|
|
|
Viễn ảnh ô nhiễm arsenic
trong nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cữu
Long ( ĐBSCL) đang là một thực tế cần phải đối phó. Vấn đề hiện nay là phải
cố tìm một phương cách giải quyết để cứu nguy những người nông dân chất phác
trước khi vấn nạn nầy biến thành nguy cơ trầm trọng ảnh hưởng đến hàng triệu
người dân như trường hợp ở Bangladesh. Là một chuyên viên trong việc quản lý
và xử lý môi trường tại Hoa Kỳ trên 20 năm, chúng tôi đã hằng lưu tâm đến
những vấn đề môi sinh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí.
Nhưng từ khi Hội nghị Thượng đỉnh về Toàn cầu hóa tại Rio de Janeiro năm 1992
tại Ba Tây, vấn đề Việt Nam trở thành ưu tiên hàng đầu của chúng tôi trong
nghiên cứu. Năm 1997, chúng tôi đã đọc
bài tham luận về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở thành phố Hồ chí Minh trong
ngày Đại hội của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) tại khách sạn
Hyatt, Garden Grove. Tiếp theo đó, trong năm 1998, chúng tôi đã cảnh báo vấn
nạn DDT và nitrate hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Và sau cùng, ô nhiễm
arsenic trong nguồn nước trở thành trọng tâm của chúng tôi sau khi vấn đề
arsenic ở Bangladesh và Tây Ấn Độ đã được thế giới xem như là một thảm nạn
của thế kỷ. Thảm nạn nầy ảnh hưởng lên hơn 50 triệu người sống trong vùng sau
hơn 25 năm được UNICEF tài trợ, khoan đào hơn 4 triệu giếng với mục đích để
cho người dân có nguồn "nước sạch." Qua kinh nghiệm ở
Bangladesh, arsenic đã nằm yên trong trầm tích cho đến khoảng 1960. Vì muốn
tránh cho người dân bị nhiễm do vi trùng dịch tả, thương hàn, kiết lỵ, các cơ
quan viện trợ quốc tế qua UNICEF đã khích lệ việc dùng nước giếng để giải
quyết vấn nạn do các bệnh tật gây ra. Nhưng từ đó, hệ lụy trước mắt là thảm
nạn arsenic bộc phát vào những năm 90 tại nơi nầy. Nguyên nhân ô nhiễm arsenic. Sông Hằng (Ganges) bắt
nguồn từ rặng Hy Mã Lạp sơn mang phù sa xuống đồng bằng hạ lưu là
Bangladesh ; hiện tượng nầy cũng tương tự như sông Cửu Long, phát nguồn
từ cao nguyên Tây Tạng, và ĐBSCL là hạ lưu sau cùng của dòng sông trước khi
chảy vào biển Thái Bình. Cấu trúc của hai cao nguyên ở vào niên đại đệ tứ.
Phù sa có màu rỉ sắt quen thuộc ở miền Nam Việt Nam, đó chính là
arseno-pyrite với công thức hóa học là As-FeS2. Chất nầy mang nguồn arsenic
trong thiên nhiên và không hòa tan trong nước. Chính vì lý do tương tự sau
khi so sánh hai dòng sông khiến cho chúng tôi lưu tâm đến vấn đề nhiễm độc
arsenic tại Việt Nam. Từ xa xưa, người dân ĐBSCL có thói quen đánh phèn bằng
hàn the (borax) hay phèn chua trước khi dùng. Theo năm tháng phù sa tích tụ ở
trong lòng đất sâu. Trong khi đào giếng, arseno-pyrite tiếp xúc với oxy trong
không khí và qua phản ứng oxyd hóa và khử, arsenic được phóng thích, hòa tan
trong nước dưới dạng arsenite và arseniate, chính chất sau cùng là nguyên
nhân làm nhiễm độc nguồn nước. Với mục đích truy tìm thêm
thông tin, chúng tôi, qua email, đã hội ý với giáo sư Chappel, thuộc viện đại
học Colorado ở Denver, và là Điều tra viên chính (Chief Investigator) của Hoa
Kỳ về điều tra và xử lý ô nhiễm tại Bangladesh. Chúng tôi cũng nhiều lần trao
đổi với giáo sư qua Hội nghị Quốc tế về Arsenic tổ chức hàng năm tại San
Diego. Mãi đến đầu năm 1999, chúng tôi mới có điều kiện trực tiếp đặt vấn đề
với cơ quan UNICEF có trụ sở đặt tại Hà Nội qua một tài liệu nghiên cứu ban
đầu do chúng tôi soạn thảo. Nhưng UNICEF vẫn giữ thái độ im lặng. Trong lúc
đó, UNICEF tiếp tục khuyến khích và thúc đẩy công cuộc đào giếng, đặc biệt là
vùng ĐBSCL. Tính đến nay, có thể ước lượng được trên 300.000 giếng khoan hoặc
đào cho vùng nầy, nơi mà người dân có thói quen xử dụng nguồn "nước
mặt" và đánh phèn trước khi dùng. Thu thập dữ kiện và phân tích các mẫu nước. Với những trao đổi trực
tiếp và qua các tài liệu tham khảo về nguy cơ ô nhiễm arsenic trên thế giới,
chúng tôi bắt đầu thu thập dữ kiện. Qua bạn bè và thân nhân có dịp về thăm
quê hương, chúng tôi chuẩn bị sẵn các chai lọ đặc biệt để chứa mẫu nưốc và
nhờ họ đi lấy mẩu ở tất cả những nơi đã thăm viếng. Các mẩu nước được thu
thập từ Hà Nội đến tận vùng ĐBSCL và được phân tích tại Hoa Kỳ. Kết quả đã được công bố
trong ngày Hội thảo do Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam (HKHKTVN) tổ chức tại
đại học Santa Ana vào tháng 11/2000. Tuy là kết quả ban đầu và cần phải phân
tích thêm nhiều mẩu nữa, nhưng chúng tôi có thể kết luận rằng nguồn nước ở
nhiều vùng tại ĐBSCL đã bắt đầu bị nhiễm độc arsenic. Các mẩu nước thu thập
đã được phân tích tại phòng thí nghiệm ở California do chính chúng tôi phụ
trách về an toàn sản phẩm và kiểm soát chất lượng. Có tất cả 22 kim loại, 70
hợp chất hữu cơ, và 7 anions đã được phân tích cho mỗi mẫu. Mục đích của các
cuộc phân tích nầy là để truy tìm sự hiện diện của arsenic, cùng các hợp chất
hữu cơ trong nước. Chúng tôi đã phân tích các mẫu nước ở nhiều nơi trong
những tỉnh ở miền Nam sau đây : Biên Hòa, Sàigòn, Tân An, Mỹ Tho, Gò
Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng, Sa Đéc và
Tân Châu. Hiện tại ở nhiều nơi, nồng độ arsenic đã đạt đến mức giới hạn của
tiêu chuẩn an toàn do Liên Hiệp Quốc quy định là 10 ug/L (ppb - phần tỷ). Ngoài sự hiện diện của
arsenic dưới dạng phù sa arseno-pyrite như đã nói trên, các cuộc nghiên cứu
năm 1999 do TS Gustafson (Thụy Điển) tại ĐBSCL cho thấy hàm lượng của arsenic
trong đất ở vùng nầy khá cao từ 20 - 130 mg/Kg so với mức trung bình trong
thiên nhiên là 4 mg/Kg. Thêm nữa, việc xử dụng quá tải các loại phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật cũng có thể là một nguồn cung cấp arsenic trong nguồn
nước và lòng đất vì arsenic là một trong những tác nhân chính trong việc điều
chế các loại thuốc kể trên. Ảnh hưởng của Arsenic lên con người. Đây là một ảnh hưởng dài
hạn. Trường hợp xảy ra ở Bangladesh cho chúng ta rõ nét về di hại do sự hiện
diện của arsenic trong nguồn nước. Tùy theo mức độ xâm nhập vào cơ thể con
người, những hội chứng do sự nhiễm độc arsenic thay đổi theo thời gian. Từ
việc da ở lòng bàn tay, bàn chân cho đến vùng da ở trước ngực trở thành đen
xậm do việc arsenic tích tụ trong cơ thể từ 5 đến 10 năm. Đó là một trong những
chứng bịnh có tên là arsenicosis. Sau hơn 15 năm bị nhiễm độc, các bộ phận
trong cơ thể như gan, thận, lá lách bị sưng to, hệ thống thần kinh, đường hô
hấp bị suy thoái. Sau hơn 20 năm trở đi, các chứng ung thư gan, lá lách, bàng
quan, thận bắt đầu xuất hiện. Hàng năm số tử vong ở Bangladesh vì arsenic lên
đến hàng trăm ngàn người. Như vậy, phải cần một thời gian dài mới cảm nhận
được mức nhiễm độc của arsenic ; và việc giải thích cho người dân hiểu
được nguy cơ ô nhiễm trên quả thật rất khó khăn. Arsenic và Việt Nam. Hàng năm tại Việt Nam, nhà
cầm quyền đều có tổ chức hội thảo về tình trạng môi trường ở Việt Nam. Theo
chỗ chúng tôi được biết, đúc kết của hội thảo chỉ nhắm trọng tâm vào các vấn
đề ô nhiễm chung trong không khí, nguồn nước, và lòng đất. Đại loại là để
cảnh báo tình trạng môi trường xuống cấp mà thôi. Vào tháng 8 năm 2000 có một
cuộc hội thảo về ô nhiễm arsenic tại Hà Nội. Nơi đây, các cuộc điều tra về ô
nhiễm arsenic đã được các khoa học gia Việt Nam thực hiện. Như Tiến sĩ Đỗ
Trọng Sự cảnh báo từ năm 1997. Sang năm 1999, có hơn 1.200 mẫu nước giếng ở
vùng Hà Nội đã được phân tích và 12.5% trong số đó có hàm lượng arsenic cao
hơn 50 ug/L (báo Lao Động ngày 6/3/2002). Trong năm 2000, Viện Địa lý thực
hiện 498 mẫu và tìm thấy 27% số mẫu có hàm lượng arsenic cao hơn 50ug/L. Đặc
biệt hơn nữa là, tiến sĩ Ngô Ngọc Các thuộc Viện Địa lý Trung tâm Khoa học tự
nhiên và Công nghệ quốc gia đã công bố kết quả điều tra và kết luận là nước
giếng khoan ở Hà Nội bị nhiễm rất nặng (517 mẫu trên 925 mẫu có hàm lượng cao
hơn 50 ug/L). Quả thật chúng tôi hoàn toàn không hiểu với những khám phá vừa
kể trên đã có trước khi hội thảo, mà không thấy ai đề cập đến vấn đề
nầy ? Tại sao để mãi đến năm 2002, Việt Nam mới cho dư luận trong nước
biết đến vấn nạn nầy ? Vào cuối tháng 8/2002,
Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường tỉnh Hà Nam có báo cáo là trên
50% mẩu phân tích (29/56 mẩu) có hàm lượng arsenic cao hơn tiêu chuẩn cho
phép của Việt Nam trước đây là 0,05 mg/L. (Tiêu chuẩn mới của Việt Nam hiện
tại là 0,01 mg/L, phù hợp với tiêu chuẩn của LHQ). Ở Hà Nội, theo kết quả
nghiên cứu của UNICEF vào năm 2000 và 2001 thì vào mùa khô có 35% giếng bị ô
nhiễm arsenic, và vào mùa mưa, 18%. Cũng theo UNICEF, tỉnh Ninh Bình có 10%
số mẩu đã vượt quá 0,05 mg/L, Nam Định 9% ; tương tự như ở Sơn La, Phú
Thọ, Hải Phòng, Bắc Giang, và Thanh Hóa. Tại Hoa Kỳ, trong ngày Hội
thảo năm 2000 tại đại học Santa Ana, các bài phát biểu bằng Anh ngữ và Việt
ngữ đã được các báo chí tại hải ngoại đăng tải. Tuy nhiên chúng tôi không ghi
nhận được phản ứng nào của chính quyền Việt Nam trong thời gian này. Mãi cho đến ngày
03/01/2002, nhật báo Orange County Register cho đăng tải bài phỏng vấn chúng
tôi và kỹ sư Nguyễn Minh Quang về tình trạng môi trường và các vấn nạn ô
nhiễm hóa chất ở Việt Nam, họ mới có phản ứng rất tiêu cực hướng về phía
chúng tôi. Phản ứng đầu tiên là phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Việt Nam lúc bấy
giờ đã kết án chúng tôi là "loan tin không có cơ sở và có dụng ý
xấu." Tuy nhiên, gần đây chính
thủ tướngViệt Nam hiện tại Phan văn Khải đã nhìn nhận vấn đề ô nhiễm sẽ là
một thảm trạng lớn của Việt Nam. Sau khi báo Lao Động đăng tải các kết quả đo
đạc của các khoa học gia chúng tôi vừa nói trên, có một sự kiện cần phải nêu
ra là, vào cuối tháng tư năm 2002, thủ tướng Phan Văn Khải của chính quyền
hiện tại đã công bố chính thức rằng nạn ô nhiễm arsenic trong nguồn nước có
thể là một thảm nạn trong tương lai cho Việt Nam cũng như đã chỉ thị cho Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường phải lập phương án, điều tra và nghiên cứu vấn
đề nầy. Khi nghe được tin nầy, chúng tôi không nghĩ rằng họ đã nghe được
những lời cảnh báo của chúng tôi mà thi hành biện pháp kể trên ; tuy
nhiên chúng tôi cũng cố gắng có một suy nghĩ tích cực là ước mong cho chỉ thị
trên trở thành hiện thực ! Và cho đến hôm nay, chúng
tôi vẫn không rõ có những bước tiến bộ nào trong việc thẩm tra và nghiên cứu
sự hiện diện của arsenic trong nguồn nước ở Việt Nam. Arsenic và ĐBSCL Có nhiều nguyên nhân làm
cho chúng tôi chú trọng đến vùng ĐBSCL. Thứ nhất là các liên hệ tương tự về
địa chất và dòng chảy của hai dòng sông Hằng Hà và Cửu Long, cũng như thảm
nạn ở Bangladesh đả xảy ra do nguyên nhân mà UNICEF đang cổ súy ở Việt Nam
qua việc khoan giếng. Thứ hai, kết quả phân tích của chúng tôi đã cho phép
chúng tôi kết luận là arsenic đã hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Thứ ba
và quan trọng hơn hết là theo các cuộc nghiên cứu, vùng ĐBSCL là vùng đất
phèn, bị nhiễm mặn thường xuyên, và nhiều nơi có độ pH thấp hơn 2 (acid) (pH
trung hòa là 7). Chính ba yếu tố trên là những tác nhân kích thích sự phóng
thích arsenic vào nguồn nước có thể với vận tốc nhanh hơn như đã xảy ra ở
Bangladesh (khoảng 25 năm). Do đó chúng tôi tự thấy có trách nhiệm cần phải
đẩy mạnh cuộc khảo sát ở vùng nầy vì đây là quê hương của hơn 20 triệu người
dân chất phác ở miền Nam Việt Nam. Hướng giải quyết ô nhiễm arsenic. Trước khi trình bày các
biện pháp giải quyết tình trạng nhiễm độc arsenic, thiết nghĩ việc truy tìm
sự hiện diện của nguyên tố nầy là một việc làm ưu tiên và cần thiết. Có rất
nhiều cá nhân hay cơ quan trên thế giới đang tập trung trí tuệ để cố gắng tìm
ra một hệ thống thử nghiệm tại hiện trường (field test kit) dựa trên các tác
dụng hóa học và vật lý. Tùy theo điều kiện thí nghiệm, các phương pháp nầy
cho thấy mức độ chính xác tương đối, cho phép chúng ta ước lượng ban đầu tình
trạng nhiễm độc ở những vùng khảo sát. Theo ông Đặng Dương Bình,
thuộc Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi trường Hà Nội cho biết, thành phố đã chỉ
đạo việc tuyên truyền cho người dân về vấn đề nầy, phổ biến những thiết bị xử
lý đơn giản, và đẩy nhanh việc gọi thầu để xử lý những khu ô nhiễm cao vào
tháng 2/2003. Thành phố cũng đầu tư 1 tỷ đồng cho công tác nghiên cứu địa hóa
môi trường Việt Nam cũng như công tác nghiên cứu công nghệ xử lý arsenic ở
quy mô công nghiệp cho các nhà máy cấp nước. Ngoài ra, UNICEF cũng đã đàm
phán với Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sĩ (SDC) để chuẩn bị một dự án
nghiên cứu 3 năm ở đồng bằng sông Hồng và sau đó ở ĐBSCL. Hiện tại, Việt Nam chỉ sản
xuất những hệ thống lọc arsenic cho các đơn vị gia cư và chưa có công nghệ
nào có quy mô công nghiệp lớn cả. Và các hệ thống xử lý nói trên dựa theo
phương pháp cơ, lý học, thiết nghĩ khó có thể tách rời được arsenic đã hòa
tan trong nguồn nước. Chúng tôi qua Hội KH&KT
Việt Nam đã có hướng xử lý những vùng nước bị nhiễm độc, với mục tiêu là cố
truy tìm những phương thức rẻ tiền thích ứng với điều kiện Việt Nam, mặc dù
trên thế giới đã có quá nhiều biện pháp để giải quyết hữu hiệu bằng các
phương pháp hóa học, vật lý như : dùng hydroxid sắt III, phương pháp
thẩm thấu nghịch (reverse osmosis), trao đổi ion v. v.... Những phương pháp
nầy đòi hỏi thiết bị tối tân và chi phí cao, không thể thực hiện được trong
điều kiện Việt Nam hiện tại. Do đó, chúng tôi nghiên về
các phương pháp thiên nhiên như việc dùng thực vật để khử arsenic. Qua tham
khảo chúng tôi được biết tiến sĩ Leno Ho, thuộc đại học Florida đã khám phá
và chứng minh được rằng một loại cây thuộc họ dương xỉ (fern) có tên là
Pteris Vittata có khả năng hấp thụ 755mg/Kg arsenic trong vòng 2 tuần lễ. Và
theo kỹ sư Nguyễn Minh Quang, cũng như đã kiểm chứng lại với quyển tự điển
Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ, cây nầy chính là cây rau Rán, mọc dọc
theo các bờ kinh hay sông rạch ở vùng Tân An, quê của anh. Tuy không tìm được
cây dương xỉ trên, chúng tôi đã tìm được một loại tương tự, cây Nephrolepis
Oblitera, có bán tại các tiệm bán hoa để làm thí nghiệm bằng cách cho thêm
dung dịch có chứa nồng độ arsenic cao vào trong đất. Đất và lá cây được phân
tích arsenic trước và sau hai tuần lễ. Kết quả tuy không đạt được như khám
phá của tiến sĩ Ho, nhưng phương pháp nầy là một khích lệ cho việc khử
arsenic trong nguồn nước. Cuộc nghiên cứu vẫn còn đang tiếp tục. Và mới đây
nhất (3/2005), trong một báo cáo khoa học của TS Parvez Haris, thuộc VĐH Leicester,
Anh Quốc đã chứng minh việc dùng rễ cây lục bình (water hyacinth, tên khoa
học là Eichhornia Crassipe) để khử arsenic. Rễ cây khô được xay nhuyễn có khả
năng hấp thụ As trong một dung dịch có nồng độ 200 phần tỷ trong vòng 60
phút. Và phương pháp nầy đang được áp dụng ở Bangladesh. Trong hiện tại, người dân
chất phác ĐBSCL chưa ý thức được vấn nạn nầy. Do đó, trách nhiệm cấp bách của
nhà cầm quyền là phải cảnh báo cho ngưới dân biết. Một lần nữa, qua các cuộc
thăm dò, điều tra từ hơn 5 năm nay, chúng tôi chắc chắn rằng nạn ô nhiễm
arsenic trong nguồn nước, đặc biệt ở vùng ĐBSCL là một thực tế, một sự thật
không cần phải chứng minh thêm nữa. Do đó, việc làm cấp bách trong hiện tại
là phải tìm những phương cách để chế ngự nhiễm độc, song hành với việc truy
tìm những phương sách khác để cung cấp nguồn nước an toàn cho người dân
ĐBSCL. Việc sử dụng nguồn nước mặt
sau khi đánh phèn là một thói quen mà người dân vùng ĐBSCL đã áp dụng từ ngàn
xưa, hiện nay vẫn còn giá trị không những về mặt tập tục mà vẫn bàng bạc tính
khoa học trong phương cách đối phó vơi thiên nhiên. Thêm nữa, vũ lượng hàng
năm ở ĐBSCL hơn 2000 mm ; điều nầy sẽ giúp người dân có đủ lượng nước
sạch tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống cả năm nếu người dân có phương tiện trữ
nước trong mùa mưa. Thêm nữa, việc lạm dụng
nguồn nước hiện có qua các giếng đào để đẩy mạnh nông nghiệp và chăn nuôi đã
và đang gây ra hậu quả không lường được là môi trường bị ô nhiễm qua phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật và tệ hại hơn nữa là mạch nước ngầm đã bị sụt
giảm. Tính đến năm 2003, mạch nước ngầm của tỉnh Trà Vinh giảm từ 2 đến 2,5 m
do sự hiện hữu của hơn 50.000 giếng đào tại đây. Điều nầy sẽ giúp cho nước
mặn có cơ hội tiến sâu vào đất liền trong mùa khô, và làm giảm diện tích đất
canh tác. Chúng tôi mong rằng các nông dân vùng ĐBSCL lưu ý vấn đề nầy. Vừa qua có một cuộc hội
thảo về ô nhiễm arsenic đã diễn ra tại Hà Nội do Viện Y học Lao động tổ chức
ngày 8/12/2004, chúng tôi đã theo dõi và được biết là trong cuộc hội thảo
nầy, kết luận của Viện Công nghệ Môi trường là : "Các tỉnh đồng
bằng sông Hồng đang có hiện tượng ô nhiễm arsenic trong nước ngầm vượt quá
tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và Tổ chức Y tế thế giới là 10 ug/L."
Kết quả cho thấy trên toàn quốc, ước tính khoảng 13,5% dân số đang xử dụng
giếng khoan có nguy cơ bị nhiễm arsenic cao. Về ĐBSCL, TS Nguyễn thị Phương
Thảo cảnh báo rằng tỉnh Đồng Tháp, An Giang có dấu hiệu bị ô nhiễm. Và sau
cùng TS Nguyễn Khắc Hải đã công bố một nghiên cứu về 11 gia đình đã sử dụng
nguồn nước bị ô nhiễm, và tỷ lệ người bị mắc bịnh sơ cứng ngoài da, khô da,
dày da quá cao. Đây là giai đoạn đầu (khoảng 5 năm) của việc nhiễm độc
arsenic dài hạn. Từ đó sẽ dẫn đến giai đoạn ung thư sau khoảng 20 năm bị tiếp
nhiễm. Trong khuôn khổ quốc gia và
đứng về phía chính quyền hiện tại, chúng tôi nghĩ, họ cần yêu cầu UNICEF chấm
dứt việc khuyến khích và tài trợ công tác đào và khoan giếng, và thay thế
bằng việc tài trợ cho việc lấp đặt hồ chứa công cộng và thiết lập hệ thống
khử trùng bằng tia cực tím cho người dân ĐBSCL như việc họ đã tài trợ các hồ
chứa nước mưa cho cư dân vùng chiến khu Lê Hồng Phong cũ là Bàu Cá ở Ninh
Thuận vào năm 2003. Cũng cần nói thêm là vào ngày 22 và 23 tháng 4-2005 vừa
qua, Hội nghị Môi trường toàn quốc đã diễn ra tại Hà Nội. Trong 204 đề tài
công bố chúng tôi thấy có hai đề tài nói về việc xử lý arsenic bằng phương
pháp hóa học qua giải pháp oxid đồng kết tủa (oxidation co-precipitation) do
Nguyễn Thế Đồng và giải pháp dùng quặng mangan dioxit (quặng pyzoluzite) để
tách loại arsenic trong nước ngầm của Nguyễn Thị Hà. Đây là hai phương pháp
hóa học không thể áp dụng để xử lý As trong nguồn nước sinh hoạt được vì
không hiệu quả kinh tế và không thực tế. Thêm nữa, Việt Nam cũng cần
phải có kế hoạch và nhân sự giải thích cho người dân hiểu được nguy cơ nhiễm
độc arsenic và mức độ nguy hiểm cùng cách sử dụng đúng đắn các loại thuốc bảo
vệ thực vật để tránh những vụ ngộ độc hoặc tai nạn cho người dân như đã xảy
ra thường xuyên, vì thông tin và giáo dục người dân là biện pháp phòng bị hay
nhất trước các vấn nạn môi trường đang xảy ra ở Việt Nam. Mai Thanh Truyết |