|
|
|
Đảng cộng sản Việt Nam
(CSVN) đang tìm cách siết lại mạng lưới Internet. Sau Thông Tư số 2 về quản
lý Internet ngày 14/7, ngày 22/7, Ban Bí Thư của đảng CSVN tung thêm chỉ thị
số 52-CT/TƯ để vạch ra một số hướng chỉ đạo về nhiệm vụ quản lý mạng lưới
Internet. Trong nhiều năm qua, Hà Nội
đã cố gắng kiểm soát và quản lý mạng lưới Internet, nhưng các cố gắng này đều
thất bại. Điển hình là nghị định 55/2001/NĐ-CP đã được Hà Nội ban hành từ
ngày 23/8/2001 và cho đến nay tuy vẫn còn hiệu lực, nhưng không thật sự được
áp dụng trên thực tế. Vì trên nguyên tắc, chỉ có các đại lý doanh nghiệp có
giấy phép thì mới được cung cấp dịch vụ internet cho người bình thường sử
dụng. Nhưng từ năm 2001 đến nay, hiện tượng cá nhân đứng mở các quán
cybercafé ngày một nhiều và họ cũng có trăm ngàn cách để nối vào mạng toàn
cầu mà không thông qua các doanh nghiệp chính thức của nhà nước. Ba năm sau, Hà Nội tung
thêm 2 văn bản nữa. Đó là chỉ thị của Bộ Bưu Chính Viễn Thông, số
06/2004/CT-BBCVT ngày 7/5/2004 và quyết định của Bộ Công An số 7½004/QĐCA
ngày 29/½004. Các điểm đáng lưu ý của hai văn bản này là buộc các chủ quán
cybercafé phải kiểm soát và ghi lại giấy tờ của người truy cập internet, cấm
trẻ vị thành niên không được vào quán cybercafé nếu không có người lớn đi
theo và các chủ quán phải lưu lại dữ kiện truy cập của khách hàng trong một
thời gian,... Trong hơn một năm qua, các quy định này không hề được áp dụng
trên thực tế ở Việt Nam. Những thất bại trên buộc
đảng CSVN phải tìm thêm những biện pháp mới để siết chặt sự kiểm soát mạng
Internet. Thông tư số 02 và chỉ thị 52-CT/TƯ nằm trong chiều hướng này. Ba
biện pháp đáng chú ý là : Hà Nội thật sự muốn gì qua
các biện pháp nói trên ? Điều Hà Nội muốn không hẳn
là sẽ đạt được. Nếu chúng ta đọc các phản ứng của quần chúng trong nước trên
các web site, forum, từ người sử dụng cho đến chủ các quán cybercafé, thì sẽ
thấy thông tư số 02 đang bị phản đối rất kịch liệt. Đây là yếu tố đầu tiên
khiến cho chính sách kiểm soát Internet của Hà Nội sẽ thất bại. Yếu tố thứ
hai là sự tham nhũng, hủ hóa của guồng máy công an. Hà Nội chỉ có thể áp dụng
đúng mức các biện pháp nói trên khi có được một đội ngũ công an trong sạch và
vâng lời. Yếu tố thứ ba là sự mở cửa của Việt Nam hiện nay sẽ khiến cho các
biện pháp kiểm soát trở thành vô hiệu, khi người nước ngoài đến Việt Nam
không chấp nhận giấy tờ của họ và nội dung truy cập của họ trên mạng Internet
bị nhà nước kiểm soát. Yếu tố thứ tư là trong tiến trình hội nhập các khối
kinh tế khu vực và WTO, Hà Nội sẽ càng ngày càng phải đối diện với áp lực
phải mở rộng hơn thông tin, nhất là áp lực đến từ giới doanh nhân, đầu tư
ngoại quốc, trí thức, chuyên viên,... Áp lực này sẽ buộc Hà Nội nằm trong thế
phải lựa chọn : hoặc là bãi bỏ các biện pháp kiểm soát gắt gao
Internet ; hoặc là chấp nhận mất đi những cơ hội hợp tác đầu tư có lợi. Để các yếu tố nêu trên có
thể vô hiệu hóa một cách nhanh chóng chính sách siết chặt sự kiểm soát
Internet của Hà Nội, chúng ta phải nỗ lực tác động để mỗi yếu tố đều trở
thành một áp lực đáng kể. Ngoài việc lên tiếng tán đồng và hỗ trợ sự phản đối
của quần chúng trong nước đối với thông tư 02, chúng ta có thể vận động các
tổ chức quốc tế phản đối các biện pháp kiểm soát internet của Hà Nội. Chúng
ta cũng có thể vận động các quốc gia đặt điều kiện "cởi trói internet
tại Việt Nam" trong các cuộc đàm pháp song phương và đa phương với Hà
Nội. Với nỗ lực trong ngoài, chúng ta tin rằng Hà Nội không thể siết lại
Internet. Mà ngược lại, Internet đang như một mạng lưới siết chặt chế độ độc
tài. Những biện pháp đề ra của Hà Nội chỉ là biểu hiện của sự vùng vẫy của
một con cá đang mắc lưới. Nguyễn Ngọc Đức |