Nhu Cầu Của Con Người và Đất Nước Việt Nam Hôm Nay
Trần Đức Tường
 (LMVNTD - LÊN MẠNG CHỦ NHẬT 19 THÁNG SÁU 2005)

Ba mươi năm đã trôi qua kể từ lúc CSVN đánh chiếm Miền Nam và đặt nền thống trị trên cả nước. Cũng suýt soát 20 năm đã qua đi kể từ khi chế độ cộng sản Hà Nội đã tung ra chính sách "đổi mới" nhằm thoát hiểm trong cơn nghiêng ngả của chủ nghĩa Mác Lênin trước lúc sụp đổ. Đời sống người dân có phần nào ảnh hưởng. Bộ mặt đất nước, nhất là tại các thành thị cũng có phần nào thay đổi. Nhưng, chế độ cộng sản nguyên thủy và chế độ cộng sản sau "đổi mới" có đáp ứng đúng những nhu cầu thiết thực của con người và đất nước Việt Nam hay không ? Phải nói rằng, nhân dân ta trong nước kể cả những người của guồng máy thống trị, dù lạc quan đến mấy cũng không thể trả lời được rằng cơn người và đất nước Việt Nam đã được thỏa mãn về những nhu cầu căn bản về chính trị, kinh tế, xã hội, tinh thần và vật chất...

Từ ngày Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp vào năm 1945, đất nước đã chìm vào hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm ; đó là chưa kể đến cuộc xâm lăng Kampuchia cuối năm 1978 và cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc đầu năm 1979, các chế độ cộng sản cũng như quốc gia đã không giải quyết được những nhu cầu thiết thực của dân tộc và đất nước. Nếu lý do chiến tranh đã được nêu lên để biện minh cho việc không giải quyết những nhu cầu của nhân dân và của xã hội thì lý do này không phải là duy nhất. Với chủ trương chuyên chính độc tài, chuyên chính của chủ thuyết Mác-Lênin, đảng CSVN đã cố tình làm ngơ, nếu không nói là bóp nghẹt những nhu cầu của con người và của quốc gia Việt Nam. Thiết nghĩ, cũng nên liệt kê ra đây những nhu cầu của con người và của đất nước Việt Nam và quá trình đáp ứng những nhu cầu này dưới chế độ cộng sản ở miền Bắc trước năm 1975 và dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam từ 1954 đến 1975. Tiếp theo cũng cần biết những nhu cầu căn bản của người dân và của xã hội, đất nước ta vào thời buổi hiện đại trong thế kỷ 21 này ; đồng thời nghiên cứu những giải pháp để đáp ứng lâu bền những nhu cầu đó.

Từ Thuộc Địa Sang Độc Lập

Khi người Nhật đầu hàng ở Á Châu, chấm dứt cuộc Đệ Nhị Thế Chiến khốc liệt thì đã xảy ra tại nước ta một khoảng trống chính trị. Đất nước không thực sự thuộc về một chính quyền nào cả. Chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp sau cuộc đảo chính Nhật 9/3/1945 đã hoàn toàn tan rã, những quan chức Pháp, nếu không bị giết hại thì vẫn còn bị giam giữ trong các nhà tù của quân đội Nhật. Hiệp Ước đầu hàng giữa Nhật và Đồng Minh đã yêu cần quân đội Nhật tiếp tục giữ an ninh trật tự ở những vùng họ chiếm đóng và không hề đề cập đến vấn đề người Pháp bị Nhật cầm tù tại Đông Dương. Cũng nên nhớ là ngay sau khi đảo chính Pháp, Nhật đã tuyên bố trao trả quyền độc lập cho Vua Bảo Đại. Vị vua sau cùng của triều Nguyễn mời ông Lệ Thần Trần Trọng Kim lập chính phủ với sự đồng ý của người Nhật và tham gia vào khối Đại Đông Á của Nhật.

Có người cho rằng, khi Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim bối rối vì đã trót theo phe "thua trận" nên đã tỏ ra tê liệt. Kết luận này e rằng có hơi khắt khe vì chính phủ này ra đời lúc nạn đói đang hoành hành ở Miền Bắc. Đây là một biến cố tang thương của dân tộc Việt Nam đã xảy ra vào đầu năm Ất Dậu (tháng 3/1945), nạn đói đã giết hại 2 triệu người. Hàng ngàn, hàng vạn con người bao gồm nam phụ lão ấu, thân xác chỉ còn da bọc xương. Không kiếm đưọc miếng ăn, kiệt sức, họ đã gục ngã và trút hơi thở cuối cùng trên khắp các nẻo đường đường phố. Ai cũng biết, nạn đói đó là hậu quả của ách cai trị cấu kết của thực dân Pháp và quân đội Nhật. Việc ưu tiên lúc đó của chính phủ Trần Trọng Kim là cứu đói và đối phó với nạn dịch tả, hậu quả của nạn đói mà không có một sự trợ giúp nào của quốc tế. Nếu so với 300.000 nạn nhân chết trong nạn sóng thần mới đây và được cả thế giới cứu trợ thì con số người Việt Nam chết trong nạn đói năm Ất Dậu và bệnh dịch sau đó lớn hơn gấp 7 lần. Trong lúc chính phủ còn đang lúng túng trước bao nhiêu vấn đề chính trị, xã hội... ; trong lúc những người lãnh đạo các đảng phái quốc gia chưa về đến Việt Nam, Mặt Trận Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Đông Dương đã huy động quần chúng nổi lên cướp lúa gạo, cướp chính quyền tại Hà Nội vào ngày 19/08/1945. Tiếp theo đó, Hồ Chí Minh đã đọc bản "Tuyên Ngôn Độc Lập" vào ngày 2/9/1945. Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản đã làm ngơ không hề đả động đến nạn đói vừa xảy ra chư đầy nửa năm trước đó. Về bản tuyên ngôn độc lập 2/9/45, cũng nên biết rằng, trên lý thuyết thì nền độc lập của Việt Nam đã do người Nhật trao trả từ tháng 3/1945, vì vậy bản tuyên bố độc lập ngày 2/9 là bản tuyên bố độc lập tại một nước đã có nền độc lập rồi.

Nếu dưới các thời kỳ đất nước ta bị ngoại quốc xâm lược và đặt nền đô hộ, dân chúng sống kiếp nô lệ nhục nhằn ; thì ý thức được thảm cảnh này và tìm cách nổi dậy đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập, chủ quyền... không phải là điều mà tất cả mọi người dân đều có trong đầu óc. Nó có ở một thiểu số người mà ta thường mệnh danh là những nhà ái quốc, những nhà cách mạng. Không phải chỉ trong thời kỳ Pháp thuộc mới có những vị này ; mà suốt trên chiều dài lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc ta đã có biết bao vị anh hùng, anh thư có lòng ái quốc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, vv...

Trong các thời kỳ đen tối của lịch sử Việt Nam, đa số người dân nghĩ gì ? muốn gì ? Họ mong muốn có một cuộc sống bình yên, no cơm, ấm áo. Trong một nước nông nghiệp lạc hậu, dân trí chưa được mở mang thì nhu cầu của người dân chỉ đơn giản như vậy. Sự lạc hậu chậm tiến của một dân tộc bị bắt làm nô lệ với nỗi lo đủ ăn, đủ mặc đã khiến cho quốc gia gặp nhiều trì trệ. Đất nước bị ngoại xâm đô hộ mà người dân chỉ nghĩ đến cơm áo, chẳng mấy ai lo việc đấu tranh giành độc lập, thì làm sao mà nước ta không có những thời kỳ nô lệ kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm ?

Nhu Cầu Của Dân Của Nước Được Đáp Ứng Như Thế Nào trong quá khứ ?

Chế độ cộng sản

Dù không phải là một chính thể độc lập đầu tiên sau khi thoát ách đô hộ của thực dân Pháp, nhưng bản "Tuyên Ngôn Độc Lập 2/9/1945" đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với châm ngôn : "độc lập - tự do - hạnh phúc". Ba điều này đúng là nguyện vọng của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời, là lẽ sống và đấu tranh của toàn dân ta. Điều đáng nói là những người cai trị đất nước có thực hiện 3 điều này cho dân không ? Hồ Chí Minh đã mở đầu bản "tuyên ngôn độc lập" đó bằng cách trích nguyên văn phần mở đầu của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Ông ta đã thêm rằng : "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng ; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Tiếp theo ông ta còn viện dẫn cả bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp năm 1789 như sau : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Tóm lược hai tài liệu nêu trên, ông ta viết : "Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được".

Tuy là vay mượn những lời tuyên bố trên đây của nước ngoài, nhưng những lời lẽ này đã được thốt ra từ cửa miệng của người tự nhận là "chủ tịch" nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Những lời lẽ này phải có giá trị nhất định của nó. Nhưng suốt từ đó đến nay, người dân sống dưới chế độ cộng sản của Hồ Chí Minh đã không được hưởng một mảy may nào của những quyền bình đẳng về quyền lợi, quyền tự do và quyền được hưởng hạnh phúc.

Cách đây 60 năm, CSVN đã tuyên bố xóa bỏ giai cấp. Điều này có thể khiến các tầng lớp dân nghèo ở nước ta thời bấy giờ dễ dàng đón nhận. Còn gì đẹp cho bằng một xã hội không còn kẻ giàu, người nghèo ? Người dân nghĩ rằng cuộc sống mình sẽ khá hơn, sẽ trở nên giàu có như những người giàu ở chế độ cũ. Chính vì những lời hứa hẹn của CSVN mà nhân dân nhiều vùng do cộng sản kiểm soát tại Miền Bắc trong những năm đầu thập niên 50 đã bị huy động vào phong trào "cải cách ruộng đất" đẫm máu của đảng CSVN. Hàng chục ngàn người mệnh danh là "địa chủ", "phú nông" đã bị mang ra đấu tố và giết hại. Ruộng đất bị tịch thu. Tiếng là để phân phát lại cho dân nghèo. Nhưng cái nghèo nó vẫn bám chặt lấy kiếp sống của họ. Ruộng đất của điền chủ, phú nông và cả dăm ba sào ruộng của dân nghèo cũng bị sung vào "hợp tác xã nông nghiệp". Ruộng đất đó, thay vì do điền chủ, phú nông quản lý, nay đã thuộc vào tay cán bộ cộng sản. Dân nghèo trước đây làm thuê, làm mướn cho địa chủ, phú nông thì nay cũng phải làm công cho hợp tác xã, do cán bộ chấm công. Thóc lúa, nộp hết thuế thì kho lẫm hợp tác xã cũng khô cảnh đói nghèo cùng cực hơn trước. Chỉ có cán bộ và gia dình họ là no đủ mà thôi. Bình đẳng về quyền lợi cái nỗi gì ? Dân chúng, có người lúc đó mới hiểu ra rằng cộng sản chỉ đập phá trật tự xã hội cũ, triệt hạ những giai cấp cũ để thiết lập một trật tự xã hội mới với giai cấp mới : giai cấp cán bộ, đảng viên. Giai cấp này ăn trên ngồi trốc, có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Người dân đã bị bần cùng hóa đến tột độ.

Cuộc chiến tranh Đông Dương, còn được Việt Minh cộng sản gọi là cuộc "kháng chiến chống thực dân Pháp" với bao nhiều tàn phá, chết chóc đã khiến cho đời sống người dân đã đói khổ lại còn đói khổ hơn. Sống trong chiến tranh thì người dân nào có được hạnh phúc. Bom đạn đã khiến cho người dân thực sự "dựa lưng cõi chết". Với chiêu bài "toàn dân kháng chiến" rồi "trường kỳ kháng chiến", rồi "gánh gạo nuôi quân" vv... người dân đã bị bắt buộc cam chịu thiếu, đói, cam chịu hạn chế tự do để phục vụ cho chiến tranh : Cuộc chiến tranh do chính họ chủ trương khi ký kết với thực dân để chúng trở lại Việt Nam. Chế độ cộng sản là một chế độ độc tài, đảng trị thì dù không có chiến tranh, quyền tự do của người dân cũng đã bị tước đoạt. Huống hồ trong chiến tranh thì tình trạng càng trở nên khắt khe hơn nữa. Rất nhiều người không thể sống dưới chế độ hà khắc của cộng sản đã phải bỏ các vùng "kháng chiến" để trở về thành thị. Thà sống với "quân xâm lược" mà còn có chút cơm no áo ấm, có một chút tự do.

Năm 1954 chiến tranh chấm dứt. Đất nước bị chia đôi bởi Hiệp Định Genève do cộng sản Hà Nội ký kết với thực dân Pháp. Miền Bắc vĩ tuyến 17 thuộc về Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tức là về tay cộng sản. Nhu cầu của người dân và đất nước Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn như dưới thời Pháp thuộc. Vẫn là miếng cơm manh áo vì tình trạng thiếu đói vẫn được cộng sản duy trì. Vẫn còn những bất công về quyền lợi giữa đảng và nhân dân. Vẫn không có những quyền tự do căn bản của con người. Nhà tù, trại cải tạo, hợp tác xã vẫn tiếp tục dìm con người Việt Nam xuống vũng nghèo đói, mất tự do, nhân phẩm. Và rồi, vết thương chưa lành, CSVN lại bắt dân đi vào một cuộc chiến tranh thứ nhì tàn khốc hơn cuộc chiến tranh trước gấp bội : Cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam trong mưu đồ nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á của đế quốc cộng sản Liên Xô và Trung Cộng.

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa

Từ những người dân không chấp nhận sống dưới chế độ cộng sản, đã hình thành một chế độ quốc gia, tự do chống cộng sản. Sau khi đất nước bị chia đôi vào năm 1954, Miền Nam đã trở thành nước Việt Nam Cộng Hòa. Gần 1 triệu người dân miền Bắc đã di cư vào Nam trong 300 ngày, từ tháng 8/1954 đến tháng 5/1955, mặc dù cộng sản đã tìm mọi cách để ngăn cản, kể cả nổ súng vào những thuyền bè dân di cư. Những nguyện vọng của người dân như có một cuộc sống thanh bình, đủ ăn, đủ mặc, nhân phẩm được tôn trọng, có những quyền tự do căn bản như tự do tôn giáo, tự do đi lại, tự do ngôn luận, vv... đã tìm được mảnh đất trù phú để nẩy nở, phát triển. Tất cả các quyền của người dân đã được Hiến Pháp và luật pháp của hai nền cộng hòa bảo đảm và tôn trọng. Lợi dụng những quyền tự do này, những người cộng sản gài lại Miền Nam "trường kỳ mai phục" đã có điều kiện hoạt động. Tuy vậy, thời gian thanh bình, tự do, no ấm đã kéo dài được gần 6 năm khi cộng sản Hà Nội quyết định tấn công, xâm lược để thôn tính Miền Nam. Họ đã mang chiến tranh vào miền Nam. Cuộc chiến kéo dài 15 năm và kết thúc vào ngày 30/4/1975. Dẫu rằng lửa đạn tơi bời, dẫu rằng muôn ngàn khó khăn, dẫu nhiều khi phải chạy loạn..., nhưng người dân Miền Nam không phải chịu cảnh đói rách. Nhân phẩm, nhân vị của dân luôn được tôn trọng. Nếu tình hình chiến sự có khiến sự tự do đi lại của người dân bị phần nào hạn chế thì cũng là để bảo vệ an ninh cho dân, cho xã hội. Người dân vẫn được thong thả di chuyển, cư trú và được hưởng tất cả những quyền tự do căn bản khác.

Nói chung, dưới chế độ tự do tại Miền Nam, các nhu cầu vật chất cũng như tinh thần đã được chính quyền âu lo giải quyết và được pháp luật bảo đảm. Từ thành thị đến nông thôn, việc xây dựng, phát triển những tiện nghi đời sống vẫn được chính quyền tiến hành, mặc dù những phá hoại của cộng sản và của chiến tranh. Đời sống người dân tương đối tốt đẹp hơn Miền Bắc rất xa.

Ba mươi năm qua, những nhu cầu của người dân và của đất nước trở lại thời thuộc địa

Sau khi chiếm được Miền Nam, đảng cộng sản đã thiết lập ngay chế độ độc tài đảng trị. Giải thích nội dung bản hiến pháp năm 1980, tài liệu chính thức của chế độ đã viết : "Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp 1980 thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội vào một điều của Hiến pháp (Điều 4). Sự thể chế hóa này thể hiện sự thừa nhận chính thức của Nhà nước về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản. Mặt khác do tính chất bắt buộc của pháp luật, nên việc thể chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng vào Hiến pháp cũng có nghĩa là bắt buộc tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng và mọi công dân phải tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy sự thể chế hoá này làm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội". Như đã trình bày, chế độ càng độc tài, độc đoán thì quyền tự do của người dân càng bị thu hẹp đến độ bị hoàn toàn tước đoạt. Chính sách "hộ khẩu" đã giam lỏng nhân dân trong phường khóm, thành phố, làng xã, tại nơi cư ngụ. Rời chỗ ở dù chỉ vài ba ngày cũng phải xin giấy phép của chính quyền. Tới địa phương nào, dù chỉ ít ngày cũng phải trình báo cơ quan công an sở tại. Chủ thuyết vô thần Mác Lênin của CSVN đã dẫn đến tình trạng không có tự do tôn giáo : các giáo hội bị kìm kẹp, các giáo sĩ bị bắt bớ, tù đày... Người dân không có tự do ngôn luận, không có quyền làm báo, lập hội hay gia nhập các hội đoàn mà mình muốn. Nhà Nước độc quyền truyền thông trong lúc họ ngăn cản, cấm đoán người dân tiếp cận với những nguồn thông tin không do Đảng chủ trương. Bưng bít và tuyên truyền là những chủ trương và những ngón sở trường của CSVN. Trước năm 1986, cộng sản còn dùng kinh tế, miếng ăn để không chế người dân.

Nhận được tín hiệu của Gorbachev rằng Liên Xô không còn khả năng viện trợ cho các nước cộng sản đàn em, trong đó có Việt Nam, Đại Hội VI của đảng CSVN đã vội vàng tung ra chính sách "đổi mới", chuyển nền kinh tế từ mô thức XHCN sang kinh tế thị trường. CSVN đã thoát được cảnh sụp đổ như các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô. Cuộc sống của nhân dân được phần nào bớt đói khổ. Nhưng vẫn nghèo. Sau hai mươi năm "đổi mới", bộ mặt của xã hội đặc biệt là tại các thành thị có thay đổi ; nhưng các nhu cầu về quyền tự do căn bản của con người vẫn còn nguyên vẹn, không được giải quyết. Tình trạng xã hội trở nên ngày càng sa đọa, chính quyền và con người không còn biết trọng những giá trị tinh thần, đạo đức, mà chỉ chạy theo đồng tiền. Nạn tham nhũng, cửa quyền với chế độ "xin cho", luật pháp không có hoặc không được những người cầm quyền tôn trọng đã khiến cho nhân phẩm con người ngày càng bị chà đạp. Bất côngxã hội ngày càng đầyrẫy. Phân biệt giàu nghèo ngày càng trầm trọng. Tất cả các cán bộ cộng sản đã trở nên giai cấp thống trị và làm giàu một cách hỗn xược bằng cách vừa biển thủ công quỹ, vừa ăn chặn viện trợ, vừa vơ vét, bóc lột, cướp đoạt tài sản của dân. Họ đã trở thành "giai cấp tư bản đỏ" trong lúc nông dân còn nghèo khổ cùng cực. Nếu trước đây, khi họ mới lên cầm quyền, họ tuyên truyền rằng trong chế độ xã hội chủ nghĩa không có cảnh "người bóc lột người" và lên án các giai cấp cũ như tư bản, trí thức, tiểu tư sản đã bóc lột "giai cấp vô sản", thì nay họ còn tệ hơn các giai cấp đó mà họ lên án và có nhiều người đã bị đấu tố và giết hại. Những người dân vì nghèo phải đi "giúp việc" cho bọn tư bản đỏ đã phải chịu nhục nhằn khổ ải như thế nào, người dân trong nước đều rõ.

Cộng sản đã hô hào toàn dân vào hai cuộc chiến tranh để giành độc lập. Cứ cho là hai cuộc chiến tranh này là đã lấy lại được cho Việt Nam nền độc lập đi. Hàng triệu người đã hy sinh tính mạng hay một phần thân thể cho "lý tưởng" độc lập này. Nhưng thực chất, khi chủ nghĩa cộng sản còn chưa sụp đổ trên thế giới và ngay cả bây giờ, cộng sản Việt Nam đã cam tâm đi làm nô lệ ngoại bang. Trước 1989, Việt Nam đã lệ thuộc Liên Xô và Trung Cộng như thế nào, ai cũng biết rõ. Đất nước đã hoàn toàn bị kềm tỏa trong hệ thống cộng sản thế giới. Việt Nam đã phải một cổ mang nhiều ách đô hộ gián tiếp. Ngày nay, tuy Liên Xô đã tiêu ma, nhưng CSVN còn tự khoác vào cổ nhân dân ta ách nô lệ Trung Cộng. Chính sự lệ thuộc này đã khiến cộng sản Hà Nội đang tâm trở thành những tên bán nước, nhượng đất, nhượng biển cho Bắc Kinh. Bước sang thế kỷ 21, cộng sản Hà Nội có nhu cầu được sự công nhận của quốc tế và họ đã nỗ lực gia nhập nhiều tổ chức quốc tế, trong chính sách họ gọi là "nỗ lực hội nhập". Họ đang phấn đấu gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO). Một trong những điều kiện gia nhập là phải thương thuyết song phương với tất cả các thành viên của tổ chức này. Với bản chất nô lệ, không ai biết được rằng Hà Nội sẽ còn phải nhượng bộ những gì nữa với Bắc Kinh. Để gia nhập WTO, họ cũng cần phải có một hệ thống luật pháp hữu hiệu, đáng tin cậy. Họ đã nhờ các nước Tây Phương giúp đỡ để làm ra luật. Nhưng việc thi hành luật thì dường như họ không mấy quen thuộc. Người dân cũng thấy rõ rằng, họ làm luật không phải là để bảo vệ quyền lợi nhân dân Việt Nam ; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của các nước tư bản tới đầu tư, buôn bán tại Việt Nam, để bảo vệ thương nhân nước ngoài.

Nhu Cầu Hiện Nay Của Việt Nam

Bước vào thế kỷ đầu tiên của thiên kỷ thứ ba, nhân loại đã tiến những bước rất lớn trên nhiều địa hạt. Cùng với sự phát triển về kinh tế, về khoa học kỹ thuật, xu hướng dân chủ, nhân quyền đang là bước tiến chung của loài người. Nhìn lại Việt Nam, nhận thấy nước ta còn quá lạc hậu. Lạc hậu nhất, có thể nói là đảng CSVN độc quyền lãnh đạo đất nước đã không giải quyết, không đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu và căn bản của dân tộc và đất nước Việt Nam. Những nhu cầu của dân tộc và đất nước ở thời điểm ngày hôm nay, không hoàn toàn giống như những nhu cầu của 60 năm trước đây. Các nhu cầu thời năm 1945 đã không được giải quyết trong suốt 60 năm trời cộng sản cầm quyền. Ngày nay, nhân loại đã bước sang thế kỷ thứ 21, thế kỷ của tiến bộ và phát triển, nhu cầu của con người và đất nước trở nên cao hơn ngày trước. Vì điểm xuất phát của Việt Nam quá thấp nên nỗ lực cần phải to lớn hơn để bắt kịp với đà tiến bộ của thế giới, để người dân và đất nước Việt Nam không bị thua kém những dân tộc khác trên hoàn cầu.

1. Về Con Người

Nhân phẩm con người Việt Nam phải được tôn trọng.

Suốt chiều dài lịch sử của nước ta, dưới thời quân chủ, phong kiến cũng như dưới chế độ cộng sản, người dân không là cái gì đối với triều đình, chính quyền. Vua chúa nếu anh minh thì coi dân như con ; còn nếu vô đạo thì coi dân là thuộc quyền sở hữu của riêng mình, nắm quyền sinh sát "bàn dân thiên hạ" trong tay. Các chính quyền đô hộ ngoại bang thì coi dân là nô lệ. Chế độ cộng sản độc tài thì coi người dân là công cụ sản xuất, cho thì được, không cho thì nhịn. Người dân Việt Nam quả chưa hề có chỗ đứng, có địa vị xứng đáng của mình trong xã hội, trong quốc gia. Các thế lực cầm quyền chỉ biết đòi hỏi người dân mà không hề tôn trọng ý kiến của dân. Ở thời buổi ngày hôm nay, không thể giữ nguyên trạng như trước được. Con người có những giá trị nhân bản của con người cần phải được tôn trọng. Con người làm nên xã hội chứ xã hội không phải do một chủ thuyết làm ra. Hiến Pháp của nước Đức và nước Ý là những nước thoát khỏi chế độ độc tài Hitler và Mussolini trong thế kỷ trước đã dành nhiều điều khoản đầu tiên để khẳng định "phẩm giá con người là bất khả xâm phạm" và bắt buộc hành pháp, lập pháp, tư pháp phải tuân thủ những điều khoản này.

Nói đến nhân phẩm là phải nói đến quyền sống của người dân. Con người không phải là một động vật nên không chỉ có nhu cầu về cơm ăn, áo mặc. Con người có những nhu cầu về đời sống thể chất cũng như tinh thần. Con người có bổn phận đóng góp cho xã hội, cho chính quyền thì bổn phận của xã hội và chính quyền là phải đáp ứng nhu cầu cho con người về đời sống được bảo vệ, nhân phẩm được tôn trọng. Khát vọng con người Việt Nam, như đã nói là được sống hạnh phúc, ấm no trong một xã hội thanh bình.

Nhân quyền phải được tôn trọng.

Nếu quyền sống và nhân phẩm của con người phải được bảo đảm tôn trọng và ghi trong hiến pháp và luật pháp thì cũng phải định nghĩa quyền sống con người như thế nào. Con người phải được sống như những con người. Tức là phải có những quyền hạn mà mọi con người sống trên Trái Đất này đều được đương nhiên thụ hưởng, không phải cầu xin ai cả và cũng không có ai được phép ban bố các quyền này cho con người. Ngay sau Cách Mạng Pháp 14/7/1789, chấm dứt chế độ quân chủ, phong kiến, giải phóng con người ra khỏi kiếp sống tôi mọi, nô lệ, Bản Tuyên Ngôn Hoàn Vũ Nhân Quyền và Dân Quyền đã ra đời ngày 26/8/1789. Dựa trên những căn bản của bản tuyên ngôn này, ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến tiên diệt các chế độ diệt chủng, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc đã ra đời ngày 10/12/1948. Các bản Tuyên Ngôn này nêu lên những quyền tự do căn bản của con người. Những nước đã ký kết vào bản tuyên ngôn này đều có bổn phận phải thi hành, tôn trọng các quyền tự do căn bản này. Điều thứ nhất khẳng định ỀMọi con người sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và về quyền hạnỂ. Các quyền tự do căn bản chính có thể liệt kê như sau : Quyền được sinh sống, quyền hưởng tự do, và quyền sinh mạng được bảo đảm (điều 3) ; Quyền không bị bắt giữ, giam cầm hay đày ải một cách độc đoán (điều 9) ; Quyền không bị xâm phạm đời tư, gia đình, gia cư, thư tín, danh dự, tiếng tăm, quyền này phải được pháp luật che chở (điều 12) ; Quyền tư hữu bất khả xâm phạm (điều 17) ; Quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo... (điều 18) ; Quyền tự do ngôn luận, truyền bá tư tưởng và thông tin (điều 19) ; Quyền lập hội và gia nhập hội (điều 20)...

Dựa trên các bản báo cáo thường niên của các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế thì những quyền này hiện đang bị chính quyền CSVN khước từ cho người dân được hưởng hoặc vi phạm một cách có hệ thống. Hơn bao giờ hết, ở thời điểm ngày hôm nay, con người Việt Nam có nhu cầu được hưởng các quyền tự do này.

Dân quyền phải được tôn trọng.

Là một thành viên của xã hội, con người phải được tham gia vào việc quản trị xã hội hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp bằng cách được tự do lựa chọn người đại diện cho mình. Các bản hiến pháp của CSVN đều nói đến "dân chủ". Điều 2 bản hiến pháp 1992 viết : "Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức". Điều 3 viết thêm : "Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân,...". Nhưng thực chất thì người dân vẫn không có quyền tham gia việc cai trị đất nước. Quyền này đã bị đảng CSVN tước đoạt bởi điều 4 của bản hiến pháp này. Nhu cầu của người dân trong xã hội là phải được thực sự tự do bầu cử, ứng cử. Điều này hiện nay đã bị cộng sản Hà Nội tìm mọi cách để ngăn cản. Ngoài ra, công dân phải được đảm bảo có công ăn việc làm, được hưởng một nền giáo dục và đào tạo hữu hiệu, không tốn kém để trở thành những người hữu dụng cho quốc gia, xã hội.

2. Về Đất Nước

Đất nước Việt Nam là gia sản của tổ tiên ngàn đời để lại. Mọi người dân và đặc biệt là những người cầm quyền phải có bổn phận bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Hành động nhượng đất, nhượng biển của CSVN phải được coi như là một hành động phản dân, hại nước. Nhưng vấn đề không phải chỉ là lãnh thổ địa dư. CSVN luôn núp dưới chiêu bài "độc lập" để huy động nhân dân ta vào những cuộc chiến tranh hay những âm mưu củng cố chế độ. Hàng triệu người Việt Nam đã đổ máu ra cho "nền độc lập" đó. Không thể để cho tập đoàn cộng sản với bản chất nô lệ ngoại bang đưa đất nước đi vào vòng kiềm tỏa, khống chế của các thế lực ngoại bang.

Đất nước là gia sản chung của dân tộc thì người dân phải thực sự làm chủ đất nước và đưa đất nước tiến lên. Không thể để cho một nhóm người, một đảng duy nhất nắm quyền cai trị miên viễn. Nhất là nhóm người này chỉ là thiểu số trên dưới 3 triệu đảng viên so với đại khối dân tộc trên 80 triệu người Việt Nam. Hơn nữa, họ đã chứng tỏ họ là một tập đoàn bất tài, bất lực, ngu tối và thối nát tham nhũng từ thượng tầng trở xuống đến cơ sở. Điều này phản lại tất cả mọi nguyên tắc dân chủ mà chế độ cộng sản vẫn thường rêu rao. Nó chứng tỏ những điều 2 và 3 của hiến pháp hiện nay là láo khoét, không đúng thực tế. Người dân phải được nói lên tiếng nói của mình một cách trực tiếp là có chấp nhận đảng CSVN độc quyền cai trị vĩnh viễn đất nước ta hay không bằng một cuộc trưng cầu dân ý như đề nghị của nhà trí thức Phương Nam Nguyễn Nam Hải.

Đất nước Việt Nam hiện nay còn có một nhu cầu không kém quan trọng là phải được giải phóng khỏi sự bưng bít thông tin, thông tin một chiều bởi bộ máy cầm quyền cộng sản. Ở thời đại thông tin ngày nay, sự đa dạng về nguồn thông tin, sự thông tin mau lẹ là những yếu tố tối cần thiết để phát triển không những về kinh tế mà còn trên nhiều lãnh vực khác nữa.

Muốn đất nước "dân giàu, nước mạnh" thì mọi công dân phải được tự do, chế độ phải thực sự dân chủ. Có như thế mới khai thác được trí tuệ của toàn dân, mới huy động được tiềm năng phong phú của dân tộc Việt Nam.

Con Đường Phải Đi

Để kết luận cho tiểu đề "nhu cầu con người và đất nước Việt Nam", xin được đưa ra một vài nhận xét và đề nghị. Nhận xét trước hết là nếu cứ duy trì nguyên trạng với đảng cộng sản độc tài, độc quyền cai trị như từ trước đến nay thì đất nước sẽ đi đến chỗ "tụt hậu" không cứu chữa được. Vào năm 1975 nếu tình trạng kinh tế Đại Hàn được đánh giá là 10 điểm thì Miền Nam Việt Nam chỉ kém đôi chút với 8 điểm. Ngày nay Đại Hàn 10, ta chưa được 2. Ta còn phải xuất cảng lao động tay chân sang Đại Hàn và nhiều nước trong vùng như Đài Loan, Mã Lai, Inđônêxia... là những nước không hơn gì ta hồi năm 1975. Đề nghị là :

1) Người dân phải có điều kiện hoàn toàn tự do chọn lựa những người thay mặt mình quản lý đất nước. Muốn vậy, phải thực thi ngay tại Việt Nam một nền dân chủ đa nguyên để có thể thay thế chính quyền bất lực bằng những người có tài, có đức.

2) Nền dân chủ này phải là một nền dân chủ hiến trị và pháp trị. Luật Pháp, Hiến Pháp phải được cả chính quyền lẫn nhân dân tôn trọng.

3) Nhu cầu của Việt Nam là phải xây dựng những nền tảng của một xã hội dân sự, nơi đó con người có những điều kiện tối hảo để phát triển và phụng sự quốc gia.

Thiết tưởng tiến trình này là một tiến trình Việt Nam cần thực hiện.

Trần Đức Tường