Báo Việt Nam Tự Do

THÁNG 02/2005

Ai giết ngư phủ Việt Nam ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ ? (Trần Đức Tường)

Những bí ẩn trong vụ Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam (Nguyễn Đ́nh Sài)

Lịch sử này sẽ lặp lại không sai ! (Nam Dao)

Thái độ của chúng ta trước thảm kịch Ngư Dân (Đoàn Hùng)

Tin Tổng Hợp : Thanh Hóa Hỡi ! Con Tim Rướm Máu ! (Thanh Thảo)

Sử liệu : So sánh hai vụ nhượng đất cho Trung Hoa (Trần Gia Phụng)

Những Mẩu Chuyện Đời : Đến lúc phải nói... (Bùi Xuân Quang)

Tường thuật : Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ kỳ 2

Giới thiệu sách : Suy Tư và Ước Vọng : Đôi lời về tác giả và tác phẩm (Đỗ Mạnh Tri)

Dân Ta Trên Xứ Người : Ḷng tự trọng của người ăn cắp (Phạm Việt Vinh)

Quan điểm : 2005 : Mở rộng sự tiếp cận trong ngoài (Nguyễn Ngọc Đức)

Diễn đàn của chúng ta : Mối quan hệ tay ba : Mỹ - Trung - Việt (Hoàng Tùng Bách)

Thế giới và chúng ta : Bầu cử tại Trung Đông : một bước tiến cho ḥa b́nh (Nguyễn Trúc Giang)

Truyện dài : Những Mẩu Kính Màu (kỳ 7) (Nguyễn Minh)

 

 

 

Ai giết ngư phủ Việt Nam ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ ?
Trần Đức Tường
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

Dĩ nhiên, qua nhân chứng là những ngư dân Việt Nam thuộc hai huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc, Thanh Hóa chạy thoát vào bờ và vật chứng là chiếc thuyền đánh cá của ông Nguyễn Văn Hoàn với 206 vết đạn tiểu liên AK47 và đại liên RPD..., những kẻ xả súng bắn vào thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam là quân đội Trung Cộng. Nhưng, gánh chịu trách nhiệm về vụ thảm sát này không phải chỉ có bọn công an tuần duyên Trung Cộng, mà c̣n cả chính quyền Bắc Kinh với những mưu đồ to lớn trên Thái B́nh Dương. Cùng đồng lơa chịu trách nhiệm về cái chết thảm thương của 9 đồng bào ngư dân ta c̣n có cả tập đoàn lănh đạo cộng sản Hà Nội đă tạo điều kiện cho Trung Cộng gây tội ác tầy trời này qua những Hiệp Ước, Hiệp Định "bán nước" mà họ đă kư kết với cộng sản Trung Quốc về biên giới trên đất liền, về phân định Vịnh Bắc Bộ và về cái mà họ gọi là "hợp tác nghề cá".

Từ trung tuần tháng 1/2005 đến nay, dư luận trong và ngoài nước đă hết sức phẫn nộ về cái tin 3 thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam đă bị tầu chiến của lực lượng tuần duyên Trung Cộng bắn xối xả giết hại 9 thường dân vô tội, bắt đi một tầu với 8 xác chết và làm bị thương nhiều người khác trong Vịnh Bắc Bộ. Để hiểu được những nguyên nhân dẫn đến vụ bắn giết "nghiêm trọng" này, thiết tưởng phải truy t́m tin tức báo chí Việt Nam và quốc tế tường thuật diễn tiến sự việc ; lập luận của phía cộng sản Hà Nội và của Trung Cộng ; ngư dân Hậu Lộc không thể là "cướp biển" ; những âm mưu to lớn của Bắc Kinh trên vùng biển Thái B́nh Dương ; trách nhiệm của CSVN về những cái chết tức tưởi của đồng bào lao động vô tội Việt Nam.

 

Diễn Tiến Vụ Bắn Giết Trong Vịnh Bắc Bộ Ngày 8/1/2005

 

Theo tin tức của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ ngày 11/½005 và những ngày sau đó th́ vào ngày 5 và 6/1/2005, có 4 tàu đánh cá của ngư dân xă Ḥa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa ra khơi đánh bắt ở "khu vực đánh cá chung" giữa Việt Nam và Trung Quốc (TQ) được quy định trong Hiệp Định "Hợp Tác Nghề Cá" kư kết giữa cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh.

Nội vụ bắt đầu vào khoảng 8 giờ sáng ngày 8/½005. Ông Nguyễn Văn Hoàn, chủ con tàu sống sót trở về, kể lại : "Như thường lệ, chúng tôi thức dậy cùng biển từ mờ sáng. Trời lúc đó có sương mù nhẹ. Vào khoảng 8g sáng 8.1, khi chúng tôi xác định vị trí tàu đang ở trên vùng biển chung VN - TQ th́ nh́n thấy hai con tàu lạ lớn hơn tàu VN nhiều lần. Đó là hai con tàu sơn màu vécni và xanh nước biển, không quốc kỳ, không số hiệu. Họ tiến thẳng vào vùng nước mà tôi vừa thả lưới. Cho rằng họ vô t́nh, tôi vẫy một mảnh vải lớn ra hiệu cho họ tránh. Thế nhưng cả hai tàu bất ngờ phăng phăng lao thẳng vào chúng tôi. Một chiếc đâm trực diện vào mũi tàu làm tàu tôi chao đảo. Tôi thấy trên tàu lố nhố người ném bát đĩa chai lọ hù dọa, thái độ rất hung hăn. Một lúc sau họ có thêm hai tàu mang quốc kỳ TQ và biển hiệu lực lượng vũ trang. Bốn tàu tiến lại gần và dùng súng quân dụng bắn xối xả vào tàu tôi. Anh em nghe tiếng đạn hốt hoảng lao xuống khoang lái. Riêng anh Nguyễn Văn Tâm ở thôn Ḥa Ngư, xă Ḥa Lộc không xuống khoang kịp đă bị trúng đạn xuyên tim máu phun lênh láng chết tại chỗ trên khoang tàu. Trong lúc hỗn độn ấy, tôi thấy xích bánh lái bị bắn đứt rời. Con tàu lại tṛng trành, chao đảo. Anh Nguyễn Viết Vẻ bị thương ở đùi nhưng vẫn c̣n kịp nhoài người vào khoang lái điều khiển tàu nhằm hướng đất liền chạy vào. Các tàu Trung Quốc vẫn tiếp tục truy sát, vừa đuổi, vừa bắn gần 3 giờ đồng hồ mới chịu quay trở ra. Qua những giây phút sóng gió, đến đêm 9.1 tàu tôi đă cập bờ biển Lạch Trường (Hậu Lộc). Và lúc này tôi mới biết tàu anh Nguyễn Mạnh Hùng (con trai ông Phi Phường) của HTX Hùng Cường đă bị tàu lạ bắt".

Trên thực tế, chiếc tàu đầu tiên bị Trung Quốc tấn công là chiếc tàu của Hợp Tác Xă Hùng Cường do ông Nguyễn Phi Phường làm chủ nhiệm. Ông Phường ở trên bờ, không đi theo thuyền. Ông cho biết : "Sáng 8/1, khi tàu của HTX Hùng Cường đang đánh cá ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ th́ bị các tàu lạ mang cờ hiệu nước ngoài bao vây, dùng súng bắn xối xả. Trước t́nh h́nh nguy cấp, thuyền trưởng Lê Văn Xuyên đă mở bộ đàm phát đi tín hiệu cấp cứu, đồng thời cho tàu bỏ chạy vào đất liền, nhưng do tàu bị chết máy giữa đường nên đă bị tàu nước ngoài bắt giữ. Có 8 ngư dân trên tàu (đều ngụ tại xă Ḥa Lộc, huyện Hậu Lộc và xă Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) bị bắn chết ngay tại chỗ, 8 ngư dân khác, trong đó có 2 người bị thương đă bị bắt cùng với tàu...". Chính v́ nhận được tín hiệu kêu cứu mà thuyền của ông Hoàn đă chạy tới hiện trường và cũng bị tàu Trung Cộng tấn công. Được biết hai chiếc tàu c̣n lại là tàu của Đặng Văn Xoai và ông Hoàng Văn Huy (cùng đánh bắt ở khu vực biển xảy ra sự vụ) đă chạy thoát về tới đất liền.

Tóm lại, trong vụ tàu chiến Trung Quốc tấn công các tàu đánh cá Việt Nam, về nhân mạng, tàu của HTX Hùng Cường bị thiệt hại nặng nhất có 8 ngư phủ bị bắn chết, hai người bị thương nặng ; tàu của ông Nguyễn Văn Hoàn có thuyền trưởng bị tử thương và 5 người bị trúng đạn. Chiếc tàu của HTX Hùng Cường bị tàu Trung Quốc kéo về đảo Hải Nam với 8 tử thi, 8 ngư dân bị bắt giữ, trong đó có 2 người bị thương.

 

Thái Độ Và Lập Luận Của Cộng Sản Hà Nội

 

Sau 1 ngày bị tàu Trung Quốc đuổi bắn, sáng ngày 9/1/2005, chiếc tàu mang đầy vết đạn, 1 tử thi và 5 người bị thương chạy về tới bờ biển Việt Nam. Hai ngày sau, tức ngày 11/1/2005, tờ báo Thanh Niên đi một bản tin ngắn 162 chữ, kư tên Ngọc Minh trong mục "Chính Trị-Xă Hội" nhan đề ""Hải tặc" tấn công tàu đánh cá, 1 người chết và 5 người bị thương nặng". Bản tin cho biết, tàu của ông Nguyễn Văn Hoàn, bắt được tín hiệu kêu cứu của các tàu bạn đă chạy tới hiện trường và "đă bị 9 tàu lạ mang cờ hiệu nước ngoài bao vây, dùng súng bắn xối xả" gây tử thương cho 1 người và làm bị thương 5 người khác.

Ngày 12/1/2005, tờ báo Tuổi Trẻ lên tiếng, cũng với một bài bài báo ngắn nhan đề "Một tàu đánh cá của ngư dân xă Ḥa Lộc bị Trung Quốc bắt giữ". Tờ báo này cho thêm chi tiết là "chiếc tàu đánh cá loại 190 CV của anh Nguyễn Chi Phường, thôn Ḥa Hải, xă Ḥa Lộc đang bị phía Hải Nam (Trung Quốc) bắt giữ". Tờ báo c̣n cho biết thêm : "Được biết mấy ngày hôm nay, tàu đánh cá của bà con ngư dân xă Ḥa Lộc liên tục bị tầu nước ngoài tấn công".

Tuy báo chí truyền thông đều nằm trong tay Nhà Nước CSVN, hai tờ Thanh Niên và Tuổi Trẻ được coi như những tờ báo nhỏ so với tờ Nhân Dân, Quân Đội, Lao Động... là những cơ quan ngôn luận chính thức của chế độ. Sự kiện chỉ có 2 tờ báo này mau chóng loan tải tin tức về vụ tàu chiến Trung Quốc xả súng bắn giết ngư dân Việt Nam khiến người ta không khỏi đặt câu hỏi "Liệu có phải cộng sản Hà Nội muốn làm êm chuyện này trong lúc họ đang tiếp đón phái đoàn Bắc Kinh do Phó Chủ Tịch Quốc Hội Trung Cộng, Cố Tú Liên hưóng dẫn, nhân dịp "mừng 55 năm bang giao với Bắc Kinh", nên chỉ cho 2 tờ báo nhỏ đăng tin ; hay là dù có lệnh phải bưng bít nhưng các phóng viên của hai tờ báo đại diện cho tuổi trẻ trong nước đă không thể tán tận lương tâm làm thinh trước sự kiện "nghiêm trọng" khiến 9 ngư dân Việt Nam vô tội đă bị Trung Quốc sát hại ngay trên lănh hải của Việt Nam ?

Điều mà chế độ cộng sản Hà Nội không đo lường được là ngay sau khi 2 tờ báo nhỏ đăng tin, các hăng thông tấn nước ngoài như AFP và Reuters đă đăng tiếp khiến cho dư luận trong nước cũng như hải ngoại xôn xao như một cơn băo lốc. Thư từ điện tử gửi về hai tờ báo này có hàng trăm, hàng ngàn, nhiều web sites đă được dựng lên thu thập hàng chục ngàn chữ kư tỏ t́nh đoàn kết với gia d́nh các nạn nhân Hậu Lộc bị chết, bị thương, bị bắt, đồng thời lên án nặng nề phía Trung Quốc đă tàn sát dă man ngư dân Việt Nam.

Biết không thể im hơi lặng tiếng trước vụ việc trầm trọng này, đến ngày 13/½005, tức là 5 ngày sau khi xảy ra vụ thảm sát, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao cộng sản Hà Nội, Lê Dũng mới lên tiếng trả lời báo chí và tuyên bố như sau : "Chúng tôi coi việc tàu Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân Việt Nam và làm bị thương nhiều người khác, gây thiệt hại đến tài sản và ngư cụ của ngư dân Việt Nam là nghiêm trọng. Việt Nam đă yêu cầu phía Trung Quốc có các biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn và chấm dứt ngay những hành động sai trái trên, cho điều tra và xử lư nghiêm những kẻ bắn chết người". Lời tuyên bố này đă gây công phẫn trong rất nhiều người trong cũng như ngoài nước, đặc biệt là giới trẻ trong nước, giới lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài, các nhà đấu tranh dân chủ như ông Trần Khuê tại Sài G̣n. Họ đánh giá phản ứng và lời tuyên bố của cộng sản Hà Nội quá là nhu nhược.

Tuy ngày 13/½005, người phát ngôn của Hà Nội lên tiếng, nhưng các báo đài vẫn im lặng như không có chuyện ǵ xảy ra. Dư luận ngày càng xôn xao, càng phẫn nộ. Giới trẻ trong nước đă nói đến chuyện sẽ biểu t́nh trước đại sứ quán Trung Quốc để phản đối. Và chắc là sau nhiều cuộc hội họp của tập đoàn lănh đạo tối cao của đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội, ngày 20/½005, tức là 12 ngày sau biến cố nghiêm trọng trong Vịnh Bắc Bộ, hăng Thông Tấn Xă Việt Nam (TTXVN) mới có bản tin đầu tiên, không phải là bản tin tường thuật hoặc loan báo về những ǵ đă xảy ra, nhưng là bản tin tường luật lại lời phát biểu của Lê Dũng : "Việc cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ khí giết hại những thường dân Việt Nam vô tội là sự vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, Hiệp định Hợp tác nghề cá Việt Nam-Trung Quốc cũng như các thỏa thuận của lănh đạo cấp cao hai nước, làm tổn hại t́nh cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước". Như được bật đèn xanh, các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Lao Động, Sài G̣n Giải Phóng... đă trích đăng nguyên văn bản tin của TTXVN trong ngày 20 và 21/½005. Cũng trong ngày này, kênh truyền h́nh đối ngoại VTV4 dành cho khán giả hải ngoại cũng đă loan tải bản tin này.

Thái Độ Và Lập Luận Của phía Trung Quốc

Ngày 15/½005, Tân Hoa Xă đưa tin "Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cho biết công an tuần duyên của Trung Quốc đă bắn hạ nhiều hải tặc vơ trang và bắt sống 8 tên khác khi chúng đang cướp thuyền đánh cá (của Trung Quốc) đang hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc". Bản tin cho biết thêm : "Theo phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, Khổng Tuyền, sáng ngày 8/1, nhiều thuyền đánh cá Trung Quốc xuất phát từ đảo Hải Nam đang hoạt động trong phần lănh hải phía Trung Quốc trên Vịnh Bắc Bộ th́ bị 3 tàu lạ có vơ trang kéo đến định cướp thuyền và xả súng vào thuyền của Trung Quốc". Ông Khổng Tuyền nói rằng : "Công an tuần duyên Trung Quốc đă chạy tới giải cứu sau khi nhận được tín hiệu kêu cứu. Ba chiếc tàu lạ đă nổ súng vào tầu công an và gây thương tích cho một nhân viên công lực Trung Quốc". Ông tuyên bố tiếp : "Công an tuần duyên Trung Quốc bắt buộc phải có hành động cần thiết. Họ đă bắn hạ 8 hải tặc, bắt giữ một trong những tàu vơ trang và 8 tên khác cùng với vũ khí, đạn dược và ngư cụ". Theo Khổng Tuyền cho đây là một vụ cướp có vơ trang nghiêm trọng trên biển và cho biết, các hải tặc đă thú nhận là người Việt Nam, và đă từng tham dự 4 vụ cướp tàu đánh cá Trung Quốc trước đây trong Vịnh Bắc Bộ. Khổng tuyền c̣n tuyên bố là đă thông báo cho phía Việt Nam đầy đủ chi tiết nội vụ, đúng theo tinh thần các hiệp ước lănh sự. Ông ta khẳng định : "Trung Quốc có nhiều nhân chứng, vật chứng và sẽ xử lư nội vụ theo pháp luật Trung Quốc".

Bản tin trên Tân Hoa Xă điện tử c̣n viết thêm là "các tầu lạ đă cướp của ngư dân Trung Quốc 310 lưới đánh cá và hải sản trị giá 3 triệu Nhân Dân tệ, tức 361,445 đô la Mỹ". Bản tin c̣n cho thêm chi tiết :"Công an tuần duyên Trung Quốc cũng đă tịch thu một súng thượng liên, 1 bao súng và 88 viên đạn. Số vũ khí, đạn dược khác đă bị ném xuống biển trước khi công an duyên hải bắt tàu". Bản tin này c̣n viết : "Từ khi các hiệp ước phân định ranh giới và hợp tác nghề cá trên Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam có hiệu lực từ tháng 6 vừa qua, t́nh h́nh chung ổn định, tuy nhiên, nhiều thuyền đánh cá Trung Quốc đă bị đánh cướp trong vùng đánh cá chung, và như vậy đă gây một sự đe dọa trầm trọng cho đời sống và tài sản của ngư dân Trung Quốc".

Trên đây là những lập luận của Trung Quốc sau khi lực lượng tuần duyên quân sự của họ xả súng vào các tàu đánh cá Việt Nam gây tử thương cho 9 ngư phủ Việt Nam và làm bị thương 7 người khác, đồng thời bắt giữ 1 tầu cùng một số người khác. Dĩ nhiên là trong mọi cuộc tranh chấp về biên giới, hải phận, bên nào cũng đưa ra những lư lẽ để giành phần phải cho ḿnh. Nhưng trong thực tế, một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn th́ lẽ thường t́nh là nước lớn ăn hiếp nước nhỏ chứ khó có chuyện ngược đời : nước nhỏ ăn hiếp nước lớn.

Ngư Dân Thanh Hóa Có Là Hải Tặc Không ?

V́ t́nh trạng chậm tiến về khoa học kỹ thuật của đất nước ta nên tuyệt đại đa số nông dân, đặc biệt là ngư dân đều thuộc vào tầng lớp nghèo khổ nhất trong xă hội. Công việc đồng áng cũng như đánh bắt trông nhờ vào thiên nhiên. Mưa thuận gió ḥa th́ đời sống đủ ăn, đủ mặc. Thiên tai, giông băo th́ thất bát, bữa đói bữa no. Thanh Hóa là một trong những tỉnh nghèo nhất Việt Nam hiện nay. Ruộng đất ít oi. Phần lớn đồng bào sống dọc duyên hải đều làm nghề cá. Họ phải đổi sức lao động vất vả mới có miếng ăn. Những nhà khá giả th́ có tàu máy lớn, có được ít tấm lưới lành. Những nhà nghèo hơn th́ thuyền nan, lưới vá. C̣n những ai không có đủ phương tiện th́ cũng cố gắng có chiếc thuyền thúng, một cái thúng to, sơn dầu cho không ngấm nước, bơi bằng mái chèo ra khỏi bờ ít dặm thả câu... Ngư dân nghèo được thuyền lớn tuyển mộ ra khơi đánh bắt là một diễm phúc v́ thu nhập được đảm bảo. Thế nhưng, nghề đi biển đánh cá ở nước ta, nhất là dọc theo duyên hải Vịnh Bắc Bộ, không phải chỉ có rủi ro về thời tiết. Họ c̣n một nỗi lo sợ là bị cướp biển từ Trung Quốc sang tấn công, bắt cóc, kéo thuyền của họ đi rồi bắt chuộc.

Từ nhiều năm nay, trước và sau khi có các hiệp định về Vịnh Bắc Bộ, tàu Trung Quốc đă nhiều lần tiến hành ăn cướp và bắt tầu Việt Nam kéo về nước họ rồi bắt chuộc. Nếu chỉ xét trong năm 2004 th́ như báo điện tử VietnamExpress ngày 30/1½004 cho biết : "Theo thống kê của Bộ đội Biên pḥng Đà Nẵng, chỉ riêng trong tháng 9/2004 đă có 5 tàu đánh cá của ngư dân các tỉnh Quảng Ngăi, Khánh Hoà và TP Đà Nẵng bị xua đuổi bắt giữ khi họ đang hành nghề trong vùng biển VN". Bọn ngư tặc Trung Quốc thường xuyên xâm phạm lănh hải Việt Nam và tấn công thuyền bè đánh cá Việt Nam bằng thuốc nổ. Điển h́nh, cũng theo nguồn tin trên th́ " Ngày 8/10/2004, tại khu vực phân định vịnh Bắc bộ, tàu QNg 5648 của ngư dân Quảng Ngăi đang hành nghề trên biển cũng bị 2 tàu nước ngoài chặn lại, dùng ḿn tự tạo ném sang rồi đâm ch́m tàu làm chết 1 người và mất tích 1 người...". Tổng kết trong năm 2004 đă có ít là "1.017 lượt tàu thuyền Trung Cộng xâm phạm chủ quyền vùng biển VN, uy hiếp ngư dân làm ăn trên biển. Trong đó đă gây ra 89 vụ tông va, làm chết và mất tích 23 người, bị thương 6 người, ch́m và hư hỏng 10 phương tiện, 12 thúng câu, mất cắp trên 13.000m lưới các loại...".

Phóng viên của hai tờ báo trong nước là Thanh Niên và Tuổi Trẻ đă tới tận xă Ḥa Lộc và xă Hằng Trường thuộc hai huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa để điều tra và tới gặp thân nhân những người xấu số đă bị tàu Trung Quốc giết hại trên biển trong ngày 8/½005. Họ đă viết "Thương tâm lắm... họ chỉ là những ngư dân nghèo, sao oan ức thế ?". Tờ Tuổi Trẻ online ngày 20/½005 viết về chị Nguyễn Thị Mùi, vợ nạn nhân Nguyễn Văn Tùng, người đàn ông 37 tuổi vừa bị bắn chết và đang bị giữ xác trên đảo Hải Nam như sau : ... từ một ngách buồng tối bóng người đàn bà mỏng như tàu lá, rũ rượi mái tóc rối dưới vành khăn trắng cùng ba đứa trẻ ngu ngơ khẽ khàng đi ra. Đó là chị Nguyễn Thị Mùi. Chị không nói được, không đứng được và cũng không nh́n được. Hồi lâu chị Mùi mới mấp máy : "Nhà tôi có ba con nhỏ đang đi học. Chồng tôi làm nghề chạy công nông. Nghèo quá nghe có chủ tàu mới muốn thuê lao động nên đi. Anh ấy mới đi một chuyến đầu...". Tờ báo cũng tường thuật lời của vợ nạn nhân Lên Văn Xuyên : "Chúng tôi làm bạn với nhau trên băi biển bùn lầy từ ngày mới biết đi. Ông cha tôi và ông cha anh ấy cùng truyền đời dẫn nhau xuống biển kiếm sống. Chưa có tuần trăng nào chồng tôi không đem con cá, con tôm về nuôi mẹ con tôi. Nay đi làm thuê th́ bị bắn chết không về...". Một người đại diện trong xă đă nói với phóng viên : ""Tất cả những nạn nhân này đều là bà con ngư dân đă sống với chúng tôi, với làng quê và vùng biển này suốt từ thời ông cha họ đến nay. Những ngư dân ấy chỉ biết tay lưới, tay câu và ngày hai bữa mà thôi... Xă chúng tôi cũng chưa bao giờ phải giải quyết những vụ mất trị an hay xích mích của các ngư dân. Nay những người chết đó c̣n kéo theo bao bất hạnh cho người c̣n sống, bởi họ là những lao động chính của nhiều người già, trẻ nhỏ...". Những lời than van, thương tiếc thân nhân bị thảm sát trên biển c̣n rất nhiều. Làm saokểcho hết được...

Thường thường, hải tặc th́ có sào huyệt. Những ngư dân Thanh Hóa bị Trung Quốc gán cho cái tội "cướp biển" là những người dân đánh cá nghèo nàn, b́nh dị. Họ có nhà cửa, có vợ con, có làng xóm. Thân nhân của họ đă công khai tiếp đón các phái đoàn báo chí, đă tuyên bố công khai những chi tiết của các nạn nhân, đă trả lời phỏng vấn của các đài phát thanh quốc tế như BBC, RFA... Thử hỏi có hải tặc nào có những hành động như thế không ? Luận điệu của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc hoàn toàn mang tính chất thổ phỉ, cướp biển. Hăy nghe những lời tường thuật của thuyền viên Phạm Văn Quân, người đi trên con tàu của ông Nguyễn Văn Hoàn bị tàu vơ trang Trung Quốc truy sát suốt 3 tiếng đồng hồ tới gần đất liền mới quay ra : "Khi đang ở xa các tàu Trung Quốc có treo cờ, nhưng khi áp sát, tấn công th́ các tàu này đă nhanh chóng hạ cờ và họ tấn công một cách hết sức dă man với ư đồ bắn chết hết thuyền viên và cướp tàu chứ không phải chỉ cướp tàu mà thôi".

 

Những Âm Mưu Quân Sự Của Trung Quốc Trên Biển Thái B́nh Dương

 

Trên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, nước ta đă nhiều lần là nạn nhân của tham vọng bành trướng, xâm lăng của các triều đại Trung Hoa phong kiến. Vua chúa triều đại này thù hận triều đại kia, thậm chí đă có những cuộc "tranh hùng", nội chiến giữa người Trung Hoa với nhau. Nhưng dù khác gịng họ, dù khác chủng tộc, dù tranh giành thiên hạ với nhau th́ mẫu số chung của "bá quyền phương Bắc" là bành trướng, là xâm lăng các nước lân bang. Chân lư này, không phải ở thời đại văn minh tên tiến ngày hôm nay mà không c̣n giá trị.

Ngay sau khi thôn tính Đại Lục, cộng sản Trung Quốc đă nghĩ ngay đến việc bành trướng lănh thổ, lănh hải. Họ đă đơn điệu tuyên bố tất cả vùng biển Nam Hải mà người Âu khi xưa đă đặt tên cho là "Biển Trung Hoa Phía Nam" trong đó có nhiều hải đảo của Việt Nam và một số nước trong vùng, đều thuộc Trung Quốc. Lá thư bán nước của Phạm Văn Đồng đă công nhận yêu sách này của Bắc Kinh. Chính sự "nhượng bộ" này của cộng sản Việt Nam đă dẫn đến những Hiệp Định, Hiệp Ước bán nước do CSVN dâng hiến cho Trung Quốc hiện nay.

Nhưng những tham vọng bành trướng không chỉ liên quan đến Việt Nam và các nước Philippines, Malasia, Indonexia ở trong vùng Nam Hải. Gần đây, các cơ quan điều nghiên chiến lược quốc tế theo dơi Trung Quốc đă có những ghi nhận cho thấy Bắc Kinh c̣n có tham vọng xa rộng hơn thế nữa.

Ngày 16/1/2005 vừa qua hăng thông tấn AFP của Pháp đă có bản phúc tŕnh nhan đều "Nhật Bản lo ngại hải quân Trung Quốc xâm lăng". Bản phúc tŕnh viết : Theo sự tiết lộ của một giới chức thuộc cơ quan quốc pḥng Nhật Bản, Trung Quốc đang mở rộng phạm vi hoạt động, như đă thấy trong trường hợp xâm nhập lănh hải của Nhật bằng tàu ngầm nguyên tử vào tháng 11/2004 vừa qua, chúng tôi cần phải theo dơi các hoạt động của Trung Quốc". Trong mối lo ngại những khả năng bành trướng của Trung Quốc, Nhật Bản đă phải đưa ra một kế hoạch pḥng thủ chuỗi hải đảo phía Nam nước Nhật. Cũng theo bản phúc tŕnh th́ : "Hiện nay Nhật Bản không có quân đội trú đóng trên các ḥn đảo xa. Kế hoạch pḥng thủ mới dự trù đưa 55,000 quân cũng như máy bay chiến đấu, các tuần dương hạm và tiềm thủy đĩnh vào vùng để ngăn ngừa một cuộc tấn công có thể xảy ra trên đảo Okinawa và những đảo xa khác. Với chiều hướng mới, Nhật Bản quyết tâm bảo vệ hoặc tái chiếm, trong trường hợp bị Trung Quốc chiếm đóng, những ḥn đảo nằm trong vùng 1000 cây số giữa mỏm Kiushu và Đài Loan".

Ngày 18/1/2005, tờ Washington Times có bản phúc tŕnh về những kế hoạch bảo vệ con đường tiếp tế nhiên liệu của Trung Quốc. Bản phúc tŕnh viết : "Nhằm mục tiêu này, Trung Quốc đang thiết lập các lực lượng quân sự và các căn cứ quân sự dọc theo hải tŕnh từ Trung Đông đến Biển Nam Hải". Trong một bản phúc tŕnh khác của ông Booze Allen Hamilton thuộc viện "Energy Futures in Asia", th́ "những việc điều quân mới đây không hẳn chỉ để bảo vệ những lợi ích năng lượng của Trung Quốc, mà c̣n để phục vụ cho những mục tiêu rộng lớn khác nữa". Bản nghiên cứu c̣n cho biết, Trung Quốc đă viện cớ là trên hải tŕnh chuyển vận xuát nhập của họ thường xảy ra những vụ "cướp biển", để có những hành động gia tăng quân sự. Ngoài ra, bản phúc tŕnh c̣n nêu thêm lư do : "Trong trường hợp có sự xung đột về Đài Loan, Trung Quốc nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ ngưng nhập cảng nhiên liệu và có thể bao vây Trung Quốc bằng cách gia tăng kiểm soát những chốt quan trọng trong vùng, nhất là eo biển Malacca mà Trung Quốc rất cần v́ 80% hàng xuất nhập cảng của Trung Quốc phải đi qua eo biển này". Để kiểm soát hải tŕnh tiếp liệu của ḿnh, cụ thể Trung Quốc "đang mua sắm chiến hạm mới được trang bị hỏa tiễn tầm xa, tiềm thủy đĩnh và thủy lôi. Nước này cũng có kế hoạch mua máy bay có tầm bay xa, kể cả vệ tinh quan sát và các tầu do thám không người lái"... Theo bản báo cáo th́ "Trung Quốc cũng có kế hoạch đặt các đài kiểm thính từ Pakistan tới cảng Gwadar, Miến Điện để theo dơi tàu bè qua lại trong eo biển Hormuz và biển Ả Rập. Kinh phí lên đến hàng tỷ đô la Mỹ".

Qua những tin tức này, người ta hiểu được tại sai Bắc Kinh nôn nóng, o ép, hối thúc cộng sản Hà Nội kư kết các Hiệp Định bán nước, nhượng biển cho họ. Người ta cũng hiểu được tại sao đă thường xuyên có những vụ tàu chiến Trung Quốc bắn giết như dân Việt Nam ở trong Vịnh Bắc Việt.

 

Trách Nhiệm Của CSVN Trong Vụ Thảm Sát Ngư Dân

 

Từ khi xảy ra vụ bắn giết ngư phủ Việt Nam do công an duyên pḥng Trung Quốc đến nay, rất nhiều bài viết, nhiều phát biểu của người dân trong nước cũng như cộng đồng hải ngoại đă nêu lên vấn đề trách nhiệm. Những câu hỏi "ai giết ngư dân Việt Nam ?", "V́ sao ngư dân vô tội lại bị bắn giết dă man như vậy ?"... tràn ngập các trang báo điện tử và báo in tại Việt Nam và ngoại quốc.

Nhiều ư kiến cho rằng tàu chiến Trung Quốc đă vi phạm luật hàng hải quốc tế v́ nhiều lắm họ có thể bao vây, bắt giữ nếu các tàu đánh cá Việt Nam xâm nhập lănh hải của họ, chứ không có quyền giết người bừa băi như họ đă làm. Nhiều ư kiến khác, trong đó có cả xác nhận của Hà Nội là tàu chiến Trung Quốc đă xả súng vào thuyền đánh cá Việt Nam trong "vùng đánh cá chung". Theo bài viết của Lê Công Phụng, thứ trưởng ngoại giao đồng thời là trưởng phái đoàn thương thuyết về biên giới và Vịnh Bắc Bộ của Hà Nội với phía Trung Quốc, đăng trong Tạp Chí Cộng Sản số 2 (1/2001), "vùng đánh cá chung" là một vùng biển" trong vịnh Bắc bộ từ vĩ độ 200 xuống đường đóng cửa vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500km2, tức khoảng 27,9% diện tích vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lư : đại bộ phận cách bờ của ta 35 - 59 hải lư và có hai điểm cách bờ 28 hải lư. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và ba năm gia hạn)...". Theo phát biểu của một số ngư dân vùng duyên hải từ Thanh Hóa đến Quảng Ngăi th́ thuyền tàu của Trung Quốc thường vào sâu trong lănh hải Việt Nam, chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng mươi hải lư.

Đại đa số ư kiến khẳng định việc kư kết những hiệp ước, hiệp định về Vịnh Bắc Bộ đă mang lại thiệt tḥi to lớn cho Việt Nam và lên án chế độ cộng sản Hà Nội về hành vi bán nước này. Ngư dân Hậu Lộc trả lời phỏng vấn đài BBC đă khẳng định là v́ những hiệp định này mà đă xảy ra vụ tàu chiến Trung Quốc bắn giết dă man ngư dân Việt Nam hôm 8/1/2005. Nhiều người đă phẫn nộ v́ thái độ muốn nhận ch́m vụ việc của chế độ cộng sản Hà Nội. Họ cũng phẫn nộ v́ những lời lẽ phản đối rất yếu ớt của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao, chứng tỏ sự "nhu nhược" nếu không muốn nói là hèn nhát của Hà Nội đối với Trung Quốc. Trong các cuộc gặp gỡ những quan chức lănh đạo Bắc Kinh sau vụ việc, không ai trong những người đứng đầu chế độ dám nêu thẳng vấn đề với họ hoặc phản đối những lời vu không ngư dân Việt Nam là "hải tặc". Một ông già gốc ngư dân đă nôm na trút sự phẫn uất của ông bằng câu : "Ông bà nội chúng nó, sao chúng nó dám phản đối !".

Nhiều người cũng rất bất b́nh v́ ngư dân Việt Nam đi đánh cá ngoài khơi không được các lực lượng quân sự của chế độ bảo vệ. Các lực lượng công an biên pḥng và duyên pḥng đă không hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ bờ cơi và nhân dân. Trái lại tờ báo Thanh Niên điện tử ngày 15/1/2005 cho biết : "Làm việc với chúng tôi, ông Đỗ Hồng - Bí thư Đảng ủy xă Ḥa Lộc cho biết : Ngay sau khi nhận được thông tin về vụ việc trên, Đảng bộ, chính quyền địa phương đă nhanh chóng báo cáo với cấp trên, đồng thời chỉ đạo cho lực lượng Công an xă túc trực 24/24, đặc biệt là ở quanh khu vực gia đ́nh ông Nguyễn Phi Phường...". Tại sao thế nhỉ ? Ông Phường thoát chết đưa được tàu chạy vào bờ mà nhà bị công an bao vây như tội phạm ! Họ đồng ư với lời cáo buộc của Trung Quốc cho ông Phường là "hải tặc" ? Hay họ sợ ông sẽ kéo ngư dân lên Hà Nội biểu t́nh trước đại sứ quán Trung Quốc ?

Cùng là dân đánh cá, dù là có khác quốc tịch, dù là có những tranh chấp trong những vùng đánh bắt có lắm hải sản, th́ bản chất người nông dân nói chung và người ngư dân chân chính nói riêng, không thể gây xô xát, án mạng chết người, nhất là chết nhiều người như vụ tàu Trung Quốc bắn giết ngư phủ Việt Nam hôm 8/½005. Nói như vậy có nghĩa là ở nhiều vùng biển trên thế giới, nhất là ở vùng ven biển Á Châu, có những người đội lốt ngư phủ để tiến hành cướp bóc trên biển. Vùng biển này đă nổi danh nhiều "hải tặc" trong thập niên 80 khi phong trào thuyền nhân vượt biên ồ ạt. Ngày nay ở vùng này, mỗi năm cũng c̣n một vài vụ. Bọn cướp biển được trang bị vũ khí và phương tiện truyền tin hiện đại. Ở Việt Nam, không người dân nào có quyền giữ "vũ khí quân dụng". Chỉ có công an, quân đội là có khả năng này mà thôi !

 

Thay Lời Kết

 

Kẻ bắn giết ngư dân Thanh Hóa ngày 8/½005 là công an duyên pḥng Trung Quốc. Qua các hiệp ước, hiệp định bán nước cầu vinh của tập đoàn lănh đạo cộng sản Hà Nội, ngư dân Việt Nam đă chịu rất nhiều thiệt tḥi về vật chất lẫn sinh mạng. Nếu hải quân Trung Quốc là hung thủ giết người, th́ lănh đạo cộng sản Việt Nam là đồng lơa. Tội này lịch sử và nhân dân sẽ không thể tha thứ được.

Trần Đức Tường

 

 

 

 

Biến C Vnh Bc Vit : Nhng Bí n Trong V Hi Quân Trung Quc Tàn Sát Ngư Dân Vit Nam
KS Nguyn Đ́nh Sài
(LÊN MNG TH BY 29 THÁNG GIÊNG 2005)

 

BA Câu Hỏi Lớn

Vụ Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam vào ngày 8 tháng 1/2005 khi bốn chiếc ghe của họ thả lưới trong "vùng đánh cá chung" [co-fishing area] đang làm xôn xao dư luận trong ngoài nước với những phản ứng và giải thích trái ngược. Đă có khá nhiều cơ quan truyền thông như BBC, Reuters, Thanh Niên Online, AFP, v.v..., và nhiều nhà b́nh luận thời cuộc lên tiếng kể lại nội vụ, đặc biệt là ở hải ngoại. Qua hệ thống internet và điện thư, nhiều tiếng nói căm phẫn xuất phát từ trong nước.

Thế nhưng đă gần ba tuần qua, có ba câu hỏi lớn mà hiện nay vẫn chưa có câu trả lời !

Về phía Bắc Kinh, mới đây họ đưa ra lời cáo buộc ngược rằng sở dĩ tàu chiến Trung Quốc phải nổ súng bắn vào các ghe đánh cá Việt Nam v́ các ngư dân Việt Nam là "hải tặc". Qua bằng chứng các h́nh ảnh ghe đánh cá không trang bị vũ khí, cũng như h́nh dáng và vẻ mặt của những ngư dân hiền lành chất phác, ai cũng có thể thấy rằng sự cáo buộc của Trung Quốc là hoàn toàn bịa đặt và gian dối. Cho dù sự thật theo như họ cáo buộc của Bắc Kinh đi nữa, th́ với các chiếc ghe gỗ không trang bị đó, tàu chiến của Trung Quốc chỉ cần bắn dọa rồi bắt giữ các ngư dân. Thế nhưng tàu Hải Quân Trung Cộng đă chạy thẳng đến gần các ghe đánh cá và ngang nhiên nổ súng bắn giết người Việt Nam. Sau đó, bị dư luận quốc tế lên án, họ mới bịa chuyện v́ "ngư dân Việt là hải tặc" nên họ phải "khai hỏa để tự vệ". Trong mấy năm qua, Trung Quốc đang cố vẽ ra h́nh ảnh của một cường quốc hiền ḥa, biết tôn trọng lân bang trong t́nh hữu nghị, th́ hành động vi phạm công pháp quốc tế vừa qua đă làm cho họ mang tiếng là "bọn xâm lăng dă man" [aggressive barbarians] trước dư luận thế giới.

Câu hỏi thứ nhất là : Nguyên do bí ẩn nào khiến Bắc Kinh hành xử bất chính và chấp nhận một liều lĩnh [risk taking] về liên hệ bang giao quốc tế như thế ?

Về phía Hà Nội, họ đă giữ sự im lặng khó hiểu ngay những ngày đầu tiên. Vụ Trung Cộng bắn giết ngư dân xảy ra ngày 8-1 mà măi đến 13-1, Phát Ngôn Nhân Bộ Ngoại Giao Lê Dũng mới lên tiếng một cách yếu ớt, cho qua. Trong khi đó, cùng ngày 13-1 tại Hà Nội, Thủ Tướng Việt Cộng Phan Văn Khải lại tiếp Phó Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Cố Tú Liên, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Trung Quốc sang Việt Nam tham dự APPF. Trong buổi tiếp tân này, không những Phan Văn Khải không đề cập ǵ đến vụ ngư dân Việt Nam bị Hải Quân Trung Quốc tàn sát dă man, mà c̣n đề nghị rằng "hai bên cần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác, trên cơ sở phương châm 16 chữ và 4 tốt mà các nhà lănh đạo cấp cao của hai nước đă đề ra". Hà Nội dư biết sự im lặng của họ sẽ dấy lên ḷng bất măn và bất tín nhiệm của nhân dân Việt Nam trong nước, vốn đă âm ỉ từ lâu. Đă đành là họ không xem ư dân ra ǵ, nhưng để cai trị dân lâu dài, họ vẫn luôn luôn cố vẽ ra h́nh ảnh, "đảng là cơ chế hoàn hảo nhất, có sứ mạng bảo vệ đất nước và nhân dân." Thế nhưng trước sự tố cáo của ngư dân và phẫn uất của toàn dân, họ đă phải giả vờ buộc tội Trung Quốc một cách bối rối và yếu ớt. Đă thế, ngày 22-1, một số sinh viên Việt Nam căm phẫn việc Trung Cộng giết hại ngư phủ Hậu Lộc, tập trung biểu t́nh trước cổng Đại Sứ Quán Trung Hoa th́ bị cảnh sát chống bạo động dùng ṿi rồng, xe bọc thép, xe bít bùng bắt bớ, đánh đập bất kể những ai vừa bén mảng đến để tham gia biểu t́nh. Một số sinh viên vừa chạy xe gắn máy qua hô vài tiếng đả đảo Trung Quốc th́ cảnh sát lập tức chận xe, xô té, dùng dùi cui đánh đập, bắt lên xe đến mấy chục người.

Câu hỏi thứ hai là : Nguyên do bí ẩn nào khiến Hà Nội hành xử bất chính, cố gắng khỏa lấp biến cố và chấp nhận sự oán ghét của đồng bào như hiện nay ?

Về phía nhân dân trong nước và đại khối người Việt hải ngoại, hầu hết lên án Bắc Kinh "hung hăng bạo ngược" và Hà Nội "quá hèn nhát", im lặng trước hành động giết người của ngoại bang. Ai cũng đ̣i hỏi Trung Quốc đền bồi tương xứng cho gia đ́nh nạn nhân. Thế nhưng, đă hai tuần qua, chưa hề có một cuộc biểu t́nh nào tại hải ngoại, nói lên sự phản đối của người dân. Trước sự lên án "cầm chừng" này, Hà Nội có thể dễ dàng vô hiệu hóa sự căm phẫn của dân chúng, v́ ai cũng thấy lực lượng của Trung Quốc mạnh gấp trăm lần lực lượng hiện nay của Việt Nam. Do đó một vài ư kiến cho rằng sự im lặng của Hà Nội có vẻ như chỉ thể hiện sự nhẫn nhịn cần thiết cho một "chuyện nhỏ".

Câu hỏi thứ ba là : Biến cố ngày 8 tháng 1 vừa qua có tầm mức "chuyện nhỏ" như nhiều người lầm tưởng thế không ?

Việc lên án Việt Cộng là "hèn nhát" như hiện nay có phiến diện và quá nhẹ cho chế độ hay không ? Nguyên do bí ẩn nào cho thấy biến cố vừa qua là chỉ dấu của một thất lợi lớn đang xảy ra cho dân tộc Việt Nam ?

 

Vạch Trần Sự Thật

 

Cũng trong buổi tiếp tân ngày 13-1, Phan Văn Khải khẳng định "Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời và hiện nay, mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển rất tốt đẹp". Thế nhưng, từ khi Hiệp Định Vịnh Bắc Việt được phê chuẩn vào ngày 20 tháng 6, 2004, th́ đă xảy ra nhiều vụ Hải Quân Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam trong vùng Vịnh Bắc Việt. Đặc biệt, theo Reuters, trong tháng 12/04 Trung Quốc đă bắt giữ các thuyền đánh cá với 80 ngư dân Việt Nam đem về giam ở đảo Hải Nam, cho rằ̀ng họ "xâm phạm lănh hải Trung Quốc trái phép". Trong khi đó, theo lời khai của các nạn nhân và được Hà Nội xác nhận, th́ những ngư dân đă đánh cá hợp pháp trong vùng "đánh cá chung" [The co-fishing area]. Để t́m ra bí ẩn trong vụ này, chúng ta hăy xem hai bức h́nh :


- H́nh 1 là bản đồ phân định ranh giới lănh hải Việt Trung trong Vịnh Bắc Việt mà hai bên Việt Trung đă thỏa thuận theo hiệp định 25-12-2000 và phê chuẩn ngày 20-6 năm 2004. Trong bản đồ này, vùng đánh cá chung được ấn định một cách kỳ dị, nhưng cho đến nay chưa thấy một nhà b́nh luận nào nêu thắc mắc hay giải thích về sự lạ lùng này.
- H́nh 2 là bản đồ các vùng có nhiều hải sản và khoáng sản [dầu hỏa cùng khi đốt] trong Vịnh Bắc Việt [Tài liệu Selig & Hanson, China Oil and Asia Conflict Ahead ?, New York Columbia University Press, USA]. Theo tài liệu này, túi dầu khí - phần có đường vạch xám - ở giữa Vịnh Bắc Việt có nhiều khí [natural gas] hơn là dầu cặn [crude oil]. Số lượng khí đốt nhiều đến nỗi có thể cung cấp năng lượng cho toàn vùng Bắc Việt và đảo Hải Nam mà không cần dùng đến thủy lượng từ các đập nước sông Đà hay vận chuyển dầu từ đất liền ra đảo Hải Nam. Dù vùng này nằm giữa lănh hải của hai nước, song Trung Cộng đă khai thác dầu khí phía bên lănh hải của họ từ lâu rồi, và viện cớ túi dầu khí là "tài nguyên của Trung Quốc", họ t́m mọi cách ngăn cản Việt Nam đặt giàn khoan phía trong lănh hải Việt Nam. Phần tô đen là vùng hải sản [marine habitat] như tôm, cua, cá, ốc, ṣ, ngọc trai, v.v...

Đối chiếu hai h́nh, chúng ta nhận thấy "vùng đánh cá chung" của h́nh 1 bao gồm trọn vẹn cả toàn vùng phía trên túi dầu hỏa và khí đốt của h́nh 2. C̣n vùng có nhiều hải sản, tôm cá, th́ phần lớn nằm ven bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa lên Móng Cái, nơi các cửa sông chảy ra biển mang theo thực phẩm dinh dưỡng cho các loài tôm cá. Phần c̣n lại ở ngoài khơi Thanh Hóa th́ nằm trong vùng dầu khí, nơi có phù sa sông Mă chảy ra, và nằm về phía hải phận Việt Nam. Các ngư dân Việt Nam vừa bị Hải Quân Trung Cộng bắn giết là dân ở vùng Hậu Lộc [điểm A], nằm ngay cửa sông Mă thuộc tỉnh Thanh Hóa. Điểm B là nơi họ bị Trung Cộng tấn công và đuổi bắt từ đó vào gần bờ [điểm A].

Về phía hải phận Trung Quốc từ đảo Hải Nam trở ra, tôm cá và hải sản không trù phú lắm, bởi v́ phù sa màu mỡ và các chất bổ dưỡng cho tôm cá từ các cửa sông Mă, sông Đáy [Nam Định], và các nhánh lưu vực sông Hồng [Thái B́nh] chảy ra không lan tới bên đó. Như vậy, chỉ xét về phương diện hải sản thôi, th́ Trung Cộng cũng đă gian lận trắng trợn khi họ yêu cầu Việt Cộng kư hiệp định "vùng đánh cá chung" để được quyền đánh cá trong khu trù mật gần bờ Việt Nam trong khi bờ Hải Nam của họ chẳng có bao nhiêu tôm cá ! Thế nhưng vụ gian lận này cũng tầm thường, chỉ là bề mặt nhằm mục đích khỏa lấp một bí ẩn trầm trọng hơn mà thôi. Sự thật là Trung Quốc chẳng thèm đánh cá đến nỗi phải tàn sát ngư dân Việt Nam vô tội.

Tất cả những vụ Trung Quốc bắt bớ, bắn giết ngư dân Việt Nam trong hai tháng qua đều xảy ra trong vùng dầu khí, về phía bên trong lănh hải Việt Nam, mà hiệp định 25-12-2000 đặt tên là "vùng đánh cá chung". Chưa bao giờ có sự ngược ngạo đó : Khi chưa kư hiệp định th́ Trung Cộng lấn lướt nhẹ, đến khi kư hiệp định rồi th́ họ lấn lướt dữ dội hơn !

Bí ẩn nằm ở chỗ :

Song song với bản Hiệp Định về vùng đánh cá chung, một khế ước ngầm về khai thác dầu khí đă được kư kết giữa hai chủ tịch của hai đảng Trung Cộng và Việt Cộng. Theo hiệp định về "nghề cá" th́ vùng đánh cá chung có nghĩa là ngư dân cả hai bên đều được quyền đánh cá trong vùng này. Trung Quốc muốn ấn định vùng "đánh cá chung" một cách b́nh thường như thế để có quyền đi vào hải phận Việt Nam và kiểm soát toàn vùng này. Nhưng theo khế ước ngầm giữa hai đảng, th́ đây là vùng độc quyền khai thác dầu khí của Trung Quốc, với máy móc, dụng cụ, nhân công đều của đảng Trung Cộng. Dầu khí được đưa về xưởng lọc tại phía nam đảo Hải Nam, nơi có căn cứ hải quân bảo vệ. Đảng Việt Cộng được hứa trả trước một số tiền khổng lồ lên đến 10 tỷ đô, chia làm 5 năm, kể từ tháng 6 năm 2004, cộng thêm 25% lợi tức của sản xuất hàng năm mà không phải làm ǵ cả, ngoại trừ giữ im lặng, để yên cho Trung Cộng lập giàn khoan dầu khí phía trong lănh hải Việt Nam và ngăn cản dân chúng phản đối Trung Quốc khi có biến sự xảy ra. Việt Cộng ở vào cái thế không thể tiết lộ cho dân chúng biết về bản khế ước ngầm về dầu khí v́ khế ước ngầm mang lại nguồn lợi huyết mạch cho đảng chứ không phải cho dân, đồng thời không thể phản đối mạnh mẽ xự "xâm lấn tàn bạo" của Trung Cộng, v́ họ đă đồng ư cho Trung Cộng sử dụng "biện pháp mạnh" này để khiến cho ngư dân Việt sợ hăi mà tránh xa. Nếu trái quy định đó th́ Trung Cộng sẽ phổ biến bản khế ước như họ đă từng bạch hóa lá thư nhượng biển của Phạm Văn Đồng gởi lén cho Chu Ân Lai vào năm 1958 mà hiện nay ai cũng biết. Nếu công bố cho dân biết th́ lănh đạo đảng sẽ mang tội phản quốc để thủ lợi. Mặt khác họ cũng sẽ không bao giờ có thể tự khai thác vùng tài nguyên năng lượng này, v́ vừa không có máy móc và khả năng, lại vừa chắc chắn sẽ bị Trung Quốc quấy rối.

Hiện nay, Trung Cộng bắt đầu tiến hành bản khế ước ngầm giữa hai đảng, chuẩn bị đặt giàn khoan phía bên lănh hải Việt Nam, tại vùng dầu khí ph́nh ra về phía tây, tức là ngoài khơi hai tỉnh Thanh Hóa và Nam Định. Vùng này có tầng đất phía dưới đáy biển tương đối mỏng, khoan dễ và không tốn kém, lại chứa nhiều khí đốt nhất. Mặt khác, theo kế hoạch của bộ Hải Quân Trung Quốc, giàn khoan này cũng sẽ là một vị trí chiến lược của Hải Quân Trung Quốc nhằm tê liệt hóa mọi kháng cự của Việt Nam, không những về hải lực mà c̣n về phương tiện pḥng thủ, v́ từ điểm này, thủ đô Hà Nội sẽ nằm trong tầm bắn của Hỏa Tiễn Trung Cộng. Đến khi hữu sự, Bắc Kinh không cần ra tay, mà Hà Nội vẫn phải đầu hàng. Đây là chiến lược thành văn của Trung Quốc, do bộ Hải Quân Hoa Kỳ nghiên cứu và phúc tŕnh từ giữa thập niên 1990 [xin xem : "Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cơi Việt Nam", cùng tác giả].

Để thiết lập giàn khoan và xây dựng cứ điểm chiến lược này, Trung Cộng phải cho tàu Hải Quân tuần tiểu, ngăn cấm các ngư dân lai văng v́ ngại dân sẽ hô hoán lên sự xâm phạm lănh thổ VN. Trong khi đó th́ Hải Quân Việt Cộng được lệnh tránh tuần tiểu, bỏ ngơ hoàn toàn vùng này, v́ lănh đạo đảng Việt Cộng đă toa rập thỏa thuận cho Trung Cộng toàn quyền kiểm soát. Chỉ trong tháng 12 mà Hải Quân Trung Cộng đă bắt giữ 80 ngư dân ; rồi đầu tháng 1 lại mở cuộc tàn sát 4 chiếc ghe đánh cá có treo cờ đỏ sao vàng, gây tử thương 9 người, trọng thương 7 người, bắt giữ 8 người ngư dân thuộc tỉnh Thanh Hóa cùng chiếc ghe của họ. Làm như thế, Trung Cộng muốn gây nên nỗi sợ hăi trong ḷng ngư dân để họ không dám bén mảng tới nữa, nhất là khi dân thấy đảng CSVN làm lơ trước những thiệt hại nhân mạng của họ mà chỉ lên tiếng lấy lệ.

Xuyên qua biến cố thê thảm này, lănh đạo đảng Việt Cộng đă hiện nguyên h́nh là một tập đoàn bất lương và tham lam, đem tài sản quốc gia để bán cho Trung Quốc hầu thủ lợi riêng, chứ không chỉ là tập đoàn "hèn nhát, khiếp nhược" như nhiều người lầm tưởng. Lá cờ Đỏ của đảng Việt Cộng, một lần nữa, chỉ biểu hiệu cho sự nô lệ, thối nát, chết chóc, và nhục nhă, đă và sẽ không bao giờ là biểu tượng của danh dự dân tộc Việt Nam.

 

Giải Quyết Vấn Nạn

 

T́nh trạng khổ đau của ngư dân Hậu Lộc là một trường hợp điển h́nh của đại họa mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu, rồi đây sẽ c̣n tiếp diễn bởi chính sách bành trướng Đại Trung Quốc của đảng Trung Cộng.

Trước hiểm họa này người Việt có lương tri và thiết tha với vận mệnh đất nước phải làm sao ?

Câu trả lời rất dễ t́m thấy nhưng lại rất khó thực hiện : Toàn dân đoàn kết một ḷng đứng lên lật đổ chế độ CSVN để thay thế bằng một chế độ biết lo cho dân, v́ dân mà tồn tại, v́ quyền lợi của đất nước mà tranh đấu. Để thực hiện điều này, mỗi thành phần dân tộc cần ư thức rơ vị thế và hoàn cảnh của ḿnh trên căn bản toàn diện đấu tranh. Không có một thành phần nào có thể tự cho ḿnh có quyền hơn thành phần khác trong việc th́ hành nghĩ vụ cao quư này :
- Thành phần "Quân Công Cán Chính" của thời Việt Nam Cộng Ḥa cần ư thức rằng chính họ không thể vận động được toàn dân cùng tranh đấu, nếu như ngày nào mà họ c̣n nuôi ḷng nghi kỵ, chụp mũ Việt Cộng cho chính những người cùng chiến tuyến hay những người trưởng thành ở miền Bắc Việt Nam trước năm 1975. Những hành động mang tính chia rẽ đó đă và đang làm suy yếu tiềm lực đấu tranh của dân tộc, góp phần vào việc gián tiếp cũng cố chế độ Hà Nội. Do đó, họ phải có can đảm lột bỏ những thành kiến và mặc cảm ấy để hợp lực đấu tranh cứu nước. Họ cũng cần có ḷng bao dung đối với những cán bộ cộng sản biết phản tỉnh và muốn đứng về phía đại khối dân tộc để giải quyết vấn nạn chung của đất nước.
- Thành phần "Thanh Thiếu Niên" của thời hậu chiến tranh Việt Nam cần ư thức rằng trên bước đường dấn thân đấu tranh cứu nước, họ rất cần chỗ hậu trạm để dựa lưng, học hỏi những kinh nghiệm quư báu mà cha anh họ để lại, ngơ hầu giảm thiểu tối đa những lầm lỗi gây nên ngộ nhận giữa những người cùng chung lư tưởng.
- Thành phần "Trí Thức" trong nước cần ư thức rằng tổ quốc rất cần đến dũng khí và trí tuệ của tầng lớp sĩ phu, làm thế nào để những thay đổi chính quyền sẽ không mang lại chết chóc và xáo trộn xă hội. Họ cần biểu thị sự can đảm, không sợ hăi trước bạo lực, để làm gương cho các thành phần khác.
- Thành phần "Công - Nông - Thương" trong và ngoài nước cần ư thức rằng dân tộc Việt Nam sẽ không thể tồn tại với thời gian, nếu không có sự hy sinh và hỗ trợ của thành phần mệnh danh là "hạ tầng cơ sở" của xă hội. Sức mạnh của cuộc cách mạng tự do dân chủ phải được nuôi dưỡng bởi chính những người khao khát tự do dân chủ.
- Thành phần "Bộ Đội Nhân Dân" của chế độ cần ư thức rằng quyền lợi tối thượng của dân tộc phải được đặt lên trên quyền lợi đảng phái và cá nhân. Lịch sử sẽ vinh danh họ nếu họ có can đảm đứng về phía dân chúng, khi nhân dân đứng lên đ̣i thay thế chế độ. Họ sẽ dùng sức mạnh quân sự để can thiệp và vô hiệu hóa sự đàn áp nhân dân của công an theo lệnh lănh đạo đảng, và giữ vững an ninh quốc pḥng, ngăn ngừa sự tràn lấn của ngoại bang trong thời gian biến động.
- Thành phần "Tu Sĩ" trong và ngoài nước cần ư thức rằng đạo không màng đến hưng suy của đất nước là đạo diệt vong. Trong cơn quốc biến, bất cứailàcông dân cũngphải có trách nhiệm với núi sông. Họ cần sử dụng đại hùng tâm, bi trí dũng, và ḷng bác ái của kẻ tu hành để hướng dẫn tín đồ cứu nước trước khi đi t́m nơi tu hành yên đạo. Thái độ "bất nhập thế" trong lúc này chỉ là sự biện minh cho tinh thần cầu an, thay v́ tinh thần vô úy.

Vụ Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam ngày 8 tháng 1 vừa qua là một thảm trạng, nhưng nh́n qua lăng kính lạc quan và hy vọng, đây lại là một cơ hội hiếm quư để mọi thành phần dân tộc dứt khoát thể hiện ḷng bao dung, gạt bỏ mọi tỵ hiềm, nghi kỵ, ngơ hầu đoàn kết trong liên minh các dân tộc, tích cực tiến hành công cuộc toàn diện đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ tại Việt Nam.

***

Biển Gọi
(thay lời Hoàng Sa muốn nói)

Nghe trong tiếng gió th́ thầm,
như ai than khóc giữa ḍng biển khơi.
Sài G̣n, Hà Nội, Huế ơi !
đừng quên máu thịt muôn đời Hoàng Sa !
Mơ về đất tổ quê cha,
Nghe trong sương lạnh, tiếng gà Thọ xương,
Trống đồng Kinh Bắc vấn vương,
Hoa tràm Đất Mũi ướp hương gió Nồm.
Quê hương, một thoáng mộng hồn,
tỉnh ra hiu quạnh những cồn cát xa.
Trường Sơn rực ánh dương tà,
Biển Đông vẫy gọi Hồng Hà, Cửu Long,
Dù cho gió băo mưa giông,
Hiên ngang trời nước vẫn mong tương phùng,
Dù cho song cạn núi cùn,
hẹn về với Mẹ muôn trùng Việt Nam !

Trần Lam Sơn
Sài G̣n, ngày 19.01.2005

(Thắp nén hương thành kính dâng lên hương hồn anh hùng liệt sĩ các thế hệ Việt Nam đă hy sinh v́ sự nghiệp bảo vệ lănh hải của tổ quốc chung Việt Nam thân yêu).

Nguyễn Đ́nh Sài

 

 

Lch s này s lp li không sai !
Nam Dao
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

 

Vịnh Bắc bộ bỗng dưng nay đẫm máu
Thây người rơi tơi tả bởi v́ đâu
Thuyền đánh cá mong manh đời dân Việt
Chết chưa yên v́ nỗi nhục trong ḷng
Thịt chưa ră đă ô danh hải tặc
Kẻ giết người lại buộc tội nạn nhân
Ai im lặng cho nỗi hờn quốc tổ
Tràn dâng cao cơn lũ uất nghẹn ngào

Phải đứng dậy rửa cho tan mối nhục
Lửa Diên Hồng sôi sục trái tim ta
Đă đến lúc phải cùng nhau hài tội
Quân bán nhà phản nước hại nhân dân
Đă đến lúc phải cùng nhau nhất quyết
Lật bạo quyền để giữ đất tổ tiên
Có như thế hồn oan kia an nghỉ
Ngoài biển đông trong giấc ngủ yên b́nh

Để cho máu người dân không phải đổ
Trong nghẹn ngào tủi hận những bất công
Để cho Mẹ Việt Nam không c̣n khóc
Tiếc mạng người phí phạm bị hiến dâng
Đừng quên nhé trái cam Trần Quốc Toản
Đang th́ thầm trong huyết quản chúng ta
Khi dân muốn th́ tức là Trời muốn
Bạo lực nào rồi cũng đổ v́ dân

Nay đứng trước ṭa nhà quân cướp nước
Nén hương ḷng tưởng nhớ kẻ ra đi
Chúng tôi nguyện rửa thay hồn mối nhục
Nhục của người là chính nhục dân ta
Ta sẽ lấy niềm tự hào dân tộc
Lửa Diên Hồng đốt cháy kẻ xâm lăng
Lịch sử đó từ ngàn xưa ghi chép
Ngày hôm nay sẽ lặp lại không sai.

Nam Dao

 

 

Thái đ ca chúng ta trước thm kch Ngư Dân
Đoàn Hùng
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

 

Không ai thương dân Việt bằng chính người Việt. Trước thái độ trịch thượng của Bắc Kinh, coi thường chủ quyền và mạng sống của người Việt Nam, trước sự nhu nhược của nhà cầm quyền Hà Nội, đang tỏ ra ươn hèn và khiếp sợ trước đàn anh Trung Quốc, người Việt Nam không c̣n sự chọn lựa nào khác hơn là phải bày tỏ thái độ một cách dứt khoát và mạnh mẽ. Trước hết là thể hiện "t́nh máu mủ đồng bào" đối với sự đau khổ của các gia đ́nh nạn nhân. Sau đó là phản đối chính sách bá quyền của Trung Quốc. Sau cùng là tố cáo thái độ vô trách nhiệm của nhà cầm quyền Việt Nam.

Những ai quan tâm đến t́nh h́nh đất nước đều không hài ḷng về thái độ và cách ứng xử của Bắc Kinh lẫn Hà Nội trong vụ tàu tuần dương Trung Quốc bắn chết 9 ngư phủ Việt Nam trên vùng lănh hải của Việt Nam. Hành động này không chỉ nói lên sự vi phạm chủ quyền mà c̣n mang tội sát nhân của những lính tuần dương Trung Quốc. Thế nhưng từ khi xảy ra vụ án vào ngày 8 tháng 1 năm 2005 cho đến nay, nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn giữ một thái độ trịch thượng, coi vụ bắn chết 9 lương dân vô tội Việt Nam ngay trên hải phận Việt Nam là những 'hải tặc'. Thậm chí Bắc Kinh c̣n đưa ra một số bằng chứng xảo trá nói rằng những người bị bắn chết đă cướp trên 300 mẻ cá của ngư dân Trung Quốc. Bắc Kinh không chỉ giữ xác của 9 ngư dân mà c̣n đang giam giữ 8 ngư dân khác trên đảo Hải Nam trong vụ án này. Thái độ trịch thượng và bạo lực của Bắc Kinh không chỉ mới xảy ra lần đầu mà đă có từ lâu đối với ngư dân Việt Nam, nhất là từ sau khi hai phía kư chung Hiệp định về nghề cá năm 2000 và thông qua Hiệp định Vịnh Bắc Việt năm 2004. Năm 2002 đă xảy ra một vụ xung đột lớn giữa ngư phủ Việt Nam với tàu tuần dương Trung Quốc và cuối tháng 12 năm 2004, Trung Quốc đă bắt giữ 80 ngư phủ Việt Nam mà họ cho là xâm phạm vùng lănh hải của Trung Quốc cho đến nay chưa chịu thả.

Trong khi đó, Hà Nội lại tỏ ra quá ươn hèn và khiếp nhược trước thái độ trịch thượng của Bắc Kinh. Năm ngày sau khi vụ án xảy ra, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam mới lên tiếng và chỉ yêu cầu Bắc Kinh trừng trị những kẻ đă gây ra vụ án và đ̣i bồi thường. Măi đến ngày 21 tháng 1, Hà Nội mới lên tiếng mạnh hơn một chút là tố cáo Bắc Kinh xâm phạm chủ quyền, nhưng cũng không có một áp lực mạnh mẽ nào khác để đ̣i Bắc Kinh xin lỗi và phóng thích những nạn nhân đang bị giam giữ. Trong lúc đó, Hà Nội lại chỉ thị cho Vơ Thịnh, Tổng lănh sự tại Quảng Châu cử nhân viên đến Hải Khẩu, thủ phủ của đảo Hải Nam để thăm các nạn nhân, rồi thôi. Vụ án đă xảy ra hơn 2 tuần lễ mà Hà Nội đă không có bất cứ một văn kiện chính thức nào để lên án Bắc Kinh, và nhất là không có một hành động cụ thể nào để bảo vệ đồng bào ḿnh đang bị Bắc Kinh bắt giữ, trong khi các gia đ́nh nạn nhân trải qua những ngày tháng đau buồn và tủi nhục. Phản ứng của Hà Nội phải nói là rất bất thường. Bất thường đến độ người ta không thể ngờ rằng sự ươn hèn của Hà Nội đến mức không dám đặt vấn đề với phái đoàn quốc hội Trung Quốc đang viếng thăm Việt Nam vào lúc đó, nhân tham dự cái gọi là lễ kỷ niệm 55 năm quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội với Bắc Kinh và một số nước khác vào ngày 15 tháng 1 vừa qua. Do thái độ ươn hèn này mà các bộ phận liên hệ trong vụ án đă án binh bất động và hành xử đầy lúng túng.

Theo dơi phản ứng của Bắc Kinh lẫn của Hà Nội, dư luận của người Việt Nam ở trong và ngoài nước đă bất măn lên cao độ. Sự bất măn này xuất phát từ hai lư do :


- Thứ nhất là thái độ trịch thượng của Bắc Kinh là do sự ươn hèn của Hà Nội gây ra, trong khi người Việt Nam không chấp nhận sự lên tiếng quá yếu kém của Bộ ngoại giao CSVN. Bắc Kinh vừa vi phạm lănh hải vừa sát hại ngư dân mà Hà Nội chỉ lên tiếng một cách chiếu lệ, cho thấy là lănh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đang bị tập đoàn Trung Quốc 'khống chế' không c̣n đường thoát.


- Thứ hai là người Việt Nam đă không thể hiện được trọn vẹn 't́nh máu mủ đồng bào' khi nh́n thấy sự đau khổ của các gia đ́nh nạn nhân. Lư do rất giản dị là Hà Nội không muốn ai hô hào giúp đỡ nạn nhân v́ lo sợ dẫn đến phong trào chống chế độ sau đó. Sự hẹp ḥi và ích kỷ của một thiểu số lănh đạo Hà Nội đă giết chết t́nh đồng bào của ngựi Việt ở trong cũng như ngoài nước.

Những yếu tố này càng làm cho sự phẫn nộ của người Việt đă và đang lên cao từng ngày, đặc biệt là sự nhập cuộc của giới trẻ ở trong nước và thành phần du sinh qua các trang Web Site vận động biểu t́nh trước sứ quán và lănh sự Trung Quốc tại Việt Nam. Trong khi các Cộng đồng người Việt trên toàn thế giới đă hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ tham dự cuộc biểu t́nh đồng loạt để tố cáo Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, như trên đă đề cập, thái độ trịch thượng và sự xâm phạm lănh hải của Trung Quốc không chỉ mới xảy ra lần đầu mà đă có nhiều lần, vấn đề là làm sao phải chấm dứt hiện tượng này để người Việt Nam không c̣n lo sợ Trung Quốc sát hại và lănh thổ không bị xâm phạm.

 

Những Thái Độ Của Chúng Ta

 

Trong vụ án vừa qua, Bắc Kinh và Hà Nội đă là hai ṭng phạm gây ra những đau thương và tủi nhục cho các gia đ́nh nạn nhân nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung. Do đó, thái độ của chúng ta không thể bày tỏ sự phản kháng một chiều đối với Trung Quốc mà c̣n phải đối với Cộng sản Việt Nam.

a. Thái Độ Đối Với Trung Quốc :

Không chỉ qua sự kiện vừa rồi mà nh́n vào cung cách ứng xử của Bắc Kinh về các vấn đề trên biển Đông, chúng ta thấy rằng Trung Quốc luôn luôn nuôi tham vọng bá quyền và coi thường các phản ứng chống đối của những quốc gia liên hệ từ Mă Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân cho đến Cộng sản Việt Nam và Nhật Bản. Trung Quốc đang có tham vọng đẩy mạnh các nỗ lực phát triển kinh tế để trở thành một cường quốc ở Á Châu và dùng thị trường nội địa với khối dân khổng lồ của ḿnh để bành trướng các ảnh hưởng xuống phía Nam nhằm tạo dựng một ṿng đai riêng hầu đối đầu với Hoa Kỳ và Nhật Bản trong thế kỷ 21. Do đó, Bắc Kinh sử dụng chiêu bài 'cây gậy và củ cà rốt' để ve văn khối ASEAN và đương nhiên t́m mọi cách ảnh hưởng để loại trừ dần thế lực của Nhật và Hoa Kỳ trong tương lai. Trong tiến tŕnh này, Bắc Kinh coi Hà Nội là một nước cần phải tranh thủ để thực hiện ư đồ của họ, nên đă vừa hỗ trợ, vừa khống chế như đă từng làm trong hơn nửa thế kỷ qua. Bắc Kinh vừa giúp đỡ phương tiện vật chất lẫn yểm trợ tinh thần để cho đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại ; nhưng cũng đồng thời o ép bằng nhiều mặt để Hà Nội phải đóng vai chư hầu của Bắc Kinh. Nói cách khác, Bắc Kinh đang sử dụng Hà Nội như là một lá bài cho những tham vọng bá quyền của họ xuống vùng biển phía Nam. Chính v́ rơi vào thế kềm kẹp này mà Hà Nội đă quá ươn hèn trong thái độ hành xử vụ án 9 ngư dân bị bắn chết vừa qua. Nếu chúng ta không tích cực ngăn chận th́ chỉ vài năm nữa, Việt Nam sẽ trở thành một nước chư hầu của đế quốc Hoa Lục trong thế kỷ 21. Thái độ của chúng ta cần là :


- Thứ nhất, chống lại chính sách bá quyền của Bắc Kinh bằng một phong trào tố cáo Trung Quốc đă vi phạm lănh hải và sát hại ngư dân Việt Nam. Sự vi phạm lănh hải không chỉ ở vùng Vịnh Bắc Việt mà c̣n cả vùng biển Đông, nơi mà Trung Quốc đang xây dụng các căn cứ trên quần đảo Hoàng Sa mà họ đă ngang nhiên đánh chiếm vào năm 1974, dưới thời Việt Nam Cộng Ḥa.
- Thứ hai, chống lại chính sách bành trướng lănh thổ và lănh hải xuống phía Nam của Trung Quốc bằng phong trào tố cáo Trung Quốc đă nhúng tay vào nội bộ Việt Nam, nuôi dưỡng và o ép một thiểu số cầm quyền tại Việt Nam làm tay sai cho Bắc Kinh và biến Việt Nam thành một chư hầu.
- Thứ ba, chống lại chính sách lũng đoạn thị trường và xă hội Việt Nam của Bắc Kinh, bằng phong trào tẩy chay những hàng hóa của Trung Quốc đang tràn ngập tại Việt Nam qua các đường buôn lậu nhằm giết chết nền kinh tế của Việt Nam và nhất là tạo sự hỗn loạn thị trường để khuynh loát các ư đồ chính trị tại Việt Nam.
- Thứ tư, đ̣i hỏi Bắc Kinh phải xin lỗi và hoàn trả ngay tức khắc xác nạn nhân và phóng thích nhũng ngư dân vô tội đang bị bắt, đồng thời bồi thường xứng đáng theo công pháp quốc tế. Bắc Kinh c̣n phải trừng trị thích đáng và nghiêm cấm nhân viên của ḿnh không được xâm phạm và hành xử bạo lực một cách vô lối trên các vùng lănh hải và biên giới của Việt Nam.

b. Thái Độ Đối Với Cộng Sản Việt Nam :

Sự khuynh loát và lũng đoạn của một cường quốc đối với một quốc gia bắt đầu từ bản chất tay sai và ươn hèn của thành phần lănh đạo của quốc gia đó. Nói cách khác, trong quan hệ đối ngoại giữa các thế lực cầm quyền, tính chất quan thầy xuất hiện từ thái độ nô lệ của chính quyền những nước yếu, nhất là những quốc gia độc tài. Lư do dễ hiểu là tại những nước độc tài đảng trị, người dân bị khống chế toàn diện, dưới một tập đoàn cai trị đă coi quyền lợi của phe nhóm cao hơn quyền lợi của đất nước và dân tộc. Do đó mà tập đoàn này sẵn sàng bán rẻ tài nguyên kể cả việc hiến dâng lănh thổ, để đổi lấy sự bảo hộ cho tham vọng cầm quyền trên một đất nước mà người dân sống chết ra sao không quan trọng bằng sự 'hài ḥa' với nước bảo hộ. Thảm kịch ngư dân Thanh Hóa bị bắn chết ngay trên lănh hải của ḿnh và không được chính quyền của ḿnh bảo vệ, là hệ quả tất nhiên của t́nh trạng chư hầu mà thiểu số lănh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đang dựa vào Trung Quốc để sống c̣n. Nếu là một chính quyền độc lập và có chủ quyền rơ ràng, thảm kịch nói trên phải được giải quyết nhanh chóng và những kẻ sát nhân phải bị trừng trị xứng đáng. Nhưng trường hợp này th́ ngược lại, thay v́ được chính quyền của ḿnh bảo vệ mạnh mẽ, xác của những ngư dân vắn số và những ngư dân may mắn c̣n sống đang trải qua những ngày tháng trong lao tù của kẻ sát nhân một cách đau buồn và tủi nhục. Những ai có một chút lương tâm và ḷng tự trọng dân tộc, sẽ không thể nào chấp nhận sự tủi nhục của đồng bào ḿnh nói trên, Đây không thể là h́nh ảnh của một Việt Nam trong thế kỷ 21, thế kỷ mà người ta gọi là toàn cầu hóa, công nghiệp hóa. Đây là h́nh ảnh của một Việt Nam c̣n sót lại ở đầu thế kỷ 20. Chúng ta phải có thái độ :


- Thứ nhất, phải coi thảm kịch ngư dân Thanh Hóa bị bắn chết là trách nhiệm của hai tập đoàn Bắc Kinh và Hà Nội. Chính sự ươn hèn và tay sai của Hà Nội đă để cho tàu tuần dương Bắc Kinh lộng hành trên vùng biển của Việt Nam. Do đó, chúng ta không thể chỉ tố cáo hay đ̣i hỏi Bắc Kinh bồi thường và xin lỗi mà c̣n phải tố cáo cả sự đồng lơa của Hà Nội trong việc gây nên thảm kịch này.
- Thứ hai, phải đ̣i hỏi tập đoàn Hà Nội đặt quyền lợi tối thượng của dân tộc và đất nước lên trên hết để duyệt lại các hiệp ước, hiệp định với Trung Quốc, đặc biệt là băi bỏ ba hiệp ước về biên giới (1999), hiệp định Vịnh Bắc Việt (2000) và hiệp định về nghề cá (2000). Những hiệp ước và hiệp định này là nguyên nhân đưa đến những thảm kịch hiện nay.
- Thứ ba, phải đ̣i hỏi Hà Nội đứng về phía gia đ́nh nạn nhân, cương quyết đấu tranh đ̣i hỏi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải xin lỗi và bồi thường xứng đáng, chấm dứt thái độ trịch thượng và khiêu khích nhân dân Việt Nam như hiện nay.
- Thứ tư, phải đ̣i hỏi Hà Nội để cho người dân Việt Nam có quyền bày tỏ ư kiến phản kháng về thái độ trịch thượng và ngang ngược của Bắc Kinh bằng những cuộc tụ họp biểu t́nh, mít tinh dưới mọi h́nh thức ngay tại Việt Nam. Đây không chỉ là phản ứng b́nh thường nói lên sự chia sẻ niềm đau chung giữa đồng loại với nhau trong xă hội mà c̣n là nhu cầu tối cần của quốc gia nhằm biểu hiện sức phản kháng của dân tộc trước các hành động ngang ngược của những thế lực ngoại quốc. Hành động canh chừng, ngăn cấm, hăm dọa và bắt bớ những đồng bào bày tỏ sự phản kháng đối với Bắc Kinh chính là đồng lơa với những tội ác mà Bắc Kinh đang gây ra cho dân tộc Việt Nam.

 

Kết Luận

 

Sống và chứng kiến qua nhiều thảm kịch xảy ra trên đất nuớc từ hơn 100 năm qua và nhất là đối diện với thảm kịch ngư dân Thanh Hóa bị bắn chết, chúng ta, người Việt Nam đă nhận ra một điều rằng : Không ai thương dân Việt bằng chính người Việt. Nếu muốn đất nước có tự do và độc lập, dân tộc sống hài ḥa và không bị lệ thuộc ngoại bang, người Việt Nam phải đứng lên đấu tranh bằng chính sức lực của ḿnh và chọn lựa những chính quyền theo ư nguyện của toàn dân để điều hành quốc gia. Đă đến lúc người Việt Nam ở trong và ngoài nước phải cùng nhau chia sẻ ư nguyện chung này, cùng nhau có chung những thái độ nói trên, để dễ dàng liên kết tạo dựng thành những phong trào đấu tranh chấm dứt ách độc tài Cộng sản, canh tân xứ sở.

Đoàn Hùng

 

 

 

 

 

Thanh Hóa Hi ! Con Tim Rướm Máu !
Thanh Thảo
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

 

Ḥa B́nh rồi sao dân tôi vẫn khổ
Lao động quanh mùa mà chẳng ấm no
Những mái nhà tranh xiêu vẹo đứng trơ
Cơm rau khoai sắn, bữa không, bữa có

Ḥa B́nh đến sao dân tôi vẫn khổ
Đàn con thơ, thân c̣m cơi xương nhô
Gánh trĩu đường xa mắt mẹ yếu mờ
Đổi chén gạo, mồ hôi cha tuôn đổ

T́nh người đến trong cuộc đời khốn khó
Nghĩa hy sinh mang gắn bó yêu thương
Buổi tối đoàn viên hạnh phúc lạ thường
Thấy con trẻ vui, ḷng sao sung sướng

Sáng hôm đó tiễn chồng đi biển sớm
Vợ nào hay là buổi cuối gặp nhau
Đàn trẻ thơ c̣n mê măi giấc sâu
Đâu nào kịp nói lên lời từ biệt

Sáng hôm đó trời sóng êm biển lặng
Lưới tung xa đàn cá nhảy lao xao
Súng bỗng ầm vang chim hoảng bay cao
Giặc hung dữ tràn vào thuyền bắn giết

Sáng hôm đó nước cuồn cuộn siết
Thây người nằm mắt mở trừng căm
Hận ai đây ? lũ giặc ngoại xâm ?
Hay lănh đạo ? một phường bán nước !

Sáng hôm đó đất trời bật tiếng
Vợ gào chồng con khóc kêu cha
Lăo t́m con nước mắt chan nḥa
Thanh Hóa hỡi ! con tim rướm máu !

Việt Khanh

Như tin tức khắp nơi loan truyền từ nhiều ngày trước, ngày 28 và 29 tháng giêng vừa qua, đồng bào hải ngoại tại 18 thành phố trên thế giới đă đồng loạt biểu t́nh trước các sứ quán Trung cộng để phản đối vụ tuần dương Trung Quốc giết hại 9 ngư phủ Việt Nam.

Bài thơ trên là phản ảnh tâm t́nh của những đoàn người đi biểu t́nh tại 18 thành phố lớn trên toàn thế giới : Paris (Pháp), Den Haag (Ḥa Lan), Berlin (Đức), Bruxelles (Bỉ), Tokyo (Nhật), Sydney, Perth, Adelaide (Úc), Wellington (New Zealand), Houston, Hawaii, Los Angeles, Orange County, San Francisco, Seattle, Portland (Hoa Kỳ), Vancouver và Ottawa (Canada).

Ở nhiều nơi như Ottawa, thời tiết lạnh khoảng 10 độ âm, nh́n h́nh ảnh ông cụ thả bộ chậm chạp, ai ai cũng thấy ḿnh hăng hái thêm nhờ tinh thần của bậc trưởng thượng này, chẳng quản lạnh lẽo tuyết sương, biểu lộ t́nh đồng bào ruột thịt, và biểu lộ sự bất b́nh, tức giận đối với những kẻ sát nhân, với những kẻ a ṭng. Đặc biệt hơn, có một số du học sinh Việt Nam hiện đang theo học tại các nước Canada, Pháp, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand... cũng tham dự biểu t́nh. Ở Canada, có em tâm sự là rất nóng ruột về t́nh h́nh nước nhà, nên táo bạo tham gia biểu t́nh, nhưng phải tạm giấu tên, v́ sợ bị truy xét và gặp khó khăn. Tuy ở xứ tự do mà các anh em du sinh vẫn chưa được tận hưởng không khí tự do, nhưng dầu sao các bạn cũng c̣n sung sướng hơn các bạn ở trong nước, ngày Chủ Nhật 23-01-2005 chỉ mới dự tính tham gia biểu t́nh, là đă bị bắt đưa đi biệt tích.

Đúng như thế, đồng bào trong nước cũng rất phẫn nộ nhưng không được phép biểu t́nh phản đối !

Trong các trang Web Việt Ngữ, sinh viên trong nước và du sinh khắp nơi không ngớt bày tỏ nỗi phẫn uất trước vụ sát nhân này, nhất là những vụ chuẩn bị biểu t́nh phản đối Trung Quốc đă bị lực lượng công an ch́m nổi ngăn chặn. Hàng chục ngàn người đă kư tên vào kiến nghị thư lên án Trung Quốc và nhà nước CSVN (http://biendong.org hoặc http://hdvnbtdt.org).

Trong một bức điện thư gửi trên mạng Internet, một sinh viên Hà Nội với biệt hiệu là "Sinh viên thế kỷ 21" đă viết như sau : "Sáng nay, tôi đă có mặt trước Đại Sứ Quán Trung Quốc để sẵn sàng tham gia cuộc biểu t́nh nhưng lực lượng công an và an ninh đă phong tỏa để đàn áp sinh viên với một tinh thần "Sẵn sàng hy sinh" để bảo vệ quân giết người đang nằm co ro trong Đại Sứ Quán. Chúng tôi những trí thức trẻ của thế kỷ 21, luôn luôn thừa nhận công lao to lớn của đảng và Bác trong việc tập hợp quần chúng giải phóng dân tộc nhưng giờ đây chế độ đă lỗi thời, chủ nghĩa xă hội và đảng CS là một xă hội "không tưởng", chính quyền CS là một chính quyền cực kỳ bảo thủ, độc quyền, phi dân chủ, tham nhũng, ḱm hăm sự phát triển của đất nước, xóa bỏ các quyền con người, tự do báo chí, và cực kỳ mị dân".

Một sinh viên khác, biệt hiệu là Lê Hồng Anh mô tả các quán cà phê gần Đại Sứ Quán Trung Cộng tại Hà Nội như sau : "Sáng nay, tôi ra quán cà phê trên đường Hoàng Diệu gần Đại Sứ Quán Trung quốc để theo dơi có biểu t́nh hay không. Quán cà phê hôm nay có rất nhiều khuôn mặt rất lạ, nét mặt gờm gờm nên tôi có phần hơi sợ. Tôi chỉ uống một ly cà phê trong ṿng 10 phút rồi bỏ đi bởi v́ thấy nhiều công an và dân pḥng trên đường. Theo tôi nghĩ, những tên trong quán cà phê là công an ch́m và theo cách gọi chuyên môn là "trinh sát ngoại tuyến". Thôi th́ tôi cũng vào quán Internet máy lạnh bày tỏ ư kiến của ḿnh."

C̣n tại Sài G̣n, có người mô tả như sau : "Sáng nay, chúng tôi ra 39 Nguyễn Thị Minh Khai định tham gia biểu t́nh ủng hộ việc thả ngay các ngư dân Hậu Lộc, nhưng tại Tổng Lănh Sự Trung Quốc, ở đây có bảng cấm tụ tập đông người. Công an và dân pḥng canh gác đông quá, khoảng một tiểu đội. Anh xe ôm tên Long thường đón khách trước cổng Nhà Văn Hóa Thanh Niên cho biết, khoảng 8 giờ kém 15 phút có một nhóm khoảng năm sáu thanh niên đứng trước vỉa hè Nhà Văn Hóa Thanh Niên đối diện với Lănh Sự Quán Trung Quốc trương một băng rôn giấy ghi "Yêu cầu thả ngay những dân vô tội bị bắt". Nhưng chỉ 5 phút sau, một xe 15 chỗ chạy tới chở họ đi đâu mất. Hôm nay Nhà Văn Hóa Thanh Niên tổ chức triển lăm lớn chúc mừng t́nh hữu nghị Trung-Việt vĩ đại. Vụ giết người dân vô tội là một trong những thành tựu vĩ đại đó... "

Trong cuộc phỏng vấn trên đài RFI ngày 31/1/2005, Tiến Sĩ Nguyễn Nhă, người đă dày công nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974 đă bật khóc v́ quá uất ức : "... với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi rất phẫn nộ, tôi không hiểu người Trung Quốc đă dựa vào nguyên tắc nào để xử lư như vậy. Cách nay 30 năm, khi tôi là trưởng ban tổ chức cuộc triển lăm chứng minh chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đúng vào ngày 20/1/1975, tôi đă không cầm được nước mắt khi tôi phát biểu trong lễ khai mạc đó. Nay đúng 30 năm sau, tôi cũng không cầm được nước mắt ... khi mà ... đồng bào của tôi... những ngư dân vô tội .... bị chết một cách oan ức như thế ... th́ tôi rất là phẫn nộ..." Ông đă nhắc lại hành động mà Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN năm 1958, đă kư giấy công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Ông nói : "... vụ thảm sát ngư dân Ḥa Lộc càng khiến cho chúng ta cần nhắc nhở tuổi trẻ Việt Nam về tham vọng bành trướng lănh thổ của Trung Quốc và mong rằng trong tương lai sẽ có thời cơ thuận lợi để người Việt Nam giành lại chủ quyền trên hai quần đảo này..."

Ông Nguyễn Thanh Giang và 3 linh mục Phan Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải và Chân Tín cũng quá phẫn uất trước thái độ ươn hèn của đảng và nhà nước. Ông Nguyễn Thanh Giang đă viết trong bức thư gửi ngày 26/1/2005 ủng hộ các cuộc biểu t́nh của đồng bào hải ngoại như sau : "Tôi vừa uất ức vừa hổ thẹn không có điều kiện đến đại sứ quán Trung Quốc thét vang và ném cà chua, trứng thối vào mặt những kẻ hoặc đă chủ mưu hoặc vô trách nhiệm đă để cho t́nh trạng tồi tệ đó xảy ra" và ông đă gửi đến đồng bào hải ngoại những lời hét thật to :
- Đả đảo âm mưu lấn chiếm lănh thổ và lănh hải Việt Nam của bọn ngoại bang !
- Quyết tâm bắt bọn hải quân Trung Quốc giết dân lành Việt Nam phải đền tội và phải đền bù thích đáng cho gia đ́nh các nạn nhân Hậu Lộc và Hoằng Hóa.
- Nhà cầm quyền Trung Quốc phải công khai xin lỗi nhân dân Việt Nam và phải hứa từ bỏ dă tâm xâm chiếm lănh thổ và lănh hải Việt Nam.
- Tinh thần yêu nước và ư chí ngoan cường của đồng bào Việt Nam ở trong nước và trong các cộng dồng Việt Nam ở tất cả các nước trên thế giới muôn năm !

Thanh Thảo

 

 

So sánh hai vụ nhượng đất cho Trung Hoa
Trần Gia Phụng
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

 

Nhà Mạc vào thế kỷ 16 cũng như nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội vào cuối thế kỷ 20, đă hạ bút kư kết việc nhượng đất cho Trung Hoa. Hai hành động nầy đều sai trái, và có những điểm giống nhau, nhưng cũng có những điểm khác nhau.

 

Những điểm giống nhau

 

1) Cả hai nhà cầm quyền đều cắt đất của tổ tiên để nhượng cho Trung Hoa. Việc nầy bị cấm ngặt theo điều 74 của bộ Quốc Triều H́nh Luật đă được ban hành từ thời vua Lê Thánh Tông, vào thế kỷ 15.

2) Cả hai đều tự quyền cắt đất mà không hỏi ư dân.

3) Những nhà lănh đạo Trung Hoa, dầu là Trung Hoa quân chủ hay Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), đều nuôi tham vọng bành trướng đất đai, sẵn sàng xâm chiếm Việt Nam.

 

Những điểm khác nhau

 

1) Tuy tập trung quyền lực cao nhất vào trong tay một người, hay một nhóm người, hai chế độ chính trị bắt nguồn từ hai nền văn hóa khác nhau : quân chủ dựa trên nền tảng văn hóa Nho giáo, trong khi CSVN là sản phẩm của chủ nghĩa Mác xít. Điểm khác nhau căn bản giữa hai nền văn hóa này là Nho giáo tôn trọng đạo "nhân", xem đạo nhân là đạo lớn nhất trong ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Trái lại, chủ nghĩa Mác xít chủ trương tranh đấu giai cấp, tiêu diệt hẳn nhân tính nơi con người.

2) Về mặt pháp lư, dưới thời quân chủ chuyên chế, vua độc tôn quyền lực cả hành pháp, lập pháp, lẫn tư pháp. Nói cách khác vua là luật pháp, nên không có luật pháp nào chế tài vua. Vua có quyền tự ḿnh quyết định mọi việc quan trọng.

Ngược lại, thời đại nầy là thời đại dân chủ. Trên lư thuyết, chế độ cộng sản có hiến pháp, có quốc hội. Chế độ nầy thường nói đến ư niệm "nhân dân làm chủ", hay "làm chủ tập thể". Thế mà việc kư kết hiệp ước nhượng đất là một sự kiện trọng đại, nhà cầm quyền Hà Nội không tham khảo ư kiến của nhân dân như trưng cầu dân ư, hay tham khảo ư kiến của quốc hội. Đây là một việc làm hoàn toàn vi phạm pháp luật.

3) Hoàn cảnh chính trị hai bên khác nhau. Nước Việt dưới thời nhà Mạc chia rẽ, v́ nhà Mạc đảo chánh nhà Lê năm 1527, nên nhiều người vẫn c̣n hoài Lê. Năm 1533, nhà Lê trung hưng ở miền Nam. Do đó, khi quân Trung Hoa đến đe dọa ở biên giới phía bắc, nhà Mạc lúng túng, đành phải chấp nhận nhượng đất cầu ḥa với phương bắc, để lo đối phó với phương Nam.

Trong khi đó, vào cuối thế kỷ 20, CSVN là một đảng chính trị rất kỷ luật, cai trị chuyên chế, nắm trọn quyền lănh đạo đất nước, không có đối lập. CSVN lại dễ dàng đột qụy, kư liền hai hiệp ước nhượng đất và nhượng biển, trong khi việc thương lượĩng có thể kéo dài hàng trăm năm cũng chưa giải quyết xong được.

4) Lư do cắt đất cũng hoàn toàn khác nhau. Nhà Lê trung hưng đă hai lần cử đại diện qua triều đ́nh Trung Hoa xin nhà Minh đem quân đánh nhà Mạc, nên nhà Minh mới quyết định đe dọa nước ta. Nhà Mạc ở thế phải chống trả, nhưng tự thấy sức ḿnh yếu kém, nên đành phải nhượng đất cầu ḥa. Nói cho cùng, việc làm này tuy là hạ sách, nhưng vừa cứu nguy nhà Mạc, vừa cứu nguy cả đất nước khỏi họa ngoại xâm.

Ngược lại, vào cuối thế kỷ 20, rất nhiều người ra đi sinh sống ở hải ngoại, nhưng chẳng có một người Việt Nam nào dại dột nhờ CHNDTH giúp đỡ để đánh lại chế độ trong nước. Ngày nay, trong thế bang giao quốc tế khá chặt chẽ, việc nước nầy xâm lăng nước khác không thể dễ dàng thực hiện. Việc CSVN nhượng đất không phải v́ muốn cứu nguy đất nước, mà là cứu nguy cho đảng và là cái giá phải trả về món nợ 20 tỷ Mỹ kim chiến phí trong thời gian từ 1950 đến 1978 mà CSVN đă thiếu của CHNDTH.

5) Diện tích đất đai đă bị nhượng dưới thời nhà Mạc chỉ có năm động tức năm buôn, sóc hay làng. Năm động nầy không có vai tṛ ǵ đặc biệt trong lịch sử, cũng không có tài nguyên thiên nhiên quan trọng.

Trong khi đó, diện tích đất đai do đảng CSVN nhượng cho Trung Hoa không biết được. Tuy nhiên, chắc chắn số đất đă mất phải rộng lớn hơn năm động thời nhà Mạc. Trong số mất mát nầy, có cả vùng đèo Nam Quan, tức là đèo Pha Lũy trong lịch sử. Ngoài ra, đảng CSVN c̣n nhượng cho Trung Hoa 8% diện tích thềm lục địa vịnh Bắc Việt, tương đương khoảng 10,000 km2 mặt biển. Việc này chẳng những gây thiệt tḥi về mặt giao thông, quốc pḥng, ngư nghiệp, mà c̣n làm mất rất nhiều tài nguyên dưới ḷng đất. Vừa qua, trong tháng 10-2004, báo chí loan tin một mỏ dầu mới được khám phá ở vùng biển cách Hải Pḥng khoảng 75 cây số. Không biết mỏ dầu nầy có kéo dài đến vùng biển đă mất hay không ?

6) Khả năng đ̣i lại đất lại càng khác nhau. Thời trước chưa có công pháp quốc tế. Ư niệm về biên giới với những đường ranh cố định chưa rơ ràng như ngày nay. Những bộ tộc ở năm động mà nhà Mạc đă nhượng, không theo Trung Hoa, cũng không theo Đại Việt. Họ chỉ dừng lại ở ư niệm bộ tộc, chứ chưa có ư niệm quốc gia. Nước nào mạnh th́ họ triều cống, đóng thuế. Do đó, khả năng đ̣i lại đất được bỏ ngơ, khi nào nước ta mạnh th́ có thể kéo họ về với nước ta.

Ngược lại ngày nay, với công pháp quốc tế, biên giới quốc gia giữa các nước được ghi lại rất cụ thể. Một khi đă kư kết văn bản nhượng đất, th́ rất khó lấy lại. Muốn lấy lại, phải thương thuyết lại, kư lại hiệp ước khác, mới có thể hồi hương những đất đă mất.

7) Tính chất bang giao giữa hai nước Việt Hoa trong hai thời đại không giống nhau. Ngày trước, Trung Hoa theo chế độ quân chủ. Các vua Trung Hoa chờ sẵn cơ hội để xâm lăng nước ta. Ngay nay Trung Hoa theo chế độ Cộng ḥa Nhân dân, là nước "xă hội chủ nghĩa anh em" với CHXHCNVN. T́nh anh em nầy cũng nguy hiểm không khác ǵ quân chủ phong kiến ngày xưa.

 

Kinh nghiệm lịch sử

 

1) Kinh nghiệm lịch sử lớn nhất rút ra từ hai vụ nhượng đất là phải luôn luôn đề pḥng bắc phương, dù bắc phương theo bất cứ chế độ chính trị nào. Mỗi thời đại, bắc phương có mỗi cách xâm lăng khác nhau. Dưới thời đại quân chủ, Trung Hoa đă nhiều lần sử dụng vơ lực, nhưng vô hiệu. Ngày nay CHNDTH cũng từng dùng vơ lực để xâm lăng Việt Nam năm 1979, và cũng từng thất bại. Không sử dụng được sức mạnh quân sự, CHNDTH quay qua dùng biện pháp chính trị để áp lực buộc CHXHCNVN kư kết các hiệp ước nhượng đất nhượng biển.

2) Kinh nghiệm lịch sử thứ nh́ là muốn chống lại cuộc xâm lăng kiểu mới của CHNDTH th́ phải đoàn kết dân tộc, xây dựng xă hội ổn định, mới có thể tập hợp tổng lực dân tộc chống lại bắc phương. Muốn thế, điều kiện tiên quyết là phải gạt bỏ chủ nghĩa Mác-xít. Chủ nghĩa nầy dựa trên căn bản đấu tranh giai cấp, chẳng những đă đánh đổ toàn bộ những giá trị dân tộc truyền thống, mà c̣n tiêu hủy nhân tính nơi con người, v́ đấu tranh giai cấp là đấu tranh sinh tồn, một mất một c̣n, tận diệt tất cả những giai cấp khác để độc quyền xă hội.

V́ nhà nước cộng sản chủ trương đấu tranh giai cấp, con người luôn luôn đối kháng với nhau, xâu xé nhau, giết hại lẫn nhau khiến cho xă hội trở nên bất ổn. Con người mất ḷng tin lẫn nhau, cũng như mất ḷng tin vào chế độ cai trị. Trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt, có nhiều trường hợp con cái đấu tố giết hại cha mẹ, anh em vợ chồng đấu tố giết hại nhau. Tất cả chỉ để nhắm mục đích sinh tồn. Người ta giết hại cha mẹ để sinh tồn, th́ người ta cũng có thể xẻ đất của tổ tiên nhượng cho ngoại bang để sinh tồn. Do đó, có thể nói việc nhượng đất nhượng biển vừa qua của CSVN chính là di căn của việc đấu tố cha mẹ trong cuộc Cải cách ruộng đất vào thập niên 50, xuất phát từ chủ nghĩa Mác-xít.

Tất cả mọi người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước đều đồng ư một điểm : ngày nay, nói chung phong hóa Việt Nam đang bị suy đồi, xă hội Việt Nam đang bị băng hoại. Tác nhân chính của sự suy đồi và băng hoại nầy, nếu không phải là văn hóa Mác-xít th́ c̣n ai vào đây nữa ?

Cần chú ư là các chế độ quân chủ ngày trước, dầu chuyên chế, nhưng không chủ trương đấu tranh giai cấp, lại luôn luôn đề cao tính nhân bản, tôn trọng quyền làm người. Nhờ thế, xă hội không bị phân ră thành những tế bào nhỏ luôn luôn đối kháng nhau, thù hằn nhau, mà xă hội giữ được thế liên kết ôn ḥa, thăng bằng và ổn định, nên khi nguy biến, dân chúng dễ bỏ qua những khác biệt riêng tư và tập hợp thành tổng lực của dân tộc để chống ngoại xâm và bảo vệ tổ quốc.

3) Kinh nghiệm lịch sử thứ ba là không có vấn đề "các nước xă hội chủ nghĩa anh em". Ư niệm "xă hội chủ nghĩa anh em" hoàn toàn là một ảo tưởng. Cũng không có vấn đề các nước ngoài viện trợ nước Việt Nam vô vị lợi. Người ngoại quốc đến Việt Nam là v́ quyền lợi riêng tư của họ. Đành rằng có một số người Việt Nam phản quốc, nhưng dầu sao chỉ có người Việt Nam mới thực sự yêu tổ quốc Việt Nam. Nền Đệ nhị Cộng ḥa Việt Nam sụp đổ là một bài học cay đắng cho chúng ta về đồng minh Hoa Kỳ. Hai hiệp ước vào cuối thế kỷ 20 của CHXHCN nhượng đất và biển cho CHNDTH là một bài học cay đắng khác của CSVN, mà toàn dân phải chịu thiệt tḥi. CSVN là một đảng phái chính trị theo lư thuyết ngoại bang, thành h́nh từ ngoại bang, tổ chức theo mẫu mă ngoại bang, dựa vào ngoại bang để tiến lên. Từ đó mới nhượng đất cho ngoại bang để sống c̣n.

Thử so sánh việc nhà Mạc nhượng năm động miền núi Quảng Yên, trong hoàn cảnh nội bộ chia rẽ và trong thế yếu, để mưu cầu an ninh cho đất nước, với việc đảng CSVN lănh đạo một đất nước khoảng 80 triệu dân, tập trung quyền lực toàn diện và tuyệt đối vào trong tay đảng, nhưng chỉ v́ quyền lợi riêng tư, đă nhượng biển, nhượng đất, và c̣n nhượng luôn cả chứng tích Nam Quan vang lừng chiến sử dân tộc, th́ bên nào có tội hơn trước lịch sử ?

Bộ Lịch sử Việt Nam tập 1, của đảng CSVN ấn hành năm 1971, đă nhận xét về nhà Mạc như sau : "Trước sự đe dọa của nhà Minh, Mạc Đăng Dung đă đầu hàng và đem dâng một phần đất của Tổ quốc cho kẻ thù để mong được rảnh tay đàn áp nhân dân và đối phó với phe phái đối lập trong nước. Độc lập dân tộc, toàn vẹn lănh thổ và thanh danh của đất nước, đó là những điều thiêng liêng đối với người Việt Nam tự ngàn xưa, nay bị xúc phạm v́ sự bất lực và hèn nhát của tập đoàn thống trị họ Mạc..." (tr. 291)

Những lời nhận xét trên đây thật là mạnh mẽ và đanh thép, nhưng nếu những lời nầy áp dụng cho giới lănh đạo đảng CSVN hiện nay th́ phải chăng sẽ chính xác hơn ?

Trần Gia Phụng

 

Đến lúc phải nói...
Bùi Xuân Quang
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

Đúng. Chúng ta là một dân tộc xấu số. Nhưng đă xấu số th́ không thể than văn với ai. Hoặc người ta không thèm nghe, hoặc người ta sẽ lườm một cái : "Có dân tộc khác đau khổ hơn các anh nhiều !". Thật vậy, lúc gần 300 000 người chết v́ cơn sóng vĩ đại tại Đông Nam Á, lúc chung quanh vùng Trung Đông mạng người không có ǵ là đáng kể, lúc ở Phi Châu trẻ em không thể lớn, không có ngày mai, v́ nghèo đói, bệnh tật, th́ những tiếng nói đ̣i tự do, đ̣i quyền làm người có thể bị lạc lơng, "không ăn khớp với thời sự ".

Vâng, đúng vậy. Nhưng chúng ta không phải là những người dễ bị "chết đuối trong một ly nước", tôi biết, gần 30 năm sau đi cải tạo, hoặc lúc đă bị hành hạ tinh thần đến độ khủng hoảng, có những người không thể quên. Họ sống lại một phần, c̣n một phần trong con người đă bị dập nát. Nhân loại không thể nào cho rằng đang tiến trên con đường văn minh nếu bỏ quên Auschwitz. Nếu đem so sánh những cuộc diệt chủng "thường xuyên", với cuộc diệt chủng Do Thái bởi Đức Quốc Xă th́ thật khó mà so sánh. Nhưng mỗi một con người chỉ có một mạng sống, một trái tim, một khối óc. Mỗi một con người phải có quyền sống, phải có quyền làm người, phải được bảo vệ. Xâm phạm đến một mạng sống là phải ra trước ṭa án, giết người v́ lư do chủng tộc, tôn giáo, ư thức hệ, đáng được đưa ra ṭa án quốc tế, ṭa án nhân loại, v́ xâm phạm đến nhân loại.

Nhân tính của con người đẩy nhân loại tiến tới trên con đường văn minh. V́ phận sự của nhân tính là tự bảo vệ thân xác, con tim, khối óc. Ai xâm phạm đến thân xác, con tim, và khối óc của chúng ta là tội phạm, không những chỉ đối với cá nhân chúng ta mà c̣n đối với lề luật của một xă hội văn minh.

Một bà bạn Pháp, bác sĩ, chuyên về những phương cách để làm bệnh nhân bớt đau đớn, nói với tôi rằng nếu bác sĩ làm cho bệnh nhân bớt đau, th́ phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả tối đa (xem công việc của các bác sĩ trong nhóm Douleurs sans frontières - DSF- trên Internet). Con người có thể chết v́ đau đớn, buồn phiền. Chúng ta ai cũng biết, nhưng ít người hành xử với ḷng bác ái, từ bi, với kẻ khác.

Trong những thời kỳ đau đớn nhất của lịch sử của một quốc gia, ví dụ như ở Pháp, lúc bị quân đội Đức xâm chiếm, rất có ít người chịu hy sinh, kháng chiến. Chúng ta không có lư do để quá đau ḷng khi thấy một số lớn bà con, bạn bè thân thiết khiếp sợ bạo lực, khiếp sợ đến nỗi hiện đang ở cái xứ của Nhân quyền này mà cũng không dám "dính líu" với vấn đề quyền làm người ở tại quê nhà.

Trong lúc vết thương của dân tộc chưa hàn gắn và c̣n rỉ máu, th́ thái độ của một Nguyễn Cao Kỳ đă đụng chạm đến tim, đến ḷng của những người c̣n trung thành với quân đội VNCH, với tướng Nguyễn Cao Kỳ của thủa xưa. Ông Nguyễn Cao Kỳ đă đụng chạm đến vết thương ḷng của những người bạn xấu số của ông. Không cần nói đến thái độ không ư thức chính trị, và nếu có ư thức, th́ có thể nói là phản bội với quá khứ của ông, phản bội đối với đồng bào Miền Nam của chế độ cũ, và những đồng bào Miền Bắc nạn nhân của chế độ cộng sản.

Những người lính cũ của Miền Nam mong kiếm được tiền để sửa xây nghĩa trang của những người lính đă hy sinh cho tự do hiện đang bị tàn phá, th́ ông Nguyễn Cao Kỳ đề nghị chi tiền để sửa chữa lại cái nghĩa trang nói trên. Tôi mong những người trong quân đội cũ không x̣e tay lấy tiền của ông Kỳ để làm chuyện này.

C̣n phải nghĩ ǵ về thái độ và hành động một Thích Nhất Hạnh ? Ở Tây phương, có người nói đến Thích Nhất Hạnh như là một nhân vật của Phật giáo đứng liền sau Đức Đạt Lai Lạt Ma ! V́ sao ? Chỉ v́ hiện giờ một số không ít người Tây Phương đang bị khủng hoảng tinh thần, đi t́m những liều thuốc để xoa dịu, hoặc đánh bóng cho cuộc sống buồn tẻ, thấy "sắp chết đuối trong một ly nước", v.v. Tây phương đă trải qua một thời gian đi t́m chân lư "new age", với những cuộc hành hương đến địa đàng Katmando, với phong trào "hippy". Bây giờ, đến lượt của đạo Thiền, và Thích Nhất Hạnh giảng đạo với phương pháp "new age kéo dài", lấy cái hay của đạo này ráp vào cái hay của đạo nọ. Những người đồ đệ của sư Nhất Hạnh không phải từ khước nguồn gốc Thiên Chúa Giáo của ḿnh mà lại được thêm một cái đạo mới. Không khác ǵ khi chúng ta thấy bệnh nhân hiện giờ mua thuốc càng ngày càng nhiều và mong đợi những thứ thuốc mới. Có lẽ v́ lư do ấy mà vị thiền sư người Việt đă được tôn sùng như một vị thánh sống. Từ 50 năm sống trên đất Pháp, nhiều người bạn của tôi đi học thiền với Thích Nhất Hạnh, tôi không bao giờ chê bai hoặc khuyến khích, v́ đi t́m một đời sống tinh thần trong sáng là một chuyện rất tốt đẹp và mỗi người phải tự chọn lựa con đường riêng của ḿnh, khó mà ai có thể chỉ đường cho những người chung quanh. Nhưng lúc thầy Thích Nhất Hạnh tổ chức tại New York một buổi thuyết tŕnh liền sau vụ tấn công 11 tháng 9, khuyên răn người dân Mỹ phải bớt bỏ thù hận, và phải ăn năn v́ trong quá khứ, tại Bến Tre, quân đội Mỹ đă phạm tội diệt chủng, tôi thấy không nên ngần ngại chia sẻ cùng quư bạn một vài ư nghĩ.

Không một nhân vật nào đứng lên tố cáo thái độ lợi dụng cơ hội một cách lạ lùng của một nhà truyền đạo Thiền tiếng tăm ở Tây phương. Thích Nhất Hạnh, với buổi thuyết tŕnh về 11/9, đă đưa xin giấy phép trở về nước một cách bán chính thức. Và nhà giảng dạy luân lư chuyên nghiệp này đă trở về Việt Nam lúc cơ hội thuận tiện nhất, một cơ hội chờ đợi đă 40 năm nay. Và nhất là thời điểm then chốt cho Đảng Cộng Sản Việt Nam để mong dẹp tắt tinh thần đ̣i độc lập của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, để mong trườn ra khỏi cái bẫy dân chủ từ ngoài nước vào trong nước.

Nếu bạn là người lính của quân lực VNCH, bạn sẽ có cảm tưởng Nguyễn Cao Kỳ đâm những nhát dao găm sau lưng bạn ; nếu bạn là người tín đồ Phật Giáo mong được hoàn toàn độc lập để t́m thấy con đường chân tu giải thoát, bạn cũng sẽ đau nhói v́ thái độ cơ hội của Thích Nhất Hạnh ; nếu bạn là người trong nước đang hy sinh đấu tranh cho đất nước tiến tới dân chủ, bạn sẽ có cảm tưởng bị sóng nước bần hèn lôi cuốn.

Bao nhiêu năm rồi, người dân Việt Nam không được nghe một câu nói chín chắn từ ban lănh đạo CSVN ? Tất cả cái ǵ cản trở cho sự thăng tiến của nền dân chủ là do sự bần hèn của những người không ít th́ nhiều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Trong bài "Tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen", Dương Thu Hương giải thích sự hèn nhát của những người trong quá khứ là những anh hùng, nhưng đối với những người luôn luôn là hèn nhát th́ có lẽ không cần phải giải thích. Lúc kháng chiến, chiến tranh, Cộng sản Việt Nam khai thác ḷng yêu nước, can đảm, hy sinh. Thời "kinh tế thị trường", Cộng sản Việt Nam khai thác tính bội phản, ươn hèn, vị kỷ.

Một số nhân vật tranh đấu cho tự do dân chủ vừa được trả tự do. Trước bước tiến của thời đại, trước sức ép từ trong và ngoài nước, Cộng sản Việt Nam lần lần phải đi vào giai đoạn tế nhị và hiểm ác hơn là bỏ tù, đày đọa theo phương pháp độc ác của Staline, của Mao. Cộng sản Việt Nam đang dựa trên sự hèn nhát và sai lầm chiến lược của chúng ta.

Trong một nước tang tóc như Iraq, người dân Iraq vẫn vượt qua được sợ hăi v́ khao khát dân chủ đă 50 năm. Cuộc bầu cử tại Iraq vừa qua là một gương sáng cho mọi dân tộc bị đàn áp, bị khủng bố, một bài học cho những kẻ chỉ biết sống cơ hội và hèn nhát, cho những người không bao giờ đặt ḷng tin nơi con người.

Bùi Xuân Quang

 

Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ kỳ 2
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

Sự kiện Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam trên Vịnh Bắc Bộ đă xảy ra đúng một tuần sau khi Hội Nghị Diên Hồng Hải Ngoại Bảo Toàn Đất Tổ kỳ 2 kết thúc. Đây là một hội nghị quan trọng, quy tụ các tổ chức, đoàn thể, các sử gia, chuyên gia Việt Nam khắp thế giới nhằm bàn thảo về nỗ lực tranh đấu bảo toàn đất tổ của dân tộc Việt Nam.

Thấm thoát mà đă 2 năm kể từ khi Hội Nghị Diên Hồng Bào Toàn Đất Tổ lần đầu tiên được triệu tập. Từ đó đến nay, biết bao sự kiện dồn dập xảy ra, vấn đề nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam đă cuốn hút mọi người vào những vấn đề thời sự này. Tuy nhiên, mối hờn dâng đất nhượng biển cho Trung Quốc của đảng và nhà nước CSVN vẫn luôn là một mối quan tâm sâu xa trong ḷng người dân Việt Nam. Do đó, mặc dù Hội Nghị Diên Hồng kỳ 2 được tổ chức vào ngày 1 và 2 tháng Giêng năm 2005 tại khách sạn Coast thành phố Anaheim, Nam California, lúc thế giới đang đón mừng năm mới, hơn 130 người vẫn cố gắng t́m về với nhau để thực hiện lời hứa của hai năm trước, phải cùng nhau suy nghĩ những việc phải làm để bảo toàn quê cha đất tổ. Trưởng ban tổ chức là các ông Đoàn Thế Cường, Nguyễn Trọng Việt, Nguyễn Tấn Lạc. Ban tổ chức hân hoan đón nhận sự góp sức của nhà văn Quyên Di trong phần giới thiệu chương tŕnh.

Đại hội khai diễn lúc 9 giờ sáng ngày 1-1-2005 với nghi thức chào quốc kỳ và lễ dâng hương do quư vị lănh đạo tinh thần của các tôn giáo. Đức Tổng Giám Mục Mai Thanh Lương đă đọc lời khấn nguyện trước bàn thờ quốc tổ. Sau diễn văn chào mừng đại hội của ông Nguyễn Trọng Việt là phần phát biểu và tham luận của 4 nhà đấu tranh dân chủ trong quốc nội. LM Phan Văn Lợi vẫn mạnh dạn lên án đảng và nhà nước CSVN bán nước ; ông Trần Khuê, mặc dù đă bị bắt ngay sau khi phát biểu tại hội nghị lần trước và vừa được trả tự do, vẫn tiếp tục lên tiếng đ̣i hỏi dân chủ v́ đó chính là ch́a khóa để chính quyền và toàn dân có thể gắn bó để cùng nhau bảo vệ đất nước. Tiếng nói thứ ba gửi đến đại hội là ông Hà Sĩ Phu, ông cũng đ̣i hỏi nhà nước CSVN phải công bố rơ ràng nội dung các bản hiệp định chứ đừng lén lút kư kết với đàn anh Trung Quốc mà bỏ dân tộc. Và sau cùng là anh Phương Nam Đỗ Nam Hải, tuy đang bị công an theo dơi rất chặt chẽ, anh vẫn không hề khiếp sợ và đă góp tiếng nói của ḿnh với Hội Nghị, anh cũng khẳng định rằng chỉ có tự do dân chủ mới có thể giúp cho toàn dân Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lănh thổ.

Mở đầu chương tŕnh sinh hoạt chính thức của Hội Nghị là phần báo cáo hoạt động của Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ tại Úc châu, Âu châu và Bắc Mỹ.

Trong phần tham luận khoáng đại, luật sư Nguyễn hữu Thống đă tŕnh bày những khía cạnh pháp lư việc nhà cầm quyền CSVN nhượng đất và biển cho CS Trung Quốc. Ông lên án 3 hiệp ước về biên giới, về đánh cá, về khai thác dầu hỏa vùng biển Đông đă làm tổn hại đến quyền lợi đất nước.

Cựu đề đốc Đinh Mạnh Hùng thuộc Ủy Ban Bảo Vệ Bờ Cơi VN (vùng Washington DC và phụ cận) lên tiếng trước hội nghị "đ̣i hỏi Trung Quốc trả lại đất đai CSVN đă dâng cho họ", và đề nghị hội nghị không chỉ tố cáo CSVN dâng đất dâng biển cho Trung cộng, mà c̣n tiến tới những hành động cụ thể nhằm giải thể chế độ CSVN. Ông khuyên hội nghị kết hợp việc bảo toàn đất tổ, với những dấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở quê nhà, bảo vệ môi sinh, lưu tâm đến việc chuyển tải tin tức cho đồng bào quốc nội, ..v..v.

Bác sĩ Trần Đức Tường, Ủy viên trung ương Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, đă tŕnh bày về t́nh h́nh Việt Nam trong thời gian qua, với những tranh chấp gay gắt trong nội bộ và đang làm suy yếu CSVN, đặc biệt là vụ Tổng Cục 2 vẫn c̣n đang tiếp diễn.

GS Nguyễn Ngọc Bích, một nhà ngôn ngữ học, thuộc Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt Tại Hoa Kỳ, nguyên giám đốc chương tŕnh phát thanh Việt ngữ của đài Á Châu Tự Do, đă kết thúc phần tham luận khoáng đại với những gợi ư về việc vận động những tương quan quyền lợi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, giữa Việt Nam với các nước Á châu như Nhật, Đài Loan, Nam Hàn trong vùng biển Đông.

Buổi chiều thứ bảy 1-1-2005 là phần thảo luận chuyên đề với 6 đề tài :
- cộng đồng : với phần tham luận của 3 diễn giả là ông Trần Nghị (Cộng Đồng Người Việt tại Houston), ông Nguyễn Đức Nhiệm (Cộng Đồng Người Việt tại Philadelphia), ông Nguyễn Đắc Trung (Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS tại Ḥa Lan).
- truyền thông : với phần tham luận của nhà báo Trần Phong Vũ (Nguyệt San Diễn Đàn Giáo Dân) và nhà văn Chu Tất Tiến.
- nhân quyền và giới trẻ : với phần tham luận của anh Nguyễn Hoàng Thanh Tâm (Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường), chị Nguyễn Huỳnh Thanh Giang và anh Tạ Ngọc Khôi (đại diện dân biểu Loretta Sanchez)
- sử địa : với phần tham luận của sử gia Trần Gia Phụng và hạm trưởng Vũ Hữu San.
- môi sinh : với phần tham luận của Kỹ sư Nguyễn Minh Quang và Tiến sĩ Mai Thanh Truyết thuộc Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam
- chính trị với phần tham luận của Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh và Giáo sư Nguyễn Hồng Dũng (Việt Nam Quốc Dân Đảng, San Jose)

Phần hội nghị khoáng đại chiều thứ bảy đă trở lại với phần đúc kết các thảo luận trong các chuyên đề và với phần giới thiệu, phát hành Tập San Nghiên Cứu trước toàn hội nghị của GS Lưu Trung Khảo. Tập San Nghiên Cứu là một cố gắng của Khối Nghiên Cứu nhằm cung cấp một phương tiện để chuyên chở những công tŕnh biên khảo, nghiên cứu, suy tư về nhiều lănh vực của các nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước. Tập san lần này đă được sự đóng góp của 19 tác giả với 20 bài viết.

Buổi tối thứ bảy, các đại biểu tham dự bữa tiệc tân niên tại nhà hàng Emeralbay cùng với một số quan khách địa phương, đặc biệt có sự hiện diện và phát biểu của ông Lou Correa, tân Giám Sát Viên của Quận Cam và TS Nguyễn Lâm Kim Oanh, ủy viên giáo dục của học khu Garden Grove, Nam Cali. Buổi tiệc tân niên được sự tham gia tŕnh diễn những nhạc phẩm đấu tranh của ban Tù Ca với nhạc sĩ Xuân Điềm, cũng như các ca nghệ sĩ thuộc Hội Cổ Nhạc Miền Nam và các nghệ sĩ khác tại địa phương. Cũng trong buổi tiệc này, tập san Nghiên Cứu của Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ đă được giới thiệu và phổ biến đến quan khách và đồng hương.

Sáng chủ nhật 2-1-2005, hội nghị đă thảo luận về bản Nội Quy điều hành để kiện toàn phương thức phối hợp giữa các cộng đồng, đoàn thể v.v... trên thế giới và Hội Nghị đă đề cử thành phần điều hành của các khu vực cũng như của Ủy ban Phối Hợp Hành Động cho nhiệm kỳ mới. Tiếp theo, Hội Nghị đă thảo luận sôi nổi về bản Tuyên Cáo của Hội Nghị do ban soạn thảo gồm GS Nguyễn Ngọc Bích, TS Mai Thanh Truyết, LS Nguyễn Hữu Thống và DS Nguyễn Đức Nhiệm đệ tŕnh. Bản tuyên cáo đă được toàn thể hội nghị thông qua. Sau cùng, ông Nguyễn Trọng Việt đă giới thiệu phối trí viên của các khối nghiên cứu của Hội Đồng Việt Nam Bảo Toàn Đất Tổ gồm có :


- Khối Luật Pháp : LS Nguyễn Xuân Phước
- Khối Sử Địa : GS Trần Gia Phụng
- Khối Môi Sinh : TS Mai Thanh Truyết
- Khối Chính Trị : GS Lưu Trung Khảo
- Khối Truyền Thông : GS Nguyễn Ngọc Bích

Hội Nghị bế mạc lúc 1 giờ trưa chủ nhật 2-1-2005 sau phần họp báo.

Sau đây là danh sách các thành viên của Ủy Ban Phối Hợp Hành Động nhiệm kỳ 2005 - 2008 :


- Bắc Mỹ : Ông Dương Văn Anh (Canada), Ông Nguyễn Tiến Cảnh (Florida), Ông Trần Quán Niệm (Virginia), Ông Phạm Quốc Hùng (Bắc California), Ông Nguyễn Trọng Việt (Nam California).
- Âu Châu : Ông Nguyễn Đắc Trung (Ḥa Lan), Bà Nguyễn thị Thanh Vân (Pháp), Ông Nguyễn Thanh Văn (Đức), Ông Trần Văn Ṭng (Anh)
- Úc Châu : Anh Nguyễn Hoàng Thanh Tâm
- Á Châu : Ông Nguyễn Phương Khanh

 

 

Suy Tư và Ước Vọng : Đôi lời về tác giả và tác phẩm
Đỗ Mạnh Tri
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

Tên tuổi Nguyễn Thanh Giang, tiếng nói ôn tồn, trí thức nhưng bừng bừng nhiệt huyết của Nguyễn Thanh Giang cho tự do, nhân phẩm, nhân quyền ; những ư kiến xây dựng giàu tính thuyết phục của Nguyễn Thanh Giang cho dân, cho nước và cả cho đảng CSVN, quư vị và các bạn ở đây đều đă nghe, đă đọc. Hôm nay, nhà xuất bản Quê Hương cho phép chúng ta có trong tay một số bài viết vào những năm áp chót thế kỷ 20 và những ngày đầu thiên niên kỷ thứ ba, do chính tác giả Nguyễn Thanh Giang chọn lọc và sắp đặt.

 

1. Suy tư và Ước vọng : một tên sách hiền hoà, gần như vô thưởng vô phạt.

 

Đă là người, ai không ước muốn, hy vọng và không suy nghĩ ḥng t́m cách thoả măn những ước vọng của minh ? Nhưng với Nguyễn Thanh Giang và những chiến sĩ dân chủ trong nước, suy tư và ước vọng hàm chứa một sự dồn nén, một nỗi u uất khôn nguôi. Ngay trong Lời nói đầu, Nguyễn Thanh Giang kể : khi kháng chiến chống Pháp chuyển mạnh sang Tổng phản công, anh đang công tác trong ngành giáo dục th́ khăng khăng xung phong đi bộ đội. Anh mơ ước xả thân, cho dù chỉ làm quân độn, để giải phóng quê hương. Mấy vần thơ anh sáng tác hồi đó :

Ước làm một nhịp cầu
Dù trưa mai đổ gục
Đêm nay trăm toa tầu
Lao trên ḿnh sầm sập

Sau này, những năm trèo đèo lội suối làm công tác địa chất, Nguyễn Thanh Giang "vẫn cồn cào trong ngực những hoài băo thật thiêng liêng". Mấy vần thơ khác, cũng trong Lời nói đầu :

Tổ quốc ơi ! Sau trầm luân thế kỷ
Cần bao nhiêu vàng đựng túi ba gang ?
Ước xoè tung đôi cánh đại bàng
Vượt trùng dương,
dẫu gồng lưng vác nặng
Lật tầng đất xạm đen dạn dày bom đạn
Cho ánh kim soi rạng mặt tương lai

Lạc quan và bừng bừng dũng khí ! Dễ hiểu. Tuổi trẻ là thùng thuốc nổ. Chỉ đợi một cái ng̣i. Khi cái ng̣i ấy lại mang bộ áo huy hoang của lư tưởng, th́ những thanh niên, thanh nữ, những Trần Độ, Xuân Quư, Bùi Minh Quốc chen chúc nhau lên đường.

hai mươi khi nghĩa đời đă thấy
Th́ gian lao biết mấy cũng lên đường.

Bùi Minh Quốc

Chàng thanh niên Nguyễn Thanh Giang cũng thế. Sống chết cho Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, có ǵ đẹp hơn ? Nhưng cũng như Bảo Cự, Bùi Minh Quốc, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn... Nguyễn Thanh Giang cay đắng thú nhận trong Lời nói đầu :

hế rồi... không biết tự bao giờ, có thể từ một đêm ngủ rừng gần ga Pom Hán hay Diêu Tŕ nào đó, nghiêng tai vào tĩnh lặng "để lâu lâu c̣i rúc nghe rền rĩ" từ những đoàn tàu, tôi bỗng giàn giụa nước mắt liên tưởng đến Tổ quốc tôi :
Tôi thấy tôi thương những con tàu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có ǵ vướng víu trong hơi máy
Mấy chuyến toa đầy, nặng khổ đau

(Thơ Tế Hanh)
.

 

2. Độc lập, Tự do, Hạnh phúc :

 

Ước muốn mănh liệt của dân tộc đă bị một chính quyền ma mănh, độc ác, lừa đảo vận dụng và lợi dụng vào những mục tiêu đen tối. Bao nhiêu xương máu để rồi độc lập thành công cụ giết chết tự do, chôn vùi hy vọng. Đến nỗi 25 năm sau ngày 30/04/1975 Dương Thu Hương phải viết : "Xấp xỉ một phần tư thế kỷ nhưng những người nông dân mặc áo lính vẫn đứng dưới ruộng bùn. Bóng cuộc chiến tranh đổ xuống ngôi đền cho bọn cướp bóc trú ngụ, c̣n đám người ngu ngơ nhát nhúa vẫn sống bởi ánh hồi quang của những chân trời đă mất, bởi niềm tự an ủi "sống khổ nhục c̣n hơn là chết". Và như thế, nền dân chủ càng bị đẩy lui về phía xa, cơ hội xây dựng một xă hội văn minh càng mờ mịt. (...) Con chim (hoà b́nh) chưa bay tới xứ sở của chúng ta, những kẻ yên tâm lội dưới bùn, những kẻ thờ ơ với chính máu ḿnh đổ ra, ngoan ngoăn chịu đựng mọi sự cướp bóc, hài ḷng với bát cơm chan nước mắm cua đồng, chưa bao giờ dám mở to mắt để ngắm nh́n và ước ao cuộc sống như một giá trị đáng phải có".

Tại sao ra nông nỗi này ? Nguyễn Thanh Giang nhận xét : "Chính v́ Đảng chỉ v́ Đảng, chính quyền chỉ v́ chính quyền (...) cho nên quần chúng và, kể cả đảng viên, nếu không vùng lên đấu tranh th́ cũng thái độ chán chường, thờ ơ, lănh đạm", và nhắc lại lời nhà chí sĩ Phan Bội Châu trong Hải Ngoại Huyết Thư :

Một là vua sự dân chẳng biết
Hai là quan chẳng thiết ǵ dân
Ba là dân chỉ biết dân
Mặc quân, mặc quốc, mặc thần, mặc ai
(tr. 61)

Vậy phải bước ra khỏi vũng lầy đă thành nếp sống quen thuộc, phải phá vỡ cái cũi của thờ ơ lănh đạm ; phải đánh thức hy vọng, làm sống lại những hoài băo lớn lao của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Phải giải phóng ƯỚC VỌNG ! Và suy tư. Suy tư v́ ước vọng. Suy tư, nghĩa là hiên ngang đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ, theo lối nói của HSP. Suy tư, nghĩa là sẵn sàng trả giá trong một chế độ cấm suy tư, một chế độ trong đó người dân chỉ có quyền nghĩ theo, không có quyền nghĩ khác. Suy tư, nghĩa là tim phải lớn để có gan dùng cái đầu của ḿnh, trong một chế độ chỉ thực sự nghiêm khắc với những 'tội' từ cằm trở lên. Nguyễn Thanh Giang nói : "Tôi chỉ làm nô lệ cho cái đầu của tôi".

 

3. Nguyễn Thanh Giang đă và đang ngang nhiên làm nô lệ cho cái đầu của anh thế nào ?

 

Xin đọc mấy ḍng trích từ lá thư ngày 05 tháng 05 năm 2000 gửi Quốc hội nước CHXHCNVN, yêu cầu xử lư Công an và Cán bộ Tư tưởng/Văn hoá v́ tội bắt giữ anh ngày 04/03/1999 và sau khi thả anh c̣n vu khống và bôi nhọ anh :

"Tôi là Nguyễn Thanh Giang, sinh năm 1936, tham gia cách mạng từ Kháng chiến chống Pháp. Vốn là một cán bộ khoa học tự nhiên, những đóng góp của tôi trong quá tŕnh công tác chủ yếu thuộc ngành giáo dục và khảo cứu địa vật lư. Tuy nhiên, do ư thức trách nhiệm công dân thôi thúc mạnh mẽ, hơn mười năm qua tôi thường viết một số bài mang tính chính luận gửi cơ quan ngôn luận và các đồng chí lănh đạo tham gia bàn bạc những vấn đề quốc kế dân sinh. Tuy tŕnh độ hạn chế do chỉ được học chính quy vê khoa học tự nhiên, nhưng thực tế những ư kiến phát biểu của tôi đă từng đóng góp không nhỏ giúp sửa đổi một số văn kiện lớn và điều chỉnh một vài chủ trương, chính sách chưa thật đúng đắn của Đảng và Chính (tr.205).

Nguyễn Thanh Giang là nhà khoa học tự nhiên, chuyên về địa vật lư. Những công tŕnh nghiên cứu của anh được giới đồng nghiệp thế giới trân trọng. Vợ và hai con cũng là cán bộ cao cấp của chế độ ; con trai thạc sĩ địa vật lư, con gái thạc sĩ về dân số học (xem tr.234). Anh và gia đ́nh anh đă công thành danh toại trong chế độ. Anh và gia đ́nh anh cũng không hề làm điều ǵ trắc trách, trái với lương tâm. Tại sao không tiếp tục phục vụ trong lănh vực chuyên môn của ḿnh ? Tại sao không an phận làm công tác thuần tuư khoa học ? Như người ta thường nói : thuần tuư tôn giáo, thuần tuư nghệ thuật, thuần tuư văn chương... Nhưng nếu thế th́ c̣n ǵ ư thức trách nhiệm ? Hai chữ 'thuần tuư' cao đẹp cũng có khi thành lá chắn cho hèn nhát. Tránh voi chẳng hổ mặt nào. Nhưng nếu không dám "mở to mắt để ngắm nh́n và ước ao cuộc sống như một giá trị đáng phải có", tưởng cũng không nên nhân danh khoa học, tôn giáo hay văn chương nghệ thuật để bào chữa cho sự sợ hăi của ḿnh. Nguyễn Thanh Giang mở to đôi mắt. V́ ư thức trách nhiệm công dân thôi thúc, anh mạnh mẽ lên tiếng về những vấn đề bên ngoài lănh vực chuyên môn của ḿnh. Ở điểm này anh vừa tiêu biểu cho người trí thức của thời đại, vừa nối tiếp thái độ sĩ phu của truyền thống. Người trí thức không chỉ là người giàu có về kiến thức. Kiến thức (khoa học, kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật..) chuyên môn đến mấy đi nữa cũng không làm nên người trí thức. Người trí thức là người vượt ra ngoài lănh vực chuyên môn của ḿnh để nói lên với tinh thần trách nhiệm và tất cả sự huy động của tri thức, những đ̣i hỏi của lương tri. Tất nhiên, làm thế là tự cho ḿnh cái quyền có thể nói sai. Nhưng không có quyền nói sai, làm sao có thể có quyền nói đúng ! Nhân vô thập toàn. Có đúng, có sai mới cần trao đổi, nghị luận, tranh luận, đối thoại ḥng đi tới gần sự thật và t́m ra lẽ phải. C̣n như phải trả giá, th́ Nguyễn Thanh Giang quá biết. Cũng trong Lời nói đầu, anh viết :

"Dẫu rằng v́ những ḍng suy tư này mà tôi từng chịu bao nhiêu lao lung, khổ ải, tôi vẫn không thể quên lời nhà chí sỹ Phan Bội Châu :

Sinh vi nam tử yếu hy kỳ
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di !
Ư bách niên trung tu hữu ngă
Khởi thiên tái hậu cánh vô thùy

Nghĩa là :

Đă sinh ra làm trai th́ cũng phải khác đời
Lẽ nào cứ để trời đất xoay vần ra sao cũng mặc
Trong khoảng trăm năm đă có ta (th́ ta phải gánh vác lấy công việc)
C̣n như chuyện ngàn năm sau th́ có người sắp tới".

Đúng là tinh thần kẻ sĩ. Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh. Huống ǵ khi giặc đến từ nhà, ở ngay trong nhà. Không riêng ǵ nam nhi, tất cả mọi người, đặc biệt những con người có ăn có học không thể đành nhắm mắt đưa chân mà xem con tạo xoay vần ra sao. Hà Sĩ Phu, trong mấy ḍng kết bài Đôi điều suy nghĩ của một công dân thổ lộ : "Tôi cũng toan xé bài viết này đi, v́ nghĩ ǵ, nói ǵ cũng đều vô nghĩa cả. Nhưng chợt nh́n vào những thứ ḿnh đang ăn đang mặc hàng ngày, nh́n vào cuốn sách đang xem, tôi tự biết ḿnh là kẻ đă được ăn chịu ở 'Quán đời' này quá nhiều, nếu thản nhiên rũ áo ra đi th́ hóa ra thằng ăn quịt, giữa buổi 'kinh tế thị trường' ! Nên đành phải nói tiếp câu chuyện trần tục". Tâm trạng của công dân Nguyễn Thanh Giang không xa tâm trạng HSP. Trong câu kết Lời nói đầu của Suy tư và Ước vọng anh tha thiết : "Tôi vẫn ngày đêm không thể không trăn trở cùng tấc ḷng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu : "Non non nước nước chưa quên lời thề"

Kính thưa Quư Vị, thưa các Bạn

V́ thời gian có hạn, tôi đă hạn chế cảm nhận của tôi vào tên sách và Lời nói đầu của tác giả Nguyễn Thanh Giang. Xin mời Quư Vị và các Bạn khám phá nội dung của 13 bài tiểu luận, bao trùm hầu hết những vấn đề cốt tử của đất nước : Tinh thần Việt Nam, Người Việt hải ngoại, Hội nhập và Chủ quyền, Hội nhập và Dân chủ ; những vấn đề về Nhân quyền, về Giai cấp công nhân Việt Nam, về vai tṛ của doanh nghiệp nhà nước và có lẽ đáng lưu ư hơn cả, tầm quan trọng của hàm lượng trí tuệ trong lao động, và v́ thế của kinh tế tri thức trong vấn đề phát triển đất nước. Đọc Nguyễn Thanh Giang có thể đồng ư hay không đồng ư nhưng phải công nhận tất cả được viết ra, hay đúng hơn được nói lên với tấm ḷng thiết tha v́ dân v́ nước ; lư luận lúc nào cũng dựa trên những dữ kiện khách quan và hàm chứa một lượng kiến thức thông tin dồi dào, chính xác.

Bên cạnh các bài tiểu luận, c̣n một thiên kư sự, một bài phỏng vấn và 8 lá thư giúp ta biết thêm về hành tŕnh tranh đấu của Nguyễn Thanh Giang, về những khổ ải anh và gia đ́nh anh đă và đang gánh chịu, về những người bạn dân chủ anh cùng sát cánh. Trước hiện t́nh đất nước, những lá thư này cũng như những tiểu luận kia góp phần củng cố xác tín của chúng ta về tiền đồ dân tộc, về sự tất thắng của con đường dân chủ. Cảm ơn Nguyễn Thanh Giang và những chiến sĩ dân chủ trong nước.

Đỗ Mạnh Tri

 

Ḷng tự trọng của người ăn cắp
Phạm Việt Vinh
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

Dưới đây là những ḍng thư của một người cha từ Nghệ An gửi cho đứa con trai đang xin tỵ nạn tại CHLB Đức :

"... Ở nhà rất thương con và cũng rất tự hào về con. Số tiền con kiếm được và gửi về đă làm cho bố mẹ rất hănh diện với họ hàng, làng xóm : nhà ḿnh đă được sửa sang, các em con đă có tiền để đi học thêm. Bố mẹ chỉ mong con ở bên đó luôn được khỏe mạnh, đi làm đều đặn để dành dụm được một số tiền làm vốn cho tương lai. Con phải nhớ rằng : một đồng Ơrô [1] con kiếm được và gửi về sẽ đủ cho con sau này sống được vài ngày trong nước. Hăy chịu khó, chịu khổ bây giờ để ngày mai sung sướng, con nhé ! Mấy hôm nữa một số bạn bè của con lại sang Đức theo con đường của con, trong đó có C. là con chú P. Chú nhờ con giúp đỡ và chỉ bảo cho C. cách làm ăn..."

Người nhận thư là Hùng [2], một thanh niên mặt mũi khôi ngô, chừng 20 tuổi, đă bị CHLB Đức bác đơn xin tỵ nạn v́ đơn hoàn toàn không có lư do. Hùng ở trong một trại tỵ nạn dành cho thanh thiếu niên ở Berlin, nhận 160 Euro tiền trợ cấp xă hội mỗi tháng, cứ 2-3 tháng lại phải tŕnh diện Sở Ngoại Kiều để gia hạn giấy tạm dung (Duldung - thực chất là giấy tạm hoăn trục xuất), và do vậy, lúc nào cũng nơm nớp nguy cơ bị đưa trả trở về bản quán. Khi được hỏi về việc "đi làm", Hùng đỏ mặt ngượng nghịu : "Xin tỵ nạn th́ ai cho đi làm hả chú. Việc kiếm tiền của bọn cháu là đi ăn cắp tại các siêu thị. Nhưng nếu chăm chỉ và không dính vào nghiện hút th́ cũng có tiền chú ạ".

Sang nước Đức mới được một năm nhưng Hùng đă bị cảnh sát bắt 60 lần về tội ăn cắp. Theo thống kê "nội bộ" th́ cứ ăn cắp hơn 10 vụ mới bị bắt một lần. Tức là trung b́nh ngày nào Hùng cũng "đi làm" 2 - 3 vụ. "Mới đầu cũng sợ lắm, cũng xấu hổ lắm. Nhưng dần dần cũng hết sợ v́ cảnh sát Đức họ rất nhân đạo, và ḿnh cũng chẳng c̣n xấu hổ nữa", Hùng cho biết.

Đây không phải là trường hợp cá biệt. Hàng trăm thanh thiếu niên xin tỵ nạn Việt Nam đang hành xử như Hùng ở những mức độ khác nhau. Đa số họ hoàn toàn không biết là nước Đức chỉ chấp nhận, giúp đỡ những người xin tỵ nạn do bị truy nă, vùi dập v́ lư do chính trị, sắc tộc hay tôn giáo ở quê nhà. Với họ, nước Đức đơn giản chỉ là một chỗ kiếm tiền - cho hiện tại và tương lai. Cúc [3], một cô gái nhỏ nhắn, nhưng sắc sảo, th́ tâm sự : "Thực ra th́ ở Việt Nam cháu đă tốt nghiệp đại học tài chính, nhưng bố cháu đă về hưu nên chẳng c̣n thân thế ǵ để có thể lo cho cháu một chỗ làm ổn định. Muốn làm chân kế toán tại một chỗ tử tế phải có hơn 10.000 đô la để lót các cửa. Ở bên này, kiếm đủ số tiền đó, cháu sẽ về." Vậy là, cộng với hơn 6.000 đô la chi phí cho "dịch vụ" đưa người sang Đức, trong thời gian ở đây, Cúc sẽ phải kiếm cho được 16 - 20.000 đô la. Với tất cả những gánh nặng tinh thần, tài chính này, hàng trăm, hàng ngàn chàng trai, cô gái Việt Nam đă tự ép ḿnh thành những "cỗ máy" kiếm tiền vô giác. Cử nhân tài chính Cúc cũng đi ăn cắp thường xuyên.

Từ hoàn cảnh "tốt nghiệp phổ thông xong nhưng phải lêu lổng ở nhà v́ không biết làm ǵ" như Hùng, hay "không có nhiều tiền th́ không có chỗ làm tử tế" như Cúc, nghe theo những lời hứa "đường mật" và hoa mắt v́ những bức vẽ bịa đặt của các đường dây đưa người vượt biên, ḍng người tỵ nạn Việt Nam vẫn tiếp tục chảy sang Đức.

Vài năm trước đây, người xin tỵ nạn thường lớn tuổi hơn, trong đó có cả những người mang ư thức chính trị. Nhiều khi họ đi cùng cả gia đ́nh và nỗ lực t́m kiếm những việc làm đỡ tủi nhục hơn với mục đích tạo lập một cuộc sống lâu dài, ổn định. Trái lại, hầu hết những người xin tỵ nạn mới đều rất trẻ ; và với tâm thức "không hề biết ngày mai ra sao", họ bị đẩy vào con đường phạm tội với một tốc độ chóng mặt. Có người chỉ 7 ngày sau sang Đức đă bị bắt v́ ăn cắp.

Cách đây mấy năm, có ai dám nghĩ rằng chuyện người Việt Nam ăn cắp sẽ trở thành một vấn nạn phổ biến như ngày nay. Người ḿnh có vẻ như đề cao chữ "sĩ diện", nên phải chăng, hiện tượng cụm từ "Việt Nam" đang dần dần đồng nghĩa với cụm từ "Di-gan" [4] tại Đức là một lẽ bất thường ? Có ư kiến khẳng định những thanh thiếu niên Việt Nam ăn cắp tại Đức là "những phần tử không có ḷng tự trọng, không biết sỉ nhục". Nếu nh́n kỹ, vấn đề không đơn giản như vậy !

Tuyệt đại đa số người xin tỵ nạn mới đều coi chuyện vượt biên sang Đức như là một chuyến "đi làm ăn". Ở trong nước, họ được nghe là "sang đó, chuyện ăn ở đă có nước Đức lo, các cháu chỉ chịu khó đi làm thêm là có tiền dành dụm". Nhiều gia đ́nh phải vay mượn, phải thế chấp nhà cửa, đất đai để có đủ tiền xuất ngoại, coi như "vay vốn đi buôn". Nhưng, ngay khi đặt chân lên đất Đức, ảo tưởng của họ đă tan như bong bóng xà pḥng. Người xin tỵ nạn phải đối đầu với một thực tế vô cùng khắc nghiệt và hầu như vô vọng : chỉ trong ṿng 2 - 3 tháng là đơn xin tỵ nạn bị bác v́ lư do họ nêu ra chỉ là "sang đây để kiếm việc làm" ; từ lúc này, thanh gươm trục xuất lúc nào cũng lơ lửng trên đầu, c̣n khả năng có việc làm hợp pháp vẫn là một con số không tṛn trĩnh.

Trong khi đó, cũng ngay tại những ngày đầu tiên, thôi thúc duy nhất của họ là phải ngay lập tức kiếm tiền, ít nhất cũng là để trả lại số nợ 6 - 7.000 đô la "tiền vé sang Đức", và tiếp nữa là để đáp ứng "hy vọng của người nhà trong nước". V́ thế, mọi cố gắng "giúp đỡ hội nhập" nhưng mang tính "văn hóa" của nước Đức đối với họ đều như trứng đập vào đá. Rất hiếm thanh thiếu niên nào đến các lớp học tiếng Đức được mươi ngày rồi mới bỏ. Nhiều người đă ở nước Đức vài năm nhưng vốn từ Đức ngữ vẫn đếm chưa hết ngón tay.

Tuy được tự do đi lại trong địa phương ḿnh ở, nhưng người xin tỵ nạn Việt Nam vẫn sống sống co cụm, hầu như tách biệt hoàn toàn với xă hội bên ngoài. Ngoài lúc "đi kiếm tiền", thời gian của họ là tập trung ăn nhậu và bài bạc. Người "yêu văn hóa" hơn th́ đọc báo An Ninh Thế Giới, Thể Thao và Văn Hóa [5], xem phim chưởng Tàu hay ngồi hát Karaoke. Họ không biết ǵ về nước Đức, và chẳng hiểu ǵ về người Đức. Với họ, đất Đức chỉ là một băi cát để đăi vàng, và người Đức chỉ là một giống loài xa lạ.

Một cô gái 30 tuổi, đă ở Berlin được 4 năm, khi được hỏi trại tỵ nạn của cô nằm ở phần Đông hay phần Tây Berlin, đă ngẩn mặt ngơ ngác : "Sao Berlin lại có Đông, Tây ? Mà Berlin nằm ở Đông hay Tây Đức hả chú ?" Đi ăn cắp nhiều lần, rồi Hùng cho biết : "Khi bị bắt, cảnh sát và khách hàng Đức họ nói ǵ nhiều lắm, nhưng cháu đâu có hiểu tiếng Đức nên coi như không nghe thấy. C̣n họ chỉ biết cháu là người Việt Nam thôi, chứ có biết cháu là ai đâu, vậy th́ làm sao mà phải ngượng ?"

Người ta vẫn ca ngợi "những giá trị Châu Á", và "tinh thần tập thể", "ư thức cộng đồng" được coi là những viên ngọc tinh thần của người phương Đông. Một con người chỉ được tồn tại với tư cách là con, em, cháu, bạn hay là đồng hương, đồng chí. Con người chỉ đáng quư khi nó có giá trị, có ư nghĩa với cha mẹ, họ hàng, làng xóm, tổ chức. Vị thế của con người cũng chỉ được đo với những người có quan hệ trực tiếp với ḿnh. "Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly." Vậy th́ tại sao những thanh thiếu niên Việt Nam ăn cắp lại phải so b́, xấu hổ với những giống loài mắt xanh mũi lơ chẳng có quan hệ ǵ, trong một môi trường xa lắc "làng ḿnh chẳng phải, nước ḿnh cũng không", và mấy thằng bạn ḿnh cũng đang ăn cắp ?

Những thanh thiếu niên này đối với nhau vẫn những là người bạn chí t́nh, nhiều khi no đói có nhau. Họ cũng thương cha, nhớ mẹ và xót xa cho mấy đứa em do thiếu tiền mà bỏ học. Họ dấu biệt không cho gia đ́nh biết ḿnh đang vào tù ra tội v́ ăn cắp, mà chỉ báo về là "con vẫn đi làm đều". Họ lặn ngụp trong bùn nhơ để mang lại an ủi, hy vọng cho người thân và không cảm nhận được những độc tố tồi tệ đă ăn sâu vào cơ thể. Bị cầm tù trong sự kém hiểu biết và bị cột chặt vào những ràng buộc tinh thần quái ác, họ tự hào là một đứa con hiếu thảo, là một công dân Việt Nam hiền lành và không thấm thía được sự tủi nhục của một phạm nhân trước những người xa lạ. Với người Đức, một cách vô t́nh, nhưng hữu h́nh, họ đă tự đặt ḿnh vào một giống loài hạ đẳng. Có thể, khi vào một siêu thị để trộm hàng, đối với họ, đất nước và những con người xa lắc ở đây chỉ là ảo giác ; nhưng cũng có thể, họ tự coi ḿnh như không có. Họ là con em, cháu chắt của những người thân ở nhà, chứ không phải là một cá thể thiêng liêng, có cùng phẩm giá như những khách hàng hay những nhân viên cảnh sát xung quanh. Khi đó, sự sĩ diện, ḷng tự trọng không tồn tại trong họ. Họ chưa bao giờ được trang bị hai chữ "cá nhân" !

Cùng với việc tụng ca "chủ nghĩa tập thể", "ư thức cộng đồng", Việt Nam đă và vẫn là mảnh đất lớn miệng nguyền rủa "chủ nghĩa cá nhân". Người ta đồng hóa "chủ nghĩa cá nhân" với "chủ nghĩa vị kỷ" mang nội dung là mọi hành vi chỉ nhằm thỏa măn cá nhân, bất chấp quyền lợi người khác. Người ta vô t́nh hay cố t́nh không hiểu rằng khái niệm "chủ nghĩa cá nhân", ra đời từ thời Phục Hưng, là một quan niệm coi trọng sự tự do phát triển tư tưởng và khả năng của từng cá thể. Trong chủ nghĩa cá nhân, từng cá thể có một vị trí thiêng liêng phải được bảo vệ. Tự do cá nhân là nền tảng xă hội của các nước tiền tiến ; đồng thời, nó là kẻ thù không đội trời chung của các nước Khổng Giáo coi "quân thần phụ tử" là rường cột đạo đức quốc gia, và của các nhà nước độc tài coi người dân như một bầy cừu cần phải được lănh đạo, chăn dắt cẩn trọng.

Khi việc đề cao con người cá thể là động lực sự thăng hoa về tinh thần và vật chất của các nước dân chủ phương Tây, th́ sự căm thù, triệt hạ chủ nghĩa cá nhân tại nhiều nước phương Đông, ngoài việc ḱm hăm bước tiến xă hội, c̣n làm nẩy sinh ra hàng loạt những căn bệnh giết chết nhân cách, hủy hoại con người. Sẽ hoàn toàn không ngoa ngoắt nếu khẳng định rằng chính chủ nghĩa tập thể, ư thức bầy đàn là một trong những nguyên nhân chính gây ra làn sóng ăn cắp một cách b́nh thản của thanh thiếu niên Việt Nam xin tỵ nạn hiện nay tại Đức.

Khi cái "Ta" không c̣n, chỉ c̣n lại cái "Chúng Tôi", th́ cái "Tôi" ăn cắp đă trở nên vô h́nh, hoặc cùng lắm cũng chỉ mang "hồn Trương Ba, da hàng thịt". Sự gian lận, lẩn tránh nhân cách con người cá nhân này, đương nhiên không phải chỉ có ở những người Việt trẻ tuổi đang lang thang dưới trời Âu. Nó đang hoành hành trong nước ở một mức cao hơn nhiều, với một cái tên mỹ miều là "Tham nhũng".

Các quan chức chính quyền Việt Nam, kể cả ở cấp cao nhất, khi điềm nhiên chia chác hàng triệu, hàng chục triệu đô la trong các vụ "làm ăn", "biếu xén", ngoài việc nghĩ rằng họ đang tự thưởng công cho tài năng leo cao của ḿnh, chắc cũng nghĩ đến phúc lộc, đến tương lai cho vợ con, họ hàng. Khi dành giật cho gia đ́nh khu đất này, biệt thự kia, chắc họ cũng muốn là một người chồng, một người cha biết lo cho vợ, cho con. Khi móc ngoặc với nhau để "tao ăn, mày ăn, chúng ta cùng ăn", khi bao che, nâng đỡ người quen để thụt két nhà nước, chắc họ cũng nghĩ đến t́nh "đồng hội, đồng thuyền". Tất cả những cái đó sẽ mơn trớn, sẽ bảo vệ được chữ "sĩ", chữ "trọng" đối với những người xung quanh, những người thân thuộc. Khó có thể bảo rằng họ không có "sĩ diện", không có ḷng "tự trọng". Nhưng thực chất, không hơn không kém, hành động của họ chính là ăn cắp !

Theo định nghĩa pháp lư, ăn cắp là hành vi lợi dụng sơ hở của người khác để chiếm đoạt sở hữu của họ, chuyển thành sở hữu của ḿnh. Sơ hở có thể là sự vắng mặt, và có thể là sự không hiểu biết. Khi ăn chia bổng lộc bất hợp pháp, khi moi két nhà nước, các quan chức chính quyền đă ăn cắp của nhân dân, của quốc gia. Nhân dân và quốc gia th́ hiện hữu nhưng vô h́nh. Vậy th́ cũng như những thanh thiếu niên Việt Nam ăn cắp tại các siêu thị CHLB Đức, với sự thiếu hụt về trí tuệ và nhân cách cá nhân, các quan chức tham nhũng đă coi như ḿnh đang chiếm đoạt sở hữu ở một chốn không người. Họ sẽ không bị vương vấn bởi những giá trị như "sĩ diện" hay "tự trọng".

Họ hănh diện v́ đă lấy được nhiều, và hoàn toàn không phải xấu hổ khi các đồng chí, đồng liêu, đồng nghiệp của họ cũng đang đua nhau làm như họ. Một điều khác biệt là khi cúi gằm mặt ở các siêu thị Đức, với tên tuổi giả [6], người ăn cắp Việt Nam có vẻ như vô dạng, "tôi không phải là tôi", c̣n các quan chức ở Việt Nam th́ trẻ con cũng rơ danh tính ; khi dùng vị thế để chiếm đoạt của cải người khác, họ đă là những tên ăn cướp.

Điều khác nữa là ăn cắp ở Đức rất dễ bị c̣ng tay, c̣n ăn cắp, thậm chí là ăn cướp cao cấp ở Việt Nam th́ đă là một vấn nạn bất trị, một "luật chơi" được chấp nhận bất thành văn trong một môi trường bầy đàn lầy đọng ; và hơn thế, các quan chức ăn cắp ở ta c̣n có quyền bắt giam, bỏ tù những ai đ̣i đổi thay cái thể chế lưu manh của họ. Vụ cuỗm bản quyền sản phẩm tin học của nước ngoài rồi chuyển thành Giải nhất cuộc thi Trí Tuệ Tuổi Trẻ Việt Nam vừa qua cho thấy ăn cắp đă trở thành thói tính. Ở ta, đă h́nh thành một văn-hóa-ăn-cắp-thản-nhiên !

Có lẽ, một trong những nguyên nhân xâu xa nhưng chính yếu của việc ăn cắp - tại các siêu thị ở Đức hay tại các công sở uy nghiêm ở Việt Nam - là thủ phạm không c̣n khả năng đối diện với chính ḿnh. Văn hóa bầy đàn, thân thuộc là một tấm b́nh phong vững chắc cho những hành vi vô sỉ, tệ hại. Luật pháp là vô nghĩa khi chính những người làm ra nó và thi hành nó lại là tội phạm. Nó cũng phải bó tay trước một khối người ṿng tṛn, người này úp mặt vào lưng người khác. Chỉ đến khi từng cá nhân được tôn trọng cả về thân thể và tư tưởng, th́ con người mới có thể tự hào về tư cách con người, mới có thể tự trọng để bảo vệ sĩ diện cho chính cá thể ḿnh. Chỉ đến khi đó, người Việt Nam tại Đức mới có thể ngẩng mặt coi ḿnh ngang cấp như những các khách hàng và nhân viên cảnh sát Đức. Lúc đó, người Việt tại Đức hay tại Việt Nam sẽ biết xấu hổ khi đi ăn cắp ; và như vậy, đất nước, con người mới dần dần trở nên lành mạnh.

Berlin, 01.2005
Phạm Việt Vinh

Chú thích : -[1] Euro
-[2] Tên người đă được thay đổi
-[3] Tên người đă được thay đổi
-[4] Người Di-gan vẫn luôn bị coi là một sắc dân hay ăn cắp
-[5] Các báo được chuyển từ Việt Nam sang và có số người đọc rất lớn
-[6] Khi nộp đơn xin tỵ nạn, hầu hết thanh thiếu niên Việt Nam đều khai tên tuổi giả để hạn chế khả năng bị trục xuất về nước

 

 

2005 : Mở rộng sự tiếp cận trong ngoài
Nguyễn Ngọc Đức
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 7 THÁNG HAI 2005)

 

Năm 2005, chúng ta đánh dấu 30 năm ngày đất nước hoàn toàn rơi vào ṿng thống trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong 30 năm qua, chúng ta đă chứng kiến sự vươn lên của nhiều quốc gia ở Đông Nam Á. Chúng ta cũng đă chứng kiến sự vùng dậy của nhiều dân tộc trên thế giới đồng loạt cởi bỏ ách độc tài, giành lại dân chủ tự do. Nhưng bất hạnh cho dân tộc chúng ta là trong suốt chiều dài của 30 năm qua, dân tộc Việt Nam chưa bao giờ được hưởng những giờ phút an b́nh và thịnh vượng. Trước nỗi bất hạnh đó, vấn đề của chúng ta hiện nay là làm thế nào chấm dứt ách độc tài cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong thế kỷ 21.

Từ nhiều năm qua, chúng ta đă kiên tŕ đấu tranh để giải quyết vấn nạn của dân tộc. Tinh thần đấu tranh kiên tŕ này vô cùng cần thiết để từng bước bứt phá chế độ độc tài, nhưng chắc chắn là chưa đủ để đẩy chế độ này vào thế tiêu vong. Ngoài yếu tố kiên tŕ, người Việt Nam c̣n phải dồn sức khai thác mọi thuận lợi của t́nh thế để tạo điều kiện xoay chuyển t́nh h́nh. Trong tinh thần đó, chúng ta hăy cùng nhau nhận diện những đặc điểm của t́nh h́nh Việt Nam, để từ đó đề ra hướng đi trong năm 2005.

Qua bài học rút tỉa từ những cuộc cách mạng dân chủ đă xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, chúng ta thấy có 3 yếu tố quan trọng sau đây đă giúp cho cuộc đấu tranh dân chủ đạt được thắng lợi :


- Một là chế độ độc tài bị rơi vào t́nh trạng phân liệt. Sự phân liệt này đă khiến cho tập đoàn lănh đạo bị động trước t́nh thế và không có khả năng chống đỡ trước sức ép của quần chúng.
- Hai là một tập hợp liên minh giữa những lực lượng dân chủ được h́nh thành để phá vỡ nguyên trạng, vừa tạo sức mạnh đối trọng với thế lực cầm quyền, vừa lănh đạo quần chúng mở ra những h́nh thức đấu tranh đa diện để đẩy lùi chế độ độc tài.
- Ba là người dân khắc phục được tâm lư sợ hăi chế độ và can đảm đứng lên đấu tranh. Đây là yếu tố then chốt của mọi cuộc cách mạng dân chủ. V́ nếu quần chúng hèn yếu và bạc nhược, sợ hăi sức mạnh thống trị của tập đoàn độc tài, th́ dù tập đoàn này suy yếu tới đâu, vẫn có thể tiếp tục tồn tại và củng cố.

Ngoài 3 yếu tố quan trọng kể trên, 2 yếu tố hỗ trợ cũng rất cần thiết cho cuộc cách mạng dân chủ có điều kiện lan rộng và không bị dập tắt. Đó là quốc tế và truyền thông. Sự hỗ trợ của quốc tế trên các b́nh diện ngoại giao, chính trị hay kinh tế là một áp lực đáng kể, có thể khiến cho chế độ độc tài phải chùn bước trong chính sách đàn áp. Trong khi đó, truyền thông đóng vai tṛ xúc tác để cuộc cách mạng lan rộng.

Yếu tố thứ nhất có thể xem như là đă có. Qua bài "T́nh h́nh cộng sản Việt Nam trong năm 2005" (VNDC tháng ½005), chúng ta thấy những xung đột ở thượng tầng, sự bất măn ở hạ tầng đang làm cho đảng cộng sản Việt Nam bị rơi vào t́nh trạng phân liệt trầm trọng và ngày một mất dần sự kiểm soát đối với quần chúng và xă hội.

Yếu tố thứ hai là một nỗ lực mà các chính đảng, các lực lượng đấu tranh trong và ngoài nước đang cố gắng đẩy mạnh, nhằm xây dựng một liên minh dân tộc ngay tại quốc nội.

Yếu tố thứ ba là yếu tố đáng được chúng ta quan tâm hơn hết. V́ cho đến nay, mặc dù quảng đại quần chúng ở Việt Nam đều bất măn và có ước vọng thay đổi, nhưng tâm lư sợ hăi chế độ vẫn đè nặng, nên sức bật đấu tranh ở trong nước chưa đủ để đẩy chế độ độc tài vào thế sụp đổ. Tuy nhiên, từ trạng thái bất măn nhưng sợ hăi, quần chúng có thể trở nên phẫn nộ và can đảm vùng lên, chỉ trong một giai đoạn ngắn. Yếu tố tác động quan trọng để làm thay đổi trạng thái này là thông tin và dữ kiện. Chúng ta tin rằng nếu đồng bào trong nước có điều kiện tiếp nhận những nguồn thông tin dồi dào và trung thực, họ sẽ hiểu rơ hơn bản chất của chế độ độc tài và sẽ mạnh dạn đứng lên đấu tranh khi có điều kiện.

Trong khi đó, chúng ta thấy là sau 30 năm, các cộng đồng người Việt tại hải ngoại vẫn duy tŕ được sức mạnh đấu tranh, tranh thủ hữu hiệu các áp lực quốc tế và có sự nhập cuộc tích cực của giới trẻ. Tuy nhiên cho đến nay, sức mạnh của cộng đồng hải ngoại vẫn chưa thật sự được huy động đúng mức để tạo ra những động lượng đấu tranh tại quốc nội.

Từ những phân tích nói trên, chắc chắn ai ai trong chúng ta cũng nh́n thấy nhu cầu khai dụng tiềm năng dồi dào của cộng đồng người Việt hải ngoại để tác động trực tiếp hay gián tiếp vào quốc nội, nhằm phá vỡ bức màn bưng bít, xóa bỏ tâm lư sợ hăi của quần chúng, tăng cường sức mạnh đấu tranh của các tôn giáo và của các lực lượng dân tộc, dân chủ ở trong nước, nhằm tạo điều kiện làm bùng nổ một cao trào đấu tranh quần chúng, đẩy chế độ độc tài cộng sản Việt Nam vào thế sụp đổ. Muốn như vậy, chúng ta cần nỗ lực phá vỡ bức tường ngăn cách trong và ngoài nước.

Trong thập niên đầu sau biến cố 30/4/1975, đảng CSVN thiết lập một bức tường, tuy vô h́nh, nhưng vô cùng chặt chẽ, nhằm cách ly hai bộ phận trong ngoài của dân tộc Việt Nam. Hậu quả của chính sách "tự cô lập" này ai cũng nh́n thấy, đó là t́nh trạng tụt hậu về mọi mặt của Việt Nam. Đứng trước nguy cơ phá sản toàn diện, đảng CSVN buộc phải mở cửa ra với thế giới bên ngoài và khi khối Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, Hà Nội phải xoay chiều với tốc độ nhanh hơn, t́m chỗ dựa ở những nước tư bản, kể cả kẻ thù cũ là Hoa Kỳ. Từ đó, bức tường ngăn cách trong ngoài không c̣n kín bưng như trước, mà đă có những sự liên hệ, giao tiếp giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước ngày một nhiều hơn và ngày một mở rộng hơn.

Đây là một thất bại của đảng CSVN và là một thắng thế của dân tộc Việt Nam, khi bạo quyền đă mất dần khả năng cô lập, giam hăm đại khối đồng bào trong nước. Đây cũng là một lợi điểm cho công cuộc đấu tranh, v́ nếu sự liên hệ, giao tiếp và hỗ trợ giữa hai bộ phận của dân tộc ngày được mở rộng, khả năng kiểm soát của guồng máy độc tài sẽ bị thu hẹp và sức mạnh đấu tranh cho dân chủ của người Việt Nam sẽ ngày một gia tăng.

Từ nhận định trên, đánh dấu 30 năm đấu tranh cho tự do dân chủ, năm 2005 phải là năm mà người Việt Nam ở trong và ngoài nước phải cùng nhau nỗ lực phá vỡ bức tường ngăn cách trong ngoài, mở rộng sự tiếp cận, hỗ trợ, liên đới giữa hai bộ phận của dân tộc trên mọi lănh vực. Một cách cụ thể :

1. Chúng ta khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để phá vỡ sự bưng bít thông tin. Chúng ta đều biết tầm quan trọng truyền thông trong tiến tŕnh dân chủ hóa và sự phát triển. Tại Việt Nam, việc tiếp nhận và quảng bá tin tức bị giới hạn và kiểm soát gắt gao, cuộc cách mạng truyền thông ở cuối thế kỷ 20 không những không tạo trớn cho một sự phát triển hài ḥa, mà c̣n làm gia tăng mức độ lạc hậu giữa người dân trong nước với thế giới bên ngoài, giữa những người có điều kiện tiếp nhận thông tin với quảng đại quần chúng. Trầm trọng hơn nữa, khi t́nh trạng bưng bít thông tin bị kéo dài, người Việt Nam mất dần khả năng tiếp nhận, khả năng đối phó thích nghi với thực tế tiến hóa của thế giới. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển của cả dân tộc. Đây chính là lư do mà nhiều người tranh đấu ở trong nước đă mạnh dạn đứng lên đ̣i hỏi quyền tự do thông tin và ngôn luận. Đây cũng chính là lư do mà nhiều tờ báo chui đă ra đời ở Việt Nam nhằm góp phần phá vỡ t́nh trạng bưng bít thông tin hiện nay. Tuy nhiên cho đến nay, đại đa số người dân tại quốc nội vẫn chưa tiếp nhận được những nguồn thông tin đa chiều và đa dạng. Nhiều tin tức xảy ra ngay tại Việt Nam hay những diễn biến thời sự quan trọng vẫn không đến với quảng đại quần chúng. Thống kê mới nhất cho biết ở Việt Nam chỉ mới có khoảng 5% dân có điều kiện tiếp cận với mạng internet, trong khi đó 95% dân chúng, mà tuyệt đại đa số là ở nông thôn, không hề biết Internet là ǵ. Đây là một trở ngại rất lớn để thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ hóa và canh tân Việt Nam. Trở ngại này có thể được giải quyết với sự tiếp cận trong ngoài. Chúng ta cần lợi dụng mọi cơ hội gặp gỡ hay trao đổi với đồng bào trong nước để truyền đạt đến họ những tin tức, sự kiện mà họ không biết. Với sự tiếp tay của tất cả, chúng ta tin rằng sẽ tạo ra được sức ép phá vỡ t́nh trạng bưng bít thông tin, mang đến cho đồng bào trong nước những nguồn thông tin trung thực và nhanh chóng về mọi vấn đề của đất nước và những biến chuyển của thế giới.

2. Chúng ta khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để hỗ trợ những hoạt động độc lập, tự phát của đồng bào trong nước trên mọi lănh vực.

Do thực tế của việc mở cửa để hội nhập với các quốc gia trong vùng và vào nền kinh tế toàn cầu, lănh đạo đảng Cộng sản Việt Nam mất dần khả năng khống chế những sinh hoạt của xă hội. Từ đó, những hoạt động có tính đa nguyên đang h́nh thành trên nhiều lănh vực văn hóa, giáo dục, kinh tế, xă hội, tôn giáo v.v... vượt dần ra khỏi sự ràng buộc của ư thức hệ cộng sản và sự kiềm tỏa của chế độ. Nhiều nhóm, nhiều hội đoàn, nhiều diễn đàn Internet,... đă được thành lập một cách tự phát, hoạt động hoàn toàn độc lập với chế độ. Chúng ta cần hỗ trợ những hoạt động độc lập và tự phát này, để gieo mầm đa nguyên, làm bộc phát thêm những hoạt động vượt ra khỏi khuôn khổ của chế độ và mở rộng trận thế đấu tranh cho dân chủ ngay tại quốc nội.

3. Chúng ta khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để cải thiện t́nh trạng dân sinh của đồng bào trong nước.

Chế độ độc tài là nguyên nhân chính của t́nh trạng dân quyền bị chà đạp, dân sinh bị bỏ phế tại Việt Nan. Giải pháp căn bản để thực thi dân quyền và phát triển dân sinh là phải chấm dứt chế độ độc tài này. Tuy nhiên, trong công cuộc tranh đấu lâu dài để xây dựng thể chế dân chủ đích thực, mục tiêu cải thiện dân sinh, phục hồi dân quyền trong khi chế độ độc tài c̣n đang tồn tại, vẫn là một yêu cầu quan trọng, nhằm bảo vệ quyền lợi thiết thân của người dân, và ngăn chặn t́nh trạng bóc lột, trấn áp đă và đang là chính sách cai trị. Do đó, chúng ta cần khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để góp phần cải thiện t́nh trạng dân sinh trong nước, như thực hiện những chương tŕnh từ thiện, nhân đạo trực tiếp cho đồng bào, quan tâm theo dơi và bênh vực cho những người công nhân Việt Nam ra lao động ở nước ngoài bị chà đạp nhân phẩm, bị bóc lột sức lao động,... Sau cùng những nỗ lực đấu tranh cho dân quyền của đồng bào trong nước, như tố giác những hành vi nhũng lạm, trù dập bất công, chống t́nh trạng sưu cao thuế nặng, đ̣i cải thiện điều kiện lao động, giáo dục,... rất cần sự hỗ trợ từ ngoài. Mục tiêu là giúp cho đồng bào trong nước ngày một mạnh dạn hơn trong việc tranh đấu cho quyền lợi cá nhân, tập thể và đất nước.

4. Chúng ta khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để nối kết tuổi trẻ trong và ngoài nước.

Trong những năm gần đây, sinh hoạt của tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại đă đạt nhiều thành quả rất khích lệ. Tính sinh động trong tập thể tuổi trẻ hải ngoại là một điểm son nổi bật, đặc biệt là đối với đa số thanh niên trưởng thành trong một môi trường xa cách quê hương mà lại được hưởng đầy đủ vật chất cũng như tự do tuyệt đối. Điểm son kế tiếp c̣n phải được kể chính là khả năng tích lũy kiến thức tân tiến nhất của thế giới trong giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại. Đó cũng chính là tiềm năng to lớn để xây dựng đất nước thời hậu cộng sản. Ngược lại, tuổi trẻ Việt Nam trong nước đang bị đặt trước t́nh cảnh phải lo kiếm sống, dù không màng đến chủ nghĩa cộng sản hay gia nhập đảng cộng sản đi nữa, họ vẫn bị kềm hăm sức phát huy tài năng và bị bức bách từ mọi phía trong sinh hoạt thường nhật. Do đó, chúng ta cần khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để tạo điều kiện cho tuổi trẻ Việt Nam ở trong và ngoài nước chia sẻ được với nhau, không chỉ là kiến thức và kiến năng hiện đại, mà c̣n là sự chia sẻ về một niềm tin vào tương lai tươi sáng của Việt Nam sau khi chấm dứt chế độ độc tài ngu dân hiện nay. Muốn như vậy, chúng ta cần quan tâm giúp đở, hỗ trợ thành phần sinh viên Việt Nam đang đi du học ở nước ngoài và tạo nhịp cầu thông cảm giữa họ với cộng đồng, với giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại, để từ đó tạo nhịp cầu thông cảm và nối kết giữa tuổi trẻ trong ngoài. 5. Chúng ta khai dụng sự tiếp cận trong ngoài để gia tăng động lượng đấu tranh cho dân chủ tại quốc nội.

Bước vào năm 2005, một trong những nỗ lực mà các lực lượng tranh đấu cho dân chủ ở trong và ngoài nước cần phải giải quyết cho kỳ được là gia tăng động lượng đấu tranh cho dân chủ ngay tại quốc nội. Chế độ độc tài hiện nay không thể tự sụp đổ chỉ v́ những khó khăn nội tại. Điều chắc chắn là tập đoàn lănh đạo đảng CSVN ư thức rất rơ những khó khăn của họ và đang t́m mọi cách để xoay trở. Trong khi chúng ta cũng ư thức rất rơ là cần phải dồn sức khuấy động thêm những khó khăn nội tại đó của họ. Chúng ta cũng biết rất rơ là chế độ độc tài có thành công hay không trong âm mưu xoay trở c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố, mà quan trọng hơn cả là khả năng tạo ra áp lực đấu tranh của chúng ta ngay tại quốc nội. Khả năng đó chỉ có thể hữu hiệu khi có sự liên kết giữa nhiều người, nhiều tổ chức, giữa hai bộ phận trong và ngoài nước, để tạo ra một sức mạnh tổng hợp . Khả năng đó chỉ có thể phát huy khi những tổ chức, lực lượng đấu tranh ở hải ngoại xem quốc nội là địa bàn chính của những nỗ lực của ḿnh và t́m mọi cách để tiếp cận với môi trường trong nước.

***/

Trong năm qua, cộng đồng người Việt tại hải ngoại đă có những thành quả ngoạn mục trên nhiều lănh vực. Phong trào vận động vinh danh lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tiếp tục được đẩy mạnh và đă lan từ Bắc Mỹ sang Úc Châu. Các cuộc vận động trên b́nh diện quốc tế cũng tạo ra áp lực đáng kể lên chế độ Hà Nội về các vấn đề đàn áp nhân quyền và tôn giáo. Những nỗ lực này cần tiếp tục phát huy trong năm 2005, song song với nỗ lực mở rộng sự tiếp cận trong ngoài, để tập thể người Việt hải ngoại không những là chỗ tựa vững chắc của đồng bào quốc nội, mà c̣n là một phương tiện quan trọng được khai dụng ngay trên đất nước để phá vỡ thành tŕ độc tài của đảng CSVN.

Nguyễn Ngọc Đức

 

 

Mối quan hệ tay ba : Mỹ - Trung - Việt
Hoàng Tùng Bách
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 21 THÁNG HAI 2005)

Việc tổng thống Bush tái đắc cử đă khiến nhiều người VN, nhất là giới chính trị quan tâm đến tương lai của Việt Nam trong thời gian nhiệm kỳ 4 năm tới của tổng thống Bush. Nhiều người đă bàn đến chính sách của chính quyền Bush về vấn đề tôn giáo hay nhân quyền đối với VN. Đó là một cách nhận định, song c̣n một cách nhận định khác là xét từ hệ quả của quan hệ Mỹ -Trung trong nhiệm kỳ 2 của Bush tác động tới Việt Nam. Liệu Mỹ có thực hiện chính sách bao vây Trung Quốc và lôi kéo Việt Nam, hay Mỹ hợp tác với Trung Quốc để bỏ mặc Việt Nam cho Trung Quốc muốn làm ǵ th́ làm ? Nhận định trên khía cạnh này, cần xem xét mối quan hệ tay 3 Mỹ-Trung-Việt.

 

Quan hệ Mỹ - Trung

 

Có thể nói đây là một trong những mối quan hệ quan trọng nhất thế giới, dù phát triển theo chiều hướng nào cũng đều có ảnh hưởng lớn tới cục diện thế giới, nhất là khu vực và tác động tới chính sách đối nội và đối ngoại của các quốc gia, nhất là các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có VN, hiện nay và trong tương lai. Kể từ khi lên nắm quyền nhiệm kỳ đầu, tổng thống Bush xác định ngay "Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh chiến lược". Nhiều người đă tính tới việc Mỹ sẽ lôi kéo VN để bao vây TQ. Sự kiện 11/9 bất ngờ xảy ra, chính quyền của tổng thống Bush từ việc coi Trung Quốc là "đối thủ cạnh tranh chiến lược", đă gần như quay ngược và chuyển hẳn sang mối quan hệ hợp tác chống khủng bố. Mối quan hệ này ngày càng đi vào thực chất hơn, cụ thể trên từng lĩnh vực. Nhiều người đánh giá đây là mối quan hệ "đối tác chiến lược mang tính xây dựng". Ngoài hợp tác chống khủng bố, Mỹ và Trung Quốc c̣n hợp tác trong vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên. Mỹ đă phải thừa nhận vai tṛ của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên, nhất là việc kéo Bắc Triều Tiên vào ṿng đàm phán. Trong nhiệm kỳ 2 của Bush, điểm nổi bật thu hút sự quan tâm nhất trong chính sách đối ngoại của chính quyền Bush vẫn là vấn đề Trung Đông. Ở khu vực Đông Á, Mỹ vẫn tập trung vào mối quan hệ với các nước Đông Bắc Á, trong đó bán đảo Triều Tiên. Việc coi TQ là đối thủ cạnh tranh chiến lược không c̣n thấy xuất hiện trong ngôn từ tranh cử của tổng thống Bush nhiệm kỳ 2. TQ ngày càng trở nên quan trọng đối với Mỹ trong vấn đề ḥa b́nh ở khu vực Đông Bắc Á. Nếu không có ǵ đột biến, chắc hẳn Mỹ vẫn phải cần đến TQ trong việc giải quyết vấn đề Bắc Triều Tiên, và mối quan hệ này vẫn thiên về xu hướng hợp tác.

 

Quan hệ Mỹ -Việt

 

Mặc dù 2 nước đă khôi phục quan hệ ngoại giao được 10 năm, song tiến triển vẫn c̣n quá chậm chạp so với nhu cầu thực tế. Quan hệ kinh tế thương mại phát triển nhanh và vượt xa các mối quan hệ về chính trị, quân sự. Kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2004 lên tới trên 5 tỷ USD. Tuy nhiên, con số này chỉ lớn đối với VN, đối với Mỹ con số này không thấm vào đâu. Trong khi đó, vấn đề tôn giáo và nhân quyền luôn là vấn đề nổi cộm trong quan hệ 2 nước. Mỹ cho rằng VN vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo, do đó mới sinh ra các dự luật HR1587 và liệt VN vào danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo. Xét về góc độ chiến lược, vị trí của Việt Nam quan trọng nếu Mỹ muốn kiềm chế Trung Quốc, song bây giờ vẫn chưa phải là lúc Mỹ cần đến Việt Nam để làm mắt xích bao vây Trung quốc. Mỹ đang phải tập trung vào vấn đề Trung Đông, ở châu Á. Mỹ quan tâm nhiều hơn đến khu vực Đông Bắc Á, Việt Nam dường như ít được Mỹ quan tâm tới. Do đó có thể nói, quan hệ Mỹ -Việt vẫn chưa có nền tảng vững chắc. VN vẫn e ngại Mỹ "diễn biến ḥa b́nh" và lo ngại tăng cường quan hệ với Mỹ sẽ bị TQ phản ứng. Đây là một thực tế.

 

Quan hệ Trung-Việt

 

Quan hệ Trung-Việt là mối quan hệ "cùng dựa vào nhau để tồn tại" nhằm giữ lại thành tŕ cuối cùng kể từ khi Liên xô và khối Đông Âu giải thể. Trong tương quan mối quan hệ này, quan hệ chính trị lại phát triển nhanh chóng vượt xa các mối quan hệ khác, từ coi nhau là kẻ thù chuyển ngoặt sang coi nhau là đồng chí. Sự gắn bó về ư thức hệ Mác - Lê Nin trên thực tế hầu như không c̣n, cộng với những xung đột biên giới năm 1979 kéo dài cho đến cuối thập kỷ 80 đă khiến mối quan hệ Trung-Việt không bao giờ khôi phục trở lại mối quan hệ "vừa là đồng chí vừa là anh em", mà phát triển theo xu hướng thực dụng. VN coi quan hệ với TQ là mối quan hệ sống c̣n, liên quan tới sự tồn vong của chế độ, c̣n TQ coi quan hệ với VN là một phần quan trọng trong việc giữ an ninh sườn phía nam.

Bên cạnh sự gắn bó tương sinh về mặt chính trị, 2 nước luôn tồn tại mâu thuẫn liên quan đến quyền lợi dân tộc đó là là tranh chấp lănh thổ. Hai nước đă kư kết hiệp định biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ, song tranh chấp về lănh hải khó có thể giải quyết nổi, nhất là tranh chấp chủ quyền ở khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Hoàng Sa hiện đă nằm gọn trong tay TQ kể từ năm 1974 ; c̣n Trường Sa, nơi có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và được dự đoán là có trữ lượng dầu mỏ lớn, là một điểm nóng có thể dẫn tới xung đột quân sự giữa TQ và VN mặc dù cả 2 nước đều tuyên bố theo đuổi giải pháp ḥa b́nh. VN hầu như không c̣n hy vọng ǵ trong việc đàm phán với TQ về chủ quyền Hoàng Sa. Về tranh chấp chủ quyền Trường Sa, lập trường của Trung Quốc luôn tỏ ra cứng rắn ở thế nước lớn. Tàu hải quân Trung Quốc có mặt thường xuyên ở Trường Sa để răn đe. Xét về mặt thực lực quân sự, hải quân Việt Nam không thể địch được với Trung Quốc. Những hoạt động gần đây càng cho thấy Trung Quốc quá cứng rắn trong vấn đề tranh chấp lănh hải. Trung Quốc đă kư hiệp định tay đôi với Philippines về khai thác ở khu vực Trường Sa, nhưng vẫn phản đối Việt Nam thăm ḍ khai thác và gọi thầu ở khu vực giáp với khu vực Trường Sa. Thậm chí, tháng 11/04, Trung Quốc c̣n điều động ngay tàu thăm ḍ "Kantan-3" đặt ngay khu vực biển mà Việt Nam cho là vi phạm lănh hải của Việt Nam để khoan thăm ḍ.

Xét mối quan hệ Trung-Việt trên 2 vấn đề trên cho thấy, mối quan hệ Trung-Việt đang ở vào giai đoạn "tương đồng về chính trị, bất đồng về quyền lợi dân tộc". Trên cả 2 vấn đề, Việt Nam luôn ở thế yếu hơn. TQ duy tŕ chế độ cộng sản thân TQ ở VN là để đảm bảo an ninh sườn phía nam, không hơn và không kém, giống như Bắc Triều Tiên. VN phát triển mạnh lên TQ không muốn, sống dở chết dở là tốt nhất. VN coi quan hệ thân thiện với cộng sản TQ là vấn đề sống c̣n, c̣n những bất đồng về lănh thổ là cái phải chấp nhận, giải quyết dần dần, nhưng nguy hiểm hơn là sự tương đồng về chính trị được chính quyền VN đặt lên trên, khi cần sẵn sàng hy sinh quyền lợi dân tộc để giữ quyền lợi chính trị.

***

Xét tương quan mối quan hệ tay 3 này cho thấy VN đang đứng trước bài toán vốn đă nan giải, nay càng nan giải hơn về vấn đề lănh thổ. Trong khi Việt Nam vẫn chưa được chính quyền Mỹ thực sự quan tâm, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đang trên đà thuận lợi ; Trung Quốc lại ngày càng chiếm ưu thế đối với khu vực cả về sức mạnh chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao... Vậy Trung Quốc sẽ làm ǵ ? Trung Quốc đang đứng trước nhu cầu lớn về năng lượng. Sản lượng dầu trong nước ngày một giảm, đ̣i hỏi Trung Quốc phải hướng khai thác Biển Đông ; lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc ngày càng lớn, đ̣i hỏi phải có sự đảm bảo về giao thông đường biển, nhất là giao thông đường biển ở khu vực Trường Sa sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối với Trung Quốc. Quan trọng hơn, Biển Đông c̣n có ư nghĩa chiến lược, chiếm được Biển Đông, TQ c̣n mở rộng được ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Đây là lư do khiến Trung Quốc sớm giải quyết vấn đề chủ quyền lănh thổ. Điều này không phải không có cơ sở. Tháng 9 vừa qua, Trung Quốc đă bắt đầu bằng việc hợp tác với Philippines. Việc chọn Philippines là đối tác, cho thấy Trung Quốc một mặt tránh xung đột với Mỹ, v́ Philippines là một đồng minh của Mỹ, một mặt nhằm cô lập Việt Nam, hiệp định giữa Trung Quốc và Philippines có mở ra một hướng để Việt Nam hợp tác cùng, nhưng thực chất nếu Việt Nam có tham gia cũng chỉ là "chạy theo để thương lượng". Từ đó có thể thấy, trong điều kiện Trung Quốc quyết tâm "giải quyết" vấn đề Trường Sa, Việt Nam luôn ở thế yếu và sẽ chịu thiệt dù đó là giải pháp quân sự hay giải pháp ḥa b́nh. Nếu xung đột quân sự, Việt Nam không thể so sánh với Trung Quốc, trong khi quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN và cả với Mỹ đều chưa có nền tảng vững chắc để đoàn kết chống lại Trung Quốc. Nếu xảy ra xung đột, th́ mục tiêu xâm chiếm đầu tiên của Trung Quốc chắc hẳn phải là phần lănh thổ của Việt Nam, chứ không dại ǵ Trung Quốc đánh vào các đồng minh của Mỹ trước. V́ vậy nếu cho rằng Mỹ sẽ nhảy vào để bênh vực Việt Nam sẽ là ảo tưởng. Đấy là chưa kể Việt Nam c̣n coi Mỹ là "kẻ thù chống phá cách mạng", th́ đời nào Mỹ lại giúp kẻ thủ Việt Nam để đánh bạn Trung Quốc.

Nếu thương lượng ḥa b́nh, Trung Quốc sẽ thương lượng với từng nước tranh chấp như vừa làm với Philippines, đây là con bài "bẻ từng chiếc đũa" truyền thống của Trung Quốc. Việc này Trung Quốc có thể làm được v́ các nước tranh chấp khác (trừ Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo) đều chỉ tuyên bố chủ quyền một phần của quần đảo. Vậy là Trung Quốc đă đẩy Việt Nam vào thế cô lập, trong vấn đề "ăn chia ḥa b́nh này" Việt Nam nhận phần thiệt là có thể nh́n thấy. Và Trung Quốc sẽ hợp tác đơn lẻ với từng nước Philippines, Brunei, Malaysia dễ dàng hơn với Việt Nam.

Rơ ràng nguy cơ đến từ phương Bắc, vậy giải pháp nào để hóa giải nguy cơ kia ? Có thể nhiều giải pháp, song cá nhân người viết xin đưa ra một giải pháp của riêng ḿnh :

1. Xác định lại cho đúng vấn đề đối tượng đối tác trong các mối quan hệ Việt - Mỹ ; Việt -Trung.

Đối với Mỹ, từ trước tới nay, chính quyền Việt Nam luôn coi Mỹ là đối tượng (hay c̣n gọi là kẻ thù số 1) nguy hiểm trước mắt và lâu dài, là kẻ sử dụng chiến lược "Diễn biến ḥa b́nh" để lật đổ chế độ xă hội chủ nghĩa của Việt Nam. Mặc dù Nghị quyết TƯ 8 có xác định lại vấn đề đối tượng và đối tác trong chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc, song cụm từ "Diễn biến ḥa b́nh của thế lực thù địch" ám chỉ Mỹ và phương Tây vẫn c̣n tồn tại trong các văn kiện của đảng và nhà nước chứng tỏ đến nay vẫn coi Mỹ là kẻ thù.

C̣n đối với Trung Quốc th́ khác. Từ mối quan hệ "vừa là đồng chí, vừa là anh em", "môi hở răng lạnh", sau đó do cuộc chiến năm 1979 trở thành kẻ thù, rồi tới nay lại là mối quan hệ theo phương châm 16 chữ vàng "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" do tổng bí thư Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu xác định.

Như vậy Việt Nam vẫn xác định Mỹ là kẻ thù c̣n Trung Quốc là đồng chí. Điều này trái ngược với lập luận ở trên của người viết. Do đó, cần phải xác định lại.

Do vấn đề lịch sử cùng với các thông tin tuyên truyền một chiều, nên rất nhiều người Việt Nam vẫn coi Mỹ là kẻ thù. Đây là một thực tế, nhưng quan hệ Việt-Mỹ kể từ những năm 90 đến nay đă có bước phát triển đáng kể, từ b́nh thường hóa quan hệ tiến đến 2 nước đă có quan hệ bang giao về kinh tế, văn hóa, và nhất là quốc pḥng điều này cho thấy tính chất hợp tác ngày càng tăng của 2 nước. Nếu đánh giá rằng Mỹ có ư đồ lật đổ chế độ xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam th́ cần phải xem lại. V́ trên thực tế Việt Nam chưa phải là mối quan tâm của Mỹ hiện nay, người ta không biết xếp Việt Nam vào thứ tự ưu tiên thứ bao nhiêu của Mỹ. Vả lại theo quan điểm của Mỹ, th́ chủ nghĩa xă hội ở Việt Nam đâu có đe dọa tới quyền lợi nước Mỹ mà Mỹ t́m cách lật. Nếu Mỹ có chống th́ chỉ chống độc tài và phi dân chủ hay chống cơ chế độc quyền lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không thù hằn ǵ với dân tộc Việt Nam.

Đối với TQ, trong ngôn từ chính thức, người ta gọi Trung Quốc là "đồng chí", nhưng trong thâm tâm của mọi người, dù là lănh đạo hay người dân, dù là đảng viên hay không đảng viên, đều cảm thấy "ghê ghê" khi nhắc tới hai từ "Trung Quốc", có cảm giác như đang đứng trước một "đồng chí", hay "ông anh" hoặc "ông bạn" ǵ đó lúc nào cũng như dấu một con dao trong người, sẵn sàng sọc vào bụng ông Việt Nam lúc nào không biết. Đây là một thực tế hầu như người Việt Nam nào cũng phải thừa nhận. Cái vị trí mà Trung Quốc định thọc con dao vào sẽ là bất kỳ chỗ nào có tài nguyên dọc theo khu vực lănh hải của Việt Nam, và một vị trí được báo trước là Trường Sa.

Đặt một phép so sánh giữa một bên là Mỹ chống lại cơ chế độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam (với chưa đến 3 triệu đảng viên) và một bên là Trung Quốc đe dọa tới lợi ích của cả dân tộc Việt Nam (với 80 triệu dân), th́ đâu là bạn và đâu là thù của Việt Nam. Một Trung Quốc từng đô hộ ta tới cả ngàn năm và mới đây c̣n đánh nhau với ta ở biên giới phía bắc và trên biển mà nay ta coi là đồng chí ; c̣n Mỹ đổ quân vào miền Nam với 30 năm mà nay ta coi là thù. Nói như vậy không có nghĩa là ta phải đổi lại coi Trung Quốc là thù c̣n Mỹ là bạn, mà phải hiểu rằng khái niệm "bạn" và "thù" là một phạm trù lịch sử, tồn tại theo thời gian và điều kiện cụ thể, chứ không tồn tại vĩnh viễn. Việc của ta là phải xác định bạn thù cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Ta không nên tạo ra một kẻ thù ảo và gọi một người luôn tranh giành quyền lợi dân tộc với ta là đồng chí.

2. Cân bằng quan hệ với các nước lớn.

Chính sách cân bằng quan hệ với các nước lớn được coi là khôn ngoan trong chính sách đối ngoại của các nước nhỏ. Đối với Việt Nam trong t́nh h́nh hiện nay, chính sách cân bằng quan hệ với các nước lớn chủ yếu tập trung vào quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Chính quyền Việt Nam dường như đă cảm nhận thấy mối đe dọa từ phía TQ đang tăng lên nên đă t́m cách tăng cường quan hệ với Mỹ nhằm cân bằng quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, xét trên thực tế, quan hệ Mỹ-Việt hiện c̣n khiêm tốn hơn nhiều so với quan hệ Trung-Việt. Trung Quốc có nhiều lợi ích chiến lược ở Việt Nam, trong khi đó lợi ích chiến lược của Mỹ ở Việt Nam th́ mờ nhạt. Quan hệ Việt-Mỹ hầu như phải nằm dưới cái ô của quan hệ Trung -Việt. Mọi quan hệ của Việt Nam với Mỹ từ trước tới nay đều phải dè chừng phản ứng của Trung Quốc. Trong khi quan hệ Việt-Trung th́ diễn ra tấp nập trên mọi phương diện, ở mọi cấp độ, th́ quan hệ Việt-Mỹ c̣n hết sức hạn chế, quan hệ quốc pḥng với Mỹ vẫn được cho là nhạy cảm. Sẽ là chưa đủ nếu quan hệ quốc pḥng 2 nước chỉ dừng lại ở các chuyến thăm viêng lẫn nhau mang tính xă giao.

Điều Việt Nam cần phải làm trong lúc này là cần phải có đối thoại chiến lược với Mỹ và tiến tới h́nh thành một khung quan hệ chiến lược, tạo khuôn khổ cho sự hợp tác chiến lược mang tính thực chất. Muốn làm được điều này, Việt Nam cần phải chủ động hơn nữa trong quan hệ với Mỹ, khắc phục những bất đồng : bất đồng trong đánh giá về vị trí chiến lược của Việt Nam đối với Mỹ ; bất đồng về vấn đề nhân quyền, thương mại. Việt Nam không nên ảo tưởng cho rằng Mỹ đang cần tới Việt Nam để bao vây Trung Quốc trong lúc này (quan hệ Mỹ-Trung đang tốt đẹp nhất từ trước tới nay) ; Việt Nam không nên chính trị hóa bất đồng thương mại trong quan hệ Mỹ-Việt, những bất đồng đó là chuyện thường t́nh trong thương mại quốc tế. Việt Nam c̣n tuyên truyền Mỹ có ư đồ chuyển hóa chế độ Việt Nam thông qua Hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ. Điều này không nên, việc chính trị hóa những bất đồng này thực chất chỉ là sự thổi phồng của một số thế lực trong ĐCSVN trong đấu tranh nội bộ.

Về vấn đề dân chủ nhân quyền, đây là vấn đề nhạy cảm nhất.Cần phải có sự nh́n nhận khách quan về vấn đề này. Mỹ cho rằng Việt Nam vi phạm nghiêm trọng nhân quyền, hay thiếu dân chủ ; Việt Nam cho rằng Mỹ cũng vi phạm nhân quyền và thiếu dân chủ. Việt Nam và Mỹ cứ tranh căi hoài về dân chủ và nhân quyền, nhưng không bao giờ t́m được điểm tương đồng trong vấn đề này. Đành rằng mỗi nước có một điều kiện đặc thù riêng, song dù sao th́ nhân quyền và dân chủ cũng là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, chứ không phải của riêng Mỹ hay của Việt Nam, và đây cũng là một xu hướng tất yếu, Mỹ hay Việt Nam đều không thể không hướng tới. Mọi sự ngăn cản đều làm chậm tiến tŕnh phát triển. Đă đến lúc Việt Nam cần nh́n nhận nghiêm túc về vấn đề dân chủ và nhân quyền của ḿnh để tự thay đổi ḿnh. Việt Nam dường như không dám ca ngợi những thành quả của dân chủ và nhân quyền của Mỹ và phương Tây, v́ sợ mất đi một cái ǵ đó, trong khi đó lại không dám nh́n thẳng và nói thật về t́nh trạng mất dân chủ và nhân quyền đưa đến hàng loạt hậu quả cho xă hội như tham nhũng, tha hóa đạo đức. Vấn đề dân chủ và nhân quyền ở Mỹ và phương Tây họ đi trước ta nhiều năm và đă thu được nhiều thành quả hơn ta. Những ai là người Việt Nam đă từng theo dơi một cách khách quan (tức không bị "định hướng" của báo chí bóp méo) về diễn biến chính trị ở Mỹ như vụ Scandal của Clinton, 2 đợt bầu cử tổng thống ở Mỹ, thế thôi, th́ sẽ cảm nhận thấy được giá trị của dân chủ và nhân quyền mà người dân Mỹ được hưởng và sẽ cảm thấy thiệt tḥi khi thấy ở Việt Nam dân chủ chỉ là h́nh thức và người dân không có quyền lựa chọn.

3. Tăng cường sức mạnh dân tộc.

Đứng trước xu thế toàn cầu hóa và sự giao lưu quốc tế gia tăng đang thu hẹp mọi khoảng cách về không gian và thời gian, các dân tộc đều phải vươn lên để không bị đánh mất ḿnh. Dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó, hơn nữa c̣n đang đứng dưới cái bóng của một dân tộc Đại Hán từng thôn tính và đồng hóa ta th́ càng phải tăng cường sức mạnh dân tộc để lịch sử của dân tộc Việt Nam không phải một lần nữa nằm gọn trong bản đồ hành chính của Trung Quốc. Là người Việt Nam hăy đọc lịch sử Việt Nam và suy ngẫm cho kỹ : dân tộc ta là một dân tộc nhỏ bé, luôn chịu sức ép và sự thống trị của các nước lớn, hết người Hán, lại đến người Pháp, người Mỹ, và ngày nay ta đang là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Ta có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm hay truyền thống văn hóa của dân tộc ta, song quan trọng hơn là ta phải biết ngậm ngùi chua xót và đặt câu hỏi tại sao đến nay ta vẫn là một quốc gia nghèo đứng ở hàng nhất thế giới.

Ta phải đứng dậy ! muốn vậy trước hết cần phải đoàn kết dân tộc. Vấn đề lớn thứ nhất mà người viết muốn đề cập tới là sự đoàn kết giữa người Việt Nam trong nước và người Việt Nam hải ngoại. Do vấn đề lịch sử để lại đă làm cho người Việt Nam bị chia cách giữa trong nước và ngoài nước (đặc biệt là ở Mỹ và châu Âu), nguyên nhân chính để sự chia rẽ này c̣n tồn tại đến hôm nay là sự khác biệt về chính trị. Điều này rơ ràng làm giảm sức mạnh dân tộc, ta cần phải liên kết lại, xóa bỏ mọi hận thù, vượt qua mọi trở ngại về quá khứ. Chắc chắn rằng đă là người Việt Nam không ai không yêu nước yêu tổ quốc, đây là nền tảng và là trụ cột để chấp nhận mọi khác biệt, đoàn kết lại với nhau trong t́nh thân ái và ḷng bao dung độ lượng.

Muốn tăng cường sức mạnh dân tộc cần phải nâng cao dân trí. Sức mạnh của dân tộc ngày nay phải nói đến sức mạnh về dân trí. Dân trí không cao th́ chỉ làm nô lệ cho dân tộc khác. Thực tiễn cho thấy, người Việt Nam không phải là người không thông minh hay ít chất xám, nhưng vẫn bị liệt vào loại dân trí thấp (xét mặt bằng chung). Nguyên nhân suy cho cùng là do thiếu thông tin. Đây không phải là lỗi của người dân, mà là lỗi của các nhà chức trách. Thời đại thông tin mà cứ bưng bít thông tin hoặc thông tin một chiều th́ dân trí của người Việt Nam bao giờ mới theo kịp các dân tộc khác. Cần phải tự do thông tin. Người dân Việt Nam có đủ khả năng để tiếp cận thông tin, sàng lọc thông tin và tự nâng cao dân trí của ḿnh bằng thông tin. Trách nhiệm này thuộc về nhà nước.

4- Nâng cao sức mạnh của bộ máy nhà nước.

Đây không phải chỉ là sức mạnh của một nhà nước độc tài, mà là sức mạnh của một nhà nước dân chủ. Một bộ máy nhà nước mạnh phải là một bộ máy của 80 triệu dân và do 80 triệu dân bầu ra, chứ không phải chỉ vẻn vẹn chưa đầy 3 triệu đảng viên cộng sản bầu ra ; phải là một bộ máy mà quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, chứ không phải như hiến pháp Việt Nam quy định "quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất", nhưng tự dưng lại có một ông đảng cộng sản ở đâu đứng trên chỉ đạo. Như vậy, thực chất đảng là cơ quan quyền lực cao nhất "lănh đạo toàn diện mọi mặt", mà lại là đảng duy nhất hợp pháp, không cho phép thành lập các đảng khác. Thử hỏi quốc nạn tham nhũng hiện nay ở đâu mà ra. Không ai giám sát, không ai kiềm chế quyền lực, nên đảng cộng sản cứ tự do lộng hành, muốn làm ǵ th́ làm. Một bộ máy nhà nước ǵ mà chỗ nào cũng tham nhũng "lớn ăn lớn, bé ăn bé". Xóa bỏ căn bệnh tham nhũng ở cơ chế này chỉ là ảo tưởng, thậm chí nó ngày một công khai hơn và trở nên bệnh hoạn. Thử hỏi có ông quan nào là không tham nhũng ở chế độ này, người dân biết cả đấy, nhưng có quyền ǵ đâu mà tước bỏ vị trí của người ta.

Dân chẳng c̣n tin vào nhà nước nữa v́ tham nhũng, nhà nước cũng chẳng tin dân nữa. Nếu đưa ra trưng cầu dân ư mọi vấn đề và để dân quyết, th́ nhà nước này khó ḷng đứng vững. Mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân ngày càng xa rời th́ c̣n đâu là một nhà nước mạnh.

Nh́n lại ta thấy, những diễn biến của thời cuộc đang đặt Việt Nam vào một t́nh thế buộc phải thay đổi trong chính sách đối nội và đối ngoại nếu muốn tồn tại và không trở thành miếng mồi cho các nước lớn ăn chia hoặc xâu xé hoặc không bị đẩy lùi về sau trong quá tŕnh tiến hóa nhân loại. Về chính sách đối nội, dân chủ là một xu thế của thời đại, nhưng chưa có khả năng nào cho thấy Việt Nam sẽ đi theo chế độ dân chủ. Về chính sách đối ngoại, Việt Nam đang đứng trước 3 lựa chọn :
- 1) ngả theo Trung Quốc ;
- 2) cân bằng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc ;
- 3) ngả theo Mỹ.

Khả năng 1 là dễ nhất, nhưng hăy nh́n tấm gương ngả theo Trung Quốc của Bắc Triều Tiên hiện nay và Cambodia thời Polpot. Khả năng 3 là rất khó v́ chính quyền Việt Nam không dễ ǵ làm việc này, và cũng không nên lệ thuộc như vậy. Ta đă có bài học ngoại giao ngả hẳn theo Liên Xô để rồi làm chiến trường thử vũ khí của 2 cường quốc.

Khả năng 2 là hợp lư nhất, dù chính quyền nào cũng cần phải làm được điều này.

Việt Nam, ngày 5 tháng 1 năm 2005
Hoàng Tùng Bách

 

 

Bầu cử tại Trung Đông : một bước tiến cho ḥa b́nh
Nguyễn Trúc Giang
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 21 THÁNG HAI 2005)

Tháng giêng vừa qua có hai cuộc bầu cử tại Trung Đông, có thể thay đổi cục diện tại vùng này, đem lại sự yên ổn cho dân chúng trong vùng.

 

Bầu cử tại Iraq.

 

Cuộc bầu cử quốc hội lập hiến vào ngày chủ nhật 30 tháng tại Iraq là cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức gần hai năm sau khi quân đội đồng minh Hoa Kỳ và Anh đánh dẹp chế độ độc tài Saddam Hussein, một chế độ đă trị v́ tại Iraq gần 3 thập niên. Đây không phải là cuộc bầu cử đầu tiên tại quốc gia này. Cuộc bầu cử đầu tiên đă được tổ chức vào năm 1922, lúc đó do Anh tổ chức để bầu những người thay thế chế độ quân chủ Thổ vừa thua trận trong cuộc Đệ Nhất Thế Chiến. Nhưng trong cuộc bầu cử, các lănh đạo tôn giáo Chiite (một hệ phái của đạo Hồi giáo, khác với hệ phái Sunnite cũng hiện diện tại Iraq) đă kêu gọi tẩy chay nên từ đó các nhóm Chiite gần như bị đứng ngoài chính trường. Từ đó đến nay vẫn có những cuộc bầu cử, tuy nhiên cuộc bầu cử tự do thật sự đă xảy ra lấn chót vào năm 1954, trước khi các nhóm quân phiệt lên nắm quyền. Dưới thời Saddam Hussein cũng có những cuộc bầu cử và y như tại Việt Nam hiện nay, ai cũng biết kết quả trước khi cuộc đầu phiếu diễn ra.

Lần này, 15 triệu người dân Iraq trong nước và tại hải ngoại đă đi bầu để chọn 275 dân biểu cùng với một số dân cử khác để đại diện các vùng và quốc hội của vùng tự trị Kurd (một dân tộc thiểu số sống trên miền Bắc ở vùng biên giới Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ, dưới thời Saddam, dân tộc này đă bị đàn áp rất nặng nề và trong suốt thập niên 1990, vùng này bị Liên Hiệp Quốc cấm không quân bay qua để tránh những cuộc tàn sát). Vai tṛ của quốc hội là chuẩn bị và đề nghị một hiến pháp mới cho Iraq nội trong năm 2005 để rồi dân Iraq sẽ đi bầu một quốc hội lập pháp vào cuối năm nay hay đầu năm tới.

Một đơn vị, 9 liên danh.

Dĩ nhiên là sau một chế độ độc tài gần 30 năm, khung cảnh chánh trị Iraq không được ổn định, nên có hơn một trăm đảng phái đă ra đời và 84 đảng đă đề cử người ra tranh cử. Các đảng phái này kết hợp để thành 9 liên minh ra tranh cử. Các liên danh này sẽ được chia ghế theo số phiếu trên toàn quốc, nghĩa là chỉ có một đơn vị duy nhất cho tất cả Iraq.

Liên Minh Thống Nhất Iraq, gồm đa số các nhà chánh trị lăo thành của nhóm Chiite, được coi như là nhóm có hy vọng nhiều phiếu nhất trong cuộc bầu cử này và đă được các nhà lănh đạo tôn giáo ủng hộ, đặc biệt là giáo chủ Ali Sistani. Tuy các hệ phái Chiite tại Iraq khác với các hệ phái Chiite tại Iran chủ trương phân biệt đạo và chánh trị nhưng ảnh hưởng tinh thần của các nhà lănh đạo tôn giáo rất lớn trong quần chúng, đặc biệt tại miền nam Iraq.

Ngoài ra c̣n Liên Minh Kurdistan gồm các chánh trị gia gốc Kurde, hai đảng phái mạnh nhất của Kurde (Liên Hiệp Ái Quốc Kurdistan của ông Jalal Talabani và đảng Dân Chủ Kurdistan của ông Massoud Barzani) thường chống nhau, lần này đồng ư đứng chung một liên danh, có thể sẽ thắng lớn tại miền Bắc Iraq. Liên Minh Quốc Gia Iraq do thủ tướng lâm thời Iyad Alloui cầm đầu, có thể sẽ thâu nhiều phiếu của những người e ngại Iraq sẽ rơi vào tay các lănh đạo tôn giáo như đă xảy ra tại Iran sau khi vua Pahlevi bị lật đổ. Các chánh trị gia gốc Sunnite cũng ra tranh cử nhưng bị chia năm xẻ bảy ; đảng Hồi Giáo Iraq thân với ông Alloui đă không tham gia cuộc tranh cử kỳ này v́ đảng này cho rằng cuộc bầu cử xảy ra quá sớm. Điểm đặc biệt đáng lưu ư là trong cuộc bầu cử này có đến một phần tư ứng cử viên là phái nữ, nghĩa là hơn nhiều các quốc gia tây phương thường cổ động nam nữ b́nh quyền như Pháp hay Ư.

Khủng bố đe dọa, dân vẫn đi bầu.

Để tránh gian lận, các cử tri sẽ phải chấm ngón tay trỏ vào một loại mực xanh không tẩy được trong mấy ngày. Nhưng biện pháp này cũng làm một số người lo ngại, v́ họ sẽ không che dấu được là họ đă đi bầu. V́ các nhóm khủng bố đă hăm dọa sẽ trừng phạt những ai đi bầu, v́ đi bầu là đồng lơa với Hoa Kỳ. Trước những ngày bầu cử, các cuộc khủng bố đă liên tiếp xảy ra, đặc biệt là các nơi đầu phiếu. Một số quan sát viên quốc tế, đặc biệt là từ các quốc gia chống lại cuộc chiến tranh Iraq, như các phóng viên Pháp, cho rằng dân chúng v́ sợ khủng bố sẽ không dám tham gia cuộc bầu cử này.

Nhưng kết quả rất đáng khích lệ. Gần 75 % cử tri đă đi bầu (ở ngoại quốc hơn 95% các cử tri đă đến các ṭa lănh sự để bầu), mặc dù ở nhiều nơi, họ vẫn e ngại các nhóm khủng bố sẽ trả thù họ. 75% nghĩa là hơn hẳn ở các quốc gia dân chủ như Hoa Kỳ hay Pháp. Kết quả bầu cử sẽ không được công bố trước một tuần, thời gian tương đối khá dài, so với các quốc gia Tây phương.

Nhưng trong t́nh trạng của một quốc gia bất ổn như Iraq, ai cũng phải công nhận là cuộc bầu cử vừa qua là một chiến thắng quan trọng cho những người muốn xây dựng một nước Iraq dân chủ. Phía đồng minh Hoa Kỳ và Anh cho rằng đây là một bước tiến quan trọng cho phép họ chuẩn bị sự rút binh ra khỏi một chiến trường đẵm máu và ngưng một chiến tranh càng ngày càng bị chống đối. Các quốc gia khác, không tham chiến như Pháp hay Nga, cũng phải nh́n nhận là dân Iraq đă tiến một bước quan trọng, mặc dù trước đó họ tiên đoán là cuộc bầu cử sẽ là một tṛ hề v́ t́nh trạng bất ổn tại Iraq và v́ dân chúng không muốn đi bầu trong một lănh thổ do quân đội ngoại quốc chiếm đóng.

Những bước kế tiếp với nhiều khó khăn.

Dĩ nhiên là rất c̣n nhiều vấn đề trước mắt sau khi kết quả được công bố : tân quốc hội sẽ bầu ai làm tổng thống, ai là thủ tướng ?

Hai khó khăn đầu tiên :


- Chỗ đứng của dân Kurd và ảnh hưởng của các nhóm Chiite. Dân Kurd luôn luôn sẽ là thiểu số tại Iraq, từ khi họ bị cưỡng ép sát nhập vào Iraq năm 1924 ; nhưng với sự tham gia đông đảo của cử tri gốc Kurd, họ sẽ có nhiều dân biểu hơn phần số của họ, họ sẽ được đối xử như thế nào, và họ sẽ tham gia như thế nào vào chánh phủ tương lai ? Họ sẽ đ̣i độc lập hay không, điều mà ai cũng lo ngại. Lo ngại v́ nếu có một quốc gia Kurd tại Trung Đông th́ thế nào cũng có việc đ̣i hỏi một phần lănh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ mà dân Kurd đang sống. Một quốc gia Kurd sẽ lại gây thêm vấn đề v́ vùng của họ chứa hai phần ba tài nguyên dầu thô của Iraq. Tuy nhiên, trước ngày bầu cử, các lănh tụ Kurd tuyên bố là họ sẽ không đ̣i độc lập, nhưng họ đ̣i những chức vụ quan trọng trong chánh quyền mới.


- Vấn đề của các nhóm Chiite c̣n nhiêu khê hơn. Từ hơn 80 năm nay, tuy là đa số nhưng họ không được tham chánh ; hơn nữa, trong suốt 30 năm dưới chế độ của Saddam Hussein họ lại bị nhóm Sunnite đàn áp. Họ sẽ trả thù như thế nào ? Và các nhóm khủng bố hiện nay, đa số là gốc Sunnite dĩ nhiên sẽ kêu gọi dân chúng chống đối để tiếp tục tạo sự bất ổn. Một quốc gia hoàn toàn theo Chiite sẽ làm cho các quốc gia Á Rập khác trong vùng e ngại, v́ đa số dân Á Rập ở các quốc gia láng giềng theo hệ phái Sunnite. Họ e ngại một liên minh Iraq với Iran.

Nhưng chúng ta có thể tin rằng người dân Iraq sẽ đủ trưởng thành để đóng góp vào việc xây dựng một nền dần chủ trên lănh thổ của họ.

 

Bầu cử tại Palestine.

 

Một cuộc bầu cử khác cũng đă xảy ra tại Trung Đông. Đó là cuộc bầu cử tổng thống Palestine để chỉ định người thay thế Arafat, vào ngày 9 tháng giêng. Nhiều nhóm Palestine đă kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử này, tuy nhiên dân Palestine vẫn tham gia đông đảo, hơn 70%. Ông Mahmoud Abbas đă thắng cử trước 6 ứng cử viên khác. Việc đầu tiên của ông Abbas (mà người ta thường gọi là Abou Mazen theo phép lịch sự của người Á Rập, Abou Mazen có nghĩa là "bố của Mazen", Mazen là tên của con trai trưởng của ông) là kêu gọi các nhóm Palestine ngưng chiến với Do Thái. Và lần lượt các nhóm bạo động đồng ư nghe theo lời kêu gọi của ông. Trước thái độ ôn ḥa của ông Abbas, ông Sharon, thủ tướng Do Thái, cũng phải đành kêu gọi ngưng các cuộc tấn công của quân đội Do Thái trên lănh thổ Palestine.

Phải chăng đây là bước tiến đầu tiên cho một nền ḥa b́nh thật sự tại Trung Đông ?

 

Dân vẫn là chủ.

 

Hai cuộc bầu cử vừa qua cho thấy là dân chủ không ngừng tiến triển khắp mọi nơi, ngay cả ở những nơi không được yên ổn và chính nhờ những cuộc bầu cử này mà có thể tái lập được ổn định. Sau cuộc bầu cử tại A Phú Hăn, cuộc bầu cử tại Palestine và tại Iraq cho thấy người dân khi được quyền lựa chọn họ sẵn sàng lựa chọn, dù cho chính tính mạng của họ có thể bị đe dọa.

Dân chủ là sự lựa chọn tự do của mọi người, sự lựa chọn những người đại diện mà ḿnh cho là xứng đáng nhất. Rất tiếc là ngày nay, dân Việt Nam chưa được diễm phúc đó.

Nguyễn Trúc Giang

 

 

Những Mẩu Kính Màu (kỳ 7)
Nguyễn Minh
 (LÊN MẠNG THỨ HAI 21 THÁNG HAI 2005)

Tiếp theo kỳ trước


- Không muốn cho chị biết nhà sao dượng Út ? Năm Lan hỏi khi chuẩn bị chia tay ở bến xe mà Minh không mời cô về nhà cho biết. Minh mỉm cười lắc đầu. Cũng chẳng rơ anh xác định hay phủ nhận lời Nam Lan vừa nói.
- Thôi thế này đi... Dượng cho con bé này đi theo chị về chỗ ở của chị cho biết, mai mốt có muốn liên lạc ǵ th́ cứ đến thẳng ở đó, khỏi về quê gặp phiền phức ! Chị c̣n học ít ra cũng cả năm rưỡi mới hết khóa...

Nhận thấy đề nghị của Năm Lan hết sức hợp lư, Minh đồng ư.

Con bé Châu theo Năm Lan về khu tập thể, nơi trọ ở Sài G̣n của cô. Đó là một căn pḥng nhỏ hết sức sơ sài và kém tiện nghi. Con bé không khỏi ngạc nhiên, nó cứ ngỡ một cán bộ cao cấp lại là vợ một ông trưởng công an huyện phải có cuộc sống bề thế hơn thế này chứ !


- Cưng có bao giờ nghe chú Minh nói về vợ chú không ? Năm Lan hỏi ḍ.

Con bé lắc đầu. Nó là trẻ con thực nhưng đă lăn lộn ở cuộc sống ít nhiều không như những đứa trẻ khác, nó thừa hiểu Năm Lan muốn qua nó t́m hiểu về Minh. Sau hàng loạt câu hỏi không đi đến đâu, Năm Lan chán nản... Trước khi đón xe cho con bé về, cô chỉ nh́n nó thật lâu vào mắt và nói :


- Nếu như cháu có thương chú Minh, không muốn chú ấy buồn th́ cháu nên tạo cơ hội cho vợ chồng chú ấy gặp lại nhau. Cô nói vậy không biết cháu có nghiệm ra không ?

Con bé thoáng một giây suy nghĩ, nó biết - Minh c̣n thương vợ nhưng dường như anh đă quyết không tha thứ sai lầm của vợ, điều này... nó có cần nói ra không ?
- Nếu sau này có chuyện ǵ cần gấp, cháu cứ đến chỗ này... Nếu không gặp cô th́ nhắn lại cụ thể cho người gác cổng ... Năm Lan dặn.

***

Ba Tí đập bàn, gằn giọng,vẻ mặt hết sức dữ tợn :


- Ư cô nghĩa là sao ? Lối ăn nói hàm hồ ấy không thể chấp nhận được ! Hôm đó, tụi thằng Giàu về báo lại, tôi đă không bằng ḷng rồi... Có điều, vợ chồng phải bảo vệ uy tín cho nhau nên tôi cho qua, bữa nay cô đặt vấn đề trở lại nghĩa là sao ?
- Chẳng là sao cả, em chỉ muốn biết v́ sao anh cố t́nh truy bức dượng Út cho bằng được ! Năm Lan điềm tĩnh trả lời, cô nhất thiết làm ra lẽ, với cô - kiểu hùng hổ quát tháo của Ba Tí chẳng làm cô úy lỵ. Nh́n vẻ trân tráo của chồng, cô hỏi luôn :
- Phải chăng anh có ư đồ ǵ với con Út ? Anh muốn cướp vợ người ta à ? Vừa hỏi xong, cô thốt nhiên hối hận. Dẫu sao đó cũng chỉ là suy đoán chủ quan của cô không có chứng cớ ǵ, cô nói như vậy trách sao Ba Tí không bảo là "cô hàm hồ" ?
- Cô ăn nói kiểu ǵ vậy ? D́ Út nhà ḿnh dư sức có một tấm chồng đàng hoàng, tự nhiên rước ở đâu về thằng phế binh ngụy, coi sao được... Ba Tí nói.
- Th́ đă sao ? Chồng của nó có là ǵ cũng mặc nó, tụi nó thương nhau là được ! Ông là anh rể, xía vào làm ǵ ? Không chấp nhận Dượng Út th́ d́ nó cũng lấy làm chồng rồi ? Ai đời anh rể đi kiếm chuyện về chồng con của em vợ ! ! ! Năm Lan vừa nói vừa nh́n thẳng vào mặt chồng và linh cảm của một phụ nữ đă báo cho cô biết, giữa Ba Tí và Út Huệ ắt không đơn giản...
- Nói tóm lại, tôi không chấp nhận được thằng phế binh ngụy ấy trong gia đ́nh ! Ba Tí kết luận sau khi dọn dẹp giấy tờ trên bàn cho vào hộc tủ báo hiệu một ngày làm việc của ông trưởng công an huyện đă kết thúc.

***


- Em nói thiệt cho chị Năm nghe coi, giữa anh Năm với em có chuyện ǵ không ? Năm Lan hỏi sau khi đă khéo léo rủ Út Huệ đi uống nước ở một quán thật vắng.
- Sao chị lại hỏi em câu này ? Út Huệ nh́n chị thật nhanh rồi cắm cúi vào ly nước. Cô đă h́nh dung ra một ngày nào đó sẽ phải nghe một câu hỏi như thế này.
- Chị vừa căi nhau với anh ấy... Năm Lan nói và cảm thấy chưa đủ ư nên cô bắt đầu kể lại mọi việc, từ lúc t́nh cờ đi cùng chuyến xe đ̣ có Minh...

Nghe xong Út Huệ bật khóc. Cô đă có lỗi với chồng và đă mất anh. Thế mà, chẳng bao lâu sau khi Minh bỏ đi, Ba Tí t́m cô để nối lại mối quan hệ tội lỗi ấy ! Cô đă nhiếc móc gă không tiếc lời trước khi buông một câu đe dọa :


- Nếu ông c̣n tiếp tục t́m đến để làm phiền tôi, tôi quyết sẽ không để cho ông yên !

Ba Tí chỉ cười khà. Gă vẫn cho rằng Út Huệ vốn là người nhẹ dạ, dễ bị lôi cuốn. Trước khi bỏ đi, gă c̣n táo tợn chộp lấy vai cô mà ôm gh́, cô đă chống cự quyết liệt đến độ xước cả cổ tay và gây cho Ba Tí vài vết trầy trên g̣ má !

Những tưởng gă sẽ buông tha cô, để cho cô có cơ hội t́m gặp lại Minh cầu xin sự độ lượng của anh, thế mà... Gă, bằng quyền lực trong tay, đă tổ chức săn đuổi Minh vào đường cùng, buộc anh phải đầu hàng, bỏ đi để lại vợ con... Hơn ai hết, Út Huệ hiểu Ba Tí đến từng chân tơ kẻ tóc, đến bài bản thủ đoạn của gă để triệt hạ đối thủ. Được, đă vậy cô quyết sẽ cho gă một lần thất bại... Để xem gă giỏi đến đâu !


- Không, chẳng có chuyện ǵ đâu ! Út Huệ trả lời giọng lạnh như băng.

Dù không hoàn toàn tin vào câu trả lời của em gái nhưng Năm Lan cũng đành chịu, chẳng biết làm sao hơn. Tóm lại, mối quan hệ đáng ngờ giữa Ba Tí và Út Huệ chắc chắn có dính líu đến việc anh ta t́m đủ mọi cách triệt hạ Minh, anh chồng phế binh của Út Huệ, biết vậy, nhưng làm sao có thể chứng minh suy luận ấy là đúng ?

***

Ngay đêm ấy, Út Huệ chong đèn suốt đêm để viết . Cô viết chật một quyển vở học tṛ bằng nét chữ to và thô cứng của ḿnh. Cho đến hai hôm sau, cô mới tạm coi như viết xong, cô lập tức nhờ người ra huyện t́m đến trụ sở công an để trao cho Ba Tí một lá thư ngắn ngủi với nội dung đầy đe dọa : "Nếu ông không t́m được chồng tôi để trả anh ấy lại cho tôi, tôi sẽ tố cáo bộ mặt thật của ông với tất cả mọi người... Khi ấy để xem ông c̣n tác yêu tác quái nữa hay thôi, ông nên nhớ, tôi không thiếu chứng cớ để cho mọi người, nhứt là chị Năm, nhấn ông xuống bùn đen ! Tôi cho ông thời hạn nửa tháng, sau đó, nếu chồng tôi chưa trở về, ông đừng trách..."

Thoạt đầu được báo có tin nhắn của Út Huệ, ông trưởng công an huyện cười tít mắt cứ ngỡ là cô nàng đă nghĩ lại và gọi ḿnh vào nối lại t́nh xưa... Nào ngờ,đọc lá thư đến đâu Ba Tí nổ đom đóm đến đó. Giữa trưa mà gă thấy bụng lạnh toát, trán lại hâm hấp mồ hôi !

"Mẹ kiếp, con chó cái ấy muốn đe dọa Ba Tí này sao ? Ba Tí nhủ thầm. Vào đúng thời điểm này, quả là một quả bom cỡ lớn nổ dưới cái ghế của ông trưởng công an huyện chớ đâu phải chơi ! Sự tố cáo ấy của Út Huệ, sẽ cũng như nước đổ lá môn thôi, nếu chỉ cách đây vài tháng. C̣n bây giờ, gă đang ráo riết vận động để nhiệm kỳ tới lọt vào đảng ủy Sở Công An tỉnh thay cho ông thượng tá già đến tuổi về hưu, c̣n ai nữa ngoài Ba Tí ! ? Để chuẩn bị cho cuộc leo cao trên nấc thang quyền lực, gă đă hao tốn không biết bao nhiêu là tâm trí và sức lực, bạn bè chiến hữu đă phí biết bao công lao để củng cố, tô bóng cho Ba Tí. Thế mà giờ đây...

Đâu thể đơn giản thế được ! Ba Tí suy nghĩ - trong phạm vi quyền lực và khả năng nghiệp vụ của gă, việc t́m lại Minh để đưa anh ta trở về không phải là hoàn toàn không làm được. Nhưng nếu như vậy, từ nay trở đi Ba Tí sẽ bị khống chế bởi một bí mật do Út Huệ nắm giữ ? Không ổn rồi...


- Giàu hả ? Ừ, em về liền cho anh gặp bàn công chuyện ! Ba Tí gọi điện cho thuộc hạ thân tín nhứt của ḿnh. Thực ra cuộc đời Ba Tí có tin ai đâu ngoài bản thân, trường hợp của gă trung úy công an này là v́ một mối quan hệ khác... Cô con gái chủ nhà trọ khi xưa Út Huệ thuê trong thời gian thầu bán cơm ở bệnh viện, là nhân t́nh một thời của Ba Tí, nay là bồ ruột của Giàu ! Ba Tí thỉnh thoảng vẫn lui tới với cô ta với vai tṛ con nuôi của gia đ́nh và là vai anh của cô gái. Chẳng rơ Giàu có biết mối quan hệ khác thường ấy của hai người không nhưng y hết sức tự hào v́ có cô người yêu là em gái nuôi của thủ trưởng !

Trong lúc đợi Giàu về, Ba Tí lấy bút viết một lá thư trả lời, ngoài mục đích trấn an cho Út Huệ đừng quẫn trí và gây nên lớn chuyện, Ba Tí quyết định hẹn Út Huệ đến nhà trọ ngày xưa để gặp. Gă thuyết phục cô cứ đến gặp đừng ngại v́ gă muốn biết thêm chi tiết hầu có thể t́m Minh dễ dàng hơn...

Lá thư vừa được đem đi th́ Giàu về tới... Sau khi nghe Ba Tí thuật sơ qua về lời đe dọa của Út Huệ - gă không giấu, v́ Giàu cũng nắm khá rơ trong thời gian Út Huệ quan hệ với Ba Tí ở thị xă, Giàu luôn kề vai sát cánh để bảo vệ cho thủ trưởng, Giàu suy nghĩ thực lâu rồi hỏi Ba Tí, giọng rụt rè :


- Ư anh Ba bây giờ giải quyết sau ? Anh cứ nói, em sẽ thực hiện thôi !
- Chưa biết, để coi con nhỏ này dám làm hay không cái đă... Ba Tí trả lời.
- Theo em thấy kỳ này có vẻ không ổn đâu ! Anh Ba tính th́ tính dứt khoát một lần, để dây dưa em sợ "đêm dài sinh lắm chuyện" ! Giàu bàn.
- Tao cũng muốn cho xong chuyện ... nhưng ... Ba Tí buông lửng.
- Nhưng, sao hả anh ? Giàu hỏi ngay. Gă đang t́m đủ mọi cách o bế Ba Tí, bởi một lư do : nếu thủ trưởng của gă trèo được lên chân phó giám đốc công an tỉnh, bơ bèn ǵ thằng em thân tín cũng phải kiếm được chân trưởng, phó pḥng !
- Lần trước người của mầy xử lư vụ thằng Minh dở quá xá... Ba Tí nói.
- Dạ, cái đó cũng tại chị Ba can thiệp bất ngờ, chớ em nói thiệt... tụi này thứ dữ không hà, em sử dụng mấy vụ đều hiệu quả nên mới đưa đi xử lư vụ thằng Minh... Giàu cố giải thích.
- Thôi đi, sử dụng mấy thằng đầu trộm đuôi cướp ấy không ổn đâu ! Chuyến này nếu phải làm th́ tao với mày đích thân ra tay, dám không ? Ba Tí hỏi.
- Giờ này anh Ba c̣n hỏi em câu đó ? Giàu cười hỏi lại.

***


- Mầy có nghe con Năm bàn bạc ǵ không ? Tự dưng nó đ̣i ly dị thằng chồng cái rụp, tao hổng hiểu nổi... Bà mẹ vừa tắm rửa cho cháu vừa hỏi Út Huệ.
- Dạ không, con có nghe chị Năm nói ǵ đâu má ? Út Huệ ngạc nhiên hỏi lại. Mà má nghe ai nói.
- Thằng chồng con Năm nói chứ ai ? ! Hổng lẽ nói nói dóc ? Bà mẹ trả lời.
- Hổng biết chừng đâu má ơi ! Ông nội đó lúc này trời thần lắm... Út Huệ nói. Cô bất giác linh cảm đây là tṛ ma mảnh nào đó của Ba Tí. Với gă, khó mà đoán trước được gă dám làm ǵ và không dám làm ǵ... Phải cẩn thận mới được !

C̣n hai hôm nữa, theo lá thư của Ba Tí viết cho cô, gă hẹn gặp cô ở nhà trọ trên thị xă. Gă hứa sẽ không động chạm ǵ đến cô - trừ khi cô bằng ḷng. Việc ấy th́ không bao giờ c̣n có thể xảy ra, gă đừng có mơ tưởng !

Tuy nhiên, không thể không đề pḥng... Út Huệ đă chứng kiến gă kê súng vào đầu kẻ khác mà bóp c̣, giết người dễ hơn giết một con nhái ! Lừa lọc, xảo trá, tàn ác và đặc biệt bỉ ổi - nhất là những lĩnh vực có dính dáng đến đàn bà... Đó là thuộc tính của Ba Tí, cô nghĩ - ngay cả Năm Lan cũng chưa chắc hiểu rơ gă bằng cô ! Ngay cả thằng Trắng, con ruột của gă mười mươi, gă vẫn lạnh lùng xem như đứa con nuôi lạc loài ṇi giống của gă thiếu úy cảnh sát quốc gia ! Trong khi đó, Năm Lan vẫn lo lắng cho thằng bé ăn học tươm tất chẳng khác nào cô rứt ruột đẻ ra... Tóm lại, với Ba Tí, cái ǵ cũng có thể xảy đến mà đến một cách tàn khốc nhứt, bất ngờ nhứt...

Nghĩ vậy nên cô bắt đầu soạn một số vật dụng cần thiết. Cô nói với mẹ :
- Ngày mai con đi lên chị Năm, có ít công việc cần bàn bạc... Bà mẹ chợt ngẩn người suy nghĩ.Sau một lúc bà rụt rè :
- Mầy coi... T́m thằng Minh về đi ! Vợ chồng có giận nhau cỡ nào, có con cái rồi ...

Út Huệ lặng thinh. Cô biết, bản tính hiền hậu ít nói của Minh đă chinh phục được cảm t́nh của mẹ và chị gái, nhưng có muốn cũng không thể ! Biết Minh ở đâu mà t́m ?
- Má nghe con dặn cái này, kỹ dùm con v́ đây là công việc hết sức hệ trọng ... Bà mẹ ngạc nhiên trước vẻ nghiêm trọng khác thường của đứa con gái út. Út Huệ lấy lá thư của Ba Tí viết trả lời cho cô, kẹp vào cuốn vở cô đă ghi chép kín mít, bỏ vào một bao ni - lông mỏng cột thun cẩn thận rồi trao cho mẹ :
- Má cất thật kỹ cái này, sau này có bất cứ chuyện ǵ xảy ra với con, má chờ chồng con về đưa cho anh ấy... Nhớ đừng bao giờ cho Ba Tí hoặc chị Năm, những thứ này là sinh mạng của vợ chồng con đó nghen má !

Bà mẹ hơi hoảng trước lời lẽ của con gái. Trong chiến tranh, bà đă phải khóc chồng và ba đứa con trai, nay đến gần cuối đời, bà không muốn bất kỳ điều ǵ xảy đến cho hai đứa con gái c̣n lại và những đứa cháu ngoại của bà ...
- Út, có chuyện ǵ sắp xảy ra mà con nói theo kiểu đó hả Út ? Bà hỏi.
- Không đó là con ngừa trước, đặt biệt - ông anh rể Ba Tí của con, má đừng có tin, ông ấy không tốt đâu... Út Huệ trả lời.
- Cái đó mầy khỏi phải dặn, tao đẻ ra mầy tao không biết hay sao ? Bà mẹ nói.

Ngừng một lúc bà nói tiếp với giọng xúc động :
- Tao biết bộ mặt thực của nó từ lúc mầy lên Sài G̣n đẻ thằng Trắng lận ḱa !
- Ủa, má biết ǵ ? Út Huệ ngạc nhiên hỏi lại.
- Gạt ai chứ gạt tao sao được, tao biết thằng Trắng là con của nó, lúc đó tao cũng giận mầy lắm nhưng nghĩ cho cùng, mày lúc ấy c̣n là đứa trẻ con biết ǵ ! Trách là trách thằng anh rể bất nhân chứ đâu trách mầy... Khi con Năm về, tao im luôn sợ nó đau ḷng rồi chị em buồn nhau... Rốt cuộc khi ḥa b́nh rồi, chờ hoài không thấy mầy về tao thúc con Năm đi kiếm, nó c̣n sợ thằng chồng không bằng ḷng v́ mầy có con với thằng cảnh sát quốc gia, tao buồn hết sức, mà đâu dám nói...

Út Huệ sững người. Hóa ra bà mẹ đă biết từ lâu chuyện tồi bại của Ba Tí nhưng chính v́ muốn duy tŕ t́nh cảm chị em cho cô và chị gái nên bà đă im lặng. Nghĩ đến đó, Út Huệ mủi ḷng ứa nước mắt...

(C̣n tiếp)