Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
Thành Công Thế Kỷ 21

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên – 2001

         Từ ngày thành lập, tháng 11-1982, mới đầu như một tổ chức không tên và từ năm 1988 trở đi được biết đến như là "nhóm Thông Luận", Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là tổ chức cho rằng hoạt động chính trị phải đặt nền tảng trên một cơ sở tư tưởng và lý luận nghiêm túc.  Trong hai năm đầu, các thành viên của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã chỉ làm một công việc là thảo luận và đúc kết một tài liệu căn bản.   Tài liệu này hoàn tất năm 1984 với tên Cơ Sở Tư Tưởng phổ biến giới hạn.  Năm 1986, Cơ Sở Tư Tưởng được tu chỉnh và phổ biến rộng rãi.  Năm 1992, Cơ Sở Tư Tưởng được sửa chữa, bổ túc để thành một dự án chính trị tương đối đầy đủ cho Việt Nam, và được phổ biến dưới tựa đề Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 1992.  Từ đó, khoảng bốn năm một lần, dự án chính trị dân chủ đa nguyên được cập nhật, bổ túc và mang một tên riêng.   Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996, mang tên Thử Thách và Hy Vọng, được phổ biến rộng rãi trong nước cũng như ngoài nước, đã được hưởng ứng nồng nhiệt và đã ảnh hưởng một cách đáng kể trên lý luận của đối lập Việt Nam.

          Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên 2001, mang tên Thành Công Thế Kỷ 21, đã hoàn tất sau hơn một năm trao đổi và đúc kết của hơn một trăm chí hữu của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên trong và ngoài nước.

         So với Thử Thách và Hy Vọng, Thành Công Thế Kỷ 21 có thêm một ý niệm về quốc gia, một cái nhìn mới về hiện tượng toàn cầu hóa.  Tất cả những phần khác đều được cập nhật hóa, riêng hai chương về Chiến lược đấu tranh để chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ và Chính sách cho giai đoạn chuyển tiếp được tu chỉnh gần như toàn diện.

          Một điều mới so với ấn bản 1996: ngoài toàn văn dự án chính trị, còn một bản tóm lược, được coi như cương lĩnh (hiểu theo nghĩa những nét chính), có mục đích phổ biến rộng rãi.

Mục Lục

Tìm hiểu Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Tóm lược Dự Án Chính Trị

 I. Nhiệm vụ lịch sử

 II. Bối cảnh quốc tế và Việt Nam

 III. Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới

 IV. Những định hướng lớn

 V. Chế độ chính trị cho một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên

 VI. Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ đa nguyên

 VII. Chuyển tiếp thành công về dân chủ

 VIII. Vì đất nước hôm nay và ngày mai: chung một giấc mơ Việt Nam

 Tìm hiểu Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

 Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ra đời cuối năm 1982, do sự gặp gỡ của một nhóm trí thức cùng thao thức với đất nước và cùng chia sẻ một nhận định là phải thay đổi hẳn quan niệm hoạt động chính trị. Cuộc đấu tranh mới không thể là sự tiếp nối cuộc xung đột trước 1975 mà phải nhắm mục đích duy nhất là dân chủ hóa đất nước và, do đó, đòi hỏi một dự án chính trị mới, một thái độ mới, một cách suy nghĩ mới và những phương thức đấu tranh mới.

 Nhóm này đã quyết định dành trọn hai năm để chỉ mổ xẻ mọi vấn đề của đất nước hầu đi đến những kết luận chung được đúc kết thành văn bản trước khi bắt đầu hoạt động thực sự. Năm 1984, họ hoàn tất tài liệu đó, được đặt tên là Cơ Sơ Tư Tưởng. Một số anh em tự cảm thấy không thể tiếp tục đi hết đường dài của cuộc đấu tranh giành dân chủ đã rút lui và trở thành những thân hữu, nhưng một số người càng ngày càng đông đảo đã đến tăng cường đội ngũ. Một tổ chức chính trị thực sự đã ra đời như là kết hợp của những người cùng theo đuổi một lý tưởng chung là xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, bao dung và giàu mạnh, một nước Việt Nam mà những con người ngày hôm nay có thể chấp nhận và các thế hệ mai sau có thể tự hào. Tổ chức này chưa tự đặt tên cho mình vì hai lý do, một là các thành viên coi danh xưng là điều chưa cần thiết trong giai đoạn đầu mà mọi cố gắng nhắm vào việc phát hiện và tranh thủ một cách kín đáo những người thực sự có khả năng và tâm huyết, hai là vì ý muốn sáp nhập với các tổ chức khác để hình thành một tổ chức dân chủ có tầm vóc sau này. Lập trường căn bản của tổ chức là

 -          đấu tranh thiết lập một thể chế dân chủ đa nguyên
- trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc
- bằng những phương thức bất bạo động.

Năm 1988 tổ chức cho phát hành nguyệt san Thông Luận. Tờ báo đã lập tức gây thảo luận sôi nổi và từ đó tổ chức được nói tới như "nhóm Thông Luận" mặc dù trên thực tế nó chưa có danh xưng chính thức. Trước ngưỡng cửa năm 2000, ngày 19-12-1999, một đại hội thành viên đã biểu quyết chọn danh xưng chính thức là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, danh xưng tiếng Anh là Rally for Democracy and Pluralism, tiếng Pháp là Rassemblement pour la Démocratie Pluraliste. Cả hai danh xưng tiếng Pháp và tiếng Anh đều viết tắt là RDP.

 Là một kết hợp hoàn toàn hướng về tương lai, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên qui tụ những người Việt Nam thuộc mọi lứa tuổi, mọi quá khứ chính trị và mọi cương vị, trong cũng như ngoài nước. Trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên hiện nay, có những người từng là viên chức, sĩ quan của miền Nam và cũng có những người đã có hàng chục tuổi đảng cộng sản và đã giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ cộng sản.

 Lập trường chính trị của Tập Hợp được trình bày đầy đủ trong Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên được tu chỉnh và phổ biến khoảng bốn năm một lần. 

 Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên tiêu biểu cho một khuynh hướng chính trị. Đây là kích thước quan trọng nhất của Tập Hợp. Lập trường của Tập Hợp đã gặp nhiều chống đối lúc ban đầu nhưng dần dần đã đi vào lòng người. Hiện nay, ngoài một số đảng viên cộng sản bảo thủ không còn người Việt Nam nào phản bác thể chế dân chủ đa nguyên. Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc mà Tập Hợp đơn độc bảo vệ trong nhiều năm, nói chung, cũng đã được chấp nhận, dù là đôi khi qua những thuật ngữ khác. Chủ trương đấu tranh cho dân chủ bằng phương thức bất bạo động cũng đã trở thành một đồng thuận của mọi người dân chủ Việt Nam. Phần lớn các tổ chức chính trị đã đi đến một lập trường rất gần với lập trường của Tập Hợp. Điều đặc sắc là Tập Hợp được nhìn như là những người chủ xướng dân chủ đa nguyên, được đồng hóa với tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc và được coi là những người chủ trương bất bạo động thành thực nhất. Chính vì vừa là một tổ chức chính trị vừa là một khuynh hướng chính trị mà Tập Hợp có sự tỏa rộng mà một tổ chức bình thường không có. Tập Hợp là một tổ chức chính trị mà số thân hữu và cảm tình viên đông gấp bội số thành viên. Nhiều người tuy không tiếp xúc với Tập Hợp vẫn ủng hộ Tập Hợp chỉ vì ủng hộ khuynh hướng chính trị mà Tập Hợp là đại diện tiêu biểu. Ngược lại, một số người không biết Tập Hợp cũng chống Tập Hợp chỉ vì khuynh hướng đó. Trong đấu tranh chính trị, sự kiện được coi là tiêu biểu cho một khuynh hướng chính trị được hàng triệu người chia sẻ là một ưu thế lớn, bởi vì khi thời cơ đến ưu thế đó sẽ là một sức mạnh quyết định.

 Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cũng đề ra một phong cách sinh hoạt chính trị khác. Mặc dầu là một trong những tổ chức chính trị có tuổi tác nhất và được chú ý nhất, Tập Hợp không gặp những câu hỏi tò mò thông thường: chủ tịch đoàn gồm những ai, ban chấp hành, ban giám sát là những ai?... Đó là vì khi nhìn vào phong cách sinh hoạt của Tập Hợp mọi người thấy đó là những câu hỏi không cần thiết. Tập Hợp không coi trọng cơ chế, thứ bậc, không có những tài liệu pháp qui phức tạp. Tập Hợp được xây dựng trên tình anh em, tình chí hữu. Nó là một kết nghĩa vì lý tưởng và vì lòng yêu nước. Chính vì vậy mà tuy đã hình thành từ gần 20 năm, nó vẫn cởi mở như một tổ chức đang ở trong giai đoạn thành lập. Ý thức rằng sự thiếu vắng của một tư tưởng chính trị và một nhân sự chính trị đã là hai nguyên nhân chính của những thảm kịch trong quá khứ, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cho tới nay hoạt động như một môi trường đào tạo cán bộ và một phòng thí nghiệm tư tưởng. Chọn lựa này không ngăn cản Tập Hợp có những hoạt động cụ thể. Tập Hợp tiếp tay cho nhiều tổ chức văn hóa và thiện nguyện và cũng đã thành lập, từ năm 1993, Nghĩa Hội Tự Do Việt Nam với mục đích hỗ trợ tinh thần và vật chất cho những tù nhân chính trị và, một cách rộng hơn, cho mọi người đang mắc nạn vì dân chủ tại Việt Nam.

 Nguyệt san Thông Luận, cơ quan ngôn luận của Tập Hợp đã ra đều đặn hàng tháng, từ tháng 1-1988, với phương châm là "không có ý kiến nào cấm nêu ra, không có đề tài nào cấm bàn đến". Đó là một phương châm rất khó giữ đối với một tờ báo có chức năng làm tiếng nói của một tổ chức chính trị và cổ vơ cho một lập trường chính trị. Nhưng Tập Hợp đã cố gắng và đã giữ được phương châm đó. Nguyệt san Thông Luận có mặt tại khắp nơi có cộng đồng người Việt hại ngoại và cũng được lưu hành một cách giới hạn tại Việt Nam. Có thể nói nó đã là một nhịp cầu nối liền người Việt trong và ngoài nước và đã góp phần đáng kể đem những người dân chủ thuộc mọi quá khứ đến với nhau. Từ 1998, Tập Hợp đã có thêm Web Thông Luận trên đó ngoài những số báo Thông Luận còn có nhiều đóng góp khác

 Tóm lược dự án chính trị

 Chúng ta từ giã một thế kỷ đau buồn, mở đầu trong ngoại thuộc và chấm dứt dưới độc tài, ở giữa là ba mươi năm chiến tranh tàn khốc.   Ngày nay chúng ta là một trong những dân tộc nghèo đói, lạc hậu và bế tắc trong một thế giới mới mà sự thua kém kéo dài có thể làm tan vỡ các quốc gia và đẩy dân tộc của các quốc gia này vào cảnh lầm than vô hạn định.

          Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên tin rằng dân tộc Việt Nam xứng đáng với một số phận khác và nhiệm vụ lịch sử của những người Việt hôm nay là cứu dân tộc ra khỏi lầm than và cứu đất nước ra khỏi nguy cơ thua kém vĩnh viễn.  Chúng ta là một dân tộc đông đảo và cần mẫn, có một lịch sử lâu dài và một địa lý thuận lợi, chúng ta có mọi triển vọng để vươn lên nếu thay đổi được tổ chức xã hội.

 Việt Nam trong bối cảnh thế giới

          Thế giới đang trải qua một chuyển hóa trọng đại mà những nét đậm nhất đã có thể nhìn thấy.

          Các chủ nghĩa đã bị đào thải, nhường chỗ cho những giá trị tiến bộ đang trở thành phổ cập: hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, liên đới và môi trường.

          Dân chủ đang thắng lợi, số lượng các quốc gia từ bỏ chế độ độc tài để chuyển sang dân chủ ngày càng đông.  Sự chuyển đổi về dân chủ đã không gây ra bạo loạn tại quốc gia nào, trái lại đã đem lại trật tự và ổn vững.

          Các liên minh ý thức hệ đã chấm dứt, nhường chỗ cho những kết hợp giữa các nước cùng khu vực hoặc văn hóa trong mục đích giúp nhau cùng tiến.

          Vai trò của các chính quyền quốc gia đang sút giảm.  Các qui ước quốc tế ngày càng nhiều và dần dần thay cho luật pháp quốc gia, các công ty đa quốc gia tầm vóc lớn xuất hiện ngày càng đông đảo và đang trở thành những trung tâm quyền lực mới, trong nhiều trường hợp có trọng lượng và ảnh hưởng lớn hơn đa số các nước.

          Chính ý niệm quốc gia dân tộc cũng đang bị xét lại.  Ý niệm tổ quốc thiêng liêng phải được phụng thờ vô điều kiện không còn hợp thời nữa.  Muốn tồn tại được quốc gia phải cần thiết và có ích cho người dân, phải là một phúc lợi thay vì một gánh nặng.

          Trong một bối cảnh thế giới tranh đua, các dân tộc chậm tiến như Việt Nam một mặt bị đặt trước nguy cơ bị chèn ép và bóc lột, mặt khác do xu hướng tự động hóa dần dần mất đi một vũ khí chiến lược là nhân công rẻ, về lâu về dài chỗ đứng trên thế giới và chính sự tồn tại cũng bị đe dọa.

          Bù lại, bối cảnh thế giới mới cũng đem lại những vận hội rất tốt mà các dân tộc chậm tiến có thể tận dụng để vươn lên : các tập đoàn độc tài không còn được nâng đỡ và che chở nữa, các dân tộc đủ quyết tâm có thể loại bỏ chúng để tiến tới dân chủ và tổ chức lại đất nước một cách hợp lý ; sự cạnh tranh gắt gao khiến cho việc thu hút tư bản và kỹ thuật trở thành dễ dàng ; thế liên thuộc tự nhiên trong một thế giới ngày càng nhỏ lại buộc các nước tiên tiến phải tạo điều kiện thuận lợi cho hòa bình và phát triển ; khả năng chấp nhận những cố gắng và hy sinh lớn hơn cho phép các nước chậm tiến lợi dụng được chính sự phồn vinh tại các nước đã phát triển để tiến nhanh hơn.

         Việt Nam có đầy đủ những điểm lợi và điểm bất lợi của một nước chậm tiến nhưng cũng có những nguy cơ và triển vọng của riêng mình.

          Chúng ta là một quốc gia rất cô lập do sự ngoan cố duy trì một chế độ độc tài và một chủ nghĩa đã bị thế giới vứt bỏ.  Cuộc chiến thảm khốc và cách quản lý thô bạo không những đã làm tiêu hao tài nguyên mà còn hủy hoại một cách trầm trọng môi trường và làm xuống cấp con người.  Các tệ nạn xã hội gia tăng, các giá trị nền tảng ngày càng phai nhạt.  Xã hội ngày một thêm rối loạn do trộm cướp, buôn lậu, tham nhũng, mafia.  Nguy hiểm hơn nữa là sự chán chường của dân chúng.  Đại đa số người Việt Nam hiện nay không những chỉ thù ghét chính quyền mà còn mất cả lòng tin ở đất nước.  Mồi nguy lớn nhất là những người cầm quyền không ý thức được sự thờ ơ báo động của người dân, do đó vẫn tiếp tục cai trị một cách thách đố khiến quần chúng ngày càng lãnh đạm hơn với đất nước.  Những biện pháp mở cửa mà chính quyền cộng sản bắt buộc phải chấp nhận đã cải tiến đáng kể đời sống nhân dân nhưng sự ngoan cố từ chối cải tổ chính trị vẫn kìm hãm đất nước trong trì trệ.

          Nhưng chúng ta cũng có nhiều triển vọng lớn : một ngôn ngữ thuần nhất, dễ học và đủ để chuyên chở mọi kiến thức ; một dân tộc đông đảo và cần mẫn, có khả năng học hỏi và thích nghi cao ; một địa lý khá thuận lợi ; một lịch sử sống chung dài và một sự gắn bó lớn với quê cha đất tổ.  Lợi điểm lớn nhất là chúng ta đã có thay đổi tư duy, đã đạt tới đồng thuận trên rất nhiều điểm cơ bản.

 Đồng thuận nền tảng

          Chủ thuyết để làm lại và thăng tiến đất nước của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đặt trên bốn chọn lựa cốt lõi sau đây :

         1. Quốc gia Việt Nam phải được quan niệm như là một không gian liên đới và một dự án tương lai chung.  Trong quan niệm ấy, nhà nước chỉ là công cụ để thực hiện một đồng thuận dân tộc, đúc kết của những nguyện ước cá nhân được phát biểu một cách tự do.  Nhà nước ấy phải ở trong và ở dưới quốc gia, và phải xuất phát từ chọn lựa tự do của dân chúng.

          2. Thể chế của Việt Nam phải là thể chế dân chủ đa nguyên, tôn trọng mọi khác biệt và dành chỗ đứng ngang nhau cho mọi người và cho mỗi người.  Nhà nước phải thực sự tản quyền, cho phép các địa phương tự tổ chức sinh hoạt của mình theo những điều kiện đặc biệt.  Nhà nước tự coi như có sứ mệnh phục vụ xã hội dân sự và tạo điều kiện để xã hội dân sự phát triển và đem lại phúc lợi cho đất nước.  Nhà nước đặt nền tảng trên thỏa hiệp thay vì xung khắc, không áp dụng một cách máy móc nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số.  Nhà nước coi công bằng xã hội là một ưu tư thường trực.  Nhà nước dân chủ đa nguyên phải là một nhà nước nhẹ, tuyệt đối tôn trọng và thực thi luật pháp, tập trung vào sứ mệnh hòa giải những tranh chấp, trọng tài các quan hệ trong xã hội dân sự và chế tài những vi phạm.  

         3. Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một bắt buộc.  Hòa giải để xóa bỏ những hận thù và hiềm khích do lịch sử để lại giữa các sắc tộc, giữa các địa phương, giữa các tôn giáo, giữa người dân và chính quyền.  Quan trọng nhất là hòa giải những hận thù do cuộc chiến và các chính sách phân biệt đối xử mà chế độ cộng sản để lại.  Hòa giải để tiến tới hòa hợp trong cố gắng xây dựng một tương lai Việt Nam chung.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng định rằng thiếu một chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc thành thực và quả quyết thì Việt Nam sẽ không có tương lai ngay cả nếu chế độ cộng sản chấm dứt.

          4. Cố gắng phát triển đất nước phải đặt nền tảng trên kinh tế thị trường, lấy ý kiến và sáng kiến cá nhân làm động cơ và lấy lợi nhuận làm chất kích thích.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng định phát triển là thành quả của tự do và dân chủ, vì thế cải tổ chính trị phải đi trước cải tổ kinh tế.  Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, dân chủ hóa thực sự và toàn diện phải là bước đầu bắt buộc.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cực lực bác bỏ như là một sự bịp bợm lập luận theo đó muốn phát triển nhanh phải tạm thời giới hạn tự do, dân chủ và nhân quyền.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên coi ổn định chính trị là cần thiết cho phát triển, nhưng ổn định không phải là sự lưu giữ dài hạn một tập đoàn cầm quyền mà là hiến pháp dân chủ và ổn vững, luật pháp không thay đổi đột ngột và tùy tiện.  Sinh hoạt kinh tế thị trường phải đặt nền tảng trên các xí nghiệp tư, nhà nước không có chức năng kinh doanh.

          Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên tin rằng phát triển kinh tế chủ yếu là một vấn đề tâm lý và văn hóa, vì thế cần phát huy một văn hóa kinh doanh, tôn vinh cố gắng làm giàu chính đáng và gây một tâm lý tin tưởng và lạc quan trong xã hội.  Niềm tin của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là một nhà nước nhẹ, thực sự dân chủ và không tham nhũng trong một xă hội đề cao kinh doanh, chắc chắn sẽ đưa tới phát triển.

 Những định hướng lớn

          - Xây dựng đất nước trên những giá trị tiến bộ thay vì trên một chủ nghĩa.  Những giá trị tiến bộ đó là hòa bình, tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, liên đới và môi trường.

 -          Lấy tự do làm động lực để phát huy óc sáng tạo và tinh thần cầu tiến.  Trên đất nước Việt Nam sẽ không thể có ý kiến nào cấm nêu ra và cũng không thể có đề tài nào cấm bàn đến.

 -          Phát huy lòng yêu nước tự nguyện.  Lòng yêu nước là sức mạnh để chinh phục tương lai của dân tộc với điều kiện là phải tự nhiên và tự nguyện.   Trách nhiệm chính của nhà nước là làm cho đất nước ngày càng cần thiết, đáng yêu và đáng tự hào.

 -          Tôn trọng và phát huy xã hội dân sự.  Xã hội dân sự là toàn bộ những kết hợp của người dân và được coi là nền tảng của đất nước.  Nhà nước tự coi là có vai trò tạo điều kiện để xã hội dân sự tạo phúc lợi cho đất nước chứ không định đoạt và làm thay cho xã hội dân sự.

 -          Xác định Việt Nam là đất nước của các cộng đồng.  Đất nước Việt Nam không phải là của riêng sắc tộc Kinh.  Lịch sử và văn hóa Việt Nam phải được coi là lịch sử và văn hóa của mọi sắc tộc đã kết hợp lại để tạo thành đất nước Việt Nam.  Cộng đồng người Việt hải ngoại phải được coi là thành phần khắng khít của đất nước.  Mọi người Việt Nam sinh sống tại hải ngoại phải được coi là những công dân với đầy đủ quyền lợi và nhiệm vụ.

          - Chọn lựa dứt khoát kinh tế thị trường.  Những gì tư nhân có thể làm nhà nước sẽ không làm.

         - Không ngừng cảnh giác bảo vệ công bằng xã hội.  Bảo vệ những người yếu kém, bảo đảm cơ may thăng tiến đồng đều cho mọi người, trước hết là qua giáo dục và đào tạo.

         - Tiến tới một nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ.  Việt Nam không có chức năng lâu dài của một nước nông nghiệp.  Cố gắng chuyển hóa Việt Nam thành một nước công nghiệp và dịch vụ là cần thiết và cấp bách, bắt đầu từ kỹ nghệ thực phẩm.  Một quan tâm đặc biệt sẽ được dành cho ba ngành : tin học, du lịch và hàng hải.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên không tán thành việc thiết lập những khu kinh tế đặc biệt mà chủ trương dành tất cả mọi dễ dãi cho kinh doanh trên toàn lãnh thổ.

         - Theo đuổi một chủ nghĩa nước nhỏ.  Khiêm tốn và hòa hoãn với mọi quốc gia, nhẫn nhục hôm nay để giàu mạnh ngày mai.

         - Thực hiện một chính sách đối ngoại hòa bình và một chính sách láng giềng tốt.  Tìm mọi cơ hội để thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước đã phát triển mạnh, đặc biệt là Hoa Kỳ.  Phát huy mọi sáng kiến để hóa giải những vấn đề còn tồn đọng với Lào, Kampuchea và Trung Quốc, đi đến quan hệ láng giềng tốt.

-          Ngăn chặn đà gia tăng dân số, chủ yếu qua cố gắng thăng tiến phụ nữ và bảo trợ người già.

 Chế độ chính trị

         Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng định rằng :

         - Đa nguyên chính trị không phải là nguyên nhân đưa tới lạm phát chính đảng.  Số lượng chính đảng tùy thuộc chủ yếu vào thể thức đầu phiếu.  Tự do và dân chủ cũng không hề tạo ra bất ổn, trái lại còn là điều kiện cần để có ổn định chính trị.  Mặt khác, ổn định chính trị không thể đồng nghĩa với sự duy trì dài hạn một đảng cầm quyền.

         - Tản quyền không đưa tới nạn sứ quân, trái lại còn đóng góp vào sự thống nhất thực sự của đất nước vì cho phép các địa phương phát triển hài hòa theo điều kiện đặc thù của riêng mình, vì thế mà các địa phương càng thấy ràng buộc với đất nước.

         - Quan tâm lớn nhất của chúng ta là phải thiết lập dân chủ bền vững và loại bỏ mọi cơ nguy có thể đưa tới sự tái lập một chế độ độc tài.  (đọc tiếp...)

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đề nghị một chế độ dân chủ đại nghị và tản quyền.

         Lãnh thổ sẽ được qui định thành từ 10 đến 15 vùng, mỗi vùng gồm một số tỉnh hiện nay, có nghị viện và chính quyền riêng, được quyền tự quản, được quyền ban hành những đạo luật địa phương không mâu thuẫn với luật pháp quốc gia và được giao phó phần lớn trách nhiệm tư pháp và an ninh trật tự trong vùng.

         Ngoại giao, quốc phòng và tiền tệ hoàn toàn thuộc chính quyền trung ương.

         Cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội mà đại đa số dân biểu được bầu ra theo thể thức bầu cử đơn danh và một  vòng.

         Một thượng nghị viện sẽ đại diện cho các vùng, có quyền yêu cầu quốc hội xét lại các đạo luật và có quyền đề nghị và khuyến cáo đối với chính phủ.

         Chính phủ do một thủ tướng đứng đầu.  Thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội.  Thủ tướng được quyền chỉ định các bộ trưởng.

         Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, không giữ một quyền hành cụ thể nào, có vai trò nghi thức, bảo đảm sự liên tục, ổn vững và đoàn kết của quốc gia.

         Pháp viện tối cao có quyền phán quyết tính hợp hiến của các đạo luật, trọng tài những tranh tụng giữa các cơ quan quyền lực, chung thẩm các bản án của mọi tòa án và xét xử những cấp lãnh đạo cao nhất của nhà nước.

         Các chính đảng được coi là thành tố cần thiết của sinh hoạt chính trị và được tài trợ do ngân sách quốc gia theo trọng lượng chính trị thể hiện qua các cuộc bầu cử, ngược lại bị cấm hoạt động kinh tài và nhận trợ giúp của các công ty.

 Sách lược đấu tranh để chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ

          Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận định các điều kiện khách quan để cuộc vận động dân chủ thành công đã gần hội đủ, chỉ còn thiếu một yếu tố, cũng là yếu tố quan trọng nhất, là một kết hợp dân chủ có tầm vóc.  Để giành thắng lợi cho dân chủ, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đề nghị một chiến lược đấu tranh gồm những công tác trọng điểm sau đây :

         - Thức tỉnh dân chúng về sự cần thiết của một lối thoát chung cho đất nước.  Thuyết phục quần chúng từ bỏ chủ nghĩa luồn lách, cam chịu chế độ và tìm giải pháp cá nhân để tự gỡ rối.  Mọi người nên và phải tham gia vào cuộc vận động dân chủ vì nước và vì mình.

         - Giành thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lý luận.   Bẻ gãy những lý luận ngụy biện gian trá chống dân chủ của tập đoàn độc tài ngoan cố và thuyết phục quần chúng rằng dân chủ không những cần thiết để bảo đảm tự do và phẩm giá cho mọi người mà còn là điều kiện không thể thiếu để phát triển đất nước ; dân chủ không hề đưa tới hỗn loạn mà còn là điều kiện bắt buộc để khôi phục lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm, bảo đảm trật tự an ninh lâu dài.

         - Yểm trợ mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi dân chủ trong nước.  Khuyến khích, tiếp tay và hỗ trợ để đưa cuộc đấu tranh cho dân chủ ở trong nước từ giai đoạn của những phản kháng cá nhân sang giai đoạn đấu tranh công khai có phối hợp và có tổ chức.

         - Đẩy mạnh và gia tăng hiệu năng của các cố gắng động viên sự yểm trợ của thế giới cho cuộc vận động dân chủ.   Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đề nghị phối hợp các cố gắng ngoại vận trong tinh thần vận động cho thắng lợi chung và giới thiệu đối lập dân chủ Việt Nam trước thế giới như một giải pháp thay thế đáng tin cậy.

         - Xúc tiến sự hình thành của một mặt trận dân chủ.  Mặt trận dân chủ phải mở cửa cho mọi người dân chủ không phân biệt quá khứ chính trị, không phân biệt thành phần, nhưng ngược lại cũng chỉ mở cửa cho những người dân chủ thực sự.   Mặt trận dân chủ sẽ đặc biệt hoan nghênh sự tham gia của những người dân chủ đã hoặc đang hiện diện trong đảng và nhà nước cộng sản.  Khi chính quyền cộng sản đã nhượng bộ và chấp nhận luật chơi dân chủ, mặt trận sẽ hoạt động công khai và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt ở trong nước.  Chừng nào chính quyền cộng sản còn cấm đoán và đàn áp, các hoạt động sẽ kín đáo và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt ở nước ngoài.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẽ dồn mọi cố gắng để đóng góp tích cực cho việc hình thành và phát triển của mặt trận dân chủ này trong tinh thần khiêm tốn và nhân nhượng.

         - Mặt trận dân chủ sẽ tập trung mọi cố gắng và sáng kiến để vận động áp lực quần chúng trong nước và áp lực quốc tế buộc chính quyền cộng sản phải chấp nhận bầu cử tự do và sau đó sẽ phấn đấu để giành thắng lợi trong những cuộc bầu cử tự do đó.

         - Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận định rằng tình hình Việt Nam đã gần chín muồi cho một chuyển biến hòa bình về dân chủ.  Áp lực dân chủ hóa đang gia tăng nhanh chóng, chẳng bao lâu sẽ buộc chính quyền cộng sản phải nhượng bộ để tránh sụp đổ trong hỗn loạn.  Trong cuộc vận động để gia tăng áp lực dân chủ hóa và để xây dựng mặt trận dân chủ, cộng đồng người Việt hải ngoại có vai trò chiến lược quyết định và cũng có khả năng để đảm nhiệm vai trò đó.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên khẳng định rằng đấu tranh để buộc chế độ cộng sản phải chấp nhận bầu cử tự do là một cuộc đấu tranh chắc chắn sẽ thắng lợi và trong đó những người dân chủ Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều có vai trò quan trọng như nhau.

         Cuộc đấu tranh giành dân chủ chắc chắn sẽ phải trải qua nhiều thỏa hiệp.  Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên sẵn sàng chấp nhận mọi thỏa hiệp có tác dụng làm gia tăng vận tốc tiến trình dân chủ hóa, nhưng sẽ không thể nhượng bộ trên ba điểm căn bản : lý tưởng dân chủ đa nguyên, tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, phương thức đấu tranh bất bạo động.

 Chuyển tiếp về dân chủ

          Chuyển tiếp từ một chế độ độc tài toàn trị, nhất nguyên, tập trung và chuyên quyền, đặt nền tảng trên quốc doanh, coi thông tin và giáo dục như những dụng cụ tuyên truyền và nhồi sọ sang một chế độ dân chủ đa nguyên, tản quyền và phân quyền, lấy kinh tế thị trường và xí nghiệp tư làm nền tảng, coi thông tin và giáo dục như những phương tiện để khai phóng và thăng tiến là một công trình vừa cực kỳ khó khăn, vừa phải thực hiện nhanh chóng để không làm thất vọng những kỳ vọng của quần chúng, lại vừa cần mọi thận trọng để tránh đổ vỡ.

         Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhận định rằng đất nước sẽ cần một thời gian chừng năm năm trước khi sinh hoạt dân chủ thực sự đi vào nề nếp.  Trong giai đoạn này chính quyền dân chủ sẽ phải giải quyết các vấn đề theo một thứ tự ưu tiên.

Chính trị :

         - Trả chính quyền về cho nhân dân : phi chính trị hóa guồng máy hành chính, quân đội và công an.

         - Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc.  Cấm tuyệt đối mọi hành động trả thù báo oán.   Lưu dụng mọi cán bộ công nhân viên và quân đội.  Mọi thay đổi nhân sự phải thuần túy do lý do kỹ thuật.  Phục hồi danh dự và bồi thường thiệt hại, ít nhất một cách tượng trưng cho nạn nhân của bạo lực và bất công trong quá khứ.  Soạn thảo và đem biểu quyết qua trưng cầu dân ý một đạo luật về hòa giải và hòa hợp dân tộc.

         - Bầu cử quốc hội lập hiến và ban hành một hiến pháp dân chủ cho Cộng Hòa Việt Nam.  Hiến pháp sẽ thể hiện đầy đủ và quả quyết mọi quyền công dân, qui định chế độ dân chủ đại nghị tản quyền.  Các đạo luật sẽ được rà soát lại để tu chính theo tinh thần dân chủ và bổ túc nếu cần.  Án tử hình sẽ được bãi bỏ.

         - Ngay khi tình hình tạm ổn vững, một đạo luật về tản quyền sẽ được đưa ra để quốc hội thảo luận và biểu quyết.  Nguyên tắc chỉ đạo là các vùng phải khá thuần nhất về mặt địa lý, giao thông và chức năng kinh tế và phải có tầm vóc đủ để có thể tự quản và phát triển được.

Văn hóa xã hội :

         - Tăng cường trật tự an ninh.  Cải tổ bộ máy an ninh, chuyển lực lượng công an chính trị sang tăng cường cho công tác bảo vệ trật tự.

         - Khắc phục các tệ nạn xã hội.  Nghiêm khắc và quả quyết bài trừ tham nhũng, buôn lậu và các băng đảng.  Vận động sử hưởng ứng tối đa của báo chí và xã hội dân sự vào cố gắng lành mạnh hóa xã hội.

         - Bãi bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn mọi biện pháp kiểm duyệt, ban hành tự do báo chí và ngôn luận.

         - Bảo đảm sự khách quan và đúng đắn tuyệt đối của các sách giáo khoa và qui định một trình độ văn hóa tối thiểu bắt buộc cho thanh niên, ít nhất tới hết lớp 9.  Vận động sinh lực toàn quốc cho cố gắng văn hóa, giáo dục.

         - Cải thiện môi trường và danh lam thắng cảnh.  Chấm dứt nạn phá rừng, đánh bắt hải sản vô trách nhiệm, kiểm soát nghiêm túc cách xử lý các phế liệu.

         - Chặn đứng tệ bán đất một cách mờ ám, vụ lợi cho người ngoại quốc, cho phép và khuyến khích người Việt hải ngoại mua nhà đất tại Việt Nam.

Kinh tế :

         - Giải tư đại bộ phận các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất.  Việc giải tư các xí nghiệp quốc doanh sẽ được thực hiện nhanh chóng và hoàn tất sau hai năm.  Chính sách tư hữu hóa ruộng đất sẽ hoàn tất sau năm năm.

         - Khuyến khích tối đa đầu tư kể cả đầu tư nước ngoài.  Bãi bỏ từng bước các đạo luật về đầu tư nước ngoài, ban hành một đạo luật kinh doanh áp dụng cho cả người Việt lẫn người ngoại quốc.  Bãi bỏ những giấy phép đầu tư, qui định thời gian làm thủ tục mở công ty không thể quá hai tuần lễ.

         - Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường nội địa, đặc biệt khuyến khích tiểu thương.  Đặt mục tiêu nông cao mức sống nông dân.

-          Dồn cố gắng cho hai công trình giao thông chiến lược là xa lộ hóa quốc lộ Xuyên Việt và hiện đại hóa đường xe lửa Thống Nhất.  Tân trang và khai thác cảng Cam Ranh như là một trong những công trình trọng điểm để phát triển miền Trung.

 Đất nước sẽ vươn lên

          Mặc dầu mọi đổ vỡ, phí phạm và chậm trễ, người Việt Nam vẫn có quyền lạc quan.  Đất nước ta tuy có vấp ngã nhưng vẫn còn đủ sức để gượng dậy và đi tới.

         Bình thường hóa quan hệ giữa người Việt Nam với nhau.  Long trọng xác nhận đất nước là của chung mọi người chứ không phải là của riêng một đảng hay một chủ nghĩa.  Nhìn nhận chỗ đứng ngang nhau cho mọi người và cho mỗi người.  Cởi bỏ những xiềng xích của hận thù và bất dung để nhìn nhau như anh em và quyết tâm cùng nhau xây dựng một tương lai chung.  Tất cả những điều này chúng ta đều có thể làm và đều có thể làm ngay.  Rồi chúng ta sẽ cùng nhau khám phá ra sự mầu nhiệm của những giá trị rất đơn giản như tự do, dân chủ, hòa hợp dân tộc.

         Chế độ độc tài này sẽ là chế độ độc tài cuối cùng tại Việt Nam.   Rũ bỏ được nó, đất nước ta sẽ vĩnh viễn đi vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, dân chủ và bao dung, kỷ nguyên của những cố gắng chung và của thành công chung.

         Làm người Việt Nam trong thế kỷ 20 đã là một điều bất hạnh thì làm người Việt Nam trong thế kỷ 21 sẽ phải là một niềm vui, một may mắn và một nguồn hãnh diện.

         Thế giới đã biết đến Việt Nam như là nạn nhân của hận thù và chia rẽ, của óc độc quyền lẽ phải thì thế giới sẽ phải biết đến Việt Nam sau này như là vùng đất của sự bao dung, như là một mẫu mực thành công của tình anh em tìm lại, của sự hồi sinh từ hoang tàn và đổ nát.

         Đó là giấc mơ Việt Nam mà trên thềm thế kỷ 21 Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên muốn chia sẻ với đồng bào trong và ngoài nước.

 I.                 Nhiệm vụ lịch sử

Với một dân số đông đảo, những con người cần mẫn và một địa lý thuận lợi, Việt Nam có tiềm năng của một nước lớn và giàu mạnh, giữ một địa vị quan trọng trên thế giới, vẻ vang cho dân tộc và có ích cho loài người.

Mặc dầu vậy hiện nay chúng ta chỉ là một trong những nước nghèo và lạc hậu nhất thế giới. Mâu thuẫn đau lòng đó chất vấn mọi người Việt Nam trước ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới.

Bẩm sinh mọi con người, dù thuộc chủng tộc nào, đều có những khả năng như nhau. Nh¨ững chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và cách tổ chức xã hội. Trong những yếu tố đó tổ chức xã hội có tầm quan trọng vượt hẳn. Tổ chức xã hội tốt hay xấu, khéo hay vụng có thể thay đổi hẳn số phận của một dân tộc. Thế giới đã thấy nhiều quốc gia mặc dầu đất đai chật hẹp, tài nguyên ít ỏi mà vươn lên mạnh mẽ trong khi nhiều quốc gia khác tuy rất được thiên nhiên ưu đãi mà vẫn quằn quại trong cảnh nghèo đói. Chúng ta càng ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của tổ chức xã hội khi nhìn vào sự cách biệt hiện nay : bảy quốc gia phát triển nhất tuy dân số chỉ xấp xỉ 12% số người trên trái đất nhưng lại tập trung quá 2/3 tổng sản lượng của thế giới ; lợi tức của một người Nhật lớn gấp một trăm lần lợi tức của một người Việt Nam. Sự thua kém hổ nhục này một mặt bắt buộc chúng ta suy nghĩ về mình để tìm một lối đi cho mình, một mặt cho phép chúng ta tin tưởng rằng nếu tổ chức lại đất nước một cách hợp lý chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi cảnh nghèo đói và sẽ vươn lên mạnh mẽ.

Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội lịch sử.

Vào buổi rạng đông của thời đại mới, chúng ta, cũng như hầu hết các nước phương Đông, đã không ý thức được rằng đã đến lúc phải xét lại toàn bộ các giá trị và tập quán, phải đổi mới hoàn toàn cách suy nghĩ và tổ chức. Trong nhiều thế kỷ chúng ta đã hài lòng với khuôn mẫu xơ cứng Khổng Mạnh, bỏ mất óc sáng tạo và dẫm chân tại chỗ ; trong khi người Phương Tây, nhờ óc khách quan và phương pháp, nhờ biết xét lại và đổi mới không ngừng đã tiến lên mạnh mẽ, đã hơn hẳn phần còn lại của thế giới.

Vì không biết thích nghi kịp thời như một số quốc gia may mắn khác, chúng ta đã thất bại trước người Phương Tây, đã mất chủ quyền, đã phải chịu cái nhục bị đô hộ. Mất chủ quyền, chúng ta đã mất luôn khả năng hội ý với nhau để cùng nhau tìm một lối thoát cho đất nước, rồi từ đó dần dần mất luôn tinh thần đối thoại để dàn xếp những bất đồng.

Bước vào thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta phải giải quyết cùng một lúc hai vấn đề vô cùng khó khăn : giành chủ quyền dân tộc và thích nghi với một nền văn minh mới. Vì không đồng ý được với nhau trên một dự án quốc gia mới nên chúng ta đã xung đột với nhau ngay cả trên mục tiêu mà mọi người Việt Nam đều ao ước là lấy lại quyền tự chủ. Chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội để giành lại độc lập và vươn lên khi chế độ thực dân sụp đổ sau Thế Chiến II. Chúng ta đã chia rẽ, lên án nhau, mạt sát nhau và tiêu diệt nhau, với kết quả sau cùng là phùải chuốc lấy một trong những chế độ độc tài tồi tệ nhất ; trong khi các dân tộc khác dù không tốn hay chỉ tốn rất ít xương máu cũng đã được độc lập, và trong nhiều trường hợp còn xây dựng được cả dân chủ. Sự thiển cận cũng đã khiến chúng ta lỡ mất một cơ hội lớn khi hòa bình được tái lập năm 1975.

Ngày hôm nay nhân dân ta cơ cực và chán nản, đất nước ta kiệt quệ, tụt hậu và bế tắc. Các vấn đề kinh tế, xã hội, môi sinh, đạo đức, giáo dục, nhân mãn, v.v. chồng chất không được giải quyết càng ngày càng trở nên gay gắt hơn và chẳng bao lâu nữa có thể sẽ không còn giải đáp nếu đà băng hoại này cứ tiếp tục. Nước Việt Nam lúc đó có thể bị xóa tên khỏi danh sách các dân tộc có quyền nói tới hạnh phúc. Nhiệm vụ lịch sử của thời đại chúng ta là giải thoát dân tộc khỏi cảnh lầm than hiện nay và cứu đất nước khỏi nguy cơ bị thua kém vĩnh viễn.

Nguy cơ thua kém vĩnh viễn cũng là nguy cơ mất nước bởi vì trong thời đại này, khi ý niệm quốc gia dân tộc đang bị công phá từ mọi phía và đang bị xét lại, những quốc gia không đem lại được hạnh phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm thì muộn cũng sẽ bị giải thể.

Con đường ra khỏi bế tắc và vươn lên của chúng ta là dân chủ đa nguyên và nhân quyền. Dân chủ để đặt những vấn đề một cách đúng đắn và chọn một cách đúng đắn những giải pháp và những người trách nhiệm. Đa nguyên để tôn trọng mọi khác biệt, và để thực hiện hòa giùải dân tộc sau những xung đột đẫm máu. Nhân quyền để phát huy sinh lực và sáng kiến của mọi người.

Lịch sử của mọi dân tộc đều chứng tỏ nhân quyền chưa bao giờ ngăn cản ai xây dựng đời mình và dân chủ chưa bao giờ cấm đoán một dân tộc nào tiến lên. Dân chủ đi trước và mở đường cho phát triển, phát triển củng cố và phát huy dân chủ. Đó phải là niềm tin căn bản của mọi người dân chủ Việt Nam.

Nhìn lại đoạn đường đã đi qua ta phải nhìn nhận rằng nguyên nhân của mọi đổ vỡ mà nước ta đã phải chịu đựng là chúng ta đã không đầu tư đủ suy nghĩ để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và để tìm ra hướng giải quyết. Ở mỗi thời điểm, chúng ta luôn luôn thiếu một dự án chính trị thích hợp với thời đại mới và hoàn cảnh đất nước. Cuối cùng chúng ta đã tàn sát nhau vì những ý hệ vay mượn mà chúng ta bảo vệ một cách đam mê hơn cả những dân tộc đã khởi xướng ra chúng.

Đầu tư suy nghĩ vào một dự án chính trị như vậy là điều mà chúng ta phải làm trước hết.

Tổ chức xã hội rõ ràng là chìa khóa của tiến bộ, là yếu tố quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc. Nhưng tổ chức xã hội không thể có bằng sự áp đặt máy móc một khuôn mẫu mà phải được hình thành sau một quá trình trao đổi, do sự gặp gỡ giữa trí tuệ và những thực tại lịch sử, địa lý, văn hóa, đạo đức của mỗi dân tộc. Muốn thay đổi tổ chức xã hội, trước hết phải thay đổi những giá trị nền tảng của xã hội.

Máu và nước mắt của nhân dân, những đổ vỡ của đất nước, sự tủi nhục vì thua kém buộc chúng ta rút ra một bài học dứt khoát là phải từ bỏ tâm lý nóng vội, từ bỏ óc độc quyền lẽ phải, chế ngự lòng đam mê để đối thoại và thỏa hiệp với nhau trong tinh thần tương kính. Thái độ lương thiện và xây dựng này xuất phát từ nhận thức rằng mọi người Việt Nam đều ràng buộc với nhau trong một thân phận chung : nếu đất nước chúng ta giàu mạnh cuộc sống của chúng ta sẽ khá hơn và tất cả chúng ta đều được kính trọng ; ngược lại nếu đất nước chúng ta nghèo khổ và lạc hậu, tất cả chúng ta đều bị coi thường, bất luận chúng ta thuộc thành phần nào, đảng phái nào, hay theo chủ nghĩa nào. Trong hoàn cảnh bi đát hiện nay, điều tốt nhất cho mỗi người cũng là điều tốt nhất cho mọi người.

Dự án chính trị này có tham vọng đóng góp vào một ý thức chính trị mới Việt Nam. Nó muốn được những người dân chủ Việt Nam đón nhận như một tài liệu để thảo luận. Thảo luận để đi đến kết hợp giữa những người cùng theo đuổi một lý tưởng chung là xây dựng một đất nước Việt Nam mà những con người hôm nay có thể chấp nhận và các thế hệ mai sau có thể tự hào.

 II.             Bối cảnh quốc tế và Việt Nam

Chúng ta đang đứng trước một thế giới đầy hy vọng và thử thách. Các chế độ độc tài đang theo nhau sụp đổ. Làn sóng dân chủ đang trỗi dậy mạnh mẽ trên khắp thế giới. Số lượng các nước dân chủ tiếp tục gia tăng nhanh chóng. Các dân tộc vừa được giải tỏa khỏi ám ảnh thế chiến vừa được một cơ hội vô cùng thuận lợi để loại bỏ những tập đoàn chuyên chính và tổ chức lại xã hội của mình một cách hợp lý hơn. Nhưng mặt khác họ cũng bị đặt trước một thế giới tranh đua gay gắt hơn, với các thông số đã đổi mới.

1. Những nét đậm của thế giới hôm nay

 1.1.  Sự ra đời của một kỷ nguyên mới

 Thế giới đang trải qua một cuộc chuyển hóa trọng đại.

Các tiến bộ khoa học kỹ thuật dồn dập tới hằng ngày làm thay đổi hẳn bản chất của hoạt động kinh tế và những trao đổi giữa các quốc gia, đẩy các quốc gia vào một cuộc cạnh tranh dữ dội. Vận tốc thay đổi quá mau trong khi chưa ai biết chắc kết quả sẽ như thế nào. Một trật tự mới chưa hình thành trong khi nhiều dấu hiệu đáng ngại đã xuất hiện. Sự tranh đua tìm kiếm hiệu năng tối đa, phẩm chất cao nhất và giá thành thấp nhất không những buộc mọi xí nghiệp xét lại phương thức sản xuất và quản trị mà còn buộc nhiều quốc gia xét lại mô hình xã hội của mình. Mô thức Tây êu từ trước tới nay vẫn được coi, và xứng đáng được coi, là lý tưởng nhất vì dung hòa được một mức độ phát triển cao với một liên đới xã hội lớn đang gặp khó khăn trước sự cạnh tranh của những nền kinh tế duy hiệu năng và thuần túy thị trường. Đối với các nước chưa phát triển và cần được trợ giúp, các định chế tài chánh quốc tế không ngừng khuyến cáo và áp đặt những biện pháp ổn định tiền tệ mà hậu quả rõ nét nhất là chiết giảm những chi phí xã hội cần thiết để duy trì liên đới quốc gia.

Tuy vậy xu hướng căn bản toàn cầu vẫn là sự ra đời của một kỷ nguyên mới. Đó là kỷ nguyên đặt nền tảng trên những giá trị đã tạo ra sức mạnh của các nước tiên tiến : hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, môi trường và liên đới. Những thành tựu khoa học, kỹ thuật và kinh tế quyết định chỗ đứng của các dân tộc. Trong nhất thời, vai trò lãnh đạo thế giới thuộc về Hoa Kỳ và Tây êu. Trong vài thập niên nữa, một phần quan trọng của vai trò lãnh đạo sẽ chuyển sang khu vực Thái Bình Dương. Sau đó Trung Quốc và Nga, một khi đã chuyển hóa thành công về dân chủ, cũng sẽ vươn lên giành một vai trò quan trọng hơn. Ngôi vị có thể thay đổi, các liên minh cũng sẽ thay đổi, nhưng luật chơi sẽ không thay đổi vì các giá trị nền tảng sẽ không thay đổi. Các quốc gia không hiểu luật chơi này, hoặc còn do dự không chịu mau chóng thích nghi với các giá trị mới phải chờ đón một tương lai rất đen tối.

 1.2.  Hoa Kỳ và Trung Quốc

 Nét đậm nổi bật hiện nay là vai trò áp đảo của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ vừa là cường quốc vượt trội về mọi mặt, vừa là cường quốc có nhiều tiềm năng tiến lên nhất, do đó thế thượng phong của Hoa Kỳ sẽ còn kéo dài trong thế kỷ tới. Trong vài thập niên nữa sẽ khó có vấn đề quốc tế quan trọng nào có thể giải quyết được nếu không có sự thỏa thuận của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ vì vậy trở thành một vấn đề thế giới, và quốc gia nào dù muốn hay không cũng có vấn đề Hoa Kỳ của mình. Điều đáng mừng là cùng với sức mạnh vô địch đó Hoa Kỳ đồng thời cũng tỏ ra là cường quốc tích cực đem các vấn đề dân chủ và nhân quyền vào chính sách đối ngoại.

Nhưng nếu cả thế giới có vấn đề Hoa Kỳ thì các nước Đông Nam Á lại có thêm vấn đề Trung Quốc. Trung Quốc đang phát triển về mặt kinh tế và đang gia tăng sức mạnh quân sự. Điều đáng lo ngại là Trung Quốc cho tới nay một mặt phủ nhận trắng trợn các giá trị dân chủ và nhân quyền, mặt khác tỏ ra muốn sử dụng sức mạnh quân sự của mình cho một chính sách bá quyền khu vực. Châu Á cũng là khu vực có nhiều hiểm họa chiến tranh nhất trên thế giới hiện nay. Sự kiện Trung Quốc vừa gia tăng sức mạnh quân sự vừa để lộ một số tham vọng bá quyền đã làm mọi nước trong vùng lo ngại. Mối quan tâm đối với Trung Quốc đã là nguyên nhân cho một cuộc chạy đua võ trang nguy hiểm trong vùng, làm cho tình hình căng thẳng thêm. Trong tình huống đó, Việt Nam là nước có nhiều tranh tụng nhất với Trung Quốc lại cũng là nước không có khả năng tài chánh để tân trang vũ khí và tăng cường quân lực. Sức mạnh quân sự của nước ta sút kém một cách báo động trong khi áp lực gia tăng.

 1.3.  Một sự thật đã rõ ràng : các chế độ cộng sản cáo chung trong hòa bình

 Một yếu tố đầy ý nghĩa là sự thích nghi với dân chủ của các đảng phái kết hợp những người cộng sản cũ tại Đông êu và Liên Xô cũ. Tại các nước này, các đảng cộng sản đã từ bỏ độc quyền chính trị và chấp nhận luật chơi dân chủ. Trong nhiều trường hợp họ đã mất chính quyền nhưng nhờ biết thích nghi với tình hình mới họ đã trở thành những chính đảng có trọng lượng trong sinh hoạt_ chính trị và đã giành lại được chính quyền một cách hợp pháp tại nhiều nước. Nhờ tinh thần hòa giải dân tộc, các quốc gia này đã chuyển hóa thành công về dân chủ trong hòa bình.

Các nước cộng sản cũ tại Đông êu và Liên Xô đã gặp rất nhiều khó khăn và xáo trộn về mặt kinh tế và xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp, do di sản cực kỳ bi đát của các chế độ cộng sản để lại, nhưng đã vượt qua được hay sắp vượt qua được. Tại các nước này, xã hội dân sự đã thành hình và bắt đầu phát triển ; sinh hoạt kinh tế xã hội đã bắt đầu ổn vững. Nhiều nước đã phát triển mạnh, nhiều nước đang bắt đầu phát triển, các quốc gia còn lại đang trên đường ra khỏi giai đoạn khó khăn. Quan trọng hơn cả là xã hội, dù còn nhiều mặt yếu kém, nói chung đã được đặt trên một nền tảng lành mạnh. Các nước cộng sản đã chấp nhận dân chủ hóa giờ đây có thể hướng về tương lai với niềm tin và hy vọng. Trái lại, bốn chế độ cộng sản ngoan cố - Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba - vẫn còn là những bệnh nhân chưa được giải phẫu với một ngày mai đầy bất trắc.

Điều cần được đặc biệt nhấn mạnh là tất cả các nước từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và dân chủ hóa một cách rất nhanh chóng đều đã không bị rơi vào hỗn loạn.

 1.4.  Dân chủ giành được thắng lợi tại châu Á

 Một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương, nhờ chấp nhận sớm kinh tế thị trường và nới rộng một số quyền tự do căn bản đã đạt được những thành quả ngoạn mục.

Sự thành công ngoài mức độ chờ đợi trong một giai đoạn đã cho họ ảo tưởng rằng có thể phát triển kinh tế mà không cần dân chủ hóa theo cùng một nhịp độ. Cuộc khủng hoảng tài chính mùa hè 1997 đã gọi họ về với sự thực là dân chủ phải đi trước và mở đường cho phát triển. Họ đã phải trả giá rất đắt, thành quả của nhiều năm cố gắng đã tiêu tan, kéo theo vô số thảm kịch xã hội. Nhưng họ đã hiểu và đã trở thành những nước dân chủ. Họ đã tìm lại được đà phát triển và lần này họ sẽ phát triển một cách lành mạnh và bền vững. Sự chuyển hóa thẳng thắn của các nước Đông Á về dân chủ đã là biến cố quan trọng nhất trong ba năm cuối cùng của thế kỷ 20 và sẽ làm thay đổi hẳn bối cảnh chính trị trong vùng Đông Nam châu Á. Chế độ độc tài cộng sản Việt Nam sẽ hoàn toàn bị cô lập và sự thua kém của Việt Nam so với các nước lân cận sẽ ngày một bi đát hơn nếu đất nước không kịp thời thay đổi định hướng.

Điều cũng cần được nhấn mạnh tại đây là tất cả các nước châu Á đã trở thành ổn định hơn sau khi dân chủ hóa một cách nhanh chóng, trái hẳn với lập luận của các tập đoàn cầm quyền trước đây cho rằng dân chủ có thể đưa đến hỗn loạn.

 1.5.  Phong trào toàn cầu hóa đe dọa mọi quốc gia

 Hiện tượng rất mới và cần được ý thức đúng mức là sự xuống cấp toàn cầu của ý niệm quốc gia.      Nhiều quốc gia tan vỡ mà không hề bị ngoại xâm, tan vỡ trong hỗn loạn, như tại nhiều nước châu Phi, hay tan vỡ thành những quốc gia nhỏ, như Tiệp Khắc, Nam Tư và Ethiopia. Sự toàn vẹn của nước Canada, dân chủ và phồn vinh, đã chỉ được duy trì sau một cuộc trưng cầu dân ý rất khít khao, nhưng nguy cơ ly khai vẫn còn nguyên vẹn.

Ý niệm quốc gia dân tộc đang bị công phá từ mọi phía. Từ bên ngoài do những kết hợp khu vực hứa hẹn một không gian hoạt động lớn hơn không gian quốc gia, từ bên trong do các cộng đồng sắc tộc đòi tự trị, và từ cả trong lẫn ngoài do những công ty đa quốc gia và những trao đổi dồn dập và ngày càng gia tăng vận tốc. Các phương tiện giao thông và truyền thông hiện đại cũng đã làm cho trái đất nhỏ lại và đem con người tới gần nhau.

Khuynh hướng áp đảo hiện nay là khuynh hướng toàn cầu hóa. Tư bản không còn tổ quốc. Các công ty lớn tìm cơ hội đầu tư trên khắp thế giới và lập các kế hoạch sản xuất, tiếp thị, phân phối trên qui mô toàn cầu. Trong cố gắng tìm trọng lượng và địa bàn hoạt động lớn hơn, các công ty ngày càng sát nhập với nhau tạo ra những tổ hợp với tầm vóc vĩ đại. Nhiều tổ hợp có tích sản lớn hơn tổng sản lượng của nhiều quốc gia cộng lại ; đã có một số công ty có trị giá tích sản lớn hơn hay tương đương với tổng sản lượng của cả khối ASEAN với trên 500 triệu người. Trong một thế giới hòa bình, quyền lực kinh tế tự nó đã là quyền lực quan trọng nhất, nhưng nó cũng có thể xâm lấn quyền lực chính trị. Sự xuất hiện của những công ty đa quốc gia khổng lồ là một thách đố ngày càng lớn cho các quốc gia và cho chính ý niệm quốc gia. Các qui luật thương mại đang nhanh chóng được hình thành và áp dụng cho cả thế giới. Các quyền con người ngày càng được nhìn nhận là phổ cập, được coi như bước đầu của luật pháp quốc tế và được đặt lên trên luật pháp của các quốc gia. Các mạng lưới truyền thông, đặc biệt là mạng lưới Internet cho phép những con người ở rất xa nhau trao đổi và làm việc trực tiếp với nhau. Một người có thể làm việc cho một cơ quan cách nửa vòng trái đất nơi mình cư trú. Khoảng cách đang biến mất. Sự hiện diện ảo đang trở thành thực và có tác dụng không kém sự hiện diện thân xác. Một công dân có thể thường trú ở nước ngoài mà vẫn phục vụ được đất nước mình một cách thường trực và đều đặn như một người trong nước. Cả một "thế giới ảo" đang hình thành với tầm quan trọng gia tăng nhanh chóng. Ngay lùúc này những trao đổi văn hóa, khoa học, kỹ thuật tài chính và thương mại trong thế giới ảo này, qua mạng lưới Internet, đã rất quan trọng. Trong một tương lai không xa thế giới ảo này sẽ lấn át thế giới thực, biến thế giới thực thành một trong những biểu hiện của nó.

Cuộc chuyển hóa vĩ đại chỉ mới bắt đầu này ngày càng biến mỗi người thành một con người của thế giới trước khi là công dân của một nước. Ý niệm quốc gia dân tộc bị tương đối hóa. Quốc gia không còn là một cứu cánh thiêng liêng mà phải là một phương tiện để xây dựng hạnh phúc cho dân tộc. Trong bối cảnh thế giới hiện nay và sắp tới, một quốc gia không được quan niệm như một tình cảm, một đồng thuận, một dự án tương lai và một không gian liên đới sẽ không thể tồn tại lâu dài. Một quốc gia không đảm bảo an ninh và nhân phẩm, không đem lại phúc lợi thực tiễn và niềm tự hào cho người dân - hơn nữa nếu biên giới quốc gia được coi như tường thành ngăn cản các giá trị tiến bộ và qui định một vùng lộng hành an toàn của các tập đoàn bạo ngược - lại càng tan vỡ nhanh hơn và bi đát hơn. Trong thời đại mới này, chúng ta cần ý thức rằng các tập đoàn cầm quyền thiếu văn hóa và thiếu tầm nhìn là những tai họa cho sự tồn vong của các quốc gia. Các chế độ độc tài bạo ngược giết chết các quốc gia, càng tồi dở và độc ác bao nhiêu chúng càng giết chết nhanh chóng các quốc gia bấy nhiêu.

 1.6.  Những liên minh ý thức hệ nhường chỗ cho những hợp tác phát triển

 Sự sụp đổ của khối cộng sản đã chấm dứt tranh chấp tư bản - cộng sản và làm mất vai trò của các liên minh ý thức hệ. Thay vào đó đã xuất hiện những liên minh có mục đích kinh tế, nổi bật nhất là các kết hợp khu vực. Thế giới đang dần dần được phân chia thành một số tập hợp địa lý lớn trong đó các quốc gia vừa cạnh tranh với nhau vừa nương tựa lẫn nhau trong cuộc thi đua với phần còn lại của thế giới. Trong lòng các tập hợp này các biên giới quốc gia, các hàng rào quan thuế càng ngày càng mờ nhạt đi, sự di chuyển của người, hàng hóa và tư tưởng càng ngày càng dễ dàng. Biên giới giữa ngoại giao và ngoại thương càng ngày càng khó xác định. Các quốc gia tìm mọi cơ hội, dựa vào mọi lý do - tôn giáo, ngôn ngữ, đồng dạng về sản xuất, v.v. - để thắt những mối bang giao, tạo những liên hệ hợp tác, thành lập các liên minh. Trong thế giới ngày nay cô lập là chết. Các quốc gia không muốn hay không có phương tiện để tham gia và vận dụng những liên hệ hợp tác này kể như tuyệt vọng, vì bị gạt ra ngoài lề sinh hoạt của một thế giới liên lập.

 2. Các nước chưa phát triển và bối cảnh thế giới mới

 2.1.  Hai bất lợi lớn

 Bối cảnh thế giới hiện nay chứa đựng hai bất lợi lớn cho các nước chưa phát triển như Việt Nam.

Một là, sự giải thể của phong trào cộng sản thế giới tuy là điều rất đáng mừng, nhưng cũng đặt ra những vấn đề nghiêm trọng cho các nước chậm chân lỡ bước. Phong trào cộng sản thế giới đã là thảm kịch cho nhiều dân tộc nhưng cũng đã có tác dụng răn đe các cường quốc tư bản trong cách đối xử với các nước chậm tiến. Với sự biến mất của khối cộng sản, thế giới ngày nay gần giống như một quốc gia không có đối lập. Các nước kém mở mang sẽ gặp nhiều khó khăn mới. Chúng ta sẽ không còn phải lo ngại tệ chiếm đóng, thống trị và vơ vét tài nguyên của những thế kỷ trước nữa, nhưng cảnh lớn nuốt bé, mạnh hiếp yếu là điều chắc chắn vẫn có và còn có cơ nguy gia tăng. Những dân tộc phân hóa, chia rẽ, thiếu sáng kiến, chậm thích nghi sẽ là nạn nhân của trận đấu mới. Lần này sự chèn ép sẽ không trắng trợn và dã man mà diễn ra theo những qui luật hợp pháp.

Hai là, những tiến bộ dồn dập và trọng đại trong ngành vi điện tử và ngành tin học đang đưa tới một trào lưu tự động hóa càng ngày càng cao khiến cho nhân công rẻ không còn là một yếu tố tự nó đủ sức thuyết phục để lôi kéo đầu tư nữa, các nước kém mở mang đang mất dần đi một vũ khí chiến lược. Chính trị ổn vững, trật tự bảo đảm, luật pháp giản dị, thuế khóa nhẹ nhàng, điều kiện địa lý thuận lợi, thị trường tiêu thụ lớn, nguồn nhân lực có kỹ năng và hiệu năng là những vũ khí chiến lược phải có để tranh thủ đầu tư quốc tế. Đó lại thường là những yếu tố mà các nước kém mở mang khó hội đủ.

 2.2.  Bốn thuận lợi

 Ngược lại, bối cảnh thế giới mới cũng có những lợi điểm mà các nước kém mở mang có thể vận dụng.

Một là, các chế độ độc tài sẽ không còn được dung dưỡng vì những liên minh ý thức hệ nữa và dần dần bị đào thải. Các dân tộc sẽ được cởi trói, nhiều sinh lực sẽ được giải tỏa, các quốc gia sẽ được quản trị một cách hợp lý hơn, dù là sau một thời gian dọ dẫm. Sự đào thải của các chế độ độc tài là may mắn rất lớn cho các nước chậm tiến. Kinh nghiệm đã cho thấy mọi chế độ độc tài đều độc hại. Dưới chiêu bài duy trì kỷ luật và trật tự, các chế độ độc tài chỉ là những sào huyệt tham nhũng và lạm quyền, cho phép những tập đoàn lưu manh, thoái hóa kềm kẹp nhân dân và ngăn cản mọi tiến bộ.

Hai là, kinh tế trở thành mối ưu tư hàng đầu của mọi quốc gia. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước giàu mạnh với nhau trong một thế giới mà ngôi vị thay đổi không ngừng cũng khiến các công ty lớn và các nước đã mở mang luôn luôn phải tìm những thị trường mới, những vận hội đầu tư mới. Các nước kém mở mang nếu biết tạo một bối cảnh xã hội ổn vững, những điều kiện kinh tế thuận lợi, nếu không bị lên án và cô lập sẽ có khả năng tìm được những nguồn hợp tác rất có lợi.

Ba là, do những tiến bộ về truyền thông và giao thông vận tải, cũng như do dân số trên trái đất càng ngày càng đông, thế giới đã nhỏ lại và các quốc gia đều trở thành liên thuộc với nhau và lệ thuộc lẫn nhau. Một ý thức mới đã ra đời theo đó trái đất là quê hương chung của cả nhân loại. Mọi quốc gia đều cảm thấy nhu cầu được sống trong một thế giới không bị đe dọa. Càng giàu có và phát triển các dân tộc càng thấy cần phải đảm bảo những thành tựu của mình bằng cách đóng góp cho một thế giới an bình và ổn vững. Do đó dù muốn dù không, các nước giàu mạnh cũng không thể để mặc các quốc gia khác sống trong sự bần cùng. Đây không phải là một bắt buộc do lòng nhân đạo, mà do thế liên thuộc mật thiết. Một thí dụ cụ thể là vấn đề môi sinh. Chernobyl không phải đã chỉ là một tai họa của riêng Ukraine. Các ống thoát khói tại ‰ên Độ không phải chỉ ô nhiễm không gian của ‰ên Độ, do đó không phải chỉ là vấn đề của ‰ên Độ mà là vấn đề của cả thế giới. Sự phá hủy rừng Amazon không phải là vấn đề riêng của nước Brazil. Những ô nhiễm của vùng biển Việt Nam là vấn đề của cả Đông Nam Á. Một thí dụ khác là phong trào di dân từ các nước nghèo sang các nước giàu, đặt cho các nước giàu mạnh hàng loạt những vấn đề nan giải. Thế liên thuộc bắt buộc các nước mở mang tạo điều kiện giúp các nước chậm tiến có cơ hội để phát triển. Sự tương trợ này, dù chỉ xuất phát từ nguyện vọng của các nước phát triển là khỏi phải sống trong một thế giới quá nhiều hiểm họa, cũng là cơ may mà các nước thua kém có thể lợi dụng để vươn lên.

Bốn là, những đòi hỏi về hạnh phúc và tiện nghi của các dân tộc đã mở mang tăng lên mau chóng, có phần nhanh hơn cả đà phát triển kinh tế của họ. Số giờ làm việc ngày càng giảm đi, lương bổng ngày càng tăng thêm, các chi tiêu công cộng về xã hội, văn hóa, nghệ thuật, tiện nghi sẽ tăng cao kéo theo sự gia tăng về thuế khóa. Dĩ nhiên những phát minh mới sẽ không ngừng xuất hiện để hạ giá thành xuống và nâng phẩm chất lên, nhưng trong thế giới truyền thông hiện nay các phát minh này nếu xuất hiện ở các nước đã phát triển cũng sẽ mau chóng được phổ biến sang các nước khác. Cuối cùng khuynh hướng chung tại các nước có mức sống cao vẫn là giá thành, tỷ lệ lợi nhuận và phần tái đầu tư của tổng sản lượng quốc gia chênh lệch một cách bất lợi so với các nước đang phát triển. Trong tình trạng này, nhân dân các nước kém mở mang, vì ít đòi hỏi về tiện nghi và tiêu thụ hơn, sẽ có khả năng chấp nhận những hy sinh và cố gắng hơn hẳn, do đó có triển vọng cạnh tranh hữu hiệu với các nước mở mang. Chúng ta có thể tiên liệu rằng, trước khi đi tới cạnh tranh về mọi mặt, thế giới sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp khá dài trong đó, nói chung, các nước vừa mới mở mang sẽ sản xuất phần lớn hàng hóa và vật dụng trong khi các nước đã đạt tới mức phát triển cao cung cấp phần lớn tư bản, dịch vụ, hàng hóa phẩm chất cao và thiết bị sản xuất. Cho nên đối với những quốc gia kém mở mang, từ nay cho tới một vài thập niên nữa, sự cạnh tranh gay go nhất sẽ là sự tranh đua giữa chính họ với nhau. Sự tranh đua này sẽ rất khó khăn đối với các nước hoặc kém mở mang nhất, hoặc không thích nghi thật nhanh với tình thế.

 3. Việt Nam trong bối cảnh thế giới mới

 3.1. Nguy cơ

 Trong một bối cảnh quốc tế như vậy, tương lai của Việt Nam rất bấp bênh.

Mặc dầu trên nguyên tắc nước ta đã có quan hệ bình thường với mọi quốc gia và đã là thành viên của ASEAN, nhưng sự theo đuổi một cách ngoan cố chủ nghĩa Mác-Lênin, những vi phạm trắng trợn về nhân quyền và dân quyền, tệ quan liêu và tham nhũng, sự do dự trước những cải tổ cần thiết và cách cư xử thô vụng trong những giao thiệp quốc tế đã khiến Việt Nam lâm vào một thế cô lập lớn trên thực tế. Việt Nam vắng mặt trong hầu hết mọi chương trình hợp tác và cũng vắng mặt trên mọi thị trường quốc tế quan trọng.

Chính sách mở cửa về kinh tế thị trường được thực hiện từ 1987 đã cải thiện một cách đáng kể mức sống của nhân dân nhưng đã mau chóng đạt tới giới hạn của nó. Từ 1996 trở đi đà tăng trưởng đã khựng lại sau quyết định xiết lại của đại hội 8 của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Dưới áp lực của những khó khăn ngày càng gia tăng, đảng cộng sản gần đây đã phải chấp nhận một số biện pháp cải tổ kinh tế, nhưng sự ngoan cố từ chối cải tổ chính trị vẫn không cho phép Việt Nam ra khỏi trì trệ.

Ngoại thương của Việt Nam, dù đã phần nào gia tăng, vẫn không đáng kể, đầu tư đã thấp lại sút giảm trong những năm gần đây trong khi các quốc gia khác không ngừng vận dụng mọi sáng kiến để thu hút tư bản quốc tế dựa trên ưu thế sẵn có. Lợi tức quốc gia quá thấp đã khiến chính quyền bỏ rơi giáo dục, cơ sở hạ tầng, thiết bị sản xuất và ngay cả những ưu tư tối thiểu về lương thực và sức khỏe cho dân chúng.

Chất liệu nhân xã của chúng ta đã bị rách nát do những cuộc tương tàn kéo dài và thảm khốc, do tinh thần bất dung và thù hận mà những cuộc chiến này đẻ ra, do chính sách phân biệt đối xử mà đảng cộng sản thi hành trong suốt thời gian qua, do chênh lệch giàu nghèo quá lộ liễu và do sự nghi hoặc toàn diện của dân chúng đối với các giá trị cơ bản của mọi xã hội.

Công nghiệp đã bị quản lý một cách thô vụng lại còn phải chịu sự cạnh tranh bất chính của hàng nhập cảng lậu thuế. Nhiều thiết bị sản xuất đã cũ và lỗi thời nhưng vẫn chưa thay thế được. Nhiều cơ sở hạ tầng hư hao mà không được tu bổ.

Trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến một thảm kịch mới : đó là sự hao mòn ngay ở nền tảng của đất nước. Cây rừng bị chặt phá để xuất khẩu tống tháo lấy ngoại tệ, bờ biển bị ô nhi%ễm, đất nước trở thành cằn cỗi, lụt lội và hạn hán kế tiếp nhau hàng năm. Đất nước không những chỉ bị hủy hoại mà còn bị đem bán, rất nhiều vùng đất có giá trị kinh tế chiến lược đã bị người ngoại quốc mua mất.

Đồng thời tài nguyên quí nhất của quốc gia là con người cũng bị xuống cấp một cách thê thảm. Sức khỏe của nhân dân suy nhược vì thiếu dinh dưỡng, thuốc men và chăm sóc. Các chứng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lan tràn một cách báo động mà không có biện pháp ngăn chặn. Thanh thiếu niên bỏ học hàng loạt. Trí tuệ dân tộc suy giảm nặng với sự xuống cấp bi đát của hệ thống giáo dục. Tệ nghiện ma túy ngày càng gia tăng. Cuộc sống khó khăn làm con người càng ngày càng rời xa các giá trị căn bản của mọi xã hội : đạo đức, lương thiện, thật thà, cần cù, kỷ luật, v.v.

Giềng mối của xã hội cũng bị tan rã : bất công lộ liễu và thách đố, trộm cướp hoành hành công khai, buôn lậu trở thành một phong trào quốc gia, tham nhũng trở thành một thông lệ, sự dối trá, giật giọc trở thành một nếp sống.

Trước thực trạng nguy ngập đó, nhà cầm quyền thay vì dồn mọi cố gắng để cứu nước lại áp đặt làm mục tiêu hàng đầu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, một chủ nghĩa đã bị cả thế giới, kể cả các nước đã khai sinh ra nó, từ bỏ và đã bị nhân dân Việt Nam coi là nguyên nhân của tình trạng bi đát hiện nay. Nhà nước cộng sản đã thất bại trên mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt, nhưng vẫn tiếp tục cầm quyền như một thách đố với nhân dân và không những thế, còn khẳng định quyết tâm giữ độc quyền chính trị vô hạn định. Nhà nước cộng sản vì vậy là một khiêu khích hàng ngày đối với nhân dân và một tai họa. Tai họa đó kéo dài quá lâu đã khiến người dân, bất lực và chán chường, không những chỉ ghét chính quyền mà còn dần dần mất cả lòng tin vào đất nước. Mỗi người tự luồn lách để tìm những giải đáp cá nhân cho những vấn đề cá nhân. Mộng ước của rất nhiều người Việt Nam ngày hôm nay là được rời khỏi Việt Nam và làm công dân của một nước khác. Nhà nước mất dần độc quyền bạo lực về tay các băng đảng trộm cướp và xã hội đen, và ngày càng mất quyền thu thuế do tình trạng buôn lậu và tham nhũng. Chúng ta đang tiến dần tới sự giải thể quốc gia. Chúng ta phải thét lên tiếng thét báo động. Nếu đà này tiếp tục, ý niệm quốc gia có lúc sẽ mất hết nội dung, các ý đồ ly khai, tự trị sẽ xuất hiện và tăng trưởng, các thế lực ngoại bang sẽ ngày càng có điều kiện khuynh loát chúng ta, trong một thế giới mà ý niệm quốc gia dân tộc đang bị chất vấn. Sự tồn vong của chính đất nước ngày càng không chắc chắn.

 3.2. Triển vọng

 Ngược lại, chúng ta cũng có những căn bản tốt có thể và cần được sử dụng triệt để cho cố gắng phục hưng.

Chúng ta có một ngôn ngữ đồng nhất trong cả nước, một ngôn ngữ dễ học và khá đầy đủ để chuyên chở mọi kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật.

Chúng ta có một dân số khá đông đảo, gần 80 triệu dân, đứng hàng thứ 13 trên thế giới. Dân số đông đảo này tuy là một trở ngại lớn cho cố gắng nâng cao mức sống nhưng cũng là một sức mạnh. Người Việt Nam ta minh mẫn và siêng năng trên mức trung bình. Trong quá khứ chúng ta đã chứng tỏ khả năng tiếp thu mau chóng các khoa học và kỹ thuật mới nhất ; sinh viên Việt Nam đã thành công đông đảo và mỹ mãn trong những cuộc thi tuyển khó khăn tại mọi quốc gia trên thế giới ; thợ Việt Nam học nghề mau chóng và được sự thán phục của mọi người. Những người Việt Nam di tản ra nước ngoài cũng đã chứng tỏ một khả năng thích ứng xuất sắc với điều kiện sinh hoạt hoàn toàn mới. Có thể nói chúng ta là một dân tộc tinh anh. Một vốn liếng như vậy dù có bị soi mòn đến đâu đi nữa cũng không thể mất hẳn trong vòng một hai thế hệ. Nếu tìm ra được tổ chức xã hội hợp lý con người Việt Nam có thể phục hồi được. Và một khi con người Việt Nam đã được phục hồi chúng ta sẽ có một tài nguyên nhân lực rất hùng hậu.

Trong suốt dòng lịch sử khó khăn nhưng oanh liệt, người Việt Nam đã biểu lộ một nguyện vọng tha thiết muốn giữ nước để sống chung với nhau và xây dựng cùng nhau một tương lai Việt Nam chung. Lòng yêu nước của người Việt dù đã rất suy giảm vì thất vọng và bực bội vẫn còn có thể khôi phục. Dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ một sức sống phi thường, đã thắng được nhiều thử thách vô cùng cam go. Chúng ta vẫn còn đủ sức để vượt qua thử thách hôm nay nếu biết kịp thời trấn tĩnh.

Chúng ta có một địa lý vô cùng thuận lợi. Đất đai của ta tuy hẹp nhưng phì nhiêu, nông nghiệp của ta nếu hoạt động một cách hợp lý không những có khả năng sản xuất đủ lương thực cho dân chúng mà còn có khả năng xuất cảng. Bờ biển của ta dài và đẹp, nước ta nằm ngay sát nhiều trục giao thông quan trọng và ở ngay giữa một vùng đang phát triển mạnh mẽ có tất cả mọi triển vọng để trở thành một trung tâm kinh tế chiến lược lớn của thế giới. Chúng ta có tiềm năng của một quốc gia rất lớn về du lịch, công nghiệp và thương nghiệp. Sự chuyển hóa về dân chủ gần đây của các nước Đông Nam Á cũng là yếu tố tích cực mới, tạo ra một bối cảnh ngày càng lành mạnh và văn minh, có tác dụng thôi thúc đối với mọi người Việt Nam.

Chúng ta đang sống một thay đổi tư duy mang rất nhiều hy vọng. Những cuộc chiến khốc liệt tàn phá đất nước đã khiến người Việt Nam ý thức cái tai hại của bạo lực. Chúng ta đã đạt tới đồng thuận rằng hòa bình là giá trị đáng quí nhất trong mọi giá trị. Kinh nghiệm các chế độ độc tài gian trá kế tiếp nhau cũng đã giúp chúng ta tin tưởng một cách thầm kín vào tự do dân chủ. Chiến tranh lạnh chấm dứt cũng đang giúp chúng ta đoạn tuyệt với tâm lý trông cậy ở các liên minh ý thức hệ để dựa vào chính mình, và do đó đã hiểu rằng cần phải hòa giải với nhau, đoàn kết với nhau để giải quyết những vấn đề chung và xây dựng tương lai chung. Chúng ta cũng đã chấm dứt được những bàn cãi về mô thức kinh tế để nhận định rằng chỉ có một nền kinh tế thị trường lấy cạnh tranh và sáng kiến cá nhân làm nền tảng là có thể thành công. Chúng ta cũng đã thấu hiểu trong óc, trong tim, trong da, trong thịt những hậu quả bi đát của hận thù và chia rẽ. Trên rất nhiều điểm cơ bản, trí tuệ Việt Nam đã được khai thông.

 III.         Đồng thuận nền tảng cho một cố gắng quốc gia mới

Thời đại của các chủ nghĩa và ý thức hệ đã chấm dứt. Từ nay không còn những chân lý không thể đặt lại. Tuy vậy, một tập hợp chính trị trong mỗi giai đoạn vẫn cần đồng thuận trên một số nhận định nền tảng.

Giữa những thay đổi dồn dập đòi hỏi những chính sách và biện pháp đa dạng và phức tạp để thích nghi với tình thế, mọi người cần nắm vững những chọn lựa nền tảng, nghĩa là những gì không thay đổi và giải thích cái tại sao của các biện pháp và chính sách. Đó là điều kiện để đất nước không mất phương hướng và để người dân có thể hiểu và đóng góp một cách có ý thức vào sinh hoạt quốc gia. Chúng ta là một dân tộc đông đảo và phải đương đầu với rất nhiều vấn đề trầm trọng và gai góc, công việc của chúng ta chắc chắn là rất phức tạp. Chính sự phức tạp đó đòi hỏi các tổ chức chính trị phải minh định những chọn lựa có tính chủ thuyết, chủ thuyết được hiểu theo nghĩa không phải là chủ nghĩa hay ý thức hệ, cũng không phải là những học thuyết với cấu trúc lý luận phức tạp, mà là những ý kiến đơn giản được coi là đúng và được lấy làm căn bản cho các chính sách và biện pháp trong một giai đoạn khá dài.

Đồng thuận căn bản của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên gồm bốn điểm sau đây : đất nước phải được quan niệm như một không gian liên đới và một tương lai chung, thể chế chính trị cho Việt Nam là dân chủ đa nguyên, tinh thần chỉ đạo của cố gắng làm lại đất nước là hòa giải và hòa hợp dân tộc, cố gắng phát triển kinh tế phải đặt trên nền tảng kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân.

  1. Quốc gia : một không gian liên đới và một dự án tương lai chung

Nước Việt Nam ta đã hình thành từ ngàn xưa và đã có hơn hai ngàn năm lịch sử. Đó là một sự kiện mà mọi người Việt đều có thể tự hào. Tuy vậy, cũng như mọi nước khác, chúng ta mới chỉ biết đến khái niệm quốc gia, hiểu theo nghĩa một thực thể thuộc quyền sở hữu của mọi người, gần đây thôi. Lý do là vì chính ý niệm quốc gia cũng là một ý niệm rất mới, được khai sinh ra cùng với dân chủ.

Cho tới khi ý niệm dân chủ ra đời, các vương quốc chỉ là của một nhà vua. Lãnh thổ cũng như người dân thuộc quyền sở hữu của vua và bị đặt dưới quyền quyết định độc quyền và tuyệt đối của vua. Đất cũng như dân có thể đổi chủ một cách tùy tiện theo sự chuyển nhượng giữa các vua chúa. Trong bối cảnh đó không thể có các quốc gia đúng nghĩa. Sự quyến luyến với mảnh đất của tổ tiên và những người quen thuộc chưa phải là tinh thần dân tộc hay lòng yêu nước. Người dân không có thẩm quyền nào trên đất nước thì cũng không có trách nhiệm nào đối với đất nước. Ý thức dân chủ đã biến các vương quốc thành những quốc gia và đã là nền tảng cho một nhà nước, hay chính quyền, của dân, do dân và vì dân. 

Khác hẳn với các vương quốc đã dần dần hình thành với thời gian, quốc gia là một thực thể bao gồm một lãnh thổ, một chính quyền, một di sản văn hóa lịch sử và những con người bình đẳng gắn bó với lãnh thổ đó, chấp nhận chính quyền đó, chia sẻ di sản lịch sử và văn hóa đó và, quan trọng hơn hết, chấp nhận xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Quốc gia ở trên mọi người và là của chung mọi người.

Cùng với ý niệm quốc gia như là một thực thể của chung mọi người nhưng cũng là của mỗi người đã xuất hiện một ý thức cộng đồng theo đó mỗi người không thể hoàn toàn tự giải quyết lấy mọi vấn đề cá nhân của mình, trái lại sự thành công hay thất bại của mỗi người còn tùy thuộc vào một quốc gia mà mỗi người từ nay vừa có bổn phận vừa có quyền lợi lại vừa có thẩm quyền đóng góp để bảo vệ và cải thiện. Ý thức cộng đồng này đến lượt nó tạo ra lòng yêu nước, một tình yêu đối với những người thân thuộc, đồng hành và cùng phấn đấu với mình. Lòng yêu nước này không thể bị đồng hóa với tinh thần bài ngoại của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Nhà nước dân chủ, đặt nền tảng trên ý niệm quốc gia, đã là tiến bộ vĩ đại nhất của loài người trong các thế kỷ 17 và 18. Những nhà nước-quốc gia này vì được tổ chức để khuyến khích và đón nhận sự hưởng ứng tự do và tự nguyện của mọi người đã giải tỏa sinh lực, ý kiến và sáng kiến của toàn dân, đã thúc đẩy mọi tiến bộ khoa học, kỹ thuật, triết học, văn hóa và nghệ thuật và đã khiến các nước phương Tây vượt xa hẳn phần còn lại của thế giới. Trong chiều sâu, lý do chính đã khiến các nước phương Tây đột ngột gia tăng sức mạnh là sự khám phá ra ý niệm quốc gia.

May mắn hơn nhiều dân tộc khác, người Việt Nam có một truyền thống sống chung lâu dài và ổn vững do điều kiện địa lý đặc biệt. Phần đất lâu đời của chúng ta, miền Bắc, được vách núi dầy dặc về phía Bắc và phía Tây bao che trong khi phía Đông tựa lưng ra biển cả. Nhờ tình trạng biệt lập đó mà biên giới cũng như cấu tạo nhân văn của ta đã không thay đổi bao nhiêu trong nhiều thế kỷ. Do đó mà ý thức cộng đồng và sự quyến luyến với quê cha đất tổ rất cao và đã có thể làm nền tảng cho một ý thức quốc gia và dân tộc rất mạnh. Nhưng do sự thiếu hụt tư tưởng chính trị, chúng ta đã chỉ biết đến ý niệm quốc gia, như là một thực thể của chung mọi người dân, một cách muộn màng. Chúng ta chỉ biết đến ý niệm quốc gia vào lúc đang bị ngoại bang thống trị. Từ đó đến nay chúng ta liên tiếp chịu đựng những cuộc chiến và những chế độ độc tài. Chúng ta chưa bao giờ có dân chủ, yếu tố nền tảng của quốc gia và dân tộc, do đó chúng ta chưa xây dựng được một quốc gia đúng nghĩa và cũng chưa vận dụng được sức mạnh thực sự của một dân tộc.

Nếu các nhà nước-quốc gia đã là nguyên nhân tạo ra sức mạnh và sự phồn vinh của các nước Âu Mỹ thì sự thiếu vắng của chúng cũng giải thích sự thua kém và những đau khổ của nhiều nước trong đó có chúng ta.

Các nhà nước-quốc gia mạnh và có ích lợi lớn vì chúng đã được quan niệm một cách đúng đắn. Quốc gia là của mọi người và ở trên tất cả. Nhà nước, hay chính quyền, chỉ có sứ mệnh phục vụ quốc gia, do đó phải ở trong và ở dưới quốc gia. Nhà nước không phải là cứu cánh mà chỉ là công cụ và vì thế chỉ cần được tạo dựng và duy trì ở mức độ thực sự cần thiết. Quốc gia mới là cứu cánh, mà quốc gia trước hết là tập thể những người công dân tự do và bình đẳng.

Nhà nước không có quyền lợi của riêng mình mà chỉ biết quyền lợi của quốc gia, trong khi quyền lợi của quốc gia do toàn dân qui định sau một đúc kết đứng đắn của những ý kiến cá nhân được bày tỏ một cách tự do. Về cơ bản nhà nước-quốc gia là dụng cụ để thực hiện đồng thuận xây dựng tương lai chung của những con người tự do. Chính vì thế mà nhà nước ấy một mặt động viên được sự đóng góp của mọi người và, mặt khác, bảo đảm để mọi người phát huy tối đa khả năng của mình và đóng góp tối đa vào phúc lợi chung.

Chúng ta, cũng như nhiều dân tộc không may khác, đã thua kém bởi vì chúng ta không có được những nhà nước như thế. Ngược lại, ở mỗi giai đoạn, chúng ta chỉ có những nhà nước của riêng một tập đoàn cầm quyền thay vì của mọi người. Những nhà nước đó có quyền lợi của riêng mình và chỉ biết quyền lợi của riêng mình cho nên chỉ có ưu tư giữ lấy quyền lực của mình bằng mọi giá ngay cả nếu phải gây những thiệt thòi lớn cho dân tộc. Đó là những nhà nước khống chế thay vì phục vụ quốc gia, những nhà nước coi dân chúng là đối tượng để kiểm soát và sử dụng thay vì là những đối tượng để bảo vệ và phục vụ.

Chúng ta hiện đang đứng trước tình trạng đặc biệt trầm trọng bởi vì chúng ta chưa xây dựng xong một quốc gia đúng nghĩa trong khi ý niệm quốc gia đang bị xét lại và vượt qua. Như thế chúng ta vừa phải nhanh chóng xây dựng một quốc gia đúng nghĩa lại vừa phải đúng hẹn với tương lai, nghĩa là quan niệm quốc gia theo nghĩa mà nó sẽ phải có.

Do sự bùng nổ của các phương tiện giao thông và truyền thông, đồng thời với những trao đổi dồn dập và sự bành trướng của những tư tưởng mới, các yếu tố cấu tạo truyền thống của tinh thần quốc gia dân tộc đã thay đổi trọng lượng tương đối.

Cảm giác yên tâm trong sự gần gũi, sự lo sợ cái lạ và người lạ, liên hệ huyết thống, sự ràng buộc với lịch sử và văn hóa cổ truyền, sự quyến luyến với mảnh đất quen thuộc, sự tiện nghi trong việc giao tiếp với những người cùng một tập quán và nếp sống, v.v. tất cả đều trở thành không quan trọng và ngày càng không quan trọng trong một thế giới cho phép sự trao đổi trực tiếp và tức khắc, kể cả làm việc chung, giữa những con người ở hai đầu trái đất và trong đó con người di chuyển và tiếp xúc thường xuyên, thu nhận hàng ngày đủ loại thông tin, hình ảnh và ý kiến. Quả đất đã là quê hương bé nhỏ chung của cả loài người và hạnh phúc cá nhân đã trở thành giá trị cao nhất. Những tình cảm truyền thống đã đóng góp tạo ra tinh thần quốc gia dân tộc ngày càng bộc lộ tính thủ cựu và hạn hẹp của chúng.

Mặt khác vai trò và chỗ đứng của quốc gia cũng bị công phá từ mọi phía. Từ bên ngoài, với những kết hợp khu vực tạo ra một không gian hoạt động lớn hơn, từ bên trong do những đòi hỏi của các cá nhân và các cộng đồng sắc tộc, và từ cả trong lẫn ngoài do sự bành trướng nhanh chóng của các công ty đa quốc gia mà vai trò và trọng lượng đang gia tăng nhanh chóng.

Trong bối cảnh đó, những lý do ràng buộc con người với đất nước dĩ nhiên phải thay đổi và trên thực tế đã thay đổi. Con người ngày nay ràng buộc với đất nước trước hết vì một trong ba lý do : vì đất nước bảo đảm cho mình những che chở và quyền lợi đặc biệt, vì đất nước đem lại cho mình một nguồn hãnh diện hay, một cách giản dị, vì đất nước là của mình.

Trong các yếu tố cấu tạo ra quốc gia, lãnh thổ không còn giá trị tuyệt đối, con người có thể yêu nước và đóng góp cho đất nước dù sống ở bất cứ nơi nào. Di sản lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ cũng đã giảm t)ầm quan trọng. Chính quyền cũng không quan trọng. Quan niệm một tổ quốc thiêng liêng mà mọi ngýời phải phục tùng, tôn kính và phục vụ vô ðiều kiện lại càng lỗi thời. Còn lại những con người và dự án tương lai chung, hai yếu tố cấu tạo của quốc gia mà tầm quan trọng ngày càng tăng lên.

Như thế, một quốc gia chỉ có thể tồn tại nếu được quan niệm không phải như một chủng tộc hay một quá khứ mà như một không gian liên đới giữa những con người hiểu nhau, quí trọng nhau và hợp tác với nhau để xây dựng và chia sẻ một tương lai chung. Quốc gia như thế chủ yếu là xã hội dân sự với ký ức của nó, với những vấn đề phải giải quyết của nó và với những dự định tương lai của nó. Nhà nước ở trong và ở dưới quốc gia với sứ mạng phục vụ quốc gia cho nên nhà nước có vai trò phục vụ chứ không khống chế xã hội dân sự.

Một đất nước được hiểu như thế vẫn còn khả năng để ràng buộc người Việt Nam với nhau và vẫn rất cần thiết cho mọi người, đồng thời cũng là môi trường thuận lợi cho những hợp tác. Đất nước ấy sẽ có lợi cho mọi người bởi vì đó sẽ là môi trường phát triển tự nhiên cho mỗi người. Đất nước ấy sẽ là nguồn yểm trợ để mọi người chúng ta xây dựng đời mình đồng thời cùng nhau xây dựng một niềm tự hào chung và tăng cường những quyền lợi chung. Đất nước ấy cũng sẽ là một chỗ dựa tình cảm cho mỗi người để hạnh phúc được toàn vẹn. Đất nước ấy phải là của mọi người chứ không phải là của riêng của một thế lực hay đảng phái nào.

Đó là quan điểm của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên về đất nước Việt Nam. Niềm tin của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là chỉ có một quan niệm về quốc gia như vậy mới có thể đem lại cho mọi người Việt Nam lý do để yêu nước và chung sức dựng nước, nghĩa là mới cho phép Việt Nam tồn tại và vươn lên.

  1. Dân chủ đa nguyên

Để thoát khỏi bế tắc hiện nay và hội nhập vào thế giới tiến bộ, để có thể động viên một cách hữu hiệu mọi sinh lực quốc gia vào cố gắng vươn lên mưu tìm một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam không có chọn lựa chính trị nào khác hơn là một thể chế dân chủ đa nguyên.

Dân chủ đa nguyên không những là chọn lựa hiển nhiên cho Việt Nam mà còn là hướng đi tất yếu của loài người tiến bộ.

Cuộc tranh cãi gay go nhất trong thế kỷ hai mươi đã là cuộc tranh cãi về dân chủ. Hàng chục triệu người trên khắp thế giới đã thiệt mạng vì những xung đột gây ra bởi cuộc tranh cãi này. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để người dân quyết định vận mệnh đất nước, và nhiều công thức đã được đề ra và thử nghiệm.

Cuộc tranh cãi này hiện nay có thể coi như đã chấm dứt. Chủ nghĩa Mác-Lênin và mô hình "dân chủ xã hội chủ nghĩa" mà nó đề xướng đã hoàn toàn sụp đổ. Các chế độ cộng sản còn lại chỉ còn là những chế độ độc tài bạo ngược thuần túy. Mô hình dân chủ đặt nền tảng trên tự do cá nhân đã thắng về mặt lý thuyết và cũng đang thắng trên thực tế. Số lượng các nước dân chủ đang gia tăng mau chóng.

Nhiều người nói nền dân chủ kiểu phương Tây, mà hầu hết các dân tộc trên thế giới đã chấp nhận là đúng, tự nhiên đã có đa nguyên. Điều này có phần đúng, nhưng cụm từ "dân chủ đa nguyên" có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của nó, nhất là đối với người Việt Nam trong giai đoạn hiện tại. Nó nói lên một tinh thần, một thái độ và một lý tưởng. Tinh thần đó là tinh thần bao dung và khoan nhượng, tôn trọng mọi người, mọi ý kiến. Thái độ đó là thái độ bác bỏ thẳng thắn mọi hình thức độc tài chuyên chính, kể cả, và nhất là, thứ "dân chủ" bịp bợm mệnh danh là "dân chủ tập trung" hay "dân chủ xã hội chủ nghĩa" dành địa vị độc tôn cho một chủ nghĩa và một tập đoàn lãnh đạo. Lý tưởng đó là lý tưởng xây dựng đất nước Việt Nam có chỗ đứng xứng đáng và ngang nhau cho tất cả mọi người.

Đa đảng chưa phải là đa nguyên nếu mọi khuynh hướng không được nhìn nhận một chỗ đứng ngang nhau. Trong những ngày độc đoán và giáo điều nhất của nó, chế độ cộng sản Việt Nam cũng đã có ba hoặc bốn đảng, nhưng không phải vì thế mà nó đã có đa nguyên. Đa đảng chỉ là yếu tố cần, nhưng chưa đủ, của đa nguyên. Đa nguyên là một tinh thần, trong khi đa đảng chỉ là một con số.

Trong cuộc tranh hùng với phong trào cộng sản, các nước phương Tây đã lấy một quyết định vô cùng táo bạo là thay vì co cụm lại trong một kỷ luật tự vệ xơ cứng lại phát triển tối đa nền dân chủ của họ, mà nét đậm nhất là sự tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội, và họ dần dần tiến tới dân chủ đa nguyên. Tuy vậy nhiều thể chế tư bản phương Tây chưa phải là những nền dân chủ đa nguyên đúng nghĩa. Các nước phương Tây ở vào những mức độ đa nguyên khác nhau.

Dân chủ đa nguyên là sự hội nhập và ứng dụng triết lý đa nguyên vào đời sống chính trị. Căn bản của triết lý đa nguyên là tinh thần bao dung, là sự nhìn nhận và tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội. Dĩ nhiên tính đa nguyên có trong mọi xã hội và nếu muốn ngụy biện thì xã hội nào cũng đa nguyên cả, nhưng điều độc đáo là triết lý đa nguyên thay vì coi sự hiện diện của những thành tố khác biệt như một thực tại phải nhìn nhận và khắc phục, lại coi như một lẽ tự nhiên, một sự phong phú cần được khuyến khích và khai thác. Đó là một phong cách sinh hoạt chính trị. Dân chủ đa nguyên là dân chủ nhưng không phải dân chủ nào cũng là dân chủ đa nguyên.

Dân chủ đa nguyên là một hệ thống chính trị mới với những đặc tính bắt buộc của nó. Ta có thể nhấn mạnh năm đặc tính :

Một là : dân chủ đa nguyên nhìn nhận và tôn trọng chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người thuộc mọi thành phần xã hội, mọi tín ngưỡng và mọi khuynh hướng chính trị. Dân chủ đa nguyên lên án mọi phân biệt đối xử, nó chống đối quyết liệt chế độ độc đảng. Một cách cụ thể bản hiến pháp của một thể chế dân chủ đa nguyên không thể chứa đựng bất cứ một qui chiếu nào về một chính đảng, một chủ nghĩa hay một tôn giáo.

Hai là : ngoài nguyên tắc phân quyền phải có trong mọi nền dân chủ xứng đáng với tên gọi của nó, dân chủ đa nguyên đòi hỏi tản quyền để tôn trọng sự khác biệt giữa các địa phương. Một chính quyền dù xuất phát từ bầu cử tự do đi nữa cũng không phải là dân chủ đa nguyên nếu phần lớn quyền hành tập trung trong tay chính quyền trung ương. Trong một thể chế dân chủ đa nguyên các chính quyền địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, phải có những quyền luật định rộng rãi để tổ chức cuộc sống phù hợp với bối cảnh riêng của mỗi vùng. Mỗi vùng phải có diện tích và dân số ở mức độ thỏa đáng để có thể là những thực thể đủ tầm vóc để tự quản được và phát triển được. Như thế một số nguyên nhân xung đột sẽ tự nhiên được giải tỏa. Các sắc tộc ít người sẽ có được tiếng nói đáng kể tại các địa phương mà họ tập trung đông đảo. Các chính đảng không có được đa số trong các cuộc bầu cử toàn quốc vẫn có thể nắm được chính quyền tại những địa phương nơi họ được tín nhiệm. Dân chủ đa nguyên làm nhẹ đi mối căng thẳng chính quyền - đối lập, ở cấp trung ương cũng như cấp địa phương, và xóa bỏ mối xung khắc "được làm vua thua làm giặc". Tản quyền đưa tới hệ luận là chính quyền trung ương không cai trị trực tiếp mà chỉ đảm nhiệm các sứ mạng quốc phòng, ngoại giao, tiền tệ và phối hợp giữa các địa phương. Một vai trò khác của chính quyền trung ương là thực hiện các công trình cơ sở hạ tầng trên qui mô cả nước và trợ giúp các chương trình địa phương đáng khuyến khích.

Ba là : dân chủ đa nguyên đặt nền tảng trên xã hội dân sự. Bên cạnh các chính đảng, các cộng đồng sắc tộc, địa phương và tôn giáo, các hiệp hội công dân tổ chức theo ngành nghề, quyền lợi, nhân sinh quan, sở nguyện, ưu tư, v.v. được hoạt động độc lập với chính quyền, được nhìn nhận một chỗ đứng trọng yếu, được có tiếng nói và ảnh hưởng trong sinh hoạt cũng như trong sự tiến hóa của xã hội. Nhà nước tự coi mình là có sứ mạng phục vụ xã hội dân sự chứ không khống chế xã hội dân sự, không định đoạt sinh hoạt thường ngày thay cho xã hội dân sự. Về mặt kinh tế, điều này có nghĩa là nền kinh tế quốc gia phải đặt nền tảng trên các xí nghiệp tư, khu vực quốc doanh phải được giới hạn ở mức tối thiểu và nếu không có thì càng hay. Một xã hội dân sự mạnh và đa dạng là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự chuyển hóa thường trực, tự nhiên và liên tục của xã hội, tránh những xáo trộn đột ngột và đầy đổ vỡ của các cuộc cách mạng.

Bốn là : dân chủ đa nguyên kính trọng các thiểu số và luôn luôn mưu tìm thỏa hiệp. Trong một thể chế dân chủ đa nguyên, nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số không được sử dụng một cách tự động và máy móc mà chỉ được dùng tới sau khi đã tận dụng mọi cố gắng để tìm đồng thuận. Dân chủ đa nguyên chống lại mọi hình thức chuyên chính, kể cả chuyên chính của đa số. Bình thường trong một thể chế dân chủ sự chính đáng của một chính quyền dựa trên kết quả của cuộc bầu cử cuối cùng, nhưng trong dân chủ đa nguyên sự chính đáng của một chính quyền còn nằm cả trong sự thành khẩn tìm đồng thuận trong mọi quyết định quan trọng.

Năm là : dân chủ đa nguyên trong bản chất của nó tôn trọng mọi thành phần dân tộc và không thể để một thành phần này bóc lột và chà đạp một thành phần khác. Vì thế dân chủ đa nguyên coi rất trọng công bằng xã hội và không thể đi đôi với cái thường được gọi là "tư bản rừng rú".

Trong một thể chế dân chủ đa nguyên, nhà nước không còn là người chỉ huy tuyệt đối. Vai trò của nhà nước là đảm nhiệm ba chức năng : trọng tài trong các quan hệ giữa các thành tố của xã hội, chế tài những vi phạm, và hòa giải những đòi hỏi mâu thuẫn của các thành phần dân tộc. Nhà nước hòa giải thay vì nhà nước chỉ huy là nét đậm của dân chủ đa nguyên. Nó phân biệt hẳn dân chủ đa nguyên với các chế độ chuyên chính, nhưng nó cũng khiến dân chủ đa nguyên khác với nhiều chế độ dân chủ trong đó chính quyền vẫn còn tham vọng định đoạt thay cho xã hội dân sự.

Với sự tôn trọng mọi khác biệt, với vai trò nền tảng của xã hội dân sự gồm vô số các cộng đồng, hiệp hội công dân và các xí nghiệp, với tổ chức chính trị tản quyền, xã hội đa nguyên là sự kết hợp vô cùng phức tạp của vô số liên hệ đan xen. Một xã hội phức tạp như vậy chỉ có thể tồn tại được với những luật lệ rõ ràng, minh bạch và được áp dụng triệt để. Nhà nước trong một thể chế dân chủ đa nguyên chỉ có thể là một nhà nước pháp trị. Nhà nước văn minh nào cũng phải là một nhà nước pháp trị nhưng nhà nước dân chủ đa nguyên phải là một nhà nước pháp trị toàn vẹn.

Nhìn vào thực trạng Việt Nam, nếu có một điều mà chúng ta có thể quả quyết thì đó là với tình trạng hận thù chồng chất, khủng hoảng niềm tin và thiếu đồng nhất về lập trường hiện nay không thể áp đặt một lực lượng nào hay một đường lối nào mà không gặp sự chống đối mạnh mẽ. Thể chế Việt Nam tương lai phải là một thể chế tôn trọng mọi khác biệt, dành chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người và cho mỗi người. Thể chế này do đó bắt buộc phải là một thể chế dân chủ đa nguyên.

Nhiều người viện cớ dân ta chưa đủ kinh nghiệm dân chủ, tinh thần kỷ luật còn chưa cao, lòng người còn phân tán, v.v. để cho rằng dân chủ là một xa xỉ phẩm đối với Việt Nam. Như vậy phải chăng chúng ta đành phải tạm thời chấp nhận một phân lượng độc tài nào đó? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta chỉ cần so sánh những thành tựu của các nước dân chủ với thành tích tồi tệ của các chế độ cộng sản, nhìn vào những gì mà các chế độ độc tài cánh hữu đã từng đem lại cho các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh.

Nhưng ngược lại cũng không nên ngộ nhận về bản chất của dân chủ. Dân chủ không giải quyết tức khắc và toàn bộ vấn đề phát triển. Thành công của mọi chế độ đòi hỏi những chọn lựa đúng đắn và những con người có khả năng. Dân chủ không đem cơm áo và sự phồn vinh để phát không. Dân chủ không thay thế cho những chọn lựa và những con người. Nhưng dân chủ là một phong cách sinh ho_ạt cho phép đặt các vấn đề một cách đúng đắn và chọn lựa một cách đúng đắn những người có trách nhiệm. Dân chủ, và nhất là dân chủ đa nguyên, cũng là một phương thức tổ chức xã hội cho phép phát huy triệt để ý kiến và sáng kiến, động lực cơ bản nhất của tiến bộ. Vì thế mức độ dân chủ quyết định một giới hạn trên cho phát triển. Dân chủ càng cao, khả năng phát triển càng cao.

Ngược lại, các chế độ độc tài cấm cản ý kiến và sáng kiến, ngăn chặn tiến hóa hòa bình và liên tục của xã hội, dung túng tham nhũng, bất công và lạm quyền, và do đó ngăn cản phát triển. Chúng ta cần cảnh giác là không thể có những chế độ độc tài sáng suốt bởi vì nền tảng của mọi chế độ độc tài là sự kiêu căng bệnh hoạn của một nhóm người tự nghĩ rằng họ đủ thông minh để suy nghĩ thay cho cả một dân tộc. Nhà độc tài trước hết là một kẻ u mê. Vả lại, nếu quan sát, ta có thể thấy hầu hết các tập đoàn độc tài đều thiếu văn hóa.

Dĩ nhiên dân chủ đa nguyên không thể đem lại tất cả mọi phúc lợi của nó trong những điều kiện dân trí, xã hội và kinh tế chưa tốt đẹp, nhưng ngay cả trong trường hợp này dân chủ đa nguyên vẫn còn hơn xa độc tài.

Chúng ta khẳng định : dân chủ đa nguyên thực sự và ngay tức khắc.

Để có dân chủ đa nguyên thực sự, điều chúng ta phải làm trước hết là xóa bỏ những hận thù do một quá khứ đẫm máu để lại và được một chính sách phân biệt đối xử nuôi dưỡng suốt thời gian qua. Hòa giải dân tộc là một bắt buộc của hoàn cảnh lịch sử. Có như thế chúng ta mới có thể chấp nhận lẫn nhau, nhận lỗi với nhau và tha lỗi cho nhau, để chung sống với nhau và bắt tay nhau xây dựng một tương lai chung. Còn nếu không đa nguyên cùng lắm chỉ có nghĩa là tạm thời chịu đựng lẫn nhau do một so sánh lực lượng chưa ngã ngũ. Đa nguyên mà không có hòa giải dân tộc như vậy chỉ là đa nguyên bệnh hoạn, chỉ chuẩn bị cho một sự thanh toán lẫn nhau. Ngược lại dân chủ đa nguyên cũng là điều kiện cần để có thể có hòa giải dân tộc thực sự. Hòa giải mà không có đa nguyên chính trị cũng chỉ là hòa giải bịp bợm, hòa giải trong sự khuất phục của kẻ bị trị trước kẻ thống trị, nghĩa là một hòa giải không thể có.

Đất nước ta không phải chỉ có những hận thù do chiến tranh để lại. Chúng ta còn có vô số nguyên nhân chia rẽ mà chúng ta đã không giải quyết được vì ta đã không ý thức được tầm quan trọng của các vấn đề đặt ra, hay vì hoàn cảnh chiến tranh đã không cho phép ta giải quyết. Những cách biệt về tôn giáo, địa phương, sắc tộc, giàu nghèo, nhân sinh quan, chính kiến, v.v. không thiếu, và vì không được giải quyết nên càng ngày càng trở nên trầm trọng. Dân chủ đa nguyên, do tinh thần bao dung và mô thức tản quyền của nó là giải pháp giúp mọi thành phần dân tộc đều có chỗ đứng và tiếng nói, và do đó có thể chấp nhận lẫn nhau, xáp lại gần nhau, hòa hợp với nhau để cùng xây dựng một tương lai Việt Nam chung.

Không ai phủ nhận rằng đa nguyên là một lý tưởng đẹp, đẹp đến nỗi các chế độ độc tài, dù bị khốn đốn vì nó, cũng không dám phủ nhận nó một cách dứt khoát.

Dân chủ đa nguyên đang trở thành đồng thuận căn bản của dân tộc ta trong cuộc hành trình về tương lai. Đó cũng là hướng đi tất yếu của loài người. Những người tranh đấu cho dân chủ đa nguyên có quyền tự hào vì mình đang theo đuổi một lý tưởng đẹp và cũng có quyền lạc quan vì mình đang tranh đấu cho một lập trường nhất định sẽ thắng lợi.

  1. Hòa giải và hòa hợp dân tộc

Trong hơn bốn thế kỷ qua, kể từ khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê hồi đầu thế kỷ 16, nước ta liên tiếp đi từ cuộc chiến tranh này đến cuộc xung đột khác. Đất nước bị chia cắt nhiều lần trong hơn hai thế kỷ, bị đô hộ và bị đặt dưới những chế độ hành chánh khác nhau trong gần một trăm năm. Chiến tranh, nội loạn, trả thù, báo oán, bách hại đã là những yếu tố thường trực trong lịch sử cận đại của ta. Khốc liệt nhất là cuộc chiến sau cùng 1945-1975 trong đó lần đầu tiên chúng ta xung đột với nhau cả về ý thức hệ, và sau đó phe chiến thắng thi hành chính sách bỏ tù và hạ nhục, đồng thời với vô số biện pháp phân biệt đối xử.

Do hoàn cảnh lịch sử, chất liệu nhân xã của chúng ta đã bị tổn thương nặng nề. Những đổ vỡ đòi hỏi một thời gian hàn gắn rất lâu dài, do đó tinh thần căn bản của mọi chính sách cho nhiều thế hệ tới sẽ phải là hòa giải và hòa hợp dân tộc. Hòa giải dân tộc để xóa bỏ những hận thù và hiềm khích của quá khứ để đi đến hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng một tương lai chung.

Trong một thế giới thay đổi dồn dập như hiện nay, quốc gia nào cũng phải chịu những xáo trộn không ngừng. Ngành này tiến lên trong khi ngành kia suy thoái, khu vực này bành trướng trong khi khu vực khác trì trệ. Những chênh lệch xã hội liên tiếp xuất hiện và các chính sách dù hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể nào thỏa mãn được tất cả mọi người. Cho nên quốc gia nào, dân tộc nào cũng luôn luôn phải hòa giải với nhau vì các mối xung đột quyền lợi và căng thẳng luôn luôn xảy ra. Hòa giải đã trở thành triết lý điều hành quốc gia.

Hòa giải là bắt buộc của mọi dân tộc dù ở trình độ nào và có lịch sử nào. Nhưng dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc cần ḥa giải hơn cả.

Chúng ta cần hòa giải cộng đồng quốc gia nói chung với các sắc tộc ít người đã có mặt trên đất nước này từ ngày mở nước và luôn luôn bị chà đạp và hắt hủi trong suốt dòng lịch sử.

Chúng ta cần hòa giải các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Công giáo, hai tôn giáo đã bị các nhà cầm quyền Việt Nam cũng như ngoại bang bách hại, đàn áp, phân biệt đối xử và đặt vào thế đối đầu với nhau. Đã thế, các hiềm khích, hậu quả của một hoàn cảnh lịch sử trong đó cả hai tôn giáo đều là nạn nhân, thay vì được giải tỏa còn đôi khi bị thổi phồng và khai thác cho những tham vọng bất chính.

Chúng ta cần hòa giải và hòa hợp hai miền Nam-Bắc đã thường xuyên bị chia cắt và đặt vào thế tương tranh và kể từ 1975 bị chia rẽ bởi một chính sách không khác gì một sự chiếm đóng của đảng cộng sản.

Chúng ta cần hòa giải đất nước với cộng đồng người Việt hải ngoại đã phải bỏ người thân, tài sản, mồ mả tổ tiên ra đi vì không thể chấp nhận được một chính quyền hà khắc, đã phải chịu đựng những khổ đau và mất mát rất lớn do hải tặc, sóng gió và công an.

Chúng ta cũng cần hòa giải người Việt Nam với đất nước Việt Nam. Phải nhìn nhận rằng làm người Việt Nam trong thế kỷ 20 đã là một điều không may. Đất nước đã chỉ là hy sinh. Hơn thế nữa, các tập đoàn lãnh đạo kế tiếp nhau còn nhân danh đất nước để phạm những tội ác rất nghiêm trọng. Dĩ nhiên, đất nước không đồng hóa với người cầm quyền, nhưng vẫn được thể hiện qua người cầm quyền. Vì thế, khi trong một thời gian quá dài chỉ có những người cầm quyền gian trá hay bạo ngược, hay vừa gian trá vừa bạo ngược, thì chính hình ảnh của đất nước cũng bị tổn hại và lòng yêu nước cũng bị suy giảm. Hòa giải người Việt Nam với đất nước Việt Nam là điều phải làm để phục hồi lòng yêu nước, một yếu tố không thể thiếu nếu chúng ta còn muốn một tương lai cho Việt Nam. Muốn như thế nhà nước, người đại diện đất nước, phải là một nhà nước khiêm tốn, hiền hòa. Tổ quốc Việt Nam phải được cảm nhận như một tình yêu và một dự án tương lai chung.

Nhưng gần nhất và cũng đau đớn nhất, chúng ta vừa tàn sát nhau trong một cuộc tương tranh kéo dài ba mươi năm. Những vết thương vẫn còn chảy máu và thay vì được hàn gắn đã bị trầm trọng hóa bởi một chính sách phân biệt đối xử thô bạo.

Trong cuộc xung đột vừa qua chúng ta đã không có chọn lựa tốt nào. Chúng ta đã chỉ có những chọn lựa đau buồn, giữa cái dở và cái mà một cách chủ quan chúng ta thấy là còn dở hơn. Chúng ta đã chỉ chịu đựng chứ không làm chủ các biến cố. Rất ít người Việt Nam nào đã thực sự tranh đấu cho cái mà mình ưa thích. Trong tuyệt đại đa số, người Việt Nam, quốc gia cũng như cộng sản, đã chỉ chống lại phe mà mình thấy là còn tồi tệ hơn hàng ngũ mình đang đứng. Người không chịu đựng được sự thối nát của các chính quyền quốc gia thì đứng vào hàng ngũ cộng sản, mặc dầu cũng biết bản chất bạo ngược của nó, còn người thấy rằng để đất nước lọt vào tay cộng sản là một tai họa quá lớn thì đứng vào hàng ngũ quốc gia, mặc dầu cũng chán ghét sự thối nát của nó. Anh em ruột thịt, bạn bè thân thích đã chỉ vì một sự lượng định nặng nhẹ khác nhau, hay đã chỉ bị hoàn cảnh xô đẩy, mà phải quay lưng lại với nhau, mạt sát nhau, bắn giết nhau. Cho nên, ngoài những đổ vỡ về vật chất và sinh mạng, còn có một đổ vỡ lớn hơn trong lòng mỗi người Việt Nam.

Để rồi, kẻ thì đã thua trận, bị tù đày và nhục mạ, người thì nhận ra tất cả những hy sinh của mình chỉ là để đóng góp cho một công trình đập phá đất nước. Chẳng có ai có lý do gì để bắt lỗi ai, tất cả chúng ta đều đã thất bại bẽ bàng. Chúng ta đều là nạn nhân. Chúng ta phải bắt tay nhau cùng làm lại lịch sử.

Thách đố trước mắt chúng ta là một tập đoàn cầm quyền đã gây đổ vỡ trầm trọng cho đất nước, đã thất bại trên tất cả mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt, nhưng vẫn xấc xược tự cho mình độc quyền cai trị đất nước vô thời hạn và đàn áp thô bạo mọi tiếng nói đối lập, dù là ôn hòa. Tập đoàn này dùng mọi biện pháp để ngăn chặn hòa giải và hòa hợp dân tộc vì họ biết rằng chỉ có thể duy trì được sự thống trị của họ nếu dân tộc Việt Nam bất lực vì hận thù và chia rẽ. Không những không xoa dịu những vết thương của cuộc chiến, bằng những biện pháp đàn áp chính trị, xếp loại dân chúng và phân biệt đối xử, họ còn mở rộng hiềm khích tới nhiều thành phần dân tộc và kéo dài hận thù tới thế hệ vừa lớn lên.

Ngày hôm nay khát vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam là dân chủ. Nhìn lại anh em, nhận lại bạn bè phải là tinh thần chỉ đạo của một tập hợp dân tộc mới, trong đó không có kẻ đúng người sai mà chỉ có những người anh em bình đẳng cùng ngậm ngùi cho đất nước và cùng kết hợp trong một cuộc vận động dân chủ. Hòa giải và hòa hợp dân tộc chính là điều kiện cốt lõi để cô lập và đánh bại tập đoàn độc tài ngoan cố.

Nhưng vượt lên trên những sôi động nhất thời, hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng là một đoạn tuyệt lịch sử cần thiết để bẻ gãy cái vòng luẩn quẩn của hận thù và chia rẽ đã giam hãm chúng ta từ nhiều thế kỷ qua, nhất là từ nửa thế kỷ nay. Đây là một đoạn tuyệt lịch sử rất khó khăn vì ý niệm hòa giải dân tộc hoàn toàn thiếu vắng trong tâm lý chính trị Việt Nam. Trong gần tám thế kỷ, kể từ nhà Trần, nhổ cỏ tận gốc, tru di tam tộc, tiêu diệt toàn bộ vẫn là những biện pháp được người cầm quyền sử dụng thay cho hòa giải. Dần dần cách ứng xử hung bạo đó đã ăn rễ vào tâm lý tập thể làm cho ý niệm hòa giải trở thành xa lạ đối với người Việt Nam. Vì thế nhiều người đã nói rằng dân tộc Việt Nam không có nhu cầu hòa giải trong khi thực sự chúng ta là một trong những dân tộc cần hòa giải nhất. Chính vì thiếu tinh thần hòa giải mà chúng ta đã bị tù hãm trong hận thù. Cái vòng oan nghiệt đó đã khiến chúng ta không động viên được mọi sinh lực của đất nước để vươn lên và giải thích tại sao chúng ta đã phải quằn quại mãi trong đói khổ và thua kém.

Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện cần cho thắng lợi của cuộc vận động dân chủ hiện nay và cũng là điều kiện cần cho thành công của cố gắng phục hưng đất nước ngày mai.

Thực thi hòa giải dân tộc không phải chỉ đơn thuần là một tình cảm mà còn đòi hỏi những biện pháp cụ thể. Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ đặt con người tự do làm đối tượng phục vụ cao nhất. Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ coi đa nguyên như một giá trị tuyệt đối. Đa nguyên về mọi mặt tâm linh, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ chế tài nghiêm khắc mọi ngôn ngữ và thái độ xúc phạm với mọi sắc tộc, mọi cộng đồng, mọi tín ngưỡng, mọi quan điểm. Ngược lại nhà nước sẽ khuyến khích và giúp đỡ tận tình mọi sáng kiến và cố gắng đem mọi người Việt Nam thuộc mọi vùng, mọi sắc tộc, mọi tôn giáo, mọi nhân sinh quan, mọi chính kiến đến gần nhau hơn trong tinh thần tôn trọng mọi khác biệt. Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ phải phục hồi danh dự cho những người đã bị hạ nhục, phải bồi thường thiệt hại, dù chỉ là một cách không đầy đủ, cho những nạn nhân. Xóa bỏ hận thù có nghĩa là sẽ không có những vụ án chính trị, ngược lại sẽ có một đạo luật cấm nhà nước truy tố bất cứ ai vì chức vụ mà họ đã giữ, trừ khi họ đã vi phạm một cách rất nghiêm trọng ngay chính những luật lệ đương hành lúc họ tại chức. Mọi công dân có quyền tố cáo những hà hiếp mà mình đã là nạn nhân, và nhà nước sẽ xử lý những tranh tụng đó như những tranh tụng giữa những công dân bình đẳng trước pháp luật.

Những biện pháp đó, được thực hiện với thành tâm hàn gắn những vết thương do lịch sử để lại, sẽ giúp chúng ta dần dần tiến tới hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ một tương lai Việt Nam chung. Chúng ta sẽ khép lại một trang sử đau buồn của đất nước và mở ra một trang sử mới viết bằng tình tự dân tộc.

  1. Phát triển đất nước trên nền tảng dân chủ, kinh tế thị trường và sáng kiến cá nhân

Điều nhức nhối nhất của chúng ta là tình trạng lạc hậu và nghèo khổ. Do đó trọng tâm của mọi cố gắng quốc gia phải là phát triển, và một cái nhìn thấu đáo về vấn đề phát triển là vô cùng quan trọng.

Ba phần tư nhân loại vẫn còn đang sống trong nghèo khổ, một nửa đang sống trong nghèo khổ cùng cực. Cách đây hai thế kỷ, ngay tại các nước phát triển nhất, quá phân nửa dân số đã chết trước tuổi dậy thì. Phát triển như vậy là một hiện tượng rất mới tại một số nước nhờ một số điều kiện đặc biệt mà chúng ta cần nhận diện để nắm bắt.

Trước hết, chúng ta hiểu phát triển như thế nào?

Phát triển là một thay đổi liên tục và kéo dài trong thời gian, cho phép sử dụng ngày một hữu hiệu hơn tài nguyên và nhân lực, đem lại cho quốc gia lợi tức ngày một lớn hơn và cho con người cuộc sống ngày càng cao hơn về cả vật chất lẫn tinh thần.

Phát triển là một khái niệm tương đối. Một quốc gia được coi là phát triển khi đạt thành tích cao so với phần còn lại của thế giới về lợi tức bình quân trên mỗi đầu người, về giáo dục, y tế, gia cư và cơ sở hạ tầng, khi hoạt động kinh tế mạnh và hiện đại, môi trường sinh sống sạch và đẹp, các phương tiện di chuyển, thông tin, học hỏi và giải trí dồi dào.

Phát triển, ngay cả với định nghĩa trên đây, cũng không phải là tất cả. Sự thành công của một quốc gia, ngoài phát triển, còn là sự kiện mọi người gắn bó một cách tự nguyện trong cố gắng xây dựng một tương lai chung và mỗi người cảm thấy được làm chủ đ^ời mình, được sống theo ý mình, được quí trọng trong một xã hội không đe dọa, được hưởng phúc lợi do cố gắng của mình, được bảo đảm những cơ hội thăng tiến công bình, và có lý do để tin rằng ngày mai sẽ hơn ngày hôm nay và cuộc sống của con cái mình sẽ hơn cuộc sống của mình. Đó là mục tiêu chúng ta muốn đạt tới.

Phát triển không phải chỉ là sự gia tăng tổng sản lượng quốc gia. Do đó, một mức độ tăng trưởng 5% của tổng sản lượng quốc gia với những hệ thống giáo dục và y tế hoàn chỉnh, môi trường thiên nhiên được bảo vệ và cải thiện, lợi tức được phân chia tương đối đồng đều, phải được đánh giá là tốt hơn nhiều lần một tăng trưởng 15% trong đó mọi vấn đề văn hóa, xã hội và môi sinh bị bỏ rơi. Một thí dụ cụ thể là trường hợp của Trung Quốc hiện nay. Mức độ tăng trưởng tuy khá cao, nhưng sự thiệt hại gây ra cho môi trường nếu qui ra chi phí để phục hồi còn cao hơn. Sự chênh lệch giàu nghèo quá lố và sự chênh lệch giữa các vùng ngày càng trở thành báo động, thêm vào đó là gần một phần tư dân số trở thành du mục sống vất vưởng trên các hè phố hay các khu tập trung đột xuất tại các vùng ngoại ô. Chúng ta không thể chấp nhận một tăng trưởng như thế. Chúng ta tìm kiếm một phát triển hài hòa và cân bằng, bởi vì chỉ có phát triển đó mới có thể kéo dài và mới xứng đáng được coi là một mục tiêu quốc gia.

Tuy phát triển không phải chỉ là phát triển kinh tế, nhưng phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng nhất và cũng là chìa khóa cho phát triển cân đối toàn bộ. Chúng ta là một trong những dân tộc nghèo khổ và chậm tiến nhất nên phát triển kinh tế là mục tiêu cấp bách nhất đối với chúng ta.

Chúng ta cần đánh tan ngay một lấn cấn tai hại.

Bịp bợm lớn nhất trong thế kỷ 20 đã là luận điệu cho rằng một xã hội muốn tiến nhanh cần một chế độ độc tài sáng suốt, cần đình hoãn xây dựng dân chủ và hy sinh một số tự do căn bản. Bịp bợm này đã là nguyên nhân của những tang tóc ghê gớm. Nó đã tạo ra và nuôi dưỡng các chế độ phát xít quân phiệt tại Ý, tại Đức và tại Nhật. Nó đã giúp cho phong trào cộng sản nảy sinh, phát triển và tồn tại trong ba phần tư thế kỷ. Nó đã tiếp tay duy trì các chế độ độc tài tại châu Mỹ La Tinh và châu Á trước đây. Và nó vẫn đang được dùng làm chỗ dựa lý luận của nhiều chế độ độc tài khác, trong đó có Việt Nam.

Những chế độ này đã chỉ đem lại những kết quả tồi tệ. Các chế độ độc tài tại Ý, Đức và Nhật đã tích lũy mâu thuẫn, đã bế tắc và phải lao đầu vào các cuộc chiến tự hủy. Chế độ cộng sản tại Liên Xô đã hủy hoại tài nguyên, môi trường, đã đày đọa dân chúng rồi sụp đổ. Tất cả những chế độ độc tài khác đều có một thành quả giống nhau : đói khổ và lạc hậu.

Sự thực, phát triển là hậu quả của tự do và dân chủ. Nhưng vì tự nó phát triển cũng thúc đẩy và phát huy tự do dân chủ nên dễ có ngộ nhận giữa hậu quả và nguyên nhân đưa đến lập luận cứ tạm chấp nhận độc tài để có phát triển rồi sau đó phát triển sẽ đem tới dân chủ. Sự ngộ nhận này đã bị các tập đoàn độc tài khai thác.

Kinh nghiệm của các dân tộc chứng minh điều đó.

Hiện tượng phát triển trên qui mô quốc gia đã bắt đầu xuất hiện tại châu Âu và Hoa Kỳ sau khi nh¨ững xã hội đặt nền tảng trên dân chủ được thành lập. Nguyên nhân đã làm nảy sinh ra phát triển là trọng lượng của nhà nước trong đời sống thường ngày được giảm nhẹ, một hiến pháp dân chủ và ổn vững được thượng tôn, luật pháp thay thế cho các quyết định tùy tiện của người cầm quyền, con người được tôn trọng và được bảo vệ, kinh tế hoạt động theo qui luật của thị trường, hoạt động kinh doanh được tôn vinh, buôn bán và trao đổi được đề cao, ý kiến và sáng kiến được khuyến khích và tưởng thưởng, lợi nhuận được nâng lên hàng một giá trị.

Quốc gia châu Á duy nhất đã bắt kịp các nước phương Tây ngay đầu thế kỷ 20 là Nhật đã phát triển được nhờ mau chóng chấp nhận sinh hoạt kinh tế phương Tây. Dưới cái vung thống trị của một giai cấp hiệp sĩ kiêu căng sống tách rời hẳn khỏi quần chúng, một xã hội dân chủ đã âm thầm hình thành giữa đại đa số người Nhật và đã khiến cho nước Nhật vươn lên ngay từ thế kỷ 18, rồi vươn lên mạnh mẽ từ nửa sau thế kỷ 19.

Sự kiện hai chế độ phát xít Ý và quốc xã Đức đã đem lại một số tiến bộ lúc ban đầu, và chế độ quân phiệt Nhật đã duy trì được phát triển trong vài thập niên, giúp ta nhận diện một yếu tố khác của phát triển vốn đã có trong những phát triển trước đây : đồng thuận dân tộc. Cả ba dân tộc này vào thời điểm đó đều cùng bực tức vì thua kém và đều có được những lãnh tụ đủ sức lôi cuốn để đoàn kết họ trong một cố gắng chung .

Kinh nghiệm của các nuớc vừa phát triển tại châu Á cần được nhìn một cách chính xác bởi vì, trái với nhận định hời hợt của một số người và trái với giải thích gian trá của các chế độ độc tài, các quốc gia này đã phát triển được vì họ đã dân chủ hơn và tự do hơn các nước chậm tiến khác, mặc dầu chưa thể nói họ đã đạt tới dân chủ trọn vẹn và đúng nghĩa.

Các nước châu Mỹ La Tinh với tài nguyên phong phú đã quằn quại trong hơn một thế kỷ rưỡi trong lạc hậu dưới các chế độ độc tài và đã chỉ vươn lên từ thập niên 1980 nhờ dân chủ.

Tại châu Âu, ba nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hy Lạp, vì vướng mắc vào các chế độ độc tài mà đã tụt hậu bi đát ; họ đã chỉ vươn lên từ thập niên 70 nhờ vứt bỏ được ách độc tài.

Ngay cả những tiến bộ kinh tế được ghi nhận gần đây tại Trung Quốc và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ : chúng đã có được nhờ kinh tế thị trường và nhờ một mức độ tự do lớn hơn.

Kinh nghiệm của mọi dân tộc đã chứng minh : dân chủ, quyền tư hữu, kinh tế thị trường, nhà nước nhẹ là những yếu tố làm nảy sinh ra phát triển kinh tế.

Nhưng kinh nghiệm cũng cho thấy cùng những yếu tố ấy đã tạo ra những phát triển kinh tế khác nhau về vận tốc và về cường độ tại các quốc gia khác nhau, và nhiều quốc gia với điều kiện thiên nhiên bất lợi đã phát triển mạnh mẽ hơn những quốc gia khác, cũng dân chủ và còn có tài nguyên phong phú hơn nhiều. Các yếu tố tâm lý và văn hóa đã đóng góp vai trò quyết định.

Sau khi đã quan sát lịch sử của các dân tộc chúng ta cũng có thể tiếp cận hiện tượng phát triển bằng lý luận kinh tế.

Phát triển kinh tế đòi hỏi ba yếu tố vừa cần vừa đủ : con người có ước muốn kinh doanh, có thể kinh doanh, và có phương tiện để kinh doanh.

Để ước muốn kinh doanh người dân cần một bối cảnh tâm lý thuận lợi : hoạt động kinh doanh được xã hội quí trọng, ý kiến và sáng kiến được đề cao, sự chấp nhận rủi ro được tôn vinh ; họ cũng cần có lý do để lạc quan tin tưởng rằng kinh doanh sẽ có lợi và lợi tức đó sẽ là của họ. Nói một cách khác, để kinh doanh, cùng với một bối cảnh kinh tế lạc quan, nhà kinh doanh cần một tâm lý xã hội thuận lợi cho kinh doanh và một bảo đảm chắc chắn về quyền tư hữu. Yếu tố khởi động này của phát triển giải thích tại sao các nước cộng sản đã suy sụp vì không tôn trọng quyền tư hữu. Nhưng quan trọng hơn, nó giải thích tại sao hiện tượng phát triển đã chỉ có tại một số quốc gia nhờ một tâm lý xã hội thuận lợi.

Để có thể kinh doanh, doanh nhân cần một xã hội có trật tự và an ninh, cần được luật pháp đảm bảo và được tự do hành động ; họ không thể bị trói buộc bởi quá nhiều qui định, không bị gò bó trong một kế hoạch quốc gia cứng chắc, không phải nộp thuế quá cao, không bị sách nhiễu bởi một guồng máy chính quyền tham nhũng. Chúng ta nhìn thấy ở đây sự cần thiết của một thể chế dân chủ pháp trị, của một hoạt động kinh tế thị trường thay vì kinh tế hoạch định, của một guồng máy nhà nước nhẹ. Nhưng chúng ta cũng nhìn thấy một lần nữa các yếu tố tâm lý : đạo đức và lương thiện. Tham nhũng cũng là hậu quả của sự suy đồi của đạo đức xã hội.

Người kinh doanh dĩ nhiên cũng cần có phương tiện, nghĩa là có nguồn nhân lực cần thiết với những khả năng cần có, có một cơ sở hạ tầng tốt, có vốn đầu tư, có một hệ thống tín dụng ngân hàng đắc lực để huy động vốn luân chuyển. Vốn đầu tư chỉ là một trong những yếu tố và cũng không phải là yếu tố quan trọng nhất. Vốn có ít thì đầu tư ít, và lợi nhuận sẽ đẻ ra vốn. Vả lại tư bản có trí khôn và lôgíc của chính nó, ở đâu kinh doanh có lợi vốn sẽ tìm đến. Điều quan trọng hơn hết vẫn là con người, những con người có kỹ năng và có tinh thần trách nhiệm. Một lần nữa yếu tố tâm lý và văn hóa là nòng cốt.

Nói chung, phát triển cần một bối cảnh tự do dân chủ và là một vấn đề chủ yếu văn hóa và tâm lý. Chính vì thế mà một số quốc gia dù tài nguyên ít ỏi, dù bị tàn phá ghê gớm vẫn vươn lên mạnh mẽ. Nước Đức và nước Nhật bại trận và tan hoang đã chỉ cần một vài thập niên để trở thành những nước phát triển nhất. Dân tộc Hòa Lan chen chúc trên một mảnh đất nhỏ với tài nguyên thiên nhiên ít ỏi cũng đã xây dựng được một trong những quốc gia phồn vinh nhất thế giới. Chính vì phát triển trước hết là một vấn đề văn hóa và tâm lý mà cho tới nay nó đã chỉ giới hạn ở một số quốc gia.

Cần phân biệt tâm lý và văn hóa với trí tuệ và kiến thức. Bẩm sinh con người có trí tuệ bằng nhau hay gần bằng nhau và do đó nhờ giáo dục có thể đạt tới một trình độ hiểu biết ngang nhau. Sự khác biệt là tâm lý và văn hóa, là óc cầu tiến, tính chấp nhận rủi ro của kinh doanh, là tinh thần trách nhiệm, là cách ứng xử trong cuộc sống tập thể.

Chúng ta cần thay đổi xã hội và con người để có phát triển.

Chúng ta cần một xã hội dân chủ, quí trọng con người, đặt lòng tin ở con người, để cho con người tự do quyết định xây dựng đời mình. Chúng ta cần một nhà nước pháp trị, có luật pháp đầy đủ và không có quá nhiều thủ tục, chúng ta cần một cơ chế thị trường thay vì một kế hoạch áp đặt.

Chúng ta cần những con người tự do, trách nhiệm, lương thiện, gắn bó vào cộng đồng, cầu tiến và thi đua chứ không ghen tức và phá hoại. Chúng ta cần những con người ham thích kinh doanh, khao khát làm giàu một cách lương thiện.

Chúng ta cần một bộ máy kinh tế hoạt động không cưỡng chế. Nhà kinh doanh phải được phép tự do hành động theo các qui luật khách quan của kinh doanh và thị trường. Công bằng xã hội là một ưu tư thường trực của một chính quyền đứng đắn, nhưng công bằng xã hội phải được thực hiện ở khâu phân phối lợi tức quốc gia, qua thuế khóa, chứ không thể can thiệp trực tiếp vào sự điều hành hoạt động kinh doanh.

Chúng ta cũng cần một bối cảnh pháp lý, nghĩa là hiến pháp và pháp luật, ổn định để người dân có thể yên tâm xây dựng cuộc sống và lập ra những dự định cho tương lai mà không lo sợ một thay đổi luật chơi đột ngột làm hỏng dự án kinh doanh của mình.

Nhưng hiến pháp và luật pháp ổn vững không có nghĩa là chính quyền ổn vững. Sự thay đổi thường xuyên người cầm quyền trong một bối cảnh pháp lý ổn vững không hề cấm cản cảnh sát tiếp tục bảo vệ an ninh trật tự, không hề cấm cản các thẩm phán tiếp tục xử án và cũng không hề cấm cản một nhà máy tiếp tục hoạt động. Điều có thể tác hại cho sinh hoạt kinh tế là những cuộc cách mạng làm đảo lộn tất cả, là những thay đổi đột ngột luật pháp và định hướng quốc gia.

Đẩy xa lý luận hơn nữa, ta còn có thể nói những chính phủ dân chủ không có đa số áp đảo để thay đổi tùy tiện luật pháp và chính sách còn có thể là một đảm bảo cho sự ổn định bối cảnh pháp lý, và do đó có lợi cho phát triển. Một chính quyền áp đảo và nhiều quyền lực chỉ cần thiết để có thể quyết định mau chóng những thay đổi, và áp đặt một kế hoạch phát triển quốc gia. Nhưng kế hoạch quốc gia là điều chúng ta nên tránh. Kế hoạch quốc gia là một sản phẩm duy ý chí, tàn dư của thời đại thế giới chưa đủ sáng suốt và kinh nghiệm để nhận định rằng cần để cho xã hội, qua qui luật thị trường khách quan, quyết định những gì cần làm, làm tới mức nào và làm như thế nào. Kế hoạch quốc gia là một cản trở cho phát triển mà chúng ta phải loại bỏ, điều chúng ta cần là một định hướng cho quốc gia và những dự án cho từng vấn đề, đặc biệt là những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Dĩ nhiên trong một hoàn cảnh còn khó khăn và còn nhiều trở ngại cho phát triển, chúng ta cần một chính quyền có khả năng quyết định những chọn lựa cần thiết nhằm tháo gỡ những ách tắc do quá khứ để lại. Nhưng khả năng này một chính quyền dân chủ và nhẹ vẫn có thể có được nhờ thuyết phục để tạo ra đồng thuận và hậu thuẫn của quần chúng trên một số chọn lựa căn bản phải làm.

Tóm lại, để phát triển đất nước, và trước hết là phát triển kinh tế, chúng ta cần một thể chế dân chủ, một nhà nước pháp trị, một sinh hoạt kinh tế thị trường, một sự tôn trọng tuyệt đối ý kiến và sáng kiến cá nhân, một niềm tin mạnh mẽ vào con người. Thể chế đó sẽ làm nảy nở óc sáng tạo, tinh thần cầu tiến, tinh thần trách nhiệm. Nhưng chúng ta cũng cần một cố gắng văn hóa quan trọng để thượng tôn những giá trị của tiến bộ và đưa những giá trị đó vào tâm hồn và phản xạ của mọi người. Những giá trị đó là hòa bình, tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng, nhà nước pháp trị, hợp tác, lợi nhuận liên đới và môi trường.

Xây dựng một xã hội dân chủ đa nguyên, phát huy các giá trị tiến bộ, chúng ta sẽ có phát triển, đặc biệt là phát triển kinh tế. Đó là chủ thuyết phát triển của chúng ta. Chúng ta quả quyết rằng một xã hội như thế và với những giá trị như thế dù muốn không phát triển cũng không được. Ngược lại, một xã hội không dân chủ, hoặc không có những giá trị tiến bộ thì dù muốn và cố gắng đến đâu cũng sẽ không có phát triển, hay chỉ có phát triển ở một mức độ thấp. Tài nguyên thiên nhiên và vốn đầu tư là những yếu tố rất thứ yếu.

Trong một chủ thuyết phát triển như thế, vai trò của nhà nước chủ yếu là gìn giữ hòa bình và trật tự an ninh, bảo đảm quốc phòng và công lý, tạo những quan hệ bang giao tốt với cộng đồng thế giới, hòa giải và trọng tài những tranh tụng của xã hội dân sự. Vai trò của nhà nước trong kinh tế sẽ được giới hạn trong ba phạm vi : thuế, chi tiêu công cộng và điều chỉnh khối lượng tiền tệ. Thuế để nhà nước có ngân sách làm nhiệm vụ của mình và bảo đảm an sinh và liên đới xã hội. Các chi tiêu công cộng để xây dựng, bảo trì và cải thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy, kích thích một số ngành nghề. Việc điều chỉnh khối lượng tiền tệ lưu hành, chủ yếu qua ấn định một mức lãi suất, có ảnh hưởng trực tiếp trên giá cả, đầu tư và tăng trưởng. Trong cả ba phạm vi đó, nhà nước cũng cần hành động với tất cả dè dặt để tránh đảo lộn sinh hoạt kinh tế. Ổn định là yếu tố cốt lõi của kinh doanh. Riêng việc ấn định lãi suất, chúng ta phải tránh trường hợp chính quyền hành động theo những yêu cầu chính trị ngắn hạn, bằng cách giao phó cho một định chế ngân hàng trung ương xuất phát từ chính phủ nhưng không chịu sự chi phối tùy tiện của chính phủ.

Một lần nữa, nhu cầu phát triển buộc ta phải có một nhà nước hòa giải và trọng tài để cho xã hội dân sự lo việc phát triển thay vì một nhà nước chỉ huy và định đoạt thay cho xã hội dân sự. Vai trò hòa giải và trọng tài trong sinh hoạt kinh tế buộc nhà nước phải từ bỏ mọi chức năng kinh doanh. Các công ty quốc doanh không nên có, hay nếu có thì cần được coi là những bó buộc chẳng đặng đừng trong một thời gian nhất định. Trong chủ thuyết phát triển của chúng ta, nhà nước không chen lấn với xã hội dân sự, mà tập trung mọi cố gắng để làm tròn và làm tốt chức năng thực sự của một nhà nước.

Đọc tiếp phần 2