Sự Tụt Hậu Của Nền Giáo Dục

Văn Quang
 (LMVNTD - LÊN MẠNG CHỦ NHẬT 19 THÁNG SÁU 2005)

Giáo dục hiện nay đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi và khiến dư luận xã hội đặc biệt chú ý. Không phải đó là một vấn đề mới, nó đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, như một thứ chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi." Và cũng rất nhiều lần nó đã từng được sửa đổi, bổ sung với những văn bản, những quy định. Nhưng rồi cho đến nay vẫn vậy, những thiếu sót, những phi lý của nó vẫn còn hiên ngang tiếp diễn. Tha hồ cho các nhà giáo dục mỏi miệng lên tiếng, tha hồ cho chính những nhà giáo thức thời đưa ra những thực trạng cùng giải pháp cải cách, mặc cho những lời than phiền của phụ huynh học sinh kêu gào về đủ thứ "đau khổ" cho con em mình khi cắp sách đến trường và ngay cả các em học sinh ngày nay cũng không thể chịu nổi cái kiểu "học hành" quái gở, thi cử "quái chiêu" nên buộc phải lên tiếng.

Trong khi đó Quốc hội VN cũng đang tranh cãi rất gay gắt xung quanh chuyện giáo dục. Từ A tới Z đều có những vấn đề mà người ta quen gọi là "bức xúc," và nếu nhìn vào thực tế thì hầu như mọi chuyện đều phải xóa đi, làm lại từ đầu.

Từ khi mới học lớp 1 cho đến khi trở thành những sinh viên đại học và ngay cả khi đã cầm trong tay mảnh bằng tiến sĩ cũng chưa chắc gì đã đáp ứng được đòi hỏi của công việc ngang tầm với mình. Chưa nói đến những cậu ấm cô chiêu mua bằng bán cấp, những ông thầy chấm luận văn vì "tình cảm, vị nể," vì những "cái thư tay" của "quan anh quan em," tất nhiên là dù có đến mấy cái bằng tiến sĩ thì cũng chỉ là giấy lộn, chỉ như món hàng mua ngoài chợ, như cái áo thời trang mua ở đầu đường, nói chi đến tri thức cho tủi hổ.

Con đường một chiều

Thái độ của những người "thấp cổ bé miệng nhất" trong vấn đề này là các cô cậu cắp sách đến trường đã đến lúc phải "bùng nổ." Trong tuần vừa qua, một sự kiện gây xôn xao dư luận trong làng giáo dục, và ngay cả dư luận xã hội cũng rất ngỡ ngàng vì một bài thi của một em học sinh trong kỳ thi học sinh giỏi của Hà Nội, tổ chức giữa tháng 3 năm 2005.

Em học sinh này, thay vì phân tích cái hay, cái đẹp của tác phẩm như đề bài thi đã ra, nhưng em đã viết rằng mình không thích tác phẩm đó, đồng thời nêu lên nhiều nhận xét rất thẳng thắn về cách dạy văn và học văn trong nhà trường hiện nay. Cách học văn chỉ là một điển hình cho hầu hết các môn học khác mà các em đã buộc phải đi vào "con đường một chiều" do nhà trường đã vạch ra. Các học sinh không có quyền suy nghĩ khác những gì đã có sẵn, có lẽ vì các thầy cô cũng chẳng "tư duy" được điều gì hay hơn, mới hơn, cho mất thì giờ và họ cũng không được quyền làm như vậy.

Các ý kiến chỉ là dựa theo những gì mà sách vở, chủ trương, đường lối đã có sẵn, nó trở thành bất di bất dịch. Có suy nghĩ khác đi, dù có hay hơn cũng phải nín thinh. Đầu óc trở thành bộ nhớ máy móc của cái computer, cái máy nào tốt hơn thì thành công, trở thành giỏi giang, cái máy nào yếu hơn thì trở thành dốt đặc. Học mãi rồi trở thành những cái máy. Hành động, suy nghĩ, cách ứng xử, cách sống sẽ là hàng loạt người làm y hệt nhau, nói y hệt nhau. Lớp người này đã xuất hiện trong thế hệ hiện nay ở VN. Nếu để ý kỹ, người ta không xa lạ. Gặp một quan chức hàng tầm tầm, các bạn sẽ thấy 90% họ nói giống nhau, hàng quan chức cao hơn thì nói theo cách cao hơn. Một số người được gọi là "nghệ sĩ" cũng không thoát ra ngoài cái "vòng Kim Cô" ấy. Nó y như cái computer loại Pentium II, III, IV... Đó là kết quả của những con đường một chiều trong phương pháp giáo dục từ bao năm nay. Cái máy ca tụng một bài thơ, một đoạn văn nào đó, dù không đáng là thơ, không đáng là văn thì mọi người cứ thế mà ca tụng, đừng có lôi thôi.

Sự bùng nổ

Xin trở lại với sự "bùng nổ" của một em học sinh, thật ra đó không phải là cá nhân em mà nó là đại diện, là biểu hiện dồn nén của hầu hết những em học sinh khác. Dưới đây là trích đoạn bài thi của học sinh Nguyễn Phi Thanh, lớp 11A18 Trường Trung học Phổ thông Việt Đức, Hà Nội trong Kỳ thi học sinh giỏi các lớp không chuyên Hà Nội 18-3-2005

Đề thi : Em hãy giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc...

- Bài làm :

Nói đến Nguyễn Đình Chiểu, người ta thường nhớ đến một thầy giáo mù yêu nước, có tài thơ văn nhưng cuộc sống gặp nhiều bất hạnh. Nguyễn Đình Chiểu sáng tác khá nhiều, nổi tiếng là tập thơ Nôm "Lục Vân Tiên" và trong văn học lớp 11, chúng ta được làm quen với tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài tế được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác để tưởng nhớ những chiến sĩ, những người nông dân đã hy sinh trong phong trào Cần Vương khi thực dân Pháp tấn công Gia Định, Sài Gòn.

Đề bài thi học sinh giỏi năm nay là "Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" nhưng thực sự em không hề thích tác phẩm này, như vậy em có thể viết hay được không ? Em có thể chắc chắn rằng trong số 10 học sinh như em thì có 9 người cũng không thích tác phẩm này. Đơn giản bởi vì bọn em không sống trong thời chiến tranh, bọn em không thể rung động trước một bài tế khi mà thực sự bọn em đang sống trong thời bình. Bọn em không quay lưng với lịch sử nhưng có nhiều cách để bọn em hiểu về lịch sử dân tộc... Em nghĩ, đứng trước một tác phẩm văn học, bao giờ cũng có những ý kiến trái ngược khen - chê, hay - dở, nhưng dường như HS bọn em chỉ có quyền thích, chỉ có quyền khen hay, mà không có quyền nói lên chính kiến của mình, và việc phê bình văn học, hình như chỉ là việc của các nhà phê bình. Phải chăng vì tư tưởng bảo thủ này mà suốt 63 năm qua, văn thơ của chúng ta chưa được "mới" ? Nhìn ra, chỉ ra cái hay của một tác phẩm văn học đã khó, nhưng chỉ ra cái hạn chế, thiếu sót của tác phẩm ấy còn khó hơn nữa, vậy mà chưa bao giờ bọn em được tỏ rõ chính kiến của mình trong một bài thi cả, tất cả chỉ vì áp lực điểm số.

Em biết bài viết này của em là hoàn toàn lạc đề, em không chỉ ra được cái đẹp, cái hay của tác phẩm bởi em không thấy nó hay, không thấy nó đẹp. Em cũng biết bài văn này cũng không được điểm nào, nhưng em chỉ muốn nêu lên chính kiến của mình trước tác phẩm, cũng như những bức xúc của một HS, khi phải học một chương trình không phù hợp. Em không muốn phải viết những lời khen sáo rỗng về một tác phẩm mình không thích. Và em hy vọng các thầy cô sẽ linh hoạt hơn trong việc ra đề để bọn em tự do bày tỏ chính kiến, tự do yêu ghét một tác phẩm nào đó...

Bài văn đã được nhiều học sinh (HS) và thầy cô giáo chuyền tay nhau đọc, bình luận. Rất nhiều HS tán đồng với ý kiến này. Còn các thầy cô giáo thì dè dặt hơn. Có người bảo rằng phải cho 20 điểm mới xứng đáng, có người khẳng định bài văn chỉ đáng điểm 0. Còn thực tế, người chấm đã cho bài văn này 3/15 điểm với lý do : Viết lạc đề.

Người trong cuộc

Ngay sau khi bài viết của em được công bố, em Nguyễn Phi Thanh đã bày tỏ ý định chân thật của em :

Ngay khi đọc đề với yêu cầu "Viết một bài nghị luận văn học giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc," tôi đã định không làm bài. Lý do vì sao thì tôi đã trình bày trong bài viết đó. Nhưng rồi tôi quyết định viết ra những suy nghĩ của mình về chuyện học hành. Những suy nghĩ đó không phải là ý nghĩ nhất thời. Đó là những điều tôi đã từng suy nghĩ, trăn trở trong quá trình học tập. Chính vì vậy, có thể nói tôi đã viết những điều đó với tất cả tâm huyết. Viết xong thấy nhẹ nhõm cả người vì cuối cùng tôi cũng đã có một dịp "trút bầu tâm sự," nói lên những suy nghĩ thật của mình.

Lúc đó, tôi biết sẽ có một "hậu quả" chắc chắn là tôi không thể đạt điểm cao và đoạt giải học sinh giỏi. Tôi cũng có nghĩ đến những chuyện khó xử khác... Nhưng quả thật, tôi chỉ muốn nói lên những suy nghĩ thật của mình với mục đích tích cực, có tính xây dựng chứ không phải là một phản ứng tiêu cực. Những điều tôi nghĩ, tôi viết thể hiện mong muốn sẽ có những cải cách chương trình, thay đổi trong cách dạy và học, mong muốn các thầy cô, nhà trường có thể linh hoạt hơn trong cách ra đề, đánh giá...

Còn bất ngờ, có lẽ là không vì tôi cũng biết mình đã làm một việc... không như bình thường. Khi về nhà, tôi có nói lại hết với ba mẹ tôi. Tôi cảm thấy rất biết ơn khi ba mẹ đã hiểu những điều tôi suy nghĩ, không trách móc tôi.

... Vấn đề thứ hai tôi muốn có ý kiến là cách dạy và học trong nhà trường. Có thể do áp lực chương trình, thi cử... nên hầu hết các môn, chúng tôi vẫn học theo kiểu thầy cô đọc, trò chép cho kịp thời gian. Tôi tự nhận thấy hiện nay chúng tôi học theo kiểu thụ động, tiếp nhận kiến thức một chiều, hầu như là học thuộc. Thầy cô phân tích theo cảm nhận, suy nghĩ của mình, sau này kiểm tra, thi cử chúng tôi cũng theo mẫu đó nếu muốn được điểm cao, không có chỗ cho chúng tôi tự nghĩ, trình bày những ý tưởng, cảm nhận riêng của chúng tôi...

Thêm nữa, tôi mong muốn cách ra đề thi, kiểm tra linh hoạt hơn, làm sao để kiểm tra kiến thức cùng với sự sáng tạo, tạo điều kiện cho chúng tôi có thể thể hiện năng lực cá nhân chứ không phải rập khuôn theo "mẫu"...

Ý kiến của phụ huynh học sinh

Đằng sau sự mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình còn cho thấy sự đè nén về cách giảng dạy giáo điều theo kiểu tư duy một chiều, kìm hãm sự sáng tạo. Đây là một sự báo động không chỉ đối với ngành giáo dục mà cả toàn xã hội. Điều quan trọng nhất để chấn hưng giáo dục là phải đổi mới căn bản tư duy về giáo dục, dám nhìn thẳng vào sự lạc hậu của nền giáo dục ở Việt Nam so với thế giới và so với yêu cầu của thời đại mới.

Một phụ huynh học sinh đã bày tỏ lòng cảm ơn với em Thanh :

Bài văn của em học sinh lớp 11 Nguyễn Phi Thanh đã nói lên một sự thật : trong chương trình hiện nay, các em học sinh phải học nhiều điều khó hiểu và xa lạ, xa rời thực tế cuộc sống. Việc này đã tồn tại nhiều năm qua. Ai cũng biết nhưng không ai dám nói.

Tôi còn nhớ ngay từ những năm lớp 7 các con tôi phải học thuộc những bài thơ làm theo thể Đường luật của các nhà thơ Trung Quốc như "Mao ốc vị thu phong sở phá ca" (được dịch ra là "Bài ca nhà tranh bị gió thu phá" của Đỗ Phủ, bài "Tĩnh dạ tứ" ("Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh" của Lý Bạch), "Vọng lư sơn Bộc Bố" ("Xa ngắm thác núi Lư" - Lý Bạch) ; "Hồi hương ngẫu thư" ("Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê" - Hạ Trí Chương)... Nghe các con gào ra rả, tôi hỏi có hiểu không ? Bọn trẻ lắc đầu : "Chúng con không hiểu gì cả !" Đọc mà không hiểu thì làm sao mà nhớ, mà thuộc, mà thấy cái hay cái đẹp của bài thơ ?

Tôi nghĩ qua bao thế hệ, chắc chắn rất nhiều em học sinh khác cũng có suy nghĩ như em Thanh. Nhưng chỉ có một mình em dám nói lên sự thật. Đọc bài văn của em, tôi cảm thấy thật xấu hổ : tôi đã không có được lòng dũng cảm như em để nói lên một sự thật đã làm tôi trăn trở bao lâu nay. Xin cảm ơn em Thanh.

Chúng ta hãy nhìn qua cách giáo dục hiện nay qua lời chính những vị có trách nhiệm với việc dạy học và làm sách dạy học để có thể hiểu được sâu sắc hơn về tình trạng này : Một "đại biểu" đã thốt lên ngay tại cuộc họp :

Chúng ta cấm học sinh uống rượu, bia nhưng các thầy thì sao ? Tôi từng chứng kiến cảnh một số giảng viên đại học lên lớp mặt đỏ phừng phừng. Thậm chí có thầy lên lớp chỉ kịp ra bài kiểm tra cho sinh viên rồi xuống hàng ghế cuối giảng đường ngủ. Thảm hại quá !

Tình trạng lạm thu tại các trường cũng khiến người ta kinh ngạc : một trường phổ thông ở Đà Nẵng, một năm học có tới 19 khoản thu.

Một vị khác lại đặt câu hỏi : "Tôi không thể hiểu tại sao người ta bắt các em phải nhớ sản lượng than của Ba Lan trong năm là bao nhiêu. Với khoa học ngày nay, chỉ cần một click trên máy tính, học sinh sẽ có số liệu thống kê ấy."

Đấy là chưa kể đến những học sinh từ lớp 1 trở đi đã bắt đầu phải học thêm, học mờ mịt, học đến mụ cả người mà chẳng hiểu gì, cứ thế mà học thuộc lòng và viết thuộc lòng. Không ít thầy cô cho đó là một dịp may để kiếm thêm "thu nhập."

Lên đến lớp trên, khi chấm luận văn cho các vị tiến sĩ thì đã có nhà giáo phải đau đớn thú nhận : "Tôi đã có nhiều dịp tham gia Hội đồng phản biện và thấy chất lượng đào tạo của ta thấp kinh khủng. Nhiều nghiên cứu sinh mới tốt nghiệp đại học, sau đó cóp nhặt tài liệu làm luận án, không hề có kinh nghiệm."

Còn về sách giáo khoa thì sao ?

Có người nói : Đó là những cuốn sách giáo khoa dành cho... nhà bác học. Một giáo viên Trung học đã mỉa mai : "Nếu bạn đọc có thì giờ ghé mắt nhìn qua một cuốn sách giáo khoa sẽ thấy đó là loại sách dành để đào tạo... những nhà bác học trong độ tuổi còn mê ăn và đái dầm !"

Đọc lại sách giáo khoa (SGK) các cấp lớp từ tiểu học đến Trung học phổ thông (THPT) ở VN mới thấy lời nói ấy không sai. Ví dụ trong cuốn SGK Tự nhiên xã hội lớp 5, Nhà xuất bản Giáo Dục 2004 có những câu hỏi rất khó : "Nêu tình trạng môi trường không khí và nguồn nước nơi em sinh sống ?" ; "Trình bày một thí nghiệm chứng tỏ rằng một vật bị thay đổi vị trí khi nhận được năng lượng ?" ; "Em hãy nêu những sự kiện lịch sử tiêu biểu trong thời kỳ 1858-1945. Thử lập sơ đồ để thể hiện điều này."

Đây chỉ là một số trong rất nhiều câu hỏi thuộc rất nhiều lĩnh vực của đời sống được trích từ sách giáo khoa cho học sinh lớp 5. Người lớn chúng ta cần bao nhiêu thời gian để hoàn tất ba câu hỏi trên, trong khi các em bé trong những giờ học ít ỏi của mình phải trả lời số lượng câu hỏi gấp nhiều lần số đó. Vấn đề không chỉ là học thuộc mà phải hiểu. Nhưng ngay cả học thuộc còn khó nói chi đến hiểu.

Không chỉ có môn tự nhiên xã hội, môn Anh văn (quyển 3 dành cho lớp 5) cũng có không ít sự thách đố dành cho các em. Những lá cờ các nước được in một màu, còn các em thì được yêu cầu tìm tên của nước có quốc kỳ đó. (Trong khi có những quốc gia có quốc kỳ hình dạng giống nhau, chỉ khác màu sắc, học sinh sẽ đoán là nước nào ?).

Cũng trong quyển sách này, có những yêu cầu khó hiểu mà đến cả người lớn đọc có thể cũng tắc tị. Ví dụ : trang 8, bài tập 7 yêu cầu : Nghe và sắp xếp thứ tự các bức tranh, bên dưới trình bày hình vẽ của bốn thành phố lớn ở các nước và không chú thích gì thêm. Vậy thì học sinh "nghe" cái gì và sắp xếp thứ tự theo kiểu gì ?

Tuy nhiên, bất chấp những điều vừa nói, học sinh tiểu học vẫn hiên ngang học mỗi ngày và xuất sắc rất đông ! ( ?)

Như thế cho ta thấy từ lúc học vỡ lòng cho đến khi ra đời nền giáo dục đã mang lại những "nhân tài" như thế nào cho xã hội ? Nếu sự băng hoại của đám thanh niên ngày nay với thuốc lắc, heroin, thỏa mãn tình dục hạ cấp, phim sex tràn lan và được hâm mộ... thì chính là giáo dục đã góp một phần không nhỏ. Tiếng chuông báo động không phải bây giờ mới dóng lên mà nó chỉ được lặp lại. Không biết lần sửa đổi bổ sung này có mang lại một chút ánh sang nào cuối con đường hầm hay không ?

Chuyện một bà giáo "ngày xưa"

Nhân nói đến chuyện giáo dục, tôi xin kể một câu chuyện nhỏ mới toanh, nhưng nó thuộc về chuyện một "bà giáo thời xưa." Xin nói rõ "thời xưa" ở đây, tôi muốn nói đến thời gian từ trước năm 1975. Đối với tôi và nhiều người khác chắc cũng có cùng một ý nghĩ như thế. Hy vọng bạn đọc còn nhớ một bài tôi viết từ tháng 2 vừa qua (số 93 - ngày 14-2-2005) về "Nỗi xúc động trong mùa xuân đầu tiên ở vùng quê." Trong đó, tôi tường thuật lại một "người Sài Gòn cũ" là anh Lê Văn Một ở xã Lộc Hưng, Huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Xin nhắc sơ qua là anh Một trước năm 75 ở Sài Gòn làm thợ xếp chữ cho mấy tờ báo ở đường Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện, Võ Tánh... như tuần báo Màn Ảnh, Trắng Đen, Sóng Thần, Chính Luận... Và cũng đúng "mùa xuân đầu tiên" 1975 anh được "giải phóng" khỏi nghề sắp chữ đi lên vùng gọi là "kinh tế mới" cho đến ngày nay. Vợ anh theo anh lên đây, đói rách, bệnh tật, bỏ về Sài Gòn rồi không bao giờ lên nữa. Suốt 30 năm anh đi làm mướn cho các chủ vườn, cũng đói rách thê thảm, chưa được trở lại Sài Gòn lần nào. Bây giờ anh đã có gia đình với 3 đứa con, nhưng cũng chỉ đi làm mướn mà không đủ ăn. Tôi gặp lại anh vào chiều ba mươi Tết và là "dân Sài Gòn cũ" với nhau, tôi đến thăm anh vào ngày mùng2 Tết vừa qua. Tôi chụp vài tấm hình và thuật lại cuộc viếng thăm này. Xin trích lại một đoạn :

Ngày mùng 2 Tết chúng tôi đến thăm nhà anh bạn sắp chữ như đã hẹn trước. Anh là Lê Văn Một ở xã Lộc Hưng, cách nơi tôi ở chừng ba cây số. Theo đường anh đã chỉ dẫn, chúng tôi phải mò mẫm mãi mới hỏi thăm được đường đến nhà anh. Từ quốc lộ rẽ vào một con đường bờ ruộng rộng không quá 1 thước, chỉ đủ đi được chiếc xe gắn máy. Gặp chiếc xe đạp đi ngược đường cũng khó tránh. Nhà cửa thưa thớt, suốt cái xóm này bày ra một khung cảnh nghèo nàn, không thể tìm ra cái tết nào trong những gian nhà này ngoài những lá cờ treo lủng lẳng trước gió. Đến ngay cả gió cũng lười, chẳng buồn rung cây.

Vòng vèo qua mấy con đường mòn với những cành cây vươn dài ra giữa đường mới thấy vài căn nhà lụp sụp, mấy đứa trẻ đứng tròn mắt nhìn khách lạ. Chúng cũng nhem nhuốc như ngày thường, chẳng biết gì là tết. Có lẽ cả đời chúng cũng chưa bao giờ được biết đến cái phong bao "lì xì" đỏ hay xanh. Nhà anh Một đứng chơ vơ giữa một khu đất hẹp. Nó được dựng lên từ bao giờ, không ai đoán được số tuổi, và được "lắp ghép" bằng đủ mọi thứ : gỗ cũ, gỗ mới, tôn, ni lông, giấy bồi, bao xi măng... Kiếm được cái gì che chỗ nào được thì cứ che. Gần tết, anh mua được vài thước ni lông xanh, "trang hoàng" lại mấy cái cửa chính, cửa sổ cho ra vẻ mùa xuân. Vợ anh và mấy đứa con vẫn cặm cụi ngoài vườn, lo cho con bò mới đẻ được một con bê hơn là lo cho tết. Đó là tất cả gia tài nhà anh sau 30 năm đi vùng kinh tế mới.

Sau bài viết này, một số bạn bè tôi đã động lòng trắc ẩn, gửi tặng gia đình anh một số tiền và tôi đã mang đến trao cho anh. Anh xúc động bùi ngùi lắm, anh cầm tiền mà rưng rưng : "không ngờ các ông nhà báo này còn nhớ đến em." Thật ra thì chắc chắn những ông bạn tôi không thể nào nhớ được ông thợ sắp chữ đó như thế nào. Nhiều thợ quá làm sao nhớ hết. Tôi cứ tưởng chuyện đến đó là xong.

Một nghĩa cử hay một tấm lòng.

Nhưng khoảng một tháng sau, tôi lại nhận được một cú điện thoại từ Mỹ gọi về Lộc Ninh. Sau một vài lời trò chuyện, bà mới cho tôi biết bà là giáo sư đã từng dạy ở trường Trưng Vương trước những năm 75, năm nay bà đã 74 tuổi rồi. Tất nhiên, tôi phải nhớ đến trường Trưng Vương, một ngôi trường nữ trung học nổi tiếng ở cả hai miền Nam Bắc, nhất là với tôi thì những "mối tình Trưng Vương" còn đầy. Những mối tình ở đây phải kể cả những lần phóng xe đi qua cổng trường Trưng Vương hoặc Gia Long chỉ để "chiêm ngưỡng" những người đẹp mới lớn, nó là một nguồn vui làm nên "thi vị" cho cả cái thuở đầu đời của mình. Và, bây giờ ở nước ngoài, những "cô nữ sinh" ấy cũng đã trở thành bà nội bà ngoại cả rồi và cũng không thiếu gì những ông bạn tôi, những "cậu trai Sài Gòn" cũng đã râu tóc bạc phơ bên những "bà vợ" nữ sinh Trưng Vương hoặc Gia Long - Sài Gòn ngày nào. Như thế tất nhiên là bà giáo còn có rất nhiều học trò của mình ở đây và ở nước ngoài. Tôi cũng đã từng có bà xã học ở Trưng Vương khi chúng tôi làm đám cưới nên coi bà giáo này như cô giáo của chính mình.

Tôi nói thế để chứng minh cái sự kính trọng ngay từ phút ban đầu tiếp chuyện với "bà giáo." Bà rất tế nhị nên không muốn tôi nêu tên trên báo, vậy chỉ xin gọi tắt là "cô giáo T.N. của chúng em" vậy.

Càng cảm động hơn khi bà cho biết đã điện thoại cho tôi gần 20 lần, hôm nay mới gặp được. Điều này dễ hiểu vì điện thoại của những tỉnh ngoài Sài Gòn, nếu gọi từ VN thì phải có số 0 ở đầu, thí dụ gọi về Lộc Ninh thì phải gọi 0651. Nhưng nếu ở nước ngoài gọi về thì lại phải bỏ số không ở đầu, tức là chỉ cần bấm số 651. Nó rắc rối tơ như thế nên bà phải hỏi đi hỏi lại mấy "bà" học trò cũ mới gọi được. Nhiều ông bạn tôi đã mắc cái "bẫy việt vị này" rồi. Tôi phải xin lỗi bà mãi vì cái số điện thoại tôi để lại trong cái máy trả lời tự động ở Sài Gòn chỉ có mục đích thông báo cho người ở VN mà thôi.

Bà vui vẻ cho biết là bà ở Mỹ, nhưng ở vùng "khỉ ho cò gáy" (hình như vùng San Diego), không có nhiều báo Việt, đến nay bà mới nhận được một tờ báo của người em từ San Jose gửi qua nên đọc bài trên đây của tôi. Bà rất xúc động về một người "Sài Gòn cũ" như ông Một có tấm lòng chung thủy như vậy và đời sống quá khó khăn. Bà cũng là "người Sài Gòn cũ," muốn giúp đỡ ông một phần nào. Nhưng sợ quà không tới tay người nhận, nên muốn nhờ tôi làm trung gian.

Chỉ một tuần sau tôi nhận được 100 USD của bà gửi tặng ông Một. Và tôi cũng lại yên trí rằng như thế là xong. Nhưng một tuần sau tôi lại nhận được điện thoại của bà T.N. Bà vui vẻ báo tin bà đã nói chuyện và đưa tờ báo có bài của tôi cho mấy người bạn và con của bà đọc. Bà hỏi tôi nếu căn nhà của ông Một sửa sang lại cho tươm tất thì hết bao nhiêu. Tôi cũng phỏng chừng giá cả xây dựng một số vật liệu ở đây nên tôi nói ngay : "Khoảng ba bốn trăm đô" là đủ, nếu chỉ sửa chữa lại. Bà hứa sẽ vận động bạn bè thân quanh bà và các con bà giúp ông Một số tiền đó. Bà nói rõ hơn, không giúp được nhiều người thì bà giúp một người, đó chỉ là một nghĩa cử mà thôi.

Và, đúng ngày 1 tháng 5 - Ngày Quốc tế Lao Động-, tức là mới cách đây đúng nửa tháng, tôi nhận được số tiền 400 USD nữa, mang trao ngay cho gia đình anh Một. Cả gia đình đình anh mừng rỡ đến sững sờ. Cộng cả số tiền trước, 500 USD đổi được 7 triệu 900 ngàn VN chứ ít sao. Có nằm mơ cũng không thể nào nghĩ tới có một lúc nào đó gia đình anh có số tiền lớn đến như vậy. Trong khi anh đi làm công mướt mồ hôi, mỗi ngày chỉ kiếm được 30 ngàn đồng VN nếu không ăn cơm của nhà chủ.

Nước mắt chảy quanh người vợ và đứa con út. Tôi tưởng không cần diễn tả nhiều, bạn đọc cũng đã có thể hình dung ra cái cảnh này. Anh ta không biết nên... cảm ơn ai, cảm ơn thế nào đây. Tôi phải quay đi để tránh nước mắt chính mình khỏi chảy. Tôi chỉ kịp dặn anh : "Bà giáo nói là anh cố gắng sửa lại cái nhà che mưa che nắng," rồi phóng xe ra khỏi mảnh đất khô cằn sỏi đá ấy.

Tôi thông báo lại với bà giáo T.N. đã chuyển tiền rồi. Bà vui lắm và vài ngày sau bà lại điện thoại cho tôi "khoe" rằng mới nhận được thư cảm ơn của ông Một, ông viết "buồn cười lắm," đúng là chữ viết và giọng văn của người nhà quê. Bà còn nói thêm nhìn cái bì thư đẹp nhưng trong địa chỉ đã có chữ USD, lại còn cẩn thận thêm chữ "Mỹ Quốc" nữa, làm sao Mỹ nó hiểu.

Tôi mang chuyện này hỏi anh Một, anh nói là bưu điện ở xã hỏi anh gửi thư đến nước nào, anh nói Mỹ Quốc thì họ ghi thêm vào bì thư, chứ không phải anh ghi.

Đấy, câu chuyện "nhà quê" ở đây vui như vậy đấy.

Đến nay thì căn nhà anh Một đã làm xong, anh còn dư tiền mua được một bộ bàn ghế và cái tủ. "Bà T.N, còn nói, trong vài ngày nữa, một người em của bà hiện còn sống ở Sài Gòn sẽ lên thăm căn nhà của anh Một và sẽ mang tặng anh một cái ti-vi. Tôi đến thăm, anh hãnh diện kể với bà con hàng xóm ỀẤy mấy người Sài Gòn cũ của tôi cho tôi tiền làm lại nhà chứ cả đời tôi làm sao làm nổi. Tôi có ở đây đến trăm năm cũng thế thôi."

Mấy bà hàng xóm tấm tắc khen : "Nhà này còn đẹp và bền hơn cả mấy căn nhà tình nghĩa nhiều." Tôi không biết họ nói như vậy còn có ẩn ý gì khác hay không. Nhưng quả là như thế, tôi đã từng thấy hàng trăm "căn nhà tình nghĩa" ở đây mà nhà nước làm cho những gia đình liệt sĩ hoặc những người có công, gọi là "gia đình chính sách" đang gặp khó khăn. Những căn nhà ấy không thể bằng nhà anh Một.

Tôi càng thấy nó đẹp và nhiều ý nghĩa hơn khi vừa đọc được hàng tin trên tờ báo Pháp Luật ra ngày 6-5 : Ở làng Ngọc Tố, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng không có nhà tình nghĩa mà chỉ có... nhà tình cảm. Tức là những cái nhà của nhà nước, thay vì chỉ để tặng cho gia đình chính sách nghèo khó thì các "quan cán bộ" đem cấp cho gia đình những người thân của mình. Thậm chí đến nỗi họ còn gọi là nhà của "cánh nhà họ Phạm," là những người thân quen ruột thịt của ông Phạm Minh Đoàn bí thư xã. Họ kể ra vanh vách nào là nhà Phạm Văn Sáu, Phạm Văn Hóa, Phạm Thị Mừng, Phạm Văn Thái, Phạm Văn Đáng...

Ôi, những cái nhà tình nghĩa đó, là những thứ tình cảm gian lận, người ở trong nhà đáng xấu hổ bao nhiêu thì cái nhà của anh Một đáng hãnh diện bấy nhiêu. Thứ tình cảm hoàn toàn vô tư cao đẹp của một người Sài Gòn, dù chưa một lần biết tên nhau đã làm cho cuộc sống này có ý nghĩa hơn nhiều. Đến đây tôi chỉ muốn thưa với bà giáo T.N. rằng : "Thưa cô giáo, bài luận văn cô ra hôm nay đã cho chúng em là một bài học thấm thía cho cuộc đời. Chúng em hãnh diện có một người thầy như cô."

Văn Quang