Mạng lưới đang siết lại

Nguyễn Ngọc Ðức
(LMVNTD - LÊN MẠNG THỨ NĂM 4 THÁNG TÁM 2005)

Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN) đang tìm cách siết lại mạng lưới Internet. Sau Thông Tư số 2 về quản lý Internet ngày 14/7, ngày 22/7, Ban Bí Thư của đảng CSVN tung thêm chỉ thị số 52-CT/TƯ để vạch ra một số hướng chỉ đạo về nhiệm vụ quản lý mạng lưới Internet.

Trong nhiều năm qua, Hà Nội đã cố gắng kiểm soát và quản lý mạng lưới Internet, nhưng các cố gắng này đều thất bại. Điển hình là nghị định 55/2001/NĐ-CP đã được Hà Nội ban hành từ ngày 23/8/2001 và cho đến nay tuy vẫn còn hiệu lực, nhưng không thật sự được áp dụng trên thực tế. Vì trên nguyên tắc, chỉ có các đại lý doanh nghiệp có giấy phép thì mới được cung cấp dịch vụ internet cho người bình thường sử dụng. Nhưng từ năm 2001 đến nay, hiện tượng cá nhân đứng mở các quán cybercafé ngày một nhiều và họ cũng có trăm ngàn cách để nối vào mạng toàn cầu mà không thông qua các doanh nghiệp chính thức của nhà nước.

Ba năm sau, Hà Nội tung thêm 2 văn bản nữa. Đó là chỉ thị của Bộ Bưu Chính Viễn Thông, số 06/2004/CT-BBCVT ngày 7/5/2004 và quyết định của Bộ Công An số 7½004/QĐCA ngày 29/½004. Các điểm đáng lưu ý của hai văn bản này là buộc các chủ quán cybercafé phải kiểm soát và ghi lại giấy tờ của người truy cập internet, cấm trẻ vị thành niên không được vào quán cybercafé nếu không có người lớn đi theo và các chủ quán phải lưu lại dữ kiện truy cập của khách hàng trong một thời gian,... Trong hơn một năm qua, các quy định này không hề được áp dụng trên thực tế ở Việt Nam.

Những thất bại trên buộc đảng CSVN phải tìm thêm những biện pháp mới để siết chặt sự kiểm soát mạng Internet. Thông tư số 02 và chỉ thị 52-CT/TƯ nằm trong chiều hướng này. Ba biện pháp đáng chú ý là :
- Thứ nhất là các địa điểm cung cấp dịch vụ Internet chỉ được mở cửa từ 6 giờ sáng đến 12 giờ đêm.
- Thứ hai là các máy tính của cửa hàng Internet phải cài đặt phần mềm (software) để lưu giữ mọi dữ kiện truy cập của khách hàng và nhân viên nhà nước có quyền kiểm soát các dữ kiện này bất cứ lúc nào.
- Thứ ba là mọi khách hàng sử dụng dịch vụ Internet phải xuất trình giấy tờ tùy thân như chứng minh thư, passport, thẻ sinh viên, thẻ học sinh,... và người trách nhiệm cửa hàng Internet phải có nhiệm vụ ghi lại các dữ kiện giấy tờ tùy thân này.

Hà Nội thật sự muốn gì qua các biện pháp nói trên ?
- Biện pháp thứ nhất là muốn giới hạn sự sử dụng internet. Hiện nay ở Việt Nam, giờ cao điểm sử dụng internet của giới trẻ là từ 22g đến 2g sáng. Mặt khác, do sự chênh lệch giờ giấc ở Việt Nam với Âu Châu và Mỹ Châu, nên khi có các sự kiện quan trọng về thể thao, thời sự ở các lục địa này, các quán cybercafé ở Việt Nam đầy ngập khách vào giữa khuya. Đây cũng là khoảng thời gian mà hệ thống công an của Hà Nội thiếu hiệu quả kiểm soát nhất. Sự giới hạn giờ giấc như thông tư 02 sẽ làm giảm lượng sử dụng Internet và đồng thời ngăn chặn những truy cập vào lúc mà công an không có khả năng kiểm soát cao. Đây là điều Hà Nội muốn.
- Biện pháp thứ hai là muốn kiểm soát nội dung sử dụng Internet. Tại Việt Nam, nếu gởi thông tin từ nhà, từ nơi làm, công an sẽ dễ dàng tìm ra xuất xứ. Nên từ lâu, nhiều thành phần quần chúng khác nhau đã dùng các quán cybercafé để tìm cách thông tin ra thế giới bên ngoài về những sự thật đang xảy ra ở Việt Nam. Việc buộc các quán cybercafé phải lưu giữ mọi dữ kiện truy cập của khách hàng và nhân viên nhà nước có quyền kiểm soát các dữ kiện này bất cứ lúc nào là cách để ngăn chặn những thông tin bất lợi cho chế độ. Đây là điều Hà Nội muốn.
- Biện pháp thứ ba là muốn kiểm soát người sử dụng Internet. Hiện nay ở Việt Nam, hầu hết các dịch vụ thông tin công cộng như gởi thư, gọi điện thoại, sử dụng internet đều không cần phải xuất trình giấy tờ tùy thân. Việc buộc các người sử dụng dịch vụ Internet phải xuất trình giấy tờ tùy thân và người trách nhiệm cửa hàng phải có nhiệm vụ ghi lại là cách để nhà nước dễ dàng truy tìm những người truy cập hay tán phát những thông tin độc hại đối với chế độ. Đây là điều Hà Nội muốn.

Điều Hà Nội muốn không hẳn là sẽ đạt được. Nếu chúng ta đọc các phản ứng của quần chúng trong nước trên các web site, forum, từ người sử dụng cho đến chủ các quán cybercafé, thì sẽ thấy thông tư số 02 đang bị phản đối rất kịch liệt. Đây là yếu tố đầu tiên khiến cho chính sách kiểm soát Internet của Hà Nội sẽ thất bại. Yếu tố thứ hai là sự tham nhũng, hủ hóa của guồng máy công an. Hà Nội chỉ có thể áp dụng đúng mức các biện pháp nói trên khi có được một đội ngũ công an trong sạch và vâng lời. Yếu tố thứ ba là sự mở cửa của Việt Nam hiện nay sẽ khiến cho các biện pháp kiểm soát trở thành vô hiệu, khi người nước ngoài đến Việt Nam không chấp nhận giấy tờ của họ và nội dung truy cập của họ trên mạng Internet bị nhà nước kiểm soát. Yếu tố thứ tư là trong tiến trình hội nhập các khối kinh tế khu vực và WTO, Hà Nội sẽ càng ngày càng phải đối diện với áp lực phải mở rộng hơn thông tin, nhất là áp lực đến từ giới doanh nhân, đầu tư ngoại quốc, trí thức, chuyên viên,... Áp lực này sẽ buộc Hà Nội nằm trong thế phải lựa chọn : hoặc là bãi bỏ các biện pháp kiểm soát gắt gao Internet ; hoặc là chấp nhận mất đi những cơ hội hợp tác đầu tư có lợi.

Để các yếu tố nêu trên có thể vô hiệu hóa một cách nhanh chóng chính sách siết chặt sự kiểm soát Internet của Hà Nội, chúng ta phải nỗ lực tác động để mỗi yếu tố đều trở thành một áp lực đáng kể. Ngoài việc lên tiếng tán đồng và hỗ trợ sự phản đối của quần chúng trong nước đối với thông tư 02, chúng ta có thể vận động các tổ chức quốc tế phản đối các biện pháp kiểm soát internet của Hà Nội. Chúng ta cũng có thể vận động các quốc gia đặt điều kiện "cởi trói internet tại Việt Nam" trong các cuộc đàm pháp song phương và đa phương với Hà Nội. Với nỗ lực trong ngoài, chúng ta tin rằng Hà Nội không thể siết lại Internet. Mà ngược lại, Internet đang như một mạng lưới siết chặt chế độ độc tài. Những biện pháp đề ra của Hà Nội chỉ là biểu hiện của sự vùng vẫy của một con cá đang mắc lưới.

Nguyễn Ngọc Đức