Dự Án Chính Trị Dân Chủ Đa Nguyên
Thành Công Thế Kỷ 21
Phần 2
V.
Chế độ chính trị cho một nước Việt
VI.
Chấm dứt độc tài và thiết lập dân chủ
đa nguyên
VII.
Chuyển tiếp thành công về dân chủ
VIII.
Vì đất nước hôm nay và ngày mai: chung một giấc
mơ Việt Nam
IV. Những định hướng lớn
Bước vào thế
kỷ 21, chúng ta phải làm lại đất nước.
Chúng ta phải đổi mới hoàn toàn hệ thống
chính trị, kinh tế, xã hội, quan hệ giữa nhà
nước và người dân, quan hệ giữa nước
ta và thế giới ; chúng ta phải xét lại vai trò của
xã hội dân sự, chọn lựa những giải pháp dài
hạn cho các vấn đề công bằng xã hội và giới
hạn dân số.
Chúng ta sẽ làm lại
đất nước trên những định hướng
lớn sau đây :
Một xã hội tiến
bộ phải được xây dựng trên nền tảng
của những giá trị tiến bộ.
Các nước
phương Tây sở dĩ phát triển mạnh mẽ và
vượt hơn hẳn phần còn lại của thế
giới là vì xã hội của họ đặt nền tảng
trên những giá trị cơ bản đúng. Những giá trị
đó là hòa bình, tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền,
nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác,
lợi nhuận, môi trường và liên đới. Những
giá trị này không phải của riêng người
phương Tây mà vốn đã hiện diện trong mọi
xã hội và trong mọi nền văn minh. Ưu điểm
của các nước phương Tây là họ đã biết
đề cao và phát huy triệt để một phần lớn
trong số các giá trị này để lấy làm nền tảng
cho xã hội. Nhờ vậy họ đã có được
sức mạnh và sự phồn vinh. Tiếp xúc với các
nước phương Tây, các quốc gia đều nhận
ra sự thua kém của mình và đều tìm cách thỏa hiệp
với nền văn minh phương Tây. Tuy nhiên quán tính tự
nhiên đã khiến hầu hết các quốc gia đều
có khuynh hướng chỉ chấp nhận một phần
những thành tố của xã hội phương Tây để
hội nhập nó vào truyền thống của mình, chẳng
hạn như học hỏi kỹ thuật phương
Tây trong khi v¨ẫn giữ nguyên cơ cấu xã hội cũ.
Nhưng một nền văn minh là một tổng thể
cấu tạo bởi những giá trị gắn bó với
nhau cho nên rất khó lấy một thành tố của một
nền văn minh để ghép vào một nền văn
minh khác. Không thể chấp nhận kỹ thuật của
phương Tây trong khi vẫn từ chối những giá trị
cơ bản đã làm nẩy sinh và đã thúc đẩy sự
tiến phát của các kỹ thuật đó. Kinh nghiệm của
các quốc gia đã chứng tỏ rằng thái độ nửa
chừng này chỉ đem lại những thành công giới
hạn. Nước Nga mặc dầu đã bắt đầu
canh tân từ cuối thế kỷ 17 đã không bắt kịp
được Tây Âu và đã khủng hoảng, cuối cùng
trở thành một chế độ cộng sản với
hậu quả tai hại mà thế giới đã thấy ;
nước Nhật đã tích lũy những mâu thuẫn
để rồi bị dẫn đến chiến tranh tự
hủy. Ngày nay cả Nhật và Nga đều đã nhận
ra sai lầm đó. Nhật đã chấp nhận toàn bộ
các giá trị của thế giới tiến bộ từ
sau Thế Chiến II và Nga cũng đang chuyển hóa mạnh
mẽ theo chiều hướng đó.
Chấp nhận một
cách thành thực và quả quyết những giá trị chính
trị, văn hóa, xã hội của thế giới tiến
bộ là điều kiện tiên quyết. Nhật Bản
vì chọn lựa như vậy đã trở thành một
cường quốc hàng đầu thế giới. Các
nước châu Á khác từ ba thập niên gần đây
đi theo khuôn mẫu Nhật Bản cũng đang trỗi
dậy mạnh mẽ. Tuy nhiên, vì vẫn còn nhiều vướng
mắc với quá khứ và chưa chọn lựa một
cách dứt khoát các giá trị tiến bộ mới, đặc
biệt là dân chủ, các nước vừa phát triển tại
châu Á đã tích lũy nhiều mâu thuẫn dẫn tới cuộc
khủng hoảng trầm trọng trong năm 1997 và đã
chỉ bắt đầu phục hồi sau khi đã dân chủ
hóa. Chấp nhận toàn bộ các giá trị tiến bộ
là chọn lựa chúng ta phải làm và phải làm một
cách thật quả quyết. Giữa sự dùng dằng,
lưỡng lự của các nước trong vùng, chọn
lựa này là một cơ may cho phép chúng ta vươn lên bắt
kịp và vượt qua họ.
Trong những giá trị
trên đây, giá trị mà ta cần nhất là hòa bình. Truyền
thống chống ngoại xâm dần dần đã khiến
ta coi bạo lực như là phương cách tự nhiên
để giải quyết xung đột. Ta quen tôn vinh những
anh hùng có chiến công hiển hách mà coi nhẹ những cố
gắng xây dựng âm thầm, nền tảng của mọi
tiến bộ. Từ nay chúng ta phải nguyền rủa bạo
lực và nâng hòa bình lên làm một giá trị tuyệt đối.
Chúng ta đừng lo sợ
chấp nhận những giá trị mới sẽ làm ta mất
đi quốc hồn quốc túy. Những giá trị này
đã có sẵn trong xã hội ta, chỉ tiếc rằng ta
đã không phát huy chúng một cách đầy đủ đến
nỗi phải khổ nhục và thua kém như ngày nay. Chấp
nhận chúng không phải là tự phủ nhận chúng ta mà
chỉ có nghĩa là phát huy cái hay sẵn có trong chúng ta. Vả
lại, tiến lên và bắt kịp thế giới là
điều kiện để chúng ta có thể tồn tại
như một quốc gia và giữ được văn
hóa và bản sắc dân tộc.
Trên những giá trị
chung các nước phương Tây đã xây dựng nên nhiều
nếp sống khác nhau tùy đặc thái riêng của mỗi
nước. Xã hội Anh khác với xã hội Pháp, văn
hóa Đức khác với văn hóa Ý, nước Mỹ
không giống như nước Thụy Điển. Trên
căn bản các giá trị mới Nhật Bản và nhiều
nước châu Á khác vẫn giữ được truyền
thống của họ. Trên căn bản các giá trị tiến
bộ Việt
Chúng ta cần một
cuộc vận động tư tưởng lớn. Giáo dục
của ta, luật pháp của ta, các sinh hoạt văn hóa,
xã hội, kinh tế của ta đều phải nhấn mạnh
và tôn vinh các giá trị tiến bộ. Trường học
ngoài sứ mệnh cốt lõi của nó là chuyển giao kiến
thức, còn phải là môi trường tập quen tuổi
trẻ với tinh thần bao dung, tinh thần trách nhiệm,
cách suy nghĩ tự do và khách quan và lòng yêu quí đất
nước, đồng bào, nhân loại và thiên nhiên. Một
cố gắng đặc biệt cũng sẽ được
dành cho thể dục thể thao nhằm phát huy óc khách quan,
tinh thần tranh đua trong hòa bình, tinh thần thượng
tôn luật pháp. Cuộc vận động tư tưởng
này là cố gắng quan trọng nhất trong mọi cố
gắng, bởi vì đây chính là cố gắng xây dựng nền
tảng của xã hội mới.
Dân tộc ta có truyền
thống giữ nước vẻ vang, nhưng bù lại ta
cũng đã mất quá nhiều thời giờ và nghị
lực cho cố gắng chống ngoại xâm. Trong những
tranh đấu cam go ấy ta luôn luôn phải đề cao
kỷ luật và sự nhất trí, luôn luôn phải gác lại
những tranh cãi để đương đầu với
những vấn đề cấp bách. Lịch sử chật
vật ấy một mặt khiến chúng ta có khả
năng thích nghi cao với điều kiện sinh sống
nhưng mặt khác cũng làm ta dần dần mất
đi cái nhìn dài hạn, sáng kiến, óc phát minh và tinh thần
mạo hiểm.
Chúng ta có một bờ
biển dài và một đại dương hiền hậu,
nhưng biển cả hình như không có một tiếng gọi
nào với chúng ta cả. Chúng ta đã thiếu hẳn quyết
tâm chinh phục và tận dụng đại dương.
Chúng ta không có kỹ thuật đóng tàu và đi biển,
không có đội thương thuyền, không có những nhà
hải hành lớn. Chúng ta chỉ sống với đất
như một dân tộc lục địa. Chúng ta đã hài
lòng với khuôn mẫu Khổng Mạnh từ đời
này qua đời khác mà không hề có ý định thay đổi,
mặc dầu khuôn mẫu độc đoán và hà khắc
đó sau khi đã cho phép chúng ta đạt những thành tựu
lớn lúc ban đầu, đã bắt chúng ta dẫm chân tại
chỗ trong nhiều thế kỷ sau đó.
Óc sáng tạo và tinh thần
cầu tiến là điều chúng ta phải học và tập
quen. Muốn như thế chúng ta phải khuyến khích và
tôn vinh tự do suy nghĩ và phát biểu. Chúng ta cần nâng
lên hàng một nguyên tắc tuyệt đối là trong nước
Việt
Trong gần suốt
dòng lịch sử chúng ta sống dưới những chế
độ quân chủ tuyệt đối coi đất
nước của riêng một dòng vua, khi chúng ta không bị
ngoại thuộc. Lòng yêu nước của chúng ta vì vậy
không có điều kiện để phát triển. Khi ý niệm
quốc gia như là của mọi người và phải
được sự đóng góp của mọi người
xuất hiện, do hậu quả của một di sản
trong đó vua là trời và dân là nô lệ, nó đã mau chóng bị
tuyệt đối hóa. Tổ quốc trở thành thiêng
liêng, tối thượng, không có trách nhiệm nào và không chấp
nhận một đòi hỏi nào. Tổ quốc đó
đã được dùng làm chiêu bài cho quá nhiều tội
ác. Chiến tranh, tang tóc, thất vọng, sự chịu
đựng quá lâu một chế độ độc tài vừa
tồi dở vừa bạo ngược, mặc cảm
thua kém các dân tộc khác làm cho lòng yêu nước của
chúng ta bị tổn hại trầm trọng. Chính vì lòng yêu
nước đã bị suy giảm mà trước đây
chúng ta đã để cho đảng cộng sản, một
đảng mà lý tưởng là phục vụ cho một
phong trào quốc tế thay vì đất nước, xuất
hiện như một đảng yêu nước, lôi kéo
được một số đông đảo đồng
bào và khống chế chính trường. Chính vì ý chí và lòng
yêu nước đã hao mòn mà ngày nay chúng ta đã không phản
ứng đủ quyết liệt trước một chế
độ độc tài đảng trị coi đất
nước là của riêng mình như các vua chúa ngày xưa,
trong khi cả nhân loại đang tiến về dân chủ
và chính chúng ta cũng biết đất nước rất
cần dân chủ.
Nhưng chúng ta là
người Việt
Chúng ta cần xác định
lòng yêu nước như một tình cảm tự nguyện
của những con người tự do, ràng buộc mật
thiết với nhau để xây dựng một
tương lai chung cho mình và cho con cháu. Chúng ta cần ðể
cho mỗi ngýời yêu nýớc theo cách của mình, chúng ta
không thể để cho lòng yêu nước bị đồng
hóa với sự tán thành một chủ nghĩa. Chúng ta cần
hòa giải người Việt
Muốn như thế
chính quyền, người đại diện và hành động
nhân danh tổ quốc, phải là một chính quyền khiêm
tốn, cần kiệm và tận tụy, quí trọng từng
người dân và để cho mỗi người thấy
rõ ràng mình được quí trọng. Chính quyền ấy sẽ
hóa giải mọi hận thù, sẽ nhân danh sự liên tục
quốc gia để xin lỗi, phục hồi danh dự
và bồi thường thiệt hại cho mọi nạn
nhân của những oan ức. Chính quyền ấy sẽ
thường trực cảnh giác để không một
thành phần dân tộc nào cảm thấy bị bỏ
rơi. Chính quyền ấy sẽ không bắt bất cứ
ai phải yêu nước, trái lại sẽ dồn mọi
cố gắng tạo điều kiện để mọi
người có thể yêu nước.
Cùng với dân chủ tự
do, ý kiến và sáng kiến, nhưng trên tất cả, lòng
yêu nước sẽ là một vũ khí chủ yếu giúp
chúng ta chinh phục tương lai.
Ý niệm xã hội dân
sự đã được xuất hiện cùng một lúc
với các xã hội văn minh. Đó là những sợi dây
chằng chịt gắn bó những con người với
nhau và gắn bó con người với xã hội. Những sợi
dây liên lạc đan xen đó tạo ra sự bền chắc
của quốc gia. Các kết hợp công dân tạo thành xã hội
dân sự cũng là những cái nôi cho ý kiến, sáng kiến
và tiến bộ. Một xã hội dân sự mạnh bảo
đảm các ý kiến mới được nảy sinh
nhanh chóng, các mâu thuẫn được phát hiện và giải
quyết kịp thời, xã hội không ngừng tiến hóa
trong hòa bình và trật tự.
Trong mô hình xã hội của
chúng ta, xã hội dân sự còn được giao phó một
vai trò quan trọng là thực hiện liên đới xã hội,
giúp đỡ và bênh vực những người yếu kém
và thiếu may mắn.
Mọi kết hợp
đều tạo ra sức mạnh. Sức mạnh của
xã hội dân sự là sức mạnh tổng hợp,
nhưng không bao giờ thống nhất, của các kết
hợp công dân có khi cùng hướng với nhau, có khi biệt
lập với nhau và cũng có khi đối chọi với
nhau. Sức mạnh của xã hội dân sự từng lúc
và từng cơ hội hòa nhập với nhà nước
hay đối lập với nhà nước, nhưng lúc nào
cũng ảnh hưởng trên nhà nước và không bao giờ
có tham vọng tranh quyền với nhà nước bởi vì
nó không có và không thể có tham vọng chính trị.
Xã hội dân sự
đảm bảo sự năng động của xã hội
và đồng thời cũng bảo đảm tự do,
dân chủ, nhân quyền, ngăn chặn mọi ý đồ
độc tài chuyên chính. Mọi chế độ độc
tài bạo ngược đều nhắm trước hết
tiêu diệt xã hội dân sự. Bản chất của các
chế độ độc tài là dựa trên một thiểu
số để khống chế một xã hội phân hóa.
Các bạo quyền không cần dân chúng tin yêu mình mà chỉ cần
người dân đừng gắn bó với nhau để
không có sức đề kháng. Không gì thỏa mãn các tập
đoàn độc tài hơn là sự thờ ơ và bất
lực của quần chúng.
Triết lý của một
chế độ dân chủ, trái lại, coi xã hội dân sự
là thành tố áp đảo và nền tảng của quốc
gia vì thế vai trò của nhà nước là làm cho các kết
hợp công dân ngày càng đông đảo, không ngừng tiến
lên và mạnh lên để đóng góp tích cực cho sự
phồn vinh của xã hội. Nhà nước dân chủ
đa nguyên tự coi mình là công cụ của xã hội dân sự
với sứ mệnh bảo đảm hoạt động
lành mạnh của xã hội dân sự, để xã hội
dân sự tạo hạnh phúc cho các công dân. Đó không phải
là một sự từ nhiệm mà là một triết lý chính
trị mới của một chính quyền đủ tự
tin để đặt lòng tin vào các công dân. Trong quan hệ
biện chứng với xã hội dân sự, nhà nước
dân chủ đa nguyên tự coi mình là người trọng
tài, phối hợp và thể hiện những nguyện vọng
của xã hội dân sự. Nhà nước phục vụ chứ
không khống chế xã hội dân sự.
Sẽ không thể có một
cản trở nào cho sự thành lập và phát triển của
các kết hợp công dân. Đặc biệt các hiệp hội
không có mục đích lợi nhuận sẽ chỉ cần
khai báo sự thành lập chứ không cần giấy phép hoạt
động. Các hiệp hội có mục đích văn hóa,
xã hội còn có quyền đòi hỏi nhà nước giúp
đỡ.
Các cộng đồng
đều phải được tôn trọng như nhau
trong một đất nước Việt
Quốc gia Việt
Ngày nay người Kinh
đã chiếm đa số trên khắp lãnh thổ, giải
pháp thành lập những vùng tự trị cho các sắc tộc
không còn khả thi nữa, nhưng tản quyền sẽ
cho phép các sắc tộc có tiếng nói đáng kể trong
các chính quyền địa phương. Văn hóa, ngôn ngữ
của các sắc tộc ít người phải được
coi là thành phần của văn hóa Việt
Tinh thần tôn trọng
các cộng đồng cũng phải được mở
rộng ra tới các cộng đồng tôn giáo, các cộng
đồng tư tưởng, các cộng đồng nghề
nghiệp và các cộng đồng không thành hình thái do nếp
sống khác nhau của từng địa phương mà
có. Các cộng đồng này phải được đảm
bảo chỗ đứng và tiếng nói trong một định
chế quốc gia với nhiều thẩm quyền.
Kể từ ngày
30-4-1975 chúng ta lại có thêm một cộng đồng mới
: cộng đồng người Việt hải ngoại.
Những người Việt
Sự hình thành của
cộng đồng Việt
Chọn lựa ấy
có nghĩa là nhà nước sẽ không làm tất cả những
gì mà tư doanh có thể làm được. Vai trò kinh tế
chủ yếu của nhà nước là bảo đảm sự
ổn vững của đồng tiền, ngăn ngừa
những cạnh tranh bất chính và đầu tư vào những
ngành nhiều triển vọng mà tư nhân chưa dám hoặc
chưa đủ khả năng đầu tư. Nhà nước
cũng có chức năng cảnh giác trước những
khuynh hướng kinh doanh có hại và khuyến khích những
hoạt động kinh tế có lợi, nhưng nhà nước
thực hiện chức năng này chủ yếu bằng
thông tin và nâng đỡ chứ không phải bằng mệnh
lệnh và cấm đoán. Nhà nước sẽ dồn mọi
cố gắng bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ,
bảo vệ trật tự an ninh, bảo vệ công lý, bảo
vệ môi trường sinh sống, phát huy các mối bang
giao quốc tế có lợi, xây dựng và củng cố
đồng thuận dân tộc, nghĩa là làm đúng chức
năng của một nhà nước.
Công bằng xã hội
là điều kiện cơ bản để giữ gìn sự
bền chắc của nền tảng xã hội, bảo
đảm sự tham gia tích cực và phấn khởi của
mọi người vào tương lai đất nước,
tránh những xung đột có thể làm gãy đổ
đà tiến của dân tộc về tương lai và
đưa đến bạo loạn.
Trong thực tế,
phát triển kinh tế thường đẻ ra và làm trầm
trọng thêm những chênh lệch trong xã hội. Nhiệm vụ
trọng yếu của nhà nước là ngăn chặn và
làm giảm thiểu những nguyên nhân căng thẳng mà sự
phát triển, vì không thể nào hoàn toàn cân đối, chắc
chắn sẽ đem lại.
Công bằng xã hội
đòi hỏi một cố gắng không ngừng trong việc
tái phân phối lợi tức quốc gia nhằm bênh vực
những thành phần yếu kém.
Công bằng xã hội
đòi hỏi một hệ thống bảo trợ xã hội
đảm bảo những nhu cầu tối thiểu về
thực phẩm và sức khỏe cho mọi người.
Công bằng xã hội
đòi hỏi một hệ thống giáo dục và đào tạo
phổ cập và liên tục đảm bảo những
cơ hội thăng tiến đồng đều cho mọi
công dân.
Nhìn một cách ngắn
hạn công bằng xã hội có thể là một gánh nặng
cho quốc gia và một trở ngại cho phát triển kinh
tế nhưng, nhìn một cách dài hạn hơn và sáng suốt
hơn, nó là một bắt buộc để đà phát triển
kinh tế có thể tiếp tục. Công bằng xã hội cũng
là điều kiện tối cần thiết để
đảm bảo tình tự dân tộc và sự gắn bó của
quốc gia.
Công bằng xã hội
tuyệt đối là điều không thể có. Điều
quan trọng là nhà nước coi công bằng xã hội là
ưu tư thường trực. Chính vì công bằng xã hội
là vấn đề vừa cần thiết, vừa tế
nhị mà chúng ta phải gìn giữ nó thật cẩn trọng,
coi nó như một cuộc chiến đấu giữ
nước.
Nhà nước dĩ
nhiên đảm nhận nhiệm vụ thực hiện công
bằng xã hội. Nhưng nhà nước cũng sẽ
đặc biệt khuyến khích xã hội dân sự, qua các
tổ chức thiện nguyện, góp phần tích cực vào
công tác trọng đại đó. Một phần ngân sách xã
hội sẽ được sử dụng qua ngả xã hội
dân sự. Các tổ chức thiện nguyện sẽ
được tài trợ, trong một tỷ lệ do khả
năng ngân sách, so với nguồn tài nguyên mà họ đã
động viên được từ quần chúng cho các
công tác xã hội.
Việc tham gia tích cực
của xã hội dân sự vào cố gắng thực hiện
công bằng xã hội vừa có tác dụng vận động
sự đóng góp của quần chúng vào công tác liên đới
xã hội vừa có hiệu lực đặc biệt về
mặt tinh thần. Trước một văn phòng cứu
trợ xã hội của nhà nước người cần
được giúp đỡ có thể chỉ gặp một
công chức, nhưng tại một cơ quan thiện nguyện
họ gặp một người tình nguyện làm công tác xã
hội vì niềm tin, họ gặp một người và một
tấm lòng, sợi dây liên đới xã hội và tinh thần
phấn đấu vượt qua trở ngại chỉ có
thể mạnh thêm.
Chúng ta cần khẳng
định rằng công bằng xã hội là nhiệm vụ
của nhà nước với sự hợp tác của xã hội
dân sự chứ không phải là trách nhiệm của các xí
nghiệp. Các xí nghiệp ngoài bổn phận tôn trọng
nhân phẩm của công nhân, tôn trọng luật pháp của
nhà nước và tôn trọng những hợp đồng
đã ký kết với các công nhân, chỉ có chức năng
tạo ra lợi nhuận để đóng góp vào sự
giàu mạnh của xã hội và để nộp thuế
cho nhà nước, để nhà nước có tài nguyên bảo
đảm liên đới xã hội. Chúng ta khẳng định
rằng công bằng xã hội không thể can thiệp vào hoạt
động kinh tế và trở thành một trở ngại
cho các xí nghiệp.
Tuy nhiên trong trung hạn,
vì đất đai chật hẹp và dân số đông
đảo, Việt
Mục tiêu kinh tế của
chúng ta trong hai mươi năm tới là chuyển hóa từ
một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền
kinh tế công nghiệp và thương nghiệp. Điều
này có nghĩa là mặc dầu năng suất và sản
lượng của nông nghiệp vẫn không ngừng
tăng lên trọng lượng của nông nghiệp trong tổng
sản lượng quốc gia cũng như trong phối
trí nhân lực sẽ giảm dần đi. Bước
đầu của cố gắng chuyển hóa này là phát triển
những ngành công nghiệp gắn bó với nông nghiệp
như công nghiệp thực phẩm, chế tạo phân bón,
thuốc trừ sâu, nông cơ, v.v. song song với cố gắng
tìm thị trường xuất khẩu cho nông phẩm.
Ngoài những cố gắng
dồn vào những ngành mà triển vọng đã thấy rõ
như ngư nghiệp, du lịch, chúng ta sẽ đặc
biệt chú trọng tới hai triển vọng mới là dịch
vụ thương cảng và tin học. Cả hai ngành này
đều đòi hỏi một chính sách mở cửa trọn
vẹn, thẳng thắn ra thế giới bên ngoài.
Do vị trí và bờ biển
thuận lợi của ta, Việt
Người Việt
Nhà nước phải
lấy làm mục tiêu nối kết mọi gia đình vào mạng
lưới Internet để sử dụng tối đa mạng
lưới này như một phương tiện thông tin, học
hỏi, trao đổi và mua bán.
Chúng ta sẽ không thiết
lập các khu kinh tế với qui chế đặc biệt
như kiểu "khu chế xuất" mà sẽ dành mọi
khuyến khích và dễ dãi cho các hoạt động kinh tế
trên cả nước, với một luật kinh doanh chung
cho toàn lãnh thổ.
Đất nước
ta may mắn là một quốc gia duyên hải, các vùng
đông dân đều không xa bờ biển và cũng không xa
các cảng tốt. Dựa vào ưu thế đó chúng ta sẽ
thiết lập các trung tâm công nghiệp trải đều
trên khắp lãnh thổ. Chính sách này đòi hỏi một
đầu tư quan trọng cho hệ thống giao thông và
truyền thông nhưng bù lại sẽ tiết kiệm
được những tốn kém còn quan trọng hơn về
di dân, và đồng thời cũng tránh được nạn
nhân mãn tại các thành phố lớn mà các quốc gia
đang mở mang đều gặp. Cần nhấn mạnh
rằng mọi chính sách tương lai đều tuyệt
đối không mang tính cưỡng bách. Tái phối trí dân số
và lực lượng lao động là hiện tượng
thường trực và tự nhiên trong mọi quốc gia,
nhất là tại các quốc gia đang phát triển,
nhưng cách hay nhất vẫn là để người dân
toàn quyền chọn lựa nghề nghiệp và nơi sinh
sống sau khi được thông tin đầy đủ
về các cơ hội. Đó là phương thức để
trí tuệ cá nhân và sách lược quốc gia bổ túc cho
nhau và điều chỉnh lẫn nhau.
Chủ nghĩa nước
nhỏ là gì? Nói một cách giản dị, đó là nhẫn
nhục hôm nay để lớn mạnh ngày mai.
Về mặt đối
nội, chủ nghĩa nước nhỏ có nghĩa là
chúng ta sẽ không chia rẽ và xung khắc với nhau về
những chủ thuyết cao siêu, sẽ cùng nhau nhận diện
số phận hẩm hiu, thương yêu và đùm bọc lẫn
nhau để cùng dắt tay nhau ra khỏi bế tắc.
Nhà nước sẽ từ chối những chi tiêu có tính
huênh hoang gây thanh thế, tập trung mọi tài nguyên và sinh lực
cho cố gắng ra khỏi tình trạng thua kém. Nhà nước
sẽ trân trọng bảo vệ và gìn giữ những thành
quả ít ỏi đã đạt được, nhà nước
sẽ đặt trọng tâm vào giáo dục và đào tạo,
và sẽ đầu tư vào một nền giáo dục thực
dụng trước tiên.
Về mặt đối
ngoại, chúng ta sẽ không tranh giành một vai trò quốc tế
nào, sẽ không có thái độ trong những tranh chấp quốc
tế trừ khi để bênh vực lẽ phải, đạo
đức và công pháp quốc tế. Chúng ta sẽ cố gắng
tạo một hình ảnh hiền hòa, khiêm tốn để
được cộng đồng quốc tế chấp
nhận như một quốc gia có thể giao thương
được, sẽ dứt khoát không can dự vào một
xung đột quốc tế nào.
Điều đáng lo
ngại hiện nay là chúng ta đang sống trong một khu
vực có nhiều khả năng gây ra căng thẳng, thậm
chí xung đột. Chúng ta coi sự hiện diện quân sự
tích cực của Hoa Kỳ trong vùng là một yếu tố
cần thiết để bảo đảm hòa bình và ổn
vững, và chúng ta sẽ khuyến khích sự hiện diện
đó.
Chúng ta coi hợp tác với
Hoa Kỳ và các nước phương Tây là một phúc lợi
lớn không những mở ra cho ta những thị trường
lớn, đem lại những chuyển giao khoa học kỹ
thuật quí báu mà còn giúp ta tiếp thu cách tổ chức, suy
nghĩ và làm việc của các xã hội dân chủ tiên tiến.
Chúng ta sẽ thành thực và khiêm tốn hợp tác với họ
và học hỏi nơi họ.
Với một chính sách
đối ngoại khiêm tốn và hòa bình chúng ta sẽ không
cần một quân lực đông đảo. Với một
chính sách đối nội tôn trọng mọi quyền tự
do và dựa trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc,
chúng ta sẽ không cần một bộ máy cảnh sát công an
đồ sộ. Quân đội và cảnh sát vì vậy sẽ
được giảm tới mức tối thiểu,
nhưng đầy đủ, để làm tròn nhiệm vụ
của những công cụ phi chính trị bảo vệ lãnh
thổ và giữ gìn trật tự an ninh.
Tinh thần của chủ
nghĩa nước nhỏ là nhìn nhận sự thua kém của
mình và động viên tất cả tài nguyên và sinh lực
để đưa đất nước đi lên. Với
dân số đông đảo và những con người cần
mẫn, lại được một vị trí thuận lợi,
Việt Nam có tiềm năng lớn và có quyền mong muốn
một chỗ đứng vẻ vang trên thế giới nếu
biết cố gắng và nhẫn nhục trong một vài thập
niên.
Đối với các
nước phương Tây, đặc biệt là Pháp và Hoa
Kỳ là hai nước đã từng có những quan hệ
phức tạp và xung động, chúng ta bình thường
hóa không những quan hệ ngoại giao mà cả quan hệ
văn hóa và tình cảm. Chúng ta còn rất nhiều để
học hỏi nơi họ và cũng có rất nhiều
để trông đợi ở một sự hợp tác
lưỡng lợi. Chúng ta cũng cần lưu ý đặc
biệt đến những quốc gia mà chính sách di dân còn dễ
dãi hoặc có triển vọng dễ dãi để phát triển
cộng đồng người Việt hải ngoại. Một
chính sách đối ngoại hiếu hòa và khiêm tốn,
đi song song với sự tận dụng khả năng
đóng góp của cộng đồng Việt
Nhưng gần hơn
hết chúng ta phải củng cố và tăng cường
chỗ đứng của ta tại khu vực châu Á và Thái
Bình Dương đặc biệt là trong lòng khối ASEAN.
Trong lòng khối này chúng ta sẽ góp phần tích cực
tăng cường sự liên đới, hạ thấp dần
những hàng rào văn hóa và mậu dịch, thúc đẩy
sự hình thành thực sự của một vùng trao đổi
tự do.
Gần nhất, ta phải
thắt chặt quan hệ hợp tác với hai nước
bạn láng giềng Lào và Cam-bốt. Chúng ta đã là nạn
nhân của một âm mưu chia để trị xuất
phát từ thời ngoại thuộc Pháp mà ngày nay ta phải
phá vỡ. Biên giới của ta với hai nước này
không đổi từ hơn hai thế kỷ nay. Đó là một
trong những biên giới ổn vững nhất thế giới,
làm chứng cho khả năng sống chung hòa bình giữa Việt
Đối với Trung
Quốc chúng ta cần giải quyết trong tinh thần hữu
nghị những tranh chấp về lãnh hải và hải
đảo để mở đầu một giai đoạn
hợp tác. Hai nước có chung một biên giới dài,
đã từng chia sẻ một văn hóa và cũng có rất
nhiều tương đồng về cấu tạo nhân
văn cho nên sự hợp tác là một lẽ tự nhiên.
Điều đáng lo ngại hiện nay là Trung Quốc một
mặt đang gia tăng sức mạnh quân sự và mặt
khác biểu lộ một chính sách bá quyền khu vực.
Đối với Trung Quốc, chúng ta cần chứng tỏ
một thái độ khiêm tốn, hòa nhã nhưng kiên quyết
bảo vệ chủ quyền trên lãnh thổ, vùng biển
và các hải đảo. Chúng ta hy vọng sự hiện diện
quân sự tích cực của Hoa Kỳ trong vùng sẽ là một
đảm bảo cho hòa bình và an ninh. Chúng ta có lý do để
tin rằng Trung Quốc sẽ chọn lựa đường
lối hòa hoãn và hợp tác, nhưng hiện đại hóa
khả năng tự vệ của chúng ta cũng là một
yếu tố khuyến khích Trung Quốc đi theo
đường lối tốt đẹp đó. Trong ngắn
hạn, khi vấn đề thống nhất của Trung
Quốc chưa giải quyết xong, chúng ta sẽ chú trọng
đặc biệt vào sự phát triển các quan hệ ngoại
thương phi chính trị với Đài Loan.
Chúng ta không thể phủ
nhận vai trò lãnh đạo kinh tế châu Á của Nhật
và phải đặt quan hệ kinh tế với Nhật
lên hàng một quốc sách phát triển. Chúng ta phải tranh
thủ vốn đầu tư của các công ty Nhật,
đồng thời quân bình đầu tư của Nhật
với đầu tư từ các nước khác.
Sau cùng chúng ta cũng cần
có một nhận định sáng suốt và thực tiễn
đối với các nước thuộc Đông Âu và Liên
Xô cũ. Các nước này là những thị trường
đầy tiềm năng trong đó chúng ta đã sẵn có
nhiều người bạn, nhiều quan hệ và hiểu
biết cần được khai thác.
Kinh nghiệm của
chính quyền cộng sản cho thấy là một chính sách hạn
chế sinh đẻ quả quyết đến độ
dã man chỉ làm xuống cấp con người chứ không
làm giảm dân số. Vấn đề cần được
giải quyết ở tận gốc rễ văn hóa và nhân
sinh quan của nó. Trong giáo dục học đường và
đại chúng cần phổ biến các kiến thức về
ngừa thai và bình thường hóa quan hệ nam nữ, cần
tách rời việc lập gia đình và có con cái với việc
thỏa mãn nhu cầu sinh lý.
Sinh đẻ nhiều
cũng do hai nguyên nhân khác mà ta cần khắc phục,
đó là trình độ văn hóa và vai trò xã hội kém của
phụ nữ, và sự lo âu của tuổi già. Nâng cao trình
độ văn hóa của phụ nữ và hội nhập
một cách tích cực phụ nữ vào sinh hoạt kinh tế
xã hội là một đầu tư cần thiết để
chặn đà gia tăng dân số. Mọi kinh nghiệm trên
thế giới đều chứng tỏ rằng càng có
trình độ văn hóa cao, càng tham gia tích cực vào sinh hoạt
kinh tế, phụ nữ càng có khuynh hướng tự hạn
chế sinh đẻ. Kinh nghiệm cũng cho thấy rằng
bảo đảm cuộc sống cho người già sẽ
hạn chế được một cách đáng kể
đà gia tăng dân số vì con đông trước hết
là một đảm bảo cho tuổi già ở các nước
thiếu an sinh xã hội. Phải săn sóc người già
nếu không muốn phải tiếp nhận thêm quá nhiều
trẻ thơ mà chúng ta không có khả năng nuôi dưỡng
và giáo dục. Chúng ta cần một đạo luật bảo
đảm một lợi tức tối thiểu cho những
người già cả. Chính sách này sẽ tạo một tâm
lý an toàn và chắc chắn sẽ làm giảm ngay mức sinh
đẻ, nhất là với niềm tin là lợi tức bảo
đảm cho tuổi già sẽ càng ngày càng tăng với
phát triển kinh tế.
Sau cùng chúng ta cũng có quyền tin tưởng là đà gia tăng dân số sẽ giảm xuống trong một xã hội văn minh không trọng nam khinh nữ đến độ phải đẻ cho đến khi có con trai, một xã hội có thông tin đầy đủ và có cơ hội thăng tiến cho mọi người. Một khi có đủ lạc quan để lập kế hoạch cho tương lai mình, các cặp vợ chồng sẽ tự nhiên nhận thấy họ phải hạn chế số con cái.
V. Chế độ chính trị cho một nước
Việt
Chúng ta chọn lựa
một chế độ chính tri đáp ứng sáu yêu cầu
cơ bản của đất nước :
- xây dựng dân chủ,
- thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc,
- phát triển đất nước,
- giảm thiểu chênh lệch giữa các vùng,
- thỏa mãn những khát vọng chính đáng của các cộng
đồng sắc tộc và tôn giáo,
- và thực hiện thống nhất đất nước
thực sự.
Dưới ánh sáng của
sáu yêu cầu cơ bản đó chúng ta chọn một chế
độ chính trị dân chủ đại nghị và tản
quyền.
Lo âu này không có căn cứ,
nó xuất phát từ một hiểu lầm do một tuyên
truyền đầu độc mà nhiều người Việt
Sự kiện có ít hay
nhiều đảng phái tùy thuộc chủ yếu ở thể
thức đầu phiếu, chứ không phải ở mức
độ tự do chính trị. Nói một cách giản dị
: lối đầu phiếu đơn danh và một vòng
đưa tới chế độ lưỡng đảng
vì loại bỏ các đảng nhỏ, trong khi lối
đầu phiếu theo tỷ lệ đưa tới sự
xuất hiện của nhiều chính đảng.
Bầu đơn danh
và một vòng có nghĩa là mỗi đơn vị bầu cử
bầu ra một dân biểu và các ứng cử viên ra tranh cử
với tư cách pháp lý cá nhân, dù có thể mang nhãn hiệu của
một chính đảng, ai được số phiếu
cao nhất sẽ đắc cử. Lối bầu cử
này có lợi cho các chính đảng lớn, loại các đảng
nhỏ và bảo đảm sự hiện hữu thường
trực của một đa số để thành lập
và điều hành chính phủ một cách ổn vững,
ngược lại nó không cho phép các khuynh hướng thiểu
số có tiếng nói tại nghị trường. Trên thực
tế nó thường đưa tới chế độ
lưỡng đảng. Như vậy lối đầu
phiếu đơn danh và một vòng là giải đáp kỹ
thuật cho ưu tư có một chính quyền ổn vững
mà không cần giới hạn tự do chính trị về mặt
pháp chế.
Bầu theo tỷ lệ
có nghĩa là đầu phiếu chung trên cả nước
hay trong mỗi vùng, giữa các chính đảng với nhau,
và số dân biểu đắc cử của mỗi chính
đảng sẽ tỷ lệ với số phiếu của
mình, thí dụ đảng được 20% số phiếu
thì trên nguyên tắc cũng được 20% dân biểu. Lối
đầu phiếu này rất dân chủ vì cho phép mọi
khuynh hướng có tiếng nói và chỗ đứng trong
quốc hội, nhưng ngược lại nó có nguy cơ
đưa tới một quốc hội phân tán trong đó
không có đảng nào có đa số đủ để cầm
quyền.
Giải pháp tối
ưu là một sự phối hợp giữa hai lối
đầu phiếu này để vừa đảm bảo
dân chủ vừa đảm bảo sự ổn vững
tương đối của chính quyền. Về mặt
kỹ thuật có thể có vô số công thức, kể cả
lối đầu phiếu đơn danh hai vòng với tác
dụng kết hợp các đảng có cùng khuynh hướng
trong vòng hai.
Những nhận định
này cho phép ta khẳng định rằng viện lý do ổn
định chính trị để giới hạn hoạt
động chính đảng là vô căn cứ. Trong nước
Việt
Cũng cần chấm
dứt một sự lẫn lộn gian trá về ổn
định. Ổn định có hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất
là ổn định dân sự, nghĩa là ổn định
trong cuộc sống của mỗi công dân, là đảm bảo
không bị bắt bớ, tịch thu tài sản, cấm kinh
doanh, không là nạn nhân của những thay đổi luật
pháp đột ngột và thường xuyên, hay những quyết
định tùy tiện của chính quyền. Ổn định
này rất cần thiết cho phát triển kinh tế, vì có
như thế người dân mới có thể yên trí để
tiên liệu và hoạch định sinh hoạt của mình. Ổn
định này đòi hỏi dân chủ, nhân quyền và nhà
nước pháp trị.
Nghĩa thứ hai là ổn
định của tập đoàn cầm quyền, hay nói
khác đi là sự kéo dài của một chính quyền với
cùng những người cầm quyền. Sự kéo dài này,
nếu không do bầu cử tự do mà là do một chế
độ độc tài bạo ngược, còn rất mâu
thuẫn với ổn định dân sự và do đó hoàn
toàn mâu thuẫn với phát triển, bởi vì người
dân luôn luôn phải sống trong sợ sệt, không dám và
không thể lập những kế hoạch kinh doanh lâu dài.
Kinh nghiệm cho thấy
ổn định dân sự rất cần cho phát triển,
trong khi ổn định của tập đoàn cầm quyền
hoàn toàn không có ảnh hưởng, hoặc chỉ có ảnh
hưởng xấu. Tại Nhật, từ sau Thế Chiến
II tới nay, ít có chính phủ nào kéo dài được hai
năm. Tại Ý, tuổi thọ trung bình của các chính phủ
còn ngắn hơn nhiều. Mặc dầu vậy kinh tế
của cả hai nước này đều phát triển
nhanh chóng, họ đều là thành viên của nhóm bảy
nước phát triển nhất. Trong khi các nước có
những chính quyền kéo dài như Việt Nam, Cuba, Bắc
Triều Tiên và nhiều nước thuộc châu Phi và châu Mỹ
La Tinh lại rất trì trệ và lạc hậu.
Khi các tập đoàn
độc tài - như ban lãnh đạo Đảng Cộng
Sản Việt Nam - nói cần phải có ổn định
để phát triển, nhiều người đồng ý
với họ vì hiểu đó là ổn định dân sự
trong khi họ thực hiện ổn định theo nghĩa
thứ hai, nghĩa là ổn định của tập
đoàn cầm quyền. Đó là một sự gian trá cần
được tố giác.
Câu trả lời dứt
khoát là không.
Các vùng không phải là
những quốc gia, tự quản không đồng nghĩa
với độc lập. Luật pháp của vùng không thể
mâu thuẫn với luật pháp quốc gia.
Cũng nên có một cái
nhìn lành mạnh hơn về thống nhất, vượt
lên trên sự thống nhất hành chính, nặng nề và bàn
giấy. Thống nhất chủ yếu là thống nhất
trong lòng người. Khi mỗi người và mỗi địa
phương cảm thấy có chỗ đứng và tiếng
nói trong cộng đồng quốc gia trong khi những nét
đặc thù của mình vẫn được tôn trọng
thì họ càng cảm thấy hòa nhập vào quốc gia, và
hòa hợp dân tộc càng mạnh thêm. Ngược lại,
trong thế giới vừa dồn dập vừa phức tạp
hiện nay và trong một quốc gia với gần một
trăm triệu người, một chính quyền trung
ương tập quyền không thể nào định
đoạt tất cả, các địa phương trên thực
tế vẫn tự trị, nhưng tự trị một
cách bất hợp pháp, nghĩa là luôn luôn ở trong thế
xung đột hợp lý nhưng bất hợp pháp với
chính quyền trung ương, và do đó với cộng
đồng quốc gia. Trung ương tập quyền vì vậy
đưa tới sứ quân thay vì thống nhất. Chính vì
tác dụng đoàn kết dân tộc của nó mà tản quyền
cần được thực hiện cả trên bình diện
quốc gia lẫn trong tổ chức của mỗi vùng.
Tản quyền là xu
hướng áp đảo của thời đại này, và
là kết luận của hai thế kỷ thử nghiệm
dân chủ trên trái đất. Điều đáng ngạc
nhiên là các dân tộc đã mất một thời gian dài
như vậy để khám phá một sự thật
đơn giản : một nội các chỉ có thể gồm
một số ít người, và một số ít người
không thể quyết định tất cả cho một quốc
gia rộng lớn với số người đông đảo,
sinh sống trên những vùng đất với những
điều kiện địa lý và nhân văn khác nhau.
Tản quyền có những
ưu điểm rõ rệt : nó khuyến khích sinh hoạt
chính trị tại các địa phương, nó đem dân
chủ tới mọi nơi với mọi người, nó
tránh được những đường dây hành chính dài
và phức tạp cho sinh hoạt thường ngày, nó kích
thích sinh hoạt văn hóa và báo chí địa phương,
nó cho phép mỗi địa phương chọn lựa công
thức sinh hoạt phù hợp nhất với đặc
tính của mình và nhờ đó mà phát triển.
Các vùng nghèo khó sẽ có
được một chính quyền riêng dành tất cả
ưu tư cho việc phát triển vùng và đưa vùng lên
ngang tầm phát triển của cả nước, thay vì bị
quên lãng bởi một chính quyền trung ương bận
rộn với những vấn đề dồn dập của
các vùng đã phát triển và có hoạt động mạnh.
Không ai báo động một cách thành tâm và chính xác tình trạng
khó khăn của một vùng bằng một chính quyền của
vùng mà sứ mạng duy nhất là phát triển vùng.
Tản quyền còn
đóng góp vào sự ổn vững của quốc gia và của
dân chủ. Một mặt nó vô hiệu hóa những âm mưu
đảo chính (lật đổ chính quyền trung
ương rồi làm gì với các chính quyền địa
phương?). Mặt khác nó tránh các khủng hoảng
đáng lẽ không có ở cấp trung ương, bởi
vì vấn đề có thể đặt ra ở từng
địa phương một vào những thời điểm
khác nhau. Một ưu điểm vô cùng quan trọng khác của
tản quyền là nó làm giảm bớt xung đột chính
trị bởi vì một đảng có thể thua ở cấp
trung ương nhưng vẫn có thể nắm quyền tại
một số địa phương, nơi mà họ
được tín nhiệm. Xung khắc chính quyền -
đối lập vì vậy sẽ bớt gay gắt. Trong
hoàn cảnh lịch sử hiện nay của Việt Nam, tản
quyền vì vậy tránh được tình trạng
được thì được hết, thua thì thua luôn, và
đóng góp tích cực cho hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Tản quyền cho phép
những khuynh hướng thiểu số, các tôn giáo và các sắc
tộc ít người có trọng lượng chính trị
đáng kể tại những địa phương mà họ
hiện diện đông đảo, do đó làm dịu bớt
những tâm trạng bất mãn và các ý đồ ly khai, tự
trị.
Một điểm lợi
quan trọng khác của tản quyền là chính nhờ các
chính quyền địa phương mà mỗi khi có thay
đổi chính quyền thì những người lên cầm
quyền ở trung ương cũng không phải là những
người tập sự mà ít nhất đã có kinh nghiệm
ở cấp địa phương.
Tuy nhiên, muốn tản
quyền có nội dung và tác dụng thực sự của
nó, các vùng phải có một diện tích và một dân số
khả dĩ có thể tồn tại và phát triển
được.
Nước ta hiện
nay có khoảng 80 triệu dân, khi đà gia tăng dân số
đã khựng lại, dân số của chúng ta sẽ ổn
định ở một mức độ nào đó chung
quanh con số 100 triệu dân. Chúng ta có thể có từ
mười đến mười lăm vùng, mỗi vùng từ
năm tới mười triệu người.
Để tránh những
phiền phức về hành chính và nhất là về hộ tịch,
các vùng sẽ là sự kết hợp của một số
tỉnh hiện có. Việc tập trung các tỉnh vào một
vùng sẽ dựa trên các tiêu chuẩn cấu tạo sắc
tộc, chức năng kinh tế, tài nguyên thiên nhiên và giao
thông.
Mỗi vùng sẽ có một
nghị viện riêng được quyền bổ nhiệm
chính quyền vùng, ban hành các luật lệ vùng không mâu thuẫn
với hiến pháp và pháp luật quốc gia, biểu quyết
mức độ của một số sắc thuế, biểu
quyết ngân sách địa phương.
Chính quyền vùng do nghị
viện địa phương bầu ra để thi hành
những chính sách đã được nghị viện
địa phương biểu quyết.
Các vùng không có quyền
có quân đội, không được phát hành tiền tệ
riêng, không có đại diện ngoại giao, không được
quyền ký hiệp ước với các nước khác,
không được làm chủ các công ty có mục đích
kinh doanh, không được tổ chức những trưng
cầu dân ý có mục đích chính trị. Mọi cuộc bầu
cử và trưng cầu dân ý phải được chính
quyền trung ương cho phép và nhìn nhận kết quả
mới có giá trị.
Các vùng không được
ký hiệp ước với nhau. Việc phối hợp giữa
các vùng hoàn toàn thuộc thẩm quyền của chính quyền
trung ương.
Mỗi công dân có quyền
chọn lựa nơi cư trú trên toàn lãnh thổ. Các vùng
không có quyền cấm cản sự nhập cư vào vùng
mà chỉ có quyền giới hạn phạm vi lưu thông của
các công dân trong tình trạng điều tra pháp lý.
Số lượng cảnh
sát vùng không được vượt quá một tỷ lệ,
do chính quyền trung ương qui định, so với số
cảnh sát quốc gia hiện diện tại vùng.
Chính quyền trung
ương được quyền ấn định một
nội dung tối thiểu cho mỗi trình độ giáo dục.
Các bằng cấp cho phép hành nghề tự do phải
được chính quyền trung ương chuẩn nhận.
Các cơ quan chính quyền
tỉnh và dưới cấp tỉnh sẽ do một đạo
luật quốc gia qui định theo nguyên tắc tản
quyền.
Trước hết,
chúng ta loại bỏ chế độ tổng thống,
nghĩa là chế độ trong đó một người
được dân chúng trực tiếp bầu cử theo phổ
thông đầu phiếu và nắm trọn quyền hành pháp,
vì nó dành quá nhiều quyền lực cho một người
và, trong hoàn cảnh của một nước vừa thử
nghiệm dân chủ, nó có khả năng đưa tới lạm
quyền và độc tài.
Trên mặt thuần túy
lý thuyết chế độ tổng thống có ưu
điểm của nó, mà ưu điểm nổi bật nhất
là đảm bảo một chính quyền mạnh có khả
năng quyết định mau chóng những chọn lựa
chiến lược cần thiết, nhưng trên thực tế
không nên quên ba sự kiện rất cơ bản : một
là hiện nay nguy cơ chiến tranh không còn nữa, ngay cả
chiến tranh lạnh cũng đã chấm dứt, nhu cầu
có một chính quyền mạnh để lấy những
quyết định quan trọng một cách nhanh chóng không còn
đặt ra nữa ; hai là cho tới nay, trừ trường
hợp của Hoa Kỳ, tất cả mọi chế độ
tổng thống trên thế giới đều đã thất
bại ; ba là chế độ tổng thống dễ
đưa tới một chế độ độc tài cá
nhân, như trường hợp của hầu hết các quốc
gia theo chế độ này, hoặc một xung đột
bế tắc giữa hành pháp và lập pháp.
Chính sự thất bại
của các chế độ tổng thống đã
đưa đến sự xuất hiện của các chế
độ "bán tổng thống", nghĩa là vừa
có một tổng thống vừa có một thủ tướng.
Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa
chia sẻ một phần quyền hành pháp, nhiều hay ít
theo qui định của hiến pháp, với một thủ
tướng chịu trách nhiệm trước quốc hội
trong đa số các trường hợp. Tổng thống
do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu
ra nên uy thế rất lớn, ngang hàng với một tổng
thống trong chế độ tổng thống thuần
túy ngay cả khi quyền hiến định có thể khác.
Uy thế này là một bảo đảm cho ổn vững
chính trị, tương tự như một chế độ
tổng thống, bù lại cái giá phải trả là, một
mặt, một số bất lợi của chế độ
tổng thống và, mặt khác, những mâu thuẫn về
thẩm quyền không tránh khỏi trong nội bộ hành
pháp giữa tổng thống và thủ tướng.
Các chế độ
bán tổng thống có tác dụng giảm bớt những bất
lợi của chế độ tổng thống bằng
cách dung hòa nó với chế độ đại nghị.
Đã có nhiều chế độ bán tổng thống thành
công. Tuy nhiên, chế độ bán tổng thống là một
chế độ rất phức tạp, bản chất và
nội dung chế độ có thể thay đổi tùy
theo những yếu tố tình cờ : tổng thống và
thủ tướng cùng đảng hay khác đảng, nhiệm
kỳ của tổng thống và của quốc hội ngắn
dài bằng nhau hay khác nhau, tổng thống hay quốc hội
mới được bầu gần đây.
Trong một chế
độ đại nghị, quyền hành pháp ở trong
tay một thủ tướng do quốc hội bầu ra
và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Như
thế khi bầu ra một quốc hội, một cách gián
tiếp, người dân cũng chọn lựa một thủ
tướng. Ưu điểm của chế độ
đại nghị là người dân bầu trước hết
cho một dự án chính trị của một đảng
thay vì cho một người và sau đó chọn lựa một
dân biểu trong số những ứng cử viên sinh hoạt
gần gũi với họ mà họ có điều kiện
để đánh giá ; qua dân biểu của họ, họ cũng
có khả năng theo dõi và kiểm soát một cách thường
trực sinh hoạt của chính phủ.
Thể chế đại
nghị là thể chế dân chủ nhất và cũng là thể
chế đúng đắn nhất, với điều kiện
là không dẫn tới tình trạng lạm phát chính đảng
và một quốc hội tê liệt vì bị phân hóa giữa
nhiều khuynh hướng đối nghịch. Điều
kiện này, như kinh nghiệm đã chứng minh, có thể
thỏa mãn được bằng cách bầu tất cả
hoặc phần lớn các dân biểu quốc hội theo
phương thức bầu cử đơn danh và một
vòng.
Cả hai chế độ
đại nghị và bán tổng thống nếu được
thực hiện đứng đắn đều có khả
năng đảm bảo dân chủ và phát triển. Chúng ta
chọn lựa chế độ đại nghị vì sự
giản dị và tính dân chủ cao của nó.
Thượng nghị
viện chỉ có ở cấp trung ương. Mỗi vùng
có một số thượng nghị sĩ bằng nhau do cử
tri toàn vùng trực tiếp bầu ra, cộng đồng
người Việt hải ngoại cũng sẽ
được đại diện. Thượng nghị viện
có vai trò : bảo đảm sự thống nhất và hòa hợp
quốc gia qua các vùng, đề nghị các dự luật,
phúc nghị, nếu cần, các đạo luật do quốc
hội biểu quyết, khuyến cáo và đề nghị
với chính phủ về các chính sách và về việc bổ
nhiệm nhân sự cấp cao. Thượng nghị viện
có quyền đòi các viên chức chính quyền mọi cấp
ra điều trần.
Quốc hội gồm
các dân biểu mà đại đa số sẽ được
bầu theo lối đầu phiếu đơn danh và một
vòng, số còn lại được bầu theo tỷ lệ.
Trong một nước Việt Nam với dân số 80 triệu,
quốc hội có thể gồm khoảng 500 dân biểu,
trong đó khoảng 450 được bầu theo thể thức
đơn danh và một vòng, số còn lại bầu theo tỷ
lệ trên cả nước. Việc đa số
được bầu theo thể thức đơn danh và
một vòng bảo đảm rằng sẽ không có tình trạng
lạm phát chính đảng và sẽ có một đa số
(của một đảng hay do liên minh của một vài
đảng cùng khuynh hướng) để thành lập một
chính phủ. Thiểu số bầu theo tỷ lệ cho phép
mọi đảng phái có mặt trong quốc hội và cũng
cho phép những người lãnh đạo các chính đảng
có tầm vóc quốc gia khỏi phải tranh cử tại
địa phương và để tập trung cố gắng
cho những vấn đề của cả nước.
Quốc hội có quyền
chỉ định và bãi nhiệm thủ tướng, biểu
quyết mọi đạo luật, biểu quyết ngân
sách, chất vấn chính phủ về mọi chính sách và biện
pháp của nhà nước.
Tại mỗi vùng, phần
nghị viên được bầu theo tỷ lệ có thể
cao hơn, các nghị viên có thể được bầu một
nửa theo phương thức đơn danh một vòng, một
nửa theo tỷ lệ.
Để giới hạn
con số các chính đảng, cần đặt một mức
tối thiểu để có thể hiện diện trong quốc
hội hay nghị viện vùng qua lối bầu tỷ lệ,
thí dụ 5%.
Về hành pháp, ở cấp
trung ương, thủ tướng do quốc hội bầu
ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội. Các bộ
trưởng do thủ tướng chỉ định. Tại
các vùng, hành pháp nằm trong tay một thống đốc do
nghị viện vùng bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nghị viện vùng.
Vị nguyên thủ quốc
gia, tổng thống, có thể do một cử tri đoàn gồm
tất cả dân biểu, thượng nghị sĩ ở
cấp trung ương bầu ra. Vị nguyên thủ quốc
gia này vì được bầu ra do một cử tri
đoàn hùng hậu sẽ có một uy tín rất cao. Tổng
thống không giữ một quyền hành cụ thể nào cả,
nhưng là vị nguyên thủ quốc gia đúng nghĩa,
đứng ngoài và đứng trên cả lập pháp, hành
pháp lẫn tư pháp, có vai trò bảo đảm sự liên
tục, ổn vững và đoàn kết của quốc gia.
Pháp Viện Tối Cao,
gồm những thẩm phán được chọn trong các
luật gia, có nhiệm kỳ dài, khoảng mười
năm, do tổng thống, chủ tịch thượng nghị
viện và chủ tịch quốc hội bổ nhiệm, mỗi
vị một phần ba. Pháp Viện Tối Cao có quyền
phán quyết tính hợp hiến hay bất hợp hiến của
các đạo luật, trọng tài những tranh tụng giữa
các cơ quan quyền lực, xét xử những cấp lãnh
đạo cấp cao, xét lại các bản án do các tòa án quốc
gia cũng như địa phương.
Mọi chế độ
dân chủ đích thực đều phải trân trọng
sinh hoạt chính đảng. Không thể có sinh hoạt chính
trị đứng đắn nếu không có chính đảng.
Trong hoàn cảnh nước ta, sau bao năm dài dưới
các chế độ độc tài trong đó mọi sinh hoạt
chính trị bị đàn áp, các chính đảng không những
cần thiết mà còn cần được khai sinh, khuyến
khích và nuôi dưỡng. Các chính đảng là yếu tố
không thể thiếu cho đất nước, và vì thế
quốc gia không những không được cấm cản
mà còn phải sẵn sàng trả giá cho sinh hoạt chính đảng.
Các chính đảng
phải tự tài trợ trước hết bằng
đóng góp của đảng viên và cảm tình viên, nhưng
các đảng có tầm vóc sẽ được ngân sách
tài trợ. Bù lại, mọi phương thức kinh tài
khác kể cả việc nhận ủng hộ tài chánh của
các công ty, xí nghiệp sẽ bị chế tài nghiêm khắc
theo luật pháp. Một tỷ lệ khoảng 1% ngân sách quốc
gia sẽ được dành cho việc tài trợ các chính
đảng ở cấp trung ương và một tỷ lệ
tương đương ở cấp ngân sách vùng. Nguồn
tài trợ, tại trung ương cũng như tại
địa phương, chia làm hai phần : một phần
chia cho các chính đảng theo số dân biểu hoặc nghị
viên ; một phần chia theo tổng số phiếu của
mỗi chính đảng. Để tránh tình trạng lạm
phát chính đảng, cần ấn định một tầm
vóc tối thiểu - dựa theo số dân biểu, nghị
viên hay số phiếu được bầu - để
được hưởng trợ cấp. Chi phí chính đảng
này dĩ nhiên là lớn, nhiều người có thể nghĩ
là quá lớn, nhưng sẽ tránh cho chúng ta những thiệt
hại còn nặng nề hơn gấp nhiều lần khi
các chính đảng, vì không được tài trợ, trở
thành con tin của những thế lực tài phiệt hay khi
họ phải kiếm tài nguyên bằng những biện
pháp bất chính. Một khi cộng đồng quốc gia
đã tài trợ cho các chính đảng thì bù lại cộng
đồng quốc gia cũng có quyền đòi hỏi
nơi các chính đảng một sự trong sạch tuyệt
đối. Sinh hoạt chính trị sẽ được
kính trọng và dân chủ cũng vì thế mà lành mạnh
hơn.
Trong thế giới của
hòa bình, đối thoại và hợp tác hiện nay, mọi
giải pháp dùng tới bạo lực đều không tranh
thủ được sự ủng hộ của thế
giới. Đất nước Việt
Nét đậm nhất
của đất nước hiện nay là tuyệt đại
đa số người Việt
Điều kiện thứ
nhất là mọi người trong nước đồng
ý rằng chế độ hiện hữu là tệ hại
và phải thay đổi.
Điều kiện thứ
hai là đảng hay giai cấp cầm quyền, vì mất
đồng thuận trên lý tưởng chung hay vì bị ung
thối, đã chia rẽ, phân hóa và đã mất bản
năng tự tồn của một đoàn thể.
Điều kiện thứ
ba là đại đa số quần chúng đạt tới
đồng tình về một chế độ mới và những
mục tiêu quốc gia mới.
Điều kiện thứ
tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện
phù hợp với nguyện ước của toàn dân làm
điểm hội tụ cho những khát vọng đổi
mới.
Dĩ nhiên không bao giờ
có điều kiện nào được thực hiện
xong 100% cả, nhưng tới một mức độ chín
muồi nào đó ta có thể coi một điều kiện
là đã đạt được.
Nhìn vào bối cảnh
hiện tại của đất nước chúng ta có thể
khẳng định là hai điều kiện đầu
đã có. Toàn dân đã chán ghét chế độ và đang nôn
nóng chờ đợi thay đổi. Khát vọng dân chủ
ngày càng lên cao trong dân chúng ; hơn thế nữa sự chuyển
hóa về dân chủ ngày càng được nhìn như một
lẽ tự nhiên và một sự bắt buộc, càng trì
hoãn chừng nào càng gây thiệt hại cho đất nước
chừng đó. Không những dân chúng mà cả một số
lượng đông đảo cán bộ và đảng viên
cộng sản cũng đang mất kiên nhẫn trước
sự ù lì của ban lãnh đạo đảng cộng sản.
Mặt khác, đảng
cộng sản cũng đã ruỗng nát. Cán bộ đảng
viên đã mất hết mọi tin tưởng vào chủ
nghĩa xã hội và ban lãnh đạo đảng, ngược
lại ban lãnh đạo đảng cũng đánh giá
đa số đảng viên là tham nhũng, thiếu khả
năng và phẩm chất. Những xung đột rất
trầm trọng đã xảy ra ngay giữa các cán bộ cấp
cao. Tâm lý ngự trị trong đảng là thi nhau giành giật,
mạnh ai nấy sống. Đảng cộng sản
đã mất ý chí và sức sống của một đoàn
thể.
Điều kiện thứ
ba cũng đã gần đạt được. Đại
bộ phận quần chúng, kể cả đảng viên cộng
sản, đều đã đồng ý rằng chế độ
chính trị tương lai của Việt Nam bắt buộc
phải là một thể chế dân chủ đa nguyên, dành
chỗ đứng ngang nhau cho mọi người và cho mỗi
người ; mọi người đều đã đồng
ý rằng nền kinh tế của Việt Nam phải là
kinh tế thị trường lấy tư doanh làm nền
tảng, lấy cạnh tranh làm sức mạnh và lấy lợi
nhuận làm chất kích thích. Hơn thế nữa chúng ta
còn ý thức được rằng phải thực hiện
cuộc cách mạng dân chủ này bằng đường lối
bất bạo động, trong tinh thần hòa giải dân tộc.
Chúng ta chỉ còn thiếu một dự án chính trị rõ ràng
và minh bạch, đặt ra những vấn đề lớn
của đất nước cùng với những hướng
giải quyết. Trong tinh thần đó dự án chính trị
này là một đóng góp.
Sau cùng chúng ta cũng
đã thấy xuất hiện những cố gắng kết
hợp quan trọng. Một số những khuôn mặt
tranh đấu, thuộc những quá khứ chính trị
khác nhau cũng đang dần dần trở nên quen thuộc
với quần chúng. Những điều kiện cho một
sự tập hợp các lực lượng dân chủ
đã gần như hội đủ.
Như vậy việc
còn lại phải làm là hoàn tất điều kiện thứ
ba, nghĩa là đạt tới đồng thuận trên một
dự án chính trị, và xây dựng điều kiện thứ
tư, nghĩa là hình thành một kết hợp dân chủ
có tầm vóc. Có thể nói chúng ta đã đi được
ba phần tư lộ trình dẫn đến dân chủ,
nhưng đoạn đường còn lại, xây dựng
một tập hợp chính trị làm tụ điểm cho
khát vọng dân chủ, cũng là đoạn đường
cam go nhất bởi vì chúng ta gặp phải một liên
minh gắn bó giữa, một bên, là chính sách đàn áp thô bạo
của một đảng cầm quyền cực kỳ lì
lợm và, bên khác, là sự thụ động của một
dân tộc đã rã hàng sau quá nhiều thất vọng và
thương tổn.
2.4. Xây dựng cơ sở quần chúng
Năm giai đoạn
phải đi theo thứ tự nhưng không nhất thiết
là giai đoạn trước phải hoàn tất giai đoạn
kế tiếp mới bắt đầu. Các giai đoạn
gối đầu lên nhau. Tiến tŕnh năm giai đoạn
là một công thức hướng dẫn hành động,
nó là một điều kiện cần nhưng không phải
là điều kiện đủ. Đi sai tiến trình này
thì chắc chắn thất bại nhưng theo đúng tiến
trình chưa chắc đã thành công. Sự thành công còn tùy thuộc
nhiều yếu tố định lượng : cơ sở
tư tưởng được hưởng ứng đến
mức độ nào, cán bộ nhiều hay ít và khả
năng thế nào, phương tiện dồi dào tới mức
nào.
Một nhận xét rất
quan trọng là hai giai đoạn đầu, xây dựng một
cơ sở tư tưởng và hình thành đội ngũ
cán bộ nòng cốt, chiếm gần hết thời giờ
và công lao của một cuộc cách mạng. Phải vài thập
niên mới có nổi một cơ sử tư tưởng
đúng đắn, lành mạnh, được quần
chúng chia sẻ và một đội ngũ cán bộ chừng
vài trăm người với vài chục người là những
cán bộ thực sự nòng cốt, nắm vững cơ sở
tư tưởng, có bản lãnh, có quyết tâm, có kỹ
thuật và kỷ luật đấu tranh. Nhưng một
khi hai yếu tố này đã có, tổ chức có thể dựa
vào một vận hội lịch sử mà phát triển rất
nhanh chóng và giành được thế chủ động
trong vòng vài năm, thậm chí vài tháng.
Nhận định của
Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là cuộc vận động
dân chủ hiện nay mới chỉ ở giữa giai
đoạn thứ nhất và bước đầu của
giai đoạn thứ hai. Nhưng không phải vì thế mà
có thể kết luận bi quan rằng thắng lợi của
dân chủ còn xa.
Cố gắng đầu
tiên, trọng đại và cam go của những người
dân chủ là thức tỉnh dân chúng rằng bắt buộc
phải có một giải pháp chung, nghĩa là một thay
đổi chế độ chính trị, chứ mỗi
người không thể xé lẻ và luồn lách để tự
giải quyết những vấn đề cá nhân bằng
những giải pháp cá nhân. Sẽ chỉ có một thiểu
số không đáng kể thành công như vậy và sự
thành công nếu có cũng chỉ là tạm bợ và đầy
bất trắc.
Phải đánh đổ
trước hết chủ nghĩa luồn lách và phát huy ý
chí sống lương thiện, xứng đáng và trách nhiệm.
Chừng nào quần chúng còn chưa tin là mọi người
Việt Nam đều gắn bó với nhau trong một số
phận chung, và do đó cần một giải pháp chung, cuộc
vận động dân chủ vẫn chưa thể thành
công và chế độ độc tài vẫn tồn tại,
hay nếu có sụp đổ do sự ruỗng nát của
chính nó thì cũng chỉ nhường chỗ cho một tình
trạng hỗn loạn vô chính phủ còn tồi tệ
hơn cả một chế độ độc tài.
Khó khăn chính của
cuộc cách mạng tâm lý này là nó đòi hỏi cả lý luận
lẫn sự kích thích và do đó chỉ có những kết
hợp chính trị mới có thể vận động
được một cách hữu hiệu. Các nhà nghiên cứu,
các nhà tư tưởng, ngay cả các nhân sĩ uy tín, nếu
có, cũng bất lực vì chính sự kiện họ đứng
một mình cũng đã không nhiều thì ít chứng tỏ
họ chọn lựa giải pháp cá nhân và khiến cho những
hô hào của họ về một ý thức chung mất rất
nhiều tác dụng. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên hiểu
trách nhiệm và vai trò của mình trong cuộc đột phá
tâm lý này.
Chúng ta phải bẻ
gãy lập luận cho rằng dân chủ sẽ đưa tới
hỗn loạn. Chúng ta sẽ chứng minh rằng dân chủ
là điều kiện căn bản để bảo đảm
không có hỗn loạn, là phương thức sinh hoạt
cho phép xã hội tiến hóa và đổi mới không ngừng
trong trật tự.
Chúng ta phải bẻ
gãy lập luận cho rằng muốn phát triển cần
có kỷ luật và muốn có kỷ luật cần hy sinh
dân chủ, giới hạn tự do và nhân quyền. Nhân dân
Việt
Chúng ta phải bẻ
gãy lập luận cho rằng xã hội phương Đông
khác với xã hội phương Tây, và do đó không thể
chấp nhận những giá trị của phương Tây
như tự do cá nhân, dân chủ và nhân quyền. Tự do,
dân chủ và nhân quyền là những giá trị phổ cập
của cả loài người, không riêng gì của
phương Tây. Các giá trị đó có mặt trong mọi nền
văn minh, kể cả tại Việt
Chúng ta cần phơi
bày sự sai trái của lập luận cho rằng các giá trị
văn hóa châu Á có lợi cho phát triển hơn các giá trị
văn hóa phương Tây. Đằng sau lập luận mị
dân đó là ý đồ biện hộ cho những chế
độ độc tài chuyên chính. Dĩ nhiên các nền
văn hóa châu Á có nhiều điểm tích cực nhưng những
điểm tiêu cực còn nhiều hơn và trầm trọng
hơn. Các nước châu Á đã phát triển nhờ chấp
nhận cách suy nghĩ, tổ chức và làm việc dân chủ
của người phương Tây chứ không vì phủ nhận
phương Tây và đề cao những nét đặc thù của
mình. Vả lại, các nước châu Á có những nền
văn hóa và phong tục rất khác nhau, nên không thể nói một
cách chung chung tới những giá trị phương Đông
hay châu Á được.
Chúng ta cần ý thức
rằng đây không phải chỉ là những cuộc tranh
luận lý thuyết. Đằng sau những lập luận
ngụy biện bênh vực cho các chế độ độc
tài là những nhà tù khắc nghiệt, những đày đọa
thô bạo mà những con người đáng quí nhất của
đất nước là nạn nhân, trong khi một thiểu
số cường hào tha hồ vơ vét tài nguyên quốc
gia.
Chúng ta cũng cần
phải cực lực bác bỏ một thứ "chủ
nghĩa kinh tế" mà một số chính quyền, trong
đó có Việt Nam, đang lấy làm lý cớ để phủ
nhận hoặc giới hạn tự do, dân chủ và nhân
quyền. Kinh tế không phải là tất cả, và ngay cả
trên địa hạt thuần túy kinh tế tỷ lệ
tăng trưởng cũng không phải là tất cả. Một
thành tích tăng trưởng kinh tế 10% không cho phép chính
quyền tự mãn là có công rồi áp đặt một chế
độ độc tài lên dân chúng, nhất là khi sự
tăng trưởng đó chỉ là sự phục hồi
một phần sau nhiều năm đổ vỡ do chính
quyền gây ra và phải trả bằng một giá rất
đắt về văn hóa, đạo đức, môi
trường. Mục tiêu quốc gia là một xã hội phồn
vinh, có văn hóa cao, có sự phân phối hợp tình hợp
lý lợi tức quốc gia, có cơ hội thăng tiến
công bằng cho mọi người, có liên đới giữa
người và người và giữa mọi người với
đất nước, có bảo đảm tự do và phẩm
giá cho mọi người, có khả năng không ngừng
vươn lên, có môi trường thiên nhiên được bảo
vệ và liên tục cải thiện.
Một cố gắng
khác, rất quan trọng, là chứng minh cho những đảng
viên cộng sản và cán bộ của nhà nước còn
đang phân vân và ngờ vực rằng họ hoàn toàn không
có lý do chính đáng nào để lo ngại sự cáo chung của
chế độ độc tài đảng trị cả,
trái lại họ còn có mọi lý do để vui mừng
trước những thắng lợi của dân chủ.
Danh dự, nhân phẩm và những quyền lợi hợp
pháp của họ sẽ được tôn trọng. Hơn
thế nữa, họ còn trút bỏ được mặc
cảm tội lỗi tiếp tay cho một chế độ
tồi dở. Họ sẽ có niềm tự hào đóng góp
đưa đất nước tiến lên với phúc lợi
càng ngày càng lớn cho mọi người, kể cả
chính họ.
Cố gắng tranh thủ
sự hưởng ứng của những cán bộ đảng
viên cộng sản không khó về mặt lý luận vì trong
đại bộ phận họ cũng đều là nạn
nhân của chế độ và cũng rất bất mãn.
Khó khăn là ở di sản tâm lý do cuộc chiến và cách
cai trị thô bạo của đảng cộng sản
để lại. Nhiều người không tin rằng hận
thù có thể xóa bỏ dễ dàng trong khi đó thì vẫn còn
những luận điệu cực đoan của một
thiểu số vô ý thức và vô trách nhiệm gây thêm sự
lo ngại. Bởi vậy cuộc vận động dân chủ,
một mặt, phải khẳng định một cách thật
quả quyết tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc
và, mặt khác, phải chứng minh một cách hùng hồn rằng
sẽ không có bất cứ một biện pháp phân biệt
đối xử nào. Muốn như thế hàng ngũ dân chủ
phải qui tụ mọi thành phần thuộc mọi quá khứ
chính trị. Một tập hợp chính trị dù có thiện
chí và đường lối đứng đắn đến
đâu mà chỉ gồm những người quốc gia cũ
hay cộng sản cũ cũng vô vọng.
Yểm trợ những
người dân chủ trong nước là một nghĩa vụ
đạo đức và tình cảm, nhưng cũng là một
bắt buộc chiến lược. Có được yểm
trợ thì những người dân chủ trong nước
mới cảm thấy phấn khởi và mới có khả
năng tiếp tục và tăng cường cuộc chiến
đấu gian lao và hoàn toàn không cân xứng này, phong trào dân
chủ trong nước nhờ đó mới bành trướng
được, thông điệp dân chủ nhờ đó mới
tới được với mọi người, cuộc
vận động dân chủ mới có thể thành công.
Cho đến nay, cộng
đồng người Việt hải ngoại đã
đạt được nhiều thành quả đáng kể
trong việc vận động dư luận quốc tế,
các tổ chức nhân quyền, các chính phủ dân chủ
để bênh vực họ. Chúng ta cũng đã có kinh nghiệm
về cách vận động hậu thuẫn quốc tế.
Chúng ta sẽ tiếp tục và gia tăng sự yểm trợ
về vật chất, tinh thần và thông tin đối với
anh em trong nước. Những cố gắng yểm trợ
những người dân chủ trong nước tự chúng
cũng có tác dụng thúc đẩy dân chủ và cũng là
thành phần khắng khít của cuộc vận động
dân chủ.
Hiện nay những thắng
lợi đã đạt được đặt ra cho
chúng ta một yêu cầu mới, đó là đưa cuộc
vận động dân chủ trong nước từ giai
đoạn của những phản kháng cá nhân sang giai
đoạn của những đấu tranh có phối hợp,
có tổ chức và có tiếng nói chung. Để đạt
mục tiêu này không những phải tăng cường cố
gắng yểm trợ mà còn phải đem lại cho anh em
dân chủ trong nước niềm tin, một trong những
yếu tố quyết định của niềm tin đó
là sự hình thành của một kết hợp dân chủ lớn
và đứng đắn tại hải ngoại.
Về nội dung, dĩ
nhiên chúng ta vẫn tiếp tục những cố gắng từ
trước tới nay là tố giác những vi phạm nhân
quyền và đường lối phản dân chủ của
chính quyền cộng sản. Tuy nhiên, để tranh thủ
sự ủng hộ nồng nhiệt hơn nữa của
dư luận thế giới chúng ta còn phải thêm một
nỗ lực khác mà tới nay chưa được ý thức
và quan tâm đúng mức là trình bày đường lối của
đối lập dân chủ Việt Nam, để đối
lập dân chủ Việt Nam xuất hiện dưới mắt
thế giới như một giải pháp thay thế
đáng tin cậy. Cũng trong mục tiêu đó, chúng ta sẽ
phải giới thiệu những gương mặt tiêu biểu
của cuộc vận động dân chủ không phải
chỉ như những nạn nhân cần được bảo
vệ mà còn là những hy vọng của đất nước
ngày mai.
Những cố gắng
vận động sự yểm trợ của thế giới
cho đến nay đã đạt nhiều kết quả,
nhưng vẫn còn bị giới hạn do tình trạng thiếu
kết hợp và phối hợp. Do tình thế phân tán lực
lượng, các cố gắng không chỉ thuần túy vì mục
đích tăng cường cuộc vận động dân
chủ mà đôi khi còn nhắm tranh thủ trước hết
hậu thuẫn cho đoàn thể mình. Tình trạng này không
những làm giảm rất nhiều hiệu năng mà còn
gây ấn tượng không tốt đối với đối
lập dân chủ. Tinh thần mới mà Tập Hợp Dân
Chủ Đa Nguyên đề nghị cho cố gắng vận
động là chỉ nhắm đem lại thắng lợi
cho cuộc vận động dân chủ trong các cố gắng
tranh thủ sự hưởng ứng của thế giới.
Điều này khó, nhưng phải thực hiện
được nếu tổ chức dân chủ muốn thế
giới nhìn đối lập dân chủ Việt
Phương pháp vận
động cũng cần được xét lại,
trước hết là để tập trung cố gắng
vào những hoạt động thực sự có lợi cho
tiến trình dân chủ hóa thay vì phí phạm sinh lực cho những
hoạt động ồn ào không gây được sự
kính trọng của dư luận thế giới.
Tập Hợp Dân Chủ
Đa Nguyên, bằng quan hệ khiêm tốn và thành tín với
mọi lực lượng và mọi thành phần dân chủ
trong cũng như ngoài nước, sẽ cổ võ cho một
sự xét lại và cải tiến mặt trận quốc
tế vận. Quyết tâm tìm hiệu năng tối đa
trên mặt trận này sẽ đem lại nhiều hệ
quả tốt đẹp cho đối lập dân chủ
Việt
Quan trọng hơn, nó
sẽ khiến chúng ta nhìn rõ yêu cầu kết hợp chặt
chẽ giữa các thành phần dân chủ trong và ngoài nước.
Ý thức tầm quan trọng của mặt trận quốc
tế vận cũng là ý thức tiềm năng to lớn
và vai trò chiến lược của cộng đồng
người Việt hải ngoại, đánh tan mặc cảm
tội lỗi vì không có mặt trên đất nước
và hiểu rằng trong và ngoài nước đều quan trọng
như nhau, đều cần nhau và đều phải quí
trọng nhau.
Và quan trọng hơn hết,
nó sẽ khiến chúng ta nhận thức rằng phải phối
hợp và kết hợp nếu muốn được thế
giới tận tình hỗ trợ. Chúng ta sẽ hiểu rằng
cần vượt lên trên những khác biệt chi tiết
để đoàn kết trong một mặt trận dân chủ.
Bước đầu
của cố gắng hình thành mặt trận dân chủ này
là đẩy mạnh hơn nữa những tiếp xúc, thảo
luận và trao đổi bộc trực trong tinh thần
tương kính đã tiến hành từ nhiều năm nay
về bối cảnh quốc tế và về hiện tình
đất nước, về những chọn lựa
cơ bản cho tương lai, về những vấn
đề cấp bách phải giải quyết và về
hướng giải quyết cho những vấn đề
đó. Chính qua những cuộc trao đổi này mà một
đồng thuận có thể đạt tới và những
con người cần có để giành thắng lợi cho
nó có thể tìm ra.
Giai đoạn vận
động này cần được xúc tiến ở cả
trong lẫn ngoài nước song song với cố gắng
phổ biến rộng rãi lý tưởng dân chủ đa
nguyên tới quần chúng. Nó có mục đích tìm ra những
người cùng chí hướng để kết hợp
hành động. Nó cũng có mục đích tìm hiểu và
đối chiếu mọi lập trường chính trị
để nhận diện ra những tổ chức chính trị
dù không hoàn toàn chia sẻ quan điểm của nhau nhưng
vẫn có thể phối hợp hành động.
Sự kết hợp
trong một mặt trận dân chủ này phải vượt
lên trên mọi ngăn cách do quá khứ để lại,
trong tinh thần hòa giải dân tộc thành thực và trọn
vẹn, hoàn toàn hướng về tương lai. Sức mạnh
của kết hợp này không dựa trên cơ chế tổ
chức mà dựa trên đồng thuận về mục
đích và phương pháp đấu tranh, cùng với sự
tin tưởng lẫn nhau. Kết hợp này phải mở
cửa cho mọi cá nhân và đoàn thể thuộc mọi xuất
xứ miễn là thành thực chia sẻ lý tưởng dân
chủ đa nguyên, thành thực tán thành tinh thần hòa giải
và hòa hợp dân tộc và quả quyết từ khước
bạo lực. Mọi bất đồng quan điểm
khác đều có thể thỏa hiệp.
Tập Hợp Dân Chủ
Đa Nguyên đặc biệt đánh giá cao vai trò của những
người dân chủ hiện có mặt trong guồng máy
nhà nước cộng sản trong việc khai thông tiến
trình dân chủ hóa.
Chúng ta khẳng định
mặt trận dân chủ này là một mặt trận chống
tất cả mọi hình thức độc tài trong đó
độc tài cộng sản chỉ là một, chống sự
áp bức, chống sự tồi dở và gian trá. Mặt trận
dân chủ này hoàn toàn không phải là sự kéo dài của cuộc
xung đột trong quá khứ, mà là một kết hợp
hướng về tương lai. Nó mở cửa cho mọi
người dân chủ thuộc mọi quá khứ chính trị
và mọi cương vị. Nhưng ngược lại,
nó cũng chỉ mở cửa cho những người thật
sự dân chủ.
Để có hiệu
năng, như mọi liên minh chính trị, mặt trận
dân chủ sẽ cần một tổ chức thành viên có sức
mạnh vượt trội vừa làm đầu tàu vừa
để bảo đảm sự ổn vững. Với
nhận định đó Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên, một mặt, sẽ nỗ lực phát triển chính
mình và thống nhất với các tổ chức bạn
để tạo ra đầu tàu đó, mặt khác sẽ
luôn luôn có đủ khiêm tốn để nhìn nhận vai
trò lãnh đạo của một tổ chức dân chủ
khác có ưu thế hơn.
Tuy nhiên, nhận thức
về sự cần thiết của một đầu tàu
không thể làm chúng ta quên rằng trong hoàn cảnh phân hóa mà
lịch sử để lại không một cá nhân nào, không
một tổ chức nào có đủ uy tín để có thể
được chấp nhận là trung tâm của một tập
hợp dân tộc mới. Những xảo thuật để
giành thế thượng phong chỉ làm xấu thêm một
hoàn cảnh tự nó đã khó khăn. Mọi tổ chức
đều phải coi những cố gắng của mình
như những đóng góp cho thắng lợi của dân chủ.
Mọi tổ chức, kể cả những tổ chức
lớn do sự kết hợp của nhiều tổ chức,
đều phải tự coi mình là những thành tố, những
chặng đường của một kết hợp càng
ngày càng lớn hơn.
Hình thức, chiến
thuật và lãnh đạo sẽ uyển chuyển theo tình
huống. Khi chính quyền cộng sản đã nhượng
bộ và chấp nhận luật chơi dân chủ, cuộc
vận động sẽ công khai và cơ quan lãnh đạo
sẽ đặt ở trong nước. Chừng nào chính
quyền cộng sản vẫn còn ngoan cố tiếp tục
chính sách đàn áp, hoạt động trong nước sẽ
kín đáo và cơ quan lãnh đạo sẽ đặt tại
hải ngoại.
Trong cả hai trường
hợp chúng ta cần một sự hiện diện tích cực
trên cả nước và trong mọi địa hạt.
Chúng ta sẽ tận dụng mọi kẽ hở, nắm lấy
mọi cơ hội, kết thân với mọi người
muốn đổi mới đất nước để
tạo ra và nhân lên những cơ sở đối lập
càng ngày càng tích cực, càng ngày càng công khai. Một mặt
chúng ta nỗ lực để mở rộng thêm cánh cửa
bưng bít của chính quyền cộng sản và tận dụng
luồng giao lưu giữa trong và ngoài nước, mặt
khác chúng ta vận dụng mọi sáng kiến để tạo
áp lực càng ngày càng mạnh và nhiều mặt lên chế
độ. Chế độ cộng sản Việt
Bầu cử tự do
là một đòi hỏi vừa chính đáng vừa ở
trong tầm tay. Dù ngoan cố đến đâu ban lãnh đạo
đảng cộng sản cũng chắc chắn sẽ
phải nhượng bộ. Họ không có chọn lựa
nào khác bởi vì xã hội Việt Nam đã gần chín muồi
cho một thay đổi lớn, câu hỏi duy nhất có thể
đặt ra chỉ là thay đổi có xảy ra trong hòa
bình và trật tự hay không.
Hơn hai triệu thanh
niên, trong đó gần nửa triệu thanh niên có trình độ
đại học hoặc tương đương,
đi vào thị trường lao động mỗi năm
với tất cả sinh lực và ước vọng.
Đại đa số không tìm được công ăn việc
làm hay không tìm được việc làm phù hợp với
khả năng. Đạo quân bất mãn này đã rất lớn
và ngày càng lớn thêm. Họ cũng đã dần dần ý
thức rằng chế độ này làm hỏng đời
họ và làm hỏng đất nước. Khi ý thức này
đã rõ rệt, nó sẽ nổ bùng mạnh hơn nhiều
trái bom nguyên tử, không một sức mạnh nào có thể
chống cự được.
Hơn năm
mươi triệu nông dân Việt
Các tôn giáo bị đàn
áp một cách thô bạo quá lâu không còn chấp nhận tiếp
tục chịu đựng nữa. Áp lực từ trong và
ngoài nước đã buộc đảng cộng sản
phải nới lỏng các biện pháp chèn ép. Sự nới
lỏng này chỉ có tác dụng kích thích thêm những đòi
hỏi tự do tôn giáo bởi vì mâu thuẫn giữa chính
quyền cộng sản và các tôn giáo đã tích lũy quá lâu
và quá nhiều.
Giới doanh nhân và tiểu
thương, tuy số lượng không cao nhưng có trọng
lượng lớn nhờ tính năng động, đã nhận
ra rằng họ là nạn nhân chính của chính sách co cụm
và xiết lại từ sau đại hội 8 của
đảng cộng sản và họ chỉ có lối thoát với
một sự thay đổi chế độ.
Thành phần ưu tú
trong các xí nghiệp tư cũng như công, ngay cả trong
các cơ quan nhà nước và guồng máy đảng,
đang tích lũy bực bội vì không thi thố được
khả năng và cũng chỉ được đãi ngộ
một cách rất không xứng đáng. Họ cũng là
thành phần hiểu rõ hơn ai hết sự tồi dở
của chế độ và sự cần thiết của một
chuyển đổi nhanh chóng về dân chủ.
Toàn dân bất mãn vì tệ
tham nhũng, quan liêu bàn giấy, vì môi trường bị ô
nhiễm, vì trật tự an ninh không được bảo
đảm, trộm cướp và các băng đảng xã
hội đen hoành hành, vì nạn ma túy lan tràn đang hoặc
đã phá hủy cuộc đời của con em họ.
Trong khi đó thì đảng và nhà nước chỉ dồn
mọi cố gắng để đàn áp những tiếng
nói đứng đắn đòi tự do và dân chủ.
Tất cả những
bất mãn đó đã tích lũy từ lâu, nhưng điều
mới là mọi người đều đã hiểu rằng
chỉ có một giải pháp cho họ và cho đất
nước là dân chủ hóa.
Sự bất mãn cam chịu
và thụ động đang chuyển mình thành nguyện
ước thay đổi chế độ. Nó cũng dần
dần dẫn tới hành động. Những tiếng nói
phản kháng đã bắt đầu cất lên từ hàng
ngũ thanh niên và sinh viên. Những cuộc tiếp xúc giữa
các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước với
doanh nhân, văn nghệ sĩ, chuyên viên và thanh niên trong những
năm gần đây hầu hết đã biến thành những
buổi chất vấn và tố giác công khai đối với
chế độ. Nông dân cũng không còn thụ động
nữa, hàng trăm vụ phản kháng về ruộng đất,
thuế khóa và giá cả xảy ra mỗi tháng. Vụ nổi
dậy tại Thái Bình, qui tụ hàng trăm ngàn nông dân trong
nhiều tháng, đã là một báo động lớn đối
với chế độ, nhưng nó chỉ là điềm
báo trước của một đợt nổi dậy
toàn bộ của nông thôn nếu chế độ không thay
đổi. Một số cơ sở của chính đảng
cộng sản cũng đã công khai biểu lộ thái
độ bất phục tương đối với
đảng.
Xã hội Việt
Một thực tại
hiển nhiên là đảng và nhà nước cộng sản
dù ngoan cố và thủ đoạn đến đâu cũng
không kháng cự được trào lưu tiến hóa chung của
thế giới và nhất là những tiến bộ về
truyền thông. Chế độ ngày càng phải miễn
cưỡng mở cửa ra thế giới, bình thường
hóa quan hệ ngoại giao và thương mại với mọi
quốc gia, hội nhập dần dần vào sinh hoạt quốc
tế. Lượng thông tin giữa Việt Nam và thế giới
sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng, mọi bức
tường ngăn chặn, kể cả những bức
tường lửa trên hệ Internet, sẽ đều trở
thành ngớ ngẩn và vô vọng.
Chế độ cộng
sản, trong chiều sâu, cũng đã hiểu rằng nó sẽ
cáo chung. Hiện tượng đại bộ phận cán bộ
các cấp ngả theo mê tín dị đoan, tin bói toán là dấu
hiệu của một tập thể chao đảo và mất
lòng tin. Sau một nửa thế kỷ cầm quyền
độc đoán và bóp nghẹt cá nhân, chế độ cộng
sản đã là nạn nhân của chính nó. Nó đã không
đào tạo ra được những con người có
đủ gan dạ và quyết tâm, chưa nói tới tài
năng và bản lãnh, để làm những nhà độc
tài. Chế độ độc tài bạo ngược phải
chấm dứt vì nó không còn nhân sự cần có.
Nét đậm nhất
hiện nay của đảng cộng sản là đại
đa số cán bộ, ngay cả các cán bộ ở những
cấp khá cao, không còn cảm thấy gắn bó với sự
tồn vong của chế độ nữa. Họ không cảm
thấy bị đe dọa nếu chế độ thay
đổi, đại đa số còn tin rằng họ sẽ
có một vai trò hữu ích hơn và một cuộc sống
vinh quang hơn. Đội ngũ thủ cựu ngoan cố
một mặt đang già đi và teo lại, mặt khác ngày
càng bị cô lập và lố bịch hóa. Trong vòng không đầy
một thập niên nữa sẽ không còn thành phần bảo
thủ ngoan cố. Nhưng thay đổi sẽ không chờ
đến khi đội ngũ thủ cựu biến mất,
nó sẽ xảy ra ngay khi mà thành phần này không còn đủ
mạnh để khống chế bộ máy đảng và
nhà nước nữa. Điểm đột phá này đã gần
kề.
Cho tới nay, đảng
cộng sản đã trụ được trong chính sách chống
dân chủ nhờ hai yếu tố. Một là, đội ngũ
lãnh đạo của nó gồm chủ yếu những
thành phần được đào tạo và bị đầu
độc bằng chủ nghĩa Stalin-Mao với đầu
óc thiển cận hẹp hòi và cá tính hung bạo. Hai là, dân
chúng Việt
Ở vào thời điểm
này, vai trò của cộng đồng người Việt hải
ngoại có tầm quan trọng quyết định. Người
Việt hải ngoại gồm trên hai triệu người,
với gần một nửa triệu người tốt
nghiệp đại học và một số thu nhập cao
hơn tổng sản lượng quốc gia (GDP) của
quốc nội. Cả khối người ấy nếu
chỉ được thôi thúc bằng lòng thù hận thì cũng
không tác động được vào trong nước và do
đó không làm gì được chế độ cộng sản.
Ngược lại, nếu lấy lòng yêu nước, lấy
hòa giải và hòa hợp dân tộc làm tinh thần chỉ
đạo và lấy thắng lợi của dân chủ làm mục
tiêu tranh đấu duy nhất thì chỉ cần một phần
nhỏ của khối người ấy cũng là một
lực lượng đủ để thắng đảng
cộng sản. Họ sẽ có khả năng và
phương tiện để liên lạc đều đặn
với trong nước, một mặt động viên
đồng bào tham gia cuộc vận động dân chủ,
mặt khác khuyến khích và phối hợp rất nhiều
người dân chủ trong nước, kể cả những
người dân chủ trong guồng máy đảng và nhà
nước cộng sản hiện đã chiếm đa số
nhưng chưa thành đội ngũ. Họ sẽ bảo
đảm mặt trận vận động quốc tế,
tranh thủ sự hỗ trợ của thế giới. Và
họ có thể nhân lên nhiều lần tác dụng của
các cố gắng tranh đấu cho dân chủ ở trong
nước. Người Việt hải ngoại ngày càng ý
thức rằng họ vừa có vai trò của một đội
tiền phong đắc lực trên mặt trận quốc
tế vận vừa có tiềm năng của một hậu
phương an toàn và hùng mạnh, cung cấp đầy
đủ nguồn tài chính, thông tin, ý kiến và lý luận
cho mặt trận quốc nội. Ý thức rằng một
kết hợp dân chủ trong nước-ngoài nước
có thể đánh bại đảng cộng sản dễ
dàng đang càng ngày càng rõ rệt, và khi nó đã rõ rệt thì
chế độ cộng sản sẽ bắt buộc phải
chấp nhận tiến trình dân chủ hóa để tránh sụp
đổ trong thảm khốc.
Đấu tranh để
buộc đảng cộng sản phải chấp nhận
luật chơi dân chủ và bầu cử tự do như vậy
là một cuộc đấu tranh chắc chắn sẽ thắng
lợi và sẽ thắng lợi sớm.
Vấn đề của
các lực lượng dân chủ là tập trung cố gắng
để bầu cử tự do đến thật sớm
và trong những điều kiện thật tốt đẹp.
Những cuộc bầu
cử tự do sẽ không thể do chính quyền cộng sản
quyết định một mình và tổ chức một
mình. Bầu định chế nào, bầu vào lúc nào, bầu
như thế nào, những ai được quyền đi
bầu và những ai được quyền ứng cử
là những quyết định trên đó đối lập
dân chủ Việt
Bầu cử tự do
chỉ có thể diễn ra khi mọi quyền tự do
chính trị cơ bản đã được chính thức
và long trọng xác nhận và các luật lệ mâu thuẫn với
các quyền tự do chính trị đã được bãi bỏ.
Bầu cử tự do
phải diễn ra trong tinh thần hòa giải dân tộc,
vượt lên trên mọi hàng rào hành chính do chính quyền hiện
tại tạo ra hay do hoàn cảnh mà có. Một cách cụ thể,
trước khi có bầu cử mọi chính trị phạm
phải được trả tự do và phục hồi
quyền công dân trọn vẹn, các tiền án chính trị phải
được xóa bỏ, người Việt hải ngoại
cũng phải được nhìn nhận quyền bầu
cử và ứng cử.
Bầu cử tự do
cũng phải được tổ chức bởi một
chính quyền hội đủ điều kiện để
được nhìn nhận là có khả năng đảm bảo
cho bầu cử được công bằng và lương
thiện. Chính quyền này sẽ hoan nghênh sự hiện diện
không giới hạn của những quan sát viên quốc tế
vô tư trong những cuộc bầu cử tự do.
Những đòi hỏi
trên đây dù rất khiêm tốn và rất hợp tình hợp
lý nhưng chắc chắn sẽ gặp sự chống
đối của chính quyền cộng sản, vì thế
phải vận dụng mọi áp lực quần chúng và quốc
tế trong mọi lãnh vực để buộc đảng
cộng sản phải nhượng bộ và tham gia vào tiến
trình dân chủ hóa.
Chúng ta không đánh giá
được sự ngoan cố của đảng cộng
sản để có thể tiên liệu được lúc
nào họ sẽ phải nhượng bộ và chấp nhận
bầu cử tự do. Nhưng chúng ta có thể tin chắc
bầu cử tự do sẽ tới trong một
tương lai không xa và cần chuẩn bị để
giành thắng lợi ngay từ bây giờ.
Song song với cố gắng
chuẩn bị để giành thắng lợi, các lực
lượng dân chủ cũng cần chuẩn bị tâm lý
để đón nhận thất bại. Một khi dân chủ
và bầu cử tự do đã được chấp nhận
trên nguyên tắc, chắc chắn thành phần bảo thủ
còn lại trong đảng cộng sản sẽ bị vô
hiệu hóa và một phần đáng kể đảng viên
cộng sản, kể cả một số cơ sở của
đảng cộng sản sẽ gia nhập hàng ngũ dân
chủ, nhưng đảng cộng sản vẫn còn dù có
thể dưới một danh xưng khác và vẫn là một
chính đảng mạnh trong cuộc bầu cử. Nhờ
số lượng đảng viên và sức mạnh tài
chính họ vẫn có khả năng thắng trong cuộc bầu
cử đầu tiên nếu các lực lượng dân chủ
không kết hợp nhanh chóng và vận động hữu hiệu.
Nhưng ngay trong trường hợp này, đảng cộng
sản, hoặc hậu thân của nó dưới một
danh xưng khác, cũng không thể là một đảng cầm
quyền độc đoán nữa ; chế độ dân chủ
đã được thiết lập và người thắng
lớn vẫn là đất nước.
Trong đấu tranh
để đòi bầu cử tự do cũng như để
giành thắng lợi qua các cuộc bầu cử tự do
đó, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên lúc nào cũng chủ
trương xóa bỏ hận thù, tôn trọng mọi người
và mọi chính kiến để hợp tác với nhau và
cùng nhau xây dựng tương lai Việt Nam chung. Tinh thần
hòa giải và hòa hợp dân tộc này không thể bị
đồng hóa với thái độ sẵn sàng cấu kết
và đồng lõa với bất cứ ai. Thái độ của
Tập Hợp rất minh bạch. Tập Hợp có mục
tiêu và đường lối rõ ràng và Tập Hợp sẽ
kiên trì theo đuổi. Tập Hợp sẽ dồn mọi
cố gắng để giành thắng lợi cho mặt trận
dân chủ trong bầu cử tự do. Nếu thắng, Tập
Hợp sẽ cùng với các tổ chức đồng minh
trong mặt trận dân chủ, và có thể cùng với cả
một số tổ chức chính trị khác, chia sẻ
trách nhiệm trước dân tộc. Nếu không may thắng
lợi về tay những lực lượng khác lập
trường, Tập Hợp sẽ tiếp tục đấu
tranh trong cương vị của một đối lập
đứng đắn và trách nhiệm.
Như tất
cả mọi cuộc vận động chính trị, cuộc
đấu tranh này sẽ đòi hỏi nhiều thỏa hiệp.
Tùy mức độ hưởng ứng nhiều hay ít mà
sách lược đấu tranh để chấm dứt chế
độ độc tài và thiết lập dân chủ, những
chọn lựa cơ bản, cũng như chính sách chuyển
tiếp trong dự án chính trị này sẽ được
thực hiện toàn bộ hay một phần trong mỗi thời
điểm, sớm hay muộn trong thời gian. Tinh thần
của Tập Hợp là tinh thần đối thoại và
hợp tác. Tập Hợp sẽ chấp nhận những
thỏa hiệp, kể cả những thỏa hiệp giai
đoạn, nhưng sẽ không nhân nhượng trên ba lập
trường căn bản : lý tưởng dân chủ
đa nguyên, tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc,
và phương thức đấu tranh bất bạo động.
Chúng ta sẽ phải
chuyển đổi từ một hệ thống nhất
nguyên, tập trung, chuyên quyền sang một chế độ
đa nguyên, tản quyền và phân quyền.
Chúng ta sẽ phải
thay thế một kinh tế hoạch định đặt
nền tảng trên các xí nghiệp quốc doanh bằng một
kinh tế thị trường lấy các xí nghiệp tư
làm sức mạnh.
Chúng ta sẽ phải
biến một guồng máy nhà nước quan liêu, bàn giấy,
công cụ của một đảng thành một nhà nước
hữu hiệu, trách nhiệm, lành mạnh, phục vụ
cho công ích.
Chúng ta sẽ phải
chấm dứt lối quản lý bằng nghị quyết
và chỉ thị để thiết lập một nhà
nước pháp trị.
Chúng ta sẽ phải
thay thế một nền giáo dục tuyên truyền và nhồi
sọ bằng một nền giáo dục khách quan và khai
phóng.
Chúng ta kế thừa một
đất nước suy kiệt toàn diện, trộm
cướp lộng hành, tham nhũng đã thành nền nếp,
buôn lậu đã thành một phong trào quốc gia, các bệnh
truyền nhiễm lan tràn một cách không kiểm soát, tuổi
trẻ thất học và bỏ học, con người suy
nhược, bi quan và chán nản, môi trường sinh thái bị
hủy hoại và ô nhiễm, chủ quyền kinh tế và
ngay cả đất đai đã mất nhiều về
tay người ngoại quốc, hàng chục triệu
người sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực.
Chúng ta sẽ phải biến đất nước đó
thành một đất nước có kỷ cương, có
chủ quyền, có lòng tin, có liên đới, có sức bật
kinh tế và có sức thu hút đầu tư nước
ngoài.
Chúng ta kế thừa một
đất nước chồng chất hận thù do chiến
tranh và các chính sách phân biệt đối xử để lại.
Chúng ta sẽ phải hàn gắn những đổ vỡ
mà không gây ra những đổ vỡ mới. Chúng ta sẽ
phải phục hồi danh dự cho những người
đã bị xúc phạm mà không xúc phạm những người
khác, phải bồi thường thiệt hại cho những
nạn nhân mà không tạo ra những nạn nhân mới.
Chúng ta cần minh định
: vấn đề đặt ra không phải là đi tìm một
công thức mầu nhiệm nào có thể biến đất
nước thành giàu mạnh, không làm gì có một công thức
như vậy. Vấn đề là từ những thực
tại của đất nước và bối cảnh thế
giới nhận diện những vấn đề cần
được giải quyết ưu tiên và đề ra những
giải đáp.
Mục tiêu của giai
đoạn chuyển tiếp này là tăng sản lượng
quốc gia lên gấp đôi trong khoảng thời gian
năm năm đồng thời cải thiện được
môi trường và giềng mối xã hội, hóa giải mọi
hận thù và hiềm khích, thực sự đưa một
Việt Nam hòa hợp vào quỹ đạo tiến bộ.
Mục tiêu này có thể đạt được và sẽ
phải đạt được bằng những chính
sách và biện pháp không mâu thuẫn với những định
hướng lớn đã vạch ra.
Chúng ta có quá nhiều vấn
đề văn hóa xã hội trầm trọng và cấp
bách cần giải quyết nhưng lại chỉ có những
tài nguyên rất eo hẹp. Nếu chúng ta dành quá nhiều tài
nguyên cho các vấn đề ấy thì chúng ta sẽ không còn
tài nguyên để phát triển kinh tế và sẽ dẫm
chân tại chỗ trong cảnh đói khổ. Ngược
lại có những vấn đề văn hóa xã hội gay
gắt đến độ nếu không được giải
quyết sẽ triệt tiêu mọi cố gắng kinh tế.
Phải nhìn nhận một thực tế phũ phàng là
chúng ta sẽ còn phải chung sống với sự nghèo khổ
cơ cực nhiều năm nữa. Trong hoàn cảnh ngân
sách eo hẹp chúng ta sẽ phải thiết lập một
thứ tự ưu tiên cho các vấn đề. Tinh thần
chỉ đạo là giải quyết cấp bách những vấn
đề tối cần thiết cho hòa giải dân tộc,
an ninh xã hội và phát triển kinh tế, các vấn đề
khác sẽ được giải quyết theo một thứ
tự ưu tiên khác ngay khi khả năng kinh tế cho phép.
Quân đội sẽ
được hiện đại hóa về trang bị và
huấn luyện, đồng thời cũng sẽ
được tinh giản quân số.
Mọi chính trị phạm
sẽ được trả tự do và phục hồi quyền
công dân ngay tức khắc.
Mọi người vì
lý do chính trị, vì các chính sách đánh tư sản, cải
cách ruộng đất, hay vì đã từng là công chức
quân nhân của miền Nam mà đã bị giam cầm, hạ
nhục sẽ được phục hồi danh dự và
sẽ được bồi thường thiệt hại
ít nhất là một cách tượng trưng.
Nhà nước sẽ
nhân danh sự liên tục quốc gia nhận lỗi về
những sai lầm trong quá khứ, nhất là đối với
những người đã chết oan dù ở trong hàng ngũ
nào và trong giai đoạn nào.
Những người
đã bị tịch thu tài sản sẽ được nhà
nước nhận bồi hoàn, sự bồi hoàn thực sự
sẽ được thi hành dần dần với thời
gian theo khả năng kinh tế của nhà nước.
Một cơ quan đặc
biệt, cấp bộ, sẽ được thành lập
để thực hiện chính sách hòa giải dân tộc,
đặc biệt là để nhận và giải quyết
những hồ sơ khiếu nại và đòi bồi
thường của dân chúng. Một ủy ban của quốc
hội sẽ có trách nhiệm đảm bảo rằng mọi
luật lệ và qui định không đi ngược với
quốc sách hòa giải và hòa hợp dân tộc. Một hội
đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc, độc lập
với chính quyền và gồm đại diện của
các chính đảng, đại diện các tôn giáo, đại
diện các sắc tộc và các nhân vật có uy tín thuộc
xã hội dân sự sẽ được thành lập để
giám sát việc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Nhà nước sẽ
nghiêm cấm mọi hành động trả thù báo oán và phân
biệt đối xử. Mọi người Việt
Việc thực thi hòa
giải và hòa hợp dân tộc sẽ cần một thời
gian rất dài. Mọi biện pháp của nhà nước phải
luôn luôn chứng tỏ thiện chí muốn thực sự
hàn gắn những đổ vỡ do quá khứ để
lại, để mọi người Việt
Để chính sách hòa
giải và hòa hợp dân tộc có nền tảng chính
đáng và thêm sức mạnh, một đạo luật về
hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ được soạn
thảo để toàn dân biểu quyết qua trưng cầu
dân ý.
Luật pháp cần
nghiêm minh chứ không cần phải khe khắt, và nhất là
không cần phải hung bạo.
Mọi người Việt
Luật pháp không rõ ràng
cũng là một nguyên nhân đưa đến phạm
pháp. Trong tương lai đất nước ta cần một
luật pháp thật giản dị, thật dễ hiểu
và dễ tôn trọng nhưng cũng rất nghiêm khắc với
những sai phạm.
Chính quyền hiện
nay có rất nhiều công an, nhưng công an được sử
dụng trước hết vào việc bảo vệ quyền
lực của đảng cộng sản thay vì bảo vệ
trật tự an ninh, để đàn áp những khát vọng
tự do dân chủ hơn là để đàn áp những tệ
đoan xã hội. Bởi vậy trong tương lai các
cơ quan công an tình báo, bảo vệ chính trị sẽ
được chuyển qua lực lượng bảo vệ
trật tự an ninh. Việc tăng cường trật tự
an ninh như vậy chỉ là một sự cải tổ
guồng máy an ninh. Sự cải tổ này không những
không tốn kém mà còn có thể tiết kiệm rất nhiều
cho ngân sách. Một chính quyền Việt
Tham nhũng là bệnh
ung thư đối với sinh hoạt kinh tế. Không dẹp
được tham nhũng thì bất cứ chính sách kinh tế
nào, dù hoàn chỉnh đến đâu cũng sẽ thất
bại. Tệ tham nhũng ngày nay đã đạt tới một
mức độ khó tưởng tượng. Nguyên nhân
chính của tham nhũng trước hết là chính bản
chất của chế độ độc tài toàn trị
trong đó việc bổ nhiệm và thay thế các quan chức
hoàn toàn không tùy thuộc vào quần chúng và dư luận. Sau
đó là guồng máy nhà nước áp đảo và kềnh
càng, là luật lệ rườm rà, mâu thuẫn cho phép những
giải thích chủ quan, thiên vị, tùy tiện. Tham nhũng
là lợi dụng công quyền cho lợi ích cá nhân, do đó
muốn chống tham nhũng trước hết phải giảm
trọng lượng của quyền lực nhà nước,
nghĩa là phải thay thế guồng máy nhà nước nặng
nề và toàn quyền bằng một nhà nước nhẹ
và quyền lực giới hạn. Sau đó cần một
luật pháp giản dị, minh bạch khiến người
dân biết chắc chắn những gì mình có thể làm và những
gì mình không được làm và không còn là những con tin của
các quan chức nhà nước.
Một nguyên nhân quan trọng
khác là sự cấu kết và bao che giữa các đảng
viên cộng sản với nhau. Chính quyền cộng sản
đã thú nhận là họ không chống được tham
nhũng, nhưng điều họ chưa chịu thú nhận
là chính đảng cộng sản là một nguyên nhân của
tình trạng tham nhũng, do đó tệ tham nhũng sẽ
chỉ khắc phục được khi đảng cộng
sản không còn độc quyền chính trị.
Chống tham nhũng cũng
như chống buôn lậu cần phải có quyết tâm
nhưng cũng cần có lòng tin và hậu thuẫn của
toàn dân. Một trong những đồng minh của ta trong
trận chiến cam go này là tự do ngôn luận. Trong một
chế độ thực sự tự do, nạn tham nhũng
và hà hiếp dân chúng nếu không bị dẹp hẳn thì cũng
phải rút xuống ở một mức độ thấp.
Sự tố cáo của những người công dân tự
do biết rõ mọi quyền của mình là vũ khí chống
tham nhũng hiệu lực nhất.
Mọi sáng kiến sẽ
được hoan nghênh để tranh thủ sự hưởng
ứng tích cực của toàn dân vào cố gắng quốc
gia này.
Một chú trọng
đặc biệt dành cho việc giảng dạy Việt
văn. Đó là điều mà ta không thể tiết kiệm
được bởi vì một trình độ văn hóa tối
thiểu và một khả năng truyền thông tối thiểu
vừa là điều kiện không có không được cho
phát triển kinh tế, vừa là một điều kiện
cần thiết cho sự ổn vững của xã hội,
cho hòa bình giữa những con người.
Từ nhiều năm
nay chính quyền cộng sản hầu như đã bỏ
rơi hoàn toàn mọi cố gắng về giáo dục. Chúng
ta đã mất đi rất nhiều học sinh và phẩm
chất của giáo dục ở mọi cấp đã sút giảm
trầm trọng, nhất là từ khi chế độ cộng
sản thực hiện chính sách kinh tế thị trường
hoang dại. Phải thi hành cưỡng bách giáo dục và
giáo dục miễn phí ít nhất tới hết lớp 9. Rất
có thể là ngân sách sẽ không cho phép tuyển dụng đủ
số giáo chức cần có, trong trường hợp này
chúng ta cần phát động một phong trào liên đới
quốc gia về văn hóa, sinh viên tiếp tay dạy học
sinh, lớp trên tiếp tay dạy lớp dưới trong
tinh thần tình nguyện hay với thù lao tượng
trưng. Cũng cần lưu ý rằng tình trạng bi
đát của ngành giáo dục hiện nay không khó khắc phục.
Sự xuống cấp của giáo dục hiện nay phần
chính do chính sách của nhà nước cộng sản. Giáo dục
bị xem là dịch vụ kiếm tiền cho nhà nước
thay vì một đầu tư vào tương lai. Nhà nước
cộng sản cũng không phân biệt giáo dục với
tuyên truyền. Học sinh bị nhồi sọ những kiến
thức mà cả người dạy lẫn người học
đều biết là sai và vô ích. Thêm vào đó sự bế
tắc của kinh tế cũng như sự băng hoại
của xã hội khiến cho thanh thiếu niên và phụ
huynh không biết học để làm gì.
Cố gắng văn
hóa này gắn liền với một kế hoạch bảo
vệ môi sinh trong địa hạt kinh tế. Chính sách
đánh bắt vô tổ chức và vô trách nhiệm hiện
nay đã làm suy giảm trầm trọng nguồn hải sản
của ta. Chúng ta cần có ngay những qui định giản
dị, minh bạch và được áp dụng triệt
để nhằm cứu vùng biển và cứu nguồn hải
sản. Phong trào phá rừng bán gỗ bừa bãi - vẫn còn
tiếp tục - đang có cơ nguy biến nước ta
thành cằn cỗi ; phong trào này phải được chặn
đứng ngay tức khắc. Việc phục hồi lại
cây rừng vừa cần nhiều vốn lại vừa cần
sự bảo vệ và chăm sóc đều đặn cho
nên có thể ngân sách nhà nước không cáng đáng nổi.
Cần nghiên cứu giải pháp giao khoán từng vùng rừng,
từng khu rừng cho các công ty tư nhân phục hồi và
khai thác, với những quyền lợi và những cam kết
rõ rệt.
Song song với cố gắng
phát triển công nghiệp cũng phải có những qui
định rõ ràng về cách xử lý các loại phế liệu.
Cần duyệt xét lại
những sang nhượng đất đai để chặn
đứng vụ bán đất mờ ám cho người
ngoại quốc. Một biện pháp vừa dung hòa
được nhu cầu thu hút tư bản vừa giữ
được đất Việt cho người Việt
là không những cho phép mà còn khuyến khích người Việt
định cư ở nước ngoài mua nhà và đất
tại Việt Nam. Đó cũng là biện pháp để gắn
bó người Việt hải ngoại và quê hương.
Những đất
đai chuyển nhượng bất chính sẽ bị thu hồi,
trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị tịch
thu không bồi hoàn.
Chúng ta sẽ giải
tư tức khắc tất cả mọi công ty, xí nghiệp
quốc doanh có thể giải tư được để
đem lại cho kinh tế một sinh lực mới.
Chúng ta sẽ xúc tiến
ngay việc tư hữu hóa ruộng đất theo nguyên tắc
trả quyền sở hữu lại cho những người
đang canh tác trên đất của mình, tùy trường hợp
cấp không hoặc bán lại cho nông dân những đất
đai đang được nhà nước giao phó. Việc
tư hữu hóa nông nghiệp đặt ra nhiều vấn
đề phức tạp về cả hai mặt kỹ thuật
lẫn tình cảm, thí dụ như trường hợp của
những người đã bị truất hữu một
cách oan ức trước đây, nên cần có một chính
sách rất thận trọng.
Nguyên tắc chỉ
đạo của chính sách giải tư và tư hữu hóa
là những gì tư nhân có thể làm được nhà
nước sẽ không làm. Chính sách này sẽ phải hoàn tất
về cơ bản sau hai năm cho công nghiệp và sau
năm năm cho nông nghiệp.
Phát triển thị
trường nội địa phải đi song hành với
phát triển kinh doanh nội địa. Chúng ta không có những
nhà tư bản lớn cho nên cần tích cực thúc đẩy,
nâng đỡ và khuyến khích các xí nghiệp cá nhân và các
công ty tầm cỡ nhỏ, giúp họ phát đạt và gia
tăng tầm vóc, dần dần trở thành những nhà
tư bản lớn.
Một bắt buộc
khẩn cấp của chính sách phát triển thị trường
nội địa là phải tu sửa và tăng cường
hệ thống đường giao thông và truyền thông,
các phương tiện chuyên chở và truyền tin.
Trước hết là
chấm dứt những phí phạm do chính quyền cộng
sản tạo ra mà phí phạm lớn nhất là do chính
Đảng Cộng Sản Việt
Nguồn tài trợ thứ
hai là do sự tiết giảm ngân sách an ninh quốc phòng.
Chúng ta không có ý đồ chinh phục nước nào và
ngược lại cũng không còn lo ngại bị chinh phục
bằng quân sự. Sự phòng vệ các vùng biển và hải
đảo cũng không cần đến một lục
quân đông đảo như ngày nay mà cần một quân
đội cơ giới tinh nhuệ. Guồng máy công an gần
nửa triệu người của nhà nước cộng
sản trước hết nhằm đàn áp những nguyện
vọng dân chủ. Một nhà nước dân chủ thực
sự có thể giảm một phần quan trọng chi phí
mà còn tăng cường được khả năng bảo
vệ lãnh thổ và duy trì trật tự an ninh.
Nguồn tài trợ thứ
ba là do sự giải tư các xí nghiệp quốc doanh.
Như đã trình bày ở phần trên, mục đích chính của
chính sách giải tư là hợp lý hóa và lành mạnh hóa sinh hoạt
kinh tế. Tuy vậy chương trình giải tư cũng
sẽ đem lại một tài khoản quan trọng.
Nguồn tài trợ thứ
tư do sự đóng góp tích cực hơn của cộng
đồng Việt Nam hải ngoại hơn hai triệu
người sau khi một chế độ dân chủ thực
sự, phù hợp với nguyện vọng sâu xa của
đồng bào hải ngoại đã được thiết
lập. Khối người Việt hải ngoại, với
trên hai triệu người, phần lớn định
cư tại các nước phát triển và một lợi tức
thường niên không dưới 30 tỷ USD có khả
năng tiết kiệm 10 tỷ USD mỗi năm. Nhưng
cộng đồng người Việt hải ngoại
không những chỉ là nguồn đầu tư mà còn có thể
có những đóng góp quan trọng khác về văn hóa, khoa
học và kỹ thuật. Một khi quan hệ với trong
nước đã được bình thường hóa, cộng
đồng người Việt hải ngoại sẽ là một
đòn bẩy lớn cho cố gắng phát triển đất
nước.
Nhưng nguồn tài trợ
quan trọng nhất và càng ngày càng dồi dào hơn là do
chính sự phát triển của kinh tế. Hiện nay rất
nhiều ngành nghề bị tê liệt, rất nhiều tài
năng bị triệt tiêu do sự cấm cản hay sách
nhiễu của chính quyền cộng sản. Trả lại
tự do kinh doanh thực sự cho dân chúng là ta đã khai
thông được nhiều sinh lực mới và có thể
chờ đợi những đóng góp mới. Chính sách kinh tế
đứng đắn và lương thiện của ta cũng
sẽ có khả năng động viên nguồn tài chính còn
lại trong nhân dân. Không có sức mạnh nào lớn hơn
sức mạnh mà chúng ta sẽ có nhờ giải tỏa và
động viên sinh lực của một dân tộc gần
83 triệu người cần mẫn. Chúng ta có quyền chờ
đợi những thành quả nhanh chóng và to lớn.
Chúng ta không cần trông
đợi ở một phép mầu hay một ân huệ nào
cả. Phép mầu ấy chúng ta có thể tự tạo ra
cho mình, ân huệ ấy chúng ta có thể tự ban cho mình một
cách giản dị.
Bình thường
hóa quan hệ giữa người Việt
Bài học lớn nhất
của nửa sau thế kỷ hai mươi này là một
dân tộc muốn vươn lên chỉ cần hai yếu tố
: những con người cần mẫn và đồng thuận
dân tộc. Chúng ta là một dân tộc đông đảo,
con người của ta thông minh và cần mẫn, địa
lý của ta thuận lợi, chúng ta lại đang tiến
tới đồng thuận dân tộc. Chúng ta có quyền lấy
một lạc quan lịch sử làm hành trang cho cuộc hành
trình về tương lai.
Chúng ta cũng có quyền
lạc quan vì cuộc đấu tranh của ta trong sáng,
đó là cuộc đấu tranh để đẩy lui sự
tồi dở và sự gian trá, để tôn vinh mọi
người, tôn vinh quyền làm người và quyền
được hưởng hạnh phúc như một dân tộc
lớn mà dân tộc ta rất xứng đáng để có.
Dân tộc Việt
Thử thách trước
mặt chúng ta rất lớn, nhưng hy vọng thôi thúc
chúng ta còn lớn hơn. Đằng sau những trở ngại
là cả một tương lai rực sáng. Chế độ
độc tài này sẽ là chế độ độc tài
cuối cùng tại Việt
Chúng ta đã hiểu bằng
máu và nước mắt và đã chấp nhận trong da thịt
những giá trị giản dị nhưng mầu nhiệm
như tự do, dân chủ, hòa bình, công lý, bao dung, cố gắng.
Chúng ta đã nhuần thấm tình dân tộc nghĩa đồng
bào trong sự tủi nhục chung vì thua kém. Chúng ta đã thấy
rõ ràng rằng tất cả mọi người Việt
Chúng ta hãy cùng nhau cất
lên chung một lời nguyền.
Nước Việt
Làm người Việt
Thế giới đã
biết đến Việt Nam như là nạn nhân của hận
thù và chia rẽ, của óc độc quyền lẽ phải
thì thế giới sẽ phải biết đến Việt
Nam sau này như là vùng đất của sự bao dung,
như là một mẫu mực thành công của tình anh em tìm
lại, của sự hồi sinh từ hoang tàn và đổ
nát.
Đó là lý
tưởng của thời đại chúng ta. Đó là gia
tài mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ
sau. Đó là giấc mơ Việt