|
|
|
Kể từ khi nhà cầm quyền
CSVN phổ biến Nghị Quyết 36 của họ, chúng ta thấy phát sinh tại hải ngoại một
phản ứng tự vệ mang tính chất bi quan và co thủ. Xu hướng này đã là nguyên
nhân của thái độ hốt hoảng, nhìn đâu cũng thấy hoạt động "xâm nhập hải ngoại"
của Việt cộng, từ đó đâm ra nghi ngờ lẫn nhau và chỉ còn bận tâm "phòng
ngừa xâm nhập" mà quên đi điểm mạnh đặc biệt của cộng đồng người Việt
tại hải ngoại là khả năng bao vây và tấn công chế độ CSVN. Trước khi nói tới khả năng
đặc biệt của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, chúng ta cần bình tâm, bình
tâm chứ không phải chủ quan khinh địch, xem Nhà Nước CSVN có làm được những
gì họ nói hay không, câu trả lời dứt khoát là không ! Quả vậy, nhà cầm
quyền CSVN đã từng kêu gọi đầu tư của kiều bào hải ngoại, kêu gọi chất xám
của cộng đồng hải ngoại từ hơn mười năm, thì nay, ngay trong Nghị Quyết 36
của họ, họ đã phải thú nhận là những biện pháp kêu gọi đó kết quả chẳng ra
chi, vì chẳng ra chi nên mới phải có Nghị Quyết 36 ! Cứ lấy chuyện vốn đầu tư
của cộng đồng hải ngoại, thử hỏi số tiền đồng bào mang về nước làm ăn có đáng
là bao so với số tiền các quan chức và các cán bộ lớn nhỏ của chế độ đang tẩu
tán từ VN ra ngoại quốc ? Về tình trạng "chất xám", chúng ta
chỉ cần nhìn xung quanh để xem có bao nhiêu người Việt hải ngoại đã nghe theo
lời hô hào của CSVN để về nước hợp tác với họ so với số lượng thành phần trí
thức trong nước đã và đang tìm cách ra và ở lại ngoại quốc ? Nhìn xa hơn tới ba quốc gia
cộng sản còn lại là Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba, cả ba quốc gia này có quốc
gia nào chiêu dụ nổi cộng đồng người dân hải ngoại ủng hộ họ đâu ? Như
vậy thì việc gì đồng bào chúng ta phải quá bận tâm về đòn xâm nhập của CSVN,
hãy để cho chính quyền đó phải ở trong vị thế này, vì chính họ mới ở trong
hoàn cảnh phải ưu tư, lo lắng ! Việc cần làm và có thể làm được của cộng
đồng Người Việt Hải Ngoại chúng ta là : Hãy bao vây và tấn công chế độ.
Hơn lúc nào hết, hiện nay chế độ CSVN đang cần phải mở rộng giao thiệp với
các quốc gia trên thế giới, sự kiện cùng một lúc Nông Ðức Mạnh tới Âu Châu và
Phan Văn Khải tới Bắc Mỹ và Nhật Bản đã nói lên điều này. Cả hai phái đoàn
đều ra ngoại quốc để vận động đầu tư từ các quốc gia dân chủ tự do và xin
viện trợ từ các nước này cho Việt Nam. Chính vì chế độ CSVN đang cần phải
liên hệ với thế giới bên ngoài cho nên cộng đồng người Việt tại hải ngoại
đóng một vai trò quan trọng và có khả năng ảnh hưởng lên những mối tương quan
này. Cần thiết là chúng ta phải chủ động và có một cái nhìn bén nhậy về như
thế nào là cách "bao vây" đối phương hữu hiệu nhất. Trong phương
thức gọi là "bao vây đối phương", chúng ta sẽ không tìm cách ngăn
cản các cuộc đầu tư của thế giới bên ngoài vào Việt Nam vì đây là một chiều
hướng không thực tế và không có lợi cho đời sống của đồng bào chúng ta ở trong
nước. Mặc dầu các cuộc đầu tư của ngoại quốc vào Việt Nam có mang lại lợi ích
cho chế độ nhưng chúng ta rất khó thuyết phục hay áp lực các công ty ngoại
quốc không đầu tư vào Việt Nam vì nó mâu thuẫn với các nguyên tắc tự do kinh
doanh của chính các xã hội chúng ta đang sống. Chúng ta cũng không thể phủ
nhận được là các công cuộc đầu tư của ngoại quốc vào Việt Nam đã và đang thật
sự đem lại nguồn lợi nhuận cho đồng bào và giúp cho một số đông đồng bào
không còn bị lệ thuộc vào nhà nước CSVN vì lý do sinh kế. Vì vậy, điều chúng
ta cần tranh đấu không phải là ngăn cản đầu tư, mà phải làm sao để các cuộc
đầu tư của ngoại quốc vào Việt Nam, cũng như các hoạt động kinh tế của tư
nhân tại Việt nam, phải được đối sử bình đẳng và công bằng, chấm dứt tình
trạng ưu đãi và độc quyền của các xí nghiệp quốc doanh đang nằm trong tay của
đảng CSVN. Nói cách khác, chúng ta cần tranh đấu để các cuộc đầu tư kinh tế
của thế giới bên ngoài sẽ có tác dụng tấn công vào thế độc quyền của đảng
CSVN trong lãnh vực kinh tế và ngăn cản CSVN dùng sinh hoạt kinh tế quốc gia
làm phương tiện khống chế đời sống người dân và để vơ vét làm giầu cho cán bộ
của Ðảng. Mặt khác, chúng ta cũng làm
thế nào, qua áp lực của các cuộc biểu tình, dư luận báo chí và vận động nghị
trường để việc đầu tư của ngoại quốc vào Việt Nam sẽ có tác dụng thay đổi các
điều kiện "luật pháp" bất công và mù mờ hiện nay tại đây... Loại
luật pháp này là sản phẩm của chế độ độc tài và chính là một trong những
phương tiện duy trì chế độ đó. Ngoài các vận động về đầu
tư kinh tế, lãnh đạo CSVN còn ra ngoại quốc để vận động viện trợ dưới nhiều
hình thức. Khi vận động rồi tiếp nhận viện trợ, CSVN sẽ mất đi cái lý cớ mà
họ hay núp đằng sau là không để nước ngoài "can thiệp vào chuyện nội bộ
VN" để duy trì chính sách độc tài đối với đồng bào trong nước. Trong
tương quan viện trợ thì lý cớ này không còn đứng vững nữa và cộng đồng người
Việt tại các quốc gia tự do có thể vận động các chính quyền của mình để ràng
buộc việc viện trợ với các điều kiện về dân quyền và tự do thông tin của người
Việt Nam phải được tôn trọng. Chúng ta đều biết, vào ngày
1/7/2005, trong lúc Phan Văn Khải viếng thăm Bắc Mỹ và Nhật Bản thì tòa lãnh
sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã mở cuộc tiếp tân lịch sử, với sự tham dự của phần
đông các nhà đối kháng VN... Ðây là một bước tiến quan trọng đóng góp cho
công cuộc tranh đấu cho quyền dân chủ của người Việt Nam. Bước tiến này chắc
chắn phải có liên hệ với các cuộc vận động của đồng bào, báo chí và giới lập
pháp tại hải ngoại. Bên cạnh hai loại nỗ lực kể
trên, chúng ta cũng cần cho thế giới thấy rõ tình trạng cô lập của chế độ. Sự
kiện Nông Ðức Mạnh và Phan Văn Khải bị đồng bào biểu tình phản đối tại khắp
nơi, và không thấy xuất hiện bất kỳ một chỉ dấu nào là họ được đón nhận bởi
khối người Việt ra ngoại quốc bằng thông hành của Nhà Nước như các du sinh và
người xuất cảnh lao động, đã chứng tỏ là lãnh đạo CSVN bị phản đối không phải
chỉ bởi người Việt tỵ nạn, mà bởi đại khối đồng bào đang sống tại ngoại quốc.
Ðây cũng là lý do cần xóa bỏ sự xa cách giữa người Việt tỵ nạn tại ngoại quốc
và những kiều bào xuất ngoại bằng thông hành CSVN. Chúng ta có nhiều điểm
tương đồng và chúng ta sẽ cùng khai triển những điểm tương đồng đó. Vẫn trong
tinh thần thay thế tâm lý "chống Việt cộng xâm nhập hải ngoại" bằng
những hành động bao vây và tấn công đối phương, chúng ta cần ghi nhận là khả
năng tác động của cộng đồng người Việt hải ngoại không chỉ giới hạn tại nước
ngoài mà còn có tác dụng tại chính quốc nội. Với sự phát triển của Internet,
điện thoại viễn liên và khả năng di chuyển của dân chúng, CSVN không còn có
thể bưng bít thông tin như xưa, CÐNVHN sẽ có thể đóng vai trạm thông tin để
phổ biến cho đồng bào trong nước các tiếng nói đối kháng, những sinh hoạt
chống lại chế độ CS độc tài của đồng bào trong và ngoài nước và thế nào là
quyền của người dân trong các quốc gia thật sự tự do và dân chủ. Trong nhu cầu nối kết đồng
bào ở trong và ngoài nước, cây cầu quan trọng hiện nay là khối người Việt hải
ngoại về thăm quê hương hàng năm. Ðây là một vấn đề chúng ta cần duyệt lại
với một cái nhìn thực tế và tích cực hơn. Vào thập niên 80, chính
sách của nhà nước CSVN là áp lực các người Việt tại hải ngoại phải phủ nhận
tính chất tỵ nạn chính trị của mình khi làm thủ tục về thăm quê hương, đồng
thời cũng có hiện tượng "áo gấm về làng", khiến cho việc "về
Việt Nam" hay "du lịch Việt Nam" mang hình ảnh không mấy tốt
đẹp. Với thời gian, vì nhiều lý do khác nhau, tình trạng tiêu cực này đã được
cải thiện, đồng thời chúng ta cũng cần nhìn nhận và phải tìm cách khai thác
khía cạnh tích cực của vấn đề. Khi nhìn trong khía cạnh tiêu cực, chuyện đồng
bào về nước sẽ là nguồn ngoại tệ cho chế độ và là lý do để CSVN áp lực đồng
bào không còn dám tham gia chống cộng tại hải ngoại. Nhưng nếu nhìn tích cực
và chủ động thì về thăm lại quê hương là quyền và nghĩa vụ của người dân, để
gắn bó thêm với Tổ Quốc, để làm gạch nối giữa đồng bào trong và ngoài nước và
nhất là để mang tinh thần tự do dân chủ vào trong nội tạng của chế độ độc
tài. Như vậy là tùy ở chúng ta mà cuộc về thăm VN sẽ chỉ là "về chơi
VN" và là mối lợi cho chế độ CSVN hay sẽ trở thành vũ khí hàng đầu của
chiến dịch "Diễn Biến Hòa Bình" mà địch nơm nớp lo sợ. Việc mở cửa biên giới cho
một khối dân từ xã hội tự do vào chan hòa với người dân trong xã hội độc tài
luôn luôn là một thất bại chiến lược cho mọi chế độ độc tài, những chế độ này
chỉ có thể tồn tại nhờ những bức màn sắt, màn tre hay bức tường kiểu
"Tường Bá Linh". Tuy nhiên mọi thành công đều có cái giá phải trả,
trong việc đồng bào hải ngoại về thăm Việt Nam, cái giá đó là nguồn ngoại tệ
CSVN thu nhận được. Chúng ta sẽ đổi món lợi kinh tế ngắn hạn đó cho địch để
lấy lại ba mối lợi khác là giúp cho thân nhân và đồng bào trong nước có đời
sống kinh tế khá hơn, thắt chặt sự thông cảm và tình thân giữa người Việt ở
trong và ngoài nước và nhất là góp phần giúp cho mầm tự do và dân chủ phát
triển trên đất nước mình. Khi có dịp về thăm quê
hương, việc đơn giản nhất là chính đồng bào có thể trực tiếp giúp hỗ trợ cho
những sinh hoạt nào, độc lập với nhà nước của đồng bào quốc nội. Ðây là một
cách hữu hiệu góp phần xây dựng xã hội công dân, giúp cho nỗ lực đấu tranh
chấm dứt độc quyền để từ đó tiến tới chấm dứt độc tài. Trong khát vọng đấu tranh
vì tự do dân chủ, chúng ta đều mong chế độ CSVN sẽ sớm sụp đổ một cách ngoạn
mục, tương tự như bức tường Bá Linh. Tuy nhiên, các chế độ độc tài không phải
đều cáo chung theo một mô thức giống nhau, nếu cơ duyên chưa tới để cả bức
tường bị đổ sập, thì hãy làm sao rút ra từng viên gạch một. Một việc làm khác mà người
Việt hải ngoại về nước có thể làm được, đó là hãy dành quyền tự do di chuyển
để tới thăm các nhà tranh đấu cho dân quyền tại Việt Nam. Ðây là việc làm có
thể bị công an kiếm chuyện, nhưng một số đồng bào đã làm, rồi cũng đến hòa mà
thôi vì phía CSVN cũng chẳng có lý gì để cấm đoán, nhất là họ có nhu cầu phải
ngoại giao và kinh doanh với thế giới bên ngoài. Tóm lại từ một cộng đồng
người Việt tỵ nạn cộng sản cách đây 30 năm với một ước mơ duy nhất là giật
sập chế độ và với một quan niệm đơn giản là ta và địch cũng khác biệt như
Trắng và Ðen, chỉ cần nói hai chữ "Chống Cộng" là bao hàm đầy đủ
cho mục tiêu công cuộc đấu tranh... Ba mươi năm qua, thế giới đã đổi thay. Về
phía ta cũng không còn giống như xưa, quá nửa đã sinh ra và lớn lên tại ngoại
quốc, nói được tiếng Việt đã là đáng quý. Những người Việt tỵ nạn ở thế hệ
thứ hai này chỉ có thể nhìn lại Tổ Quốc bằng con mắt và khối óc, không cảm
nhận được theo kiểu cha ông bằng kỷ niệm hay trái tim. Về phía địch, tình
trạng còn phức tạp hơn, với 30 năm qua đi, nếu chỉ quan niệm đơn giản là hễ
có liên hệ với địch là địch, thì con số "kẻ địch" của ta cũng
gần... 80 triệu đấy ! Vậy thì xin đừng đơn giản hóa hiện tại và
"bắt thời gian phải ngừng lại". Câu chuyện "Nếu anh
còn trẻ như năm cũ" chỉ có trong thi ca, không phải là thực tế của công
cuộc đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ. Ðây là cuộc đấu tranh cho
toàn dân, vì vậy phải là cuộc đấu tranh của toàn dân. Muốn cho cuộc đấu tranh
của cộng đồng hải ngoại có ý nghĩa và có tác dụng thì phải có cả sự hợp tác
trong ngoài. Hết cả những gì giúp cho người Việt ở trong và ngoài nước liên
lạc được với nhau, hợp tác được với nhau đều có lợi cho công cuộc đấu tranh
trong hiện tại và phát triển đất nước trong tương lai... Giữa người Việt ở trong và
ngoài nước đã như vậy, thì ngay tại hải ngoại này lại càng có lý do phải xóa
bỏ mọi hình thức ngăn cách. Chúng ta cần phải xóa bỏ những ngăn cách như
người Việt tỵ nạn Tây Âu và người Việt Ðông Âu, người tỵ nạn 75 và người HO,
người đi tỵ nạn và người đi đoàn tụ, người đã về thăm Việt Nam và người cương
quyết không về, người tới từ Việt Nam và người sinh trưởng tại ngoại quốc... Phải làm sao để Cộng Ðồng
Người Việt Hải Ngoại chỉ là một tập hợp của những con dân Việt Nam sinh sống
tại nước ngoài nhưng thiết tha với Dân Tộc và vận mệnh Tổ Quốc. Hoàng Cơ Ðịnh |