Phát hành hàng tháng trên khắp thế giới
do Ban Báo Chí của Liên Minh Việt Nam Tự Do thực hiện.

 

THÁNG 04/2005  Neu qui vi nao muon doc het 15 bai duoi day thi hay lam theo cach chi dan nay  File -->Save As --> (File name) --> Save 

Chúng Ta Đang Ở Đâu Trên Chặng Đường Đấu Tranh 30 Năm ? (Nguyễn Ngọc Đức)

Rút Tỉa Những Bài Học Của 30 Năm Đấu Tranh (Trần Đức Tường)

Làm Gì Cho Chặn Đường Trước Mặt ? (Đoàn Hùng)

Cơ Hội Nhìn Lại Để Tiến Tới (Phạm Phú Đức)

Thời Sự Việt Nam : Những Quả Bom Nổ Chậm (Phan Kiến Quốc)

Kế Sung Kêu Cứu !

CSVN Vẫn Tiếp Tục Đàn Áp Tôn Giáo

Phỏng vấn : Lộ trình 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế

Vài hàng, ba mươi tháng tư 2005 (Bùi Xuân Quang)

Nhận ðịnh về vấn ðề Dân Chủ Ða Nguyên (Thýợng Tọa Thích Viên Ðịnh)

Dân Chủ Đa Nguyên (Nguyễn Học Tập)

Thế Giới và Chúng Ta : Trung Quốc và An Ninh Thế Giới (Nguyễn Trúc Giang)

Cơn Gió Dân Chủ Thổi Về Hướng Đông (Nguyễn Ngọc Danh)

Rồi Hết Chiến Tranh (Tưởng Năng Tiến)

Những Mẩu Kính Màu (kỳ 9) (Nguyễn Minh)

 

 

 

 

 

 

 

Chúng Ta Đang Ở Đâu Trên Chặng Đường Đấu Tranh 30 Năm ?
Nguyễn Ngọc Đức
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

Công cuộc tranh đấu giành lại tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam đã trải qua 30 năm. Nhân loại cũng đã bước sang một thiên niên kỷ mới. Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta có thể khẳng định là công cuộc đấu tranh đã đi một bước rất dài, với những thành quả đáng kể. Mặc dù chế độ CSVN chưa sụp đổ, nhưng có thể nói dân tộc Việt Nam đang ở chặng cuối trong nỗ lực dứt điểm chế độ này.

Tháng tư năm 1975, khi hình ảnh những đoàn người lũ lượt di tản từ những nơi bị rơi vào tay quân đội cộng sản được các cơ quan thông tấn quốc tế loan tải khắp thế giới, đó cũng là lúc mà dân tộc Việt Nam bước sang một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử. Nhưng từ những đổ vỡ to lớn sau ngày 30/4/1975, dân tộc Việt Nam đã kiên cường đứng lên đấu tranh. Một cuộc đấu tranh không tương xứng về sức mạnh, vì một bên là cả một hệ thống cai trị với đầy đủ khả năng đàn áp bằng bạo lực và một bên là những người đấu tranh với vũ khí duy nhất là khát vọng dân chủ. Một cuộc đấu tranh không đồng minh hỗ trợ, không được sự hậu thuẫn của dư luận quốc tế. Vì lúc đó, Hoa Kỳ và các nước đồng minh đã phủi tay đối với Việt Nam. Dư luận quốc tế thì bị đầu độc bởi những luận điệu tuyên truyền về một cuộc chiến "chống Mỹ cứu nước", nên ít nhiều đều dành cảm tình cho chế độ Hà Nội.

Tháng tư năm 2005, 30 năm sau, cuộc đấu tranh cho dân chủ vẫn còn đang tiếp diễn. Nhưng tất cả đã đổi khác, từ tương quan lực lượng cho đến bối cảnh chung của thế giới. Sự thắng thế của các lực lượng dân tộc dân chủ đã rõ nét trên khắp các mặt trận.

Thắng thế trên mặt trận ý thức hệ

Nếu vào thập niên 80, ý thức hệ cộng sản đã ở trên đỉnh cao của sự chiến thắng, thì ở vào đầu thế kỷ 21, ý thức hệ này đang ở trong đáy thùng rác của lịch sử nhân loại. Lùi lại 30 năm về trước, khi chiến lược be bờ phòng thủ của Hoa Kỳ và các nước đồng minh lần lượt bị thất bại ở Đông Dương, Nam Mỹ, Trung Á,... người ta không ngạc nhiên khi các đảng cộng sản, trong đó có đảng CSVN, trong một trạng thái ngông cuồng, tưởng rằng con đường dẫn đến thế giới đại đồng đã trở thành một xa lộ thênh thang, chỉ cần nhấn ga vọt nhanh là tới.

Trong trạng thái ngông cuồng đó, sau khi chiếm trọn miền nam vào tháng 4 năm 1975, đảng CSVN đã đề ra chính sách "cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa". Cả nước bị lùa vào giấc mộng xây dựng một xã hội "không còn người bốc lột người". Cả nước bị xua đi làm lao động với lời hứa hẹn rồi đây sẽ "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". Nhưng chỉ vài năm sau, giấc mộng và lời hứa hẹn đã biến thành cơm độn bo bo, thành những trận đói khủng khiếp ở nhiều miền đất nước. Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, với một nền kinh tế lụn bại chưa từng có và một xã hội bị băng hoại trầm trọng.

Tình trạng này cũng được nhìn thấy ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa, nên khi lên cầm quyền tại Liên Xô vào năm 1985, Gorbachev đã đề ra chính sách glasnost và perestroika mà mục tiêu là cứu vãn sự sụp đổ toàn diện của Liên Bang Xô Viết. Nhưng sự thay đổi về chính sách của Gorbachev đã đưa đến tình trạng "vỡ bờ". Cuộc cách mạng dân chủ đã bùng lên ở các nước Đông Âu vào năm 1989 và đến năm 1991, Liên Bang Xô Viết sụp đổ, thế giới cộng sản cáo chung.

Ngày nay trên thế giới vẫn còn 4 nước tiếp tục theo đuổi ý thức hệ Mác-Lê. Đó là Cuba, Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng mỗi nước đều quảng diễn ý thức hệ này một cách khác nhau. Sự khác nhau này thật sự không quan trọng. Điều quan trọng là họ đều giống nhau ở một điểm, đó là phải tiếp tục bám vào ý thức hệ này trong mục tiêu duy trì độc quyền thống trị.

Tại Việt Nam, cuối năm 1986, đảng CSVN chính thức áp dụng chính sách "đổi mới". Tại sao phải "đổi mới" ? Tháng 2 năm 2005, lần đầu tiên giới lãnh đạo đảng CSVN thú nhận là họ phải "đổi mới" vì đã có những sai lầm trong chủ trương và chính sách trong 10 năm đầu sau khi chiếm trọn miền Nam. Sự thú nhận này chưa đủ. Vì thật ra, tập đoàn lãnh đạo của đảng CSVN biết rất rõ hậu quả của các biện pháp mạnh bạo đã tiến hành sau khi thôn tính miền nam. Họ cũng biết rất rõ cuộc xâm lăng Campuchia vào cuối năm 1978 sẽ đưa đến cuộc chiến của Trung Quốc vào đầu năm 1979 và sự cô lập của thế giới đối với Việt Nam. Họ biết rõ, nhưng vẫn thi hành các chính sách sai lầm này, vì trên tất cả, mục tiêu giữ quyền của đảng CSVN vẫn là mục tiêu tối hậu.

Cũng chính vì mục tiêu giữ quyền này, từ khi đề ra chính sách "đổi mới" vào cuối năm 1986 cho đến nay, đảng CSVN vẫn luôn luôn nói rằng Ềđổi mớiỂ chỉ là sự điều chỉnh chính sách cai trị để đạt mục tiêu tối hậu là xây dựng một xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Trong khi đó, cái gọi là "xã hội chủ nghĩa", cơn ác mộng của nhân loại, đã bị chôn vùi từ lâu.

Trên thực tế, những gì Mác hay Lênin chủ trương đã không còn áp dụng ở Việt Nam. Đảng cộng sản đã phải chọn lựa hướng đi của các nước tư bản, đó là xây dựng một nền kinh tế thị trường. Đây là một sự chọn lựa bắt buộc, vì lãnh đạo đảng CSVN không còn một sự chọn lựa nào khác. Nhưng khi phải đi theo con đường của tư bản, lãnh đạo đảng CSVN phải tìm cách biện minh cho nhu cầu tiếp tục nắm giữ độc quyền lãnh đạo đất nước, biện minh cho sự thất bại của quá khứ và giải thích nhu cầu xây dựng một nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Kinh tế thị trường, nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là cách lý giải tốt nhất cho lãnh đạo đảng CSVN để biện minh cho lý do tại sao vẫn phải giữ độc tài độc đảng, vì không có sự lãnh đạo của Đảng, thì không thể định hướng xã hội chủ nghĩa được.

Nhưng thế nào là định hướng xã hội chủ nghĩa thì không ai rõ, do đó đã xảy ra những tranh luận gay gắt giữa nhiều nhóm quyền lợi trong đảng CSVN. Những tranh luận này cho đến nay chưa ngã ngũ và đang làm phân hóa trầm trọng đảng CSVN. Đây chính là chỗ bế tắc về lý luận cũng như về chính sách của đảng CSVN. Đây cũng là sự phá sản thật sự ý thức hệ cộng sản trên đất nước Việt Nam và là một thắng thế của dân chủ.

Thắng thế trên mặt trận tuyên xưng chính nghĩa

Năm 1975, một trong những nguyên nhân khiến cho miền Nam Việt Nam thất bại là vì đã không làm rõ được chính nghĩa đấu tranh bảo vệ tự do của mình trước dư luận trong và ngoài nước. Ba mươi năm qua, đã có nhiều tài liệu, bài viết phân tích những lý do khiến cho chính nghĩa đấu tranh của miền Nam bị lu mờ, phân tích những xảo thuật của Hà Nội, cộng với sự tiếp tay của hệ thống cộng sản quốc tế, phong trào phản chiến, thiên tả,... do đó chúng ta không cần thiết phải lặp lại ở đây. Điều quan trọng là cần nhấn mạnh là trong cuộc chiến trước năm 1975 hầu hết dư luận đều cho rằng chính nghĩa thuộc về phía những kẻ xâm lăng và Hà Nội đã thành công trong việc thần thánh hóa cuộc chiến gọi là "chống Mỹ, cứu nước".

Ngày nay, chính nghĩa đấu tranh hoàn toàn nghiêng hẳn về phía những người tranh đấu cho dân chủ. Đảng CSVN đã lộ nguyên hình là một tập đoàn vừa độc tài, vừa bán nước. Những khẩu hiệu tuyên truyền của Hà Nội từ tình trạng được dư luận đón nhận thoải mái, sang nửa tin nửa ngờ và ngày nay thì không còn ai tin. Điều cần ghi nhận là chính những đợt vượt biên, vượt biển ồ ạt của người Việt Nam vào cuối thập niên 80 đã góp một phần không nhỏ trong việc lật mặt nạ chế độ Hà Nội và tuyên xưng chính nghĩa tự do. Một điều khác cũng cần ghi nhận là sự phản kháng ngay trong lòng chế độ, ngay trong nội bộ của đảng CSVN đã giúp cho dư luận trong và ngoài nước thấy rõ bản chất của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội và cảm tình của thế giới ngày một nghiêng hẳn về phía những người tranh đấu cho dân chủ. Sau cùng, những nỗ lực đấu tranh bền bỉ của cộng đồng người Việt hải ngoại trong 30 năm qua đã góp một phần quan trọng trong việc tuyên xưng chính nghĩa đấu tranh. Hiện tượng lá cờ vàng ba sọc đỏ vừa tiếp tục là một biểu tượng đấu tranh chung, vừa được nhiều thành phố trên thế giới công nhận là biểu tượng của cộng đồng người Việt, không phải là không có ý nghĩa. Nó đã nói lên sự thắng thế của chúng ta trên mặt trận tuyên xưng chính nghĩa.

Thắng thế trên mặt trận văn hóa

Ngày nay ở Việt Nam, nếu ai vào một quán Karaoke và hát các bài như "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" hay "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng",... thiên hạ sẽ tròn mắt nhìn vì tưởng là một thằng điên ! Trong khi đó, các loại "nhạc vàng" hay những loại nhạc mà trước đây đảng CSVN liệt vào loại "đồi trụy, ủy mị hay phản động" lại là sở thích của người Việt Nam ngày nay. Đó là chưa kể các băng nhạc, vidéo, phim ảnh của cộng đồng người Việt hải ngoại đang tràn ngập thị trường trong nước và được người dân rất yêu chuộng. Điều đó cho thấy đảng CSVN đã không còn khả năng áp đặt những loại nhạc theo chính sách tuyên truyền của họ. Đây không phải là một thắng thế trên mặt trận văn hóa hay sao ?

Nền văn hóa nói chung - âm nhạc, hội họa, văn chương, phim, kịch ảnh... nói riêng - tại Việt Nam là sản phẩm, công trình kiến tạo của đại khối dân tộc Việt Nam chứ không phải hoàn toàn là của đảng và nhà nước CSVN. Chế độ độc tài hiện vẫn duy trì được khả năng kiểm soát nền văn hóa và những sinh hoạt của nó để không hoặc chưa thể có những tác hại lên chế độ, nhưng đã dần dần mất khả năng kiểm soát và điều hướng những sinh hoạt sáng tác để biến nền văn hóa thành công cụ tuyên truyền cho chế độ. Đây là một thắng thế rõ nét của chúng ta trên mặt trận văn hóa.

 Thắng thế trên mặt trận đấu tranh cho nhân quyền và tôn giáo

Ngày nay, mặc dù Hà Nội vẫn tiếp tục đàn áp nhân quyền và tôn giáo, vẫn tiếp tục cầm tù một số nhà dân chủ như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn,... vẫn quản thúc các vị lãnh đạo tôn giáo như HT Huyền Quang, HT Quảng Độ, Cụ Lê Quang Liêm,.. nhưng phải nói rằng Hà Nội đã phải lùi bước rất nhiều trên lãnh vực này, so với những năm trước đây.

Trong thập niên 80 và 90, Hà Nội đã có những biện pháp rất cứng rắn để đối phó với những người phản kháng. Họ đã bị gán cho những tội rất nặng nề và bị lãnh những bản án từ tử hình, cho đến chung thân khổ sai hay án tù nhiều năm. Ngày nay, các đòi hỏi về nhân quyền và tôn giáo ở Việt Nam chẳng những không thay đổi về nội dung và còn leo thang, lan rộng. Phản ứng của Hà Nội biểu hiện tình trạng bị động, o ép, mặc dù vẫn cố gắng trấn áp, nhưng không gian xoay trở càng lúc càng thu hẹp lại và khả năng phản ứng càng lúc càng giới hạn.

Hẳn nhiên, sự thất thế của Hà Nội trên mặt trận nhân quyền và tôn giáo bị ảnh hưởng rất nhiều của sự thay đổi bối cảnh chung của thế giới. Nhưng câu hỏi được đặt ra là nếu không có sự vận động bền bỉ của cộng đồng người Việt hải ngoại, sự lùi bước này có nhiều và đáng kể như hiện nay không ? Chắc chắn là không. Mặt khác, lòng can đảm, sự kiên trì đấu tranh của những nhà dân chủ, các bậc lãnh đạo tôn giáo trong nước là một yếu tố quan trọng buộc Hà Nội phải thoái lui liên tục.

Tiến trình chấm dứt một chế độ độc tài không phải là một con đường thẳng. Đây là một tiến trình đầy cam go, với những khúc quanh bất ngờ đầy triển vọng và có những đoạn đường trơn trợt, chông gai. Trên tiến trình này, có lúc chế độ độc tài phải lùi bước để giải tỏa sức ép, có lúc phải gia tăng đàn áp để ngăn chặn đà chống đối. Chu kỳ siết rồi mở, mở rồi siết, thường được nhìn thấy trong hầu hết các tiến trình sụp đổ của các chế độ độc tài trên thế giới. Do đó, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi trong tương lai, có lúc Hà Nội sẽ nỗ lực siết chặt lại và gia tăng mức độ đàn áp. Nhưng đó cũng chỉ là sự cựa quậy của một con ác thú ở vào những giờ phút cuối cùng trước khi tắt thở.

Thắng thế trong nỗ lực làm soi mòn quyền lực của đảng CSVN

Sau 30 năm cầm quyền trên cả nước, có thể nói là lãnh đạo đảng CSVN đang bị soi mòn về mặt quyền lực một cách trầm trọng. Đây cũng là điều mà giới lãnh đạo đảng CSVN nhìn thấy, nên từ năm 1999, họ đã phát động chiến dịch gọi là "xây dựng và chỉnh đốn đảng" để siết chặt hàng ngũ và củng cố lại quyền lực của đảng. Chiến dịch này cho đến nay chưa chấm dứt và cũng không đạt được một kết quả nào. Sự bất phục tùng hay còn gọi là tình trạng "trên bảo, dưới không nghe" của hàng ngũ đảng viên với tập đoàn lãnh đạo vẫn nguyên vẹn. Sự bất phục tùng của người dân đối với guồng máy cai trị cũng gia tăng và đang trở thành một vấn nạn đối với chế độ.

Sự bất phục tùng của đảng viên bắt nguồn từ nhiều lý do. Trước hết là do sự phá sản ý thức hệ Mác - Lê khiến cho những lời hô hào của giới lãnh đạo trở nên lạc điệu và không còn tác dụng răn đe hàng ngũ. Kế đến, nền kinh tế thị trường hoang dã đã làm biến chất một bộ phận khá lớn của đảng CSVN và tình trạng hủ hóa của guồng máy đã giúp cho cán bộ đảng có trăm ngàn phương cách để vượt qua sự kiểm soát hay những biện pháp kỷ luật của giới lãnh đạo. Đó là chưa kể những bất mãn cũng đang dâng lên rất cao trong hàng ngũ đảng viên và đang thách đố uy quyền của thiểu số lãnh đạo.

Mặt khác, kể từ khi "đổi mới" cho đến nay, một tầng lớp "tư bản đỏ" đã hình thành, bao gồm những phần tử có điều kiện "móc ngoặc", những cán bộ có quyền thế ở địa phương và những "ô dù" trong Trung Ương Đảng. Tầng lớp này đã trở thành những ông "vua con" ở địa phương, thách đố quyền lực của thiểu số lãnh đạo. Sự cấu kết giữa những "sứ vùng" với tư bản ngoại quốc càng khiến cho nhóm chóp bu ở Hà Nội mất dần khả năng ảnh hưởng trên các quyết định ở các địa phương. Nhiều nghị quyết, thông tư ở trung ương chỉ có trên giấy tờ, mà không hề được áp dụng trong thực tế.

Về phía quần chúng, sự suy giảm khả năng kiểm soát của đảng và nhà nước CSVN trên nhiều lãnh vực của xã hội đã tạo điều kiện để những sinh hoạt có tính đa nguyên, tự phát nẩy nở và phát triển. Trước hết là trên mặt kinh tế, khi lãnh vực quốc doanh ngày một thua lỗ, ngày thu hẹp và trở thành một gánh nặng của nền kinh tế, tạo cơ hội cho lãnh vực tư nhân phát triển mạnh mẽ và càng lúc càng vuột khỏi sự kiểm soát của nhà cầm quyền. Ngày nay, những thành phần ưu tú của nền kinh tế Việt Nam đều nằm trong lãnh vực tư nhân, vì có tương lai hơn và có lợi tức cao hơn. Kế đến là mặt giáo dục và xã hội, khi những đòi hỏi của quần chúng đã và đang buộc nhà cầm quyền phải từng bước chấm dứt tình trạng độc quyền và bao cấp các hoạt động giáo dục hay xã hội. Đây là những bước khởi đầu để hình thành một xã hội dân sự và đa nguyên tại Việt Nam.

Tình trạng soi mòn quyền lực của đảng CSVN bắt nguồn từ nhiều lý do, từ sự bế tắt về lý luận, phân rã trong nội bộ, cho đến những sai lầm về chính sách cai trị,... Nhưng yếu tố quan trọng hơn cả chính là lòng dân. Trong nước, trên bề mặt ai cũng Ềhồ hởiỂ với chính sách đổi mới hiện nay, vì lẽ đương nhiên, không ai muốn trở lại tình trạng ngăn sông, cấm chợ thời "kinh tế tập trung". Nhưng trong tận trong đáy lòng của họ, sự tin tưởng vào giới lãnh đạo đảng CSVN không còn nữa và họ cũng không tin rằng chế độ này sẽ có thể tồn tại lâu dài. Ngoài nước, cộng đồng người Việt tuy trở về thăm quê hương ngày một nhiều, nhưng tuyệt đại đa số đều không chấp nhận chế độ CSVN và cũng tin rằng sẽ phải có thay đổi. Tâm lý cả trong lẫn ngoài đã biến thành những áp lực, những đòi hỏi và kể cả những đợt đấu tranh để từng bước làm soi mòn quyền lực của đảng CSVN.

***

Nếu so sánh bối cảnh Việt Nam hiện nay với các nước Đông Âu, Liên Bang Xô Viết, hay các chế độ độc tài khác trên thế giới trước khi bị sụp đổ, chúng ta có thể khẳng định là chế độ CSVN có tất cả những yếu tố để có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Vấn đề là những người tranh đấu cho dân chủ cả trong lẫn ngoài nước cần rút ra những bài học của chặng đường 30 năm qua và nhìn ra được cần làm gì trên chặng đường trước mặt, để có thể khai dụng được tất cả các yếu tố thuận lợi có thể có nhằm đưa công cuộc đấu tranh này đến thành công trong một thời gian ngắn nhất.

Nguyễn Ngọc Đức

 

 

Rút Tỉa Những Bài Học Của 30 Năm Đấu Tranh
Trần Đức Tường
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

Ba mươi năm qua, ngọn lửa đấu tranh của đồng bào ta trong cũng như ngoài nước vẫn không hề tắt. Đã có bao nhiêu là kinh nghiệm, bao nhiêu là bài học trong suốt ba mươi năm đấu tranh. Phải rút kinh nghiệm, phải học những bài học mà bao người đi trước đã phải trả bằng cái giá rất đắt là sự tự do và sinh mạng của mình thì mới mong có ngày thành công.

Mỗi năm vào dịp cuối tháng tư, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, người Việt Nam trong lớp tuổi trên 40 không khỏi có những nỗi suy tư, day dứt. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 mang đến cho mọi người, đặc biệt là người dân Miền Nam những kỷ niệm không thể quên được. Từ những ngày đầu tháng 5/1975, trải qua chuỗi dài 30 năm, những người sống và chứng kiến những biến cố ngày 30 tháng Tư và những người sinh ra từ bấy đến nay có đủ thời gian để nhìn về quá khứ với cái nhìn khá khách quan để đánh giá, để rút ra những bài học cho tương lai Việt Nam của những thế hệ kế tiếp. 

Vật Đổi Sao Dời

Không phải là chiến lược gia thì vào năm 1973, ai cũng thấy được rằng, sau khi Hoa Kỳ và Đồng Minh bỏ rơi, Việt Nam Cộng Hòa nói chung và Quân Lực VNCH nói riêng, đã phải chiến đấu trong tuyệt vọng để bảo vệ phần đất Tự Do Miền Nam Việt Nam. Vào thời điểm đó, cộng sản Miền Bắc đang được sự hỗ trợ, viện trợ tích cực của Liên Xô, Trung Cộng và cả Khối cộng sản Đông Âu để nhất quyết thôn tính miền Nam trong kế hoạch bành trướng chủ nghĩa, làm đầu cầu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á. Thêm vào đó, là phong trào phản chiến được khơi lên bằng bộ máy tuyên truyền cộng sản quốc tế và sự cộng tác của một tập đoàn gọi là "trí thức" tại các nước Âu Mỹ xúm vào tấn công "đế quốc Mỹ""chính quyền bù nhìn Miền Nam Việt Nam". Sau ngày Miền Nam rơi vào tay cộng sản Hà Nội, và trong thập niên 80 của thế kỷ trước, trước làn sóng hàng triệu người Việt Nam bất chấp sống chết, vượt biên, vượt biển với hàng trăm nạn nhân đã bỏ mình dưới lòng đại dương, thế giới mới thấy được bản chất của cộng sản, nhất là cộng sản Việt Nam. Chính thuyền nhân Việt Nam đã mở mắt thế giới. Nhưng chỉ có một số rất ít những kẻ tự coi là "trí thức" tại các nước dân chủ Tây Phương có đủ lương thiện và can đảm thú nhận là mình đã lầm. Nhưng sự thể đã muộn. Chính quyền VNCH, quân lực VNCH và nhân dân VNCH, đã có lúc phải chiến đấu với hơn nửa thế giới !

Trước lực lượng khổng lồ gồm cộng sản nội địa, cộng sản thế giới và phong trào phản chiến tại các nước gọi là Đồng Minh, miền Nam Việt Nam không thể không nao núng. Sự sụp đổ càng diễn ra nhanh chóng khi những người có trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, thậm chí cả một số người chỉ huy quân sự đã "cao bay, xa chạy"... Bọn thời cơ ở lại đã sớm ra lệnh đầu hàng !... Tuy vậy, có những đơn vị, những người lính anh dũng vẫn tiếp tục chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Nhiều vị chỉ huy đơn vị đã noi gương Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, quyết đem cái chết để tỏ lòng trung liệt với non sông. Tinh thần chiến đấu kiên cường của QLVNCH thật đáng ca ngợi.

Chiến tranh đã kéo dài gây biết bao tang tóc, thiệt hại cho đất nước. Biến cố ngày 30/4/75, dẫu rằng đầy tủi nhục đối với người dân miền Nam nói chung và với những quân cán chính của VNCH, nhưng nó cũng mang lại một suy nghĩ trong không ít người còn ở lại : thôi thì đây có thể là sự hy sinh cuối cùng để chấm dứt chiến tranh, để dân tộc được hưởng hòa bình. Không hiểu đây có phải là lối suy nghĩ tích cực hay tự an ủi ? Nhưng sự thật phũ phàng đã đánh tan suy nghĩ này. CSVN sau khi chiếm được Miền Nam đã áp dụng ngay một chính sách trả thù hèn hạ. Họ đã giam cầm hàng trăm ngàn người đã từng phục vụ trong chính quyền hay quân đội VNCH trong hàng ngàn trại tù cải tạo. Bao nhiêu người đã bỏ mình trong các trại tập trung kiểu Hitler này ? Bao nhiêu gia đình tan nát ? Bao nhiên tài sản bị tiêu tan ? Chưa có con số chính xác nào được đưa ra từ 30 năm nay.

Dân ta thời đó gọi biến cố 30/4/75 là "đổi đời". Đúng vậy, đời sống người dân kể từ cái ngày oan khiên đó đã không còn như trước nữa. Không còn nghĩ gì nói đó. Không còn muốn đi đâu thì đi không phải khai trình tạm vắng, tạm trú. Chỉ thấy, mình bị rình mò, theo dõi. Chỉ thấy mình bị cướp đoạt tài sản sau hai đợt đổi tiền. Chỉ thấy thiên hạ mỗi ngày một nghèo : ăn độn ngay tại những vùng sản xuất ra lúa gạo. Chỉ thấy có bệnh mà không được chữa. Chỉ thấy người thị thành bị đuổi lên những vùng kinh tế mới, rừng thiêng, nước độc. Chỉ thấy vỉa hè buổi tối già, trẻ, trai, gái nằm la liệt... Chỉ thấy trời đất âm u, trại giam la liệt, trẻ thơ không có tương lai... Và chỉ thấy những cờ đỏ... Những người có thân nhân ngoài Bắc đã nghe những lời trách móc thật đau "Sao không ra giải phóng miền Bắc mà lại thua để cả nước phải khổ ?". Cả nước lâm vào cảnh lầm than, đói khổ !

Bài học thứ nhất có thể rút ra được là không thể tin vào lời cộng sản và nhất là không bao giờ đầu hàng cộng sản. Chỉ có một con đường duy nhất đối với cộng sản là phải chiến đấu đến cùng.

Nỗi Đau 30 Năm

Trước năm 1975, Miền Nam gọi ngày ký Hiệp Định Genève giữa Việt Minh cộng sản và thực dân Pháp chia đôi đất nước ta là "Ngày Quốc Hận" để nói lên nỗi đau đớn của cả dân tộc trước cảnh giang sơn gấm vóc bị xé làm hai mảnh. Sau năm 1975, mặc dù bộ máy tuyên truyền cộng sản cố gắng cấy hai chữ "giải phóng" vào ngôn ngữ ; nhưng dân Miền Nam và ngay trong các trại cải tạo, những lúc không có ai theo dõi, không ai bảo ai mà ai cũng gọi cái ngày 30/4 là "ngày mất nước". Hai chữ "giải phóng" được coi như là vô duyên. Người ta thường giải phóng con người ra khỏi ngục tù, đàn áp. Không ai giải phóng người khác ra khỏi sự tự do hạnh phúc, đem giam giữ hàng trăm ngàn người.

Sau những năm tháng bỡ ngỡ, đoàn người di tản trong những ngày tháng Tư/75 bắt đầu quen thuộc với vùng đất mới, dần dần tìm kiếm, bắt liên lạc và quần tụ lại trong những vùng định cư và bắt đầu sinh hoạt trở lại. Các cộng đồng đã hình thành vào cuối thập niên 70, đầu thập niên 80. Cũng vào thời điểm này, làn sóng người vượt biển bắt đầu dấy lên. Những tin tức từ trong nước đã được chính các thuyền nhân mang ra cho người hải ngoại. Lòng phẫn hận của đồng bào hải ngoại ngày càng sục sôi. Mỗi năm vào dịp 30/4 đã có những hoạt động mang tính đấu tranh cũng như ôn lại quá khứ. Các nhạc sĩ đã làm ra những bài khóc về Sài Gòn như để nhắc nhở đồng bào đừng quên "mối hận mất nước". Từ đó, ngày 30/4 đã có tên gọi là "Ngày Quốc Hận".

Tinh thần bất khuất, đấu tranh của dân tộc Việt Nam đã làm nên những trang sử oai hùng. Thừa kế truyền thống này, từ trong nước cũng như hải ngoại, mà nhất là hải ngoại, tinh thần này vẫn luôn luôn được bảo tồn, vun đắp khiến cho người bản xứ phải nể phục. Một số tổ chức đấu tranh cho rằng đã qua cái giai đoạn than khóc, giận suông (vì theo tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì chữ "hận" chỉ có nghĩa là "giận"), mà phải biến thành hành động đấu tranh, kháng chiến chống lại chế độ cộng sản độc tài bất nhân đang dày xéo đất nước ta. Và từ quan niệm này đã xuất hiện tên gọi "Ngày Quốc Kháng" cho ngày 30/4.

Các tên gọi cũng là tự phát tại mỗi cộng đồng. Đồng bào ta ở từng địa phương mặc nhiên công nhận tên gọi này. Không có cộng đồng nào ra một quyết định chính thức đặt tên cho ngày 30/4. Nhưng điều quan trọng không là tên gọi mà là nội dung. Dù mang tên gì thì cũng chỉ muốn nói lên nỗi đau, nỗi hận của dân tộc ta nói chung và đồng bào Miền Nam nói riêng đang chịu ách cai trị phi nhân, tàn bạo của đảng CSVN, nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường của đồng bào ta nhằm chấm dứt hay giải thể chế độ bạo quyền cộng sản tại Việt Nam hiện nay.

Bài học thứ nhì cần rút tỉa là phải hun đúc, nuôi dưỡng tinh thần đấu tranh chống bạo quyền cộng sản Việt Nam để xây dựng một nền dân chủ đích thực cho đất nước. Duy trì tinh thần này không phải là dễ. Nỗ lực này phải là nỗ lực chung trong tinh thần xóa bỏ những ngăn cách, những dị biệt trong tình đoàn kết cộng đồng. Đồng thời phải có nỗ lực nêu cao chính nghĩa của công cuộc đấu tranh của chúng ta.

Các Hình Thức Đấu Tranh

Để chống lại chế độ cộng sản độc tài giàu phương tiện, thâm độc có tiếng, thiên hình vạn trạng..., trong suốt 30 năm qua, chúng ta đã tiến hành phương thức "đấu tranh toàn diện". Vì phải đấu tranh trên mọi mặt, ở mọi môi trường, bằng mọi phương tiện... nên các hình thức có những khác biệt. Đồng bào trong nước đấu tranh không giống các cộng đồng hải ngoại. Các tôn giáo có các hình thức đấu tranh khác với các tổ chức chính trị... Hơn nữa các hình thức đấu tranh cũng phải thay đổi tùy theo tình thế, tình hình ta, bạn, thù. Trải qua 30 năm từ ngày 30/4/75 đến nay, đã có nhiều biến đổi.Vì thế công cuộc đấu tranh chấm dứt chế độ cộng sản độc tài tại Việt Nam rất phức tạp và đã phải luôn cập nhật.

Đấu tranh trong thời chiến tranh lạnh.

Trong lúc tuyệt đại đa số dân chúng đều bị quân cộng sản khuất phục, trong lúc hầu hết các sĩ quan công chức đã bị chế độ bắt giam trong các trại cải tạo, thì như đã biết, sau ngày 30/4/75, nhiều anh em quân đội thuộc các binh chủng đã rút vào các vùng rừng núi, bưng biền tiếp tục chiến đấu cho đến đầu thập niên 80. Không có tiếp tế, quân số ít ỏi, các lực lượng kháng cự này đã không có điều kiện hoạt động lâu dài. Thêm vào đó, CSVN đã huy động nhiều đại đơn vị hành quân truy quét. Nhiều nhóm kháng chiến đã bị tan rã. Thực ra, qua tiếp xúc với những người lãnh đạo các nhóm này thì được biết, mục đích của họ không nhằm lật lại thế cờ vì họ biết đang lấy trứng chọi đá. Họ tiếp tục chiến đấu hy sinh là để gửi một thông điệp cho thế giới, cho Đồng Minh và nhất là cho những vị chỉ huy và anh em quân đội đã di tản ra hải ngoại rằng trong nước, họ vẫn tiếp tục cuộc chiến chống cộng sản. Thông điệp này đã không đến nơi và cũng không được đáp ứng. Anh em trong nước đã rất buồn rầu, thất vọng và cho rằng "họ (những người ra đi) đã quay lưng lại chiến trường Việt Nam để hưởng tự do, đờI sống sung túc nơi xứ người..." Thực ra, không phải thế. Sau những tháng ngày đầu làm quen với người mới, đất mới, nhiều người di tản đã nghĩ đến việc tổ chức phong trào đấu tranh, kháng chiến chống lại bạo quyền. Chỉ có điều là vào thời điểm đầu thập niên 80 này các nhóm kháng cự trong nước, không được tiếp vận đã hao mòn và tàn lụi.

Phải nhắc lại một điều là giai đoạn sau 1975 là thời kỳ mà cộng sản thế giới đang ở đỉnh cao của họ về sức mạnh. VớI huyền thoại "đánh thắng đế quốc Mỹ", cộng sản đã liên tục đạ nhiều thắng lợi. Một loạt các nước Á Châu và Phi Châu đã lần lượt rơi vào tay cộng sản. Hơn nữa, ở thờI điểm đó, biện pháp duy nhất đế chống lại các chế độ cộng sản là biện pháp quân sự. Thế giới và Việt Nam chưa tìm được một biện pháp nào khác. Các phong trào kháng chiến Afghanistan, kháng chiến Lào, kháng chiến Miên, kháng chiến Đông Timor, kháng chiến Angola vv... đều chủ trương hoạt động quân sự. Về phía chủ nghĩa, một số tổ chức cũng đã sử dụng mô thức quân sự như Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc của ông Võ Đại Tôn, Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lương Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam với ông Trần Văn Bá, v.v...

Riêng Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (MTQGTNGPVN) của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, tuy quan niệm đấu tranh toàn diện, nhưng lý luận chủ yếu vẫn thiên về quân sự như công đồn đả viện : một mặt tấn công cộng sản trên các lãnh vực quân sự, ngoại giao ; một mặt cô lập kinh tế địch tại hải ngoại. Tuy áp dụng biện pháp quân sự, nhưng không chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng quân sự và đã đưa ra 5 quan niệm chiến lược :

1) Lấy dân tộc làm căn bản ;
2) Lấy Đại Đoàn Kết Toàn Dân làm vũ khí ;
3) Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh vận dụng mà đấu tranh vận dụng là chính ;
4) Hợp tác quốc tế ;
5) Trường kỳ kháng chiến.

Như chúng ta đã biết, phong trào "võ trang kháng chiến" đã không thành công và các lực lượng kháng chiến nêu trên đã bị cộng sản dùng lực lượng quân sự đông và mạnh gấp bội tiêu diệt. Tuy không thành công trong sự nghiệp giải phóng Tổ Quốc, nhưng các lực lượng kháng chiến đã dấy lên được một tinh thần đấu tranh chấm dứt chế độ độc tài cộng sản tại hải ngoại và phần nào tại quốc nội.

Với tác dụng như đã nêu, đương nhiên cộng sản phải tìm mọi cách để phá vỡ tinh thần đấu tranh của cộng đồng hải ngoại. Họ coi đây là mầm mống để khuyến khích những vụ nổi dậy, chống đối họ trong nước. Cũng phải công nhận là các tổ chức đấu tranh cũng có những sơ hở, sai lầm trong tính toán, khiến địch có thể lợi dụng và khai thác. Vì vậy, mặc dù một số tổ chức kháng chiến đã tiến hành nỗ lực đấu tranh một mất một còn với cộng sản, nhưng vẫn phải chịu một số búa rìu dư luận bất thuận lợi.

Bài học cần rút tỉa là chúng ta nên trân quý những nỗ lực đấu tranh nhằm chấm dứt chế độc cộng sản độc tài tại Việt Nam, để xây dựng một thể chế dân chủ, nhân quyền đích thực cho đất nước. Đây chẳng phải là ước vọng chung của mọi người Việt Nam trong và ngoài nước đó sao ?

Đấu tranh trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.

Tình hình thế giới đã thay đổi toàn diện vào cuối thập niên 80. Các chế độ cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ và được thay thế bằng những thể chế dân chủ đầu tiên từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Liên Xô không đủ khả năng ngăn cản sự sụp đổ này để rồi chính "cường quốc lãnh đạo thế giới cộng sản" này cũng bị sụp đổ theo vào năm 1991. Chủ nghĩa Mác Lênin phá sản. Nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ còn đặt đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và cấm hoạt động.

Nghiên cứu biến cố này, các tổ chức đấu tranh đã rút ra được những kinh nghiệm và kết luận quý giá :

Thứ nhất : Lập luận cho rằng một nước đã rơi vào tay cộng sản sẽ không thể thoát được đã bị hoàn toàn đánh đổ.

Thứ nhì : Huyền thoại "cộng sản bách chiến bách thắng""không có ai đánh thắng được cộng sản" đã bị chứng minh ngược lại là chính nhân dân dưới các chế độ cộng sản đã thắng cộng sản.

Thứ ba : Dân Chủ - Nhân Quyền - Bất Bạo Động đang là xu hướng của nhân loại.

Từ những bài học kinh nghiệm lịch sử của dân tộc ta và của các dân tộc bị cộng sản thống trị, các tổ chức đấu tranh, các chính đảng Việt Nam từ trong ra ngoài nước đã đưa ra đường lối đấu tranh toàn dân, toàn diện, lấy dân chủ - nhân quyền làm mục tiêu, lấy chủ đích là chấm dứt chế độ cộng sản độc tài, xây dựng một thể chế thực sự dân chủ cho đất nước Việt Nam. Phương pháp đấu tranh võ trang đã không là ưu tiên hàng đầu nữa.

Chính với chủ trương đấu tranh phù hợp với tình hình, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta mà công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ đã kết hợp được các thành phần đối kháng trong nước, liên kết được các tôn giáo và nhiều tầng lớp đồng bào, đặc biệt là sự tham gia của giới thanh niên sinh viên hiện đang chiếm trên 50% dân số nước ta. Ngay từ năm 1990, Liên Minh Việt Nam Tự Do là sự kết hợp của các Phong Trào Đấu Tranh Cho Tự Do Dân Chủ ở khắp nơi trên thế giới đã ra đời trong hoàn cảnh này với mục tiêu và các phương thức đấu tranh vừa nêu.

Trong công cuộc đấu tranh nhằm chấm dứt độc tài cộng sản, các tổ chức, chính đảng và các tầng lớp đồng bào đều hiểu rõ chính nghĩatình đoàn kết có tầm quan trọng hàng đầu. Đấu tranh vì quyền lợi của dân tộc chống một chế độ độc tài phi nhân là một cuộc đấu tranh tự bản thân nó đã có chính nghĩa. Nhưng nếu ví chính nghĩa giống như một ngọn đèn sáng thì phải nâng cao ngọn đèn đó lên thật cao để có thể rọi chiếu khắp nơi, đồng thời phải chăm lo ngọn đèn đủ dầu, đủ lửa và không nên làm điều gì khiến ngọn đèn bị lu mờ đi. Hai chữ đoàn kết đã được nhắc đi nhắc lại từ hơn nửa thế kỷ nay ; nhưng dường như tình đoàn kết chưa được như mong muốn. Cộng sản nói "đoàn kết" là phải ủng hộ Đảng, đi theo Đảng, phục tùng Đảng. Cha Lý bị kết án tù với tội danh "phá hoại khối đoàn kết dân tộc" trong lúc ai cũng thấy rõ cha Lý không hề gây mất đoàn kết khi ông chỉ đòi "tự do tôn giáo". Ông đòi hỏi chính quyền cộng sản chứ không đòi hỏi bất cứ tôn giáo hay ai khác. Về phía quốc gia thử hỏi chúng ta quan niệm đoàn kết như thế nào ? Có phải đoàn kết là mọi người phải giống như nhau, phải cùng một lối suy nghĩ rập khuôn theo một tổ chức, một cá nhân ? Chắc chắn không ai nghĩ như vậy. Công cuộc đấu tranh chống một chế độ, một đảng có chính quyền, rất là to lớn, vĩ đại. Không một cá nhân hay tổ chức nào có thể một mình đảm đương nổi. Những cá nhân, tổ chức nhập cuộc, tham gia công cuộc đấu tranh này có thể có những ý kiến, chủ trương khác nhau, hoặc chuyên biệt về một lãnh vực... Cổ nhân ta phân biệt hai ý niệm "hòa và đồng". Trong một công cuộc chung gồm nhiều người, nhiều thành phần thì khẳng định không thể nào mọi người, mọi thành phần đều bắt buộc phải giống nhau hoàn toàn. Cổ nhân ta chấp nhận có thể có những bất đồng ý kiến, bất đồng quan điểm ; nhưng mọi người cùng hoạt động trong tình trạng thái hòa. Bất đồng nhưng không bất hòa. Trên căn bản lý luận như vậy, tổ tiên ta đã viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc.

Bài học cần rút tỉa là phải dương cao chính nghĩa của cuộc đấu tranh và củng cố tinh thần đoàn kết toàn dân.

Những Trở Ngại Trên Đường Dẫn Đến Thành Công

Từ những thập niên 80 đến nay, nhiều tổ chức vẫn thường gặp câu hỏi : "Quý vị đấu tranh bao nhiêu năm rồi mà cộng sản nó vẫn còn ngồi ở đó". Nay thì đã 30 năm tròn rồi ! Trong mọi công cuộc đấu tranh, ai cũng hiểu được là phải có những điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Ở thời đại ngày hôm nay "thiên thời" không còn được coi là ý trời nữa mà phải được quan niệm như tổng hợp tình hình thế giới, tình hình ta và tình hình địch. Hiện nay, như đã nói, tình hình thế giới đã thay đổi rất nhiều so với thời kỳ chiến tranh lạnh. Cộng sản không còn nhiều vây cánh là những thành phần phản chiến ủng hộ chủ nghĩa xã hội ở Âu Mỹ nữa, không còn thế giới cộng sản gồm những nước XHCN Đông Âu và cũng không còn Liên Xô là cường quốc nguyên tử cộng sản. Trung Cộng thì tuy miệng nói XHCN nhưng thực chất đã rời xa con đường sai lầm đó rồi. So với thời điểm 1975-1985, tư thế và thực lực của CSVN đã suy yếu với những phân hóa nội bộ gay gắt, với tình trạng tham nhũng, thối nát đang làm ruỗng rã guồng máy chế độ. Tất cả những yếu tố này mang tính chất tích cực và thuận lợi cho công cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Vấn đề là như vậy, nhưng không phải ta không làm gì thì tình hình sẽ tốt cho ta. Quyền lợi của thế giới đôi khi phù hợp với quyền lợi của chế độ và làm trở ngại cho công cuộc đấu tranh của ta.

Bài học cần được rút ra là cộng đồng và các tổ chức đấu tranh phải có những nỗ lực vận động quốc tế tạo áp lực lên chế độ độc tài cộng sản Việt Nam.

Từ ngày chế độ cộng sản Hà Nội phải mở cửa ra với thế giới bên ngoài để sinh tồn, việc liên lạc, quan hệ giữa hải ngoại và quốc nội không còn bị lệ thuộc vào những nước lân bang với Việt Nam nữa. Có thể coi đây là một điểm lợi. Tuy nhiên chế độ cộng sản vẫn còn một hệ thống công an, tình báo tinh vi và hữu hiệu ở trong nước. Do đó, mọi hoạt động đấu tranh trong quốc nội vẫn là một điều khó khăn. Môi trường đấu tranh nếu thuận lợi ở hải ngoại thì chưa thuận lợi ở trong nước. Dù vậy, cộng sản Hà Nội không còn khả năng bưng bít hay kiểm soát chặt chẽ như thời thập niên 80. Ở thời đại toàn cầu hóa thông tin ngày nay, người dân trong nước đã có điều kiện có thể theo dõi thông tin từ nhiều nguồn khiến những âm mưu tuyên truyền của chế độ đã bị giới hạn rất nhiều.

Bài học cần được rút tỉa là phải gia tăng thông tin chính xác và đứng đắn vào trong nước. Nếu tuyên truyền của địch bị hạn chế thì dân chúng cũng có thể kiểm chứng những thông tin của ta qua những nguồn khác.

Vấn đề lớn của chúng ta rốt cuộc là vấn đề nhân hòa. Nhận thấy, trong cộng đồng, nhiều nỗ lực đấu tranh, nhiều tổ chức đấu tranh, nhiều cá nhân tham gia đấu tranh đã bị xuyên tạc, vu khống một cách bừa bãi. Điều này không khác gì chế độ cộng sản Hà Nội đã xuyên tạc và bôi nhọ các cuộc đấu tranh đòi lại đất đai, đòi tự do tín ngưỡng của đồng bào Thượng ở Cao Nguyên Miền Trung. Công cuộc đấu tranh nhằm giải thể, nhằm chấm dứt chế độ độc tài cộng sản Việt Nam đòi hỏi sự tham gia của mọi tầng lớp dân tộc, một hình thức Liên Minh Dân Tộc. Nó đòi hỏi rất nhiều hy sinh công sức, thời giờ, tiền của và nhất là trí tuệ. Các tổ chức đấu tranh cần sự tham gia, đóng góp của những vị thức giả, những nhà chuyên gia. Gương Nguyễn Trãi còn đó. Là một nhà trí thức trong thời phong kiến coi trọng chữ nghĩa, khinh kẻ vô học, ông đã dẹp bỏ quan niệm cổ hủ đó để lặn lội vào tận đất Lam Sơn tìm phò một Lê Lợi vốn gốc nông dân. Thái độ và cách hành xử của Ức Trai Tiên Sinh quả cao quý gấp bội ông Khổng Minh, nằm trong lều cỏ để vua (Lưu Bị) phải ba lần đến cầu bái mới chịu ra giúp nước.

Công cuộc đấu tranh của chúng ta muốn đạt được thắng lợi, như tại các nước Đông Âu, phải huy động được sức dân. Phải tạo được nhân hòa trong khối đại đoàn kết dân tộc. Nhưng hiện nay, có thể do những thành kiến, do thiếu thông tin, còn nhiều ngăn cách, nhiều nghi kỵ giữa các thành phần dân tộc cùng có mục đích chấm dứt chế độ độc tài cộng sản Việt Nam. Những yếu tố này cản trở việc tổng hợp sức mạnh toàn dân trong công cuộc đấu tranh chung.

Bài học cần rút tỉa là bài học Nguyễn Trãi ý thức được trách nhiệm của mình trước tiền đồ đất nước, dẹp bỏ mọi thành kiến để tham gia đấu tranh.

Tạm Kết

Ba mươi năm là một phần ba cuộc đời một con người. Trong suốt 30 năm đó, có những người đã hy sinh tất cả để tham gia đấu tranh không ngừng nghỉ. Nay mái tóc đã điểm sương mà ngày thành công chưa tới. Nhưng niềm tin tất thắng ngày càng được củng cố vì ngày nay CSVN và cộng sản thế giới không còn mạnh như huyền thoại, thế giới không còn bị tuyên truyền lừa bịp của cộng sản làm chao đảo, những kẻ thời cơ không còn múa gậy giữa vườn hoang, các lực lượng đấu tranh ngày càng củng cố, phát triển. Đặc biệt, niềm vui cho lớp người đi trước là thấy được sự tham gia, dấn thân của lớp trẻ Việt Nam. Dù sinh ra lớn lên sau biến cố ngày 30/4/75, nhưng họ đã nhận biết được việc phải làm và đã can đảm đáo nhậm vị trí chiến đấu của mình trong hàng ngũ cha anh. Thời cuộc và tình hình cũng như môi trường đang chuyển biến, thay đổi hàng ngày, hàng giờ. Mong rằng các tổ chức đấu tranh và đồng bào ta nắm bắt kịp thời để có tinh thần, thái độ và đưa ra chính sách, phương pháp đấu tranh thích ứng.

Trần Đức Tường

 

 

Làm Gì Cho Chặn Đường Trước Mặt ?
Đoàn Hùng
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

Sau 30 năm cai trị, chế độ CSVN như một thân cây đã mục, nhưng vẫn đứng yên, vì chưa có một trận gió mạnh. Trong nước, sự bất mãn trong quần chúng tuy có sẵn, nhưng chưa được khơi mào ở cùng lúc và nhiều nơi. Tại hải ngoại, tuy cộng đồng đã làm tròn nhiệm vụ hỗ trợ cho quốc nội, nhưng chưa thật sự vận dụng được tiềm năng hải ngoại tác động vào môi trường quốc nội. Trong bối cảnh đó, chúng ta làm gì cho chặng đường trước mặt ?

Dẫn nhập

Công cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống lại chủ nghĩa Cộng sản, thực sự đã có từ thập niên 40, khởi nguồn vì sự sai lầm của nó và sự độc ác của những người cuồng tín đi theo chủ nghĩa này. Tiến trình đấu tranh đó đã phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau, với nhiều đặc điểm khác nhau. Nhưng, kể từ năm 1975, công cuộc đấu tranh đã chuyển qua hình thái đấu tranh giải phóng, vì đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ đã thống trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, cải tạo cả nước theo đường lối vô sản chuyên chính của chủ nghĩa cộng sản. Từ những năm trong thập niên 40, chúng ta đã trải qua những tình trạng "không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, chống Cộng, tố Cộng, kháng Cộng..." nhưng, từ năm 1975, nhu cầu của đất nước đã trở thành đấu tranh chấm dứt chế độ CSVN.

Từ tình trạng không chấp nhận một chủ nghĩa sai lầm đến tình trạng đấu tranh để chấm dứt hoạt động của những người thi hành chủ nghĩa đó trên đất nước, điều kiện của đấu tranh đã thay đổi từ căn bản. Trong giai đoạn trước năm 1954, dân tộc Việt Nam đã phải giải quyết một lúc ba vấn đề. Đó là :

a/ ngăn ngừa sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ;
b/ giành lại độc lập dân tộc từ tay người Pháp ;
c/ canh tân quốc gia để phát triển xã hội theo một đường lối tiến bộ và dân chủ.

Ba mục tiêu đó nhiều lúc không tương đồng, nghĩa là có thể mâu thuẫn, và ba mục tiêu này cũng không được xác định ưu tiên rõ rệt, nghĩa là đạt mục tiêu nào trước, mục tiêu nào sau. Cũng vì tình trạng không xác định mục tiêu và ưu tiên, chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn và thất bại.

Từ sau hiệp định Genève 1954, khi đất nước bị chia đôi và đảng Cộng sản Việt Nam đã thống trị trên miền Bắc để từ đó xâm lăng miền Nam, chúng ta lại phải tiếp tục đối phó áp lực xâm lược của đảng Cộng sản từ miền Bắc trên tư thế một quốc gia chống lại một quốc gia, và hình thức đối phó khi đó là chiến tranh tự vệ. Trong chiến tranh, chúng ta đã hành động theo những lý luận của chiến tranh và cũng đã có những sai lầm về lý luận đấu tranh lẫn hành động để sau cùng, đảng Cộng sản Việt Nam đã thôn tính luôn nửa lãnh thổ còn lại.

Từ sau năm 1975, đã có rất nhiều người đứng lên chống lại ách thống trị của chế độ CSVN. Nhưng, vì hoàn cảnh đã thay đổi và nhất là phải xây dựng lại công cuộc đấu tranh từ những đổ vỡ toàn diện sau khi miền Nam sụp đổ, chúng ta đã mất gần mấy năm mới xây dựng lại trận thế bằng phong trào kháng chiến vào đầu thập niên 80. Nhưng khi phong trào kháng chiến vừa tượng hình, chúng ta cũng gặp một số vấn đề đồng dạng của những thập niên trước, nên đã vừa đấu tranh, vừa rút ưu khuyết điểm để kiện toàn lực lượng. Nhưng phải nói là tình trạng đàn áp và khủng bố của chế độ Hà Nội ở trong nước rất gắt gao, nên sự phát triển phong trào đấu tranh tại quốc nội khá chậm và gặp nhiều khó khăn. Ngược lại, tuy cách xa lãnh thổ Việt Nam hàng vạn dặm, tinh thần đấu tranh của người Việt tại hải ngoại rất cao ngay từ những năm đầu tỵ nạn, nên đã là cái nôi nuôi dưỡng các hoạt động đấu tranh chống cộng rất mạnh mẽ tại hải ngoại. Chính nhờ hoạt động đấu tranh mạnh mẽ này, Cộng đồng người Việt tại hải ngoại vừa là hậu phương lớn cho sự phát triển phong trào kháng chiến tại quốc nội, vừa là thành trì giữ vững ngọn cờ chính nghĩa quốc gia trong 30 năm qua.

Ngày hôm nay, chúng ta chưa chấm dứt ách độc tài Cộng sản, nhưng chế độ này không những đã bị suy yếu rất nhiều mà còn đang gặp rất nhiều khó khăn trên con đường thoát hiểm. Mặc dù từ năm 1991, Hà Nội đã đẩy mạnh những cải tổ theo nền kinh tế thị trường, bị buộc phải chấp nhận thay đổi có giới hạn một số lề lối cai trị so với thời kỳ toàn trị ; nhưng về căn bản, họ vẫn cố bám vào lý luận Mác - Lênin, để giữ độc quyền lãnh đạo. Chính sự mâu thuẫn này đã tạo ra những rối loạn trong nội bộ đảng cầm quyền và những nan đề trong một xã hội đổi mới nửa vời với rất nhiều tệ nạn nảy sinh mà nếu không giải quyết rốt ráo có thể làm hủy hoại sức vươn lên của dân tộc trong lâu dài. Đó là tình trạng xuống cấp của đạo đức luân lý, môi trường bị phế bỏ, giá trị gia đình bị bỏ quên, cả nước chạy theo chủ nghĩa tiêu thụ, mạnh ai nấy sống...

Những nỗ lực đấu tranh của các lực lượng chống cộng, tuy có làm cho chế độ Hà Nội suy yếu và lúng túng đối phó với những áp lực của thế giới trên các mặt nhân quyền và tôn giáo, nhưng đảng Cộng sản Việt Nam khó có thể sụp đổ, nếu không tạo được sức bật đấu tranh ngay tại quốc nội. Điều thực tế cần nhìn ra là một số các hoạt động chống đối của những nhà đối kháng chưa lan tỏa đủ rộng để tạo được sự hậu thuẫn cần thiết trong quần chúng. Nghĩa là các nỗ lực đấu tranh của chúng ta chưa thẩm thấu ở trong dân. Nói cách khác, trong 30 năm qua, chúng ta đã thành công trong nỗ lực tạo dựng một chiến tuyến chống cộng ở hải ngoại và trong nước, đồng thời nuôi dưỡng các hạt nhân đấu tranh trên mặt trận dân quyền (tự do, dân chủ) ở thượng tầng lý luận, nhưng chúng ta chưa khai thác đủ những phẫn hận của quần chúng ở hạ tầng xã hội trên mặt trận dân sinh, phát sinh từ những bó buộc thay đổi nhằm thoát hiểm của chế độ. Những vụ khiếu kiện về ruộng đất, những cuộc đình công của công nhân hay những vụ bãi thị của những bạn hàng trong các chợ... tuy xảy ra thường xuyên, nhưng lại chưa được nuôi dưỡng, trải rộng và kết nối đúng mức, nên chưa có điều kiện biến thành phong trào rộng lớn. Đây là bài toán cho đảng CSVN và cho cả chúng ta. Vì sao ?

Đối với chế độ Hà Nội, họ rất lo sợ những bất ổn chính trị phát sinh từ những cuộc xuống đường của quần chúng. Bởi khi một số quần chúng nổi lên đòi khiếu kiện hay bày tỏ một sự bất mãn nào đó mà không giải quyết hoặc dập tắt thì nó sẽ lan rộng ra như đám cháy rừng trong mùa hè khô hạn. Sự bất mãn trong dân đã có sẵn và đã tiềm ẩn trong mọi gia đình Việt Nam ; nhưng vì chưa được tổ chức và chưa khơi mào cùng lúc ở nhiều nơi, nên nó chưa tạo thành phong trào, mặc dù trong những năm qua đã có rất nhiều điểm nóng bộc phát như Thái Bình, Xuân Lộc, Thọ Đà, An Truyền, Nguyệt Biều, Tây Nguyên... Hiện nay Hà Nội đang cố giải quyết mặt dân sinh bằng những chương trình xóa đói giảm nghèo do các khoản tiền vay mượn từ bên ngoài, những xây cất và tân trang đường sá, những cải thiện rất hạn chế về y tế, giáo dục... Nhưng có theo dõi sát, chúng ta mới thấy rằng đó chỉ là những biện pháp vá víu mang đầy tính tuyên truyền nhiều hơn là thực chất. Cái hủy hoại bên trong của Hà Nội qua những dự án dân sinh này, chính là tình trạng tham ô nhũng lạm đầy dẫy ở mọi cấp. Lâu lâu, do sự đấu đá nội bộ, Hà Nội phải công khai giải quyết một vài vụ tham ô, đưa ra tòa và thổi lớn trên mặt báo và đài như một lối tuyên truyền về thiện chí không hề có của họ, nhưng đó chỉ là những con dê tế thần để trấn an dư luận. Muốn tiêu diệt nạn tham ô, Hà Nội phải dân chủ hóa bộ máy hành chánh và để cho công luận có quyền tự do phê phán. Cả hai điều này không có ở Việt Nam. Tất cả mọi ưu quyền đặc lợi, và cả hệ thống kiểm soát đều nằm trong tay của đảng Cộng sản thì làm sao tiêu diệt được tham nhũng. Đây chính là những lẩn quẩn của chế độ độc tài và là những dấu hiệu của bất ổn trên mặt trận dân sinh.

Đối với lực lượng đấu tranh, qua kinh nghiệm những cuộc nổi dậy của những phong trào quần chúng tại Đông Âu, Nam Dương, Ukraina và mới đây là Kyrgystan, sức bật không phát khởi trực tiếp từ đặc tính chính trị (đòi hỏi tự do, dân chủ), mà đến từ những bất mãn hay những dồn nén trên mặt đời sống của người dân. Điểm nóng làm bộc phát sức bật tại Ba Lan năm 1988 chính là phong trào chống tăng giá xăng và giá thịt với nạn lạm phát phi mã ; tại Hung Gia Lợi và Đông Đức là vấn đề ô nhiễm môi sinh rồi lan ra phong trào chống bầu cử gian lận đầu năm 1989. Điểm nóng tại Thái Lan năm 1995 chính là sự bất mãn của nông dân về vấn đề thuế nông nghiệp đã lan thành phong trào chống độc tài quân phiệt và đưa đến sự tiêu vong của thể chế quân phiệt Thái. Điểm nóng tại Nam Dương năm 1999, khởi đầu là sự bất mãn của sinh viên về học phí và đời sống ngột ngạt ở học đường đã lan rộng thành phong trào chống chính quyền độc tài Suharto sau đó. Ngay cả hai cuộc biến động tại Ukraina hồi năm ngoái và Kyrgystan mới đây, đều là những phong trào chống bầu cử gian lận, nhưng khởi điểm của nó đến từ những bất mãn của người dân về đời sống quá khó khăn, tham ô nhũng lạm tràn lan suốt 14 năm qua, kể từ khi giành lại độc lập từ khối Liên Xô cũ năm 1991. Nhưng từ những điểm nóng muốn tiến lên thành phong trào quần chúng, phải có sự điều hướng của các lực lượng đấu tranh ngay sau đó, thì sức bật mới tạo thành những đợt sóng từ nhỏ lên lớn. Nghĩa là khởi đầu chỉ có từ 100 người rồi lên thành 1000 nguời, 10 ngàn người, 100 ngàn người và sau chót hàng triệu người trong giờ cao điểm.

Tại Việt Nam, trong thời gian qua, đã có khá nhiều điểm nóng bộc phát. Đầu tháng 3 vừa qua, 70 bạn hàng ở chợ Đồng Xuân rủ nhau bãi thị chống tăng giá sạp và dự tính nộp đơn kiện ban quản trị về việc tự ý tăng giá là một sự kiện đáng quan tâm. Tối ngày 21 tháng 3, gần 400 dân tại ngã tư Trần Hưng Đạo - Đề Thám, bao vây công an, đốt xe môtô và đánh trọng thương 3 công an chỉ vì công an có hành vi đánh người lái xe, kéo dài hơn nhiều giờ làm tắc nghẽn lưu thông khiến cho công an một phen kinh hoàng. Phó giám đốc công an địa phương nói với báo chí rằng vụ chống đối không có tổ chức nhưng đáng quan tâm. Sau đó mấy ngày, tối 24 tháng 3, một số thanh niên đã dùng gạch đá ném vào trụ sở dân phòng thuộc Khu phố 2, Phường 17 thành phố Sài Gòn để phản đối những hành động hống hách của lực lượng dân phòng. Sự kiện tuy ở tầm địa phương những nó nói lên những sự ấm ức của đồng bào quanh khu phố về các hành động tác oai tác quái của nhóm an ninh khu vực. Quan trọng hơn cả, nó cho thấy mức độ sợ hãi của người dân đối với công an đã xuống mức rất thấp. Nhìn ngược lại, tâm lý này đã được khai dụng ra sao ? Giống như các điểm nóng đã từng xảy ra tại Việt Nam trong quá khứ, chúng ta chưa tác động đủ lên trên quần chúng, và chưa điều phối hữu hiệu để biến các phản ứng bất mãn tại chỗ trong đời sống thành hành động chống đối chế độ ăn lan qua các địa phương khác. Nhìn chung, chúng ta chưa kết hợp hài hòa hai mặt trận dân sinh và dân quyền, để tạo ra những phong trào chống đối lớn mạnh tại Việt Nam.

Trong hơn 20 năm qua, mặc dù chúng ta tiến hành cuộc đấu tranh với thế chiến lược là "toàn dân và toàn diện" ; nhưng do sự khủng bố và kiểm soát gắt gao của guồng máy công an trị, chúng ta đã dồn nhiều công sức vận động các áp lực quốc tế cũng như tranh đấu hỗ trợ cho các nhà đối kháng trên mặt trận dân quyền ; trong khi đó, phải nói là chúng ta chưa dồn sức để hỗ trợ các cuộc tranh đấu cho quyền lợi của người dân trên mặt trận dân sinh, nhằm giải quyết những bế tắc hay những thảm kịch do nghèo đói sinh ra. Gần đây, chúng ta có tham gia vào một vài nỗ lực chống buôn bán trẻ em, buôn bán phụ nữ, hay lên tiếng chống vụ ngư dân bị tàu Trung Quốc sát hại, giúp đỡ thiên tai bão lụt, những quỹ học bỗng cho học sinh nghèo... nhưng đó chỉ mới là những kế hoạch tự phát của một vài nhóm hoặc chỉ đáp ứng nhu cầu thời sự. Do đó, thực sự chúng ta vẫn chưa trực tiếp giúp cho người dân từng bước tách ra khỏi sự lệ thuộc vào chế độ, để giành lại sự tự chủ trên mặt đời sống. Qua kinh nghiệm của các cuộc chính biến tại những quốc gia độc tài, chúng ta có thể nhìn thấy là khi quần chúng đã có ít nhiều sự tự chủ trong đời sống, họ mới thoát hẳn ra khỏi sự sợ hãi, bắt đầu quan tâm đến những đòi hỏi cao hơn và đó chính là lúc hai mặt trận dân sinh và dân quyền bùng nổ. Chúng ta đang ở vào giai đoạn phải tạo cho được sự kết hợp này trong thời gian tới.

Những Nỗ Lực Cho Đoạn Đường Trước Mặt

Từ những nhận định nói trên, chúng ta có thể rút ra ba chủ điểm cần quan tâm :

1/ Trong 30 năm qua, đảng Cộng sản Việt Nam tuy còn cầm quyền nhưng đã suy yếu so với thời toàn trị. Người dân có bất mãn nhưng vì không có chọn lựa nào khác nên một số đáng kể đã nương theo chế độ để sống còn theo kiểu "mackeno" (mặc kệ nó).

Tâm lý này lúc đầu phổ biến ở các thành phố lớn, khi mà đầu tư ngoại quốc bắt đầu vào từ năm 1990. Sau đó, lối sống "mackeno" lan ra các vùng thôn quê và miền núi, khi Hà Nội bắt đầu các kế hoạch xóa đói giảm nghèo. Bình thường ra trong một xã hội phát triển, dân chúng sẽ hợp tác với chính quyền để cùng thay đổi đời sống tốt hơn ; nhưng trong những quốc gia độc tài thì xảy ra hoàn toàn ngược lại. Có lẽ do những kinh nghiệm xương máu trong nhiều năm sống dưới ách độc tài, tâm lý sống của người dân là co thủ và coi chừng chung quanh. Do đó, khi Hà Nội cho áp dụng lối làm ăn theo thị trường, tâm lý co thủ vẫn còn nhưng thái độ coi chừng chung quanh lại biến thành lối sống thi đua nhau tìm mối đi buôn kiếm sống. Từ đó, sự bươn chải và tranh nhau kiếm sống này đã làm cho con người bỏ mặc một số giá trị truyền thống, chỉ nhìn về phía trước với thái độ "mackeno" rất phổ biến. Hậu quả của lối sống này, chính là sự suy thoái của dân phong dân khí, phản ảnh qua nền giáo dục tồi tệ hiện nay ở Việt Nam. Tại những quốc gia đang bước vào thời kỳ phát triển, chính quyền sẽ phải coi giáo dục là lãnh vực hàng đầu quan tâm, nhưng ở Việt Nam thì chính quyền làm ngược lại. Miệng thì nói đưa giáo dục lên hàng quốc sách từ 20 năm nay nhưng ngân sách thì bỏ vào nhỏ giọt, khiến cho thầy cô phải đi làm thêm, thậm chí phải đi làm thêm nghề "cửu vạn" ở những miền núi để kiếm sống thêm.

Tình trạng nói trên kéo dài hoàn toàn bất lợi cho đất nước Việt Nam ở hai mặt :

- Thứ nhất là quốc gia không huy động được sức sống của người dân vào những chương trình phát triển đúng mức.

- Thứ hai là lâu dần thái độ "mackeno" trở thành một lối sống "tình thế", khiến cho sự quan hệ của người Việt Nam bị biến dạng, xóa mất những truyền thống cao đẹp của dân tộc như tinh thần tương lân nhân ái, hòa đồng, ý thức trách nhiệm...

Cộng sản Việt Nam không quan tâm vào những điều này nên họ không màng đến. Còn chúng ta, hơn lúc nào hết, bên cạnh nhu cầu đấu tranh để chấm dứt ách độc tài Cộng sản, phải góp phần ngăn chận sự suy thoái của xã hội - không chỉ là trì lực làm cản trở cho đấu tranh mà còn tạo ra những nan đề mới cho dân tộc - trước khi quá muộn. Nghĩa là phải làm cho người dân nhìn thấy chế độ Hà Nội không chỉ bóp nghẹt tự do dân chủ mà còn đang hủy hoại sức sống và văn hóa dân tộc bởi những biện pháp phát triển sai lầm và mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và chủ thuyết Mác Lê.

Nói cách khác, ngay trong tiến trình đấu tranh chấm dứt nền độc tài CSVN, chúng ta không thể làm ngơ hay quay lưng lại đối với những biện pháp cải cách xã hội của chế độ Hà Nội có ảnh hưởng đến tư duy, sức khỏe và nhất là tình cảm của con người Việt Nam hiện nay.

Chúng ta không chỉ vạch cho người dân nhìn thấy những sai lầm nguy hiểm của chế độ, mà còn phải giúp người dân đứng lên chống đối lại hoặc hỗ trợ cho họ thực hiện những thay đổi theo sự tự chủ của người dân, không cần phải chờ chế độ hay dựa vào chế độ. Khi chúng ta quan tâm giúp cho người dân nhìn rõ vấn đề, chắc chắn họ sẽ có sự chọn lựa mới và không còn sống nương theo chế độ mà từng bước tách ra để giữ một thế đứng độc lập. Đây là bước đầu của việc hình thành xã hội công dân trong lòng chế độ độc tài.

2/ Đảng Cộng sản tuy rất lúng túng và khó chịu về những sức ép đấu tranh về mặt dân chủ nhân quyền, nhưng họ biết là có thể giải quyết qua một vài nhượng bộ nào đó ; trong khi đó, đảng Cộng sản lại sợ sức bật của dân vì sẽ dẫn đến bất ổn chính trị to lớn, do những bất mãn chồng chất và do không có khả năng giải quyết của chế độ.

Cộng sản Việt Nam hiện nay có một quan tâm duy nhất là làm sao gia nhập vào WTO vào cuối năm 2005 và tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh APEC vào năm 2006. Để đạt kết quả này, Hà Nội phải chấp nhận nhượng bộ một số áp lực về nhân quyền, tự do tôn giáo của Hoa Kỳ và một số quốc gia Phương Tây. Sự kiện Hà Nội phóng thích 6 tù nhân chính trị như LM Nguyễn Văn Lý, BS Nguyễn Đan Quế, ông Nguyễn Đình Huy... vào cuối tháng 1 năm 2005 là do áp lực của Hoa Kỳ, nếu không sẽ bị Hoa Kỳ đưa vào danh sách "những quốc gia đáng quan tâm" làm ảnh hưởng đến việc gia nhập WTO. Trong khi Hà Nội thả 6 người thì họ lại tiếp tục giam giữ những người kbác như MS Nguyễn Hồng Quang, BS Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình... Cho nên đòn bắt thả những người đấu tranh chống chế độ đối với Hà Nội chỉ là một sự tương nhượng giữa họ với quốc tế. Nhưng không phải vì thế mà các vận động của chúng ta vô nghĩa mà ngược lại vô cùng cần thiết trong mọi thời điểm đấu tranh, vì các vận động này đã nâng cao tư thế quốc tế của các nhà đối kháng, để trong tương lai Hà Nội có muốn đàn áp cũng phải chùn tay. Ngoài ra, khi có quốc tế can thiệp vào những đợt vận động nhân quyền, chúng ta đã "quốc tế hóa" công cuộc tranh đấu của người Việt Nam và tạo sự chú ý của dư luận.

Ngược lại, điều mà chúng ta thấy rõ là Hà Nội luôn luôn tìm cách theo dõi, cô lập những nhà đối kháng với quần chúng, để không cho các nhà đối kháng là điểm tựa của dân trong những trường hợp họ bị đàn áp hay đối xử bất công. Thật vậy, Hà Nội tuy rất lo các tiếng nói đối kháng nhưng họ càng lo hơn khi đám đông quần chúng xuống đường hành động, vì đó là bước khởi đầu để dẫn đến bất ổn chính trị. Nghĩa là Hà Nội có thể chịu đựng một số công kích nào đó từ các nhà đối kháng và những phê phán của thế giới trên mặt nhân quyền ; nhưng họ không thể nào ngồi yên khi đám đông quần chúng tụ tập đòi hỏi một vấn đề nào đó, nhất là đám đông có tổ chức và có chuẩn bị. Lý do là khi đám đông tụ tập, chắc chắn sẽ bị kích động lòng bất mãn đã tiềm ẩn nhiều năm trong lòng, để có thể biến thành những hành động quyết liệt trong một cao điểm nào đó. Muốn khơi dậy lòng bất mãn của dân, chúng ta không thể chờ đợi những phép lạ vô hình mà phải khởi đi từ nỗ lực tiếp cận ngay tại quốc nội, dưới nhiều hình thức hầu giúp họ ra khỏi sự lệ thuộc chế độ, ít ra là trên mặt đời sống và tạo dựng một ý thức tự chủ, độc lập. Khi có nhiều người cùng suy nghĩ và hành động độc lập với chế độ qua những sinh hoạt mang tính quần chúng nhẹ nhàng, chắc chắn là cục diện trước sau gì cũng thay đổi.

3/ Lực lượng đấu tranh ở trong và ngoài nước đã làm cho đảng Cộng sản Việt Nam phải cảnh giác, nhưng họ chưa thấy bị đe dọa thật sự vì đa số hiệu năng đấu tranh còn nằm ở hải ngoại. Điều này có thể tác động làm cho chế độ ngày một suy yếu qua những bước lùi chiến thuật, nhưng vẫn khó sụp đổ vì chưa đủ sức bật ở trong nước, ví như thân cây mục nhưng vẫn đứng yên vì không có trận gió mạnh thổi bật gốc.

Ba mươi năm qua, Cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại đã không chỉ có những thành tựu đáng chú ý về kinh tế, tài chánh, chất xám, mà còn xây dựng một cộng đồng chống cộng vững mạnh. Không những thế, cộng đồng hải ngoại còn là nơi khuyến khích, nuôi dưỡng và tranh đấu cho sự tồn tại và vươn lên của rất nhiều lực lượng, đảng phái và cá nhân đấu tranh tại quốc nội. Nói cách khác, cộng đồng tỵ nạn tại hải ngoại đã làm tròn sứ mạng giữ lửa và tiếp lửa cho quốc nội. Nhưng nếu nhìn trên thế trận thì cộng đồng hải ngoại chỉ có thể làm suy yếu chế độ cộng sản, chứ không thể nào trực tiếp lật đổ hay chấm dứt chế độ Cộng sản Việt Nam, vì sứ mạng đó phải là của đồng bào và những lực lượng đấu tranh tại quốc nội. Chúng ta phải nhận chân một điều là các lực lượng đấu tranh tại quốc nội còn trải mỏng và chưa có sự hậu thuẫn tập trung của quần chúng. Sức mạnh đấu tranh tại quốc nội do đó bị phân tán trong nhiều lực lượng và trên nhiều địa bàn, trong khi người dân thì tuy có bất mãn chế độ cộng sản nhưng lại thiếu lực tác động và tổ chức nên chưa tạo ra những biến chuyển lớn.

Tháng 4 năm 2004, đảng CSVN tung ra Nghị quyết 36 để chỉ thị cho toàn đảng nhắm vào việc tranh thủ, chiêu dụ kiều bào hải ngoại trên một quy mô lớn. Trên tầm nhìn chiến lược, Nghị Quyết 36 là một thất bại của Hà Nội trong kế sách chiêu dụ kiều bào trong 30 năm qua trong tầm nhìn người Việt hải ngoại như một "con bò sữa", nên bây giờ Bộ chính trị đã phải thay đổi chiến thuật bằng cách huy động toàn đảng, toàn ngành, toàn thể xã hội ở trong nước giúp chế độ vói ra hải ngoại... để khai thác cộng đồng người Việt hải ngoại một cách tinh vi hơn. Chúng ta tin tưởng rằng Cộng sản Việt Nam rồi cũng sẽ thất bại trong các chủ trương của Nghị Quyết 36, vì bản chất của cộng đồng hải ngoại không phải là cộng đồng di dân mà là cộng đồng tỵ nạn cộng sản, cho nên đặc tính chính trị đã chi phối mạnh mẽ lên các hành động của mọi người trong cộng đồng. Tuy nhiên, khi Cộng sản vói tay ra hải ngoại, dồn sức khai thác cộng đồng mà chúng ta lại tiếp tục lối đánh phòng ngự cố thủ trong những pháo đài chống cộng ở hải ngoại, thì vô hình chung, chúng ta sẽ bị co cụm với chính chúng ta và không tiếp sức gì cho phong trào đấu tranh tại quê nhà. Đây là lúc, một mặt tăng cường các nỗ lực đấu tranh ngăn chận sự xâm nhập của Việt cộng trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn, mặt khác là chủ động tiến hành những công tác tiếp cận và hỗ trợ các loại hoạt động giúp cho người dân tự chủ và tách ra khỏi sự lệ thuộc vào vòng kiềm tỏa của chế độ.

Nói cách khác, chúng ta cần chủ động nhiều hơn trong trận thế "cài răng lược" trong - ngoài. Đây là thế công cần thiết để khai thác ngay chính những nhược điểm phát sinh trong xã hội mở cửa ở Việt Nam, để biến sự bất mãn của người dân thành hành động để chấm dứt chế độ độc tài.

Kết Luận

Trong giai đoạn chiến tranh lạnh, dân tộc Việt Nam hoàn toàn bị khống chế dưới gọng kềm vô sản một cách độc ác với Liên Xô và khối cộng sản quốc tế ở đàng sau đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc đó, chúng ta đã khai dụng lòng căm thù của người dân thành hành động để chấm dứt chế độ độc tài, giải phóng đất nước.

Trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh và đổi mới, dân tộc Việt Nam tuy vẫn còn bị khống chế dưới chế độ độc tài Cộng sản nhưng chế độ này không còn mạnh như xưa. Nội bộ đảng cầm quyền bắt đầu bị phân hóa và xung đột quyền lực một cách mạnh mẽ giữa các phe nhóm. Tiến trình đổi mới nửa vời của chế độ hình thành một nền kinh thế thị trường hoang dã, phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội mà nhân dân là nạn nhân trực tiếp, nên lòng căm phẫn, bất mãn của dân chúng đã biến thành hành động bất cộng tác với chế độ. Bạo lực còn đó, nhưng tinh thần thách thức bạo lực của nhân dân đã dâng cao theo sự phẫn hận của họ. Đây là lúc mà chúng ta phải khai dụng tối đa nỗ lực điều phối để kết hợp hình thái đấu tranh dân quyền trên thượng tầng lý luận với hình thái đấu tranh dân sinh trải rộng trong mọi ngóc ngách sinh hoạt xã hội, để tạo thành phong trào nổi dậy của quần chúng, với sự hỗ trợ của quốc tế và cộng đồng hải ngoại.

Nói cách khác, chúng ta phải giúp đồng bào trong nước tước bỏ mọi độc quyền dân sinh ở hạ tầng xã hội, tăng dần lên thành nỗ lực tổng hợp chấm dứt độc quyền chính trị trên thượng tầng chế độ.

Đoàn Hùng

 

 

Cơ Hội Nhìn Lại Để Tiến Tới
Phạm Phú Đức
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

Vào những ngày tháng tới đây, chiến tranh Việt Nam sẽ được nhắc lại trên các phương tiện truyền thông khắp thế giới, từ Việt Nam sang Úc đến Mỹ... Nhưng những gì chúng ta được nghe trong suốt 30 năm qua có thật sự khách quan và trung thực không, thiết nghĩ góp phần tìm ra những bài học lịch sử, không chỉ quan trọng cho thế hệ hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau.

Điều chắc chắn, là Cộng Sản Việt Nam sẽ tổ chức ăn mừng chiến thắng, như đã từng phô trương trong suốt 29 năm qua. Tuy sự hưởng ứng của dân chúng về chiến thắng này ngày càng tẻ nhạt trong những năm gần đây, nhưng CSVN vẫn có nhu cầu tiếp tục tô hồng cái "chính nghĩa" của công cuộc "chống Mỹ cứu nước" để duy trì sự cai trị của họ hiện nay. Tuy nhiên, thiệt hại nhân mạng và phí tổn của chiến tranh lên đến 3 triệu người, làm tiêu hao vài trăm tỷ đô la, nhưng rồi những gì được hứa hẹn về tự do, dân chủ và công bằng xã hội trong thời chiến tranh, đến nay mất 30 năm vẫn chưa xây dựng được.

Trong khi đó, tình hình thế giới đã thay đổi không ai ngờ được. Chiến tranh lạnh chấm dứt, kéo theo sự sụp đổ của Đông Âu năm 1989-1990 và Liên Xô năm 1991. Hiện tại chỉ còn 4 quốc gia theo cộng sản mà thực chất là độc tài, trong đó Bắc Hàn và Cu Ba vẫn còn nặng ý thức hệ Mác Lê, còn Trung Quốc và Việt Nam biết thay đổi để tồn tại, ít nhất là cho đến nay. Tuy nhiên, mọi thay đổi chủ yếu nằm trong lãnh vực kinh tế. Những sinh hoạt chính trị hay xã hội nằm ngoài sự kiểm soát của đảng cộng sản vẫn là lén lút. Nói chung người dân có một số chọn lựa trên mặt đời sống hơn trước, nhưng về chính trị thì không có sự chọn lựa nào mà chỉ có một đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối.

Chính trị ngày nay cũng khác nhiều. Tại các quốc gia dân chủ, phần lớn những ai có khả năng quản lý và phát triển kinh tế thì sẽ được dân chúng tín nhiệm. Muốn phát triển kinh tế thì phải cạnh tranh và hợp tác, tránh đối đầu nếu có thể. Vì đặc tính của thế giới đa cực như thế nên không có ai là bạn mãi, cũng chẳng có ai là thù mãi. Quyền lợi của quốc gia nằm trong khả năng lãnh đạo chính trị và giao thương của dân chúng mà ngày nay thì đòi hỏi yếu tố trí tuệ là chính. Quan hệ song phương hay đa phương không còn đặt trên quan điểm chính trị mà chủ yếu là tương quan quyền lợi. Vì thế nên không có gì ngạc nhiên khi các chính quyền như Mỹ hay Úc giúp miền Nam Việt Nam chống cộng sản trước đây, ngày nay đều bắt tay bang giao với chính quyền Cộng Sản Việt Nam.

Vì thế cho nên có người cho rằng Việt Nam bây giờ đã thay đổi rồi, kinh tế tăng trưởng 7-8% mỗi năm, thu nhập bình quân đầu người là 530 Mỹ kim, tức Việt Nam đang phát triển, thì tại sao vẫn có người chống đối "Việt Nam" mãi ? Đi xa hơn, họ còn cho rằng những người này "ôm lấy quá khứ, bám lấy hận thù" ?

Thực tế thì phần lớn những người liên hệ ít nhiều đến chiến tranh Việt Nam đều muốn quên cuộc chiến đó, đơn giản là vì ... 30 năm rồi. Nhiều người Việt tị nạn cộng sản còn muốn quên cả hành trình đầy máu và nước mắt của họ trên đường đi tìm tự do, nói gì đến chiến tranh. Quên để sống, chứ làm sao sống nổi khi vẫn còn bị ám ảnh bởi sự tàn bạo không bút mực nào kể xiết. Và những ai theo dõi thời sự cũng thấy đất nước Việt Nam ngày nay, so với thời toàn trị từ năm 1975 đến thời đổi mới, đã có những thay đổi. Biết bao nhiêu người ăn nên làm ra, giàu hơn gấp nhiều lần người Việt ở Mỹ hay ở Úc. Tuy nhiên, những bất công xã hội, những tệ nạn tham nhũng, những suy đồi văn hoá, những chà đạp nhân quyền v.v... đã là những bức xúc dâng tràn trong lòng những ai còn chút quan tâm đến nhân phẩm người Việt Nam hôm nay.

Chính vì thế nên những người thật sự yêu chuộng tự do và tôn trọng nhân phẩm không thể chấp nhận tình trạng Việt Nam hiện tại. Họ hiểu rõ lịch sử Việt Nam, nhất là công cuộc đấu tranh giành độc lập từ tay thực dân Pháp bắt đầu hơn 150 năm qua. Biết bao nhiêu nhà ái quốc, cách mạng đã hy sinh cho lý tưởng và nền độc lập Việt Nam. 75 năm sau đó thì đảng cộng sản Việt Nam (Đông Dương) mới ra đời (3/2/1930), và được hưởng những thành quả to lớn của bao nhiêu phong trào yêu nước bùng nổ trên khắp đất nước Việt Nam, đặc biệt sau cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng (17/6/1930). Nhờ ý thức đấu tranh cho một đất nước Việt Nam tự do, độc lập nên hàng hàng lớp lớp người Việt Nam sẵn sàng hy sinh. Họ biết đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên nên họ sẵn sàng chấp nhận bất cứ ai có khả năng lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống thực dân. Hồ Chí Minh, trong khoảng trống chính trị tháng 8 năm 1945 ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng (15/8/1945) đã chụp lấy cơ hội cướp chính quyền và tuyên bố Việt Nam độc lập cách đây 60 năm (2/9/1945). Nhưng cũng chính Hồ Chí Minh đã rước Pháp vào Việt Nam sau đó, kéo thêm 9 năm tang tóc trên toàn thể đất nước và cuộc chiến này kết thúc bằng Hiệp định chia đôi Việt Nam (20/07/1954) mà Hồ Chí Minh đã ký cùng với Pháp theo sự khuyến cáo của Liên Xô và Trung Quốc.

Kế tiếp là những sai lầm trầm trọng của đảng cộng sản Việt Nam xô đẩy toàn dân miền Bắc vào cuộc chiến lần thứ hai để nhuộm đỏ miền Nam, và sau đó đưa quân sang Lào và Cam Bốt để bắt đầu cuộc chiến lần thứ ba nhuộm đỏ Đông Nam Á. 30 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, Việt Nam quá tụt hậu so với các quốc gia trong vùng. Việt Nam đạt được những gì sau chiến tranh triền miên đó ? Những lý tưởng đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong 150 năm qua nói chung, và 75 năm qua từ khi có đảng cộng sản, đều không ngoài các giá trị phổ quát của nhân loại hiện nay : Độc Lập, Tự do, Dân chủ và Nhân quyền. Nhưng cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa đạt được các mục tiêu này, dù hàng triệu người đã hy sinh vì các lý tưởng đó. Hiện tại, những ai nói khác chính quyền vẫn bị tù đày bất cứ lúc nào.

Đó chính là lý do người Việt tị nạn cộng sản trên khắp thế giới vẫn tiếp tục đấu tranh cho đồng bào của họ tại quê nhà. Nếu không đấu tranh, tức chấp nhận thực trạng bây giờ, thì Việt Nam vẫn mãi mãi tụt hậu và khó có cơ hội bắt kịp với các nước phát triển. Họ hiểu rõ bản chất chế độ độc tài là bám lấy quyền lực và quyền lợi, không sẵn sàng thay đổi vì lợi ích của người dân mà chỉ thay đổi để giữ quyền giữ ghế. Cho nên những người yêu nước đã dấn thân vào công cuộc đấu tranh từ 30 năm qua, mà đến nay tuy tóc đã bạc màu, họ vẫn còn lạc quan và tích cực. Dầu chưa thành công, nhưng người Việt yêu chuộng tự do vẫn kiên trì và bền chí trong nỗ lực dân chủ hóa và phát triển Việt Nam. Úc là một quốc gia có quan hệ khá lâu với chính quyền của Việt Nam hiện tại. Viện trợ của Úc cho Việt Nam năm 2004-2005 là 73.7 triệu Úc kim. Hàng hóa giao thương giữa hai bên vào năm 2003-2004 lên đến 2534 triệu Úc kim. Về mặt nhân quyền, chính sách của Úc hiện tại là tránh đối đầu, cùng hợp tác. Do đó, Ngoại Trưởng Úc ông Alexander Downer thường trấn an những người quan tâm đến nhân quyền tại Việt Nam rằng chính phủ Úc thường xuyên trao đổi với chính phủ Việt Nam về nhân quyền, và đang có những tiến triển tốt. Có điều, ông thừa biết rằng cộng sản Việt Nam bắt bớ vô số kể những người đấu tranh cho dân chủ, nhưng khi nào bị áp lực lắm thì họ mới thả ra một số người tiêu biểu để không bị thế giới lên án hay bị Mỹ liệt kê là quốc gia cần đặc biệt quan tâm (CPC). Nhưng tình trạng nhân quyền tại Việt Nam thì không có gì sáng sủa hơn cả.

Ngày 16 tháng 3 vừa qua, Thượng Nghị Sĩ Gary Humphries (đảng Tự Do) và Dân Biểu Bernie Ripoll (đảng Lao Động) đồng tổ chức giới thiệu Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng tại quốc hội Úc ở Canberra. Trong các cuộc tiếp xúc với phái đoàn Việt Tân từ khắp nước Úc, Mỹ và Canada, chính giới Úc đều tán thành cho rằng sự công khai hoạt động của một chính đảng trong xã hội dân chủ là bình thường. Hơn nữa, trong trường hợp Việt Nam, họ đều nghĩ đó là sự cần thiết cho tiến trình dân chủ hóa đất nước. Họ thấy rõ sự cản trở phát triển của Việt Nam hiện nay là vấn nạn độc tài. Họ ngạc nhiên khi đại diện đảng Việt Tân cho biết thêm tình hình đấu đá kịch liệt trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, và nỗ lực đấu tranh cho tự do dân chủ của nhiều thành phần trong xã hội Việt Nam, từ những cá nhân, tôn giáo đến đảng phái chính trị. Một số chính giới có cơ hội về Việt Nam cho biết họ rất thích con người và đất nước Việt Nam. Họ ca ngợi nỗ lực hội nhập và phát triển của người Việt trên nước Úc. Nói chung, đối với họ, người Việt ở đâu cũng cần cù, thông minh, chịu khó. Vì thế họ tin rằng nếu người Việt Nam được quyền chọn lựa, được quyền tự do, thì Việt Nam sẽ phát triển rất nhanh. Họ cho biết vì chính sách bang giao giữa hai quốc gia có những vấn đề tế nhị trên mặt ngoại giao nên ở một số cương vị họ không thể công khai chỉ trích chế độ độc tài chà đạp nhân quyền. Dù quan điểm giữa các chính trị gia hay các đảng Tự Do, Lao Động, Quốc Gia, Dân Chủ ... có khác, nhưng một điều họ đều thấy rất rõ là khi Việt Nam có dân chủ pháp trị, mối bang giao với một chính phủ đại diện chính thức cho người dân sẽ có lợi nhiều cho nước Úc hơn là chế độ độc tài đầy tham nhũng bây giờ.

Nhân tưởng niệm 30 năm miền Nam rơi vào tay cộng sản, các thượng nghị sĩ Gary Humphries, Tsebin Tchen, dân biểu Bernie Ripoll, Christopher Pyne v.v... đã thẳng thắn chia sẻ rằng đấu tranh cho tự do dân chủ là một mục tiêu cao đẹp. Họ cũng cho rằng trong trường hợp Việt Nam, cuộc đấu tranh này thành công thì sự hy sinh cao quý của 504 quân nhân Úc chiến đấu tại Việt Nam mới xứng đáng và ý nghĩa. Tại Úc, nơi nuôi dưỡng và phát huy tinh thần nhân đạo và dân chủ rất cao, các vị dân cử trên đã thể hiện tinh thần cao quý đáng để chúng ta học hỏi. Đối với Việt Nam, bao nhiêu xương máu của những người lính Việt Nam Cộng Hòa nói riêng, toàn dân tộc nói chung cho mục tiêu dân chủ và thịnh vượng từ hơn 150 năm qua đã đổ xuống nhưng chưa thành, thì ngày nay vẫn cần bàn tay khối óc và trái tim của mọi con dân Việt Nam.

Nếu có những người Úc nghĩ 30 tháng 4 là cơ hội nhìn lại để quyết tâm theo đuổi mục tiêu chưa thành của dân tộc Việt Nam thì chúng ta cũng cần nhìn lại lịch sử dân tộc cận đại và hiện đại để cố gắng vượt qua những trở ngại khó khăn mà tiến tới.

Phạm Phú Đức

 

Những Quả Bom Nổ Chậm
Phan Kiến Quốc
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

Vào ngày 21/3/2005, một vụ bạo động đông người đã xảy ra tại ngay trung tâm Sài Gòn. Theo báo Tuổi Trẻ, tiếp theo một cuộc xô xát nhỏ giữa cảnh sát giao thông (CSGT) khoảng 400 người đã kéo ra đường gây ùn tắc giao thông, 2 xe cảnh sát và một xe chữa lửa bị đập phá hoặc đốt cháy. Sau khi giải tán, nhiều người khác đã đến bao vây trụ sở CSGT và đập phá cho đến 2 giờ sáng. Đâu là sự thực , đâu là những nguyên nhân sâu xa để cho thấy sự kiện này là một trong những quả bom nổ chậm của xã hội Việt Nam ?

Tóm tắt vụ việc.

Theo báo chí thì vào lúc 20g30 ngày 21/3/2005, CSGT phát hiện hai trường hợp vượt đèn đỏ tại ngã tư Trần Hưng Đạo - Đề Thám (quận 1, TPHCM). Một người tên Toàn đã phản ứng, cho rằng "chỉ vượt đèn vàng" và từ chối trình giấy tờ. Sau đó Toàn nhảy lên giải ngăn cách hô hào người dân ứng cứu. Trong lúc đó một phụ nữ đã dùng máy điện thoại chụp hình cảnh cự cãi liền bị cảnh sát 113 (cảnh sát cơ động) ngăn chặn. Chị này phản đối gay gắt và hô "công an đánh người". Lập tức người dân ùn ùn lao vào xô đẩy cảnh sát đồng thời lật mô tô châm lửa đốt. Ba nhân viên bị thương phải đưa đi điều trị. Hơn 400 người kéo ra án ngữ dọc theo đường Trần Hưng Đạo suốt từ ngã tư Đề Thám đến Nguyễn Khắc Nhu sau đó kéo sang tấn công trụ sở CSGT đến 2 giờ sáng.

Ngay hôm sau, ban giám đốc công an thành phố đã lập tức xác định rằng đây là cuộc gây rối không có tổ chức, nhưng thú nhận đây là lần đầu tiên việc đập phá tài sản công cộng lại nhắm vào lực lượng cảnh sát.

Đâu là là sự thực ... ?

Theo một số nhân chứng và người sống quanh khu vực Trần Hưng Đạo - Đề Thám thì vào lúc ấy thường thì đèn đỏ không hoạt động mà chỉ là đèn vàng nhấp nháy, có nghĩa là không bắt buộc phải ngừng, và cách xử lý của CSGT như thế là không đúng. Thực hư thế nào thì không ai rõ, nhưng đại đa số người dân ở đây đều cho rằng từ khi trưởng công an đội 1 (CSGT quận 1) được bổ về đây thì ông này áp dụng những biện pháp quá khắt khe. Đối với những tội nhỏ, "không đáng gì" như chở ba, chạy ngược chiều hoặc vượt đèn đỏ thì có thể phạt tại chỗ chứ không nhất thiết giam xe 20 ngày tạo khó khăn cho sinh hoạt của người dân.

Công minh mà nói thì tôi lại nghĩ khác, tình trạng vi phạm luật lệ nói chung và luật giao thông nói riêng ở Việt Nam là quá phổ biến, phổ biến như ăn uống, như hít thở... nên bắt buộc phải có những biện pháp cứng rắn và liên tục mới may ra chế ngự được tình trạng hỗn loạn này. Người dân đã quá quen với tình trạng vô trật tự này quá lâu nên không thể một sớm một chiều chấp nhận những ràng buộc các thói quen cũ. Nhưng nếu chỉ nói riêng về biện pháp thì trưởng đội CSGT không sai. Chúng ta không thể một mặt than vãn về tình trạng giao thông tạp nham và vô kỷ luật, mặt khác lại trách những biện pháp cứng rắn của cảnh sát. Đó là chưa kể tính cách hợp pháp của nó : các tội danh kể trên đều có thể bị giam xe, và điều ấy đã thành luật.

Tuy nhiên, vấn đề lại nằm ở chỗ khác. Ai phải trách nhiệm tình trạng hỗn loạn toàn diện trong xã hội như ngày hôm nay ? hỗn loạn trong mọi khía cạnh của xã hội : giao thông, giáo dục, y tế, ma túy, mãi dâm, quản lý, quy hoạch,... Rờ đến chỗ nào là thấy rối như canh hẹ và không có cách nào giải quyết nổi.

Khi chúng tôi đi làm cái việc "thăm dân cho biết sự tình" thì câu nói mà ai cũng thốt ra là : "chúng ta chỉ là người thấp cổ bé họng". Lúc nói câu này tôi đọc được trong mắt của họ sự oán hờn trong tuyệt vọng. Sở dĩ tôi phải gọi nó như thế vì trong lúc nói khuôn mặt của họ có vẻ trầm buồn nhưng sau đó vài phút lại trở lại bình thường ngay. Họ phải quên đi nỗi ức chế ấy đi để tiếp tục sống. Sự ức chế ấy họ đã phải sống với nó từ bao nhiêu năm nay đã tạo cho họ một thói quen là nuốt nó vào trong bụng.

Một hình ảnh rất cụ thể và rất gần với cảnh bạo động ngày 21/3 vừa qua là hình ảnh xấc xược và hống hách của ngành công an nói riêng và bộ máy hành chánh nói chung. Rất nhiều người khi có chuyện phải đến cơ quan công quyền để giải quyết những chuyện rất nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày đều phải đối phó với những cung cách vô cùng quan lại, cửa quyền và hách dịch của nhân viên nhà nước, và sau bao năm tất cả đã trở nên những nỗi ám ảnh cho mọi người.

Đâu là nguyên nhân sâu xa ?

Trong những năm tháng gần đây, trong nhu cầu công khai một số chuyện nhà nước đã cho phép báo chí nêu lên những tiêu cực trong xã hội thì người dân mới biết được những chuyện "động trời" của các quan chức nhà nước, mà phần lớn đều là đảng viên. Qua đó người ta thấy những thành tích như công an quận 9 (TPHCM) đánh trẻ em nằm viện, cán bộ xã Đại Hòa Lộc (Bến Tre) dùng súng bắn trâu hàng xóm đi lạc và dùng luật rừng để nói chuyện với bà con, chuyện cán bộ y tế xã Tân Điền (Tiền Giang) ăn chặn tiền bồi thường dịch cúm gà, chuyện CSGT nhận tiền mãi lộ của cánh xe tải... Tất cả đều là những chuyện cũng bình thường như ăn uống, hít thở. Tất cả những chuyện "bình thường" này được gọi là những "ức chế" mà người dân phải chịu đựng từ bao năm nay và có thể coi như là một bình "xúp de" có thể xì ra bất cứ lúc nào.

Nhưng nếu so sánh sự bất mãn của người dân về cung cách đối xử của nhà nước như một nồi xúp de thì đúng là sự bất mãn về tình trạng bất công, tình trạng phân chia giai cấp đang là một trái bom nổ chậm ngay trong lòng chế độ. Ngày hôm nay đây, nếu nhắc đến nạn tham nhũng, nạn đầu cơ đất, nạn chiếm đoạt của công... đang tạo nên những triệu phú đô la bất chính, đang làm thiệt hại cho nhà nước hàng tỉ đô la và đang nhúng cả triệu người vào tình trạng nghèo khó thì chắc chắn người ta sẽ nghĩ ngay đến các cán bộ nhà nước, cán bộ đảng đang như những con đỉa hút máu trên cơ thể của đất nước.

Trong một vụ bố ráp các quán karaoke nhưng thực ra là mại dâm trá hình, cảnh sát Đồng Tháp đã tính toán rằng phần lớn là quan chức, cán bộ đảng viên (70%). Họ ngang nhiên đi chơi bằng xe bảng số xanh (xe nhà nước) và dĩ nhiên không ai bỏ tiền túi ra chi cho những "thước phim đen" của họ cả. Chuyện này nếu đem kể thì có lẽ bà con họ cười vào mũi vì bất kỳ một người nào cũng có thể kể trường hợp khác còn nghiêm trọng hơn gấp trăm lần. Một chuyện mà ai cũng biết là tình trạng đất công đang bị bán một cách công khai đem lại những nguồn lợi kếch xù. Điều đau ở chỗ là những vùng này đã được quy hoạch để xây nhà cho người thu nhập thấp.

Trong khu phố tôi đang ở, căn nhà "xịn" nhất là tài sản của ông bí thư. Ngay sau khi căn nhà hoàn tất, bà con đã kháo nhau về cơ ngơi này, nào là với đồng lương công chức đào đâu ra tiền xây nhà ba tấm, nào là về kiến thức bí thư chỉ biết đánh vần thì tài cán nào ngồi vào được cái ghế béo bở kia ? !... Ở cơ quan người ta kháo nhau hết ông trưởng phòng này đến bà bí thư kia sở hữu hai căn nhà và vài ba lô đất ở ngày ngày sinh lãi, có người thì "chỉ" có một căn nhà cho mướn nhưng với giá đắt như một căn hộ ở Tokyo (5000 USD). Tóm lại một sự thực đã thành chân lý ở nước ta, một nước đang lầm lũi theo chủ nghĩa xã hội là : người giàu đích thị là có đảng tịch và hễ có đảng tịch thì phải giàu.

Trong các kỳ họp quốc hội, tình trạng mua xe con (bằng ngân sách nhà nước) một cách phung phí lại được đem ra thảo luận nhưng chưa hề được xử lý. Số tiền này vào khoảng 30 đến 40 triệu USD/năm được gọi là để phục vụ cho các "đầy tớ của nhân dân" có điều kiện đi lại. Trong khi đó các "ông bà chủ" phải chắt chiu để có thể mua được một căn hộ trả góp trong ... 100 năm. Trong khi đầy tớ "đốt" 10 triệu USD hàng năm để nhậu rượu thì lại có những ông bà chủ khác quần quật suốt ngày cũng chỉ kiếm được không đầy 10.000 đồng/ngày. Với "thu nhập" như thế thì xác suất con bị đuổi học vì không trả học phí là 100%. Hiện nay ngay tại một huyện của thành phố Sài Gòn tỷ lệ học sinh bỏ học đã là 24%, và trên toàn thành phố có đến 50 phường có tỉ lệ nghèo lên đến 40% (2001).

Trong một bài báo cáo năm 2003, các chuyên gia của UNDP đã công bố chỉ số Gini - tỷ số phản ánh chênh lệch giàu nghèo - của Việt Nam là 36,7 nghĩa là cao hơn những quốc gia giàu có như Nhật, Thụy Sĩ. Hiện diện trong buổi họp, ông Lê Đăng Doanh, một chuyên gia kinh tế và là cố vấn cho chính phủ Việt Nam đã phải đặt câu hỏi là nếu cứ cái đà phát triển như thế này, đến khi giàu có bằng những nước kể trên, mức chênh lệch giàu nghèo sẽ còn tới đâu ? Cũng theo ông Doanh, hiện tượng "giàu đột biến" từ những nguồn đầu cơ đất đai và chuyển nhượng bất động sản phi chính thức càng ngày càng làm con số cách biệt này lớn ra, và đặc biệt là tầng lớp "giàu mới" này không hề tạo ra công ăn việc làm cho xã hội, không góp phần vào việc xóa nghèo cho cộng đồng. Nói tóm lại, sự phát triển khập khiễng này chỉ đưa đất nước ngày một lún sâu vào bất công.

Trở lại vụ bạo động ngày 21/3 vừa qua, một bác xe ôm chứng kiến sự việc đã cho biết chỉ có một số trong 400 người tụ tập đã tham gia vào việc đốt xe cảnh sát nhưng số người còn lại hoàn toàn thụ động và quan sát. Làm như họ đang đốt xe bằng mắt vậy. Một chi tiết cũng cần quan tâm là trong suốt hai tiếng khi dân chúng tấn công trụ sở đội 1 nằm trên đường Nguyễn Khắc Nhu cách nơi đốt xe khoảng 200 mét, không hề thấy bóng cảnh sát 113 vì theo người dân, việc này sẽ làm tình hình xấu đi. Cứ như là lúc ấy người dân đã quên nỗi sợ "truyền thống" và sẵn sàng trút giận lên đầu bồ câu (tiếng lóng gọi cảnh sát cơ động) hoặc những biểu tượng của nhà nước.

Điều này có thể cho chúng ta một nhận xét đầu tiên sau vụ việc này là những bất công trong xã hội đã tạo ra quá nhiều ức chế trong đại đa số tầng lớp dân chúng và quả thực nó đang là những quả bom nổ chậm có thể bùng phát bất cứ lúc nào.

Sau vụ việc, năm người bị câu lưu điều tra, nhưng đại đa số người dân đã tự cho mình một lời kết án : "Mình chỉ là những kẻ thấp cổ bé họng". Tôi có cảm tưởng đây là những lời tuyên chiến âm thầm của một tầng lớp chiếm đa số nhưng đang sống trong nghèo đói và bất công đối với một thiểu số giàu có đang nắm trong tay quyền sinh sát.

Sài Gòn, 28/3/2005
Phan Kiến Quốc

 

Công An Cướp Đất Nhà Thờ Xung Đột Với Giáo Dân Tại Huế
(LÊN MẠNG THỨ BA 29 THÁNG BA 2005)

Bản tin "Đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Giáo phận Huế" lần này cho thấy tình hình Công Giáo một số địa phương ở Huế đang bị công an đàn áp dữ dội. Linh mục Đặng Văn Nam, Quản xứ Địa sở Cự Lại-Kế Sung và Hội đồng Giáo xứ đại diện toàn thể tín đồ Công giáo của Họ giáo Kế Sung, thuộc xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã gửi Một "Lời kêu cứu và bản tường trình về sự biến Kế Sung" cho Thủ Tướng CSVN Phan Văn Khải và các cấp cán bộ trung ương và Huế để tường trình sự việc...

Vấn đề đơn giản : cán bộ cướp đất giáo xứ để làm nhà và cấm lớn tiếng. Câu chuyện tóm gọn như sau :

"... Bởi vì, vào ngày hôm qua (28/02/2005), có ông Bá và ông Thẻo, là cán bộ của UBND xã Phú Diên đến nhà chị Linh, một tín đồ Công giáo của Họ giáo Kế Sung, nói rằng ông Quỳnh sắp làm nhà, chị đừng nói tiếng to làm gì..."

Sau đó, một lá thư ký ngày 08-03-2005 cũng từ Phú Diên, cũng gửi Thủ Tướng và các cấp, cũng ký tên "linh mục Đặng Văn Nam, Quản xứ Địa sở Cự Lại-Kế Sung và Hội đồng Giáo xứ đại diện toàn thể tín đồ Công giáo của Họ giáo Kế Sung..." rằng xin quý ngài trả đất giáo xứ giùm.

"Như chúng tôi đã trình bày lên Quý vị lãnh đạo cấp Trung Ương và cấp tỉnh Thừa Thiên Huế về vụ việc có thể xảy ra trên thửa đất đang tranh chấp giữa Họ giáo và gia đình ông Trần Ngọc Quỳnh và ông Trần Ngọc Tuấn, qua Đơn Xin Can Thiệp (lần thứ 4) đề ngày 01 tháng 03 năm 2005.

Đúng như thông tin mà chúng tôi được nghe, vào sáng ngày 07 tháng 03 năm 2005, lúc 6g30, gia đình ông Quỳnh và rất nhiều người đến thửa đất đang tranh chấp để đào móng làm nhà.

Trước tình hình như thế, tôi (linh mục Quản xứ) và ít bà mẹ tín đồ Công giáo đến gặp ông Quỳnh để cố gắng trao đổi lần nữa. Chúng tôi xin ông Quỳnh tạm hoãn việc làm nhà, để chờ thêm một thời gian nữa thôi, sau khi cấp Trung Ương quyết định, rồi ông làm nhà thì tốt đẹp mọi sự hơn. Sau đó chúng tôi đã giải thích vì sao chúng tôi xin ông tạm ngưng làm nhà trên thửa đất đang tranh chấp và khẳng định rằng theo Luật Đất Đai, khi UBND tỉnh giải quyết không thỏa mãn cho người dân, thì người dân có quyền khiếu nại lên cấp Tối Cao. Vậy nếu ông vẫn quyết định làm, thì chúng tôi buộc lòng bảo vệ đất của Họ giáo chúng tôi.

Thế nhưng, ông Quỳnh vẫn quyết định đào móng, thì các bà mẹ tín đồ Công giáo liền lấp lại, không cho đào, để rồi dẫn đến có đôi chút xô xát nhau và tranh cãi một hồi. Lúc này, tôi lại nêu các lý do cần thiết về pháp luật, thì phía ông Quỳnh tạm ngưng một lúc. Khi đó, chúng tôi thấy ông Bá (thôn trưởng), ông Lai (công an thôn) và ông Bồi (chủ tịch hội Nông dân) nói rằng cứ làm đi. Các cán bộ này đứng ra công khai hướng dẫn. Thế là phía ông Quỳnh bắt đầu làm lại và dẫn đến vụ việc nghiêm trọng hơn. Chúng tôi mới nói rằng : như vậy đúng là đường hướng chủ mưu của xã Phú Diên, đứng sau lưng ông Quỳnh để thúc đẩy ông bằng mọi giá phải làm nhà dù có xô xát, có rạn nứt tình nghĩa giữa người dân với nhau, giữa các tôn giáo với nhau ! ! ! Tư cách đại diện của chính quyền địa phương là như vậy sao ? ? ?

Hậu quả dẫn đến như sau :

Các phụ nữ tín đồ Công giáo không cho họ đào, thì nhiều phụ nữ (trong đó có cô bí thư của hội Phụ nữ) được mời đến để ủng hộ ông Quỳnh, vây quanh bảy phụ nữ Công giáo. Họ tập trung nhiều đến nỗi nhìn đâu cũng là người và người, đủ mọi thành phần, trong đó hai phần ba là phụ nữ trẻ và thanh niên. Như đã bàn tính trước, nhóm phụ nữ này nhắm trọng tâm vào ba phụ nữ Công giáo phản đối mạnh nhất, tức là bà Hương, bà Linh và chị Thu Hà. Tình hình mỗi lúc một căng thẳng !

Chúng tôi điện thoại khẩn cấp đến các cơ quan chức năng để xin can thiệp như trong Đơn Xin Can Thiệp đã gởi trước đó ít ngày. Thế mà chúng tôi không thấy một đại diện nào từ cấp xã, huyện, tỉnh đến can thiệp ? ! ! !

Nỗi bức xúc của chúng tôi càng lớn. Các phụ nữ Công giáo liền kéo về Nhà thờ (còn lại chị Hà) để chuyển một chiếc quan tài sang thửa đất tranh chấp, để có ai trong chúng tôi chết thì chôn luôn !

Nói đến chiếc quan tài là nói đến nguồn gốc của sự bức xúc tột cùng của chúng tôi. Chúng tôi cùng nhau tâm sự rằng chắc là chuyến này phải có người hy sinh, không thể sống trong một sự dồn ép vào bước đường cùng, khi mà cán bộ xã, công an xã luôn hù dọa người dân. Chẳng hạn có đến bốn lần cán bộ đến gặp bà Linh (trong đó hai lần là ông Lộc, trưởng công an xã), nói rằng ông Quỳnh sắp làm nhà, chị đừng to tiếng làm gì, nếu không sau này ký giấy tờ cho con cái sẽ khó khăn. Hay họ còn tung tin rằng bà nào ra cản đường sẽ còng hết, bắt lên xe thùng. Tin khác rằng bà nào nhảy vào cản việc làm ông Quỳnh sẽ mất mạng. Những hung tin như thế cứ dồn dập, đã làm xuất hiện trong lòng mỗi người chúng tôi hai xúc cảm trái nghịch : vừa làm chúng tôi thêm phần lo sợ, vừa làm cho sự bức xúc trong chúng tôi càng tăng lên, đến nỗi trong khi nói chuyện với nhiều tín đồ Công giáo, tôi nghe có người bộc phát ý tưởng quẩn rằng thôi thì dùng xăng mà tự thiêu để nói lên sự uất ức bị dồn nén...

Xin trở lại diễn tiến của vụ việc. Khi các phụ nữ Công giáo chuyển quan tài đến thửa đất đang tranh chấp, thì lực lượng thanh niên và phụ nữ phía ông Quỳnh, dưới sự chỉ đạo của các cán bộ xã, tập trung tất cả để cản ngăn, không cho các phụ nữ Công giáo mang quan tài vào. Các phụ nữ Công giáo cố tìm đường vào. Trong lúc đó, tại đất tranh chấp thì chị Thu Hà, phụ nữ Công giáo, đang vùng vẫy giữa vòng vây kín của các phụ nữ do cán bộ xã chỉ đạo. Chị bị số phụ nữ này lột áo ngoài rồi lấy tấm mền trùm lại. Thấy vậy, bà Linh chạy đến cản và cứu được. Phần tôi, tôi đến bên một thanh niên đang trộn hồ, yêu cầu tạm ngưng thì anh ta cho tôi một trận mưa cát và ximăng, phủ từ đầu xuống toàn thân. Cát và ximăng chỉ vào mắt tôi, chứ không gây thương tích gì.

Tình hình căng thẳng có phần giảm đi. Lực lượng đông đảo phía ông Quỳnh, dưới sự hướng dẫn của các cán bộ xã, đã lùa dần các phụ nữ Công giáo và tôi ra khỏi thửa đất đang tranh chấp, đồng thời một số thanh niên khác làm ngay những hàng rào chắn ngang lối vào. Do đó, từ từ tất cả phụ nữ Công giáo không còn ai ở lại được trong đó. Họ dùng lưới B40 chắn ngang con đường bêtông và nhiều thanh niên án ngữ tại các hàng rào chắn.

Đứng ngoài thửa đất tranh chấp, các phụ nữ Công giáo lớn tiếng tranh luận. Còn tôi, tôi nói những câu tại sao : chẳng hạn tại sao đại diện chính quyền không đến can thiệp mà để người dân xâu xé nhau ? Tại sao chính quyền địa phương lại xúi giục, thúc đẩy ông Quỳnh làm nhà cho bằng được, trong khi biết rằng Họ giáo đang khiếu nại ? Phải chăng chính quyền địa phương muốn chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, muốn chia rẽ các tôn giáo với nhau hay sao ? Nhìn hành động của các cán bộ xã, chúng tôi phải đau xót thốt lên lời : Việc làm này cho thấy chính quyền địa phương muốn đàn áp tôn giáo. Nếu vậy, thì hãy giết chúng tôi luôn đi ! ! ! Chúng tôi nhận thấy thật tiếc cho quê nhà chúng tôi có những đại diện chính quyền mang bộ mặt cường hào ác bá của thời đại mới, họ tung hoành ngang dọc chẳng sợ ai, chẳng xem ai ra gì, coi thường pháp luật ! Phải chăng "phép vua thua lệ làng" ? ? ?

Sau đó, vào khoảng 9 giờ, có nhiều linh mục đến thăm hiện trường, trong đó có linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Hoàng, hạt trưởng hạt Hương Phú, được Tòa Tổng giám mục phái đến. Ngài đến hàng rào chắn B40 mong gặp ông Quỳnh hay người đại diện phía ông Quỳnh để nói chuyện, nhưng phía ông Quỳnh trả lời là bận việc không gặp được. Thế là ngài đành phải trở về Nhà thờ. Và đến khoảng 13 giờ kém thì mỗi người chúng tôi ai nấy trở về gia đình.

Tường trình vụ việc trên đây, chúng tôi khẩn thiết kính xin Quý vị lãnh đạo cấp Tối Cao sớm cứu xét cho chúng tôi, để chúng tôi ra khỏi bầu khí căng thẳng mà mỗi ngày chúng tôi phải chịu đựng từ những vị đại diện chính quyền không còn tư cách lãnh đạo là sống và làm việc vì hạnh phúc của nhân dân. Như thế, chúng tôi mới có được cuộc sống an lành và tự do tôn giáo mà cùng nhau chung sức xây dựng đất nước mỗi ngày một tốt đẹp hơn trong khả năng mỗi người chúng tôi có thể.

Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành tri ân và rất tin tưởng cùng hy vọng Quý vị lãnh đạo cấp Tối Cao giải quyết thỏa đáng cho chúng tôi.

Trân trọng kính tường trình..."

Đặc biệt, hồ sơ lần này có nhiều tấm ảnh "về cuộc đấu tranh đòi công lý của linh mục quản xứ và giáo hữu Kế Sung trong ngày 07-03 đó. Tác giả các bức hình là một thanh niên trong giáo xứ, làm chủ một quày hàng tạp hóa. Công an đang trả thù anh bằng cách cấm dân quanh vùng không được đến mua hàng hóa của anh nữa. Xin Quý vị làm vang dội tiếng nói bất khuất của Kế Sung và tiếp tục cầu nguyện cho giáo xứ anh dũng này. Xin chân thành cảm ơn Quý vị.

Nhóm Phóng viên từ Huế

 

CSVN Vẫn Tiếp Tục Đàn Áp Tôn Giáo
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

Tin Lành

Hà Nội chiêu dụ mục sư Quang và truyền đạo Phạm Ngọc Thạch rút đơn chống án.

Tin của Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam gửi từ Washington DC ngày 21 tháng 3, cho biết chính quyền VN đang "chiêu dụ" MS Nguyễn Hồng Quang và Truyền Đạo Phạm Ngọc Thạch "hãy rút đơn chống án, rồi sẽ được tha" ! Quá biết đòn phép lừa đảo này, hai vị đã từ chối ; vì chắc chắn sau khi rút đơn chống án, Hà Nội sẽ vịn vào lý do nộp đơn lại quá hạn, rồi tuyên bố hai ông đã nhận tội và chấp nhận bản án (3 năm và 2 năm) trong phiên tòa sơ thẩm. Gia đình hai vị đã chính thức yêu cầu LS Nguyễn Văn Đài biện hộ. Lịch trình xét xử của tòa án Sài Gòn trong tháng 3 đã đưa ra, theo đó không có phiên tòa xử MS Quang và truyền đạo Thạch.

Công an ngăn cản thờ phượng ở Tiền Giang

Tin của đài phát thanh RFA cho biết vào lúc 11 giờ sáng ngày 6/3, một nhóm tín đồ Tin Lành 18 người thuộc Hội Thánh Phúc Âm Cộng Đồng đang tổ chức thờ phượng tại ấp Tân Vinh, xã Tân Lập 2, huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang, thì công an và đại diện chính quyền địa phương đã ập vào buộc phải chấm dứt buổi thờ phượng và lập biên bản vi phạm.

Những người này đã trưng dẫn chỉ thị của Phan văn Khải, Thủ Tướng VN ký ngày 4-2-2005 nói về chính sách mới đối với đạo Tin Lành trên cả nước, nhưng "Công An cho rằng đây là văn bản giả mạo". Cũng trong buổi thờ phượng này, mục sư Vũ quốc Huỳnh từ Sài Gòn xuống thăm đồng đạo cũng bị Công An bắt giữ 18 tiếng đồng hồ, tuy đã được thả, nhưng ông vẫn bị giữ hết giấy tờ tùy thân và được lệnh phải "làm việc" tiếp trong những ngày sắp tới.

Phật Giáo Hòa Hảo

Từ quận Thoại Sơn, tỉnh An Giang, bà Nguyễn Thị Bê, 71 tuổi, cư ngụ tại số 1054, tổ 7, ấp Hòa Thới, cho biết hai con bà đã bị công an địa phương bắt vào ngày 25/2. Ông Trần văn Hoàng, tự Ba Hùng, 47 tuổi, tu sĩ Phật Giáo Hòa Hảo đã bị bắt cùng với người em Trần Văn Thắng, 35 tuổi vì tội truyền đạo tại nhà. Bà Nguyễn Thị Hoàng Em, vợ ông Thắng, cho biết công an đã tịch thu tất cả dĩa CD và băng thu thanh Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ, video Sóng Thần, 1 máy video camcorder, 1 máy sang băng, 1 máy vi tính, 1 máy radio cassettes và 1 máy hát DVD. Bà Hoàng Em bị quản thúc 2 ngày, nhưng ông Trần Văn Hoàng và Trần Văn Thắng vẫn còn bị giam tại nhà tù quận Thoại Sơn. Bà Bê và bà Hoàng Em vẫn chưa được thăm thân nhân.

Phật giáo

Công An Việt Nam thường xuyên khủng bố TT Thích Thiện Minh và gia đình.

Thượng tọa Thích Thiện Minh, người được Hà Nội trả tự do trước hạn định nhân dịp "đặc xá" Tết Ất Dậu 2005 cho hay ông bị công an canh chừng thường xuyên, khủng bố và dọa giết nếu tiếp tục tố cáo tội ác của chế độ Hà Nội trước dư luận thế giới.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh, 51 tuổi, ở tù từ năm 1979 với bản án chung thân và sau đó bị thêm bản án chung thân thứ hai năm 1986 khi cùng các tù nhân khác biểu tình đòi nhân quyền.

Ngày 21-2-05, Ngài gửi thư tới Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ tố cáo nhà cầm quyền VN đàn áp tôn giáo, giam giữ nhiều tù nhân chính trị và tôn giáo. Và mới đây vào ngày 25/3 thượng tọa Thích Thiện Minh lại khẩn báo về tình trạng bị công an uy hiếp thường trực trong thời gian hai tuần lễ vừa qua, như nơi Thượng Tọa cư trú luôn luôn có 3 công an canh gác, theo dõi và đặt hệ thống phá sóng nhằm kiểm soát đường dây điện thoại cũng như cắt sóng liên lạc ; người đến thăm Thượng tọa đều bị kiểm soát ; nhiều kẻ nặc danh gọi đến nửa khuya hăm dọa Thượng tọa phải chấm dứt liên lạc với các Tổ chức Nhân quyền Quốc tế, chấm dứt trả lời các đài quốc tế, và họ hăm dọa : "nếu không nghe thì hãy liệu hồn, sẽ cho côn đồ hành hung hoặc bị tai nạn xe cộ. Đưa vào nhà thương chích cho mũi thuốc là tàn đời, câm điếc hay điên loạn !"

Đại Đức Thích Viên Phương bị bắt

Ngày 30 Tháng Ba năm 2005, vào lúc 17 giờ 30 (giờ Việt Nam) công an chận bắt Đại Đức Thích Viên Phương tại ngã tư Phú Nhuận, nơi giao tiếp các con đường Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Phùng và Nguyễn Kiệm. Đầu tiên, Ngài đã bị cảnh sát chặn lại với lý do là xe không có kính chiếu hậu. Những người qua đường thấy lạ đến xem và phản ứng với cảnh sát rằng : "Không có kính chiếu hậu thì phạt tiền thôi, sao lại bắt người ta ?". Nhưng cảnh sát vẫn giữ Thầy và xe không cho đi. Sau đó, Đại Đức Thích Viên Phương đón xe ôm để về chùa Giác Hoa nơi Thầy cư ngụ. Nhưng một toán công an liền chận xe ôm, bắt Thầy đẩy vào một chiếc xe taxi chở đi mất, không biết đưa về đâu.

Thượng Tọa Thích Viên Định, viện chủ chùa Giác Hoa, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, có hỏi thăm sở công an phường ở quận Bình Thạnh, nhưng công an trả lời không biết gì về việc này.

HT Thích Huyền Quang không tiếp sư ông Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng Thân Làng Mai

Hôm 26 Tháng Ba cơ quan công quyền Bình Định đã đến tu viện Nguyên Thiều năn nỉ Đức Tăng Thống nhận lời tiếp sư ông Nhất Hạnh vào ngày 31 Tháng Ba. Sau lần trao đổi này, Đức Tăng Thống đã nhập thất để đọc Đại Tạng Kinh kể từ ngày 28 Tháng Ba năm 2005. Ngài cho niêm yết trước Phương Trượng lời công bố với khách thập phương là trong thời gian nhập thất Ngài không tiếp bất cứ ai, kể cả sư ông Thích Nhất Hạnh. Nhưng liền đấy, công an đã đột nhập vào tu viện xé tờ thông báo này. Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang liền tự tay viết lại bản Thông Báo Nhập Thất rồi ký tên, đóng dấu và cho dán ngoài cửa vào Phương Trượng. Có thể vì thấy thủ bút, chữ ký cùng triện của Đức Tăng Thống, nên công an chưa dám tháo gỡ.

 

. Lộ đồ 9 Ðiểm Ðưa VN Tới Dân Chủ Ða Ðảng của BS Nguyễn Ðan Quế
(LÊN MẠNG THỨ BA 29 THÁNG BA 2005)

Ðây là lần đầu tiên nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Ðan Quế đưa ra một hướng đi dân chủ cho Việt Nam và ông đã được đài VOA phỏng vấn ngày 26-3-2005 với nội dung như sau :

Tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam đã được dư luận thế giới chú ý khá nhiều trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau khi các giới chức Bộ Ngoại giao Mỹ yêu cầu Quốc hội dành thêm thời giờ để họ thảo luận với các giới chức ở Hà Nội về việc cải thiện vấn đề tự do tôn giáo. Nhân dịp này, phái viên truyền hình của Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ đã phỏng vấn Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, một nhân vật tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ Việt Nam từng bị chính quyền Hà Nội giam cầm trong nhiều năm. Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, hiện cư ngụ tại Thành phố Sài Gòn, sau khi được nhà chức trách phóng thích trong đợt đặc xá nhân dịp Tết Nguyên đán vừa qua. Sau đây là những nội dung chính của cuộc phỏng vấn :

VOA : Xin ông cho biết một cách tổng quát về tình hình nhân quyền ở Việt Nam hiện nay ?
- Tôi khẳng định với quí vị rằng nhân quyền ở Việt Nam không những không được cải thiện mà còn có chiều hướng suy giảm, đi xuống trong những năm gần đây. Các nhà hoạt động đối lập đều bị bỏ tù, các tôn giáo bị lũng đoạn - nhà nước chỉ công nhận các giáo hội do Ðảng làm ra mà người dân Việt Nam thường gọi là giáo hội quốc doanh. Muốn đi tu phải được phép của chính quyền. Quyền tự do sinh sống, đi lại, tôn giáo của các dân tộc thiểu số cũng bị vi phạm nặng nề. Ðể tránh bị dư luận quốc tế lên án, phương cách của CS ngày càng tinh vi hơn - lỏng tay với quần chúng nhưng tập trung vào những người lãnh đạo, từ theo dõi, cô lập, đến quản thúc, bỏ tù.

VOA : Phải chăng dân chúng ở Việt Nam hiện nay vẫn được quyền công khai bày tỏ quan điểm và sử dụng mạng lưới thông tin toàn cầu Internet để liên lạc với nhau ?
- Việt Nam hiện nay không có tự do phát biểu công khai trên báo hoặc trên Internet. Tôi khẳng định với quí vị điều đó. Chính quyền Hà nội thường rêu rao có hơn 500 tờ báo và hàng chục đài truyền thanh truyền hình, nhưng tất cả đều do nhà nước điều hành. Các tin tức đều bị kiểm duyệt kỹ lưỡng. Thông tin chỉ có một chiều. Cho đến nay, sang đến thế kỷ 21, Việt Nam vẫn chưa có báo chí tư nhân hay là một đài truyền hình tư nhân. Bất cứ ai chỉ trích chính sách sai lầm của Ðảng đều bị công an đe dọa, đuổi việc, khai trừ nếu là đảng viên. Tiếp tục chống đối, không chịu khuất phục sẽ bị tống giam. Tất cả các tài liệu đấu tranh đều phải in lén và phổ biến, phát tán bằng cách chuyền tay nhau.

VOA : Các giới chức chính phủ Việt Nam vẫn thường tuyên bố là họ hoàn toàn tuân thủ các qui định của công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền Dân sự và Chính trị. Ông có thấy bằng chứng nào cho thấy tuyên bố đó là đúng sự thật hay không ?
- Không ! Chúng tôi không thấy bất cứ bằng chứng nào cho thấy chính quyền Hà Nội tôn trọng Công ước về Quyền dân sự và Chính trị (ICCPR). Trái lại, chúng tôi chỉ thấy một loạt những vi phạm như sau : người dân Việt Nam hoàn toàn không có quyền bầu cử trực tiếp các nhà lãnh đạo của họ ở cấp cao như nguyên thủ quốc gia, thủ tướng chính phủ vân vân... Công ước về Quyền Dân sự và Chính trị đã được Việt Nam ký từ năm 1982 nhưng chỉ có trên giấy tờ, còn trong thực tế hoàn toàn bị chà đạp bởi điều 4 của hiến pháp -- cho phép đảng CS độc quyền cai trị, và nghị quyết 31/CP -- cho phép giam người từ 6 tới 2 năm mà không cần xét xử. Những người hoạt động chính trị khi được thả ra đều không được phục hồi các quyền công dân, thường bị theo dõi gắt gao, đi lại bị kiểm soát, không cho cư trú nơi khác dù là chỉ đi du lịch ngắn ngày. Chúng tôi yêu cầu chính quyền Hà nội phải thả hết tù chính trị và phục hồi hoàn toàn các quyền công dân và phải để họ được công khai phát biểu quan điểm chính trị của họ.

VOA : Chính phủ Việt Nam đã dùng những cáo buộc làm gián điệp để làm một cái cớ buộc tội ông và nhiều người khác. Xin ông cho biết là còn có những ai bị cáo buộc về tôi gián điệp, là tội trạng mà giới hữu trách Hà Nội thường dùng để giam cầm những người dám nói thẳng ý nghĩ của mình ?
- Ðường lối của CS là vu cáo những người hoạt động chính trị vào tội làm gián điệp cho ngoại bang nếu chúng tìm thấy một chút dấu vết có liên hệ với người ngoại quốc hay người Việt ở nước ngoài. Nếu không gán được tội danh gián điệp thì chúng chuyển sang một tội danh khác mà tôi xin nói nguyên văn là "lạm dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích của công dân." Ðây cũng là lý do họ mang tôi ra xử trước tòa án sau khi đã thất bại trong âm mưu gán ghép tội gián điệp. Số người bị chính quyền Hà nội ghép vào tội gián điệp hoặc lạm dụng tự do dân chủ chúng ta không biết được con số chính xác vì bản án thường không được sự công khai hoặc không được đăng báo.

VOA : Trong nhiều năm qua ông đưa ra chủ trương cho rằng dân chủ là nền tảng để hỗ trợ cho nhân quyền Việt Nam, và theo tôi được biết, ông có phổ biến một tuyên cáo để trình bày về phương cách xây dựng dân chủ cho Việt Nam. Xin ông cho biết những bước đi cụ thể mà ông kêu gọi thực hiện để có được dân chủ cho Việt Nam ?
- Chúng tôi đưa ra một lộ trình 9 điểm nhằm dân chủ hóa Việt Nam :
- Thứ nhất, đòi chính quyền Việt Nam chấm dứt nhiễu sóng các đài phát thanh VOA, RFA tiếng Việt - nghĩa là phải để cho làn sóng thông tin được tự do loan truyền vào Việt Nam.
- Thứ hai, phải có tự do báo chí - các đài truyền thanh truyền hình cũng phải được các nhà hoạt động sử dụng để nói lên quan điểm của mình.
- Thứ ba, phải thả hết tù chính trị và tôn giáo, phải để Hội Hồng thập tự Quốc tế giám sát toàn bộ các nhà tù ở Việt Nam.
- Thứ tư, chính quyền Việt Nam phải tuân thủ hoàn toàn những tôn chỉ và nguyên tắc của LHQ về tự do tôn giáo, phải đối xử công bằng đối với tất cả mọi tôn giáo.
- Thứ năm, phải hủy bỏ điều 4 hiến pháp nhằm tự cho phép Ðảng CSVN độc quyền lãnh đạo đất nước, phải hủy bỏ ngay chỉ thị 31/CP nhằm cho phép công an giam giữ người bất đồng chính kiến 6 tháng đến 2 năm mà không xét xử.

Sau khi đạt được những kết quả cụ thể về những điểm nêu trên thì dân tộc chúng ta, chúng tôi sẽ đòi hỏi phải tiến hành dân chủ hóa bằng những bước tiếp theo.
- Thứ sáu, Bộ Chính trị Ðảng CSVN phải tôn trọng nhân quyền, dân quyền và tài quyền của dân tộc Việt Nam.
- Thứ bảy, tách Ðảng ra khỏi chính quyền ở tất cả các cấp.
- Thứ tám, giao cho Quốc hội hiện nay soạn thảo luật bầu cử đa nguyên, công bằng, tự do.
- Thứ chín, bộ máy hành chánh, đã tách khỏi Ðảng và chiếu theo luật bầu cử mới, tổ chức bầu cử tự do, công bằng, có giám sát quốc tế để bầu ra quốc hội lập hiến.

VOA : Bác sĩ Quế, xin ông vui lòng trả lời cho chúng tôi một câu hỏi chót. Ông có nghĩ rằng áp lực của những chính phủ dân chủ ở phương Tây và những nước khác cộng với những sự vận động của các tổ chức độc lập trên thế giới đang mang lại những tác động tích cực cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam ?
- Ðúng. Chúng tôi nghĩ rằng những áp lực của chính phủ Hoa kỳ cùng các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền đã giúp cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam tiến lên và càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Rõ ràng, mở cửa về kinh tế và làn gió dân chủ nhân quyền đang đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa của dân tộc chúng tôi. Nhân dịp này chúng tôi xin chân thành cám ơn chính phủ Hoa kỳ, Quốc hội Hoa kỳ, các cơ quan truyền thông đại chúng Hoa kỳ, The Freedom House, The Kennedy Human Rights Center, Ủy ban Nhân quyền của Hàn lâm viện Hoa kỳ, Ký giả không biên giới, Amnesty International, Working Group on Arbitrary Prisoners của LHQ, vân vân... và hàng triệu người Việt Nam định cư trên thế giới đã đóng góp tích cực cho công cuộc đấu tranh vì công lý, tự do, và dân chủ của dân tộc Việt Nam thông qua những việc quí vị đã tích cực lên tiếng đòi CSVN phải trả tự do cho tôi.

 

Vài hàng, ba mươi tháng tư 2005
Bùi Xuân Quang
 (LÊN MẠNG THỨ TƯ 13 THÁNG TƯ 2005)

1975-2005. Ba mươi năm toàn trị trên đất nước Việt-Nam, Đảng Cộng sản Việt-Nam đã chơi hết những lá cờ đã có từ 1975. Tất cả những niềm ước vọng của người dân đã không thành, những lời hứa hẹn của ban lãnh đạo đã nói hết. Có nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc là gương mẫu cho Việt-Nam, Trung Quốc không thay đổi thì Việt-Nam cũng không có đổi thay. Quan điểm này chỉ đúng một phần nào thôi. Không thể ví Việt-Nam với Trung Quốc. Vì diện tích và dân số khác xa nhau. Đấy là không nói đến lịch sử và vị trí. Chúng ta khó tưởng tượng quân đội Việt-Nam có thể nhúng tay vào một cuộc tàn sát thanh niên như vụ tàn sát Thiên An Môn. Việt-Nam là một nước nhỏ, sinh viên và thanh niên, không người này thì người khác, đều có liên hệ với những người trong quân đội. Hiện giờ, người dân, người lính miền Bắc không còn dễ bị tuyên truyền, hay bưng bít, như thời trước 75.

Sau 30 năm, những vụ tranh chấp cung đình đã bị đưa ra ánh sáng mặt trời, và gần đây bài "báo cáo mật" của ông Lê Đăng Doanh trước bộ chính trị đã "thoát" ra được bên ngoài. Đấy là những dấu hiệu cho thấy chế độ cộng sản Hà Nội đã đến mức không thể tiếp tục trên con đường kinh tế thị trường như hiện giờ, với một một thể chế độc tài Đảng trị, với một ban lãnh đạo không chấp nhận đối thoại với người dân, với một xã hội không có lề luật thật sự.

Lá thư chúc Tết Ất Dậu của HT. Thích Quảng Độ gửi sĩ phu và đồng bào trong và ngoài nước rồi đến lá thư của Thầy Thích Thiện Minh (51 tuổi, 26 năm tù) gửi Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do tôn giáo trên Thế giới chứng minh cho chúng ta tinh thần yêu nước và lòng can đảm của con người Việt-Nam không suy suyển vì thời gian hay vì bị đày đọa. Chúng ta cũng không nên nghĩ rằng phải ở ngoài Đảng mới biết ủng hộ lòng can đảm và yêu nước của một Thích Thiện Minh.

Trong lịch sử nhân loại, chưa một thể chế chính trị nào có thể tự nó biến chuyển, cải thiện, mà không vì áp lực. Đối với chế độ cộng sản Việt-Nam, áp lực của một cường quốc như Hoa Kỳ, tuy có ảnh hưởng như ta đã thấy, không phải tự nhiên mà nó đến, và đến khi nào là do chính sách của chính phủ Hoa Kỳ. Áp lực là kết tinh của bao nhiêu "áp lực" khác. Sau ba mươi năm, phải có những thuyền nhân vượt biển cả để tìm tự do, sống có và chết cũng có, phải có hàng trăm ngàn người bị cải tạo, có những anh hùng phải hy sinh, có người bị tù đày, có những tấm lòng yêu nước bất khuất, tất cả đều là nguồn gốc và sinh lực đưa đến sự bảo tồn dân tộc. Vài hàng, 30 tháng tư 2005, để nghĩ đến và cám ơn những người đã nằm xuống.

Bùi Xuân Quang

 

. Nhận định về vấn đề Dân Chủ Đa Nguyên
Thượng Tọa Thích Viên Định
(LÊN MẠNG THỨ BA 29 THÁNG BA 2005)

Thượng tọa Thích Viên Định là Viện chủ Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định và chùa Giác Hoa ở Sài Gòn, một trong bốn vị Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Năm Ất dậu 1945, Đệ nhị thế chiến chấm dứt, các nước thuộc địa, các nước nhược tiểu như Ấn-Ðộ, Indonesia, Mã-Lai, Philippines... đứng lên giành độc lập, tái lập hòa bình, canh tân đất nước. Riêng Việt Nam bị vướng vào chủ thuyết Mác-Lênin, nên lại tiếp tục một cuộc chiến khác, cuộc chiến ý thức hệ, làm cho non sông chia cắt, huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, mãi đến năm 1975, hòa bình mới tái lập. Phe Mác-Lênin thắng trận, hô vang khẩu hiệu : "Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã hội chủ nghĩa."

Marx cho rằng, sở dĩ có bóc lột, vì có tư hữu các tư liệu sản xuất như ruộng đất, nhà máy. Muốn hết bóc lột, phải quốc hữu hóa tất cả. Nhân dân phải vô sản, chỉ đi làm công cho nhà nước, nên không còn giàu nghèo, không có cạnh tranh, làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu, thì không còn ai bóc lột ai nữa.

Từ 1975-1985, áp dụng đường lối chuyên chính vô sản, ở nông thôn, nhà nước đã quốc hữu hóa ruộng đất cho vào hợp tác xã, ở thành thị thì đánh tư sản, tiểu thương. Tất cả đều vào quốc doanh từ nhà máy đến cửa hàng buôn bán nhỏ. Toàn dân đều đi làm công lấy điểm. Tất cả trở thành vô sản, làm cho dân tộc vừa thoát khỏi chiến tranh, liền rơi vào cảnh đói nghèo, kiệt quệ, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhân dân đau khổ khốn cùng nhưng không ai dám nói. Có một nhà giáo ở miền Trung, đói khổ quá, than thở :

Chiều ba mươi tết, thầy giáo tháo giày ra chợ bán,
Sáng mồng một giáo chức dứt cháo đón mừng xuân.

Rủi thay, lời than thở của anh lọt vào tai chính quyền, nghe nói anh bị bắt làm kiểm điểm 3 tháng trời.

Nhà nước áp dụng chủ nghĩa vô sản, tuy không còn kẻ giàu, người nghèo, không còn ai bóc lột ai nữa, nhưng lại rơi vào cảnh "cha chung không ai khóc", "lắm sải không ai đóng cửa chùa." Ai cũng chỉ đi làm lấy có, xảy ra nhiều chuyện buồn cười như chuyện trẻ con chọc các cụ già trồng cây lấy điểm ở miền Bắc :

Hoan hô các cụ trồng cây,
Mười cây chết chín, một cây gật gù.

Các cụ đáp lại :

Các cháu có mắt như mù,
Mười cây chết hết, gật gù ở đâu ?

(trích sách Nhận định... của HT Quảng-Độ)

Không ngờ, hết thực dân, đất nước ta lại rơi vào chế độ Mác-Lênin, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Khiến cho dân tộc điêu linh, non sông tan nát, tình người đổ vở, làng xóm chia lìa, kẻ lên núi, người xuống biển. Chiến tranh cũng chết, hòa bình cũng chết. Xác người rải rác khắp nơi, trên núi rừng, nơi đồng ruộng, dưới sông, dưới biển, trong trại cải tạo, trong nhà tù, cả trong bụng cá. Chết do hải tặc cũng có, do thuyền hư chết máy cũng có, do bão tố, hết lương thực, chết đói, chết khát cũng có, tình cảnh thật là đau xót thương tâm :

Lưu vực điêu tàn ở Biển Đông
Xương bầy như thú cháy rừng hoang
Nhưng rừng không cháy nào đâu thú
Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan.

Trinh nữ trầm oan nổi giữa dòng
Thân băng ngàn hải lý về sông
Xung quanh không một người than khóc
Chỉ cá trùng dương theo hộ tang.

Viên Linh (Thủy Mộ Quan)

Cứ tính xem số người vượt biên đến được bến bờ tự do bao nhiêu thì người chết dưới biển cũng bấy nhiêu. Thật là đau đớn, hầu như gia đình nào cũng có người chết, người mất tích, người đi xa, biết bao thương binh, góa phụ, cô nhi, biết bao tang tóc, chia lìa, những người may mắn sống sót nay được đón tiếp gọi là Việt kiều yêu nước, còn những người xấu số đã vùi xác dưới biển thì sao ?

Đến nay, năm 2005, trải 60 năm, dù đã hòa bình, dân tộc vẫn tiếp tục bị phân hóa, bất hòa, chia rẽ, mất đoàn kết, nên không vận dụng được tất cả tài năng, sức lực, để cùng nhau hàn gắn những đổ vỡ, mất mát, xây dựng lại xứ sở quê hương. Tất cả đều do chủ thuyết Mác-Lênin chủ trương bạo động đấu tranh giai cấp mà ra.

Nghĩ lại, Việt Nam ta với 4.000 năm văn hiến, với tư tưởng nhân nghĩa, hòa ái, dung hợp, đa nguyên làm chủ đạo, mới dựng nước, giữ nước, mở mang bờ cõi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Một dải non sông tươi đẹp, với dân tình hiền hậu, đoàn kết, yêu thương, nay lại bị lây nhiễm cái chủ nghĩa ngoại lai cực đoan, đấu tranh bạo động, gây ra biết bao đổ vỡ. Chủ thuyết duy vật vô thần đó, đã làm băng hoại xã hội Việt Nam, khiến cho văn hóa, đạo đức suy đồi, giáo dục xuống cấp, kinh tế kiệt quệ, tình người tan nát, tuổi trẻ hoang mang.

Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp bạo động để cướp chính quyền. Sau khi nắm chính quyền rồi, thực hiện chuyên chính vô sản. Nắm giữ chính quyền bằng độc tài, độc đảng, bằng súng đạn, lưỡi lê và nhà tù. Hoặc bằng các thủ đoạn đe dọa, khủng bố, dối gạt, tuyên truyền, bằng bất cứ phương tiện nào, với bất cứ giá nào.

Nhưng sau hơn 70 năm thí nghiệm, chủ thuyết Mác-Lênin đã thất bại, tan rã. Từ năm 1989 đến năm 1991, các nước Liên Xô và Đông Âu đã dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa lạc hậu này, ngày nay chỉ còn sót lại 4 nước, trong đó có Việt Nam.

Sau 10 năm thí nghiệm, áp dụng chuyên chính vô sản từ năm 1975 đến năm 1985, Việt Nam cũng đã thất bại, làm kiệt quệ đất nước. Nếu không đổi mới là chết, nên năm 1986, Việt Nam bắt chước Trung cộng, làm ăn theo kinh tế thị trường tư bản. Nhưng đã 20 năm rồi, vì không đổi mới chính trị, nên nền kinh tế không cất đầu lên nổi, Vì vậy, Việt Nam vẫn còn là một trong mười nước nghèo nhất thế giới, thu nhập bình quân mỗi người một ngày chỉ có hơn một đô la, thua Thái lan đến 5 lần tính theo số liệu điều tra của Quốc Hội Châu Âu năm 2003. Trong khi ở thập niên 1950, Việt Nam là nước giàu nhất nhì châu Á, hơn cả Nhật Bản. Theo kinh tế thị trường tức là chấp nhận có tư sản, không vô sản nữa. Như vậy, Việt Nam đã bỏ đi một nửa chủ thuyết Mác-Lênin rồi, nhưng vẫn còn giữ lại nửa kia là độc tài, độc đảng, duy trì chánh quyền bằng sức mạnh, không có tự do. Tại sao đã theo kinh tế thị trường, mà lại không chịu bỏ hẳn độc tài, độc đảng, không cho dân chúng được tự do, lại chỉ đổi mới nửa chừng, một cách khập khiểng như vậy ? Nên nhớ, khi Việt Nam chịu đổi mới, thì kinh tế khá lên ngay, dân đã bớt đói. Nhưng vì không chịu đổi mới chính trị nên đã 20 năm, đất nước vẫn còn nghèo, không giàu lên được. Hãy xem Nhật Bản, sau khi bị thất bại ở thế chiến hai, họ chú tâm cải cách đất nước theo kinh tế thị trường tự do, đa nguyên đa đảng, nên chỉ sau 20 năm, từ 1945 đến 1965, Nhật trở thành cường quốc kinh tế nhất nhì thế giới.

Đã chấp nhận có tư hữu, có cạnh tranh, có giàu nghèo, mà không chấp nhận Tự do, Dân chủ, lại củng cố độc tài, độc đảng, thì đó là môi trường thuận lợi tạo ra nhiều tệ nạn như : tham nhũng, hối lộ, quan liêu, cửa quyền, hống hách và rất nhiều thói hư, tật xấu, làm cho các nhà đầu tư, cũng như dân chúng đều chán nản, đất nước không thể phát triển nhanh được. Muốn chận đứng những tệ nạn, để phát triển đất nước, thì vấn đề tiên quyết là phải có dân chủ, phải tuân theo các công ước quốc tế về tự do, nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết. Phải có tự do báo chí, tự do ngôn luận, để người dân cùng góp ý, trừ bỏ những tệ nạn trên.

Dầu vì lý do kinh tế phát triển, nhưng phải hy sinh tự do, dân chủ, nhân quyền là không được, và đó cũng không phải là con đường duy nhất. Con người sống không phải chỉ có vật chất là đủ mà còn phải có cả tinh thần. Vật chất là cơm áo, gạo tiền, còn tinh thần là tự do, dân chủ, nhân quyền, đạo đức, tôn giáo. Không phải chỉ ăn là đủ, mà còn phải thở mới sống được. Dân Việt Nam sống mà không dám thở, có miệng ăn mà không có miệng nói. Muốn nói gì phải nhìn chung quanh, xem có ai nghe lén hay không, mới dám nói. Nếu có người nào gan dạ, dám nói, nhẹ thì cũng bị đe dọa, quản thúc, nặng thì bị bỏ tù. Nhưng dù có ai nói được, cũng chỉ mình nói, mình nghe, chứ đâu có phương tiện báo chí, truyền thanh, truyền hình gì để cho người khác nghe được ?

Nhìn ra thế giới chung quanh, các nước đến mùa bầu cử rất sống động, toàn dân đều rộn ràng, vui vẻ, hăng hái, lựa chọn người sáng suốt, tìm ra tổ chức, đảng phái có nhiều ưu điểm nhất, để đứng ra lãnh đạo, nhờ vậy mà đất nước người ta, mỗi ngày mỗi phát triển. Nhìn lại Việt Nam mình không giống ai cả, nhân dân im lặng, thụ động, e dè, sợ sệt như chúng ta đang sống trong một xó xỉnh nào ở thế giới khác, trong một thời đại cổ lỗ man sơ nào khác. Dân không biết ai là người lãnh đạo đất nước, không có quyền lựa chọn, không có sự lựa chọn nào. Mấy mươi năm cũng thế : một chính phủ, một đảng cầm quyền, chẳng có gì thay đổi, vẫn trì trệ, buồn chán, dã dượi, hời hợt, thờ ơ, như chuyện đã rồi. Tuy bề ngoài cũng có chính phủ, cũng có quốc hội, cũng có tòa án, nhưng tuy ba mà một, vì tất cả đều do đảng viên Cộng-sản điều hành. Như quốc-hội là cơ quan dân cử, mà tuyệt đại đa số là đảng viên, nên quốc hội Việt Nam rất ít dân biểu, mà chỉ toàn là đảng biểu. Vì vậy, luật nào đảng muốn là xong ngay, dân có muốn cải cũng không được. Mặc tình, đảng muốn thí nghiệm thế nào cũng được, người dân chỉ còn biết nhắm mắt đưa chân. Dẫu cho nhân loại văn-minh, tiến bộ, Việt Nam vẫn trì trệ, một mình, lạc lõng, lẻ loi. Thế giới ngày nay đã thân tình gần gũi bên nhau, mà nước ta cứ cách biệt đứng ở tận đâu đâu.

Làm sao đến thế kỷ thứ 21 rồi, vào năm Ất dậu 2005, mà Việt Nam vẫn còn cảnh chận đường, bắt bớ, quản thúc các tu sỹ tôn giáo ; vẫn còn có người mới đề cập đến vấn đề Dân chủ, Nhân quyền, Tự do thì phải bị ngồi tù ?

Đất nước hòa bình đã 30 năm rồi mà lúc nào, nơi nào, chính quyền cũng vẫn cho là còn có kẻ thù âm mưu lật đổ ? Cơ chế như thế nào lại có chuyện âm mưu lật đổ, mà không thể ra ứng cử, tranh cử tự do, công bằng như ở các nước văn minh ? Ngày nay các nước cựu thù, đã bắt tay, bang giao làm ăn với Việt Nam rồi. Vậy kẻ thù là ai ? Bao giờ mới hết kẻ thù ?

Đã 60 năm trôi qua, nhưng Việt Nam vẫn chưa giải quyết được vấn đề của mình. Trong khi các nước như Liên Xô và Đông Âu cũ, họ đã mạnh dạn chấp nhận từ bỏ những quyền lợi riêng tư của cá nhân, đảng phái nhất thời, để vì lợi ích chung của cả quốc gia, dân tộc, nên đã vĩnh viễn loại bỏ được căn bệnh nhức nhối của thế kỷ 20 trên đất nước họ. Có lẽ do chúng ta chưa rõ căn nguyên của vấn đề, chưa định rõ bịnh, chưa cho đúng thuốc ? Mỗi người mỗi ý, ai cũng nhân danh dân tộc, ai cũng nhân danh yêu nước. Càng nhân danh càng làm cho nhân dân đau khổ triền miên trong suốt 60 năm qua.

Có những người, những đoàn thể, tổ chức, vì quyền lợi riêng tư, nên vô tình hay cố ý ủng hộ độc tài khi nại lý do cần an ninh, ổn định, để làm kinh tế trước, còn vấn đề tự do, nhân quyền sẽ tính sau. Hoặc có người khác, tổ chức khác, ăn nói có vẻ dịu dàng, đạo đức hơn, đương nhiên cũng nhân danh yêu nước, kêu gọi xóa bỏ thù xưa, đừng nên sân hận nữa, hãy thương yêu, ôm tất cả vào lòng. Nhưng ý tưởng lại chung chung, mơ hồ, không rõ ràng, không dứt khoát, đong đưa ru ngủ. Hạng người này vô tình mang lợi cho độc tài nếu không nói là đồng lõa, mà chẳng đưa ra giải pháp gì cụ thể để giải quyết tận gốc rễ cuộc khủng hoảng trầm trọng của dân tộc.

Phải định bệnh mà cho thuốc. Không phải lúc nào, thuốc nào trị bệnh gì cũng được. Ngay cả thuốc bổ mà dùng không đúng lúc, không đúng bệnh cũng có thể làm chết người. Trong Phật giáo gọi là khế thời, khế cơ mới độ được người. Trong một xã hội, một tập thể sống chung, có nhiều mâu thuẫn, rắc rối, tuy dùng tình cảm là tốt, nhưng tình cảm thôi cũng chưa thể giải quyết hết mọi sự. Muốn hòa hợp, thân yêu, đoàn kết, phát triển, thì các xã hội, các tổ chức, các đoàn thể đều phải tuân thủ luật pháp, công bằng, dân chủ, mới giải quyết thỏa đáng mọi vấn đề. Phải có giải pháp đúng đắn và dứt khoát mới được.

Đầu năm Ất dậu, 2005, mặc dù trong cương vị một tu sỹ, Ngài không làm chính trị, nhưng trước hoàn cảnh khó khăn của đất nước, cần có thái độ, lập trường chính trị, nên Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đã gửi Thư Chúc Xuân đến các nhân sỹ, trí thức, văn nghệ sỹ và đồng bào và Phật tử trong và ngoài nước, mà cũng là lời kêu gọi vận động Dân chủ đa nguyên đa đảng cho Việt Nam. Đây là một giải pháp sáng suốt, đúng đắn, tối ưu, một nhu cầu thích hợp với trào lưu, khuynh hướng chung của thế giới văn minh, nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng cho Việt Nam hiện nay. Ngài đã thể hiện tính cách đặc thù của thiền sư Vạn-Hạnh, của Đức Điều Ngự Giác-Hoàng Trần Nhân Tông, trị liệu đúng thuốc cho con bệnh và cứu dân độ thế. Đường hướng, lập trường của Hòa Thượng thể hiện đầy đủ đức tính Bi-Trí-Dũng, làm tấm gương sáng cho mọi người. Đó mới là tình yêu quê hương chân thật.

Lời kêu gọi này cũng là ý tưởng mà trước đây, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với đại diện là Đức Tăng Thống, Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ, các Thượng tọa Tuệ-Sỹ, Không-Tánh, Thiện-Minh ; đạo Thiên chúa có các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, các đạo Tin Lành, Hòa-Hảo, Cao-Đài... cũng đều có đại diện, và đông đảo nhất là giới sỹ phu Thăng long Bắc hà, cùng nhiều trí thức, văn nghệ sỹ như bác sỹ Nguyễn-Đan Quế, các cụ Hoàng Minh Chính, Hoàng Tiến, Nguyễn Thanh Giang, Hà-Sỹ Phu, v.v..., giới trí thức trẻ như bác sỹ Phạm-Hồng Sơn, luật sư Lê-Chí quang, nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn, nhà báo Nguyễn-Vũ Bình, nhà văn Phương-Nam cũng đã lên tiếng vận động Dân chủ Đa nguyên cho Việt Nam. Về phía chính quyền hình như họ cũng đang chuẩn bị tinh thần cho dân chúng về vấn đề quan trọng này, nên vừa qua, trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, đồng loạt các báo, đài, truyền thanh, truyền hình trên cả nước đều nhất tề thông tin, bình luận một cách rôm rả bất ngờ. Khiến cho không khí cả nước nóng lên, tinh thần dân chúng cũng rộn rã, hồi hộp, hăng hái theo sự bình luận hằng ngày, hằng giờ của các phóng viên, phát thanh viên các báo, đài trên cả nước. Dân chúng, người ủng hộ phe này, người ủng hộ phe kia, cùng trông đợi kết quả rất là nhộn nhịp. Ai ai cũng đều mong ước Việt Nam mình nhanh chóng có bầu cử tự do, đa đảng như thế. Sự hòa nhập, phổ biến, bình luận, thông tin cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ một cách rầm rộ vừa qua, chắc chắn không phải chỉ là chuyện cho dân giải trí bình thường, vì vấn đề đa nguyên, đa đảng là vấn đề nhạy cảm của chính quyền Việt Nam hiện nay.

Cuối cùng, dù là tả khuynh, hay hữu khuynh, dù tốt, dù xấu, ai ai cũng đều là người Việt Nam, chúng ta đương nhiên phải chấp nhận tất cả, không thể khinh suất bỏ đi đâu được. Cho nên, chớ kỳ thị khuynh tả, khuynh hữu, trung dung, trong nước, ngoài nước, người già, người trẻ, chớ phân biệt tôn giáo, đảng phái, sắc tộc, tất cả đã là người Việt Nam, đều phải có trách nhiệm, với đất nước, với dân tộc Việt Nam. Mọi quyền lợi, trách nhiệm đều là của chung, không phải của riêng ai cả. Tất cả mọi người, hãy đoàn kết lại, hãy mạnh dạn cùng nhau sửa chữa những sai lầm trong quá khứ, hãy biết hy sinh những quyền lợi riêng tư của cá nhân, của đảng phái, để chung sức chung lòng, theo lời kêu gọi của Hòa-Thượng Thích Quảng Độ, mà cũng là ước vọng chung của cả dân tộc. Hãy cùng nhau bắt tay xây dựng lại đất nước cho phú cường, để sánh vai với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Sài Gòn, Xuân Ất Dậu.
Thích Viên Định

 

Dân Chủ Đa Nguyên
Nguyễn Học Tập
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 14 THÁNG TƯ 2005)

Mấy lúc gần đây trên các Diễn Đàn chúng ta thường thấy khá nhiều khuynh hướng "Dân Chủ Đa Nguyên".

"Dân Chủ Tây Âu khác, Dân Chủ Á Châu khác, Dân Chủ ở các nước tư bản khác, không phải các quốc Gia Cộng Sản hay XHCN không có Dân Chủ, họ có dân chủ theo phương thức của họ", đó là lập luận của nhiều người bênh vực Dân Chủ Đa Nguyên, Đa Đảng.

Nghe qua những tư tưởng trên, người nghe có cảm tưởng rằng chúng ta có nhiều thứ Dân Chủ khác nhau : Dân Chủ các nước tự do hay Dân Chủ các nước XHCN cũng là Dân Chủ.

"Tội gì mà phải hoan hô đả đảo cho bằng được, thậm chí có một số người "cực đoan" còn đưa ra cả tư tưởng "lằn rang Quốc - Cộng" hay 30 năm sau vẫn còn "tranh đấu" thay vì "tranh luận"... Cuộc "Nội Chiến" người Việt giết người Việt đã qua rồi, người Việt giết người Việt chỉ làm lợi cho ngoại bang trong trong chiến tranh "đánh Mỹ cứu nước"... Đã đến lúc người Việt, vì quyền lợi, hạnh phúc và phú cường của dân tộc phải ngồi lại hòa hợp hòa giải với nhau, không phân biệt biên giới, không có lằn ranh Quốc Cộng, để tạo một nước Việt Nam mới, trong đó mọi khuynh hướng dân chủ đều được chấp nhận, Dân Chủ Tự Do hay Dân Chủ Tập Trung Đảng Trị cũng vậy (Điều 6, Hiến Pháp 1992 XHCNVN)".

Thật ra trong các tư tưởng vừa kể danh từ "Dân Chủ" được dùng và bị lạm dụng gây nên tình trạng hổn loạn từ ngữ và tư tưởng.

Người ta có cảm tưởng như cứ gắn danh từ "Dân Chủ" vào bất cứ một hệ thống chính trị nào là chúng ta có Dân Chủ thực sự cho đất nước.

Có phải thiết lập Dân Chủ cũng dễ như liếm cò dán tem vào bao thư không ?

Chúng tôi không có ý làm quyển Bách Khoa Tự Điển đưa ra mọi câu giải đáp thoả đáng cho vấn đề, mà chỉ có ý khiêm tốn làm sáng tỏ một vài chặn đường khởi đầu cho tiến trình suy nghĩ về Dân Chủ, nhứt là "Dân Chủ Đa Nguyên", ước vọng sáng sủa hơn cho tương lai Việt Nam.  

Dân Chủ Hy Lạp, nguồn gốc của Dân Chủ.

Thể chế Dân Chủ (Demokratía) được áp dụng ở Cộng HCHLBĐ Athène, Hy Lạp vào thế kỷ IV trước Thiên Chúa Giáng Sinh, cho mãi đến thể kỷ II -- III sau Thiên Chúa Giáng Sinh, bị Đế Quốc Roma áp chế.

Demokratía, danh từ kép của Hy Lạp, gồm Demos : dân chúng ; Krátos : quyền hành.

Như vậy, Demokratía : quyền hành của dân chúng hay dân chúng là chủ nhân quyền hành của Thị Xã, được tổ chức như một Quốc Gia tự lập.

Từ ngữ được dịch ra các ngôn ngữ Tây Âu : Democratia, La ngữ ; Democrazia, Ý ngữ ; Démocratie, Pháp ngữ ; Democracy, Anh ngữ ; Demokratie, Đức ngữ, với ý nghĩa Dân Chủ, Việt ngữ của chúng ta, tức "quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân chúng".

Ai trong chúng ta cũng nghe nói đến đặc tính và khuyết điểm của tổ chức Demokratía của Cộng Hòa Athène.

Các Thị Xã (Polis) của Cộng Hòa Athène là những tổ chức tập hợp không quá môt vài ngàn người. Mỗi khi có chuyện cần, dân chúng được triệu tập đến công trường thành phố, được giới cầm quyền đương nhiệm trình bày vấn đề và biểu quyết bằng cách hô to hoặc giơ tay đồng thuận hay bác bỏ. Dân chúng tự mình tham gia vào các quyết định liên quan đến đời sống Thị Xã. Đó là lối hành xử dân chủ trực tiếp.

Những người cầm quyền trong Thị Xã được thay đổi luân phiên nhau mau chóng, bằng cách rút thăm. Ai được rút thăm thì lên nắm quyền cho đến nhiệm kỳ tới. Như vậy luân phiên cầm quyền là một đặc tính khác của dân chủ hay dân chủ luân phiên.

Ưu điểm của thế thức dân chủ luân phiên là không ai có thể cố giữ quyền lực lãnh đạo để hành xử tác oai, tác quái tùy hỷ, trở thành độc tài.

Ưu điểm của cách hành xử dân chủ trực tiếp là ai cũng tham dự vào quyết định đường lối lãnh đạo Thị Xã. Như vậy, ai cũng tham dự vào quyền quyết định đường lối lãnh đạo Thị Xã, hay tham gia vào việc xác định đường lối chính trị là một đặc tính khác của Dân Chủ hay dân chủ tham dự.

Nói tóm lại

- dân chủ trực tiếp,

- dân chủ tham dự,

- dân chủ luân phiên để tránh độc tài là những đặc tính không thể thiếu của Dân Chủ.

Và trong tổ chức dân chủ Cộng HCHLBĐ Athène, chúng ta còn gặp được những từ ngữ sau đây :

- Isonomía : vì ai cũng là chủ nhân quyền tối thượng của Thị Xã, nên mọi người dân đều có quyền bình đẳng như nhau, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội. Đó là những gì được chứng minh trong ngôn ngữ Hy Lạp, Isonomía. Là danh từ kép do Ísos, như nhau ; Nómos, luật lệ : luật lệ như nhau, ngang nhau đối với mọi người hay "mọi người đều bình đẳng trước pháp luật", nói theo ngôn từ của chúng ta.

- Isegoría : là danh từ kép, gồm Ísos : như nhau ; Agorà : cộng đồng : mọi người đều như nhau trong cộng đồng đang nhóm họp hay mọi người đều có quyền phát biểu ý kiến như nhau, trong cộng đồng đang nhóm họp để nói lên chính kiến, đường lối lãnh đạo Thị Xã của mình hay tự do ngôn luận.

Nói tóm lại những đặc tính tiên khởi và chính yếu, không thể thiếu của nền Dân Chủ Cộng HCHLBĐ Athène là :

- dân chủ trực tiếp,

- dân chủ tham dự,

- dân chủ luân phiên để tránh độc tài,

- mọi người đều bình đẳng trước pháp luật,

- và quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu kiến của mình để xác định đường lối chính trị lãnh đạo Thị Xã.

Một thế chế muốn gọi là Dân Chủ, dân chủ Tây Âu hay dân chủ Cộng Sản cũng được, muốn được mệnh danh là Dân Chủ, chúng ta phải xem có hay không những đặc tính vừa kể.  

Dân Chủ Hiện Đại.

Để thay thế người lãnh đạo đương quyền, nền dân chủ Cộng HCHLBĐ Athène chọn người lãnh đạo mới bằng cách rút thăm. Đó là một hình thức bình đẳng, ai cũng có cơ hội lãnh đạo Thị Xã. Nhưng đó cũng là khuyết điểm so với tuyển cử bằng cách bỏ thăm của chúng ta.

Người được rút thăm có thể là người không có khả năng lãnh đạo, không có trình độ hiểu biết tương xứng cho chức vụ, không được đào tạo về quản trị và chính trị, có thể gây thiệt hại cho Thị Xã.

Khuyết điểm kế đến là thể thức dân chủ trực tiếp chỉ có thể áp dụng cho một ít Quốc Gia có tầm vóc nhỏ bé.

Quốc Gia của chúng ta hiện tại là những cộng đồng của vài chục triệu dân, nếu không phải nói là một vài trăm triệu.

Việc triệu tập mọi người ra công trường cùng lúc để hỏi ý kiến, biểu quyết vấn đề chính trị Quốc Gia là điều khó có thể tưởng tượng được.

Hình thức dân chủ trực tiếp như vừa kể, chúng ta chỉ có thể áp dụng được một đôi khi trong các cuộc trưng cầu dân ý.

Vấn đề của chúng ta là làm sao tìm ra phương thức khác để tổ chức Quốc Gia nhưng vẫn trong tinh thần Dân Chủ, "Demokratía" của Hy Lạp, "quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", nếu chúng ta muốn có được thể chế của chúng ta cho Đất Nước là thể chế Dân Chủ.

Phương thức mà các Quốc Gia Dân Chủ tân tiến hiện đại nghĩ ra là phương pháp Dân Chủ Đại Diện.

Phương thức Dân Chủ Đại Diện được thực hiện bằng hai yếu tố :

a) cách thức tự do lựa chọn người lãnh đạo,

b) quyền hành được giao phó phải luôn luôn được kiểm soát và hạn chế để tránh sai lạc, quá đáng và độc tài.

Phương thức thực hiện thể chế Dân Chủ hiện đại là một hệ thống chính trị được nghĩ ra để quyền hành luôn được dân chúng còn giữ lấy trong tay.

Dân Chủ có nghĩa là người dân là chủ nhân quyền lực Quốc Gia trước khi trao quyền, đang khi các đại diện thi hành quyền lực

- theo luật pháp xác định,

- hiệu năng và không thiên vị bè phái,

- và luôn luôn bị kiểm soát không được đi sai lạc định hướng, hành xử quá lố và kéo dài quá định kỳ được giao phó.

1. Cách chọn người lãnh đạo.

Một trong những đặc tính không thể thiếu của nền Dân Chủ, nếu muốn được gọi là Dân Chủ thực sự, là những người lãnh đạo nói chung và Chính Quyền nói riêng, là những người đại diện hành xử quyền lực Quốc Gia được sự đồng thuận của đa số tuyển chọn.

Trong thể chế Dân Chủ, không ai có thể tự coi mình là đại diện của dân, hành xử quyền cho dân và vì dân, nếu không được đa số dân chúng đồng thuận phong cho.

Quyền hành không do dân chúng đồng thuận phong cho là quyền hành Không Dân Chủ.

Quyền hành được đa số dân chúng đồng thận phong cho hàm chứa nguyên tắc quyền hành của đa số và sự tôn trọng thiểu số đối lập.

Cách chọn người lãnh đạo hay cách Ềtrao quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dânỂcho người đại diện xử dụng thay cho mình trong dân chủ đại diện được Hiến Pháp 1949 Cộng HCHLBĐ Liên Bang Đức xác định :

- "Các Dân Biểu Hạ Viện (Bundestag) được tuyển chọn qua các cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín" (Điều 38, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).

Từ ngữ "tự do" ở đây, không chỉ được dùng để chỉ động tác bỏ phiếu không bị giới hạn, áp chế của người dân trong lúc bầu cử, mà còn hàm chứa những điều kiện phải có trước đó. Bởi lẽ nếu không có những điều kiện cần thiết phải có trước đó, động tác được coi là "tự do" trong ngày bỏ phiếu, sẽ không thể hiện "tự do" chính đáng để tuyên bố và bảo đảm Dân Chủ.

Đó là chưa kể đến hình thức "tự do giả tạo" của chính động tác bỏ phiếu hay chỉ bỏ phiếu "chọn" những người đã được Đảng "chọn" trước.

Những điều kiện không thể thiếu, trước khi có cuộc bầu cử "tự do", có khả năng phong tước một cách Dân Chủ cho những ai lãnh đạo là trong thời gian chuẩn bị, các quyền

- tự do ngôn luận,

- tự do lập hội và gia nhập hội

phải được tôn trọng.

Trong thời gian chuẩn bị, người dân phải có quyền gia nhập chính đảng.

Các chính đảng

- được tự do thành lập và hoạt động,

- được tự do phổ biến đến dân chúng lý tưởng dân chủ,

- các bậc thang giá trị cần phải được tôn trọng,

- chính sách lãnh đạo Quốc Gia

- và các chương trình khả thi mà mình muốn thực hiện cho Quốc Gia.

Muốn cho cuộc bầu cử có ý nghĩa, các chính đảng phải có thời gian và điều kiện thuận tiện, được tự do phổ biến và thuyết phục dân chúng về những điều vừa đề cập.

Các chính đảng phải được tự do tạo ra dư luận quần chúng. Bởi vì

- "Chính quyền của thể chế dân chủ là chính quyền được phát xuất do sự đồng thuận của dân chúng" (Giovanni Sartori, Democrazia, Che cosa ?, Milano, Rizzoli, 1994, 61).

Hay "Nền tảng của chính quyền dân chủ là sự đồng thuận của dân chúng" (Dicey, A.V., Lectures on the Relation Between Law and Public Opinion in England during XIX Century, London, Mac Milan, 1905, 3).

Muốn có được ý kiến quần chúng thực sự, trong thể chế Dân Chủ chúng ta có ba điều kiện :

- tự do tư tưởng,

- tự do ngôn luận, để phổ biến tư tưởng,

- các nguồn thông tin đa nguyên.

Người dân phải được tự do thu tập các nguồn tư tưởng và có quyền tự do kiểm soát những gì được nói ra, viết ra xem có phù hợp với sự thật hay không.

Đó là điểu Hiến Pháp Dân Chủ CHLBD đứng ra bảo đảm :

- "Mọi công dân đều có quyền phát biểu và truyền bá một cách tự do ý kiến của mình bằng lời nói, chữ viết và bằng hình ảnh, và được tự do thông tin, khỏi bị cản trở, từ những nguồn truyền thông mà ai cũng tham dự được... Tự do báo chí và tự do truyền thông bằng đài phát thanh (phương tiện tân tiến nhứt đến năm 1949) và điện ảnh được bảo đảm. Không có một sự kiểm duyệt nào có thể chấp nhận được" (Điều 5, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).

Về phương thức bầu cử Dân Chủ và bảo đảm hiệu năng cho quyền lực Quốc Gia, chúng tôi đã có dịp bàn đến trong bài LUẬT BẦU CỬ CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC.

2. Quyền hành giao phó phải được kiểm soát và hạn chế.

a) Kiểm soát bằng đối lập (Cf. THIỂU SỐ ĐỐI LẬP HIẾN PHÁP CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC),

b) Kiểm soát bằng mối tương quan giữa Chính quyền, Hạ Viện, Thượng Viện và Tổng Thống Liên Bang (Cf. QUỐC HỘI CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC, CƠ CHẾ ĐƯỢC NGHĨ RA CHỐNG ĐỘC TÀI VÀ BẤT ỔN),

c) Kiểm soát bằng cơ quan Tư Pháp và Viện Bảo Hiến (Cf. VIỆN BẢO HIẾN CộNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC, CƠ CHÊ TỐI CAO BÊNH VỰC CON NGƯỜI VÀ DÂN CHỦ).

d) Kiểm soát bằng phương pháp tản quyền (Cf. DÂN CHỦ TRONG VAI TRÒ HIẾN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG).

3. Tự do tích cực.

Và rồi người dân, chủ nhân quyền lực Quốc Gia, không chỉ giao quyền cho giới lãnh đạo để rồi phải nghĩ ra những phương thức bảo vệ cho chính mình và cho đồng bào mình, khỏi bị giới lãnh đạo lạm dụng quyền hành bách hại như vừa kể.

Nói cách khác, khi nói quyền hành được giao phó phải được kiểm soát là nói đến tự do dưới hình thức tiêu cực : giới hành quyền không được lạm dụng quyền hạn được giao cho để hành xử làm thiệt hại, tổn thương cho chính chủ nhân quyền lực Quốc Gia.

Đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã tuyên bố :

- "Nền Cộng HCHLBĐ nhận biết và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi cá nhân phát triển hCHLBĐn hảo con người của mình..." (Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Nhưng thể chế Dân Chủ không phải chỉ có vậy.

Thể chế Dân Chủ không phải là thể chế trong đó người dân, chủ nhân quyền lực Quốc Gia, chỉ được "nhận biết bảo vệ" dưới hình thức tiêu cực : không ai được xâm phạm các quyền căn bản bất khả xâm phạm của mình, mà là thể chế trong đó người dân nhờ tổ chức Quốc Gia tạo được các điều kiện và hCHLBĐn cảnh thuận tiện, thực hữu, để mỗi cá nhân phát triển con người của mình và nhờ đó có khả năng góp phần cộng tác xây dựng đất nước tốt đẹp cho mình và cho đồng bào mình.

Hay người dân được hưởng tự do dưới hình thức tích cực, tự do để phát triển chính mình và phát triển đất nước nhờ cơ chế Quốc Gia (... par moyen de l'Etat).

Và đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố ở điều khoản kế tiếp :

- "Bổn phận của Nền Cộng Hòa là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, cản trở họ triển nở hCHLBĐn hảo con người của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở" (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Ở một đoạn khác, không những cơ chế Quốc Gia không cấm người dân được tự do lập hội và gia nhập hội, như ở một vài tổ chức Quốc Gia xuẩn động đang làm, mà Quốc Gia còn tạo điều kiện và khuyến khích tham gia vào các chính đảng để cộng tác, bày tỏ ý kiến dân chủ của mình, thiết định đường lối chính trị lãnh đạo Quốc Gia :

- "Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập chính đảng, để cùng cộng tác bằng phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" (Điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Như vậy, người dân phải được cơ chế Quốc Gia "nhận biết bảo vệ" được hưởng các quyền tự do tích cực của mình, chính mình có quyền và có khả năng đứng ra định đoạt đường lối chính trị Quốc Gia, hay "tự do tích cực", là một đặc tính khác không thể thiếu trong thể chế Dân Chủ của nền văn minh Tây Âu.

Tất cả những gì vừa kể, Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức đã lược tóm và khẳng định ở điều 1 và điều 20 :

- Phẩm giá con người bất khả xâm phạm.

"Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" (Điều 1, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức).

- "Cộng Hòa Liên Bang Đức là một Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội" (Điều 20, đoạn 1, id.).

Thể chế Dân Chủ của Cộng Hòa Liên Bang Đức được đặt nền tảng trên hai điều khoản vừa kể, lược tóm những đặc tính Dân Chủ chúng ta đã đề cập ở trên.

Bởi đó Hiến Pháp 1949 xác quyết là những nguyên tắc bất di dịch, không ai có quyền cắt xén, sửa đổi, ngay cả có được sự đồng thuận của 2/3 Thượng Viện và 2 /3 Hạ Viện (Điều 79, đoạn 2, Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức) và kể cả của trưng cầu dân ý, chớ đừng nói đến sửa đổitùytheo ý kiến, khuynh hướng của phe này, nhóm nọ :

- "Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến mối tưong quan giữa Liên Bang (Bund) và các Tiểu Bang (Laender) ; đến việc tham dự của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp và đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" (Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức).

Những nguyên tắc nền tảng vừa kể đã được Hiến Pháp áp dụng để bảo đảm các quyền tự do cá nhân hay tự do dân sự (điều 2-19), tự do và tổ chức chính trị (điều 20-104), tự do kinh tế (104a-114).

Nói cách khác, các nguyên tắc căn bản trên, lược tóm những đặc tính Dân Chủ đã được đề cập, Dân Chủ Nguyên Thủy của Cộng Hòa Athène Hy Lạp cũng như Dân Chủ hiện đại của các Quốc Gia Tây Âu, và khai triển trong các điều khoản vừa kể, là nền tảng của thể chế Dân Chủ.

Bởi đó Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức đã không ngần ngại đứng ra bênh vực các nguyên tắc nền tảng Dân Chủ của mình và tuyên bố vi hiến, đặt ngCHLBĐi vòng pháp luật, bất cứ ai, cá nhân hay đảng phái cả gan vi phạm và đánh đổ những gì mình xác tín là Dân Chủ :

- "Các đảng phái có mục đích hoặc cách hành xử của những thành viên thuộc hệ, nhằm gây tổn thương hay loại trừ định chế căn bản dân chủ và liên bang hoặc hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hòa Liên Bang Đức, là những chính đảng vi hiến..." (Điều 21, đoạn 2, id.).

Ai trong chúng ta cũng biết rằng Cộng Hòa Liên Bang Đức là một Quốc Gia Dân Chủ Đa Nguyên.

Là một Quốc Gia Dân Chủ Đa Nguyên, Đa Dạng không phải chỉ vì là một Quốc Gia Liên Bang, tổ chức quyền hành từ Liên Bang Trung Ương được "tản quyền" về cho các Tiểu Bang tự lập, mỗi Tiểu bang có cách tổ chức hành chánh riêng của mình.

Cộng Hòa Liên Bang Đức còn là một Quốc Gia Đa Nguyên, đa đảng với nhiều chính kiến khác nhau : đảng C.D.U, C.S.U., S.P.D., F.D.P., đảng Xanh...

Nhưng dầu Đa Nguyên, Đa Đảng, Đa Dạng, mọi hoạt động chính trị của bất cứ ai, cá nhân cũng như đảng phái, đều không thể đi ngược lại thể chế Dân Chủ,

- "...nhằm gây tổn thương hay loại trừ định chế căn bản dân chủ và liên bang hoặc hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hòa Liên Bang Đức...", nếu không muốn bị đặt ra ngCHLBĐi vòng pháp luật là "...những chính đảng vi hiến", vì phản bội Dân Chủ.

Trong câu nói chúng ta thường gặp "Dân Chủ Đa Nguyên", điều kiện muốn cho "Đa Nguyên" được chấp nhận, chúng ta đòi buộc ở các đảng phái phải "Dân Chủ" trước đã, như câu nói của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc :

- "Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhận chính đảng, để cùng cộng tác bằng phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" (Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Câu nói trên của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc hàm chứa việc các chính đảng trước tiên phải có nội quy và tổ chức theo phương thức Dân Chủ, nếu muốn được chấp nhận.

Kế đến tư tưởng và chương trình hành động của chính đảng cũng phải phù hợp với nguyên tắc Dân Chủ, nếu không muốn bị kết án là "...những chính đảng vi hiến".

Dân Chủ là môi trường tự do, nơi các quyền căn bản của con người được tôn trọng. Không phải là môi trường hổn loạn, thập cẩm, ý thức hệ nào cũng được chấp nhận, nhứt là ý thức hệ độc tài, vô thần và đê tiện hoá con người, đi ngược lại lý tưởng Dân Chủ.

Quốc Gia Dân Chủ không phải là Quốc Gia hiếu chiến, nhưng nền Dân Chủ không phải là một thể chế không xương sống, không biết đấu tranh cho công lý, lẽ phải và quyền bất khả xâm phạm của con người.

Người dân Pháp không phải là những tên đạo tặc khát máu, nhưng không phải vì vậy mà người Pháp không cương quyết đưa thể chế Quân Chủ lên máy chém để chấm dứt độc tài và nô lệ hóa con người năm 1789.

Câu lên án được trích dẫn trên của điều 21 Hiến Pháp 1949 Cộng Hòa Liên Bang Đức,

- "...là những chính đảng vi hiến",
được các nhà chú giải Luật Hiến Pháp coi là tư cách của "nền Dân Chủ tự bảo vệ" (Streibardemokratie).

Dân Chủ yêu chuộng Tự Do, nhưng không phải là thể chế không xương sống, không biết tự vệ.

"Dân Chủ Đa Nguyên" là thể chế tổ chức Quốc Gia Dân Chủ, phát xuất từ nhiều quan niệm, dưới nhiều nhãn quang khác nhau để thực hiện lý tưởng Dân Chủ, nhưng tất cả đều nằm trong lý tưởng và những đặc tính phải có của Dân Chủ.

"Dân Chủ Đa Nguyên" không phải là môi trường hổn tạp, trong đó mọi khuynh hướng đều được chấp nhận, Dân Chủ hay Độc Tài, Độc Tôn, TCHLBĐn Tri, Phản Dân Chủ, đàn áp và đê tiện hóa con người cũng vậy.

Đời sống là một cuộc chọn lựa không ngừng.

Không ai có thể đem ập vào nhà và chung sống với rác rến, bụi bậm, phân và phẩn hôi thúi, lẫn bệnh tật, nhứt là những yếu tố có thể gây bệnh truyền nhiểm, băng hoại và chết chóc cho gia đình.

Không có lý do gì mà người Quốc Gia Dân Chủ, yêu chuộng tự do và tôn trọng nhân phẩm con người, có thể chấp nhận chung sống trong Cộng Đồng Quốc Gia với những người chủ trương "không biên giới", "không lập trường", ôm đồm cả rác rến, bệnh tật, ý thức hệ coi thần thánh như rơm rác và đã đê tiện hoá con người, gây phá sản cho Nga và Đông Âu sau 70 năm ngự trị. Từ năm 1989 Nga và Đông Âu đã vứt ý thức hệ sai lạc, hạ thấp phẩm giá con người và làm cho Quốc Gia phá sản đó vào sọt rác, vì lợi ích của dân tộc, người Cộng Sản hay người Quốc Gia, chúng ta hãy biết mạnh dạn lên án và dứt bỏ nó như người Đức :

- "...là những chính đảng vi hiến", ... là ý thức hệ đê tiện, phi Dân Chủ và phi Nhân Bản.

"Dân Chủ Đa Nguyên", có hay không có Dân Chủ, đó mới là vấn đề !

Nguyễn Học Tập

 

Trung Quốc và An Ninh Thế Giới
Nguyễn Trúc Giang
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 14 THÁNG TƯ 2005)

Trong mấy năm qua, thế giới đặc biệt chú tâm vào sự phát triển của Trung quốc, các nhà đầu tư đổ xô vào Trung Quốc để thiết lập nhà máy, xây dựng công ty, lợi dụng giá lao động thấp kém, luật lệ xã hội lỏng lẻo và hầu như cố quên là Trung Quốc là một quốc gia độc đảng, độc tài đàn áp những kẻ đối lập. Thế giới tư bản nhắm mắt trước các nỗ lực diệt chủng ở Tây Tạng ; thế giới tư bản quên đi những cuộc tàn sát ở Tân Cương (Xin Kiang) ; thế giới tư bản quên luôn cuộc đàn áp tàn ác khi sinh viên và những người đứng lên đòi tự do dân chủ ở Thiên An Môn ; thế giới tư bản lờ đi các cuộc đàn áp tôn giáo ; thế giới tư bản chỉ thấy ở Trung Quốc, 1 tỷ 3 người thợ, 1 tỷ 3 người này sẽ trở thành một thị trường không lồ, một thị trường tương lai khả dĩ thay thế thị trường Âu và Mỹ mà sự cạnh tranh trở thành quá khó khăn.

Nhưng vừa qua, quốc hội bù nhìn của Trung Quốc dã thông qua một bộ luật làm cho thế giới phải đôi chút suy nghĩ : Bắc Kinh vừa ra bộ luật về thống nhất lãnh thổ và quân đội có quyền dùng mọi biện pháp để giữ sự toàn vẹn lãnh thổ. Thật ra bộ luật này không có gì chướng tai gai mắt trong một quốc gia bình thường, ai cũng muốn cho lãnh thổ mình được toàn vẹn (trừ các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam). Nhưng trên thực tế thế nào là toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc ? Có thật sự là Bắc Kinh chỉ muốn ra bộ luật này để cho Đài Bắc không đòi độc lập như các nhà ngoại giao Trung Cộng đang cố giải thích cho các chính phủ Tây Phương, hay Bắc Kinh có những ý đồ khác ?

Đài Loan, một phần của lãnh thổ Trung Quốc ?

Nếu nhìn về khía cạnh lịch sử thì Đài Loan chỉ được Trung Quốc sát nhập vào lãnh thổ một cách mơ hồ từ cuối thế kỷ thứ 17. Lúc đó nhà Thanh sát nhập Đài Loan vì có tàn quân nhà Minh đang lánh quân ở đó, và họ sợ quân Minh được Đài Loan giúp đỡ quân sự. Trước đó, chỉ là một cù lao, ít tài nguyên, nên không có người Hán lui tới, dù quân Mông Cổ đời nhà Nguyên có đến viếng thăm và ghi lại lưu tích. Trong suốt thế kỷ thứ 19, đã có nhiều cuộc đứng dậy của người thổ dân chống lại sự chiếm đóng này. Cho đến cuối thế kỷ thứ 19, thì Đài Loan bị Nhật chiếm đóng cho đến hết Đệ nhị thế chiến. Theo quyết định của quân đồng minh vào lúc đó, các hải đảo của Nhật chiếm trong vùng thì sẽ do Trung Quốc chiếm đóng tạm, rồi giải quyết sau đó. Nhưng vào năm 1949, khi bị cộng sản đánh lui ra khỏi lục địa, Tưởng Giới Thạch đem quân và một số dân di tản theo qua đảo Đài Loan và lúc đó mới thật sự coi Đài Loan là phần lãnh thổ còn lại của những người Trung Quốc không cộng sản. Hơn 50 năm sau biến cố Tưởng Giới Thạch chiếm đóng Đài Loan, đa số người dân sống tại quần đảo này thấy họ đang kết thành một quốc gia riêng biệt với Trung Quốc tuy một phần lớn của họ có tổ tiên gốc lục địa, cũng như đa số người dân sống tại Tân Gia Ba hay một phần lớn người Mã Lai gốc Hoa. Nhưng đối với Cộng sản Bắc Kinh, cuộc chiến giữa họ và Trung Hoa Quốc Dân Đảng chưa chấm dứt. Và họ vẫn cần một cuộc tranh chấp để giữ một không khí chiến tranh luôn luôn cần thiết cho những chế độ độc tài. Cũng như cộng sản Hà Nội vẫn thường phải nhắc đến những âm mưu của đế quốc, ngay trong lúc họ xin viện trợ từ chính các quốc gia mà họ cho là đế quốc.

Đâu là lãnh thổ của Trung Quốc ?

Việc đầu tiên là bộ luật này đang gây lo ngại cho các quốc gia lân cận. Vì nếu lấy lãnh thổ từ đời nhà Nguyên như Bắc Kinh đang dựa để chứng minh là Đài Loan vẫn là lãnh thổ của Trung Quốc, thì Miến Điện và Đại Hàn cũng là lãnh thổ của Trung Quốc, vì thời đó quân Mông Cổ đã chiếm đóng các quốc gia này. Nếu đời nhà Nguyên, Việt Nam không bị đô hộ, nhưng trước đó, đời nhà Đường, nhà Hán, Việt Nam đã từng bị đô hộ. Với lý luận như trên, với bộ luật mới này thì Bắc Kinh lúc nào đó thể đem quân đến can thiệp tại hầu hết các quốc gia lân cận và ngăn chận các quốc gia khác can thiệp vì như thế xen vào việc nội bộ của Trung Quốc. Nhiều người cho biết trong sách giáo khoa phát cho các lớp tiểu học, bản đồ Trung Quốc vượt xa lãnh thổ hiện tại của Trung Quốc và gồm luôn những vùng đất đã nhượng cho Nga và các quốc gia Tây Phương vào thế kỷ thứ 19. Trong các vùng đã nhượng, gồm luôn Việt Nam. Với một chính quyền hèn nhát trước Bắc Kinh như chính quyền Hà Nội ngày hôm nay, người ta e rằng Việt Nam sẽ còn phải nhượng đất, nhượng biển nhiều lần nữa.

Hoa Kỳ phân vân.

Bộ luật này cũng làm cho chính phủ Bush lưu tâm. Vì Hoa Kỳ và Đài Loan có những hiệp ước tương trợ, Hoa Kỳ có nhiệm vụ phải giúp Đài Loan trong trường hợp quốc gia này bị Trung Quốc đánh chiếm bằng quân sự. Nếu việc này xẩy ra, thì phản ứng của Hoa Kỳ sẽ như thế nào ? Can thiệp hay nhắm mắt chờ sóng yên gío lặng ? Nếu can thiệp thì dân Hoa Kỳ, có đồng tình hay không, vì qua những biến cố gần đây, họ chỉ mong Hoa Kỳ trở về chủ thuyết không can thiệp của cuối thế kỷ thứ 19. Nhưng nếu không can thiệp thì Hoa Kỳ sẽ rút lui cho đến đâu và sẽ còn sự tin cậy của các đồng minh khác trong vùng là Nhật và Đại Hàn ?

Ngày hôm nay, Hoa Kỳ chưa có phản úng mạnh, và có thể sẽ không bao giờ có, vì Hoa Kỳ đang cần Trung Quốc làm áp lực trên chế độ Bắc Hàn để họ ngưng sản xuất vũ khí nguyên tử. Hoa Kỳ không ngại Bắc Hàn sẽ hăm dọa đến lãnh thổ Hoa Kỳ với vũ khí nguyên tử vì Bắc Hàn không có phương tiện đưa vũ khí vượt Thái Bình Dương, nhưng Hoa Kỳ lo cho số mạng của mấy mươi ngàn quân đang đóng tại Đại Hàn và Nhật Bản. Trung Quốc thì thật sự không muốn làm áp lực trên Bắc Hàn, để Hoa Kỳ phải tiếp tục nhờ cạnh. Trung Quốc cũng ngại một khi chế độ Bác Hàn yếu đi, thì hậu quả đầu tiên là dân Bắc Hàn sẽ tràn sang tỵ nạn ngay tại vùng Mãn Châu, một vùng đang gặp khó khăn kinh tế vì Bắc Kinh đã phải đóng cửa đa số các hãng xưởng nhà nước lỗi thời và lỗ lã.

Nhật Bản lo ngại.

Lo ngại không kém là Nhật Bản. Với bộ luật này, thì Trung Quốc có thể dùng binh để ngăn chận tất cả con đường huyết mạch của Nhật vì Nhật vẫn cần dầu thô và khí đốt từ Trung Đông và con đường chuyên chở này sẽ qua biển Đông Hải mà Trung Quốc vẫn luôn luôn tuyên bố là vùng biển của họ. Nhưng lo ngại nhất của Nhật là ý định mới của Âu Châu, đúng ra của Pháp, là bỏ cấm vận trên vũ khí. Vấn đề này là vấn đề then chốt đã được đua ra bàn cãi trong cuộc viếng thăm của Tổng thống Pháp Chirac trong hạ tuần tháng 3.

Một thị trường cần thiết cho Pháp.

Pháp từ lâu vẫn mong muốn có một quân đội Âu Châu riêng biệt để không nhờ vào quân đội Hoa Kỳ qua Liên Minh Bắc Tây Dương. Nhưng để trang bị quân đội thì cần một kỹ nghệ vũ khí, nhưng các kỹ nghệ gia Pháp cần có một thị trường vũ khí lớn hơn thị trường Pháp để hạ giá thành và cạnh tranh với các kỹ nghệ gia Hoa Kỳ trong việc chế biến những vũ khí tối tân. Trên thế giới, chỉ còn các quốc gia Trung Đông và Đông Nam Á là có phương tiện để trang bị. Nhưng đa số các quốc gia Đông Nam Á có phương tiện tài chính để tự trang bị vũ khí đều có những hiệp định dính liền với Hoa Kỳ hoặc với Anh, và thị trường Trung Đông thì hầu như Pháp bị loại sau khi Pháp lấy quyết định không can thiệp vào cuộc chiến Iraq. Chỉ còn Trung Quốc. Do đó, Pháp hô hào bỏ cấm vận vũ khí cho Trung Quốc, viện cớ là không nên cô lập Trung Quốc vì Trung Quốc đang trở thành một cường quốc kinh tế với đà phát triển hiện tại. Và Pháp nhắm mắt trước những giả thuyết khác có thể xảy ra, vì thật ra nếu các giả thuyết này là sự thật thì Pháp cũng chẳng thiệt thòi gì.

Phát triển và an nguy của vùng Đông Á.

Hiện nay, chính quyền cộng sản Bắc Kinh còn đứng vững tại Trung Quốc, dĩ nhiên phần lớn là nhờ chính sách độc tài và đàn áp thẳng tay các nhà đối lập. Nhưng cũng nhờ sự phát triển kinh tế không ngừng của thập niên vừa qua, làm cho người dân Trung Hoa chấp nhận những bất công hiện nay để mong được chia sẻ một phần sự phát triển này. Nếu vì một lý do nào đó, việc phát triển của Trung Quốc chậm đi, và rất có nhiều lý do như là dầu thô hay một nguyên liệu nào đó sẽ khan hiếm, thì Trung Quốc sẽ phải đối phó với những xáo trộn mà sự chênh lệch giàu nghèo sẽ đem tới, những bất công do tham nhũng gây nên, ... nghĩa là có xác suất không nhỏ là Trung Quốc sẽ có những bất ổn nội địa trong những năm tới. Và lúc đó, Bắc Kinh có thể gây một cuộc chiến (như chiếm đóng Đài Loan) để giải quyết vấn đề của họ.

Như đã trình bày trong phần trước, bộ luật toàn vẹn lãnh thổ của Bắc Kinh là một bộ luật rất nguy hiểm cho vấn đề an ninh của Đông Á nói riêng và của vùng Thái Bình Dương nói chung. Việt Nam hơn bao giờ hết phải kết hợp với các quốc gia Đông Nam Á và tách rời với Trung Quốc để thành một khối khã dĩ có thể ngăn chận những âm mư bành trướng của Trung Quốc. Nhưng đảng Cộng sản Hà Nội có thật sự chú tâm đến quyền lợi của Việt Nam hay không ?

Nguyễn Trúc Giang

 

Cơn Gió Dân Chủ Thổi Về Hướng Đông
Nguyễn Ngọc Danh
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 14 THÁNG TƯ 2005)

Ngay giữa hạ tuần tháng 3, thế giới chú tâm đến một quốc gia được độc lập từ 15 năm nay mà ít người biết đến. Đó là Kirghizstan, nơi mà dân chúng đã ồ ạt biểu tình để đòi tự do dân chủ và công bằng xã hội. Lần này họ không trương cờ màu da cam như tại Ukraina, nhưng trương lên cờ màu hồng và màu vàng là cờ của hai đảng đối lập.

Kirghizstan, là một quốc gia nằm cạnh vùng Tân Cương (Xin Jiang) của Trung Quốc, và phía Nam của Kazakhstan và phía Đông của Uzbekistan, rộng độ hai phần ba Việt Nam (gần 200 000 cây số vuông) và một dân số ít oi là 5 triệu người mà chỉ hơn phân nửa là dân Kirghiz, một nhóm dân thuộc giống người Thổ (Turkish) mà nguồn gốc phát xuất từ vùng Mông Cổ hiện nay và lần lần bị người Mông Cổ, người Hán đẩy lui về vùng họ sống hiện nay. Tuy lãnh thổ rộng lớn so với số dân nhưng đa số họ sống trong cảnh nghèo nàn, vì phân nữa lãnh thổ là vùng núi cao trung bình 2000 thước. Vào thế kỷ thứ 19, họ bị đế quốc Nga xâm nhập và chiếm đánh nên mất phần tự trị. Đến thời Xô Viết, vào đầu thập niên 1920, họ được dựng thành một Cộng Hòa Xô Viết trong Liên Xô (theo nguyên tắc của Liên Xô thời đó, những dân tộc nào sống ở những vùng có biên giới với nước ngoài thì được thành Cộng Hòa Xô Viết Xã Hội, còn những dân tộc sống trong vùng đất của Nga thì chỉ được thành vùng tự trị hay Cộng Hòa Tự Trị trong Liên Hiệp Nga Xô Viết).

Vào đầu thập niên 1990, khi Liên Xô sụp đổ, thì họ cũng tuyên bố độc lập như các nước Cộng Hòa Xô Viết khác và tháng 10 năm 1991 bầu một nhà vật lý học, ông Askar Akaĩev lên làm tổng thống. Lúc đó, ông Akaĩev không nằm trong nhóm người thân thuộc của hệ thống lãnh đạo Cộng sản. trái lại ông được coi như là một trí thức yêu chuộng tự do và có những quan niệm tiến bộ. Khi nắm quyền, ông hứa sẽ đem lại dân chủ và công bằng. Nhưng chỉ sau vài năm sau, ông quên hết lời hứa ban đầu và bắt đầu áp đặt một chính sách độc tài, bắt giam tất cả những người đối lập, kể luôn những cộng tác viên trước đây của ông, và như mọi chính quyền độc tài, tham nhũng đã trở thành quốc nạn. Dân chúng vẫn tiếp tục sống trong sự nghèo nàn, mặc dù lợi tức trung bình của họ cũng 4 lần hơn lợi tức trung binh của người Việt Nam (1500 Mỹ kim vào năm 1993).

Sự bất mãn của dân chúng càng ngày càng tăng cho đến tháng 2 vừa qua. Để chắc chắn nắm quyền, chính quyền Akaĩev đã gian lận trong kỳ bầu cử quốc hội. Và dân chúng bắt đầu biểu tình, đặc biệt ở thành phố Osh, và các vùng biên giới với Uzbekistan nơi mà đời sống có phần cao hơn, nên sự bất mãn trầm trọng hơn các nơi khác. Các cuộc biểu tình lần lần tiến về thủ đô ở phía Bắc. Càng ngày càng đông người tham gia, nhất là sau khi các lực lượng công an bắn vào một đoàn biểu tình, giết chết 6 người. Nhưng sau biến cố đó, các lực lượng công an và quân đội không tiếp tục can thiệp mặc dù có nhiều lệnh từ phía chính phủ, nên ông Akaĩev đã cách chức một số tổng trưởng. Cuối cùng, vào đầu tuần 21 tháng 3, dân chúng đổ xô về thủ đô đòi ông Akaĩev từ chức. Họ vào các trại giam để thả các tù nhân chính trị và đến ngày thứ 5 thì ông Akaĩev đã rời Kirghizstan để tỵ nạn ở ngoại quốc.

Đây là cuộc thay đổi chính quyền thứ 3 ở các quốc gia thuộc khối Liên Xô, sau Georgia và Ukraina trong vòng 18 tháng. Khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1990, các quốc gia Đông Âu nhờ gần gũi với Tây Phương cũng như đã có một quá trình dân chủ trước khi bị các chế độ Cộng sản lên nắm quyền, họ dã đứng dậy đòi hỏi độc lập và dân chủ cùng một lúc. Trái lại các quốc gia thuộc Nga Xô, trước đó nằm trong đế quốc Nga Hoàng nên không có truyền thống dân chủ, nên phải chờ gần một thế hệ mới thắm nhuận được quan niệm dân chủ và vai trò của dân chủ trong việc phát triển quốc gia.

Không phải vì Akaĩev trốn ra khỏi ngoại quốc mà mọi việc sẽ được giải quyết một cách dễ dàng. Vì Kirghizstan nằm ở một vị trí chiến lược, ngay giữa biên giới Trung quốc và Nga, và Hoa Kỳ lại có một căn cứ quân sự được thiết lập vào năm 2002 khi Hoa Kỳ và các đồng minh gửi quân đánh chính quyền Taliban tại A Phú Hãn. Ba nhân vật quan trọng của đối lập đã được giao những trách vụ trọng yếu trong chính phủ lâm thời được thành ngay sau khi Akaĩev bỏ ra đi.

Trước tiên là ông Kurmaniek Bakiyev, 55 tuổi, người đang hướng dẫn một liên minh các đảng phái đối lập. Trước đó ông đã từng là thủ tướng cho ông Akaĩev và chỉ từ chức vào năm 2002. Ông đang giữ chức vụ tổng thống lâm thời và là đương kim thủ tướng.

Bên cạnh ông là người hùng của cuộc dành độc lập nằm 1990, tướng Felix Koulov, 56 tuổi. Vào năm 1990, chính ông đã ngăn chận đảng Cộng sản tái chiếm quyền, và sau đó, ông làm tổng trưởng quốc phòng, phó thủ tướng, đô trưởng thủ đô Bichlek. Nhưng khi ông định ra tranh cử tổng thống vào năm 2000, ông bị đưa ra tòa về tội Ềlạm quyềnỂ. Chính các đoàn biểu tình đã vào trại giam rước ông ra để nhận chức Tổng trưởng Nội vụ. Nhân vật thứ ba, là bà Roza Otunbaieva, cựu tổng trưởng ngoại giao trước và sau năm 1990. Nhưng sau này, ông Akaiev đã đưa bà ra khỏi nước bằng cách phong bà làm đại sứ tại nhiều nơi như là Hoa Kỳ, Anh quốc, v.v... Và sau khi bà chứng kiến việc lật đổ bạo quyền ở Georgia, bà đã thành lập một đảng đối lập để tranh thủ dân chúng. Việc của những người này là nhanh chóng tái hồi độc lập, gầy dựng lại nền kinh tế, dẹp trừ nạn tham nhũng và đặc biệt là làm an tâm hai cường quốc láng giềng là Trung quốc và Nga.

Trung Quốc rất e ngại và phong trào dân chủ tại Kirghizstan sẽ lan tràn qua Tân Cương và người dân Uighurs (cũng gốc Thổ như Kirghiz) sẽ noi gương theo đòi tự trị và dân chủ. Nhất là nhiều nhóm đã chính thức chống đối và Trung Quốc đã nhiều lần dùng quân đội để dẹp bỏ. Tân Cương rất quan trọng cho Trung quốc chẳng những vì vần đề lãnh thổ mà còn vì Tân Cương là nơi có rất nhiều dầu thô và khí hơi, những nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển của họ. Kirghizstan cũng có rất nhiều tài nguyên chưa khai thác mà Trung Quốc cũng dòm ngó từ lâu, và mong sẽ khai thác.

Nga cũng rất e ngại mất ảnh hưởng tại Kirghizstan, không vì tài nguyên của quốc gia này, nhưng họ lo ngại đến việc phong trào đòi hỏi dân chủ sẽ lan tràn qua các quốc gia lân cận, đặc biệt là Kazakhstan nơi mà quyền lợi của họ rất nhiều. Nếu dân chủ lan tràn sang Kazakhstan thì các dân tộc thuộc giống Thổ trong các nước cộng hòa tự trị của Liên Hiệp có thể đòi độc lập hoặc ít ra, đòi hỏi một cách mạnh mẽ hơn dân chủ và công bằng. Họ lại ngại đến ảnh hửong của khối Tây phương, đặc biệt là của Hoa Kỳ, và của Thổ Nhĩ Kỳ. Thổ Nhĩ Kỳ vẫn mong muốn thiết lập một thị trường chung với những dân tộc cùng giống với họ đang sống tại Trung Á.

Đối với Nga và Trung Quốc, mối nguy Hoa Kỳ là một mối nguy tương tự, vì Hoa Kỳ có thể lợi dụng để đặt thêm nhiều căn cứ quân sự ngay nách họ. Trong cuộc tranh dành ảnh hưởng và bảo vệ quyền lợi, Hoa Kỳ vẫn luôn luôn tìm những căn cứ trong vùng để thể tiếp tục kiểm soát dầu hỏa Trung Đông và đặc biệt là Iran, nhất là khi quốc gia này định tiếp tục chương trình sản xuất vũ khí nguyên tử. Dù các quốc gia này có theo Hồi Giáo, nhưng theo phái sunnite, nghĩa là không cùng phải với các giáo chủ Shii tại Iran họ có thể ảnh hưởng lên được qua những viện trợ kinh tế cũng như kỹ thuật. Nhu cầu của Hoa Kỳ có những căn cứ tại Trung Á càng quan trọng hơn khi Tây Âu lần lần không đồng ý với chính sách ngoại giao của họ.

Nhưng đó là tương lai, việc đáng ghi nhận ngày hôm nay là dân chủ vẫn tiếp tục tiến triển trên thế giới và không sớm thì muộn các chế độ độc tài sẽ lần lượt rơi rớt như lá vàng mùa thu. Điều cần nhất là dân phải thấy nhu cầu đòi hỏi quyền làm chủ. Các lực lượng quân đội và công an vì đa số cũng gốc từ dân ra, nếu họ còn chút ít lương tâm thì lần lần sẽ đứng về phía người dân. Chỉ có thiểu số lãnh đạo mới quyết tâm bảo vệ những kẻ ăn trên ngồi trước và phải lo ngại cho tương lai của họ.

Nguyễn Ngọc Danh

 

Rồi Hết Chiến Tranh
Tưởng Năng Tiến
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 14 THÁNG TƯ 2005)

Hơn ba mươi năm trước, khi cuộc chiến ở Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mường tượng ra một viễn ảnh thanh bình làm say đắm lòng nguời : "Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đường".

Sau cuộc chiến, quả nhiên trẻ con có la cà và tụm năm tụm ba hơi nhiều trên đường phố. Chỉ có điều là tuyệt nhiên không nghe một đứa nào hát đồng dao ; đã thế, phần lớn tụi nhỏ đều tham dự tích cực vào nhiều sinh hoạt không thích hợp cho lắm với tuổi thơ : bới rác, móc túi, ăn mày, bán cần sa, và nài nỉ mời khách mua dâm - với một thứ ngôn ngữ sỗ sàng và sống sượng đến độ có thể làm đỏ mặt một người da đen hay da đỏ : "Chú ơi, chú chơi cháu đi !." (Hoàng Hữu Quýnh - Tôi Bỏ Đảng, Tập I : Bản Cáo Trạng Chế Độ Hà Nội, trang 140, 1989, trích từ Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư của Minh Võ, Thông Vũ xuất bản năm1999).

Đó là những chuyện chỉ có tính cách "hiện tượng," xảy ra từ một hai thập niên về trước, khi hòa bình mới đuợc vãn hồi, và xã hội còn nhiều tệ đoan do tàn tích của chiến tranh. Với thời gian, bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam mỗi lúc được nhận biết rõ ràng hơn.

Từ Hà Nội, ký giả Huw Watkin tường thuật rằng cứ trung bình trong số năm đứa bé lê la ở "ba mươi sáu phố phường" thì có một đứa ăn xin. ("Children Sold Into Begging, Pimping and Drug Dealing". South China Morning Post 18 April 2000). Bốn đứa còn lại, tất nhiên, cũng bận : đánh giày, bán vé số, dắt mối, bán ma túy ! Cũng theo bài báo này thì lực luợng trẻ con đi ăn mày, làm ma cô và bán ma túy ở Việt Nam đang dần được đưa vào tổ chức (recent media reports that children are being increasingly used by organized begging gangs, pimps and drug dealers).

Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn muốn bao biện mọi chuyện và và lãnh đạo mọi nơi - kể cả chùa chiền, giáo đuờng hay thánh thất ! Do đó, trong tương lai gần, thiếu nhi ở đất nước này cũng (dám) sẽ được đoàn ngũ hóa và cho thắt khăn quàng có màu sắc khác nhau - đại loại như, khăn quàng xanh : đánh giày ; khăn quàng tím : dắt mối ; khăn quàng trắng : ma túy ; khăn quàng hồng : mãi dâm ; khăn quàng nâu : ăn mày ; khăn quàng đỏ : thu thuế và theo dõi hoạt động của những loại khăn quàng khác !

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cũng chấm dứt luôn sự chia cách giữa hai miền Nam - Bắc. Viễn tượng thống nhất cũng đã được hình dung bởi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trước đó, và cũng là một hình ảnh khiến cho không ít kẻ phải ước mơ : "Một đoàn tàu đi tỏa khói trắng hai bên đường !"

Một lần nữa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lại đúng, dù vẫn chưa đúng hết. Sau cuộc chiến, quả nhiên là có đoàn tàu Thống Nhất xuôi ngược Bắc - Nam. Điều đáng tiếc là hành khách lại luôn luôn ở tâm trạng bất an. Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo bị công an xét hỏi và tịch thu hàng hóa, nếu là dân buôn lậu. Và tất cả đều lo sợ bị ném đá vỡ đầu. Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng - đợi xe lửa đi qua - thi nhau ném vun vút vào cửa sổ !

Do vậy, tàu Thống Nhất đuợc "cải tiến" bằng cách rào kín mọi khung cửa bởi dây kẽm theo hình mắt cáo. Từ đó, nó trông y như những toa xe dùng để chở tù. Những đoàn tàu như thế mà đi phom phom, hớn hở hú còi, và hân hoan thơ thới, sung sướng "tỏa khói trắng hai bên đường" thì trông (e) mỉa mai và (có phần) hơi lố bịch !

Trịnh Công Sơn chỉ gần hoàn toàn đúng khi mô tả thảm cảnh sau đây : "Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xuơng con mình !" Nói là "chỉ gần hoàn toàn đúng" vì cuộc chiến đã tàn một phần tư thế kỷ. Thế hệ của những "mẹ già lên núi tìm xương" đã qua nhưng chuyện đào bới hài cốt vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất - theo như tường thuật của Rajiv Chandrasekaran, "Những Gia Đình Việt Nam Tìm Kiếm Thân Nhân Mất Tích Của Họ" (Vietnamese Families Seek Their MIAs.Washington Post 3 April 2000 : A1).

Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt hai muơi lăm năm qua, chị của ông ta (Bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300.000 lính Bắc Việt chết trận mất xác - và kể như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located ố and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội : "Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt ; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này !". Vẫn theo lời ông Ban : "Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những người đã chết" (Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm sống của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam - dù họ đều là những kẻ sống sót sau cuộc chiến vừa rồi. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Trần Bạch Đằng nào đó đã giải thích với phóng viên Rajiv Chandrasekaran như sau : "tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót." (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors of the war).

Vì đảng viên Cộng Sản Việt Nam là những nguời theo chủ thuyết duy vật nên không quan tâm đến những việc làm có tính cách duy tâm chăng ? Nói vậy e không được ổn. Nhìn cái cách họ "thờ" ông Hồ Chí Minh thì biết. Họ có cả một Bộ Tư Lệnh để bảo vệ lăng ông ta mà. Họ đâu phải là những kẻ vô tâm và lo tốn kém.

Họ ướp xác ông Hồ và bảo trì cũng như bảo vệ nó tới cùng chỉ vì nó có giá trị như một thứ môn bài (patent) cho phép họ tiếp tục hành nghề cách mạng - hay ít nhất thì họ cũng tưởng hoặc mong như thế ; còn 300.000 ngàn bộ xuơng của đám binh sĩ chết dấm chết dúi đâu đó, trong cuộc chiến vừa rồi, đâu còn một chút giá trị thực tiễn nào nữa khiến họ phải quan tâm.

Rõ ràng họ không phải là những người duy vật, cũng không phải là những kẻ duy tâm mà là những tên duy lợi ! Hãy nhìn vào thực tế, xem cô nhi quả phụ hay bố mẹ của những kẻ đã hy sinh được "chăm lo" ra sao - từ nửa thế kỷ qua ?

"Lúc ấy người ta sợ nhất là nhìn thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt người cán bộ xã. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó họ sợ nhất là sau cái "lễ truy điệu trọng thể" để "Tổ Quốc ghi công" là họ bị đẩy ra lề xã hội, không ai nuôi dưỡng" (sđd trang 136 - 138).

"Lúc ấy," qua đoạn văn vừa dẫn, là hình ảnh của xã hội miền Bắc vào thập niên 60 và đầu 70 khi mà Đảng Cộng Sản Việt Nam còn cần động viên xương máu người dân cho chinh chiến. Cuộc chiến đã tàn. Bây giờ thì họ còn cần gì đến ai nữa ?

Do đó, khi thấy một phế nhân lê la xin ăn trên hè phố Sài Gòn, đừng vội nghĩ đó là thương binh của quân đội miền Nam - những kẻ thuộc phe bại trận. Không nhất thiết như thế đâu. Bây giờ ăn mày là một cơ hội đồng đều (equal opportunity) không phân biệt tuổi tác, giới tính hay thành phần xã hội. Ranh giới giữa kẻ thắng và người bại đã bị xóa nhòa từ lâu ở đất nước này. Nơi đây - trước đói rách, khủng bố và mọi bất công xã hội - tất cả đều bình đẳng. Việt Nam hôm nay chỉ còn một nhóm người thu tóm hết quyền bính cũng như sở hữu mọi tài sản xã hội, và cả một dân tộc bị trị vì đã bị lừa gạt trắng trợn - thế thôi.

Bài báo của Rajiv Chandrasekaran kết thúc bằng một tâm sự não lòng : "Tháng 4 năm nay khi cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 25 năm sau ngày "giải phóng miền Nam" và thống nhất đất nước nhiều gia đình đã đến nghĩa trang để thăm mộ thân nhân. Riêng bà Thắm thì có cảm tưởng mình bị bỏ rơi. Theo bà ta thì "em tôi đáng lẽ phải nằm trong nghĩa trang liệt sĩ chứ đâu phải ở rừng sâu." (My brother belongs in the Martyrs "Cementery," Tham said, "not out in the jungle").

Người ta có thể hiểu được tình thương yêu vô hạn của bà Thắm đối với người em vắn số nhưng thực khó mà chia sẻ với bà ta cái ảo tưởng rằng ông Nguyễn Dinh Duy là liệt sĩ. Cùng với hàng triệu nguời khác nữa, sự hy sinh của ông Duy - chung cuộc - chỉ đẩy cả một dân tộc vào cảnh lầm than và băng hoại. Bà Thắm vẫn chưa nhận ra được rằng cái được mệnh danh là cuộc chiến "chống xâm lược""giải phóng miền Nam" vừa qua chỉ là những canh bạc bịp. Nhờ vào gian manh, thủ đoạn và tất cả những mánh khóe lường gạt cần thiết nên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng. Còn nhân dân thì thua trắng tay. Họ mất ráo mọi thứ, kể cả xương cốt của người thân, để đổi lấy những "bảng ghi công : "Liệt Sĩ, Gia Đình Có Công Với Cách Mạng, Mẹ Việt Nam Anh Hùng" hoặc giản dị hơn nữa là một cái bãi đất mênh mông (chi chít bia mộ) với bốn chữ "Nghĩa Trang Liệt Sĩ" treo ở cổng vào, và chấm hết."

Chỉ có thế thôi mà bà Thắm vẫn bị đứng ngoài. Bà ta có lý do để buồn, dù đó một nỗi buồn "không lấy gì làm chính đáng". Buồn hơn nữa là một phần tư thế kỷ sau khi chiến tranh chấm dứt, một số nguời Việt ở hải ngoại - những kẻ có nhiều cơ hội để nhìn vấn đề một cách khách quan hơn - vẫn tiếp tục tranh cãi và xỉ vả lẫn nhau về những chuyện rất không cần thiết và cũng chả chính đáng tí nào.

Họ giống như những nguời đàn bà nhà quê đi chợ bằng xe lam. Trên xe bị một thằng lưu manh dụ chơi bài ba lá, lột hết tiền, và đuổi xuống xe. Thay vì xúm nhau, túm cổ thằng khốn nạn, vả cho nó rụng hết răng rồi lấy lại tiền thì họ quay ra xa xả đổ thừa lỗi lầm cho kẻ này người nọ ; sau đó, họ cãi vã và xỉa xói lẫn nhau - bằng những ngôn từ nặng nề và thô tục nhất : đồ ngu, đồ cò mồi, đồ tay sai !

Trước hoạt cảnh này, nếu có ai lên tiếng khuyên lơn là họ nên đoàn kết lại để chung sức đối phó với kẻ gian manh thì (rất có thể) sẽ bị mắng là "đồ chủ trương hòa giải và hòa hợp". Cụm từ này - trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, vào thời điểm hiện tại - có nghĩa là "đồ đón gió trở cờ". Cũng như người Việt, tiếng Việt (đôi khi) không dễ hiểu.

Tưởng Năng Tiến

 

Những Mẩu Kính Màu (kỳ 9)
Nguyễn Minh
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 14 THÁNG TƯ 2005)

Minh suýt khóc khi nhìn thấy bà mẹ vợ mù loà cùng đứa con gái nhỏ đến thăm nuôi anh. Năm Lan đã thuê hẳn một chiếc xe Toyota để đưa họ đến gặp anh tại trại giam Chí Hoà. Trong cuộc đời lưu lạc bể trầm luân của Minh, đây là lần đầu tiên anh cảm thấy mủi lòng và nhận ra mình còn có thể có được hạnh phúc của một con người.

- Con cố gắng giữ gìn sức khoẻ... Dẫu có thế nào đi nữa, mà cũng xem con là con... Phải cố mà về với con bé Thảo, má già rồi chẳng biết còn được đến bao lâu nữa là phải đi thôi... Bà mẹ Út Huệ nói, giọng buồn rầu.

- Vợ con sao rồi hả má ? Minh hỏi dù anh lờ mờ nhận ra số phận bi thảm của Út Huệ sau khi nghe Năm Lan nói rõ mọi chuyện.

Bà mẹ xua tay rồi quay đi. Minh hiểu, đó chính là một cách trả lời.

Con bé Thảo còn quá nhỏ để hiểu điều gì đang xảy ra cho cha và mẹ, nó vẫn bi bô với Minh những câu nói ngọng nghịu đầu đời.

Qua khe cửa lưới ngăn cách, Minh với tay sờ nhẹ vào chân con với vẻ mặt buồn hiu. Anh biết sẽ còn lâu lắm, anh mới được tự do. Người nào đó tố cáo anh rất rành rẽ mọi việc làm phi pháp của anh. Thậm chí, có những việc anh đã có phần quên lãng, thế mà kể cả số liệu, chi tiết, ngày giờ thực hiện... đều có trong đơn thưa. Anh nhìn ra xa hơn, một khoảng sân vắng vẻ, nắng đang trải vàng rực và bầu trời xanh ngát không một bóng mây... Anh chợt hối tiếc đã không nghe theo lời khuyên của nhóm bạn mới quen, nếu như anh chấm dứt ngay lập tức việc tham gia làm hàng loạt giấy tờ, làm sao dẫn đến kết cục tai hại này ? Ít ra, nếu tự do, anh cũng có thể làm được một điều gì đó cho Út Huệ, cho bà mẹ mù lòa của cô, cho bé Thảo, cho tất cả những người thân quen, anh xem là một phần máu thịt của chính mình. Anh thở dài...

- Dượng cứ yên tâm, chúng tôi sẽ cố thu xếp mọi việc sao cho ổn thỏa và hợp lẽ công bằng... Năm Lan nói với nụ cười không mấy gì tươi tắn.

Mừng tiến đến sát ô cửa lưới, anh nhìn Minh với ánh mắt vừa tinh nghịch vừa có chút khó hiểu. Minh chưa kịp chào bạn đã nghe Mừng gắt nhỏ :

- Cậu vừa phải thôi, con bé Châu đứng đợi nãy giờ mà không hỏi lấy nó một câu, tối nay về trời lại mưa suốt cho mà xem !

Minh ngẩn người chưa hiểu hết ý tứ của câu nói, đã thấy Mừng gọi lớn :

- Châu, lại chú Minh bảo cái gì kìa ! Còn đứng đấy làm gì ?

Đang vờ lục soạn túi xắc, con bé ngẩng lên nhoẻn miệng cười. Minh ngạc nhiên nhận ra, chỉ sau vài tháng, con bé ốm loắt choắt năm nào, đã là một cô gái xinh đẹp hơn người. Anh cười, đưa tay ngoắc...

- Chú ăn ngủ được không ? Cháu thấy chú hốc hác lắm đó nghen ? Con bé nhìn Minh với tia nhìn thương xót, nó nhìn thấy những vết hằn sâu trên trán anh...

- Chà, cô Châu lúc này mau lớn quá hả ? Chuẩn bị đi lấy chồng đến nơi rồi còn gì ! Anh cười trêu con bé đang trổ mã thành một thiếu nữ xinh xắn.

Châu đỏ mặt lắc đầu nguầy nguậy, con bé cau mày nói với giọng ấm ức :

- Sao chú nói vậy ? Chú còn ở đây, cháu đâu dám nghĩ gì... Ngày nào chú tự do về đi rồi cháu sẽ tính...

Tất cả những người cùng đi thăm Minh đều bật cười trừ con bé Thảo và bà ngoại. Năm Lan nhìn con bé nói chuyện với Minh, với kinh nghiệm của một phụ nữ, nàng hiểu ngay điều gì đang xảy ra trong tâm tư của nó... Chỉ có Minh, với mặc cảm của kẻ tật nguyền, với những chuẩn mực đạo đức của riêng anh ta và với tất cả những bi kịch tình cảm đã trải qua, đã không cho phép anh nhận ra điều cả Mừng lẫn Năm Lan đều hiểu chính xác.

***

Những lá đơn thưa của Năm Lan đi kèm chứng cớ, gởi về Ban Nội Chính Tỉnh Ủy, về công an tỉnh, đều mất hút như chưa bao giờ có... Sự im lặng đáng sợ ấy đã làm Năm Lan hiểu thế lực thực sự của Ba Tí ghê gớm hơn cô tưởng. Mặc kệ những trở ngại, Năm Lan vẫn tiếp tục gõ cửa các vị quan chức trong tỉnh để quyết tâm làm sáng tỏ sự mất tích khó hiểu của em gái.

Một hôm, Năm Lan nhận được một cú điện thoại hẹn cô đến Sở Công An tỉnh để gặp Ban Thanh Tra. Cô khấp khởi mừng thầm vội phóng xe đến ngay...

Người tiếp cô, hóa ra là ông phó giám đốc phụ trách cảnh sát, người sắp sửa về hưu để chiếc ghế lại cho Ba Tí, gã đàn em cúc cung tận tụy với ông, từ trong thời kháng chiến. Năm Lan còn lạ gì bản tính ưa nịnh của ông ta.

- Cô làm cái trò gì vậy ? Vợ chồng với nhau có gì không phải đóng cửa dạy nhau... Đâu lại có cái kiểu đơn từ thưa gởi lung tung như vậy ?

- Thưa chú Bảy, vợ chồng là một lẽ còn đây là chuyện Ba Tí có dấu hiệu phạm pháp hình sự, vì sao cháu không được tố cáo ?

- Cô tưởng với bấy nhiêu chứng cớ là đủ để buộc tội chồng cô sao ? Tôi nói cho cô biết, nếu cô không chấm dứt trò đơn thư kiểu đó, tôi sẽ đề nghị với bên tỉnh ủy kỷ luật cô, thậm chí bắt luôn cô đó !

- Tùy chú, nếu thưa gửi để rồi bị bắt thì có lẽ cuộc kháng chiến vừa qua của chúng ta đã là một thất bại ! Thay vì xem là một chiến thắng !

- Cô nói vậy nghĩa là sao ? Cô muốn dạy khôn tôi à ?

- Thưa chú Bảy, chúng ta ngày xưa đi kháng chiến không phải để sau đó làm quan, trở thành chính cái thứ mà chúng ta lật đổ... Nếu như chú cho rằng uy tín và danh dự của một con người như Ba Tí cao hơn sự trong sáng vĩ đại của Đảng, thì cháu cũng chẳng còn gì để nói...

- Thôi đi, cô là tuyên huấn cơ mà ! Cãi sao lại cô ! Cô về đi rồi chờ đó... Ông ta nhìn Năm Lan với đôi mắt giận dữ rồi đứng dậy tỏ ý không còn thích thú tiếp chuyện.

Chưa hết, ngay buổi chiều tối hôm ấy, Năm Lan được ông trưởng ban tổ chức tỉnh ủy gọi đến nhà dùng cơm. Sau bữa ăn, ông mời Năm Lan ra phòng khách ngồi nói chuyện. Câu chuyện cũng lại xoay quanh việc bảo cô không nên tiếp tục tố cáo Ba Tí :

- Chú còn là một người cộng sản không đấy ? Tại sao chú lại muốn bao che cho Ba Tí trước một việc tày trời như vậy ? Năm Lan không giữ nổi bình tĩnh, cô độp luôn vào mặt thủ trưởng của mình. Ông sững người trước lời lẽ quá đỗi nặng nề của cô cháu gái, người mà ông hết sức quí mến từ lúc còn là một cô bé con.

Nhận thấy lời nói có phần quá đáng của mình với ông chú họ, Năm Lan đấu dịu :

- Thôi, cháu cũng đã vượt quá phận con cháu của mình quá xa... Chú cho cháu xin lỗi, nhưng - Cô dừng lại nhìn thẳng vào mặt thủ trưởng bằng ánh mắt của cô du kích ngày xưa, rồi nói tiếp :

- Cháu cũng sẽ phải làm hết sức của mình để có thể vạch trần bộ mặt của Ba Tí... Trong việc này, xin chú tin cháu, cháu đúng hoàn toàn !

Vừa về đến nhà, cô đã nhìn thấy chiếc xe U- oát quen thuộc của công an huyện đậu trước cổng ra vào. Sau một thoáng ngần ngại, cô quả quyết đi vào nhà.

Ba Tí đang ngồi chờ cô ở ghế dựa vội ngồi dậy đon đả :

- Em đi đâu về muộn quá làm anh đợi cả giờ đồng hồ... Anh mới mang ít quà sau chuyến công tác Hà Nội về cho má với em đây !

Năm Lan nhìn Ba Tí với ánh mắt khó chịu. Cô nhận ra mình đã quá ngây thơ, thậm chí là ngu xuẩn khi không nhận ra bản chất hung ác, đê tiện của Ba Tí khi gã mới bắt đầu tỏ tình với cô. Thật là quá muộn, nhưng dẫu sao cũng còn hơn không ! Năm Lan không nói gì, cô đi thẳng vào phòng của mình...

- Anh muốn nói chuyện riêng với em... Ba Tí đến tận cửa phòng nói vọng vào.

- Tôi nghĩ, cũng chẳng có chuyện gì để nói... Những gì cần thiết, tôi đã nói hết, ông hãy tự suy nghĩ rồi biết mình phải làm gì rồi mà ! Năm Lan vẫn không thèm bước ra, cô chỉ hơi ngoái đầu ra cửa khi nói.

- Ừ, thì thôi, nếu em không muốn nói chuyện với anh nữa thì thôi vậy...

Ba Tí cố nén giận nói với giọng mềm mỏng :

- Có điều, anh chỉ muốn em thôi đi ba cái trò vớ vẩn thọc gậy bánh xe... Anh không muốn !

- Như thế là thọc gậy bánh xe ? Năm Lan nổi cơn giận dữ, cô đi luôn ra ngoài phòng khách nhìn thẳng vào mặt Ba Tí nói luôn một hơi :

- Ông cứ nhìn lại mình đi ! Tất cả những gì ông đối với tôi, với gia đình tôi coi như bỏ qua, nhưng, ông đã làm gì con Út ? Ông giết nó hay đang giấu nó ở đâu ? Những việc ấy, tôi nghĩ, chỉ có luật pháp công minh mới buộc được ông trả lời,có phải vậy không chớ ?

- Luật pháp ? Ở đất này, luật pháp chính là Ba Tí... Cô hiểu chưa !

Không còn kềm chế được nữa, gã buột miệng quát. Đoạn, gã bước luôn ra cửa bằng những bước sải thật dài...

***

Ngay hôm sau, Năm Lan đưa mẹ và con bé Thảo lên Sài Gòn để ở tạm nhà của Minh. Hơn ai hết, cô hiểu Ba Tí, chẳng có gì mà gã ngại không dám làm, kể cả những việc tàn ác nhứt hoặc đê tiện nhứt...

- Cô tạm thời đừng về quê nữa,e có chuyện không hay... Mừng nói với ánh mắt thương xót sau khi nghe cô thuật lại những gì đã xảy ra.

Năm Lan mỉm cười, cô vẫn biết điều Mừng khuyên là chính xác, nhưng nếu không về quê đấu tranh trực diện với Ba Tí, làm sao tìm ra tung tích Út Huệ.

- Cảm ơn anh, tôi sẽ cố gắng cẩn thận... Năm Lan nói trong lúc nhìn đi nơi khác. Cô biết, cuộc đấu tranh sinh tử này với Ba Tí, có thể dẫn đến một kết quả bi thảm. Ba Tí vốn là kẻ thâm hiểm và có thế lực, cô ngày càng nhận ra những trở ngại do gã dựng ra, nhưng cô sẽ quyết làm cho đến cùng.

Trưa hôm ấy, Năm Lan được Mừng dùng xe gắn máy để chở ra bến xe về lại quê nhà. Khi cô đã yên vị trên xe, Mừng còn đậu xe sát khung cửa để nói với giọng ăm ắp tình cảm :

- Có gì nguy hiểm, cô cứ điện thoại lên cho bọn tôi... đừng ngại...

- Không đến nỗi thế đâu, tôi biết phải làm gì mà... Năm Lan trả lời. Cho đến khi xe lăn bánh, cô còn thoáng thấy bóng Mừng ngồi trên chiếc xe gắn máy lẽ loi giữa bải đậu xe khách rộng mêng mông. Chẳng hiểu sao, cô thở dài...

***

Được hai hôm, con bé Châu theo lời dặn của nhóm Mừng xuống tìm Năm Lan.

Con bé vào thẳng văn phòng làm việc của cô để gặp nói nhỏ :

- Chú Định bảo con gọi cô lên ngay Sài Gòn... Có tin mới về việc Ba Tí !

Trong phòng làm việc kín đáo, con bé thuật vắn tắt lại lời của Định :

- Chú Định đã đưa đơn thưa của cô cho ông Phong thủ trưởng của chú ấy xem, ông ấy chuyển toàn bộ luôn cả bản photocopy cuốn vở, lá thư... cho một ông trung tướng đã về hưu. Ông này hứa sẽ vận động để có sự can thiệp từ trung ương, chú Định muốn cô lên Sài Gòn để gặp một số người quan trọng ! Năm Lan mừng ra mặt. Hơn ai hết cô hiểu, nếu ở tỉnh - với thế lực bao che cho Ba Tí toàn là những kẻ đương quyền, cô khó có hy vọng nào...

Nhưng để vượt lên cấp trung ương, thói quen của một công chức đã không cho phép cô làm như vậy. Mà chỉ có cách ấy, mới mong làm sáng tỏ mọi việc.

- Châu đi với cô công chuyện ! Cô vừa nói vừa thu dọn bàn làm việc.

Dắt honda ra khỏi cổng cơ quan, Năm Lan nhác thấy bóng của Giàu nấp sau một gốc cây to ở lề đường đối diện. Bất giác cô chột dạ...

Chở con bé ngồi sau đến nhà một người bạn ở ngoại ô, Năm Lan lập tức soạn sẵn hàng trang để đi Sài Gòn. Sắp xếp xong, cô dặn con bé :

- Con đợi cô một lát, cô đi đến nhà thủ trưởng xin phép nghỉ vài ngày...

Để con bé đứng đợi ở cổng nhà, Năm Lan đạp xe máy rồi vọt ra đường.

Ngay lúc cô vừa quẹo lên con lộ nhựa, trước cặp mắt kinh hoàng của Châu, một chiếc xe tải từ xa phóng đến đụng luôn vào cô ! Cú va đập khủng khiếp hất tung Năm Lan ra khỏi xe văng vào lề đường trong lúc chiếc xe tải ngon trớn cán nát chiếc honda... Chưa một ai kịp hiểu rằng tai nạn đã xảy ra thì chiếc xe tải phóng chạy mất dạng.

Người bạn gái của Năm Lan lao ra đến bên cô. Cô đã bất tỉnh nhân sự.

Chiếc xe tải chỉ cần chậm đi một phần mười giây thì tan tành dưới mười chiếc bánh xe của nó không phải là chiếc honda mà là cô Năm Lan xinh đẹp... Vừa đưa vào bệnh viện tỉnh để cấp cứu, Năm Lan đã được chuyển lên phòng mổ. Ngoài những chiếc xương bị gãy, bác sĩ còn nhận định cô đã bị vỡ gan ! Con bé Châu vừa khóc sướt mướt vừa gọi điện về nhà báo tin cho Mừng. Mừng tái người trước tin dữ vội chạy đến đơn vị tìm Định, sau đó hai anh em cấp tốc phóng xe về quê Năm Lan.

***

- Mẹ kiếp, làm ăn dở như hạch ! Ba Tí rít lên trong kẻ răng trước một gã thuộc hạ đang run như cầy sấy. Gã quay qua nói với Giàu bằng một chất giọng đanh gọn :

- Còn không biết tìm cách làm luôn cho gọn trong bệnh viện ?

- Dạ, em biết rồi ! Giàu nói trong lúc vẫn còn bực bội tên đàn em lái chiếc xe tải đã quá vội vã nên thực hiện lệnh sát thủ không đến nơi đến chốn. Để diệt luôn "con quỉ cái" Năm Lan ở bệnh viện cũng chẳng phải là khó nhưng làm sao khỏi gây sự nghi ngờ về việc sát nhân diệt khẩu của Ba Tí, mới là chuyện cần tính toán. Gã vạch luôn một kế hoạch và dự tính sẽ trực tiếp ra tay cho chắc ăn. Giao bọn hồ đồ, hậu đậu, đôi khi hỏng hết mọi chuyện mà còn lộ cả tung tích nữa là khác !

Gã nhận được thông tin Năm Lan đã qua cơn nguy kịch và được chuyển từ phòng mổ qua khu hồi sức từ sáng sớm. Với một mụ đàn bà tay yếu chân mềm lại còn hôn mê sau cuộc giải phẫu, một chiếc gối to chặn lên mặt độ năm mười phút là xong chứ có gì phải nhọc xác làm lớn chuyện ?

**

Con bé Châu ra tận cổng đón Mừng và Định. Vừa đi dọc con đường trải sỏi vào cửa trung tâm cấp cứu, nó vừa kể lại tai nạn xảy ra với Năm Lan.

- Có bàn tay thằng Ba Tí trong vụ này rồi ! Định nhận xét.

- Thằng chó chết ! Tôi đã nói rồi mà cô ấy không nghe... Mừng buột miệng.

Định trầm ngâm một lúc rồi nói nhỏ với Mừng bằng giọng nghiêm trọng :

- Ở đây không ổn đâu ! Đất này là đất của thằng khốn Ba Tí ấy, tôi e rằng khi biết cô ta còn sống, có trời mới đoán nổi nó sẽ giở tiếp cái trò gì !

- Vậy theo ông, mình tính sao ? Mừng tỏ vẻ lo lắng. Anh bộ đội đặc công vốn chẳng xem nguy hiểm ra gì nhưng khi mối nguy hiểm ấy hướng về Năm Lan thì đó lại là điều anh sợ nhứt ! Chẳng hiểu sao, từ lúc quen biết cô, Mừng luôn nghĩ đến bằng tất cả những gì trân trọng nhứt.

- Tôi có cách... Định quả quyết.

Ở đâu tiền cũng là tất cả, dù tất cả chẳng phải là tiền, Định sử dụng ngay qui luật bất thành văn ấy. Một số tiền không nhỏ được tung ra đúng lúc để có được quyết định rạng sáng ngày mai sẽ đưa Năm Lan lên bệnh viện Chợ Rẫy... Con bé Châu và hai anh chàng gốc bộ đội quyết định thay nhau canh gác cho Năm Lan cho đến lúc chuyển đi.

***

Hai giờ sáng, Giàu đến bệnh viện. Gã lẻn vào bằng lối cửa sau và đột nhập lên tầng một của trung tâm cấp cứu dưới tấm áo choàng của một bác sĩ. Nửa giờ sau, gã đã tìm đến đúng cửa phòng 101, nơi Năm Lan đang nằm.

Bằng một động tác nhà nghề, gã mở cửa khẽ khàng không có lấy một tiếng động...

Nhìn thấy con mồi đang nằm trên gường, Giàu nhếch mép cười. Thật dễ hơn ai giết một con ruồi, gã nghĩ vậy rồi tiến nhanh về phía Năm Lan. Chợt gã khựng lại, ngay trên nền gạch, một gã đàn ông mặc bộ quần áo bộ đội đã bạc màu đang nằm co quắp. Suy nghĩ thật nhanh, Giàu rút ra ở bụng ra một con dao găm nhọn lễu. Gã vừa vung dao toan xuống tay giết gã đàn ông kỳ đà cãn mũi thì nghe tiếng la lớn của một cô gái. Vừa khựng lại chưa đến một giây Giàu đã lãnh luôn một cú đạp vào hạ bộ. Người đàn ông tung cú đá hiểm ngồi bật dậy ôm luôn chân tên sát nhân ghịt cho hắn ngã ngửa. Khốn nỗi, lưỡi dao trên tay Giàu đã cắm vào vai anh ngập đến tận chuôi ! Mừng, chính là anh, vẫn còn gượng được để dùng trán mình đập mạnh vào sống mũi gã sát thủ. Rốp ! Có tiếng xương vỡ và Giàu ngã vật xuống nền gạch như một cây chuối bị đốn. Mừng cũng lăn qua một bên ngất lịm...

***

Tin Giàu thất bại trong việc hạ thủ Năm Lan ở bệnh viện mà còn bị bắt giữ do đâm người đến với Ba Tí vào một buổi sáng. Gã ngồi lặng đi ở chiếc ghế bọc nệm êm như nhung trong phòng có gắn máy điều hòa không khí, một đặc ân khó có vào thời bấy giờ so với chức vụ trưởng công an huyện của gã. Gã bắt đầu cảm thấy sợ hãi một vụ đổ bể ngay trước cuộc bầu bán chính thức của công an tỉnh. Gã tiếc đã không tự tay phục kích bắn chết Năm Lan khi cô mới dọa tố cáo mình. Sự do dự của gã dẫn đến hàng loạt các thất bại khác, cuối cùng là việc Giàu bị bắt giữ. Mối quan hệ quá sâu của gã với Giàu, nếu tên này không biết giữ mồm, hẵn sẽ là mồ chôn giấc mơ danh vọng của một Ba Tí hãnh tiến, thủ đoạn. Cần phải bịt mồm tên thuộc hạ biết quá nhiều này ngay lập tức ! Nghĩ là làm, Ba Tí vội điện thoại cho cô nhân tình của mình, bồ ruột Giàu :

- Em xem đi thăm thằng Giàu... Nó đang bị giữ ở trại tạm giam công an tỉnh... Có gì ghé qua gặp anh một chút nghen cưng ?

Khi cô gái đến, Ba Tí vội lôi luôn vào phòng với câu dặn anh chàng trực ban quen thuộc :

- Tôi có cuộc trao đổi riêng với cô này, đồng chí không cho ai vào nhé !

Cuộc "trao đổi riêng" kiểu ấy quá quenthuộc với những thuộc cấp ở trụ sở công an huyện nên anh chàng trực ban chỉ mỉm cười vâng dạ rồi lại lúi húi với quyển truyện đọc dở.

Đã lâu không được hưởng ơn mưa móc nên cô gái hết sức vui vẻ. Khi xong xuôi, trong lúc cô đang mặc lại quần áo, Ba Tí hỏi, giả như buâng quơ :

- Em đã mua gì để thăm thằng Giàu chưa ? Ở trong ấy khổ lắm đó nghen !

- Có, em đang kho thịt ở nhà... Lát nữa ghé qua chợ mua thêm ít đồ dùng nữa là xong !

Cô gái nũng nịu trả lời :

- Anh đi với em nghen ?

Ba Tí gật đầu. Để cô gái ngồi lại ở phòng, gã bỏ đi một lúc rồi quay lại, hất hàm ra hiệu. Cô gái lật đật ngồi dậy đi theo người tình.

Đảo qua chợ mua sắm những thứ cần thiết xong, Ba Tí đưa cô về nhà.

- Không biết bấy nhiêu thịt kho có đủ cho anh Giàu ăn suốt tuần không nữa ? Cô gái vừa vặn nhỏ lửa vừa nói với Ba Tí đang đứng ở cửa bếp.

- Dư sức ! Em ra đầu ngõ mua cho anh gói thuốc... Ba Tí nói tỉnh bơ.

Ngay lúc cô gái vừa đi khuất Ba Tí nhanh như chớp, rút ra từ túi áo một gói giấy nhỏ đến bên bếp trút toàn bộ thứ bột trắng ấy vào nồi thịt kho đảo đều.

***

- Cậu cần nghe một tin nóng hổi này : Thằng đâm cậu vừa chuyển lên bệnh viện đêm qua. Nghe nói hắn bị đánh thuốc độc suýt chết ! Định vừa nói vừa vung vẩy tờ báo mới xuất bản.

- Lại trò điểu của thằng Ba Tí ? Mừng ngồi hẳn dậy hỏi bạn.

- Chứ còn ai ? Chắc tại thằng Giàu này biết quá nhiều nên nó phải tìm cách bịt miệng thôi... Thằng Ba Tí này quả là lợi hại ! Định trả lời.

Mừng suy nghĩ một lúc rồi buột miệng hỏi :

- Tình trạng cô Năm Lan thế nào rồi ?

Định chợt phá lên cười làm Mừng đỏ bừng mặt. Anh đang bối rối đã nghe Định nói :

- Khỏe rồi, có điều tớ thấy có sự trùng họp hết sức kỳ lạ...

- Cái gì trùng họp ? Mừng thắc mắc.

- Hồi nảy tớ ghé lại chỗ cô ta, nghe thông tin vụ thằng Gìau xong thì hệt như cậu, cô ấy cũng hỏi cậu ra sao, có khoẻ không ? Thật là kỳ lạ...

Mừng ngượng quá bèn hỏi lảng sang chuyện khác :

- Còn vụ đơn thưa thằng Ba Tí ? Có tiến triển gì không ?

- Dĩ nhiên rồi ! Nó càng loay hoay tìm cách chống đỡ, càng có nhiều yếu tố để sau này vạch rõ bộ mặt nguy hiểm của nó...

- Điều quan trọng là tìm được Út Huệ, dù sống hay chết, mới có thể buộc tội được thằng này... Mừng nói.

- Tụi mình là những thằng lính, biết mẹ gì về nghiệp vụ của cánh công an ? Có điều, cái cần tìm hiểu cho rõ là, cậu thấy Năm Lan thế nào ? Định hỏi.

- Chỉ được cái nói linh tinh !

Mừng gắt :

- Cố ấy nghe được thì phiền lắm !

(Còn tiếp)