|
|
|
Tủ Sách Tiếng Quê Hương vừa
cho ra đời một lúc ba tác phẩm, trong đó có cuốn "Viết Về Bè
Bạn" của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Về hình thức, đây là một trong ba
cuốn sách được trình bày và ấn loát công phu với kỹ thuật và mỹ thuật cao, vì
cả ba đều được Tiếng Quê Hương gửi in bên Đài Loan, không nề tốn kém. Sách
dày ngót 400 trang, đóng chỉ. Bìa offset bốn màu do Từ Phong trình bày, trước
và sau có mép gấp vào, vừa dày dặn vừa lịch sự, trang nhã, nhìn thoáng đã
thấy bắt mắt. Độc giả trong nước đã biết
nhiều tới tên tuổi Bùi Ngọc Tấn sau khi tác phẩm "Chuyện Kể Năm
2000" của ông vừa in ra thì bị nhà cầm quyền cộng sản ra lệnh tịch
thu toàn bộ. Đây là tác phẩm thứ hai tiếp theo tập truyện "Những
Người Rách Việc" được ra mắt sau khi tác giả ra khỏi nhà tù và bị
cấm viết liên tiếp trong hơn một phần tư thế kỷ (27 năm chẵn). Ngay sau đó
không lâu, "Chuyện Kể Năm 2000" đã được tái bản ở hải ngoại,
được bà con đón nhận nồng nhiệt, và nhờ thế chúng ta được biết tới phong cách
và văn tài của ông. "Viết Về Bè Bạn" là một cuốn hồi ký.
Nhưng khác với những hồi ký quen thuộc - trong đó, nếu không tất cả thì hầu
hết những sự việc chính thường xoay quanh thân thế và sự nghiệp của tác giả -
trong tác phẩm này Bùi Ngọc Tấn đã chọn những người bạn văn của ông làm đối
tượng hồi ký. Và mặc dầu Bùi Ngọc Tấn không công khai bộc lộ, nhưng người đọc
hiểu ngầm được những lý do sâu xa khiến một người từng ở tù như ông, không
hoặc chưa thể trực tiếp viết về mình, ít nữa là trong lúc này. Trong Lời Đầu Sách, tác giả
viết : "Thôi thì trong khi chưa hồi ký được về mình hãy Viết Về
Bè Bạn". Và ông nhấn mạnh : "Nhưng các bạn tôi hầu hết
là những người chịu nhiều vất vả, kể cả đắng cay... Đành có sao viết vậy...
Tôi viết về sự nhếch nhác trần ai của họ" (VVBB trang 12) Trong đoản văn đầu
tiên : Rừng Xưa Xanh Lá, Bùi Ngọc Tác đã hé mở cho người đọc thấy phần
nào cái -nhếch nhác, trần ai- của ba người bạn văn của ông : Đình Kính,
Chu Lai, hai nhà văn quân đội và Nguyễn Quang Thân, tác giả nhiều thiên tiểu
thuyết từng một thời làm say mê độc giả ở quốc nội. Ông viết : "Phải
có tiền.....Và cũng chỉ còn một cách kiếm tiền : viết thuê. Dùng nghề
nghiệp của mình kiếm sống". Để có tiền, nói cách khác,
để sống còn, "Thôi thì đành gác lại những trang sách vẫn nghiền ngẫm
nung nấu, những tác phẩm sẽ được viết ra bằng tim gan mình. Hãy để lại sau.
Để đến bao giờ chưa biết, nhưng trước mắt là kiếm sống" (VVBB trang
15) Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn
Quang Thân đã phải ép mình chấp nhận viết thuê cho viên giám đốc một lâm
trường quốc doanh. Dĩ nhiên họ không thể viết theo ý mình. Họ phải vận dụng
ngôn từ, chữ nghĩa, kể cả những mánh lới mang tính lưu manh, để thỏa mãn ý
muốn của người thuê viết, là biến "Rừng xưa lá úa" trở thành
"Rừng xưa xanh lá". "Rừng xưa lá úa. Nhưng
những con người đến cùng rừng hôm nay đã thay lá cho rừng. Không phải đất
trời, sự vận động của thời tiết, của bốn mùa đã làm nên điều ấy. Mà chính là
những con người (...) (...) Con đường mới mở trong rừng đâu phải chỉ làm bằng
máy móc. Trước hết, nó được làm bằng trí tuệ, bằng tinh thần trách nhiệm,
lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của những người làm việc âm thầm không
cần ai biết đến... Rừng thay lá. Rừng sống lại. Rừng lại hát khúc ca hùng
tráng của rừng". Những cây bút viết thuê này
biết rằng họ phải bịa, cho dù phải cúi mặt vì xấu hổ với lương tâm. Nhưng biết
làm gì khác hơn khi vợ con, bố mẹ và cả chính mình còn có một thứ nợ đời phải
trả. Đó là nợ áo cơm. Bằng mọi giá họ phải đáp ứng đòi hỏi của người thuê là
hoàn tất cuốn sách có tên "Rừng Xưa Xanh Lá" trong thời hạn
hai tháng được nuôi ăn, và sau khi hoàn tất được trả công mỗi người đúng một
chỉ vàng như đã quy định trong hợp đồng từ lúc khởi đầu. Bùi Ngọc Tấn đã kết
thúc câu chuyện với những chi tiết cười ra nước mắt. Chắc chắn ông không bịa
chuyện, vì đây là hồi ký với những -người thật, việc thật-. Sau khi ba nhà
văn viết thuê hớn hở nhận thù lao mỗi người một chiếc nhẫn đúng một chỉ vàng,
họ cẩn thận xỏ vào ngón tay và từ giã viên giám đốc lâm trường ra về. Nguyễn
Quang Thân về Cần Thơ. Đình Kính, Chu Lai lên xe đò về Sài Gòn. Rời bến xe, Đình Kính, Chu
Lai dùng xe đạp đi qua Vườn Bách Thảo. Tại đây họ bị một bầy -chị em ta- vây
kín, chèo kéo. Đến khi thoát ra được, đạp xe một đỗi, giơ tay lên với ý định
ngắm lại chiến lợi phẩm, Đình Kính tái mặt phát hiện : chiếc nhẫn đã
biến mất tự lúc nào ! Tất cả tài sản do công khó hai tháng trời chung
sức viết thuê kiếm được đã bị mấy -chị em ta- nhanh tay lột mất ! Chi
tiết của đoạn kết không chỉ nói lên cảnh -chó cắn áo rách- mà nhà văn Đình
Kính là nạn nhân. Nó còn là những nét chấm phá về một thực trạng xã hội không
mấy đẹp của một thành phố -mang tên bác- ngày nay. Cũng vì chuyện áo cơm,
những người bạn văn của tác giả hồi ký "Viết Về Bè Bạn" đã
phải chấp nhận làm bất cứ công việc gì, kể cả việc mang tấm thân còm cõi
đi... bán máu ! Đó là những tên tuổi trong giới văn gia không ít người
biết đến trong nền văn chương xã hội chủ nghĩa như Dương Tường, Lê Mạc Lân,
Chính Yên, Phan Kế Bảo, Phương Nam... và có nhiều phần chắc là cả tác giả "Chuyện
Kể Năm 2000". Mời độc giả theo dõi mẩu
đối thoại sau đây giữa tác giả hồi ký và Dương Tường, người từng được Phạm
Xuân Nguyên liệt kê đủ thứ -nhà-, gồm "nhà báo, dịch giả, nhà phê
bình văn học, nhà phê bình mỹ thuật, nhà phê bình âm nhạc, nhà phê bình sân
khấu", người mà rất nhiều nhà văn danh tiếng, trong số có Bùi Ngọc Tấn,
kể cả những tác giả Âu Mỹ luôn tỏ ra rất vinh dự được làm bạn thân : Sực nhớ đến Mạc Lân, tôi
hỏi : - Ông Lân ông ấy bảo tôi là
chính ông... Tường hiểu ngay điều tôi
định nói. - Chuyện bán máu ấy
à ? Tôi là thằng bán máu đầu tiên trong số anh em mình. Không ai giới
thiệu cả...... Tình thế mỗi ngày một căng. Khó khăn quá. Tôi có nghe người ta
nói chuyện bán máu. Nghĩ hay là cứ thử xem sao. Tôi vào bệnh viện Việt Đức
tìm hiểu. Đúng vào cái hồi tôi xuống ông, gặp ông Vũ Thư Hiên cũng đưa cả gia
đình xuống..., sau đợt ấy về là bắt đầu đấy. Tôi đội cái mũ sùm sụp để không
ai nhận ra mình. Vào bệnh viện quan sát... Thế là hôm trước thăm dò, hôm sau
vào đăng ký bán máu luôn. Hôm bán máu phải nhịn ăn, chỉ uống cà phê sữa thôi.
Máu của tôi thuộc nhóm máu O, nhóm máu xã hội chủ nghĩa được chuộng lắm. Số
cân của tôi chỉ được bán 150 cc thế mà đề nghị bán 200cc cũng gật đầu ngay
tắp lự......Có lần bí quá mà còn hai tuần lễ nữa mới đến kỳ bán máu, tôi than
thở với Lê Phát. Ông có nhớ Lê Phát không nhỉ. Lê Phát đài Tiếng Nói Việt Nam
cùng dịch Sê khôp với tôi. Lê Phát bảo : "Thằng trưởng phòng huyết
học là bạn tôi. Để tôi viết thư cho nó." Tường cười. Anh vừa cười
vừa thuật lại câu chuyện "đáng buồn cười"... Tối hôm ấy anh cầm thư
giới thiệu của Lê Phát tới nhà ông trưởng phòng huyết học. Đọc thư tiến cử
của Phát, ông trưởng phòng gật đầu xởi lởi : - Được. Sáng mai anh đến.
Tôi sẽ bảo chúng nó ưu tiên lấy nhiều cho anh. Đó là lần Tường bán được
nhiều nhất : 280cc ! Đại thắng trở về đài phát thanh Tiếng Nói Việt
Nam. Lê Phát đã đứng chờ ở cổng, hồi hộp : - Được không ? Tường ăn mừng thắng lợi với
Phát bằng một bữa bia hơi Cổ Tân. Phát hai vại. Tường một vại. Uống xong,
bốc, Phát nói một câu xanh rờn làm các bàn bia khác cùng quay cả lại : - Hôm nay tao uống máu thằng
Tường ! Bán máu thành công, Tường
nghĩ ngay đến Mạc Lân. Mạc Lân bán được. Bán đều. Thừa thắng xông lên, Tường
kéo Châu Diên đi..." (VVBB trang 46,47,48) Vì quá nhẹ cân, để bán được
số lượng máu cao hơn tiêu chuẩn, có lần Mạc Lân, Dương Tường đã phải lén đeo
thêm chì vào người. Là người cương trực, lại là
con nhà văn Lê Văn Trương (mà sau hiệp định Genève 54 đã theo đoàn người tị
nạn di cư vào miền Nam), thêm nữa lại quen thân với Phùng Quán, Trần Dần, tán
thành quan điểm của Nhân Văn, trong đoản văn Thời Gian Gấp Ruổi, trang 62,
Bùi Ngọc Tấn cho biết về số phận Mạc Lân như sau : "Tất nhiên anh
không được tin tưởng nữa. Đang là trưởng ban văn nghệ, anh sang làm trưởng
ban bạn đọc, rồi xuống làm phóng viên. Lương từ bậc 11 hạ xuống còn bậc 7".
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo, quá túng thiếu, nghe lời chèo kéo của Lê Bầu, Mạc
Lân về đầu quân với Hội Văn Nghệ Hà Nội. Nhưng ông vẫn không thoát khỏi cặp
mắt của những cai thầu văn nghệ của đảng. Bùi Ngọc Tấn viết : "Nhưng cái đất dụng võ
ấy đâu có phải là của Mạc Lân và cũng chẳng phải của Lê Bầu. Có một ý kiến
(hay chỉ thị) không thành văn nhưng mạnh hơn văn bản mà tất cả các báo, các
nhà xuất bản đều thực hiện rất triệt để và nghiêm chỉnh là không in bài của
Mạc Lân, Lê Bầu..." (VVBB trang 65). Trước khi một nhà văn bị hạ
tầng công tác, bị cắt lương bổng, phải sống đói rách, có thể còn lâm cảnh tù
tội, và sau khi ra tù còn bị treo bút vài thập niên như trường hợp Bùi Ngọc
Tấn, tư tưởng của họ, những bài viết của họ đã phải lọc qua cặp mắt soi bói
và khối óc bệnh hoạn của các nhà phê bình văn học trong đảng. Về chuyện này,
tác giả hồi ký viết : "Không hiểu các nhà
văn viết như thế nào, tôi -một kẻ mới tập tọng vào nghề-, khi viết luôn có ở
trước mặt một nhà phê bình, một nhà tuyên huấn và sau này có cả một nhà...
công an nữa. Họ nghiêm khắc nhìn tôi. Tôi đem điều ấy trao đổi
với Nguyên Hồng. Anh không nhận xét gì ý kiến của tôi. Nhưng anh nói : - Mình lăn lộn, mình nghiền
ngẫm, mình đọc, có khi 5 năm, chục năm mới xong một quyển sách, mấy ông phê
bình đọc vài đêm xong sáng tác của mình, thế là các ông ấy phán. Nào là chưa
sâu, nào là thiếu tính giai cấp..... Tôi góp thêm : - Cái kinh nhất là các nhà
phê bình cứ đánh, cứ nói, còn các nhà văn không có chỗ nào để nói lại, để
thanh minh. Hôm ấy Dương Tường cũng có
mặt ở nhà tôi. Đôi mắt cười sau cặp kính cận dầy cộp. Tường bảo : - Tôi đọc cái này cho anh
Hồng và Tấn nghe nhé. Tường giở cái túi vải tùy
thân, rút ra tờ L'Humanité (Nhân Đạo -cơ quan trung ương của đảng Cộng Sản
Pháp). Tôi đọc đoạn Ep-tu-sen-cô sang Pháp cho các anh nghe. Thú lắm. Và Tường đọc thẳng ra tiếng
Việt : - Đây là lời Ep-tu-sen-cô
-Tường nói- -Thế là tôi đến Pa-ri, trong túi không một đồng frăng, trong mồm
không một tiếng Pháp. Ở Pa-ri, một đêm tôi dạo chơi trên bờ sông Xen. Một đám
người đang đi lại phía tôi, ca hát rất vui nhộn. Tay họ cầm những con dao
bầu, dao nhọn, những cái kéo, những cái dùi, tất cả sáng loáng, đánh vào nhau
xủng xoảng. Nhìn họ, tôi đinh ninh đấy là những nhà phê bình văn học. Mãi tới
khi nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ quốc tế, nghĩa là làm điệu bộ, tôi
mới biết họ làm ở lò sát sinh-. Tất cả chúng tôi cùng cười
phá. Cả ba cùng giàn nước mắt. Tôi nhận xét : - Thì ra không riêng ta.
Bên Liên Xô những người sáng tác cũng chẳng ưa gì các nhà phê bình (VVBB trang 282-283). Ra khỏi nhà tù, được về xum
họp với vợ con, nhưng Bùi Ngọc Tấn phải đối diện với hai thực tại đáng
buồn : nghèo túng và sự cô đơn. Vì sợ vạ lây, phần lớn bạn bè lúc trước,
kẻ thân người sơ đều tìm cách lảng xa ông. Tác giả hồi ký viết : "Khi ở tù ra, hầu như
tôi chỉ còn một nhúm bạn bè, trong đó có Nguyên Bình, người không bao giờ bỏ
tôi trong những lúc gian lao, nguy hiểm, đói nghèo nhất...Tôi chẳng dám trách
ai. Bởi cái ống ngắm hiển nhiên là đang nhắm vào tôi. Chẳng ai lại muốn mình
hiện hình trong vòng nhắm. Đừng có đem sinh mạng mình, đời sống gia đình vợ
con mình ra đùa cợt. Thế mà trong những ngày ấy tôi lại có thêm một người bạn
mới : Nguyễn Thị Hoài Thanh. Chị thường xuyên đến nhà. Nói chuyện với
tôi. Bàn chuyện làm ăn sinh sống với vợ tôi. Dạy hai con gái tôi cách thêu
bô-đê để kiếm sống... Chị như một chỗ dựa tinh thần, một sự động viên vợ tôi
trong những ngày tháng gian lao ấy". (VVBB trang 96-97) Trong số những bạn văn của
Bùi Ngọc Tấn có cuộc sống lầm than nhếch nhác, lận đận nhất phải kể tới
Nguyễn Thị Hoài Thanh. Đấy là một người con gái có khiếu thơ văn rất sớm.
Ngay từ năm 13 tuổi cô đã làm thơ, viết văn. Năm 16, bài thơ đầu được đăng
trên báo Thế Kỷ. Khi trưởng thành, cô không chỉ làm thơ mà đời còn dạy cho cô
biết làm đủ nghề, kể cả những nghề lam lũ, nặng nhọc thường dành cho nam giới
như chở than, bốc hàng, mua cá ướp chượp làm mắm. Sở dĩ đời cô bị quật lên
quật xuống chỉ vì tính cương trực, không chịu khuất phục những loại thủ
trưởng bất tài nhưng háo sắc luôn tìm cơ hội lợi dụng cô. Bùi Ngọc Tấn viết về Nguyễn
Thị Hoài Thanh như sau : "Thời còn con gái chị
vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân.
Hai lần kết hôn, hai lần ly dị. Vẻ đẹp ba mươi đang chín. Cái sắc đẹp không
chủ đã gây cho chị biết bao khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa. - Người ta cứ coi tôi là
con mụ Hến anh ạ. Chị nói vậy và cười hồn
nhiên : - Ngày ấy mình còn màu mỡ. Sau này, khi đã lục tuần,
ngồi ôn lại cuộc đời, chị nói với tôi như vậy. Và cũng như cô Hến, cái đám Nghêu,
Sò cũng toàn là các hàng chức sắc nên rất nguy hiểm. Thời gian chị còn làm
thợ điện ở công ty X, chỉ vì không chịu bắt tay ông trưởng phòng của chị mà
chị không được chấm công, không có lương..." Mở dấu ngoặc đơn, tác giả
hồi ký ghi thêm : (Bắt tay là chuyện bình thường, nhưng đây lại là một
kiểu ra đụng vào chạm, một kiểu lợi dụng của ông trưởng phòng mà chị biết
rõ)"
(VVBB trang 101). Trước ngày bị đẩy vào vòng
tù tội, Bùi Ngọc Tấn từng gặp gỡ Nguyễn Thị Hoài Thanh trong những cuộc họp,
nhưng chưa một lần trò truyện. Ấy vậy mà sau khi ra tù, bị hầu hết bạn bè xa
lánh, cô gái đã bước vào tuổi xế chiều, đang sống lao đao lận đận ấy lại tự
nguyện tìm tới giúp đỡ, an ủi vợ chồng ông. Có rất nhiều lời đồn đoán về thân
thế Hoài Thanh, trong đó có người còn gán cho cô là em gái của tướng không
quân Nguyễn Cao Kỳ ( ?) (VVBB trang 99). Ngoài những khuôn mặt được
coi như cùng một lứa bên trời lận đận như Bùi Minh Quốc, Vũ Thư Hiên, Phù
Thăng, Châu Diên, Vũ Bão, Nguyễn Tri Tình, Tất Vinh, Dương Tường, Lê Mạc Lân,
Lê Bầu, Vũ Tín, Hứa Văn Định, Nguyễn Thị Hoài Thanh v.v..., tác giả hồi ký "Viết
Về Bè Bạn" đã dành gần phân nửa tác phẩm để viết về nhà văn Nguyên
Hồng, tác giả Bỉ Vỏ một tác phẩm nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam ngay từ thời
tiền chiến. Qua phần này, người đọc
nhận ra mối cảm tình đặc biệt của Bùi Ngọc Tấn đối với tác giả "Bỉ
Vỏ", "Những Ngày Thơ Ấu". Đấy là mối cảm tình sâu
sắc được làm nên bằng thái độ cảm thông, trân trọng, hâm mộ một tài năng bậc
thày, một tâm hồn nhạy cảm, một nhân cách đặc biệt chứa đựng trong một con
người chơn chất bình dị, dễ dàng rơi lệ trước những bất công, những cảnh ngộ
đau đớn, nghịch lòng, không phải chỉ của chính mình mà của tha nhân, bà con,
bằng hữu. Nguyên Hồng là nhà văn được
chế độ đón chào rất sớm, nhưng cũng lại là người bị coi là -có vấn đề- không
lâu, sau khi được tín nhiệm giao phó vai trò chủ bút tuần báo Văn. Bùi Ngọc
Tấn viết : "Sau Nhân Văn, có hai
người được tin tưởng sang trấn giữ hai cửa ải quan trọng nếu không nói là
quan trọng nhất : Hà Minh Tuân làm giám đốc nhà xuất bản Văn Học, Nguyên
Hồng làm chủ bút báo Văn, cơ quan của Hội Nhà Văn" (VVBB trang 241). Nhưng rồi tác giả Bỉ Vỏ,
Những Ngày Thơ Ấu đã bị quy kết là đi ngược chủ trương đường lối của đảng khi
đăng Nhật Ký Người Mẹ của Lê Minh, Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán, Xiếc Khỉ của
Quang Dũng, Ông Năm Chuột của Phan Khôi. Nơi trang 242, sau khi nhắc
tới những căn nguyên khiến Nguyên Hồng bị loại khỏi tuần báo Văn Ồtờ báo đã
được những người nắm giữ guồng máy đảng trao cho ông vai trò chủ bút sau khi
xảy ra vụ Nhân văn Giai Phẩm- tác giả hồi ký "Viết Về Bè Bạn"-
ghi lai như sau : "Một tờ báo lớn đã nói
rất hình ảnh : -trước chữ Văn ta thấy chữ Nhân ló ra-. Rất tình cờ,
trong khi lục những tài liệu liên quan đến Nguyên Hồng, tôi tìm được một tập
sách xuất bản từ năm 1957 - -Một Số Vấn Đề Đấu tranh Trong Văn Nghệ. Nhà XB
Văn Hóa 1957- nói rất kỹ những sai lầm của báo Văn và của Nguyên Hồng". Bùi Ngọc Tấn đã trích đăng
một đoạn dài của tập sách hài tội Nguyên Hồng trên đây. Sau đó, tác giả hồi
ký viết tiếp : "Báo Văn đóng cửa,
Nguyên Hồng mất chức. Nguyên Hồng đã đi đến một quyết định ghê gớm :
chuyển tất cả gia đình từ Hà Nội về Nhã Nam (Yên Thế, quê hương Đề Thám. TPV
chú thích). Nguyên Hồng nói với Tô Hoài : -Ông đéo chơi với chúng mày
nữa. Ông về Nhã Nam-. Ở Hà Nội Nguyên Hồng đã có nhà. Vợ anh đi làm cho nhà
nước, ở hiệu sách Nhân Dân. Các con anh đang học tại các trường Hà Nội. Gia
đình anh đang được hưởng toàn bộ tem phiếu cung cấp. Rời Hà Nội là mất tất cả. Sau này khi quen Nguyên
Hồng, biết được sự túng thiếu ám ảnh anh, mang máng đoán được cuộc sống khó
khăn của vợ anh, một phụ nữ gầy yếu, đàn con tuổi học trò xoai xoai trứng gà
trứng vịt của anh, hơn một lần nghe anh thổ lộ niềm ao ước có sổ gạo cho cả
gia đình, tôi vừa thương, lại cũng vừa trách anh. Nhưng tôi kính phục hành
động ấy..." Quan sát thái độ của Nguyên
Hồng qua quyết định gọi là -ghê gớm- kể trên ở mộc góc độ cao hơn, Bùi Ngọc
Tấn nhận định : "... Nguyên Hồng, bằng hành động của mình, một
cách không tự giác, là nhà văn chống bao cấp đầu tiên ở nước ta".
(VVBB trang 247-148). Sau Nguyên Hồng, đến lượt
Hà Minh Tuân cũng bị loại khỏi cửa ải xuất bản chính thức của đảng và nhà
nước. Chúng ta hãy đọc những giòng sau đây trong hồi ký ỀViết Về Bè
BạnỂ : "... khi Hà Minh Tuân
bị đòn hội chợ, bị dính nhiều -chưởng- vì viết và in tiểu thuyết Vào Đời,
Nguyên Hồng nói với tôi, vừa nói vừa cười. - Thế là lại đến lượt thằng
Tuân. Anh cười đấy, nhưng tôi
thấy đôi mắt anh đượm buồn." (VVBB trang 256) Thời gian bị phê phán, bị
theo dõi và cuối cùng bị tống ngục trong 5 năm dài, dù bị bạn bè xa lánh,
nhưng Bùi Ngọc Tấn hiểu được hoàn cảnh của mình, hiểu được thái độ chẳng đặng
đừng của bạn. Vì an ninh bản thân và vì sự sống còn của vợ con, mọi người có
lý do chính đáng để tránh hình ảnh của mình hiện ra trong vòng ngắm của cơ
quan an ninh nhà nước đang hướng vào ông. Chính Nguyên Hồng cũng không ra
khỏi cái quy luật lạnh lùng ấy. Nhưng cũng đã hơn một lần Bùi Ngọc Tấn không
khỏi se buồn với ý nghĩ tác giả Những Ngày Thơ Ấu bắt đầu giữ một khoảng cách
đối với ông. Tuy vậy, lời thuật lại cách hồn nhiên dưới đây của người bạn đời
sau ngày được phóng thích không những không làm giảm đi những tình cảm của
nhà văn họ Bùi đối với Nguyên Hồng mà càng khiến ông thông cảm với người bạn
văn vong niên này hơn nữa : "- Anh đi rồi, ở nhà
em đi làm dọc đường Hồng Bàng. Dạo ấy Hội Văn Nghệ còn ở đường Hồng Bàng. Một
ngày đi đi về về bốn lần qua trụ sở Hội, lại càng nhớ thương anh. Có lần đi
qua cửa Hội, thấy bác Nguyên Hồng ngồi trong nhìn ra. Lại có lần gặp bác đi
ngược chiều. Không biết bác có nhìn thấy em không ? Giá như trước đây,
em đã gọi...
(VVBV trang 337) Tình cảm tràn đầy của tác
giả hồi ký dành cho Nguyên Hồng đã được đền bù xứng đáng. Bởi vì : Tôi như nhìn thấy một thời
đã mất. Tôi như nhìn thấy Nguyên Hồng còn sống....đứng trước cửa nhà tôi,
chòm râu thưa, nụ cười gặp gỡ thân thiết và tươi tắn... Ngày ấy phải sau năm năm
tôi mới gặp lại anh....Với tôi, năm năm ấy là vô tận, năm năm ấy là một kiếp.
Khi tôi ở tù ra, Nguyên Hồng lại đến thăm tôi. Cơn bão đã đến và cơn bao đã
đi qua rồi. Anh với tất cả dáng vẻ quen thuộc lại ở trong căn buồng sóng gió
của tôi. Nhìn anh, tôi cười. Nhìn tôi, anh khóc. Chưa bao giờ tôi thấy
Nguyên Hồng khóc nhiều như lần ấy." (VVBB trang 337-338) Trước khi chấm dứt bài viết
ngắn về hồi ký "Viết Về Bè Bạn" của Bùi Ngọc Tấn, người viết
muốn ghi lại đây những suy tư sau buổi điện đàm với tác giả trong những ngày
ông thăm nước Pháp mới đây. Ông nói, sau bao truân chuyên, lận đận, cuối đời
không ngờ ông lại còn có cơ may gặp lại những bạn bè thân thiết, trong đó có
Vũ Thư Hiên, trong khung cảnh tự do, thoáng mát này. Hỏi về những ước vọng gần
nhất của ông, sau giây phút ngập ngừng, nhà văn họ Bùi xúc động nói : "Nếu
được, tôi mong mỏi một ngày nào đó, tôi có phương tiện để nhà tôi -người bạn
đời chung thủy đã chia sẻ với tôi những ngọt bùi cay đắng trong mấy chục năm
qua- có cơ may hưởng những gì tôi đang hưởng trong chuyến đi hãn hữu
này." Với niềm xúc cảm không
cùng, người viết ước mong tâm nguyện trên đây của tác giả "Chuyện Kể
Năm 2000" và hồi ký "Viết Về Bè Bạn" sớm trở thành
hiện thực. Trần Phong Vũ |