Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
Thành Công Thế Kỷ 21
Tập Hợp
Dân Chủ Đa Nguyên – 2001
Từ ngày
thành lập, tháng 11-1982, mới đầu như một tổ
chức không tên và từ năm 1988 trở đi được
biết đến như là "nhóm Thông Luận", Tập
Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là tổ chức cho rằng
hoạt động chính trị phải đặt nền
tảng trên một cơ sở tư tưởng và lý luận
nghiêm túc. Trong hai năm đầu, các thành viên của Tập
Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã chỉ làm một công việc
là thảo luận và đúc kết một tài liệu
căn bản. Tài liệu này hoàn tất năm 1984
với tên Cơ Sở Tư Tưởng phổ biến giới
hạn. Năm 1986, Cơ Sở Tư Tưởng
được tu chỉnh và phổ biến rộng
rãi. Năm 1992, Cơ Sở Tư Tưởng
được sửa chữa, bổ túc để thành một
dự án chính trị tương đối đầy
đủ cho Việt Nam, và được phổ biến
dưới tựa đề Dự Án Chính Trị Dân Chủ
Đa Nguyên 1992. Từ đó, khoảng bốn năm một
lần, dự án chính trị dân chủ đa nguyên
được cập nhật, bổ túc và mang một tên
riêng. Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
1996, mang tên Thử Thách và Hy Vọng, được phổ
biến rộng rãi trong nước cũng như ngoài
nước, đã được hưởng ứng nồng
nhiệt và đã ảnh hưởng một cách đáng kể
trên lý luận của đối lập Việt Nam.
So với Thử Thách và Hy Vọng, Thành Công Thế Kỷ 21
có thêm một ý niệm về quốc gia, một cái nhìn mới
về hiện tượng toàn cầu hóa. Tất cả
những phần khác đều được cập nhật
hóa, riêng hai chương về Chiến lược đấu
tranh để chấm dứt độc tài và thiết lập
dân chủ và Chính sách cho giai đoạn chuyển tiếp
được tu chỉnh gần như toàn diện.
Mục Lục
Tìm hiểu Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên
II.
Bối cảnh quốc tế và Việt Nam
III. Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng
quốc gia mới
V.
Chế độ chính trị cho một nước Việt
VI.
Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ
đa nguyên
VII.
Chuyển tiếp thành công về dân chủ
VIII.
Vì đất nước hôm nay và ngày mai: chung một giấc
mơ Việt Nam
- trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc
- bằng những phương thức bất bạo động.
Năm 1988 tổ chức cho
phát hành nguyệt san Thông Luận. Tờ báo đã lập tức
gây thảo luận sôi nổi và từ đó tổ chức
được nói tới như "nhóm Thông Luận" mặc
dù trên thực tế nó chưa có danh xưng chính thức.
Trước ngưỡng cửa năm 2000, ngày 19-12-1999, một
đại hội thành viên đã biểu quyết chọn
danh xưng chính thức là Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên, danh xưng tiếng Anh là Rally for Democracy and Pluralism, tiếng
Pháp là Rassemblement pour la Démocratie Pluraliste. Cả hai danh
xưng tiếng Pháp và tiếng Anh đều viết tắt
là RDP.
Việt
1. Quốc gia Việt
3. Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một bắt buộc.
Hòa giải để xóa bỏ những hận thù và hiềm
khích do lịch sử để lại giữa các sắc tộc,
giữa các địa phương, giữa các tôn giáo, giữa người dân và chính quyền.
Quan trọng nhất là hòa giải những hận thù do cuộc
chiến và các chính sách phân biệt đối xử mà chế
độ cộng sản để lại. Hòa giải
để tiến tới hòa hợp trong cố gắng xây
dựng một tương lai Việt
- Không ngừng cảnh giác bảo vệ công bằng xã
hội. Bảo vệ những người yếu kém,
bảo đảm cơ may thăng tiến đồng
đều cho mọi người, trước hết là
qua giáo dục và đào tạo.
- Tiến tới một nền kinh tế công nghiệp
và dịch vụ. Việt
-
Theo đuổi một chủ nghĩa nước nhỏ.
Khiêm tốn và hòa hoãn với mọi quốc gia, nhẫn nhục
hôm nay để giàu mạnh ngày mai.
- Thực
hiện một chính sách đối ngoại hòa bình và một
chính sách láng giềng tốt. Tìm mọi cơ hội
để thắt chặt quan hệ hợp tác với các
nước đã phát triển mạnh, đặc biệt
là Hoa Kỳ. Phát huy mọi sáng kiến để hóa giải
những vấn đề còn tồn đọng với
-
Ngăn chặn
đà gia tăng dân số, chủ yếu qua cố gắng
thăng tiến phụ nữ và bảo trợ người
già.
Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng
định rằng :
- Đa nguyên chính trị không phải là nguyên nhân
đưa tới lạm phát chính đảng. Số
lượng chính đảng tùy thuộc chủ yếu vào
thể thức đầu phiếu. Tự do và dân chủ
cũng không hề tạo ra bất ổn, trái lại còn là
điều kiện cần để có ổn định
chính trị. Mặt khác, ổn định chính trị
không thể đồng nghĩa với sự duy trì dài hạn
một đảng cầm quyền.
- Tản quyền không đưa tới nạn sứ
quân, trái lại còn đóng góp vào sự thống nhất thực
sự của đất nước vì cho phép các địa
phương phát triển hài hòa theo điều kiện
đặc thù của riêng mình, vì thế mà các địa
phương càng thấy ràng buộc với đất
nước.
-
Quan tâm lớn nhất của chúng ta là phải thiết lập
dân chủ bền vững và loại bỏ mọi cơ
nguy có thể đưa tới sự tái lập một chế
độ độc tài. (đọc tiếp...)
Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên
đề nghị một chế độ dân chủ đại
nghị và tản quyền.
Lãnh
thổ sẽ được qui định thành từ 10
đến 15 vùng, mỗi vùng gồm một số tỉnh
hiện nay, có nghị viện và chính quyền riêng,
được quyền tự quản, được quyền
ban hành những đạo luật địa phương
không mâu thuẫn với luật pháp quốc gia và được
giao phó phần lớn trách nhiệm tư pháp và an ninh trật
tự trong vùng.
Ngoại
giao, quốc phòng và tiền tệ hoàn toàn thuộc chính quyền
trung ương.
Cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội mà
đại đa số dân biểu được bầu
ra theo thể thức bầu cử đơn danh và một
vòng.
Một
thượng nghị viện sẽ đại diện cho
các vùng, có quyền yêu cầu quốc hội xét lại các
đạo luật và có quyền đề nghị và khuyến
cáo đối với chính phủ.
Chính phủ do một thủ tướng đứng đầu.
Thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu
trách nhiệm trước quốc hội. Thủ
tướng được quyền chỉ định các
bộ trưởng.
Tổng
thống là nguyên thủ quốc gia, không giữ một quyền
hành cụ thể nào, có vai trò nghi thức, bảo đảm
sự liên tục, ổn vững và đoàn kết của
quốc gia.
Pháp
viện tối cao có quyền phán quyết tính hợp hiến
của các đạo luật, trọng tài những tranh tụng
giữa các cơ quan quyền lực, chung thẩm các bản
án của mọi tòa án và xét xử những cấp lãnh đạo
cao nhất của nhà nước.
Các
chính đảng được coi là thành tố cần thiết
của sinh hoạt chính trị và được tài trợ
do ngân sách quốc gia theo trọng lượng chính trị
thể hiện qua các cuộc bầu cử, ngược lại
bị cấm hoạt động kinh tài và nhận trợ
giúp của các công ty.
- Thức tỉnh dân chúng về sự cần thiết
của một lối thoát chung cho đất nước.
Thuyết phục quần chúng từ bỏ chủ nghĩa
luồn lách, cam chịu chế độ và tìm giải pháp
cá nhân để tự gỡ rối. Mọi người
nên và phải tham gia vào cuộc vận động dân chủ
vì nước và vì mình.
- Giành thắng lợi dứt khoát về mặt tư
tưởng và lý luận. Bẻ gãy những lý luận
ngụy biện gian trá chống dân chủ của tập
đoàn độc tài ngoan cố và thuyết phục quần
chúng rằng dân chủ không những cần thiết để
bảo đảm tự do và phẩm giá cho mọi người
mà còn là điều kiện không thể thiếu để
phát triển đất nước ; dân chủ không hề
đưa tới hỗn loạn mà còn là điều kiện
bắt buộc để khôi phục lòng yêu nước và
ý thức trách nhiệm, bảo đảm trật tự an
ninh lâu dài.
- Yểm trợ mạnh mẽ cuộc đấu tranh
đòi dân chủ trong nước. Khuyến khích, tiếp
tay và hỗ trợ để đưa cuộc đấu
tranh cho dân chủ ở trong nước từ giai đoạn
của những phản kháng cá nhân sang giai đoạn đấu
tranh công khai có phối hợp và có tổ chức.
- Đẩy mạnh và gia tăng hiệu năng của
các cố gắng động viên sự yểm trợ của
thế giới cho cuộc vận động dân chủ.
Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đề nghị phối
hợp các cố gắng ngoại vận trong tinh thần vận
động cho thắng lợi chung và giới thiệu
đối lập dân chủ Việt
- Xúc tiến sự hình thành của một mặt trận
dân chủ. Mặt trận dân chủ phải mở cửa
cho mọi người dân chủ không phân biệt quá khứ
chính trị, không phân biệt thành phần, nhưng ngược
lại cũng chỉ mở cửa cho những người
dân chủ thực sự. Mặt trận dân chủ
sẽ đặc biệt hoan nghênh sự tham gia của những
người dân chủ đã hoặc đang hiện diện
trong đảng và nhà nước cộng sản. Khi
chính quyền cộng sản đã nhượng bộ và chấp
nhận luật chơi dân chủ, mặt trận sẽ hoạt
động công khai và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt
ở trong nước. Chừng nào chính quyền cộng
sản còn cấm đoán và đàn áp, các hoạt động
sẽ kín đáo và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt
ở nước ngoài. Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên sẽ dồn mọi cố gắng để đóng
góp tích cực cho việc hình thành và phát triển của mặt
trận dân chủ này trong tinh thần khiêm tốn và nhân
nhượng.
- Mặt trận dân chủ sẽ tập trung mọi cố
gắng và sáng kiến để vận động áp lực
quần chúng trong nước và áp lực quốc tế buộc
chính quyền cộng sản phải chấp nhận bầu
cử tự do và sau đó sẽ phấn đấu để
giành thắng lợi trong những cuộc bầu cử tự
do đó.
- Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận định
rằng tình hình Việt
Cuộc
đấu tranh giành dân chủ chắc chắn sẽ phải
trải qua nhiều thỏa hiệp. Tập Hợp Dân
Chủ Đa Nguyên sẵn sàng chấp nhận mọi thỏa
hiệp có tác dụng làm gia tăng vận tốc tiến
trình dân chủ hóa, nhưng sẽ không thể nhượng
bộ trên ba điểm căn bản : lý tưởng
dân chủ đa nguyên, tinh thần hòa giải và hòa hợp
dân tộc, phương thức đấu tranh bất bạo
động.
Tập
Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận định rằng
đất nước sẽ cần một thời gian chừng
năm năm trước khi sinh hoạt dân chủ thực
sự đi vào nề nếp. Trong giai đoạn này
chính quyền dân chủ sẽ phải giải quyết các
vấn đề theo một thứ tự ưu tiên.
Chính trị :
- Trả chính quyền về cho nhân dân : phi chính trị
hóa guồng máy hành chính, quân đội và công an.
- Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Cấm tuyệt đối mọi hành động trả
thù báo oán. Lưu dụng mọi cán bộ công nhân
viên và quân đội. Mọi thay đổi nhân sự
phải thuần túy do lý do kỹ thuật. Phục hồi
danh dự và bồi thường thiệt hại, ít nhất
một cách tượng trưng cho nạn nhân của bạo
lực và bất công trong quá khứ. Soạn thảo và
đem biểu quyết qua trưng cầu dân ý một đạo
luật về hòa giải và hòa hợp dân tộc.
- Bầu cử quốc hội lập hiến và ban hành
một hiến pháp dân chủ cho Cộng Hòa Việt
- Ngay khi tình hình tạm ổn vững, một đạo
luật về tản quyền sẽ được
đưa ra để quốc hội thảo luận và biểu
quyết. Nguyên tắc chỉ đạo là các vùng phải
khá thuần nhất về mặt địa lý, giao thông và
chức năng kinh tế và phải có tầm vóc đủ
để có thể tự quản và phát triển được.
Văn hóa xã hội :
- Tăng cường trật tự an ninh. Cải
tổ bộ máy an ninh, chuyển lực lượng công an
chính trị sang tăng cường cho công tác bảo vệ
trật tự.
- Khắc phục các tệ nạn xã hội. Nghiêm
khắc và quả quyết bài trừ tham nhũng, buôn lậu
và các băng đảng. Vận động sử
hưởng ứng tối đa của báo chí và xã hội
dân sự vào cố gắng lành mạnh hóa xã hội.
- Bãi bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn mọi biện pháp
kiểm duyệt, ban hành tự do báo chí và ngôn luận.
- Bảo đảm sự khách quan và đúng đắn
tuyệt đối của các sách giáo khoa và qui định
một trình độ văn hóa tối thiểu bắt buộc
cho thanh niên, ít nhất tới hết lớp 9. Vận
động sinh lực toàn quốc cho cố gắng văn
hóa, giáo dục.
- Cải thiện môi trường và danh lam thắng cảnh.
Chấm dứt nạn phá rừng, đánh bắt hải sản
vô trách nhiệm, kiểm soát nghiêm túc cách xử lý các phế
liệu.
- Chặn đứng tệ bán đất một cách mờ
ám, vụ lợi cho người ngoại quốc, cho phép và
khuyến khích người Việt hải ngoại mua nhà
đất tại Việt
Kinh tế :
- Giải tư đại bộ phận các xí nghiệp
quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất. Việc
giải tư các xí nghiệp quốc doanh sẽ được
thực hiện nhanh chóng và hoàn tất sau hai năm.
Chính sách tư hữu hóa ruộng đất sẽ hoàn tất
sau năm năm.
- Khuyến khích tối đa đầu tư kể cả
đầu tư nước ngoài. Bãi bỏ từng
bước các đạo luật về đầu tư
nước ngoài, ban hành một đạo luật kinh doanh
áp dụng cho cả người Việt lẫn người
ngoại quốc. Bãi bỏ những giấy phép đầu
tư, qui định thời gian làm thủ tục mở
công ty không thể quá hai tuần lễ.
- Đẩy mạnh sự phát triển của thị
trường nội địa, đặc biệt khuyến
khích tiểu thương. Đặt mục tiêu nông cao
mức sống nông dân.
-
Dồn cố
gắng cho hai công trình giao thông chiến lược là xa lộ
hóa quốc lộ Xuyên Việt và hiện đại hóa
đường xe lửa Thống Nhất. Tân trang và
khai thác cảng Cam Ranh như là một trong những công
trình trọng điểm để phát triển miền
Trung.
Bình
thường hóa quan hệ giữa người Việt
Chế
độ độc tài này sẽ là chế độ độc
tài cuối cùng tại Việt
Làm
người Việt Nam trong thế kỷ 20 đã là một
điều bất hạnh thì làm người Việt Nam trong
thế kỷ 21 sẽ phải là một niềm vui, một
may mắn và một nguồn hãnh diện.
Thế
giới đã biết đến Việt Nam như là nạn
nhân của hận thù và chia rẽ, của óc độc quyền
lẽ phải thì thế giới sẽ phải biết
đến Việt Nam sau này như là vùng đất của
sự bao dung, như là một mẫu mực thành công của
tình anh em tìm lại, của sự hồi sinh từ hoang tàn
và đổ nát.
Đó là giấc mơ Việt
Với một dân số
đông đảo, những con người cần mẫn
và một địa lý thuận lợi, Việt
Mặc dầu vậy
hiện nay chúng ta chỉ là một trong những nước
nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Mâu thuẫn
đau lòng đó chất vấn mọi người Việt
Bẩm sinh mọi con
người, dù thuộc chủng tộc nào, đều có
những khả năng như nhau. Nh¨ững chênh lệch về
trình độ phát triển và mức sống của các dân
tộc là hậu quả của điều kiện địa
lý, tài nguyên thiên nhiên và cách tổ chức xã hội. Trong những
yếu tố đó tổ chức xã hội có tầm quan
trọng vượt hẳn. Tổ chức xã hội tốt
hay xấu, khéo hay vụng có thể thay đổi hẳn số
phận của một dân tộc. Thế giới đã thấy
nhiều quốc gia mặc dầu đất đai chật
hẹp, tài nguyên ít ỏi mà vươn lên mạnh mẽ
trong khi nhiều quốc gia khác tuy rất được
thiên nhiên ưu đãi mà vẫn quằn quại trong cảnh
nghèo đói. Chúng ta càng ý thức được tầm quan
trọng đặc biệt của tổ chức xã hội
khi nhìn vào sự cách biệt hiện nay : bảy quốc gia
phát triển nhất tuy dân số chỉ xấp xỉ 12% số
người trên trái đất nhưng lại tập trung
quá 2/3 tổng sản lượng của thế giới ;
lợi tức của một người Nhật lớn gấp
một trăm lần lợi tức của một người
Việt Nam. Sự thua kém hổ nhục này một mặt bắt
buộc chúng ta suy nghĩ về mình để tìm một lối
đi cho mình, một mặt cho phép chúng ta tin tưởng rằng
nếu tổ chức lại đất nước một
cách hợp lý chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi cảnh
nghèo đói và sẽ vươn lên mạnh mẽ.
Chúng ta đã bỏ lỡ
nhiều cơ hội lịch sử.
Vào buổi rạng
đông của thời đại mới, chúng ta, cũng
như hầu hết các nước phương Đông,
đã không ý thức được rằng đã đến
lúc phải xét lại toàn bộ các giá trị và tập quán,
phải đổi mới hoàn toàn cách suy nghĩ và tổ chức.
Trong nhiều thế kỷ chúng ta đã hài lòng với khuôn
mẫu xơ cứng Khổng Mạnh, bỏ mất óc sáng
tạo và dẫm chân tại chỗ ; trong khi người
Phương Tây, nhờ óc khách quan và phương pháp, nhờ
biết xét lại và đổi mới không ngừng đã
tiến lên mạnh mẽ, đã hơn hẳn phần còn lại
của thế giới.
Vì không biết thích nghi
kịp thời như một số quốc gia may mắn
khác, chúng ta đã thất bại trước người
Phương Tây, đã mất chủ quyền, đã phải
chịu cái nhục bị đô hộ. Mất chủ quyền,
chúng ta đã mất luôn khả năng hội ý với nhau
để cùng nhau tìm một lối thoát cho đất
nước, rồi từ đó dần dần mất luôn
tinh thần đối thoại để dàn xếp những
bất đồng.
Bước vào thế
kỷ thứ hai mươi, chúng ta phải giải quyết
cùng một lúc hai vấn đề vô cùng khó khăn : giành chủ
quyền dân tộc và thích nghi với một nền văn
minh mới. Vì không đồng ý được với nhau
trên một dự án quốc gia mới nên chúng ta đã xung
đột với nhau ngay cả trên mục tiêu mà mọi
người Việt
Ngày hôm nay nhân dân ta
cơ cực và chán nản, đất nước ta kiệt
quệ, tụt hậu và bế tắc. Các vấn đề
kinh tế, xã hội, môi sinh, đạo đức, giáo dục,
nhân mãn, v.v. chồng chất không được giải quyết
càng ngày càng trở nên gay gắt hơn và chẳng bao lâu nữa
có thể sẽ không còn giải đáp nếu đà băng
hoại này cứ tiếp tục. Nước Việt
Nguy cơ thua kém vĩnh
viễn cũng là nguy cơ mất nước bởi vì
trong thời đại này, khi ý niệm quốc gia dân tộc
đang bị công phá từ mọi phía và đang bị xét lại,
những quốc gia không đem lại được hạnh
phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm
thì muộn cũng sẽ bị giải thể.
Con đường ra
khỏi bế tắc và vươn lên của chúng ta là dân
chủ đa nguyên và nhân quyền. Dân chủ để
đặt những vấn đề một cách đúng
đắn và chọn một cách đúng đắn những
giải pháp và những người trách nhiệm. Đa
nguyên để tôn trọng mọi khác biệt, và để
thực hiện hòa giùải dân tộc sau những xung đột
đẫm máu. Nhân quyền để phát huy sinh lực và
sáng kiến của mọi người.
Lịch sử của
mọi dân tộc đều chứng tỏ nhân quyền
chưa bao giờ ngăn cản ai xây dựng đời
mình và dân chủ chưa bao giờ cấm đoán một dân
tộc nào tiến lên. Dân chủ đi trước và mở
đường cho phát triển, phát triển củng cố
và phát huy dân chủ. Đó phải là niềm tin căn bản
của mọi người dân chủ Việt
Nhìn lại đoạn
đường đã đi qua ta phải nhìn nhận rằng
nguyên nhân của mọi đổ vỡ mà nước ta
đã phải chịu đựng là chúng ta đã không đầu
tư đủ suy nghĩ để nhận diện những
vấn đề trọng đại đặt ra cho mình
và để tìm ra hướng giải quyết. Ở mỗi
thời điểm, chúng ta luôn luôn thiếu một dự
án chính trị thích hợp với thời đại mới
và hoàn cảnh đất nước. Cuối cùng chúng ta
đã tàn sát nhau vì những ý hệ vay mượn mà chúng ta
bảo vệ một cách đam mê hơn cả những dân
tộc đã khởi xướng ra chúng.
Đầu tư suy nghĩ
vào một dự án chính trị như vậy là điều
mà chúng ta phải làm trước hết.
Tổ chức xã hội
rõ ràng là chìa khóa của tiến bộ, là yếu tố quyết
định chỗ đứng và sự vinh nhục của
các dân tộc. Nhưng tổ chức xã hội không thể
có bằng sự áp đặt máy móc một khuôn mẫu mà
phải được hình thành sau một quá trình trao đổi,
do sự gặp gỡ giữa trí tuệ và những thực
tại lịch sử, địa lý, văn hóa, đạo
đức của mỗi dân tộc. Muốn thay đổi
tổ chức xã hội, trước hết phải thay
đổi những giá trị nền tảng của xã hội.
Máu và nước mắt
của nhân dân, những đổ vỡ của đất
nước, sự tủi nhục vì thua kém buộc chúng ta
rút ra một bài học dứt khoát là phải từ bỏ
tâm lý nóng vội, từ bỏ óc độc quyền lẽ
phải, chế ngự lòng đam mê để đối
thoại và thỏa hiệp với nhau trong tinh thần
tương kính. Thái độ lương thiện và xây dựng
này xuất phát từ nhận thức rằng mọi
người Việt Nam đều ràng buộc với nhau
trong một thân phận chung : nếu đất nước
chúng ta giàu mạnh cuộc sống của chúng ta sẽ khá
hơn và tất cả chúng ta đều được
kính trọng ; ngược lại nếu đất nước
chúng ta nghèo khổ và lạc hậu, tất cả chúng ta
đều bị coi thường, bất luận chúng ta
thuộc thành phần nào, đảng phái nào, hay theo chủ
nghĩa nào. Trong hoàn cảnh bi đát hiện nay, điều
tốt nhất cho mỗi người cũng là điều
tốt nhất cho mọi người.
Dự án chính trị
này có tham vọng đóng góp vào một ý thức chính trị
mới Việt
Chúng ta đang đứng
trước một thế giới đầy hy vọng và
thử thách. Các chế độ độc tài đang theo
nhau sụp đổ. Làn sóng dân chủ đang trỗi dậy
mạnh mẽ trên khắp thế giới. Số lượng
các nước dân chủ tiếp tục gia tăng nhanh
chóng. Các dân tộc vừa được giải tỏa khỏi
ám ảnh thế chiến vừa được một cơ
hội vô cùng thuận lợi để loại bỏ những
tập đoàn chuyên chính và tổ chức lại xã hội
của mình một cách hợp lý hơn. Nhưng mặt khác
họ cũng bị đặt trước một thế
giới tranh đua gay gắt hơn, với các thông số
đã đổi mới.
1. Những nét đậm
của thế giới hôm nay
Các tiến bộ khoa học
kỹ thuật dồn dập tới hằng ngày làm thay
đổi hẳn bản chất của hoạt động
kinh tế và những trao đổi giữa các quốc gia,
đẩy các quốc gia vào một cuộc cạnh tranh dữ
dội. Vận tốc thay đổi quá mau trong khi chưa
ai biết chắc kết quả sẽ như thế nào. Một
trật tự mới chưa hình thành trong khi nhiều dấu
hiệu đáng ngại đã xuất hiện. Sự tranh
đua tìm kiếm hiệu năng tối đa, phẩm chất
cao nhất và giá thành thấp nhất không những buộc
mọi xí nghiệp xét lại phương thức sản
xuất và quản trị mà còn buộc nhiều quốc gia
xét lại mô hình xã hội của mình. Mô thức Tây êu từ
trước tới nay vẫn được coi, và xứng
đáng được coi, là lý tưởng nhất vì dung
hòa được một mức độ phát triển cao
với một liên đới xã hội lớn đang gặp
khó khăn trước sự cạnh tranh của những
nền kinh tế duy hiệu năng và thuần túy thị
trường. Đối với các nước chưa phát
triển và cần được trợ giúp, các định
chế tài chánh quốc tế không ngừng khuyến cáo và
áp đặt những biện pháp ổn định tiền
tệ mà hậu quả rõ nét nhất là chiết giảm những
chi phí xã hội cần thiết để duy trì liên đới
quốc gia.
Tuy vậy xu hướng
căn bản toàn cầu vẫn là sự ra đời của
một kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên đặt
nền tảng trên những giá trị đã tạo ra sức
mạnh của các nước tiên tiến : hòa bình, tự
do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, nhà nước
pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận,
môi trường và liên đới. Những thành tựu khoa
học, kỹ thuật và kinh tế quyết định chỗ
đứng của các dân tộc. Trong nhất thời, vai
trò lãnh đạo thế giới thuộc về Hoa Kỳ
và Tây êu. Trong vài thập niên nữa, một phần quan trọng
của vai trò lãnh đạo sẽ chuyển sang khu vực
Thái Bình Dương. Sau đó Trung Quốc và Nga, một khi
đã chuyển hóa thành công về dân chủ, cũng sẽ
vươn lên giành một vai trò quan trọng hơn. Ngôi vị
có thể thay đổi, các liên minh cũng sẽ thay đổi,
nhưng luật chơi sẽ không thay đổi vì các giá
trị nền tảng sẽ không thay đổi. Các quốc
gia không hiểu luật chơi này, hoặc còn do dự không
chịu mau chóng thích nghi với các giá trị mới phải
chờ đón một tương lai rất đen tối.
Hoa Kỳ vừa là
cường quốc vượt trội về mọi mặt,
vừa là cường quốc có nhiều tiềm năng tiến
lên nhất, do đó thế thượng phong của Hoa Kỳ
sẽ còn kéo dài trong thế kỷ tới. Trong vài thập
niên nữa sẽ khó có vấn đề quốc tế quan
trọng nào có thể giải quyết được nếu
không có sự thỏa thuận của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ
vì vậy trở thành một vấn đề thế giới,
và quốc gia nào dù muốn hay không cũng có vấn đề
Hoa Kỳ của mình. Điều đáng mừng là cùng với
sức mạnh vô địch đó Hoa Kỳ đồng thời
cũng tỏ ra là cường quốc tích cực đem
các vấn đề dân chủ và nhân quyền vào chính sách
đối ngoại.
Nhưng nếu cả
thế giới có vấn đề Hoa Kỳ thì các nước
Đông Nam Á lại có thêm vấn đề Trung Quốc.
Trung Quốc đang phát triển về mặt kinh tế và
đang gia tăng sức mạnh quân sự. Điều
đáng lo ngại là Trung Quốc cho tới nay một mặt
phủ nhận trắng trợn các giá trị dân chủ và
nhân quyền, mặt khác tỏ ra muốn sử dụng sức
mạnh quân sự của mình cho một chính sách bá quyền
khu vực. Châu Á cũng là khu vực có nhiều hiểm họa
chiến tranh nhất trên thế giới hiện nay. Sự
kiện Trung Quốc vừa gia tăng sức mạnh quân sự
vừa để lộ một số tham vọng bá quyền
đã làm mọi nước trong vùng lo ngại. Mối quan
tâm đối với Trung Quốc đã là nguyên nhân cho một
cuộc chạy đua võ trang nguy hiểm trong vùng, làm cho
tình hình căng thẳng thêm. Trong tình huống đó, Việt
Các nước cộng
sản cũ tại Đông êu và Liên Xô đã gặp rất
nhiều khó khăn và xáo trộn về mặt kinh tế và
xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp, do di sản
cực kỳ bi đát của các chế độ cộng
sản để lại, nhưng đã vượt qua
được hay sắp vượt qua được. Tại
các nước này, xã hội dân sự đã thành hình và bắt
đầu phát triển ; sinh hoạt kinh tế xã hội
đã bắt đầu ổn vững. Nhiều nước
đã phát triển mạnh, nhiều nước đang bắt
đầu phát triển, các quốc gia còn lại đang
trên đường ra khỏi giai đoạn khó khăn.
Quan trọng hơn cả là xã hội, dù còn nhiều mặt
yếu kém, nói chung đã được đặt trên một
nền tảng lành mạnh. Các nước cộng sản
đã chấp nhận dân chủ hóa giờ đây có thể
hướng về tương lai với niềm tin và hy vọng.
Trái lại, bốn chế độ cộng sản ngoan cố
- Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba - vẫn
còn là những bệnh nhân chưa được giải phẫu
với một ngày mai đầy bất trắc.
Điều cần
được đặc biệt nhấn mạnh là tất
cả các nước từ bỏ chủ nghĩa cộng
sản và dân chủ hóa một cách rất nhanh chóng đều
đã không bị rơi vào hỗn loạn.
Sự thành công ngoài mức
độ chờ đợi trong một giai đoạn
đã cho họ ảo tưởng rằng có thể phát triển
kinh tế mà không cần dân chủ hóa theo cùng một nhịp
độ. Cuộc khủng hoảng tài chính mùa hè 1997 đã
gọi họ về với sự thực là dân chủ phải
đi trước và mở đường cho phát triển.
Họ đã phải trả giá rất đắt, thành quả
của nhiều năm cố gắng đã tiêu tan, kéo theo
vô số thảm kịch xã hội. Nhưng họ đã hiểu
và đã trở thành những nước dân chủ. Họ
đã tìm lại được đà phát triển và lần
này họ sẽ phát triển một cách lành mạnh và bền
vững. Sự chuyển hóa thẳng thắn của các
nước Đông Á về dân chủ đã là biến cố
quan trọng nhất trong ba năm cuối cùng của thế
kỷ 20 và sẽ làm thay đổi hẳn bối cảnh
chính trị trong vùng Đông Nam châu Á. Chế độ độc
tài cộng sản Việt Nam sẽ hoàn toàn bị cô lập
và sự thua kém của Việt Nam so với các nước
lân cận sẽ ngày một bi đát hơn nếu đất
nước không kịp thời thay đổi định
hướng.
Điều cũng cần
được nhấn mạnh tại đây là tất cả
các nước châu Á đã trở thành ổn định
hơn sau khi dân chủ hóa một cách nhanh chóng, trái hẳn với
lập luận của các tập đoàn cầm quyền
trước đây cho rằng dân chủ có thể
đưa đến hỗn loạn.
Ý niệm quốc gia
dân tộc đang bị công phá từ mọi phía. Từ bên
ngoài do những kết hợp khu vực hứa hẹn một
không gian hoạt động lớn hơn không gian quốc
gia, từ bên trong do các cộng đồng sắc tộc
đòi tự trị, và từ cả trong lẫn ngoài do những
công ty đa quốc gia và những trao đổi dồn dập
và ngày càng gia tăng vận tốc. Các phương tiện
giao thông và truyền thông hiện đại cũng đã
làm cho trái đất nhỏ lại và đem con người
tới gần nhau.
Khuynh hướng áp
đảo hiện nay là khuynh hướng toàn cầu hóa.
Tư bản không còn tổ quốc. Các công ty lớn tìm
cơ hội đầu tư trên khắp thế giới
và lập các kế hoạch sản xuất, tiếp thị,
phân phối trên qui mô toàn cầu. Trong cố gắng tìm trọng
lượng và địa bàn hoạt động lớn
hơn, các công ty ngày càng sát nhập với nhau tạo ra những
tổ hợp với tầm vóc vĩ đại. Nhiều
tổ hợp có tích sản lớn hơn tổng sản
lượng của nhiều quốc gia cộng lại ;
đã có một số công ty có trị giá tích sản lớn
hơn hay tương đương với tổng sản
lượng của cả khối ASEAN với trên 500 triệu
người. Trong một thế giới hòa bình, quyền lực
kinh tế tự nó đã là quyền lực quan trọng nhất,
nhưng nó cũng có thể xâm lấn quyền lực chính
trị. Sự xuất hiện của những công ty đa
quốc gia khổng lồ là một thách đố ngày càng
lớn cho các quốc gia và cho chính ý niệm quốc gia. Các
qui luật thương mại đang nhanh chóng được
hình thành và áp dụng cho cả thế giới. Các quyền
con người ngày càng được nhìn nhận là phổ
cập, được coi như bước đầu của
luật pháp quốc tế và được đặt lên
trên luật pháp của các quốc gia. Các mạng lưới
truyền thông, đặc biệt là mạng lưới
Internet cho phép những con người ở rất xa nhau
trao đổi và làm việc trực tiếp với nhau. Một
người có thể làm việc cho một cơ quan cách nửa
vòng trái đất nơi mình cư trú. Khoảng cách đang
biến mất. Sự hiện diện ảo đang trở
thành thực và có tác dụng không kém sự hiện diện
thân xác. Một công dân có thể thường trú ở nước
ngoài mà vẫn phục vụ được đất
nước mình một cách thường trực và đều
đặn như một người trong nước. Cả
một "thế giới ảo" đang hình thành với
tầm quan trọng gia tăng nhanh chóng. Ngay lùúc này những
trao đổi văn hóa, khoa học, kỹ thuật tài
chính và thương mại trong thế giới ảo này,
qua mạng lưới Internet, đã rất quan trọng.
Trong một tương lai không xa thế giới ảo này
sẽ lấn át thế giới thực, biến thế giới
thực thành một trong những biểu hiện của
nó.
Cuộc chuyển hóa vĩ
đại chỉ mới bắt đầu này ngày càng biến
mỗi người thành một con người của thế
giới trước khi là công dân của một nước.
Ý niệm quốc gia dân tộc bị tương đối
hóa. Quốc gia không còn là một cứu cánh thiêng liêng mà phải
là một phương tiện để xây dựng hạnh
phúc cho dân tộc. Trong bối cảnh thế giới hiện
nay và sắp tới, một quốc gia không được
quan niệm như một tình cảm, một đồng
thuận, một dự án tương lai và một không gian
liên đới sẽ không thể tồn tại lâu dài. Một
quốc gia không đảm bảo an ninh và nhân phẩm, không
đem lại phúc lợi thực tiễn và niềm tự
hào cho người dân - hơn nữa nếu biên giới quốc
gia được coi như tường thành ngăn cản
các giá trị tiến bộ và qui định một vùng lộng
hành an toàn của các tập đoàn bạo ngược - lại
càng tan vỡ nhanh hơn và bi đát hơn. Trong thời
đại mới này, chúng ta cần ý thức rằng các tập
đoàn cầm quyền thiếu văn hóa và thiếu tầm
nhìn là những tai họa cho sự tồn vong của các quốc
gia. Các chế độ độc tài bạo ngược
giết chết các quốc gia, càng tồi dở và độc
ác bao nhiêu chúng càng giết chết nhanh chóng các quốc gia bấy
nhiêu.
Một là, sự giải
thể của phong trào cộng sản thế giới tuy là
điều rất đáng mừng, nhưng cũng đặt
ra những vấn đề nghiêm trọng cho các nước
chậm chân lỡ bước. Phong trào cộng sản thế
giới đã là thảm kịch cho nhiều dân tộc
nhưng cũng đã có tác dụng răn đe các cường
quốc tư bản trong cách đối xử với các
nước chậm tiến. Với sự biến mất
của khối cộng sản, thế giới ngày nay gần
giống như một quốc gia không có đối lập.
Các nước kém mở mang sẽ gặp nhiều khó
khăn mới. Chúng ta sẽ không còn phải lo ngại tệ
chiếm đóng, thống trị và vơ vét tài nguyên của
những thế kỷ trước nữa, nhưng cảnh
lớn nuốt bé, mạnh hiếp yếu là điều chắc
chắn vẫn có và còn có cơ nguy gia tăng. Những dân tộc
phân hóa, chia rẽ, thiếu sáng kiến, chậm thích nghi sẽ
là nạn nhân của trận đấu mới. Lần này
sự chèn ép sẽ không trắng trợn và dã man mà diễn
ra theo những qui luật hợp pháp.
Hai là, những tiến
bộ dồn dập và trọng đại trong ngành vi
điện tử và ngành tin học đang đưa tới
một trào lưu tự động hóa càng ngày càng cao khiến
cho nhân công rẻ không còn là một yếu tố tự nó
đủ sức thuyết phục để lôi kéo đầu
tư nữa, các nước kém mở mang đang mất dần
đi một vũ khí chiến lược. Chính trị ổn
vững, trật tự bảo đảm, luật pháp giản
dị, thuế khóa nhẹ nhàng, điều kiện địa
lý thuận lợi, thị trường tiêu thụ lớn,
nguồn nhân lực có kỹ năng và hiệu năng là những
vũ khí chiến lược phải có để tranh thủ
đầu tư quốc tế. Đó lại thường
là những yếu tố mà các nước kém mở mang khó
hội đủ.
Một là, các chế
độ độc tài sẽ không còn được dung
dưỡng vì những liên minh ý thức hệ nữa và dần
dần bị đào thải. Các dân tộc sẽ được
cởi trói, nhiều sinh lực sẽ được giải
tỏa, các quốc gia sẽ được quản trị
một cách hợp lý hơn, dù là sau một thời gian dọ
dẫm. Sự đào thải của các chế độ
độc tài là may mắn rất lớn cho các nước
chậm tiến. Kinh nghiệm đã cho thấy mọi chế
độ độc tài đều độc hại.
Dưới chiêu bài duy trì kỷ luật và trật tự,
các chế độ độc tài chỉ là những sào huyệt
tham nhũng và lạm quyền, cho phép những tập
đoàn lưu manh, thoái hóa kềm kẹp nhân dân và ngăn cản
mọi tiến bộ.
Hai là, kinh tế trở
thành mối ưu tư hàng đầu của mọi quốc
gia. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước
giàu mạnh với nhau trong một thế giới mà ngôi vị
thay đổi không ngừng cũng khiến các công ty lớn
và các nước đã mở mang luôn luôn phải tìm những
thị trường mới, những vận hội đầu
tư mới. Các nước kém mở mang nếu biết tạo
một bối cảnh xã hội ổn vững, những
điều kiện kinh tế thuận lợi, nếu không
bị lên án và cô lập sẽ có khả năng tìm
được những nguồn hợp tác rất có lợi.
Ba là, do những tiến
bộ về truyền thông và giao thông vận tải, cũng
như do dân số trên trái đất càng ngày càng đông, thế
giới đã nhỏ lại và các quốc gia đều trở
thành liên thuộc với nhau và lệ thuộc lẫn nhau. Một
ý thức mới đã ra đời theo đó trái đất
là quê hương chung của cả nhân loại. Mọi quốc
gia đều cảm thấy nhu cầu được sống
trong một thế giới không bị đe dọa. Càng giàu
có và phát triển các dân tộc càng thấy cần phải
đảm bảo những thành tựu của mình bằng
cách đóng góp cho một thế giới an bình và ổn vững.
Do đó dù muốn dù không, các nước giàu mạnh cũng
không thể để mặc các quốc gia khác sống
trong sự bần cùng. Đây không phải là một bắt
buộc do lòng nhân đạo, mà do thế liên thuộc mật
thiết. Một thí dụ cụ thể là vấn đề
môi sinh.
Bốn là, những
đòi hỏi về hạnh phúc và tiện nghi của các
dân tộc đã mở mang tăng lên mau chóng, có phần
nhanh hơn cả đà phát triển kinh tế của họ.
Số giờ làm việc ngày càng giảm đi, lương
bổng ngày càng tăng thêm, các chi tiêu công cộng về xã hội,
văn hóa, nghệ thuật, tiện nghi sẽ tăng cao
kéo theo sự gia tăng về thuế khóa. Dĩ nhiên những
phát minh mới sẽ không ngừng xuất hiện để
hạ giá thành xuống và nâng phẩm chất lên, nhưng
trong thế giới truyền thông hiện nay các phát minh này
nếu xuất hiện ở các nước đã phát triển
cũng sẽ mau chóng được phổ biến sang các
nước khác. Cuối cùng khuynh hướng chung tại
các nước có mức sống cao vẫn là giá thành, tỷ
lệ lợi nhuận và phần tái đầu tư của
tổng sản lượng quốc gia chênh lệch một
cách bất lợi so với các nước đang phát triển.
Trong tình trạng này, nhân dân các nước kém mở mang, vì
ít đòi hỏi về tiện nghi và tiêu thụ hơn, sẽ
có khả năng chấp nhận những hy sinh và cố gắng
hơn hẳn, do đó có triển vọng cạnh tranh hữu
hiệu với các nước mở mang. Chúng ta có thể
tiên liệu rằng, trước khi đi tới cạnh
tranh về mọi mặt, thế giới sẽ trải
qua một giai đoạn chuyển tiếp khá dài trong
đó, nói chung, các nước vừa mới mở mang sẽ
sản xuất phần lớn hàng hóa và vật dụng
trong khi các nước đã đạt tới mức phát
triển cao cung cấp phần lớn tư bản, dịch
vụ, hàng hóa phẩm chất cao và thiết bị sản
xuất. Cho nên đối với những quốc gia kém mở
mang, từ nay cho tới một vài thập niên nữa, sự
cạnh tranh gay go nhất sẽ là sự tranh đua giữa
chính họ với nhau. Sự tranh đua này sẽ rất
khó khăn đối với các nước hoặc kém mở
mang nhất, hoặc không thích nghi thật nhanh với tình thế.
Mặc dầu trên
nguyên tắc nước ta đã có quan hệ bình thường
với mọi quốc gia và đã là thành viên của ASEAN,
nhưng sự theo đuổi một cách ngoan cố chủ
nghĩa Mác-Lênin, những vi phạm trắng trợn về
nhân quyền và dân quyền, tệ quan liêu và tham nhũng, sự
do dự trước những cải tổ cần thiết
và cách cư xử thô vụng trong những giao thiệp quốc
tế đã khiến Việt Nam lâm vào một thế cô lập
lớn trên thực tế. Việt
Chính sách mở cửa
về kinh tế thị trường được thực
hiện từ 1987 đã cải thiện một cách đáng
kể mức sống của nhân dân nhưng đã mau chóng
đạt tới giới hạn của nó. Từ 1996 trở
đi đà tăng trưởng đã khựng lại sau
quyết định xiết lại của đại hội
8 của Đảng Cộng Sản Việt
Ngoại thương của
Việt
Chất liệu nhân xã
của chúng ta đã bị rách nát do những cuộc
tương tàn kéo dài và thảm khốc, do tinh thần bất
dung và thù hận mà những cuộc chiến này đẻ
ra, do chính sách phân biệt đối xử mà đảng cộng
sản thi hành trong suốt thời gian qua, do chênh lệch
giàu nghèo quá lộ liễu và do sự nghi hoặc toàn diện
của dân chúng đối với các giá trị cơ bản
của mọi xã hội.
Công nghiệp đã bị
quản lý một cách thô vụng lại còn phải chịu
sự cạnh tranh bất chính của hàng nhập cảng
lậu thuế. Nhiều thiết bị sản xuất
đã cũ và lỗi thời nhưng vẫn chưa thay thế
được. Nhiều cơ sở hạ tầng hư
hao mà không được tu bổ.
Trong những năm gần
đây, chúng ta chứng kiến một thảm kịch mới
: đó là sự hao mòn ngay ở nền tảng của
đất nước. Cây rừng bị chặt phá để
xuất khẩu tống tháo lấy ngoại tệ, bờ
biển bị ô nhi%ễm, đất nước trở
thành cằn cỗi, lụt lội và hạn hán kế tiếp
nhau hàng năm. Đất nước không những chỉ
bị hủy hoại mà còn bị đem bán, rất nhiều
vùng đất có giá trị kinh tế chiến lược
đã bị người ngoại quốc mua mất.
Đồng thời tài
nguyên quí nhất của quốc gia là con người cũng
bị xuống cấp một cách thê thảm. Sức khỏe
của nhân dân suy nhược vì thiếu dinh dưỡng,
thuốc men và chăm sóc. Các chứng bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm lan tràn một cách báo động mà không có biện
pháp ngăn chặn. Thanh thiếu niên bỏ học hàng loạt.
Trí tuệ dân tộc suy giảm nặng với sự xuống
cấp bi đát của hệ thống giáo dục. Tệ
nghiện ma túy ngày càng gia tăng. Cuộc sống khó
khăn làm con người càng ngày càng rời xa các giá trị
căn bản của mọi xã hội : đạo đức,
lương thiện, thật thà, cần cù, kỷ luật,
v.v.
Giềng mối của
xã hội cũng bị tan rã : bất công lộ liễu và
thách đố, trộm cướp hoành hành công khai, buôn lậu
trở thành một phong trào quốc gia, tham nhũng trở
thành một thông lệ, sự dối trá, giật giọc
trở thành một nếp sống.
Trước thực trạng
nguy ngập đó, nhà cầm quyền thay vì dồn mọi
cố gắng để cứu nước lại áp đặt
làm mục tiêu hàng đầu việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, một chủ nghĩa đã bị cả thế
giới, kể cả các nước đã khai sinh ra nó, từ
bỏ và đã bị nhân dân Việt Nam coi là nguyên nhân của
tình trạng bi đát hiện nay. Nhà nước cộng sản
đã thất bại trên mọi phương diện và
trong tất cả mọi địa hạt, nhưng vẫn
tiếp tục cầm quyền như một thách đố
với nhân dân và không những thế, còn khẳng định
quyết tâm giữ độc quyền chính trị vô hạn
định. Nhà nước cộng sản vì vậy là một
khiêu khích hàng ngày đối với nhân dân và một tai họa.
Tai họa đó kéo dài quá lâu đã khiến người dân,
bất lực và chán chường, không những chỉ ghét
chính quyền mà còn dần dần mất cả lòng tin vào
đất nước. Mỗi người tự luồn
lách để tìm những giải đáp cá nhân cho những
vấn đề cá nhân. Mộng ước của rất
nhiều người Việt
Chúng ta có một ngôn ngữ
đồng nhất trong cả nước, một ngôn ngữ
dễ học và khá đầy đủ để chuyên chở
mọi kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật.
Chúng ta có một dân số
khá đông đảo, gần 80 triệu dân, đứng
hàng thứ 13 trên thế giới. Dân số đông đảo
này tuy là một trở ngại lớn cho cố gắng
nâng cao mức sống nhưng cũng là một sức mạnh.
Người Việt
Trong suốt dòng lịch
sử khó khăn nhưng oanh liệt, người Việt
Chúng ta có một địa
lý vô cùng thuận lợi. Đất đai của ta tuy hẹp
nhưng phì nhiêu, nông nghiệp của ta nếu hoạt
động một cách hợp lý không những có khả
năng sản xuất đủ lương thực cho dân
chúng mà còn có khả năng xuất cảng. Bờ biển
của ta dài và đẹp, nước ta nằm ngay sát nhiều
trục giao thông quan trọng và ở ngay giữa một
vùng đang phát triển mạnh mẽ có tất cả mọi
triển vọng để trở thành một trung tâm kinh tế
chiến lược lớn của thế giới. Chúng ta
có tiềm năng của một quốc gia rất lớn
về du lịch, công nghiệp và thương nghiệp. Sự
chuyển hóa về dân chủ gần đây của các
nước Đông Nam Á cũng là yếu tố tích cực
mới, tạo ra một bối cảnh ngày càng lành mạnh
và văn minh, có tác dụng thôi thúc đối với mọi
người Việt Nam.
Chúng ta
đang sống một thay đổi tư duy mang rất
nhiều hy vọng. Những cuộc chiến khốc liệt
tàn phá đất nước đã khiến người Việt
Thời đại của
các chủ nghĩa và ý thức hệ đã chấm dứt.
Từ nay không còn những chân lý không thể đặt lại.
Tuy vậy, một tập hợp chính trị trong mỗi
giai đoạn vẫn cần đồng thuận trên một
số nhận định nền tảng.
Giữa những thay
đổi dồn dập đòi hỏi những chính sách và
biện pháp đa dạng và phức tạp để thích
nghi với tình thế, mọi người cần nắm vững
những chọn lựa nền tảng, nghĩa là những
gì không thay đổi và giải thích cái tại sao của
các biện pháp và chính sách. Đó là điều kiện để
đất nước không mất phương hướng
và để người dân có thể hiểu và đóng góp
một cách có ý thức vào sinh hoạt quốc gia. Chúng ta là
một dân tộc đông đảo và phải
đương đầu với rất nhiều vấn
đề trầm trọng và gai góc, công việc của
chúng ta chắc chắn là rất phức tạp. Chính sự
phức tạp đó đòi hỏi các tổ chức chính
trị phải minh định những chọn lựa có
tính chủ thuyết, chủ thuyết được hiểu
theo nghĩa không phải là chủ nghĩa hay ý thức hệ,
cũng không phải là những học thuyết với cấu
trúc lý luận phức tạp, mà là những ý kiến
đơn giản được coi là đúng và được
lấy làm căn bản cho các chính sách và biện pháp trong một
giai đoạn khá dài.
Đồng thuận
căn bản của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên gồm
bốn điểm sau đây : đất nước phải
được quan niệm như một không gian liên đới
và một tương lai chung, thể chế chính trị cho
Việt Nam là dân chủ đa nguyên, tinh thần chỉ
đạo của cố gắng làm lại đất
nước là hòa giải và hòa hợp dân tộc, cố gắng
phát triển kinh tế phải đặt trên nền tảng
kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân.
Nước Việt
Cho tới khi ý niệm
dân chủ ra đời, các vương quốc chỉ là của
một nhà vua. Lãnh thổ cũng như người dân thuộc
quyền sở hữu của vua và bị đặt dưới
quyền quyết định độc quyền và tuyệt
đối của vua. Đất cũng như dân có thể
đổi chủ một cách tùy tiện theo sự chuyển
nhượng giữa các vua chúa. Trong bối cảnh đó
không thể có các quốc gia đúng nghĩa. Sự quyến
luyến với mảnh đất của tổ tiên và những
người quen thuộc chưa phải là tinh thần dân tộc
hay lòng yêu nước. Người dân không có thẩm quyền
nào trên đất nước thì cũng không có trách nhiệm
nào đối với đất nước. Ý thức dân
chủ đã biến các vương quốc thành những
quốc gia và đã là nền tảng cho một nhà nước,
hay chính quyền, của dân, do dân và vì dân.
Khác hẳn với các
vương quốc đã dần dần hình thành với thời
gian, quốc gia là một thực thể bao gồm một
lãnh thổ, một chính quyền, một di sản văn
hóa lịch sử và những con người bình đẳng
gắn bó với lãnh thổ đó, chấp nhận chính quyền
đó, chia sẻ di sản lịch sử và văn hóa đó
và, quan trọng hơn hết, chấp nhận xây dựng
và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Quốc
gia ở trên mọi người và là của chung mọi
người.
Cùng với ý niệm quốc
gia như là một thực thể của chung mọi
người nhưng cũng là của mỗi người
đã xuất hiện một ý thức cộng đồng
theo đó mỗi người không thể hoàn toàn tự giải
quyết lấy mọi vấn đề cá nhân của mình,
trái lại sự thành công hay thất bại của mỗi
người còn tùy thuộc vào một quốc gia mà mỗi
người từ nay vừa có bổn phận vừa có
quyền lợi lại vừa có thẩm quyền đóng
góp để bảo vệ và cải thiện. Ý thức cộng
đồng này đến lượt nó tạo ra lòng yêu
nước, một tình yêu đối với những
người thân thuộc, đồng hành và cùng phấn
đấu với mình. Lòng yêu nước này không thể bị
đồng hóa với tinh thần bài ngoại của chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Nhà nước dân chủ,
đặt nền tảng trên ý niệm quốc gia, đã
là tiến bộ vĩ đại nhất của loài
người trong các thế kỷ 17 và 18. Những nhà nước-quốc
gia này vì được tổ chức để khuyến
khích và đón nhận sự hưởng ứng tự do và
tự nguyện của mọi người đã giải tỏa
sinh lực, ý kiến và sáng kiến của toàn dân, đã
thúc đẩy mọi tiến bộ khoa học, kỹ thuật,
triết học, văn hóa và nghệ thuật và đã khiến
các nước phương Tây vượt xa hẳn phần
còn lại của thế giới. Trong chiều sâu, lý do
chính đã khiến các nước phương Tây đột
ngột gia tăng sức mạnh là sự khám phá ra ý niệm
quốc gia.
May mắn hơn nhiều
dân tộc khác, người Việt
Nếu các nhà nước-quốc
gia đã là nguyên nhân tạo ra sức mạnh và sự phồn
vinh của các nước Âu Mỹ thì sự thiếu vắng
của chúng cũng giải thích sự thua kém và những
đau khổ của nhiều nước trong đó có chúng
ta.
Các nhà nước-quốc
gia mạnh và có ích lợi lớn vì chúng đã được
quan niệm một cách đúng đắn. Quốc gia là của
mọi người và ở trên tất cả. Nhà nước,
hay chính quyền, chỉ có sứ mệnh phục vụ quốc
gia, do đó phải ở trong và ở dưới quốc
gia. Nhà nước không phải là cứu cánh mà chỉ là
công cụ và vì thế chỉ cần được tạo
dựng và duy trì ở mức độ thực sự cần
thiết. Quốc gia mới là cứu cánh, mà quốc gia
trước hết là tập thể những người
công dân tự do và bình đẳng.
Nhà nước không có
quyền lợi của riêng mình mà chỉ biết quyền
lợi của quốc gia, trong khi quyền lợi của
quốc gia do toàn dân qui định sau một đúc kết
đứng đắn của những ý kiến cá nhân
được bày tỏ một cách tự do. Về cơ
bản nhà nước-quốc gia là dụng cụ để
thực hiện đồng thuận xây dựng
tương lai chung của những con người tự
do. Chính vì thế mà nhà nước ấy một mặt
động viên được sự đóng góp của mọi
người và, mặt khác, bảo đảm để mọi
người phát huy tối đa khả năng của mình
và đóng góp tối đa vào phúc lợi chung.
Chúng ta, cũng như
nhiều dân tộc không may khác, đã thua kém bởi vì chúng
ta không có được những nhà nước như thế.
Ngược lại, ở mỗi giai đoạn, chúng ta chỉ
có những nhà nước của riêng một tập
đoàn cầm quyền thay vì của mọi người.
Những nhà nước đó có quyền lợi của
riêng mình và chỉ biết quyền lợi của riêng mình
cho nên chỉ có ưu tư giữ lấy quyền lực
của mình bằng mọi giá ngay cả nếu phải gây
những thiệt thòi lớn cho dân tộc. Đó là những
nhà nước khống chế thay vì phục vụ quốc
gia, những nhà nước coi dân chúng là đối tượng
để kiểm soát và sử dụng thay vì là những
đối tượng để bảo vệ và phục
vụ.
Chúng ta hiện đang
đứng trước tình trạng đặc biệt trầm
trọng bởi vì chúng ta chưa xây dựng xong một quốc
gia đúng nghĩa trong khi ý niệm quốc gia đang bị
xét lại và vượt qua. Như thế chúng ta vừa phải
nhanh chóng xây dựng một quốc gia đúng nghĩa lại
vừa phải đúng hẹn với tương lai, nghĩa
là quan niệm quốc gia theo nghĩa mà nó sẽ phải có.
Do sự bùng nổ của
các phương tiện giao thông và truyền thông, đồng
thời với những trao đổi dồn dập và sự
bành trướng của những tư tưởng mới,
các yếu tố cấu tạo truyền thống của
tinh thần quốc gia dân tộc đã thay đổi trọng
lượng tương đối.
Cảm giác yên tâm trong sự
gần gũi, sự lo sợ cái lạ và người lạ,
liên hệ huyết thống, sự ràng buộc với lịch
sử và văn hóa cổ truyền, sự quyến luyến
với mảnh đất quen thuộc, sự tiện nghi
trong việc giao tiếp với những người cùng một
tập quán và nếp sống, v.v. tất cả đều
trở thành không quan trọng và ngày càng không quan trọng
trong một thế giới cho phép sự trao đổi trực
tiếp và tức khắc, kể cả làm việc chung, giữa
những con người ở hai đầu trái đất
và trong đó con người di chuyển và tiếp xúc
thường xuyên, thu nhận hàng ngày đủ loại
thông tin, hình ảnh và ý kiến. Quả đất đã là
quê hương bé nhỏ chung của cả loài người
và hạnh phúc cá nhân đã trở thành giá trị cao nhất.
Những tình cảm truyền thống đã đóng góp tạo
ra tinh thần quốc gia dân tộc ngày càng bộc lộ
tính thủ cựu và hạn hẹp của chúng.
Mặt khác vai trò và chỗ
đứng của quốc gia cũng bị công phá từ mọi
phía. Từ bên ngoài, với những kết hợp khu vực
tạo ra một không gian hoạt động lớn
hơn, từ bên trong do những đòi hỏi của các cá
nhân và các cộng đồng sắc tộc, và từ cả
trong lẫn ngoài do sự bành trướng nhanh chóng của
các công ty đa quốc gia mà vai trò và trọng lượng
đang gia tăng nhanh chóng.
Trong bối cảnh
đó, những lý do ràng buộc con người với
đất nước dĩ nhiên phải thay đổi và
trên thực tế đã thay đổi. Con người ngày
nay ràng buộc với đất nước trước hết
vì một trong ba lý do : vì đất nước bảo
đảm cho mình những che chở và quyền lợi
đặc biệt, vì đất nước đem lại
cho mình một nguồn hãnh diện hay, một cách giản dị,
vì đất nước là của mình.
Trong các yếu tố cấu
tạo ra quốc gia, lãnh thổ không còn giá trị tuyệt
đối, con người có thể yêu nước và
đóng góp cho đất nước dù sống ở bất
cứ nơi nào. Di sản lịch sử, văn hóa và ngôn
ngữ cũng đã giảm t)ầm quan trọng. Chính quyền
cũng không quan trọng. Quan niệm một tổ quốc
thiêng liêng mà mọi ngýời phải phục tùng, tôn kính và
phục vụ vô ðiều kiện lại càng lỗi thời.
Còn lại những con người và dự án tương
lai chung, hai yếu tố cấu tạo của quốc gia
mà tầm quan trọng ngày càng tăng lên.
Như thế, một
quốc gia chỉ có thể tồn tại nếu
được quan niệm không phải như một chủng
tộc hay một quá khứ mà như một không gian liên
đới giữa những con người hiểu nhau, quí
trọng nhau và hợp tác với nhau để xây dựng
và chia sẻ một tương lai chung. Quốc gia như
thế chủ yếu là xã hội dân sự với ký ức
của nó, với những vấn đề phải giải
quyết của nó và với những dự định
tương lai của nó. Nhà nước ở trong và ở
dưới quốc gia với sứ mạng phục vụ
quốc gia cho nên nhà nước có vai trò phục vụ chứ
không khống chế xã hội dân sự.
Một đất
nước được hiểu như thế vẫn
còn khả năng để ràng buộc người Việt
Đó là quan điểm
của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên về đất
nước Việt
Để thoát khỏi
bế tắc hiện nay và hội nhập vào thế giới
tiến bộ, để có thể động viên một
cách hữu hiệu mọi sinh lực quốc gia vào cố
gắng vươn lên mưu tìm một chỗ đứng
xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, Việt
Nam không có chọn lựa chính trị nào khác hơn là một
thể chế dân chủ đa nguyên.
Dân chủ đa nguyên
không những là chọn lựa hiển nhiên cho Việt
Cuộc tranh cãi gay go nhất
trong thế kỷ hai mươi đã là cuộc tranh cãi về
dân chủ. Hàng chục triệu người trên khắp thế
giới đã thiệt mạng vì những xung đột
gây ra bởi cuộc tranh cãi này. Vấn đề cốt
lõi là làm thế nào để người dân quyết định
vận mệnh đất nước, và nhiều công thức
đã được đề ra và thử nghiệm.
Cuộc tranh cãi này hiện
nay có thể coi như đã chấm dứt. Chủ nghĩa
Mác-Lênin và mô hình "dân chủ xã hội chủ nghĩa"
mà nó đề xướng đã hoàn toàn sụp đổ.
Các chế độ cộng sản còn lại chỉ còn là
những chế độ độc tài bạo ngược
thuần túy. Mô hình dân chủ đặt nền tảng trên
tự do cá nhân đã thắng về mặt lý thuyết và cũng
đang thắng trên thực tế. Số lượng các
nước dân chủ đang gia tăng mau chóng.
Nhiều người
nói nền dân chủ kiểu phương Tây, mà hầu hết
các dân tộc trên thế giới đã chấp nhận là
đúng, tự nhiên đã có đa nguyên. Điều này có phần
đúng, nhưng cụm từ "dân chủ đa
nguyên" có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của
nó, nhất là đối với người Việt Nam
trong giai đoạn hiện tại. Nó nói lên một tinh thần,
một thái độ và một lý tưởng. Tinh thần
đó là tinh thần bao dung và khoan nhượng, tôn trọng
mọi người, mọi ý kiến. Thái độ đó
là thái độ bác bỏ thẳng thắn mọi hình thức
độc tài chuyên chính, kể cả, và nhất là, thứ
"dân chủ" bịp bợm mệnh danh là "dân chủ
tập trung" hay "dân chủ xã hội chủ nghĩa"
dành địa vị độc tôn cho một chủ nghĩa
và một tập đoàn lãnh đạo. Lý tưởng
đó là lý tưởng xây dựng đất nước Việt
Đa đảng
chưa phải là đa nguyên nếu mọi khuynh hướng
không được nhìn nhận một chỗ đứng
ngang nhau. Trong những ngày độc đoán và giáo điều
nhất của nó, chế độ cộng sản Việt
Trong cuộc tranh hùng với
phong trào cộng sản, các nước phương Tây
đã lấy một quyết định vô cùng táo bạo
là thay vì co cụm lại trong một kỷ luật tự
vệ xơ cứng lại phát triển tối đa nền
dân chủ của họ, mà nét đậm nhất là sự
tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội, và họ dần
dần tiến tới dân chủ đa nguyên. Tuy vậy nhiều
thể chế tư bản phương Tây chưa phải
là những nền dân chủ đa nguyên đúng nghĩa. Các
nước phương Tây ở vào những mức độ
đa nguyên khác nhau.
Dân chủ đa nguyên
là sự hội nhập và ứng dụng triết lý đa
nguyên vào đời sống chính trị. Căn bản của
triết lý đa nguyên là tinh thần bao dung, là sự nhìn nhận
và tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội. Dĩ nhiên
tính đa nguyên có trong mọi xã hội và nếu muốn ngụy
biện thì xã hội nào cũng đa nguyên cả, nhưng
điều độc đáo là triết lý đa nguyên thay
vì coi sự hiện diện của những thành tố khác
biệt như một thực tại phải nhìn nhận
và khắc phục, lại coi như một lẽ tự
nhiên, một sự phong phú cần được khuyến
khích và khai thác. Đó là một phong cách sinh hoạt chính trị.
Dân chủ đa nguyên là dân chủ nhưng không phải dân
chủ nào cũng là dân chủ đa nguyên.
Dân chủ đa nguyên
là một hệ thống chính trị mới với những
đặc tính bắt buộc của nó. Ta có thể nhấn
mạnh năm đặc tính :
Một là : dân chủ
đa nguyên nhìn nhận và tôn trọng chỗ đứng và
tiếng nói ngang nhau cho mọi người thuộc mọi
thành phần xã hội, mọi tín ngưỡng và mọi
khuynh hướng chính trị. Dân chủ đa nguyên lên án mọi
phân biệt đối xử, nó chống đối quyết
liệt chế độ độc đảng. Một
cách cụ thể bản hiến pháp của một thể
chế dân chủ đa nguyên không thể chứa đựng
bất cứ một qui chiếu nào về một chính
đảng, một chủ nghĩa hay một tôn giáo.
Hai là : ngoài nguyên tắc
phân quyền phải có trong mọi nền dân chủ xứng
đáng với tên gọi của nó, dân chủ đa nguyên
đòi hỏi tản quyền để tôn trọng sự
khác biệt giữa các địa phương. Một chính
quyền dù xuất phát từ bầu cử tự do đi
nữa cũng không phải là dân chủ đa nguyên nếu
phần lớn quyền hành tập trung trong tay chính quyền
trung ương. Trong một thể chế dân chủ đa
nguyên các chính quyền địa phương, do nhân dân
địa phương bầu ra, phải có những quyền
luật định rộng rãi để tổ chức cuộc
sống phù hợp với bối cảnh riêng của mỗi
vùng. Mỗi vùng phải có diện tích và dân số ở mức
độ thỏa đáng để có thể là những thực
thể đủ tầm vóc để tự quản
được và phát triển được. Như thế
một số nguyên nhân xung đột sẽ tự nhiên
được giải tỏa. Các sắc tộc ít người
sẽ có được tiếng nói đáng kể tại
các địa phương mà họ tập trung đông
đảo. Các chính đảng không có được đa
số trong các cuộc bầu cử toàn quốc vẫn có
thể nắm được chính quyền tại những
địa phương nơi họ được tín nhiệm.
Dân chủ đa nguyên làm nhẹ đi mối căng thẳng
chính quyền - đối lập, ở cấp trung
ương cũng như cấp địa phương, và
xóa bỏ mối xung khắc "được làm vua thua
làm giặc". Tản quyền đưa tới hệ luận
là chính quyền trung ương không cai trị trực tiếp
mà chỉ đảm nhiệm các sứ mạng quốc
phòng, ngoại giao, tiền tệ và phối hợp giữa
các địa phương. Một vai trò khác của chính quyền
trung ương là thực hiện các công trình cơ sở hạ
tầng trên qui mô cả nước và trợ giúp các
chương trình địa phương đáng khuyến
khích.
Ba là : dân chủ đa
nguyên đặt nền tảng trên xã hội dân sự. Bên
cạnh các chính đảng, các cộng đồng sắc
tộc, địa phương và tôn giáo, các hiệp hội
công dân tổ chức theo ngành nghề, quyền lợi, nhân
sinh quan, sở nguyện, ưu tư, v.v. được hoạt
động độc lập với chính quyền,
được nhìn nhận một chỗ đứng trọng
yếu, được có tiếng nói và ảnh hưởng
trong sinh hoạt cũng như trong sự tiến hóa của
xã hội. Nhà nước tự coi mình là có sứ mạng
phục vụ xã hội dân sự chứ không khống chế
xã hội dân sự, không định đoạt sinh hoạt
thường ngày thay cho xã hội dân sự. Về mặt
kinh tế, điều này có nghĩa là nền kinh tế quốc
gia phải đặt nền tảng trên các xí nghiệp
tư, khu vực quốc doanh phải được giới
hạn ở mức tối thiểu và nếu không có thì
càng hay. Một xã hội dân sự mạnh và đa dạng
là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự chuyển
hóa thường trực, tự nhiên và liên tục của xã
hội, tránh những xáo trộn đột ngột và đầy
đổ vỡ của các cuộc cách mạng.
Bốn là : dân chủ
đa nguyên kính trọng các thiểu số và luôn luôn mưu
tìm thỏa hiệp. Trong một thể chế dân chủ
đa nguyên, nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số
không được sử dụng một cách tự động
và máy móc mà chỉ được dùng tới sau khi đã tận
dụng mọi cố gắng để tìm đồng thuận.
Dân chủ đa nguyên chống lại mọi hình thức
chuyên chính, kể cả chuyên chính của đa số. Bình
thường trong một thể chế dân chủ sự
chính đáng của một chính quyền dựa trên kết quả
của cuộc bầu cử cuối cùng, nhưng trong dân
chủ đa nguyên sự chính đáng của một chính quyền
còn nằm cả trong sự thành khẩn tìm đồng thuận
trong mọi quyết định quan trọng.
Năm là : dân chủ
đa nguyên trong bản chất của nó tôn trọng mọi
thành phần dân tộc và không thể để một thành
phần này bóc lột và chà đạp một thành phần
khác. Vì thế dân chủ đa nguyên coi rất trọng công
bằng xã hội và không thể đi đôi với cái
thường được gọi là "tư bản rừng
rú".
Trong một thể chế
dân chủ đa nguyên, nhà nước không còn là người
chỉ huy tuyệt đối. Vai trò của nhà nước
là đảm nhiệm ba chức năng : trọng tài trong
các quan hệ giữa các thành tố của xã hội, chế
tài những vi phạm, và hòa giải những đòi hỏi
mâu thuẫn của các thành phần dân tộc. Nhà nước
hòa giải thay vì nhà nước chỉ huy là nét đậm
của dân chủ đa nguyên. Nó phân biệt hẳn dân chủ
đa nguyên với các chế độ chuyên chính, nhưng
nó cũng khiến dân chủ đa nguyên khác với nhiều
chế độ dân chủ trong đó chính quyền vẫn
còn tham vọng định đoạt thay cho xã hội dân sự.
Với sự tôn trọng
mọi khác biệt, với vai trò nền tảng của xã
hội dân sự gồm vô số các cộng đồng, hiệp
hội công dân và các xí nghiệp, với tổ chức chính
trị tản quyền, xã hội đa nguyên là sự kết
hợp vô cùng phức tạp của vô số liên hệ
đan xen. Một xã hội phức tạp như vậy chỉ
có thể tồn tại được với những luật
lệ rõ ràng, minh bạch và được áp dụng triệt
để. Nhà nước trong một thể chế dân chủ
đa nguyên chỉ có thể là một nhà nước pháp trị.
Nhà nước văn minh nào cũng phải là một nhà
nước pháp trị nhưng nhà nước dân chủ
đa nguyên phải là một nhà nước pháp trị toàn
vẹn.
Nhìn vào thực trạng
Việt Nam, nếu có một điều mà chúng ta có thể
quả quyết thì đó là với tình trạng hận thù
chồng chất, khủng hoảng niềm tin và thiếu
đồng nhất về lập trường hiện nay
không thể áp đặt một lực lượng nào hay
một đường lối nào mà không gặp sự chống
đối mạnh mẽ. Thể chế Việt
Nhiều người
viện cớ dân ta chưa đủ kinh nghiệm dân chủ,
tinh thần kỷ luật còn chưa cao, lòng người
còn phân tán, v.v. để cho rằng dân chủ là một xa xỉ
phẩm đối với Việt
Nhưng ngược lại
cũng không nên ngộ nhận về bản chất của
dân chủ. Dân chủ không giải quyết tức khắc
và toàn bộ vấn đề phát triển. Thành công của
mọi chế độ đòi hỏi những chọn lựa
đúng đắn và những con người có khả
năng. Dân chủ không đem cơm áo và sự phồn vinh
để phát không. Dân chủ không thay thế cho những chọn
lựa và những con người. Nhưng dân chủ là một
phong cách sinh ho_ạt cho phép đặt các vấn đề
một cách đúng đắn và chọn lựa một cách
đúng đắn những người có trách nhiệm. Dân
chủ, và nhất là dân chủ đa nguyên, cũng là một
phương thức tổ chức xã hội cho phép phát huy
triệt để ý kiến và sáng kiến, động lực
cơ bản nhất của tiến bộ. Vì thế mức
độ dân chủ quyết định một giới hạn
trên cho phát triển. Dân chủ càng cao, khả năng phát triển
càng cao.
Ngược lại,
các chế độ độc tài cấm cản ý kiến
và sáng kiến, ngăn chặn tiến hóa hòa bình và liên tục
của xã hội, dung túng tham nhũng, bất công và lạm
quyền, và do đó ngăn cản phát triển. Chúng ta cần
cảnh giác là không thể có những chế độ
độc tài sáng suốt bởi vì nền tảng của
mọi chế độ độc tài là sự kiêu căng
bệnh hoạn của một nhóm người tự nghĩ
rằng họ đủ thông minh để suy nghĩ thay
cho cả một dân tộc. Nhà độc tài trước hết
là một kẻ u mê. Vả lại, nếu quan sát, ta có thể
thấy hầu hết các tập đoàn độc tài
đều thiếu văn hóa.
Dĩ nhiên dân chủ
đa nguyên không thể đem lại tất cả mọi
phúc lợi của nó trong những điều kiện dân
trí, xã hội và kinh tế chưa tốt đẹp,
nhưng ngay cả trong trường hợp này dân chủ
đa nguyên vẫn còn hơn xa độc tài.
Chúng ta khẳng định
: dân chủ đa nguyên thực sự và ngay tức khắc.
Để có dân chủ
đa nguyên thực sự, điều chúng ta phải làm
trước hết là xóa bỏ những hận thù do một
quá khứ đẫm máu để lại và được
một chính sách phân biệt đối xử nuôi dưỡng
suốt thời gian qua. Hòa giải dân tộc là một bắt
buộc của hoàn cảnh lịch sử. Có như thế
chúng ta mới có thể chấp nhận lẫn nhau, nhận
lỗi với nhau và tha lỗi cho nhau, để chung sống
với nhau và bắt tay nhau xây dựng một tương
lai chung. Còn nếu không đa nguyên cùng lắm chỉ có nghĩa
là tạm thời chịu đựng lẫn nhau do một
so sánh lực lượng chưa ngã ngũ. Đa nguyên mà
không có hòa giải dân tộc như vậy chỉ là đa
nguyên bệnh hoạn, chỉ chuẩn bị cho một sự
thanh toán lẫn nhau. Ngược lại dân chủ đa
nguyên cũng là điều kiện cần để có thể
có hòa giải dân tộc thực sự. Hòa giải mà không có
đa nguyên chính trị cũng chỉ là hòa giải bịp
bợm, hòa giải trong sự khuất phục của kẻ
bị trị trước kẻ thống trị, nghĩa
là một hòa giải không thể có.
Đất nước
ta không phải chỉ có những hận thù do chiến tranh
để lại. Chúng ta còn có vô số nguyên nhân chia rẽ
mà chúng ta đã không giải quyết được vì ta
đã không ý thức được tầm quan trọng của
các vấn đề đặt ra, hay vì hoàn cảnh chiến
tranh đã không cho phép ta giải quyết. Những cách biệt
về tôn giáo, địa phương, sắc tộc, giàu nghèo,
nhân sinh quan, chính kiến, v.v. không thiếu, và vì không
được giải quyết nên càng ngày càng trở nên trầm
trọng. Dân chủ đa nguyên, do tinh thần bao dung và mô thức
tản quyền của nó là giải pháp giúp mọi thành phần
dân tộc đều có chỗ đứng và tiếng nói,
và do đó có thể chấp nhận lẫn nhau, xáp lại
gần nhau, hòa hợp với nhau để cùng xây dựng
một tương lai Việt Nam chung.
Không ai phủ nhận
rằng đa nguyên là một lý tưởng đẹp,
đẹp đến nỗi các chế độ độc
tài, dù bị khốn đốn vì nó, cũng không dám phủ
nhận nó một cách dứt khoát.
Dân chủ đa nguyên
đang trở thành đồng thuận căn bản của
dân tộc ta trong cuộc hành trình về tương lai.
Đó cũng là hướng đi tất yếu của
loài người. Những người tranh đấu cho
dân chủ đa nguyên có quyền tự hào vì mình đang theo
đuổi một lý tưởng đẹp và cũng có
quyền lạc quan vì mình đang tranh đấu cho một
lập trường nhất định sẽ thắng lợi.
Trong hơn bốn thế
kỷ qua, kể từ khi họ Mạc cướp ngôi nhà
Lê hồi đầu thế kỷ 16, nước ta liên tiếp
đi từ cuộc chiến tranh này đến cuộc
xung đột khác. Đất nước bị chia cắt
nhiều lần trong hơn hai thế kỷ, bị đô hộ
và bị đặt dưới những chế độ
hành chánh khác nhau trong gần một trăm năm. Chiến
tranh, nội loạn, trả thù, báo oán, bách hại đã là
những yếu tố thường trực trong lịch sử
cận đại của ta. Khốc liệt nhất là cuộc
chiến sau cùng 1945-1975 trong đó lần đầu tiên
chúng ta xung đột với nhau cả về ý thức hệ,
và sau đó phe chiến thắng thi hành chính sách bỏ tù và hạ
nhục, đồng thời với vô số biện pháp
phân biệt đối xử.
Do hoàn cảnh lịch
sử, chất liệu nhân xã của chúng ta đã bị tổn
thương nặng nề. Những đổ vỡ
đòi hỏi một thời gian hàn gắn rất lâu dài,
do đó tinh thần căn bản của mọi chính sách
cho nhiều thế hệ tới sẽ phải là hòa giải
và hòa hợp dân tộc. Hòa giải dân tộc để xóa
bỏ những hận thù và hiềm khích của quá khứ
để đi đến hòa hợp dân tộc trong cố
gắng xây dựng một tương lai chung.
Trong một thế giới
thay đổi dồn dập như hiện nay, quốc gia
nào cũng phải chịu những xáo trộn không ngừng.
Ngành này tiến lên trong khi ngành kia suy thoái, khu vực này bành
trướng trong khi khu vực khác trì trệ. Những chênh
lệch xã hội liên tiếp xuất hiện và các chính sách
dù hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể nào thỏa
mãn được tất cả mọi người. Cho nên
quốc gia nào, dân tộc nào cũng luôn luôn phải hòa giải
với nhau vì các mối xung đột quyền lợi và
căng thẳng luôn luôn xảy ra. Hòa giải đã trở
thành triết lý điều hành quốc gia.
Hòa giải là bắt buộc
của mọi dân tộc dù ở trình độ nào và có lịch
sử nào. Nhưng dân tộc Việt
Chúng ta cần hòa giải
cộng đồng quốc gia nói chung với các sắc tộc
ít người đã có mặt trên đất nước
này từ ngày mở nước và luôn luôn bị chà đạp
và hắt hủi trong suốt dòng lịch sử.
Chúng ta cần hòa giải
các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Công giáo, hai tôn giáo đã
bị các nhà cầm quyền Việt Nam cũng như ngoại
bang bách hại, đàn áp, phân biệt đối xử và
đặt vào thế đối đầu với nhau.
Đã thế, các hiềm khích, hậu quả của một
hoàn cảnh lịch sử trong đó cả hai tôn giáo đều
là nạn nhân, thay vì được giải tỏa còn
đôi khi bị thổi phồng và khai thác cho những tham
vọng bất chính.
Chúng ta cần hòa giải
và hòa hợp hai miền Nam-Bắc đã thường xuyên bị
chia cắt và đặt vào thế tương tranh và kể
từ 1975 bị chia rẽ bởi một chính sách không khác
gì một sự chiếm đóng của đảng cộng
sản.
Chúng ta cần hòa giải
đất nước với cộng đồng người
Việt hải ngoại đã phải bỏ người
thân, tài sản, mồ mả tổ tiên ra đi vì không thể
chấp nhận được một chính quyền hà khắc,
đã phải chịu đựng những khổ đau và
mất mát rất lớn do hải tặc, sóng gió và công an.
Chúng ta cũng cần
hòa giải người Việt
Nhưng gần nhất
và cũng đau đớn nhất, chúng ta vừa tàn sát nhau
trong một cuộc tương tranh kéo dài ba mươi
năm. Những vết thương vẫn còn chảy máu
và thay vì được hàn gắn đã bị trầm trọng
hóa bởi một chính sách phân biệt đối xử thô
bạo.
Trong cuộc xung đột
vừa qua chúng ta đã không có chọn lựa tốt nào.
Chúng ta đã chỉ có những chọn lựa đau buồn,
giữa cái dở và cái mà một cách chủ quan chúng ta thấy
là còn dở hơn. Chúng ta đã chỉ chịu đựng
chứ không làm chủ các biến cố. Rất ít người
Việt
Để rồi, kẻ
thì đã thua trận, bị tù đày và nhục mạ,
người thì nhận ra tất cả những hy sinh của
mình chỉ là để đóng góp cho một công trình đập
phá đất nước. Chẳng có ai có lý do gì để
bắt lỗi ai, tất cả chúng ta đều đã thất
bại bẽ bàng. Chúng ta đều là nạn nhân.
Chúng ta phải bắt tay nhau cùng làm lại lịch sử.
Thách
đố trước mắt chúng ta là một tập
đoàn cầm quyền đã gây đổ vỡ trầm
trọng cho đất nước, đã thất bại
trên tất cả mọi phương diện và trong tất
cả mọi địa hạt, nhưng vẫn xấc
xược tự cho mình độc quyền cai trị
đất nước vô thời hạn và đàn áp thô bạo
mọi tiếng nói đối lập, dù là ôn hòa. Tập
đoàn này dùng mọi biện pháp để ngăn chặn
hòa giải và hòa hợp dân tộc vì họ biết rằng
chỉ có thể duy trì được sự thống trị
của họ nếu dân tộc Việt Nam bất lực
vì hận thù và chia rẽ. Không những không xoa dịu những
vết thương của cuộc chiến, bằng những
biện pháp đàn áp chính trị, xếp loại dân chúng và
phân biệt đối xử, họ còn mở rộng hiềm
khích tới nhiều thành phần dân tộc và kéo dài hận
thù tới thế hệ vừa lớn lên.
Ngày
hôm nay khát vọng của tuyệt đại đa số
nhân dân Việt Nam là dân chủ. Nhìn lại anh em, nhận lại
bạn bè phải là tinh thần chỉ đạo của một
tập hợp dân tộc mới, trong đó không có kẻ
đúng người sai mà chỉ có những người anh
em bình đẳng cùng ngậm ngùi cho đất nước
và cùng kết hợp trong một cuộc vận động
dân chủ. Hòa giải và hòa hợp dân tộc chính là điều
kiện cốt lõi để cô lập và đánh bại tập
đoàn độc tài ngoan cố.
Nhưng
vượt lên trên những sôi động nhất thời,
hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng là một đoạn
tuyệt lịch sử cần thiết để bẻ
gãy cái vòng luẩn quẩn của hận thù và chia rẽ đã
giam hãm chúng ta từ nhiều thế kỷ qua, nhất là từ
nửa thế kỷ nay. Đây là một đoạn tuyệt
lịch sử rất khó khăn vì ý niệm hòa giải dân
tộc hoàn toàn thiếu vắng trong tâm lý chính trị Việt
Nam. Trong gần tám thế kỷ, kể từ nhà Trần,
nhổ cỏ tận gốc, tru di tam tộc, tiêu diệt
toàn bộ vẫn là những biện pháp được
người cầm quyền sử dụng thay cho hòa giải.
Dần dần cách ứng xử hung bạo đó đã
ăn rễ vào tâm lý tập thể làm cho ý niệm hòa giải
trở thành xa lạ đối với người Việt
Nam. Vì thế nhiều người đã nói rằng dân tộc
Việt Nam không có nhu cầu hòa giải trong khi thực sự
chúng ta là một trong những dân tộc cần hòa giải
nhất. Chính vì thiếu tinh thần hòa giải mà chúng ta
đã bị tù hãm trong hận thù. Cái vòng oan nghiệt đó
đã khiến chúng ta không động viên được mọi
sinh lực của đất nước để
vươn lên và giải thích tại sao chúng ta đã phải
quằn quại mãi trong đói khổ và thua kém.
Hòa
giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện cần
cho thắng lợi của cuộc vận động dân chủ
hiện nay và cũng là điều kiện cần cho thành
công của cố gắng phục hưng đất nước
ngày mai.
Thực
thi hòa giải dân tộc không phải chỉ đơn thuần
là một tình cảm mà còn đòi hỏi những biện
pháp cụ thể. Nhà nước Việt Nam tương lai
sẽ đặt con người tự do làm đối
tượng phục vụ cao nhất. Nhà nước Việt
Nam tương lai sẽ coi đa nguyên như một giá trị
tuyệt đối. Đa nguyên về mọi mặt tâm
linh, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Nhà nước
Việt Nam tương lai sẽ chế tài nghiêm khắc mọi
ngôn ngữ và thái độ xúc phạm với mọi sắc
tộc, mọi cộng đồng, mọi tín ngưỡng,
mọi quan điểm. Ngược lại nhà nước
sẽ khuyến khích và giúp đỡ tận tình mọi sáng
kiến và cố gắng đem mọi người Việt
Nam thuộc mọi vùng, mọi sắc tộc, mọi tôn
giáo, mọi nhân sinh quan, mọi chính kiến đến gần
nhau hơn trong tinh thần tôn trọng mọi khác biệt.
Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ phải phục
hồi danh dự cho những người đã bị hạ
nhục, phải bồi thường thiệt hại, dù chỉ
là một cách không đầy đủ, cho những nạn
nhân. Xóa bỏ hận thù có nghĩa là sẽ không có những
vụ án chính trị, ngược lại sẽ có một
đạo luật cấm nhà nước truy tố bất
cứ ai vì chức vụ mà họ đã giữ, trừ khi
họ đã vi phạm một cách rất nghiêm trọng ngay
chính những luật lệ đương hành lúc họ tại
chức. Mọi công dân có quyền tố cáo những hà hiếp
mà mình đã là nạn nhân, và nhà nước sẽ xử lý
những tranh tụng đó như những tranh tụng giữa
những công dân bình đẳng trước pháp luật.
Những
biện pháp đó, được thực hiện với
thành tâm hàn gắn những vết thương do lịch sử
để lại, sẽ giúp chúng ta dần dần tiến
tới hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng
và chia sẻ một tương lai Việt Nam chung. Chúng ta sẽ
khép lại một trang sử đau buồn của đất
nước và mở ra một trang sử mới viết bằng
tình tự dân tộc.
Điều
nhức nhối nhất của chúng ta là tình trạng lạc
hậu và nghèo khổ. Do đó trọng tâm của mọi cố
gắng quốc gia phải là phát triển, và một cái nhìn
thấu đáo về vấn đề phát triển là vô
cùng quan trọng.
Ba
phần tư nhân loại vẫn còn đang sống trong
nghèo khổ, một nửa đang sống trong nghèo khổ
cùng cực. Cách đây hai thế kỷ, ngay tại các
nước phát triển nhất, quá phân nửa dân số
đã chết trước tuổi dậy thì. Phát triển
như vậy là một hiện tượng rất mới
tại một số nước nhờ một số
điều kiện đặc biệt mà chúng ta cần nhận
diện để nắm bắt.
Trước
hết, chúng ta hiểu phát triển như thế nào?
Phát
triển là một thay đổi liên tục và kéo dài trong thời
gian, cho phép sử dụng ngày một hữu hiệu hơn
tài nguyên và nhân lực, đem lại cho quốc gia lợi tức
ngày một lớn hơn và cho con người cuộc sống
ngày càng cao hơn về cả vật chất lẫn tinh thần.
Phát
triển là một khái niệm tương đối. Một
quốc gia được coi là phát triển khi đạt
thành tích cao so với phần còn lại của thế giới
về lợi tức bình quân trên mỗi đầu người,
về giáo dục, y tế, gia cư và cơ sở hạ tầng,
khi hoạt động kinh tế mạnh và hiện đại,
môi trường sinh sống sạch và đẹp, các
phương tiện di chuyển, thông tin, học hỏi và
giải trí dồi dào.
Phát
triển, ngay cả với định nghĩa trên đây,
cũng không phải là tất cả. Sự thành công của
một quốc gia, ngoài phát triển, còn là sự kiện mọi
người gắn bó một cách tự nguyện trong cố
gắng xây dựng một tương lai chung và mỗi
người cảm thấy được làm chủ
đ^ời mình, được sống theo ý mình, được
quí trọng trong một xã hội không đe dọa,
được hưởng phúc lợi do cố gắng của
mình, được bảo đảm những cơ hội
thăng tiến công bình, và có lý do để tin rằng ngày
mai sẽ hơn ngày hôm nay và cuộc sống của con cái
mình sẽ hơn cuộc sống của mình. Đó là mục
tiêu chúng ta muốn đạt tới.
Phát
triển không phải chỉ là sự gia tăng tổng sản
lượng quốc gia. Do đó, một mức độ
tăng trưởng 5% của tổng sản lượng
quốc gia với những hệ thống giáo dục và y tế
hoàn chỉnh, môi trường thiên nhiên được bảo
vệ và cải thiện, lợi tức được
phân chia tương đối đồng đều, phải
được đánh giá là tốt hơn nhiều lần
một tăng trưởng 15% trong đó mọi vấn
đề văn hóa, xã hội và môi sinh bị bỏ
rơi. Một thí dụ cụ thể là trường hợp
của Trung Quốc hiện nay. Mức độ tăng
trưởng tuy khá cao, nhưng sự thiệt hại gây ra
cho môi trường nếu qui ra chi phí để phục hồi
còn cao hơn. Sự chênh lệch giàu nghèo quá lố và sự
chênh lệch giữa các vùng ngày càng trở thành báo động,
thêm vào đó là gần một phần tư dân số trở
thành du mục sống vất vưởng trên các hè phố
hay các khu tập trung đột xuất tại các vùng ngoại
ô. Chúng ta không thể chấp nhận một tăng trưởng
như thế. Chúng ta tìm kiếm một phát triển hài hòa
và cân bằng, bởi vì chỉ có phát triển đó mới
có thể kéo dài và mới xứng đáng được coi
là một mục tiêu quốc gia.
Tuy
phát triển không phải chỉ là phát triển kinh tế,
nhưng phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng
nhất và cũng là chìa khóa cho phát triển cân đối
toàn bộ. Chúng ta là một trong những dân tộc nghèo khổ
và chậm tiến nhất nên phát triển kinh tế là mục
tiêu cấp bách nhất đối với chúng ta.
Chúng
ta cần đánh tan ngay một lấn cấn tai hại.
Bịp
bợm lớn nhất trong thế kỷ 20 đã là luận
điệu cho rằng một xã hội muốn tiến
nhanh cần một chế độ độc tài sáng suốt,
cần đình hoãn xây dựng dân chủ và hy sinh một số
tự do căn bản. Bịp bợm này đã là nguyên nhân
của những tang tóc ghê gớm. Nó đã tạo ra và nuôi
dưỡng các chế độ phát xít quân phiệt tại
Ý, tại Đức và tại Nhật. Nó đã giúp cho phong
trào cộng sản nảy sinh, phát triển và tồn tại
trong ba phần tư thế kỷ. Nó đã tiếp tay duy
trì các chế độ độc tài tại châu Mỹ La
Tinh và châu Á trước đây. Và nó vẫn đang
được dùng làm chỗ dựa lý luận của nhiều
chế độ độc tài khác, trong đó có Việt
Nam.
Những
chế độ này đã chỉ đem lại những kết
quả tồi tệ. Các chế độ độc tài tại
Ý, Đức và Nhật đã tích lũy mâu thuẫn, đã
bế tắc và phải lao đầu vào các cuộc chiến
tự hủy. Chế độ cộng sản tại Liên
Xô đã hủy hoại tài nguyên, môi trường, đã
đày đọa dân chúng rồi sụp đổ. Tất
cả những chế độ độc tài khác đều
có một thành quả giống nhau : đói khổ và lạc
hậu.
Sự
thực, phát triển là hậu quả của tự do và
dân chủ. Nhưng vì tự nó phát triển cũng thúc đẩy
và phát huy tự do dân chủ nên dễ có ngộ nhận giữa
hậu quả và nguyên nhân đưa đến lập luận
cứ tạm chấp nhận độc tài để có
phát triển rồi sau đó phát triển sẽ đem tới
dân chủ. Sự ngộ nhận này đã bị các tập
đoàn độc tài khai thác.
Kinh
nghiệm của các dân tộc chứng minh điều
đó.
Hiện
tượng phát triển trên qui mô quốc gia đã bắt
đầu xuất hiện tại châu Âu và Hoa Kỳ sau khi
nh¨ững xã hội đặt nền tảng trên dân chủ
được thành lập. Nguyên nhân đã làm nảy sinh ra
phát triển là trọng lượng của nhà nước
trong đời sống thường ngày được giảm
nhẹ, một hiến pháp dân chủ và ổn vững
được thượng tôn, luật pháp thay thế cho
các quyết định tùy tiện của người cầm
quyền, con người được tôn trọng và
được bảo vệ, kinh tế hoạt động
theo qui luật của thị trường, hoạt động
kinh doanh được tôn vinh, buôn bán và trao đổi
được đề cao, ý kiến và sáng kiến
được khuyến khích và tưởng thưởng,
lợi nhuận được nâng lên hàng một giá trị.
Quốc
gia châu Á duy nhất đã bắt kịp các nước
phương Tây ngay đầu thế kỷ 20 là Nhật
đã phát triển được nhờ mau chóng chấp nhận
sinh hoạt kinh tế phương Tây. Dưới cái vung thống
trị của một giai cấp hiệp sĩ kiêu căng
sống tách rời hẳn khỏi quần chúng, một xã hội
dân chủ đã âm thầm hình thành giữa đại
đa số người Nhật và đã khiến cho nước
Nhật vươn lên ngay từ thế kỷ 18, rồi
vươn lên mạnh mẽ từ nửa sau thế kỷ
19.
Sự
kiện hai chế độ phát xít Ý và quốc xã Đức
đã đem lại một số tiến bộ lúc ban
đầu, và chế độ quân phiệt Nhật đã
duy trì được phát triển trong vài thập niên, giúp
ta nhận diện một yếu tố khác của phát triển
vốn đã có trong những phát triển trước
đây : đồng thuận dân tộc. Cả ba dân tộc
này vào thời điểm đó đều cùng bực tức
vì thua kém và đều có được những lãnh tụ
đủ sức lôi cuốn để đoàn kết họ
trong một cố gắng chung .
Kinh
nghiệm của các nuớc vừa phát triển tại châu
Á cần được nhìn một cách chính xác bởi vì,
trái với nhận định hời hợt của một
số người và trái với giải thích gian trá của
các chế độ độc tài, các quốc gia này đã
phát triển được vì họ đã dân chủ
hơn và tự do hơn các nước chậm tiến
khác, mặc dầu chưa thể nói họ đã đạt
tới dân chủ trọn vẹn và đúng nghĩa.
Các
nước châu Mỹ La Tinh với tài nguyên phong phú đã quằn
quại trong hơn một thế kỷ rưỡi trong lạc
hậu dưới các chế độ độc tài và
đã chỉ vươn lên từ thập niên 1980 nhờ
dân chủ.
Tại
châu Âu, ba nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hy Lạp,
vì vướng mắc vào các chế độ độc
tài mà đã tụt hậu bi đát ; họ đã chỉ
vươn lên từ thập niên 70 nhờ vứt bỏ
được ách độc tài.
Ngay
cả những tiến bộ kinh tế được ghi
nhận gần đây tại Trung Quốc và Việt Nam cũng
không phải là ngoại lệ : chúng đã có được
nhờ kinh tế thị trường và nhờ một mức
độ tự do lớn hơn.
Kinh
nghiệm của mọi dân tộc đã chứng minh : dân
chủ, quyền tư hữu, kinh tế thị trường,
nhà nước nhẹ là những yếu tố làm nảy
sinh ra phát triển kinh tế.
Nhưng
kinh nghiệm cũng cho thấy cùng những yếu tố ấy
đã tạo ra những phát triển kinh tế khác nhau về
vận tốc và về cường độ tại các quốc
gia khác nhau, và nhiều quốc gia với điều kiện
thiên nhiên bất lợi đã phát triển mạnh mẽ
hơn những quốc gia khác, cũng dân chủ và còn có tài
nguyên phong phú hơn nhiều. Các yếu tố tâm lý và
văn hóa đã đóng góp vai trò quyết định.
Sau
khi đã quan sát lịch sử của các dân tộc chúng ta cũng
có thể tiếp cận hiện tượng phát triển
bằng lý luận kinh tế.
Phát
triển kinh tế đòi hỏi ba yếu tố vừa cần
vừa đủ : con người có ước muốn
kinh doanh, có thể kinh doanh, và có phương tiện để
kinh doanh.
Để
ước muốn kinh doanh người dân cần một bối
cảnh tâm lý thuận lợi : hoạt động kinh doanh
được xã hội quí trọng, ý kiến và sáng kiến
được đề cao, sự chấp nhận rủi
ro được tôn vinh ; họ cũng cần có lý do để
lạc quan tin tưởng rằng kinh doanh sẽ có lợi
và lợi tức đó sẽ là của họ. Nói một
cách khác, để kinh doanh, cùng với một bối cảnh
kinh tế lạc quan, nhà kinh doanh cần một tâm lý xã hội
thuận lợi cho kinh doanh và một bảo đảm chắc
chắn về quyền tư hữu. Yếu tố khởi
động này của phát triển giải thích tại sao
các nước cộng sản đã suy sụp vì không tôn trọng
quyền tư hữu. Nhưng quan trọng hơn, nó giải
thích tại sao hiện tượng phát triển đã chỉ
có tại một số quốc gia nhờ một tâm lý xã hội
thuận lợi.
Để
có thể kinh doanh, doanh nhân cần một xã hội có trật
tự và an ninh, cần được luật pháp đảm
bảo và được tự do hành động ; họ
không thể bị trói buộc bởi quá nhiều qui định,
không bị gò bó trong một kế hoạch quốc gia cứng
chắc, không phải nộp thuế quá cao, không bị sách
nhiễu bởi một guồng máy chính quyền tham nhũng.
Chúng ta nhìn thấy ở đây sự cần thiết của
một thể chế dân chủ pháp trị, của một
hoạt động kinh tế thị trường thay vì
kinh tế hoạch định, của một guồng máy
nhà nước nhẹ. Nhưng chúng ta cũng nhìn thấy một
lần nữa các yếu tố tâm lý : đạo đức
và lương thiện. Tham nhũng cũng là hậu quả
của sự suy đồi của đạo đức
xã hội.
Người
kinh doanh dĩ nhiên cũng cần có phương tiện,
nghĩa là có nguồn nhân lực cần thiết với những
khả năng cần có, có một cơ sở hạ tầng
tốt, có vốn đầu tư, có một hệ thống
tín dụng ngân hàng đắc lực để huy động
vốn luân chuyển. Vốn đầu tư chỉ là một
trong những yếu tố và cũng không phải là yếu
tố quan trọng nhất. Vốn có ít thì đầu
tư ít, và lợi nhuận sẽ đẻ ra vốn. Vả
lại tư bản có trí khôn và lôgíc của chính nó, ở
đâu kinh doanh có lợi vốn sẽ tìm đến. Điều
quan trọng hơn hết vẫn là con người, những
con người có kỹ năng và có tinh thần trách nhiệm.
Một lần nữa yếu tố tâm lý và văn hóa là nòng
cốt.
Nói
chung, phát triển cần một bối cảnh tự do
dân chủ và là một vấn đề chủ yếu
văn hóa và tâm lý. Chính vì thế mà một số quốc gia
dù tài nguyên ít ỏi, dù bị tàn phá ghê gớm vẫn
vươn lên mạnh mẽ. Nước Đức và
nước Nhật bại trận và tan hoang đã chỉ
cần một vài thập niên để trở thành những
nước phát triển nhất. Dân tộc Hòa Lan chen chúc
trên một mảnh đất nhỏ với tài nguyên thiên
nhiên ít ỏi cũng đã xây dựng được một
trong những quốc gia phồn vinh nhất thế giới.
Chính vì phát triển trước hết là một vấn
đề văn hóa và tâm lý mà cho tới nay nó đã chỉ
giới hạn ở một số quốc gia.
Cần
phân biệt tâm lý và văn hóa với trí tuệ và kiến thức.
Bẩm sinh con người có trí tuệ bằng nhau hay gần
bằng nhau và do đó nhờ giáo dục có thể đạt
tới một trình độ hiểu biết ngang nhau. Sự
khác biệt là tâm lý và văn hóa, là óc cầu tiến, tính chấp
nhận rủi ro của kinh doanh, là tinh thần trách nhiệm,
là cách ứng xử trong cuộc sống tập thể.
Chúng
ta cần thay đổi xã hội và con người để
có phát triển.
Chúng
ta cần một xã hội dân chủ, quí trọng con người,
đặt lòng tin ở con người, để cho con
người tự do quyết định xây dựng đời
mình. Chúng ta cần một nhà nước pháp trị, có luật
pháp đầy đủ và không có quá nhiều thủ tục,
chúng ta cần một cơ chế thị trường thay
vì một kế hoạch áp đặt.
Chúng
ta cần những con người tự do, trách nhiệm,
lương thiện, gắn bó vào cộng đồng, cầu
tiến và thi đua chứ không ghen tức và phá hoại.
Chúng ta cần những con người ham thích kinh doanh, khao
khát làm giàu một cách lương thiện.
Chúng
ta cần một bộ máy kinh tế hoạt động không
cưỡng chế. Nhà kinh doanh phải được phép
tự do hành động theo các qui luật khách quan của
kinh doanh và thị trường. Công bằng xã hội là một
ưu tư thường trực của một chính quyền
đứng đắn, nhưng công bằng xã hội phải
được thực hiện ở khâu phân phối lợi
tức quốc gia, qua thuế khóa, chứ không thể can
thiệp trực tiếp vào sự điều hành hoạt
động kinh doanh.
Chúng
ta cũng cần một bối cảnh pháp lý, nghĩa là hiến
pháp và pháp luật, ổn định để người
dân có thể yên tâm xây dựng cuộc sống và lập ra
những dự định cho tương lai mà không lo sợ
một thay đổi luật chơi đột ngột
làm hỏng dự án kinh doanh của mình.
Nhưng
hiến pháp và luật pháp ổn vững không có nghĩa là
chính quyền ổn vững. Sự thay đổi thường
xuyên người cầm quyền trong một bối cảnh
pháp lý ổn vững không hề cấm cản cảnh sát
tiếp tục bảo vệ an ninh trật tự, không hề
cấm cản các thẩm phán tiếp tục xử án và cũng
không hề cấm cản một nhà máy tiếp tục hoạt
động. Điều có thể tác hại cho sinh hoạt
kinh tế là những cuộc cách mạng làm đảo lộn
tất cả, là những thay đổi đột ngột
luật pháp và định hướng quốc gia.
Đẩy
xa lý luận hơn nữa, ta còn có thể nói những chính
phủ dân chủ không có đa số áp đảo để
thay đổi tùy tiện luật pháp và chính sách còn có thể
là một đảm bảo cho sự ổn định bối
cảnh pháp lý, và do đó có lợi cho phát triển. Một
chính quyền áp đảo và nhiều quyền lực chỉ
cần thiết để có thể quyết định
mau chóng những thay đổi, và áp đặt một kế
hoạch phát triển quốc gia. Nhưng kế hoạch quốc
gia là điều chúng ta nên tránh. Kế hoạch quốc gia
là một sản phẩm duy ý chí, tàn dư của thời
đại thế giới chưa đủ sáng suốt và
kinh nghiệm để nhận định rằng cần
để cho xã hội, qua qui luật thị trường
khách quan, quyết định những gì cần làm, làm tới
mức nào và làm như thế nào. Kế hoạch quốc
gia là một cản trở cho phát triển mà chúng ta phải
loại bỏ, điều chúng ta cần là một định
hướng cho quốc gia và những dự án cho từng vấn
đề, đặc biệt là những dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng. Dĩ nhiên trong một hoàn cảnh
còn khó khăn và còn nhiều trở ngại cho phát triển,
chúng ta cần một chính quyền có khả năng quyết
định những chọn lựa cần thiết nhằm
tháo gỡ những ách tắc do quá khứ để lại.
Nhưng khả năng này một chính quyền dân chủ và
nhẹ vẫn có thể có được nhờ thuyết
phục để tạo ra đồng thuận và hậu
thuẫn của quần chúng trên một số chọn lựa
căn bản phải làm.
Tóm
lại, để phát triển đất nước, và
trước hết là phát triển kinh tế, chúng ta cần
một thể chế dân chủ, một nhà nước pháp
trị, một sinh hoạt kinh tế thị trường,
một sự tôn trọng tuyệt đối ý kiến và
sáng kiến cá nhân, một niềm tin mạnh mẽ vào con
người. Thể chế đó sẽ làm nảy nở
óc sáng tạo, tinh thần cầu tiến, tinh thần trách
nhiệm. Nhưng chúng ta cũng cần một cố gắng
văn hóa quan trọng để thượng tôn những
giá trị của tiến bộ và đưa những giá trị
đó vào tâm hồn và phản xạ của mọi người.
Những giá trị đó là hòa bình, tự do, dân chủ, nhân
quyền, bình đẳng, nhà nước pháp trị, hợp
tác, lợi nhuận liên đới và môi trường.
Xây
dựng một xã hội dân chủ đa nguyên, phát huy các
giá trị tiến bộ, chúng ta sẽ có phát triển,
đặc biệt là phát triển kinh tế. Đó là chủ
thuyết phát triển của chúng ta. Chúng ta quả quyết
rằng một xã hội như thế và với những
giá trị như thế dù muốn không phát triển cũng
không được. Ngược lại, một xã hội
không dân chủ, hoặc không có những giá trị tiến bộ
thì dù muốn và cố gắng đến đâu cũng sẽ
không có phát triển, hay chỉ có phát triển ở một
mức độ thấp. Tài nguyên thiên nhiên và vốn đầu
tư là những yếu tố rất thứ yếu.
Trong
một chủ thuyết phát triển như thế, vai trò của
nhà nước chủ yếu là gìn giữ hòa bình và trật
tự an ninh, bảo đảm quốc phòng và công lý, tạo
những quan hệ bang giao tốt với cộng đồng
thế giới, hòa giải và trọng tài những tranh tụng
của xã hội dân sự. Vai trò của nhà nước
trong kinh tế sẽ được giới hạn trong ba
phạm vi : thuế, chi tiêu công cộng và điều chỉnh
khối lượng tiền tệ. Thuế để nhà
nước có ngân sách làm nhiệm vụ của mình và bảo
đảm an sinh và liên đới xã hội. Các chi tiêu công cộng
để xây dựng, bảo trì và cải thiện cơ sở
hạ tầng, thúc đẩy, kích thích một số ngành
nghề. Việc điều chỉnh khối lượng
tiền tệ lưu hành, chủ yếu qua ấn định
một mức lãi suất, có ảnh hưởng trực tiếp
trên giá cả, đầu tư và tăng trưởng. Trong
cả ba phạm vi đó, nhà nước cũng cần hành
động với tất cả dè dặt để tránh
đảo lộn sinh hoạt kinh tế. Ổn định
là yếu tố cốt lõi của kinh doanh. Riêng việc ấn
định lãi suất, chúng ta phải tránh trường hợp
chính quyền hành động theo những yêu cầu chính trị
ngắn hạn, bằng cách giao phó cho một định chế
ngân hàng trung ương xuất phát từ chính phủ
nhưng không chịu sự chi phối tùy tiện của
chính phủ.
Một lần
nữa, nhu cầu phát triển buộc ta phải có một
nhà nước hòa giải và trọng tài để cho xã hội
dân sự lo việc phát triển thay vì một nhà nước
chỉ huy và định đoạt thay cho xã hội dân sự.
Vai trò hòa giải và trọng tài trong sinh hoạt kinh tế
buộc nhà nước phải từ bỏ mọi chức
năng kinh doanh. Các công ty quốc doanh không nên có, hay nếu
có thì cần được coi là những bó buộc chẳng
đặng đừng trong một thời gian nhất
định. Trong chủ thuyết phát triển của chúng
ta, nhà nước không chen lấn với xã hội dân sự,
mà tập trung mọi cố gắng để làm tròn và làm
tốt chức năng thực sự của một nhà
nước.