Sự tan vỡ của huyền thoại “dân chủ vô sản” dẫn đến sự tan vỡ của huyền
thoại “nhà nước tự-tiêu vong”, đồng thời cũng làm sụp đổ toàn bộ lý thuyết về
nhà nước của chủ nghĩa Marx. Điều đó buộc chúng ta phải xem xét lại định nghĩa
về nhà nước của Marx.
Marx định nghĩa nhà nước là
bạo lực có tổ chức
của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác (“Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản”). Nhưng như trên đã nói, trước khi trở thành nhà nước của một giai cấp (như
Marx và Engels đã chứng minh), hay nhà nước của một tập đoàn xã hội, của một
nhóm người hoặc của một cá nhân thì nhà nước đã là một tổ chức bảo vệ lợi ích
công cộng, một quyền lực công cộng.
Trong trường hợp đó, ta phải xác
định rằng tính chất giai cấp chỉ là tính chất phụ thuộc, chứ không phải tính
chất cơ bản của nhà nước. Bản chất của nhà nước là
tính chất công cộng, tính
chất xã hội, còn tính chất giai cấp chỉ là sự bóp méo, xuyên tạc bản chất
đó; do sự chiếm dụng nhà nước bởi một giai cấp, một tầng lớp, một đẳng cấp, một
tập đoàn xã hội, một nhóm người nào đó. Khôi phục lại bản chất của nhà nước, tức
là dân chủ hoá, đòi hỏi phải
xoá bỏ tính chất giai cấp của nhà nước để
nhà nước trở thành
nhà nước của toàn dân chứ không phải làm ngược lại.
Nhà nước là một hiện thực sinh ra cùng với loài người, và cùng tồn tại
với loài người. Vào thời kỳ đầu của nhân loại, khi con người còn sống trong các
thị tộc, mối quan hệ giữa mọi thành viên trong cộng đồng còn dựa trên quan hệ
huyết thống thì nhà nước “phôi thai” chỉ là một tổ chức đơn giản, nằm trong lòng
cộng đồng. Nhưng khi cộng đồng phát triển rộng lớn hơn, quan hệ thị tộc bị phá
vỡ thì nhà nước buộc phải phát triển thành một tổ chức phức tạp hơn, tách rời
khỏi cộng đồng. Đó là sự tách rời tất yếu, thể hiện sự trưởng thành, chứ không
phải là biểu hiện của sự tha hoá như Marx đã nghĩ.
Một khi nhà nước tách
rời khỏi xã hội thì quyền lực chính trị bị chiếm hữu bởi một giai cấp, một tập
đoàn xã hội, một dòng họ nào đó. Và họ đã tìm cách phủ lên nhà nước một cái vỏ
thần bí để hợp lý hoá sự chiếm hữu quyền lực. Ví như
thuyết thiên mệnh, thiên
tử ở Trung Quốc chẳng hạn. Nhưng rồi đến một thời điểm trong lịch sử, nhân
loại trưởng thành hơn, và người ta ý thức được vấn đề
chủ quyền của nhân
dân. Từ thế kỷ XVIII, ở châu Âu và Bắc Mỹ, các nhà tư tưởng tiên tiến của
nhân loại đã mở ra một hướng đi đúng đắn cho nhân loại:
đấu tranh để biến nhà
nước thành nhà nước của toàn dân, nghĩa là của nhà nước của mọi người, mọi
tập đoàn, mọi giai cấp trong xã hội. Chế độ dân chủ bắt đầu hình thành từ lúc
đó, lúc đầu không tránh khỏi những khiếm khuyết, nhưng theo thời gian, ngày càng
được củng cố, hoàn thiện.
Sự sai lầm của Marx và Engels là ở chỗ hai ông
không nhìn thấy hướng đi ấy. Đáng lẽ chủ trương
nhà nước của toàn dân (dân
chủ), hai ông lại nêu ra khái niệm
chuyên chính vô sản, tức là
nhà
nước của một giai cấp (phi dân chủ). Chuyên chính vô sản là sự thay thế một
nhà nước giai cấp này bằng một nhà nước giai cấp khác; mà khi đã tuyên bố nhà
nước mang tính giai cấp thì con đường dân chủ khó có thể được khai thông. Một
khi đã là một nhà nước giai cấp thì dù giai cấp đó là giai cấp bần cùng, bị bóc
lột trong xã hội, cũng không tránh được tình trạng một tầng lớp có đặc quyền sẽ
nhân danh giai cấp để nắm lấy quyền thống trị trong xã hội.
Do không nắm
được bản chất của quyền lực chính trị, do quan điểm duy vật lịch sử, nên Marx và
Engels không nhìn thấy một sự thật:
quyền lực chính trị có khả năng làm tha
hoá mọi người; và những người thuộc giai cấp bị bóc lột, một khi nắm quyền
hành trong tay, không hề miễn nhiễm trước sự cám dỗ của quyền lực. Marx và
Engels tỏ ra hoàn toàn ảo tưởng khi vẽ ra một
giai cấp vô sản tính bản
thiện, chỉ cần giác ngộ sứ mệnh lịch sử là có thể trở thành một
giai cấp
thánh thiện. Nếu không có ảo tưởng đó, lý thuyết của hai ông đã vạch ra được
những biện pháp hữu hiệu để chế tài sự lạm dụng quyền lực, ngăn ngừa được những
trường hợp như Stalin, Mao Trạch Đông,…
Như trên đã trình bày, lịch sử
của phong trào công nhân thế giới đã cho thấy những môn đệ của Marx và Engels đã
đi theo hai hướng khác nhau:
Sau khi Engels mất, một trong những môn đệ
của ông đã phát hiện ra những sai lầm trong lý luận mác-xít chính thống và tìm
cách sửa chữa; đó là Eduard Bernstein. Điều trớ trêu của lịch sử là: nếu Marx
viết bộ
Tư bản tại nước Anh thì cũng chính tại nước Anh, Bernstein đã tìm
thấy những tư tưởng để bổ sung, sửa chữa chủ nghĩa Marx. Bernstein đã chịu nhiều
ảnh hưởng của những nguồn tư tưởng phi-mác-xít, nhất là từ phái Fabian
(Fabianism) - tiền thân của Đảng lao động (Labor Party) hiện nay.
Chủ nghĩa
xét lại (cái tên gọi một thời mang nghĩa xấu đó) lúc đầu đã bị chủ nghĩa
Marx chính thống ở Tây Âu bác bỏ kịch liệt, nhưng qua thời gian đã có tác động
lớn lao, làm thay đổi nội dung của lý thuyết xã hội chủ nghĩa. Một trong những
điểm quan trọng nhất là việc chấp nhận
dân chủ như một mục tiêu song song
với mục tiêu
xã hội chủ nghĩa. Các đảng mác-xít ở Tây Âu dần dần từ bỏ
khái niệm chuyên chính vô sản, trở thành các đảng dân chủ-xã hội, mang tính chất
cải cách, tương tự như Đảng lao động Anh. Nói cách khác, khuynh hướng này chấp
nhận định nghĩa nhà nước như một
thiết chế bảo vệ lợi ích công cộng. Họ
chấp nhận chế độ dân chủ tư sản và tìm cách đấu tranh cho quyền lợi của công
nhân bằng con đường hợp pháp, và như vậy là từng bước cải biến chế độ đó thành
một chế độ dân chủ thật sự, một
nhà nước của toàn dân. Các đảng đó
không bao giờ thành công theo nghĩa Marx và Engels từng hiểu, nghĩa là không bao
giờ giành được chính quyền 100%, và không bao giờ thực hiện được chủ nghĩa xã
hội (theo nghĩa công hữu hoá tư liệu sản xuất 100%). Nhưng họ lại có công đem
lại sự cải thiện trong đời sống công nhân, và đồng thời đóng góp rất nhiều cho
sự nghiệp dân chủ hoá đời sống xã hội. Ngày nay, họ vẫn là những đảng chính trị
có uy tín tại Tây Âu, Bắc Âu và nhiều nơi khác trên thế giới; và ở nhiều nước,
vào nhiều thời điểm, họ trở thành đảng cầm quyền (tất nhiên là theo từng nhiệm
kỳ chứ không phải là đảng cầm quyền muôn năm).
Xu hướng thứ hai là xu
hướng cực đoan, mà tiêu biểu là V. I. Lê-nin. Trong vấn đề nhà nước, ông tiếp
thu toàn bộ, kể cả những điểm sai lầm, phi lý nhất của lý thuyết về nhà nước do
Marx và Engels để lại, nhất là quan niệm chuyên chính vô sản. Để giành được
thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội bằng bất cứ giá nào, ông thay đổi quan niệm về
đảng mác-xít. Từ chối quan niệm về một đảng dân chủ-xã hội “theo kiểu câu lạc
bộ”, ông chủ trương tổ chức
một đảng cộng sản kiểu mới với kỷ luật sắt cả
về tư tưởng và tổ chức. Chính tổ chức đảng kiểu mới này đã giúp ông giành được
thắng lợi cho cách mạng vô sản tại nước Nga vào năm 1917. Nhưng lịch sử đã cho
thấy sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga lại không chứng minh được tính
đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Marx mà ngược lại, đã chứng minh những điểm sai
lầm của nó, đặc biệt là trong vấn đề nhà nước.
Sự thất bại của hệ thống
xã hội chủ nghĩa thế giới dựa trên mô hình xô-viết cho thấy
nhà nước của toàn
dân chính là xu hướng tiến bộ nhất, đúng đắn nhất của nhân loại, đồng thời
cũng chứng minh rằng: dân chủ là giá trị chung của nhân loại, và chỉ có thể có
một chế độ dân chủ dưới nhiều hình thức, chứ không hề có sự phân chia giữa dân
chủ tư sản và dân chủ vô sản. Chế độ dân chủ, dù không thể tránh được những
khuyết tật, những nhược điểm nhất định, vẫn là chế độ có tương lai nhất, vì nó
có khả năng tự điều chỉnh, tự sửa chữa và có khả năng bao dung được mọi xu hướng
chính trị, mọi tín ngưỡng tôn giáo, mọi chủng tộc, mọi lợi ích giai cấp. Mặc dù
những người mác-xít cực đoan (như Lenin chẳng hạn) vẫn cho rằng chế độ dân chủ
tư sản chỉ bảo vệ cho lợi ích của giai cấp tư sản; nhưng giai cấp công nhân ở
những nước tiên tiến trên thế giới ngày càng không tin vào lập luận đó. Trong
thực tế, họ đã giành được quyền tổ chức công đoàn, có quyền bãi công, biểu tình,
đưa được đại biểu của mình vào Quốc hội,… nói chung là nói lên được tiếng nói
của mình, có quyền đấu tranh để bảo vệ quyền lợi thiết thân của mình, từng bước
cải thiện được đời sống vật chất và tinh thần. Nền dân chủ đó không thể gọi là
nền dân chủ tư sản được. Còn cái gọi là chế độ dân chủ vô sản thực ra chỉ là một
sản phẩm của trí tưởng tượng, chỉ có trên lời nói và trên giấy; còn trong thực
tế thì nó đã thất bại ngay từ khi mới sinh ra. Và vì Lenin đã không giải quyết
triệt để những nghịch lý về mặt lý luận khi ông còn sống, cho nên sau khi ông
mất đi, những môn đệ của ông chỉ loay hoay xung quanh những quan điểm do ông nêu
ra, mà không tìm được giải pháp cụ thể, có hiệu quả để cải tổ chế độ chính trị
đó theo đúng định hướng đúng đắn của những quy luật chính trị, xã hội.
Sự thất bại của công cuộc cải tổ ở Liên Xô dưới thời Gorbachev có nhiều
nguyên nhân. Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng hàng đầu là những
người lãnh đạo Đảng cộng sản Liên Xô lúc đó đã không dám vượt qua tư tưởng của
Lenin, nói gì đến việc xét lại chính tư tưởng của Marx và Engels.
Sự sụp
đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy chế độ dân chủ là
chế độ của tương lai. Nhà nước dưới chế độ dân chủ là một nhà nước đã bị hạn chế
quyền lực, bị khống chế, kiểm soát bởi các cơ quan dân cử, bởi sự cạnh tranh
lành mạnh giữa các đảng phái chính trị, bởi các tổ chức phi chính phủ, bởi báo
chí và các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media), v.v… Nó không trở
thành
món đồ cổ ở bảo tàng viện như lời dự đoán mang nhiều tính chất
tưởng tượng của Engels, nhưng cũng không còn là
bộ máy quan liêu đứng trên,
tách rời khỏi nhân dân như đã từng bị nhiều nhà tư tưởng, nhà văn phê phán;
bởi vì người ta đã tìm ra nhiều biện pháp để kiểm soát, điều khiển nó.
Một lý thuyết đúng đắn về nhà nước không thể coi nhà nước là một thứ
quái vật như Marx đã từng hình dung, nhưng cũng không thể thần thánh hoá nó. Nhà
nước, cũng như những thực thể khác trong xã hội loài người, có mặt tốt và có mặt
xấu, có khía cạnh tích cực và có khía cạnh tiêu cực. Chỉ nhìn thấy một trong hai
mặt ấy, hoặc tìm cách phủ nhận bằng tư duy trừu trượng một trong hai mặt ấy, đều
là bóp méo sự vật, đem lại cái nhìn phiến diện; và những giải pháp xuất phát từ
những cái nhìn như thế chỉ có thể đem lại sự thất bại mà thôi.
[1]Marcel Liebman,
La révolution
bolchéviste, collection “Marabout université”, Ed. Gérard & C°, Verviers
– Belgique, 1967, tr. 390.
[2]Nguyên
văn lời nhận xét của Lenin về chế độ dân chủ tư sản : “Chế độ dân chủ tư sản,
tuy là một tiến bộ lịch sử vĩ đại so với thời trung cổ, song trước sau nó vẫn là
(…) một chế độ dân chủ chật hẹp, bị cắt xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường
cho bọn giàu có, một cái cạm bẫy và một cái mồi giả dối đối với những người bị
bóc lột, đối với những người nghèo. (V. I. Lê-nin,
Cách mạng vô sản và tên
phản bội Cau-xky, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974, tr.30)
Thư mục Phần lớn các trích dẫn từ các tác phẩm của Marx và Engels
đều dựa trên bộ
Tuyển tập Mác & Ăng-ghen do Nhà xuất bản Sự Thật, Hà
nội, và nhà xuất bản Dietz Verlag (Berlin, Đông Đức) cộng tác xuất bản trong
những năm 1980-1984. Bộ này gồm 6 tập, được dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Các
trích dẫn từ các bản dịch khác đều có ghi rõ xuất xứ.
Sách:
- Aron, Raymond: Démocratie et totalitarisme, Gallimard, Collection
“Idées”, Paris, 1965.
- Deutscher, Isaac: Staline, Gallimard, Paris, 1964.
- Engels, Fr.: L’origine de la famille, de la propriété et de l’Etat,
traduit par Bracke(A. M. Desrousseaux), Alfred Costes, Paris, 1946.
- Histoire de l’U.R.S.S., Editions du Progrès, Moscou, 1977.
- Laidler, Harry W.: History of Socialism, Thomas Y. Crowell Company,
New York, 1968.
- Lenin, V .I.: Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản, Nxb
Tiến bộ, Matxcơva, 1973.
- Lenin, V. I.: Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky, Nxb Tiến bộ,
Matxcơva, 1974.
- Lenin, V. I.: Lênin toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978
- Lenin, V. I.: Nhà nước và cách mạng, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974.
- Lénine, V. I. La révolution bolchéviste, Petite bibliothèque Payot,
Paris, 1963.
- Liebman, Marcel: La révolution bolchéviste, collection “Marabout
université”, Ed. Gérard & C(, Verviers-Belgique, 1967.
- Marx, K. & Engels, Fr.: Œuvres choisies, Editions du Progrès,
Moscou, 1979.
- Mác & Ăng-Ghen: Tuyển tập, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà nội, và Nxb
Dietz Verlag (Berlin, Đông Đức) cộng tác xuất bản, 1980-1984, 6 tập.
- Essential Works of Marxism, Edited by Arthur P. Mendel, Bantam
Books, Bantam Matrix Edition, New York, 1965.
- Parkinson, C. Northcote: L’évolution de la pensée politique,
Gallimard, Paris, 1964, tome I.
- Phan Khoang: Trung Quốc sử lược, Văn sử học, Sài-gòn, 1970.
- Sassoon, Donald: One Hundred Years of Socialism, Harper Collins
Publishers, Fontana Press, Paperback Edition, London, 1997.
Từ
điển Bách khoa toàn thư điện tử:
- Microsoft® Encarta® Encyclopedia 2001. © 1993-2000 Microsoft
Corporation.
- Encyclopædia Britannica 2000. Copyright © 1994-2000 Encyclopædia
Britannica, Inc.
Đà Lạt 2000-2001
© 2005 talawas