Báo Việt
THÁNG
02/2005
Ai giết ngư phủ Việt Nam ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ ? (Trần Đức Tường)
Những bí ẩn trong vụ Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam (Nguyễn Đ́nh Sài)
Lịch sử này sẽ lặp
lại không sai ! (Nam Dao)
Thái độ của chúng ta trước thảm kịch Ngư Dân (Đoàn Hùng)
Tin Tổng Hợp : Thanh Hóa Hỡi ! Con Tim Rướm Máu ! (Thanh Thảo)
Sử liệu : So sánh hai vụ nhượng đất cho Trung Hoa (Trần Gia Phụng)
Những Mẩu Chuyện Đời : Đến lúc phải nói... (Bùi Xuân Quang)
Tường thuật : Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ kỳ 2
Giới thiệu sách : Suy Tư và Ước Vọng : Đôi lời về tác giả và tác phẩm (Đỗ Mạnh Tri)
Dân Ta Trên Xứ Người : Ḷng tự trọng của người ăn cắp (Phạm Việt Vinh)
Quan điểm : 2005 : Mở rộng sự tiếp cận trong ngoài (Nguyễn Ngọc Đức)
Diễn đàn của chúng ta : Mối quan hệ tay ba : Mỹ - Trung - Việt (Hoàng Tùng Bách)
Thế giới và chúng ta : Bầu cử tại Trung Đông : một bước tiến cho ḥa b́nh (Nguyễn Trúc Giang)
Truyện dài : Những Mẩu Kính Màu (kỳ 7) (Nguyễn Minh)
Ai giết ngư phủ Việt
Trần Đức Tường
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Dĩ nhiên, qua nhân chứng
là những ngư dân Việt Nam thuộc hai huyện Hoằng
Hóa và Hậu Lộc, Thanh Hóa chạy thoát vào bờ và vật
chứng là chiếc thuyền đánh cá của ông Nguyễn
Văn Hoàn với 206 vết đạn tiểu liên AK47 và
đại liên RPD..., những kẻ xả súng bắn vào
thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam là quân đội
Trung Cộng. Nhưng, gánh chịu trách nhiệm về vụ
thảm sát này không phải chỉ có bọn công an tuần
duyên Trung Cộng, mà c̣n cả chính quyền Bắc Kinh với
những mưu đồ to lớn trên Thái B́nh Dương.
Cùng đồng lơa chịu trách nhiệm về cái chết
thảm thương của 9 đồng bào ngư dân ta c̣n
có cả tập đoàn lănh đạo cộng sản Hà Nội
đă tạo điều kiện cho Trung Cộng gây tội
ác tầy trời này qua những Hiệp Ước, Hiệp
Định "bán nước" mà họ đă kư kết với
cộng sản Trung Quốc về biên giới trên đất
liền, về phân định Vịnh Bắc Bộ và về
cái mà họ gọi là "hợp tác nghề cá".
Từ trung tuần
tháng 1/2005 đến nay, dư luận trong và ngoài nước
đă hết sức phẫn nộ về cái tin 3 thuyền
đánh cá của ngư dân Việt Nam đă bị tầu
chiến của lực lượng tuần duyên Trung Cộng
bắn xối xả giết hại 9 thường dân vô tội,
bắt đi một tầu với 8 xác chết và làm bị
thương nhiều người khác trong Vịnh Bắc Bộ.
Để hiểu được những nguyên nhân dẫn
đến vụ bắn giết "nghiêm trọng"
này, thiết tưởng phải truy t́m tin tức báo chí Việt
Nam và quốc tế tường thuật diễn tiến sự
việc ; lập luận của phía cộng sản Hà Nội
và của Trung Cộng ; ngư dân Hậu Lộc không thể
là "cướp biển" ; những âm mưu to lớn
của Bắc Kinh trên vùng biển Thái B́nh Dương ;
trách nhiệm của CSVN về những cái chết tức
tưởi của đồng bào lao động vô tội
Việt Nam.
Diễn Tiến Vụ Bắn Giết Trong Vịnh
Bắc Bộ Ngày 8/1/2005
Theo tin tức của
hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ ngày 11/½005 và những
ngày sau đó th́ vào ngày 5 và 6/1/2005, có 4 tàu đánh cá của
ngư dân xă Ḥa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh
Thanh Hóa ra khơi đánh bắt ở "khu vực
đánh cá chung" giữa Việt Nam và Trung Quốc (TQ)
được quy định trong Hiệp Định
"Hợp Tác Nghề Cá" kư kết giữa cộng sản
Hà Nội và Bắc Kinh.
Nội vụ bắt
đầu vào khoảng 8 giờ sáng ngày 8/½005. Ông Nguyễn
Văn Hoàn, chủ con tàu sống sót trở về, kể lại :
"Như thường lệ, chúng tôi thức dậy
cùng biển từ mờ sáng. Trời lúc đó có
sương mù nhẹ. Vào khoảng 8g sáng 8.1, khi chúng tôi xác
định vị trí tàu đang ở trên vùng biển chung
VN - TQ th́ nh́n thấy hai con tàu lạ lớn hơn tàu VN nhiều
lần. Đó là hai con tàu sơn màu vécni và xanh nước biển,
không quốc kỳ, không số hiệu. Họ tiến thẳng
vào vùng nước mà tôi vừa thả lưới. Cho rằng
họ vô t́nh, tôi vẫy một mảnh vải lớn ra hiệu
cho họ tránh. Thế nhưng cả hai tàu bất ngờ
phăng phăng lao thẳng vào chúng tôi. Một chiếc
đâm trực diện vào mũi tàu làm tàu tôi chao đảo.
Tôi thấy trên tàu lố nhố người ném bát đĩa
chai lọ hù dọa, thái độ rất hung hăn. Một
lúc sau họ có thêm hai tàu mang quốc kỳ TQ và biển hiệu
lực lượng vũ trang. Bốn tàu tiến lại gần
và dùng súng quân dụng bắn xối xả vào tàu tôi. Anh em
nghe tiếng đạn hốt hoảng lao xuống khoang
lái. Riêng anh Nguyễn Văn Tâm ở thôn Ḥa Ngư, xă Ḥa Lộc
không xuống khoang kịp đă bị trúng đạn xuyên
tim máu phun lênh láng chết tại chỗ trên khoang tàu. Trong
lúc hỗn độn ấy, tôi thấy xích bánh lái bị bắn
đứt rời. Con tàu lại tṛng trành, chao đảo.
Anh Nguyễn Viết Vẻ bị thương ở đùi
nhưng vẫn c̣n kịp nhoài người vào khoang lái
điều khiển tàu nhằm hướng đất liền
chạy vào. Các tàu Trung Quốc vẫn tiếp tục truy
sát, vừa đuổi, vừa bắn gần 3 giờ
đồng hồ mới chịu quay trở ra. Qua những
giây phút sóng gió, đến đêm 9.1 tàu tôi đă cập bờ
biển Lạch Trường (Hậu Lộc). Và lúc này tôi mới
biết tàu anh Nguyễn Mạnh Hùng (con trai ông Phi Phường)
của HTX Hùng Cường đă bị tàu lạ bắt".
Trên thực tế, chiếc
tàu đầu tiên bị Trung Quốc tấn công là chiếc
tàu của Hợp Tác Xă Hùng Cường do ông Nguyễn Phi
Phường làm chủ nhiệm. Ông Phường ở trên
bờ, không đi theo thuyền. Ông cho biết : "Sáng
8/1, khi tàu của HTX Hùng Cường đang đánh cá ở
ngoài khơi vịnh Bắc Bộ th́ bị các tàu lạ
mang cờ hiệu nước ngoài bao vây, dùng súng bắn xối
xả. Trước t́nh h́nh nguy cấp, thuyền trưởng
Lê Văn Xuyên đă mở bộ đàm phát đi tín hiệu
cấp cứu, đồng thời cho tàu bỏ chạy vào
đất liền, nhưng do tàu bị chết máy giữa
đường nên đă bị tàu nước ngoài bắt
giữ. Có 8 ngư dân trên tàu (đều ngụ tại xă
Ḥa Lộc, huyện Hậu Lộc và xă Hoằng Trường,
huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) bị bắn chết
ngay tại chỗ, 8 ngư dân khác, trong đó có 2 người
bị thương đă bị bắt cùng với
tàu...". Chính v́ nhận được tín hiệu kêu cứu
mà thuyền của ông Hoàn đă chạy tới hiện
trường và cũng bị tàu Trung Cộng tấn công.
Được biết hai chiếc tàu c̣n lại là tàu của
Đặng Văn Xoai và ông Hoàng Văn Huy (cùng đánh bắt
ở khu vực biển xảy ra sự vụ) đă chạy
thoát về tới đất liền.
Tóm lại, trong vụ
tàu chiến Trung Quốc tấn công các tàu đánh cá Việt
Nam, về nhân mạng, tàu của HTX Hùng Cường bị
thiệt hại nặng nhất có 8 ngư phủ bị bắn
chết, hai người bị thương nặng ;
tàu của ông Nguyễn Văn Hoàn có thuyền trưởng
bị tử thương và 5 người bị trúng đạn.
Chiếc tàu của HTX Hùng Cường bị tàu Trung Quốc
kéo về đảo Hải Nam với 8 tử thi, 8 ngư
dân bị bắt giữ, trong đó có 2 người bị
thương.
Thái Độ Và Lập Luận Của Cộng Sản
Hà Nội
Sau 1 ngày bị tàu Trung
Quốc đuổi bắn, sáng ngày 9/1/2005, chiếc tàu mang
đầy vết đạn, 1 tử thi và 5 người bị
thương chạy về tới bờ biển Việt
Ngày 12/1/2005, tờ báo
Tuổi Trẻ lên tiếng, cũng với một bài bài báo
ngắn nhan đề "Một tàu đánh cá của
ngư dân xă Ḥa Lộc bị Trung Quốc bắt giữ".
Tờ báo này cho thêm chi tiết là "chiếc tàu đánh
cá loại 190 CV của anh Nguyễn Chi Phường, thôn Ḥa
Hải, xă Ḥa Lộc đang bị phía Hải Nam (Trung Quốc)
bắt giữ". Tờ báo c̣n cho biết thêm : "Được
biết mấy ngày hôm nay, tàu đánh cá của bà con ngư
dân xă Ḥa Lộc liên tục bị tầu nước ngoài tấn
công".
Tuy báo chí truyền
thông đều nằm trong tay Nhà Nước CSVN, hai tờ
Thanh Niên và Tuổi Trẻ được coi như những
tờ báo nhỏ so với tờ Nhân Dân, Quân Đội, Lao
Động... là những cơ quan ngôn luận chính thức
của chế độ. Sự kiện chỉ có 2 tờ
báo này mau chóng loan tải tin tức về vụ tàu chiến
Trung Quốc xả súng bắn giết ngư dân Việt Nam
khiến người ta không khỏi đặt câu hỏi "Liệu
có phải cộng sản Hà Nội muốn làm êm chuyện
này trong lúc họ đang tiếp đón phái đoàn Bắc
Kinh do Phó Chủ Tịch Quốc Hội Trung Cộng, Cố
Tú Liên hưóng dẫn, nhân dịp "mừng 55 năm bang
giao với Bắc Kinh", nên chỉ cho 2 tờ báo nhỏ
đăng tin ; hay là dù có lệnh phải bưng bít
nhưng các phóng viên của hai tờ báo đại diện
cho tuổi trẻ trong nước đă không thể tán tận
lương tâm làm thinh trước sự kiện "nghiêm
trọng" khiến 9 ngư dân Việt Nam vô tội
đă bị Trung Quốc sát hại ngay trên lănh hải của
Việt Nam ?
Điều mà chế
độ cộng sản Hà Nội không đo lường
được là ngay sau khi 2 tờ báo nhỏ đăng
tin, các hăng thông tấn nước ngoài như AFP và Reuters
đă đăng tiếp khiến cho dư luận trong
nước cũng như hải ngoại xôn xao như một
cơn băo lốc. Thư từ điện tử gửi về
hai tờ báo này có hàng trăm, hàng ngàn, nhiều web sites
đă được dựng lên thu thập hàng chục ngàn
chữ kư tỏ t́nh đoàn kết với gia d́nh các nạn
nhân Hậu Lộc bị chết, bị thương, bị
bắt, đồng thời lên án nặng nề phía Trung Quốc
đă tàn sát dă man ngư dân Việt Nam.
Biết không thể im
hơi lặng tiếng trước vụ việc trầm
trọng này, đến ngày 13/½005, tức là 5 ngày sau khi xảy
ra vụ thảm sát, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao cộng
sản Hà Nội, Lê Dũng mới lên tiếng trả lời
báo chí và tuyên bố như sau : "Chúng tôi coi việc
tàu Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân Việt Nam và làm
bị thương nhiều người khác, gây thiệt hại
đến tài sản và ngư cụ của ngư dân Việt
Nam là nghiêm trọng. Việt
Tuy ngày 13/½005, người
phát ngôn của Hà Nội lên tiếng, nhưng các báo đài vẫn
im lặng như không có chuyện ǵ xảy ra. Dư luận
ngày càng xôn xao, càng phẫn nộ. Giới trẻ trong nước
đă nói đến chuyện sẽ biểu t́nh trước
đại sứ quán Trung Quốc để phản đối.
Và chắc là sau nhiều cuộc hội họp của tập
đoàn lănh đạo tối cao của đảng và Nhà
Nước cộng sản Hà Nội, ngày 20/½005, tức là
12 ngày sau biến cố nghiêm trọng trong Vịnh Bắc Bộ,
hăng Thông Tấn Xă Việt Nam (TTXVN) mới có bản tin
đầu tiên, không phải là bản tin tường thuật
hoặc loan báo về những ǵ đă xảy ra, nhưng là
bản tin tường luật lại lời phát biểu của
Lê Dũng : "Việc cảnh sát biển Trung Quốc
sử dụng vũ khí giết hại những thường
dân Việt Nam vô tội là sự vi phạm nghiêm trọng luật
pháp quốc tế, Hiệp định phân định Vịnh
Bắc Bộ, Hiệp định Hợp tác nghề cá Việt
Nam-Trung Quốc cũng như các thỏa thuận của
lănh đạo cấp cao hai nước, làm tổn hại
t́nh cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước".
Như được bật đèn xanh, các báo Nhân Dân, Quân
Đội Nhân Dân, Lao Động, Sài G̣n Giải Phóng...
đă trích đăng nguyên văn bản tin của TTXVN
trong ngày 20 và 21/½005. Cũng trong ngày này, kênh truyền h́nh
đối ngoại VTV4 dành cho khán giả hải ngoại cũng
đă loan tải bản tin này.
Thái Độ Và Lập
Luận Của phía Trung Quốc
Ngày 15/½005, Tân Hoa Xă
đưa tin "Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cho biết
công an tuần duyên của Trung Quốc đă bắn hạ
nhiều hải tặc vơ trang và bắt sống 8 tên khác khi
chúng đang cướp thuyền đánh cá (của Trung Quốc)
đang hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ, phía
Trung Quốc". Bản tin cho biết thêm : "Theo
phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, Khổng Tuyền,
sáng ngày 8/1, nhiều thuyền đánh cá Trung Quốc xuất
phát từ đảo Hải Nam đang hoạt động
trong phần lănh hải phía Trung Quốc trên Vịnh Bắc
Bộ th́ bị 3 tàu lạ có vơ trang kéo đến định
cướp thuyền và xả súng vào thuyền của Trung
Quốc". Ông Khổng Tuyền nói rằng : "Công
an tuần duyên Trung Quốc đă chạy tới giải cứu
sau khi nhận được tín hiệu kêu cứu. Ba chiếc
tàu lạ đă nổ súng vào tầu công an và gây
thương tích cho một nhân viên công lực Trung Quốc".
Ông tuyên bố tiếp : "Công an tuần duyên Trung Quốc
bắt buộc phải có hành động cần thiết.
Họ đă bắn hạ 8 hải tặc, bắt giữ
một trong những tàu vơ trang và 8 tên khác cùng với vũ
khí, đạn dược và ngư cụ". Theo Khổng
Tuyền cho đây là một vụ cướp có vơ trang
nghiêm trọng trên biển và cho biết, các hải tặc
đă thú nhận là người Việt Nam, và đă từng
tham dự 4 vụ cướp tàu đánh cá Trung Quốc
trước đây trong Vịnh Bắc Bộ. Khổng tuyền
c̣n tuyên bố là đă thông báo cho phía Việt Nam đầy
đủ chi tiết nội vụ, đúng theo tinh thần
các hiệp ước lănh sự. Ông ta khẳng định :
"Trung Quốc có nhiều nhân chứng, vật chứng
và sẽ xử lư nội vụ theo pháp luật Trung Quốc".
Bản tin trên Tân Hoa Xă
điện tử c̣n viết thêm là "các tầu lạ
đă cướp của ngư dân Trung Quốc 310 lưới
đánh cá và hải sản trị giá 3 triệu Nhân Dân tệ,
tức 361,445 đô la Mỹ". Bản tin c̣n cho thêm chi tiết :"Công
an tuần duyên Trung Quốc cũng đă tịch thu một
súng thượng liên, 1 bao súng và 88 viên đạn. Số vũ
khí, đạn dược khác đă bị ném xuống biển
trước khi công an duyên hải bắt tàu". Bản tin
này c̣n viết : "Từ khi các hiệp ước phân
định ranh giới và hợp tác nghề cá trên Vịnh
Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam có hiệu
lực từ tháng 6 vừa qua, t́nh h́nh chung ổn định,
tuy nhiên, nhiều thuyền đánh cá Trung Quốc đă bị
đánh cướp trong vùng đánh cá chung, và như vậy
đă gây một sự đe dọa trầm trọng cho
đời sống và tài sản của ngư dân Trung Quốc".
Trên đây là những
lập luận của Trung Quốc sau khi lực lượng
tuần duyên quân sự của họ xả súng vào các tàu
đánh cá Việt Nam gây tử thương cho 9 ngư phủ
Việt Nam và làm bị thương 7 người khác, đồng
thời bắt giữ 1 tầu cùng một số người
khác. Dĩ nhiên là trong mọi cuộc tranh chấp về
biên giới, hải phận, bên nào cũng đưa ra những
lư lẽ để giành phần phải cho ḿnh. Nhưng
trong thực tế, một nước nhỏ bên cạnh một
nước lớn th́ lẽ thường t́nh là nước
lớn ăn hiếp nước nhỏ chứ khó có chuyện
ngược đời : nước nhỏ ăn hiếp
nước lớn.
Ngư Dân Thanh Hóa Có Là
Hải Tặc Không ?
V́ t́nh trạng chậm
tiến về khoa học kỹ thuật của đất
nước ta nên tuyệt đại đa số nông dân,
đặc biệt là ngư dân đều thuộc vào tầng
lớp nghèo khổ nhất trong xă hội. Công việc đồng
áng cũng như đánh bắt trông nhờ vào thiên nhiên.
Mưa thuận gió ḥa th́ đời sống đủ
ăn, đủ mặc. Thiên tai, giông băo th́ thất bát, bữa
đói bữa no. Thanh Hóa là một trong những tỉnh
nghèo nhất Việt
Từ nhiều năm
nay, trước và sau khi có các hiệp định về Vịnh
Bắc Bộ, tàu Trung Quốc đă nhiều lần tiến
hành ăn cướp và bắt tầu Việt Nam kéo về
nước họ rồi bắt chuộc. Nếu chỉ
xét trong năm 2004 th́ như báo điện tử
VietnamExpress ngày 30/1½004 cho biết : "Theo thống kê của
Bộ đội Biên pḥng Đà Nẵng, chỉ riêng trong
tháng 9/2004 đă có 5 tàu đánh cá của ngư dân các tỉnh
Quảng Ngăi, Khánh Hoà và TP Đà Nẵng bị xua đuổi
bắt giữ khi họ đang hành nghề trong vùng biển
VN". Bọn ngư tặc Trung Quốc thường xuyên
xâm phạm lănh hải Việt
Phóng viên của hai tờ
báo trong nước là Thanh Niên và Tuổi Trẻ đă tới
tận xă Ḥa Lộc và xă Hằng Trường thuộc hai
huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa để điều
tra và tới gặp thân nhân những người xấu số
đă bị tàu Trung Quốc giết hại trên biển
trong ngày 8/½005. Họ đă viết "Thương tâm lắm...
họ chỉ là những ngư dân nghèo, sao oan ức thế ?".
Tờ Tuổi Trẻ online ngày 20/½005 viết về chị
Nguyễn Thị Mùi, vợ nạn nhân Nguyễn Văn Tùng,
người đàn ông 37 tuổi vừa bị bắn chết
và đang bị giữ xác trên đảo Hải Nam như
sau : ... từ một ngách buồng tối bóng người
đàn bà mỏng như tàu lá, rũ rượi mái tóc rối
dưới vành khăn trắng cùng ba đứa trẻ ngu
ngơ khẽ khàng đi ra. Đó là chị Nguyễn Thị
Mùi. Chị không nói được, không đứng
được và cũng không nh́n được. Hồi
lâu chị Mùi mới mấp máy : "Nhà tôi có ba con nhỏ
đang đi học. Chồng tôi làm nghề chạy công nông.
Nghèo quá nghe có chủ tàu mới muốn thuê lao động
nên đi. Anh ấy mới đi một chuyến đầu...".
Tờ báo cũng tường thuật lời của vợ
nạn nhân Lên Văn Xuyên : "Chúng tôi làm bạn với
nhau trên băi biển bùn lầy từ ngày mới biết
đi. Ông cha tôi và ông cha anh ấy cùng truyền đời dẫn
nhau xuống biển kiếm sống. Chưa có tuần
trăng nào chồng tôi không đem con cá, con tôm về nuôi mẹ
con tôi. Nay đi làm thuê th́ bị bắn chết không về...".
Một người đại diện trong xă đă nói với
phóng viên : ""Tất cả những nạn nhân này
đều là bà con ngư dân đă sống với chúng tôi, với
làng quê và vùng biển này suốt từ thời ông cha họ
đến nay. Những ngư dân ấy chỉ biết tay
lưới, tay câu và ngày hai bữa mà thôi... Xă chúng tôi cũng
chưa bao giờ phải giải quyết những vụ
mất trị an hay xích mích của các ngư dân. Nay những
người chết đó c̣n kéo theo bao bất hạnh cho
người c̣n sống, bởi họ là những lao động
chính của nhiều người già, trẻ nhỏ...".
Những lời than van, thương tiếc thân nhân bị
thảm sát trên biển c̣n rất nhiều. Làm saokểcho hết
được...
Thường thường,
hải tặc th́ có sào huyệt. Những ngư dân Thanh Hóa
bị Trung Quốc gán cho cái tội "cướp biển"
là những người dân đánh cá nghèo nàn, b́nh dị. Họ
có nhà cửa, có vợ con, có làng xóm. Thân nhân của họ
đă công khai tiếp đón các phái đoàn báo chí, đă tuyên
bố công khai những chi tiết của các nạn nhân,
đă trả lời phỏng vấn của các đài phát
thanh quốc tế như BBC, RFA... Thử hỏi có hải
tặc nào có những hành động như thế
không ? Luận điệu của Bộ Ngoại Giao
Trung Quốc hoàn toàn mang tính chất thổ phỉ, cướp
biển. Hăy nghe những lời tường thuật của
thuyền viên Phạm Văn Quân, người đi trên con
tàu của ông Nguyễn Văn Hoàn bị tàu vơ trang Trung Quốc
truy sát suốt 3 tiếng đồng hồ tới gần
đất liền mới quay ra : "Khi đang ở
xa các tàu Trung Quốc có treo cờ, nhưng khi áp sát, tấn
công th́ các tàu này đă nhanh chóng hạ cờ và họ tấn
công một cách hết sức dă man với ư đồ bắn
chết hết thuyền viên và cướp tàu chứ không
phải chỉ cướp tàu mà thôi".
Những Âm Mưu Quân Sự Của Trung Quốc
Trên Biển Thái B́nh Dương
Trên suốt chiều
dài lịch sử Việt
Ngay sau khi thôn tính Đại
Lục, cộng sản Trung Quốc đă nghĩ ngay đến
việc bành trướng lănh thổ, lănh hải. Họ
đă đơn điệu tuyên bố tất cả vùng biển
Nam Hải mà người Âu khi xưa đă đặt tên
cho là "Biển Trung Hoa Phía
Nhưng những tham vọng
bành trướng không chỉ liên quan đến Việt
Ngày 16/1/2005 vừa qua
hăng thông tấn AFP của Pháp đă có bản phúc tŕnh nhan
đều "Nhật Bản lo ngại hải quân Trung
Quốc xâm lăng". Bản phúc tŕnh viết : Theo
sự tiết lộ của một giới chức thuộc
cơ quan quốc pḥng Nhật Bản, Trung Quốc đang
mở rộng phạm vi hoạt động, như đă
thấy trong trường hợp xâm nhập lănh hải của
Nhật bằng tàu ngầm nguyên tử vào tháng 11/2004 vừa
qua, chúng tôi cần phải theo dơi các hoạt động của
Trung Quốc". Trong mối lo ngại những khả
năng bành trướng của Trung Quốc, Nhật Bản
đă phải đưa ra một kế hoạch pḥng thủ
chuỗi hải đảo phía Nam nước Nhật. Cũng
theo bản phúc tŕnh th́ : "Hiện nay Nhật Bản
không có quân đội trú đóng trên các ḥn đảo xa. Kế
hoạch pḥng thủ mới dự trù đưa 55,000 quân cũng
như máy bay chiến đấu, các tuần dương hạm
và tiềm thủy đĩnh vào vùng để ngăn ngừa
một cuộc tấn công có thể xảy ra trên đảo
Ngày 18/1/2005, tờ
Washington Times có bản phúc tŕnh về những kế hoạch
bảo vệ con đường tiếp tế nhiên liệu
của Trung Quốc. Bản phúc tŕnh viết : "Nhằm
mục tiêu này, Trung Quốc đang thiết lập các lực
lượng quân sự và các căn cứ quân sự dọc
theo hải tŕnh từ Trung Đông đến Biển
Qua những tin tức
này, người ta hiểu được tại sai Bắc
Kinh nôn nóng, o ép, hối thúc cộng sản Hà Nội kư kết
các Hiệp Định bán nước, nhượng biển
cho họ. Người ta cũng hiểu được tại
sao đă thường xuyên có những vụ tàu chiến
Trung Quốc bắn giết như dân Việt
Trách Nhiệm Của CSVN Trong Vụ Thảm Sát
Ngư Dân
Từ khi xảy ra vụ
bắn giết ngư phủ Việt Nam do công an duyên pḥng
Trung Quốc đến nay, rất nhiều bài viết, nhiều
phát biểu của người dân trong nước cũng
như cộng đồng hải ngoại đă nêu lên vấn
đề trách nhiệm. Những câu hỏi "ai giết
ngư dân Việt
Nhiều ư kiến cho
rằng tàu chiến Trung Quốc đă vi phạm luật
hàng hải quốc tế v́ nhiều lắm họ có thể
bao vây, bắt giữ nếu các tàu đánh cá Việt Nam xâm
nhập lănh hải của họ, chứ không có quyền giết
người bừa băi như họ đă làm. Nhiều ư kiến
khác, trong đó có cả xác nhận của Hà Nội là tàu
chiến Trung Quốc đă xả súng vào thuyền đánh
cá Việt Nam trong "vùng đánh cá chung". Theo bài viết
của Lê Công Phụng, thứ trưởng ngoại giao
đồng thời là trưởng phái đoàn thương
thuyết về biên giới và Vịnh Bắc Bộ của
Hà Nội với phía Trung Quốc, đăng trong Tạp
Chí Cộng Sản số 2 (1/2001), "vùng đánh cá
chung" là một vùng biển" trong vịnh Bắc bộ
từ vĩ độ 200 xuống đường đóng
cửa vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lư kể
từ đường phân định về mỗi phía và
có tổng diện tích là 33.500km2, tức khoảng 27,9% diện
tích vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của
mỗi nước là 30 hải lư : đại bộ phận
cách bờ của ta 35 - 59 hải lư và có hai điểm cách
bờ 28 hải lư. Thời hạn của vùng đánh cá
chung là 15 năm (12 năm chính thức và ba năm gia hạn)...".
Theo phát biểu của một số ngư dân vùng duyên hải
từ Thanh Hóa đến Quảng Ngăi th́ thuyền tàu của
Trung Quốc thường vào sâu trong lănh hải Việt Nam,
chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng mươi hải
lư.
Đại đa số
ư kiến khẳng định việc kư kết những hiệp
ước, hiệp định về Vịnh Bắc Bộ
đă mang lại thiệt tḥi to lớn cho Việt Nam và lên
án chế độ cộng sản Hà Nội về hành vi
bán nước này. Ngư dân Hậu Lộc trả lời
phỏng vấn đài BBC đă khẳng định là v́ những
hiệp định này mà đă xảy ra vụ tàu chiến
Trung Quốc bắn giết dă man ngư dân Việt Nam hôm
8/1/2005. Nhiều người đă phẫn nộ v́ thái
độ muốn nhận ch́m vụ việc của chế
độ cộng sản Hà Nội. Họ cũng phẫn
nộ v́ những lời lẽ phản đối rất
yếu ớt của người phát ngôn Bộ Ngoại
Giao, chứng tỏ sự "nhu nhược" nếu
không muốn nói là hèn nhát của Hà Nội đối với
Trung Quốc. Trong các cuộc gặp gỡ những quan chức
lănh đạo Bắc Kinh sau vụ việc, không ai trong những
người đứng đầu chế độ dám nêu
thẳng vấn đề với họ hoặc phản
đối những lời vu không ngư dân Việt Nam là
"hải tặc". Một ông già gốc ngư dân
đă nôm na trút sự phẫn uất của ông bằng
câu : "Ông bà nội chúng nó, sao chúng nó dám phản đối !".
Nhiều người
cũng rất bất b́nh v́ ngư dân Việt
Cùng là dân đánh cá, dù
là có khác quốc tịch, dù là có những tranh chấp trong
những vùng đánh bắt có lắm hải sản, th́ bản
chất người nông dân nói chung và người ngư dân
chân chính nói riêng, không thể gây xô xát, án mạng chết
người, nhất là chết nhiều người
như vụ tàu Trung Quốc bắn giết ngư phủ
Việt Nam hôm 8/½005. Nói như vậy có nghĩa là ở nhiều
vùng biển trên thế giới, nhất là ở vùng ven biển
Á Châu, có những người đội lốt ngư phủ
để tiến hành cướp bóc trên biển. Vùng biển
này đă nổi danh nhiều "hải tặc" trong thập
niên 80 khi phong trào thuyền nhân vượt biên ồ ạt.
Ngày nay ở vùng này, mỗi năm cũng c̣n một vài vụ.
Bọn cướp biển được trang bị vũ
khí và phương tiện truyền tin hiện đại. Ở
Việt
Thay Lời Kết
Kẻ bắn giết
ngư dân Thanh Hóa ngày 8/½005 là công an duyên pḥng Trung Quốc. Qua
các hiệp ước, hiệp định bán nước cầu
vinh của tập đoàn lănh đạo cộng sản Hà
Nội, ngư dân Việt Nam đă chịu rất nhiều
thiệt tḥi về vật chất lẫn sinh mạng. Nếu
hải quân Trung Quốc là hung thủ giết người,
th́ lănh đạo cộng sản Việt
Trần
Đức Tường
Biến Cố Vịnh Bắc Việt : Những Bí Ẩn Trong
Vụ Hải Quân
Trung Quốc Tàn Sát Ngư Dân Việt
KS Nguyễn Đ́nh Sài
(LÊN MẠNG THỨ BẢY 29
THÁNG GIÊNG 2005)
BA Câu Hỏi Lớn
Vụ Hải Quân Trung
Quốc tàn sát ngư dân Việt
Thế nhưng đă
gần ba tuần qua, có ba câu hỏi lớn mà hiện nay vẫn
chưa có câu trả lời !
Về phía Bắc Kinh,
mới đây họ đưa ra lời cáo buộc ngược
rằng sở dĩ tàu chiến Trung Quốc phải nổ
súng bắn vào các ghe đánh cá Việt Nam v́ các ngư dân Việt
Nam là "hải tặc". Qua bằng chứng các h́nh ảnh
ghe đánh cá không trang bị vũ khí, cũng như h́nh dáng
và vẻ mặt của những ngư dân hiền lành chất
phác, ai cũng có thể thấy rằng sự cáo buộc của
Trung Quốc là hoàn toàn bịa đặt và gian dối. Cho
dù sự thật theo như họ cáo buộc của Bắc
Kinh đi nữa, th́ với các chiếc ghe gỗ không trang
bị đó, tàu chiến của Trung Quốc chỉ cần
bắn dọa rồi bắt giữ các ngư dân. Thế
nhưng tàu Hải Quân Trung Cộng đă chạy thẳng
đến gần các ghe đánh cá và ngang nhiên nổ súng bắn
giết người Việt
Câu hỏi thứ nhất
là : Nguyên do bí ẩn nào khiến Bắc Kinh hành xử bất
chính và chấp nhận một liều lĩnh [risk taking] về
liên hệ bang giao quốc tế như thế ?
Về phía Hà Nội, họ
đă giữ sự im lặng khó hiểu ngay những ngày
đầu tiên. Vụ Trung Cộng bắn giết ngư
dân xảy ra ngày 8-1 mà măi đến 13-1, Phát Ngôn Nhân Bộ
Ngoại Giao Lê Dũng mới lên tiếng một cách yếu
ớt, cho qua. Trong khi đó, cùng ngày 13-1 tại Hà Nội, Thủ
Tướng Việt Cộng Phan Văn Khải lại tiếp
Phó Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Cố Tú
Liên, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội
Trung Quốc sang Việt Nam tham dự APPF. Trong buổi tiếp
tân này, không những Phan Văn Khải không đề cập
ǵ đến vụ ngư dân Việt Nam bị Hải Quân
Trung Quốc tàn sát dă man, mà c̣n đề nghị rằng "hai
bên cần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp
tác, trên cơ sở phương châm 16 chữ và 4 tốt mà
các nhà lănh đạo cấp cao của hai nước đă
đề ra". Hà Nội dư biết sự im lặng
của họ sẽ dấy lên ḷng bất măn và bất tín
nhiệm của nhân dân Việt
Câu hỏi thứ hai
là : Nguyên do bí ẩn nào khiến Hà Nội hành xử bất
chính, cố gắng khỏa lấp biến cố và chấp
nhận sự oán ghét của đồng bào như hiện
nay ?
Về phía nhân dân trong
nước và đại khối người Việt hải
ngoại, hầu hết lên án Bắc Kinh "hung hăng bạo
ngược" và Hà Nội "quá hèn nhát", im lặng
trước hành động giết người của ngoại
bang. Ai cũng đ̣i hỏi Trung Quốc đền bồi
tương xứng cho gia đ́nh nạn nhân. Thế
nhưng, đă hai tuần qua, chưa hề có một cuộc
biểu t́nh nào tại hải ngoại, nói lên sự phản
đối của người dân. Trước sự lên án
"cầm chừng" này, Hà Nội có thể dễ dàng
vô hiệu hóa sự căm phẫn của dân chúng, v́ ai cũng
thấy lực lượng của Trung Quốc mạnh gấp
trăm lần lực lượng hiện nay của Việt
Câu hỏi thứ ba
là : Biến cố ngày 8 tháng 1 vừa qua có tầm mức
"chuyện nhỏ" như nhiều người lầm
tưởng thế không ?
Việc lên án Việt
Cộng là "hèn nhát" như hiện nay có phiến diện
và quá nhẹ cho chế độ hay không ? Nguyên do bí ẩn
nào cho thấy biến cố vừa qua là chỉ dấu của
một thất lợi lớn đang xảy ra cho dân tộc
Việt
Vạch Trần Sự Thật
Cũng trong buổi tiếp
tân ngày 13-1, Phan Văn Khải khẳng định "Việt
H́nh
1 là bản đồ phân định ranh giới lănh hải
Việt Trung trong Vịnh Bắc Việt mà hai bên Việt
Trung đă thỏa thuận theo hiệp định 25-12-2000
và phê chuẩn ngày 20-6 năm 2004. Trong bản đồ
này, vùng đánh cá chung được ấn định một
cách kỳ dị, nhưng cho đến nay chưa thấy
một nhà b́nh luận nào nêu thắc mắc hay giải thích
về sự lạ lùng này.
H́nh 2 là bản đồ
các vùng có nhiều hải sản và khoáng sản [dầu hỏa
cùng khi đốt] trong Vịnh Bắc Việt [Tài liệu
Đối chiếu
hai h́nh, chúng ta nhận thấy "vùng đánh cá chung" của
h́nh 1 bao gồm trọn vẹn cả toàn vùng phía trên túi dầu
hỏa và khí đốt của h́nh 2. C̣n vùng có nhiều hải
sản, tôm cá, th́ phần lớn nằm ven bờ biển
Việt
Về phía hải phận
Trung Quốc từ đảo Hải Nam trở ra, tôm cá và
hải sản không trù phú lắm, bởi v́ phù sa màu mỡ
và các chất bổ dưỡng cho tôm cá từ các cửa
sông Mă, sông Đáy [Nam Định], và các nhánh lưu vực
sông Hồng [Thái B́nh] chảy ra không lan tới bên đó.
Như vậy, chỉ xét về phương diện hải
sản thôi, th́ Trung Cộng cũng đă gian lận trắng
trợn khi họ yêu cầu Việt Cộng kư hiệp
định "vùng đánh cá chung" để được
quyền đánh cá trong khu trù mật gần bờ Việt
Nam trong khi bờ Hải Nam của họ chẳng có bao
nhiêu tôm cá ! Thế nhưng vụ gian lận này cũng
tầm thường, chỉ là bề mặt nhằm mục
đích khỏa lấp một bí ẩn trầm trọng
hơn mà thôi. Sự thật là Trung Quốc chẳng thèm
đánh cá đến nỗi phải tàn sát ngư dân Việt
Tất cả những
vụ Trung Quốc bắt bớ, bắn giết ngư dân
Việt Nam trong hai tháng qua đều xảy ra trong vùng dầu
khí, về phía bên trong lănh hải Việt Nam, mà hiệp
định 25-12-2000 đặt tên là "vùng đánh cá
chung". Chưa bao giờ có sự ngược ngạo
đó : Khi chưa kư hiệp định th́ Trung Cộng
lấn lướt nhẹ, đến khi kư hiệp định
rồi th́ họ lấn lướt dữ dội
hơn !
Bí ẩn nằm ở
chỗ :
Song song với bản
Hiệp Định về vùng đánh cá chung, một khế
ước ngầm về khai thác dầu khí đă được
kư kết giữa hai chủ tịch của hai đảng
Trung Cộng và Việt Cộng. Theo hiệp định về
"nghề cá" th́ vùng đánh cá chung có nghĩa là ngư
dân cả hai bên đều được quyền đánh
cá trong vùng này. Trung Quốc muốn ấn định vùng
"đánh cá chung" một cách b́nh thường như
thế để có quyền đi vào hải phận Việt
Hiện nay, Trung Cộng
bắt đầu tiến hành bản khế ước ngầm
giữa hai đảng, chuẩn bị đặt giàn khoan
phía bên lănh hải Việt Nam, tại vùng dầu khí ph́nh ra về
phía tây, tức là ngoài khơi hai tỉnh Thanh Hóa và Nam Định.
Vùng này có tầng đất phía dưới đáy biển
tương đối mỏng, khoan dễ và không tốn
kém, lại chứa nhiều khí đốt nhất. Mặt
khác, theo kế hoạch của bộ Hải Quân Trung Quốc,
giàn khoan này cũng sẽ là một vị trí chiến lược
của Hải Quân Trung Quốc nhằm tê liệt hóa mọi
kháng cự của Việt Nam, không những về hải lực
mà c̣n về phương tiện pḥng thủ, v́ từ
điểm này, thủ đô Hà Nội sẽ nằm trong tầm
bắn của Hỏa Tiễn Trung Cộng. Đến khi hữu
sự, Bắc Kinh không cần ra tay, mà Hà Nội vẫn phải
đầu hàng. Đây là chiến lược thành văn của
Trung Quốc, do bộ Hải Quân Hoa Kỳ nghiên cứu và
phúc tŕnh từ giữa thập niên 1990 [xin xem : "Nghĩa
Vụ Bảo Vệ Bờ Cơi Việt Nam", cùng tác giả].
Để thiết lập
giàn khoan và xây dựng cứ điểm chiến lược
này, Trung Cộng phải cho tàu Hải Quân tuần tiểu,
ngăn cấm các ngư dân lai văng v́ ngại dân sẽ hô
hoán lên sự xâm phạm lănh thổ VN. Trong khi đó th́ Hải
Quân Việt Cộng được lệnh tránh tuần tiểu,
bỏ ngơ hoàn toàn vùng này, v́ lănh đạo đảng Việt
Cộng đă toa rập thỏa thuận cho Trung Cộng
toàn quyền kiểm soát. Chỉ trong tháng 12 mà Hải Quân
Trung Cộng đă bắt giữ 80 ngư dân ; rồi
đầu tháng 1 lại mở cuộc tàn sát 4 chiếc ghe
đánh cá có treo cờ đỏ sao vàng, gây tử
thương 9 người, trọng thương 7 người,
bắt giữ 8 người ngư dân thuộc tỉnh
Thanh Hóa cùng chiếc ghe của họ. Làm như thế,
Trung Cộng muốn gây nên nỗi sợ hăi trong ḷng ngư
dân để họ không dám bén mảng tới nữa, nhất
là khi dân thấy đảng CSVN làm lơ trước những
thiệt hại nhân mạng của họ mà chỉ lên tiếng
lấy lệ.
Xuyên qua biến cố
thê thảm này, lănh đạo đảng Việt Cộng
đă hiện nguyên h́nh là một tập đoàn bất
lương và tham lam, đem tài sản quốc gia để
bán cho Trung Quốc hầu thủ lợi riêng, chứ không
chỉ là tập đoàn "hèn nhát, khiếp nhược"
như nhiều người lầm tưởng. Lá cờ
Đỏ của đảng Việt Cộng, một lần
nữa, chỉ biểu hiệu cho sự nô lệ, thối
nát, chết chóc, và nhục nhă, đă và sẽ không bao giờ
là biểu tượng của danh dự dân tộc Việt
Nam.
Giải Quyết Vấn Nạn
T́nh trạng khổ
đau của ngư dân Hậu Lộc là một trường
hợp điển h́nh của đại họa mà dân tộc
Việt Nam phải gánh chịu, rồi đây sẽ c̣n tiếp
diễn bởi chính sách bành trướng Đại Trung Quốc
của đảng Trung Cộng.
Trước hiểm họa
này người Việt có lương tri và thiết tha với
vận mệnh đất nước phải làm sao ?
Câu trả lời rất
dễ t́m thấy nhưng lại rất khó thực hiện :
Toàn dân đoàn kết một ḷng đứng lên lật đổ
chế độ CSVN để thay thế bằng một
chế độ biết lo cho dân, v́ dân mà tồn tại,
v́ quyền lợi của đất nước mà tranh
đấu. Để thực hiện điều này, mỗi
thành phần dân tộc cần ư thức rơ vị thế và
hoàn cảnh của ḿnh trên căn bản toàn diện đấu
tranh. Không có một thành phần nào có thể tự cho ḿnh
có quyền hơn thành phần khác trong việc th́ hành nghĩ
vụ cao quư này :
Thành phần "Quân Công
Cán Chính" của thời Việt Nam Cộng Ḥa cần ư
thức rằng chính họ không thể vận động
được toàn dân cùng tranh đấu, nếu như
ngày nào mà họ c̣n nuôi ḷng nghi kỵ, chụp mũ Việt
Cộng cho chính những người cùng chiến tuyến
hay những người trưởng thành ở miền Bắc
Việt Nam trước năm 1975. Những hành động
mang tính chia rẽ đó đă và đang làm suy yếu tiềm
lực đấu tranh của dân tộc, góp phần vào việc
gián tiếp cũng cố chế độ Hà Nội. Do
đó, họ phải có can đảm lột bỏ những
thành kiến và mặc cảm ấy để hợp lực
đấu tranh cứu nước. Họ cũng cần có
ḷng bao dung đối với những cán bộ cộng sản
biết phản tỉnh và muốn đứng về phía
đại khối dân tộc để giải quyết vấn
nạn chung của đất nước.
Thành phần "Thanh Thiếu
Niên" của thời hậu chiến tranh Việt Nam cần
ư thức rằng trên bước đường dấn
thân đấu tranh cứu nước, họ rất cần
chỗ hậu trạm để dựa lưng, học hỏi
những kinh nghiệm quư báu mà cha anh họ để lại,
ngơ hầu giảm thiểu tối đa những lầm lỗi
gây nên ngộ nhận giữa những người cùng chung
lư tưởng.
Thành phần "Trí Thức"
trong nước cần ư thức rằng tổ quốc rất
cần đến dũng khí và trí tuệ của tầng lớp
sĩ phu, làm thế nào để những thay đổi
chính quyền sẽ không mang lại chết chóc và xáo trộn
xă hội. Họ cần biểu thị sự can đảm,
không sợ hăi trước bạo lực, để làm
gương cho các thành phần khác.
Thành phần "Công - Nông
- Thương" trong và ngoài nước cần ư thức
rằng dân tộc Việt Nam sẽ không thể tồn tại
với thời gian, nếu không có sự hy sinh và hỗ trợ
của thành phần mệnh danh là "hạ tầng cơ
sở" của xă hội. Sức mạnh của cuộc
cách mạng tự do dân chủ phải được nuôi
dưỡng bởi chính những người khao khát tự
do dân chủ.
Thành phần "Bộ
Đội Nhân Dân" của chế độ cần ư thức
rằng quyền lợi tối thượng của dân tộc
phải được đặt lên trên quyền lợi
đảng phái và cá nhân. Lịch sử sẽ vinh danh họ
nếu họ có can đảm đứng về phía dân
chúng, khi nhân dân đứng lên đ̣i thay thế chế
độ. Họ sẽ dùng sức mạnh quân sự để
can thiệp và vô hiệu hóa sự đàn áp nhân dân của
công an theo lệnh lănh đạo đảng, và giữ vững
an ninh quốc pḥng, ngăn ngừa sự tràn lấn của
ngoại bang trong thời gian biến động.
Thành phần "Tu Sĩ"
trong và ngoài nước cần ư thức rằng đạo
không màng đến hưng suy của đất nước
là đạo diệt vong. Trong cơn quốc biến, bất
cứailàcông dân cũngphải có trách nhiệm với núi
sông. Họ cần sử dụng đại hùng tâm, bi trí dũng,
và ḷng bác ái của kẻ tu hành để hướng dẫn
tín đồ cứu nước trước khi đi t́m
nơi tu hành yên đạo. Thái độ "bất nhập
thế" trong lúc này chỉ là sự biện minh cho tinh thần
cầu an, thay v́ tinh thần vô úy.
Vụ Hải Quân Trung
Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam ngày 8 tháng 1 vừa qua là
một thảm trạng, nhưng nh́n qua lăng kính lạc
quan và hy vọng, đây lại là một cơ hội hiếm
quư để mọi thành phần dân tộc dứt khoát thể
hiện ḷng bao dung, gạt bỏ mọi tỵ hiềm,
nghi kỵ, ngơ hầu đoàn kết trong liên minh các dân tộc,
tích cực tiến hành công cuộc toàn diện đấu
tranh cho Tự Do và Dân Chủ tại Việt Nam.
***
Biển Gọi
(thay lời Hoàng Sa muốn nói)
Nghe trong tiếng gió
th́ thầm,
như ai than khóc giữa ḍng biển khơi.
Sài G̣n, Hà Nội, Huế ơi !
đừng quên máu thịt muôn đời Hoàng Sa !
Mơ về đất tổ quê cha,
Nghe trong sương lạnh, tiếng gà Thọ
xương,
Trống đồng Kinh Bắc vấn vương,
Hoa tràm Đất Mũi ướp hương gió Nồm.
Quê hương, một thoáng mộng hồn,
tỉnh ra hiu quạnh những cồn cát xa.
Trường Sơn rực ánh dương tà,
Biển Đông vẫy gọi Hồng Hà, Cửu Long,
Dù cho gió băo mưa giông,
Hiên ngang trời nước vẫn mong tương phùng,
Dù cho song cạn núi cùn,
hẹn về với Mẹ muôn trùng Việt Nam !
Trần Lam Sơn
Sài G̣n, ngày 19.01.2005
(Thắp nén hương thành kính dâng lên hương hồn
anh hùng liệt sĩ các thế hệ Việt
Nguyễn Đ́nh Sài
Lịch sử này sẽ lặp lại không
sai !
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Vịnh Bắc bộ bỗng
dưng nay đẫm máu
Thây người rơi tơi tả bởi v́ đâu
Thuyền đánh cá mong manh đời dân Việt
Chết chưa yên v́ nỗi nhục trong ḷng
Thịt chưa ră đă ô danh hải tặc
Kẻ giết người lại buộc tội nạn
nhân
Ai im lặng cho nỗi hờn quốc tổ
Tràn dâng cao cơn lũ uất nghẹn ngào
Phải đứng dậy rửa
cho tan mối nhục
Lửa Diên Hồng sôi sục trái tim ta
Đă đến lúc phải cùng nhau hài tội
Quân bán nhà phản nước hại nhân dân
Đă đến lúc phải cùng nhau nhất quyết
Lật bạo quyền để giữ đất tổ
tiên
Có như thế hồn oan kia an nghỉ
Ngoài biển đông trong giấc ngủ yên b́nh
Để cho máu người dân
không phải đổ
Trong nghẹn ngào tủi hận những bất công
Để cho Mẹ Việt Nam không c̣n khóc
Tiếc mạng người phí phạm bị hiến dâng
Đừng quên nhé trái cam Trần Quốc Toản
Đang th́ thầm trong huyết quản chúng ta
Khi dân muốn th́ tức là Trời muốn
Bạo lực nào rồi cũng đổ v́ dân
Nay đứng trước
ṭa nhà quân cướp nước
Nén hương ḷng tưởng nhớ kẻ ra đi
Chúng tôi nguyện rửa thay hồn mối nhục
Nhục của người là chính nhục dân ta
Ta sẽ lấy niềm tự hào dân tộc
Lửa Diên Hồng đốt cháy kẻ xâm lăng
Lịch sử đó từ ngàn xưa ghi chép
Ngày hôm nay sẽ lặp lại không sai.
Thái độ của chúng
ta trước thảm kịch Ngư Dân
Đoàn Hùng
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Không ai thương dân
Việt bằng chính người Việt. Trước thái
độ trịch thượng của Bắc Kinh, coi
thường chủ quyền và mạng sống của
người Việt Nam, trước sự nhu nhược
của nhà cầm quyền Hà Nội, đang tỏ ra
ươn hèn và khiếp sợ trước đàn anh Trung
Quốc, người Việt Nam không c̣n sự chọn lựa
nào khác hơn là phải bày tỏ thái độ một cách
dứt khoát và mạnh mẽ. Trước hết là thể
hiện "t́nh máu mủ đồng bào" đối với
sự đau khổ của các gia đ́nh nạn nhân. Sau
đó là phản đối chính sách bá quyền của Trung
Quốc. Sau cùng là tố cáo thái độ vô trách nhiệm của
nhà cầm quyền Việt
Những ai quan tâm
đến t́nh h́nh đất nước đều không
hài ḷng về thái độ và cách ứng xử của Bắc
Kinh lẫn Hà Nội trong vụ tàu tuần dương Trung
Quốc bắn chết 9 ngư phủ Việt Nam trên vùng
lănh hải của Việt Nam. Hành động này không chỉ
nói lên sự vi phạm chủ quyền mà c̣n mang tội sát
nhân của những lính tuần dương Trung Quốc. Thế
nhưng từ khi xảy ra vụ án vào ngày 8 tháng 1 năm
2005 cho đến nay, nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn
giữ một thái độ trịch thượng, coi vụ
bắn chết 9 lương dân vô tội Việt Nam ngay
trên hải phận Việt Nam là những 'hải tặc'.
Thậm chí Bắc Kinh c̣n đưa ra một số bằng
chứng xảo trá nói rằng những người bị
bắn chết đă cướp trên 300 mẻ cá của
ngư dân Trung Quốc. Bắc Kinh không chỉ giữ xác của
9 ngư dân mà c̣n đang giam giữ 8 ngư dân khác trên đảo
Hải
Trong khi đó, Hà Nội
lại tỏ ra quá ươn hèn và khiếp nhược
trước thái độ trịch thượng của Bắc
Kinh. Năm ngày sau khi vụ án xảy ra, phát ngôn nhân Bộ
ngoại giao Cộng sản Việt Nam mới lên tiếng
và chỉ yêu cầu Bắc Kinh trừng trị những kẻ
đă gây ra vụ án và đ̣i bồi thường. Măi đến
ngày 21 tháng 1, Hà Nội mới lên tiếng mạnh hơn một
chút là tố cáo Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền,
nhưng cũng không có một áp lực mạnh mẽ nào
khác để đ̣i Bắc Kinh xin lỗi và phóng thích những
nạn nhân đang bị giam giữ. Trong lúc đó, Hà Nội
lại chỉ thị cho Vơ Thịnh, Tổng lănh sự tại
Quảng Châu cử nhân viên đến Hải Khẩu, thủ
phủ của đảo Hải Nam để thăm các nạn
nhân, rồi thôi. Vụ án đă xảy ra hơn 2 tuần lễ
mà Hà Nội đă không có bất cứ một văn kiện
chính thức nào để lên án Bắc Kinh, và nhất là
không có một hành động cụ thể nào để bảo
vệ đồng bào ḿnh đang bị Bắc Kinh bắt
giữ, trong khi các gia đ́nh nạn nhân trải qua những
ngày tháng đau buồn và tủi nhục. Phản ứng của
Hà Nội phải nói là rất bất thường. Bất
thường đến độ người ta không thể
ngờ rằng sự ươn hèn của Hà Nội đến
mức không dám đặt vấn đề với phái
đoàn quốc hội Trung Quốc đang viếng thăm
Việt Nam vào lúc đó, nhân tham dự cái gọi là lễ kỷ
niệm 55 năm quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội với
Bắc Kinh và một số nước khác vào ngày 15 tháng 1 vừa
qua. Do thái độ ươn hèn này mà các bộ phận
liên hệ trong vụ án đă án binh bất động và
hành xử đầy lúng túng.
Theo dơi phản ứng
của Bắc Kinh lẫn của Hà Nội, dư luận của
người Việt
Thứ nhất là thái độ
trịch thượng của Bắc Kinh là do sự
ươn hèn của Hà Nội gây ra, trong khi người Việt
Thứ hai là người
Việt
Những yếu tố
này càng làm cho sự phẫn nộ của người Việt
đă và đang lên cao từng ngày, đặc biệt là sự
nhập cuộc của giới trẻ ở trong nước
và thành phần du sinh qua các trang Web Site vận động biểu
t́nh trước sứ quán và lănh sự Trung Quốc tại
Việt Nam. Trong khi các Cộng đồng người Việt
trên toàn thế giới đă hưởng ứng lời kêu
gọi của Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn
Đất Tổ tham dự cuộc biểu t́nh đồng
loạt để tố cáo Trung Quốc và Cộng sản
Việt Nam. Tuy nhiên, như trên đă đề cập, thái
độ trịch thượng và sự xâm phạm lănh hải
của Trung Quốc không chỉ mới xảy ra lần
đầu mà đă có nhiều lần, vấn đề là
làm sao phải chấm dứt hiện tượng này để
người Việt Nam không c̣n lo sợ Trung Quốc sát hại
và lănh thổ không bị xâm phạm.
Những Thái Độ Của Chúng Ta
Trong vụ án vừa
qua, Bắc Kinh và Hà Nội đă là hai ṭng phạm gây ra những
đau thương và tủi nhục cho các gia đ́nh nạn
nhân nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung. Do
đó, thái độ của chúng ta không thể bày tỏ sự
phản kháng một chiều đối với Trung Quốc
mà c̣n phải đối với Cộng sản Việt
a. Thái Độ Đối
Với Trung Quốc :
Không chỉ qua sự
kiện vừa rồi mà nh́n vào cung cách ứng xử của
Bắc Kinh về các vấn đề trên biển Đông,
chúng ta thấy rằng Trung Quốc luôn luôn nuôi tham vọng
bá quyền và coi thường các phản ứng chống
đối của những quốc gia liên hệ từ Mă
Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân cho đến Cộng sản
Việt Nam và Nhật Bản. Trung Quốc đang có tham vọng
đẩy mạnh các nỗ lực phát triển kinh tế
để trở thành một cường quốc ở Á
Châu và dùng thị trường nội địa với khối
dân khổng lồ của ḿnh để bành trướng
các ảnh hưởng xuống phía Nam nhằm tạo dựng
một ṿng đai riêng hầu đối đầu với
Hoa Kỳ và Nhật Bản trong thế kỷ 21. Do đó, Bắc
Kinh sử dụng chiêu bài 'cây gậy và củ cà rốt'
để ve văn khối ASEAN và đương nhiên t́m mọi
cách ảnh hưởng để loại trừ dần thế
lực của Nhật và Hoa Kỳ trong tương lai. Trong
tiến tŕnh này, Bắc Kinh coi Hà Nội là một nước
cần phải tranh thủ để thực hiện ư
đồ của họ, nên đă vừa hỗ trợ, vừa
khống chế như đă từng làm trong hơn nửa
thế kỷ qua. Bắc Kinh vừa giúp đỡ
phương tiện vật chất lẫn yểm trợ
tinh thần để cho đảng Cộng sản Việt
Nam tồn tại ; nhưng cũng đồng thời
o ép bằng nhiều mặt để Hà Nội phải
đóng vai chư hầu của Bắc Kinh. Nói cách khác, Bắc
Kinh đang sử dụng Hà Nội như là một lá bài
cho những tham vọng bá quyền của họ xuống
vùng biển phía
Thứ nhất, chống lại
chính sách bá quyền của Bắc Kinh bằng một phong trào
tố cáo Trung Quốc đă vi phạm lănh hải và sát hại
ngư dân Việt Nam. Sự vi phạm lănh hải không chỉ
ở vùng Vịnh Bắc Việt mà c̣n cả vùng biển
Đông, nơi mà Trung Quốc đang xây dụng các căn cứ
trên quần đảo Hoàng Sa mà họ đă ngang nhiên
đánh chiếm vào năm 1974, dưới thời Việt
Nam Cộng Ḥa.
Thứ hai, chống lại
chính sách bành trướng lănh thổ và lănh hải xuống
phía Nam của Trung Quốc bằng phong trào tố cáo Trung Quốc
đă nhúng tay vào nội bộ Việt Nam, nuôi dưỡng
và o ép một thiểu số cầm quyền tại Việt
Nam làm tay sai cho Bắc Kinh và biến Việt Nam thành một
chư hầu.
Thứ ba, chống lại
chính sách lũng đoạn thị trường và xă hội
Việt Nam của Bắc Kinh, bằng phong trào tẩy chay
những hàng hóa của Trung Quốc đang tràn ngập tại
Việt Nam qua các đường buôn lậu nhằm giết
chết nền kinh tế của Việt Nam và nhất là tạo
sự hỗn loạn thị trường để khuynh
loát các ư đồ chính trị tại Việt Nam.
Thứ tư, đ̣i hỏi
Bắc Kinh phải xin lỗi và hoàn trả ngay tức khắc
xác nạn nhân và phóng thích nhũng ngư dân vô tội
đang bị bắt, đồng thời bồi thường
xứng đáng theo công pháp quốc tế. Bắc Kinh c̣n phải
trừng trị thích đáng và nghiêm cấm nhân viên của
ḿnh không được xâm phạm và hành xử bạo lực
một cách vô lối trên các vùng lănh hải và biên giới của
Việt
b. Thái Độ Đối
Với Cộng Sản Việt
Sự khuynh loát và lũng
đoạn của một cường quốc đối
với một quốc gia bắt đầu từ bản
chất tay sai và ươn hèn của thành phần lănh đạo
của quốc gia đó. Nói cách khác, trong quan hệ đối
ngoại giữa các thế lực cầm quyền, tính chất
quan thầy xuất hiện từ thái độ nô lệ của
chính quyền những nước yếu, nhất là những
quốc gia độc tài. Lư do dễ hiểu là tại những
nước độc tài đảng trị, người
dân bị khống chế toàn diện, dưới một tập
đoàn cai trị đă coi quyền lợi của phe nhóm
cao hơn quyền lợi của đất nước và
dân tộc. Do đó mà tập đoàn này sẵn sàng bán rẻ
tài nguyên kể cả việc hiến dâng lănh thổ, để
đổi lấy sự bảo hộ cho tham vọng cầm
quyền trên một đất nước mà người
dân sống chết ra sao không quan trọng bằng sự
'hài ḥa' với nước bảo hộ. Thảm kịch
ngư dân Thanh Hóa bị bắn chết ngay trên lănh hải của
ḿnh và không được chính quyền của ḿnh bảo vệ,
là hệ quả tất nhiên của t́nh trạng chư hầu
mà thiểu số lănh đạo đảng Cộng sản
Việt Nam đang dựa vào Trung Quốc để sống
c̣n. Nếu là một chính quyền độc lập và có chủ
quyền rơ ràng, thảm kịch nói trên phải được
giải quyết nhanh chóng và những kẻ sát nhân phải
bị trừng trị xứng đáng. Nhưng trường
hợp này th́ ngược lại, thay v́ được
chính quyền của ḿnh bảo vệ mạnh mẽ, xác của
những ngư dân vắn số và những ngư dân may mắn
c̣n sống đang trải qua những ngày tháng trong lao tù của
kẻ sát nhân một cách đau buồn và tủi nhục.
Những ai có một chút lương tâm và ḷng tự trọng
dân tộc, sẽ không thể nào chấp nhận sự tủi
nhục của đồng bào ḿnh nói trên, Đây không thể
là h́nh ảnh của một Việt Nam trong thế kỷ
21, thế kỷ mà người ta gọi là toàn cầu hóa,
công nghiệp hóa. Đây là h́nh ảnh của một Việt
Thứ nhất, phải
coi thảm kịch ngư dân Thanh Hóa bị bắn chết
là trách nhiệm của hai tập đoàn Bắc Kinh và Hà Nội.
Chính sự ươn hèn và tay sai của Hà Nội đă
để cho tàu tuần dương Bắc Kinh lộng hành
trên vùng biển của Việt
Thứ hai, phải đ̣i
hỏi tập đoàn Hà Nội đặt quyền lợi
tối thượng của dân tộc và đất nước
lên trên hết để duyệt lại các hiệp ước,
hiệp định với Trung Quốc, đặc biệt
là băi bỏ ba hiệp ước về biên giới (1999),
hiệp định Vịnh Bắc Việt (2000) và hiệp
định về nghề cá (2000). Những hiệp ước
và hiệp định này là nguyên nhân đưa đến
những thảm kịch hiện nay.
Thứ ba, phải đ̣i hỏi
Hà Nội đứng về phía gia đ́nh nạn nhân,
cương quyết đấu tranh đ̣i hỏi nhà cầm
quyền Bắc Kinh phải xin lỗi và bồi thường
xứng đáng, chấm dứt thái độ trịch
thượng và khiêu khích nhân dân Việt Nam như hiện
nay.
Thứ tư, phải
đ̣i hỏi Hà Nội để cho người dân Việt
Nam có quyền bày tỏ ư kiến phản kháng về thái
độ trịch thượng và ngang ngược của
Bắc Kinh bằng những cuộc tụ họp biểu
t́nh, mít tinh dưới mọi h́nh thức ngay tại Việt
Nam. Đây không chỉ là phản ứng b́nh thường
nói lên sự chia sẻ niềm đau chung giữa đồng
loại với nhau trong xă hội mà c̣n là nhu cầu tối
cần của quốc gia nhằm biểu hiện sức
phản kháng của dân tộc trước các hành động
ngang ngược của những thế lực ngoại quốc.
Hành động canh chừng, ngăn cấm, hăm dọa
và bắt bớ những đồng bào bày tỏ sự phản
kháng đối với Bắc Kinh chính là đồng lơa với
những tội ác mà Bắc Kinh đang gây ra cho dân tộc
Việt Nam.
Kết Luận
Sống và chứng kiến
qua nhiều thảm kịch xảy ra trên đất nuớc
từ hơn 100 năm qua và nhất là đối diện với
thảm kịch ngư dân Thanh Hóa bị bắn chết,
chúng ta, người Việt
Đoàn Hùng
Thanh Hóa Hỡi !
Con Tim Rướm Máu !
Thanh Thảo
(LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Ḥa B́nh rồi sao dân tôi vẫn
khổ
Lao động quanh mùa mà chẳng ấm no
Những mái nhà tranh xiêu vẹo đứng trơ
Cơm rau khoai sắn, bữa không, bữa có
Ḥa B́nh đến sao dân tôi
vẫn khổ
Đàn con thơ, thân c̣m cơi xương nhô
Gánh trĩu đường xa mắt mẹ yếu mờ
Đổi chén gạo, mồ hôi cha tuôn đổ
T́nh người đến
trong cuộc đời khốn khó
Nghĩa hy sinh mang gắn bó yêu thương
Buổi tối đoàn viên hạnh phúc lạ thường
Thấy con trẻ vui, ḷng sao sung sướng
Sáng hôm đó tiễn chồng
đi biển sớm
Vợ nào hay là buổi cuối gặp nhau
Đàn trẻ thơ c̣n mê măi giấc sâu
Đâu nào kịp nói lên lời từ biệt
Sáng hôm đó trời sóng êm
biển lặng
Lưới tung xa đàn cá nhảy lao xao
Súng bỗng ầm vang chim hoảng bay cao
Giặc hung dữ tràn vào thuyền bắn giết
Sáng hôm đó nước cuồn
cuộn siết
Thây người nằm mắt mở trừng căm
Hận ai đây ? lũ giặc ngoại xâm ?
Hay lănh đạo ? một phường bán nước !
Sáng hôm đó đất trời
bật tiếng
Vợ gào chồng con khóc kêu cha
Lăo t́m con nước mắt chan nḥa
Thanh Hóa hỡi ! con tim rướm máu !
Việt Khanh
Như tin tức khắp
nơi loan truyền từ nhiều ngày trước, ngày 28
và 29 tháng giêng vừa qua, đồng bào hải ngoại tại
18 thành phố trên thế giới đă đồng loạt
biểu t́nh trước các sứ quán Trung cộng để
phản đối vụ tuần dương Trung Quốc
giết hại 9 ngư phủ Việt
Bài thơ trên là phản ảnh
tâm t́nh của những đoàn người đi biểu
t́nh tại 18 thành phố lớn trên toàn thế giới :
Paris (Pháp), Den Haag (Ḥa Lan), Berlin (Đức), Bruxelles (Bỉ),
Tokyo (Nhật), Sydney, Perth, Adelaide (Úc), Wellington (New Zealand),
Houston, Hawaii, Los Angeles, Orange County, San Francisco, Seattle, Portland
(Hoa Kỳ), Vancouver và Ottawa (Canada).
Ở nhiều nơi như
Ottawa, thời tiết lạnh khoảng 10 độ âm, nh́n
h́nh ảnh ông cụ thả bộ chậm chạp, ai ai cũng
thấy ḿnh hăng hái thêm nhờ tinh thần của bậc
trưởng thượng này, chẳng quản lạnh lẽo
tuyết sương, biểu lộ t́nh đồng bào ruột
thịt, và biểu lộ sự bất b́nh, tức giận
đối với những kẻ sát nhân, với những kẻ
a ṭng. Đặc biệt hơn, có một số du học
sinh Việt Nam hiện đang theo học tại các nước
Canada, Pháp, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand... cũng tham dự biểu
t́nh. Ở
Đúng như thế, đồng
bào trong nước cũng rất phẫn nộ nhưng
không được phép biểu t́nh phản đối !
Trong các trang Web Việt Ngữ,
sinh viên trong nước và du sinh khắp nơi không ngớt
bày tỏ nỗi phẫn uất trước vụ sát nhân
này, nhất là những vụ chuẩn bị biểu t́nh phản
đối Trung Quốc đă bị lực lượng
công an ch́m nổi ngăn chặn. Hàng chục ngàn người
đă kư tên vào kiến nghị thư lên án Trung Quốc và
nhà nước CSVN (http://biendong.org
hoặc http://hdvnbtdt.org).
Trong một bức điện
thư gửi trên mạng Internet, một sinh viên Hà Nội với
biệt hiệu là "Sinh viên thế kỷ 21" đă viết
như sau : "Sáng nay, tôi đă có mặt trước
Đại Sứ Quán Trung Quốc để sẵn sàng tham
gia cuộc biểu t́nh nhưng lực lượng công an và
an ninh đă phong tỏa để đàn áp sinh viên với một
tinh thần "Sẵn sàng hy sinh" để bảo vệ
quân giết người đang nằm co ro trong Đại
Sứ Quán. Chúng tôi những trí thức trẻ của thế
kỷ 21, luôn luôn thừa nhận công lao to lớn của
đảng và Bác trong việc tập hợp quần chúng giải
phóng dân tộc nhưng giờ đây chế độ
đă lỗi thời, chủ nghĩa xă hội và đảng
CS là một xă hội "không tưởng", chính quyền
CS là một chính quyền cực kỳ bảo thủ,
độc quyền, phi dân chủ, tham nhũng, ḱm hăm sự
phát triển của đất nước, xóa bỏ các quyền
con người, tự do báo chí, và cực kỳ mị
dân".
Một sinh viên khác, biệt hiệu
là Lê Hồng Anh mô tả các quán cà phê gần Đại Sứ
Quán Trung Cộng tại Hà Nội như sau : "Sáng
nay, tôi ra quán cà phê trên đường Hoàng Diệu gần
Đại Sứ Quán Trung quốc để theo dơi có biểu
t́nh hay không. Quán cà phê hôm nay có rất nhiều khuôn mặt rất
lạ, nét mặt gờm gờm nên tôi có phần hơi sợ.
Tôi chỉ uống một ly cà phê trong ṿng 10 phút rồi bỏ
đi bởi v́ thấy nhiều công an và dân pḥng trên
đường. Theo tôi nghĩ, những tên trong quán cà phê là
công an ch́m và theo cách gọi chuyên môn là "trinh sát ngoại
tuyến". Thôi th́ tôi cũng vào quán Internet máy lạnh bày
tỏ ư kiến của ḿnh."
C̣n tại Sài G̣n, có người
mô tả như sau : "Sáng nay, chúng tôi ra 39 Nguyễn
Thị Minh Khai định tham gia biểu t́nh ủng hộ
việc thả ngay các ngư dân Hậu Lộc, nhưng tại
Tổng Lănh Sự Trung Quốc, ở đây có bảng cấm
tụ tập đông người. Công an và dân pḥng canh gác
đông quá, khoảng một tiểu đội. Anh xe ôm tên
Long thường đón khách trước cổng Nhà Văn
Hóa Thanh Niên cho biết, khoảng 8 giờ kém 15 phút có một
nhóm khoảng năm sáu thanh niên đứng trước vỉa
hè Nhà Văn Hóa Thanh Niên đối diện với Lănh Sự
Quán Trung Quốc trương một băng rôn giấy ghi
"Yêu cầu thả ngay những dân vô tội bị bắt".
Nhưng chỉ 5 phút sau, một xe 15 chỗ chạy tới
chở họ đi đâu mất. Hôm nay Nhà Văn Hóa Thanh
Niên tổ chức triển lăm lớn chúc mừng t́nh hữu
nghị Trung-Việt vĩ đại. Vụ giết
người dân vô tội là một trong những thành tựu
vĩ đại đó... "
Trong cuộc phỏng vấn
trên đài RFI ngày 31/1/2005, Tiến Sĩ Nguyễn Nhă, người
đă dày công nghiên cứu về chủ quyền của Việt
Nam trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974
đă bật khóc v́ quá uất ức : "... với
tư cách là một công dân Việt Nam, tôi rất phẫn nộ,
tôi không hiểu người Trung Quốc đă dựa vào
nguyên tắc nào để xử lư như vậy. Cách nay 30
năm, khi tôi là trưởng ban tổ chức cuộc triển
lăm chứng minh chủ quyền Việt Nam trên quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đúng vào ngày 20/1/1975,
tôi đă không cầm được nước mắt khi
tôi phát biểu trong lễ khai mạc đó. Nay đúng 30
năm sau, tôi cũng không cầm được nước
mắt ... khi mà ... đồng bào của tôi... những
ngư dân vô tội .... bị chết một cách oan ức
như thế ... th́ tôi rất là phẫn nộ..."
Ông đă nhắc lại hành động mà Phạm Văn
Đồng, thủ tướng CSVN năm 1958, đă kư giấy
công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.
Ông nói : "... vụ thảm sát ngư dân Ḥa Lộc
càng khiến cho chúng ta cần nhắc nhở tuổi trẻ
Việt
Ông Nguyễn Thanh Giang và 3 linh mục
Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải và Chân Tín cũng
quá phẫn uất trước thái độ ươn hèn
của đảng và nhà nước. Ông Nguyễn
Thanh Giang đă viết trong bức thư gửi ngày
26/1/2005 ủng hộ các cuộc biểu t́nh của
đồng bào hải ngoại như sau : "Tôi vừa
uất ức vừa hổ thẹn không có điều kiện
đến đại sứ quán Trung Quốc thét vang và ném
cà chua, trứng thối vào mặt những kẻ hoặc
đă chủ mưu hoặc vô trách nhiệm đă để
cho t́nh trạng tồi tệ đó xảy ra" và ông
đă gửi đến đồng bào hải ngoại những
lời hét thật to :
Đả đảo âm
mưu lấn chiếm lănh thổ và lănh hải Việt Nam
của bọn ngoại bang !
Quyết tâm bắt bọn
hải quân Trung Quốc giết dân lành Việt
Nhà cầm quyền Trung Quốc
phải công khai xin lỗi nhân dân Việt
Tinh thần yêu nước
và ư chí ngoan cường của đồng bào Việt
Thanh Thảo
So sánh hai vụ
nhượng đất cho Trung Hoa
Trần
Gia Phụng
(LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Nhà Mạc vào thế kỷ
16 cũng như nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội
vào cuối thế kỷ 20, đă hạ bút kư kết việc
nhượng đất cho Trung Hoa. Hai hành động nầy
đều sai trái, và có những điểm giống nhau,
nhưng cũng có những điểm khác nhau.
Những điểm giống nhau
1) Cả hai nhà cầm
quyền đều cắt đất của tổ tiên
để nhượng cho Trung Hoa. Việc nầy bị cấm
ngặt theo điều 74 của bộ Quốc Triều
H́nh Luật đă được ban hành từ thời vua
Lê Thánh Tông, vào thế kỷ 15.
2) Cả hai đều
tự quyền cắt đất mà không hỏi ư dân.
3) Những nhà lănh
đạo Trung Hoa, dầu là Trung Hoa quân chủ hay Cộng
Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), đều nuôi tham vọng bành
trướng đất đai, sẵn sàng xâm chiếm Việt
Nam.
Những điểm khác nhau
1) Tuy tập trung quyền
lực cao nhất vào trong tay một người, hay một
nhóm người, hai chế độ chính trị bắt
nguồn từ hai nền văn hóa khác nhau : quân chủ
dựa trên nền tảng văn hóa Nho giáo, trong khi CSVN là sản
phẩm của chủ nghĩa Mác xít. Điểm khác nhau
căn bản giữa hai nền văn hóa này là Nho giáo tôn trọng
đạo "nhân", xem đạo nhân là đạo lớn
nhất trong ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín). Trái lại, chủ nghĩa Mác xít chủ trương
tranh đấu giai cấp, tiêu diệt hẳn nhân tính
nơi con người.
2) Về mặt pháp
lư, dưới thời quân chủ chuyên chế, vua độc
tôn quyền lực cả hành pháp, lập pháp, lẫn tư
pháp. Nói cách khác vua là luật pháp, nên không có luật pháp nào chế
tài vua. Vua có quyền tự ḿnh quyết định mọi
việc quan trọng.
Ngược lại,
thời đại nầy là thời đại dân chủ.
Trên lư thuyết, chế độ cộng sản có hiến
pháp, có quốc hội. Chế độ nầy thường
nói đến ư niệm "nhân dân làm chủ", hay
"làm chủ tập thể". Thế mà việc kư kết
hiệp ước nhượng đất là một sự
kiện trọng đại, nhà cầm quyền Hà Nội
không tham khảo ư kiến của nhân dân như trưng cầu
dân ư, hay tham khảo ư kiến của quốc hội.
Đây là một việc làm hoàn toàn vi phạm pháp luật.
3) Hoàn cảnh chính trị
hai bên khác nhau. Nước Việt dưới thời nhà Mạc
chia rẽ, v́ nhà Mạc đảo chánh nhà Lê năm 1527, nên
nhiều người vẫn c̣n hoài Lê. Năm 1533, nhà Lê trung
hưng ở miền
Trong khi đó, vào cuối
thế kỷ 20, CSVN là một đảng chính trị rất
kỷ luật, cai trị chuyên chế, nắm trọn quyền
lănh đạo đất nước, không có đối lập.
CSVN lại dễ dàng đột qụy, kư liền hai hiệp
ước nhượng đất và nhượng biển,
trong khi việc thương lượĩng có thể kéo
dài hàng trăm năm cũng chưa giải quyết xong
được.
4) Lư do cắt đất
cũng hoàn toàn khác nhau. Nhà Lê trung hưng đă hai lần cử
đại diện qua triều đ́nh Trung Hoa xin nhà Minh
đem quân đánh nhà Mạc, nên nhà Minh mới quyết
định đe dọa nước ta. Nhà Mạc ở thế
phải chống trả, nhưng tự thấy sức ḿnh
yếu kém, nên đành phải nhượng đất cầu
ḥa. Nói cho cùng, việc làm này tuy là hạ sách, nhưng vừa
cứu nguy nhà Mạc, vừa cứu nguy cả đất
nước khỏi họa ngoại xâm.
Ngược lại,
vào cuối thế kỷ 20, rất nhiều người ra
đi sinh sống ở hải ngoại, nhưng chẳng
có một người Việt Nam nào dại dột nhờ
CHNDTH giúp đỡ để đánh lại chế độ
trong nước. Ngày nay, trong thế bang giao quốc tế
khá chặt chẽ, việc nước nầy xâm lăng
nước khác không thể dễ dàng thực hiện. Việc
CSVN nhượng đất không phải v́ muốn cứu
nguy đất nước, mà là cứu nguy cho đảng
và là cái giá phải trả về món nợ 20 tỷ Mỹ
kim chiến phí trong thời gian từ 1950 đến 1978 mà
CSVN đă thiếu của CHNDTH.
5) Diện tích đất
đai đă bị nhượng dưới thời nhà Mạc
chỉ có năm động tức năm buôn, sóc hay làng.
Năm động nầy không có vai tṛ ǵ đặc biệt
trong lịch sử, cũng không có tài nguyên thiên nhiên quan trọng.
Trong khi đó, diện
tích đất đai do đảng CSVN nhượng cho
Trung Hoa không biết được. Tuy nhiên, chắc chắn
số đất đă mất phải rộng lớn
hơn năm động thời nhà Mạc. Trong số mất
mát nầy, có cả vùng đèo Nam Quan, tức là đèo Pha Lũy
trong lịch sử. Ngoài ra, đảng CSVN c̣n nhượng
cho Trung Hoa 8% diện tích thềm lục địa vịnh
Bắc Việt, tương đương khoảng 10,000
km2 mặt biển. Việc này chẳng những gây thiệt
tḥi về mặt giao thông, quốc pḥng, ngư nghiệp, mà
c̣n làm mất rất nhiều tài nguyên dưới ḷng đất.
Vừa qua, trong tháng 10-2004, báo chí loan tin một mỏ dầu
mới được khám phá ở vùng biển cách Hải
Pḥng khoảng 75 cây số. Không biết mỏ dầu nầy
có kéo dài đến vùng biển đă mất hay không ?
6) Khả năng
đ̣i lại đất lại càng khác nhau. Thời trước
chưa có công pháp quốc tế. Ư niệm về biên giới
với những đường ranh cố định
chưa rơ ràng như ngày nay. Những bộ tộc ở
năm động mà nhà Mạc đă nhượng, không theo
Trung Hoa, cũng không theo Đại Việt. Họ chỉ dừng
lại ở ư niệm bộ tộc, chứ chưa có ư niệm
quốc gia. Nước nào mạnh th́ họ triều cống,
đóng thuế. Do đó, khả năng đ̣i lại đất
được bỏ ngơ, khi nào nước ta mạnh th́ có
thể kéo họ về với nước ta.
Ngược lại
ngày nay, với công pháp quốc tế, biên giới quốc
gia giữa các nước được ghi lại rất
cụ thể. Một khi đă kư kết văn bản
nhượng đất, th́ rất khó lấy lại. Muốn
lấy lại, phải thương thuyết lại, kư lại
hiệp ước khác, mới có thể hồi
hương những đất đă mất.
7) Tính chất bang giao
giữa hai nước Việt Hoa trong hai thời đại
không giống nhau. Ngày trước, Trung Hoa theo chế độ
quân chủ. Các vua Trung Hoa chờ sẵn cơ hội để
xâm lăng nước ta. Ngay nay Trung Hoa theo chế độ
Cộng ḥa Nhân dân, là nước "xă hội chủ nghĩa
anh em" với CHXHCNVN. T́nh anh em nầy cũng nguy hiểm
không khác ǵ quân chủ phong kiến ngày xưa.
Kinh nghiệm lịch sử
1) Kinh nghiệm lịch
sử lớn nhất rút ra từ hai vụ nhượng
đất là phải luôn luôn đề pḥng bắc
phương, dù bắc phương theo bất cứ chế
độ chính trị nào. Mỗi thời đại, bắc
phương có mỗi cách xâm lăng khác nhau. Dưới thời
đại quân chủ, Trung Hoa đă nhiều lần sử
dụng vơ lực, nhưng vô hiệu. Ngày nay CHNDTH cũng từng
dùng vơ lực để xâm lăng Việt
2) Kinh nghiệm lịch
sử thứ nh́ là muốn chống lại cuộc xâm
lăng kiểu mới của CHNDTH th́ phải đoàn kết
dân tộc, xây dựng xă hội ổn định, mới
có thể tập hợp tổng lực dân tộc chống
lại bắc phương. Muốn thế, điều kiện
tiên quyết là phải gạt bỏ chủ nghĩa Mác-xít.
Chủ nghĩa nầy dựa trên căn bản đấu
tranh giai cấp, chẳng những đă đánh đổ
toàn bộ những giá trị dân tộc truyền thống,
mà c̣n tiêu hủy nhân tính nơi con người, v́ đấu
tranh giai cấp là đấu tranh sinh tồn, một mất
một c̣n, tận diệt tất cả những giai cấp
khác để độc quyền xă hội.
V́ nhà nước cộng
sản chủ trương đấu tranh giai cấp, con
người luôn luôn đối kháng với nhau, xâu xé nhau, giết
hại lẫn nhau khiến cho xă hội trở nên bất ổn.
Con người mất ḷng tin lẫn nhau, cũng như mất
ḷng tin vào chế độ cai trị. Trong cuộc Cải
Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt, có nhiều
trường hợp con cái đấu tố giết hại
cha mẹ, anh em vợ chồng đấu tố giết hại
nhau. Tất cả chỉ để nhắm mục đích
sinh tồn. Người ta giết hại cha mẹ để
sinh tồn, th́ người ta cũng có thể xẻ đất
của tổ tiên nhượng cho ngoại bang để
sinh tồn. Do đó, có thể nói việc nhượng
đất nhượng biển vừa qua của CSVN chính
là di căn của việc đấu tố cha mẹ trong
cuộc Cải cách ruộng đất vào thập niên 50, xuất
phát từ chủ nghĩa Mác-xít.
Tất cả mọi
người Việt
Cần chú ư là các chế
độ quân chủ ngày trước, dầu chuyên chế,
nhưng không chủ trương đấu tranh giai cấp,
lại luôn luôn đề cao tính nhân bản, tôn trọng quyền
làm người. Nhờ thế, xă hội không bị phân ră
thành những tế bào nhỏ luôn luôn đối kháng nhau,
thù hằn nhau, mà xă hội giữ được thế
liên kết ôn ḥa, thăng bằng và ổn định, nên
khi nguy biến, dân chúng dễ bỏ qua những khác biệt
riêng tư và tập hợp thành tổng lực của dân tộc
để chống ngoại xâm và bảo vệ tổ quốc.
3) Kinh nghiệm lịch
sử thứ ba là không có vấn đề "các nước
xă hội chủ nghĩa anh em". Ư niệm "xă hội
chủ nghĩa anh em" hoàn toàn là một ảo tưởng.
Cũng không có vấn đề các nước ngoài viện
trợ nước Việt
Thử so sánh việc
nhà Mạc nhượng năm động miền núi Quảng
Yên, trong hoàn cảnh nội bộ chia rẽ và trong thế
yếu, để mưu cầu an ninh cho đất nước,
với việc đảng CSVN lănh đạo một đất
nước khoảng 80 triệu dân, tập trung quyền lực
toàn diện và tuyệt đối vào trong tay đảng,
nhưng chỉ v́ quyền lợi riêng tư, đă nhượng
biển, nhượng đất, và c̣n nhượng luôn cả
chứng tích Nam Quan vang lừng chiến sử dân tộc,
th́ bên nào có tội hơn trước lịch sử ?
Bộ Lịch sử
Việt Nam tập 1, của đảng CSVN ấn hành
năm 1971, đă nhận xét về nhà Mạc như
sau : "Trước sự đe dọa của nhà
Minh, Mạc Đăng Dung đă đầu hàng và đem
dâng một phần đất của Tổ quốc cho kẻ
thù để mong được rảnh tay đàn áp nhân dân
và đối phó với phe phái đối lập trong nước.
Độc lập dân tộc, toàn vẹn lănh thổ và thanh
danh của đất nước, đó là những điều
thiêng liêng đối với người Việt Nam tự
ngàn xưa, nay bị xúc phạm v́ sự bất lực và
hèn nhát của tập đoàn thống trị họ Mạc..."
(tr. 291)
Những lời nhận
xét trên đây thật là mạnh mẽ và đanh thép,
nhưng nếu những lời nầy áp dụng cho giới
lănh đạo đảng CSVN hiện nay th́ phải
chăng sẽ chính xác hơn ?
Trần Gia Phụng
Đến lúc phải
nói...
Bùi Xuân Quang
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Đúng. Chúng ta là một dân tộc
xấu số. Nhưng đă xấu số th́ không thể
than văn với ai. Hoặc người ta không thèm nghe, hoặc
người ta sẽ lườm một cái : "Có dân
tộc khác đau khổ hơn các anh nhiều !". Thật
vậy, lúc gần 300 000 người chết v́ cơn sóng vĩ
đại tại Đông Nam Á, lúc chung quanh vùng Trung Đông
mạng người không có ǵ là đáng kể, lúc ở Phi
Châu trẻ em không thể lớn, không có ngày mai, v́ nghèo
đói, bệnh tật, th́ những tiếng nói đ̣i tự
do, đ̣i quyền làm người có thể bị lạc
lơng, "không ăn khớp với thời sự ".
Vâng, đúng vậy. Nhưng
chúng ta không phải là những người dễ bị
"chết đuối trong một ly nước", tôi
biết, gần 30 năm sau đi cải tạo, hoặc
lúc đă bị hành hạ tinh thần đến độ
khủng hoảng, có những người không thể quên.
Họ sống lại một phần, c̣n một phần
trong con người đă bị dập nát. Nhân loại
không thể nào cho rằng đang tiến trên con đường
văn minh nếu bỏ quên
Nhân tính của con người
đẩy nhân loại tiến tới trên con đường
văn minh. V́ phận sự của nhân tính là tự bảo
vệ thân xác, con tim, khối óc. Ai xâm phạm đến
thân xác, con tim, và khối óc của chúng ta là tội phạm,
không những chỉ đối với cá nhân chúng ta mà c̣n
đối với lề luật của một xă hội
văn minh.
Một bà bạn Pháp, bác sĩ,
chuyên về những phương cách để làm bệnh
nhân bớt đau đớn, nói với tôi rằng nếu
bác sĩ làm cho bệnh nhân bớt đau, th́ phương
pháp chữa bệnh mới có hiệu quả tối đa
(xem công việc của các bác sĩ trong nhóm Douleurs sans
frontières - DSF- trên Internet). Con người có thể chết
v́ đau đớn, buồn phiền. Chúng ta ai cũng biết,
nhưng ít người hành xử với ḷng bác ái, từ
bi, với kẻ khác.
Trong những thời kỳ
đau đớn nhất của lịch sử của một
quốc gia, ví dụ như ở Pháp, lúc bị quân đội
Đức xâm chiếm, rất có ít người chịu hy
sinh, kháng chiến. Chúng ta không có lư do để quá đau
ḷng khi thấy một số lớn bà con, bạn bè thân thiết
khiếp sợ bạo lực, khiếp sợ đến nỗi
hiện đang ở cái xứ của Nhân quyền này mà cũng
không dám "dính líu" với vấn đề quyền
làm người ở tại quê nhà.
Trong lúc vết thương của
dân tộc chưa hàn gắn và c̣n rỉ máu, th́ thái độ
của một Nguyễn Cao Kỳ đă đụng chạm
đến tim, đến ḷng của những người
c̣n trung thành với quân đội VNCH, với tướng
Nguyễn Cao Kỳ của thủa xưa. Ông Nguyễn Cao Kỳ
đă đụng chạm đến vết thương
ḷng của những người bạn xấu số của
ông. Không cần nói đến thái độ không ư thức
chính trị, và nếu có ư thức, th́ có thể nói là phản
bội với quá khứ của ông, phản bội đối
với đồng bào Miền Nam của chế độ
cũ, và những đồng bào Miền Bắc nạn nhân
của chế độ cộng sản.
Những người lính cũ
của Miền
C̣n phải nghĩ ǵ về
thái độ và hành động một Thích Nhất Hạnh ?
Ở Tây phương, có người nói đến Thích Nhất
Hạnh như là một nhân vật của Phật giáo
đứng liền sau Đức Đạt Lai Lạt
Ma ! V́ sao ? Chỉ v́ hiện giờ một số
không ít người Tây Phương đang bị khủng
hoảng tinh thần, đi t́m những liều thuốc
để xoa dịu, hoặc đánh bóng cho cuộc sống
buồn tẻ, thấy "sắp chết đuối
trong một ly nước", v.v. Tây phương đă trải
qua một thời gian đi t́m chân lư "new age", với
những cuộc hành hương đến địa
đàng Katmando, với phong trào "hippy". Bây giờ,
đến lượt của đạo Thiền, và Thích
Nhất Hạnh giảng đạo với phương
pháp "new age kéo dài", lấy cái hay của đạo
này ráp vào cái hay của đạo nọ. Những người
đồ đệ của sư Nhất Hạnh không phải
từ khước nguồn gốc Thiên Chúa Giáo của ḿnh
mà lại được thêm một cái đạo mới.
Không khác ǵ khi chúng ta thấy bệnh nhân hiện giờ mua
thuốc càng ngày càng nhiều và mong đợi những thứ
thuốc mới. Có lẽ v́ lư do ấy mà vị thiền
sư người Việt đă được tôn sùng
như một vị thánh sống. Từ 50 năm sống
trên đất Pháp, nhiều người bạn của tôi
đi học thiền với Thích Nhất Hạnh, tôi không
bao giờ chê bai hoặc khuyến khích, v́ đi t́m một
đời sống tinh thần trong sáng là một chuyện
rất tốt đẹp và mỗi người phải tự
chọn lựa con đường riêng của ḿnh, khó mà ai
có thể chỉ đường cho những người
chung quanh. Nhưng lúc thầy Thích Nhất Hạnh tổ chức
tại New York một buổi thuyết tŕnh liền sau vụ
tấn công 11 tháng 9, khuyên răn người dân Mỹ phải
bớt bỏ thù hận, và phải ăn năn v́ trong quá
khứ, tại Bến Tre, quân đội Mỹ đă phạm
tội diệt chủng, tôi thấy không nên ngần ngại
chia sẻ cùng quư bạn một vài ư nghĩ.
Không một nhân vật nào
đứng lên tố cáo thái độ lợi dụng
cơ hội một cách lạ lùng của một nhà truyền
đạo Thiền tiếng tăm ở Tây phương.
Thích Nhất Hạnh, với buổi thuyết tŕnh về
11/9, đă đưa xin giấy phép trở về nước
một cách bán chính thức. Và nhà giảng dạy luân lư
chuyên nghiệp này đă trở về Việt
Nếu bạn là người
lính của quân lực VNCH, bạn sẽ có cảm tưởng
Nguyễn Cao Kỳ đâm những nhát dao găm sau lưng
bạn ; nếu bạn là người tín đồ Phật
Giáo mong được hoàn toàn độc lập để
t́m thấy con đường chân tu giải thoát, bạn cũng
sẽ đau nhói v́ thái độ cơ hội của Thích
Nhất Hạnh ; nếu bạn là người trong
nước đang hy sinh đấu tranh cho đất
nước tiến tới dân chủ, bạn sẽ có cảm
tưởng bị sóng nước bần hèn lôi cuốn.
Bao nhiêu năm rồi, người
dân Việt
Một số nhân vật tranh
đấu cho tự do dân chủ vừa được trả
tự do. Trước bước tiến của thời
đại, trước sức ép từ trong và ngoài nước,
Cộng sản Việt
Trong một nước tang
tóc như
Bùi Xuân Quang
Hội Nghị
Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ kỳ
2
(LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Sự kiện Hải Quân
Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt
Thấm thoát mà đă 2 năm
kể từ khi Hội Nghị Diên Hồng Bào Toàn Đất
Tổ lần đầu tiên được triệu tập.
Từ đó đến nay, biết bao sự kiện dồn
dập xảy ra, vấn đề nhân quyền và tôn giáo tại
Việt
Đại hội khai diễn
lúc 9 giờ sáng ngày 1-1-2005 với nghi thức chào quốc kỳ
và lễ dâng hương do quư vị lănh đạo tinh thần
của các tôn giáo. Đức Tổng Giám Mục Mai Thanh
Lương đă đọc lời khấn nguyện
trước bàn thờ quốc tổ. Sau diễn văn
chào mừng đại hội của ông Nguyễn Trọng
Việt là phần phát biểu và tham luận của 4 nhà
đấu tranh dân chủ trong quốc nội. LM Phan Văn Lợi
vẫn mạnh dạn lên án đảng và nhà nước
CSVN bán nước ; ông Trần Khuê, mặc
dù đă bị bắt ngay sau khi phát biểu tại hội
nghị lần trước và vừa được trả
tự do, vẫn tiếp tục lên tiếng đ̣i hỏi
dân chủ v́ đó chính là ch́a khóa để chính quyền và
toàn dân có thể gắn bó để cùng nhau bảo vệ
đất nước. Tiếng nói thứ ba gửi
đến đại hội là ông Hà Sĩ Phu, ông cũng
đ̣i hỏi nhà nước CSVN phải công bố rơ ràng nội
dung các bản hiệp định chứ đừng lén lút
kư kết với đàn anh Trung Quốc mà bỏ dân tộc.
Và sau cùng là anh Phương Nam Đỗ Nam Hải, tuy
đang bị công an theo dơi rất chặt chẽ, anh vẫn
không hề khiếp sợ và đă góp tiếng nói của
ḿnh với Hội Nghị, anh cũng khẳng định
rằng chỉ có tự do dân chủ mới có thể giúp
cho toàn dân Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lănh thổ.
Mở đầu
chương tŕnh sinh hoạt chính thức của Hội Nghị
là phần báo cáo hoạt động của Hội Đồng
Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ tại Úc châu, Âu
châu và Bắc Mỹ.
Trong phần tham luận khoáng
đại, luật sư Nguyễn hữu Thống đă
tŕnh bày những khía cạnh pháp lư việc nhà cầm quyền
CSVN nhượng đất và biển cho CS Trung Quốc.
Ông lên án 3 hiệp ước về biên giới, về
đánh cá, về khai thác dầu hỏa vùng biển Đông
đă làm tổn hại đến quyền lợi đất
nước.
Cựu đề đốc
Đinh Mạnh Hùng thuộc Ủy Ban Bảo Vệ Bờ
Cơi VN (vùng Washington DC và phụ cận) lên tiếng trước
hội nghị "đ̣i hỏi Trung Quốc trả lại
đất đai CSVN đă dâng cho họ", và đề
nghị hội nghị không chỉ tố cáo CSVN dâng đất
dâng biển cho Trung cộng, mà c̣n tiến tới những
hành động cụ thể nhằm giải thể chế
độ CSVN. Ông khuyên hội nghị kết hợp việc
bảo toàn đất tổ, với những dấu tranh
cho dân chủ, nhân quyền ở quê nhà, bảo vệ môi
sinh, lưu tâm đến việc chuyển tải tin tức
cho đồng bào quốc nội, ..v..v.
Bác sĩ Trần Đức
Tường, Ủy viên trung ương Việt Nam Canh Tân
Cách Mạng Đảng, đă tŕnh bày về t́nh h́nh Việt
Nam trong thời gian qua, với những tranh chấp gay gắt
trong nội bộ và đang làm suy yếu CSVN, đặc biệt
là vụ Tổng Cục 2 vẫn c̣n đang tiếp diễn.
GS Nguyễn Ngọc Bích, một
nhà ngôn ngữ học, thuộc Nghị Hội Toàn Quốc
Người Việt Tại Hoa Kỳ, nguyên giám đốc
chương tŕnh phát thanh Việt ngữ của đài Á
Châu Tự Do, đă kết thúc phần tham luận khoáng
đại với những gợi ư về việc vận
động những tương quan quyền lợi giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ, giữa Việt Nam với các nước
Á châu như Nhật, Đài Loan, Nam Hàn trong vùng biển
Đông.
Buổi chiều thứ bảy
1-1-2005 là phần thảo luận chuyên đề với 6
đề tài :
cộng đồng : với
phần tham luận của 3 diễn giả là ông Trần
Nghị (Cộng Đồng Người Việt tại
truyền thông : với
phần tham luận của nhà báo Trần Phong Vũ (Nguyệt
San Diễn Đàn Giáo Dân) và nhà văn Chu Tất Tiến.
nhân quyền và giới trẻ :
với phần tham luận của anh Nguyễn Hoàng Thanh Tâm
(Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên
Đường), chị Nguyễn Huỳnh Thanh Giang và anh Tạ
Ngọc Khôi (đại diện dân biểu Loretta Sanchez)
sử địa : với
phần tham luận của sử gia Trần Gia Phụng và
hạm trưởng Vũ Hữu San.
môi sinh : với phần
tham luận của Kỹ sư Nguyễn Minh Quang và Tiến
sĩ Mai Thanh Truyết thuộc Hội Khoa Học và Kỹ
Thuật Việt Nam
chính trị với phần
tham luận của Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh và
Giáo sư Nguyễn Hồng Dũng (Việt Nam Quốc Dân
Đảng, San Jose)
Phần hội nghị khoáng
đại chiều thứ bảy đă trở lại với
phần đúc kết các thảo luận trong các chuyên đề
và với phần giới thiệu, phát hành Tập San Nghiên
Cứu trước toàn hội nghị của GS Lưu
Trung Khảo. Tập San Nghiên Cứu là một cố gắng
của Khối Nghiên Cứu nhằm cung cấp một
phương tiện để chuyên chở những công
tŕnh biên khảo, nghiên cứu, suy tư về nhiều lănh
vực của các nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước.
Tập san lần này đă được sự đóng góp
của 19 tác giả với 20 bài viết.
Buổi tối thứ bảy,
các đại biểu tham dự bữa tiệc tân niên tại
nhà hàng Emeralbay cùng với một số quan khách địa
phương, đặc biệt có sự hiện diện
và phát biểu của ông Lou Correa, tân Giám Sát Viên của Quận
Cam và TS Nguyễn Lâm Kim Oanh, ủy viên giáo dục của học
khu Garden Grove, Nam Cali. Buổi tiệc tân niên được
sự tham gia tŕnh diễn những nhạc phẩm đấu
tranh của ban Tù Ca với nhạc sĩ Xuân Điềm, cũng
như các ca nghệ sĩ thuộc Hội Cổ Nhạc Miền
Sáng chủ nhật 2-1-2005, hội
nghị đă thảo luận về bản Nội Quy
điều hành để kiện toàn phương thức
phối hợp giữa các cộng đồng, đoàn thể
v.v... trên thế giới và Hội Nghị đă đề
cử thành phần điều hành của các khu vực cũng
như của Ủy ban Phối Hợp Hành Động cho
nhiệm kỳ mới. Tiếp theo, Hội Nghị đă
thảo luận sôi nổi về bản Tuyên Cáo của Hội
Nghị do ban soạn thảo gồm GS Nguyễn Ngọc
Bích, TS Mai Thanh Truyết, LS Nguyễn Hữu Thống và DS
Nguyễn Đức Nhiệm đệ tŕnh. Bản tuyên
cáo đă được toàn thể hội nghị thông qua.
Sau cùng, ông Nguyễn Trọng Việt đă giới thiệu
phối trí viên của các khối nghiên cứu của Hội
Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ gồm
có :
Khối Luật Pháp :
LS Nguyễn Xuân Phước
Khối Sử Địa :
GS Trần Gia Phụng
Khối Môi Sinh : TS Mai
Thanh Truyết
Khối Chính Trị :
GS Lưu Trung Khảo
Khối Truyền
Thông : GS Nguyễn Ngọc Bích
Hội Nghị bế mạc
lúc 1 giờ trưa chủ nhật 2-1-2005 sau phần họp
báo.
Sau đây là danh sách các thành
viên của Ủy Ban Phối Hợp Hành Động nhiệm
kỳ 2005 - 2008 :
Bắc Mỹ : Ông
Dương Văn Anh (
Âu Châu : Ông Nguyễn
Đắc Trung (Ḥa Lan), Bà Nguyễn thị Thanh Vân (Pháp), Ông
Nguyễn Thanh Văn (Đức), Ông Trần Văn Ṭng
(Anh)
Úc Châu : Anh Nguyễn
Hoàng Thanh Tâm
Á Châu : Ông Nguyễn
Phương Khanh
Suy Tư và Ước
Vọng : Đôi lời về tác giả và tác phẩm
Đỗ Mạnh Tri
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Tên tuổi Nguyễn
Thanh Giang, tiếng nói ôn tồn, trí thức nhưng bừng
bừng nhiệt huyết của Nguyễn Thanh Giang cho tự
do, nhân phẩm, nhân quyền ; những ư kiến xây dựng
giàu tính thuyết phục của Nguyễn Thanh Giang cho dân,
cho nước và cả cho đảng CSVN, quư vị và các bạn
ở đây đều đă nghe, đă đọc. Hôm nay,
nhà xuất bản Quê Hương cho phép chúng ta có trong tay một
số bài viết vào những năm áp chót thế kỷ 20
và những ngày đầu thiên niên kỷ thứ ba, do chính tác
giả Nguyễn Thanh Giang chọn lọc và sắp đặt.
1. Suy tư và Ước vọng : một tên
sách hiền hoà, gần như vô thưởng vô phạt.
Đă là người,
ai không ước muốn, hy vọng và không suy nghĩ ḥng
t́m cách thoả măn những ước vọng của
minh ? Nhưng với Nguyễn Thanh Giang và những chiến
sĩ dân chủ trong nước, suy tư và ước vọng
hàm chứa một sự dồn nén, một nỗi u uất
khôn nguôi. Ngay trong Lời nói đầu, Nguyễn Thanh Giang kể :
khi kháng chiến chống Pháp chuyển mạnh sang Tổng
phản công, anh đang công tác trong ngành giáo dục th́
khăng khăng xung phong đi bộ đội. Anh mơ
ước xả thân, cho dù chỉ làm quân độn, để
giải phóng quê hương. Mấy vần thơ anh sáng tác
hồi đó :
Ước làm một
nhịp cầu
Dù trưa mai đổ gục
Đêm nay trăm toa tầu
Lao trên ḿnh sầm sập
Sau này, những năm
trèo đèo lội suối làm công tác địa chất, Nguyễn
Thanh Giang "vẫn cồn cào trong ngực những hoài băo
thật thiêng liêng". Mấy vần thơ khác, cũng
trong Lời nói đầu :
Tổ quốc
ơi ! Sau trầm luân thế kỷ
Cần bao nhiêu vàng đựng túi ba gang ?
Ước xoè tung đôi cánh đại bàng
Vượt trùng dương,
dẫu gồng lưng vác nặng
Lật tầng đất xạm đen dạn dày bom đạn
Cho ánh kim soi rạng mặt tương lai
Lạc quan và bừng
bừng dũng khí ! Dễ hiểu. Tuổi trẻ là
thùng thuốc nổ. Chỉ đợi một cái ng̣i. Khi
cái ng̣i ấy lại mang bộ áo huy hoang của lư tưởng,
th́ những thanh niên, thanh nữ, những Trần Độ,
Xuân Quư, Bùi Minh Quốc chen chúc nhau lên đường.
hai mươi khi nghĩa
đời đă thấy
Th́ gian lao biết mấy cũng lên đường.
Bùi Minh Quốc
Chàng thanh niên Nguyễn
Thanh Giang cũng thế. Sống chết cho Độc lập,
Tự do, Hạnh phúc, có ǵ đẹp hơn ? Nhưng cũng
như Bảo Cự, Bùi Minh Quốc, Trần Độ,
Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn... Nguyễn Thanh
Giang cay đắng thú nhận trong Lời nói đầu :
hế rồi... không
biết tự bao giờ, có thể từ một đêm ngủ
rừng gần ga Pom Hán hay Diêu Tŕ nào đó, nghiêng tai vào tĩnh
lặng "để lâu lâu c̣i rúc nghe rền rĩ" từ
những đoàn tàu, tôi bỗng giàn giụa nước mắt
liên tưởng đến Tổ quốc tôi :
Tôi thấy tôi thương những con tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có ǵ vướng víu trong hơi máy
Mấy chuyến toa đầy, nặng khổ đau
(Thơ Tế Hanh).
2. Độc lập, Tự do, Hạnh phúc :
Ước muốn
mănh liệt của dân tộc đă bị một chính quyền
ma mănh, độc ác, lừa đảo vận dụng và lợi
dụng vào những mục tiêu đen tối. Bao nhiêu
xương máu để rồi độc lập thành công
cụ giết chết tự do, chôn vùi hy vọng. Đến
nỗi 25 năm sau ngày 30/04/1975 Dương Thu Hương
phải viết : "Xấp xỉ một phần
tư thế kỷ nhưng những người nông dân mặc
áo lính vẫn đứng dưới ruộng bùn. Bóng cuộc
chiến tranh đổ xuống ngôi đền cho bọn
cướp bóc trú ngụ, c̣n đám người ngu ngơ
nhát nhúa vẫn sống bởi ánh hồi quang của những
chân trời đă mất, bởi niềm tự an ủi
"sống khổ nhục c̣n hơn là chết". Và
như thế, nền dân chủ càng bị đẩy lui về
phía xa, cơ hội xây dựng một xă hội văn minh
càng mờ mịt. (...) Con chim (hoà b́nh) chưa bay tới xứ
sở của chúng ta, những kẻ yên tâm lội dưới
bùn, những kẻ thờ ơ với chính máu ḿnh đổ
ra, ngoan ngoăn chịu đựng mọi sự cướp
bóc, hài ḷng với bát cơm chan nước mắm cua đồng,
chưa bao giờ dám mở to mắt để ngắm nh́n
và ước ao cuộc sống như một giá trị
đáng phải có".
Tại sao ra nông nỗi
này ? Nguyễn Thanh Giang nhận xét : "Chính v́
Đảng chỉ v́ Đảng, chính quyền chỉ v́
chính quyền (...) cho nên quần chúng và, kể cả đảng
viên, nếu không vùng lên đấu tranh th́ cũng thái độ
chán chường, thờ ơ, lănh đạm", và nhắc
lại lời nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong Hải Ngoại
Huyết Thư :
Một là vua sự dân
chẳng biết
Hai là quan chẳng thiết ǵ dân
Ba là dân chỉ biết dân
Mặc quân, mặc quốc, mặc thần, mặc ai (tr. 61)
Vậy phải bước
ra khỏi vũng lầy đă thành nếp sống quen thuộc,
phải phá vỡ cái cũi của thờ ơ lănh đạm ;
phải đánh thức hy vọng, làm sống lại những
hoài băo lớn lao của con người Việt
3. Nguyễn Thanh Giang đă và đang ngang nhiên làm
nô lệ cho cái đầu của anh thế nào ?
Xin đọc mấy
ḍng trích từ lá thư ngày 05 tháng 05 năm 2000 gửi Quốc
hội nước CHXHCNVN, yêu cầu xử lư Công an và Cán bộ
Tư tưởng/Văn hoá v́ tội bắt giữ anh ngày
04/03/1999 và sau khi thả anh c̣n vu khống và bôi nhọ
anh :
"Tôi là Nguyễn
Thanh Giang, sinh năm 1936, tham gia cách mạng từ Kháng chiến
chống Pháp. Vốn là một cán bộ khoa học tự
nhiên, những đóng góp của tôi trong quá tŕnh công tác chủ
yếu thuộc ngành giáo dục và khảo cứu địa
vật lư. Tuy nhiên, do ư thức trách nhiệm công dân thôi thúc mạnh
mẽ, hơn mười năm qua tôi thường viết
một số bài mang tính chính luận gửi cơ quan ngôn
luận và các đồng chí lănh đạo tham gia bàn bạc
những vấn đề quốc kế dân sinh. Tuy tŕnh
độ hạn chế do chỉ được học
chính quy vê khoa học tự nhiên, nhưng thực tế những
ư kiến phát biểu của tôi đă từng đóng góp
không nhỏ giúp sửa đổi một số văn kiện
lớn và điều chỉnh một vài chủ
trương, chính sách chưa thật đúng đắn của
Đảng và Chính (tr.205).
Nguyễn Thanh Giang là
nhà khoa học tự nhiên, chuyên về địa vật lư.
Những công tŕnh nghiên cứu của anh được giới
đồng nghiệp thế giới trân trọng. Vợ và
hai con cũng là cán bộ cao cấp của chế độ ;
con trai thạc sĩ địa vật lư, con gái thạc sĩ
về dân số học (xem tr.234). Anh và gia đ́nh anh đă
công thành danh toại trong chế độ. Anh và gia đ́nh
anh cũng không hề làm điều ǵ trắc trách, trái với
lương tâm. Tại sao không tiếp tục phục vụ
trong lănh vực chuyên môn của ḿnh ? Tại sao không an phận
làm công tác thuần tuư khoa học ? Như người ta
thường nói : thuần tuư tôn giáo, thuần tuư nghệ
thuật, thuần tuư văn chương... Nhưng nếu
thế th́ c̣n ǵ ư thức trách nhiệm ? Hai chữ 'thuần
tuư' cao đẹp cũng có khi thành lá chắn cho hèn nhát.
Tránh voi chẳng hổ mặt nào. Nhưng nếu không dám
"mở to mắt để ngắm nh́n và ước ao
cuộc sống như một giá trị đáng phải
có", tưởng cũng không nên nhân danh khoa học, tôn
giáo hay văn chương nghệ thuật để bào chữa
cho sự sợ hăi của ḿnh. Nguyễn Thanh Giang mở to
đôi mắt. V́ ư thức trách nhiệm công dân thôi thúc, anh mạnh
mẽ lên tiếng về những vấn đề bên ngoài
lănh vực chuyên môn của ḿnh. Ở điểm này anh vừa
tiêu biểu cho người trí thức của thời đại,
vừa nối tiếp thái độ sĩ phu của truyền
thống. Người trí thức không chỉ là người
giàu có về kiến thức. Kiến thức (khoa học,
kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật..) chuyên môn đến
mấy đi nữa cũng không làm nên người trí thức.
Người trí thức là người vượt ra ngoài
lănh vực chuyên môn của ḿnh để nói lên với tinh
thần trách nhiệm và tất cả sự huy động
của tri thức, những đ̣i hỏi của
lương tri. Tất nhiên, làm thế là tự cho ḿnh cái
quyền có thể nói sai. Nhưng không có quyền nói sai, làm
sao có thể có quyền nói đúng ! Nhân vô thập toàn.
Có đúng, có sai mới cần trao đổi, nghị luận,
tranh luận, đối thoại ḥng đi tới gần sự
thật và t́m ra lẽ phải. C̣n như phải trả
giá, th́ Nguyễn Thanh Giang quá biết. Cũng trong Lời nói
đầu, anh viết :
"Dẫu rằng v́
những ḍng suy tư này mà tôi từng chịu bao nhiêu lao
lung, khổ ải, tôi vẫn không thể quên lời nhà chí
sỹ Phan Bội Châu :
Sinh vi nam tử yếu
hy kỳ
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di !
Ư bách niên trung tu hữu ngă
Khởi thiên tái hậu cánh vô thùy
Nghĩa là :
Đă sinh ra làm trai th́
cũng phải khác đời
Lẽ nào cứ để trời đất xoay vần ra
sao cũng mặc
Trong khoảng trăm năm đă có ta (th́ ta phải gánh vác
lấy công việc)
C̣n như chuyện ngàn năm sau th́ có người sắp tới".
Đúng là tinh thần
kẻ sĩ. Giặc đến nhà, đàn bà phải
đánh. Huống ǵ khi giặc đến từ nhà, ở
ngay trong nhà. Không riêng ǵ nam nhi, tất cả mọi người,
đặc biệt những con người có ăn có học
không thể đành nhắm mắt đưa chân mà xem con tạo
xoay vần ra sao. Hà Sĩ Phu, trong mấy ḍng kết bài
Đôi điều suy nghĩ của một công dân thổ lộ :
"Tôi cũng toan xé bài viết này đi, v́ nghĩ ǵ, nói
ǵ cũng đều vô nghĩa cả. Nhưng chợt nh́n
vào những thứ ḿnh đang ăn đang mặc hàng ngày,
nh́n vào cuốn sách đang xem, tôi tự biết ḿnh là kẻ
đă được ăn chịu ở 'Quán đời'
này quá nhiều, nếu thản nhiên rũ áo ra đi th́ hóa
ra thằng ăn quịt, giữa buổi 'kinh tế thị
trường' ! Nên đành phải nói tiếp câu chuyện
trần tục". Tâm trạng của công dân Nguyễn
Thanh Giang không xa tâm trạng HSP. Trong câu kết Lời nói
đầu của Suy tư và Ước vọng anh tha thiết :
"Tôi vẫn ngày đêm không thể không trăn trở
cùng tấc ḷng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :
"Non non nước nước chưa quên lời thề"
Kính thưa Quư Vị,
thưa các Bạn
V́ thời gian có hạn,
tôi đă hạn chế cảm nhận của tôi vào tên sách
và Lời nói đầu của tác giả Nguyễn Thanh
Giang. Xin mời Quư Vị và các Bạn khám phá nội dung của
13 bài tiểu luận, bao trùm hầu hết những vấn
đề cốt tử của đất nước :
Tinh thần Việt Nam, Người Việt hải ngoại,
Hội nhập và Chủ quyền, Hội nhập và Dân chủ ;
những vấn đề về Nhân quyền, về Giai cấp
công nhân Việt Nam, về vai tṛ của doanh nghiệp nhà
nước và có lẽ đáng lưu ư hơn cả, tầm
quan trọng của hàm lượng trí tuệ trong lao động,
và v́ thế của kinh tế tri thức trong vấn đề
phát triển đất nước. Đọc Nguyễn
Thanh Giang có thể đồng ư hay không đồng ư
nhưng phải công nhận tất cả được
viết ra, hay đúng hơn được nói lên với tấm
ḷng thiết tha v́ dân v́ nước ; lư luận lúc nào cũng
dựa trên những dữ kiện khách quan và hàm chứa một
lượng kiến thức thông tin dồi dào, chính xác.
Bên cạnh các bài tiểu
luận, c̣n một thiên kư sự, một bài phỏng vấn
và 8 lá thư giúp ta biết thêm về hành tŕnh tranh đấu
của Nguyễn Thanh Giang, về những khổ ải anh
và gia đ́nh anh đă và đang gánh chịu, về những
người bạn dân chủ anh cùng sát cánh. Trước hiện
t́nh đất nước, những lá thư này cũng
như những tiểu luận kia góp phần củng cố
xác tín của chúng ta về tiền đồ dân tộc, về
sự tất thắng của con đường dân chủ.
Cảm ơn Nguyễn Thanh Giang và những chiến sĩ
dân chủ trong nước.
Đỗ Mạnh Tri
Ḷng tự trọng
của người ăn cắp
Phạm Việt Vinh
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Dưới đây là những
ḍng thư của một người cha từ Nghệ An gửi
cho đứa con trai đang xin tỵ nạn tại CHLB
Đức :
"... Ở nhà rất thương
con và cũng rất tự hào về con. Số tiền con
kiếm được và gửi về đă làm cho bố
mẹ rất hănh diện với họ hàng, làng xóm : nhà
ḿnh đă được sửa sang, các em con đă có tiền
để đi học thêm. Bố mẹ chỉ mong con ở
bên đó luôn được khỏe mạnh, đi làm đều
đặn để dành dụm được một số
tiền làm vốn cho tương lai. Con phải nhớ rằng :
một đồng Ơrô [1] con kiếm được và gửi
về sẽ đủ cho con sau này sống được
vài ngày trong nước. Hăy chịu khó, chịu khổ bây giờ
để ngày mai sung sướng, con nhé ! Mấy hôm nữa
một số bạn bè của con lại sang Đức
theo con đường của con, trong đó có C. là con chú P.
Chú nhờ con giúp đỡ và chỉ bảo cho C. cách làm
ăn..."
Người nhận thư là
Hùng [2], một thanh niên mặt mũi khôi ngô, chừng 20 tuổi,
đă bị CHLB Đức bác đơn xin tỵ nạn
v́ đơn hoàn toàn không có lư do. Hùng ở trong một trại
tỵ nạn dành cho thanh thiếu niên ở Berlin, nhận
160 Euro tiền trợ cấp xă hội mỗi tháng, cứ
2-3 tháng lại phải tŕnh diện Sở Ngoại Kiều
để gia hạn giấy tạm dung (Duldung - thực chất
là giấy tạm hoăn trục xuất), và do vậy, lúc nào cũng
nơm nớp nguy cơ bị đưa trả trở về
bản quán. Khi được hỏi về việc
"đi làm", Hùng đỏ mặt ngượng nghịu :
"Xin tỵ nạn th́ ai cho đi làm hả chú. Việc
kiếm tiền của bọn cháu là đi ăn cắp tại
các siêu thị. Nhưng nếu chăm chỉ và không dính vào
nghiện hút th́ cũng có tiền chú ạ".
Sang nước Đức mới
được một năm nhưng Hùng đă bị cảnh
sát bắt 60 lần về tội ăn cắp. Theo thống
kê "nội bộ" th́ cứ ăn cắp hơn 10 vụ
mới bị bắt một lần. Tức là trung b́nh ngày
nào Hùng cũng "đi làm" 2 - 3 vụ. "Mới
đầu cũng sợ lắm, cũng xấu hổ lắm.
Nhưng dần dần cũng hết sợ v́ cảnh sát
Đức họ rất nhân đạo, và ḿnh cũng chẳng
c̣n xấu hổ nữa", Hùng cho biết.
Đây không phải là trường
hợp cá biệt. Hàng trăm thanh thiếu niên xin tỵ nạn
Việt
Từ hoàn cảnh "tốt
nghiệp phổ thông xong nhưng phải lêu lổng ở
nhà v́ không biết làm ǵ" như Hùng, hay "không có nhiều
tiền th́ không có chỗ làm tử tế" như Cúc,
nghe theo những lời hứa "đường mật"
và hoa mắt v́ những bức vẽ bịa đặt của
các đường dây đưa người vượt
biên, ḍng người tỵ nạn Việt Nam vẫn tiếp
tục chảy sang Đức.
Vài năm trước đây,
người xin tỵ nạn thường lớn tuổi
hơn, trong đó có cả những người mang ư thức
chính trị. Nhiều khi họ đi cùng cả gia đ́nh
và nỗ lực t́m kiếm những việc làm đỡ tủi
nhục hơn với mục đích tạo lập một
cuộc sống lâu dài, ổn định. Trái lại, hầu
hết những người xin tỵ nạn mới đều
rất trẻ ; và với tâm thức "không hề biết
ngày mai ra sao", họ bị đẩy vào con đường
phạm tội với một tốc độ chóng mặt.
Có người chỉ 7 ngày sau sang Đức đă bị bắt
v́ ăn cắp.
Cách đây mấy năm, có ai
dám nghĩ rằng chuyện người Việt
Tuyệt đại đa số
người xin tỵ nạn mới đều coi chuyện
vượt biên sang Đức như là một chuyến "đi
làm ăn". Ở trong nước, họ được
nghe là "sang đó, chuyện ăn ở đă có nước
Đức lo, các cháu chỉ chịu khó đi làm thêm là có tiền
dành dụm". Nhiều gia đ́nh phải vay mượn,
phải thế chấp nhà cửa, đất đai để
có đủ tiền xuất ngoại, coi như "vay vốn
đi buôn". Nhưng, ngay khi đặt chân lên đất
Đức, ảo tưởng của họ đă tan
như bong bóng xà pḥng. Người xin tỵ nạn phải
đối đầu với một thực tế vô cùng
khắc nghiệt và hầu như vô vọng : chỉ
trong ṿng 2 - 3 tháng là đơn xin tỵ nạn bị bác v́
lư do họ nêu ra chỉ là "sang đây để kiếm
việc làm" ; từ lúc này, thanh gươm trục
xuất lúc nào cũng lơ lửng trên đầu, c̣n khả
năng có việc làm hợp pháp vẫn là một con số
không tṛn trĩnh.
Trong khi đó, cũng ngay tại
những ngày đầu tiên, thôi thúc duy nhất của họ
là phải ngay lập tức kiếm tiền, ít nhất cũng
là để trả lại số nợ 6 - 7.000 đô la
"tiền vé sang Đức", và tiếp nữa là
để đáp ứng "hy vọng của người
nhà trong nước". V́ thế, mọi cố gắng
"giúp đỡ hội nhập" nhưng mang tính
"văn hóa" của nước Đức đối
với họ đều như trứng đập vào
đá. Rất hiếm thanh thiếu niên nào đến các lớp
học tiếng Đức được mươi ngày rồi
mới bỏ. Nhiều người đă ở nước
Đức vài năm nhưng vốn từ Đức ngữ
vẫn đếm chưa hết ngón tay.
Tuy được tự do
đi lại trong địa phương ḿnh ở,
nhưng người xin tỵ nạn Việt
Một cô gái 30 tuổi, đă
ở Berlin được 4 năm, khi được hỏi
trại tỵ nạn của cô nằm ở phần
Đông hay phần Tây Berlin, đă ngẩn mặt ngơ ngác :
"Sao Berlin lại có Đông, Tây ? Mà
Người ta vẫn ca ngợi
"những giá trị Châu Á", và "tinh thần tập
thể", "ư thức cộng đồng"
được coi là những viên ngọc tinh thần của
người phương Đông. Một con người chỉ
được tồn tại với tư cách là con, em,
cháu, bạn hay là đồng hương, đồng chí.
Con người chỉ đáng quư khi nó có giá trị, có ư nghĩa
với cha mẹ, họ hàng, làng xóm, tổ chức. Vị
thế của con người cũng chỉ được
đo với những người có quan hệ trực tiếp
với ḿnh. "Thua thầy một vạn không bằng kém
bạn một ly." Vậy th́ tại sao những thanh thiếu
niên Việt Nam ăn cắp lại phải so b́, xấu hổ
với những giống loài mắt xanh mũi lơ chẳng
có quan hệ ǵ, trong một môi trường xa lắc
"làng ḿnh chẳng phải, nước ḿnh cũng không",
và mấy thằng bạn ḿnh cũng đang ăn cắp ?
Những thanh thiếu niên này
đối với nhau vẫn những là người bạn
chí t́nh, nhiều khi no đói có nhau. Họ cũng
thương cha, nhớ mẹ và xót xa cho mấy đứa
em do thiếu tiền mà bỏ học. Họ dấu biệt
không cho gia đ́nh biết ḿnh đang vào tù ra tội v́
ăn cắp, mà chỉ báo về là "con vẫn đi làm
đều". Họ lặn ngụp trong bùn nhơ để
mang lại an ủi, hy vọng cho người thân và không cảm
nhận được những độc tố tồi tệ
đă ăn sâu vào cơ thể. Bị cầm tù trong sự
kém hiểu biết và bị cột chặt vào những ràng
buộc tinh thần quái ác, họ tự hào là một đứa
con hiếu thảo, là một công dân Việt
Cùng với việc tụng ca
"chủ nghĩa tập thể", "ư thức cộng
đồng", Việt Nam đă và vẫn là mảnh đất
lớn miệng nguyền rủa "chủ nghĩa cá
nhân". Người ta đồng hóa "chủ nghĩa
cá nhân" với "chủ nghĩa vị kỷ" mang
nội dung là mọi hành vi chỉ nhằm thỏa măn cá
nhân, bất chấp quyền lợi người khác.
Người ta vô t́nh hay cố t́nh không hiểu rằng khái
niệm "chủ nghĩa cá nhân", ra đời từ
thời Phục Hưng, là một quan niệm coi trọng sự
tự do phát triển tư tưởng và khả năng của
từng cá thể. Trong chủ nghĩa cá nhân, từng cá thể
có một vị trí thiêng liêng phải được bảo
vệ. Tự do cá nhân là nền tảng xă hội của
các nước tiền tiến ; đồng thời, nó
là kẻ thù không đội trời chung của các nước
Khổng Giáo coi "quân thần phụ tử" là rường
cột đạo đức quốc gia, và của các nhà
nước độc tài coi người dân như một
bầy cừu cần phải được lănh đạo,
chăn dắt cẩn trọng.
Khi việc đề cao con
người cá thể là động lực sự thăng
hoa về tinh thần và vật chất của các nước
dân chủ phương Tây, th́ sự căm thù, triệt hạ
chủ nghĩa cá nhân tại nhiều nước
phương Đông, ngoài việc ḱm hăm bước tiến
xă hội, c̣n làm nẩy sinh ra hàng loạt những căn bệnh
giết chết nhân cách, hủy hoại con người. Sẽ
hoàn toàn không ngoa ngoắt nếu khẳng định rằng
chính chủ nghĩa tập thể, ư thức bầy đàn
là một trong những nguyên nhân chính gây ra làn sóng ăn cắp
một cách b́nh thản của thanh thiếu niên Việt Nam
xin tỵ nạn hiện nay tại Đức.
Khi cái "Ta" không c̣n, chỉ
c̣n lại cái "Chúng Tôi", th́ cái "Tôi" ăn cắp
đă trở nên vô h́nh, hoặc cùng lắm cũng chỉ
mang "hồn Trương Ba, da hàng thịt". Sự
gian lận, lẩn tránh nhân cách con người cá nhân này,
đương nhiên không phải chỉ có ở những
người Việt trẻ tuổi đang lang thang dưới
trời Âu. Nó đang hoành hành trong nước ở một
mức cao hơn nhiều, với một cái tên mỹ miều
là "Tham nhũng".
Các quan chức chính quyền
Việt Nam, kể cả ở cấp cao nhất, khi điềm
nhiên chia chác hàng triệu, hàng chục triệu đô la trong
các vụ "làm ăn", "biếu xén", ngoài việc
nghĩ rằng họ đang tự thưởng công cho tài
năng leo cao của ḿnh, chắc cũng nghĩ đến
phúc lộc, đến tương lai cho vợ con, họ
hàng. Khi dành giật cho gia đ́nh khu đất này, biệt
thự kia, chắc họ cũng muốn là một người
chồng, một người cha biết lo cho vợ, cho
con. Khi móc ngoặc với nhau để "tao ăn, mày
ăn, chúng ta cùng ăn", khi bao che, nâng đỡ người
quen để thụt két nhà nước, chắc họ cũng
nghĩ đến t́nh "đồng hội, đồng
thuyền". Tất cả những cái đó sẽ
mơn trớn, sẽ bảo vệ được chữ
"sĩ", chữ "trọng" đối với
những người xung quanh, những người thân thuộc.
Khó có thể bảo rằng họ không có "sĩ diện",
không có ḷng "tự trọng". Nhưng thực chất,
không hơn không kém, hành động của họ chính là
ăn cắp !
Theo định nghĩa pháp
lư, ăn cắp là hành vi lợi dụng sơ hở của
người khác để chiếm đoạt sở hữu
của họ, chuyển thành sở hữu của ḿnh.
Sơ hở có thể là sự vắng mặt, và có thể
là sự không hiểu biết. Khi ăn chia bổng lộc
bất hợp pháp, khi moi két nhà nước, các quan chức
chính quyền đă ăn cắp của nhân dân, của quốc
gia. Nhân dân và quốc gia th́ hiện hữu nhưng vô h́nh. Vậy
th́ cũng như những thanh thiếu niên Việt Nam
ăn cắp tại các siêu thị CHLB Đức, với sự
thiếu hụt về trí tuệ và nhân cách cá nhân, các quan chức
tham nhũng đă coi như ḿnh đang chiếm đoạt
sở hữu ở một chốn không người. Họ
sẽ không bị vương vấn bởi những giá trị
như "sĩ diện" hay "tự trọng".
Họ hănh diện v́ đă lấy
được nhiều, và hoàn toàn không phải xấu hổ
khi các đồng chí, đồng liêu, đồng nghiệp
của họ cũng đang đua nhau làm như họ. Một
điều khác biệt là khi cúi gằm mặt ở các siêu
thị Đức, với tên tuổi giả [6], người
ăn cắp Việt Nam có vẻ như vô dạng, "tôi
không phải là tôi", c̣n các quan chức ở Việt Nam
th́ trẻ con cũng rơ danh tính ; khi dùng vị thế
để chiếm đoạt của cải người
khác, họ đă là những tên ăn cướp.
Điều khác nữa là
ăn cắp ở Đức rất dễ bị c̣ng tay,
c̣n ăn cắp, thậm chí là ăn cướp cao cấp ở
Việt Nam th́ đă là một vấn nạn bất trị,
một "luật chơi" được chấp nhận
bất thành văn trong một môi trường bầy
đàn lầy đọng ; và hơn thế, các quan chức
ăn cắp ở ta c̣n có quyền bắt giam, bỏ tù những
ai đ̣i đổi thay cái thể chế lưu manh của
họ. Vụ cuỗm bản quyền sản phẩm tin học
của nước ngoài rồi chuyển thành Giải nhất
cuộc thi Trí Tuệ Tuổi Trẻ Việt
Có lẽ, một trong những
nguyên nhân xâu xa nhưng chính yếu của việc ăn cắp
- tại các siêu thị ở Đức hay tại các công sở
uy nghiêm ở Việt Nam - là thủ phạm không c̣n khả
năng đối diện với chính ḿnh. Văn hóa bầy
đàn, thân thuộc là một tấm b́nh phong vững chắc
cho những hành vi vô sỉ, tệ hại. Luật pháp là vô
nghĩa khi chính những người làm ra nó và thi hành nó lại
là tội phạm. Nó cũng phải bó tay trước một
khối người ṿng tṛn, người này úp mặt vào
lưng người khác. Chỉ đến khi từng cá
nhân được tôn trọng cả về thân thể và
tư tưởng, th́ con người mới có thể tự
hào về tư cách con người, mới có thể tự
trọng để bảo vệ sĩ diện cho chính cá thể
ḿnh. Chỉ đến khi đó, người Việt Nam
tại Đức mới có thể ngẩng mặt coi ḿnh
ngang cấp như những các khách hàng và nhân viên cảnh sát
Đức. Lúc đó, người Việt tại Đức
hay tại Việt Nam sẽ biết xấu hổ khi đi
ăn cắp ; và như vậy, đất nước,
con người mới dần dần trở nên lành mạnh.
Phạm Việt Vinh
Chú thích : -[1] Euro
-[2] Tên người đă được thay đổi
-[3] Tên người đă được thay đổi
-[4] Người Di-gan vẫn luôn bị coi là một sắc
dân hay ăn cắp
-[5] Các báo được chuyển từ Việt Nam sang và
có số người đọc rất lớn
-[6] Khi nộp đơn xin tỵ nạn, hầu hết
thanh thiếu niên Việt Nam đều khai tên tuổi giả
để hạn chế khả năng bị trục xuất
về nước
2005 : Mở
rộng sự tiếp cận trong ngoài
Nguyễn
Ngọc Đức
(LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)
Năm 2005, chúng ta
đánh dấu 30 năm ngày đất nước hoàn toàn
rơi vào ṿng thống trị của đảng Cộng Sản
Việt
Từ nhiều năm
qua, chúng ta đă kiên tŕ đấu tranh để giải
quyết vấn nạn của dân tộc. Tinh thần đấu
tranh kiên tŕ này vô cùng cần thiết để từng
bước bứt phá chế độ độc tài,
nhưng chắc chắn là chưa đủ để
đẩy chế độ này vào thế tiêu vong. Ngoài yếu
tố kiên tŕ, người Việt
Qua bài học rút tỉa
từ những cuộc cách mạng dân chủ đă xảy
ra ở nhiều nơi trên thế giới, chúng ta thấy
có 3 yếu tố quan trọng sau đây đă giúp cho cuộc
đấu tranh dân chủ đạt được thắng
lợi :
Một là chế độ
độc tài bị rơi vào t́nh trạng phân liệt. Sự
phân liệt này đă khiến cho tập đoàn lănh đạo
bị động trước t́nh thế và không có khả
năng chống đỡ trước sức ép của quần
chúng.
Hai là một tập hợp
liên minh giữa những lực lượng dân chủ
được h́nh thành để phá vỡ nguyên trạng,
vừa tạo sức mạnh đối trọng với
thế lực cầm quyền, vừa lănh đạo quần
chúng mở ra những h́nh thức đấu tranh đa diện
để đẩy lùi chế độ độc tài.
Ba là người dân khắc
phục được tâm lư sợ hăi chế độ và
can đảm đứng lên đấu tranh. Đây là yếu
tố then chốt của mọi cuộc cách mạng dân chủ.
V́ nếu quần chúng hèn yếu và bạc nhược, sợ
hăi sức mạnh thống trị của tập đoàn
độc tài, th́ dù tập đoàn này suy yếu tới
đâu, vẫn có thể tiếp tục tồn tại và củng
cố.
Ngoài 3 yếu tố
quan trọng kể trên, 2 yếu tố hỗ trợ cũng
rất cần thiết cho cuộc cách mạng dân chủ có
điều kiện lan rộng và không bị dập tắt.
Đó là quốc tế và truyền thông. Sự hỗ trợ
của quốc tế trên các b́nh diện ngoại giao, chính
trị hay kinh tế là một áp lực đáng kể, có thể
khiến cho chế độ độc tài phải chùn
bước trong chính sách đàn áp. Trong khi đó, truyền
thông đóng vai tṛ xúc tác để cuộc cách mạng lan rộng.
Yếu tố thứ
nhất có thể xem như là đă có. Qua bài "T́nh h́nh cộng
sản Việt Nam trong năm 2005" (VNDC tháng ½005), chúng ta
thấy những xung đột ở thượng tầng,
sự bất măn ở hạ tầng đang làm cho đảng
cộng sản Việt Nam bị rơi vào t́nh trạng phân
liệt trầm trọng và ngày một mất dần sự
kiểm soát đối với quần chúng và xă hội.
Yếu tố thứ
hai là một nỗ lực mà các chính đảng, các lực
lượng đấu tranh trong và ngoài nước đang
cố gắng đẩy mạnh, nhằm xây dựng một
liên minh dân tộc ngay tại quốc nội.
Yếu tố thứ
ba là yếu tố đáng được chúng ta quan tâm
hơn hết. V́ cho đến nay, mặc dù quảng đại
quần chúng ở Việt Nam đều bất măn và có
ước vọng thay đổi, nhưng tâm lư sợ hăi
chế độ vẫn đè nặng, nên sức bật
đấu tranh ở trong nước chưa đủ
để đẩy chế độ độc tài vào thế
sụp đổ. Tuy nhiên, từ trạng thái bất măn
nhưng sợ hăi, quần chúng có thể trở nên phẫn
nộ và can đảm vùng lên, chỉ trong một giai đoạn
ngắn. Yếu tố tác động quan trọng để
làm thay đổi trạng thái này là thông tin và dữ kiện.
Chúng ta tin rằng nếu đồng bào trong nước có
điều kiện tiếp nhận những nguồn thông
tin dồi dào và trung thực, họ sẽ hiểu rơ hơn
bản chất của chế độ độc tài và sẽ
mạnh dạn đứng lên đấu tranh khi có điều
kiện.
Trong khi đó, chúng ta
thấy là sau 30 năm, các cộng đồng người
Việt tại hải ngoại vẫn duy tŕ được
sức mạnh đấu tranh, tranh thủ hữu hiệu
các áp lực quốc tế và có sự nhập cuộc tích
cực của giới trẻ. Tuy nhiên cho đến nay, sức
mạnh của cộng đồng hải ngoại vẫn
chưa thật sự được huy động
đúng mức để tạo ra những động
lượng đấu tranh tại quốc nội.
Từ những phân
tích nói trên, chắc chắn ai ai trong chúng ta cũng nh́n thấy
nhu cầu khai dụng tiềm năng dồi dào của cộng
đồng người Việt hải ngoại để
tác động trực tiếp hay gián tiếp vào quốc nội,
nhằm phá vỡ bức màn bưng bít, xóa bỏ tâm lư sợ
hăi của quần chúng, tăng cường sức mạnh
đấu tranh của các tôn giáo và của các lực lượng
dân tộc, dân chủ ở trong nước, nhằm tạo
điều kiện làm bùng nổ một cao trào đấu
tranh quần chúng, đẩy chế độ độc
tài cộng sản Việt Nam vào thế sụp đổ.
Muốn như vậy, chúng ta cần nỗ lực phá vỡ
bức tường ngăn cách trong và ngoài nước.
Trong thập niên đầu
sau biến cố 30/4/1975, đảng CSVN thiết lập một
bức tường, tuy vô h́nh, nhưng vô cùng chặt chẽ,
nhằm cách ly hai bộ phận trong ngoài của dân tộc
Việt
Đây là một thất
bại của đảng CSVN và là một thắng thế
của dân tộc Việt
Từ nhận định
trên, đánh dấu 30 năm đấu tranh cho tự do dân
chủ, năm 2005 phải là năm mà người Việt
Nam ở trong và ngoài nước phải cùng nhau nỗ lực
phá vỡ bức tường ngăn cách trong ngoài, mở rộng
sự tiếp cận, hỗ trợ, liên đới giữa
hai bộ phận của dân tộc trên mọi lănh vực.
Một cách cụ thể :
1. Chúng ta khai dụng sự
tiếp cận trong ngoài để phá vỡ sự bưng
bít thông tin. Chúng ta đều biết tầm quan trọng
truyền thông trong tiến tŕnh dân chủ hóa và sự phát
triển. Tại Việt Nam, việc tiếp nhận và quảng
bá tin tức bị giới hạn và kiểm soát gắt
gao, cuộc cách mạng truyền thông ở cuối thế
kỷ 20 không những không tạo trớn cho một sự
phát triển hài ḥa, mà c̣n làm gia tăng mức độ lạc
hậu giữa người dân trong nước với thế
giới bên ngoài, giữa những người có điều
kiện tiếp nhận thông tin với quảng đại
quần chúng. Trầm trọng hơn nữa, khi t́nh trạng
bưng bít thông tin bị kéo dài, người Việt Nam mất
dần khả năng tiếp nhận, khả năng đối
phó thích nghi với thực tế tiến hóa của thế
giới. Điều này sẽ ảnh hưởng đến
tiềm năng phát triển của cả dân tộc.
Đây chính là lư do mà nhiều người tranh đấu ở
trong nước đă mạnh dạn đứng lên đ̣i
hỏi quyền tự do thông tin và ngôn luận. Đây cũng
chính là lư do mà nhiều tờ báo chui đă ra đời ở
Việt
2. Chúng ta khai dụng sự
tiếp cận trong ngoài để hỗ trợ những
hoạt động độc lập, tự phát của
đồng bào trong nước trên mọi lănh vực.
Do thực tế của
việc mở cửa để hội nhập với các
quốc gia trong vùng và vào nền kinh tế toàn cầu, lănh
đạo đảng Cộng sản Việt
3. Chúng ta khai dụng sự
tiếp cận trong ngoài để cải thiện t́nh trạng
dân sinh của đồng bào trong nước.
Chế độ
độc tài là nguyên nhân chính của t́nh trạng dân quyền
bị chà đạp, dân sinh bị bỏ phế tại Việt
Nan. Giải pháp căn bản để thực thi dân quyền
và phát triển dân sinh là phải chấm dứt chế
độ độc tài này. Tuy nhiên, trong công cuộc tranh
đấu lâu dài để xây dựng thể chế dân chủ
đích thực, mục tiêu cải thiện dân sinh, phục
hồi dân quyền trong khi chế độ độc tài
c̣n đang tồn tại, vẫn là một yêu cầu quan trọng,
nhằm bảo vệ quyền lợi thiết thân của
người dân, và ngăn chặn t́nh trạng bóc lột,
trấn áp đă và đang là chính sách cai trị. Do đó,
chúng ta cần khai dụng sự tiếp cận trong ngoài
để góp phần cải thiện t́nh trạng dân sinh
trong nước, như thực hiện những
chương tŕnh từ thiện, nhân đạo trực tiếp
cho đồng bào, quan tâm theo dơi và bênh vực cho những
người công nhân Việt Nam ra lao động ở
nước ngoài bị chà đạp nhân phẩm, bị bóc
lột sức lao động,... Sau cùng những nỗ lực
đấu tranh cho dân quyền của đồng bào trong
nước, như tố giác những hành vi nhũng lạm,
trù dập bất công, chống t́nh trạng sưu cao thuế
nặng, đ̣i cải thiện điều kiện lao
động, giáo dục,... rất cần sự hỗ trợ
từ ngoài. Mục tiêu là giúp cho đồng bào trong nước
ngày một mạnh dạn hơn trong việc tranh đấu
cho quyền lợi cá nhân, tập thể và đất
nước.
4. Chúng ta khai dụng sự
tiếp cận trong ngoài để nối kết tuổi
trẻ trong và ngoài nước.
Trong những năm gần
đây, sinh hoạt của tuổi trẻ Việt
Bước vào năm
2005, một trong những nỗ lực mà các lực lượng
tranh đấu cho dân chủ ở trong và ngoài nước cần
phải giải quyết cho kỳ được là gia
tăng động lượng đấu tranh cho dân chủ
ngay tại quốc nội. Chế độ độc tài
hiện nay không thể tự sụp đổ chỉ v́ những
khó khăn nội tại. Điều chắc chắn là tập
đoàn lănh đạo đảng CSVN ư thức rất rơ những
khó khăn của họ và đang t́m mọi cách để
xoay trở. Trong khi chúng ta cũng ư thức rất rơ là cần
phải dồn sức khuấy động thêm những khó
khăn nội tại đó của họ. Chúng ta cũng biết
rất rơ là chế độ độc tài có thành công hay
không trong âm mưu xoay trở c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu
tố, mà quan trọng hơn cả là khả năng tạo
ra áp lực đấu tranh của chúng ta ngay tại quốc
nội. Khả năng đó chỉ có thể hữu hiệu
khi có sự liên kết giữa nhiều người, nhiều
tổ chức, giữa hai bộ phận trong và ngoài nước,
để tạo ra một sức mạnh tổng hợp
. Khả năng đó chỉ có thể phát huy khi những tổ
chức, lực lượng đấu tranh ở hải
ngoại xem quốc nội là địa bàn chính của những
nỗ lực của ḿnh và t́m mọi cách để tiếp
cận với môi trường trong nước.
***/
Trong năm qua, cộng
đồng người Việt tại hải ngoại
đă có những thành quả ngoạn mục trên nhiều
lănh vực. Phong trào vận động vinh danh lá cờ vàng
ba sọc đỏ vẫn tiếp tục được
đẩy mạnh và đă lan từ Bắc Mỹ sang Úc
Châu. Các cuộc vận động trên b́nh diện quốc
tế cũng tạo ra áp lực đáng kể lên chế
độ Hà Nội về các vấn đề đàn áp
nhân quyền và tôn giáo. Những nỗ lực này cần tiếp
tục phát huy trong năm 2005, song song với nỗ lực
mở rộng sự tiếp cận trong ngoài, để tập
thể người Việt hải ngoại không những
là chỗ tựa vững chắc của đồng bào quốc
nội, mà c̣n là một phương tiện quan trọng
được khai dụng ngay trên đất nước
để phá vỡ thành tŕ độc tài của đảng
CSVN.
Nguyễn Ngọc
Đức
Mối quan hệ
tay ba : Mỹ - Trung - Việt
Hoàng Tùng Bách
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 21 THÁNG HAI 2005)
Việc tổng thống
Bush tái đắc cử đă khiến nhiều người
VN, nhất là giới chính trị quan tâm đến
tương lai của Việt Nam trong thời gian nhiệm
kỳ 4 năm tới của tổng thống Bush. Nhiều
người đă bàn đến chính sách của chính quyền
Bush về vấn đề tôn giáo hay nhân quyền đối
với VN. Đó là một cách nhận định, song c̣n một
cách nhận định khác là xét từ hệ quả của
quan hệ Mỹ -Trung trong nhiệm kỳ 2 của Bush tác
động tới Việt
Quan hệ Mỹ - Trung
Có thể nói đây là
một trong những mối quan hệ quan trọng nhất
thế giới, dù phát triển theo chiều hướng nào
cũng đều có ảnh hưởng lớn tới cục
diện thế giới, nhất là khu vực và tác động
tới chính sách đối nội và đối ngoại của
các quốc gia, nhất là các quốc gia Đông Nam Á, trong
đó có VN, hiện nay và trong tương lai. Kể từ
khi lên nắm quyền nhiệm kỳ đầu, tổng
thống Bush xác định ngay "Trung Quốc là đối
thủ cạnh tranh chiến lược". Nhiều
người đă tính tới việc Mỹ sẽ lôi kéo VN
để bao vây TQ. Sự kiện 11/9 bất ngờ xảy
ra, chính quyền của tổng thống Bush từ việc
coi Trung Quốc là "đối thủ cạnh tranh chiến
lược", đă gần như quay ngược và chuyển
hẳn sang mối quan hệ hợp tác chống khủng bố.
Mối quan hệ này ngày càng đi vào thực chất
hơn, cụ thể trên từng lĩnh vực. Nhiều
người đánh giá đây là mối quan hệ "đối
tác chiến lược mang tính xây dựng". Ngoài hợp
tác chống khủng bố, Mỹ và Trung Quốc c̣n hợp
tác trong vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên. Mỹ
đă phải thừa nhận vai tṛ của Trung Quốc
trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân
Bắc Triều Tiên, nhất là việc kéo Bắc Triều
Tiên vào ṿng đàm phán. Trong nhiệm kỳ 2 của Bush,
điểm nổi bật thu hút sự quan tâm nhất trong
chính sách đối ngoại của chính quyền Bush vẫn
là vấn đề Trung Đông. Ở khu vực Đông Á,
Mỹ vẫn tập trung vào mối quan hệ với các
nước Đông Bắc Á, trong đó bán đảo Triều
Tiên. Việc coi TQ là đối thủ cạnh tranh chiến
lược không c̣n thấy xuất hiện trong ngôn từ
tranh cử của tổng thống Bush nhiệm kỳ 2. TQ
ngày càng trở nên quan trọng đối với Mỹ
trong vấn đề ḥa b́nh ở khu vực Đông Bắc
Á. Nếu không có ǵ đột biến, chắc hẳn Mỹ
vẫn phải cần đến TQ trong việc giải
quyết vấn đề Bắc Triều Tiên, và mối
quan hệ này vẫn thiên về xu hướng hợp tác.
Quan hệ Mỹ -Việt
Mặc dù 2 nước
đă khôi phục quan hệ ngoại giao được 10
năm, song tiến triển vẫn c̣n quá chậm chạp
so với nhu cầu thực tế. Quan hệ kinh tế thương
mại phát triển nhanh và vượt xa các mối quan hệ
về chính trị, quân sự. Kim ngạch thương mại
2 chiều năm 2004 lên tới trên 5 tỷ USD. Tuy nhiên, con số
này chỉ lớn đối với VN, đối với Mỹ
con số này không thấm vào đâu. Trong khi đó, vấn
đề tôn giáo và nhân quyền luôn là vấn đề nổi
cộm trong quan hệ 2 nước. Mỹ cho rằng VN vi
phạm nhân quyền và tự do tôn giáo, do đó mới sinh
ra các dự luật HR1587 và liệt VN vào danh sách các nước
cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo. Xét về
góc độ chiến lược, vị trí của Việt
Nam quan trọng nếu Mỹ muốn kiềm chế Trung
Quốc, song bây giờ vẫn chưa phải là lúc Mỹ cần
đến Việt Nam để làm mắt xích bao vây Trung quốc.
Mỹ đang phải tập trung vào vấn đề Trung
Đông, ở châu Á. Mỹ quan tâm nhiều hơn đến
khu vực Đông Bắc Á, Việt
Quan hệ Trung-Việt
Quan hệ Trung-Việt
là mối quan hệ "cùng dựa vào nhau để tồn
tại" nhằm giữ lại thành tŕ cuối cùng kể
từ khi Liên xô và khối Đông Âu giải thể. Trong
tương quan mối quan hệ này, quan hệ chính trị
lại phát triển nhanh chóng vượt xa các mối quan hệ
khác, từ coi nhau là kẻ thù chuyển ngoặt sang coi nhau
là đồng chí. Sự gắn bó về ư thức hệ
Mác - Lê Nin trên thực tế hầu như không c̣n, cộng
với những xung đột biên giới năm 1979 kéo dài
cho đến cuối thập kỷ 80 đă khiến mối
quan hệ Trung-Việt không bao giờ khôi phục trở lại
mối quan hệ "vừa là đồng chí vừa là anh
em", mà phát triển theo xu hướng thực dụng.
VN coi quan hệ với TQ là mối quan hệ sống c̣n,
liên quan tới sự tồn vong của chế độ,
c̣n TQ coi quan hệ với VN là một phần quan trọng
trong việc giữ an ninh sườn phía nam.
Bên cạnh sự gắn
bó tương sinh về mặt chính trị, 2 nước
luôn tồn tại mâu thuẫn liên quan đến quyền lợi
dân tộc đó là là tranh chấp lănh thổ. Hai nước
đă kư kết hiệp định biên giới trên bộ
và Vịnh Bắc Bộ, song tranh chấp về lănh hải
khó có thể giải quyết nổi, nhất là tranh chấp
chủ quyền ở khu vực Hoàng Sa và Trường Sa.
Hoàng Sa hiện đă nằm gọn trong tay TQ kể từ
năm 1974 ; c̣n Trường Sa, nơi có vị trí chiến
lược quan trọng ở khu vực và được
dự đoán là có trữ lượng dầu mỏ lớn,
là một điểm nóng có thể dẫn tới xung đột
quân sự giữa TQ và VN mặc dù cả 2 nước
đều tuyên bố theo đuổi giải pháp ḥa b́nh. VN
hầu như không c̣n hy vọng ǵ trong việc đàm phán với
TQ về chủ quyền Hoàng Sa. Về tranh chấp chủ
quyền Trường Sa, lập trường của Trung
Quốc luôn tỏ ra cứng rắn ở thế nước
lớn. Tàu hải quân Trung Quốc có mặt thường
xuyên ở Trường Sa để răn đe. Xét về
mặt thực lực quân sự, hải quân Việt
Xét mối quan hệ
Trung-Việt trên 2 vấn đề trên cho thấy, mối
quan hệ Trung-Việt đang ở vào giai đoạn
"tương đồng về chính trị, bất
đồng về quyền lợi dân tộc". Trên cả
2 vấn đề, Việt
***
Xét tương quan mối
quan hệ tay 3 này cho thấy VN đang đứng trước
bài toán vốn đă nan giải, nay càng nan giải hơn về
vấn đề lănh thổ. Trong khi Việt Nam vẫn
chưa được chính quyền Mỹ thực sự
quan tâm, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đang trên
đà thuận lợi ; Trung Quốc lại ngày càng chiếm
ưu thế đối với khu vực cả về sức
mạnh chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao... Vậy
Trung Quốc sẽ làm ǵ ? Trung Quốc đang đứng
trước nhu cầu lớn về năng lượng. Sản
lượng dầu trong nước ngày một giảm,
đ̣i hỏi Trung Quốc phải hướng khai thác Biển
Đông ; lượng dầu nhập khẩu của
Trung Quốc ngày càng lớn, đ̣i hỏi phải có sự
đảm bảo về giao thông đường biển,
nhất là giao thông đường biển ở khu vực
Trường Sa sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối
với Trung Quốc. Quan trọng hơn, Biển Đông c̣n
có ư nghĩa chiến lược, chiếm được
Biển Đông, TQ c̣n mở rộng được ảnh
hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Đây là lư do khiến
Trung Quốc sớm giải quyết vấn đề chủ
quyền lănh thổ. Điều này không phải không có
cơ sở. Tháng 9 vừa qua, Trung Quốc đă bắt đầu
bằng việc hợp tác với
Nếu thương
lượng ḥa b́nh, Trung Quốc sẽ thương lượng
với từng nước tranh chấp như vừa làm với
Rơ ràng nguy cơ đến
từ phương Bắc, vậy giải pháp nào để
hóa giải nguy cơ kia ? Có thể nhiều giải
pháp, song cá nhân người viết xin đưa ra một
giải pháp của riêng ḿnh :
1. Xác định lại
cho đúng vấn đề đối tượng đối
tác trong các mối quan hệ Việt - Mỹ ; Việt
-Trung.
Đối với Mỹ,
từ trước tới nay, chính quyền Việt Nam luôn
coi Mỹ là đối tượng (hay c̣n gọi là kẻ
thù số 1) nguy hiểm trước mắt và lâu dài, là kẻ
sử dụng chiến lược "Diễn biến ḥa
b́nh" để lật đổ chế độ xă hội
chủ nghĩa của Việt Nam. Mặc dù Nghị quyết
TƯ 8 có xác định lại vấn đề đối
tượng và đối tác trong chiến lược xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, song cụm từ "Diễn
biến ḥa b́nh của thế lực thù địch" ám
chỉ Mỹ và phương Tây vẫn c̣n tồn tại
trong các văn kiện của đảng và nhà nước
chứng tỏ đến nay vẫn coi Mỹ là kẻ thù.
C̣n đối với
Trung Quốc th́ khác. Từ mối quan hệ "vừa là
đồng chí, vừa là anh em", "môi hở răng lạnh",
sau đó do cuộc chiến năm 1979 trở thành kẻ
thù, rồi tới nay lại là mối quan hệ theo
phương châm 16 chữ vàng "láng giềng hữu nghị,
hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng
tới tương lai" do tổng bí thư Giang Trạch
Dân và Lê Khả Phiêu xác định.
Như vậy Việt
Do vấn đề lịch
sử cùng với các thông tin tuyên truyền một chiều,
nên rất nhiều người Việt
Đối với TQ,
trong ngôn từ chính thức, người ta gọi Trung Quốc
là "đồng chí", nhưng trong thâm tâm của mọi
người, dù là lănh đạo hay người dân, dù là
đảng viên hay không đảng viên, đều cảm
thấy "ghê ghê" khi nhắc tới hai từ
"Trung Quốc", có cảm giác như đang đứng
trước một "đồng chí", hay "ông
anh" hoặc "ông bạn" ǵ đó lúc nào cũng
như dấu một con dao trong người, sẵn sàng sọc
vào bụng ông Việt Nam lúc nào không biết. Đây là một
thực tế hầu như người Việt
Đặt một phép
so sánh giữa một bên là Mỹ chống lại cơ chế
độc quyền của Đảng Cộng sản Việt
Nam (với chưa đến 3 triệu đảng viên) và
một bên là Trung Quốc đe dọa tới lợi ích của
cả dân tộc Việt Nam (với 80 triệu dân), th́
đâu là bạn và đâu là thù của Việt Nam. Một
Trung Quốc từng đô hộ ta tới cả ngàn
năm và mới đây c̣n đánh nhau với ta ở biên giới
phía bắc và trên biển mà nay ta coi là đồng chí ;
c̣n Mỹ đổ quân vào miền
2. Cân bằng quan hệ
với các nước lớn.
Chính sách cân bằng
quan hệ với các nước lớn được coi
là khôn ngoan trong chính sách đối ngoại của các nước
nhỏ. Đối với Việt
Điều Việt
Về vấn đề
dân chủ nhân quyền, đây là vấn đề nhạy
cảm nhất.Cần phải có sự nh́n nhận khách
quan về vấn đề này. Mỹ cho rằng Việt
3. Tăng cường
sức mạnh dân tộc.
Đứng trước
xu thế toàn cầu hóa và sự giao lưu quốc tế
gia tăng đang thu hẹp mọi khoảng cách về
không gian và thời gian, các dân tộc đều phải
vươn lên để không bị đánh mất ḿnh. Dân tộc
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, hơn nữa
c̣n đang đứng dưới cái bóng của một dân
tộc Đại Hán từng thôn tính và đồng hóa ta th́
càng phải tăng cường sức mạnh dân tộc
để lịch sử của dân tộc Việt Nam không
phải một lần nữa nằm gọn trong bản
đồ hành chính của Trung Quốc. Là người Việt
Nam hăy đọc lịch sử Việt Nam và suy ngẫm cho
kỹ : dân tộc ta là một dân tộc nhỏ bé, luôn
chịu sức ép và sự thống trị của các nước
lớn, hết người Hán, lại đến người
Pháp, người Mỹ, và ngày nay ta đang là một trong những
nước nghèo nhất thế giới. Ta có quyền tự
hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm
hay truyền thống văn hóa của dân tộc ta, song quan
trọng hơn là ta phải biết ngậm ngùi chua xót và
đặt câu hỏi tại sao đến nay ta vẫn là một
quốc gia nghèo đứng ở hàng nhất thế giới.
Ta phải đứng
dậy ! muốn vậy trước hết cần phải
đoàn kết dân tộc. Vấn đề lớn thứ
nhất mà người viết muốn đề cập tới
là sự đoàn kết giữa người Việt
Muốn tăng cường
sức mạnh dân tộc cần phải nâng cao dân trí. Sức
mạnh của dân tộc ngày nay phải nói đến sức
mạnh về dân trí. Dân trí không cao th́ chỉ làm nô lệ
cho dân tộc khác. Thực tiễn cho thấy, người
Việt
4- Nâng cao sức mạnh
của bộ máy nhà nước.
Đây không phải chỉ
là sức mạnh của một nhà nước độc
tài, mà là sức mạnh của một nhà nước dân chủ.
Một bộ máy nhà nước mạnh phải là một bộ
máy của 80 triệu dân và do 80 triệu dân bầu ra, chứ
không phải chỉ vẻn vẹn chưa đầy 3 triệu
đảng viên cộng sản bầu ra ; phải là một
bộ máy mà quốc hội là cơ quan quyền lực cao
nhất, chứ không phải như hiến pháp Việt Nam
quy định "quốc hội là cơ quan quyền lực
cao nhất", nhưng tự dưng lại có một ông
đảng cộng sản ở đâu đứng trên chỉ
đạo. Như vậy, thực chất đảng là
cơ quan quyền lực cao nhất "lănh đạo
toàn diện mọi mặt", mà lại là đảng duy
nhất hợp pháp, không cho phép thành lập các đảng
khác. Thử hỏi quốc nạn tham nhũng hiện nay ở
đâu mà ra. Không ai giám sát, không ai kiềm chế quyền lực,
nên đảng cộng sản cứ tự do lộng hành,
muốn làm ǵ th́ làm. Một bộ máy nhà nước ǵ mà chỗ
nào cũng tham nhũng "lớn ăn lớn, bé ăn
bé". Xóa bỏ căn bệnh tham nhũng ở cơ chế
này chỉ là ảo tưởng, thậm chí nó ngày một
công khai hơn và trở nên bệnh hoạn. Thử hỏi
có ông quan nào là không tham nhũng ở chế độ này,
người dân biết cả đấy, nhưng có quyền
ǵ đâu mà tước bỏ vị trí của người
ta.
Dân chẳng c̣n tin vào
nhà nước nữa v́ tham nhũng, nhà nước cũng
chẳng tin dân nữa. Nếu đưa ra trưng cầu
dân ư mọi vấn đề và để dân quyết, th́
nhà nước này khó ḷng đứng vững. Mối quan hệ
giữa nhà nước với nhân dân ngày càng xa rời th́
c̣n đâu là một nhà nước mạnh.
Nh́n lại ta thấy,
những diễn biến của thời cuộc đang
đặt Việt Nam vào một t́nh thế buộc phải
thay đổi trong chính sách đối nội và đối
ngoại nếu muốn tồn tại và không trở thành
miếng mồi cho các nước lớn ăn chia hoặc
xâu xé hoặc không bị đẩy lùi về sau trong quá
tŕnh tiến hóa nhân loại. Về chính sách đối nội,
dân chủ là một xu thế của thời đại,
nhưng chưa có khả năng nào cho thấy Việt
1) ngả theo Trung Quốc ;
2) cân bằng quan hệ với
Mỹ và Trung Quốc ;
3) ngả theo Mỹ.
Khả năng 1 là dễ
nhất, nhưng hăy nh́n tấm gương ngả theo Trung
Quốc của Bắc Triều Tiên hiện nay và
Khả năng 2 là hợp
lư nhất, dù chính quyền nào cũng cần phải làm
được điều này.
Việt Nam, ngày 5 tháng 1 năm 2005
Hoàng Tùng Bách
Bầu cử tại
Trung Đông : một bước tiến cho ḥa b́nh
Nguyễn Trúc Giang
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 21 THÁNG HAI 2005)
Tháng giêng vừa qua có
hai cuộc bầu cử tại Trung Đông, có thể thay
đổi cục diện tại vùng này, đem lại sự
yên ổn cho dân chúng trong vùng.
Bầu cử tại
Cuộc bầu cử
quốc hội lập hiến vào ngày chủ nhật 30
tháng tại Iraq là cuộc bầu cử đầu tiên
được tổ chức gần hai năm sau khi quân
đội đồng minh Hoa Kỳ và Anh đánh dẹp chế
độ độc tài Saddam Hussein, một chế độ
đă trị v́ tại Iraq gần 3 thập niên. Đây không
phải là cuộc bầu cử đầu tiên tại quốc
gia này. Cuộc bầu cử đầu tiên đă được
tổ chức vào năm 1922, lúc đó do Anh tổ chức
để bầu những người thay thế chế
độ quân chủ Thổ vừa thua trận trong cuộc
Đệ Nhất Thế Chiến. Nhưng trong cuộc bầu
cử, các lănh đạo tôn giáo Chiite (một hệ phái của
đạo Hồi giáo, khác với hệ phái Sunnite cũng
hiện diện tại Iraq) đă kêu gọi tẩy chay nên
từ đó các nhóm Chiite gần như bị đứng
ngoài chính trường. Từ đó đến nay vẫn có
những cuộc bầu cử, tuy nhiên cuộc bầu cử
tự do thật sự đă xảy ra lấn chót vào
năm 1954, trước khi các nhóm quân phiệt lên nắm quyền.
Dưới thời Saddam Hussein cũng có những cuộc bầu
cử và y như tại Việt
Lần này, 15 triệu
người dân Iraq trong nước và tại hải ngoại
đă đi bầu để chọn 275 dân biểu cùng với
một số dân cử khác để đại diện
các vùng và quốc hội của vùng tự trị Kurd (một
dân tộc thiểu số sống trên miền Bắc ở
vùng biên giới Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ, dưới thời
Saddam, dân tộc này đă bị đàn áp rất nặng nề
và trong suốt thập niên 1990, vùng này bị Liên Hiệp Quốc
cấm không quân bay qua để tránh những cuộc tàn
sát). Vai tṛ của quốc hội là chuẩn bị và đề
nghị một hiến pháp mới cho Iraq nội trong
năm 2005 để rồi dân Iraq sẽ đi bầu một
quốc hội lập pháp vào cuối năm nay hay đầu
năm tới.
Một đơn vị,
9 liên danh.
Dĩ nhiên là sau một
chế độ độc tài gần 30 năm, khung cảnh
chánh trị Iraq không được ổn định, nên
có hơn một trăm đảng phái đă ra đời
và 84 đảng đă đề cử người ra tranh
cử. Các đảng phái này kết hợp để thành 9
liên minh ra tranh cử. Các liên danh này sẽ được
chia ghế theo số phiếu trên toàn quốc, nghĩa là chỉ
có một đơn vị duy nhất cho tất cả
Liên Minh Thống Nhất
Iraq, gồm đa số các nhà chánh trị lăo thành của
nhóm Chiite, được coi như là nhóm có hy vọng nhiều
phiếu nhất trong cuộc bầu cử này và đă
được các nhà lănh đạo tôn giáo ủng hộ,
đặc biệt là giáo chủ Ali Sistani. Tuy các hệ phái
Chiite tại Iraq khác với các hệ phái Chiite tại Iran chủ
trương phân biệt đạo và chánh trị nhưng ảnh
hưởng tinh thần của các nhà lănh đạo tôn giáo
rất lớn trong quần chúng, đặc biệt tại
miền nam Iraq.
Ngoài ra c̣n Liên Minh
Kurdistan gồm các chánh trị gia gốc Kurde, hai đảng
phái mạnh nhất của Kurde (Liên Hiệp Ái Quốc
Kurdistan của ông Jalal Talabani và đảng Dân Chủ Kurdistan
của ông Massoud Barzani) thường chống nhau, lần
này đồng ư đứng chung một liên danh, có thể sẽ
thắng lớn tại miền Bắc Iraq. Liên Minh Quốc
Gia Iraq do thủ tướng lâm thời Iyad Alloui cầm
đầu, có thể sẽ thâu nhiều phiếu của những
người e ngại Iraq sẽ rơi vào tay các lănh đạo
tôn giáo như đă xảy ra tại Iran sau khi vua Pahlevi bị
lật đổ. Các chánh trị gia gốc Sunnite cũng ra
tranh cử nhưng bị chia năm xẻ bảy ;
đảng Hồi Giáo Iraq thân với ông Alloui đă không
tham gia cuộc tranh cử kỳ này v́ đảng này cho rằng
cuộc bầu cử xảy ra quá sớm. Điểm
đặc biệt đáng lưu ư là trong cuộc bầu cử
này có đến một phần tư ứng cử viên là
phái nữ, nghĩa là hơn nhiều các quốc gia tây
phương thường cổ động nam nữ b́nh
quyền như Pháp hay Ư.
Khủng bố đe
dọa, dân vẫn đi bầu.
Để tránh gian lận,
các cử tri sẽ phải chấm ngón tay trỏ vào một
loại mực xanh không tẩy được trong mấy
ngày. Nhưng biện pháp này cũng làm một số người
lo ngại, v́ họ sẽ không che dấu được là
họ đă đi bầu. V́ các nhóm khủng bố đă
hăm dọa sẽ trừng phạt những ai đi bầu,
v́ đi bầu là đồng lơa với Hoa Kỳ. Trước
những ngày bầu cử, các cuộc khủng bố
đă liên tiếp xảy ra, đặc biệt là các nơi
đầu phiếu. Một số quan sát viên quốc tế,
đặc biệt là từ các quốc gia chống lại
cuộc chiến tranh Iraq, như các phóng viên Pháp, cho rằng
dân chúng v́ sợ khủng bố sẽ không dám tham gia cuộc
bầu cử này.
Nhưng kết quả
rất đáng khích lệ. Gần 75 % cử tri đă đi
bầu (ở ngoại quốc hơn 95% các cử tri đă
đến các ṭa lănh sự để bầu), mặc dù ở
nhiều nơi, họ vẫn e ngại các nhóm khủng bố
sẽ trả thù họ. 75% nghĩa là hơn hẳn ở
các quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ hay Pháp. Kết quả
bầu cử sẽ không được công bố trước
một tuần, thời gian tương đối khá dài,
so với các quốc gia Tây phương.
Nhưng trong t́nh trạng
của một quốc gia bất ổn như
Những bước kế
tiếp với nhiều khó khăn.
Dĩ nhiên là rất
c̣n nhiều vấn đề trước mắt sau khi kết
quả được công bố : tân quốc hội sẽ
bầu ai làm tổng thống, ai là thủ tướng ?
Hai khó khăn đầu
tiên :
Chỗ đứng của
dân Kurd và ảnh hưởng của các nhóm Chiite. Dân Kurd luôn
luôn sẽ là thiểu số tại Iraq, từ khi họ bị
cưỡng ép sát nhập vào Iraq năm 1924 ; nhưng với
sự tham gia đông đảo của cử tri gốc
Kurd, họ sẽ có nhiều dân biểu hơn phần số
của họ, họ sẽ được đối xử
như thế nào, và họ sẽ tham gia như thế nào
vào chánh phủ tương lai ? Họ sẽ đ̣i
độc lập hay không, điều mà ai cũng lo ngại.
Lo ngại v́ nếu có một quốc gia Kurd tại Trung
Đông th́ thế nào cũng có việc đ̣i hỏi một
phần lănh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ mà dân Kurd
đang sống. Một quốc gia Kurd sẽ lại gây thêm
vấn đề v́ vùng của họ chứa hai phần ba
tài nguyên dầu thô của
Vấn đề của
các nhóm Chiite c̣n nhiêu khê hơn. Từ hơn 80 năm nay, tuy
là đa số nhưng họ không được tham
chánh ; hơn nữa, trong suốt 30 năm dưới
chế độ của Saddam Hussein họ lại bị
nhóm Sunnite đàn áp. Họ sẽ trả thù như thế
nào ? Và các nhóm khủng bố hiện nay, đa số là
gốc Sunnite dĩ nhiên sẽ kêu gọi dân chúng chống
đối để tiếp tục tạo sự bất ổn.
Một quốc gia hoàn toàn theo Chiite sẽ làm cho các quốc
gia Á Rập khác trong vùng e ngại, v́ đa số dân Á Rập
ở các quốc gia láng giềng theo hệ phái Sunnite. Họ
e ngại một liên minh
Nhưng chúng ta có thể
tin rằng người dân
Bầu cử tại
Một cuộc bầu
cử khác cũng đă xảy ra tại Trung Đông. Đó
là cuộc bầu cử tổng thống
Phải chăng
đây là bước tiến đầu tiên cho một nền
ḥa b́nh thật sự tại Trung Đông ?
Dân vẫn là chủ.
Hai cuộc bầu cử
vừa qua cho thấy là dân chủ không ngừng tiến triển
khắp mọi nơi, ngay cả ở những nơi không
được yên ổn và chính nhờ những cuộc bầu
cử này mà có thể tái lập được ổn định.
Sau cuộc bầu cử tại A Phú Hăn, cuộc bầu cử
tại Palestine và tại Iraq cho thấy người dân khi
được quyền lựa chọn họ sẵn sàng lựa
chọn, dù cho chính tính mạng của họ có thể bị
đe dọa.
Dân chủ là sự lựa
chọn tự do của mọi người, sự lựa
chọn những người đại diện mà ḿnh cho
là xứng đáng nhất. Rất tiếc là ngày nay, dân Việt
Nguyễn Trúc Giang
Những Mẩu
Kính Màu (kỳ 7)
Nguyễn Minh
(LÊN MẠNG
THỨ HAI 21 THÁNG HAI 2005)
Tiếp theo kỳ
trước
Không muốn cho chị biết
nhà sao dượng Út ? Năm Lan hỏi khi chuẩn bị
chia tay ở bến xe mà Minh không mời cô về nhà cho biết.
Minh mỉm cười lắc đầu. Cũng chẳng
rơ anh xác định hay phủ nhận lời Nam Lan vừa
nói.
Thôi thế này đi...
Dượng cho con bé này đi theo chị về chỗ ở
của chị cho biết, mai mốt có muốn liên lạc
ǵ th́ cứ đến thẳng ở đó, khỏi về
quê gặp phiền phức ! Chị c̣n học ít ra cũng
cả năm rưỡi mới hết khóa...
Nhận thấy đề
nghị của Năm Lan hết sức hợp lư, Minh đồng
ư.
Con bé Châu theo Năm Lan
về khu tập thể, nơi trọ ở Sài G̣n của
cô. Đó là một căn pḥng nhỏ hết sức sơ
sài và kém tiện nghi. Con bé không khỏi ngạc nhiên, nó cứ
ngỡ một cán bộ cao cấp lại là vợ một
ông trưởng công an huyện phải có cuộc sống bề
thế hơn thế này chứ !
Cưng có bao giờ nghe chú
Minh nói về vợ chú không ? Năm Lan hỏi ḍ.
Con bé lắc đầu.
Nó là trẻ con thực nhưng đă lăn lộn ở cuộc
sống ít nhiều không như những đứa trẻ
khác, nó thừa hiểu Năm Lan muốn qua nó t́m hiểu về
Minh. Sau hàng loạt câu hỏi không đi đến đâu,
Năm Lan chán nản... Trước khi đón xe cho con bé về,
cô chỉ nh́n nó thật lâu vào mắt và nói :
Nếu như cháu có
thương chú Minh, không muốn chú ấy buồn th́ cháu
nên tạo cơ hội cho vợ chồng chú ấy gặp
lại nhau. Cô nói vậy không biết cháu có nghiệm ra
không ?
Con bé thoáng một giây
suy nghĩ, nó biết - Minh c̣n thương vợ nhưng
dường như anh đă quyết không tha thứ sai lầm
của vợ, điều này... nó có cần nói ra không ?
Nếu sau này có chuyện
ǵ cần gấp, cháu cứ đến chỗ này... Nếu
không gặp cô th́ nhắn lại cụ thể cho người
gác cổng ... Năm Lan dặn.
***
Ba Tí đập bàn, gằn
giọng,vẻ mặt hết sức dữ tợn :
Ư cô nghĩa là sao ? Lối
ăn nói hàm hồ ấy không thể chấp nhận
được ! Hôm đó, tụi thằng Giàu về
báo lại, tôi đă không bằng ḷng rồi... Có điều,
vợ chồng phải bảo vệ uy tín cho nhau nên tôi cho
qua, bữa nay cô đặt vấn đề trở lại
nghĩa là sao ?
Chẳng là sao cả, em chỉ
muốn biết v́ sao anh cố t́nh truy bức dượng
Út cho bằng được ! Năm Lan điềm tĩnh
trả lời, cô nhất thiết làm ra lẽ, với cô -
kiểu hùng hổ quát tháo của Ba Tí chẳng làm cô úy lỵ.
Nh́n vẻ trân tráo của chồng, cô hỏi luôn :
Phải chăng anh có ư
đồ ǵ với con Út ? Anh muốn cướp vợ
người ta à ? Vừa hỏi xong, cô thốt nhiên hối
hận. Dẫu sao đó cũng chỉ là suy đoán chủ
quan của cô không có chứng cớ ǵ, cô nói như vậy
trách sao Ba Tí không bảo là "cô hàm hồ" ?
Cô ăn nói kiểu ǵ vậy ?
D́ Út nhà ḿnh dư sức có một tấm chồng đàng
hoàng, tự nhiên rước ở đâu về thằng phế
binh ngụy, coi sao được... Ba Tí nói.
Th́ đă sao ? Chồng
của nó có là ǵ cũng mặc nó, tụi nó thương
nhau là được ! Ông là anh rể, xía vào làm ǵ ?
Không chấp nhận Dượng Út th́ d́ nó cũng lấy
làm chồng rồi ? Ai đời anh rể đi kiếm
chuyện về chồng con của em vợ ! ! !
Năm Lan vừa nói vừa nh́n thẳng vào mặt chồng
và linh cảm của một phụ nữ đă báo cho cô biết,
giữa Ba Tí và Út Huệ ắt không đơn giản...
Nói tóm lại, tôi không chấp
nhận được thằng phế binh ngụy ấy
trong gia đ́nh ! Ba Tí kết luận sau khi dọn dẹp
giấy tờ trên bàn cho vào hộc tủ báo hiệu một
ngày làm việc của ông trưởng công an huyện đă
kết thúc.
***
Em nói thiệt cho chị
Năm nghe coi, giữa anh Năm với em có chuyện ǵ
không ? Năm Lan hỏi sau khi đă khéo léo rủ Út Huệ
đi uống nước ở một quán thật vắng.
Sao chị lại hỏi
em câu này ? Út Huệ nh́n chị thật nhanh rồi cắm
cúi vào ly nước. Cô đă h́nh dung ra một ngày nào đó
sẽ phải nghe một câu hỏi như thế này.
Chị vừa căi nhau với
anh ấy... Năm Lan nói và cảm thấy chưa đủ
ư nên cô bắt đầu kể lại mọi việc, từ
lúc t́nh cờ đi cùng chuyến xe đ̣ có Minh...
Nghe xong Út Huệ bật
khóc. Cô đă có lỗi với chồng và đă mất anh.
Thế mà, chẳng bao lâu sau khi Minh bỏ đi, Ba Tí t́m cô
để nối lại mối quan hệ tội lỗi ấy !
Cô đă nhiếc móc gă không tiếc lời trước khi
buông một câu đe dọa :
Nếu ông c̣n tiếp tục
t́m đến để làm phiền tôi, tôi quyết sẽ
không để cho ông yên !
Ba Tí chỉ cười
khà. Gă vẫn cho rằng Út Huệ vốn là người nhẹ
dạ, dễ bị lôi cuốn. Trước khi bỏ
đi, gă c̣n táo tợn chộp lấy vai cô mà ôm gh́, cô đă
chống cự quyết liệt đến độ
xước cả cổ tay và gây cho Ba Tí vài vết trầy
trên g̣ má !
Những tưởng
gă sẽ buông tha cô, để cho cô có cơ hội t́m gặp
lại Minh cầu xin sự độ lượng của
anh, thế mà... Gă, bằng quyền lực trong tay, đă tổ
chức săn đuổi Minh vào đường cùng, buộc
anh phải đầu hàng, bỏ đi để lại vợ
con... Hơn ai hết, Út Huệ hiểu Ba Tí đến từng
chân tơ kẻ tóc, đến bài bản thủ đoạn
của gă để triệt hạ đối thủ.
Được, đă vậy cô quyết sẽ cho gă một
lần thất bại... Để xem gă giỏi đến
đâu !
Không, chẳng có chuyện
ǵ đâu ! Út Huệ trả lời giọng lạnh
như băng.
Dù không hoàn toàn tin vào
câu trả lời của em gái nhưng Năm Lan cũng
đành chịu, chẳng biết làm sao hơn. Tóm lại, mối
quan hệ đáng ngờ giữa Ba Tí và Út Huệ chắc
chắn có dính líu đến việc anh ta t́m đủ mọi
cách triệt hạ Minh, anh chồng phế binh của Út Huệ,
biết vậy, nhưng làm sao có thể chứng minh suy luận
ấy là đúng ?
***
Ngay đêm ấy, Út Huệ
chong đèn suốt đêm để viết . Cô viết chật
một quyển vở học tṛ bằng nét chữ to và thô
cứng của ḿnh. Cho đến hai hôm sau, cô mới tạm
coi như viết xong, cô lập tức nhờ người
ra huyện t́m đến trụ sở công an để trao
cho Ba Tí một lá thư ngắn ngủi với nội dung
đầy đe dọa : "Nếu ông không t́m
được chồng tôi để trả anh ấy lại
cho tôi, tôi sẽ tố cáo bộ mặt thật của ông
với tất cả mọi người... Khi ấy để
xem ông c̣n tác yêu tác quái nữa hay thôi, ông nên nhớ, tôi không
thiếu chứng cớ để cho mọi người,
nhứt là chị Năm, nhấn ông xuống bùn
đen ! Tôi cho ông thời hạn nửa tháng, sau đó,
nếu chồng tôi chưa trở về, ông đừng
trách..."
Thoạt đầu
được báo có tin nhắn của Út Huệ, ông trưởng
công an huyện cười tít mắt cứ ngỡ là cô nàng
đă nghĩ lại và gọi ḿnh vào nối lại t́nh
xưa... Nào ngờ,đọc lá thư đến đâu Ba
Tí nổ đom đóm đến đó. Giữa trưa mà
gă thấy bụng lạnh toát, trán lại hâm hấp mồ
hôi !
"Mẹ kiếp,
con chó cái ấy muốn đe dọa Ba Tí này sao ? Ba Tí nhủ thầm.
Vào đúng thời điểm này, quả là một quả
bom cỡ lớn nổ dưới cái ghế của ông
trưởng công an huyện chớ đâu phải
chơi ! Sự tố cáo ấy của Út Huệ, sẽ
cũng như nước đổ lá môn thôi, nếu chỉ
cách đây vài tháng. C̣n bây giờ, gă đang ráo riết vận
động để nhiệm kỳ tới lọt vào
đảng ủy Sở Công An tỉnh thay cho ông thượng
tá già đến tuổi về hưu, c̣n ai nữa ngoài Ba
Tí ! ? Để chuẩn bị cho cuộc leo cao trên
nấc thang quyền lực, gă đă hao tốn không biết
bao nhiêu là tâm trí và sức lực, bạn bè chiến hữu
đă phí biết bao công lao để củng cố, tô bóng
cho Ba Tí. Thế mà giờ đây...
Đâu thể
đơn giản thế được ! Ba Tí suy nghĩ
- trong phạm vi quyền lực và khả năng nghiệp
vụ của gă, việc t́m lại Minh để
đưa anh ta trở về không phải là hoàn toàn không làm
được. Nhưng nếu như vậy, từ nay trở
đi Ba Tí sẽ bị khống chế bởi một bí mật
do Út Huệ nắm giữ ? Không ổn rồi...
Giàu hả ? Ừ, em về
liền cho anh gặp bàn công chuyện ! Ba Tí gọi
điện cho thuộc hạ thân tín nhứt của ḿnh. Thực
ra cuộc đời Ba Tí có tin ai đâu ngoài bản thân,
trường hợp của gă trung úy công an này là v́ một mối
quan hệ khác... Cô con gái chủ nhà trọ khi xưa Út Huệ
thuê trong thời gian thầu bán cơm ở bệnh viện,
là nhân t́nh một thời của Ba Tí, nay là bồ ruột của
Giàu ! Ba Tí thỉnh thoảng vẫn lui tới với cô
ta với vai tṛ con nuôi của gia đ́nh và là vai anh của
cô gái. Chẳng rơ Giàu có biết mối quan hệ khác thường
ấy của hai người không nhưng y hết sức
tự hào v́ có cô người yêu là em gái nuôi của thủ
trưởng !
Trong lúc đợi Giàu
về, Ba Tí lấy bút viết một lá thư trả lời,
ngoài mục đích trấn an cho Út Huệ đừng quẫn
trí và gây nên lớn chuyện, Ba Tí quyết định hẹn
Út Huệ đến nhà trọ ngày xưa để gặp.
Gă thuyết phục cô cứ đến gặp đừng
ngại v́ gă muốn biết thêm chi tiết hầu có thể
t́m Minh dễ dàng hơn...
Lá thư vừa
được đem đi th́ Giàu về tới... Sau khi
nghe Ba Tí thuật sơ qua về lời đe dọa của
Út Huệ - gă không giấu, v́ Giàu cũng nắm khá rơ trong thời
gian Út Huệ quan hệ với Ba Tí ở thị xă, Giàu luôn
kề vai sát cánh để bảo vệ cho thủ trưởng,
Giàu suy nghĩ thực lâu rồi hỏi Ba Tí, giọng rụt
rè :
Ư anh Ba bây giờ giải
quyết sau ? Anh cứ nói, em sẽ thực hiện
thôi !
Chưa biết, để
coi con nhỏ này dám làm hay không cái đă... Ba Tí trả lời.
Theo em thấy kỳ này có
vẻ không ổn đâu ! Anh Ba tính th́ tính dứt khoát một
lần, để dây dưa em sợ "đêm dài sinh lắm
chuyện" ! Giàu bàn.
Tao cũng muốn cho xong
chuyện ... nhưng ... Ba Tí buông lửng.
Nhưng, sao hả anh ?
Giàu hỏi ngay. Gă đang t́m đủ mọi cách o bế
Ba Tí, bởi một lư do : nếu thủ trưởng của
gă trèo được lên chân phó giám đốc công an tỉnh,
bơ bèn ǵ thằng em thân tín cũng phải kiếm được
chân trưởng, phó pḥng !
Lần trước người
của mầy xử lư vụ thằng Minh dở quá xá... Ba
Tí nói.
Dạ, cái đó cũng tại
chị Ba can thiệp bất ngờ, chớ em nói thiệt...
tụi này thứ dữ không hà, em sử dụng mấy vụ
đều hiệu quả nên mới đưa đi xử
lư vụ thằng Minh... Giàu cố giải thích.
Thôi đi, sử dụng mấy
thằng đầu trộm đuôi cướp ấy không ổn
đâu ! Chuyến này nếu phải làm th́ tao với mày
đích thân ra tay, dám không ? Ba Tí hỏi.
Giờ này anh Ba c̣n hỏi
em câu đó ? Giàu cười hỏi lại.
***
Mầy có nghe con Năm bàn
bạc ǵ không ? Tự dưng nó đ̣i ly dị thằng
chồng cái rụp, tao hổng hiểu nổi... Bà mẹ vừa
tắm rửa cho cháu vừa hỏi Út Huệ.
Dạ không, con có nghe chị
Năm nói ǵ đâu má ? Út Huệ ngạc nhiên hỏi lại.
Mà má nghe ai nói.
Thằng chồng con
Năm nói chứ ai ? ! Hổng lẽ nói nói dóc ?
Bà mẹ trả lời.
Hổng biết chừng
đâu má ơi ! Ông nội đó lúc này trời thần
lắm... Út Huệ nói. Cô bất giác linh cảm đây là tṛ
ma mảnh nào đó của Ba Tí. Với gă, khó mà đoán
trước được gă dám làm ǵ và không dám làm ǵ... Phải
cẩn thận mới được !
C̣n hai hôm nữa, theo
lá thư của Ba Tí viết cho cô, gă hẹn gặp cô ở
nhà trọ trên thị xă. Gă hứa sẽ không động chạm
ǵ đến cô - trừ khi cô bằng ḷng. Việc ấy
th́ không bao giờ c̣n có thể xảy ra, gă đừng có
mơ tưởng !
Tuy nhiên, không thể
không đề pḥng... Út Huệ đă chứng kiến gă kê
súng vào đầu kẻ khác mà bóp c̣, giết người dễ
hơn giết một con nhái ! Lừa lọc, xảo
trá, tàn ác và đặc biệt bỉ ổi - nhất là những
lĩnh vực có dính dáng đến đàn bà... Đó là thuộc
tính của Ba Tí, cô nghĩ - ngay cả Năm Lan cũng
chưa chắc hiểu rơ gă bằng cô ! Ngay cả thằng
Trắng, con ruột của gă mười mươi, gă vẫn
lạnh lùng xem như đứa con nuôi lạc loài ṇi giống
của gă thiếu úy cảnh sát quốc gia ! Trong khi
đó, Năm Lan vẫn lo lắng cho thằng bé ăn học
tươm tất chẳng khác nào cô rứt ruột đẻ
ra... Tóm lại, với Ba Tí, cái ǵ cũng có thể xảy
đến mà đến một cách tàn khốc nhứt, bất
ngờ nhứt...
Nghĩ vậy nên cô bắt
đầu soạn một số vật dụng cần thiết.
Cô nói với mẹ :
Ngày mai con đi lên chị
Năm, có ít công việc cần bàn bạc... Bà mẹ chợt
ngẩn người suy nghĩ.Sau một lúc bà rụt
rè :
Mầy coi... T́m thằng
Minh về đi ! Vợ chồng có giận nhau cỡ
nào, có con cái rồi ...
Út Huệ lặng
thinh. Cô biết, bản tính hiền hậu ít nói của Minh
đă chinh phục được cảm t́nh của mẹ
và chị gái, nhưng có muốn cũng không thể ! Biết
Minh ở đâu mà t́m ?
Má nghe con dặn cái này, kỹ
dùm con v́ đây là công việc hết sức hệ trọng
... Bà mẹ ngạc nhiên trước vẻ nghiêm trọng
khác thường của đứa con gái út. Út Huệ lấy
lá thư của Ba Tí viết trả lời cho cô, kẹp
vào cuốn vở cô đă ghi chép kín mít, bỏ vào một bao
ni - lông mỏng cột thun cẩn thận rồi trao cho mẹ :
Má cất thật kỹ
cái này, sau này có bất cứ chuyện ǵ xảy ra với
con, má chờ chồng con về đưa cho anh ấy... Nhớ
đừng bao giờ cho Ba Tí hoặc chị Năm, những
thứ này là sinh mạng của vợ chồng con đó
nghen má !
Bà mẹ hơi hoảng
trước lời lẽ của con gái. Trong chiến tranh,
bà đă phải khóc chồng và ba đứa con trai, nay
đến gần cuối đời, bà không muốn bất
kỳ điều ǵ xảy đến cho hai đứa con
gái c̣n lại và những đứa cháu ngoại của bà
...
Út, có chuyện ǵ sắp xảy
ra mà con nói theo kiểu đó hả Út ? Bà hỏi.
Không đó là con ngừa
trước, đặt biệt - ông anh rể Ba Tí của
con, má đừng có tin, ông ấy không tốt đâu... Út Huệ
trả lời.
Cái đó mầy khỏi phải
dặn, tao đẻ ra mầy tao không biết hay sao ?
Bà mẹ nói.
Ngừng một lúc bà
nói tiếp với giọng xúc động :
Tao biết bộ mặt
thực của nó từ lúc mầy lên Sài G̣n đẻ thằng
Trắng lận ḱa !
Ủa, má biết ǵ ?
Út Huệ ngạc nhiên hỏi lại.
Gạt ai chứ gạt
tao sao được, tao biết thằng Trắng là con của
nó, lúc đó tao cũng giận mầy lắm nhưng nghĩ
cho cùng, mày lúc ấy c̣n là đứa trẻ con biết
ǵ ! Trách là trách thằng anh rể bất nhân chứ
đâu trách mầy... Khi con Năm về, tao im luôn sợ nó
đau ḷng rồi chị em buồn nhau... Rốt cuộc
khi ḥa b́nh rồi, chờ hoài không thấy mầy về tao
thúc con Năm đi kiếm, nó c̣n sợ thằng chồng
không bằng ḷng v́ mầy có con với thằng cảnh sát
quốc gia, tao buồn hết sức, mà đâu dám nói...
Út Huệ sững
người. Hóa ra bà mẹ đă biết từ lâu chuyện
tồi bại của Ba Tí nhưng chính v́ muốn duy tŕ t́nh
cảm chị em cho cô và chị gái nên bà đă im lặng.
Nghĩ đến đó, Út Huệ mủi ḷng ứa nước
mắt...
(C̣n tiếp)