
người Tây phương tới các nước bị sóng thần tàn
phá lên tới gần 20.000 người.
Cơn động đất
chính kéo theo 9 loạt dư chấn. Động
đất xuất phát từ dưới lòng biển Sumatra đẩy
một khối lượng nước lớn lao cao trên 50 thước,
di chuyển với tốc độ 500 cây số giờ về
phía Tích Lan và Ấn Độ. Trong khi đó tại Thái Lan sóng thần
đã ập vào bờ biển Phuket miền nam Thái Lan lúc
08g30 sáng, vào thời điểm có nhiều khách du lịch đang tắm
ở bãi biển. Nhiều khách du lịch
ngoại quốc bị sóng ập vào sau đó rút họ ra biển.
Đảo Maldive miền nam Ấn Độ, bị
sóng thần chụp xuống khiến 2/3 thành phố Male (thủ
đô Maldive) chìm xuống biển, hiện giờ chưa biết
được chính xác số thiệt thại nhân mạng vì
liên lạc bị gián đoạn, nhưng người ta dự đoán là
rất cao vì thành phố này nằm dưới mực nước
biển 1 thước.
Tìm hiểu về
sóng thần
Mặc dù ít xảy ra ở
Ấn Độ Dương trong những thế kỷ gần đây,
sóng thần từng có mặt trên mọi vùng biển của
thế giới, nhiều nhất vẫn là ở Thái
Bình Dương. Các chuyên gia cảnh báo không sớm thì muộn,
mọi đường bờ biển sẽ bị tấn công bởi
sóng thần. Các nhà khoa học đã từng tìm thấy
dấu vết về một vụ va chạm thiên thạch
lớn mà họ dự đoán đã tạo nên cơn sóng thần
quét ngang trái đất, làm ngập lụt mọi thứ trừ
những ngọn núi, vào khoảng 3,5 triệu năm trước. Bờ biển của các lục địa đã bị
thay đổi đáng kể và hầu hết sự sống trên mặt
đất bị huỷ diệt.
Sóng thần dịch ra
từ chữ Tsunami, tiếng Nhật Bản. Hiện tượng
này khá phổ biến ở Nhật và hàng nghìn người
dân nước này đã bị sóng thần tiêu diệt trong những
thế kỷ qua. Sóng thần là một loạt các con sóng lớn
được tạo ra từ một trận động đất dưới
đáy biển, sụt lở đất hoặc phun trào núi lửa.
Cũng có khi sóng thần được tạo ra bởi
một đợt xói mòn đất lớn đổ xuống đại
dương, hoặc một khối thiên thạch lớn rơi xuống
biển.
Một
trận động đất có thể gây nên sóng thần nếu
nó đủ mạnh, trong đó có sự di chuyển mạnh mẽ
của các mảng thạch quyển, từ đó tạo nên sự
di chuyển đột ngột của khối nước lớn. Nhưng nó cũng
phụ thuộc phần lớn vào độ sâu của nước
tại vùng xảy ra động đất.
Sóng thần không phải
là một con sóng đơn lẻ mà là một loạt đợt sóng
liên tiếp, còn được gọi là chuỗi sóng . Đợt sóng đầu tiên trong
sóng thần không hẳn là kinh hoàng nhất. Sóng thần có thể mất vài phút tới một
ngày để di chuyển tới bờ.
Sóng thần
không phải là sóng thuỷ triều. Nó có thể
rất dài (tới 100 km) và tới cách nhau khoảng 1 giờ.
Chúng có thể vượt toàn bộ đại dương
mà không mất đi nhiều sức mạnh.
Một trong những sự
kinh hoàng nhất về sóng thần là một trận động
đất ở phía bên này Thái Bình Dương có thể gây ra sóng
thần và phá huỷ toàn bộ khu vực ở phía bên kia. Các nhà khoa học cho biết trận động
đất lớn 9 độ richter tấn công
vùng tây bắc Thái Bình Dương năm 1.700 đã tạo nên
sóng thần và gây lũ lụt mãi tận ở vùng biển
Nhật Bản của Thái Bình Dương.
Ở vùng nước sâu,
sóng thần có thể di chuyển mà không thể nhận biết
với tốc độ 800 km/giờ, vượt qua toàn bộ đại
dương trong một ngày hoặc ít hơn. Các nhà khoa học
có thể dự đoán thời điểm đến của sóng thần
dựa trên độ sâu của nước và khoảng cách.
Sóng thần
có thể cao không quá 30 cm ở giữa đại dương và không thể
nhận ra. Nhưng đợt sóng mạnh mẽ đó lại di chuyển
băng băng ở phía dưới, khi tới vùng đất nông, nó giảm
dần tốc độ, dồn nén năng lượng và dâng cao vút một
cách tức thì.
Những
đặc điểm địa lý như vách núi, vịnh, cửa
sông và những cấu trúc dưới biển có thể tiêu giảm
sức mạnh của sóng thần. Tại một số
nơi, sóng thần chỉ khiến mặt biển dâng cao vài cm
hoặc vài mét. Ở những nơi khác, sóng thần
có thể vươn cao tận 30 m. Lũ lụt có thể xâm lấn
lục địa khoảng 300 m hoặc xa hơn. Sức mạnh
kinh hoàng của sóng thần có thể nhấc bổng các tảng
đá lớn, lật đổ xe cộ và phá huỷ
nhà cửa. Sóng thần có thể cập bờ với tốc
độ 160 km/giờ
Sóng thần không nhất
thiết cập bến bằng một loạt các con sóng dữ.
Nó có thể giống như một đợt thuỷ
triều nhanh. Trường hợp này thường đi kèm với
xoáy nước, hút mọi người ở dưới và tung xoáy đồ vật nặng ở phía trên. Nhiều người cho biết sóng thần có tiếng
động như một chiếc tàu chở hàng.
Thái
Bình Dương là nơi có nhiều sóng thần nhất. Nhưng sóng thần
đã xảy ra ở mọi vùng, bao gồm cả biển
Carraĩbe, Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương và Đại
Tây Dương. Các con sóng thần hung dữ nhất trong lịch sử
là vào năm 1782 tiếp theo sau trận động đất ở biển
Nam Trung Quốc giết chết 40.000 người. Năm 1883, khoảng
36.500 người đã thiệt mạng bởi sóng thần ở
biển South Jave, theo sau đợt phun trào núi lửa Krakatoa ở
Indonesia. Ở bắc
Dấu hiệu nào cảnh
báo sóng thần sẽ đến ?
Một
trận động đất là dấu hiệu cảnh báo tự
nhiên về sóng thần. Ta cần nên biết là một trận động đất
có thể gây ra sóng thần cách đó hàng nghìn cây số vài
giờ sau khi cơn rung chấn xảy ra. Nhiều
người nói rằng khi sóng thần sắp xảy ra, mặt
nước biển thường có sự tăng giảm bất thường.
Sóng thần là một
loạt các con sóng lớn và đợt sóng đầu tiên chưa phải
là nguy hiểm nhất. Mối nguy của sóng
thần có thể kéo dài vài giờ sau đợt đổ bộ đầu
tiên. Một Ềcon tàu sóngỂ gồm
liên tiếp các đợt sóng tới cách nhau từ 5 phút cho tới
1 tiếng.
Nhận thức được
mối nguy hiểm này của sóng thần, Tổ chức khảo
sát địa chất Mỹ và Ủy ban xử lý
tình trạng khẩn cấp liên bang đã khởi động
chương trình dự đoán sóng thần chính xác hơn. Khi sóng thần
băng qua đại dương, một hệ thống các máy thu nhạy cảm đặt trên đáy biển sẽ
đo sự thay đổi áp suất trong nước, gửi thông tin
về những bộ cảm ứng gắn trên phao, từ
đó truyền thông tin qua các vệ tinh về trung tâm cảnh
báo.
- Hệ thống cảnh
báo sóng thần (TWS) ở Thái Bình Dương, gồm 26 quốc
gia thành viên, theo dõi các trạm thuỷ triều và địa
chấn học trên toàn bộ Thái Bình Dương. Hệ thống
này sẽ đánh giá những trận động đất tiềm
năng và gửi cảnh báo về sóng thần. Không
có hệ thống cảnh báo sóng thần quốc tế ở
Ấn Độ Dương.
Liên Hiệp
Quốc Yêu Cầu Đóng Góp 130 Triệu Đôla Đối Phó Với
Các Nhu Cầu Khẩn Cấp.
Nhiều nước Tây
phương đã hồi hương nhiều ngàn kiều dân du lịch
tại vùng bị nạn may mắn sống sốt như tại
Ông Egeland chưa đưa ra con số
cho nhu cầu trong đợt kêu gọi tháng giêng. Ngoài
ra còn có một số nhu cầu thêm cho quỹ tái thiết
tại các nước bị thiệt hại nặng nề nhất.
Cho đến nay cộng đồng quốc tế đã cam kết
đóng góp 220 triệu đôla đáp ứng kêu gọi khẩn cấp
130 triệu vì đa số hứa giúp đã được trao
cho Hồng thập tự hay các tổ chức ONG, mà không
riêng cho các hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc.
Theo ông Egeland ngoài ra còn phải kêu gọi giúp cho
Ủy
Ban Hồng Thập Tự Quốc Tế Kêu Gọi Khẩn
Cấp Giúp Vùng Á Châu Bị Thiên Tai.
Ủy ban Hồng Thập
Tự quốc tế (CICR) bày tỏ lo ngại dịch bệnh
xuất hiện có thể truyền đi theo dòng thủy
triều gây ngập lụt khắp 9 nước Đông Nam Á và Nam
Á. Phát ngôn nhân của CICR, Marie François Borel xác nhận cơ quan
và Hội Lưỡi Liềm đỏ đã họp lại tập
trung số thuốc men cho 2.000 trường hợp bệnh tiêu
chảy, cũng như thuốc trị bệnh nhiễm trùng
các loại cho 100.000 người.
Thiệt Hại Do Sóng
Thần Gây Ra Tại Á Châu Có Thể Trên 10 Tỉ Đôla.
Theo đánh giá của
chuyên gia Gerhard Berz, công ty bảo hiểm Muchich Re (Thụy Sĩ)
trên đài truyền hình Deutsche Welle (Đức) hôm 29/12, động
đất và sóng thần tác hại lên 8 nước châu Á gây tổn
thất vật chất lên tới 10 tỉ euros (13 tỉ
đôla). Munich Re là công ty tái bảo hiểm hàng đầu
thế giới. Theo các chuyên gia kinh tế, những cam
kết viện trợ của nhiều nước, và hàng viện
trợ đang đổ vào các nước bị thiên tai
có thể giúp các nước này không cần phải vay những
khoản nợ mới từ Ngân hàng thế giới (WB) hay
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).
Hiện đã có hơn
20 nước cam kết viện trợ khoảng 60 triệu mỹ
kim, cùng với Liên Hiệp Quốc tiến
hành giúp đỡ khẩn cấp cho các nước bị nạn
trong vùng. Về phần mình, Ngân hàng Thế giới cam
kết cho các nước có nhiều món nợ đáo hạn, có thể
vay thêm để sớm khôi phục hạ tầng cơ sở sau
thiên tai. IMF cũng cho biết sẵn sàng
hỗ trợ các khoản tiền vay ưu đãi cho các nước
trong vùng động đất và sóng thần. Tuy nhiên, theo các chuyên
gia kinh tế quốc tế, có thể chỉ có Tích Lan và
Nam Dương là hai nước chịu thiệt hại về người
và vật chất nặng nề nhất trong thảm họa
26/12, sẽ phải vay tiền từ hai định chế tài
chánh quốc tế này.
***
Trước thảm trạng
của thiên tai này, nhiều quốc gia Á Châu đã hủy
bỏ các lễ đón mừng năm mới 2005, dành thời giờ
để thương tiếc, để tang các nạn nhân của trận
động đất và các đợt sóng thần gây nhiều tang tóc
vừa qua.
Các thứ trang trí tươi
vui, để đón mừng năm mới 2005, tại các khách sạn
sang trọng hay tại các trung tâm nghỉ mát, phần lớn
dành cho các người Tây Phương, đi trốn cái lạnh của Âu
Châu, các dinh thự, cơ quan chính phủ từ Sri Lanka, cho đến
Indonesia, Mã Lai Á, Thái Lan, Ấn Độ... đều
đã được tháo bỏ, sau khi các nước này, đã quyết
định bãi bỏ các buổi lễ đón mừng năm mới,
để thương tiếc hàng loạt các nạn nhân đã qua đời
vì các đợt sóng thần vừa qua.
ÐỖ
Yêu cầu tổ chức một cuộc trưng cầu dân
ý ở Việt
(LÊN MẠNG THỨ BA 14
THÁNG MƯỜI HAI 2004)
THÀNH phố Hồ chí Minh, ngày 10/12/2004.
Thư ngỏ
Kính gửi :
Quốc
hội và Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt
Ban chấp hành trung ương Đảng cộng
sản Việt
Các cơ quan truyền
thông trong và ngoài nước.
Các bạn bè quan tâm.
Tên tôi là :
Đỗ Nam Hải - Sinh năm 1959, tại Hà Nội.
Thường trú tại : 441 Nguyễn Kiệm
- Phường 9 - Quận Phú Nhuận - Tp. HCM.
Nghề nghiệp : kỹ sư kinh tế
ngân hàng.
Tôi viết thư ngỏ này gửi
tới các cơ quan trên và các bạn bè quan tâm, để trình
bày một số vấn đề sau đây :
Trong thời gian sinh sống tại
ÚC (
Việt
Việt
Suy nghĩ về nhận
thức lại. (6/2001)
Viết về chủ
tịch Hồ Chí Minh (7/2001)
Viết tiếp về nhận thức
lại. (8/2001) (đang được đăng trên
1 số trang web như : Đàn Chim Việt & Mạng Ý
Kiến online. Click : www.danchimviet.com
& www.ykien.net - Mục Tác giả).
Những nội dung chính được
tôi nêu ra trong 5 bài viết ấy là : đặt vấn đề
nhận thức lại những vấn đề quan trọng
của đất nước, thường được các phương tiện
thông tin đại chúng đăng tải, các nhà trường, học viện
ở Việt Nam giảng dạy như : chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên nhân của 2 cuộc
chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975), sự hình thành và tan
rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa
(1917-1991), công cuộc đổi mới hiện nay và sự tụt
hậu của Việt Nam so với các nước trong khu vực
& thế giới. Đồng thời, nêu lên ý kiến
đề nghị tổ chức 1 cuộc Trưng cầu dân
ý ở Việt Nam (được trình bày cụ thể
tại phần 4, trong bài Việt Nam đất nước tôi), nhằm
mở đường cho dân tộc giải quyết tận gốc
sự tụt hậu hiện nay. Đầu năm 2002, tôi đã
trở về Việt Nam và tháng 10/2004 vừa qua, tôi có bài trả
lời phỏng vấn đài Á Châu Tự Do (RFA), với nội
dung điểm lại những quan điểm của mình,
đã được thể hiện trong 5 bài viết trên.
Chiều ngày 6/8/2004, trong khi
tôi đang làm việc tại ngân hàng thì có một số sĩ
quan thuộc Cơ quan an ninh - Bộ công an đến tận nơi,
khéo léo mời tôi lên một chiếc xe hơi để đi làm việc
tại ngôi biệt thự số :
310 đường Trường Chinh - Phường 13 - Quận Tân
Bình - Tp. Hồ Chí Minh. Sau đó, tôi bị giữ lại
đây hơn 2 ngày (từ 16 giờ ngày 6/8/2004 đến 18 giờ ngày
8/8/2004), để "Trả lời một số vấn đề
liên quan đến an ninh quốc gia",
theo như nội dung ghi trong Giấy Mời. Bốn tháng sau,
tôi lại bị các sĩ quan công an trên giữ lại 24 tiếng
(từ 17 giờ ngày 3/12/2004 đến 17 giờ ngày 4/12/2004) tại
trụ sở Công an quận Phú Nhuận, số :
181 đường Hoàng Văn Thụ - Phường 8 - quận Phú Nhuận
- Tp. HCM. Cũng trong khoảng thời gian 4 tháng qua, tôi
còn bị hàng chục lần phải đi làm việc theo
yêu cầu của công an : khi thì ở
nhà hàng, khi thì trong những phòng kín của các khách
sạn khác nhau ; khi thì trên một chiếc xe cứu
thương bít bùng trên bờ kênh Nhiêu Lộc, thuộc quận Tân
Bình. Máy tính của tôi (cục CPU) cũng đã bị
tạm giữ từ ngày 4/12/2004 tại Công an quận Phú
Nhuận, và theo lời giải thích miệng của công an là : "khi nào chúng tôi xóa hết các dữ
liệu trong đó thì sẽ trả cho anh".
Vì vậy,
hiện nay tôi không có phương tiện làm việc tại nhà.
Trong những lần gặp
trên, tôi đã trả lời các sĩ quan công an (từ cấp
úy đến cấp đại tá), đại ý rằng :
"Đúng, tôi đã viết những bài tiểu luận ấy.
Động cơ duy nhất để tôi viết và phổ
biến chúng trên Internet là lòng yêu nước. Tôi mong
muốn và nguyện đóng góp một phần nhỏ bé của
mình để thúc đẩy cho nền dân chủ ở Việt
Rất dễ
dàng để chứng minh cho nhận xét trên, và điều này
thì có nhiều người dân chủ Việt
Về những
mối quan hệ của tôi với mọi người ở cả
trong và ngoài nước trong hơn 4 năm qua (6/2000 - 12/2004), thì tất
cả đều là những mối quan hệ chỉ thuần
tuý trao đổi cho nhau những bài viết về dân chủ. Tôi luôn ý thức được rằng
mình hoàn toàn có đủ bản lĩnh và sự tự tin
để sẵn sàng đối thoại với tất cả mọi
người, dù họ là ai, quá khứ và hiện tại của
họ thế nào. Nếu họ đúng thì
tôi ủng hộ, còn nếu họ sai thì tôi phản
đối. Tôi không hề hẹn hò, kích động ai để
gây bạo loạn hay lật đổ ;
đặt bom hay đặt mìn ở đâu cả. Ngược lại,
những người đối thoại với tôi cũng vậy : họ luôn tôn trọng tôi và thấu
hiểu rất rõ quan điểm của tôi, được thể
hiện trong những bài viết của mình là : chỉ
ủng hộ những cách làm dân chủ, nhằm tạo ra
những bước chuyển mình thực chất cho dân tộc
mà thôi. Các anh đã đọc những bức thư của tôi gửi
đi và của mọi người gửi đến cho tôi (kể cả
bắt buộc lẫn đọc trộm) ;
đã đọc những ý kiến của tôi và mọi
người trao đổi với nhau trên diễn đàn Nhà Việt
Theo tôi, dân tộc Việt Nam
hôm nay muốn tìm được một lối ra phù hợp,
nhằm hòa nhập được tốt vào thế giới
hiện đại, thì điều quan trọng tiên quyết
là phải nhận thức và xử lý cho tốt nguyên
nhân sinh ra biết bao nỗi tai ương đau đớn và sự tụt
hậu đến nhục nhã cho đất nước như
đã nêu ở trên. Đồng thời, phải tránh một
quan niệm hết sức sai lầm cho rằng :
hễ cứ ai đấu tranh cho một xã hội Việt
Nam đa nguyên và một thể chế chính trị Việt Nam
đa đảng thì họ chính là những người có "mưu
toan lật đổ Đảng cộng sản Việt Nam của
các thế lực thù địch trong và ngoài nước". Tôi
cho rằng : chính nguy cơ bị mất
quyền lãnh đạo đất nước bởi các lực
lượng chính trị đối lập khác, sẽ là một áp
lực rất quan trọng và rất cần thiết để
ĐCSVN ngày càng trở nên tử tế hơn trước dân tộc
và lịch sử. Nó sẽ có tác dụng tích cực để
chống lại sự thoái hóa, biến chất với quy
mô và tốc độ ngày càng cao của đại bộ phận
những người hiện đang nắm quyền lực trong
ĐCSVN ; trong bộ máy chính quyền từ trung ương tới
địa phương và cơ sở ở Việt Nam hôm nay.
Nói một cách khác, nó chính là
chiếc chìa khóa vàng để giúp ĐCSVN xốc lại đội
ngũ của mình, nhằm thay thế
cho việc "bảo vệ đảng, bảo vệ chế
độ ta" bằng phương cách "chuyên chính vô sản
hóa" toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế,
xã hội của đất nước trong suốt nửa
thế kỷ qua. "Trái bóng" hiện thuộc về
những người đang nắm thực quyền trong Bộ
chính trị và Ban bí thư trung ương ĐCSVN. Chúng
ta không sợ đất nước không có những dự án đúng để
xây dựng và phát triển, mà chỉ sợ đường đi của
cả dân tộc bị chọn sai !
Dân tộc hôm qua đã chọn sai đường thì hôm nay
dân tộc đó hãy dũng cảm vượt qua chính
mình để cùng nhau nhận thức lại, cùng nhau hợp
sức để chọn lại con đường mới sáng sủa
hơn, nhân bản hơn cho dân tộc mình ; đấy là lẽ
bình thường. Đừng nên để đến một ngày nào
đó, với tiếng thét ầm vang của nhân dân phẫn nộ,
mà phải diễn ra cái cảnh như ở Rumani vào tháng 12 năm
1989 ; với kết cục là cái chết đích đáng và nhục
nhã của vợ, chồng tên độc tài Ceausescu (bị
xử tử). Lúc đó thì đã là quá muộn.
Tôi là người Việt
a) Những nhận xét :
Một trong những đặc điểm
đậm nét của thời đại ngày nay là thời đại sụp
đổ của tất cả các chế độ độc tài, độc
đảng trên phạm vi toàn thế giới. Chỉ 20 năm trở
lại đây, nhân loại đã chứng kiến sự cáo
chung của rất nhiều chế độ như vậy, như ở
Nam Hàn, Chilê, Philippines, Indonesia, Nam Tư , Afghanistan, Iraq ; cũng
như ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
cũ Đông Âu, … Các quốc gia trên dẫu đã, đang và sẽ
phải trải qua những khó khăn, thử thách ở những
mức độ khác nhau ; nhưng sớm muộn gì họ
cũng sẽ thực hiện thành công bước chuyển từ
một xã hội thần dân lạc hậu sang một
xã hội dân sự tiến bộ ; nó cũng chính
là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Không ai hoặc bất cứ thế lực nào, dù
có bảo thủ và tàn bạo đến đâu, có thể ngăn cản
được xu thế tất yếu ấy. Xin ai hãy
đừng đắc chí mà chỉ chăm chăm đi bới tìm những
khó khăn trong bước đầu chuyển mình của các quốc
gia trên, để hòng làm con ngoáo ộp đe dọa nhân dân Việt
Hễ chừng nào
còn chế độ độc đảng trên đất nước ta
thì chừng đó sự bất công, đói nghèo và tụt hậu
càng trở nên sâu sắc và trầm trọng - Đó là điều
khẳng định. Đất nước đã bước ra khỏi
cuộc chiến tranh gần 30 năm rồi, nhưng hôm nay con đường
đi của dân tộc ấy vẫn loằng ngoằng, quờ
quạng như đường đi của người bị khiếm thị
nặng : đã đi trên con đường lạ
thì chớ mà lại còn bị mất kính, mất
gậy ! Chế độ ấy cũng
hòan tòan bất lực trước quốc nạn
tham nhũng và cũng không thể ngăn chặn được
tình trạng đạo đức xã hội xuống cấp
nghiêm trọng như hiện nay. Dẫu rằng,
những khẩu hiệu hô hào cho những mục tiêu đó
thì không hề thiếu. Lòng tin ngây ngô của
nhiều người Việt Nam, về cái gọi là đường lối :
"Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa" (là thứ không
hề có trong các bộ sách kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin), cũng chẳng khác nào sự cả tin đến
thương hại của chú bé ngày xưa - trên cánh đồng, trong thơ
Hoàng Cầm : Cứ mải mê đi tìm chiếc "lá
Diêu Bông" mà không hề biết rằng "bà chị"
kia đã len lén đi "lấy chồng" từ hồi nảo,
hồi nào rồi ! Những "chú bé" kia hiện
đang chiếm đa số trong xã hội Việt Nam cứ
mãi vẫn nghèo, đã làm "bệ phóng" tốt
cho một thiểu số như cha con nhà Mai Văn Dâu nọ
mãi vẫn giàu !
Tôi cũng không rõ là những
sĩ quan công an đã làm việc với tôi trong hơn 4 tháng
qua có sự so sánh nào không, trước sự tương phản giữa
mức sống của tôi, của các anh và gia đình (mà
tôi tin rằng mức sống của chúng ta vẫn còn
hơn biết bao nỗi nhọc nhằn có đầy trên mặt
đất Việt Nam này), với những "hào kiệt"
trong ngành dầu khí kia ?
Ở đó, họ đã làm ảo
thuật để chia chác với nhau hàng triệu đô la Mỹ,
mà cứ tỉnh bơ như người ta chia mớ
cá ao làng vậy. Những "hào kiệt"
như vậy ngày nay xuất hiện "trù mật" trên khắp
mọi miền đất nước. Điều mà các anh vẫn
hằng tin rằng : mình đang bảo vệ nền
an ninh quốc gia, thì xét ở một khía cạnh nào đó
lại là đang bảo vệ cho một chế độ tham nhũng
ăn tàn, phá hại nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của
dân tộc ta. Nó đang hàng ngày, hàng giờ bòn rút tới rỗng
ruột tài sản của đất nước và tiềm ẩn
những món nợ xấu nước ngoài, mà sau này con cháu chúng
ta sẽ phải è cổ ra trả. Tốc độ
tích lũy tư bản của các "hào kiệt" thời
nay nhanh đến mức chóng mặt. Đúng như nhận xét của
cựu chủ tịch Công đoàn Đoàn kết, cựu tổng
thống Ba Lan - Lếch Valêxa (Lech Walesa) :
Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất
để đi từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa
tư bản ! (mà cái thứ tư bản
ở Việt
b) Kiến nghị :
Vượt lên trên
khó khăn hiện nay của mình như đã trình bày. Tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ
và Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam hãy nghiên cứu, xem xét ý kiến đề nghị
của tôi về 1 cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt
Nam.
Trong đó, câu hỏi duy nhất
cần nhân dân Việt
Việt
Nếu ai đồng
ý thì ghi Có. Ai không đồng ý thì ghi Không.
Tôi sẽ rất vui lòng
và sẵn sàng cùng các bạn hữu trong và ngoài nước của
mình chờ đợi những cuộc đối thoại từ
phía Quốc hội, Chính quyền hay ĐCSVN tổ chức, để làm rõ hơn ý kiến đề nghị
trên của mình. Tôi rất mong nhận được
sự quan tâm của các cơ quan trên và xin chân thành cảm ơn trước.
Trường hợp các cơ quan bảo vệ pháp luật ở
Việt
"Tự do không thể
van xin mà được. Tự do phải giành lấy mới có !"
Ðỗ
Từ Phương
Trà Bồng
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Khi rời Việt
Ít tức là có,
dù không được nhiều người. Thông tin bây giờ thì không
khó kiếm. Nhưng vấn đề trước
tiên là mình có dám thắc mắc hay không. Khi dám cả
gan thắc mắc rồi thì gặp phải một vấn
nạn khác : có dám tìm hiểu hay
không. Sau khi tìm hiểu rồi thì vấn nạn
còn... khốn nạn hơn : có dám
nhìn nhận câu trả lời hay không ?
Nay chúng ta biết có một "Chàng
Trai Nước Việt" không phải đợi ra nước
ngoài mới thắc mắc, mà đã thắc mắc từ
hồi rời Hà Nội vào Sài Gòn không lâu, sau ngày đất
nước thống nhất. Thắc mắc mà có
cơ hội là Chàng hỏi ngay. Câu hỏi đầu tiên là : "Thế hồi tết Mậu
Thân năm 68, các chị có đi tải đạn cho các anh bộ đội
giải phóng không ?" Chàng hỏi các cô gái ở Sài
Gòn như vậy, vì muốn biết tỷ lệ đó
thực sự là bao nhiêu % ( !) Các cô
gái Sài Gòn trong lứa tuổi được mô tả qua bài
hát Cô Gái Sài Gòn Đi Tải Đạn của nhạc sỹ
Lưu Nhất Vũ đã trả lời rằng :
"Làm gì có zdụ đó !"(1)
Sang Úc năm 1994 là cơ hội cho
Chàng tìm thêm câu trả lời cho những thắc mắc
của mình. Những thắc mắc to tát hơn nhiều
so với ba cái "zdụ" tải đạn kia. Chàng Trai Nước Việt
tìm hiểu về nền dân chủ đa nguyên, với hệ
thống chính trị đa đảng của thế giới hiện
đại.
Hàng triệu người
đã rời Hà Nội vào Sài Gòn trong hoàn cảnh đó. Hàng chục ngàn người Việt
Chàng Trai Nước
Việt đã tìm được câu trả lời cho những
thắc mắc của mình. Và Chàng đã reo lên "
Tám năm ở Úc,
Phương
Đặc biệt
trong thời gian này nước Úc có một cuộc Trưng cầu
dân ý để chọn lựa đường hướng tương lai. Một là tiếp tục nhìn nhận Nữ
Hoàng (hoặc Vua) nước Anh là Quốc Trưởng. Hai là loại
bỏ hẳn mối liên hệ có tính lịch sử với
Hoàng Gia nước Anh, để thành lập nền Cộng Hoà và
tự bầu Quốc Trưởng người Úc.
Nước Úc trên thực
tế là một quốc gia độc lập hoàn toàn về mọi
mặt. Nhưng trên
danh nghĩa thì vẫn là thuộc địa của nước
Anh. Trong lần Trưng cầu dân ý này
phe vận động cho một nước Úc Cộng Hoà đã
thua. Dù thất vọng, nhưng họ sẽ
tiếp tục vận động cho một cuộc Trưng cầu
dân ý khác trong tương lai. Sẽ có một
cuộc Trưng cầu dân ý khác về một vấn đề
nào đó khi người dân đòi hỏi. Cũng như sẽ
có một cuộc bầu cử khác khi một ứng viên
hay một đảng hết nhiệm kỳ. Tiến
trình này là hơi thở của mọi nền dân chủ
thật sự. Đó là nền dân chủ đa
nguyên.
Phương
Tận dụng quyền tự
do của mình khi ở Úc, Phương
Anh cũng
đã đọc thật nhiều sách vốn không được phổ
biến ở Việt
Phương
Người đọc
có thể đồng ý hoặc không đồng ý với
tác giả. Nhưng khó có thể
nói Phương Nam là bồi bút hay văn nô cho Đảng. "Khó"
chứ không phải là "không", vì Phương Nam có
nhận được những lá thư nặng lời như vậy khi
các bài viết mới được đưa lên Net. Có người bạn
đã bảo với anh là các thư như vậy
hơi đâu mà trả lời. Nhưng nếu có dịp đọc thư trả lời của Phương
Sau bữa cơm tối từ biệt
tại một nhà hàng ở
Sống ở Việt
Giao tiếp với những
người mình thích là quyền chính đáng của con người
khắp thế giới, trừ Việt
Phương
Thế là ông bạn
Tưởng Năng Tiến bắt đầu tính chuyện "mua
bảo hiểm" cho anh.
Qua email và điện thoại, ông Tưởng Năng Tiến đã
nhờ vả, mời mọc, đốc thúc bạn bè của
ông trong giới truyền thông khắp nơi chạy bài và
tìm cách phỏng vấn Phương
Sau cuộc phỏng vấn
đó, đầu tháng 12/2004 thì sự quấy nhiễu của
công an đối với Phương
Tới nước
này thì Phương
Đỗ Nam Hải có được sự
kiên trì không mệt mỏi của ông Nguyễn Thanh
Giang, thái độ hoà nhã nhưng sắc bén của ông Hà Sĩ
Phu và tính bộc trực, thân thiện của ông Trần
Khuê. Đỗ Nam Hải có một hiện tại trong sáng, một
quá khứ trong sạch và một di sản nhẹ tênh của
những Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ
Bình, Nguyễn Khắc Toàn.
Đòi hỏi một cuộc
Trưng cầu dân ý(3) ở Việt Nam của Đỗ Nam Hải
là một đòi hỏi chính đáng, dù tôi có nghi ngờ về
tính thực tế của nó. Nó giống như chuyện muốn
bay vào không gian, khi chưa biết làm máy bay cánh quạt. Thật ra chưa biết làm không tệ bằng không
được phép làm. Nhưng tệ hại nhất
phải nói là không được phép học cách làm, mà các vị "đầy
tớ của nhân dân" đang áp dụng với những "ông
bà, chủ" của mình.
Muốn có Trưng cầu
dân ý đúng nghĩa thì phải có quyền thành lập
tổ chức để vận động việc bầu "thuận"
hay "chống". Tức
là quyền tự do lập hội, đoàn, đảng và tự do
ngôn luận phải có. Báo chí và các phương tiện truyền
thông phải được trả tự do. Phải
có luật bảo vệ tính độc lập của các cơ quan
thông tin đại chúng. Không một đảng phái hay thế
lực nào được phép bóp nghẹt tự do ngôn luận, khen
ngợi hoặc im lặng thì được nhưng chê trách
thì cách chức hay đóng cửa, như hiện
nay.
Chúng ta không thể
đoán được những gì nhà cầm quyền Việt
Trà Bồng
(Mùa Giáng Sinh năm 2004)
(1) Viết Tiếp về Nhận
Thức Lại - Phương Nam Tiểu Luận, Tháng 8 năm 2001, Úc Đại
Lợi
(2) Nhà toán học và vật thể học Hy Lạp - hơn 200
năm trước Tây Lịch - người khám phá ra trọng lượng
nước bị dời chỗ...
(3) Thư Ngỏ, Đỗ Nam Hải - Việt
Chủ Quyền Biển và Họa Đồ Hải Phận
Vũ Hữu
San
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Những Biến
cố Mất-mát và Xâm-phạm hải-phận.
Chưa bao giờ
trong Việt-Sử chúng ta bị mất quá nhiều chủ-quyền
lãnh-thổ, đặc-biệt là mất mát hải-phận
nhiều như vậy trong ít năm vừa qua. Không những Việt-Nam thiệt hàng chục
ngàn Km2 tại Vịnh Bắc-Việt cho Trung-Cộng, ngay
vùng có tiềm năng dầu khí giữa Vịnh ;
nước ta còn mất nhiều ngàn Km2 cho Thái-Lan tại
Vịnh Phú-Quốc và mất mát nhiều chục ngàn Km2 nữa
cho Nam Dương tại vùng biển phía Nam Côn-Sơn.
Theo Ông Lê Minh Nghĩa Về vấn
đề hải-phận Việt Thái, giữa hai nước có một
vùng chồng lấn rộng khoảng 6000 km2 do Việt Nam
có tính đến hiệu lực của đảo Thổ Chu,
còn Thái Lan thì phủ nhận hiệu lực của
đảo Thổ Chu. Từ năm 1992 hai bên đàm phán
qua 9 vòng cấp chuyên viên.
Ngày 9/8/1997 hai nước
ký Hiệp định về phân định ranh giới trên
biển giữa hai nước.
Theo hiệp định, Việt
Năm 1972, Indonesia và chính quyền
Sài Gòn đàm phán 1 vòng, quan điểm của Indonesia là
phân định theo trung tuyến giữa các đảo xa nhất của
hai bên, quan điểm của Sài gòn là trung tuyến Giữa
bờ biển Việt Nam và Bornéo, hai quan điểm tạo nên
vùng chồng lấn rộng khoảng 37,000 km2. (Đảo
Natuna bắc là đảo xa nhất của Indonesia đối diện
với miền Nam Việt Nam cách Bornéo 320 km ; Côn đảo,
đảo đối diện với Natuna bắc chỉ cách đất
liền 90 km)
Từ năm 1978
CHXHCN Việt
Qua 10 vòng đàm phán hai bên
đã dần dần thu hẹp được vùng tranh chấp xuống
còn khoảng 4,500 km2 nhưng đầu năm 1993 Indonesia đề
nghị huỷ bỏ toàn bộ kết quả đàm phán từ
1978 đến 1992 và đàm phán lại từ đầu.
Không bản-đồ
nào được tiết-lộ. Khi
muốn biết phải tìm tài-liệu Thái-Lan và
Trung-Cộng vẫn
tiếp-tục lấn-áp Việt-Nam.
Sự mất
mát hải-phận rất đau lòng. Sự mất mát không tạo
hòa-bình cho người dân Việt làm ăn
yên-ổn như người CS tính-toán. Trung-Cộng vẫn tiếp-tục
lấn-áp qua nhiều hình-thức khác nhau :
- Trung Quốc phản-đối,
cản-trở không muốn cho Việt-Nam gọi đấu thầu
các lô dầu khí Phú Khánh, ngoài bờ biển Phú-Yên
Khánh-Hòa. Căn cứ vào luật
pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn
thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
của Việt
- Trung Quốc mang dàn khoan
KANTAN 3 đến hoạt động tại khu vực có tọa độ
17 độ 26 phút 42 giây Vĩ độ Bắc, 108 độ 19 phút 05
giây Kinh độ Đông, cách bờ biển Việt Nam 63 hải
lý, cách bờ biển đảo Hải Nam, Trung Quốc
67 hải lý từ ngày 19/11 đến 31/12/2004. Cũng căn
cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước
của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982,
khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của Việt
- Trung Quốc gửi
tàu thuyền xâm phạm chủ quyền vùng biển VN. Từ đầu năm 2004 đến nay, riêng Bộ
đội Biên phòng Đà Nẵng đã phát hiện 1,017 lượt
tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển
Việt-Nam, uy hiếp ngư dân làm ăn trên biển. Trong đó
đã gây ra 89 vụ tông va, làm chết và mất tích 23 người,
bị thương 6 người, chìm và hư hỏng 10 phương tiện,
12 thúng câu, mất cắp trên 13,000m lưới các loại...
Ngoài Đà Nẵng, những vùng duyên-hải khác không biết
tình-hình ra sao ? Có lẽ cũng
vậy !
Đi tìm Bản-đồ
Hải-phận.
Những chuyện
lộn-xộn với Trung-Quốc sẽ còn tiếp-tục. Địa-điểm này hay địa-điểm kia có nằm
trong hải-phận Việt-Nam hay không ?
Chúng ta cần phải có tấm bản-đồ
hải-phận mới có thể xác-nhận được.
Công-việc vẽ
bản-đồ Đất Nước (kể cả hải-phận)
là bổn-phận của chính-quyền. Ngay khi vào học lớp Vỡ lòng hay
Đồng Ấu gần trăm năm trước, học trò Việt-Nam
nào cũng thấy tấm bản-đồ nước ta trên vách
tường. Ranh giới "Đất" như vậy
đã có từ lâu, còn ranh-giới "Nước"
cho đến hôm nay vẫn chưa ai nhìn thấy !
Mọi tài-liệu
về địa-lý, chính-trị, giáo-dục trong nước
Việt-nam đều đã xác quyết vùng hải-phận Việt-nam
rộng lớn gần l triệu km2 tức gấp 3 lần
diện tích đất liền. "Nhà Nước đã và đang cố-gắng vẽ
địa-đồ chữ "S nhỏ 329,560km2" cho thêm
chính-xác. Bản-đồ chữ "S lớn
1,329,560 km2" và bản-đồ hải-phận Việt-Nam
1,000,000 km2 tức gấp 100 lần vùng biển đã mất
cho Trung-Cộng cũng phải cho nhân-dân biết mà cùng nhau
bảo-toàn Đất Nước Tổ Việt-Nam."
Truy lùng sách vở
tài-liệu, người ta đã tìm thấy một số
bản-đồ được vẽ một cách phỏng chừng bởi
người nước ngoài. Cá-nhân
chúng tôi cũng từng vẽ một số sơ-đồ với
các đường ranh giới hải-phận kinh-tế theo những
giả-thuyết trong sách "Địa lý Biển Đông
với Hoàng-Sa, Trường-Sa".Để chấm dứt bài
viết, chúng tôi mạo muội trình-bày một số
bản-dồ hải-phận kiểu "giả-thuyết"
như vậy và mong mỏi sớm thấy một bản-đồ
chính-thức cho quốc-gia.
Những hành động
xâm lược của Trung Quốc.
Người phát ngôn của Trung
Quốc là bà Chương Khải Nguyệt đã tuyên bố rằng
Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với các quốc gia khác
trong khối ASEAN, kể cả Việt Nam, trên cơ sở tôn
trọng lẫn nhau, bình đẳng, và đôi bên cùng có lợi.
Trung Quốc cho rằng, các nước liên hệ nên tích cực
tìm kiếm những phương thức để thực hiện
các kế hoạch phát triển chung trong
vùng biển Đông. Theo Ông Trần Đức :
Hành động và những lời tuyên bố của Trung Quốc
cho thấy, một là Trung Quốc ngang ngược, xâm phạm
lãnh hải của Việt Nam khoan dầu rồi kêu gọi
Việt Nam hợp tác ; hai là Trung Quốc đã dựa
trên những thỏa thuận đã được chính quyền
Hà Nội ký kết với họ để hành xử quyền
hạn của họ. Như thế, lời phản
đối của Hà Nội chỉ mang tính chất hình thức
để làm dịu sự bất mãn của quần chúng
(1). Liệu Hà Nội còn có thể làm được
gì thêm để bảo vệ bờ cõi ?
Kể cả tấm bản-đồ hải-phận
Việt-Nam họ cũng không làm. Tại sao ?
Hà Nội mập-mờ để
tiếp-tục bán thêm biển hay sao ?
... phải
nhìn thấy trong hành động, kéo giàn khoan xâm phạm thềm
lục địa Việt
... phải nhìn thấy
trong hành động cấm cản Việt-Nam gọi đấu thầu
các lô dầu khí Phú Khánh, ngoài bờ biển Phú-Yên
Khánh-Hòa là một hành động xâm lược.
... phải
nhìn thấy trong hành động tàu thuyền Trung-Cộng
xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt-Nam, uy hiếp
ngư dân làm ăn trên biển là những hành động xâm lược.
Muốn giữ được
cõi bờ, dân phải giầu, nước phải mạnh ; người dân phải được tham
gia quản lý đất nước. Đồng-bào Việt-Nam
chúng ta không thể trông cậy vào đảng CSVN vốn dĩ
thông đồng với ngoại bang làm hại đất nước.
Chúng ta có thể đề-nghị,
thỉnh-cầu các Ông Tổng Bí-Thư Nông Đức Mạnh (vốn
là Học viên Trường trung cấp nông lâm, từng vẽ và
sử-dụng bản-đồ nông-lâm) với Chủ tịch
Trần Đức Lương (2) (từng học sơ cấp, học bổ
túc trung cấp địa chất, vốn là họa-viên
chuyên-nghiệp của Nhà Nước) vẽ hay chỉ-thị
nhân-viên vẽ ngay Bản-đồ hình chữ "S lớn
1,329,560 km2" và bản-đồ hải-phận Việt-Nam
1,000,000 km2 (gấp 3 lần lãnh-thổ) mà các Ông và Nhà
Nước đã công-bố từ lâu, trước khi quá muộn.
Sự cần-thiết
vận động Dân Chủ cho Việt-Nam.
Chẳng nhẽ đất nước
này chỉ của riêng đảng viên Cộng sản Việt
Người Việt
Những nhà trí thức lớn
tuổi như Phan Đình Diệu, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ
Phu, Phạm Quế Dương, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê... đã
thực sự kinh qua chế độ cộng sản và những
thay đổi đầy hung hiểm của nó. Họ
thấy chế độ cộng sản và những thoái hóa của
nó đã và đang là một trở lực cho bước đi của
dân tộc, cản đà phát triển của đất nước,
làm khổ toàn dân. Còn giới Trí Thức Trẻ
Việt Nam, như Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ
Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Đỗ Nam Hải, họ đều
sinh ra lớn lên trong lòng chế độ Cộng Sản
Miền Bắc, đúng ra, họ là thành phần mà cộng đảng
hy vọng chọn làm người thừa kế cho chế độ.
Nhưng nay, họ đã tỉnh giác, thà để bị chế
độ trừng phạt tù đầy, chứ nhất định
không chịu thừa hưởng cái gia tài độc tài đảng trị
của Cộng Sản, để phải trả giá đối với
sự nổi giận của toàn dân. Họ đích thật là
tiếng nói đại diện cho toàn thể Trí Thức Trẻ
Việt Nam ở trong nước, lớp người đang đứng
lên làm lịch sử, và là tiếng nói đại diện cho nhu
cầu Dân Chủ của Việt Nam.
Chúng ta, Người Việt Hải
Ngoại, đặc-biệt là giới trẻ, cần vận
động Toàn Dân và Quốc Tế hỗ trợ những người
Trẻ Việt Nam ở trong nước.
Vũ Hữu San
(1) "Làm sao giữ được
bờ cõi ?" Trần Đức. (VNN) ngày 18/11/2004, Lên mạng Thứ
tư 24, Tháng Mười Một 2004.
(2) Tiểu-sử "Đồng
chí Trần Đức Lương" được ghi như sau :
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Nước CHXHCN
Việt
2.1970-8.1975 :
Phó Cục trưởng Cục Bản đồ Địa chất, Uỷ
viên Thường vụ Đảng uỷ Cục.
9.1975-7.1977 :
Học Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Bí thư chi bộ
lớp.
8-1977-2.1987 :
Phó Liên đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ
Địa chất, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa
chất (sau đổi là Tổng cục Mỏ Địa chất).
Bí thư Đảng ủy Liên đoàn, Ủy viên
Ban chấp hành Tổng Công đoàn Việt
Tâm tình nhân dịp Giáng Sinh 2004
LM Phan Văn Lợi - LM Nguyễn Hữu Giải
(LÊN MẠNG THỨ SÁU 24 THÁNG MƯỜI HAI 2004)
KÍNH thưa toàn thể đồng bào Việt
Kính thưa toàn thể anh chị
em Kitô hữu,
Lễ Giáng sinh lại
về trên khắp địa cầu. Sứ điệp Giáng sinh đầy
hy vọng lại tiếp tục vang lên mọi chốn.
Nhưng câu chuyện Giáng sinh đầy tang thương cũng tiếp tục
tái diễn ở nhiều nơi, đặc biệt trên đất nước
Việt
1- Đức Giêsu vẫn tiếp
tục chịu cảnh bơ vơ nơi quê nhà trong những con người
Việt Nam -vô vàn vô số- đang sống trên mảnh đất
hình chữ S không phải như công dân tự do của một
đất nước dân chủ độc lập, thành viên trong một
đại gia đình dân tộc yêu thương nhau, nhưng như những
thần dân mất hết mọi quyền suy nghĩ, ăn nói,
hành động và xây dựng cuộc sống cá nhân theo ý
mình, làm chủ vận mạng của mình, đến
nỗi không ít kẻ mơ về một vùng đất hứa xa
xôi, trong nỗi đoạn trường phải rời bỏ nơi
chôn nhau cắt rốn. Đức Giêsu vẫn tiếp tục
chịu cảnh bơ vơ nơi quê nhà trong những
dân tộc thiểu số bị cướp lấy đất đai
tổ tiên đã để lại bao đời, bị tước mất
đức tin ông bà đã lãnh nhận thuở trước, đến
nỗi phải trốn chạy vào rừng sâu. Đức Giêsu
vẫn tiếp tục chịu cảnh bơ
vơ nơi quê nhà trong những nông dân nghèo khổ bỏ quê lên
thành phố, rời Bắc vào miền
2- Đức Giêsu vẫn tiếp
tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực trong các con dân đất
Việt bình quân không kiếm đủ 2 mỹ kim một
ngày, thiếu thốn những phương tiện phát triển, những
cơ hội học hành, những hoàn cảnh thuận lợi
để tiến thân, những điều kiện cần thiết
để xây dựng tương lai cho mình và cho con cháu. Đức
Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực
trong những gia đình điêu đứng vì phải chạy
đủ thứ phí vô lý cho việc học, phải bán
con đi làm vợ ngoại kiều, làm điếm lân bang, phải
gởi thân nhân ra nước ngoài lao động
để rồi mắc những món nợ không bao giờ trả
nổi. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh
khó nghèo cùng cực trong những sinh viên thiếu ăn và trầy
trật kiếm mảnh bằng tốt nghiệp để rồi
thất nghiệp vì không đủ tiền bạc mua một
chỗ làm ; trong những di dân lao động bị bóc lột
tận xương tủy ở nhiều khu chế xuất, xí nghiệp
công ty, đến độ phải bán thân, đẻ thuê để kiếm
thêm thu nhập ; trong những nhà giáo lương không đủ sống
tới nỗi phải bán cả nhân cách của mình qua
việc dạy thêm, móc ngoặt. Đức Giêsu vẫn tiếp
tục chịu cảnh khó nghèo cùng cực trong những con
người nghèo nhân phẩm vì bị tước hết mọi
nhân quyền cơ bản, chỉ còn quyền xin phép, đút
lót và vâng lệnh ; trong những con người nghèo niềm
tin vì bị cản trở, hăm dọa trong thực hành
tôn giáo ; nghèo độc lập tự do vì bị coi
như một cá thể trong một bầy đàn dưới ngọn
roi độc tài toàn trị ; nghèo tự hào dân tộc
vì đất nước tụt hậu, chính thể thối
nát, xã hội nhiễu nhương, đất biển của tổ
tiên bị dâng cho ngoại quốc.
3- Đức Giêsu vẫn tiếp
tục chịu cảnh bạo vương đàn áp trong những thần
dân đất Việt đang sống dưới quyền cai trị của
những ông vua cũng da vàng máu đỏ nhưng đã mất hết
lòng nhân ái, tính liêm chính và ý thức trách nhiệm ;
đang nơm nớp lo sợ khủng bố từng ngày, dè dặt
trong lời ăn tiếng nói hành động từng giây, vì đủ
mạng lưới theo dõi kiểm soát dày đặc của
chính quyền, đoàn đảng, công an, quân đội, mặt trận... ;
đang bất lực trong việc kêu oan, trình bày lẽ phải,
đòi hỏi công lý, vì toàn bộ chính quyền,
tòa án, quốc hội, phương tiện truyền thông, lực
lượng an ninh đều nằm trong bàn tay thao túng của đảng
CS ; đang thấy tương lai u tối vì quyền quyết
định vận mạng đất nước và định hướng
tiền đồ dân tộc không thuộc về nhân dân vốn
bị xem như cỏ rác, thậm chí như nô lệ. Đức Giêsu
vẫn tiếp tục chịu cảnh bạo vương đàn áp
trong hàng triệu trẻ thơ bị phanh thây mỗi năm ngay nơi
dạ mẹ vì một chính sách dân số áp đặt và
tàn nhẫn, trong những nhà đối kháng dân chủ bị bắt
bớ vô lý, bị xét xử vô luật, bị giam cầm
vô nhân đạo trong những quần đảo Goulag của thế
kỷ 21. Đức Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh
bạo vương đàn áp trong những tín đồ nghe thấy nhà cầm
quyền lớn tiếng công bố tôn trọng tự do tôn
giáo nhưng thủ sẵn ý đồ thâm độc diệt đạo,
như Hêrôđê ngày xưa nhắn ba đạo sĩ tìm cho ra nơi ở
của Chúa Hài nhi để cùng đến thờ lạy nhưng thực
ra rắp tâm hãm hại Người. Đức Giêsu vẫn tiếp
tục chịu cảnh bạo vương đàn áp trong các lãnh đạo
tinh thần vì đòi hỏi tự do cho con người,
con Chúa, con Phật mà phải bị vu khống, hăm dọa,
cản trở, quản chế, tù đày, ám sát ;
trong những tín đồ sắc tộc bị ép uổng bỏ
đạo bằng đấu tố cầm giam ; trong những
tín đồ Hội thánh tại gia bị đánh nhừ tử
chính khi tụ họp cầu nguyện nơi gia đình...
4- Đức Giêsu vẫn tiếp
tục chịu cảnh long đong nơi đất khách quê người
trong những thiếu nữ còn thơ ngây chưa tới 10 tuổi
đã bị bắt qua Cam bốt làm điếm tại những
động mãi dâm kinh hoàng, trong những thanh nữ thôn quê
bị dụ sang Trung quốc, Mã Lai làm việc, sang Đài
Loan, Singapore làm dâu, nhưng rồi đã mau chóng bị biến
thành những nô lệ lao công, nô lệ tình dục không
có ngày về trước sự dửng dưng của của chính
quyền quê hương và đại diện ở hải ngoại. Đức
Giêsu vẫn tiếp tục chịu cảnh long đong nơi đất
khách quê người trong những thanh niên trai tráng bị lừa
đảo sang
1- Đức Giêsu xuống thế
mang thân phận người vì muốn chia sẻ kiếp
người, vì mến yêu bản tính con người, vì
quyết đề cao phẩm giá loài người. Ngài
đã thực sự làm người để mỗi chúng ta được
làm người thực sự, với tất cả mọi quyền
lợi và nghĩa vụ, với tất cả mọi tiềm
lực và khả năng, với tất cả mọi điều
kiện và cơ hội. Ngài đã đến nhắc lại
ý định tình yêu muôn thuở của Thiên Chúa Cha
trên trời là mỗi người phải được sống, sống
thực sự, sống tự do, sống dồi dào, sống
phát triển trong một cộng đoàn huynh đệ yêu thương giữa
một môi trường thiên nhiên phong phú. Ai ngăn cản ý định
đầy tình yêu và khôn ngoan đó bằng cách chà đạp nhân
phẩm, tước mất nhân quyền, lũng đoạn
xã hội, tàn phá môi trường, triệt tiêu cơ hội,
không tạo điều kiện cho anh em nên người đúng nghĩa,
làm người xứng danh chính là chống lại Thiên Chúa và chống
lại con người .
2- Hơn thế nữa, Đức
Giêsu xuống thế với tư cách con Thiên Chúa mang thân phận
con người để mỗi con người được trở thành
con Thiên Chúa. Ngài đã thông phần nhân tính của
chúng ta để thông chia cho chúng ta thần tính của Ngài.
Ngài đã đến bày tỏ ý định tình yêu kỳ
diệu của Tạo Hóa là mỗi người phải được
biết Thiên Chúa là cha, mến Thiên Chúa như con, phải được
thông ban và có quyền đón nhận sự sống thần linh,
sự sống vĩnh cửu, sự sống hạnh phúc, sự
sống yêu thương trong một cộng đoàn huynh đệ vĩ đại
mang danh Nước Trời, gồm tất cả những ai
đang sống ở thế giới bên kia và thế giới
bên này. Ngài đã không muốn chúng ta chỉ là con cái của
trái đất nhưng còn là con cái của trời cao, nghĩa
tử của Thiên Phụ, với tất cả mọi quyền
lợi và nghĩa vụ, được cùng Ngài đồng thừa hưởng
những phúc lộc chốn thiên đàng. Ngài đã cho biết
chúng ta chỉ thực là con người một khi trở thành
con Chúa, hạnh phúc của chúng ta chỉ thực là trọn
vẹn khi đạt đến Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc. Ai
ngăn cản ý định kỳ diệu vĩ đại đó bằng
cách tiêu diệt tôn giáo, phá hoại Tin Mừng, trói buộc
Giáo Hội, không tạo điều kiện cho anh em nên tín đồ
đúng nghĩa, tín đồ xứng danh, không để tự do cho
anh em tiến về Đấng Chân Thiện Mỹ chính là chống
lại Thiên Chúa và chống lại con người.
3- Trong đêm Giáng sinh, thiên thần
đã hát :
"Vinh danh
Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người
Chúa thương".
Vinh quang của Thiên Chúa chính
là sự bình an giữa nhân loài. Thiên
Chúa được vinh danh khi loài người được bình an trong
tâm hồn và trong xã hội để sống như một
con người và con Chúa phải sống, khi loài người được
tự do trong con tim và trong tập thể để phát triển
những tiềm năng của mình, để thực hiện
những dự định của Thiên Chúa dành cho mình và
cho toàn thể nhân loại. Ai tìm cách tiêu diệt
bình an và tự do mà Thiên Chúa đã ban như thế, ban
cho nhân tâm và ban cho xã hội, bằng cách phá hủy
ý thức tôn giáo, sự hướng thượng của
lòng người, bằng cách áp đặt những quan điểm
vô thần duy vật, gieo rắc khủng bố và hận
thù, nô lệ hóa cá nhân và tập thể, thì chính là chống
lại Thiên Chúa và chống lại con người.
Kính thưa toàn thể Quý vị,
đấy là bấy nhiêu tâm tình mà hai anh em chúng tôi, linh mục
Phêrô Nguyễn Hữu Giải và linh mục Phêrô Phan Văn Lợi,
trong niềm hiệp thông với linh mục Chân Tín và linh mục
Nguyễn Văn Lý, xin kính gởi đến toàn thể
Quý vị với lời chúc mừng Giáng sinh và Năm mới
tốt đẹp nhất.
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Tự do nhân phẩm cho người Việt
Gởi đi từ
Huế ngày 17-12-2004.
Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải
Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi
Những Người Kém Ưu Tiên
Phan Kiến
Quốc
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Ngày 7/12/2004 vừa qua, ngày khai
mạc cúp bóng đá Tiger Cup, bạn tôi từ Mỹ về thăm
nhà hí hửng sắp xếp công việc để đi xem trận
ra mắt của đội VN đụng Singapore lúc 19g45 tại
sân Thống Nhất ở Sàigòn. Lúc đến
mới ngã ngửa ra rằng vé đã bán hết sạch
từ trước đó cả tuần. Tuy nhiên
ở VN cái gì thiếu thì thiếu, chứ vé chợ
đen không hề thiếu. Bạn tôi phải
bấm bụng bỏ ra 150 ngàn để mua cái vé hạng cá kèo
và hớn hở bước vô sân vận động. Tuy nhiên (lại tuy nhiên) ở VN cái gì thiếu
thì thiếu, chứ nghịch lý thì không bao
giờ thiếu. Bạn tôi hăm hở bước vô và ôi
thôi sự thật phũ phàng : không
còn chỗ để đứng chứ đừng nói chỗ ngồi.
Kiễng chân cho thật cao thì cũng chỉ thấy
được cái đỉnh của màn ảnh đại vĩ
tuyến. Trong sân tiếng cổ vũ inh
trời mà mắt mũi chả thấy gì, tức muốn
lộn ruột, đành phải bỏ ra về mà vẫn
còn tiếc tiền.
Khi về đến nhà thuật
lại cho tôi cái nỗi niềm của mình thì tôi
phá ra cười :
- Sao ông không rủ tôi đi với ? Thảo nào bị hố
là phải.
Bạn tôi vẫn còn sùng
máu nạt :
- Hố là hố làm sao ?
- Hết vé cả tuần nay
rồi, nên chỉ đá được ít phút là nhân viên nó mở cửa
xả dàn với lý do là để đông người cổ vũ
cho đội nhà. Tôi thấy nó làm đúng đấy chứ !
Vé in ra bán hết rồi kiểm soát làm quái gì cho mệt,với lại cho tụi nhóc vô còn được
mang tiếng dễ dãi.
- Dễ với chẳng dễ,
thế thì ông trả lời sao cho những người mất
tiền mua vé chợ đen rồi phải về nhà coi ti vi như tôi. Tôi thấy dễ
dãi như thế là mất công bằng.
Tôi chột dạ. Thằng này nói đúng ! Ở vị trí của nó mình cũng sẽ phải
nghĩ như vậy. Vốn là dân ghiền
bóng đá nhưng chỉ trên ti-vi nên tôi hoàn toàn không biết những
mánh của bọn đầu cơ vé Ềmóc ngoặcỂ với
bọn kiểm soát vé. Khi đi hỏi tới nơi tới
chốn thì mới ngã ngửa ra là mình quá
ngây thơ : Vé in ra đã được tuồn
ra ngoài ngả chợ đen kiếm chác và chung chi với khâu
phân phối. Kiểm soát viên thì móc ngoặc để thu tiền mặt và đưa người của
mình vào chứ chẳng có thằng nhóc nào vào đây cả
nên mới xảy ra tình trạng vé (chợ đen)
thì còn nhưng chỗ thì hết. Sự
phi lý lại càng được khuếch đại hơn khi sân Thống
Nhất là sân chỉ xếp chỗ ở khán đài A còn hạng
cá kèo thì ngồi trên thềm, có nghĩa là trên nguyên tắc
số người mua vé (kể cả vé chợ đen) phải ít
hơn số vé in ra. Vậy mà không có chỗ chen chân thì số tiền đám soát vé bỏ
túi quả không ít. Vừa có người cổ vũ,
vừa có tiền, vừa mang tiếng dễ dãi... chỉ
chết mấy thằng mua vé đàng hoàng. Đáng
giận là phải.
Nhưng suy cho cùng. Đây không phải là trường hợp
duy nhất để người ta phải nổi khùng. Trong xã hội VN những thí dụ như thế
đầy rẫy, một ngày một nhiều và ngày càng trầm
trọng hơn.
Cũng cách đây ít lâu một người
em bị xe đụng. Kẻ gây tai nạn vừa lạng lách vừa chạy
ngược chiều. Hắn ta nhăn nhó tỏ ra đau đớn và xin
lỗi em tôi rồi bỏ đi mặc cho em tôi và chiếc xe trầy sướt khắp nơi.
- Thế em không bắt nó bồi
thường à ?
- Ở đây không
có chuyện đó. Mọi người
chỉ giải quyết bằng cách "hòa giải"
như thế thôi ! Chẳng
thấy có ai kiện cáo gì cả.
Lúc ấy tôi thấy
quả cách cư xử "nhân trị" như thế thật
hay. Vì với số lượng
tai nạn như ở VN, sẽ chẳng có
tòa án nào giải quyết nổi. Mặt
khác, cách giải quyết "huề cả làng"
như thế phản ánh cái bản tính xuề xòa của
người mình. Nhưng bây giờ xét cho
cùng thì phương thức "chín bỏ làm mười"
này lại không hay, đặc biệt là trong một xã hội
như VN.
Kiều bào về
VN thăm nhà không ai không khỏi khiếp đảm về cung cách
đi đứng của người mình. Có lẽ trên thế giới không có một
nước nào trên thế giới người ta có thể ung dung
đi ngược chiều với tốc độ kinh hoàng như ở
VN. Hàng ngày trên báo đều có đăng tai nạn
giữa hai xe mô tô chạy ngược chiều, và thường là
dẫn đến tử vong. Có sống được cũng
tàn phế suốt đời. Vậy mà khi có tai nạn chỉ
giải quyết kiểu "nhân bản", kiểu
"xuề xòa" như thế thì làm sao giảm
được tai nạn ? Giải quyết kiểu
như thế chỉ tổ khuyến khích những người chạy
ngược chiều, vượt đèn đỏ ... vì không có biện
pháp nào xử lý họ, và rốt cuộc là những
người chân chính như anh bạn xem bóng đá của tôi là từ
thua tới thiệt. Quả đúng là dễ
dãi kiểu này càng nuôi dưỡng bất công và làm cho
xã hội và dân trí ngày càng thấp đi.
Không chỉ xuề xòa
trong các tại nạn lưu thông, mà ngay trong những va chạm trong đời sống thường ngày cũng
thường được giải quyết theo con đường hòa
giải vì tâm lý ai cũng sợ kiện tụng.
Vừa mất thì giờ lại vừa
tốn kém. Hay nhất là tự thương lượng
với nhau. Nhưng phương cách này chỉ tốt trong một
xã hội có tầm ý thức công dân cao, khi hai bên
tranh chấp không cố ý vi phạm.
Chẳng hạn như cố ý xâm chiếm lộ giới,
xâm chiếm đất đai rồi đòi giải
quyết qua con đường thương lượng với thâm ý
vòi tiền nạn nhân. Chứ còn xử
lý hòa giải trong một xã hội như nước
mình thì chỉ tổ gây thiệt hại cho người
chân chính.
Một trong những vấn đề
gây nhức nhối cho việc quy hoạch đô thị là
tình trạng xây dựng trái phép tràn lan.
Đây là một thí dụ điển hình của
việc dễ dãi tạo ra bất công lớn nhất
trong xã hội. Khởi đầu trong một con hẻm
thông, thoáng, một vài người có hoàn cảnh khó khăn đến
xin đặt một cái chòi nơi đầu hẻm bán thuốc
lá lẻ, bán nước giải khát ; lâu dần họ xin
phép quây cái "quầy hàng" ấy bằng những
vật liệu nhẹ để ngủ luôn ở đấy khỏi
phải đi lại phiền toái. Và sau cùng năm này qua tháng nọ
họ "mua đứt" lại cái không gian ấy để
xây một căn nhà cho dù chiều rộng chỉ hơn 2 mét qua chủ
trương hợp thức hóa đất đai của nhà nước.
Nghe qua thì quả là một
chính sách nhân đạo, nhưng con hẻm bỗng nhiên hẹp mất
2 mét vì tất cả nhà trong con hẻm ấy đều đồng
loạt cơi nới ra (anh làm được tội gì tôi không
làm). Vì thế có nhiều con hẻm còn hơn 1 mét để
qua lại ! Khi có hai người
đi mô tô, một người phải nhường. Nếu có hỏa hoạn thì chỉ có nước
ôm nhau mà chết. Nạn nhân đầu tiên của
chính sách này là những người đầu hẻm, nơi quán cà phê
ngày nào xin tá túc, bỗng nhiên bị mất vị trí tốt
nhất là cạnh một con hẻm khang trang.
Bây giờ trong hơn 1000 con đường
trong Sài Gòn, tính đổ đồng 10 ngàn con hẻm, đố
có tìm được một hẻm nào không xảy ra tình
trạng lấn chiếm như trên. Bây giờ có
muốn trở lại tình trạng đầu vừa khó
vừa tốn vì phải bỏ tiền ra đền bù
cho những quán nước tự phát và đã được hợp
thức hóa đó. Với tình trạng "tấc
đất tấc vàng" hiện nay, đây là một số tiền
không nhỏ trong ngân sách, đó là chưa kẻ biết bao xáo động
trong xã hội có thể xảy ra nếu trở lại
tình trạng trước năm 1975. Đúng là
chỉ dễ dãi mà hậu hoạn khôn lường.
Những quan chức đã nhận tiền hợp thức
hóa đã cao bay xa chạy, những người khố rách áo
ôm thuở nào cũng sang lại căn chòi đi nơi khác, chỉ
có những người chân chính, cả đời tôn trọng luật
pháp là khổ.
Trong kỳ thi
tuyển sinh vào đại học hàng năm, rất nhiều cảnh
ngộ đáng thương đã xảy ra. Nhiều em học xanh máu mặt nhưng rớt
vì chỉ thiếu 1 điểm, thậm chí nửa điểm
trong khi nhiều em khác thiếu 2, 3 điểm nhưng thuộc diện
ưu tiên nên lại được chấm đậu. Đây lại
là một thí dụ của sự ưu đãi đưa đến
tình trạng bất công trong xã hội VN.
Chính sách ưu đãi này đã
có từ năm 1945 tại miền Bắc và 1975 tại miền
Nam. Có 7 đối tượng ưu tiên gồm : người dân tộc
thiểu số, gia đình liệt sĩ, gia đình
thương binh (1), gia đình bà mẹ VN anh hùng (2), gia đình
anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, gia
đình vùng sâu vùng xa. Những tiêu chuẩn
này không có tính loại trừ, cụ thể là nếu vừa
trong một gia đình liệt sĩ, ở vùng sâu, vừa
là người dân tộc có thể được cộng thêm tới
6 điểm. 6 điểm trên điểm tối
đa là 30 thì quả là quá lớn. Cụ thể là nếu
điểm quy định đậu (được gọi là điểm chuẩn)
là 23/30, thì một em không thuộc các diện ưu tiên trên
có 22,75 cũng rớt, và một em chỉ có 17 điểm nhưng
thuộc diện ưu tiên cũng đậu. Có trường hợp
điểm chuẩn chỉ 15/30 thì với điểm ưu tiên,
một em chỉ 9 điểm (dưới trung bình 5 điểm)
cũng đậu, và dĩ nhiên qua đó một em 14,75 không thuộc
diện ưu tiên cũng rớt. Đây quả là một
bất công to lớn vì nó đã loại ra biết bao
học sinh giỏi.
Điều đáng nói
thêm là rất nhiều em đậu trong diện ưu tiên này
đã được "ra trường sớm" vì học
kém, vì kỷ luật. Đại đa số là con nhà "công thần",
con nhà thuộc dạng 5C (3), mang tính ỷ lại vào gia
đình, không quen cố gắng. Những
chỗ trống này lại không được tuyển thêm vì
đã vào năm thứ 2. Các em bị loại vì thiếu
nửa điểm nơi đầu vào lại có lý do để thất
vọng thêm.
Đã từ
lâu, rất nhiều kiến nghị đến từ các nhà
giáo lẫn các bậc phụ huynh yêu cầu sửa đổi
(chứ không hủy bỏ) quy định này. Theo họ, chỉ nên cấp học
bổng và phương tiện cho các diện ưu tiên này có thêm điều
kiện học tập chứ không cộng thêm điểm, mà nếu
có cộng thì cũng tối đa 2 điểm.
Các kiến nghị chính đáng
này đều rơi vào khoảng không ! Vì các thế lực bảo thủ, các đầu
óc "công thần" vẫn còn quá mạnh.
Dựa vào lý luận phải ưu đãi cho những người
có công, dựa vào bản chất nhân hậu phải ưu
đãi cho người nghèo, rốt cuộc lại loại ra
ngoài biết bao nhân tài, nếu không muốn nói là tiếp tục
đào tạo những con người tiếp nối "con đường
hại dân hại nước".
***
Trong 4 mục kể
trên, giải quyết mục số 1 là khả thi nhất. Tuy nhiên căn cứ vào những gì xảy
ra năm ngoái tại SEA Games, và mới đây tại sân Thống Nhất,
người ta ai ai cũng nghĩ là sẽ
không thể cải tiến trong tương lai gần. Cũng như mọi người, ai cũng mong một
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như báo, đài vẫn
thường nhắc đến hàng ngày. Trong ba
mục tiêu trên, tôi thật sự không biết phải chọn
mục tiêu nào khả thi nhất vì có lẽ chúng liên kết
với nhau như một bộ phận không thể tách rời.
Trong khi chờ đợi ngày ấy,
tôi chỉ có cái ước vọng nhỏ nhoi là trở về
con hẻm nhỏ bé của tôi một cách lành lặn. Nơi ấy
các con của tôi vẫn còn đang phấn đấu để
vượt qua thân phận kém ưu tiên của gia đình.
Sài Gòn, 8/12/2004
Phan-Kiến-Quốc
(1) : dĩ
nhiên là thương binh cộng sản, chứ thương binh chế độ
VNCH thì trừ thêm thì có.
(2) : phụ nữ có chồng, con chết
trong chiến tranh (dĩ nhiên cũng phải là phía cộng
sản).
(3) : có nghĩa là Con Cháu Các Cụ Cả.
Tự Hào Là
Người Việt
Nguyễn
Sáng
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Cuối thập niên 70 đầu
thập niên 80 của thế kỷ trước cha mẹ tôi phải
chạy gần hết của cải trong nhà để cho tôi
được Đảng và Nhà nước cử sang nước CHDC Đức
anh em để lao động và học tập, trau dồi kiến
thức để sau này về Tổ quốc góp phần xây dựng
và bảo vệ nước VN XHCN. Hòi đó tôi cũng như những
thanh niên VN khác vẫn còn bừng bừng khí thế,
say sưa trong hào quang chiến thắng, tự hào là người VN
vì đã đánh bại ba đế quốc lớn, sừng
sỏ nhất thế giới là thực dân Pháp, phát xít Nhật
và đế quốc Mỹ. Cứ theo đà này, dưới sự
lãnh đạo tài tình của Đảng sẽ đưa nước
ta từ thắng lợi này sang thắng lợi khác
thì theo như Đảng ta nhận đînh (thời điểm 75-76)
chúng ta trong 10 năm sẽ phát triển vượt Liên xô và sau 20
năm sẽ vượt Nhật.
Khi sang đến nước bạn,
những tưởng bạn bè Đức tiếp đón long trọng
những người bạn VN anh hùng với tấm lòng bốn
phương vô sản đều là anh em đòng chí vì chúng ta
đã hoàn thành sứ mạng lịch sử bảo vệ
oanh liệt nước VN và cả phe XHCN. Nào ngờ mọi cuộc
đón tiếp đều ở mức độ xã giao bình
thường, không ca tụng không tung hứng.
Từ đấy
tôi bắt đầu cụt hứng và khi có chút tiếng Đức
cơ bản tôi bắt đầu quan tâm đến những vấn đề
xã hội của Thiên đường XHCN này. Qua các tài liệu và bạn bè Đức tôi được
biết trong lòng xã hội Đức còn vô số
những vấn đề mâu thuẩn, bê bối, người dân
có cả kho truyện tiếu lâm nói về chế độ
XHCN, nói về chính phủ, về lãnh đạo, ông Erich
Honnecker, về bầu cử... Dần dần tôi được biết
chả thấy ba dòng thác cách mạng đâu mà chỉ thấy
những cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary, của
mùa Xuân Praha, của nhân dân Đông Đức, của công đoàn Đoàn Kết
Ba Lan. Những cuộc nổi dậy này
đã bị đàn áp ít nhiều đẫm máu. Bản thân
người dân Đông Đức thấy đòng D-mark thì thèm nhỏ
rãi, mua được bánh xà phòng thơm
trong Intershop là chỉ có trong giấc mơ. Đến
đây tôi bắt đầu ngờ vực tính ưu việt của
CNXH mà nếu tôi vẫn ở VN thì chắc chắn là
vẫn còn mơ hồ.
Trong thập niên 80, VN đưa ồ
ạt người sang CHDC Đức làm lao động thuê, nhiều đến
nỗi có người nói vui là bất cứ một làng nào có
dân số từ 100 người và 10 con bò trở lên là sẽ
có mặt người lao động VN tại đó, đông đến nỗi
tôi không muốn ra đường để làm đông thêm nữa. Theo chân
với những người lao động này là các tệ nạn
xã hội, các thói hư tật xấu đi cùng như :
buôn lậu, trộm cắp, sát phạt, trấn lột
nhau, mua hết những hàng hóa khan hiếm ở các cửa
hàng, từ đó người Đức bắt đầu khinh ghét người
VN.
Thời gian này tôi được về
thăm gia đình ở VN, sau mấy năm xa nhà, xa quê hương, cả
chặng đường bay hồi hộp, nao nức sắp được
gặp bố mẹ gia đình làng xóm quê hương. Xuống đến sân bay, mấy đồng chí công an, hải
quan gầy gò đen đủi mặt khó đăm đăm hành cả tiếng
đòng hồ, khi mời các anh hút tạm cây thuốc lá
thì mới được cho ra. Gặp bố mẹ rơi
nước mắt vì chỉ mới mấy năm mà bố mẹ
già đi nhiều quá, khắc khổ quá, dọc đường về
làng quê tiêu điều, trâu bò vêu vao trên đường quốc lộ,
nước mắt tôi lưng tròng thương bố mẹ quá, thương
quê hương quá.
Về đến
nhà gia đình mừng mừng tủi tủi, con chó chắc
đói quá đứng không vững phải tựa hông vào chân cột
nhà mới sủa to được mấy tiếng mừng người
đi xa về. Thắm thoát
đã hết thời gian thăm nhà tôi lại sang Đức làm nốt
nhiệm vụ.
Cuối khóa học cũng là
lúc Đại Hội Đoàn toàn Cộng Hòa Dân Chủ Đức.
Sau mấy ngày tham luận, báo cáo, kiểm điểm, khen thưởng,
học tập nghị quyết và thể thao, buổi cuối
người bí thư chi bộ mang về cho mỗi đoàn viên một
bản kiểm điểm cá nhân,trong đó mỗi
người tự nêu ưu khuyết điểm của mình trong
thời gian qua và phương hướng rèn luyện trong thời gian
tới. Lần này ngoại lệ có thêm một câu hỏi
cuối cùng là : Đồng chí có tự
hào là người VN không ? Đồng chí bí thư
chi bộ giải thích thêm là cứ nói thẳng nói thật
những ý nghĩ của mình lãnh đạo sẽ
không truy cứu trách nhiệm, đây chỉ là câu hỏi phụ
thôi. Tôi thật thà làm đúng những điều trăn
trở bấy lâu của tôi và đã gạch vào ô không rồi
đem nộp lại. Tưởng như vậy là xong nào ngờ buổi
chiều họp tổ đồng chí bí thư
chi bộ răn đe rằng trong mấy trăm đoàn viên thì chỉ
có một đoàn viên trong tổ ta trả lời là không tự
hào là người VN, tổ chức sẽ xem xét sau. Tôi lạnh cột sống nghĩ rằng chắc
là mình sẽ bị kỷ luật đây. Sợ quá từ đó tôi im thin thít, không dám nói gì
nữa. Cũng may là mọi việc dừng lại ở
đó và tôi không bị kỷ luật. Chắc cũng có nhiều
người chửi tôi là ngu, ăn cháo đá bát, là
không hiểu lịch sử hào hùng của dân tộc ta nhưng
tôi cũng chấp nhận vì đó là ý nghĩ của
tôi (và chắc còn của một số người nữa)
trong thời điểm đó, trong hoàn cảnh đó.
Không tự hào tức
là xấu hổ là người VN.
Đúng tôi đã xấu hổ. Không xấu
hổ làm sao được khi trên các phương tiện giao thông công cộng
có đến 2/3 hành khách là những người đồng hương tôi,
nói năng oang oang, cử chỉ mất lịch sự, trên tầu
nằm ngủ dài trên ghế, gác cả giầy dép lên chổ
ngồi, mồm há to ra ngáy khò khò... không ý tứ,
để ý gì đến hành khách đi cùng.
Không xấu hổ làm sao được
khi các đồng hương tôi mang chăn len ra ngủ xếp hàng trước
cửa hàng xe máy, xe đạp từ hồi tối hôm trước
để hy vọng ngày mai cửa hàng có thể có một vài
chiếc xe bán ra thì mình là một trong những người
may mắn được mua còn những người ngủ sau
mình thì phải về tay không.
Không xấu hổ thì tại
sao khi những người nước ngoài hỏi :
anh là người nước nào ? thì
không riêng gì tôi mà nhiều người đều trả lời
là người Nhật, người Hàn quốc hoặc người
Trung quốc.
Không xấu hổ làm sao được
khi sau này người VN ta ở Đức lập ra các băng đảng
mafia để trấn lột nhau, để chia thị trường
buôn thuốc lá lậu ? Năm 1996, cảnh
sát đã phát hiện ra xác của 5 thanh niên VN bị xử
bắn trong một căn hộ ở
Không xấu hổ làm sao được
khi nước nhà còn biết bao nhức nhối, đau
lòng, khi đạo đức xã hội suy đồi, xuống
cấp trầm trọng, tham nhũng lộng hành, ăn chơi trác
táng trụy lạc, lãng phí trong khi đại bộ phận
dân chúng vẫ đói khổ. Có xã hội nào mà chức to
ăn to, chức nhỏ ăn nhỏ, chia bè kéo
phái công khai mua bán chức quyền bằng cấp. Tổ trưởng tổ chống buôn lậu lại
là trùm buôn lậu (Phùng Long Thất). Đội
trưởng đội chống buôn ma túy thì là trùm buôn ma túy
(Vũ Xuân Trường). Ngành công an để
trấn áp tội phạm thì cấu kết với
xã hội đen để ăn chia (Vụ Năm Cam). Trong ngành
tòa án thì nếu có đủ tiền
thì sẽ chạy được tội. Ngành y tế và giáo dục
là hai ngành mà VN trước đây tự hào nhất là không mất
tiền, được nhà nước bảo trợ hết thì
bây giờ bê bối nhất, nhiều gia đình không đủ
tiền cho con đi học hoặc không đủ tiền trả
viện phí. Không xấu hổ làm sao được khi tôi là người
Việt Nam 100% mang hộ chiếu của Bộ ngoại
giao VN cấp vẫn còn hạn mà về nước lại
phải lên sứ quán xin (mua) thị thực để được
về nước, có khác gì trước khi về nhà ta phải
qua ông trưởng thôn để xin phép : Bác
cho tôi về nhà tôi.
Không xấu hổ làm sao được
khi xã hội thì tối tăm tương lai thì mù mịt
mà người VN ta hoặc là cố tình hoặc là ngu dốt
không biết vẫn làm ngơ, nhất là thanh niên VN, trí thức
trẻ ; ở đâu, làm gì mà không
lên tiếng, không trăn trở với vận mệnh của
đất nước. Ta có đáng xấu hổ với tổ tiên của
ta không ? Người thanh niên trẻ Phạm
Ngũ Lão ngồi đan sọt giữa đường vì
trăn trở cách đánh giặc bảo vệ nước mà lính dọn
đường cho vua đi lấy giáo đâm thủng đùi vẫn mãi
mê suy nghĩ vẫn không biết ( cảm kích vì ý
chí của người thanh niên, vua đã trọng dụng và
ông sau này đã trở thành tướng tài của nhà Trần.
Bây giờ thì chỉ việc công an dẹp đường cho
đày tớ của dân đi mà không chạy nhanh cũng đủ để
ra tòa với tội danh - chống lại người thi
hành công vụ - chưa kể dám trăn trở với việc ta mất
đất mất biển cho Tàu.
Không xấu hổ làm sao được
khi thanh niên VN ta vẫn còn mãi đua xe
máy, mãi ăn chơi sành điệu, du lịch giao lưu, mãi làm
giàu theo lời Đảng gọi, nhiều người thì chạy
trốn thực tế bằng cách hút hít. Thật xấu hổ
khi thanh niên, trí thức trẻ không dám gánh vác trách nhiệm đấu
tranh đòi dân chủ, cải tổ xã hội hiện
nay mà để cho các bậc cha chú thuộc tuổi - thất
thập cổ lai hi - như các ông Trần Độ, Hoàng Minh Chính,
Trần Dũng Tiến, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh
Giang, Hà Sĩ Phu ... đi đòi dân chủ cho chúng ta và phải
chịu đọa đày, cầm tù. Tuổi của
các ông đáng lẽ phải được ngã lưng ở salon đọc
báo, vui với cháu chắt nội ngoại, xem con cháu điều
hành quản lý đất nước.
Giới trẻ hiện nay cần
học lại các bài "Tuyên ngôn độc lập" của
Lý Thường Kiệt, "Hịch Tướng Sĩ"
của Trần Quốc Tuấn và "Bình Ngô Đại
Cáo" của Nguyễn Trãi.
Trên đây là một số
lý do làm tôi mất lòng tự hào là người Việt
Nhất là từ ngày những
trí thức trẻ tuổi như các anh Lê Chí Quang, Phạm Hồng
Sơn, Nguyễn Vũ Bình ... dám lên tiếng đấu tranh
cho tự do dân chủ, cho sự vẹn toàn của đất
nước, thẳng thắn trình bày những trăn trở
của mình với những người lãnh đạo đất
nước, không hề suy tính thiệt hơn về kinh tế,
không sợ bị bôi nhọ danh dự, không sợ bị
trù dập và không nghĩ đến cả sinh mạng của
mình. Từ đó tôi cảm giác trong tôi có cái
gì đó đang được ấp ủ, âm ỉ, đang chuẩn bị
được hình thành và đang sắp cháy thành một ngọn
lửa. Ngọn lửa này tôi tin rằng
sẽ là ngọn lửa của niềm tự hào dân tộc
mà trước đây nó bị tắt rụi trong tôi. Hiện
tại trong tôi vẫn còn nhen nhóm chưa bùng lên thành ngọn
lửa, nên nếu không được che chắn, nâng đỡ, thổi
lên thì rất dễ bị tắt nên tôi hy vọng càng
ngày càng nhiều thanh niên, trí thức VN tham gia vào việc
gánh vác vận mệnh đất nước, trách nhiệm đấu
tranh cho tự do dân chủ để thanh niên ta không phải xấu
hổ với tổ tiên, với những người đã
khuất, để lịch sử không phỉ nhổ chúng ta là
một thế hệ thanh niên bạc nhược, coi việc
ăn chơi phè phỡn, trác táng và kiếm tiền hơn cả việc
cứu xã hội thoát khỏi lầm than áp bức, và
sau cùng là để điều ấp ủ trong tôi cháy bùng thành ngọn
lửa, ngọn lửa của lòng tự hào dân tộc,
tự hào về truyền thống oai hùng của dân tộc
ta, tự hào về thế hệ trẻ hiện nay biết
noi gương cha ông trong lịch sử dựng nước và giữ
nước.
Nguyễn Sáng
Tản Mạn Về Sợ
Trần
Trung Đạo
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Trong năm 2004, có thể ít có buổi
phỏng vấn nào gây nhiều xôn xao trong dư luận hơn buổi
phỏng vấn của ông Nguyễn Xuân Hiển, Tổng
Giám đốc Vietnam Airlines dành cho đài BBC hôm 8 tháng 12 vừa qua.
Trên mạng lưới Internet, hàng trăm trang Web, trong và ngoài nước
đều qua cách này hay cách khác, nối âm buổi phỏng vấn
dài năm phút này.
Khi được hỏi tại sao
Vietnam Airlines lại không mở tuyến đường bay Việt
Mỹ cùng lúc với United Airlines, ông Hiển, một cán bộ
ngang cấp Thứ trưởng và đảm nhiệm một chức
vụ rất nặng về ngoại giao, trả lời :
"Bởi vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa
thích".
Không giống như những ngày
đầu với hàng trăm điện thư gởi đến đài BBC, đa số
để bày tỏ sự bất bình trước cách trả
lời "hơi thiếu văn hóa đấy" (chữ của
ông Nguyễn Xuân Hiển), hôm nay, nội dung buổi phỏng
vấn đã trở thành chuyện vui cười hè phố.
Ít ra, sau nỗi buồn Tiger Cup bị Indonesia đá bại ba
bàn trắng, dân Việt trong những ngày cuối năm có một
chuyện khôi hài để kể nhau nghe.
Câu trả lời "Bởi
vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa thích",
đã không còn làm nhiều người giận dữ,
trái lại, tôi tin sẽ sớm trở thành những câu
trích dẫn được dùng quen thuộc trong quần chúng. Tối
nay, nếu vợ của anh chàng nghiện ngập nào đó nổi
giận khi thấy chàng ta đang vịn cửa vào nhà : "Tại sao anh không chịu cai
rượu ?" anh chồng đã có cách trả lời :
"Bởi vì tôi không thích, bởi vì tôi chưa
thích". Tương tự, chiều nay, nếu vợ một
nhà thơ nào đó cằn nhằn "Tại sao anh không đi kiếm
việc làm, suốt ngày ngồi đó mà thơ với thẩn ?" nhà thơ cũng đã thủ
sẵn câu thần chú "Bởi vì tôi không thích, bởi
vì tôi chưa thích". Trước ngày 8 tháng 12, trả lời
như thế có thể dẫn đến "tan đàn xẻ
nghé" hay ít nhất cũng vác chiếu ra hè ngủ, hôm
nay lại là một lối thoát vui vẻ cả nhà.
Khi nghe buổi
phỏng vấn lần đầu, tôi rất giận. Tôi có cảm tưởng ông Nguyễn Xuân Hiển
không chỉ mắng anh chàng phóng viên BBC mà còn ám chỉ
luôn đến cả những người Việt, trong đó có tôi,
vì "xa tổ quốc" nên "thiếu
văn hóa". Tuy xa tổ quốc thật
nhưng tôi không bao giờ quên học hỏi, thậm chí
còn học được nhiều hơn so với lúc ở nhà.
Tôi cũng rất ghét những người dùng tổ
quốc như chiếc đòn kê, đụng một chút là nhân
danh tổ quốc. Khi các ông quan giương cao ngọn cờ
tổ quốc cũng là lúc tai họa sắp
sửa đổ xuống đầu nhân dân.
Khi nghe lần thứ
hai, cơn giận trong lòng tôi lắng xuống bớt một
chút. Tự nhủ
mình cũng nên nhìn mọi góc cạnh khi đánh giá một
vấn đề. Biết đâu hôm ấy ông Tổng Giám đốc
có quá nhiều việc khó khăn phải giải quyết trong
ngày, hoặc có chuyện không vui nên "giận cá chém thớt"
đó thôi, không nên dùng một trường hợp, một sơ sót để
suy diễn cho cả sự nghiệp của một người.
Tôi hy vọng đó chỉ là một trường hợp cá biệt,
bởi vì nếu mỗi ngày hay mọi buổi phỏng
vấn ông đều ăn nói như thế
thì Vietnam Airlines còn ra thể thống gì. Dù sao, ông Hiển cũng là người như tôi với tất
cả đặc tính vui buồn, thương ghét. Ngày mai sau khi
nghe lại, ông sẽ gọi điện thoại hay gởi điện
thư xin lỗi anh chàng phóng viên tội nghiệp
kia. Nói chung, sau hai lần nghe, tôi thông cảm
với ông nhiều hơn là gay gắt.
Tuy nhiên sau khi
nghe lần thứ ba, cơn giận giảm xuống rất
nhiều sau khi khám phá ra bí mật làm cháy bùng lên cơn giận dữ
trong ông Tổng Giám đốc. "Thì ra là vì chữ sợ",
tôi tự nói với mình như thế. Anh
chàng phóng viên đài BBC vô tình ném cây diêm vào luồng nhiệt
khí đang luân lưu trong ý thức ông. Quả
thật là như vậy. Nếu anh phóng viên
hỏi rằng "Ông không ngại (thay vì sợ) sẽ
cạnh tranh với những hãng rất là sừng sỏ
trên thế giớỉ" thì có thể ông Tổng
Giám đốc không nổi trận lôi đình lên như thế.
Lỗi là tại anh ta nhắc đến một mối ám ảnh,
ai cũng mang nặng trong lòng nhưng ít người có can đảm
nói ra : Sợ.
Hẳn nhiên không
phải lỗi tại anh phóng viên và cũng chẳng lỗi
riêng gì của ông Tổng Giám đốc. Sợ là căn bịnh chung
của thời đại. Giống như ánh sáng tuy không phải
là lý do của bịnh đau đầu kinh niên nhưng mỗi
khi bệnh nhân bước vào căn phòng quá sáng hay đèn bật
sáng bất ngờ, cơn nhức đầu lại bừng bừng
nổi dậy. Anh phóng viên đã bật đèn sáng không đúng lúc
nên vô tình làm cho nỗi lo sợ đang đè nặng trong tâm
thức của những người lãnh đạo Việt
Trong nước, từ một em
bé tiểu học cho đến một cán bộ đảng hồng
như ráng trời chiều đều có ít nhiều vi
khuẩn sợ trong người. Từ những
bài tập viết văn cho đến các tiểu luận, biên khảo
vẫn nặng phần trích dẫn. Thậm chí trong một
bài viết vỏn vẹn hai trang đã hơn một nửa
là trích dẫn những câu kinh điển do các "lãnh
tụ anh minh" để lại. Trích dẫn không phải
để chứng minh cho cái đúng hay che giấu cái dốt của
mình, mà quan trọng hơn là để an
tâm. Trong nhiều trường hợp, những câu trích dẫn
lại không ăn nhập gì vấn đề
tác giả đang bàn. Trong buổi họp, nếu ai lên tiếng
phàn nàn, phản đối trước một đề nghị nào
đó, người chủ tọa chỉ cần dọa "một
lần đề nghị đó cũng chính là ước vọng của
lãnh tụ anh minh", tức khắc sự phàn nàn
dù không ai khuyên răn cũng xẹp đi như chiếc bong bóng
xì hơi.
Thói quen dựa
hơi những người được trao cho quyền "bất
khả xâm phạm" trong xã hội, dù còn sống
hay đã chết, cũng đều từ sự sợ
hãi mà ra. Thói quen đó
đã theo thời gian phát triển thành
một cố tật trong sinh hoạt văn hóa xã hội
tại Việt
Tôi nhớ có lần đọc một
bài viết của một giáo sư trong nước viết về
tình thương theo kinh Pháp Cú nhưng lại cố
tình nhét cho được vài câu nói của Lenin vào trong bài viết.
Một tham luận hết sức nghiêm túc bỗng dưng thành
rẻ tiền chỉ vì sự nịnh bợ một
cách vô ý thức của tác giả. Trong các bài tự phê
bình chính thức hay không chính thức, những lý
do khách quan bao giờ cũng nhiều hơn chủ quan. "Chậm
tiến là vì", "nghèo đói là vì", "tham
nhũng là vì", ..., nhưng tuyệt
nhiên không có cái vì nào trong số đó là lỗi của
mình.
Sợ là một ý thức
hiển nhiên gắn liền với số phận con người.
Sợ sống, sợ già, sợ đau, sợ chết, nói chung, sợ tất cả những hiện tượng
mà con người luôn phải đối đầu nhưng chưa giải
thích được bản chất của chúng. Tôi
không biết nhiều về các tôn giáo khác nhưng trong Phật
Giáo bản chất của sợ hãi được nhắc
nhiều mỗi khi bàn về thuyết Vô Ngã. Vạn
vật không có gì là thường trụ và bất biến,
tất cả đều do nhân duyên sinh khởi, đến và đi theo luật vô thường. Ta đến với hai
bàn tay không và ra đi cũng thế. Cái trong ta mà còn không phải của ta thì
tại sao phải tiếc thương, lo lắng, sợ hãi
cho những cái không phải của ta.
Trong lãnh vực tâm
lý, theo Krishnamurti, sự sợ
hãi còn phát xuất từ mặc cảm, và mặc
cảm lại là kết quả của sự so sánh. Ông viết : "Cho nên trong cuộc đời
chúng ta, cái tình trạng so sánh, cạnh tranh và sự phấn
đấu không ngừng nghỉ để trở thành một nhân
vật hay trở thành người vô danh, thì cũng vậy.
Tôi cảm thấy rằng chính cái đó là cội rễ của
toàn bộ sự sợ hãi, bởi vì chính nó
đã sản sinh ra lòng thèm muốn, tật đố kỵ,
thói ghen tị, căm thù." (On Fear,
Krishnamurti, bản dịch của Danny Viet). Tâm lý
đó, áp dụng vào trường hợp ông Hiển, chính là mặc
cảm bắt nguồn từ việc so sánh giữa tài sản
khiêm nhượng của công ty ông với 7 chiếc Boeing và 12
Airbus, với nguồn vốn khổng lồ của các
hãng hàng không quốc tế.
Trong lúc sự sợ hãi
là một phần của số phận con người như vừa
trình bày, nó chỉ trở nên tai họa tập thể
khi mức sợ hãi phát triển thành một bịnh
trạng của cả xã hội, tồn tại như một
phần của đời sống văn hóa dân tộc, gây nên những
phản động lực cản trở sự phát triển
tinh thần của con người và ngăn chận sự thăng tiến
của xã hội.
Trong lịch sử của
nhân loại thời cận đại, xã hội Liên Xô dưới
thời Stalin và Bắc Hàn trong thời Kim Nhật Thành, có thể
được xem là những nơi căn bệnh sợ hãi đã
bị xã hội hóa đến mức độ gần như
toàn diện.
Dưới chế độ toàn trị
của Stalin, con người thấy chung
quanh họ không có ai là bạn mà chỉ toàn là kẻ thù, kể
cả cha mẹ, vợ chồng, anh em, bè bạn. Đảng có kẻ thù của đảng, nhà nước có
kẻ thù của nhà nước, nhân dân có kẻ thù của nhân
dân. Solzhenitsyn đã viết trong "The Gulag
Archipelago" : "Bất cứ một người
lớn nào trong quốc gia này, từ một nông dân hợp
tác tập thể cho đến một ủy viên bộ chính trị
đều biết rằng chỉ cần một lời nói hay
một cử chỉ thiếu thận trọng, ông ta sẽ
vĩnh viễn rơi xuống đáy vực ngay." (Any adult
inhabitant of this country, from a collective farmer up to a member of the
Politburo, always knew that it would take only one careless word or gesture and
he would fly off irrevocably into the abyss). Chủ trương trồng cấy
vi khuẩn sợ hãi vào toàn bộ
xã hội Liên Xô của Stalin thành công đến mức có
lần ông ta cho rằng các cơ quan an ninh trong quần chúng có
thể không còn cần thiết. Lý do Stalin tự
tin như thế bởi vì sợ hãi đã có thể
tự quản được trong chính mỗi con người.
Bệnh trạng
sợ hãi tại Bắc Hàn so với Liên Xô còn trầm
trọng hơn vì nhiều nơi tại Bắc Hàn con người
được thuần hóa đến mức không còn biết sợ
là gì. Một
phần nhân tính quan trọng trong con người là sợ
hãi, đã không còn tồn tại trong ý thức
của nhiều người dân Bắc Hàn nữa. Nhận
thức của con người họ phụ thuộc hoàn toàn
vào một trung tâm chỉ đạo ý thức được điều
khiển từ bên ngoài. Nhiều người dân Bắc
Hàn hoàn toàn mất ý niệm không gian và thời gian.
Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi
thay sau khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD đang được
dùng trên thế giới và thay vào đó bằng lịch Juche, lấy
năm sinh của ông ta làm chuẩn. Ví dụ,
năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ đối với
phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ
mới là năm Juche 99.
Trong một bài bình luận
của Rodong Sinmun, cơ quan thông tin chính thức của Đảng
Công nhân Triều Tiên phát hành ngày 31 tháng 8 năm 1997, viết về
Kim Chính Nhất : "Nhân dân Triều
Tiên tuyệt đối tôn kính, tin tưởng và theo chân Tướng
Quân như Thượng Đế. Tư tưởng quý giá này căn cứ
vào sự kiện rằng họ đã cảm nhận một
cách sâu sắc sự vĩ đại của Tướng Quân từ
đáy lòng họ. Tướng Quân là thầy giáo vĩ đại
dạy nhân dân Triều Tiên ý nghĩa thật sự của
cuộc sống, là người cha đã ban cho họ đức
tính liêm khiết chính trị quý giá và là một ân nhân có
trái tim nồng ấm dịu dàng, đã mang đến cho nhân
dân Triều Tiên niềm hạnh phúc trọn vẹn... Tướng Quân là cây trụ tinh thần và là vầng
thái dương vĩnh cửu của nhân dân Triều Tiên."
Nếu lý luận theo quan điểm kinh tế của
Mác, khi mức độ xã hội hóa của nền kinh tế
đạt đến mức toàn diện, chế độ kinh tế
tất yếu sẽ biến thái, thì sự biến
thái của các xã hội khống chế bằng nỗi
lo sợ toàn diện như trường hợp Bắc Hàn, không có
gì khác hơn là mang con người trở về thời nguyên
thủy.
Tản mạn về sợ,
ngoài ra, để thấy rằng người Việt Nam trong thời
đại này may mắn hơn nhiều so với người dân bất
hạnh thời Stalin hay người dân đã mất đi tính sợ
ở Bắc Hàn, bởi vì dù sao tại Việt Nam sợ
vẫn còn là một điều có thực.
Trần Trung Đạo
Những Mẩu Kính
Màu (phần 6)
Nguyễn
Minh
(LÊN MẠNG
THỨ NĂM 20 THÁNG GIÊNG 2005)
Hai tháng sau, Minh lại rủ
con bé Châu cùng đi về quê... Anh cảm thấy nhớ con và,
có phần nhớ vợ - - Dù Út Huệ đối với anh có
phần nào phủ phàng. Gom góp được một
ít tiền, Minh định bụng sau chuyến thăm này, anh sẽ
không thường xuyên trở về, bỡi lẽ... anh có cảm
giác đã trở nên hèn hạ nếu còn tìm về
vợ con sau những đau đớn đã gánh chịu.
Lần này anh không cần đưa
con bé về tận quê, anh ở lại nhà trọ và dặn
dò kỹ lưỡng con bé mọi việc. Khi con bé
đã đi khỏi, cảm thấy buồn... Minh thả bộ
dọc theo con lộ chính của tỉnh
lỵ. Chẳng hiểu sao, bước chân quen lại đưa anh về
phía nhà trọ trước kia của Út Huệ
khi còn thầu bán cơm ở bệnh viện.
- Ủa, dượng Út... đi đâu vầy
nè ? Có tiếng ai đó gọi
giật giọng.
Minh giật
mình nhìn lại. Cô
con gái chủ nhà trọ thuở xưa đang mỉm cười :
- Dượng đi đâu vậy ?
Nghe đâu dượng bỏ lên Sài Gòn làm ăn phải không ?
Chẳng đặng
đừng, Minh bèn gật đầu cho có lệ. Cô gái hỏi tiếp :
- Vậy trên đó dượng ở
lối nào ? Làm dì út đi kiếm tở
mở hết trơn !
- Ai kiếm hả cô ? Minh ngạc nhiên hỏi lại
- Thì còn ai ! Vợ dượng kiếm chứ hổng
lẽ... tui ! Cô gái cười
khúc khích.
Minh ngẩn người
trước thông tin của cô gái.
Tại sao cô gái chỉ anh qua nhà nghỉ công
đoàn để tìm vợ. Rõ ràng cô gái biết nhiều
hơn anh tưởng và có thể có mối quan hệ nào đó với
cả Út Huệ lẫn Ba Tí...
Anh đã đoán không sai... Chính cô gái muốn mọi việc vở lỡ.
Trước khi Út Huệ trở về, cô đã
từng là nhân tình của Ba Tí để đổi lại một
ít quyền lợi. Việc giới thiệu Út Huệ
thuê nhà của cô, mục đích của Ba Tí là để an toàn, kín
kẻ... Thế nhưng anh ta đã quên đi một yếu tố
quan trọng : Lòng ghen tuông !
Đứng ra khuấy tung mọi chuyện thì quá hiểu
rõ Ba Tí nên cô nhân tình cũ làm sao dám, nhưng đứng ở
phía sau để xô người chồng vào cuộc thì có lẽ
đơn giản hơn nhiều... Cô đã tìm cách nhưng chưa có một
cơ hội nào vẹn toàn thì đêm ấy, Minh tự
tìm tới... Cô cứ nghĩ sẽ có chuyện lùm xùm
khiến Ba Tí phải co vòi mà quay lại với cô, nào
ngờ Ồ gã chồng của Út Huệ quá nhu nhược,
gã thay gì làm toáng lên lại lẳng lặng bỏ
đi ! Mà như thế, chẳng có ích lợi gì cho cô cả...
Út Huệ đi tìm Minh là chuyện có thực, cô được
nghe Ba Tí nói lại với vẻ hết sức hằn học,
khó chịu...
Họ trở về được
với nhau thì hay biết mấy !
Cô nghĩ vậy và quyết định thúc đẩy tình huống
ngay khi vừa vô tình bắt gặp Minh...
Dượng về lại nhà đi thôi,
tui thấy vợ dượng thất điên bát đảo vì đi
tìm đượng đó, bỏ cả công việc làm ăn... Cô nói với giọng cố tỏ ra tình cảm.
Minh thì khác. Anh đang cảm thấy một nguy cơ... Đối
với anh, bất kỳ ai, có dính líu đến Út Huệ và Ba
Tí... mà biết anh đang có mặt ở tỉnh lỵ, đều
là một hiểm họa, có thể xảy ra tức thời
nếu anh không kịp đối phó.
- Thôi, dẫu có thế nào cũng
cứ phải cảm ơn cô...Tôi về đây !
Anh nói và lật đật trở gót.
Cô gái nhìn theo
mỉm cười. Cô tin rằng Minh sẽ quay trở lại
với vợ. Nếu không anh đâu từ Sài Gòn về
quê làm gì ?
Chờ Minh đi khuất, cô gái
thay bộ quần áo đến chỗ gặp được Ba Tí cũng
sở công an huyện tìm Ba Tí. Từ
nhà cô đến chỗ gặp được Ba Tí cũng phải hơn
nữa giờ đi honda, hơi cực nhưng cô
nghĩ đến gương mặt thất vọng của gã
nhân tình cũ khi biết người chồng bạc nhược
ấy rốt cuộc cũng quay trở về, cô cảm
thấy vui vẻ...
Ruột nóng như lửa đốt,
Minh chờ con bé Châu về để lập tức rời xa
vùng nguy hiểm. Sau sự việc hai tên lạ
mặt tìm đến tận nhà để chém anh, anh đã
hiểu hết sự nguy hiểm của kẻ có quyền
lực nhưng thiếu đạo đức như Ba Tí. Gã sẵn
sàng làm tất cả mọi chuyện dù tán tận lương tâm đến
mấy, miễn là có lợi... Có lẽ cũng nhờ tính
chất tàn độc ấy mà gã mới leo
cao đến thế trên nấc thang quyền lực.
Vừa nhác trông thấy con bé
quay về, Minh mừng húm. Anh lôi tuột con bé theo mình ra bến xe mặc cho con bé ngơ
ngác.
- Gì mà chú làm thấy ghê
quá vậy ? Con bé hỏi.
- Đừng hỏi nhiều...
Minh vừa gắt gỏng vào dáo dác nhìn quanh bến xe.
Cuối cùng thì họ cũng
trèo lên được chuyến xe gần như cuối
cùng. Mãi đến lúc đó Minh mới có thể
thở phào nhẹ nhõm. Cũng có thể anh
đã quá lo xa, nhưng dẫu sao Ồ cẩn thận ở
vùng đất quyền lực thao túng lẽ phải, vẫn
an toàn hơn ! Xe lăn
bánh được hơn chục cây số sắp ra đến quốc lộ,
cậu lơ xe có gương mặt đầy mụn cám tiến lại.
Minh cầm hai tấm vé trên tay vẫy ra
hiệu đã mua rồi.
- Dạ thưa, chú có phải tên Minh ? Cậu lơ xe lễ
phép hỏi.
- Đúng rồi,mà
có chi không em ? Minh hỏi lại với vẻ
mặt đầy cảnh giác.
- Cô Năm nhờ con hỏi dùm...
Nếu đúng thì cô Năm muốn nói chuyện !
Vừa nói cậu lơ xe vừa đưa tay chỉ
ra hàng ghế ở đầu xe cạnh tài xế. Nhìn
theo hướng chỉ, Minh nhìn thấy ngay Năm Lan ! Cô mặc bộ quần áo công nhân
Liên Xô, theo đúng model thời thượng,
ngoái nhìn Minh đưa tay vẫy... Không thể
làm khác hơn, Minh gật đầu chào. Năm Lan
vẫn xinh đẹp không khác ngày trước tuy cô có gầy và
xanh đi nhiều... Đứng dậy rời khỏi hàng ghế,
cô đi xuống chỗ Minh đang ngồi cùng con bé Châu. Nhận
ra gương mặt quen thuộc của người đã gặp lần
trước tại nhà vợ Minh, con bé lộ
vẻ bối rối quay qua nhìn anh.
- Dượng về hai lần rồi,
tại sao không vô nhà ? Có giận
gì con Út thì cũng nên nghĩ đến má và chị
Năm chớ ? Ai lại như thế bao giờ ! Năm Lan trách.
Minh ngẩn người chưa biết
phải trả lời sao, chẳng lẽ anh lại nói huỵch
toẹt ra rằng : Với gia
đình bên vợ thì chẳng sao, còn với ông
anh cột chèo thì quá sức mất an toàn ! Năm Lan nhận
ra vẻ lúng túng của em rể, cô ngồi xuống băng ghế
trống ở cạnh, nói với vẻ tự nhiên :
- Con Út đi lên Sài Gòn kiếm
dượng rất nhiều lần nhưng không gặp, lần
này có nó ở nhà thì dượng lại không vào... Gì
thì gì, vợ chồng cũng phải gặp nhau
mà nói chuyện cho ra ngô ra khoai, ai lỗi ai phải như thế
nào, đàng này dượng cứ đi biệt, rốt cuộc - khi má
hỏi, chị với con Út hổng biết đường đâu mà
trả lời !
Chưa kịp giải thích, xe đột ngột thắng gấp. Tiếng
tài xế oang oang :
- Trời đất ơi, tối mịt
đến nơi rồi còn lập trạm đột xuất...
Ai đi buôn gì giờ này mà kiểm tra không biết nữa !
Minh tái mặt. Anh đoán ra mục đích của cái gọi là kiểm
tra đột xuất này ! Quả thật
vừa bước lên xe, anh chàng đeo băng đỏ
trực ban hình sự đã dáo dác tìm và khi nhận
ra gương mặt Minh, anh ta lập tức đi tới.
Cảm phiền anh cho xem giấy tờ ! Anh ta nói với giọng
sắc cạnh.
Cầm giấy tờ của
Minh trên tay, anh chàng hất hàm nói một cách trịch thượng :
- Chú mầy đi theo tụi tao,
xuống xe mau !
Minh vừa nhớm đứng dậy,
đã có tiếng một người đàn bà chặn lại :
- Không đi đâu cả !
Giấy tờ của anh đầy đủ, anh không phạm pháp
quả tang, không có lệnh bắt khẩn cấp, muốn
bắt anh sao được...
Anh chàng trực ban hình sự
tái cả mặt quay phắt lại nhìn xem ai vừa cả
gan thốt ra câu nói ấy. Ánh mắt dữ tợn của
anh ta vội cụp ngay xuống và vẻ hống hách biến
đi đâu mất khi anh ta phát hiện người vừa nói là Năm
Lan - vợ của xếp và giữ một chức vụ
còn lớn hơn cả chồng !
Anh ta gật đầu chào rồi cười gượng trước
khi rút lui...
- Nè, chú chưa cho tui biết... Phải
ông Ba Tí ra lệnh cho các chú lập trạm tìm cách bắt
anh Minh này không ? Năm Lan
chặn tay, cất tiếng hỏi.
- Dạ đâu có, đây là công việc
thường xuyên của tụi em thôi mà chị Năm !
Anh chàng trực ban hình sự cười giả lả, giải
thích. Anh ta thừa hiểu, nếu Năm Lan làm căng, cả bọn
lập trạm trái phép này đều máng áo như chơi !
Lỗi ở xếp, ông ta ra lệnh mà không lường trước
việc có mặt của bà vợ trên chuyến xe mắc dịch này...
- Chú giải thích nghe không lọt
tay. Thứ nhứt, tôi qua lại tuyến
đường này đã lâu, có bao giờ thấy lập trạm
ở chỗ này mà lại vào giờ này ?
Thứ hai, các chú thuộc công an huyện, tuyến đường
này thuộc tỉnh lỵ, công an thị xã quản
lý chứ sao lại là các chú ?
Nhận thấy gương mặt của
anh chàng trực ban hình sự hết đỏ lại tái.
Năm Lan chợt thở dài. Cô hiểu, với
thân phận của những kẻ như anh ta, làm sao dám trái lệnh
cấp trên ? Nếu đấu tranh, chỉ
là không tưởng, cơ chế này đâu cho phép một sự nổi
loạn ?
- Thôi các chú đi đi, về nói với
ông Ba Tí, người đã bất chấp luật pháp để
sử dụng các chú vào việc riêng, là Năm Lan đã hiểu
và sẽ nói chuyện đâu đó rõ ràng khi kết thúc khóa học...
Nhớ là, tôi nói với tư cách một người trong chính quyền
chớ không phải với tư cách vợ ông ấy !
Năm Lan nói và phẩy tay coi như không muốn
tiếp tục câu chuyện.
Xe ra đến quốc lộ,
Năm Lan vẫn ngồi im lặng suy nghĩ...
Giờ thì cô đã hiểu, Minh đã
không thể không ra đi trước sự bủa vây của một
tên cường hào ác bá kiểu mới. Đúng là không còn
danh từ nào khác để gọi ông chồng yêu quý của
cô... Chỉ còn một vấn đề cô lờ mờ nhưng
chưa thể xác định : Vì sao Ba
Tí bằng mọi giá muốn triệt tiêu Minh ? Phải
chăng có dính líu đến Út Huệ ? Và thực
chất sự dính líu ấy là gì ?
Càng nghĩ, Năm Lan
càng sợ câu trả lời... Cô yêu chồng biết bao, nếu
không cô đâu liều chết dùng carbine bắn vào đám lính cộng
hòa, thu hút hỏa lực về mình để tạo
điều kiện cho đồng đội dìu Ba Tí thoát hiểm ? Rồi vì ai, cô phải chịu
biết bao điều khảo tra khắp các nhà tù để giờ
đây cô mất luôn khả năng làm mẹ ?
Thế nhưng càng
về sau, cô càng nhận ra Ba Tí không còn là một Ba Tí
trước đây trong chiến tranh.
Ba Tí giờ đây tham lam, nhỏ mọn và hết sức hiểm
ác... Cô đã từng thấy cách anh ta dùng để
triệt hạ đối phương trong chiến tranh, rồi cô lại
thấy những thủ đoạn tương tự trong việc đấu
đá giành quyền lực của anh ta thời gian gần đây.
Hễ cô khuyên nhủ, Ba Tí lại cấm cản
ra điều là cô muốn chặn bước tiến chồng, sợ
chồng hơn mình. Chính vì vậy Năm Lan không muốn
tìm hiểu về công việc của chồng nữa ! Liếc qua Minh, anh đang nhìn
ra cửa sổ xe, bên cạnh là con bé
đang tựa đầu vào vai anh ngủ ngon lành. Năm Lan chợt cảm thấy kính nể anh chàng
phế binh em rể của mình. Anh ta
đã phải bỏ đi vì ông chồng quái ác của
mình nhưng vẫn không nói một lời trách móc. Tất nhiên, về Út Huệ - vợ Minh, sẽ
còn rất nhiều bí ẩn mà anh đành lưu giữ trong
lòng. Không phải tự dưng mà Minh bỏ đi, khi trở
về thăm con lại tìm cách tránh mặt vợ. Minh không phải là loại người hành xử vô
lý. .. Ắt phải có lý do !
- Chị hỏi thiệt, có
phải con Út có lỗi với em ? Năm
Lan hỏi sau khi suy nghĩ thật lâu. Minh
lắc đầu, anh không cần đắn đo để đi đến quyết
định không nói ra những gì đã biết về Ba
Tí và Út Huệ. Anh là vậy...
(Còn tiếp)