Ðời Nhặt Rác

Trần An Hòa
 (LMVNTD - LÊN MẠNG THỨ HAI 18 THÁNG BẢY 2005)

Ngày nào cũng như mọi ngày, từ sáng sớm đã có những tiếng rao lanh lảnh của những người chuyên mua "ve chai lông vịt." Tiếng rao của những người này vang lên rất thường ở khắp "hang cùng ngõ hẻm" kể từ khi người dân cả nước bị đổi đời từ khá giả biến thành nghèo mạt. Khi cả nước phải sống bằng tem phiếu, hộ khẩu sau 75 nhiều người bắt buộc phải liều mạng "nhắm mắt đưa chân," trôi giạt tứ xứ, tha phương cầu thực. Họ bất chấp, bất cần đời làm bất cứ việc gì để có tiền. Họ không trông cậy gì ở nhà nước, và không để ý gì đến các khẩu hiệu do nhà nước đưa ra ; nhà nước vẽ ra thiên đường, 10 năm, hai mươi năm, vì họ biết chắc rằng nhà nước chỉ hứa hẹn cho vui mà không có thực. Họ là những người bị bỏ quên, bỏ quên như hầu hết những đứa trẻ không có điều kiện để đi học. Họ sống bằng nghề nhặt rác, bao bì nylon. Họ là dân trôi giạt từ đồng quê, từ các tỉnh phía Bắc vào. Từ một chỗ nghèo xơ xác này tới một chỗ nghèo khác, nhưng đối với họ là cuộc phiêu lưu mặc cho số phận với miền "đất hứa" khác ở Miền Nam. Họ chấp nhận số phận cùng với những lao đao tràn ngập mới như họ, của những người khác, tuy nhiên họ cũng có những ước mơ thật đơn giản để mong có một đời sống kinh tế khá hơn cho gia đình của họ.

Mặc dù nhà nước lớn nhỏ lo làm giàu và cũng hành tội họ không ít vì là dân tứ xứ sống chui nhủi không sổ gia đình, họ chấp nhận thiệt thòi ở những khoản tiền tươi lo lót cho đám cán bộ công an phường xóm để được yên thân làm nghề lượm rác !. Một xóm nhỏ thuộc khu phố số 1, đường Lê Ðức Thọ, phường 5, quận Gò Vấp, nơi đây có những căn nhà nhỏ mái tôn, đóng ván, xây cất bằng những tấm bìa và những vật liệu tạm bợ, đến từ vật phế thải ở các bãi rác. Ðây là một xóm nhỏ ở 1 quận ven đô. Các căn nhà dựng tạm gần các bãi rác. Những người đến đây đa số phải mướn nhà trọ, họ phải cố giấu thân phận mình bằng một nghề nghe như có vẻ bình thường là công nhân ở chợ hay một cửa hàng hay đang làm một công việc gì đó nghe có vẻ lương thiện cho có vẻ êm tai...

Xã hội bây giờ đầy dẫy những giả tạo như vậy, không ai muốn nói đến chuyện thật đời mình. Lý do đơn giản là nói thật thì bị khó khăn hay chỉ làm thiệt thân. Chủ nhà sẽ không cho mướn khi họ phải khai là đang hành nghề "lượm rác." Một khi bị ai đó phác giác ra cái nghề nghiệp cùng đinh này, có lẽ họ sẽ bị từ chối hay bị đuổi đi. Nhiều khu vực, các tổ dân thành phố cũng có những ông bà chủ "trời con" kỳ thị thấy rõ, họ có thành kiến không cho người đi nhặt rác đến đây ở. Họ sợ ô nhiễm đã đành, còn sợ bị lây bệnh hay sợ hôi thối từ những thứ lỉnh kỉnh do người nhặt rác mang về.

  Những Nỗi Buồn :

Báo chí ở Sài Gòn vẫn thường hay mô tả về những người đạp xe cọc cạch, xe phủ đầy phế liệu, thường trực có mặt ở dốc cầu Muối, quận Nhất. Một người đàn bà tên Nguyễn thị Lê Hương, quê quán quận Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị trông còn rất trẻ, khăn chống nắng quấn quanh cổ, đầu đội nón lá úp xuống mặt. Mặt chị đầy mồ hôi, dáng người nhỏ, chị ngồi nhìn xuống dòng kinh nước đen. Hai năm trước đây, chị Hương sống bằng nghề bán nước trà, thuốc lá rong tại ga Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Cuộc sống của chị càng ngày càng khó khăn gần bến xe, ga tàu quá đỗi cực nhọc. Chị phải làm cật lực mà lợi tức không đủ cho hai bữa cơm cho ba đứa con còn nhỏ. Chị bỏ vào Nam làm một cuộc phiêu lưu, đàng nào cũng là kẻ lang thang không nhà, đàng nào cũng gọi là nghèo, nếu như có nghèo thêm thì cũng vậy thôi.

Cuộc đời của chị là những chuỗi ngày trôi nổi, xuất thân là đứa trẻ sống nhờ ở đậu, bám vào nhà ga xe lửa miền Trung từ khi còn nhỏ. Năm 19 tuổi chị lấy chồng, anh chồng là phu đạp xích lô trong ga. Chồng của chị cũng là thành phần nghèo khó, hoàn cảnh của anh cũng không khác gì chị khi anh còn độc thân. Anh chồng không chịu nổi cảnh túng bấn tay làm hàm nhai, một ngày kia anh bỏ đi làm công xa, theo các tay lái buôn gỗ miền núi. Với nghề lao động mới, anh hy vọng sẽ kiếm được tiền khá hơn để nuôi gia đình. Nhưng, tại nạn đã xảy ra.

Một chiều muà Ðông cuối năm 2001, chị Hương đang bế đứa con thứ ba ở nhà còn đỏ hỏn thì ông chủ bè gỗ báo tin dữ. Chồng chị đã chết ở bệnh viện do một tai nạn trong lúc bốc cây lên bờ ở hạ lưu sông Hồng, đoạn gần tỉnh Thái Bình. Hoàn cảnh khó khăn, con còn quá nhỏ, chồng chết, người đàn bà bất hạnh phải đành gạt nước mắt đứng dậy lao vào cuộc đời bon chen mới kiếm sống để nuôi con. Hồi Tết năm 2003 có người quen từ Sài Gòn về thăm nhà, thấy tình cảnh quá khó khăn của chị liền rủ chị vào Sài Gòn đi ở mướn như chị ta. Sau khi nghe bà chị "miền Nam" mô tả bày vẽ rất nhiều điều mới lạ ở cái xứ xa xôi, xem ra hấp dẫn, nơi mà cả dòng họ nhà chị chưa ai đặt chân tới, ánh sáng của đô thị và những hấp dẫn qua lời kể cứ ám ảnh, cứ chập chờn trong mắt của chị trong suốt mấy ngày Tết. Sau Tết, chị Hương gởi con nhỏ cho bà ngoại, rồi thực hiện chuyến xuôi Nam.

Vào Sài Gòn, chị được người cùng làng xóm nhận vào giúp việc, nhưng bản tánh chị vốn tính phiêu lưu từ khi còn bé, chị chịu không nổi cảnh ngày ngày đi chợ lo cho những bữa ăn cho gia đình người ta, lại còn phải nghe những lời hành hạ gắt gỏng sai khiến của các cô, cậu chủ. Rồi một ngày, có người đến gia đình bà chủ nhà mua ve chai, chị lân la hỏi chuyện, nghe nghề mua ve chai cũng hấp dẫn không đến nỗi nào. Chị xin nghỉ việc, bắt đầu về khu Bệnh Viện Gò Vấp, thuê nhà trọ cùng chị em ngoài Bắc vào, đi nhặt rác. Cuộc đời nhặt rác của chị đánh dấu từ buổi đó.

Bây giờ chị Hương đã trở thành người nhặt rác thâm niên trong con hẻm phiá sau bệnh viện Gò Vấp. Một ngày làm việc của chị bắt đầu bằng việc ăn uống vào buổi sáng, sau đó chuẩn bị đồ nghề rồi lên đường lúc 9 giờ. Người đi nhặt rác như chị Hương phải đi khắp các ngõ ngách phố phường, bới lục từ mặt đất xuống đáy thùng rác, bao bì thu nhặt, vỏ chai, mẩu giấy bìa cạt tông v.v... hay bất cứ thứ gì có thể bán được chị đều lấy hết. Chị phải đạp xe liên tục trên mặt đường từ sáng cho đến khuya mới về đến nhà, nếu phải cộng lại khoảng đường cả ngày chị phải đạp xe trên cả trăm cấy số.

Chị Hương và 5 chị khác ngoài 40 tuổi chia nhau nơi tạm trú trong căn nhà 5 thước vuông che bằng mái tôn. Cả căn nhà nhỏ không có gì đáng giá, tất cả toàn những đồ người ta bỏ đi, chị và những người khác mang về nhà dùng. Chị kể chuyện : Nhiều khi nhặt được những bắp cải vẫn còn lạnh người ta bỏ đi vì đã thối vỏ, chị mang về bóc bỏ vỏ thối và ăn, như vậy cũng tiết kiệm tiền mua rau trong ngày.

Một cảnh đời khác, anh Nguyễn văn Dung, xã Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1981, anh Dung nhập ngũ, phục vụ chiến trường biên giới phía Bắc. Ngày gần xuất ngũ, trong khi làm lao động anh bị tai nạn. Năm 1984, anh trở về nhà với một nửa chân giả. Rồi anh Dung cũng phải lấy vợ, xây dựng gia đình. Anh vốn là dân sống về làm ruộng và đánh cá, quanh năm làm bạn với đất và nước sông Hồng. Anh tánh hiền lành như củ khoai. Làm nghề nông không khá vì mãi mất mùa, lúa không phân bón nên cũng không cho nhiều kết quả, làm mãi cũng không khá, anh gom góp tiền và vay mượn đi buôn thuốc lào lẻ. Nhưng ở vùng quê dân chúng cũng nghèo, bán buôn thường phải bán chịu và kẻ nghèo cứ khất lần, từ đó không thu lợi được, anh đã hết vốn và phá sản. Dù đã lâu mà vẫn có người chưa trả nổi tiền mua chịu thuốc lào của anh, mặc dù anh đã bỏ nghề bán thuốc lá lẻ đã 6 năm. Thấy vài người bạn trong xã đi vào Nam làm ăn quá nhiều, anh bèn đưa vợ vào Sài Gòn. Anh Dung vào Sài Gòn đã 6 năm, những năm trước anh làm đủ nghề từ làm nghề đấm bóp dạo, giác hơi, giữ xe, hai năm gần đây vợ chồng anh chuyển sang nghề nhặt rác. Hai vợ chồng hàng ngày lang thang khắp các nẻo đường, chị vợ đi ban ngày, anh đi nhặt rác vào ban đêm lúc trời gần sáng.

Cuộc đời nghĩ cũng lạ, rác của người này chê, sẽ là vật dụng của người khác. Trong nhà của anh Dung các vật liệu từ cái bếp gas, quạt điện, nồi cơm điện, chiếc chiếu ăn... đều đến từ đống rác, sửa chữa chút đỉnh vẫn có thể dùng tạm. Anh ở đất Sài Gòn 6 năm mà đã hai năm đi nhặt rác. Tuy nhiên, khéo hà tiện bây giờ hai vợ chồng cũng phần nào khá hơn so với thời gian ở đất Bắc. Anh mơ ước khi có tiền sẽ mua 1 miếng đất nho nhỏ ở ngoại ô để cất nhà và đưa con cái vào Nam học hành các lớp trung học, anh không muốn con cái của mình phải khổ sở như cha mẹ chúng.

  Những Vấn Ðề Của Rác :

Làm nghề nhặt rác cũng thường gặp những hiểm nguy. Bệnh tật luôn luôn rình rập vì rác vốn bẩn thỉu và mầm bệnh luôn luôn là nguy cơ hàng đầu. Từ đầu năm 2005, tại bệnh viên 175 quận Gò Vấp có bệnh nhân tên Hoàng thị Hằng, quê quán xã Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, chị phải điều trị cấp cứu gấp vì gặp nguy hiểm. Chị Hằng trọ tại xóm rác trong căn cứ 26, quận Gò Vấp. Do đi nhặt rác về chứa trong nhà, chờ có giá đem đi bán, chị bị muỗi cắn sinh bệnh sốt xuất huyết mà chị không hay, cứ nằm nhà nhờ các bạn đồng nghiệp mua thuốc cảm. Uống thuốc mà bệnh không lành, lâu ngày biến chứng thành sưng gan, người chị Hằng ốm tong xẹp lép như tàu lá úa. Sau bệnh quá trầm trọng, chị được đưa vào bệnh viện 175 cấp cứu trong vòng 1 tuần, bệnh mới thuyên giảm. Tổng số tiền chi phí cho bệnh viện trong 10 ngày mất trên 5 triệu đồng, bao nhiều tiền dành dụm từ nhặt rác không đủ trả tiền thuốc do căn bệnh đến từ rác. Khi xuất viện, chị Hằng trở về quê nhà, và thề vĩnh viễn giã từ nghề nhặt rác. Bây giờ, nghe nói chị đã chạy đường đi làm lao động bên Ðài Loan hay đã đi lấy chồng ngoại quốc !

Năm 2004, tại hẻm 71, khu vực căn cứ 26, quận Gò vấp, có một người đi nhặt rác bị lao phổi nặng do hàng ngày tiếp xúc với quá nhiều rác, bệnh nhân mặc dù đã đi khắp các bệnh viện để chữa trị nhưng vẫn không thóat khỏi tử thần. Cuối cùng người nhà đành phải thuê xe mang bệnh nhân về Nghệ An và chết tại đó.

Hiện nay, tại Sài Gòn có cả ngàn người làm nghề nhặt rác. Họ đa số đến đây từ các tỉnh miền Bắc, bắc Trung Bộ. Họ sống quây quần thành xóm nhặt rác, nhiều nhất nằm trong khu vực quận Gò Vấp. Trong đó có những ngõ hẻm người nhặt rác là những người cùng địa phương ở ngoài Bắc. Họ cùng thuê phòng trọ tiêu biểu như tại đường Lê Ðức Thọ, P.15 đa số là người từ huyện Vĩnh Trường, tỉnh Vĩnh Phúc. Khu vực căn cứ 26 tập trung người từ tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc. Khu bệnh viện Gò Vấp tập trung người đến từ Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Phúc và khu P.7 tập trung người từ Thái Bình.

Sài Gòn, thành phố lớn nhất nước Việt Nam, đang phát triển mạnh nên cũng hấp dẫn dân tứ xứ đổ về đây làm ăn, sinh sống lập nghiệp nên dân số ngày càng tăng, những người lang thang không sổ gia đình. Nhà nước không thể nào kiểm soát nổi, nhà nước cũng đã nhìn ra những vấn đề xã hội đến từ sự chênh lệch giàu nghèo. Người đi nhặt rác tự do đào xới khắp hang cùng ngõ hẻm. Ðã gặp cảnh khốn cùng thì họ tìm được thứ gì từ đống rác có thể bán kiếm tiền là cứ đào bới, từ đó nạn rác khắp nơi rơi rớt ra mặt đường càng làm ô nhiễm thành phố và sở rác cũng bất lực bó tay, cho nên thành phố dù mệnh danh là hòn ngọc Viễn Ðông chỉ còn là tên gọi trong quá khứ. Cũng có người nêu lên câu hỏi cho nhà nước về cách thức thu lượm rác và tập trung những người nhặt rác vào một khu vực giúp người nghèo có việc làm và làm giảm bớt ô nhiễm môi sinh. Câu hỏi cứ nêu ra còn làm được hay không là chuyện khác. Nhà nước không dành ưu tiên cho người nghèo. Các kế hoạch dân sinh không là chủ yếu, bàn thì cứ bàn, họp thì cứ họp cho qua ngày chứ kế hoạch chỉ là kế hoạch, chỉ khả thi bên bàn nhậu. Có người còn mong chờ viện trợ. Có thể sẽ trích ra 1 phần cắt từ ngân khoản viện trợ chống và chữa trị bệnh liệt kháng của Hoa Kỳ.

Thành phố có văn minh hay sạch sẽ hơn chỉ còn là mơ ước của giới nhà giàu, của chánh phủ ; có thể sẽ được quét dọn, "sơn phết" để hấp dẫn đầu tư kỹ nghệ rác ! Nghề nhặt rác lại thêm nhân lực, không khéo ngày nào đó nghề này sẽ được liệt kê trong danh bạ danh nhân thành phố trong quyển niên giám điện thoại làng ; xóm nhặt rác ở ngay tại Sài Gòn, con đường Lê Ðức Thọ không chừng phải đổi tên thành Nguyễn Tất Thành cho có vẻ quần chúng, và ở đây nay đã sản sanh thêm ra anh hùng "Lao Ðộng" cả nước sẽ cùng học tập để làm gương... nhặt rác !

Trần An Hòa