|
|
|
Giáo dục hiện nay đang là
vấn đề gây nhiều tranh cãi và khiến dư luận xã hội đặc biệt chú ý. Không phải
đó là một vấn đề mới, nó đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, như một thứ
chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi." Và cũng rất nhiều lần
nó đã từng được sửa đổi, bổ sung với những văn bản, những quy định. Nhưng rồi
cho đến nay vẫn vậy, những thiếu sót, những phi lý của nó vẫn còn hiên ngang
tiếp diễn. Tha hồ cho các nhà giáo dục mỏi miệng lên tiếng, tha hồ cho chính
những nhà giáo thức thời đưa ra những thực trạng cùng giải pháp cải cách, mặc
cho những lời than phiền của phụ huynh học sinh kêu gào về đủ thứ "đau
khổ" cho con em mình khi cắp sách đến trường và ngay cả các em học
sinh ngày nay cũng không thể chịu nổi cái kiểu "học hành"
quái gở, thi cử "quái chiêu" nên buộc phải lên tiếng. Trong khi đó Quốc hội VN
cũng đang tranh cãi rất gay gắt xung quanh chuyện giáo dục. Từ A tới Z đều có
những vấn đề mà người ta quen gọi là "bức xúc," và nếu nhìn
vào thực tế thì hầu như mọi chuyện đều phải xóa đi, làm lại từ đầu. Từ khi mới học lớp 1 cho
đến khi trở thành những sinh viên đại học và ngay cả khi đã cầm trong tay
mảnh bằng tiến sĩ cũng chưa chắc gì đã đáp ứng được đòi hỏi của công việc
ngang tầm với mình. Chưa nói đến những cậu ấm cô chiêu mua bằng bán cấp,
những ông thầy chấm luận văn vì "tình cảm, vị nể," vì những "cái
thư tay" của "quan anh quan em," tất nhiên là dù có
đến mấy cái bằng tiến sĩ thì cũng chỉ là giấy lộn, chỉ như món hàng mua ngoài
chợ, như cái áo thời trang mua ở đầu đường, nói chi đến tri thức cho tủi hổ. Con đường một chiều Thái độ của những người "thấp
cổ bé miệng nhất" trong vấn đề này là các cô cậu cắp sách đến trường
đã đến lúc phải "bùng nổ." Trong tuần vừa qua, một sự kiện
gây xôn xao dư luận trong làng giáo dục, và ngay cả dư luận xã hội cũng rất
ngỡ ngàng vì một bài thi của một em học sinh trong kỳ thi học sinh giỏi của
Hà Nội, tổ chức giữa tháng 3 năm 2005. Em học sinh này, thay vì
phân tích cái hay, cái đẹp của tác phẩm như đề bài thi đã ra, nhưng em đã
viết rằng mình không thích tác phẩm đó, đồng thời nêu lên nhiều nhận xét rất
thẳng thắn về cách dạy văn và học văn trong nhà trường hiện nay. Cách học văn
chỉ là một điển hình cho hầu hết các môn học khác mà các em đã buộc phải đi
vào "con đường một chiều" do nhà trường đã vạch ra. Các học
sinh không có quyền suy nghĩ khác những gì đã có sẵn, có lẽ vì các thầy cô
cũng chẳng "tư duy" được điều gì hay hơn, mới hơn, cho mất
thì giờ và họ cũng không được quyền làm như vậy. Các ý kiến chỉ là dựa theo
những gì mà sách vở, chủ trương, đường lối đã có sẵn, nó trở thành bất di bất
dịch. Có suy nghĩ khác đi, dù có hay hơn cũng phải nín thinh. Đầu óc trở
thành bộ nhớ máy móc của cái computer, cái máy nào tốt hơn thì thành công,
trở thành giỏi giang, cái máy nào yếu hơn thì trở thành dốt đặc. Học mãi rồi
trở thành những cái máy. Hành động, suy nghĩ, cách ứng xử, cách sống sẽ là
hàng loạt người làm y hệt nhau, nói y hệt nhau. Lớp người này đã xuất hiện
trong thế hệ hiện nay ở VN. Nếu để ý kỹ, người ta không xa lạ. Gặp một quan
chức hàng tầm tầm, các bạn sẽ thấy 90% họ nói giống nhau, hàng quan chức cao
hơn thì nói theo cách cao hơn. Một số người được gọi là "nghệ
sĩ" cũng không thoát ra ngoài cái "vòng Kim Cô" ấy.
Nó y như cái computer loại Pentium II, III, IV... Đó là kết quả của những con
đường một chiều trong phương pháp giáo dục từ bao năm nay. Cái máy ca tụng
một bài thơ, một đoạn văn nào đó, dù không đáng là thơ, không đáng là văn thì
mọi người cứ thế mà ca tụng, đừng có lôi thôi. Sự bùng nổ Xin trở lại với sự "bùng
nổ" của một em học sinh, thật ra đó không phải là cá nhân em mà nó
là đại diện, là biểu hiện dồn nén của hầu hết những em học sinh khác. Dưới
đây là trích đoạn bài thi của học sinh Nguyễn Phi Thanh, lớp 11A18 Trường
Trung học Phổ thông Việt Đức, Hà Nội trong Kỳ thi học sinh giỏi các lớp không
chuyên Hà Nội 18-3-2005 Đề thi : Em hãy giới
thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc... - Bài làm : Nói đến Nguyễn Đình Chiểu, người
ta thường nhớ đến một thầy giáo mù yêu nước, có tài thơ văn nhưng cuộc sống
gặp nhiều bất hạnh. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khá nhiều, nổi tiếng là tập
thơ Nôm "Lục Vân Tiên" và trong văn học lớp 11, chúng ta được làm
quen với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài tế được Nguyễn Đình Chiểu
sáng tác để tưởng nhớ những chiến sĩ, những người nông dân đã hy sinh trong
phong trào Cần Vương khi thực dân Pháp tấn công Gia Định, Sài Gòn. Đề bài thi học sinh giỏi
năm nay là "Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc" nhưng thực sự em không hề thích tác phẩm này, như vậy em có thể
viết hay được không ? Em có thể chắc chắn rằng trong số 10 học sinh như
em thì có 9 người cũng không thích tác phẩm này. Đơn giản bởi vì bọn em không
sống trong thời chiến tranh, bọn em không thể rung động trước một bài tế khi
mà thực sự bọn em đang sống trong thời bình. Bọn em không quay lưng với lịch
sử nhưng có nhiều cách để bọn em hiểu về lịch sử dân tộc... Em nghĩ, đứng
trước một tác phẩm văn học, bao giờ cũng có những ý kiến trái ngược khen -
chê, hay - dở, nhưng dường như HS bọn em chỉ có quyền thích, chỉ có quyền
khen hay, mà không có quyền nói lên chính kiến của mình, và việc phê bình văn
học, hình như chỉ là việc của các nhà phê bình. Phải chăng vì tư tưởng bảo
thủ này mà suốt 63 năm qua, văn thơ của chúng ta chưa được
"mới" ? Nhìn ra, chỉ ra cái hay của một tác phẩm văn học đã
khó, nhưng chỉ ra cái hạn chế, thiếu sót của tác phẩm ấy còn khó hơn nữa, vậy
mà chưa bao giờ bọn em được tỏ rõ chính kiến của mình trong một bài thi cả,
tất cả chỉ vì áp lực điểm số. Em biết bài viết này của em
là hoàn toàn lạc đề, em không chỉ ra được cái đẹp, cái hay của tác phẩm bởi
em không thấy nó hay, không thấy nó đẹp. Em cũng biết bài văn này cũng không
được điểm nào, nhưng em chỉ muốn nêu lên chính kiến của mình trước tác phẩm,
cũng như những bức xúc của một HS, khi phải học một chương trình không phù
hợp. Em không muốn phải viết những lời khen sáo rỗng về một tác phẩm mình
không thích. Và em hy vọng các thầy cô sẽ linh hoạt hơn trong việc ra đề để
bọn em tự do bày tỏ chính kiến, tự do yêu ghét một tác phẩm nào đó... Bài văn đã được nhiều học
sinh (HS) và thầy cô giáo chuyền tay nhau đọc, bình luận. Rất nhiều HS tán
đồng với ý kiến này. Còn các thầy cô giáo thì dè dặt hơn. Có người bảo rằng
phải cho 20 điểm mới xứng đáng, có người khẳng định bài văn chỉ đáng điểm 0.
Còn thực tế, người chấm đã cho bài văn này 3/15 điểm với lý do : Viết
lạc đề. Người trong cuộc Ngay sau khi bài viết của
em được công bố, em Nguyễn Phi Thanh đã bày tỏ ý định chân thật của em :
Ngay khi đọc đề với yêu cầu
"Viết một bài nghị luận văn học giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc," tôi đã định không làm bài. Lý do vì sao thì tôi đã
trình bày trong bài viết đó. Nhưng rồi tôi quyết định viết ra những suy nghĩ
của mình về chuyện học hành. Những suy nghĩ đó không phải là ý nghĩ nhất
thời. Đó là những điều tôi đã từng suy nghĩ, trăn trở trong quá trình học
tập. Chính vì vậy, có thể nói tôi đã viết những điều đó với tất cả tâm huyết.
Viết xong thấy nhẹ nhõm cả người vì cuối cùng tôi cũng đã có một dịp
"trút bầu tâm sự," nói lên những suy nghĩ thật của mình. Lúc đó, tôi biết sẽ có một
"hậu quả" chắc chắn là tôi không thể đạt điểm cao và đoạt giải học
sinh giỏi. Tôi cũng có nghĩ đến những chuyện khó xử khác... Nhưng quả thật,
tôi chỉ muốn nói lên những suy nghĩ thật của mình với mục đích tích cực, có
tính xây dựng chứ không phải là một phản ứng tiêu cực. Những điều tôi nghĩ,
tôi viết thể hiện mong muốn sẽ có những cải cách chương trình, thay đổi trong
cách dạy và học, mong muốn các thầy cô, nhà trường có thể linh hoạt hơn trong
cách ra đề, đánh giá... Còn bất ngờ, có lẽ là không
vì tôi cũng biết mình đã làm một việc... không như bình thường. Khi về nhà,
tôi có nói lại hết với ba mẹ tôi. Tôi cảm thấy rất biết ơn khi ba mẹ đã hiểu
những điều tôi suy nghĩ, không trách móc tôi. ... Vấn đề thứ hai tôi muốn
có ý kiến là cách dạy và học trong nhà trường. Có thể do áp lực chương trình,
thi cử... nên hầu hết các môn, chúng tôi vẫn học theo kiểu thầy cô đọc, trò
chép cho kịp thời gian. Tôi tự nhận thấy hiện nay chúng tôi học theo kiểu thụ
động, tiếp nhận kiến thức một chiều, hầu như là học thuộc. Thầy cô phân tích
theo cảm nhận, suy nghĩ của mình, sau này kiểm tra, thi cử chúng tôi cũng
theo mẫu đó nếu muốn được điểm cao, không có chỗ cho chúng tôi tự nghĩ, trình
bày những ý tưởng, cảm nhận riêng của chúng tôi... Thêm nữa, tôi mong muốn
cách ra đề thi, kiểm tra linh hoạt hơn, làm sao để kiểm tra kiến thức cùng
với sự sáng tạo, tạo điều kiện cho chúng tôi có thể thể hiện năng lực cá nhân
chứ không phải rập khuôn theo "mẫu"... Ý kiến của phụ huynh học sinh Đằng sau sự mạnh dạn bày tỏ
ý kiến của mình còn cho thấy sự đè nén về cách giảng dạy giáo điều theo kiểu
tư duy một chiều, kìm hãm sự sáng tạo. Đây là một sự báo động không chỉ đối
với ngành giáo dục mà cả toàn xã hội. Điều quan trọng nhất để chấn hưng giáo
dục là phải đổi mới căn bản tư duy về giáo dục, dám nhìn thẳng vào sự lạc hậu
của nền giáo dục ở Việt Nam so với thế giới và so với yêu cầu của thời đại
mới. Một phụ huynh học sinh đã
bày tỏ lòng cảm ơn với em Thanh : Bài văn của em học sinh lớp
11 Nguyễn Phi Thanh đã nói lên một sự thật : trong chương trình hiện
nay, các em học sinh phải học nhiều điều khó hiểu và xa lạ, xa rời thực tế
cuộc sống. Việc này đã tồn tại nhiều năm qua. Ai cũng biết nhưng không ai dám
nói. Tôi còn nhớ ngay từ những
năm lớp 7 các con tôi phải học thuộc những bài thơ làm theo thể Đường luật
của các nhà thơ Trung Quốc như "Mao ốc vị thu phong sở phá ca"
(được dịch ra là "Bài ca nhà tranh bị gió thu phá" của Đỗ Phủ, bài
"Tĩnh dạ tứ" ("Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh" của Lý
Bạch), "Vọng lư sơn Bộc Bố" ("Xa ngắm thác núi Lư" - Lý
Bạch) ; "Hồi hương ngẫu thư" ("Ngẫu nhiên viết nhân buổi
mới về quê" - Hạ Trí Chương)... Nghe các con gào ra rả, tôi hỏi có hiểu
không ? Bọn trẻ lắc đầu : "Chúng con không hiểu gì
cả !" Đọc mà không hiểu thì làm sao mà nhớ, mà thuộc, mà thấy cái
hay cái đẹp của bài thơ ? Tôi nghĩ qua bao thế hệ,
chắc chắn rất nhiều em học sinh khác cũng có suy nghĩ như em Thanh. Nhưng chỉ
có một mình em dám nói lên sự thật. Đọc bài văn của em, tôi cảm thấy thật xấu
hổ : tôi đã không có được lòng dũng cảm như em để nói lên một sự thật đã
làm tôi trăn trở bao lâu nay. Xin cảm ơn em Thanh. Chúng ta hãy nhìn qua cách
giáo dục hiện nay qua lời chính những vị có trách nhiệm với việc dạy học và
làm sách dạy học để có thể hiểu được sâu sắc hơn về tình trạng này : Một
"đại biểu" đã thốt lên ngay tại cuộc họp : Chúng ta cấm học sinh uống
rượu, bia nhưng các thầy thì sao ? Tôi từng chứng kiến cảnh một số giảng
viên đại học lên lớp mặt đỏ phừng phừng. Thậm chí có thầy lên lớp chỉ kịp ra
bài kiểm tra cho sinh viên rồi xuống hàng ghế cuối giảng đường ngủ. Thảm hại
quá !
Tình trạng lạm thu tại các
trường cũng khiến người ta kinh ngạc : một trường phổ thông ở Đà Nẵng,
một năm học có tới 19 khoản thu. Một vị khác lại đặt câu
hỏi : "Tôi không thể hiểu tại sao người ta bắt các em phải nhớ
sản lượng than của Ba Lan trong năm là bao nhiêu. Với khoa học ngày nay, chỉ
cần một click trên máy tính, học sinh sẽ có số liệu thống kê ấy." Đấy là chưa kể đến những
học sinh từ lớp 1 trở đi đã bắt đầu phải học thêm, học mờ mịt, học đến mụ cả
người mà chẳng hiểu gì, cứ thế mà học thuộc lòng và viết thuộc lòng. Không ít
thầy cô cho đó là một dịp may để kiếm thêm "thu nhập." Lên đến lớp trên, khi chấm
luận văn cho các vị tiến sĩ thì đã có nhà giáo phải đau đớn thú nhận : "Tôi
đã có nhiều dịp tham gia Hội đồng phản biện và thấy chất lượng đào tạo của ta
thấp kinh khủng. Nhiều nghiên cứu sinh mới tốt nghiệp đại học, sau đó cóp
nhặt tài liệu làm luận án, không hề có kinh nghiệm." Còn về sách giáo khoa thì
sao ? Có người nói : Đó là
những cuốn sách giáo khoa dành cho... nhà bác học. Một giáo viên Trung học đã
mỉa mai : "Nếu bạn đọc có thì giờ ghé mắt nhìn qua một cuốn sách
giáo khoa sẽ thấy đó là loại sách dành để đào tạo... những nhà bác học trong
độ tuổi còn mê ăn và đái dầm !" Đọc lại sách giáo khoa
(SGK) các cấp lớp từ tiểu học đến Trung học phổ thông (THPT) ở VN mới thấy
lời nói ấy không sai. Ví dụ trong cuốn SGK Tự nhiên xã hội lớp 5, Nhà xuất
bản Giáo Dục 2004 có những câu hỏi rất khó : "Nêu tình trạng môi
trường không khí và nguồn nước nơi em sinh sống ?" ; "Trình
bày một thí nghiệm chứng tỏ rằng một vật bị thay đổi vị trí khi nhận được
năng lượng ?" ; "Em hãy nêu những sự kiện lịch sử
tiêu biểu trong thời kỳ 1858-1945. Thử lập sơ đồ để thể hiện điều này."
Đây chỉ là một số trong rất
nhiều câu hỏi thuộc rất nhiều lĩnh vực của đời sống được trích từ sách giáo
khoa cho học sinh lớp 5. Người lớn chúng ta cần bao nhiêu thời gian để hoàn
tất ba câu hỏi trên, trong khi các em bé trong những giờ học ít ỏi của mình
phải trả lời số lượng câu hỏi gấp nhiều lần số đó. Vấn đề không chỉ là học
thuộc mà phải hiểu. Nhưng ngay cả học thuộc còn khó nói chi đến hiểu. Không chỉ có môn tự nhiên
xã hội, môn Anh văn (quyển 3 dành cho lớp 5) cũng có không ít sự thách đố
dành cho các em. Những lá cờ các nước được in một màu, còn các em thì được
yêu cầu tìm tên của nước có quốc kỳ đó. (Trong khi có những quốc gia có quốc
kỳ hình dạng giống nhau, chỉ khác màu sắc, học sinh sẽ đoán là nước
nào ?). Cũng trong quyển sách này,
có những yêu cầu khó hiểu mà đến cả người lớn đọc có thể cũng tắc tị. Ví
dụ : trang 8, bài tập 7 yêu cầu : Nghe và sắp xếp thứ tự các bức
tranh, bên dưới trình bày hình vẽ của bốn thành phố lớn ở các nước và không
chú thích gì thêm. Vậy thì học sinh "nghe" cái gì và sắp xếp
thứ tự theo kiểu gì ? Tuy nhiên, bất chấp những
điều vừa nói, học sinh tiểu học vẫn hiên ngang học mỗi ngày và xuất sắc rất
đông ! ( ?) Như thế cho ta thấy từ lúc
học vỡ lòng cho đến khi ra đời nền giáo dục đã mang lại những "nhân
tài" như thế nào cho xã hội ? Nếu sự băng hoại của đám thanh
niên ngày nay với thuốc lắc, heroin, thỏa mãn tình dục hạ cấp, phim sex tràn
lan và được hâm mộ... thì chính là giáo dục đã góp một phần không nhỏ. Tiếng
chuông báo động không phải bây giờ mới dóng lên mà nó chỉ được lặp lại. Không
biết lần sửa đổi bổ sung này có mang lại một chút ánh sang nào cuối con đường
hầm hay không ? Chuyện một bà giáo "ngày xưa" Nhân nói đến chuyện giáo
dục, tôi xin kể một câu chuyện nhỏ mới toanh, nhưng nó thuộc về chuyện một "bà
giáo thời xưa." Xin nói rõ "thời xưa" ở đây, tôi
muốn nói đến thời gian từ trước năm 1975. Đối với tôi và nhiều người khác
chắc cũng có cùng một ý nghĩ như thế. Hy vọng bạn đọc còn nhớ một bài tôi
viết từ tháng 2 vừa qua (số 93 - ngày 14-2-2005) về "Nỗi xúc động
trong mùa xuân đầu tiên ở vùng quê." Trong đó, tôi tường thuật lại
một "người Sài Gòn cũ" là anh Lê Văn Một ở xã Lộc Hưng,
Huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Xin nhắc sơ qua là anh Một trước năm 75 ở
Sài Gòn làm thợ xếp chữ cho mấy tờ báo ở đường Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện, Võ
Tánh... như tuần báo Màn Ảnh, Trắng Đen, Sóng Thần, Chính Luận... Và cũng
đúng "mùa xuân đầu tiên" 1975 anh được "giải phóng"
khỏi nghề sắp chữ đi lên vùng gọi là "kinh tế mới" cho đến
ngày nay. Vợ anh theo anh lên đây, đói rách, bệnh tật, bỏ về Sài Gòn rồi
không bao giờ lên nữa. Suốt 30 năm anh đi làm mướn cho các chủ vườn, cũng đói
rách thê thảm, chưa được trở lại Sài Gòn lần nào. Bây giờ anh đã có gia đình
với 3 đứa con, nhưng cũng chỉ đi làm mướn mà không đủ ăn. Tôi gặp lại anh vào
chiều ba mươi Tết và là "dân Sài Gòn cũ" với nhau, tôi đến
thăm anh vào ngày mùng2 Tết vừa qua. Tôi chụp vài tấm hình và thuật lại cuộc
viếng thăm này. Xin trích lại một đoạn : Ngày mùng 2 Tết chúng tôi
đến thăm nhà anh bạn sắp chữ như đã hẹn trước. Anh là Lê Văn Một ở xã Lộc
Hưng, cách nơi tôi ở chừng ba cây số. Theo đường anh đã chỉ dẫn, chúng tôi
phải mò mẫm mãi mới hỏi thăm được đường đến nhà anh. Từ quốc lộ rẽ vào một
con đường bờ ruộng rộng không quá 1 thước, chỉ đủ đi được chiếc xe gắn máy.
Gặp chiếc xe đạp đi ngược đường cũng khó tránh. Nhà cửa thưa thớt, suốt cái
xóm này bày ra một khung cảnh nghèo nàn, không thể tìm ra cái tết nào trong
những gian nhà này ngoài những lá cờ treo lủng lẳng trước gió. Đến ngay cả
gió cũng lười, chẳng buồn rung cây. Vòng vèo qua mấy con đường
mòn với những cành cây vươn dài ra giữa đường mới thấy vài căn nhà lụp sụp,
mấy đứa trẻ đứng tròn mắt nhìn khách lạ. Chúng cũng nhem nhuốc như ngày
thường, chẳng biết gì là tết. Có lẽ cả đời chúng cũng chưa bao giờ được biết
đến cái phong bao "lì xì" đỏ hay xanh. Nhà anh Một đứng chơ vơ giữa
một khu đất hẹp. Nó được dựng lên từ bao giờ, không ai đoán được số tuổi, và
được "lắp ghép" bằng đủ mọi thứ : gỗ cũ, gỗ mới, tôn, ni lông,
giấy bồi, bao xi măng... Kiếm được cái gì che chỗ nào được thì cứ che. Gần
tết, anh mua được vài thước ni lông xanh, "trang hoàng" lại mấy cái
cửa chính, cửa sổ cho ra vẻ mùa xuân. Vợ anh và mấy đứa con vẫn cặm cụi ngoài
vườn, lo cho con bò mới đẻ được một con bê hơn là lo cho tết. Đó là tất cả
gia tài nhà anh sau 30 năm đi vùng kinh tế mới. Sau bài viết này, một số
bạn bè tôi đã động lòng trắc ẩn, gửi tặng gia đình anh một số tiền và tôi đã
mang đến trao cho anh. Anh xúc động bùi ngùi lắm, anh cầm tiền mà rưng
rưng : "không ngờ các ông nhà báo này còn nhớ đến em."
Thật ra thì chắc chắn những ông bạn tôi không thể nào nhớ được ông thợ sắp
chữ đó như thế nào. Nhiều thợ quá làm sao nhớ hết. Tôi cứ tưởng chuyện đến đó
là xong. Một nghĩa cử hay một tấm
lòng. Nhưng khoảng một tháng sau,
tôi lại nhận được một cú điện thoại từ Mỹ gọi về Lộc Ninh. Sau một vài lời
trò chuyện, bà mới cho tôi biết bà là giáo sư đã từng dạy ở trường Trưng
Vương trước những năm 75, năm nay bà đã 74 tuổi rồi. Tất nhiên, tôi phải nhớ
đến trường Trưng Vương, một ngôi trường nữ trung học nổi tiếng ở cả hai miền
Nam Bắc, nhất là với tôi thì những "mối tình Trưng Vương"
còn đầy. Những mối tình ở đây phải kể cả những lần phóng xe đi qua cổng
trường Trưng Vương hoặc Gia Long chỉ để "chiêm ngưỡng" những
người đẹp mới lớn, nó là một nguồn vui làm nên "thi vị" cho
cả cái thuở đầu đời của mình. Và, bây giờ ở nước ngoài, những "cô nữ
sinh" ấy cũng đã trở thành bà nội bà ngoại cả rồi và cũng không
thiếu gì những ông bạn tôi, những "cậu trai Sài Gòn" cũng đã
râu tóc bạc phơ bên những "bà vợ" nữ sinh Trưng Vương hoặc
Gia Long - Sài Gòn ngày nào. Như thế tất nhiên là bà giáo còn có rất nhiều
học trò của mình ở đây và ở nước ngoài. Tôi cũng đã từng có bà xã học ở Trưng
Vương khi chúng tôi làm đám cưới nên coi bà giáo này như cô giáo của chính
mình. Tôi nói thế để chứng minh
cái sự kính trọng ngay từ phút ban đầu tiếp chuyện với "bà
giáo." Bà rất tế nhị nên không muốn tôi nêu tên trên báo, vậy chỉ
xin gọi tắt là "cô giáo T.N. của chúng em" vậy. Càng cảm động hơn khi bà
cho biết đã điện thoại cho tôi gần 20 lần, hôm nay mới gặp được. Điều này dễ
hiểu vì điện thoại của những tỉnh ngoài Sài Gòn, nếu gọi từ VN thì phải có số
0 ở đầu, thí dụ gọi về Lộc Ninh thì phải gọi 0651. Nhưng nếu ở nước ngoài gọi
về thì lại phải bỏ số không ở đầu, tức là chỉ cần bấm số 651. Nó rắc rối tơ
như thế nên bà phải hỏi đi hỏi lại mấy "bà" học trò cũ mới
gọi được. Nhiều ông bạn tôi đã mắc cái "bẫy việt vị này"
rồi. Tôi phải xin lỗi bà mãi vì cái số điện thoại tôi để lại trong cái máy
trả lời tự động ở Sài Gòn chỉ có mục đích thông báo cho người ở VN mà thôi. Bà vui vẻ cho biết là bà ở
Mỹ, nhưng ở vùng "khỉ ho cò gáy" (hình như vùng San Diego),
không có nhiều báo Việt, đến nay bà mới nhận được một tờ báo của người em từ
San Jose gửi qua nên đọc bài trên đây của tôi. Bà rất xúc động về một người "Sài
Gòn cũ" như ông Một có tấm lòng chung thủy như vậy và đời sống quá
khó khăn. Bà cũng là "người Sài Gòn cũ," muốn giúp đỡ ông
một phần nào. Nhưng sợ quà không tới tay người nhận, nên muốn nhờ tôi làm
trung gian. Chỉ một tuần sau tôi nhận
được 100 USD của bà gửi tặng ông Một. Và tôi cũng lại yên trí rằng như thế là
xong. Nhưng một tuần sau tôi lại nhận được điện thoại của bà T.N. Bà vui vẻ
báo tin bà đã nói chuyện và đưa tờ báo có bài của tôi cho mấy người bạn và
con của bà đọc. Bà hỏi tôi nếu căn nhà của ông Một sửa sang lại cho tươm tất
thì hết bao nhiêu. Tôi cũng phỏng chừng giá cả xây dựng một số vật liệu ở đây
nên tôi nói ngay : "Khoảng ba bốn trăm đô" là đủ, nếu
chỉ sửa chữa lại. Bà hứa sẽ vận động bạn bè thân quanh bà và các con bà giúp
ông Một số tiền đó. Bà nói rõ hơn, không giúp được nhiều người thì bà giúp
một người, đó chỉ là một nghĩa cử mà thôi. Và, đúng ngày 1 tháng 5 -
Ngày Quốc tế Lao Động-, tức là mới cách đây đúng nửa tháng, tôi nhận được số
tiền 400 USD nữa, mang trao ngay cho gia đình anh Một. Cả gia đình đình anh
mừng rỡ đến sững sờ. Cộng cả số tiền trước, 500 USD đổi được 7 triệu 900 ngàn
VN chứ ít sao. Có nằm mơ cũng không thể nào nghĩ tới có một lúc nào đó gia
đình anh có số tiền lớn đến như vậy. Trong khi anh đi làm công mướt mồ hôi,
mỗi ngày chỉ kiếm được 30 ngàn đồng VN nếu không ăn cơm của nhà chủ. Nước mắt chảy quanh người
vợ và đứa con út. Tôi tưởng không cần diễn tả nhiều, bạn đọc cũng đã có thể
hình dung ra cái cảnh này. Anh ta không biết nên... cảm ơn ai, cảm ơn thế nào
đây. Tôi phải quay đi để tránh nước mắt chính mình khỏi chảy. Tôi chỉ kịp dặn
anh : "Bà giáo nói là anh cố gắng sửa lại cái nhà che mưa che
nắng," rồi phóng xe ra khỏi mảnh đất khô cằn sỏi đá ấy. Tôi thông báo lại với bà
giáo T.N. đã chuyển tiền rồi. Bà vui lắm và vài ngày sau bà lại điện thoại
cho tôi "khoe" rằng mới nhận được thư cảm ơn của ông Một,
ông viết "buồn cười lắm," đúng là chữ viết và giọng văn của
người nhà quê. Bà còn nói thêm nhìn cái bì thư đẹp nhưng trong địa chỉ đã có
chữ USD, lại còn cẩn thận thêm chữ "Mỹ Quốc" nữa, làm sao Mỹ
nó hiểu. Tôi mang chuyện này hỏi anh
Một, anh nói là bưu điện ở xã hỏi anh gửi thư đến nước nào, anh nói Mỹ Quốc
thì họ ghi thêm vào bì thư, chứ không phải anh ghi. Đấy, câu chuyện "nhà
quê" ở đây vui như vậy đấy. Đến nay thì căn nhà anh Một
đã làm xong, anh còn dư tiền mua được một bộ bàn ghế và cái tủ. "Bà
T.N, còn nói, trong vài ngày nữa, một người em của bà hiện còn sống ở Sài Gòn
sẽ lên thăm căn nhà của anh Một và sẽ mang tặng anh một cái ti-vi. Tôi đến
thăm, anh hãnh diện kể với bà con hàng xóm ỀẤy mấy người Sài Gòn cũ của tôi
cho tôi tiền làm lại nhà chứ cả đời tôi làm sao làm nổi. Tôi có ở đây đến
trăm năm cũng thế thôi." Mấy bà hàng xóm tấm tắc
khen : "Nhà này còn đẹp và bền hơn cả mấy căn nhà tình nghĩa
nhiều." Tôi không biết họ nói như vậy còn có ẩn ý gì khác hay không.
Nhưng quả là như thế, tôi đã từng thấy hàng trăm "căn nhà tình
nghĩa" ở đây mà nhà nước làm cho những gia đình liệt sĩ hoặc những
người có công, gọi là "gia đình chính sách" đang gặp khó
khăn. Những căn nhà ấy không thể bằng nhà anh Một. Tôi càng thấy nó đẹp và
nhiều ý nghĩa hơn khi vừa đọc được hàng tin trên tờ báo Pháp Luật ra ngày
6-5 : Ở làng Ngọc Tố, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng không có nhà tình nghĩa mà chỉ
có... nhà tình cảm. Tức là những cái nhà của nhà nước, thay vì chỉ để tặng
cho gia đình chính sách nghèo khó thì các "quan cán bộ" đem
cấp cho gia đình những người thân của mình. Thậm chí đến nỗi họ còn gọi là
nhà của "cánh nhà họ Phạm," là những người thân quen ruột
thịt của ông Phạm Minh Đoàn bí thư xã. Họ kể ra vanh vách nào là nhà Phạm Văn
Sáu, Phạm Văn Hóa, Phạm Thị Mừng, Phạm Văn Thái, Phạm Văn Đáng... Ôi, những cái nhà tình
nghĩa đó, là những thứ tình cảm gian lận, người ở trong nhà đáng xấu hổ bao
nhiêu thì cái nhà của anh Một đáng hãnh diện bấy nhiêu. Thứ tình cảm hoàn
toàn vô tư cao đẹp của một người Sài Gòn, dù chưa một lần biết tên nhau đã
làm cho cuộc sống này có ý nghĩa hơn nhiều. Đến đây tôi chỉ muốn thưa với bà
giáo T.N. rằng : "Thưa cô giáo, bài luận văn cô ra hôm nay đã
cho chúng em là một bài học thấm thía cho cuộc đời. Chúng em hãnh diện có một
người thầy như cô." Văn Quang |