|
|
|
Sự kiện Hà Nội yêu cầu Nam
Dương (Indonesia) và Mã Lai triệt hạ hai tấm bia của người Việt tỵ Nạn tại
Pulau Bidong và Pulau Galang nói lên chủ tâm bôi xóa lịch sử của đảng và chế
độ cộng sản Việt Nam (CSVN). Các hôn quân, bạo chúa thời xưa và các chế độ
độc tài tàn ác thời nay đều có chung một đặc tính là bóp méo lịch sử, là phá
bỏ những chứng tích tội ác của họ. Nhưng sử xanh vẫn còn ghi lại một cách
khách quan và không thiên lệch những gì đã thực sự xảy ra trong quá khứ để
người đời sau có thể hiểu biết và rút kinh nghiệm. Lịch sử ghi chép những sự
kiện, những biến cố liên quan đến con người trong một xã hội hạn hẹp như quốc
gia hoặc trong một môi trường rộng lớn hơn nữa, trên toàn thế giới. Một trong
những đặc tính của lịch sử là trung thực và vì thế khả tín. Chuyện xấu,
chuyện tốt xảy ra đều được lịch sử ghi lại một cách khách quan. Vì thế lịch
sử được coi là một pho sách khổng lồ về nhân chủng học, về xã hội học, về
chính trị học, về kinh tế học, về luận lý học, về tâm lý học, về văn minh,
văn hóa. Tóm lại, về con người trong xã hội qua hết thời đại này đến thời đại
khác. Cũng vì thế mà nhiều thế lực cầm quyền đã tìm cách ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp lên lịch sử. Nhà cầm quyền sáng suốt, lương thiện thì tìm cách
làm những điều tốt, tránh những chính sách tàn ác, dã man, sợ lịch sử lên án,
muôn đời ô danh. Kẻ hung quân, bạo chúa tìm cách bóp méo lịch sử, thậm chí
đốt sử sách để phi tang... Phải chăng việc cộng sản Hà Nội yêu cầu chính phủ
Mã Lai và Nam Dương triệt hạ hai đài tưởng niệm thuyền nhân tại các nước này
nằm trong âm mưu bôi xóa một trang lịch sử bất lợi cho họ ? Ðể có câu
trả lời, thiết tưởng cần quay lại quá khứ để nhận biết những vụ bôi xóa lịch
sử của CSVN và những động cơ của việc bóp méo lịch sử này. Và sau cùng, nên đặt
thành vấn đề việc "viết lại" lịch sử Việt Nam thời cận đại để vãn
hồi sự thật cho lịch sử Việt Nam. Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại Pulau Bidong và Pulau Galang. Thế giới và nhất là dân tộc
Việt Nam, đặc biệt là những thuyền nhân Việt Nam đang sống rải rác trên khắp
thế giới không thể nào quên được làn sóng cả triệu người Việt Nam bỏ nước
vượt biên, vượt biển đi tìm tự do từ năm 1975 đến 1990. Thế giới không quên
được. Vì nhờ vào sự liều chết vượt đại dương trên những con thuyền mỏng manh,
bất chấp giông bão, hải tặc và trăm ngàn rủi ro đang chờ đón thuyền nhân giữa
biển cả ; vì nhờ vào hàng trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây đáy biển mà
thế giới đã đã được đánh thức, ra khỏi cơn mê tuyên truyền cộng sản quốc tế,
nhìn rõ bộ mặt cộng sản. Không thể phủ nhận được là làn sóng người Việt Nam
vượt biển đã là một trong những yếu tố góp phần tạo nên đợt tsunami đánh sập
thành trì cộng sản thế giới. Dân tộc Việt Nam ghi nhớ làn sóng vượt biên như
một vết đau đớn trong da thịt. Từ ngày dựng nước, dân tộc ta đã phải đấu
tranh gian khổ để tồn tại. Ðất nước có thời kỳ đã bị ngoại xâm đô hộ hàng
trăm, hàng ngàn năm. Thiên tai, mất mùa đã gây nên nạn đói khủng khiếp năm Ất
Dậu (1945) giết hại gần 2 triệu đồng bào miền Bắc. Nhưng chưa bao giờ dân
Việt đã bỏ nước ra đi, liều chết ra đi... mong tìm được chút không khí tự do
như dưới thời cộng sản. Ðây là một dữ kiện lịch sử. Thế giới đã có nhiều
người viết về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), về ngày 30/4/1975...
trong đó có đề cập đến hiện tượng thuyền nhân. Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc
(UNHCR) có những con số không mấy chính xác, có những báo cáo về những người
tỵ nạn Việt Nam tại các trại tỵ nạn vùng Ðông Nam Á, nhiều nhất là Thái Lan,
Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương... Họ cũng có những phúc trình, những số liệu
người tỵ nạn Ðông Dương được các nước thứ ba như Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp,
Ðức, Na Uy, Ðan Mạch, Bỉ, Hòa Lan vv... tiếp nhận và cho định cư. Nhưng chưa
có một tài liệu khoa học hay văn chương, khảo cứu nào của người ngoại quốc
cũng như Việt Nam dành riêng cho phong trào thuyền nhân Việt Nam trong các
thập niên 70-80. CSVN thì khỏi nói. Sự kiện
gần triệu người bỏ nước ra đi và còn bao nhiêu triệu người khác rất muốn đi
mà không đi được, là một sự xỉ nhục đối với cái chế độ, mệnh danh là
"cách mạng", "giải phóng"..., là những tiếng thét lên tố
cáo chế độ cộng sản dã man tại Việt Nam trước thế giới. Trong nhiều thập
niên, và cho đến ngày hôm nay, mặc dù họ rất thèm tiền bạc do người Việt Hải
Ngoại gửi về giúp đỡ gia đình, nhưng trong thâm tâm họ vẫn còn thù hận đối
với người tỵ nạn. Trước đây, họ nói ra miệng những lời thóa mạ người tỵ nạn
như là "đĩ điếm", "lưu manh", "bất hảo"... Nay
vì đồng tiền, họ đã nuốt lại những lời dơ bẩn, tục tĩu khi trước để trải
chiếu hoa đón "Việt Kiều" về du lịch. Ðừng coi đây là sự "đổi
mới" của CSVN. Ðây chỉ là hiện tượng ; bản chất của CSVN là chỉ chờ
có dịp để trả thù "Việt Kiều" cho hả giận. Ðương nhiên là họ sẽ lờ
đi, không đả động gì đến thảm trạng tỵ nạn của dân ta. Nếu họ có đề cập đến
sự kiện hàng triệu người vượt biên, vượt biển đi tìm tự do thì cũng đương
nhiên là họ sẽ nói theo quan điểm, lập trường của họ, rất xa với thực tế, nếu
không muốn nói là trái ngược vói thực tế. Ðể đánh dấu bến bờ, nơi
những người tỵ nạn đã có may mắn đặt chân lên đất liền sau những ngày dài
lênh đênh trên biển cả, thi gan cùng sóng to gió lớn ; chịu đựng đói
khát hung thần... cộng đồng người Việt tỵ nạn đã có ý định xây dựng lên ở
những nơi này bia đài kỷ niệm. Thực ra, vào thời đó, trên toàn vùng Ðông Nam
Á đã có tất cả hơn 20 trại tỵ nạn tiếp nhận thuyền nhân Việt Nam. Nhưng những
nơi quan trọng và đáng nhớ hơn là đảo Pulau Bidong của Mã Lai và Pulau Galang
của Nam Dương, Songkhla ở Thái Lan và Hồng Kông... Theo tờ báo Djakarta Post,
số ra ngày 20/06/2005 thì "vào ngày 25/03/2005, 150 cựu thuyền nhân hiện
đang cư ngụ tại nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Úc Ðại Lợi, Hoa Kỳ, Canada,
Thụy Sĩ, Pháp... đã tụ họp về đảo Galang, thuộc "tỉnh quần đảo
Riau", tiểu bang Batam, một thời đã là trại tỵ nạn đón tiếp họ. Cuộc họp
mặt và dựng lên một tấm bia tưởng niệm là do sáng kiến và sự hợp tác giữa cơ
quan mang tên "The Batam Industrial Development Authority (BIDA)",
công ty Bold Express của Singapore và các cựu thuyền nhân". Theo tin của
cộng đồng tỵ nạn thì "Lễ khánh thành tượng đài thuyền nhân tại Galang,
Nam Dương, diễn ra vào ngày 24 tháng 3 năm 2005, với sự chứng kiến của ông
Sofian De Jail, Tổng giám đốc Nha truyền thông của Bộ ngoại giao Nam Dương và
đại diện cao cấp của chính quyền tiểu bang Batam". Tấm bia bằng đá hoa
cương được lồng trong một bệ đài cao 3m, rộng 1m, có nội dung viết bằng Anh
ngữ như sau : Mặt trước ghi : In commemoration of the
hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to freedom
(1975-1996). Xin tạm dịch : "Ðể tưởng niệm hàng
trăm ngàn người Việt đã bỏ mình trên đường đi tìm Tự Do (1975-1996) Mặt sau ghi : "In appreciation of
the efforts of UNHCR, the Red Cross and the Indonesian Red Crescent Society
and other world relief organizations, the Indonesian government and people,
as well as all countries of first asylum and resettlement. Xin tạm dịch : Ðể tri ân những nỗ lực của
Cao Ủy tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, Hội Trăng Lưỡi Liềm
Ðỏ Nam Dương và những tổ chức từ thiện thế giới, Chính Phủ và Nhân Dân Nam
Dương, cũng như tất cả những quốc gia tiếp cư và định cư. Tấm bia tại đảo Pulau
Bidong thuộc bang Terengganua của Mã Lai cũng mang nội dung tương tự. Thời gian đồng bào phải tạm
trú trong các trại tỵ nạn Ðông Nam Á đôi khi kéo dài nhiều năm. Vì thế, ngay
tại những trại này đã có những người tỵ nạn đã qua đời trong trại. Mặt khác
cũng có những trẻ em được sinh ra ở đây, những cặp vợ chồng thành hôn trước
mặt trại trưởng... Theo những con số chính thức của chính phủ Mã Lai được báo
chí cộng đồng loan tải thì trại Pulau Bidong "đã đón tiếp khoảng 200
ngàn thuyền nhân Việt Nam ghé qua từ năm 1975 cho đến năm 1990. Theo số liệu
của chính quyền Mã Lai thì có 4.535 em bé chào đời trên đảo và có 433 người
đã vĩnh viễn nằm lại ở đây. Sau khi đã định cư nước thứ ba, hàng năm vẫn có
nhiều thuyền nhân quay trở lại hai nơi này để thăm viếng cũng như thắp hương
cho những người thân đã quá cố". Triệt Hạ
Bia Tưởng Niệm Người Việt Tỵ Nạn Tại Galang. So với diện tích rộng mênh
mông của hai trại tỵ nạn Bidong và Galang thì hai đài bia không phải là những
gì to lớn đồ sộ. Khiêm nhượng, nhưng trang nghiêm, đây chỉ là sự thể hiện
"nghĩa vụ ký ức" (devoir de mémoire) đối với những thuyền nhân Việt
Nam đã bỏ mình dưới đáy biển và lòng biết ơn của những thuyền nhân còn sống
đối với đất nước Mã Lai và Nam Dương, với thế giới. Từ vị trí, kích thước đến
nội dung những tấm "bia tưởng niệm", không có gì là hận thù, là
công kích, là khiêu khích hay tố cáo bất cứ một chế độ, một chính quyền nào
kể cả chính quyền độc tài CSVN, nguyên nhân của "Nạn Thuyền Nhân". Dựa theo bài báo mang tựa
đề "Tấm bia của thuyền nhân đã bị giật sập" của ký giả Fadli đăng
trên tờ The Jakarta Post số ra ngày 20/06/2005 mới đây, thì "Lệnh triệt
hạ tấm bia thuyền nhân này đến từ chính tổng thống Nam Dương Susilo Bambang
Yudhoyono, thể theo lời yêu cầu của Trần Ðức Lương, chủ tịch CSVN". Cũng
nên biết là hồi cuối tháng 4/2005 vừa qua, Trần Ðức Lương đã tới Djakarta,
thủ đô Nam Dương tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh Các Nước Á-Phi. Trong dịp này,
Trần Ðức Lương đã gặp tổng thống Susilo của Nam Dương và mời ông này sang
thăm Việt Nam. Ngày 30/5 vừa qua Susilo đã tới Hà Nội và gặp Trần Ðức Lương.
Không biết là Trần Ðức Lương đã yêu cầu Susilo triệt hạ tấm bia ở Galang khi
ông ta tới Djakarta hay là khi Susilo tới Hà Nội ; nhưng đây là lời yêu
cầu, không phải từ 1 cơ quan chính quyền CSVN mà từ chính người đứng đầu nước
CSVN. Tuy lệnh lạc đến từ bộ phận
tối cao của quốc gia, nhưng theo tờ báo Djakarta Post thì cách thi hành có
nhiều điều khôi hài. Ký giả Fadli viết : "Theo một nguồn tin từ
Bộ Ngoại Giao Nam Dương, xin được dấu tên, thì chính phủ Việt Nam cho rằng
lời lẽ ghi trên tấm bia xúc phạm đến danh dự của Việt Nam" ( !).
Nguồn tin này nói thêm : "Ðây là vấn đề quan hệ giữa chính phủ
và chính phủ, tôi không có quyền bình phẩm. Theo chỗ tôi biết thì tấm bia bị
triệt hạ sau khi chính quyền Việt Nam than phiền với tổng thống Susilo".
Nay tấm bia đã bị gỡ đi nhưng khung bệ bằng xi măng vẫn còn đứng nguyên. Theo
ký giả Fadli thì du khách và nhân viên trong khu du lịch này đều ngạc nhiên
thấy tấm bia bị gỡ đi. Một nhân viên bảo trì, ông Mursidi, năm nay đã 60 tuổi
cho nhà báo biết là công nhân đã nhận được lệnh rất gay gắt là phải gỡ ngay
tấm bia. Ông già Mursudi có mặt tại nơi này từ khi nơi đây còn là trại tỵ nạn.
Ông không nhớ rõ cái ngày nhận được lệnh phá bia. Nhưng, ông nghĩ là vào
khoảng cuối tháng 5/2005. Ông kể "Hôm đó vào lúc xế chiều, trời đang mưa
to. Nhưng ông xếp của tôi ra lệnh phải gỡ ngay tức khắc tấm bia xuống. Chúng
tôi đã phải căng một tấm bạt lên trên tấm bia để làm việc trong khi trời
mưa". Ông già Mursudi còn cho biết là ông đã được người chỉ huy ông tại
Văn Phòng Trung Ương của tổ chức BIDA tại Batam yêu cầu ông ghi lại những chữ
khắc trên bia trước khi triệt hạ. Người ta đã nói với ông rằng lệnh triệt hạ
là do ông Ismeth Abdullah, cựu chỉ tịch tổ chức BIDA, người đã đứng ra tổ
chức buổi gặp mặt thuyền nhân và dựng tấm bia này tại Galang. Ông già Mursudi
lắc đầu nói : "Tôi chẳng hiểu lý do thật của việc gỡ bỏ tấm bia
này. Tôi chỉ là một nhân viên thường". Chưa hết, nhà báo đã gọi
điện cho ông Ismeth Abdullah, kể lại lời nói của ông già Mursudi. Ông
Abdullah giận dữ và nói : "Ðây là một điều vu khống. Chúng tôi
đã tốn kém rất nhiều tiền bạc để tổ chức buổi họp mặt thành công. Sao lại dám
tố cáo tôi đã ra lệnh gỡ bỏ tấm bia ? Láo khoét !". Câu chuyện gỡ bỏ tấm bia
thuyền nhân ở Galang là như vậy. Hai người đứng đầu quốc gia đã thỏa thuận
với nhau triệt hạ tấm bia. Nhưng cả hai người đều muốn đổ lỗi cho kẻ khác. Mặt khác, theo bà Anne Oh,
điều hợp viên của tổ chức Bold Express thì không những Việt Nam yêu cầu triệt
hạ tấm bia thuyền nhân tại đảo Galang, họ còn đang yêu cầu chính phủ Mã Lai
triệt hạ tấm bia tương tự tại đảo Pulau Bidong, thuộc tiểu bang Trengganu.
Yêu cầu này của Hà Nội đang được thảo luận rất gay gắt tại Mã Lai. Cộng đồng
người Việt Hải Ngoại và nhiều chính sách quốc tế đang an thư gửi chính phủ Mã
Lai yêu cầu không triệt hạ tấm bia mang nặng tính chất nhân bản và lịch sử.
Hiện tấm bia này chưa bị gỡ bỏ. Bôi Xóa Và
Bóp Méo Lịch Sử Là Chủ Trương Của CSVN. Ở mọi thời đại, việc uốn
nắn lịch sử theo ý nhà cầm quyền đương thời nhằm che dấu những sai lầm và làm
nổi bật công trạng của mình là điều thường thấy trên thế giới. Trong thời kỳ
cực thịnh của chủ nghĩa thực dân, lịch sử của những nước thuộc địa đã bị bóp
méo rất nhiều. Phải chờ nhiều thập niên khi các nước này thoát khỏi ách thực
dân đô hộ, mới từng buớc vãn hồi lại sự thật cho lịch sử nước họ trong thời
kỳ đen tối kéo dài có khi hàng thế kỷ. Nhưng điều nên biết là những âm mưu
bóp méo lịch sử để biện minh cho những công việc của một chính quyền chỉ là
chuyện của quá khứ, của những thế kỷ trước. Ðiều cũng nên nói thêm là thường
thường những người cầm quyền chỉ tìm cách viết sử theo chiều hướng mình muốn,
ít khi họ bỏ công triệt hạ những di tích lịch sử. Cộng sản nói chung và CSVN
nói riêng, khi lên nắm chính quyền, đều có một chủ trương chung là phải triệt
hạ tất cả những gì nhắc nhở người ta về quá khứ, dù rằng quá khứ không có
liên quan gì đến chế độ cũ đã bị họ hạ bệ và thay thế. Vì cộng sản tự nhận
làm nên lịch sử, viết lên lịch sử, họ không muốn có sự hiện diện của bất cứ
lịch sử nào ngoài lịch sử của họ. Ở Việt Nam, cộng sản đã đưa ra những sự
kiện hoàn toàn khác hẳn về những gì đã diễn ra trong thời gian tranh đấu
giành độc lập. Ngày nay CSVN là lực lượng duy nhất còn tồn tại và độc tài nắm
chính quyền, viết lịch sử, những hành động của họ đối với những nhà ái quốc
không cộng sản như các ông Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vv,.. đã bị họ trình
bày một cách "chủ quan" của họ. Không phải chỉ chủ quan, mà nhiều
khi còn bóp méo, xuyên tạc và dấu diếm. Khi họ cướp được chính quyền vào
tháng 8/1945, CSVN đã bắt tay ngay vào việc uốn nắn, bóp méo lịch sử Việt Nam
thời cận đại. Cho đến nay, CSVN còn bắt học sinh Việt Nam học rằng "Việt
Minh đã cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật". Thực ra thì vào ngày giờ
đó, Nhật đã đầu hàng, quân đội Nhật đang chờ bị Ðồng Minh giải giới. Trong
lúc đó, từ ngày 10/03/1945, Nhật đã tuyên bố trả lại độc lập cho vua Bảo Ðại.
Từ đó, Hồ Chí Minh và đảng CSVN không ngừng thay đổi, bóp méo những sự kiện
lịch sử đã xảy ra. Họ đã bưng bít những tin tức bất lợi cho họ, về những biến
cố không do họ chủ động, xuyên tạc những hoạt động của những ai không trong
phe họ, hoặc đổi trắng thành đen, cướp công kẻ khác vv... Sự xuyên tạc hay bóp méo
lịch sử không chỉ ngừng trong lời nói, chữ viết, tóm lại là trong tuyên
truyền. Nó còn được cộng sản thể hiện bằng hành động trên con người và trên
vật thể. CSVN tìm cách loại trừ các chứng nhân của lịch sử, những người
"biết quá nhiều". Họ bị loại vì họ biết quá nhiều về những điều sai
trái của cộng sản mà nay cộng sản muốn che dấu ; vì họ biết quá nhiều về
sự thật mà cộng sản đã xuyên tạc ; vì họ muốn vãn hồi lại sự thật (xét
lại) cho lịch sử mà cộng sản đã bóp méo ; và vì họ đã từng tham gia vào
trong âm mưu bóp méo lịch sử của cộng sản. Những người này, nhẹ thì cũng bị
tù đày không xét xử trong các trại tập trung, nặng thì bị thanh trừng, thủ
tiêu. Mục đích là không còn có ai có thể nói ngược lại những sự kiệnlịchsử do
cộng sản đưa ra. Hành động tiếp theo nhằm dẹp bỏ những chứng tích lịch sử bất
thuận lợi cho cộng sản là xóa bỏ những di tích mang tính lịch sử. Hồi năm
1945, khi Việt Minh cướp được chính quyền và vua Bảo Ðại đã thoái vị, trao ấn
kiếm cho "chính quyền cách mạng" để trở thành "công dân Vĩnh
Thụy"..., tại kinh đô Huế, các lăng tẩm và những di tích lịch sử của
triều Nguyễn đã bắt đầu bị phá hủy, cướp bóc. Nếu cuộc chiến tranh với Pháp
chậm khai diễn thì chắc ngày nay, Huế không còn có những di tích lịch sử để
CSVN khai thác trong ngành du lịch như hiện nay. Ngay sau khi cưỡng chiếm
miền Nam ngày 30/4/1975, CSVN đã mang ra thực hiện những công việc bôi xóa
lịch sử. Họ đã tiến hành ngay việc triệt hạ những tượng đài của quân đội và
chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Những nhân chứng trực tiếp của cuộc chiến tranh
Việt Nam đã bị tập trung cải tạo. Trong chính sách cải tạo này, không chỉ có
mục tiêu trả thù, an ninh, chính trị... còn có âm mưu "dẹp sạch"
những chướng ngại cho kế hoạch tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử Việt Nam nói
chung và miền Nam Việt Nam nói riêng. CSVN đã đẩy việc loại trừ chứng nhân
lịch sử từ cõi người sống sang cõi người chết. Ði ngược lại truyền thống và
đạo lý dân tộc, họ đã nhẫn tâm ra tay phá hoại các nghĩa trang Quân Ðội VNCH
trên toàn lãnh thổ miền Nam. Không riêng gì đối với văn hóa Việt Nam, mà đối
với văn hóa nhiều nước trên thế giới, nghĩa trang là nơi an nghỉ cuối cùng
của người chết, là nơi không thể xâm phạm. Thời xưa, "quật mồ" một
người nào là một điều vô cùng quan trọng, ít ai dám lấy quyết định, dù cho
người đó đã có những tội lỗi nặng nề đến mấy. Các cụ nói "nghĩa tử là
nghĩa tận". Người chết là hết chuyện trần gian... Người ta không đụng
tới di thể của người đã chết, không xâm phạm mồ mả người đã chết. Nhưng nếu
người đó có công hay có tội, lịch sử vẫn sẽ có quyền bình công luận tội người
quá cố. Tại vùng Normandie, nước Pháp, nơi Ðồng Minh đổ bộ lên Âu Châu để
tiến đánh quân đội Ðức Quốc Xã của Adolph Hitler, hiện nay có hai nghĩa trang
to lớn : một nghĩa trang với trên 10.000 ngôi mộ của quân đội Mỹ đã bỏ
mình trong cuộc đổ bộ trên bãi biển và trên chiến trường Normandie ; một
nghĩa trang của trên 10.000 lính Ðức Quốc Xã, quân xâm lăng, quân chiếm đóng,
đã từng giết hại bao nhiêu dân Pháp... Cả hai nghĩa trang vẫn được dân chúng
địa phương chăm sóc, cắm hoa, cắm cờ trong những ngày lễ lớn. Thật buồn khi
thấy tại quê hương Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam đã cày xới mồ mả
của những người Việt Nam khác sau khi cuộc nội chiến tương tàn đã chấm dứt.
Không phải vì dân tộc Việt Nam phi văn hóa. Chỉ có một số người quy tụ trong
một đảng phái ngoại lai làm cái việc phi văn hóa. Hiện tượng này mang tính
lịch sử và chắc chắn lịch sử cũng sẽ ghi chép lại việc CSVN đào xới mồ mả
quân lính VNCH. Cuộc di tản, vượt biên,
vượt biển của hàng triệu đồng bào ta sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam
cũng là một biến cố lịch sử. Chính sách bất nhân, hà khắc của chế độ cộng sản
tại Việt Nam đã là nguyên nhân của "nạn vượt biển" vĩ đại này.
Người ta trở thành "Thuyền Nhân" vì muốn sống tự do, vì muốn cho con
cháu mình có một tưởng lai mà CSVN đã khép kín đối với thành phần con em họ.
CSVN muốn xóa bỏ cả một quãng dài thời gian từ 1975 đến 1990 với hơn 1 triệu
người bỏ nước ra đi trên những con thuyền mong manh, với hàng trăm ngàn người
đã bỏ thây trên đại dương vì đói, khát, hải tặc, công an biên phòng Việt Nam
đuổi theo bắn chết... Những người sống sót, đến được bến bờ tự do đã tưởng
nhớ những người đã chết trên biển, trên trại tỵ nạn... đã dựng bia tưởng niệm
tại các trại tỵ nạn trên những hòn đảo xa xôi hẻo lánh của Nam Dương và Mã
Lai. Ấy thế mà CSVN cũng muốn triệt hạ. Dã tâm triệt hạ tấm bia được dựng lên
vừa để tưởng nhớ thuyền nhân đã khuất, vừa để cảm tạ đất nước đã cho họ tá
túc và những cơ quan quốc tế đã giúp họ đi định cư tại các nước đệ tam, không
khác gì dã tâm triệt hạ mộ bia các tử sĩ VNCH, và đào bới mồ mả của họ ở
trong nước. Ðiều bẩn thỉu nhất là lời yêu cầu triệt hạ tấm bia Thuyền Nhân
tại Galang lại được thốt ra từ cửa miệng của tên nguyên thủ quốc gia Việt Nam
Trần Ðức Lương, nói với tổng thống Nam Dương. Lời lẽ trên tấm bia không hề đả
động đến chế độ cũng như đảng và tập đoàn đầu lãnh cộng sản tại Việt Nam. Sự
kiện Hà Nội cho rằng lời lẽ trên tấm bia xúc phạm đến Việt Nam có thể hiểu
được là sự ngu tối của Trần Ðức Lương và bộ máy cai trị CSVN. Cũng may bia
viết bằng tiếng Anh nên ngay người Nam Dương cũng hiểu nội dung tấm bia là
gì. Cộng sản Hà Nội không thể nói láo được. Hẳn người Nam Dương và người
ngoại quốc cũng phải đánh giá được sự ngu dốt này của tập đoàn lãnh đạo cộng
sản Hà Nội hiện nay. Bóp Méo
Lịch Sử Là Tội Ác Chống Nhân Loại. Những tiến bộ khoa học kỹ
thuật của thế giới ngày hôm nay, phần lớn nhờ vào lý thuyết về sự tương đối
của thời gian (théorie de la relativité du temps) do nhà khoa học Einstein
khám phá ra hồi đầu thế kỷ trước. Nhưng thời đó, Hitler là người đã tuyên bố
rằng "Lý thuyết tương đối thời gian không có giá trị". Hắn ta tuyên
bố điều này không dựa trên những khảo cứu khoa học mà chỉ vì ông Robert
Einstein là người Do Thái. Trên thế giới không phải chỉ có một Hitler, mà còn
có cả Lénine, Staline và những tên độc tài khác nữa. Ðối với cộng sản, tất cả
những gì liên quan đến chế độ cũ, đến tư bản đều không có giá trị. Hồ Chí
Minh và CSVN cũng vậy. Tất cả những gì liên quan đến VNCH, đến thuyền nhân
đều cần phải xóa bỏ. Họ không những muốn xóa bỏ những thứ đó dưới chế độ do
họ nắm quyền cai trị, họ còn muốn bôi xóa luôn cả trong lịch sử. Lịch sử gắn
liền với thời gian. Họ cùng sống trong một thời gian với những sự kiện, những
biến cố họ muốn xóa bỏ. Ðó là điều họ không thể nào làm được. Mặt khác, lịch
sử không phải là cái gì đưa ra một lần là có giá trị mãi mãi. Lịch sử là một
môi trường cần luôn được khảo cứu, xét lại. Vì vậy ở thời đại nào cũng có
những nhà khảo cứu lịch sử xem xét lại (révisionnistes) những chi tiết của
lịch sử để vãn hồi chân lý. Vì thế, những gì sai với sự thật, khó mà tồn tại
được trong lịch sử. Thời xưa việc chấn chỉnh lịch sử đòi hỏi nhiều thời gian
nghiên cứu ; ngày nay công việc này mau lẹ hơn xưa nhiều. Cộng sản chủ trương viết
lịch sử Việt Nam để phục vụ cho riêng mình. Nhưng điều họ muốn và điều họ đạt
là hai việc hoàn toàn khác nhau. Cho dù ngày nay họ có súng đạn, bạo lực,
quyền thế để bẻ cong ngòi bút của nhiều sử gia. Sử gia Trần Trọng Kim đã
viết : "... sử là của chung cả quốc dân, chớ không phải riêng
cho một nhà một họ nào, cho nên mới phải lấy công lý mà xét đoán mọi việc mà
không vị tình riêng để phạm đến lẽ công bằng vậy". Kẻ cường quyền,
ngày xưa đã đục bỏ tên ông Chu Văn An ra khỏi bia Tiến sĩ. Ngày nay dân Việt
không ai là không biết đến Chu Văn An, trong lúc kẻ đục bia, không ai thèm
nhớ tới. Những tấm "Bia Thuyền
Nhân" tại Bidong và Galang là sự cụ thể hóa những khắc ghi trong lòng
hơn 2 triệu người dân Việt Tỵ Nạn trên khắp thế giới. "Trăm năm bia đá
cũng mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Tấm bia thứ nhất tại
Galang đã bị đục bỏ ; nhưng cho dù tấm bia thứ nhì tại Bidong có bị
triệt hạ đi chăng nữa, thì hơn 2 triệu người Việt tỵ nạn trên thế giới sẽ là
hơn 2 triệu tấm bia sống để ghi khắc không những sự hy sinh của thuyền nhân
mà còn ghi khắc tội ác bỉ ổi, hành động bỉ ổi của Trần Ðức Lương khi yêu cầu
triệt hạ "Bia Thuyền Nhân". Trần Ðức Tường |