Trái với dự kiến của Marx và Engels,
quan niệm
“chuyên chính vô sản” khi đem áp dụng vào thực tế đã không tạo
ra được một
nhà nước kiểu mới chuẩn bị cho sự tiêu vong của chính mình,
mà cũng không thể tạo ra những thiết chế dân chủ hơn so với chế độ dân chủ tư
sản. Lịch sử trong thế kỷ XX đã cho thấy quan niệm ấy chỉ dẫn đến sự ra đời của
một chế độ
chuyên chính kiểu mới, về bản chất có nhiều điểm tương đồng
với các chế độ độc tài (chuyên chính) đã từng có trong lịch sử, nhưng về hình
thức thì được hiện đại hoá, và được tô vẽ bằng một bề ngoài
cách mạng, dân
chủ. Nhà nước xô-viết - nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên
thế giới, trong thực tế đã trở thành một nhà nước tiêu biểu cho
chế độ toàn
trị (totalitarianism, totalitarisme), nghĩa là một thể chế trong đó Nhà nước
khống chế, kiểm soát toàn bộ các hoạt động của xã hội. Nhận xét về nhà nước
xô-viết dưới thời Stalin, Raymond Aron cho rằng hiện tượng
toàn trị thể
hiện ở năm yếu tố như sau:
- Một đảng duy nhất nắm độc quyền trong hoạt động chính trị.
- Đảng chính trị độc quyền được trang bị một ý thức hệ (hệ tư tưởng) và ý thức
hệ này trở thành chân lý chính thống của Nhà nước.
- Để rao giảng chân lý chính thống đó, Nhà nước nắm độc quyền về các phương
tiện bạo lực và các phương tiện tuyên truyền. Tất cả các phương tiện thông tin
đại chúng đều được lãnh đạo, chỉ huy bởi Nhà nước.
- Phần lớn các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp đều lệ thuộc vào Nhà nước và
theo một cách nào đó, trở thành một bộ phận của chính Nhà nước. Các hoạt động
kinh tế và nghề nghiệp này cũng được nhuộm màu ý thức hệ.
- Mọi hoạt động đều là hoạt động của Nhà nước và đều lệ thuộc vào ý thức hệ,
do đó mọi sai lầm trong hoạt động kinh tế và nghề nghiệp đồng thời cũng là một
sai lầm về ý thức hệ. Cuối cùng dẫn đến một tình trạng chính trị hoá, một
sự chuyển hoá ý thức hệ đối với mọi sai lầm có thể có của mọi cá nhân;
điều này dẫn đến một sự khủng bố vừa mang tính chất cảnh sát, vừa mang tính chất
ý thức hệ. [1]
Sau Chiến
tranh Thế giới thứ hai, chuyên chính vô sản được nhân rộng ra nhiều nước trên
thế giới: ở Đông Âu, châu Á, châu Mỹ la-tinh,... Nhưng dù mang hình thức nào,
xô-viết hay
dân chủ nhân dân, chuyên chính vô sản cũng là một chế
độ toàn trị, biểu hiện qua tình trạng độc quyền toàn diện.
Chế độ toàn
trị tuy có những điểm tương đồng nhưng cũng có những đặc điểm riêng làm cho nó
khác với các chế độ độc tài khác trong xã hội hiện đại. Trong khi một số chế độ
độc tài (như của Salazar ở Bồ Đào Nha) chỉ độc quyền về chính trị nhưng vẫn cho
phép xã hội dân sự tồn tại ở một mức dộ nhất định, thì chế độ toàn trị không cho
phép bất cứ một hội đoàn, tổ chức xã hội nào hoạt động, ngoại trừ các tổ chức do
Đảng lập ra hoặc kiểm soát, chi phối. Trong khi chế độ quốc xã của Hitler công
khai bác bỏ các giá trị dân chủ thì chế độ toàn trị một mặt áp dụng các biện
pháp độc tài, chuyên chế, mặt khác lại tự đề cao mình như một chế độ dân chủ ưu
việt nhất, đích thực nhất. Dựa trên thực tế của nhà nước xô-viết, chúng ta có
thể xem xét chế độ toàn trị trên ba phương diện:
Trước hết là nạn
độc quyền về chính trị.
Mặc dù trong quan niệm của Marx và
Engels, chuyên chính vô sản là chuyên chính của cả một giai cấp, và giai cấp này
theo dự kiến của Marx sẽ ngày càng chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội, nhưng
trong thực tế,
chuyên chính vô sản đã dần dần trở thành
chuyên chính
của Đảng cộng sản. Có hai nguyên nhân dẫn đến tình trạng độc quyền
chính trị này. Trước hết là việc chối bỏ những nguyên tắc của chế độ đại nghị.
Theo dự kiến của Marx, hành động đập tan bộ máy nhà nước cũ sẽ tạo điều kiện cho
giai cấp vô sản nói riêng và nhân dân lao động nói chung trực tiếp nắm lấy quyền
lực chính trị, không cần đến bộ máy nhà nước chuyên môn hoá nữa. Nhưng những lời
thú nhận của Lenin trước khi mất cho thấy dự kiến này là một ảo tưởng. Xã hội
hiện đại không thể không cần đến bộ máy nhà nước, vì vậy một khi bộ máy nhà nước
cũ bị đập tan thì ngay lập tức một bộ máy khác sẽ thay thế vào đó. Bộ máy nhà
nước mới, cho dù mang hình thức mới, về bản chất vẫn là một bộ máy nhà nước tách
rời khỏi xã hội. Do chỗ những nguyên tắc của chế độ đại nghị bị chối bỏ, bộ máy
này không gặp một sự ngăn cản, hạn chế nào trên con đường phát triển theo chiều
hướng chuyên chính hoá, quan liêu hoá. Các đảng phái chính trị khác lần lượt bị
loại bỏ hoặc nếu còn thì cũng chỉ là hình thức trang trí; chế độ chuyên chính vô
sản về thực chất là
chế độ độc đảng, trong đó Đảng gắn chặt với Nhà nước.
Nhà nước là tổ chức công khai để cai trị, điều hành xã hội, nhưng Đảng cộng sản
ở hậu trường mới là tổ chức nắm thực quyền về chính trị.
Nguyên nhân thứ
hai bắt nguồn từ chính nguồn gốc của Đảng bolshevik Nga. Như chúng ta đã biết,
Đảng bolshevik Nga lúc đầu chỉ là một bộ phận của Đảng Dân chủ - xã hội Nga (tên
đầy đủ là Đảng Công nhân Dân chủ - xã hội Nga, Russian Social Democratic
Workers' Party). Sự khác biệt về quan điểm giữa Lenin và các lãnh tụ khác của
đảng xung quanh vấn đề tổ chức đảng đã có ngay từ đầu thế kỷ XX. Năm 1902, Lenin
cho xuất bản cuốn
Làm gì?, trong đó ông lập luận rằng cuộc cách
mạng ở Nga phải được lãnh đạo bởi một đảng bao gồm
những nhà cách mạng chuyên
nghiệp, được tổ chức theo kỷ luật kiểu quân sự, nhằm lãnh đạo quần chúng
công nhân đến thắng lợi. Tại Đại hội lần 2 của Đảng DCXH Nga (năm 1903), quan
niệm của Lenin về tổ chức đảng đã giành được sự ủng hộ của đa số đại biểu, do đó
mà phe ủng hộ Lenin được gọi là phái
bolshevik (trong tiếng Nga có nghĩa
là đa số); trong khi phe chủ trương đảng phải được tổ chức một cách lỏng lẻo
hơn, mở rộng hơn – trong đó có Martov, chỉ chiếm được thiểu số, được gọi là phái
menshevik (theo tiếng Nga có nghĩ là thiểu số). Cuộc đấu tranh giữa những
người bolshevik và menshevik đã dẫn đến kết quả là vào năm 1912, những người
bolshevik tách ra để thành lập một đảng độc lập lấy tên là Đảng bolshevik Nga.
Có thể nói tính chất
kỷ kuật sắt là một trong những yếu tố quan
trọng làm nên sức mạnh của Đảng bolshevik. Trong hoàn cảnh của những nước lạc
hậu về kinh tế, trình độ dân trí không cao, phong trào cách mạng chịu sự đàn áp
ác liệt của các thế lực bảo thủ, phản động, thì trong số các đảng phái đấu tranh
cho sự đổi mới, đảng cộng sản được tổ chức theo kiểu bolshevik là tổ chức có sức
chịu đựng cao nhất, có khả năng vượt qua được những sự đàn áp khốc liệt nhất.
Chính kỷ luật sắt và ý chí cao đã giúp Đảng bolshevik giành được chính quyền và
lần lượt loại bỏ các đảng phái khác ra khỏi chính trường nước Nga. Nhưng ưu điểm
trong đấu tranh giành quyền lực lại cũng là nhược điểm trong thời kỳ nắm chính
quyền. Tính chất
kỷ luật sắt, tâm lý phục tùng là những yếu tố tạo điều
kiện thuận lợi cho xu hướng tập trung quyền hành, độc đoán, chuyên quyền, nhất
là khi Đảng bolshevik độc chiếm chính quyền.
Một số nhà nghiên cứu bênh
vực cho Lenin đã gán hết mọi sai lầm cho Stalin, và lập luận rằng nếu Lenin còn
sống, có thể chế độ xô-viết sẽ tốt hơn, dân chủ hơn. Tuy nhiên, mặc dù chúng ta
không thể lẫn lộn giữa Stalin với Lenin, nhưng cũng cần phải thấy rằng xu hướng
độc quyền chính trị đã có ngay từ thời Lenin còn sống.
Trong tác phẩm
Bệnh ấu trĩ tả khuynh của phong trào cộng sản (1920), Lenin đã
giải thích về mối quan hệ giữa lãnh tụ - đảng - giai cấp - quần chúng như sau:
Thực hiện nền chuyên chính, là do giai cấp vô
sản được tổ chức trong các Xô-viết và chịu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
bôn-sê-vích gồm 611000 đảng viên, theo số liệu của Đại hội vừa qua (IV.1920).
(…)
Trong công tác, đảng dựa trực tiếp vào các công đoàn mà theo
số liệu của đại hội vừa qua (IV.1920) thì hiện có trên bốn triệu đoàn viên, và
về hình thức thì đó là những tổ chức không đảng. Thực ra, tất cả những cơ
quan lãnh đạo của tuyệt đại đa số công đoàn và trước hết, dĩ nhiên là Trung ương
hay Thường vụ các công đoàn toàn Nga (Hội đồng trung ương các công đoàn toàn
Nga) đều gồm những đảng viên cộng sản và thi hành tất cả những chỉ thị của đảng.
Tóm lại, chúng ta có một bộ máy vô sản, về hình thức thì không phải là cộng sản,
một bộ máy mềm dẻo và tương đối rộng rãi, rất mạnh, một bộ máy mà thông qua đó
đảng liên hệ chặt chẽ với giai cấp và với quần chúng và thông qua
đó, chuyên chính của giai cấp được thực hiện dưới sự lãnh đạo của đảng.
(Lenin, Sđd, tr. 57-59)
Như vậy có nghĩa là Đảng bolshevik độc
chiếm chính quyền, với một bề ngoài mang dáng dấp “nhân dân”. Nhưng nói Đảng
bolshevik lãnh đạo không có nghĩa là quyền hành được phân chia đồng đều cho hơn
nửa triệu đảng viên. Cũng chính Lenin đã giải thích về cách điều hành hoạt động
của Đảng như sau: Đảng họp đại hội hàng năm, và bầu ra một Ban chấp hành trung
ương gồm 19 uỷ viên. “Và trong nước cộng hoà của chúng ta, không có một vấn đề
chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một cơ quan nhà nước giải quyết mà lại
không có chỉ thị của Ban chấp hành trung ương Đảng”. Công tác hàng ngày thì giao
cho những tập thể ít người hơn, gọi là
Ban Tổ chức (Orgburo, Orgbureau)
và
Bộ chính trị (Politburo, Politbureau) do Ban chấp hành bầu ra, mỗi tập
thể có 5 uỷ viên cử trong số uỷ viên Ban chấp hành Trung ương. Lenin xác nhận:
“Như vậy là thành “nhóm quả đầu” thực sự” (
Sđd, tr.
58).
Chế độ quả đầu (oligarchy, oligarchie)
[2] chính là chế độ
thiểu số trị: quyền hành tập
trung vào tay
một số ít người.
Có thể trong thâm tâm Lenin vẫn
tin rằng với cách
lãnh đạo như thế, Đảng bolshevik sẽ giúp giai cấp công
nhân vươn lên làm chủ được Nhà nước. Nhưng với những điều ông thú nhận vào cuối
đời, chúng ta thấy rõ niềm tin đó chỉ là một ảo tưởng.
Sau khi Lenin
mất, Stalin đã tiến thêm một bước mới khi ông công khai thừa nhận
chuyên
chính vô sản là chuyên chính của một đảng:
Ở Liên Xô, trên một đất nước mà nền chuyên
chính của giai cấp vô sản đang có hiệu lực, không có vấn đề quan trọng nào về
chính trị hay về tổ chức, được giải quyết bởi các xô-viết và các tổ chức quần
chúng khác của chúng ta, mà không có chỉ thị từ Đảng của chúng ta. Theo nghĩa
đó, chúng ta có thể nói rằng nền chuyên chính của giai cấp vô sản xét về bản
chất là nền chuyên chính của Đảng, với tư cách là lực lượng lãnh đạo giai cấp vô
sản một cách hiệu quả. (J. Stalin, Leninism, 1928, tập 1, tr. 23. Trích
theo: Harry W. Laidler, History of Socialism, sdd, tr. 428)
Song
song với quá trình tập trung hoá, chuyên chính hoá của quyền lực Nhà nước, là
một quá trình tập trung quyền lực bên trong nội bộ Đảng. Quá trình này đã diễn
ra ngay từ khi Đảng bolshevik nắm được chính quyền, nhưng khi Lenin còn sống,
bên trong Đảng vẫn còn tồn tại một tình trạng dân chủ nội bộ ở một mức độ nhất
định. Tuy vẫn còn ảnh hưởng của nếp sinh hoạt chặt chẽ theo kỷ luật thép và chỉ
đạo từ bên trên của thời kỳ hoạt động bí mật, sinh hoạt đảng đã trở thành công
khai và các cuộc thảo luận diễn ra cũng khá sôi nổi. Với uy tín cá nhân và kinh
nghiệm dày dạn của mình, Lenin đã cho phép các cuộc tranh luận công khai trong
nội bộ Đảng, trong Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương, và thông thường thì
ông có khả năng thuyết phục được các đồng chí của mình.
Sau khi Lenin
mất, Đảng cộng sản bolshevik ngày càng đánh mất tính chất dân chủ trong nội bộ
Đảng. Quá trình quan liêu hoá bộ máy của Đảng đã giúp cho Stalin kiểm soát được
vấn đề nhân sự, và củng cố vị trí Tổng bí thư của ông. Bằng cách liên minh khi
thì với cánh tả, khi thì với cánh hữu trong Đảng, Stalin đã luôn luôn giành được
đa số trong các cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng, và cuối cùng đã loại bỏ được
Trotsky, kẻ thù nguy hiểm nhất của ông ta. Từ năm 1930 cho đến khi chết (đầu năm
1953) là giai đoạn Stalin giành được quyền lực tuyệt đối, là người quyết định
tất cả các vấn đề quan trọng. Tất cả các phe phái đều bị tiêu diệt một cách tàn
nhẫn. Tất cả những người chống đối, dù là tiềm tàng, đều bị coi như những kẻ
phản bội, bị xét xử công khai hay bị thủ tiêu trong nhà tù.
[3] Quyền uy tuyệt đối đã biến Stalin trở thành
gần như một bạo chúa. Ông đã gây ra một tác động khủng bố về mặt tâm lý chẳng
những đối với nhân dân Liên Xô mà đối với cả các đồng chí của ông. Tại Đại hội
XX của Đảng cộng sản Liên Xô (năm 1956), Tổng bí thư Đảng lúc đó là N.
Khrushchev (người thường được coi là đại biểu cho
chủ nghĩa xét lại hiện
đại) đã phát biểu như sau:
Chính Stalin đã phát minh ra khái niệm “kẻ
thù của nhân dân”. (...); danh từ đó mở ra khả năng sử dụng sự đàn áp khốc liệt
nhất... chống lại bất cứ ai tỏ ra, dù chỉ một chút, bất đồng ý kiến với Stalin.
(Trích theo: Isaac Deutscher, Sđd, tr. 680)
Sau khi Stalin mất
đi, một quá trình dân chủ hoá đã diễn ra trong nội bộ Đảng cộng sản Liên Xô.
Những người cộng sản Liên Xô tìm cách hạn chế sự chuyên quyền của một cá nhân,
thay thế quyền lực của một cá nhân bằng quyền lực của
lãnh đạo tập thể,
nhưng điều đó cũng không thể làm cho Nhà nước Xô-viết trở thành một chế độ dân
chủ.
Trước hết là mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Theo hiến pháp
(được thông qua vào năm 1936 và được sửa đổi vào tháng 10 năm 1977) thì nền tảng
chính trị của Liên bang Xô viết được tạo thành bởi các Xô-viết Đại biểu Nhân dân
(
Soviets trong tiếng Nga có nghĩa là Hội đồng). Các Xô-viết này hiện hữu
ở tất cả các cấp của hệ thống hành chính, và xét về mặt danh nghĩa thì quyền lực
trên toàn thể Liên bang nằm trong tay Xô-viết tối cao bao gồm hai viện: Xô-viết
Liên bang và Xô-viết các dân tộc. Điều đáng nói là trong khi bầu cử các Xô-viết,
các cử tri hiếm khi được phép chọn lựa ứng cử viên nào khác mà phải chọn những
người đã được Đảng cộng sản giới thiệu. Mà Đảng cộng sản Liên Xô (ĐCSLX), mãi
cho đến khi có sự sửa đổi điều 6 của hiến pháp (tháng 3 năm 1990), vẫn luôn là
“lực lượng lãnh đạo và hướng dẫn của xã hội xô-viết và là hạt nhân của hệ thống
chính trị”. Do đó, tuy về mặt lý thuyết, việc ban hành luật pháp đòi hỏi phải có
sự phê chuẩn của cả hai viện của Xô-viết tối cao, nhưng trong thực tế, mọi quyết
định đều nằm trong tay một nhóm nhỏ của Xô-viết tối cao được biết dưới cái tên
là Đoàn chủ tịch (Presidium). Cơ quan này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Bộ chính
trị ĐCSLX, và mỗi quyết định có sẵn khi đưa ra Xô-viết tối cao đương nhiên được
sự
nhất trí phê chuẩn của các đại biểu. Vai trò của các Xô-viết trong các
nước cộng hoà và các vùng lãnh thổ khác chỉ là thực hiện các quyết định của
Xô-viết tối cao Liên Xô. Cho nên có thể nói đây là một hệ thống chính trị độc
đoán và cực kỳ tập trung hoá. Như vậy, xét về hình thức thì chế độ xô-viết vẫn
có Nhà nước với hệ thống hoàn chỉnh từ trên xuống dưới, nhưng quyền hành trong
thực tế lại nằm trong tay ĐCSLX.
[4]
Ở Liên Xô, hiến pháp tuy có nhưng chỉ là hình thức trang trí bên ngoài,
còn nghị quyết của Đảng mới là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất.
Hiến pháp
đặt dưới nghị quyết của Đảng, pháp luật đặt dưới kỷ luật của Đảng, đó là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt hệ thống chính trị xô-viết, một khuôn mẫu điển hình của chuyên
chính vô sản.
Bây giờ xét đến mối quan hệ bên trong ĐCSLX. Xét theo điều
lệ, cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng là Đại hội Đảng, nhưng Đại hội chỉ được
triệu tập năm năm một lần và mỗi kỳ đại hội có đến hàng ngàn đại biểu tham dự.
Do đó Đại hội Đảng bầu ra các uỷ viên của Ban chấp hành Trung ương (BCHTƯ), và
cũng theo điều lệ, BCHTƯ này điều hành các công việc của Đảng giữa hai kỳ đại
hội. Do chỗ BCHTƯ cũng gồm đến hàng trăm người, lại chỉ họp mỗi năm hai lần,
quyền hành trong thực tế lọt vào tay hai tổ chức:
Bộ chính trị
(Politburo) và
Ban bí thư (Secretariat). Đây mới thực sự là những cơ
quan nắm quyền thực sự trong hệ thống chính trị xô-viết. Bộ chính trị, với
khoảng 12-15 uỷ viên chính thức và 5-8 uỷ viên dự khuyết, do Ban chấp hành Trung
ương bầu ra, là cơ quan tối cao hoạch định chính sách của đất nước, và thực hiện
quyền lực trên mọi mặt của đời sống công cộng, kể cả đối nội và đối ngoại. Ban
bí thư chịu trách nhiệm về các công việc hành chính thường ngày của Đảng. Theo
điều lệ, thành viên của Bộ chính trị là do BCHTƯ bầu ra, nhưng trong thực tế, Bộ
chính trị là một cơ quan tự quyết định sự tồn tại và kế tục của chính mình, bởi
vì chỉ có Bộ chính trị mới có quyền quyết định thu nhận thành viên mới và trục
xuất thành viên cũ.
[5] Chế độ
xô-viết về thực chất là một chế độ
thiểu số trị (oligarchy, oligarchie):
quyền lực tập trung vào tay
một cá nhân hay ở một mức độ “dân chủ” hơn,
được chia sẻ giữa
một vài cá nhân có thế lực trong Bộ chính trị. Sự tranh
chấp quyền lực, nếu có, chỉ diễn ra ở hậu trường, trong chốn cung đình, và
thường mãi về sau mới được công chúng biết đến. Chế độ độc đảng và nguyên tắc
tập trung dân chủ đã tước mất của nhân dân Liên Xô cái khả năng kiểm soát, khống
chế bộ máy Nhà nước. Nhân dân không bao giờ làm chủ được về mặt chính trị, không
bao giờ được quyền chọn lựa những người lãnh đạo đất nước. Có thể nói:
quyền
lực chính trị bị Đảng cộng sản tước đoạt từ tay nhân dân và trong nội bộ Đảng,
quyền lực chính trị lại bị một thiểu số tước đoạt từ tay đại bộ phận đảng
viên.
Đặc trưng thứ hai của chuyên chính vô sản là
độc quyền
về tư tưởng. Điều này bắt nguồn trước hết từ tính chất, đặc điểm
của chủ nghĩa Marx. Xuất thân là một nhà triết học, nhưng ngay từ lúc trở thành
người cộng sản, Marx đã muốn biến triết học thành “vũ khí tư tưởng của giai cấp
vô sản”. Ông coi giai cấp vô sản là giai cấp
cách mạng nhất của xã hội
hiện đại, và tư tưởng của ông chính là tư tưởng của giai cấp vô sản, nghĩa là tư
tưởng tiên tiến nhất, cách mạng nhất. Trong thực tế ông luôn luôn công kích một
cách gay gắt tất cả các trường phái khác, không phải chỉ những trường phái phi -
xã hội chủ nghĩa mà cả những trường phái xã hội chủ nghĩa như Lassalle,
Proudhon, v.v...
Đến Lenin thì mức độ không khoan nhượng càng tăng lên
một bậc. Tự coi là người mác-xít chân chính nhất, trung thành nhất với tư tưởng
của Marx và Engels, Lenin đả kích gay gắt mọi lãnh tụ tư tưởng khác của phong
trào mác-xít đương thời, kể cả Kautsky và Plekhanov là những người mà ông đã
từng ngưỡng mộ. Ông gọi những người bất đồng tư tưởng trong phong trào công nhân
bằng những danh từ tệ hại nhất :
tên phản bội, kẻ đầy tớ của giai cấp tư sản,
kẻ vô lại bán mình cho giai cấp tư sản, thậm chí:
“con chó”. [6] Thái độ gay gắt đến mức thù địch
của Lenin đối với các lãnh tụ của Quốc tế II có thể giúp ta hiểu được phần nào
thái độ độc đoán, kiêu ngạo của những người cộng sản đối với những người cộng
tác với họ, thậm chí đã từng đồng cam cộng khổ với họ, nhưng không chịu phục
tùng họ hoặc tỏ ra bất đồng ý kiến với họ.
Sau khi Lenin chết, Stalin đã
biến Lenin trở thành một vị thánh. Chủ nghĩa Marx trở thành hệ tư tưởng chính
thống, và để phân biệt chủ nghĩa Marx theo cách giải thích của Lenin với chủ
nghĩa Marx theo cách giải thích của Bernstein hay Kautsky, Stalin đã sáng tạo ra
một tên gọi mới:
chủ nghĩa Marx-Lenin (marxism-leninism,
marxisme-léninisme). Với bộ máy nhà nước hùng mạnh trong tay, Stalin
đã biến chủ nghĩa Marx-Lenin thành một
ý thức hệ mang tính hệ thống, được
đại chúng hoá đến mức có thể dùng làm
kinh điển để dạy cho bất cứ ai, từ
học sinh, sinh viên cho đến cán bộ, đảng viên - kể cả những người có một trình
độ học vấn rất thấp. Triết học bị tiêu diệt. Cái gọi là triết học Marx-Lenin
thực tế chỉ còn là một mớ giáo điều được giải thích theo một cách duy nhất,
tương tự như Nho giáo ở Trung Quốc và Việt Nam thời trung cổ chỉ được phép giải
thích theo sách của Chu Hy.
Chủ nghĩa Marx-Lenin trở thành ý thức hệ
quốc gia, chiếm địa vị thống trị trong toàn bộ đời sống tư tưởng - văn hoá của
xã hội. Chẳng những chi phối toàn bộ các môn khoa học xã hội, nó còn thống trị
cả các hoạt động văn học - nghệ thuật, thậm chí còn chi phối cả các môn khoa học
tự nhiên nữa. Chủ nghĩa hình thức (formalism, formalisme) trong âm nhạc đã từng
bị kết án là tư sản và phản động. Trường phái trừu tượng trong hội hoạ trong một
thời gian dài bị coi như một biểu hiện của sự sa đoạ tư sản. Thậm chí học thuyết
di truyền của Mendel cũng bị kết án, dẫn đến sự chậm tiến của ngành sinh học
trong một thời gian dài.
Mục đích của độc quyền về tư tưởng là để nhằm
bảo vệ chuyên chính vô sản, bảo vệ độc quyền của Đảng trong lĩnh vực chính trị,
đúng như nhận xét của Raymond Aron:
Công thức chuyên chính vô sản được dùng để
biện minh cho độc quyền mà đảng tự giành cho mình; công thức dân chủ tập trung
được dùng để biện minh và nguỵ trang cho quyền lực toàn năng của một vài người
hay, đôi khi, cho một người duy nhất. (R. Aron, Sđd, tr.265).
Sự
thống trị của một ý thức hệ chính thống tương tự như một thứ
quốc giáo đã
khiến cho một số nhà nghiên cứu muốn xếp nhà nước xô-viết vào loại chế độ
thần quyền, thần học trị (theocracy, théocratie). Giáo sư C. Northcote
Parkinson, trong giáo trình
Sự tiến hoá của tư tưởng chính trị (The
Evolution of Political Thought) đã viết:
Nếu những nét đặc trưng của chế độ thần quyền
là một giáo chủ, một huyền thoại, một cuốn Kinh thánh, một tầng lớp tăng lữ, một
địa điểm hành hương, một Toà án tôn giáo, thì chủ nghĩa cộng sản phải được coi
là một trong những tôn giáo trên thế giới. (C.Northcote Parkinson,
L’évolution de la pensée politique, bản dịch tiếng Pháp, Nxb Gallimard,
Collection Idées, Paris 1964, 2 tập)
Ông nhận xét về cuốn
Tư
bản, tác phẩm quan trọng nhất và đồ sộ nhất của Marx như sau:
Chính vì thế cuốn Tư bản không thể so
sánh với bất cứ một tác phẩm khoa học nào khác. Người ta gọi nó là “Kinh thánh
của người lao động”, và điều đó đủ để nói lên bản chất của nó. Tốt hơn là so
sánh nó với Kinh Thánh, Kinh Coran, với Luận ngữ. Chỉ có những sách tôn giáo mới
không bao giờ lỗi thời. (Sđd, tr. 341)
Parkinson cũng nhận xét
rằng người ta có thể tìm thấy ở những người cộng sản sự thiếu khoan dung của
Ki-tô giáo thời nguyên thuỷ, sự cuồng tín của Hồi giáo buổi ban đầu (
Sđd,
tr. 342).
Mặc dù vậy, chúng ta cũng không thể xếp chuyên chính vô
sản vào loại chế độ thần quyền (thần học trị), bởi vì giữa chủ nghĩa Marx và các
tôn giáo có một số điểm khác biệt: các tôn giáo hướng đến thế giới bên kia
(au-delà) trong khi chủ nghĩa Marx hướng đến thế giới hiện tồn (en-deçà); niềm
tin tôn giáo không dựa vào lý trí, vào khoa học trong khi chủ nghĩa Marx tự nhận
mình là khoa học. Các tôn giáo chỉ sa lầy vào chính trị khi có sự lẫn lộn giữa
thần quyền và thế quyền; tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước là có thể trả tôn giáo
trở về với bản chất đích thực của nó. Trong khi đó, Marx chủ trương dấn thân,
nhập thế, hứa hẹn vào
một thiên đàng ngay giữa chốn trần gian; cho nên
khi thực tế không chứng minh được lý thuyết thì quần chúng sẽ dễ dàng thức tỉnh
và một khi đảng cộng sản tách ra khỏi quyền lực Nhà nước, sức mạnh của chủ nghĩa
Marx cũng nhanh chóng bị đánh mất. Mặc dù niềm tin cộng sản có những điểm tương
đồng với niềm tin tôn giáo nhưng về lâu về dài, quần chúng không thể lấy niềm
tin cộng sản để thay thế cho niềm tin tôn giáo. Về điểm này, chủ nghĩa Marx gần
gủi với Nho giáo hơn là các tôn giáo trên thế giới. Nhưng chủ nghĩa Marx cũng
khác với Nho giáo ở chỗ Khổng Tử kêu gọi lòng nhân ái, mặc dù lòng nhân ái của
ông bị các vua chúa lợi dụng; trong khi Marx lại khơi dậy lòng hận thù và chấp
nhận bạo lực như một đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Một
cách chính xác hơn, có lẽ chúng ta nên coi chuyên chính vô sản như một chế độ
tư tưởng trị, ý thức hệ trị (idéocratie), tức là một chế độ dựa trên một
ý thức hệ và muốn làm cho xã hội phù hợp với ý thức hệ đó. (Xem: R.Aron,
Sđđ,
tr. 243)
Đặc điểm thứ ba của chuyên chính vô sản là
độc quyền
về kinh tế.
Kinh nghiệm của cách mạng vô sản Nga và các cuộc
cách mạng theo khuôn mẫu của Lenin đã cho thấy sau khi xoá bỏ chế độ tư hữu,
những người bolshevik đã không thể thiết lập chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa
hay cộng sản chủ nghĩa, mà chỉ có thể thiết lập
chế độ sở hữu Nhà nước
nhân danh lý tưởng cộng sản. Sự hình thành một khu vực kinh tế quốc doanh
rộng lớn sau cách mạng vô sản đã tạo cho chuyên chính vô sản một chỗ dựa vô cùng
to lớn về mặt kinh tế. Nói cách khác, độc quyền về kinh tế là điều kiện để củng
cố độc quyền về chính trị.
Năm 1957, một nhà lý luận cộng sản ly khai
người Nam Tư tên là Milovan Djilas đã cho công bố một tác phẩm nhan đề
Giai
cấp mới, trong đó ông cho rằng ở Liên Xô và các nước cộng sản khác, sau khi
giai cấp tư sản và các giai cấp có nguồn gốc cũ bị tiêu diệt thì một
giai cấp
mới được hình thành: đó là
giai cấp thư lại (bureaucracy,
bureaucratie)
[7] , hay nói chính
xác hơn là
giai cấp thư lại chính trị (political bureaucracy). Gốc rễ của
giai cấp này bắt đầu từ một đảng chính trị đặc biệt:
đảng kiểu bolshevik.
Nói chính xác hơn, những người tiên khởi của giai cấp này xuất phát từ một giai
tầng đặc biệt trong lòng đảng chính trị kiểu bolshevik, đó là các nhà cách mạng
chuyên nghiệp. Giai cấp này, theo Djilas, là những ông chủ mới và những kẻ bóc
lột mới trong xã hội cộng sản:
Là đảng viên của Đảng cộng sản trước Cách
mạng có nghĩa là sự hy sinh. Trở thành một nhà cách mạng chuyên nghiệp là một
trong những vinh dự cao nhất. Ngày nay đảng đã củng cố quyền lực của mình, là
đảng viên có nghĩa là thuộc về một giai cấp có đặc quyền. Và ở cốt lõi của của
đảng là những kẻ bóc lột và những ông chủ nắm mọi quyền lực. (Milovan Djilas,
The New Class, trích từ: Essential Works of Marxism, edited by Arthur
P. Mendel, Bantam Books, Bantam Matrix Edition, New York 1965, tr.
327)
Thực ra, nếu xem xét theo đúng định nghĩa của Marx về giai cấp thì
giai cấp thư lại mà Djilas nói đến không phải là một giai cấp đúng nghĩa, bởi vì
tiêu chuẩn để định nghĩa giai cấp này là tiêu chuẩn chính trị chứ không phải
tiêu chuẩn kinh tế. Trong xã hội cộng sản, trước hết phải là đảng viên hay cán
bộ, người ta mới được hưởng các đặc quyền về kinh tế; trong trường hợp mất chức
hoặc bị khai trừ Đảng, thì lập tức các đặc quyền kinh tế cũng bị mất theo. Có
thể nói đây là một
đẳng cấp hơn là một
giai cấp. Đẳng cấp này rất
giống với đẳng cấp quan lại trong các xã hội Á Đông theo Nho giáo (Trung Quốc,
Việt Nam). Nhưng khác với đẳng cấp quan lại, đẳng cấp mới này (thường được gọi
là
nomenklatura), ngoài các quan chức nhà nước còn bao gồm các nhà quản
lý kinh tế (managers) và các nhà kỹ thuật (technicians). Tiêu chuẩn để gia nhập
đẳng cấp này trước tiên và chủ yếu phải là lòng trung thành tuyệt đối đối với
Đảng cộng sản – dù là đảng viên hay là người ngoài đảng. Tiêu chuẩn này tương tự
như tiêu chuẩn
trung quân của đẳng cấp quý tộc - quan lại ở các nước Á
Đông theo Nho giáo ngày xưa.
Cũng cần nói thêm là chế độ sở hữu nhà nước
không phải là điều mới lạ trong lịch sử. Năm 1957, một nhà sử học-xã hội học
người Mỹ gốc Đức tên là Karl Wittfogel đã xuất bản một tác phẩm nhan đề
Chủ
nghĩa chuyên chế phương Đông (Oriental Despotism), với nội dung như sau:
Trong cuốn
Góp phần phê phán khoa kinh tế - chính trị học, ngoài
những phương thức sản xuất cổ đại, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, Marx còn thừa
nhận một phương thức sản xuất khác mà ông gọi là
phương thức sản xuất châu
Á. Phương thức này được Marx (và cả Lenin nữa) đánh giá là hoàn toàn khác
với tất cả các phương thức mà người ta có thể tìm thấy trong các xã hội phương
Tây.
Trong phương thức sản xuất châu Á, Nhà nước nuốt chửng toàn bộ xã
hội, hay ít nhất cũng mạnh hơn xã hội, bởi vì những người quản lý lao động tập
thể là những công chức. Nông nghiệp đòi hỏi việc sử dụng thường xuyên nước của
các dòng sông. Chính vì thế, ở Ai Cập và Trung Quốc, đã hình thành một chế độ
kinh tế và xã hội trong đó Nhà nước nếu không phải là chủ sở hữu của các phương
tiện sản xuất thì ít nhất cũng là người tổ chức lao động tập thể. Những người
được hưởng đặc quyền là những người bằng cách này hay cách khác gắn bó với Nhà
nước hay đại diện cho Nhà nước. Phương thức sản xuất châu Á không bao gồm những
giai cấp theo nghĩa phương tây của danh từ, mà bao gồm một sự phân chia đẳng cấp
mang tính nhà nước và quan liêu. Những đế quốc lớn ở châu Á và vùng Cận Đông,
được xây dựng trên phương thức sản xuất châu Á, là những đế quốc đặc biệt bền
vững. Kết cấu xã hội vừa đơn giản vừa vững bền. Nhà nước chiếm lấy toàn bộ các
chức năng lãnh đạo, điều hành của xã hội bằng cách loại trừ tất cả các trung tâm
quyền lực độc lập. Khi việc quản lý lao động thuộc về Nhà nước và Nhà nước là
duy nhất, thì xã hội vừa có tính đồng nhất vừa có tính đẳng cấp. Các tập thể,
cộng đoàn trong xã hội tuy khác nhau về lối sống, về phong cách sống, nhưng
không có cộng đoàn hay tập thể nào có quyền lực riêng, bởi vì tất cả đều hội
nhập vào cơ cấu của Nhà nước.
Những đặc điểm của các đế chế quan liêu ấy
cũng có thể được tìm thấy trong các xã hội được tổ chức theo kiểu mẫu của chế độ
xô-viết: Nhà nước độc quyền quản lý lao động tập thể, bộ máy thư lại Nhà nước,
giai cấp đặc quyền đặc lợi, những đối kháng không có đấu tranh giai cấp theo
nghĩa của phương Tây.
[8] Mặc
dầu quan niệm về nền
văn minh thuỷ lực (hydraulic civilization) của
Wittfogel bị nhiều nhà sử học phê phán vì ông coi các công trình thuỷ lợi như
nguyên nhân hàng đầu hình thành nên các thiết chế chính trị mang tính cưỡng chế
[9] , nhưng những trình bày của ông về
chế độ chuyên chế phương Đông giúp chúng ta thấy rõ sự xuất hiện của chế độ sở
hữu Nhà nước trong lịch sử, và tác động to lớn của nó đối với các chế độ chính
trị chuyên chế kiểu phương Đông.
Nước Nga dưới thời Sa hoàng là một quốc
gia
nửa - châu Á, chính Lenin cũng thừa nhận như vậy. Do đó, sau Cách
mạng tháng Mười, khi những người bolshevik xoá bỏ chế độ tư hữu thì chế độ sở
hữu Nhà nước kiểu châu Á lại tái sinh, với quy mô lớn hơn, và tính chất hiện đại
hơn. Độc quyền về kinh tế không hề tạo điều kiện cho một chế độ chính trị dân
chủ mà chỉ tạo điều kiện cho một chế độ Nhà nước toàn trị: Nhà nước nuốt chửng
toàn bộ xã hội công dân thay vì xã hội công dân nuốt chửng toàn bộ Nhà nước như
Marx đã tiên đoán.
Thực tế của xã hội xô-viết và tất cả các nước được tổ
chức theo mô hình đó đã chứng tỏ rằng một chế độ độc quyền về kinh tế, trong đó
Nhà nước nắm hầu hết các phương tiện sản xuất chủ yếu, không thể tạo điều kiện
cho người dân làm chủ xã hội. Về điểm này thì Proudhon có lý hơn Marx. Và điều
này cũng lý giải được tình hình tại sao đến cuối thể kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, một
số đảng cộng sản cầm quyền (như ở Trung Quốc, Việt Nam) đã buộc phải chấp nhận
kinh tế thị trường nhưng vẫn cố ôm khư khư một khu vực kinh tế quốc doanh rộng
lớn (nhưng kém hiệu quả) để củng cố vai trò độc tôn của mình trong lĩnh vực
chính trị.
*Chuyên chính vô sản, qua các đặc điểm vừa nêu trên,
không thể là một chế độ dân chủ, mà chỉ là một chế độ
thiểu số trị
(oligarchy, oligarchie), trong đó quyền lực rơi vào tay một đẳng cấp có đặc
quyền trong xã hội (các đảng viên cộng sản); và trong nội bộ đẳng cấp này, quyền
lực lại được tập trung vào tay một vài người có thế lực trong Bộ chính trị, thậm
chí rơi vào tay một cá nhân.
Nguyên nhân của tình hình này bắt nguồn từ
chỗ Marx bác bỏ những nguyên tắc của chế độ đại nghị. Chính vì bác bỏ chế độ đại
nghị cho nên chuyên chính vô sản thiếu hẳn một
cơ chế hãm có khả năng
ngăn chặn tình trạng lạm dụng quyền lực. Điều đáng lưu ý là những giải pháp mang
tính dân chủ mà Marx và Engels đã nêu lên qua kinh nghiệm của Công xã Paris đều
không được thực hiện, hay nói đúng hơn là không thể thực hiện được:
Trước hết là việc bầu và bãi miễn các thành viên của Nhà nước. Do chỗ
Đảng cộng sản độc chiếm quyền lực chính trị cho nên việc bầu cử trong các nước
xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Lenin chỉ là một sinh hoạt mang tính hình thức
nhằm hợp pháp hoá việc chọn lựa nhân sự của Đảng: dân được quyền bầu cử, nhưng
danh sách ứng cử viên lại do Đảng chọn; dân chỉ được quyền chọn lựa trong số
những người Đảng đã chọn trước. Những người bất đồng chính kiến hay không được
Đảng tin cậy đều bị gạt ra khỏi danh sách trước đó. Việc bầu các chức danh chủ
chốt lại càng chặt chẽ hơn, đến mức các chức vụ chủ chốt của bộ máy Nhà nước hầu
như được qưyết định trước trong các cuộc họp của Đảng.
Với cung cách ứng
cử, bầu cử như thế thì người dân hoàn toàn không có quyền bầu và bãi miễn bất cứ
một ai.
“Đảng cử, dân bầu”. Nói cách khác bầu cử chỉ là một hình thức xem
xét mức độ tín nhiệm để bảo đảm cho
ý Đảng hợp với
lòng dân. Trong
trường hợp lòng dân và ý Đảng không phù hợp thì người dân cũng không biết cách
nào hơn là trông chờ vào sự sáng suốt của Đảng: sự trông chờ này có cái gì tương
tự như sự trông chờ của
dân đen vào sự sáng suốt của
thiên tử và các
cận thần trong các xã hội Á Đông chịu ảnh hưởng của Nho giáo.
Mặt
khác, trong khi Marx và Engels ca ngợi Công xã Paris vì đã công khai hoá mọi
hoạt động của mình, thừa nhận những khuyết điểm của mình thì chuyên chính vô sản
trong thực tế luôn luôn che giấu các hoạt động của mình, nhất là che giấu khuyết
điểm - kể cả những sai lầm tệ hại nhất. Câu chuyện về
Di chúc của Lenin
là một ví dụ điển hình cho tính chất che giấu, bí mật trong các hoạt động của
Đảng cộng sản LiênXô.
Văn kiện này có tên chính thức là
Thư gửi
Đại hội. Lá thư này gồm có hai phần: phần đầu được viết trong thời gian
từ 23 đến 26.12.1922, phần thứ hai (bổ sung) được viết vào ngày 4.1.1923, với
mục đích dành để gửi cho một Đại hội thường kỳ của ĐCS (b) Nga. Do tình trạng
sức khoẻ kém, Lenin không thể tự viết mà phải đọc cho thư ký ghi. Lá thư được
chép thành vài bản, được niêm phong cẩn thận. Chỉ có Lenin mới được mở niêm
phong và trong trường hợp ông chết, thư phải do chính tay Krupskaia (vợ ông) mở.
Mặc dù lá thư được viết trước Đại hội lần thứ XII (tháng 4 năm 1923), nhưng lá
thư vẫn chưa được công bố tại Đại hội này. Mãi đến tháng 5 năm 1924, bốn tháng
sau khi Lenin mất và vài ngày trước khi khai mạc Đại hội lần thứ XIII, Krupskaia
mới chuyển lá thư đến Ban chấp hành trung ương và nói rõ yêu cầu của Lenin là lá
thư phải được công bố trước Đại hội. Nhưng BCH TƯ (lúc này đã bị Stalin khống
chế ) quyết định chỉ đọc lá thư tại từng đoàn đại biểu riêng lẻ thay vì đọc
trước Đại hội, đồng thời cấm sao chép, công bố hay trích dẫn. Do sự ém nhẹm đó,
bức thư đã không được công chúng ở Liên Xô biết đến; mặc dù ở phương tây, Max
Eastman đã công bố vài đoạn của lá thư trong tác phẩm
Từ khi Lenin chết
vào năm 1925, và báo
The New York Times đã công bố toàn văn lá thư vào
năm 1926. Ở Liên Xô, mãi đến Đại hội XX của ĐCSLX (năm 1956), người ta mới biết
được lá thư đó. Tại Đại hội, Khrushchev đã trích đọc một số đoạn trong lá thư để
làm căn cứ cho việc tố giác tội ác của Stalin; và sau Đại hội, toàn văn di chúc
của Lenin được công bố rộng rãi cho công chúng biết
[10] .
Che giấu sự thật gần như trở thành đặc
điểm chung cho tất cả các chế độ học tập theo mô hình chuyên chính vô sản của
Lenin.
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; trong bốn vế ấy, chỉ
có vế thứ ba
(dân làm) là được thực hiện, còn ba vế kia chỉ là khẩu hiệu
suông, không có thực chất.
Marx và Engels mong ước sau khi giai cấp vô
sản nắm chính quyền, sẽ khởi đầu một quá trình xã hội hoá Nhà nước, đến mức xã
hội công dân nuốt mất Nhà nước. Trong thực tế, đã diễn ra một quá trình
nhà-nước-hoá xã hội công dân, đến mức Nhà nước nuốt chửng toàn bộ xã hội. Sở dĩ
có quá trình đảo ngược ấy là do
sự lãnh đạo của Đảng cộng sản được tổ
chức theo khuôn mẫu của Đảng bolshevik.
© 2005 talawas
[1]Raymond Aron,
Démocratie et
totalitarisme, sđd, tr. 287-288.
[2]Oligarchy, oligarchie: Danh từ có nguồn gốc từ chữ
Hy Lạp
oligo (số ít) và
arkhê (quyền chỉ huy). Dùng để chỉ một chế
độ chính trị trong đó quyền lực nằm trong tay một vài người hay một vài gia đình
(Petit Larousse). Đào Duy Anh dịch là
quả đầu chính trị (Từ điển Hán
Việt), Thanh Nghị dịch là
quả đầu chính thể (Pháp Việt tân từ điển minh
hoạ).
Quả trong tiếng Hán-Việt có nghĩa là
ít. Cách dịch này chính
xác hơn là cách dịch hiện nay :
chính thể đầu sỏ, chế độ đầu sỏ. [3]Raymond Aron,
Sđd, tr.
258-264.
[4]“Union of Soviet
Socialist Republics”,
Encyclopædia Britannica 2000, 1994-2000.
[5]“Communist Party of the Soviet Union”,
Encyclopædia Britannica 2000, 1994-2000.
[6]“So với tên phản bội Kautxky, thì tên phản bội
Bernstein chẳng qua chỉ là một con chó con mà thôi” (Lenin,
Cách mạng vô sản
và tên phản bội Cau-xky, sđd, tr. 27).
[7]Còn được dịch là giai cấp quan liêu.
[8]Raymond Aron,
Sđd, tr.
312-315.
[9]Xem: “Hydraulic
civilization”,
Encyclopædia Britannica 2000, 1994-2000.
[10]“Lenin’s Testament”,
Encyclopædia
Britannica 2000, 1994-2000.