Báo Chí của Liên Minh Việt Nam Tự Do thực hiện

THÁNG 03/2005

Nguyễn Ngọc Ðức Hướng tới một xã hội Việt Nam đa nguyên thật sự
Những Tranh Chấp Quyền Lực Trước Đại Hội X (Ðoàn Hùng)
Vụ Tổng Cục 2 tiếp tục nổ lớn : Thư Tố Cáo Lê Đức Anh Của Một Số Đảng Viên Miền Nam
Phong Kiến Hay Cộng Sản Trung Hoa Đều Có Tham Vọng Thôn Tính Việt Nam (Trần Đức Tường)
Tài Liệu Tổng Hợp : Chiến Lược và Ý Đồ của Trung Quốc Đối Với Việt Nam (Thanh Thảo)
Tự Do Tôn Giáo : Hà Nội Có Hóa Giải Được Biện Pháp Trừng Phạt của Hoa Kỳ Hay Không ? (Nguyễn Ngọc Đức)
Thýợng Tọa Thích Thiện Minh Viết Thý Tố Cáo Hà Nội
Môi Sinh : Vụ Kiện Hóa Chất Da Cam Đâu Là Sự Thật ? (Mai Thanh Truyết)
Cúm Gia Cầm Tiếp Tục Hoành Hành Tại Việt Nam
Diễn Đàn Dân Chủ 30 Năm Sau Vẫn Còn Tranh Đấu. (Nguyễn Học Tập)
Tìm Hiểu : Các Đồng Chí Việt Nam Đã Làm Khổ Chúng Ta (Trần Minh)
Dân Ta Trên Xứ Người : Hãy Cùng Bảo Vệ Tiếng Việt (Hoàng Cơ Định)
Thế Giới và Chúng Ta : Lòng Dân Là Lòng Trời (Nguyễn Ngọc Danh)
Thế Giới Sau Chuyến Âu Du của Tổng Thống Bush (Nguyễn Trúc Giang)
Những Mẩu Kính Màu (kỳ 8) (Nguyễn Minh)

 

 

 


Hướng tới một xã hội Việt Nam đa nguyên thật sự
 NGUYỄN NGỌC ÐỨC - (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Hình như nhân vật lãnh đạo nào của đảng cộng sản Việt Nam, lúc gần đất xa trời mới dám thốt ra những điều gần với suy tư của quần chúng. Ông Phạm Văn Đồng trước khi chết, cất tiếng than là guồng máy nhà nước tham nhũng, hủ hóa đến mức nguy ngập và kêu gọi các đồng chí hậu duệ phải cố gắng chỉnh đốn đảng, tận diệt tham nhũng và mở rộng dân chủ. Một cách tóm gọn là cái đảng mà ông ta góp phần tạo dựng không ra chi ! Mới đây, ông Võ Văn Kiệt, người "kế thừa sự nghiệp" của ông Phạm Văn Đồng, cũng viết một lá thư dài gởi các đồng chí của ông để phê bình là trong các đại hội đảng kỳ trước đã tiến hành không đúng quy định của Điều Lệ Đảng, không thực sự áp dụng nguyên tắc "tập trung dân chủ", không tôn trọng vai trò của các đại biểu, vai trò của Trung Ương Đảng,... Một cách tóm gọn, cái đảng của ông cũng chẳng ra chi !

Ông Võ Văn Kiệt đòi dân chủ hóa sinh hoạt của đảng. Vấn đề là tại sao ông ta chỉ dừng lại ở ranh giới đảng, mà không dám đòi dân chủ cho cả dân tộc Việt Nam ? Vào thời điểm năm 1989, có một nhân vật lúc đó cũng ở trong Tổng Bộ Chính Trị như ông Võ Văn Kiệt, đó là ông Trần Xuân Bách. Ông là một ngôi sao đang lên. Nhưng đường hoạn lộ của ông bị cắt ngang, khi ông công khai cổ võ cho đa nguyên. Tháng 3 năm 1990, ông bị khai trừ ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương của đảng CSVN. Đây có thể là một bài học cho ông Võ Văn Kiệt, nên ông đã biết dừng lại ở ranh giới đảng, không dám đề cập đến những vấn đề bức xúc khác của xã hội Việt Nam, đó là xu hướng "đa nguyên hóa" đang xảy ra trên nhiều lãnh vực, mà đảng cộng sản vừa không dám thừa nhận, vừa không có khả năng ngăn cản.

Năm 1989, chỉ vì đề cập đến hai chữ "đa nguyên" mà ông Trần Xuân Bách đã bị thanh bại, danh liệt. Ngày nay, nhiều người trong nước không những đề cập đến, mà còn cho rằng chỉ có con đường đa nguyên hóa xã hội mới là lối thoát thật sự cho Việt Nam. Mới đây, trong một bài viết ngắn góp ý cho trung ương đảng CSVN, giáo sư Phan Đình Diệu, một nhà toán học nổi tiếng của Việt Nam, không những đề cập đến đa nguyên, mà ông còn khẳng định "đa nguyên luôn luôn là điều kiện cần của dân chủ, đó là điều mà cả về lý luận lẫn thực tiễn ta không có cách gì có thể bác bỏ được".

Ông Phan Đình Diệu không phải là người đầu tiên và duy nhất đề cập đến nhu cầu đa nguyên. Trước ông và hiện nay, nhiều người khác đã đề cập đến nhu cầu này. Phần lớn đều bị nhà cầm quyền đàn áp, nhưng rõ ràng các biện pháp đàn áp của Hà Nội không hiệu quả. Đòi hỏi đa nguyên ở Việt Nam vẫn tiếp tục được nhiều người nêu lên, tiếp tục trở thành hiện thực trên nhiều lãnh vực.

Vào giữa năm 2004, khi Quốc Hội Việt Nam bắt đầu thảo luận về vấn đề sửa đổi luật giáo dục, một cụm từ mới đã được nêu lên, đó là "xã hội hóa giáo dục". Một cách nôm na là chấm dứt tình trạng "độc quyền" giáo dục hiện nay, cho phép "cạnh tranh" trên lãnh vực giáo dục, các thành phần quần chúng khác nhau trong xã hội có thể mở trường dạy học. Cuộc thảo luận về nhu cầu "xã hội hóa giáo dục" đã và đang diễn ra một cách khá sôi nổi ở Việt Nam. Nhiều nhà giáo đã không ngần ngại yêu cầu chấm dứt tình trạng "bao cấp" trong lãnh vực giáo dục, chỉ trích sự áp đặt một số chương trình học hoàn toàn không phù hợp gì đến nhu cầu đầu tư vào thế hệ tương lai. Tuy không nói thẳng, nhưng ai cũng hiểu đó là các chương trình học về chủ nghĩa Mác-Lê. Những đòi hỏi này là một cách để chuyển hóa nền giáo dục độc nguyên hiện nay, sang một nền giáo dục đa nguyên thật sự.

Mặc dù trên chính sách, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam vẫn muốn khống chế mọi hoạt động tập thể của người Việt Nam. Nhưng trên thực tế, sự khống chế này đang ngày một mất hiệu quả, nhất là từ khi sự trao đổi trên mạng internet bùng nổ ở Việt Nam. Ngày nay, sự kết đoàn có thể diễn ra giữa những người không hề gặp nhau. Sự kết hợp này tuy "ảo", nhưng nó có khả năng tạo ra sức mạnh "thật". Vụ "Giải Thưởng Trí Tuệ Việt Nam" là một thí dụ điển hình. Vào cuối năm 2004, "Diễn Đàn Tin Học", một diễn đàn trên mạng internet, phanh phui sự gian lận trong vụ trao giải "Trí Tuệ Việt Nam 2003". Áp lực của diễn đàn này, với sự tham gia của hàng chục ngàn người trẻ Việt Nam ở khắp nơi, đã khiến cho ban tổ chức cuối cùng phải lùi bước, chấp nhận sai lầm và thu hồi lại giải thưởng đã trao cho nhóm ICMS.

Sự kết đoàn ở Việt Nam không chỉ diễn ra trên mạng ảo, mà nó cũng đang là thực tế đang xảy ra ở Việt Nam. Nhiều nhóm, nhiều hội, đã được thành lập một cách tự phát và hoạt động bên ngoài sự kiểm soát của đảng CSVN. Tuy hiện tượng này chỉ mới diễn ra trong bình diện ái hữu, tương tế, từ thiện, nhưng đây là biểu hiện tích cực của sự đa nguyên cần thiết trong xã hội. Hỗ trợ những hoạt động độc lập và tự phát này là tạo điều kiện để các sinh hoạt đa nguyên nẩy nở và phát triển. Hỗ trợ bằng cách nào ? Trong một bài phỏng vấn gần đây, ông Đỗ Nam Hải, một nhà tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam, đã khẳng định rằng chính sự qua lại Đông - Tây là một yếu tố quan trọng dẫn tới sự chuyển mình thắng lợi từ một chế độ độc tài nhất nguyên, sang một chế độ dân chủ đa nguyên ở các nước Đông Âu. Ông tin rằng nếu sự trao đổi và liên đới giữa đồng bào trong và ngoài nước ngày càng mở rộng, những gì đã xảy ra ở Đông Âu sẽ xảy ra ở Việt Nam.

Nhận định của ông Đỗ Nam Hải cũng là nhận định của hầu hết những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước. Đây là một nhận định đúng. Vì cánh cửa Việt Nam càng mở rộng chừng nào, đảng cộng sản càng mất dần sự kiểm soát. Đây cũng là một nhu cầu đấu tranh. Vì muốn siết chặt tình đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp, sự trao đổi giữa trong và ngoài nước phải càng ngày càng mở rộng. Chúng ta hãy cùng nhau đóng góp vào nỗ lực mở rộng này, để xã hội Việt Nam dần dần trở thành một xã hội đa nguyên thật sự.

Nguyễn Ngọc Đức

 

 

Những Tranh Chấp Quyền Lực Trước Đại Hội X
Ðoàn Hùng
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Trong thời gian gần đây, theo sự tiết lộ của một số cán bộ, đảng viên CS, người ta thấy nội bộ đảng CSVN đang bị rối loạn vì những tranh chấp, đấu đá và kể cả áp lực đến từ nhiều phía. Càng gần đến thời hạn sắp xếp nhân sự cho đại hội đảng kỳ X, sự rối loạn này càng trở nên trầm trọng, phức tạp và khó giải quyết. Bài viết sẽ phân tích những nguyên nhân về sự rối loạn này và nhận định một số hậu quả, mà hậu quả nhìn thấy trước mắt là vai trò của đảng CSVN cần lúc càng suy yếu hơn trong xã hội Việt Nam và triển vọng cho các lực lượng chính trị khác xuất hiện công khai để vận động sự hậu thuẫn của quần chúng.

Trong nội bộ của Bộ Chính Trị hiện nay, đa số ngã theo phe Đỗ Mười - Lê Đức Anh như Trần Đức Lương, Trần Đình Hoan, Phan Diễn, Phạm Văn Trà, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Hồng Anh, Nguyễn Phú Trọng. Số còn lại thì ngã theo phe Võ Văn Kiệt như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang. Trong Bộ Chính Trị không có nhân sự nào theo phe Võ Nguyên Giáp ; nhưng ông Giáp lại được lòng nhóm cựu chiến binh và một số nhân sự trong Trung Ương Đảng nên tiếng nói của ông Giáp còn ảnh hưởng. Nói chung là trong Bộ Chính Trị hiện thời đa số ngã theo phe Đỗ Mười - Lê Đức Anh. Điều này cho thấy là tại sao Bộ Chính Trị không những không có hành động nào mạnh để giải quyết vụ Tổng cục 2 mà lại còn bao che nhân sự của phe Lê Đức Anh, khi thăng chức Trung Tướng cho Nguyễn Chí Vịnh, nguyên chủ nhiệm Tổng Cục 2. Bình thường ra - theo sự tố cáo của nhiều tướng lãnh cao cấp - Hà Nội đã phải cho điều tra khẩn và mang ra tòa xét xử để bảo vệ uy tín của đảng ; nhưng đằng này, họ chỉ mang một số con dê ra tế thần, trong khi thủ phạm lại ung dung sống ngoài vòng pháp luật.

Từ những bất mãn nói trên, làn sóng chống đối giữa các phe lại gia tăng, đặc biệt là những công kích hiện đang nhắm vào Lê Đức Anh rất nhiều, vì dính líu đến vụ Tổng Cục 2. Có thể nói là trong các vụ tranh chấp từ trước đến nay, vụ Tổng Cục 2 thuộc bộ quốc phòng đang làm cho Hà Nội điên đầu vì cả hai phía đều có những thế lực mạnh đứng đàng sau. Phe Tổng cục 2 có Lê Đức Anh che chở, phe chống lại Tổng Cục 2 có Võ Nguyên Giáp đứng làm ngọn cờ, quy kết các thành phần chống đối viết bài công kích Lê Đức Anh một cách thậm tệ. Trong khi đó, bộ ba Nông Đức Manh, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải lại không có tư thế mạnh ở trong đảng nên các ý kiến của Lê Đức Anh, Đỗ Mười có ảnh hưởng lớn. Ngoài ra, với bản chất 'nô lệ' quan thầy từ thời Hồ Chí Minh, các phe nhóm trong đảng, một phần cũng xuất phát từ các quan hệ với một số thế lực bên ngoài, như một chỗ dựa 'an toàn' khi những đấu đá tới hồi quyết liệt. Hiện nay trong nội bộ lãnh đạo Hà Nội chia làm ba khuynh hướng trong quan hệ đối ngoại.

1/ Khuynh hướng thân Trung Quốc và coi Bắc Kinh là mẫu mực của cải cách chiếm đa số trong thành phần lãnh đạo. Có thể nói là gần 2/3 nhân sự lãnh đạo hiện nay trong Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng và một số cơ quan chính phủ đều thân Bắc Kinh và đang muốn đảng có những thay đổi đường lối giống như đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành từ năm 2002 cho đến nay. Nói cách khác, nhóm thân Trung Quốc đứng đầu là Đỗ Mười, Lê Đức Anh và cả Lê Khả Phiêu đều cho mô hình thoát xác của Trung Quốc là phải học để áp dụng tại Việt Nam. Người đại diện cho khuynh hướng này đang chăm chỉ học hỏi là Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch Hội Đồng Lý Luận Trung Ương.

2/ Khuynh hướng thân Hoa Kỳ chỉ mới bén rễ từ năm 1995 khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận và nối lại quan hệ ngơại giao từ năm 1997. Cổ súy cho phái thân Hoa Kỳ là Võ Văn Kiệt, Nguyễn Mạnh Cầm, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng kể cả Võ Nguyên Giáp. Nhóm này thấy rằng chỉ có con đường thân Hoa Kỳ mới từng bước gỡ Việt Nam ra khỏi vòng lệ thuộc Bắc Kinh và đẩy nhanh tiến trình cải cách. Sau này khi Nguyển Mạnh Cầm về hưu, Nguyễn Dy Niên lên thay thế đã cùng với Vũ Khoan đẩy mạnh các quan hệ đối ngoại, nhất là ký được Thương Ước với Mỹ nên khuynh hướng thân Mỹ đã lan rộng trong nội bộ đảng và trở thành một lực đáng kể để đối đầu lại với phe thân Trung Quốc. Trong khi đó, Hoa Kỳ cũng đã tìm mọi cách tạo ảnh hưởng của mình lên một số nhóm trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện Phạm Văn Trà thăm Mỹ năm 2003, hai tàu chiến Hoa Kỳ ghé cảng Sài Gòn và Đà Nẵng vào năm ngoái, đồng thời Phan Văn Khải sẽ thăm Hoa Kỳ chính thức vào tháng 6 năm 2005 đã cho thấy sự tiếp cận của Hoa Kỳ đối với một số lãnh đạo Hà Nội ngày một nhiều.

3/ Khuynh hướng đứng giữa các khuynh hướng thân Tàu hay Mỹ chỉ là một thiểu số trong Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng vì không hưởng được những quyền lợi nào nên không tỏ thái độ theo Mỹ hay Tàu. Nhóm này có thể nói là không đáng kể trong tình hình giằng co giữa hai khuynh hướng đi theo Mỹ hay Tàu.

Nói tóm lại, nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp trong nội bộ đảng chỉ vì đụng chạm nhau vấn đề quyền và lợi giữa các phe không phân chia đồng đều. Tình trạng này không bao giờ có thể giải quyết vì lối tổ chức mang đầy tính bưng bít và đe dọa bạo lực.

 II- Những Hậu Quả

Hậu quả đầu tiên của những xung đột quyền lực giữa các phe nói trên, nhất là sự khống chế mạnh mẽ của phe Đỗ Mười - Lê Đức Anh lên Bộ Chính Trị hiện nay, đã làm cho bộ phận lãnh đạo tê liệt và chỉ phản ứng theo quyền và lợi của phe nhóm liên hệ. Chỉ nhìn qua cách Hà Nội phản ứng về vụ 9 ngư dân Việt Nam tại Thanh Hóa bị tàu tuần dương của Trung Quốc bắn chết hôm mồng 8 tháng 1 năm 2005, đủ thấy là nhóm lãnh đạo rất lúng túng khi phải tỏ thái độ đối với Bắc Kinh. Trong khi đó nhìn qua vụ thả tù nhân chính trị nhân vụ Tết Ất Dậu ta thấy là CSVN lo sợ những áp lực của Hoa Kỳ về quy chế "quốc gia đáng quan tâm"' (CPC) nên đành phải thả một số tù chính trị ra trước thời hạn để mong Hoa Kỳ không còn đặt vấn đề vi phạm nhân quyền và đàn áp tôn giáo vào thời hạn chót là ngày 15 tháng 3 năm 2005 tới đây. Người ta gọi lề lối ứng xử của Hà Nội qua hai sự kiện này là đu dây. Tình trạng này sẽ dẫn đến một số hệ quả trong thời gian tới như sau :

1/ Tranh Giành Thế Thượng Phong Trong Đại Hội X.

Sự kiện Đỗ Mười và Lê Đức Anh gặp riêng Bộ Chính Trị trước khi họp khóa 11 của Trung Uơng Đảng cho thấy là cả Mười lẫn Anh còn muốn phe mình phải chiếm ưu thế trong việc sắp xếp nội bộ đại hội đảng kỳ X. Lý do là hội nghị Trung Ương Đảng khóa 11 là để thảo luận về hai vấn đề quan trọng :
- Thứ nhất là thảo luận về nội dung 5 văn kiện cho đại hội X gồm : Tổng kết 20 năm đổi mới ; Báo cáo chính trị của Trung ương đảng của khóa IX ; Phương hướng và nhiệm vụ phát triển 5 năm tới (2006-2010) ; Tổng kết về xây dựng đảng : bổ sung và sửa chữa điều lệ đảng.
- Thứ hai là thành lập ban tổ chức và ban nội dung lo chuẩn bị đại hội X. Theo nhiều nguồn tin thì Nông Đức Mạnh sẽ ra đi và người sẽ thay thế là Nguyễn Phú Trọng để làm Tổng Bí Thư vì Trọng vừa được lòng phe Đỗ Mười - Lê Đức Anh và có sự tín nhiệm đối với Bắc Kinh. Trong quân đội thì Phạm Văn Trà vẫn còn được Lê Đức Anh tín nhiệm để tiếp tục trấn thủ những đánh phá của một số người về vụ bê bối trong Tổng Cục 2 có dính líu đến Lê Đức Anh. Trong công an thì Lê Hồng Anh sẽ vẫn được tiếp tục tín nhiệm vì vừa qua, Lê Hồng Anh đã được Lê Đức Anh vận động để được phong làm đại tướng công an.

2/ Tiếp Tục Đấu Đá Về Vụ Tổng Cục 2.

Vụ án Tổng Cục 2 sẽ là đích tấn công của các phe liên hệ. Đầu năm 2004, Tướng Giáp đã khai pháo phanh phui vụ án nhưng không tấn công đích danh Lê Đức Anh. Đến khi tướng Nguyễn Nam Khánh, đại diện một số tướng lãnh về hưu đứng ra ủng hộ lời đề nghị của Tướng Giáp và công kích tướng Lê Đức Anh đã bao che những việc làm sai trái của Tổng cục 2 thì hàng loạt lá thư tố cáo các tội ác và những sai phạm của tập đoàn Lê Đức Anh được gửi đi từ Hà Nội, gây một sự chú ý trong dư luận. Đặc biệt là đầu tháng 2 vừa qua, ba cựu chiến binh Nam Bộ của Hà Nội là các ông Phạm Văn Xô (nguyên ủy viên Trung Ương đảng khóa 3), ông Đồng Văn Cống (Trung ương, nguyên tư lệnh quân khu 4, phó tổng thanh tra quân đội), ông Nguyễn Văn Thi (nguyên ủy viên ban cán sự đảng) đã viết thư gửi cho Bộ chính trị, ủy ban kiểm tra đảng để đòi hỏi siêu tra lại lý lịch của Lê Đức Anh và tố cáo một số hành động man khai của Lê Đức Anh cũng như tạo phân hóa, lũng đoạn trong nội bộ. Có thể nói Lê Đức Anh hiện đang là đầu têu của vụ án Tổng Cục 2 và sự chống đối ngày một mạnh mẽ có thể gây nguy hại đến tiến trình tổ chức đại hội X vì phe Lê Đức Anh đang cố giành thế thượng phong trong việc sắp xếp nhân sự cho đại hội.

3/ Điều Chỉnh Hướng Đi Trong Thời Gian Tới.

Ngoài những khuynh loát để dành thế thượng phong trong đại hội X, phe Đỗ Mười - Lê Đức Anh còn lèo lái đại hội sẽ thông qua một số quan điểm làm nền tảng cho sự thay đổi lý luận của đảng hiện nay. Cụ thể là sau hơn 2 năm làm việc giữa Hội Đồng Lý Luận của Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Trung Quốc, Bắc Kinh rất hài lòng về sự tiếp thu các quan điểm thay đổi của phía Hà Nội. Do đó, mà trong chiều hướng chuẩn bị lý luận cho đại hội X, cán bộ lý luận của Bắc Kinh sẽ sang Hà Nội hỗ trợ. Cụ thể ra, Hà Nội sẽ theo Trung Quốc điều chỉnh một số tư duy chính như sau :
- Thứ nhất, đề cao tính dân tộc và nếu cần phát động phong trào chống Trung Quốc giả để lấy lại uy tín. Trong vài năm qua, Hà Nội đã liên tục nói đến vấn đề đại đoàn kết, đây là bước chuẩn bị để làm giảm đi tính chất đảng mà thay vào đó ý niệm dân tộc. Tức là Hà Nội đang cố cạo rửa gốc cộng sản để thay vào đó là giai cấp đại diện cho dân tộc chứ không còn là công nông như trước đây. Đây là điều mà Hà Nội cũng như Trung Quốc đã làm.
- Thứ hai, xóa bỏ từ ngữ bóc lột để cho đảng viên làm giàu và có thể sẽ đi đến giống như trường hợp Trung Quốc đã làm là cho thành phần tư sản cùng tham gia vào đảng. Nói cách khác, điều lệ đảng Cộng sản sẽ có thể thay đổi để cho thành phần giàu có sau 20 năm làm áp phe trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa được tham gia vào đảng.

Nói tóm lại, hậu quả của những tranh chấp quyền lực một cách gay gắt và kéo dài trong một thời giàn dài, đã làm biến thái đảng cộng sản trở thành một tập đoàn bị chi phối bởi một phe nhóm để phục vụ cho quyền và lợi riêng của họ, còn quốc gia, dân tộc hay hạnh phúc toàn dân chỉ là chiêu bài mà thôi.

 III- Kết Luận

Còn hơn một năm nữa, đại hội đảng Cộng sản Việt Nam kỳ thứ 10 mới khai diễn nhưng kết quả của nó người ta đã thấy ngay từ nay. Ngoại trừ Đỗ Mười hay Lê Đức Anh bị đột tử thì mới có những biến chuyển lớn, còn không thì mọi sắp xếp sẽ đi theo sự chủ đạo của phe Đỗ Mười - Lê Đức Anh. Nhưng thay vào đó thì đảng sẽ không còn tính đoàn kết như xưa mà sẽ rã thành nhiều mảnh, với sự đấu đá ngày một kịch liệt. Hiện nay, những đấu đá đang tập trung vào sự triệt hạ uy tín cá nhân Lê Đức Anh với nhiều thư rơi, kiến nghị của thành phần cựu chiến binh hay đảng viên lão thành. Tuy những chống đối này có một số ảnh hưởng trong nội bộ, nhưng nó sẽ không làm bùng nổ lớn nếu không có hai động lực sau đây tham gia :
- Thứ nhất là thành phần đảng viên trung tầng đang nắm giữ những cơ chế kinh tế, chính phủ tham gia và ủng hộ.
- Thứ hai là thành phần trí thức trong xã hội góp sức để vạch trần những lũng đoạn của phe Lê Đức Anh.

Không có hai thành phần này tham gia, vụ án Tổng Cục 2 sẽ chỉ ở mức đấu đá qua lại mà khó có thể bùng nổ lớn. Người ta hy vọng là với những khuynh loát của phe Đỗ Mười và Lê Đức Anh trong đại hội X để ép đảng đi theo hướng của Bắc Kinh sẽ gây ra những chống đối lớn và đương nhiên ít nhiều có những 'hỗ trợ' nào đó từ phe thân Mỹ.

Đoàn Hùng

 

 

Các đảng viên lão thành của đảng CSVN cung cấp thêm dữ kiện về vụ Tổng Cục 2
(LÊN MẠNG THỨ SÁU 25 THÁNG HAI 2005)

THÀNH phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005

Kính gửi :
- Bộ Chính Trị
- Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 9

Đồng kính gửi :
- Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp
- Đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thơ
- Đồng chí Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên Bộ Chính Trị, Trưởng ban tổ chức Trung ương

Chúng tôi gồm :

1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào Đảng năm 1930, nguyên ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam bộ thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên Thường vụ Trung ương cục Miền Nam - Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng - ủy viên Ban kiểm tra Trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam bộ thời kháng chiến chống Pháp, Tư lịnh quân khu 9, Phó tư lịnh Quân giải phóng Miền Nam, ủy viên Quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ, Tư lịnh Quân khu 7, Phó tổng thanh tra Quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên Ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, Chi đội trưởng chi đội 1, Liên trung đoàn trưởng 301 - 310, Tư lịnh đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn (1950), Bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp, Chủ nhiệm hậu cần Bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng mấy điểm sau đây :

* Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ Đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi Bộ Chính trị và Trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3/1/2004 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ; các thư của Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN, nguyên ủy viên trung ương Đảng các khóa 5, 6, 7 ; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi Đảng, nguyên Cục trưởng cục tổ chức Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương Đảng khóa 3 ; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ công an, Phó chủ nhiệm ủy ban Phápluật của Quốc hội khóa 8.

* Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị Bộ Chính trị phải sớm đưa ra Hội nghị Trung ương Đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong Đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được Bộ Chính trị khóa 8 bàn giao lại cho Bộ Chính trị khóa 9 và được coi là "một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.

Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của Trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.

Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để Trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.

Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu Nhà nước, được hợp pháp hóa bằng Pháp lệnh tình báo của Quốc hội và Nghị định 96CP của Chính phủ, vụ T4 (1997 - 1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước Đại hội 9 v.v… đều có bàn tay của một nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Cố vấn Lê Đức Anh.

Vì sự trong sạch và vững mạnh của Đảng, với ý thức trách nhiệm của những người Cộng sản từng gắn bó với Đảng và hoạt động ở Nam bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với Đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau :

1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20 được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là "cai lé" do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của Chef de camp.

Năm 1955, sau khi bộ đội Nam bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là Tư lịnh kiêm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là Phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào Đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đồng chí Vịnh trả lời "qua lớp chỉnh Đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu".

Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : "Nghe người ta nói cậu là surveillant ?", Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp : "hay cậu là 2è bureau (phòng nhì) ?". Lúc ấy Lê Đức Anh mới nói : "tôi làm công chức cho đồn điền".

Đến Đại hội Đảng lần 4 năm 1976, đ/c Đồng Văn Cống, Lê Đức Anh và Nguyễn Chánh Nam cùng dự đại hội, sinh hoạt trong Đoàn quân sự. Khi xem danh sách giới thiệu vào Trung ương khóa 4, thấy ghi Lê Đức Anh là công nhân cao su, đ/c Đồng Văn Cống hỏi : "Sao cậu khai là công nhân ?" Lê Đức Anh ấp úng trả lời : "Họ ghi sai, tôi là công chức !".

2. Lê Đức Anh không phải là đảng viên từ năm 1938 mà từ tháng 4 năm 1945, khi Ban cán sự Đảng Thủ Dầu Một tuyên bố tổ chức y vào Đảng và giao nhiệm vụ cho y về gây dựng cơ sở cách mạng ở đồn điền cao su Lộc Ninh trong một cuộc họp có 8 người, trong đó có đồng chí Năm Thi tham dự, vì thấy y tỏ ra hăng hái trong phong trào công nhân cao su ở Lộc Ninh sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Cuộc họp đó do bí thơ Văn Công Khai chủ trì bàn việc phối hợp với phe đồng minh chống phát xít Nhật theo chủ trương chung của Mặt trận Việt Minh.

Do man khai là đảng viên từ năm 1938, nên năm 1998, Lê Đức Anh được tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, được báo chí, truyền hình rầm rộ đưa tin trên cả nước !

Đầu năm 2002, để tiếp tục "hợp thức hóa" đảng tịch của mình, Lê Đức Anh cho công chiếu trên đài truyền hình trung ương bộ phim tài liệu nhan đề "đồng chí Lê Đức Anh" vào tối mùng 4 Tết. Không tìm được "nhân chứng lịch sử" nào sáng giá hơn, người ta cho xuất hiện một ông anh trong gia đình để xác nhận "Lê Đức Anh từng đậu Đíp-lôm (Thành Chung) và vào đảng năm 1938 !"

3. Lê Đức Anh đã 2 lần để sổng toàn quyền Decoux, thống đốc Nam kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan phòng nhì của Pháp.

Trong cuộc đảo chánh Nhật - Pháp ngày 9/3/1945, quân Nhật bắt được toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux và thống đốc Nam kỳ Hoffen tại Sài Gòn, sau đó giải về giam ở nhà De Lalant, chủ đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Đ/c Năm Thi được giao nhiệm vụ dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt tiểu đội bảo vệ của Nhật, rồi tổ chức dẫn độ Decoux và đồng bọn lên Buôn Mê Thuột để đưa ra Bắc chuyển giao cho Trung ương. Đ/c Năm Thi đã bàn bạc với Lê Đức Anh và nhất trí lên kế hoạch phối hợp hành động. Nhưng đêm hôm sau, y bất ngờ hủy bỏ kế hoạch, viện cớ sẽ bị quân Nhật kéo lên khủng bố, phá vỡ cơ sở cách mạng của y !

Tháng 9/1945, khi chỉ huy quân Anh vào Nam vĩ tuyến 16 tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, tướng Gracey đòi Nhật trao Decoux và đồng bọn cho quân đội Anh. Để ngăn cản việc đó, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương cắt đường giao thông từ Lộc Ninh về Sài Gòn, bằng cách đốn cây cản đường từ Lộc Ninh về Hớn Quản rồi phục kích tiêu diệt lực lượng áp giải để bắt bọn Decoux, đơn vị của Lê Đức Anh đã được bổ sung thêm vũ khí để thực hiện nhiệm vụ này. Y nhận lệnh nhưng đã tránh né, cử người khác làm thay. Tên này đã ra lệnh cho tự vệ dỡ cây và mở đường cho bọn Nhật đưa Decoux, Hoffen và De Lalant về Sài Gòn an toàn !

4. Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ, Lê Đức Anh đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng vũ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, phá hủy một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông.

Để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, ta chủ trương di chuyển máy móc, thiết bị vật tư lương thực của các đồn điền cao su và các địa phương miền Đông Nam bộ về khu vực Thuận Lợi (Phú Riềng cũ) thuộc công ty cao su Dầu Tiếng là địa bàn ở sâu trong hậu phương ta. Trong khi quân Pháp tập kích Thuận Lợi, Lê Đức Anh và lực lượng võ trang thuộc quyền của y đang đóng trên đất Thuận Lợi nhưng đã không tổ chức chiến đấu đánh trả quân địch mà bỏ chạy dài về Cổng Xanh, chiến khu Đ. Do đó Thuận Lợi bị quân Pháp đốt cháy toàn bộ kho tàng, nhà cửa trong 3 ngày đêm liền. Nghe tin tư lịnh Nguyễn Bình sẽ xử tử mình vì tội đó, Lê Đức Anh bèn lánh mặt, đưa quân về vùng Bắc Bến Cát. (Lúc ấy, đ/c Năm Thi là ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, Chi đội phó, kiêm tham mưu trưởng Chi đội 1 Thủ Dầu Một nên biết rõ việc này).

5. Từ năm 1979 đến 1989, lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Campuchia, Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự.

- Về chính trị, ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương "đánh địch ngầm" do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên Bộ Chính trị Đảng nhân dân cách mạng CPC, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của Đảng, Nhà nước và quân đội ta.

- Về quân sự, đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương "trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn" ( !). Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu "ăn đong", năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm mà vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là "tàn quân" Polpot !

Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương "khóa chặt biên giới", "xây dựng tuyến phòng thủ biên giới" với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng dây thép gai nhằm ngăn chận quân Polpot từ Thái Lan vào đất Campuchia ( !). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không "khóa chặt" được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilomet !

Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính !

Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những "hoạt động du kích"của bọn "tàn quân" Polpot. Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như Nghị quyết của Ban cán sự và Bộ tư lệnh 719 ! Khi bộ phận tiền phương của Cục khoa học quân sự Bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương Cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho Bộ Tổng tham mưu với lý do "tinh giản biên chế ở chiến trường !"

Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ Ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào Bộ Chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch nước !

6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội :

Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch ! Đ/c Đồng Văn Cống nói : "hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc lóc rất dữ khi tiễn anh đi tập kết, nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói chị đi lấy chồng và theo địch ? Tôi không tán thành" !

Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm Ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng !

Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, NguyễnThị Định và đông đảo cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức !

Thưa Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng !

Đây không phải là lần đầu tiên các đảng viên Nam bộ báo cáo với Đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh :

Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào Bộ Chính trị khóa 5, đồng chí Thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gửi Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng và Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm !

Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị rồi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gửi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhưng 18 năm qua các khóa Trung ương vẫn chưa có trả lời !

Đến Hội nghị Trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và Ủy ban kiểm tra Trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gửi ra Ủy ban kiểm tra Trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đồng chí Nguyễn Đức Tâm xác nhận : khi làm Trưởng ban tổ chức Trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đồng chí Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đồng chí Hai Xô phát biểu : "Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ Đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng !"

Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần Đại hội Đảng và nhiều khóa Trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của Đảng.

Chúng tôi nhất trí với ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là "Ban Chấp hành Trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng Điều lệ của Đảng, pháp luật của Nhà nước, và kỷ luật của Quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào !".

Chúng tôi tán thành ý kiến của các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v… là "không cho phép duy trì mãi một tổ chứcsiêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như Nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc Bộ Tổng tham mưu như trước đây".

Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giamThượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố ; từng vu khống với ý đồ hãm hại Đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp !

Chúng tôi cho rằng : không chỉ riêng vụ T4, mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắc xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của Đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của Đảng và đất nước.

Đây không phải là "chuyện ngày xưa" của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa Bộ Chính trị và Trung ương sau này không thể làm rõ được ! Không ! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được ! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu Bộ Chính trị yêu cầu !

Không thể vin vào lý do "ổn định nội bộ" mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên internet, nên trong Đảng cũng như ngoài Đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ Chủ tịch nói : "Một Đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một Đảng hỏng !". Bộ Chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với Trung ương.

Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo : "Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn". Tình hình trong Nam cũng vậy.

Kính mong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ lão thành cách mạng mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.

Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của Đảng và Nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bịcho Đại hội toàn quốc lần thứ 10 của Đảng.

Đây cũng là việc làm thiết thực để kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đảng ta !

Xin gửi đến các đồng chí Bộ Chính trị và Trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời !

Xin cám ơn.

- Phạm Văn Xô
Địa chỉ : 225/18 - Xô Viết Nghệ Tĩnh - quận Bình Thạnh- Tp.HCM - ĐT : 899 1300
- Đồng Văn Cống
Địa chỉ : 774/2 Nguyễn Kiệm - quận Phú Nhuận - Tp.HCM - ĐT : 844 7328
- Nguyễn Văn Thi
Địa chỉ : 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3/2 - quận 10 - Tp.HCM - ĐT : 865 5878

 

 

Phong Kiến Hay Cộng Sản Trung Hoa Đều Có Tham Vọng Thôn Tính Việt Nam
Trần Đức Tường
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

 

Lịch sử Việt Nam từ ngàn xưa đã chứng minh tham vọng bành trướng, xâm lăng, thôn tính nước ta của tất cả mọi triều đại phong kiến Trung Hoa, từ đời nhà Đường cho đến đời nhà Thanh là không thay đổi. Sau Thế Chiến Thứ Hai, Trung Hoa và Việt Nam đã trở thành những nước đầu tiên ở Châu Á theo chủ nghĩa cộng sản. Nhưng không phải vì cùng đi chung con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), cùng là đồng chí mà tham vọng thôn tính của Bắc Kinh không còn nữa. Đây là một thực tế hiển nhiên mà có lẽ chỉ những người lãnh đạo Đảng và Nhà Nước cộng sản Việt Nam (CSVN) tự bưng tai bịt mắt mới nghĩ rằng cộng sản Trung Quốc "vừa là đồng chí, vừa là người thầy..." có đầy thiện chí muốn duy trì mối quan hệ gọi là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Cách đây 216 năm và cũng cách đây 26 năm, tình "hữu nghị" này đã được thể hiện bằng hai cuộc chiến tranh đẫm máu. Ôn lại hai trận chiến này giữa Trung Quốc và Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm hầu có thái độ thích hợp trong quan hệ giữa Việt Nam, một nước nhỏ chậm tiến với Trung Quốc, một nước khổng lồ đang trở thành mối lo ngại cho toàn thế giới, là một điều mỗi thế hệ Việt Nam nên làm và phải làm.

 Giỗ Trận Đống Đa

Trước đây, cứ ngày mồng 5 Tết, dân Bắc Hà thường có tập tục tổ chức "giỗ trận Đống Đa", như một ngày lễ hội để kỷ niệm Hoàng Đế Quang Trung đại thắng hơn 20 vạn quân Thanh năm Kỷ Dậu, 1789. Cũng nhằm khơi dậy tinh thần anh dũng chiến đấu của dân tộc ta và đề cao tài cầm quân của vua Quang Trung nơi những sĩ quan tốt nghiệp, trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt có truyền thống tổ chức diễn lại trận Đống Đa trong lễ mãn khóa. Ngày nay, nhằm thu hút du khách, nhà cầm quyền CSVN cũng tổ chức lễ hội ngay tại Gò Đống Đa vào mỗi mồng 5 Tết.

Đầu xuân, lật lại trang sử oai hùng của Quang Trung Nguyễn Huệ, âu cũng là một dịp để ghi nhớ công ơn tiền nhân, đồng thời làm sống lại tinh thần can trường bất khuất của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nhớ lại từ khi Lê Lợi khởi binh từ đất Lam Sơn đánh giặc tan Minh, giành lại độc lập tự chủ cho đất nước lên ngôi báu với niên hiệu là Lê Thái Tổ (1428), đến đời vua Lê Cung Hoàng (1527), nhà Hậu Lê đã trị vì được 99 năm. Sau đó nhà Lê bị gián đoạn do Mạc Đăng Dung giết mẹ con vua Cung Hoàng cướp ngôi, lập nên nhà Mạc. Nhưng không phải từ đó mà nhà Lê chấm dứt, hai họ Trịnh và Nguyễn đã tôn con cháu nhà Lê lên ngôi làm vì và giành hết quyền bính trong tay, gây nên một tình trạng loạn lạc kéo dài trên 150 năm. Giữa lúc hỗn quân, hỗn quan, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ đã khởi nghĩa ở Tây Sơn (Bình Định) năm Tân Mão, 1771. Với chính sách giúp đỡ dân nghèo, trừng trị tham quan ô lại, cường hào ác bá, Tây Sơn đã được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng và các nhà hào kiệt. Thanh thế Tây Sơn ngày càng lớn mạnh. Anh em nhà Tây Sơn đã đánh chiếm thành Quy Nhơn, rồi tiếp đến tiến quân vào Nam đánh chúa Nguyễn Phúc Ánh và ra Bắc dẹp chúa Trịnh. Năm Bính Ngọ, ngày 27/6 (1786), Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long, triều kiến vua Lê với lễ nghi quân thần, tỏ ý phò vua Lê và được vua Lê Hiển Tông gả con gái là Ngọc Hân Công Chúa. Chưa đầy 1 tháng sau vua Hiển Tông mất, cháu nội là Lê Duy Kỳ nối ngôi lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Nhân việc Tây Sơn ra Bắc lần thứ nhì (1788) để trừng trị Nguyễn Hữu Chỉnh, vua Chiêu Thống đã cùng Chỉnh bỏ kinh đô, vượt sông Nhị Hà chạy sang Kinh Bắc rồi phiêu bạt nhiều nơi từ Cao Bằng đến Hải Dương, Sơn Nam... Nguyễn Huệ cho đi tìm vua không được, nên đã lập Sùng Nhượng Công Lê Duy Cẩn lên làm Giám Quốc để yên lòng dân Bắc Hà. Xong việc Nguyễn Huệ lại trở về Phú Xuân.

Tại miền Bắc, các hoàng thân và quan lại nhà Lê cũng có những cuộc nổi dậy "cần vương" chống lại quân Tây Sơn, nhưng tất cả đều bị dẹp tan. Lúc đó hoàng gia chia làm hai cánh, Vua Chiêu Thống lẫn lộn trong dân chúng trốn hết vùng này đến vùng kia ở trong nước. Cánh thứ hai gồm bà Thái Hậu, mẹ vua và con trai Chiêu Thống đã cùng một số cận thần vượt biên giới sang Tàu cầu viện với Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây). Nghị dâng biểu về triều. Vua Càn Long nhà Thanh, đã có mưu đồ xâm chiếm Đại Việt từ lâu, nên chớp lấy cơ hội này, chấp thuận cho Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy, lấy quân Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu, lấy cớ chinh phạt Tây Sơn, khôi phục ngôi vương cho nhà Lê. Nhưng thật ra, đây chỉ là cái cớ, Càn Long đã có dã tâm thôn tính nước ta vì hắn đã cho đúc cả tiền đồng, một mặt khắc chữ "Càn Long Thông Bảo", mặt sau khắc chữ "An Nam" để lưu hành tại nước ta. Điều này chứng tỏ Càn Long muốn biến nước ta thành một quận huyện của Trung Hoa.

Với trên 200.000 quân, quân xâm lược đã chia làm 3 đạo tiến vào lãnh thổ Việt Nam. Đạo quân thứ nhất do chính Tôn Sĩ Nghị và đề đốc Hứa Thế Hanh tiến từ Quảng Tây băng qua Ải Nam Quan vào Lạng Sơn rồi trực chỉ Thăng Long. Đạo quân thứ nhì do đề đốc Ô Đại Kinh với quân Vân Nam, Quý Châu tiến vào Đại Việt theo ngã Tuyên Quang. Đạo quân thứ ba do tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống xâm nhập nước ta bằng đường Cao Bằng. Trước sức tiến công mãnh liệt của quân Thanh, tướng chỉ huy Thăng Long là Ngô Văn Sở, một mặt phái Phan Văn Lân dẫn quân chặn đánh, một mặt viết thư mang chữ ký của giám quốc nhà Lê là Lê Duy Cẩn cho Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, để có thời giờ chuẩn bị lui quân về Tam Điệp. Phan Văn Lân thua trận phải rút về. Ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân, không còn bóng dáng quân Tây Sơn trên đất Bắc Hà, thành Thăng Long bỏ ngỏ. Tôn Sĩ Nghị vào thành đóng bản doanh tại Tây Long Cung. Lê Chiêu Thống dẫn bộ hạ tới bái kiến và cảm ơn. Ngay ngày hôm sau, Tôn Sĩ Nghị thay mặt Vua Càn Long nhà Thanh làm lễ phong vương cho Lê Chiêu Thống là An Nam Quốc Vương. Quân xâm lược bạo ngược, hàng ngày giết hại lương dân, cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái, gây ra nhiều cảnh dã man tàn khốc. Lê Chiêu Thống được giặc đưa về lên ngôi, không lo việc nước, chỉ lo chuyện trả thù những người đã theo Tây Sơn. Sử sách ghi lại rằng đàn bà trong tông thất lấy tướng tá Tây Sơn đã có mang bị vua Chiêu Thống sai mổ bụng, vứt con đi để chết cả mẹ lẫn con. Hắn còn ra lệnh chặt chân 3 ông chú của hắn vứt ra chợ. Nhiều quần thần cũng bị xử tử hoặc bị cách chức... Chính bà mẹ vua cũng phải tỏ thái độ bất bình với tính bạo ngược của con mình. Nên nhớ lúc đó là tháng chạp năm Mậu Thân.

Tin quân Thanh đánh chiếm Thăng Long được phi báo về Phú Xuân. Nguyễn Huệ bình tĩnh chuẩn bị binh mã. Lúc đó lòng dân căm phẫn, quần thần khuyên Nguyễn Huệ nên xưng vương trước khi tiến đánh ngoại xâm vì Lê Chiêu Thống và triều đình đã phản quốc, "cõng rắn cắn gà nhà" rước giặc dày xéo non sông. Nguyễn Huệ chấp thuận và cho đắp đàn Giao ở Bàn Sơn, Phú Xuân, phía nam núi Ngự Bình tế cáo trời đất làm lễ đăng quang, lấy niên hiệu là Quang Trung. Hôm đó là ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân. Sử gia Phạm Văn Sơn viết : "Từ giã Bàn Sơn, đoàn quân thủy bộ của Bắc Bình Vương như hùm beo, tràn đầy hùng khí rầm rộ tiến ra Bắc Hà, mạnh như thế chẻ tre bạt núi. Ngày 29 đại quân tới Nghệ An. Ở đây Vương cho lấy thêm lính mới, cứ ba suất đinh lấy một, quân số cộng lại được 10 vạn và tượng binh (voi trận) được vài trăm con...". Phải nói, Vua Quang Trung là một chiến lược gia tài ba lỗi lạc. Nhằm gia tăng tốc độ chuyển quân, sử gia chép rằng : "Vương nảy ra sáng kiến để cuộc Bắc tiến được cực kỳ thần tốc, cho hợp 3 người thành một tốp rồi lần lượt thay phiên võng nhau. Nhờ có sự chuyển vận tối tân và kỳ dị này, quân Tây Sơn đi rất nhanh và đỡ cả sự mệt nhọc. Ngày 20 tháng chạp năm ấy đại quân đến núi Tam Điệp, nơi tiếp giáp của hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình". Vua Quang Trung và đại quân dừng lại Nghệ An mươi ngày để bổ xung quân số và nghiên cứu tình hình. Biết quân Thanh vừa chiếm được nước ta một cách khá dễ dàng, còn rất cao ngạo, Vua muốn kích thích thêm lòng kiêu căng của giặc. Ngài cho một phái đoàn 8 người đi sứ ra Thăng Long trình thư cho Tôn Sĩ Nghị. Đại ý thư ngỏ là Lê Chiêu Thống không còn xứng đáng làm vua nữa ; nay ông thay thế và cam kết "cung thuận" với "thiên triều"... Tôn Sĩ Nghị xem xong xé thư giết sứ giả. Đây là điều tối kỵ từ xưa tới nay. Chuyện này làm sôi sục lòng căm giận của quân và dân ta. Ngày 20 tháng chạp đại quân Tây Sơn bắt tay được với quân của Ngô Văn Sở và nội hầu Phan Văn Lân tại núi Tam Điệp. Vua cho quân nghỉ ngơi 10 ngày ăn tết trước. Đúng 30 Tết, Quang Trung cho quân tấn công thành Sơn Nam (Nam Định ngày nay). Nửa đêm mồng Ba Tết Kỷ Dậu (1789) nhà vua cho quân vây kín đồn Hà Hồi trong lúc giặc Thanh còn say sưa trong giấc ngủ. Ngài đã bất thần ra lệnh cho quân sĩ phát loa, gióng trống và la hét vang trời cùng với tiếng ngựa hí, voi rống rùng rợn. Giặc Thanh mất mật, kinh hồn, tưởng chừng như có thiên binh vạn mã đang tràn tới, vội vã đầu hàng. Quân Tây Sơn chiếm đồn Hà Hồi không tốn một mũi tên, hòn đạn.

Sau khi thanh toán chiến trường, nhà vua xua quân tiến đánh Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì, Hà Đông ngày nay). Biết Ngọc Hồi là điểm phòng thủ chính của quân Thanh với đại bác, địa lôi và chông sắt, Nhà Vua cho 100 thớt voi đi đầu, trên nhiều thớt có đặt súng đại bác. Ngài còn sai chuẩn bị 60 tấm lá chắn làm bằng ván bện rơm, cho 10 người đeo đoản đao khiêng để đỡ tên, đạn. Các tấm chắn dàn hàng ngang tiến lên, theo sau là bộ binh. Đích thân Nhà Vua đã leo lên lưng voi xung trận. Quân Thanh ứng chiến bằng kỵ binh ; nhưng ngựa ra trận gặp voi hoảng sợ chồm nhẩy tán loạn. Núng thế, giặc phải rút vào đồn bắn ra như mưa. Quân Tây Sơn với tượng binh và lá chắn đã phá được hàng rào chông tràn vào bên trong đánh cận chiến với giặc. Trước khí thế như vũ bão của quân ta, giặc không chống đỡ nổi, phần thiệt hại nặng nề, chúng hè nhau bỏ chạy. Khốn nỗi chúng chạy ngay vào những vùng chúng chôn địa lôi (bãi mìn) nổ ầm ĩ, giặc tan xương nát thịt. Thừa thắng xông lên quân ta truy kích giặc về hướng Thăng Long. Trên đường tiến quân, hạ thêm hai đồn Văn Điển và Yên Quyết. Quân Tây Sơn tới ngưỡng cửa thành Thăng Long.

Thiệt hại của giặc Thanh trong ngày đầu lên đến quá nửa quân số. Nhiều tướng lãnh như Hứa Thế Hanh, Trương Triệu Long, Thượng Duy Thanh... chết ngay trên chiến địa. Một cánh quân của Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Đô Đốc Long cũng vây kính đồn địch ở Khương Thượng. Tướng giặc ở đây là Sầm Nghi Đống không chịu đầu hàng và đã treo cổ trên một cành cây ở Đống Đa tự tử. Trận đánh chấm dứt vào tờ mờ sáng, tàn quân của giặc tháo chạy tứ tán và đều bị bắt bởi phục binh Tây Sơn.

Trong lúc đó, Tôn Sĩ Nghị nghe tin các tuyến phòng thủ của mình bị hạ hết, hoảng sợ nhảy lên ngựa không kịp thắng yên cương chạy tháo thân qua cầu phao bắc trên sông Nhị Hà sang trấn Kinh Bắc, bỏ lại cả ấn tín, sắc thư, cờ hiệu, lệnh bài.... Lê Chiêu Thống và gia quyến cũng bỏ chạy theo quân Tàu về Trung Hoa. Quân Thanh chạy theo chủ tướng bị gãy cầu chết đuối rất nhiều. Sử chép rằng : "Khoảng giờ Thân (4 giờ chiều) mồng Năm tết, vua Quang Trung cùng đại quân và 80 thớt voi ung dung tiến vào kinh đô nhà Lê đúng lời hẹn từ 20 tháng chạp. Chiếc áo bào đỏ của người anh hùng dân tộc qua nhiều trận huyết chiến đã đổi ra màu đen cháy vì hơi khói của thuốc súng".

Về tổn thất, sử Tàu thú nhận quân số chạy về cố quốc chưa đầy một nửa. Riêng quân Thanh chết trong trận Đống Đa là khoảng 1000 người. Về tổn thất của quân ta, không có sử nào đưa ra con số ; nhưng theo các tài liệu của các nhà truyền giáo thì có khoảng 8.000 chiến sĩ đã hy sinh trong các trận ở Ngọc Hồi và Thăng Long. Chiến thắng Tết Kỷ Dậu 1789 của Vua Quang Trung đại phá quân Thanh là một chiến công hiển hách ngang tầm quốc tế. Chỉ trong 7 ngày Vua Quang Trung đã đánh tan đội quân xâm lăng hai trăm ngàn người, đuổi cổ chúng về nước.

Bắt chước các triều đại trước, vì không muốn chiến tranh với nước lớn Trung Quốc, vua Quang Trung cũng lại cầu hòa với Thanh Triều và được phong vương, đồng thời Càn Long muốn vua Quang Trung sang triều kiến. Nhà vua đã cho một người khác giống mình đi thay thế.  

Cuộc Chiến Tranh Biên Giới 1979

190 năm sau chiến thắng lẫy lừng của Vua Quang Trung, đã xảy ra một cuộc chiến tranh giữa "hai nước XHCN anh em" khi Đặng Tiểu Bình xua 32 vạn quân (320.000) xâm phạm bờ cõi Việt Nam vào ngày 17/02/1979. Thời gian có khác. Tình hình có khác. Nhưng vẫn là một cuộc chiến tranh. Một cuộc chiến tranh vẫn một bên là quân Trung Hoa và một bên là quân Việt Nam. Một cuộc chiến tranh vẫn mang tính xâm lăng bờ cõi Việt Nam bởi quân đội Trung Quốc. Một cuộc chiến tranh không phải bằng gươm đao, giáo mác, cung tên, súng hỏa mai hay súng thần công, voi, ngựa của thời xưa, mà là đại pháo 130 ly, 122 ly, đại liên, thượng liên, AK 47, B40, B41, hỏa tiễn, chiến xa bọc thép và bao nhiêu loại vũ khí tối tân hiện đại khác...

Nếu nguyên nhân những cuộc xâm lăng của các triều đại trước trong lịch sử là mượn cớ phục hồi vua chúa đã bị truất phế thì nguyên nhân cuộc xâm lăng biên giới năm 1979 có nhiều lý do phức tạp hơn. Trong cuộc chiến tranh lạnh, thế giới không phải chỉ chia làm 2 cực Đông Tây, cộng sản và tư bản. Trong khối cộng sản sự bất đồng ý kiến đi đến tranh chấp võ trang giữa hai Liên Xô và Trung Cộng từ thập niên 60 đã ảnh hưởng đến nhiều nước chư hầu trong khối này. Trong cuộc chiến tranh "chống thực dân", Hà Nội đã nhận viện trợ quân sự gồm vũ khí, quân dụng và cả nhân lực của Trung Cộng, trong lúc viện trợ của Liên Xô còn giới hạn. Trong cuộc chiến tranh thôn tính miền Nam, Hà Nội đã nhận được viện trợ về tiền bạc cũng như quân dụng ngang ngửa của cả đôi bên. Sau khi chiếm được miền Nam ngày 30/4/1975, lãnh đạo CSVN đã ngả hẳn về phía Liên Xô, và xa cách với Bắc Kinh. Điều này khiến Trung Cộng rất khó chịu. Sự khó chịu này gia tăng thêm một mức khi Hà Nội để quân đội Liên Xô sử dụng các căn cứ cũ của Mỹ tại Việt Nam như Cam Ranh và Đà Nẵng. Để phá thế bao vây của Liên Xô ở phía Nam trong lúc ở phía Đông, Đài Loan với sự hỗ trợ của Mỹ vẫn là một vấn đề gai góc về quốc phòng đối với Bắc Kinh, chính quyền Trung Quốc đã tận lực giúp đỡ Khmer Đỏ ở Campuchia. Với mối hiềm khích dân tộc từ mấy trăm năm trước, Campuchia luôn hận thù Việt Nam. Được sự trợ giúp của Bắc Kinh, Khmer Đỏ đã một mặt bạc đãi, giết hại kiều dân Việt Nam sinh sống tại Cao Miên, một mặt thường xuyên cho quân tấn công những làng xã nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Cũng trong thời điểm từ 1975 đến 1979 Khmer Đỏ đã áp dụng chính sách cộng sản cực đoan, giết hại chính dân tộc của họ hàng triệu người, gây sự ghê tởm và phẫn nộ, lên án của mọi quốc gia trên thế giới.

Dưới chiêu bài "giải phóng nhân dân Campuchia", được sự khuyến khích của Mạc Tư Khoa, thúc đẩy bởi tham vọng bành trướng, bất chấp những lời khuyến cáo của Bắc Kinh, ngày 28/12/1978, CSVN đã mở cuộc tấn công quân sự tiến vào lãnh thổ Campuchia. Quân Khmer Đỏ thua chạy. Ngày 3/1/79 quân CSVN chiếm Stung Treng, Ieng Sari của chính quyền Campuchia yêu cầu họp Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Ngày 4/1/79 quân CSVN kiểm soát toàn bộ phía đông sông Mêkông. Ngày 5/1/79 Takeo, Neak Luong thất thủ. Ngày 6/1/79 đến lượt Kompong Cham rơi vào tay quân CSVN. Cũng trong ngày 6/1, thái tử Sihanouk và gia quyến đã rời Nam Vang bay sang Bắc Kinh. Ngày 7/1/79 quân đội CSVN tiến vào thủ đô Nam Vang. Chính quyền Khmer Đỏ tháo chạy về phía biên giới Thái Lan lập chiến khu kháng chiến. Ngày 17/1/79 quân CSVN tiến tới sát biên giới Thái Lan, bắt đầu cho thời gian 10 năm CSVN chiếm đóng Campuchia. Không thấy Hà Nội công bố tổn thất của họ ; nhưng theo ước lượng thì phải có hàng chục ngàn thanh niên bỏ mạng trên chiến trường Cao Miên trong cuộc tiến công 1979 và trong 10 năm chiếm đóng. Phía Khmer Đỏ, tổn thất là khoảng 40 ngàn người.

Ngày 17/02/1979, tức đúng 1 tháng sau khi quân CSVN tiến tới sát biên giới Thái lan, quân đội Trung Cộng đã mở cuộc tấn công vượt biên giới đánh vào lãnh thổ Việt Nam. Đặng Tiểu Bình tuyên bố là "để dạy cho Hà Nội một bài học". Bài học gì thì chắc cộng sản Hà Nội biết rõ hơn ai hết. Đứng về mặt quân sự mà nói thì cuộc chinh phạt này không nhằm chia lửa cho Khmer Đỏ vì nó bắt đầu khi quân CSVN đã chiếm trọn nước Campuchia. Có thể nói đây là một cuộc tấn công trừng phạt thì đúng hơn. Trừng phạt không phải chỉ vì theo Bắc Kinh, trong năm 1978 CSVN đã xâm phạm biên giới của họ 1.100 lần có nổ súng. Trừng phạt, có thể vì nhiều nguyên nhân như Hà Nội vong ân bội nghĩa sau khi chiếm được miền Nam năm 1975, không theo Trung Quốc nữa. Trừng phạt vì Hà Nội đã ngả theo Liên Xô là nước tuy cùng chủ nghĩa nhưng là kình địch không đội trời chung. Trừng phạt vì Hà Nội dám đánh đàn em của Trung Quốc mà không nể mặt Bắc Kinh... Nhưng dù trừng phạt hay dạy bài học gì đi chăng nữa thì Đặng Tiểu Bình đã rất thâm hiểm. Hắn đợi khi cộng sản Hà Nội chiếm xong Campuchia và phải trải quân trấn giữ đất đai trong khi Khmer Đỏ được cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ hỗ trợ tiến hành chiến tranh tiêu hao. Hà Nội không thể điều quân về ngay biên giới phía Bắc phòng thủ, nghênh chiến với quân Trung Cộng. Hoặc giả, nếu muốn có quân thì phải rút ra khỏi Campuchia. Vì thế Bắc Kinh đã ra tay rất nặng, đưa 320.000 quân đánh vào các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, trong đó 170.000 trực tiếp chiến đấu. Số quân này so với quân của Tôn Sĩ Nghị thời Quang Trung đông hơn gấp rưỡi.

Thế là "quân đội nhân dân Trung Quốc" đã đánh nhau với "quân đội nhân dân Việt Nam". Ngày 22/2 quân Trung Quốc san bằng hai thành phố của Việt Nam là Cao Bằng và Lào Cay. Họ đã phá hủy nhiều cơ sở quân sự của CSVN, trong đó có 6 bệ phóng hỏa tiễn chiến lược. Người ta thắc mắc tại sao Trung Quốc không đánh thẳng tới Hà Nội trong lúc họ có điều kiện và phương tiện. Quân CSVNđã rút lui mà không có trận đánh nào lớn ngăn chặn được bước tiến của địch. Người ta cũng thắc mắc là sau khi tiến đánh và chiếm ngự các tỉnh vùng biên giới đúng 1 tháng sau, Bắc Kinh ra lệnh triệt thoái. Từ ngày 5 đến 16/3, quân Trung Quốc hoàn toàn rút ra khỏi Việt Nam không bị truy kích. Báo chí Tây Phương viết về cuộc chiến này như một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Đẫm máu vì phía Trung Quốc tổn thất 26.000 người bị chết và 37.000 bị thương. Thiệt hại về quân dụng phía Trung Quốc gồm 260 chiến xa, 66 khẩu đại pháo bị phá hủy. Phía CSVN có 30.000 tử thương, 32.000 bị thương, 1.638 bị bắt làm tù binh, 185 chiến xa, 2000 đại pháo và 6 bệ phóng hỏa tiễn bị phá hủy. Về nhân mạng mà nói thì mỗi ngày đôi bên bị chết trên dưới 2000 người dưới mũi đạn của nhau, không kể con số tương đương người bị thương.

Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc không phải sau cuộc chiến 30 ngày năm 1979 mà ổn định. Năm 1981, Trung Quốc tố cáo có đến 715 vụ chạm súng. Năm 1983 pháo binh Trung Quốc đã nhiền lần bắn qua lãnh thổ Việt Nam.

Nếu Vua Quang Trung khi xưa có thể ghi vào sử xanh chiến công oanh liệt đại phá quân nhà Thanh, đánh đuổi chúng phải bỏ chạy về nước thì trận đánh biên giới năm 1979, "ai thắng ai ?".  

Những Bài Học

Dân tộc Việt Nam có 4 ngàn năm kinh nghiệm quan hệ với Trung Hoa. Hơn ai hết, chúng ta hiểu khá rõ tâm địa người Trung Hoa và nhất là chính quyền Trung Hoa. Giở lại lịch sử, từ khi tổ tiên ta dựng nước, Trung Hoa qua các triều đại quân chủ, phong kiến đã coi nước ta là một quận huyện của họ. Họ đã tới đặt nền đô hộ nước ta cả ngàn năm trời. Ngay khi tổ tiên chúng ta giành được độc lập tự chủ, tư tưởng bá quyền này vẫn còn tồn tại. Nếu chỉ tính từ đời Đinh Tiên Hoàng (năm 968 sau Tây Lịch), vua nhà Tống lúc đó sắc phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ Quận Vương. Sau khi Lê Hoàn lên ngôi, niên hiệu là Lê Đại Hành Hoàng Đế, vua Tống chỉ phong cho Lê Hoàn làm Tiết Độ Sứ. Lê Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều) lên ngôi sau đó cũng được vua Tống phong cho làm Giao Chỉ Quận Vương, lãnh chức Tiết Độ Sứ ở Tĩnh Hải Quận. Sang đời nhà Lý, Lý Thái Tổ được nhà Tống, lúc đầu (1010) phong Giao Chỉ Quận Vương, sau được phong Nam Bình Vương (1016). Các vua kế vị cũng chỉ được phong Giao Chỉ Quận Vương. Cho đến đời vua Lý Anh Tông, năm Giáp Thân (1164), nhà Tống đổi Giao Chỉ quận thành An Nam Quốc và phong cho vua Anh Tông là An Nam Quốc Vương. Dưới đời Trần, bên Tàu nhà Nguyên Mông đã thay thế nhà Tống. Mặc dù đã thua một trận, vua nhà Nguyên vẫn coi nước ta là thuộc địa, bắt triều cống người giỏi, vật quý và cử 1 tên quan giám sát để kiểm soát việc cai trị của vua Trần. Không thấy vua Tàu phong sắc gì cho các vua Trần. Như về sau, các vua ta cũng vẫn được phong vương.

Cũng trong quá trình 4 ngàn năm lịch sử, với lý luận, nước ta là một nước nhỏ trong lúc Trung Hoa là nước lớn, các triều đại, dù sau những chiến công hiển hách đánh quân Trung Hoa xâm lược giành được độc lập tự chủ, các vua chúa của ta, một khi lên được ngôi báu lại tính đến chuyện Ềcầu phongỂ và tỏ ý thần phục "thiên triều". Hàng năm hay ba năm một lần phải triều cống vàng bạc, châu báu... Như vậy lý do sợ nước mình yếu không địch nổi nước lớn chưa chắc đã là lý do duy nhất. Lý do nữa có thể hình dung được là vua chúa nước ta cần được lẽ chính thống, tức là được vua Tàu ban cho chức tước để dễ bề ngồi trên ngôi báu. Cũng chính thái độ và cách hành xử của người đời trước đã gieo vào đầu những thế lực cầm quyền ở Trung Hoa ý niệm Việt Nam là một nước chư hầu của họ. Đối với dân tộc ta, không biết đây là một sự "khôn khéo" hay là một tinh thần nô lệ ?

Nhưng dù sao thì những gì thuộc về lịch sử là chuyện đã qua. Thời buổi ngày hôm nay không phải là thời Đinh Tiên Hoàng, thời Lê Đại Hành, thời Lý Công Uẩn hay thời Quang Trung Nguyễn Huệ. Lẽ chính thống của người lãnh đạo không do "thiên mạng" hay "thiên triều" phong ban, mà do lòng dân đưa lên. Đời nay, một quốc gia, một chính thể cần được người dân bầu lên và cần được sự "công nhận" của nhiều quốc gia khác. Một cường quốc lớn cách mấy không thể đơn điệu ủng hộ một chính quyền bất chấp sự phản đối của lòng dân, bất chấp sự phản đối của thế giới. Lẽ chính thống là ở chỗ đó.

Trong thế kỷ trước, sự xuất hiện của những Nhà Nước theo chủ nghĩa cộng sản làm thành một khối đóng kín. Trong khối này Liên Xô tự nhận là lãnh đạo. Các nước khác, trong đó có CSVN là các nước "đàn em". Tuy không gọi là "chư hầu" nhưng thực chất là chư hầu, lệ thuộc cả về tư tưởng, đường lối chính sách lẫn nhân sự. Lãnh đạo các nước này đi thưa về trình, trái lệnh là bị triệu hồi về Mạc Tư Khoa rồi bị thủ tiêu... Đây quả là sự tái diễn lại lịch sử thời Trung Cổ ở Châu Á với Trung Hoa là "nước ở giữa" Vua Tàu là "thiên tử" các nước lân bang đều là "chư hầu".

Năm 1989, khối cộng sản tan vỡ, chủ thuyết cộng sản Mác Lênin phá sản. Năm 1991 Liên Xô sụp đổ. CSVN trở thành mồ côi, bèn phải quay đầu trở lại thần phục Trung Quốc. Thường thì những triều đại ở nước ta không được lòng dân mới cần được sắc phong để có được lẽ chính thống. Quy luật này, ngày nay vẫn còn giá trị đối với Việt Nam. CSVN cần dựa vào Bắc Kinh để nắm quyền cai trị đất nước ta. Để đánh đổi lấy sự hậu thuẫn, phong ban, cũng như các triều đại phong kiến trước đây, phải trả một cái giá. Thời xưa thì triều cống. Ngày nay thì nhượng đất, nhượng biển, chấp nhận lép vế trên thị trường quốc tế.

Việc Hà Nội ký các Hiệp Định, Hiệp Ước về biên giới trên bộ và trong Vịnh Bắc Bộ với cộng sản Trung Hoa cuối thế kỷ trước nói lên sự thần phục của Hà Nội, đồng thời cũng cho thấy rõ dã tâm của Bắc Kinh. Trung Quốc chỉ cần dựa vào châm ngôn "16 chữ vàng" do "thiên triều Trung Cộng" ban cho CSVN để trói buộc dân tộc và đất nước ta dưới ách kềm tỏa của họ. Thử phân tích 16 chữ này : "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Từ chỗ láng giềng hữu nghị tức là thân thiện đến việc tuồn hàng lậu Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam giết chết công kỹ nghệ nội địa, rồi đến việc đưa dân vùng biên giới sang trà trộn sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, biến những vùng này thành đất Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian. Đây mới chính là "diễn biến hòa bình". Hợp tác toàn diện là thế nào ? Trong bang giao giữa các quốc gia, sự hợp tác phải có chương trình, kế hoạch và phải có lợi cho quốc kế dân sinh. Không thể chấp nhận hợp tác toàn diện để cho kinh tế bị bóp chết. Đâu phải chuyện gì của Tàu ta cũng có thể hợp tác được. Chấp nhận điều này là chấp nhận sợi dây thòng lọng sẵn sàng siết cổ Việt Nam. Nước nào cũng mong "ổn định lâu dài". Nhưng trong bang giao quốc tế, vấn đề quyền lợi là quan trọng. Những bất đồng quan điểm cũng như quyền lợi là điều thường xảy ra trong quan hệ giữa các quốc gia. Không thể vì phải giữ ổn định lâu dài mà chấp nhận ngoại bang chèn ép nước ta, chèn ép dân ta, lấn chiếm lãnh thổ của ta. Hay là chính quyền được Trung Quốc bảo đảm ổn định lâu dài ? Bốn chữ hướng tới tương lai Trung Quốc đưa ra là cả một dã tâm to lớn. Họ muốn Việt Nam phải dứt khoát với quá khứ, không bao giờ được đặt lại những vấn đề về biên giới trên đất liền và trên Vịnh Bắc Bộ cũng như trên Biển Đông nữa.

Chấp nhận những điều khoản trên đây như "châm ngôn" mà cộng sản Hà Nội khoe tới khoe lui, chứng tỏ họ quá sức là hèn hạ. Họ làm như vậy chứng tỏ họ quá cần Trung Quốc để hỗ trợ họ duy trì nền cai trị độc tài của họ tại đất nước ta. Quả họ có học được những bài học của người xưa : "nhũn nhặn với nước lớn để tránh bị xâm lăn". Nhưng nói như thế thì họ tụt hậu quá xa. Nước Lục Xâm Bảo, nước Thụy Sĩ rất bé nhỏ ở bên cạnh nước Đức và Nước Pháp quá lớn mà họ có cần phải quỵ lụy hai nước này đâu ? Hay là họ học được bài học của Đặng Tiểu Bình : "Phản ta thì ta trừng phạt". Ở thời điểm thế kỷ 21 này không dễ gì Trung Quốc có thể mang quân chinh phạt nước nào nữa đâu. Trận chiến biên giới năm 1979, Đặng Tiểu Bình chỉ dám lưu lại Việt Nam đúng 1 tháng. Đài Loan mà Bắc Kinh vẫn luôn miệng khẳng định là của Trung Quốc ; nhưng Trung Quốc đâu dám đụng binh đánh Đài Loan ?  

Kết Luận

Tháng Giêng năm 2005, 2 thuyền đánh cá ngư dân Hậu Lộc, Thanh Hóa đang thả lưới ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, nơi họ vẫn thường hoạt động đã bị hai tầu công an duyên phòng Trung Quốc xả súng bắn. Kết quả 9 người bị tử thương và một số người khác bị thương. Một chiếc tàu đánh cá với 8 xác chết và hai người bị thương đã bị Trung Cộng kéo về đảo Hải Nam. Qua việc chậm trễ loan tin cũng như sự lên tiếng yếu ớt của nhà cầm quyền CSVN, ngưòi ta thừa biết là Hà Nội muốn nhận chìm vụ này. Điều này chứng tỏ họ đã răm rắp chấp hành "16 sáu chữ vàng" do thiên triều cộng sản Bắc Kinh ban ra cho họ. Các cụ ta nói "Thời buổi nào kỷ cương đó". Không thể lấy kỷ cương thời Trung Cổ để áp dụng vào thời nay được. CSVN muốn có lẽ chính thống để cai trị đất nước thì phải thực hiện dân chủ. Nếu họ dựa vào ngoại bang thì họ chỉ thành những tên phản quốc mà thôi. Chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ, không còn giá trị giúp họ ở trên chính quyền. Con đường duy nhất là con đường dân tộc.

Nhưng phải dân tộc đích thực, tức là vì dân tộc, vì nhân phẩm, nhân quyền của người dân, chứ đừng mang cái nhãn hiệu dân tộc như hai chữ "nhân dân" lừa bịp thiên hạ. Phải có đảm lược, có tinh thần độc lập mới có thể phất cao ngọn cờ "DÂN TỘC". Đó là hai đức tính mà CSVN không có. Đừng cõng rắn cắn gà nhà như Lê Chiêu Thống.

Trần Đức Tường

 

Chiến Lược và Ý Đồ của Trung Quốc Đối Với Việt Nam
Thanh Thảo
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Trong thời gian gần đây, CSVN liên tục lên tiếng xác định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, ngay cả tổ chức chuyến du lịch Trường Sa hồi tháng 4 năm ngoái để bày tỏ thái độ quyết liệt của mình. Nhưng rồi sau đó, người ta lại thấy Trung Cộng cứ lừng lững tiến hành những gì họ muốn. Hàng năm, Trung Cộng vẫn ngang nhiên cấm mọi thuyền bè lưu thông trong khu vực biển Đông kể cả vùng Trường Sa và Hoàng Sa trong vòng 2 tháng (tháng 6 và tháng 7) để chúng tập trận ; mới đây chúng lại huênh hoang ngăn cấm Việt Nam khai thác các mỏ dầu trong vùng biển Đông...

Trung Quốc khảo sát địa chất trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 18-2, Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau khi có tin Trung Quốc đang tiến hành một số khảo sát địa chất trong khu vực này. Trả lời báo chí hỏi về tin này, phát ngôn nhân Lê Dũng nói rằng chính phủ VN nhiều lần xác định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ đối với hai quần đảo này. Vẫn theo lời ông Lê Dũng, bất cứ hành động của một nước nào tại Hoàng Sa và Trường Sa mà không thông báo cho Việt Nam biết đều bị coi là vi phạm chủ quyền của Việt Nam tại hai khu vực này. Trước đó, Tân Hoa Xã của Trung Quốc loan tin, lần đầu tiên trong lịch sử Bắc Kinh cho tiến hành khảo sát qui mô khu đảo san hô dưới vùng biển họ gọi tên là Tây Sa, tức là Hòang Sa của Việt Nam.

Trong năm 2004, Trung Quốc đã xâm phạm biển Việt Nam 1.107 lần.

Một bản tin của hãng thông tấn quốc tế Reuters tiết lộ rằng chỉ trong năm 2004, tàu của Trung Quốc đã xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam ít nhất là 1.107 lần. Thế mà không thấy nhà cầm quyền Hà Nội loan báo, và không có hành động nào nhằm ngăn chặn Bắc Kinh.

Trước biến cố ngày 8 tháng giêng vừa qua, lần tấn công của Trung Quốc trước đó đã xảy ra vào ngày 23/2/2004. Tin này đã được báo Tuổi Trẻ loan tải, kể lại trường hợp của ngư dân Lương Văn Sơn, cư ngụ tại xã Tam Giang huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam, đang câu mực ở khu vực đông bắc đảo Cồn Cỏ (thuộc tỉnh Quảng Trị) thì bất ngờ bị một tàu Trung Quốc mang số hiệu 1213 (loại tàu Hải Quân) sơn màu xám, dài khoảng 25m, rộng 6m có trang bị súng, trên tàu có 25 người bận quần áo màu đen, xanh, đã nổ súng đe dọa và cướp tàu của ông Sơn 500kg mực khô, một máy bộ đàm 3 băng, và toàn bộ lương thực dự trữ trên tàu... Ngoài ra trong thời gian gần đây tàu đánh bắt của Trung Quốc thường xuyên xâm hại khu vực lãnh hải thuộc khu vực vùng biển miền Trung của Việt Nam để đánh bắt trộm hải sản.

Biến cố thảm sát ngư dân Thanh Hóa.

Người dân Việt Nam cả trong và ngoài nước đã đồng loạt lên tiếng phản đối khi Trung cộng thảm sát 9 ngư dân Thanh Hóa và bắt đi một số người. Trước sự phản ứng quyết liệt này, chính quyền CSVN mới Ềthủng thỉnhỂ lên tiếng và giải quyết một cách từ từ chậm chạp và yếu đuối.

Liên quan đến số phận những ngư dân bị Trung Cộng bắt và đưa về giam ở đảo Hải Nam, mãi đến hôm 14/2/05 báo chí trong nước mới cho biết 8 người này đã về đến Việt Nam.

Tờ Tuổi Trẻ trích dẫn lời một người trong số 8 ngư dân được về nước là anh Nguyễn Mạnh Hùng, 28 tuổi, cho biết một ngày trước đó, cả toán đã bị đưa ra xét xử trước tòa án Hải Nam về tội cướp biển. Sau phiên xử biểu diễn kéo dài 3 tiếng đồng hồ, tòa án Trung Quốc tuyên bố 8 ngư dân Việt Nam trắng án và lệnh trục xuất được thi hành ngay.

Riêng về số phận của 9 người bị bắn chết, chỉ có tin là "thi hài của 4 ngư dân bị bắn chết đã được hỏa thiêu bên Trung Quốc và đưa về Việt Nam chôn cất từ hôm mùng 4 tháng Hai". Điều này trái với nguyện vọng của các gia đình những người bị Trung Quốc thảm sát là được nhìn mặt thân nhân lần cuối cùng trước khi an táng. Trong một điện thư của một thân nhân xã Hòa Lộc đã tố cáo chính quyền VN đã ép buộc các gia đình nạn nhân "đồng ý hỏa táng, đem tro về chôn cất" để tiếp tay phi tang nội vụ.

Số phận của 5 thi hài còn lại đến nay không ai biết đã được giải quyết ra sao, tất cả các báo chí trong nước không còn nhắc tới nữa. Có lẽ thông tin như thế đã đủ rồi chăng ? ? ?

Ý đồ của Trung Quốc.

Ông Trần Quang Cơ, người từng giữ trách vụ thứ trưởng ngoại giao CSVN trong nhiều năm trước năm 1993, đã nhiều lần cảnh báo về sự khôn ngoan và khôn khéo cần thiết mà chính quyền CSVN cần phải lưu tâm trước mộng bành trướng của Trung Cộng. Trong tập Hồi Ký mang tên "Hồi ức và Suy Nghĩ" được hoàn chỉnh vào ngày 22/5/2003, ông đã báo động như sau :

"Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thỏa thuận giữa hai bên, ngày 5/11/91, Tổng bí thư Đỗ Mười và thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước CHND Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. "Quan hệ Việt - Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau... Quan hệ Việt - Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm 50-60..."

Tuy nhiên sau khi bình thường hóa quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4/92 ; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91 rồi 4/5/92 ; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5/92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hóa việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).

Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này ? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược "biên giới mềm") nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa - mà ta gọi là biển Đông - thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.

1. Trật tự thế giới cũ không còn, trật tự thế giới mới chưa hình thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương đều đang gặp khó khăn, Liên Xô vừa tan rã. Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể, Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương, tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.

2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá trình nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hóa Đông Nam Á, bất lợi đối với ý đồ bá quyền của Trung Quốc, đang còn có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ý thức hệ, va chạm lợi ích, ý đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đòi hỏi thời gian khắc phục Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam và ASEAN tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khmer đỏ ở Campuchia và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.

3. Bản thân Việt Nam còn đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn thù) trong tình hình mới sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ với Mỹ chưa bình thường hoá, Trung Quốc muốn đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.

Vì vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề mặt thân mật gắn bó Trung - Việt, vừa siết chặt bên trong, giành lợi thế cho mình trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai mặt đều nhằm đạt mục tiêu khẳng định Việt Nam - Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.

...

Sau hơn 1 năm bình thường hóa, quan hệ Việt - Trung có nhiều mặt được thúc đẩy như trao đổi đoàn qua lại, mở một số cửa khẩu, buôn bán biên giới... Song mặt tiêu cực và hạn chế đang nổi lên, nhiều hiệp định đã ký kết và nhiều thoả thuận ở cấp cao chưa được thực hiện. Đặc biệt từ đầu năm 1993, Trung Quốc dùng nhiều biện pháp tổng hợp để tăng sức ép và tạo thêm nhiều khó khăn cho ta, gây tình hình không ổn định cho ta cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm làm chậm đà phát triển kinh tế của ta và kìm hãm việc mở rộng quan hệ đối ngoại của ta trước hết là ở khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương. Những thách thức và đe dọa của Trung Quốc đối với ta đang được thể hiện ngày càng rõ nét dưới các dạng chính sau đây :

a. Xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta trên bộ và trên biển : trong khi trên bộ, Trung Quốc không có dấu hiệu nào muốn giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lại còn làm xấu thêm tình hình (xâm canh xâm cư, xây kè cống làm thay đổi dòng chảy các sông suối biên giới có lợi cho Trung Quốc, lấn sang phía ta) thì trên biển, Trung Quốc liên tiếp có những bước leo thang nghiêm trọng từ tranh chấp ngoài biển Đông. Trung Quốc đã từng bước ngày càng lấn sâu vào thềm lục địa, ngay trong khu vực ta đã phân lô ký kết với các công ty nước ngoài và đang thăm dò khai thác dầu khí (đầu tháng 5.93, Trung Quốc cho tàu FENDOU 4 vào thăm dò địa chấn ở khu vực lô 6 nằm sâu trong thềm lục địa của ta) bộc lộ ý đồ biến một số khu vực trong thềm lục địa của ta thành vùng tranh chấp, đang chuẩn bị dư luận để đưa đảo Bạch Long Vĩ vào diện tranh chấp.

b. Phá môi trường quốc tế hòa bình ổn định của Việt Nam với những hoạt động : ở Campuchia, thông qua Khmer Đỏ khuấy động vấn đề người Việt Nam ở Campuchia đồng thời làm cho tình hình Campuchia khó đi vào ổn định ; lôi kéo 3 nước (Thái, Miến, Lào) thành một cụm liên kết kinh tế ở Đông Nam Á lục địa thượng lưu sông Mêkông gắn với Trung Quốc, tách rời Việt Nam ; khủng hoảng biển Đông kéo dài cũng có tác động phá môi trường phát triển của Việt Nam.

c. Gây mất ổn định chính trị, kinh tế bên trong Việt Nam : nêu trở lại "vấn đề người Hoa", đẩy số người Hoa đã bỏ về Trung Quốc từ những năm 78, 79 trở lại Việt Nam ; thông qua Khmer Đỏ dồn đuổi Việt kiều ở Campuchia về nước ; gây sức ép với Hồng Kông đưa toàn bộ số thuyền nhân ở đó về Việt Nam trước năm 1997 ; để hàng lậu từ Trung Quốc tuồn vào Việt Nam qua con đường tiểu ngạch bán hàng vào Việt Nam với giá rất rẻ gây rối loạn thị trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất ở nước ta.

d. Kìm hãm phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam : tiếp tục bắt giữ tàu thuyền của ta (số lượng nhiều hơn 1992 : 28 chiếc) ; chống việc ICAO trả lại vùng FIR Hồ Chí Minh cho Việt Nam.

...

Chiến lược của Trung Quốc và ý đồ của Trung Quốc đối với Việt Nam Trái với Mỹ, Trung Quốc thấy ở những biến đổi lớn trong cục diện thế giới ngày nay, một "cơ hội ngàn năm có một". Đối với Trung Quốc cơ hội đang tăng lên, còn thách thức giảm đi. Trong khi Mỹ cảm thấy cần co bớt lại để củng cố và phòng ngự là chính thì Trung Quốc nuôi tham vọng lớn là muốn vươn lên trở thành một cực trong trật tự thế giới đa cực mới. Trong khi hiện đại hóa trên 4 mặt vẫn là cứu cánh chính để thực hiện mục tiêu đó, Trung Quốc không ngừng tranh thủ mọi cơ hội có được để thực hiện kế hoạch bành trướng, gây mất ổn định của nước khác (Campuchia, Myanmar) để mưu lợi cho mình. Do hiện nay thế cũng như lực chưa đủ mạnh, nên họ thực hiện ý đồ một cách tính toán thận trọng tùy theo diễn biến của tình hình khu vực, phản ứng của các đối thủ và thực lực của chính họ.

Trước mắt Trung Quốc đang ra sức thực hiện ý đồ nhanh chóng trở thành một cường quốc ở châu Á - Thái Bình Dương, có địa vị ngang hàng với Mỹ, Nhật ở khu vực này. Trung Quốc đặt mục tiêu lấn chiếm toàn bộ biển Đông ở vị trí ưu tiên hàng đầu. Trung Quốc coi trọng vị trí chiến lược của biển Đông, vì kiểm soát được biển Đông tức là khống chế được cả Đông Nam Á và cả con đường giao lưu huyết mạch từ Thái Bình dương qua Ấn Độ Dương, và cũng là khu vực giàu tài nguyên nhất là dầu khí (trữ lượng dầu ở khu vực này ngang Vịnh Ba Tư) mà Trung Quốc đang cần để đẩy nhanh tốc độ phát triển.

Đáng chú ý là trong khi Trung Quốc mở một chiến dịch hoạt động ngoại giao rộng lớn nhằm tranh thủ tăng cường quan hệ hợp tác phát triển với tất cả các nước công nghiệp hóa phương Tây, tranh thủ các nước đang phát triển và không liên kết hòng khôi phục vai trò lãnh đạo thế giới thứ ba, cải thiện quan hệ với các nước láng giềng cùng chung biên giới, đặc biệt là gần đây tăng cường lôi kéo các nước khu vực Đông Nam Á để phá thế Ềquần lang đấu hổỂ, thì Trung Quốc luôn tập trung mũi nhọn gây sức ép và lấn dần Việt Nam trên mọi vấn đề, mặc dù ta đã dùng đủ phương sách để tỏ rõ thái độ cầu hoà và hữu hảo với họ. Phải chăng vì Trung Quốc cho rằng Việt Nam là điểm yếu và dễ tính để lấn nhất lúc này (khó về quân sự, nghèo về kinh tế, đơn độc về chính trị) mà lại chiếm một vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á và là trở ngại lớn nhất cho kế hoạch biển Đông của Trung Quốc.

Những hoạt động bất lợi đối với Việt Nam của Trung Quốc sẽ không dừng lại ở trạng thái hiện nay mà sẽ còn được tiếp tục đẩy tới vì Trung Quốc cho rằng tình thế hiện tại đang rất thuận lợi cho việc Trung Quốc lấn ép Việt Nam mà chỉ gặp phải phản ứng quốc tế ở mức thấp nhất vì Mỹ chưa bỏ cấm vận Việt Nam ; quan hệ hợp tác, đầu tư giữa các nước và Việt Nam còn chưa phát triển ; vấn đề Campuchia đang còn thu hút nhiều sự chú ý của dư luận quốc tế ; cơ chế an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương chưa hình thành.

Trung Quốc đặt năm 1997 thành một mốc thời gian quan trọng trong quá trình xây dựng sức mạnh mọi mặt của Trung Quốc : năm 1997 là năm Trung Quốc thu hồi Hồng Kông và cũng có thể là năm thực hiện một bước kế hoạch hình thành "vành đai kinh tế Đại Trung Hoa" bao quanh Đông Nam Á ; năm 1997 là năm quân đội Trung Quốc sẽ được trang bị hàng không mẫu hạm và các trang bị tối tân khác, đặc biệt về hải không quân để có thể vươn ra khắp biển Đông ; có tin Trung Quốc đang cố rút ngắn mục tiêu của năm 2000 xuống năm 1997 sẽ tăng tổng sản phẩm quốc dân lên gấp 4 lần. Sức ép của Trung Quốc đối với ta sẽ phát triển thuận chiều với sự phát triển các mặt của Trung Quốc.

3. Những phân tích tình hình trên đây có thể dẫn đến kết luận : Trước mắt cũng như trong tương lai dự báo được, Trung Quốc là nguồn xuất xứ chính của những thách thức đe doạ đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như đối với an ninh và phát triển của Việt Nam. Những thách thức đe dọa trên nhiều mặt của Trung Quốc đối với ta đều đang là những vấn đề hiện thực, đang xảy ra và ta đang phải xử lý, khác với những thách thức đe dọa của các đối tượng khác, kể cả Mỹ, có phần nào còn là giả định và dự phòng. Những mâu thuẫn về lợi ích trên các mặt giữa ta với Trung Quốc có nhiều hơn với các đối tượng khác."

Ông Trần Quang Cơ đã kết thúc tài liệu này với kiến nghị về đối sách với Trung Quốc như sau :

- Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc là một yêu cầu chiến lược của ta. Do Trung Quốc thi hành chính sách 2 mặt nên đối sách của ta cũng gồm 2 mặt vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa chủ động thúc đẩy quan hệ trên cơ sở những thỏa thuận đã đạt được, vừa kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đồng thời giữ vững phương châm không để trở lại tình trạng đối đầu với Trung Quốc cũng như không đặt các nước trước sự lựa chọn hoặc Việt Nam hoặc Trung Quốc. Biện pháp tối ưu lúc này là chủ động tạo nên cục diện các nước lớn và ASEAN có lợi ích kinh tế, an ninh ngày càng lớn trong quan hệ với Việt Nam. Cục diện đó cộng với sự lớn mạnh càng nhanh càng tốt của bản thân chúng ta sẽ là sự răn đe có hiệu quả nhất đối với mọi hoạt động lấn chiếm của Trung Quốc.

- Kiên quyết đấu tranh hạn chế ý đồ lấn chiếm của Trung Quốc ở biển Đông, đặc biệt ở vùng thềm lục địa của ta ; áp dụng các biện pháp khôn khéo nhưng có hiệu quả ngăn chặn hoạt động của Trung Quốc mà không dẫn đến đối đầu về quân sự.

- Xúc tiến việc xác định phạm vi của quần đảo Trường Sa để xem xét khái niệm "khai thác chung", phá ý đồ Trung Quốc lợi dụng vấn đề này chia rẽ phân hóa giữa ta và ASEAN.

- Chuẩn bị khả năng đưa ra tòa án quốc tế hoặc trọng tài quốc tế vấn đề Trung Quốc vi phạm thềm lục địa của ta.

- Đến một lúc nào đó ta nên tính đến khả năng mở cảng Cam Ranh thành một thương cảng cho các tàu quốc tế ra vào, kể cả tàu Mỹ, tạo sự có mặt của nhiều quốc gia ở khu vực biển Đông, ngăn ý đồ độc chiếm của một nước. Song tất nhiên ta phải có chính sách và luật pháp chặt chẽ để bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia.

***

Ông Trần Quang Cơ đã nhiều lần muốn rút khỏi Trung Ương Đảng CSVN nhưng lương tâm không yên khi thấy những chính sách ngoại giao mà CSVN áp dụng quá nhiều thiệt hại cho đất nước... Nhưng ông cương quyết rút lui từ năm 1993, có lẽ vì những lời đề nghị tâm huyết của ông không làm vừa lòng các nhà lãnh đạo không thực sự vì dân vì nước...

Đọc và tìm hiểu nhận định của ông Trần Quang Cơ để chúng ta hiểu rõ hơn những âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như những nhượng bộ đê hèn của đảng CSVN.

Thanh Thảo tổng hợp

 

Hà Nội Có Hóa Giải Được Biện Pháp Trừng Phạt của Hoa Kỳ Hay Không ?
Nguyễn Ngọc Đức -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Ngày 15 tháng 3 tới đây là hạn chót để Hà Nội chứng tỏ với Hoa Thịnh Đốn về thiện chí cải thiện tình trạng tự do tôn giáo tại Việt Nam. Nếu không, chính phủ Hoa Kỳ có thể quyết định một số biện pháp trừng phạt theo quy chế "những nước cần đặc biệt quan tâm". Đây là lần đầu tiên Việt Nam bị Hoa Kỳ xếp vào danh sách những nước có thể bị trừng phạt về vấn đề đàn áp tự do tôn giáo. Chính vì vậy mà trong những ngày vừa qua, người ta thấy Hà Nội đã nỗ lực tung ra những chiêu thức để hóa giải sự đe dọa này.

Ngày 2 tháng 2, Hà Nội loan báo trả tự do cho 6 tù nhân lương tâm, trong đó có ba tu sĩ là Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Thượng Tọa Thích Thiện Minh và ông Trương Văn Đức thụôc Giáo hội Phật Giáo Hòa hảo. Ngày 4/2, Phan Văn Khải ban hành chỉ thị nới lỏng một số biện pháp đàn áp đạo Tin Lành. Vào cuối năm 2004, Hà Nội đã ban hành một pháp lệnh về tôn giáo nói chung, nay lại ra một chỉ thị riêng cho đạo Tin Lành, mà lại không có chỉ thị riêng cho Phật Giáo hay Công Giáo. Đích nhắm của chỉ thị này rõ ràng là để hóa giải mối đe dọa trừng phạt của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, theo ông Michael Cromartie thuộc Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ thì những điều trong chỉ thị quá bao quát, không rõ ràng, nên dễ đưa đến sự quảng diễn một cách tùy tiện của các cơ quan nhà nước và cán bộ địa phương. Theo ông Michael Cromartie thì chính sự quảng diễn luật pháp một cách tùy tiện này đã là nguyên nhân đưa tới những vụ đàn áp tôn giáo nghiêm trọng trong thời gian qua.

Những biện pháp hóa giải của Hà Nội hình như vẫn chưa đủ giải tỏa áp lực của Hoa Kỳ. Vì ngày 28/2 vừa qua, trong bản phúc trình hàng năm của bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới trong năm 2004, Việt Nam vẫn là một trong những nước mà Hoa Kỳ đánh giá rằng vẫn tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo. Cụ thể là sự sách nhiễu đối với các tín đồ tôn giáo vẫn tiếp tục, một số lượng đáng kể tù nhân tôn giáo vẫn tiếp tục bị giam cầm. Đặc biệt Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đòi hỏi Việt Nam phải ra một nghị định toàn quốc nghiêm cấm việc buộc tín đồ các tôn giáo phải bỏ đạo.

Những biện pháp hóa giải của Hà Nội cũng không thể qua mặt được các tổ chức nhân quyền quốc tế. Trong lá thư ngày 28/2 gởi ngoại trưởng Mỹ, tổ chức Human Rights Watch đã tố cáo nhà cầm quyền Hà Nội đang tìm cách đánh lừa dư luận và trên thực tế, sự đàn áp tôn giáo vẫn diễn ra một cách khốc liệt ở Việt Nam. Human Rights Watch yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ áp lực Hà Nội thi hành 9 điểm, như để cho mọi giáo hội được tự do hoạt động một cách độc lập và chấm dứt mọi sự kiểm soát, can thiệp của chính quyền đối với các tôn giáo, trả tự do cho tất cả tín đồ, tu sĩ còn đang bị giam giữ, v.v...

Và sau cùng, những biện pháp hóa giải của Hà Nội cũng bị chính những thực tế đang diễn ra ở Việt Nam triệt tiêu. Vì một mặt, Hà Nội muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ là họ đang cố gắng cải thiện tình trạng tôn giáo ở Việt Nam, nhưng mặt khác họ lại tiếp tục quản thúc chặt chẽ các vị lãnh đạo trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đàn áp Giáo Phái Tin Lành Mennonite, bắt giam Mục Sư Nguyễn Hồng Quang,... Đáng kể nhất là lá thư của Thượng Tọa Thích Thiện Minh gởi Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ. Là một người đã ở tù trên nửa đời người, Thượng Tọa Thiện Minh đã chia sẻ những kinh nghiệm, những bằng chứng cho thấy Hà Nội không hề có thiện chí cải thiện quyền tự do tôn giáo.

Lá thư của Thượng Tọa Thiện Minh và hàng loạt những tố cáo khác từ trong nước chắc chắn gây một ảnh hưởng không nhỏ đối với quyết định của chính phủ Hoa Kỳ vào ngày 15/3 tới đây. Một áp lực khác cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đối với quyết định của Hoa Kỳ là khối cử tri người Mỹ gốc Việt. Trong một chế độ dân chủ như Hoa Kỳ, tiếng nói của cử tri có ảnh hưởng trực tiếp lên chính sách đối ngoại của nước này. Hiện nay, nhiều tổ chức, đoàn thể trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đang mở ra các cuộc vận động giới dân cử và chính quyền Mỹ phải lấy một số biện pháp trừng phạt Hà Nội vào ngày 15/3 tới đây.

Quyết định của Hoa Kỳ sẽ ra sao hẳn nhiên còn tùy thuộc vào quyền lợi kinh tế và ngoại giao của nước này đối với Việt Nam nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung. Nhưng dù Hoa Kỳ quyết định ra sao, điều chắc chắn là áp lực từ phía Hoa Kỳ và thế giới đối với Việt Nam về vấn đề tôn giáo chỉ có tăng chứ không giảm.

Mặt khác, dù quyết định này ra sao, cuộc chiến giữa niềm tin và bạo lực sẽ còn tiếp diễn và chiến thắng sau cùng sẽ là chiến thắng của niềm tin. Thật vậy, khi được nghe những lời nói đầu tiên của những người đã trải qua hơn nửa đời sống trong lao tù như Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy hay Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, ai cũng thấy được niềm tin vẫn nóng bỏng trong lòng của họ. Khủng bố, ngục tù đã không sao hủy diệt được niềm tin này. Niềm tin của họ, cũng là niềm tin của cả dân tộc, sẽ là yếu tố quyết định cho chiến thắng sau cùng trên đất nước Việt Nam.

Nguyễn Ngọc Đức

 


Thư gửi Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ
THƯỢNG TỌA THÍCH THIỆN MINH -
(LÊN MẠNG THỨ BA 1 THÁNG BA 2005)

Thượng Tọa Thích Thiện Minh, tù nhân lương tâm mới được VN "đặc xá" hôm 2-2-2005 vừa qua nhân dịp Tết Ất Dậu và do áp lực quốc tế, gửi một thỉnh nguyện thư đến Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF) đề nghị đừng sớm lấy tên CSVN ra khỏi danh sách "các nước cần quan tâm đặc biệt" vì chế độ Hà Nội chỉ có "dân chủ trá hình."

Thượng tọa Thích Thiện Minh, năm nay 51 tuổi, bị bắt và lãnh án tù từ năm 1979 với bản án tù chung thân rồi năm 1986 lãnh thêm bản án chung thân nữa với cáo buộc chống phá hay âm mưu lật đổ chế độ cộng sản. Nhưng trước các áp lực của chính phủ Mỹ và Liên Âu, CSVN đã phải giảm án tù và Thượng tọa đã ở tù 26 năm. Dưới đây là nguyên văn thỉnh nguyện thư của TT Thiện Minh :

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Phật lịch 2548, Việt Nam : Ngày 21 tháng 2 năm 2005

 Thỉnh nguyện thư

Kính gửi Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ

2005-02-21

Tôi là tăng sĩ Thích Thiện Minh thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất , 51 tuổi, thế danh Huỳnh Văn Ba, sinh năm 1955, sinh quán Bạc Liêu, thường trú : Chùa Vĩnh Bình, ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Hiện tạm trú số nhà 89/353, khóm 10, phường 1, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Bị bắt ngày 28-03-79, được trả tự do ngày 02-02-2005. Nhân danh tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm và là nhân chứng sống trong suốt gần 26 năm tại nhà tù của cái gọi là chế độ "ưu việt XHCH Việt Nam." Hôm nay tôi gửi thỉnh nguyện thư này đến ủy ban với nội dung như sau :

Vì sự an nguy và tồn vong của dân tộc và đạo pháp, vì công bố lý tưởng hòa bình và khát vọng tự do của đồng bào Việt Nam mà nhân dân miền Bắc đã âm thầm chịu đựng hơn 70 năm qua, nhân dân miền Nam gần 30 năm sống khổ nhục đau thương dưới ách cai trị bằng lưỡi lê, bằng họng súng của chế độ độc tài đảng trị. Tất cả các tôn giáo đã lâm cơn "Ðại pháp nạn" trong đó có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Bản thân tôi cũng là một nạn nhân suốt hơn 1/4 thế kỷ bị lưu đày biệt xứ khổ sai, những nỗi khổ trong chốn lao tù xiềng xích chắc hẳn không có bút mực nào tả xiết, mặc dù bị đánh đập, bị gông cùm, xiềng xích chân tay... Nhưng họ không thể trói buộc được trái tim bất khuất của sứ giả Như Lai, của người con Phật này, dẫu biết rằng tôi đã trả giá quá đắt cho sự tự do, một cuộc dấn thân, đấu tranh giữa sự sống và cái chết, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa mê lầm và giác ngộ, nhiều lúc tưởng chừng như xác thân vô thường này không chịu đựng nỗi với thời gian ; cũng chỉ vì mục tiêu đòi hỏi Tự do, Dân chủ, Nhân quyền và Tự Do Tôn Giáo cho hàng triệu đồng bào dân tộc Việt Nam chứ không vị kỷ riêng mình.

Trong những năm đầy cam go thử thách này, những người yêu nước, yêu đạo chân chính đều được nhà nước Cộng sản Việt Nam đáp lại bằng sự đàn áp, cô lập, quản thúc và tù đày, họ xung công quản lý nhiều chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, tôn miếu, các tự viện của các tôn giáo tại Việt Nam. Những hậu quả ấy vẫn còn tồn tại đến nay. Nhà nước Việt Nam vẫn chưa có chính sách giải quyết thỏa đáng ! Gần như "dậm chân tại chỗ". Ðặc biệt, ngoại trừ một số tu sĩ cầu an, tiêu cực chạy theo Ðảng, làm thành viên Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, làm đại biểu Hội đồng Nhân dân, hay đại biểu Quốc Hội hoặc những cán bộ Cộng Sản mượn áo nhà tu để nhập vai hoạt động cho Ðảng, thì họ sẽ được sống an nhiên vô sự mà còn có hậu thuẫn của đảng Cộng sản nữa.

Rõ ràng rằng dưới chế độ Cộng sản bất cứ ai muốn yêu nước, yêu đạo bắt buộc phải yêu Ðảng. Nếu yêu nước, yêu đạo mà không yêu đảng Cộng sản, tất nhiên sẽ bị quy kết là phản động, là âm mưu lật đổ chính quyền, là xâm phạm an ninh quốc gia, là sẽ bị theo dõi, là theo đế quốc Mỹ, sẽ bị bắt, sẽ bị tù đày và bị đưa đi cải tạo hoặc bị mọi áp lực chẳng chóng thì chầy khó ai tránh khỏi đại nạn này. Họ sao chép lại mô hình "ái quốc trung quân" của các thời đại phong kiến cổ xưa nhưng ma mị, thâm độc hơn. Vì đặc quyền đặc lợi của tập đoàn siêu quyền lực trong bộ chính trị, họ ra sức tuyên truyền mở rộng dân chủ trá hình để làm các vỏ bọc cho giới lãnh đạo lũng đoạn cộng đồng, mang màu sắc siêu phong kiến kiểu mới. Chính đảng Cộng sản đã xác nhận có nhiều sai lầm trong cái gọi là thời kỳ quan liêu bao cấp, nhưng đến nay sự vi phạm nhân quyền đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, các quyền tự do cơ bản của con người, những điều ước quốc tế mà họ đã cam kết nhưng vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện tiến bộ, điển hình như : Các vị lãnh đạo cũng như thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vẫn còn bị quản chế, quản thúc tại địa phương, trong số đó :
1. Ðức Tăng Thống Hòa thượng Thích Huyền Quang tại Bình Ðịnh.
2. Ngài Viện trưởng Viện hóa đạo Hòa thượng Thích Quảng Ðộ tại Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn.
3. Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ tại Già Lam.
4. Thượng tọa Thích Không Tánh tại chùa Liên Trì, Quận 2.
5. Thượng tọa Thích Huệ Ðăng tại nhà số 242/20 đường Bùi Viện, Quận 1, Sài Gòn.

Riêng bản thân tôi khi bị cầm tù thì ngôi chùa đã bị chiếm dụng xây cất một trường Trung học, tài sản bị tịch thu, tịch thu cả một bảo vật vô giá là tượng đồng đen 64 kg, khi ấy gia đình các em tôi bị nhiều lần xua đuổi, cô lập, đòi giải tỏa, v.v.. chỉ vì có quan hệ thân nhân. Những mái tranh nghèo đơn sơ nhiều năm dài không thể ngoi đầu lên với cái xã hội nhiều định kiến...

Khi trả tự do, họ buộc tôi phải về gia đình các em ruột, họ bắt buộc các em tôi phải làm cam đoan, cam kết, dùng tình cảm thân nhân để hạn chế mọi tự do cá nhân trong thường nhật...

Hiện nay mỗi khi rời nhà ra đi thì có công an theo dõi, chẳng hạn như ngày 16-02-2005 vừa qua, tôi lên Sài Gòn để siêu âm bệnh ung bứu, chỉ đi một ngày thôi mà công an Phường 1, Quận Tân Bình và công an Quận này đã khám xét nhà, lập biên bản tạm trú bất hợp pháp, mời tôi và chị ruột là Huỳnh Thị Hai phải đến phường làm việc, điều tra. Lúc đi khám bệnh tại trung tâm Ung Bứu cho đến lúc về nhà chị, kể cả lúc lên xe về Bạc Liêu, lúc nào cũng có công an trực chiến 100% và trực tiếp tại nhà chị tôi ! Khi về đến Bạc Liêu thì công an tỉnh tên Minh lại mời em rể thứ tư của tôi thuyết phục để giám sát tôi. Trong một ngày rời khỏi nhà đi khám bệnh, công an điện liên tục hỏi thăm các em tôi đủ mọi điều. Sự theo dõi này khiến tôi cảm thấy tưởng chừng như đang bị cầm tù trong một nhà tù mới khác hơn trại tù cũ mà thôi ! Chính vì thế mà đợt thả tù vừa qua, các vị như Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, Linh mục Nguyễn Văn Lý, và Giáo sư Nguyễn Ðình Huy cũng chẳng khác gì hoàn cảnh của tôi hiện nay. Chính nhiều lúc tôi cảm thấy bất an cho tính mạng của mình. Và theo tôi, sự trả tự do mà còn giám sát quá gắt gao như thế có phải chăng là trò lừa bịp dư luận, vả lại quí vị được trả tự do cũng ở gần sắp mãn án tù, chỉ riêng tôi là còn hơn 2 năm thôi.

Ngoài ra hiện tại ở nhà tù trại giam Xuân Lộc Z30A, K3 này còn khoảng 60 người tù chính trị, trong đó còn có một số vị chức sắc tôn giáo như :
1. Linh mục Phạm Minh Trí 66 tuổi, ở tù gần 18 năm, bị tâm thần điên loạn hơn 10 năm (Dòng Ðồng Công).
2. Linh mục Nguyễn Viết Huân 56 tuổi, ở tù gần 18 năm (Dòng Ðồng Công).
3. Cụ Ngô Văn Ninh 87 tuổi, Hội trưởng Giáo Hội Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.
4. Lê Văn Chương42 tuổi, là tu sĩ thuộc Giáo hội Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương.
5. Nguyễn Văn Sĩ 42 tuổi, Pháp danh Thích Thiện Tâm (Nam Tông) ở Campuchia về nước hoạt động trong Ðảng Nhân dân Hành động.
6. Lê Văn Tính 66 tuổi, cán bộ ban giảng huấn giáo lý thuộc Phật giáo Hòa Hảo, tham gia tổ chức Ðảng Nhân Dân Hành Ðộng, ông đã và đang bị giam riêng hơn 5 năm qua vì tội khiếu nại phản đối vụ án bắt oan những người đấu tranh cho Tự do dân chủ.

Ngoài ra còn một vài cư sĩ cao tuổi như :
7. Mai Xuân Khánh 64 tuổi (Thiên Chúa giáo).
8. Phương Văn Kiến 71 tuổi (Phật giáo Hoà Hảo).
9. Trần Văn Thiêng 67 tuổi (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất).

Với tuổi cao như thế và bản án lâu dài, cho dù có được trả tự do khi trở về với tấm thân gầy guộc chỉ làm khổ thêm sự gánh nặng của gia đình. Chứ, những năm trước đây tôi cũng đã từng chứng kiến có những người chỉ đến nhà tù một lần thôi, thì đã vĩnh viễn ra đi về miền đất lạnh mà không trở lại quê nhà, hay giáo đường hoặc thánh thất... Chẳng hạn như :
1. Linh mục Nguyễn Văn Vàng dòng Chúa Cứu Thế, nhà hùng biện phương Ðông, ăn 1 chén cơm chan ngập nước muối đậm đặc, phát nước một ngày hơn 1/2 lít không đủ uống. Vị linh mục này tự uống cả nước tiểu của mình và bị phù nề té chết (tại nhà giam trại Xuân Phước, Phú Yên).
Linh mục Nguyễn Quang Minh nhà thờ Vinh Sơn chỉ vì mang vào trại vài chiếc bánh thánh đã bị giam nơi kỷ luật. Ngài bị đánh ra máu miệng cả hậu môn rồi chết (tại nhà tù Xuân Phước, Phú Yên).
3. Linh mục Nguyễn Luân tỉnh Phan Rang bị kỷ luật lâu dài nên bệnh phổi mà chết, vì ngủ không chiếu, không màn (tại nhà tù Xuân Phước).
4. Ðinh Văn Kiệp chức Lễ sanh Ðạo Cao Ðài Tây Ninh chỉ vì vài cọng rau ném sang nhà khác trợ giúp đồng cảnh bị đánh tới lao phổi mà chết (tại nhà tù Xuân Phước).
5. Ông Trương Phước Ðức, đạo Cao Ðài, bị giam kỷ luật chết, v.v... và v.v...

Không thể kể hết vì quá đau lòng...

Nói tóm lại ở Việt Nam hiện tại, những quyền cơ bản của con người như quyền Tự do Tôn giáo, quyền tự do đi lại, quyền tự do báo chí, quyền hội họp, quyền lập hội ngoài Ðảng, chưa được thực hiện hay nói đúng hơn là Hiến pháp nhà nước Việt Nam điều nào cũng nói, nói rất hay, kể cả quyền biểu tình, quyền dân sự và chính trị.v.v.nhưng chưa được tôn trọng trên thực tế. Chính vì những ưu tư đầy bức xúc nói trên, hôm nay tôi gửi Thỉnh nguyện thư này đến Ủy Ban Tự Do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, xin quí ngài đừng sớm loại Việt Nam ra khỏi "các nước đặc biệt được quan tâm" mà hãy có thời gian thử thách, vì Cộng sản Việt Nam có quá nhiều mưu mô xảo quyệt kẻo quốc tế bị lầm ! Ngoài ra xin quí ngài can thiệp trực tiếp với nhà cầm quyền Việt Nam các điểm sau :

1. Trả tự do cho tất cả thành viên các tôn giáo nói trên (kể cả tù chính trị) đang còn bị giam giữ trong nhà tù Cộng sản một cách vô điều kiện.

2. Ðòi phục hồi sự hoạt động hợp pháp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, để minh chứng xem Việt Nam có thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo mà họ đã ban hành hay không ?

3. Chúng tôi được quyền tự do thăm viếng các vị cao tăng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mà không bị hạn chế hay bị cấm cản của chính quyền.

4. Hủy bỏ nghị định 31/CP của chính phủ về việc quản chế hành chính tại địa phương.

5. Tu chính Pháp lệnh Tôn Giáo.

6. Tu chính Pháp lệnh thi hành án phạt tù, cho mở thư viện, có đủ sách báo, kể cả ngoại ngữ để tù nhân có thể cập nhật và nâng cao kiến thức của mình.

7. Ban hành quy chế và đối sách đặc biệt đối với tù nhân chính trị và tù lương tâm cho phù hợp với luật pháp quốc tế.

8. Cải thiện chế độ lao tù, vì tiêu chuẩn dành cho tù nhân rất eo hẹp, thiếu chất dinh dưỡng (còn bị nạn ăn cướp cơm chim).

9. Thay đổi, hủy bỏ điều 4 trong Hiến pháp để thực hiện một chế độ Ða đảng, Ða nguyên bình đẳng nhau trong các Ðảng phái, không phải Ðảng Cộng sản là đảng duy nhất cầm quyền.

10. Tổng tuyển cử tự do dưới sự giám sát của Quốc tế đôi bên đồng bộ chủ trương tình thương nhân đạo và hoá giải hận thù, thực hiện chính sách hoà giải hoà hợp dân tộc. Ðối thoại thay (cho) đối đầu. Chia sẻ thay (cho) chia rẽ. Xoá bỏ quan điểm cực đoan hay quá khích, cầu đồng tồn vị, hiệp thương cộng thức, thực hiện ôn hoà tiến bộ. Nhưng phải trên nguyên tắc đồng đẳng, bình đẳng và tôn trọng công bằng là lẽ tối ưu trong tình tự dân tộc, nhất là vào những năm hoá giải và khoan dung của bước thềm thiên niên kỷ mới, phù hợp với xu thế của thế giới mới ngày nay.

Sẵn đây cho tôi kính lời cảm ơn ông Amor, Trưởng Ðoàn Nhân Quyền phụ trách về tôn giáo (1) đã đến gặp tôi và Thượng toạ Thích Không Tánh tại trại giam Xuân Lộc vào ngày Chủ Nhật 24-10-1998. Cuối cùng thay mặt tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm, thay mặt 80 triệu đồng bào Việt Nam, kính mong thiên chức sẵn có của quí ngài hãy góp phần giải cứu cho quê hương Việt Nam sớm thoát qua cảnh lầm than cơ khổ. Tôi xin chân thành cảm ơn và tán thán công đức nhiệt tình quan tâm của quý ngài.Xin cầu nguyện 10 phương chư Phật khai thị Phật tính cố hữu của Bộ Chính Trị Ðảng Cộng sản Việt Nam để dân tộc Việt Nam được sống thực sự tự do trong cảnh thanh bình.

Trân trọng.

Thỉnh nguyện
(ký tên)
Thích Thiện Minh

Bản sao kính gởi :
- Hoà thượng Viện trưởng Viện Hóa Ðạo.
- Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris." để kính thẩm tường"

Chú thích
(1) : Tức Giáo sư Abdelfattah Amor, Báo cáo viên LHQ Ðặc nhiệm Tự do Tôn giáo trên Thế giới đến Việt Nam điều tra về vấn đề đàn áp tôn giáo tháng 10 năm 1998. Sau chuyến điều tra, Giáo sư đã đọc bản Phúc trình về vấn đề đàn áp tôn giáo tại Việt Nam trước khóa họp thường niên của Ủy hội Nhân quyền LHQ tại Geneva tháng 3 năm 1999

 

Vụ Kiện Hóa Chất Da Cam Đâu Là Sự Thật ?
Mai Thanh Truyết -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Trong suốt năm qua, Hà Nội đã phổ biến rầm rộ khắp nơi, trong nước cũng như trên thế giới, những hình ảnh thương tâm của những người mà họ nói là nạn nhân của hóa chất da cam và từ đó phát động một cuộc thưa kiện đòi Hoa Kỳ bồi thường.

Khi nhìn những hình ảnh này, ai ai cũng rất xót xa, nhưng chúng ta cần phải tỉnh táo để truy tìm cho đúng nguyên nhân đã tạo ra những nỗi đau này. Do đó, chúng tôi xin đăng tải dưới đây bài tổng hợp những nghiên cứu công phu và khoa học của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết thuộc Hội Khoa Học và Kỹ Thuật tại Hoa Kỳ để rộng đường dư luận.

Vào tháng 1/2004, Việt Nam qua Hội Nạn Nhân Chống Da Cam Việt Nam đã kiện 37 công ty hóa chất Hoa Kỳ. Nhưng thật sự từ năm 1962, CS Việt Nam đã bắt đầu xách động chiến dịch tố giác Hoa Kỳ phun xịt chất Da cam làm chết người. Ngay khi chiến dịch Ranch Hand phát động được vài tháng, ngày 10/12/1962, GS Trần Hữu Tước ở Hà Nội đã kêu gọi trên Đài phát thanh Hà Nội bằng Anh ngữ như sau : "Chúng tôi báo động các nhà khoa học trên thế giới rằng Mỹ Diệm đã sử dụng chất hóa học ở miền Nam. Đó là chất màu xám như khói, và chất màu trắng như hơi nước tàn phá mùa màng, cây cỏ, rừng, và gây thương tích và làm thiệt mạng người và thú vật. Đối với cây cỏ, trong vòng 14 tiếng đồng hồ sau khi thuốc được rải xuống, là cây rừng vàng úa và rơi rụng ; loại cây nhỏ chết ngay từ ngọn đến rễ. Cây ăn trái như cam quít bị cứng khô và chết. Người lớn bị ảnh hưởng chất hóa học bị nghẹt thở, ói mửa, ngất xỉu, hoặc ngã bịnh từ 20 tiếng dồng hồ đến 4 ngày. Trẻ con bị bịnh, xuất huyết hay chết. Gà, vịt, heo, chó và các thú vật khác uống nhầm nước có chất độc đều bị chết."

Và tin tức được suy diễn như sau, ngay sau bản tin trên : "Cho đến nay, gần 500.000 (năm trăm ngàn) người, hầu hết dân số của tỉnh Kiến Hòa (dân số của tỉnh Kiến Hòa theo "thống kê" của Hà Nội) đều bị ảnh hưởng ít nhiều hay trầm trọng. 46 ngàn nạn nhân hầu hết là trẻ con, đàn bà và người già đang trong tình trạng nguy ngập, bị ngứa cả người, ói mửa và sưng cả người. Thân thể của bà Khai tại GiồngTrôm bị sưng phù không thể đi đứng được. Các con của ông Tài, 2 trai và 1 gái đã chết vì ăn nhầm trái cây bị nhiễm độc, v. v..."

Đây là kết quả rất "chính xác" của phía Hà Nội về ảnh hưởng của chất Da Cam ngay trong giai đoạn đầu tiên !

Phiên tòa Brooklyn ngày 28/2/2005

Ngày 28/2/2005 là phiên tòa đầu tiên tại tòa án Brooklyn, New York. Ông Chánh án Jack Weinstein lần lượt nghe các điều trần và trình bày quan điểm của các thành phần liên quan đến vụ tranh tụng về ảnh hưởng của chất độc Da Cam/Dioxin, theo thứ tự sau đây :

- Bên Bị đơn tức Luật sư Đại diện của 37 công ty hóa chất HK trình bày trong 3 giờ ;

- Đại diện chính phủ HK, 30 phút ;

- Đại diện Hội cựu Quân nhân HK, 1 giờ 30 phút ;

- Nguyên đơn tức Hội Nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin Việt Nam, 1 giờ 30 phút ;

- Các câu hỏi của những người dự khán, 30 phút ;

- Tuyên bố của Ông Chánh Án, 30 phút ;

Phiên tòa đã diễn ra đúng 11 giờ sáng, giờ New York và có khoảng 100 người tham dự gồm tất cả luật sư bên Nguyên và Bị đơn, luôn cả truyền thông và báo chí dự khán. Phái đoàn Việt Nam và nhân viên tòa Đại sứ chiếm khoảng 30 người. Đặc biệt có sự hiện diện của nạn nhân đứng đầu tên trong danh sách 27 nạn nhân trong đơn kiện là Giáo sư Phan Thị Phi Phi.

Chúng tôi có gửi những câu hỏi và nhờ một thông tín viên (TTV) có mặt tại tòa án chuyển đến các Đại diện của hai bên và GS Phi Phi, để thông tín viên nầy, khi có điều kiện gặp gỡ ngoài hành lang tòa án có thể đặt câu hỏi.

TTV đã gặp luật sư Andrew Frey, Đại diện cho công ty Dow Chemical Company và có ghi nhận được câu trả lời đại ý như sau : Chất Da cam không nguy hiểm cho con người vì là "herbicides". Chất này đã được nghiên cứu kỹ trước và được quốc hội HK chấp thuận trước khi quyết định cho sử dụng trong chiến dịch Ranch Hand trong chiến tranh Việt Nam. Luật sư còn thêm rằng vấn đề có thể được giải quyết bằng những thương thảo ngoại giao (diplomatic negociations) chứ không thể giải quyết bằng luật lệ.

Về phía Nguyên đơn, tức là Hội Nạn nhân chất độc Da cam/dioxin Việt Nam, TTV đã gặp trực tiếp luật sư Kokkoris và hỏi làm thế nào LS có thể chứng minh và trưng dẫn những bằng cớ khoa học cụ thể trong cuộc tranh tụng này. LS Kokkoris trả lời vắn tắt rằng (đại ý) : Chất Da Cam đã gây thương tật cho thường dân và Bộ đội trong thời gian chiến tranh và còn ảnh hưởng đến ngày hôm nay qua việc tiếp nhiễm của thực phẩm như tôm cá gà vịt... cũng như nguồn nước đã bị nhiễm độc. Tôi đứng về phía 4,8 triệu nạn nhân Việt Nam.

Về Bà GS PT Phi Phi, chúng tôi có hỏi tại sao Bà biết được khi Bà bị xẩy thai 4 lần là do chất độc Da cam. Bà trả lời bằng tiếng Việt đại ý như sau : chính người Mỹ còn chưa xác định được rõ ràng, tôi không biết những gì đã xảy ra cho tôi, cũng như tại sao tôi lại bị như vậy (xẩy thai) và tôi chỉ biết là tôi bị nhiễm độc Da Cam ? ? ? Sau đó Bà được luật sư Kokkoris nắm tay dẫn đi, không cho TTV hỏi tiếp. Bà Phi Phi đã từng là bộ đội hành quân trong vùng Quảng Ngãi khoảng 2 năm. Sau chiến tranh, bà về lại Bắc Việt và ngụ tại Hà Nội, lập gia đình và khai là bị xẩy thai 4 lần trong thập niên 70... Như vậy là bà đã bị nhiễm độc Da Cam ?

Về phía ông Chánh Án Weinstein, ông đã tỏ rõ nhiều chỉ dấu hoài nghi về tố tụng việc sử dụng chất Da cam là vi phạm luật quốc tế Nuremberg (vì phía Nguyên đơn trong hồ sơ đã cố tranh biện là chất 2,4,5-T là một độc chất (poison) chứ không phải là hóa chất diệt cỏ (herbicides). Ông tuyên bố là sẽ công bố quyết định của tòa án trong vòng vài tuần lễ tới đây.

Về phía người tham dự, họ tin tưởng vào sự sáng suốt của tòa án trong quyết định sau cùng.

Cũng cần nên nói thêm là Bộ Tư pháp HK bày tỏ ý kiến là cần phải hủy bỏ vụ tranh tụng này để khỏi trở thành một vụ kiện tập thể qua biện dẫn là nếu các tòa án HK xử các vụ kiện tụng liên quan đến kẻ thù trong thời chiến có thể ảnh hưởng đến quyền hạn của Tổng thống và có thể tạo thành một tiền lệ không thuận lợi trong tương lai.

Từ Một Quyết Định Bí Mật Quốc Gia Đến Sự Thành Lập Hội Nạn Nhân Chất Da Cam

Ngày 21 tháng 10 năm 2003, dưới nghị định số 212/2003/QĐ-TTg, Thủ tướng CSVN lúc bấy giờ đã ký Quyết định của thủ tướng chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật trong lãnh vực tài nguyên và môi trường. Quyết định gồm 4 điều thu gọn trong hai trang giấy, trong đó Điều I quy định những điều mật như sau :

- Điều I/1 Về tài nguyên nước gồm có : tài liệu về điều tra cơ bản trên sông, suối, nguồn, mốc biên giới.

- Điều I/2 Về tài nguyên môi trường gồm : tin, tài liệu về chủ trương của Đảng và Nhà nước liên quan đến hoạt động khắc phục hậu quả chất độc hóa học sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam không công bố hoặc chưa công bố.

Nội dung của Quyết định này đã gây rất nhiều bận tâm và khó khăn cho những người làm khoa học trong nước lẫn hải ngoại, những người Việt chân chính có nhiều trăn trở đến những vấn nạn của Đất và Nước nhất là trong lãnh vực môi sinh. Kể từ nay, nỗi bận tâm và khó khăn này có thể làm chùn bước họ trong nghiên cứu, điều tra, hay theo dõi các vấn nạn môi trường có thể tác hại đến việc phát triển đất nước và làm chậm lại tiến trình hội nhập vào toàn cầu hóa thế giới. Đây cũng có thể là một thiệt hại lớn cho quốc gia vì từ nay những thông tin sẽ chỉ xảy ra một chiều, do đó có thể không còn tính trung thực và chính xác. Và sau cùng, khi áp dụng vào trong chính sách hay kế hoạch quốc gia, Việt Nam sẽ đi ngược lại chiều hướng tiến bộ của thế giới. Tương tự như quyết định trên, ngày 10 tháng 1 năm 2004, Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam ra mắt tại Hà Nội qua quyết định của Bộ Nội Vụ ngày 17/12/2003 đã làm xôn xao dư luận cả trong nước lẫn ngoài nước.

Ban chấp hành Hội gồm :

- Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự ;

- Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch ;

- Giáo sư Bác sĩ Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng y tế, Chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ làm Phó chủ tịch ;

- Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Nguyễn Thị Bình đã khẳng định rõ ràng rằng : Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hóa học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức, và pháp lý ; Những người phục vụ chính thể VNCH cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp. và chỉ 20 ngày sau đó, Hội đã nộp đơn kiện 37 cơ sở sản xuất hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn (New York). Danh sách các hãng bị kiện còn đang được kéo dài thêm ra.

Trong đơn kiện, hiện tại có ba nguyên đơn :

- Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội, lý do là đã bị 4 lần sẩy thai từ năm 1971-1973 ;

- Nguyễn Văn Quy, cựu chiến binh, ung thư phổi, đứng đơn cùng với hai con ;

- BS Dương Quỳnh Hoa, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam, bị ung thư vú và một đứa con dưới một tuổi bị chết trong mật khu. Được biết BS Hoa và một trong những người chồng là GS Huỳnh Văn Nghị là sinh viên du học tại Pháp và đã từng gia nhập Đảng CS Pháp trước khi về nước. Khi về lại Việt Nam, ông bà có khuynh hướng thân Cộng và đã vô bưng ngay sau Tết Mậu Thân (1968). Đứa con của bà tên Huỳnh Trung Sơn được sinh ra trong thời gian sau đó và chết trong mật khu. Bà cũng đã từng trả lại thẻ đảng và im lặng trong hơn 10 năm sau đó (theo lời tuyên bố của bà trên báo Le Monde, Pháp). Còn GS Nghị, sau 75, đã được gửi đi học trường đảng và được đề nghị vào chức vụ Bộ trưởng kinh tế, nhưng ông đã từ chối. Ông cũng thường tâm sự với bạn bè ở thời điểm 1976 là "các toa nếu muốn chạy ra nước ngoài thì cứ đi đi, nếu để lâu thì sợ không còn kịp nữa". Trong đơn kiện có ghi nồng độ dioxin trong máu của Bà Hoa được phân tích tại Đức năm 1999 là 20 ppt ; và không biết bằng phương pháp loại suy nào mà nồng độ này đã được BS Schecter ước tính ngược trở lại nồng độ dioxin trong máu của bà trong năm 1970 là 300 phần ức (ppt) tức một phần ngàn của một phần tỷ. Trong lần trao đổi với bà vào cuối tháng 5/2004, bà Hoa tuyên bố là bà không bao giờ đứng ra kiện vụ này và cho biết thêm là con của bà bị chết vì đau màng óc mà không có thuốc chữa trị chứ không phải vì chất da cam. Bà còn cho biết một chi tiết khác là khi làm thử nghiệm tại Hoa Kỳ năm 1972, nồng độ dioxin trong máu của bà dưới mức bình thường, dưới 2ppt ! ! !

Thêm nữa, các nguyên đơn có nêu ra lý do là bị nhiễm độc qua đường thức ăn căn cứ vào khám phá mới nhất của BS Schecter (Dallas), trong việc phân tích 16 mẩu động vật như gà, vịt, cóc, heo, bò, tôm, cá. Kết quả phân tích trên đã được đăng tải trên tạp chí nghiên cứu y khoa môi trường JOEM số tháng 4/2004. Người viết qua Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VAST) đã phản bác lại tính trung thực của bài nghiên cứu trên của BS Schecter qua các sự kiện điển hình sau : một số mẩu được ghi nhận trên tạp chí là đã được lấy từ hồ Biên Hùng (Biên Hòa), nhưng qua sự liên lạc giữa chúng tôi và BS Schecter cũng như BS Hoàng Trọng Quỳnh, người đi lấy mẩu là không hề có sự hiện hữu của hồ Biên Hùng ở Biên Hòa ( ?) ...

Thêm nữa, trong 16 mẩu đã được phân tích, chỉ có 6 mẩu có sự hiện diện của dioxin với nồng độ vài trăm ppt, trong lúc đó ở tất cả 16 mẩu, những hóa chất độc hại tương tự như DDT, PCB, HCH có nồng độ cao gấp ngàn lần hơn nồng độ dioxin mà không được tác giả nghiên cứu nhấn mạnh. Chúng tôi cũng có xin được những tài liệu đã giải mã từ Bộ Quốc phòng HK về tai nạn thất thoát 7000 Gallons chất da cam cũng như tọa độ của nơi xảy ra tai nạn ở một địa điểm trong phạm vi phi trường Biên Hòa năm 1970. Trong báo cáo có ghi nhận nồng độ của dung dịch chất da cam thất thoát là 106 mg/l (đo đạc năm 1970). Trong báo cáo khoa học của BS Schecter, kết quả phân tích của ông về nồng độ của dioxin trong đất tại địa điểm nầy là 1,6 mg/kg (phân tích năm 2002). Biết rằng lượng dioxin trong chất da cam là 50 mg/l (50 phần triệu). Do đó, nồng độ của chất da cam tính toán theo dữ kiện của BS Schecter là 32 g/kg. Từ hai số liệu 106 mg/l và 32g/kg (tương đương 32g/l) của Bộ QPHK và Báo cáo của BS Schecter (302 lần lớn hơn), mỗi người trong chúng ta sẽ tự tìm ra câu kết luận !

***

Sau đây là quan điểm của chúng tôi về vấn đề chất độc da cam. Trong hơn 20 bài viết rải rác từ hơn 6 năm qua liên quan đến vấn nạn dioxin chúng tôi đã từng khai triển nhiều nghịch lý của đại nạn trên, xin được tóm tắt như sau : Chất da cam được phun xịt ở miền Nam vĩ tuyến 17 trong chiến dịch Ranch Hand từ năm 1961 đến 1971. Nồng độ của dioxin nguyên chất được Hội đồng y khoa Hoa Kỳ ước tính là từ 170 đến 180 kg trong 72 triệu lít của dung dịch đã được phun xịt trải dài trên một diện tích khoảng độ 23.500 km2. Cũng qua Hội đồng nầy, thời gian bán hủy của dioxin là 7 đến 10 năm. Như vậy, câu hỏi được đặt ra là dioxin có còn tồn tại trong đất hay trầm tích sau gần 40 năm chiến tranh hay không ?

Cũng trong một nghiên cứu khoa học khác, BS Schecter đã khám phá là nồng độ dioxin trong máu người dân Biên Hòa cao gấp 203 lần nồng độ trong máu người dân Hà Nội (406 so với 2 ppt). Thêm một câu hỏi nữa được đặt ra là tại sao tuyệt đại đa số nạn nhân chất da cam cư trú tại miền Bắc trong lúc đó cư dân ở miền Nam thì bị nhiễm độc trầm trọng về hóa chất này ? Đặc biệt hơn nữa, đa số nạn nhân da cam được báo chí Việt Nam loan tải nhằm ở lứa tuổi của thế hệ thứ hai hoặc thứ ba, nghĩa là vào khoảng trên dưới 10 tuổi. Đa số là bị khuyết tật, dị hình dị dạng, mù mắt. Theo điều tra của Liên Hiệp Quốc, nạn suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân chính của các bịnh tật trên do sự khiếm khuyết các Vitamin A và B12 cùng acid folic. Điều này đã được LHQ khuyến cáo qua trường hợp của Trung Quốc năm 1970. Thêm nữa, từ khi có chính sách Đổi Mới năm 1986, Việt Nam đã phát triển nông nghiệp và chăn nuôi ồ ạt để giải quyết vấn nạn gia tăng dân số và nhu cầu sống còn của xã hội. Do đó, việc sử dụng các loại phân bón, hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu rầy, diệt nấm mốc, diệt cỏ dại ... đã làm cho môi trường đất, nước, và không khí bị ô nhiễm trầm trọng. Hàng năm Việt Nam đã dùng hơn 9 triệu tấn hóa chất, không kể hàng trăm ngàn tấn nhập lậu mà không biết xuất xứ và chủng loại. Theo Cơ quan Lương nông quốc tế (FAO) Việt Nam cũng đã sử dụng các hóa chất trừ sâu, diệt cỏ có tên chung là thuốc bảo vệ thực vật cao gấp 3,4 lần so với các quốc gia đang phát triển trong vùng. Theo TS Ngô Kiều Oanh, Trung Tâm Khoa Học Tự Nhiên đã nhận định rằng : So với diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam thì chỉ cần 50 ngàn tấn thuốc bão vệ thực vật là quá dư thừa rồi. (VN đã sử dụng khoảng 1,5 triệu tấn cho năm 2001).

Con số nạn nhân da cam công bố cũng là một nghi vấn về tính xuyên suốt của nhà cầm quyền hiện tại. Năm 2002, tại Hội nghị Quốc tế về Dioxin tại Hà Nội, Phan Thúy Thanh, lúc bấy giờ là phát ngôn viên Bộ Ngoại giao đã công bố VN hiện có 2 triệu nạn nhân chất độc da cam. Mà nay, trong đơn kiện (1/2004) các hảng sản xuất hóa chất Hoa Kỳ, Hội Nạn Nhân Chất Da Cam đã nâng con số nầy lên đến 3 triệu trong đó có 462.250 cựu chiến binh ! Sự sai biệt về số liệu cũng như sự vắng bóng về các bằng chứng khoa học đã tự nói lên tính không xuyên suốt của Việt Nam rồi.

Do đó, dù nhìn từ bất cứ góc độ nào, nhãn quan nào đi nữa, Việt Nam cần phải đối mặt với một thực tế là : Thay vì tiếp tục kêu gào, khiếu kiện về ảnh hưởng của bóng ma dioxin trong thời gian chiến tranh cách đây hơn 30 năm, Việt Nam cần nên rà soát lại chính sách phát triển kinh tế trong nông nghiệp, chăn nuôi, và công nghiệp. Chính việc phát triển ồ ạt, thiếu kiểm soát, không kế hoạch, thiếu nghiên cứu tác động môi trường mới chính là nguyên nhân của tình trạng môi sinh bị xuống cấp gây di hại đến sức khoẻ người dân không những trong hiện tại mà còn di hại đến nhiều thế hệ trong tương lai nữa. Hơn bao giờ hết, Việt Nam cần nên vận dụng sự trợ giúp của Liên Hiệp Quốc để nghiên cứu và truy tìm mức ô nhiễm hóa chất đang sử dụng ở trong nước, trong đó có thể có sự hiện diện của dioxin qua một số công nghệ sản xuất nhất là kỹ nghệ giấy để từ đó có thể kết luận về nguyên nhân đích thực của tình trạng nhiễm độc.

Ông Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ chính trị đảng CSVN, Bí thư thành ủy tp HCM tại Trung tâm thông tin công tác tư tưởng, ngày 5/2/2004 đã nói lên quan điểm hơi "lạ tai" như sau : Tổ chức các buổi thảo luận, tiếp nhận những ý kiến đóng góp hiến kế, và những thông tin trái chiều, những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, Đảng ta luôn luôn đón nhận điều hay lẽ phải từ cuộc sống với tinh thần cầu thị, khoa học, và đổi mới ... và cần đối thoại với những người có suy nghĩ khác với tinh thần cởi mở, bình tĩnh, tránh định kiến theo kiểu quy chụp. Hy vọng đây là những lời phát xuất từ tận đáy lòng của những người Cộng sản Việt Nam. Và quyết định về danh mục bí mật nhà nước sẽ được thu hồi trong một thời gian gần đây để mọi con dân Việt đều có điều kiện tham gia và giải tỏa các trăn trở về Đất và Nước.

***

Chúng ta chờ xem những gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới. Theo dự kiến của chúng tôi qua suốt thời gian theo dõi vụ tranh tụng từ đầu năm 2004, chúng tôi nghĩ rằng, Ông tòa Weinstein sẽ lấy một trong hai quyết định sau đây :

- hoặc là Ông hủy bỏ hoàn toàn và bác đơn khiếu tố của Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam/Dioxin Việt Nam vì không có cơ sở pháp lý và khoa học để buộc tội các công ty hóa chất Hoa Kỳ qua việc sản xuất chất diệt cỏ 2,4-D và 2,4,5-T ;

- hoặc là Ông tiếp tục cho hai bên Nguyên và Bị cung cấp thêm tài liệu kết tội và phản bác... và phiên tòa sẽ tiếp tục kéo dài thêm ra.

Nếu quyết định thứ nhất xảy ra, chắc chắn là Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam/Dioxin Việt Nam sẽ kháng án và có thể lên đến Tối Cao Pháp Viện HK.

Dù cho quyết định thế nào đi nữa, vụ kiện của Hội Nạn Nhân Chất Độc Da Cam/Dioxin Việt Nam sẽ kéo dài có thể nói là vô hạn định...Và Việt Nam có thể có thêm điều kiện để đánh động lương tâm và lòng nhân đạo của Ềbè bạn khắp năm châuỂ trong mặt trận tuyên truyền với hy vọng dùng vụ kiện làm một chiêu bài và mặc cả với HK trong những cuộc thương thảo chính trị cho quyền lợi của hai quốc gia hơn là thực tâm nhắm vào tình trạng của 4,8 triệu nạn nhân ( ?) của chất độc Da cam.

Kết luận

Với tư cách của một nhà khoa học và nhất là một người Việt Nam, chúng tôi rất đau lòng trước thảm cảnh mà người Việt Nam phải chịu. Nhưng đây có phải thực sự là do hậu quả của dioxin qua chất da cam trong thời chiến hay chỉ là kết quả của việc phát triển bừa bãi và ồ ạt từ sau thời gian mở cửa vào năm 1986 của Việt Nam ? Các hóa chất bảo vệ thực vật là những hóa chất có tính độc hại tương đương như dioxin đang được sử dụng bừa bãi từ Nam chí Bắc. Thiết nghĩ đây mới là nguyên nhân đích thực của tai họa mà 4,8 triệu nạn nhân Việt Nam đang phải gánh chịu (nếu con số này có thật !). Và nếu Việt Nam nhìn nhận đúng đắn vấn đề thì chắc chắn thế giới sẽ không bỏ quên và sẽ có những biện pháp nhân đạo để cứu những nạn nhân kể trên.

Mai Thanh Truyết
Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Hoa Kỳ

 

Cúm Gia Cầm Tiếp Tục Hoành Hành Tại Việt Nam
 (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Lại có thêm nhiều điểm phát dịch cúm gia cầm.

Tin tức ngày 6/2/05 cho hay, dịch cúm gia cầm vẫn tiếp tục lây lan mạnh, và đã có thêm 16 điểm phát dịch mới bộc phát ở 4 tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Hải Dương. Ngày 14/2, cả nước có thêm 16 điểm phát dịch tại 12 xã thuộc 7 huyện của ba tỉnh Hải Phòng, Long An, Bạc Liêu. Trong khi đó, hàng loạt gà vịt không qua kiểm dịch vẫn được chuyển từ Hà Tây và Vĩnh Phúc vào thủ đô Hà Nội. Ngày 22-02 có thêm 17 điểm phát dịch tại 13 xã thuộc 10 huyện của 4 tỉnh Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Trà Vinh. Cho đến nay, dịch cúm gà đang hoành hành ở 33 trong số 64 tỉnh, thành phố trên cả nước.

Thủ tướng CSVN đã gửi công văn chỉ thị cho cả nước tạm dừng nuôi các loại thủy cầm và chim cút, vì Cục Thú Y nhận định, dịch lây lan đa số ở các loài thủy cầm, chim cút và tập trung ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Riêng Sài Gòn đã quyết định thiêu hủy toàn bộ thủy cầm và cấm nuôi các loại này trên toàn bộ địa bàn thành phố, cấm dân chúng ấp trứng, sản xuất con giống, và nuôi mới vịt, ngan, ngỗng, và chim cút có hiệu lực ngay tức thời và vô hạn định.

Virus cúm gà có thể tấn công vào đường ruột và hệ thần kinh

Trong một bản nghiên cứu mới nhất xuất bản trên tạp chí New Medical Journal of Medicine, bác sĩ Menno de Jong cho biết là virus cúm gà có thể tấn công vào các bộ phận khác của cơ thể, như đường ruột và hệ thần kinh, chứ không chỉ có hệ hô hấp như người ta thường nghĩ trước đây.

Chuyên gia y tế nước ngoài cho rằng có thể số ca lây nhiễm cúm gà ở Việt Nam trong thực tế đã cao hơn số thống kê chính thức, và kêu gọi các bác sĩ nên nhìn rộng ra các biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân tình nghi bị cúm gà.

Cái chết của hai em nhỏ năm ngoái đã khiến cho các bác sĩ phải suy nghĩ, tuy hai em không có triệu chứng gì khó thở, nhưng thay vào đó là bị tiêu chảy và viêm não, và có triệu chứng của người bị cúm. Các bác sĩ nghi rằng virus cúm gà đang tìm cách thích ứng, trở nên hung bạo hơn, và đang tìm mọi cách để tấn công cơ thể.

Thêm một điều đáng lo ngại nữa, đó là một bé trai 4 tuổi đã bị lây bệnh từ người chị 9 tuổi. Nếu như cúm gà có thể lây truyền từ người sang người một cách dễ dàng, các chuyên gia y tế cảnh báo là điều này sẽ dẫn tới một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu.

Tổ chức Y Tế Thế Giới hiện đang theo dõi diễn tiến của sự lây lan dịch cúm gà bằng cách để ý đến các bệnh nhân có triệu chứng viêm não và suy giảm đường tiêu hóa.

Việt Nam đang gia tăng công việc nghiên cứu về một loại thuốc chủng ngừa dành cho người do chính Việt Nam sản xuất để có thể mang ra dùng vào cuối năm nay.

Hội Nghị Quốc Tế Về Cúm Gia Cầm Nhóm Họp Tại Sài Gòn.

Một hội nghị quốc tế quy tụ nhiều nhà khoa học và đại diện những nước bị cúm gia cầm đã diễn ra tại Sài Gòn vào ngày 23 đến 25/2 nhằm gia tăng việc tìm hiểu về virus gây bệnh cùng các biện pháp ngăn chận cúm gia cầm.

Hội Nghị đã tiếp đón các phái đoàn và nhiều tổ chức từ hơn 20 quốc gia đến, kể cả những cơ quan LHQ và các nước cấp viện.

Hội nghị do Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc và Tổ Chức Thú Y Thế Giới bảo trợ sẽ tìm kiếm những phương thức cộng đồng thế giới có thể phối hợp trong một chiến lược trường tồn để chống lại loại dịch bệnh này. Cho tới nay đã có 45 người thuộc các nước Việt Nam, Thái Lan và Cam Bốt thiệt mạng vì loại virus H5N1, tức là loại virus gây bệnh cúm gia cầm.

Các cơ quan của Liên Hiệp Quốc kêu gọi cộng đồng thế giới nên đóng góp thêm tài nguyên và tiền bạc để tận diệt một dịch bệnh có thể đe dọa tới toàn thế giới, nếu không sự bộc phát của dịch bệnh cúm gà, đã biến chủng, có khả năng gây thương vong cho từ 2 triệu tới 100 triệu người.

Chính phủ Hoa Kỳ đang sẵn sàng thử nghiệm một loại thuốc chủng ngừa bệnh cúm gà và dự trữ cả thuốc chủng lẫn thuốc chống virus, vào lúc mối đe dọa gia tăng là virus bệnh cúm gà gây chết người này đã và đang bắt đầu lan ra khỏi châu Á. Theo Giám đốc viện bác sĩ Anthony Fauci, thuốc chủng sẽ được thử nghiệm tại các trung tâm ở thành phố Rochester, tiểu bang New York, St. Louis, Maryland và Texas để bảo đảm là thuốc an toàn, cũng như để xác định liều lượng chính xác cho từng nhóm người.

 

30 Năm Sau Vẫn Còn Tranh Đấu.
Nguyễn Học Tập -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Góp ý với Giáo sư Lê Xuân Khoa, nhân bài Viết "30 Năm Sau Vẫn Còn Tranh Luận...")

Nhân đọc trên Diễn Đàn Chính Trị bài viết của Giáo sư Lê Xuân Khoa vào đầu xuân Ất Dậu 2008, "30 Năm Vẫn Còn Tranh Luận : Chiến Tranh của Mỹ hay Chiến Tranh Việt Nam ?", Giáo Sư Nguyễn Học Tập cư ngụ tại Ý xin được đóng góp một vài ý kiến để rộng đường suy luận.

Trước hết qua bài đọc ai cũng thấy rằng Giáo sư Lê Xuân Khoa chia chiến cuộc Việt Nam thành hai giai đoạn, 1945-1954 và 1955-1975. Mỗi giai đoạn được nêu lên với các danh từ xưng hô liên hệ.

- Giai đoạn 1945-1954 là giai đoạn chống ngoại xâm, chiến tranh giành độc lập chống đế quốc Pháp hay "chiến tranh Việt-Pháp".

- Giai đoạn 1955-1975 được dùng khá nhiều danh từ để biểu thị : "chiến tranh chống cộng, chiến tranh chống Mỹ-Ngụy, nội chiến, chiến tranh của Mỹ, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh ủy nhiệm".

Và sau khi liệt kê những danh từ tiêu biểu vừa kể để diễn tả chiến cuộc Việt Nam, Giáo sư Lê Xuân Khoa đề nghị : "Bỏ qua một bên chiến tranh "chống cộng" và "chống Mỹ-Ngụy", chỉ thích hợp trong thời chiến...", Giáo sư Lê Xuân Khoa đề cập đến bốn danh xưng được thường dùng để chỉ chiến cuộc Việt Nam : "nội chiến", "Đồng khởi", "Mỹ hóa""Việt Nam hóa".

Và cũng trên cùng một trang, trang 2, Giáo sư Lê Xuân Khoa xác nhận rằng cuộc chiến ở Việt Nam là "cuộc nội chiến vì lý tưởng khác biệt, cộng sản và không cộng sản, có mầm mống từ những năm cuối thập kỷ 1920" giữa Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học và Đảng Cộng Sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh sau này).

Chính Giáo sư Lê Xuân Khoa ở một số giòng sau đó, một lần nữa cũng đã xác nhận rằng : "Mặc dầu cuộc xung đột 20 năm giữa những người Việt cộng sản và không cộng sản đã rõ ràng là một cuộc nội chiến có gốc rễ sâu xa, nhưng tên gọi này vẫn không được giới lãnh đạo miền Bắc chấp nhận" (trg. 3). Và họ đã ngụy tạo ra các danh xưng khác để che giấu bản chất của họ, bênh vực chính nghĩa của họ, như "chiến tranh chống Mỹ cứu nước", "chiến tranh chống Mỹ-Ngụy"...

Mưu đồ ngụy tạo trên chắc chắn không thể nào lường gạt được ai, để che giấu bản chất cộng sản chủ nghĩa của Hồ Chí Minh và các giới lãnh đạo miền Bắc.

Ai trong chúng ta cũng còn nhớ hơn một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam vì lý do gì, nếu không phải vì họ đã ngửi được mùi cộng sản nồng nặc qua các vụ cải cách rung đất trước đó, với các cuộc đấu tố xem con người như con vật, để bắt đầu thực hiện lý tưởng "bần cố nông vô sản chuyên chế" của Đảng Cộng Sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Và rồi sau năm 1975, sau khi Cộng Sản "giải phóng và thống nhất đất nước" trên dưới 3 triệu người Việt Nam khác, bất kể gian khổ và nhiều khi thiệt mạng, đã trốn chạy rải rác trên khắp thế giới, vì lý do gì, nếu không phải vì Cộng Sản đả nhuộm đỏ ý thức hệ Xã Hội Chủ Nghĩa của họ trên khắp đất nước ?

Đó là lý do tại sao dân chúng Việt Nam chán ngán, trốn chạy và không chấp nhận ý thức hệ và chế độ Cộng Sản, mà chính Giáo Sư Lê Xuân Khoa cũng xác nhận :

- "Đáng chú ý là phần lớn các tổ chức chính trị trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng không chấp nhận tên gọi cuộc chiến 1955-1975 là "nội chiến", khằng định rằng đây là cuộc chiến của dân tộc Việt Nam chống lại chủ nghĩa và chế độ cộng sản độc tài" (trg. 3).

Dân chúng Việt Nam không chấp nhận danh từ ngắn gọn "nội chiến" được Giáo Sư Lê Xuân Khoa đưa ra, bởi lẽ cách gọi quá ngắn gọn như vừa kể không nói lên được hay có ý ẩn giấu bên dưới, có ý xóa bỏ đi lý do chính đáng của cuc chiến mà bao nhiêu sinh mạng và tài sản đã phải hy sinh.

Nếu gọi chiến cuộc Việt Nam chỉ là "nội chiến", là cuộc chiến của người Việt đánh giết người Việt, chúng tôi nghĩ Giáo sư Lê Xuân Khoa nên nhẫn nại, thêm một vài chữ nữa để chú thích rõ ràng hơn : "là chiến cuộc nội chiến chống ý thức hệ vô thần, phi nhân và độc tài của cộng sản" chẳng hạn.

Thật ra không có cuộc Cách Mạng nào mà không phải là một cuộc "nội chiến". Cuộc Cách Mạng Pháp Quốc 1789 là một cuộc "nội chiến" của dân chúng ao ước cuộc sống dân chủ và phái quân chủ bám sát độc tài và uy quyền, xem dân chúng chỉ là thần dân hay thú vật phải phục vụ họ.

Cuộc Cách Mạng mới đây ở Nga, dân chúng ùa ra Công Trường Đỏ kéo nhào tượng của Lenin xuống, là màn cuối cùng cuộc "nội chiến" không đẫm máu của dân Nga, giữa ý thức hệ Cộng Sản và lý tưởng dân chủ, nhân bản được Tổng Thống Michael Gorbachev đưa ra qua các chương trình Glassnost và Perestroika, rồi được Tổng Thống Boris Eltsin tặng cho nhát búa cuối cùng, bằng cách đặt Đảng Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật.

Cuộc Cách Mạng ở Tiệp Khắc là cuộc "nội chiến" không võ trang qua nhiều năm giữa tư tưởng dân chủ, nhân bản của Hiến Chương Tiệp Khắc do ông Havel chủ trương chống lại ý thức hệ kềm kẹp, độc tài và phi nhân do Cộng Sản áp đặt trên dân chúng. Hiến Chương Tiệp Khắc đã được toàn dân công nhận, ông Havel trở thành Nguyên Thủ Quốc Gia và ý thức hệ cộng sản bị dân chúng loại bỏ.

Cuộc Cách Mạng ở Ba Lan cũng là cuộc "nội chiến" ôn hòa giữa ý thức hệ dân chủ, nhân bản do Solidarnosc đưa ra và cộng sản chủ nghĩa vô thần và phi nhân. Cuối cùng Lech Walesa của Solidarnosc được bầu Tổng Thống và tướng cộng sản hét ra lửa Jeruzeuski phải cút đi.

Cuộc Cách mạng của dân chúng Đông Đức cũng là cuộc "nội chiến" xung đột chống cộng sản từ nội bộ, mặc cho Bức Tường Bá Linh là phòng tuyến chống "người nước ngoài" của Cộng Sản Đông Đức, bắt dân Đông Đức sống trong ngột ngạt. Nhưng rồi năm 1989 trên khoảng 40.000 người Đông Đức tìm được lối thoát qua Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, rồi Áo và ùa vào Tây Đức, làm cho hằng trăm ngàn người khác nối tiếp. Bức tường bưng bít và độc tài Bá Linh trở thành vô dụng. Dân chúng dùng búa và gậy gộc đập chết lính canh để chạy sang vùng ánh sáng dân chủ và nhân bản Tây Đức, khiến Honecker cũng tháo chạy.

Hiểu như vậy, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta không thể vắn tắt cho rằng các cuộc Cách Mạng chỉ là những cuộc "nội chiến" của Pháp, Nga và Đông Âu, mà là những cuộc chiến đấu của dân chúng nổi lên chống chế độ Quân Chủ hay chống chủ nghĩa cộng sản độc tài, vô thần và phi nhân.

Chúng tôi dám cam đoan với Giáo sư Lê Xuân Khoa, nếu Giáo sư viết chiến cuộc Việt Nam 1955-1975 là cuộc "nội chiến của người quốc gia chiến đấu chống ý thức hệ và chế độ cộng sản vô thần, chà đạp dân chủ và đê tiện hóa con người", Giáo Sư sẽ thấy các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại hoàn toàn đồng ý với Giáo sư.

Qua những gì vừa được viết ra, chúng ta có thể thấy được ước vọng của người Việt Quốc Gia nói chung và của các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại nói riêng. Họ chấp nhận "nội chiến" với bao nhiêu hy sinh về nhân mạng và tài sản chống lại Cộng Sản với ước vọng nào ?

Ước vọng cho một nước Việt Nam Nhân Bản và Dân Chủ.

Cho đến nay "30 Năm Sau Vẫn Còn Tranh Đấu", đúng hơn "Tranh Luận" như Giáo sư viết.

Người Việt Quốc Gia vẫn còn "ranh Đấu", chống lại ý thức hệ và chế độ Cộng Sản, để đem lại cho Việt Nam một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ.

Đọc lời kêu gọi kết thúc của Giáo sư, cũng thấy lòng yêu nước nồng nàn của Giáo Sư, mong cho "... một nước Việt Nam giàu mạnh và dân chủ..." ; "Ba mươi năm sau chiến tranh, đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới... những bước đầu tiên cần phải được thực hiện bởi chính quyền trong nước một cách thật tình và cụ thể" (trg. 5).

Một lời kêu gọi được thốt lên với tất cả tấm lòng, nhưng là lời kêu gọi không đặt những điều kiện khả thi và thực hữu, tạo được niềm tin đối với những ai đã từng bị Cộng Sản lường gạt.

Giáo sư ao ước cho "... một nước Việt Nam giàu mạnh và dân chủ...", nhưng Giáo sư không đặt những điều kiện tiên quyết để tiến trình dân chủ có thể bắt đầu thực hiện, nhứt là trước viễn ảnh của một chế độ độc tài, độc tôn và toàn trị, như chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam.

Không đặt điều kiện khả thi và thực hữu để mục đích có thể được thực hiện, lời kêu gọi mang đặc tính "chung chung, tổng quát", người Cộng Sản có thể chấp nhận dễ dàng, bởi lẽ họ không mất mát gì, và do đó người Quốc Gia có lý chứng để nghi ngờ thiện ý của người kêu gọi, làm "cò mồi cho Cộng Sản", "kêu gọi hòa hợp hòa giải với Cộng Sản", phục vụ cho Cộng Sản, để Cộng Sản tiếp tục củng cố và bành trướng chế độ độc tài và phi nhân, vô thần của họ.

Điều kiện tiên quyết khả thi và thực hữu để tiến trình dân chủ cho đất nước có thể bắt đầu thực hiện là đòi buộc nhà cầm quyền Cộng Sản thực thi và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và gia nhập hội.

Người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và gia nhập hội thành chính đảng để chuyển đạt lý tưởng dân chủ, tự do, nhân bản của mình đến dân chúng, tạo ra dư luận quần chúng.

Dân chúng có được thông tin, biết đâu là lý tưởng và phương thức tổ chức Quốc Gia xứng đáng với phẩm giá con người, được tự do biểu quyết đồng thuận là nền tảng tổ chức dân chủ.

Chúng tôi nghĩ rằng người Cộng Sản không có gì phải lo sợ, cấm đoán, bưng bít các phương tiện truyền thông, độc quyền thông tin báo chí như họ đang làm.

Bởi lẽ, nếu ý thức hệ Cộng Sản là ý thức hệ siêu việt, đỉnh cao trí tuệ của loài người, là lý tưởng tuyệt hảo để tổ chức xã hội, mang đất nước đến thịnh vượng, phú cường và cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người, tại sao đảng Cộng Sản sợ không phổ biến cho mọi người biết và sợ so sánh với thể chế Nhân Bản và Dân Chủ mà người Quốc Gia mong đem đến cho Việt Nam ? Người Quốc Gia không sợ gì thảo luận công khai thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của họ, lý tưởng sống của các nước văn minh trên thế giới, so với ý thức hệ Cộng Sản.

Chúng tôi thách thức người Cộng Sản công khai thảo luận, so sánh Cộng Sản Chủ Nghĩa của họ và Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ của chúng tôi.

Thể chế nào bất xứng, chúng ta vất sọt rác, như Nga và Đông Âu đã làm.

Một lần nữa, nếu không phải là công việc quá nặng nhọc đối với Giáo sư, xin Giáo sư cũng chuyển lời kêu gọi của chúng tôi đến với người Cộng Sản, như Giáo sư đã viết trên các Diễn Đàn kêu gọi người Quốc Gia chúng tôi, vì tương lai của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Học Tập

 

Các Đồng Chí Việt Nam Đã Làm Khổ Chúng Ta
Trần Minh -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Tờ "Quyền lực", phụ trương của nhật báo "Kommersant" (Nga) ra ngày 7/3/2000 có đăng bài viết với nhan đề "Các đồng chí Việt Nam đã làm khổ chúng ta" của phóng viên Evgeny Zhirnov về cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam, ghi lại theo lời kể của các cựu chuyên gia và cố vấn quân sự Nga đã từng công tác ở Việt Nam.

Việt Nam Dân Chủ xin ghi lại dưới đây bản lược dịch của Trần Minh để chúng ta hiểu thêm sự thật về sự "khắn khít", đặc biệt là những thủ đoạn giữa các nước anh em xã hội chủ nghĩa.

35 năm trước đây - ngày 7/3/1965 - lính thủy đánh bộ Mỹ đã đổ bộ vào miền nam Việt Nam. Những người Liên Xô chỉ biết về cuộc chiến tranh Việt Nam qua bộ máy tuyên truyền chính thức : Nào là Mỹ đang mưu toan hủy diệt đất nước nhỏ bé nhưng anh hùng, nào là nhân dân Việt Nam đang kiên cường chống trả những cuộc tấn công và tiếp nhận viện trợ của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa khác với lòng biết ơn. Còn dưới đây là những gì đã diến ra trên thực tế ở Việt Nam qua lời kể của các cựu chuyên gia và cố vấn quân sự Nga cho phóng biên báo "Quyền lực" Evgeny Zhirnov.

Việt Nam huấn luyện du kích

Cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của người Việt Nam bắt đầu từ năm 1945, đã kết thúc bằng thắng lợi cục bộ. Thực dân Pháp đã rút đi, nhưng theo hiệp định Giơnevơ năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai phần - miền Bắc Xã hội chủ nghĩa và miền Nam theo phương Tây. Cả chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh lẫn các nhà lãnh đạo đất nước khác đều không muốn Việt Nam bị chia cắt. Chiến tranh là không thể tránh khỏi.

Phó đô đốc dự bị IVAN KHURS :

- Năm 1954, khi ấy là một trung tá hải quân, tôi được phái tới Việt Nam để giúp đỡ cho chính phủ nước này. Nước Việt Nam DCCH lúc ấy còn chưa có tàu chở hàng, vì thế chúng tôi đã đưa tàu hàng tới Việt Nam để chở những người Việt Nam muốn di chuyển chỗ ở, từ miền Nam ra miền Bắc và ngược lại. Đồng thời chúng tôi chở quân đội Bắc Việt Nam tập kết từ Nam ra Bắc. Chúng tôi đã rất vất vả khi chở những con voi trận - đó là một phương tiện hành quân khá quan trọng trong rừng rậm - mỗi con voi cõng trên lưng một khẩu đại bác 45 ly. Cần phải có những chiếc cũi đặc biệt được làm tại Trung Quốc để chở chúng.

Nhưng đó chưa phải là đặc điểm duy nhất của hoạt động vận tải này. Thuyền trưởng các tàu đã báo cáo với tôi rằng bộ đội Việt Nam lên tàu hầu như không mang theo vũ khí, mà vũ khí được cất giữ tại các kho ở miền Nam để chờ thời cơ. Tôi còn được biết rằng các tàu của chúng ta còn chở vũ khí được ngụy trang dưới dạng lương thực tới miền Nam, và trong số những người dân tản cư có cả những người có kinh nghiệm được tổ chức chiến tranh du kích.

Trung tá hải quân nghỉ hưu ANATOLY PAVLOV, đại diện Bộ hải quân Liên Xô tại Việt Nam :

- Ở miền Nam Việt Nam không hề có chiến tranh du kích. Bộ đội chính quy của Việt Nam đã chiến đấu ở đó. Chỉ cần tới thăm một số nhà máy, xí nghiệp, nhìn số công nhân làm việc tại đó là hiểu ngay rằng tất cả nam nữ thanh niên đều được gọi nhập ngũ. Nam thanh niên được đưa tới miền Nam để tiến hành "chiến tranh du kích". Còn nữ thanh niên thì phục vụ trong các lực lượng phòng không và bảo đảm việc vận chuyển hàng hóa, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu và lương thực, theo "đường mòn Hồ Chí Minh". Ô tô có thể đi được trên một số đoạn đường mòn, song phần lớn trên con đường xương sống này, người ta chở hàng bằng xe đạp được chế tạo đặc biệt với khung xe chắc chắn và lốp xe to.

Mỹ nhảy vào tham chiến

Để buộc ban lãnh đạo Bắc Việt Nam chấm dứt việc giúp đỡ quân du kích và rút quân đội khỏi miền Nam, Mỹ bắt đầu ném bom nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

VICTOR TEPLOV, chuyên gia nhóm khoa học kỹ thuật thuộc phòng tùy viên quân sự Liên Xô tại VNDCCH :

- Người Việt Nam đã tốn nhiều công sức để khiến cho nhân dân và người Mỹ thấy được rằng các cuộc ném bom không đạt được mục tiêu. Tôi đã đến Việt Nam ba lần, cả thảy là gần hai năm. Và chưa bao giờ, tôi nhìn thấy trên đường phố một người tàn tật nào. Theo như lời các sỹ quan của chúng ta, để không làm cho dân chúng sợ hãi, thương binh được chở tới những địa điểm đặc biệt và ở lại đó cho tới khi chiến tranh kết thúc. Còn bộ máy tuyên truyền thì nhiều khi làm chuyện tức cười. Trong những thông báo chính thức của họ thường mô tả một cách tỉ mỉ thiệt hại sau các cuộc ném bom của Mỹ : một con trâu, ba con lợn, 7 con gà, còn người chết thì không có. Tuy nhiên số gia súc thiệt hại được nêu trong những bản tin này cũng bị hạn chế rất nhiều.

NICOLAI KOVALYEV, cựu trưởng đại diện Bộ hải quân Liên Xô tại VNDCCH :

- Người Việt Nam thường cố gắng làm sao khắc phục được hậu quả các trận ném bom của Mỹ càng nhanh càng tốt. Họ cấm chụp ảnh những ngôi nhà và công trình bị tàn phá. Tại các cảng, những người bị thương được nhanh chóng chuyển lên xà lan và chở vào bệnh viện. Dù trời nóng đến mấy, những người bị thương cũng phải phủ vải bạt lên người để nỗi đau đớn của họ không làm ảnh hưởng tới những người khác.

Liên Xô giúp đỡ Việt Nam

Khi biết chắc rằng các cuộc không kích không đạt được mục tiêu, Mỹ đã đưa lính thủy đánh bộ tới miền Nam Việt Nam, Liên Xô đã đáp lại sự "leo thang xâm lược Mỹ" bằng việc chuyên chở cấp tập tới Bắc Việt Nam vũ khí, nhiên liệu và máy móc thiết bị. Chi phí của Liên Xô cho việc viện trợ anh em đã lên tới gần 3 triệu USD mỗi ngày.

NICOLAI KOVALYEV

- Thái độ của người Việt Nam đối với sự viện trợ và các thủy thủ của chúng ta rất thực dụng. Do Mỹ tăng cường các cuộc không kích nên tiến độ bốc dỡ hàng của các tàu đã giảm đáng kể. Người Việt Nam bốc dỡ trước hết là bột mì, sản phẩm dầu, vũ khí. Còn các tàu chở máy móc thì nằm chờ nhiều ngày đêm. Trong khi đó các đồng chí Việt Nam cứ liên tục đòi tăng số lượng tàu chở hàng. Chẳng hạn, năm 1968, họ đã yêu cầu Kosyghin cung cấp trong vòng nửa năm toàn bộ số hàng hóa được dự định cho cả năm.

Chúng ta đã giúp đỡ họ bằng khả năng có thể. Khi Mỹ ném bom các nhà máy điện cung cấp điện cho các mỏ than ở gần cảng Cẩm Phả, tôi đã ra lệnh cho các thuyền trưởng cung cấp điện cho họ từ các máy phát điện trên tàu. Còn các đồng chí Việt Nam của chúng ta, khi biết rằng người Mỹ không ném bom các tàu Liên Xô, đã giấu xà lan đặt súng cao xạ bên dưới mạn tàu. Sau khi người Mỹ bắn phá các kho dầu, người Việt Nam đã quyết định sử dụng dầu của một trong các tàu chở dầu của chúng ta. Họ đã bốc dỡ dầu khi cần và hiểu quá rõ rằng Mỹ không ném bom tàu Liên Xô. Đội thủy thủ đã phải chịu một phen vất vả : mấy tuần liền họ phải neo đậu ở bến cảng trong cái nóng nhiệt đới không có máy điều hòa và bị hàng đàn muỗi bao vây.

ALEXANDER NEKHOROSHEV, cựu tham tán đại sứ quán Liên Xô tại VNDCCH nói về quan hệ giữa các đảng như sau :

- Người Việt Nam viện lẽ rằng họ đang ở chiến tuyến chống chủ nghĩa đế quốc, họ đang đổ máu và nước Xã hội chủ nghĩa lớn nhất lẽ ra có thể viện trợ quân sự và kinh tế lớn hơn nhiều. Không có luận cứ nào có thể tác động được đến họ. Họ coi thường mọi yêu cầu của chúng ta. Chẳng hạn, chúng tôi đã rất nhiều lần đề nghị các đồng chí Việt Nam chuyển cho chúng tôi các loại thuốc chữa bệnh nhiệt đới, nhưng chúng tôi đã không hề nhận được gì cả. Khi chúng tôi yêu cầu cho đại sứ quán một con chó becgiê trong số 40 con mà bộ đội biên phòng CHDC Đức tặng cho Việt Nam, để canh giữ đại sứ quán, người Việt Nam đã đồng ý một cách bất đắc dĩ. Vì thịt chó ở Việt Nam là một món đặc sản. Các đồng chí Việt Nam đã ăn thịt hết tất cả những con chó còn lại. (sic)

YURI FEDOROV, thành viên nhóm khoa học kỹ thuật thuộc phòng tuỳ viên quân sự Liên Xô tại VNDCCH :

- Một lần ở Hà Nội, có một người Việt Nam đến gặp chúng tôi, thông thường họ bị cấm nói chuyện với người nước ngoài, ngay cả với người Liên Xô. Không hiểu sao anh ta lại nói với chúng tôi về sự giúp đỡ, rằng sự viện trợ ấy là không đủ. Chúng tôi đã cố gắng giải thích cho anh ta hiểu rằng nước ta cũng có những vấn đề của mình, anh ta đã nhìn chúng tôi một cách tinh quái và nói rằng anh ta đã từng học ở Leningrad, đã nhìn thấy trong viện bảo tàng Erơmitagiơ nhiều bức tranh quý. Anh ta nói : "các ông có thể bán tranh cho bọn đế quốc và dùng tiền ấy giúp đỡ chúng tôi tốt hơn".

- Đối với Trung Quốc, họ có thái độ tốt hơn nhiều. Trung Quốc giúp họ gạo, còn chúng ta chỉ giúp được bột mì là thứ mà họ không quen ăn. Quần áo chủ yếu là của Trung Quốc. Người Việt Nam không khoái gì chúng ta với những tên lửa của ta. Ai cũng biết rằng sau khi tên lửa được bắn lên trên bầu trời thành phố, khi rơi xuống các tầng tên lửa đôi khi đã làm thiệt mạng những người không kịp xuống hầm trú ẩn.

VLADIMIR LEBEDEV, chuyên gia nhóm khoa học kỹ thuật thuộc phòng tuỳ viên quân sự Liên Xô tại VNDCCH :

- Nhóm chúng tôi đã được thành lập chuyên về nghiên cứu phương tiện kỹ thuật chiến lợi phẩm của Mỹ. Tôi còn nhớ, suốt mấy tháng liền, chúng tôi đã yêu cầu các đối tác của chúng ta cho phép tìm hiểu khẩu súng phòng thủ pháo M79. Họ không trả lời. Đột nhiên một đồng nghiệp của chúng tôi ở cục kỹ thuật Việt Nam cho biết rằng họ đã tặng khẩu súng cho một bác sỹ Bungari trong đoàn đại biểu vừa rời Việt Nam. Thật may, máy bay là của chúng ta. Vì thế các đồng chí chúng ta ở Lào, nơi máy bay hạ cánh giữa chừng, đã dừng máy bay lại cho đến khi người bác sỹ Bungari đồng ý bán cho chúng tôi thứ "đồ lưu niệm" đó. Đã thành thông lệ, người Việt Nam thường có những "hành động hào phóng" như vậy trước các cuộc thăm viếng quan trọng, khi bàn về vấn đề viện trợ.

ANATOLY PAVLOV :

- Người Việt Nam coi chiến lợi phẩm và những tin tức mà họ thu được từ tù binh như là thứ hàng chiến lược, đặc biết quý giá. Họ đòi viện trợ thêm, nếu nhận được, họ cung cấp tin tức. Còn nếu không, thì có nghĩa là chẳng có gì hết.

NICOLAI KOLESNIC, Chủ tịch Hội đồng cựu chuyên gia và cố vấn quân sự đã từng công tác ở Việt Nam :

- Có thể hiểu được những đòi hỏi của người Việt Nam. Liên Xô đã giúp cho Việt Nam tổ hợp tên lửa cao xạ S-75. Trong khi đó chúng ta có trong tay tổ hợp S-125. Theo tôi được biết, khi đó loại tổ hợp này được đưa tới Trung Đông. Tất nhiên là người Việt Nam phật lòng. Giá mà họ có được S-125 thì chiến tranh đã có thể kết thúc sớm hơn vài ba năm.

Việt Nam lừa dối Liên Xô

Người Việt Nam nhận sự giúp đỡ hào phóng của Liên Xô như là một phần thưởng xứng đáng và không che giấu thái độ coi thường đối với các đại diện Liên Xô. Tuy vậy, Liên Xô vẫn tiếp tục giúp đỡ VNDCCH. Điều này có những lý do của nó.

Thiếu tướng không quân dự bị MIKHAIL FESENKO, cựu tham tán quân sự Liên Xô về không quân tại VNDCCH :

- Các đồng chí Việt Nam đã làm khổ chúng ta. Cho dù tôi có bắt đầu thảo luận với họ điều gì đi chăng nữa là ngay lập tức họ nói : chúng tôi không có đủ dự trữ "ắc quy""săm lốp" máy bay. Đôi khi trong danh sách này còn có thêm các phụ tùng khác nữa, song "ắc quy""săm lốp" bao giờ cũng là hàng đầu. Chúng tôi buộc phải thường xuyên gửi về Matxcơva những yêu cầu đó của họ. Song cho dù "săm lốp""ắc quy" có được gửi tới thì chỉ ngày hôm sau, các đồng chí Việt Nam lại khăng khăng đòi hỏi : chiến sự, chi phí lớn, v.v...

- Một lần tôi đi thăm một sân bay. Lái xe bị lạc đường trong rừng và thay vì sân bay, chúng tôi đã lọt vào khu vực một kho được ngụy trang kín đáo. Và ở đó có cơ man nào là "ắc quy""săm lốp". Chúng được xếp thành đống cao bằng ba người. Tôi cho là các đồng chí Việt Nam đã cảm thấy xấu hổ. Thế mà chỉ sau vài ngày im lặng, họ đã lại tiếp tục bài ca của mình : "ắc quy", "săm lốp". Tôi không thấy tự ái. Cũng như họ, tôi hiểu rằng chiến tranh sẽ kết thúc, lúc ấy sẽ không có ai cho không họ cái gì nữa. Và cần phải dự trữ mọi thứ ngay từ bây giờ.

SPARTAK LESHEV, tham tán đại sứ quán Liên Xô tại VNDCCH :

- Tôi đã mấy lần báo cáo với đại sứ Liên Xô tại Việt Nam Ilya Sherbakov về tình hình cung cấp viện trợ. Tôi đã cho ông xem những bức ảnh chụp máy móc kỹ thuật đưa từ Liên Xô sang đang bị han rỉ trong những cánh rừng xung quanh Hải Phòng. Sau đó chúng tôi đã cùng tới Hải Phòng, đi dọc qua các đường phố và tận mắt trông thấy những chiếc máy mới đang han rỉ, trong khi các nhà máy ở Liên Xô phải nghỉ việc vì thiếu máy móc. Tôi đã đề nghị Sherbakov viết báo cáo về tình hình này lên Ủy Ban Trung Ương. Nhưng ông ta đã im lặng. Sau đó có một lần, sau khi chúng tôi lại đề cập tới vấn đề này, ông đã bảo tôi : "Anh đừng cho rằng việc viện trợ là vô ích. Đúng, người Việt Nam đòi hỏi ở chúng ta nhiều hơn rất nhiều so với điều họ cần trên thực tế. Có những thứ sẽ bị han rỉ, hỏng hóc. Nhưng một phần nào đó sau chiến tranh sẽ được sử dụng đúng chức năng. Chúng ta rất khó ràng buộc được người Việt Nam với mình bằng chính trị. Người Trung Quốc cản trở điều này và sẽ tiếp tục cản trở. Vì thế quan trọng là chúng ta phải ràng buộc được họ với mình bằng công nghệ kỹ thuật".

Trần Minh

 

Hãy Cùng Bảo Vệ Tiếng Việt
Hoàng Cơ Định -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Trong tinh thần "Vì đất nước hôm nay và ngày mai" chúng ta thử đặt câu hỏi "Trong cộng đồng người Việt chúng ta tại hải ngoại" đâu là những vấn đề của ngày hôm nay mà đồng thời cũng là của ngày mai ? Câu trả lời chắc chắn là nhiều và mỗi ý kiến hẳn phải có phần hữu lý ... Trong bài này, tôi xin lựa lấy một trong số những vấn đề quan trọng và hy vọng quý độc giả đều đồng ý : theo ý kiến chúng tôi vấn đề quan trọng ngày hôm nay và mãi mãi sau này của cộng đồng chúng ta tại hải ngoại là "Tiếng Việt". Nhờ Tiếng Việt mà chúng ta trở thành cộng đồng Người Việt tại hải ngoại và mai sau, ngày nào chúng ta còn duy trì được tiếng Việt trong cộng đồng chúng ta thì ngày đó chúng ta còn là "Người Việt" dù cho chúng ta mang bất cứ quốc tịch nào ...

Nếu chúng ta không còn muốn dùng tiếng Việt hay không có khả năng dùng tiếng Việt để trò chuyện, tâm tình hay tranh luận với nhau, chúng ta sẽ trở thành người Mỹ gốc Việt, người Pháp gốc Việt, người Đức gốc Việt vv... và cái gốc Việt của chúng ta chỉ còn là chút dáng vẻ bề ngoài mà đôi khi chính chúng ta cũng không còn để ý tới.

Ngày nay, cái gốc chủng tộc thường không còn là đầu mối của những bất công, và cũng vì thế con người có thể dễ dàng mất đi căn cước dân tộc của mình... Những người Việt Nam chúng ta sống tại hải ngoại mà duy trì căn cước dân tộc của chính mình là vì chúng ta muốn như thế, chúng ta quyết định là như thế, chứ không phải chúng ta bị dồn vào thế phải tiếp tục làm người Việt Nam.

Vì tại Tổ Quốc của chúng ta đang có một chế độ độc tài, đa số chúng ta không thuận tiện duy trì bản sắc Việt Nam bằng cách tiếp tục giữ quốc tịch Việt Nam, tuy nhiên, chúng ta có một cách khác chủ động hơn, tích cực hơn đó là chúng ta tiếp tục giữ bản sắc Việt Nam bằng cách sử dụng ngôn ngữ Việt Nam và huấn luyện cho con em chúng ta sinh trưởng tại đất nước này hiểu và nói được tiếng Việt.

Sau nhiều thập niên sinh sống tại ngoại quốc, việc nói tiếng Mỹ hay tiếng Pháp trở nên vấn đề bình thường đối với một thanh niên gốc Việt sống tại nước ngoài, nhưng khi người thanh niên này, bên cạnh tiếng địa phương lại nói được tiếng Việt, dầu chỉ là nói với lối phát âm lờ lợ ngoại quốc, thanh niên đó cũng dễ tạo được cảm tình và sự nể trọng của người đối thoại. Một thanh niên lớn lên tại ngoại quốc, mà vẫn nói được tiếng của Tổ Quốc phải là người sinh trưởng trong một gia đình được quan tâm chăm sóc dạy dỗ của các phụ huynh, vì thế mà một người trẻ nói được tiếng Việt cũng có xác suất cao là một thanh niên gần gũi với gia đình và hiếu thảo với Cha Mẹ hơn. Việc cố gắng dạy cho con em mình tiếng Việt thường đòi hỏi nhiều cố gắng từ các bậc phụ huynh vì tại ngoại quốc nuôi một đứa trẻ rất tốn công, ngoài việc đưa đón con em tham gia các sinh hoạt thể thao và xã hội của học đường, mà còn có cố gắng hàng tuần kiên trì đưa đón con đi học tiếng Việt là một cố gắng đáng ca ngợi. Sự tận tụy của các bậc phụ huynh này đã không chỉ đào tạo ra những người trẻ nói được tiếng Việt mà còn gây dựng được các thanh niên có tâm hồn và có tinh thần trách nhiệm. Có đến thăm các Trung Tâm dậy Việt Ngữ chúng ta sẽ thấy thán phục là một phần "Thầy Cô" lại là chính các em đã đến học tại Trung Tâm trước đây.

Vào đầu Thế Kỷ trước, khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước Việt Nam chúng ta, một nhà văn hóa có nói : "Tiếng nước Nam còn thì nước Nam còn". Ngày nay, còn duy trì được tiếng Việt thì chúng ta sẽ còn duy trì được nền móng gia đình Việt Nam cũng như Cộng Đồng Việt Nam tại hải ngoại. Và việc duy trì tiếng Việt này phải khởi đi từ chính các gia đình Việt Nam.

Ngoài chuyện dạy cho con em nói tiếng Việt, một cố gắng thứ nhì cần thực hiện là phải tạo điều kiện cho con em chúng ta có dịp về thăm Tổ Quốc.

Tôi đã có dịp tiếp xúc với nhiều thanh thiếu niên sau khi họ về thăm Việt Nam, ngoài sự kiện họ tiến bộ vượt bực về tiếng Việt, tôi còn thấy tình tự gắn bó của họ với Tổ Quốc, với gia đình cũng gia tăng. Những người trẻ này đã phát hiện ra những vẻ đẹp của Tổ Quốc qua những đức tính của người dân Việt Nam mà nhiều người lớn tuổi tại hải ngoại này không nhận thức thấy. Chuyện người Việt về thăm quê hương nay đã là việc bình thường, phổ biến. Tuy nhiên vẫn có một số đồng bào dị ứng, coi như đó là một hình thức chấp nhận CSVN. Đây là một quan niệm cần được khai thông, cần phân biệt rõ ràng việc cô lập Nhà Nước CSVN với cô lập Dân Tộc VN và tự cô lập chính mình. Ngay cả trên bình diện chính trị, khi một người trẻ đã có dịp về thăm đất nước, họ mới có dịp thấy được những sai phạm của chế độ CS của ngày hôm nay để góp phần vào nỗ lực chấm dứt độc tài và xây dựng nền dân chủ cho Tổ Quốc.

Tóm lại, hãy cố gắng bảo vệ bản chất Việt Nam trong mỗi người chúng ta bằng cách duy trì sử dụng tiếng Việt với bạn bè và trong gia đình. Nếu không bảo vệ tiếng Việt ngày hôm nay, sẽ không thể có một cộng đồng người Việt tại hải ngoại gắn bó với Tổ Quốc, Dân Tộc trong tương lai.

Hoàng Cơ Định

 

Lòng Dân Là Lòng Trời
Nguyễn Ngọc Danh -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Có người hỏi dân chủ là gì mà tại sao có nhiều người đòi dân chủ thế ? Thoạt mới nghe qua, thi ai cũng phì cười, dân chủ là một chính thể do dân làm chủ, có gì đâu mà thắc mắc.

Nhưng lại có câu hỏi tiếp, tại sao khi dân là chủ lại có một chánh quyền ăn trên ngồi trước, định đoạt hầu như mọi việc, thì thật sự đâu phải dân là chủ ? Câu trả lời tiếp, nhưng chánh quyền đó bị kiểm soát, do những người đại diện của dân. Thế thì khi nào có dân biểu, có quốc hội thì là có dân chủ ?

Câu trả lời tiếp lại hơi trái ngược, cũng chưa hẵn, vì muốn có dân chủ thì người dân phải thật sự lựa chọn được người đại biểu, và người đại biểu phải tự do lựa chọn người nắm quyền thế mới là dân chủ, và khi người nắm quyền làm sai thì bị đuổi đi, thay thế bằng người khác.

Lại câu hỏi tiếp, thế khi đó có luật lệ ràng buộc người dân không ?

Câu trả lời, dĩ nhiên là có luật để mọi người không bị người khác lấn át, bị những người có quyền hà hiếp, và những người có quyền cao chức trọng cũng phải tôn trọng luật lệ, không ai cao hơn luật. Câu hỏi tiếp ...

Thì ra, dân chủ là gì và như thế nào không thể giải thích dễ dàng để cho những người chưa nếm được dân chủ cảm thấy chế độ dân chủ là một chế độ cho phép người ta chọn lựa được tương lai của mình. Nhưng nếu chúng ta lấy thí dụ thì có lẽ dễ hiểu hơn.

Trung tuần tháng hai, báo "Le Canard Enchaîné" (Con Vịt bị Xiềng) cho mọi người biết là tổng trưởng tài chánh Pháp, Hervé Gaymard đang sống trong một nhà do nhà nước thuê, rộng 600 thước vuông và tiền nhà lên đến 14000 Euros (khoảng 17 000 Mỹ Kim hay 280 triệu đồng Việt Nam) một tháng, vì nằm ở một khu sang trọng. Mọi người tự hỏi tại sao ông lại phí phạm công quỹ như thế, trong khi nhà nước yêu cầu mọi người thắt lưng buộc bụng. Ông cho biết rằng phải ở nhà thuê vì ông không có nhà tại Paris, nhưng sau đó các báo chí mới khui ra là có một căn nhà rộng 200 thước vuông cho một người thuê với giá là 2500 Euros một tháng. Ngoài ra ông còn có nhà nghỉ mát ở bờ biển và một căn nhà vừa mới tậu ở xứ của ông. Việc ông chối quanh, việc ông sử dụng công quỹ một cách ẩu tả làm cho mọi người phẫn nộ và ông Gaymard đã phải từ chức.

Trong một quốc gia mà chỉ có một đảng toàn quyền cai trị, những lố lăng như việc ông Gaymard thì ai có quyền kiểm soát hay đặt vấn đề ? Chắc chắn không phải là báo chí vì báo chí bị kiểm soát chặt chẽ - người ta không quên việc một nữ phóng viên báo Tuổi Trẻ bị bắt vì khui ra sự lạm dụng trong việc mua chiến thuyền -, chắc chắn không phải là dân biểu vì dân biểu đều thuộc nhóm nắm quyền. Vì thế cho nên các ông lớn ở Hà Nội sử dụng những biệt thự rộng rãi, tiêu phá công quỹ là việc thường tình. Dân có đói mặc dân và các ông lớn vẫn tiếp tục tiêu xài, lấy máy bay sang Tân Gia Ba hay Phi Luật Tân để chơi golf, trong khi trẻ em không có trường học. Dân chủ và độc tài khác nhau ở chỗ là những ngưòi có quyền đều bị trừng phạt. Không ai nằm trên luật, ngay cả đảng cầm quyền. Ông Gaymard có tội, ông Gaymard không còn xứng đáng làm tổng trưởng.

Một thí dụ khác để cho thấy thế nào là dân chủ. Từ hơn hai mươi năm nay, sau một cuộc tranh chấp nội bộ giữa các phe phái, Liban bị Syria đem quân vào ủng hộ một nhóm theo đạo Hồi. Từ đó, Syria luôn luôn ảnh hưởng đến chính trường Liban. Gần đây, ông Rafik Hariri bị ám sát. Mọi người đều nghĩ rằng Syria đã nhúng tay vào việc ám sát này, vì ông Hariri lúc nắm quyền vẫn đòi hỏi Syria phải rút quân ra khỏi Liban và ngưng xen vào nội bộ của quốc gia khác. Và dân chúng thấy chính quyền của họ vẫn không nhút nhích, không dám phản đối Syria, nên đổ ra đường xuống biểu tình đòi phải từ chức vì không còn xứng đáng nắm quyền hành. Sau một tuần biểu tình, dân chúng đã thành công và ngày 1 tháng 3, ông Omar Karamé phải từ chức.

Sức mạnh của dân là thế, dân chủ là thế. Khi một chánh quyền theo ngoại quốc, tuy chưa dâng đất, dâng biển cũng đã bị dân dòi phải nhường chỗ cho người khác xứng đáng hơn lên thay thế.

Nguyễn Ngọc Danh

 

Thế Giới Sau Chuyến Âu Du của Tổng Thống Bush
Nguyễn Trúc Giang -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

Vào hạ tuần tháng 2 năm vừa qua, tổng thống Bush đã đi viếng Âu châu và gặp một số nguyên thủ quốc gia của châu này, đặc biệt là Pháp và Đức những quốc gia chống lại giải pháp quân sự tại Irak. Tổng thống Bush cũng đã gặp tổng thống Putine. Nhân dịp này, các bên đã trao đổi quan điểm về tình hình thế giới, đặc biệt là ở những điểm nóng. Như vần đề trang bị vũ khí nguyên tử của Ba Tư, vần Do Thái và Palestine, vần đề bán vũ khí cho Trung Quốc, v.v... Trước khi Tổng thống Hoa Kỳ sang Âu Châu, bà Condoleezza Rice, tân ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng đã đi một vòng tại Trung Đông và đã viếng thăm một số quốc gia Tây Âu để chuẩn bị đường đi cho ông Bush.

Trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, tổng thống Bush đã ngỏ lời kêu gọi các đồng minh bỏ quên những khác biệt trong những năm qua để hoàn thành sứ mạng cao cả của thế giới tự do là đem nhân quyền đến khắp nơi trên thế giới. Điều mà ông không nói ra là sự phát huy đó sẽ nằm dưới sự chỉ đạo của Hoa Kỳ. Phát huy dân chủ là điều mà Âu châu hoàn toàn đồng ý, nhưng phát huy cách nào, và nơi nào là ưu tiên ?

Vài đồng thuận : Trung Đôn.

Dĩ nhiên, nhìn xem các điểm nóng trên thế giới hiện tại thì Hoa Kỳ và Âu Châu đồng ý rất nhiều điểm, như giải quyết vấn đề Do Thái và Palestine bằng cách thiết lập một vùng đất thật sự cho người dân Palestine và việc này có vẻ tiến hành một cách khả quan, mặc dù vẫn còn những nhóm cực đoan muốn giải quyết bằng quân sự, một giải pháp không thành công từ hơn 50 năm nay. Hoa Kỳ và Âu Châu đều lên án Syria, đang xen lấn vào nội bộ của Liban và yêu cầu Syria rút quân ra khỏi quốc gia, và ngưng giúp nhóm Hazehbolla - một nhóm chủ trương chống Do Thái một cách triệt để - để cho các nhóm cực đoan Do Thái không còn cớ chống chánh sách mới của thủ tướng Sharon. Về vấn đề vũ khí nguyên tử của Ba Tư, hai bên đều đồng ý kêu gọi Ba Tư ngưng chương trình phát triển và Âu Châu chủ trương giải pháp ngoại giao, Hoa Kỳ miễn cưỡng chấp nhận vì không thể sử dụng giải pháp quân sự khi chưa giải quyết rốt ráo vấn đề tại Iraq và A Phú Hãn, nơi mà Hoa Kỳ yêu cầu Âu Châu đóng góp một cách đắc lực hơn, đặc biệt trong việc huấn luyện các cán bộ hành chánh và cảnh sát. Tuy vẫn không đồng ý với Hoa Kỳ, nhưng mọi việc hầu như đã xong, sau cuộc bầu cử tại quốc gia này, và dù còn rất nhiều việc phải làm để ổn định tình hình, Pháp và Đức miễn cưỡng phải hứa giúp.

Nhiều điều bất đồng.

Tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề mà hai bên không đồng ý. Đầu tiên là việc Hoa Kỳ thả nổi đồng Mỹ kim, gây khó khăn cho việc giao thương của Âu Châu. Kế đó là vai trò của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương. Liên Minh đóng một vai trò quan trọng trong thời chiến tranh lạnh, nhất là trên khía cạnh quân sự, nhưng ngày hôm nay, không còn đối phương trước mắt, thì Liên Minh phải thay đổi nhiệm vụ. Đó là cách nhìn của Âu Châu mà thủ tướng Đức Schroeder đã trình bày. Nếu tiếp tục giữ hiện trạng này, Âu Châu lo ngại sẽ bị liên đới với Hoa Kỳ qua những tranh chấp không thật liên quan đến quyền lợi của Âu Châu, thí dụ như có cuộc tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Nga tại một vùng mà Âu Châu không có nhiều quyền lợi như tại Trung Á (Hoa Kỳ đang giúp các quốc gia này khai thác dầu hỏa, trước sự bực mình của Nga). Tuy nhiên Hoa Kỳ không muốn thay đổi vì qua Liên Minh này, họ có thể gây ảnh hưởng được với các quốc gia Đông Âu dù các quốc gia này có gia nhập hay không vào Hiệp Hội Âu Châu. Trong cuộc bất đồng này, Âu Châu khó không chiều Hoa Kỳ, vì họ không có một quân đội tương ứng với sức mạnh kinh tế của họ, đặc biệt là họ không có phương tiện chuyển vận hàng không. Trong những năm gần đây hầu hết các quốc Tây Âu đều giảm tối đa chi phí quốc phòng để có đủ ngân sách tài trợ các chương trình xã hội, càng ngày càng tốn kém mà không bị thâm thủng ngân sách như Hoa Kỳ. Giữa dân và quân đội, họ đã lựa chọn lo cho dân.

Ở đây xin mở dấu ngoặc là tại Việt Nam thì trái hẳn, chánh quyền Cộng sản Hà Nội chú tâm trang bị cho công an hơn là lo cho dân sinh, họ chú trọng đến phương tiện đàn áp hơn là giúp cho dân có những phương tiện để vươn lên, thí dụ như tăng phương tiện giáo dục cho trẻ em để cho phụ huynh không phải đóng tiền cho con em đi học tiểu học hay trung học, ...

Nên hay không nên bán vũ khí cho Trung Quốc ?

Điểm bất đồng quan trọng nhất hiện nay giữa Hoa Kỳ và Âu Châu là vấn đề bán vũ khí cho Trung Quốc. Từ lâu, các quốc gia Tây phương đồng ý cấm vận trên lãnh vực vũ khí đối với Trung Quốc, và sau cuộc thảm sát tại Thiên An Môn năm 1989, họ lại đồng ý thêm chỉ tháo gỡ cấm vận khi nào dân quyền được tôn trọng tại Trung Quốc.

Tuy nhiên gần đây, các quốc gia Âu Châu, đặc biệt là Pháp, muốn tháo gỡ cuộc cấm vận này, để có thể bán vũ khí cho Trung Quốc, một thị trường khổng lồ mà hiện nay hầu như chỉ có Nga được hưởng. Lý do mà Pháp đưa ra là không bán cho Trung Quốc thì không đủ thân thiện để có thể khuyên Trung Quốc thi hành một chánh sách tôn trọng nhân quyền. Nghĩa là tiếp tục chánh sách ngoại giao của Pháp do tổng thống Chirac đề ra từ mấy năm nay, là "không nên phạt - về tội chà đạp - mà chỉ phải vỗ về".

Quyền lợi của Pháp và Đức

Nhưng thật sự Pháp cần có một thị trường cho các vũ khí của mình, đặc biệt là cho các máy bay Mirage và các trực thăng, vì các quốc gia Nam Mỹ đang sắm vũ khí của Hoa Kỳ, các quốc gia tại Đông Nam Á thì sắm vũ khí của Anh, các quốc gia Trung Đông cũng mua của Anh và Hoa Kỳ, nên Pháp không có thị trường ngoài thị trường của chính quốc phòng Pháp, mà thị trường này lại quá hẹp, không cho phép các nhà sản xuất vũ khí Pháp bán cho quốc phòng Pháp một giá tương đối thấp. Đề nghị của Pháp được sự đồng tình của Đức, vì Đức cũng đang tìm thị trường cho các chiến xa của mình. Anh thì trái lại không chủ trương theo Pháp nhưng không chống lại đề nghị này, vì Anh đang có một thị trường khá quan trọng ở các quốc thuộc khối Commonwealth, cũng các nhà sản xuất vũ khí Anh có thể tham gia vào các cuộc đấu thầu của quốc phòng Hoa Kỳ. Để trấn an dư luận, Pháp bảo đảm là sẽ bắt Trung Quốc hứa không sử dụng vủ khí để bắn vào dân, nhưng điều này chỉ là lời hứa suông vì ngoài một cuộc tổng nổi dậy thì chắc là Trung Quốc sẽ không dùng phản lực cơ tối tân để bắn vào người dân, và trong trường hợp có dùng đi nữa Pháp cũng chỉ có thể tiếp tục "khuyên" Trung Quốc đừng sử dụng, vì sẽ không có biện pháp nào để ngăn chận.

Lo ngại của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ trái lại rất ngại âm mưu làm bá chủ của Trung Quốc, ít ra trong vùng Đông Á, và khi Trung Quốc có những vũ khí tối tân mà Pháp và Đức cung cấp - những vũ khí được trang bị điện tử mà Trung Quốc chưa có đủ kỹ năng để sản xuất, mà chính các nhà sản xuất vũ khí Nga cũng chưa đạt được nên Trung Quốc phải tiếp cách mốc nối với các quốc gia Tây Phương Ồ thì Trung Quốc sẽ thực thi thế nào chánh sách bành trướng của mình. Thí dụ như Hoa Kỳ ngại Trung Quốc sẽ dùng các vũ khí này để tấn công vào Đài Loan. Trong giả thuyết này, Hoa Kỳ sẽ phải cung cấp cho Đài Loan những vũ khí tối tân ngang ngửa để phòng vệ, và khi cung cấp cho Đài Loan, Hoa Kỳ sẽ gặp sự phản đối của Trung Quốc và sẽ không được Trung Quốc giúp giải quyết vấn đề vũ khí nguyên tử của Bắc Hàn.

Quyền lợi khác, chánh sách khác

Vấn đề bán vũ khí cho Trung Cộng cho chúng ta thấy giữa Hoa Kỳ và Âu Châu có nhiều khác biệt trên quyền lợi cũng như trên vai trò của hai bên trong thế giới ngày hôm nay. Một bên Hoa Kỳ, vẫn phải đóng vai cảnh sát thế giới, vì quyền lợi kinh tế của chính họ, làm cảnh sát để giữ các trục giao thông, làm cảnh sát để kiểm soát các vùng sản xuất nguyên liệu và nhiên liệu, làm cảnh sát để bảo đảm an ninh các thị trường quan trọng như thị trường Đông Á mà đồng minh chính là Nhật và Đại Hàn. Trong khi đó Âu Châu, ngoài vòng đai an ninh của họ mà dư luận Âu châu muốn thu hẹp lại trong địa dư Âu châu - nghĩa là không có Nga và Thổ Nhĩ Kỳ - thế giới chỉ là một thị trường khổng lồ, và các biến cố xã hội chánh trị ở các nơi chỉ quan trọng khi liên quan đến kinh tế của họ. Dân Trung Quốc có bị đàn áp thì họ sẽ phản đối để yên tâm, điều quan trọng vẫn là sử dụng nhân công rẻ tiền của Trung Quốc và nhắm vào thị trường khổng lồ hơn 1 tỷ người. Dù họ chủ trương dân chủ và nhân quyền, nhưng bán vũ khí cho một chế độ độc tài là Bắc Kinh để chế độ này có thể sử dụng để diệt một chế độ dân chủ là Đài Bắc không làm cho họ ngại ngùng một phút nào.

Một đề nghị cho Việt Nam

Khi nhìn thấy điều trên, thì chính sách ngoại giao của Việt Nam là phải tìm đồng minh để đối phó với chính sách bá quyền của Trung Quốc. Theo Tây Phương chưa hẵn là chánh sách hay, vì Tây Phương dù Hoa Kỳ hay Âu Châu cũng sẽ chú tâm đầu tiên đến quyền lợi của họ, đặc biệt là quyền lợi kinh tế. Con đường còn lại là phải tìm cách liên kết với các quốc gia cùng chung cảnh ngộ là các quốc gia Đông Nam Á. Việc này không dễ, vì các quốc gia này còn đang tranh thủ với nhau, dù nằm trong cùng một khối, để tìm một chỗ đứng kinh tế trong thế giới toàn cầu, và vì chưa tìm được một chất keo để có những gắn bó với nhau. Nhưng việc này không phải không làm được, nhưng chắc chắn không thể nào làm với một chế độ còn quá quỳ lụy với Trung Quốc như chế độ Hà Nội ngày hôm nay.

Dĩ nhiên là họ cũng bắt Trung Quốc cam kết là không được sử dụng vũ khí để đàn áp dân chúng, mặc dù họ vẫn biết là một khi có vũ khí trong tay, chính quyền Bắc Kinh muốn làm gì thì làm. Thật sự ra họ không lo ngại lắm trên việc vũ khí của họ cung cấp sẽ được công an quân đội Trung Quốc sử dụng để bắn vào người dân, vì Trung Quốc chỉ muốn mua những vũ khí tối tân nhất, những vũ khí do điện tử điều khiển, một kỹ năng mà Trung Quốc chưa đạt được và cả Nga cũng chưa đạt được.

Nguyễn Trúc Giang

 

Những Mẩu Kính Màu (kỳ 8)
Nguyễn Minh -  (LÊN MẠNG THỨ NĂM 17 THÁNG BA 2005)

(Tiếp theo kỳ trước)

Hơi bất ngờ vì sự xuất hiện đột ngột của em gái vào đầu giờ trưa, Năm Lan xin phép nghỉ một buổi và đưa em về khu tập thể nơi cô đang trọ.

- Có chuyện gì không Út ? Sao khi không kiếm chị giờ này... Năm Lan hỏi.

- Cũng chẳng có gì, khi không em nhớ chị... Út Huệ trả lời lí nhí. Cô cũng không biết giải thích sao về việc đi tìm chị. Suốt từ lúc Năm Lan lên Sài Gòn học đại học tại chức, những đợt tập trung của chị gái, chẳng bao giờ Út Huệ tìm đến... Ngay cả lúc lên Sài Gòn để tìm Minh, Út Huệ cũng chẳng ghé, huống hồ...

Suốt buổi chiều Út Huệ quất quít bên chị chẳng hiểu vì sao, cô cảm thấy buồn buốt ở ruột, và nhớ Minh ghê gớm. Cô thủ thỉ kể cho chị gái nghe những ngày lưu lạc và cách gặp gỡ giữa cô và Minh. Năm Lan nghe mà tái cả người, quả cô có biết Út Huệ có một thời lăn lóc khổ sở ở Sài Gòn, nhưng đây là lần đầu tiên cô biết đến việc em gái đã từng làm nghề bán thân nuôi miệng !Và cô cũng không ngờ đến việc Minh đã bị lùa ra khỏi quân y viện để suýt chút nữa chết đói cạnh đường rầy xe lửa nếu không gặp lại Út Huệ...

- Em có lỗi với anh Minh... Út Huệ nhắc đi nhắc lại câu nói với giọng chan hòa nước mắt.

- Nhưng là lỗi gì ? Năm Lan hỏi gặng, đây là điều cô thắc mắc từ lâu.

- Rồi sau này chị sẽ hiểu thôi... Út Huệ trả lời.

Hai chị em ăn cơm chiều xong đang sửa soạn đi sang nhà một người bà con thì được báo có khách. Đứng ở khu ký túc xá là con bé Châu, sau lưng con bé là một người đàn ông lạ mặt.

- Chú Minh sai con tới gởi cô ít tiền về nhà phụ nuôi cháu... Con bé nói.

Út Huệ nhìn sững con bé. Đây chính là mối dây duy nhất để cô có thể tìm được Minh ? Cô chưa kịp nghe hết câu của con bé nói đã vội hỏi luôn :

- Anh Minh hiện giờ ở đâu ? Cháu phải cho cô đi gặp...

Con bé sợ hãi lắc đầu. Nó hơi bất ngờ khi nhìn thấy vợ Minh có mặt ở chỗ này. Tuy nhiên, để có thể dọa nó phải chỉ chỗ Minh đang ở ư ? Đừng hòng !

Thừa hiểu rằng không thể buộc con bé nói ra chỗ ở của Minh, Năm Lan kéo nhẹ vai em gái nói một cách nhỏ nhẹ ôn hòa :

- Con hãy nói cho cô biết chỗ ở của chú Minh của con đi, đây là việc hết sức quan trọng liên quan đến cuộc đời của chú ấy, con nghe cô đi !

- Không được đâu, con không nói được !

Nài nỉ mãi cuối cùng Năm Lan nhún vai tỏ vẻ bất lực.

***

Bằng kinh nghiệm của những năm tháng chiến tranh, Năm Lan rốt cuộc cũng tìm ra tiệm uốn tóc, nơi con bé Châu đang học nghề. Cô đưa em gái tìm đến cửa tiệm và nhắn một người thợ để gọi Châu ra gặp. Con bé tái cả mặt khi nhìn thấy họ. Nó không thể tin rằng Năm Lan có thể tìm ra chỗ này...

- Con nghe cô nói đây... Nếu chú Minh không muốn gặp lại cô, con hãy nói lại với chú ấy, một lúc nào đó chú hãy đến gặp mẹ của cô để nhận lấy những gì cô gởi riêng cho chú ấy ! Út Huệ nói trong lúc nước mắt đoanh tròng. Họ đã không thể yêu cầu Minh làm điều mà anh không muốn, dù anh vốn là kẻ thụ động, nhút nhát theo cách đánh giá của người đời, kể cả Út Huệ ! Con bé nhìn hai người phụ nữ quay về với một cái bỉu môi hết sức trẻ con...

***

Út Huệ ôm con gái vào lòng và hôn thật lâu vào trán. Cô vẫn cảm thấy sự sợ hãi lởn vởn trong tâm trí khi phải đi đến nơi hẹn cuối cùng với gã anh rể thâm độc. Cô biết, để đạt được mục đích, Ba Tí chẳng từ bất kỳ thủ đoạn nào dù ác độc đến đâu. Đe dọa tố cáo Ba Tí, cô đã đặt mình vào sự lựa chọn sinh tử của gã. Một là, gã sẽ lùi bước, chấp nhận việc buông tha Minh để anh có thể yên ổn trở về quê cùng cô. Cô tin rằng, rồi cô sẽ thuyết phục được Minh tha thứ cho cô để cô mãi mãi có anh. Nhưng nếu ông trưởng công an huyện nay sắp bước lên chiếc ghế phó giám đốc công an tỉnh vẫn giữ thói ngoan cố, hiếu sát của gã trong thời chiến, tính mạng của cô sẽ coi như xong ! Ai chứ Ba Tí, giết một mạng người có kể số gì đâu !

- Mầy tính đi đâu nữa hả Út ? Bà mẹ hỏi, trực giác của một người mẹ báo cho bà biết sắp có chuyện hệ trọng xảy ra với đứa con gái út của bà.

- Không có gì đâu má ơi, con đi lên tỉnh có ít công việc... Út Huệ đáp.

***

Vừa đến cửa khu nhà trọ Út Huệ đã thấy gã công an thuộc hạ của Ba Tí đứng đợi sẵn với nụ cười nhăn nhở. Gã gật đầu chào Út Huệ rồi nói luôn :

- Anh Ba dặn em đón chị để đi gặp nơi khác ! Anh Ba đang đợi...

Út Huệ hơi chột dạ. Cô vẫn nghĩ là, nếu gặp Ba Tí ở nhà trọ, dẫu sao cũng có chút an toàn hơn vì gã sẽ không đủ liều mạng để làm điều gì có hại cho cô. Ở nơi thị tứ, đâu dễ làm càn ?

- Sao không gặp tôi ở đây, Còn phải đi đâu nữa ? Út Huệ cau mày hỏi.

- Dạ anh Ba còn một cuộc họp ở dưới xã... biểu em lên đón chị ! Giàu đáp.

Bước lên xe U oát, Huệ chợt cắn chặt môi. Nếu đây là chuyến đi cuối cùng của cô thì cũng chẳng buồn trách làm gì ! Cô đã làm cho người cô yêu phải đau khổ rời bỏ cô mà đi, có bị trời già mượn tay Ba Tí trừng phạt cũng là phải lẽ... Nghĩ vậy, suốt chuyến đi cô không hé môi lấy nửa lời. Cuối cùng, xe dừng lại trước một ngôi nhà cây cối um tùm...

- Chị xuống xe vào trong đi, anh Ba đang đợi trong đó... Gã đàn em Ba Tí nói với giọng lạnh như băng.

Út Huệ bước vào ngôi nhà vắng vẻ. Ba Tí ngồi ở bộ bàn ghế hút thuốc đợi, thấy cô đi vào vội đứng lên đon đả :

- Anh đợi Út khá lâu rồi đó nghen ! Ngồi xuống đây nói chuyện...

- Tôi cũng chờ giờ phút này lâu rồi để gặp ông giải quyết lần lượt những gì vướng mắc... Út Huệ đáp với vẻ mặt rắn đanh.

- Trời ơi, em là gì mà không có chút tình cảm gì hết trơn vậy ? Bộ em không biết là anh luôn luôn yêu thương em nhứt sao ? Ba Tí cười nói.

- Thôi đi mấy cái kiểu nói tình cảm bẩn thỉu đó ! Tôi hỏi ông lần chót, ông có chấp nhận tìm anh Minh về và đứng ra nói thực mọi chuyện không ? Út Huệ hỏi sẳng.

Nét mặt tươi cười của Ba Tí biến mất, thay vào đó là bộ mặt quen thuộc Út Huệ đã nhìn thấy nhiều lần thời chiến tranh. Gã nhếch mép cười lạt :

- Cô tưởng cô là ai chứ ? Cô đòi tố cáo tôi à ?

- Anh khỏi phải thách, ngay sau khi ở đây về tôi sẽ đến cơ quan tỉnh ủy để vạch trần bộ mặt của ông trưởng công an huyện đồi bại, của thằng anh rể khốn nạn... Út Huệ nói một cách đầy đe dọa.

Ba Tí bật cười. Tiếng cười của gã khô khốc hệt như chó sủa.

- Cô nghĩ là cô còn có thể về được sao ? Ai có thể đe dọa Ba Tí này rồi sau đó vẫn có thể an toàn muốn làm gì cũng được ?

Út Huệ tái mặt. Vậy là quá rõ, đúng như cô dự đoán, Ba Tí sẽ thủ tiêu cô !

Cô quay phắt lại toan bỏ chạy ra cửa theo phản xạ. Đã quá muộn, ngay sau lưng cô là Giàu, tên thuộc hạ đắc lực của Ba Tí. Út Hụê bị gã ghì chặt rồi quật luôn xuống đất. Vừa mở miệng toan kêu cứu, Ba Tí đã bịt miệng cô một cách thô bạo bằng chính bàn tay đã từng vuốt ve âu yếm cô... Út Huệ nhắm mắt, thôi giẫy dụa chống cự vì biết rằng hoàn toàn vô ích, từ khoé mắt một giòng nước mắt tuôn ra nhoè nhoẹt gương mặt xinh đẹp của cô.

- Lôi nó ra sau ! Ba Tí ra lệnh.

Giàu khóa chặt tay, không quên nhét vào miệng Út Huệ, chiếc khăn lau bàn lôi xềnh xệch cô gái ra cửa sau dẫn ra vườn. Sau khi trói chặt cô gái để nằm co quắp trên sàn nước sát ao, Giàu hổn hển báo :

- Báo cáo thủ trưởng : Xong ! Bây giờ tính sao ạ ?

Ba Tí cười hềnh hệch. Gã khoát tay... Hiểu ý, Giàu đi lên nhà trên ngồi uống trà một mình. Dẫu sao cũng phải để thủ trưởng tìm chút vui vẻ lần cuối cùng. Hơn nửa giờ sau, Ba Tí xuất hiện. Gã hất hàm ra hiệu cho đàn em...

Khi Giàu ra tới nơi, Út Huệ đã chết... Cô nằm tênh hênh trên nền gạch không một mảnh vải che thân. Đôi mắt cô trợn ngược và từ khóe miệng một giòng máu rỉ ra loang xuống cổ... Giàu tỉnh bơ nhún vai và lôi trong mình ra một chiếc lưỡi cưa sáng loáng để bắt đầu tỉ mẩn công việc thủ tiêu xác chết.

***

Sự biến mất của cô em gái khiến Năm Lan hết sức lo lắng. Cô thừa hiểu phải có một mối liên quan nào đó giữa Ba Tí và Út Huệ, nhưng để chứng minh thì vô phương.

- Anh đã làm gì con Út ? Năm Lan tìm đến gặp Ba Tí ở phòng làm việc để hỏi

- Cô đừng có mà nói bậy ! Tôi có gì với nó ? Ba Tí nạt luôn.

Giận tím mặt nhưng Năm Lan đành chịu thua. Cô trở về nhà, lòng bối rối chẳng biết phải trả lời sao với bà mẹ cứ hỏi tin tức về Ềcon ÚtỂ suốt ngày đêm...

- Mầy tìm thằng Minh về đây, tao có chuyện muốn nói với nó... Bà nói.

- Trời ơi, dượng ấy giận con Út bỏ đi rồi, có tìm được cũng dễ gì gọi dượng ấy về được ! Không được đâu má à ! Năm Lan trả lời.

- Mầy nói sao vậy ? Bộ thằng Minh không thương con nó sao ? Mầy cứ tìm cho được nó, nói là tao cần gặp nó... Bà mẹ nằng nặc.

Thế là hai ngày sau, Năm Lan lại tìm lên Sài Gòn.

- Cô Út Huệ vợ của chú Minh mất tích rồi !Con phải nói cho chú ấy biết để liệu mà về quê. .. Năm Lan mềm mỏng năn nỉ con bé Châu.

- Thôi được rồi,cô về đi. .. con sẽ nói lại cho chú Minh biết !Con bé làu bàu. Năm Lan trở về khu tập thể của cán bộ đang học đại học tại chức để chờ tin Minh. Cô tin rằng, dù gì thì Minh cũng phải đến gặp cô.

Ngay hôm sau, con bé Châu đến cùng một người đàn ông mặc quần áo bộ đội đã bạc màu. Đôi mắt con bé sưng mọng và vừa gặp cô, nó đã khóc òa :

- Chú Minh bị bắt rồi cô ơi !

Năm Lan sững sờ trước tin dữ. Tại sao lại có thể như thế được nhỉ ?

Mừng, chính là người đàn ông đi cùng con bé Châu, giải thích :

- Anh ấy bị bắt vì tội làm giấy tờ giả mạo. .. Tôi là bạn anh ấy, nghe tin vội bảo con bé đưa đến gặp chị để xem có chuyện gì !

Con bé Châu vừa khóc rấm rứt vừa kể thêm :

- Hồi đêm qua con có kể lại việc cô đến tìm, chú Minh có bảo là hôm nay sẽ đi về quê để giải quyết việc gia đình, ai dè gần sáng công an tới bắt luôn chú ấy...

***

Năm Lan đưa Mừng và con bé Châu về gặp mẹ. Bà đã bật khóc khi nghe tin Minh bị bắt. Đây là giọt nước mắt hiếm hoi bà dành cho đứa con rể hiền lành, tốt tính. Từ sau khi bốn đứa con trai ngã xuống khắp các mặt trận, bà đã thôi khóc và chỉ còn nỗi đau âm ỉ. Hôm nay, hẳn Minh sẽ ấm áp biết bao khi biết rằng dù tứ cố vô thân, anh vẫn còn một người nghĩ đến thân phận bọt bèo của mình...

Bà lôi tận đáy tủ ra gói giấy Út Huệ nhờ trao lại cho Minh. Bà cầm một lúc như nửa muốn cất đi, nửa muốn trao lại. Cuối cùng bà thở dài :

- Thôi, thằng Minh biết bao giờ mới có thể về để gặp nó, con Lan - mầy với bạn thằng Minh xem thử coi con Út để lại cái gì ?

Năm Lan hồi hộp mở gói giấy để lấy ra cuốn sổ, cô biết chắc ở đây sẽ ẩn chứa rất nhiều điều hệ trọng, kể cả việc mất tích một cách kỳ quặc của em gái. Cô rất sợ một điều dù có thể đoán chắc trăm phần là sẽ có, đó là cái tên Ba Tí xuất hiện trong cuốn vở ghi chép chi chít những chữ là chữ... Kẹp vào giữa là một lá thư ngắn, nét chữ quen thuộc của chồng cô !

***

Chuẩn bị lên xe đò để về kịp Sài Gòn lúc chiều tối, Mừng và con bé Châu ngồi uống nước ở một quán ven quốc lộ cùng Năm Lan. Họ không trao đổi gì thêm về những phát hiện kinh hoàng từ cuốn vở để lại của Út Huệ. Theo thỏa thuận, Mừng sẽ về để bàn bạc cùng các chiến hữu, khi vào thăm Minh sẽ lựa lời dò ý của anh ta. Nếu anh ta có vẻ sẽ không chịu nổi khi thông tin về Út Huệ, họ thống nhất sẽ dấu biệt. Cuốn vở sẽ được Năm Lan sử dụng làm bằng chứng cùng lá thư của đích thân Ba Tí viết, tố cáo gã. Tuy nhiên, ý thức được sự lợi hại của ông chồng cũ, Năm Lan sẽ tiến hành một cách cẩn thận và kín đáo... Cô cũng cần đến sự trợ lực của nhóm Mừng, dẫu sao cô cũng là đàn bà và chỉ có một mình.

Đang ngồi trầm ngâm với bao tư tưởng hỗn độn trong đầu, Năm Lan hoàn toàn không nhận ra một chiếc xe U- oát vừa ngừng lại trước quán. Bước xuống xe là Ba Tí cùng hai người bạn cũng làm việc ở công an tỉnh.

- Sao lại ngồi đây ? Cô đang học ở Sài Gòn cơ mà ? Ba Tí ngạc nhiên hỏi. Năm Lan giật mình nhìn chồng. Bất giác một nỗi căm giận trào dâng làm cô như ngạt thở. Cô nhìn Ba Tí chằm chằm, toan phát tác... Nghĩ sao cô chỉ cười lạt quay đi không trả lời !

- Tôi hỏi cô, tại sao cô không trả lời ? Ba Tí sẳng giọng. Gã hơi mắc cỡ với bạn. Dẫu sao, chức vụ của gã vẫn có phần kém thế hơn vợ nên lúc nào gã cũng có chút đố kỵ. Sự im lặng của Lan còn gì nữa ngoài thái độ khinh rẻ chồng ?

- Tôi đang có công việc ! Năm Lan gằn giọng trong lúc không nhìn Ba Tí.

- à, công việc ? Ngồi đây tự tình với trai là công việc của cô chắc ? Ba Tí độp lại với giọng mỉa mai. Gã chẳng cần giữ ý tứ gì nữa, dẫu sao - chiếc ghế phó giám đốc cũng đã nắm chắc trong tay do sự vận động của gã, nào có nhờ gì đến uy tín gia đình bên vợ ?

Mừng theo dõi diễn tiến của hai người từ đầu, nghe câu kết luận khó nghe của người đàn ông lạ mặt, anh ngẩn người nhìn Lan tỏ vẻ muốn hỏi. Cô vội giải thích :

- Đây là Ba Tí, chồng của tôi ! Anh ta hiểu lầm nên có lời lẽ như vậy, anh đừng giận !

- Hiểu lầm ? Có tôi lầm về cô thì đúng hơn ! Ba Tí nói một cách cay độc.

Nghe đến tên Ba Tí, Mừng chợt nóng bừng mặt. Hai thái dương của anh máu chảy rần rật một cách lạ kỳ... Hóa ra đây chính là tên trưởng công an huyện đã đẩy Minh đến chỗ khốn cùng, đã cướp đi hạnh phúc vốn rất nhỏ nhoi tầm thường của anh ta, và khốn nạn hơn, đã tiếp tục leo lên cao hơn nữa trong hàng ngũ những người cách mạng ; Tóm lại, đây là một con sâu độc !

- Nhìn gì hả thằng kia ? Tao chưa hỏi tội mầy dám tán tỉnh vợ tao, mầy còn giở trò khiêu khích à ? Ba Tí quay qua Mừng sừng sộ.

Không hổ danh là một người lính đặc công, Mừng lao vào Ba Tí nhanh như một cơn lốc. Anh chụp ngang hông gã để dùng một thế vật cổ truyền đất Hà Bắc quăng luôn gã ra cửa quán. Chưa hết, ngay lúc hai người bạn đi cùng Ba Tí chưa kịp can thiệp, Mừng đã phóng theo Ba Tí để chặn tay gã đang tìm lấy báng súng K54. Bằng hai quả đấm móc vào hàm, Ba Tí đã bị anh cựu binh đặc công loại ra khỏi vòng chiến đấu.

Vài giây sau, Mừng bị bắt giữ.

***

Nghe Năm Lan thuật lại nguồn cơn vì sao Mừng bị bắt giữ, nhóm chiến hữu của anh chàng thương binh hảo hán vội vã bàn nhau một cuộc tháo gỡ cho Mừng. Nghe qua những kế hoạch hết sức phiêu lưu mạo hiểm như kéo nhiều bạn bè xuống tận trại giam huyện để gây áp lực buộc Ba Tí phải thả Mừng hoặc ghê gớm hơn, tấn công luôn vào trụ sở công an bắt Ba Tí để trao đổi, Năm Lan vội lên tiếng can ngăn :

- Các anh làm thế không được đâu ! Bây giờ đâu phải thời chiến mà có thể bạo động ? Làm căng chỉ khổ cho anh Mừng thôi !

- Vậy cô tính sao ? Lâm nóng nảy hỏi luôn :

- Chẳng lẽ lại ngồi nhìn à ?

Thủy chợt đưa tay ngăn các bạn và sao đó chậm rãi nói :

- Bây giờ muốn cứu Mừng chỉ có hai cách, một là cô Năm Lan phải chịu khó can thiệp ở địa phương, hai là tụi mình phải tìm cách nhờ vả bạn bè đang còn phục vụ trong quân đội... Dẫu sao, tiếng nói của một sĩ quan cao cấp nào đó, cũng hơn nghìn lần lời nói của chúng ta, những kẻ được xã hội cưu mang như một món nợ !

Định gật gù, anh đã nghĩ đến một người có thể cứu Mừng. Anh nói :

- Thủy hoàn toàn có lý ! Tôi và các bạn sẽ làm đơn xin tha cho Mừng và nhờ thượng tá Phong, thủ trưởng cũ của Mừng đích thân can thiệp...

Năm Lan hoàn toàn tán thành kế hoặch của nhóm thương binh. Cô lập tức thu xếp để quay về tìm cách tháo gỡ, không để Ba Tí khởi tố vụ án hành hung gã của Mừng. Cô đã nghiệm ra, với Ba Tí không thể nói chuyện tình nghĩa. Chỉ còn cách gây áp lực với gã mới xong !

***

- Tùy ông ! Nếu ông bất chấp tất cả thì tôi sẽ cho mọi chuyện lộn tùng phèo... Với lá thư của ông viết cho con Út, tôi dư khả năng để gắn vào cổ ông vụ mất tích khó hiểu của nó ! Tôi nói ít chắc ông hiểu nhiều... Năm Lan nói một cách thờ ơ.

Ba Tí tái mặt nhìn đăm đăm vào mảnh giấy photocoppy lá thư của mình. Gã tự rủa thầm vì sao đã không để ý đến chi tiết tai hại ấy khi quyết định thủ tiêu Út Huệ. Với Năm Lan, cương vị của cô vợ cũ còn quan trọng hơn cả chồng, làm sao gã có thể tính gọn như Út Huệ được ?

Từ sau vụ việc Mừng bị bắt giữ do đánh ông trưởng công an huyện, cô vợ xinh đẹp và uy tín của gã đã dọn hẳn về ở với mẹ. Chẳng những vậy, cô còn trao tận tay Ba Tí một lá đơn ly hôn yêu cầu gã ký vào đó.

- Nếu tôi chỉ là một thằng xe ôm quèn nào đó thì chuyện bỏ qua cho thằng khùng đó rất dễ... Đằng này, với tư cách là một trưởng công an huyện, tôi có muốn bỏ qua cũng khó giải thích với lãnh đạo, cô phải nghĩ cho tôi chứ ? Ba Tí xuống giọng giải thích.

Biết rằng Ba Tí có phần nhượng bộ, tuy gã không dễ bỏ qua cho ai đó dám động đến mình, nhưng Năm Lan tin chắc gã sẽ phải thả Mừng ra. Cô bồi thêm :

- Tôi kỳ hạn cho ông từ giờ đến trưa mai, nếu anh Mừng chưa về thì ông đừngcó trách tôi cạn tình cạn nghĩa !

Nói xong không đợi phản ứng của Ba Tí, cô quay phắt trở ra bỏ lại gã chồng bất nhân ngồi thừ ra trước lá thư photocoppy tai hại trong phòng làm việc uy nghiêm bề thế của ông trưởng công an huyện...

Cũng may cho gã, đang rối trí chẳng biết giải quyết ra sao trước yêu cầu của Năm Lan quá cấp bách về mặt thời gian, ngay buổi sáng hôm sau, một chiếc xe Jeep quân đội đã ghé lại trụ sở công an huyện.

Trung tá Phong, một anh hùng quân đội trong cuộc chiến tranh dài hơi suốt 1/4 thế kỷ, hiện đang là tiểu đoàn trưởng một đơn vị đặc công, đã đến gặp Ba Tí cùng đệ tử ruột của mình là Định.

- Chú ấy là một thương binh, có giấy tờ xác nhận về bệnh trạng, tôi nghĩ là ông nên có chút quan tâm chiếu cố ! Ông trung tá nói chậm rãi.

Ba Tí mừng như bắt được vàng. Đây chính là cái mà gã đang chờ đợi, một cái cớ nào đó khả dĩ thuyết phục để trả tự do cho Mừng mà không bị điều tiếng thị phi gì. Ai mà chấp một gã tâm thần cơ chứ ?

Thế là ngay buổi trưa hôm ấy, Mừng được tha. Ông Phong đón anh chàng được ví là Ềbùa hộ mệnhỂ của đơn vị về bằng xe của mình.

- Cậu cần bình tĩnh, khéo léo hơn một chút... Bất kỳ cuộc chiến tranh nào muốn thắng lợi cũng phải có phương pháp, có đầu óc mới được ! Không thể cứ húc bừa đầu vào đá như thế ! Ông nói khi đã ở trên xe. (Còn tiếp)