Không ai xóa được lịch sử

Trần Ðức Tường
 (LMVNTD - LÊN MẠNG THỨ HAI 18 THÁNG BẢY 2005)

Sự kiện Hà Nội yêu cầu Nam Dương (Indonesia) và Mã Lai triệt hạ hai tấm bia của người Việt tỵ Nạn tại Pulau Bidong và Pulau Galang nói lên chủ tâm bôi xóa lịch sử của đảng và chế độ cộng sản Việt Nam (CSVN). Các hôn quân, bạo chúa thời xưa và các chế độ độc tài tàn ác thời nay đều có chung một đặc tính là bóp méo lịch sử, là phá bỏ những chứng tích tội ác của họ. Nhưng sử xanh vẫn còn ghi lại một cách khách quan và không thiên lệch những gì đã thực sự xảy ra trong quá khứ để người đời sau có thể hiểu biết và rút kinh nghiệm.

Lịch sử ghi chép những sự kiện, những biến cố liên quan đến con người trong một xã hội hạn hẹp như quốc gia hoặc trong một môi trường rộng lớn hơn nữa, trên toàn thế giới. Một trong những đặc tính của lịch sử là trung thực và vì thế khả tín. Chuyện xấu, chuyện tốt xảy ra đều được lịch sử ghi lại một cách khách quan. Vì thế lịch sử được coi là một pho sách khổng lồ về nhân chủng học, về xã hội học, về chính trị học, về kinh tế học, về luận lý học, về tâm lý học, về văn minh, văn hóa. Tóm lại, về con người trong xã hội qua hết thời đại này đến thời đại khác. Cũng vì thế mà nhiều thế lực cầm quyền đã tìm cách ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên lịch sử. Nhà cầm quyền sáng suốt, lương thiện thì tìm cách làm những điều tốt, tránh những chính sách tàn ác, dã man, sợ lịch sử lên án, muôn đời ô danh. Kẻ hung quân, bạo chúa tìm cách bóp méo lịch sử, thậm chí đốt sử sách để phi tang... Phải chăng việc cộng sản Hà Nội yêu cầu chính phủ Mã Lai và Nam Dương triệt hạ hai đài tưởng niệm thuyền nhân tại các nước này nằm trong âm mưu bôi xóa một trang lịch sử bất lợi cho họ ? Ðể có câu trả lời, thiết tưởng cần quay lại quá khứ để nhận biết những vụ bôi xóa lịch sử của CSVN và những động cơ của việc bóp méo lịch sử này. Và sau cùng, nên đặt thành vấn đề việc "viết lại" lịch sử Việt Nam thời cận đại để vãn hồi sự thật cho lịch sử Việt Nam.

Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại Pulau Bidong và Pulau Galang.

Thế giới và nhất là dân tộc Việt Nam, đặc biệt là những thuyền nhân Việt Nam đang sống rải rác trên khắp thế giới không thể nào quên được làn sóng cả triệu người Việt Nam bỏ nước vượt biên, vượt biển đi tìm tự do từ năm 1975 đến 1990. Thế giới không quên được. Vì nhờ vào sự liều chết vượt đại dương trên những con thuyền mỏng manh, bất chấp giông bão, hải tặc và trăm ngàn rủi ro đang chờ đón thuyền nhân giữa biển cả ; vì nhờ vào hàng trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây đáy biển mà thế giới đã đã được đánh thức, ra khỏi cơn mê tuyên truyền cộng sản quốc tế, nhìn rõ bộ mặt cộng sản. Không thể phủ nhận được là làn sóng người Việt Nam vượt biển đã là một trong những yếu tố góp phần tạo nên đợt tsunami đánh sập thành trì cộng sản thế giới. Dân tộc Việt Nam ghi nhớ làn sóng vượt biên như một vết đau đớn trong da thịt. Từ ngày dựng nước, dân tộc ta đã phải đấu tranh gian khổ để tồn tại. Ðất nước có thời kỳ đã bị ngoại xâm đô hộ hàng trăm, hàng ngàn năm. Thiên tai, mất mùa đã gây nên nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) giết hại gần 2 triệu đồng bào miền Bắc. Nhưng chưa bao giờ dân Việt đã bỏ nước ra đi, liều chết ra đi... mong tìm được chút không khí tự do như dưới thời cộng sản. Ðây là một dữ kiện lịch sử. Thế giới đã có nhiều người viết về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), về ngày 30/4/1975... trong đó có đề cập đến hiện tượng thuyền nhân. Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) có những con số không mấy chính xác, có những báo cáo về những người tỵ nạn Việt Nam tại các trại tỵ nạn vùng Ðông Nam Á, nhiều nhất là Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương... Họ cũng có những phúc trình, những số liệu người tỵ nạn Ðông Dương được các nước thứ ba như Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp, Ðức, Na Uy, Ðan Mạch, Bỉ, Hòa Lan vv... tiếp nhận và cho định cư. Nhưng chưa có một tài liệu khoa học hay văn chương, khảo cứu nào của người ngoại quốc cũng như Việt Nam dành riêng cho phong trào thuyền nhân Việt Nam trong các thập niên 70-80.

CSVN thì khỏi nói. Sự kiện gần triệu người bỏ nước ra đi và còn bao nhiêu triệu người khác rất muốn đi mà không đi được, là một sự xỉ nhục đối với cái chế độ, mệnh danh là "cách mạng", "giải phóng"..., là những tiếng thét lên tố cáo chế độ cộng sản dã man tại Việt Nam trước thế giới. Trong nhiều thập niên, và cho đến ngày hôm nay, mặc dù họ rất thèm tiền bạc do người Việt Hải Ngoại gửi về giúp đỡ gia đình, nhưng trong thâm tâm họ vẫn còn thù hận đối với người tỵ nạn. Trước đây, họ nói ra miệng những lời thóa mạ người tỵ nạn như là "đĩ điếm", "lưu manh", "bất hảo"... Nay vì đồng tiền, họ đã nuốt lại những lời dơ bẩn, tục tĩu khi trước để trải chiếu hoa đón "Việt Kiều" về du lịch. Ðừng coi đây là sự "đổi mới" của CSVN. Ðây chỉ là hiện tượng ; bản chất của CSVN là chỉ chờ có dịp để trả thù "Việt Kiều" cho hả giận. Ðương nhiên là họ sẽ lờ đi, không đả động gì đến thảm trạng tỵ nạn của dân ta. Nếu họ có đề cập đến sự kiện hàng triệu người vượt biên, vượt biển đi tìm tự do thì cũng đương nhiên là họ sẽ nói theo quan điểm, lập trường của họ, rất xa với thực tế, nếu không muốn nói là trái ngược vói thực tế.

Ðể đánh dấu bến bờ, nơi những người tỵ nạn đã có may mắn đặt chân lên đất liền sau những ngày dài lênh đênh trên biển cả, thi gan cùng sóng to gió lớn ; chịu đựng đói khát hung thần... cộng đồng người Việt tỵ nạn đã có ý định xây dựng lên ở những nơi này bia đài kỷ niệm. Thực ra, vào thời đó, trên toàn vùng Ðông Nam Á đã có tất cả hơn 20 trại tỵ nạn tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam. Nhưng những nơi quan trọng và đáng nhớ hơn là đảo Pulau Bidong của Mã Lai và Pulau Galang của Nam Dương, Songkhla ở Thái Lan và Hồng Kông... Theo tờ báo Djakarta Post, số ra ngày 20/06/2005 thì "vào ngày 25/03/2005, 150 cựu thuyền nhân hiện đang cư ngụ tại nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Úc Ðại Lợi, Hoa Kỳ, Canada, Thụy Sĩ, Pháp... đã tụ họp về đảo Galang, thuộc "tỉnh quần đảo Riau", tiểu bang Batam, một thời đã là trại tỵ nạn đón tiếp họ. Cuộc họp mặt và dựng lên một tấm bia tưởng niệm là do sáng kiến và sự hợp tác giữa cơ quan mang tên "The Batam Industrial Development Authority (BIDA)", công ty Bold Express của Singapore và các cựu thuyền nhân". Theo tin của cộng đồng tỵ nạn thì "Lễ khánh thành tượng đài thuyền nhân tại Galang, Nam Dương, diễn ra vào ngày 24 tháng 3 năm 2005, với sự chứng kiến của ông Sofian De Jail, Tổng giám đốc Nha truyền thông của Bộ ngoại giao Nam Dương và đại diện cao cấp của chính quyền tiểu bang Batam". Tấm bia bằng đá hoa cương được lồng trong một bệ đài cao 3m, rộng 1m, có nội dung viết bằng Anh ngữ như sau :

Mặt trước ghi :

In commemoration of the hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to freedom (1975-1996).
Though they died of hunger or thirst, or being raped, or exhaustion or any other causes, we pray that they may now enjoy lasting peace.
Their sacrifice will never be forgotten.
OVERSEAS VIETNAMESE COMMUNITIES 2005.

Xin tạm dịch :

"Ðể tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mình trên đường đi tìm Tự Do (1975-1996)
Dẫu rằng liệt vị đã chết đi vì đói hay khát, vì hãm hiếp, vì kiệt sức hay vì bất cứ nguyên nhân nào khác, chúng tôi cũng nguyện cầu liệt vị ngày nay được hưởng bình an vĩnh viễn.
Sự hy sinh của liệt vị sẽ không bao giờ bị lãng quên"
Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại 2005

Mặt sau ghi :

"In appreciation of the efforts of UNHCR, the Red Cross and the Indonesian Red Crescent Society and other world relief organizations, the Indonesian government and people, as well as all countries of first asylum and resettlement.
We also express our gratitude to the thousands of individuals who worked hard in helping the Vietnamese refugees".
OVERSEAS VIETNAMESE COMMUNITIES 2005.

Xin tạm dịch :

Ðể tri ân những nỗ lực của Cao Ủy tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, Hội Trăng Lưỡi Liềm Ðỏ Nam Dương và những tổ chức từ thiện thế giới, Chính Phủ và Nhân Dân Nam Dương, cũng như tất cả những quốc gia tiếp cư và định cư.
Chúng tôi cũng bày tỏ sự biết ơn đối với hàng ngàn những cá nhân đã tích cực làm việc để giúp đỡ người Việt Nam tỵ nạn"
Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại 2005

Tấm bia tại đảo Pulau Bidong thuộc bang Terengganua của Mã Lai cũng mang nội dung tương tự.

Thời gian đồng bào phải tạm trú trong các trại tỵ nạn Ðông Nam Á đôi khi kéo dài nhiều năm. Vì thế, ngay tại những trại này đã có những người tỵ nạn đã qua đời trong trại. Mặt khác cũng có những trẻ em được sinh ra ở đây, những cặp vợ chồng thành hôn trước mặt trại trưởng... Theo những con số chính thức của chính phủ Mã Lai được báo chí cộng đồng loan tải thì trại Pulau Bidong "đã đón tiếp khoảng 200 ngàn thuyền nhân Việt Nam ghé qua từ năm 1975 cho đến năm 1990. Theo số liệu của chính quyền Mã Lai thì có 4.535 em bé chào đời trên đảo và có 433 người đã vĩnh viễn nằm lại ở đây. Sau khi đã định cư nước thứ ba, hàng năm vẫn có nhiều thuyền nhân quay trở lại hai nơi này để thăm viếng cũng như thắp hương cho những người thân đã quá cố".

  Triệt Hạ Bia Tưởng Niệm Người Việt Tỵ Nạn Tại Galang.

So với diện tích rộng mênh mông của hai trại tỵ nạn Bidong và Galang thì hai đài bia không phải là những gì to lớn đồ sộ. Khiêm nhượng, nhưng trang nghiêm, đây chỉ là sự thể hiện "nghĩa vụ ký ức" (devoir de mémoire) đối với những thuyền nhân Việt Nam đã bỏ mình dưới đáy biển và lòng biết ơn của những thuyền nhân còn sống đối với đất nước Mã Lai và Nam Dương, với thế giới. Từ vị trí, kích thước đến nội dung những tấm "bia tưởng niệm", không có gì là hận thù, là công kích, là khiêu khích hay tố cáo bất cứ một chế độ, một chính quyền nào kể cả chính quyền độc tài CSVN, nguyên nhân của "Nạn Thuyền Nhân".

Dựa theo bài báo mang tựa đề "Tấm bia của thuyền nhân đã bị giật sập" của ký giả Fadli đăng trên tờ The Jakarta Post số ra ngày 20/06/2005 mới đây, thì "Lệnh triệt hạ tấm bia thuyền nhân này đến từ chính tổng thống Nam Dương Susilo Bambang Yudhoyono, thể theo lời yêu cầu của Trần Ðức Lương, chủ tịch CSVN". Cũng nên biết là hồi cuối tháng 4/2005 vừa qua, Trần Ðức Lương đã tới Djakarta, thủ đô Nam Dương tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh Các Nước Á-Phi. Trong dịp này, Trần Ðức Lương đã gặp tổng thống Susilo của Nam Dương và mời ông này sang thăm Việt Nam. Ngày 30/5 vừa qua Susilo đã tới Hà Nội và gặp Trần Ðức Lương. Không biết là Trần Ðức Lương đã yêu cầu Susilo triệt hạ tấm bia ở Galang khi ông ta tới Djakarta hay là khi Susilo tới Hà Nội ; nhưng đây là lời yêu cầu, không phải từ 1 cơ quan chính quyền CSVN mà từ chính người đứng đầu nước CSVN.

Tuy lệnh lạc đến từ bộ phận tối cao của quốc gia, nhưng theo tờ báo Djakarta Post thì cách thi hành có nhiều điều khôi hài. Ký giả Fadli viết : "Theo một nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao Nam Dương, xin được dấu tên, thì chính phủ Việt Nam cho rằng lời lẽ ghi trên tấm bia xúc phạm đến danh dự của Việt Nam" ( !). Nguồn tin này nói thêm : "Ðây là vấn đề quan hệ giữa chính phủ và chính phủ, tôi không có quyền bình phẩm. Theo chỗ tôi biết thì tấm bia bị triệt hạ sau khi chính quyền Việt Nam than phiền với tổng thống Susilo". Nay tấm bia đã bị gỡ đi nhưng khung bệ bằng xi măng vẫn còn đứng nguyên. Theo ký giả Fadli thì du khách và nhân viên trong khu du lịch này đều ngạc nhiên thấy tấm bia bị gỡ đi. Một nhân viên bảo trì, ông Mursidi, năm nay đã 60 tuổi cho nhà báo biết là công nhân đã nhận được lệnh rất gay gắt là phải gỡ ngay tấm bia. Ông già Mursudi có mặt tại nơi này từ khi nơi đây còn là trại tỵ nạn. Ông không nhớ rõ cái ngày nhận được lệnh phá bia. Nhưng, ông nghĩ là vào khoảng cuối tháng 5/2005. Ông kể "Hôm đó vào lúc xế chiều, trời đang mưa to. Nhưng ông xếp của tôi ra lệnh phải gỡ ngay tức khắc tấm bia xuống. Chúng tôi đã phải căng một tấm bạt lên trên tấm bia để làm việc trong khi trời mưa". Ông già Mursudi còn cho biết là ông đã được người chỉ huy ông tại Văn Phòng Trung Ương của tổ chức BIDA tại Batam yêu cầu ông ghi lại những chữ khắc trên bia trước khi triệt hạ. Người ta đã nói với ông rằng lệnh triệt hạ là do ông Ismeth Abdullah, cựu chỉ tịch tổ chức BIDA, người đã đứng ra tổ chức buổi gặp mặt thuyền nhân và dựng tấm bia này tại Galang. Ông già Mursudi lắc đầu nói : "Tôi chẳng hiểu lý do thật của việc gỡ bỏ tấm bia này. Tôi chỉ là một nhân viên thường".

Chưa hết, nhà báo đã gọi điện cho ông Ismeth Abdullah, kể lại lời nói của ông già Mursudi. Ông Abdullah giận dữ và nói : "Ðây là một điều vu khống. Chúng tôi đã tốn kém rất nhiều tiền bạc để tổ chức buổi họp mặt thành công. Sao lại dám tố cáo tôi đã ra lệnh gỡ bỏ tấm bia ? Láo khoét !".

Câu chuyện gỡ bỏ tấm bia thuyền nhân ở Galang là như vậy. Hai người đứng đầu quốc gia đã thỏa thuận với nhau triệt hạ tấm bia. Nhưng cả hai người đều muốn đổ lỗi cho kẻ khác.

Mặt khác, theo bà Anne Oh, điều hợp viên của tổ chức Bold Express thì không những Việt Nam yêu cầu triệt hạ tấm bia thuyền nhân tại đảo Galang, họ còn đang yêu cầu chính phủ Mã Lai triệt hạ tấm bia tương tự tại đảo Pulau Bidong, thuộc tiểu bang Trengganu. Yêu cầu này của Hà Nội đang được thảo luận rất gay gắt tại Mã Lai. Cộng đồng người Việt Hải Ngoại và nhiều chính sách quốc tế đang an thư gửi chính phủ Mã Lai yêu cầu không triệt hạ tấm bia mang nặng tính chất nhân bản và lịch sử. Hiện tấm bia này chưa bị gỡ bỏ.

  Bôi Xóa Và Bóp Méo Lịch Sử Là Chủ Trương Của CSVN.

Ở mọi thời đại, việc uốn nắn lịch sử theo ý nhà cầm quyền đương thời nhằm che dấu những sai lầm và làm nổi bật công trạng của mình là điều thường thấy trên thế giới. Trong thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa thực dân, lịch sử của những nước thuộc địa đã bị bóp méo rất nhiều. Phải chờ nhiều thập niên khi các nước này thoát khỏi ách thực dân đô hộ, mới từng buớc vãn hồi lại sự thật cho lịch sử nước họ trong thời kỳ đen tối kéo dài có khi hàng thế kỷ. Nhưng điều nên biết là những âm mưu bóp méo lịch sử để biện minh cho những công việc của một chính quyền chỉ là chuyện của quá khứ, của những thế kỷ trước. Ðiều cũng nên nói thêm là thường thường những người cầm quyền chỉ tìm cách viết sử theo chiều hướng mình muốn, ít khi họ bỏ công triệt hạ những di tích lịch sử. Cộng sản nói chung và CSVN nói riêng, khi lên nắm chính quyền, đều có một chủ trương chung là phải triệt hạ tất cả những gì nhắc nhở người ta về quá khứ, dù rằng quá khứ không có liên quan gì đến chế độ cũ đã bị họ hạ bệ và thay thế. Vì cộng sản tự nhận làm nên lịch sử, viết lên lịch sử, họ không muốn có sự hiện diện của bất cứ lịch sử nào ngoài lịch sử của họ. Ở Việt Nam, cộng sản đã đưa ra những sự kiện hoàn toàn khác hẳn về những gì đã diễn ra trong thời gian tranh đấu giành độc lập. Ngày nay CSVN là lực lượng duy nhất còn tồn tại và độc tài nắm chính quyền, viết lịch sử, những hành động của họ đối với những nhà ái quốc không cộng sản như các ông Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vv,.. đã bị họ trình bày một cách "chủ quan" của họ. Không phải chỉ chủ quan, mà nhiều khi còn bóp méo, xuyên tạc và dấu diếm. Khi họ cướp được chính quyền vào tháng 8/1945, CSVN đã bắt tay ngay vào việc uốn nắn, bóp méo lịch sử Việt Nam thời cận đại. Cho đến nay, CSVN còn bắt học sinh Việt Nam học rằng "Việt Minh đã cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật". Thực ra thì vào ngày giờ đó, Nhật đã đầu hàng, quân đội Nhật đang chờ bị Ðồng Minh giải giới. Trong lúc đó, từ ngày 10/03/1945, Nhật đã tuyên bố trả lại độc lập cho vua Bảo Ðại. Từ đó, Hồ Chí Minh và đảng CSVN không ngừng thay đổi, bóp méo những sự kiện lịch sử đã xảy ra. Họ đã bưng bít những tin tức bất lợi cho họ, về những biến cố không do họ chủ động, xuyên tạc những hoạt động của những ai không trong phe họ, hoặc đổi trắng thành đen, cướp công kẻ khác vv...

Sự xuyên tạc hay bóp méo lịch sử không chỉ ngừng trong lời nói, chữ viết, tóm lại là trong tuyên truyền. Nó còn được cộng sản thể hiện bằng hành động trên con người và trên vật thể. CSVN tìm cách loại trừ các chứng nhân của lịch sử, những người "biết quá nhiều". Họ bị loại vì họ biết quá nhiều về những điều sai trái của cộng sản mà nay cộng sản muốn che dấu ; vì họ biết quá nhiều về sự thật mà cộng sản đã xuyên tạc ; vì họ muốn vãn hồi lại sự thật (xét lại) cho lịch sử mà cộng sản đã bóp méo ; và vì họ đã từng tham gia vào trong âm mưu bóp méo lịch sử của cộng sản. Những người này, nhẹ thì cũng bị tù đày không xét xử trong các trại tập trung, nặng thì bị thanh trừng, thủ tiêu. Mục đích là không còn có ai có thể nói ngược lại những sự kiệnlịchsử do cộng sản đưa ra. Hành động tiếp theo nhằm dẹp bỏ những chứng tích lịch sử bất thuận lợi cho cộng sản là xóa bỏ những di tích mang tính lịch sử. Hồi năm 1945, khi Việt Minh cướp được chính quyền và vua Bảo Ðại đã thoái vị, trao ấn kiếm cho "chính quyền cách mạng" để trở thành "công dân Vĩnh Thụy"..., tại kinh đô Huế, các lăng tẩm và những di tích lịch sử của triều Nguyễn đã bắt đầu bị phá hủy, cướp bóc. Nếu cuộc chiến tranh với Pháp chậm khai diễn thì chắc ngày nay, Huế không còn có những di tích lịch sử để CSVN khai thác trong ngành du lịch như hiện nay.

Ngay sau khi cưỡng chiếm miền Nam ngày 30/4/1975, CSVN đã mang ra thực hiện những công việc bôi xóa lịch sử. Họ đã tiến hành ngay việc triệt hạ những tượng đài của quân đội và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Những nhân chứng trực tiếp của cuộc chiến tranh Việt Nam đã bị tập trung cải tạo. Trong chính sách cải tạo này, không chỉ có mục tiêu trả thù, an ninh, chính trị... còn có âm mưu "dẹp sạch" những chướng ngại cho kế hoạch tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử Việt Nam nói chung và miền Nam Việt Nam nói riêng. CSVN đã đẩy việc loại trừ chứng nhân lịch sử từ cõi người sống sang cõi người chết. Ði ngược lại truyền thống và đạo lý dân tộc, họ đã nhẫn tâm ra tay phá hoại các nghĩa trang Quân Ðội VNCH trên toàn lãnh thổ miền Nam. Không riêng gì đối với văn hóa Việt Nam, mà đối với văn hóa nhiều nước trên thế giới, nghĩa trang là nơi an nghỉ cuối cùng của người chết, là nơi không thể xâm phạm. Thời xưa, "quật mồ" một người nào là một điều vô cùng quan trọng, ít ai dám lấy quyết định, dù cho người đó đã có những tội lỗi nặng nề đến mấy. Các cụ nói "nghĩa tử là nghĩa tận". Người chết là hết chuyện trần gian... Người ta không đụng tới di thể của người đã chết, không xâm phạm mồ mả người đã chết. Nhưng nếu người đó có công hay có tội, lịch sử vẫn sẽ có quyền bình công luận tội người quá cố. Tại vùng Normandie, nước Pháp, nơi Ðồng Minh đổ bộ lên Âu Châu để tiến đánh quân đội Ðức Quốc Xã của Adolph Hitler, hiện nay có hai nghĩa trang to lớn : một nghĩa trang với trên 10.000 ngôi mộ của quân đội Mỹ đã bỏ mình trong cuộc đổ bộ trên bãi biển và trên chiến trường Normandie ; một nghĩa trang của trên 10.000 lính Ðức Quốc Xã, quân xâm lăng, quân chiếm đóng, đã từng giết hại bao nhiêu dân Pháp... Cả hai nghĩa trang vẫn được dân chúng địa phương chăm sóc, cắm hoa, cắm cờ trong những ngày lễ lớn. Thật buồn khi thấy tại quê hương Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam đã cày xới mồ mả của những người Việt Nam khác sau khi cuộc nội chiến tương tàn đã chấm dứt. Không phải vì dân tộc Việt Nam phi văn hóa. Chỉ có một số người quy tụ trong một đảng phái ngoại lai làm cái việc phi văn hóa. Hiện tượng này mang tính lịch sử và chắc chắn lịch sử cũng sẽ ghi chép lại việc CSVN đào xới mồ mả quân lính VNCH.

Cuộc di tản, vượt biên, vượt biển của hàng triệu đồng bào ta sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam cũng là một biến cố lịch sử. Chính sách bất nhân, hà khắc của chế độ cộng sản tại Việt Nam đã là nguyên nhân của "nạn vượt biển" vĩ đại này. Người ta trở thành "Thuyền Nhân" vì muốn sống tự do, vì muốn cho con cháu mình có một tưởng lai mà CSVN đã khép kín đối với thành phần con em họ. CSVN muốn xóa bỏ cả một quãng dài thời gian từ 1975 đến 1990 với hơn 1 triệu người bỏ nước ra đi trên những con thuyền mong manh, với hàng trăm ngàn người đã bỏ thây trên đại dương vì đói, khát, hải tặc, công an biên phòng Việt Nam đuổi theo bắn chết... Những người sống sót, đến được bến bờ tự do đã tưởng nhớ những người đã chết trên biển, trên trại tỵ nạn... đã dựng bia tưởng niệm tại các trại tỵ nạn trên những hòn đảo xa xôi hẻo lánh của Nam Dương và Mã Lai. Ấy thế mà CSVN cũng muốn triệt hạ. Dã tâm triệt hạ tấm bia được dựng lên vừa để tưởng nhớ thuyền nhân đã khuất, vừa để cảm tạ đất nước đã cho họ tá túc và những cơ quan quốc tế đã giúp họ đi định cư tại các nước đệ tam, không khác gì dã tâm triệt hạ mộ bia các tử sĩ VNCH, và đào bới mồ mả của họ ở trong nước. Ðiều bẩn thỉu nhất là lời yêu cầu triệt hạ tấm bia Thuyền Nhân tại Galang lại được thốt ra từ cửa miệng của tên nguyên thủ quốc gia Việt Nam Trần Ðức Lương, nói với tổng thống Nam Dương. Lời lẽ trên tấm bia không hề đả động đến chế độ cũng như đảng và tập đoàn đầu lãnh cộng sản tại Việt Nam. Sự kiện Hà Nội cho rằng lời lẽ trên tấm bia xúc phạm đến Việt Nam có thể hiểu được là sự ngu tối của Trần Ðức Lương và bộ máy cai trị CSVN. Cũng may bia viết bằng tiếng Anh nên ngay người Nam Dương cũng hiểu nội dung tấm bia là gì. Cộng sản Hà Nội không thể nói láo được. Hẳn người Nam Dương và người ngoại quốc cũng phải đánh giá được sự ngu dốt này của tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội hiện nay.

  Bóp Méo Lịch Sử Là Tội Ác Chống Nhân Loại.

Những tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới ngày hôm nay, phần lớn nhờ vào lý thuyết về sự tương đối của thời gian (théorie de la relativité du temps) do nhà khoa học Einstein khám phá ra hồi đầu thế kỷ trước. Nhưng thời đó, Hitler là người đã tuyên bố rằng "Lý thuyết tương đối thời gian không có giá trị". Hắn ta tuyên bố điều này không dựa trên những khảo cứu khoa học mà chỉ vì ông Robert Einstein là người Do Thái. Trên thế giới không phải chỉ có một Hitler, mà còn có cả Lénine, Staline và những tên độc tài khác nữa. Ðối với cộng sản, tất cả những gì liên quan đến chế độ cũ, đến tư bản đều không có giá trị. Hồ Chí Minh và CSVN cũng vậy. Tất cả những gì liên quan đến VNCH, đến thuyền nhân đều cần phải xóa bỏ. Họ không những muốn xóa bỏ những thứ đó dưới chế độ do họ nắm quyền cai trị, họ còn muốn bôi xóa luôn cả trong lịch sử. Lịch sử gắn liền với thời gian. Họ cùng sống trong một thời gian với những sự kiện, những biến cố họ muốn xóa bỏ. Ðó là điều họ không thể nào làm được. Mặt khác, lịch sử không phải là cái gì đưa ra một lần là có giá trị mãi mãi. Lịch sử là một môi trường cần luôn được khảo cứu, xét lại. Vì vậy ở thời đại nào cũng có những nhà khảo cứu lịch sử xem xét lại (révisionnistes) những chi tiết của lịch sử để vãn hồi chân lý. Vì thế, những gì sai với sự thật, khó mà tồn tại được trong lịch sử. Thời xưa việc chấn chỉnh lịch sử đòi hỏi nhiều thời gian nghiên cứu ; ngày nay công việc này mau lẹ hơn xưa nhiều.

Cộng sản chủ trương viết lịch sử Việt Nam để phục vụ cho riêng mình. Nhưng điều họ muốn và điều họ đạt là hai việc hoàn toàn khác nhau. Cho dù ngày nay họ có súng đạn, bạo lực, quyền thế để bẻ cong ngòi bút của nhiều sử gia. Sử gia Trần Trọng Kim đã viết : "... sử là của chung cả quốc dân, chớ không phải riêng cho một nhà một họ nào, cho nên mới phải lấy công lý mà xét đoán mọi việc mà không vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy". Kẻ cường quyền, ngày xưa đã đục bỏ tên ông Chu Văn An ra khỏi bia Tiến sĩ. Ngày nay dân Việt không ai là không biết đến Chu Văn An, trong lúc kẻ đục bia, không ai thèm nhớ tới.

Những tấm "Bia Thuyền Nhân" tại Bidong và Galang là sự cụ thể hóa những khắc ghi trong lòng hơn 2 triệu người dân Việt Tỵ Nạn trên khắp thế giới. "Trăm năm bia đá cũng mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Tấm bia thứ nhất tại Galang đã bị đục bỏ ; nhưng cho dù tấm bia thứ nhì tại Bidong có bị triệt hạ đi chăng nữa, thì hơn 2 triệu người Việt tỵ nạn trên thế giới sẽ là hơn 2 triệu tấm bia sống để ghi khắc không những sự hy sinh của thuyền nhân mà còn ghi khắc tội ác bỉ ổi, hành động bỉ ổi của Trần Ðức Lương khi yêu cầu triệt hạ "Bia Thuyền Nhân".

Trần Ðức Tường