|
|
|
Ðảng cũng như chế độ cộng
sản Việt Nam (CSVN) và đông đảo dân chúng Việt Nam gọi ngày 19/08/1945 là
"Cách mạng tháng Tám". CSVN mượn tiếng làm "cách mạng giải
phóng dân tộc" nhưng thực chất họ tiến hành cuộc "cách mạng xã hội
chủ nghĩa" theo chủ thuyết Mác Lênin. 60 mươi năm sau, đất nước và dân
tộc Việt Nam được hưởng những gì sau cuộc "cách mạng tháng
Tám" ? Gần ba phần tư dân số nước
ta hiện nay là những người sinh sau ngày 19/08/1945, ngày mà chính quyền cộng
sản gắn cho cái nhãn hiệu "cách mạng tháng Tám" do đảng CSVN lãnh
đạo thành công cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật, vào tay nhân dân vv...
Chương trình giáo dục, bộ máy tuyên truyền của chế độ đã tận dụng mọi phương
tiện, nỗ lực để nhồi nhét những ý niệm này vào đầu óc con người Việt Nam
trong suốt 60 năm qua. Ngày nay, với thời gian, với những tài liệu lịch sử,
với kinh nghiệm của hơn 80 triệu người dân Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 60 năm
ngày 19/08/1945, thiết tưởng cũng cần kiểm điểm lại nguyên nhân cũng như hậu
quả của cái ngày "lịch sử" đó. Cuộc "Cách Mạng Tháng Tám"
đã diễn ra trong bối cảnh như thế nào ? Ðây có phải là cuộc "cách
mạng giải phóng dân tộc" hay không ? Thành quả cuộc "cách
mạng" này trải suốt 60 năm ra sao ? Ðó là những câu hỏi mà tin rằng
không những giới trẻ sinh sau, đẻ muộn... mà không ít ngưòi khác cũng muốn
tìm câu trả lời. Bối cảnh
cuộc cách mạng tháng Tám 1945 Ðệ Nhị Thế Chiến Chấm Dứt. Ngày 30 tháng 4 năm 1945,
Berlin thất thủ. Adolphe Hitler tự sát. Hồng quân Liên Xô đã chiếm được tòa
nhà Quốc Hội Ðức Quốc Xã. Tuy tướng Leclerc và Sư Ðoàn 2 Kỵ Binh Thiết Giáp
tiến chiếm sào huyệt bỏ trống của Hitler tại Berchestesgasen vào ngày
5/5/1945, nhưng thực sự, quân đội Ðồng Minh đã toàn thắng 5 ngày trước đó
trên chiến trường Âu Châu của cuộc Ðại Chiến Thế Giới lần thứ Hai. Trong khi chiến trận còn
đang tiếp diễn trên Thái Bình Dương và nhiều nước Á Châu thì vào ngày
20/7/1945, tại Postdam, vùng Brandenburg, gần Berlin, những nhà lãnh đạo
thượng đỉnh của Ðồng Minh là tổng thống Mỹ Harry Truman, thủ tướng Anh
Winston Churchill và lãnh tụ Liên Xô là Staline đã hội họp nhau để bàn việc
chia cắt Âu Châu và Á Châu. Pháp bị gạt ra ngoài, không được mời và cũng
không hề được tham khảo. Theo sự chia cắt này thì Staline đã thuyết phục được
Anh - Mỹ để Liên Xô hoàn toàn kiểm soát các nước Ðông và Trung Âu. Tại Á Châu
và đặc biệt là tại Ðông Dương, đã có sự tranh cãi giữa Anh và Mỹ. Theo tướng
Mountbatten của Anh thì quyền chỉ huy chiến trường Ðông Dương phải thuộc nước
Anh. Trong lúc đó, tướng Wedemeyer của Mỹ thì đòi quyền này thuộc liên quân
Mỹ và Trung Hoa Dân Quốc. Theo các sử gia thì thâm ý của Mỹ là muốn hất Pháp
vĩnh viễn ra khỏi thuộc địa Ðông Dương. Cuộc tranh cãi gay gắt đã được chấm
dứt bởi tướng Mỹ George Marshall, tư lệnh tối cao liên quân Anh Mỹ bằng quyết
định của ông đưa ra là chia cắt lãnh thổ Ðông Dương làm hai, lấy vĩ tuyến 16
(Nam Ðà Nẵng) làm ranh giới. Phía Bắc là địa phận của Trung Hoa và phía Nam
của Anh. Cũng trong cuộc hội họp thượng đỉnh này, tổng thống Truman đã bật mí
với Staline là Mỹ đã thí nghiệm thành công vào ngày 16/7/1945 quả bom nguyên
tử gần Los Alamos, New Mexico. Ngày 6/8/1945, lúc 8 giờ 17
phút, quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ đã được ném xuống thành phố
Hiroshima, giết hại 157.071 người Nhật và san bằng thành phố này. Ba ngày
sau, 9/8/1945, quả bom thứ nhì của Mỹ được thả xuống thành phố Nagazaki, tiêu
diệt 75.000 người. Ðúng ngọ ngày 15/8/1945, Nhật Hoàng Hiro-Hito lên tiếng
trước quốc dân và quân đội Nhật, tuyên bố đầu hàng. Ngày 2/9/1945, trên chiến
hạm USS Missouri của Mỹ thả neo trong vịnh Tokyo, Nhật đã chính thức ký văn
bản đầu hàng Ðồng Minh vô điều kiện. Ngay sau khi Ðệ Nhị Thế
Chiến chấm dứt, người ta đã đi đến kết luận là hai quả bom nguyên tử thả
xuống đất Nhật, nếu có tác dụng thì chỉ là thúc đẩy sự đầu hàng của Nhật
nhanh thêm một chút, chứ ý định đầu hàng đã có trong tư tưởng những nhà lãnh
đạo chính trị cũng như quân sự Nhật Bản, nhất là trong ý định của Nhật Hoàng
Hiro-Hito từ cả năm trước đó. Thật vậy, với sự bao vây của hải quân Hoa Kỳ,
nước Nhật đang lâm vào cảnh thiếu lương thực, nhiên liệu trầm trọng. Cũng nên
nhắc là cho đến tháng 8/1945, Liên Xô vẫn là nước trung lập trong cuộc chiến
tranh giữa Nhật và Ðồng Minh. Staline chỉ nhẩy vào vòng chiến để kiếm lợi
ngày 8/8/45, tức là 2 ngày sau quả bom nguyên tử đầu tiên và 1 tuần trước khi
Nhật đầu hàng. Vận động hòa bình, kể cả đầu hàng với điều kiện là Nhật Hoàng
vẫn tại vị đã được Nhật Bản chính thức tiến hành với nước "trung
lập" Liên Xô qua đại sứ Nhật tại Mạc Tư Khoa. Nhưng Staline từ chối và
lờ đi không thông báo gì với Ðồng Minh Anh - Mỹ, dù rằng Staline đã gặp các
vị thủ lãnh quốc gia Ðồng Minh tại Hội Nghị Yalta (4/11/45 - 11/2/45) và Hội
Nghị Postdam (20/7/45). Tình Hình Việt Nam năm
1945. Trở lại Ðông Dương, sau khi
nước Pháp được hoàn toàn giải phóng, chính quyền tay sai của thống tướng
Pétain tại Vichy bị hạ bệ, nước Pháp nghiễm nhiên đứng trong hàng ngũ Ðồng
Minh và trở thành thù địch với Phe Trục Ðức - Nhật, chính quyền thực dân tại
Ðông Dương đã lấy lập trường thần phục Paris. Vì vậy, ngày 9/3/45, quân đội
Nhật tại Ðông Dương đã bất thần đánh úp tất cả các đồn bót của Pháp, bắt giam
tất cả người Pháp. Ngày này được dân ta nhắc đến như là cuộc "đảo chính
Nhật". Ngày 10/3/45, đại sứ Nhật tại Việt Nam, ông Yokohama đã yết kiến
vua Bảo Ðại tại Ðiện Kiến Trung, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày
11/3/45, vua Bảo Ðại tuyên bố hủy bỏ mọi Hiệp Ước, Hòa Ước công nhận quyền
bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn lãnh thổ nước ta và thông báo, kể từ đây,
dân tộc Việt Nam làm chủ vận mệnh của mình. Vua Bảo Ðại đã mời Giáo Sư Trần
Trọng Kim vào triều yết ngày 7/4/45 và yêu cầu ông thành lập chính phủ nước
Việt Nam độc lập trong khối Ðại Ðông Á do Nhật thống lãnh. Ngày 17/4/45 thủ
tướng Trần Trọng Kim công bố thành phần chính phủ như sau : Thủ
Tướng : Trần Trọng Kim ; Bộ trưởng ngoại giao : LS. Trần Văn
Chương ; Bộ trưởng thanh niên : LS Phan Anh ; Bộ trưởng tài
chánh : LS Vũ Văn Hiền ; Bộ trưởng nội vụ : YS Trần Ðình
Nam ; Bộ trưởng y tế, cứu tế : BS. Vũ Ngọc Anh ; Bộ trưởng tư
pháp : LS Trịnh Ðình Thảo ; Bộ trưởng kinh tế : BS. Hồ Tá
Khanh ; Bộ trưởng giáo dục, mỹ nghệ : Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn ;
Bộ trưởng công chánh : KS. Lưu Văn Lang ; Bộ trưởng tiếp tế :
YS. Nguyễn Hữu Thi. Không có bộ quốc phòng vì Việt Nam nằm trong khối Ðại
Ðông Á của Nhật, nên việc quân sự do người Nhật đảm trách. Vào thời điểm "đảo
chánh Nhật", tại miền Bắc đã xảy ra nạn đói khủng khiếp khiến cho trên
dưới hai triệu người bị chết đói. Người ta gọi nạn đói này là "nạn đói
năm Ất Dậu". Vì bom đạn, vì quân đội Nhật thu vét lúa gạo và bắt trồng
cây công nghiệp để phục vụ cho kỹ nghệ chiến tranh, các tỉnh đồng bằng Bắc
Việt đã không còn lương thực, và miền Nam không thể tiếp tế ra Bắc được.
Chính phủ Trần Trọng Kim vừa ra đời là phải bắt tay ngay vào việc cứu đói,
chưa làm được việc gì quan trọng khác. Cũng nên nhớ rằng vào thời điểm này,
chiến tranh còn đang tiếp diễn, các cuộc oanh tạc của không quân Mỹ trên đất
nước ta vẫn còn rất ác liệt. Hơn 80 năm dưới sự cai trị
của thực dân Pháp, Việt Nam đã bị chia cắt thành 3 Kỳ : Bắc Kỳ, Trung Kỳ
và Nam Kỳ. Nam Kỳ đã bị Pháp thôn tính thành thuộc địa của họ, trong lúc Bắc
và Trung Kỳ bị họ bảo hộ. Thực dân Pháp hoàn toàn cai trị Việt Nam, vua quan
triều đình nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn. Lòng yêu nước và kiêu hãnh dân tộc đã
thôi thúc các nhà ái quốc từ vua quan đến thứ dân nổi lên khắp nơi, mưu đồ
đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Nhưng vì thế yếu, phương tiện thô sơ,
dân trí thấp kém, các phong trào kháng chiến không thể địch lại kẻ thù có kỹ
thuật văn minh hiện đại. Dân ta vào năm 1945 có khoảng 25 triệu người với
trên 90% là nông dân, với cùng con số khoảng 90% mù chữ. Những người được đi
học thì phần lớn chỉ học đến hết cấp tiểu học. Con số những người có trình độ
cao đẳng, đại học thời đó rất ít. Theo những con số của CSVN thuở đó cứ mỗi
30.000 dân mới có một người học cao đẳng hay đại học. Tóm lại nước ta vào
thời 1945 là một nuớc nghèo nàn, lạc hậu, dân trí thấp,... Lòng yêu nước
truyền thống thì người dân nào cũng có, ai cũng muốn đánh đuổi thực dân đô
hộ ; nhưng hiểu được những vấn đề chính trị như độc lập, dân chủ, cách
mạng vv... không có mấy ai. Việt Minh Cướp Chính Quyền
(19/8/45).
Do nhận được thông tin từ
cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh và CSVN đã thấy rõ là cái ngày Nhật phải đầu
hàng Ðồng Minh không còn xa nữa. Họ đã tích cực chuẩn bị cho cái ngày đó. Sự
thiếu chuẩn bị của các đảng phái quốc gia không cộng sản ở thời điểm đó đã
khiến họ không nắm bắt được thời cơ khi khoảng trống chính trị xuất hiện
trong một thời gian rất ngắn ngủi, từ khi Nhật đầu hàng đến lúc thực dân Pháp
được thả từ các nhà tù Nhật Bản ra. Vì thế, ngay sau khi Nhật Hoàng tuyên bố
đầu hàng ngày 15/8/45, quân đội Nhật nhận được lệnh án binh bất động, chờ
giải giới, người Pháp còn đang bị Nhật giam giữ, chính quyền Trần Trọng Kim
mất định hướng, Việt Minh đã huy động đồng bào nông thôn tiến lên Hà Nội và
các tỉnh lân cận ở miền Bắc, cướp chính quyền vào ngày 19/8/45. Diễn tiến
cuộc cướp chính quyền này ra sao, nhiều sách vở và tài liệu lịch sử đã viết.
Thiết tưởng kể lại ở đây cũng bằng thừa. Có lẽ điều nên nói ở đây là
danh từ "cách mạng" mà CSVN vẫn hằng nêu lên mỗi khi nói về biến cố
ngày 19/8/45. Nếu biến cố 19/8/45 đã chấm dứt chế độ quân chủ kéo dài hơn
4000 năm dẫn đến việc hình thành một chế độ cộng hòa thì quả đây là một thay
đổi rất lớn của lịch sử. Nếu có gọi là "cách mạng" thì cũng không
ngoa. Nếu nói biến cố 19/8/45 đã chấm dứt tình trạng thuộc địa ngoại bang
(thực dân Pháp và phát xít Nhật) để giành lại chủ quyền cho Việt Nam thì cũng
chỉ đúng một nửa. Phải nói đây là một cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Trần
Trọng Kim thân Nhật. Ðiều mà CSVN vẫn luôn tuyên truyền rằng họ đã cướp chính
quyền từ tay Thực dân, phát xít là sai sự thật. Lúc đó, quân Nhật đã đầu hàng,
án binh bất động ; thực dân Pháp bị Nhật bắt giam từ ngày 9/3/45 chưa
được thả. Phát xít, thực dân nào có chính quyền trong tay lúc đó mà
cướp ? Họ cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Mặt khác,
CSVN luôn nhận rằng một mình đảng đã lãnh đạo tiến hành "cách mạng tháng
8" thành công. Theo những nhân chứng của thời bấy giờ thì có thể nói
Việt Minh đã đóng vai trò chính, nhưng không phải chỉ có Việt Minh cộng sản.
Theo các tài liệu chính thức của đảng CSVN, thì Hồ Chí Minh đã "tìm thấy
ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân các
nước thuộc địa". Qua những gì đã xảy ra trước và ngay ngày 19/8/45, khi
các thành phố từ Bắc chí Nam nổi lên cướp chính quyền, người ta không thấy
"chủ nghĩa Mác-Lênin" có liên quan gì cả. Nhân dân ta, với trình độ
dân trí lúc đó có hiểu gì về chủ nghĩa Mác-Lênin ? Mà có muốn biết thì
cũng có ai giới thiệu, giải thích cho dân đâu. Cộng sản đã che dấu bản chất
của mình trong Mặt Trận Việt Minh. Dân theo Việt Minh thời đó vì Việt Minh đánh
Tây, đánh Nhật xâm lăng, chứ không phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Ðơn giản
thế thôi ! Như đã nói, CSVN có được
thông tin sớm về sự đầu hàng của Nhật nên cấp tốc tiến hành cuộc lật đổ và
cho ra đời một chính phủ "độc lập" mang tên Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa. Họ muốn đặt thế giới và các lực lượng ái quốc không cộng sản trước sự đã
rồi, trước khi quân Ðồng Minh Anh - Ấn (có Pháp đi theo) tiến vào miền nam vĩ
tuyến 16 ngày 6/9/45 và quân Trung Hoa Tưởng Giới Thạch (có các tổ chức quốc
gia không cộng sản tháp tùng) vào miền Bắc vĩ tuyến này giải giới quân đội
Nhật. Ngày 2/9/45, trong lúc Nhật ký văn bản đầu hàng trên chiến hạm USS
Missouri thì cũng là lúc Hồ Chí Minh đọc "Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập"
tại Hà Nội. Cách mạng
giải phóng dân tộc hay cách mạng XHCN ? Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã
mang chủ nghĩa Mác-Lênin du nhập vào nước ta. Họ tuyên truyền rằng chính chủ
nghĩa này đã giúp họ tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc thành công. Ðiều
này đã được chứng minh là không đúng sự thật, không những ở Việt Nam mà còn ở
các nước Ðông Âu. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhì, dân chúng các nước
như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary vv... vì lòng yêu nước, vì chống lại Ðức Quốc
Xã xâm lăng tàn ác mà họ đã hợp với hồng quân Liên Xô để giải phóng đất nước
họ. Sau chiến tranh, các nước này bị Ðồng Minh chia chác và họ đã rơi vào tay
Liên Xô, chứ thật ra cộng sản Liên Xô và cộng sản địa phương tại các nước này
cũng chẳng giải phóng dân tộc họ bằng chủ thuyết Mác - Lênin. Theo bài viết
mới đây của một đảng viên cộng sản lão thành, ông Ðặng Văn Việt, gửi cho đảng
CSVN "góp ý cho bản dự thảo báo cáo chính trị của Ðại Hội Ðảng khóa
X", ông này cũng đã phải công nhận trong giải phóng dân tộc, thành công
là "Nhờ thời cơ thuận lợi Ðồng Minh thắng, dựa vào tư tưởng chống áp bức,
bóc lột, dựa vào lòng yêu nước và truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm của
cả dân tộc Việt Nam". Vả lại ở thời điểm sau Ðệ Nhị Thế Chiến, đã xuất
hiện tư tưởng "giải phóng dân tộc", "xóa bỏ thuộc địa",
"trả độc lập cho các dân tộc bị trị"... Tư tưởng này được Ðồng Minh
Hoa Kỳ ủng hộ. Ðặc biệt là tại Ðông Dương. Tư tưởng này đã trở thành phong
trào và trong những năm sau đó, các nước thực dân đã phải trao trả độc lập,
tự chủ cho nhiều quốc gia tại Á Châu. Cứ tạm cho biến cố 19/8/45
là "cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa" thì khẩu hiệu lúc đó được nêu ra để huy động dân chúng ủng
hộ là "độc lập, tự do, hạnh phúc" đã được CSVN thực thi như thế nào
trong thực tế ? Với những chủ trương cố hữu của đảng cộng sản là
"xóa bóc lột", "xóa tư hữu", "đấu tranh giai
cấp", "chuyên chính vô sản"..., xã hội và những giá trị truyền
thống của dân tộc Việt Nam đã bị phá hủy. Sự lệ thuộc vào chủ nghĩa, vào các
nước cộng sản "đàn anh" là Liên Xô và Trung Cộng đã làm cho nước ta
mất độc lập, tự chủ. Không thể làm gì mà không có sự phê chuẩn của Mạc Tư
Khoa và Bắc Kinh. Người dân sống dưới chế độ "chuyên chính vô sản"
mất hết tự do. Chính sách "đấu tranh giai cấp", kỳ thị giai cấp đã
khiến cho nhiều thế hệ không ngóc đầu lên được do ảnh hưởng của thế hệ đi
trước. Cải cách ruộng đất tại nông thôn và cải tạo tư sản, tư doanh tại các
thành thị đã khiến cho hàng chục ngàn người chết. Cuộc cách mạng gọi là XHCN
tại miền Bắc kéo dài từ năm 1954 và trên cả nước từ năm 1975 cho đến cuối
thập niên 80 của thế kỷ trước đã minh chứng một điều là chủ nghĩa Mác-Lênin
không những là vô giá trị mà còn tàn phá đất nước Việt Nam cả về mặt tinh
thần lẫn vật chất. Các nước Ðông Âu và Liên Xô
đã mở mắt ra và liệng mớ chủ thuyết không tưởng này vào sọt rác để chuyển
hướng theo dân chủ tự do. Ðảng CSVN vẫn tiếp tục ôm lấy mớ lý luận này để bắt
nhân dân chịu khổ cực. Họ đã thấy rõ là khi vứt chủ nghĩa Mác-Lênin trên lãnh
vực kinh tế đi thì dân bớt đói khổ. Họ cũng biết là chủ nghĩa Mác-Lênin lạc
hậu thật sự không có giá trị ; nhưng họ cố bám víu lấy nó, vì nó cung
cấp những phương tiện cai trị hầu củng cố địa vị lãnh đạo của họ trên chính
quyền. Nếu cách mạng là đổi đời, là dẹp bỏ những gì xấu xa để xây dựng những
gì tốt đẹp thì khẳng định cách mạng không thể sử dụng chủ nghĩa Mác-Lênin
được. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, chủ nghĩa này không làm được gì.
Trong cách mạng xã hội, chủ nghĩa này chỉ phá hoại mà không sản xuất ra được
cái gì có giá trị cho xã hội. Hậu quả
của cách mạng vô sản trên đất nước Việt Nam Ðảng cộng sản luôn luôn nói
đến danh từ "cách mạng". Họ đồng hóa họ là "cách mạng".
Chống lại họ là chống cách mạng. Chống cách mạng là chống họ. Họ cũng bịa ra
thêm "chủ nghĩa anh hùng". "Ra ngõ là gặp anh hùng".
"Anh hùng cách mạng" thì quả là thần thánh ! Ðưa ra những thí
dụ này là để minh chứng rằng từ khi cướp được chính quyền, CSVN đã phá hủy
tất cả những giá trị truyền thống từ ngàn đời và áp đặt một hệ thống giá trị
khác, giá trị cộng sản. Những giá trị này không được đãi lọc bằng thời gian,
thử thách. Chủ thuyết Mác-Lênin hiện thực chỉ có mặt trên trái đất này tại
Liên Xô mới được vỏn vẹn 61 năm và tại Việt Nam được tròn 60 năm. Vàng sỏi
còn chưa phân biệt. Có những cán bộ được đảng của họ phong tặng danh hiệu
"anh hùng lực lượng võ trang" rồi ít năm sau đó trở thành tội phạm
trong băng đảng xã hội đen Năm Cam. Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã tô vẽ con
người cách mạng với những đức tính ưu việt như "vui sau cái vui của dân,
"lo trước cái lo của dân", "chí công vô tư", "cán bộ
là đầy tớ của dân".... Nhìn vào tập đoàn đảng CSVN hiện nay đầy dẫy
những kẻ tham quyền cố vị, nhũng lạm cửa quyền. Nếu đảng CSVN luôn miệng
nói đến hai chữ "nhân dân" thì thực tế họ không hề coi trọng nhân
dân, coi nhân dân như là cỏ rác, như là công cụ để họ khai thác, bóc lột.
Trong những lúc hiểm nghèo, họ lẫn trốn trong quần chúng nhân dân, lấy nhân
dân làm lá chắn, làm bia đỡ đạn. Những lúc cần huy động sức người, sức của,
thì họ ve vãn nhân dân. Nhưng lúc bình yên vô sự, họ hống hách còn hơn
"quan Tây" hay cường hào ác bá thời xưa nhiều. Báo chí hàng ngày kể
ra những tệ nạn này của bọn sâu dân, mọt nước gồm toàn cán bộ của đảng CSVN
đang độc quyền cai trị nhân dân. Họ không bỏ bất cứ cơ hội nào để làm tiền,
để bóc lột nhân dân. Nộp một tờ đơn cũng phải đút tiền. Xin một chữ ký cũng
phải đóng tiền... Họ viện ra đủ mọi thủ tục hành chánh để nhũng nhiễu dân.
Nhiều khi họ còn bày dặt ra những thủ tục ngang chướng để "hành
dân" để moi tiền. CSVN đã một thời tuyên
truyền chống tình trạng "người bóc lột người". Họ cấm trong nhân
dân, không ai được phép thuê người giúp việc nhà, thuê công nhân. Chỉ có Nhà
Nước mới có quyền sử dụng lao động. Lúc đó, phải để ý lắm mới thấy được bọn
cán bộ gộc, kẻ nào cũng có cần vụ, trợ lý. Ngay cả Hồ Chí Minh cũng vậy. Hiện
nay thì không một tên cán bộ nào là không có con hầu, đầy tớ, phục dịch trong
nhà cao cửa rộng. Nhưng đáng lên án nhất là chính sách "xuất khẩu lao
động". Không cần biết công nhân ra nước ngoài bị chủ đối xử như thế nào,
lương hướng, điều kiện lao động ra sao, miễn là mỗi năm xuất khẩu hàng chục
ngàn "nô lệ" đi bán mồ hôi và danh dự để có tiền. Xuất khẩu nô lệ
rất có lợi : không cần vốn đầu tư. Người muốn được tuyển đi lao động
nước ngoài còn phải đút lót, đóng tiền thế chân. Lương hướng lãnh được ở nước
ngoài phải khấu trừ nộp cho Nhà Nước và cơ quan xuất khẩu lao động. Tiền dành
dụm được gửi về cho gia đình thì cũng phải đổi ra tiền "âm phủ" và
ngoại tệ cuối cùng cũng lọt vào tay Nhà Nước. Từ khi CSVN vứt bỏ mô hình
kinh tế XHCN để chạy theo kinh tế thị trường, tình hình có thay đổi. Nghĩa là
nhân dân đỡ đói, bộ mặt thành thị giàu sang hơn xưa. Nhưng giàu sang, của cải
vẫn không được phân phối đồng đều trong xã hội. Nó tập trung vào tay của một
thiểu số. Thiểu số này làm giàu bằng tham nhũng, bằng đặc quyền, đặc lợi.
Thiểu số này là tập đoàn cán bộ CSVN. Ở nông thôn, tình trạng nghèo khổ vẫn
không hơn xưa là bao. Miếng ăn vẫn là nỗi lo thường nhật của nhân dân. Tỷ lệ
hộ đói nghèo thực tế vẫn còn rất cao. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn ở mức
cao nhất nhì thế giới. Ở các địa phương hẻo lánh mà chế độ gọi là "vùng
cao vùng sâu" thì đời sống nhân dân còn rất cơ cực. Giáo dục, y tế hiện đang có
nhiều vấn đề nhất tại Việt Nam. Ngân sách đầu tư vào hai ngành này không đáp
ứng nhu cầu phát triển dân số và trình độ tiến bộ thế giới. Về giáo dục, nạn
học thêm, học kèm ; nạn thi hộ, thi kèm ; nạn bằng giả, bằng
mua ; nạn sách giáo khoa sai lạc vv... đã khiến cho dân trí không mở
mang được. Cũng may, hiện nay việc vào học đại học cao đẳng hay thi tốt
nghiệp không còn xét lý lịch học sinh theo tiêu chuẩn giai cấp nữa. Tuy vậy,
chế độ cộng sản hiện nay vẫn bắt học sinh phải học lý thuyết Mác-Lênin vô giá
trị và vẫn không có môn triết học đúng nghĩa cho lớp tốt nghiệp trung học. Vì
những tệ nạn và vì những thiếu sót nêu trên mà trình độ học vấn của Việt Nam
hiện thấp nhất vùng Ðông Nam Á. Về y tế thì y đức suy đồi, thuốc men không đủ
hoặc rất mắc. Bệnh nhân không được chăm sóc tử tế. Nhân phẩm người bệnh
thường bị xúc phạm. Khi mới nắm chính quyền, "cách mạng" luôn miệng
chê bai, công kích các chế độ cũ có nhiều tệ nạn xã hội, bệnh hoạn xã hội...
Nhưng ngày nay, tại Việt Nam tệ nạn xì ke ma túy, đĩ điếm và bệnh HIV ngày
càng gia tăng. Tóm lại, "cách
mạng" là sự đổi đời thật sự hay là đảng cộng sản tự nhận, thì cũng không
làm cho đất nước trở nên dân giàu, nước mạnh. Trái lại "cách mạng"
đã phá hoại những nền tảng của sự tiến bộ và kéo ngược dân tộc tụt hậu đến
hàng thế kỷ. Hậu quả này còn kéo dài nhiều thế hệ, cho dù có chấm dứt được sự
cai trị độc quyền, độc đoán của đảng CSVN. Tạm Kết Hà Nội đang chuẩn bị kỷ
niệm 60 năm "cách mạng tháng Tám" và "quốc khánh 2/9".
Nhìn lại 60 năm qua dưới sự cai trị độc tài của CSVN mà hãi hùng. Các nước
thua trận Ðại Chiến Thế Giới Thứ Hai là Ðức và Nhật, bị tan hoang đổ nát đã
trở thành các cường quốc trên thế giới. Các nước nhược tiểu vùng Ðông Nam Á,
không cần làm cách mạng, không cần đảng cách mạng đã vượt xa Việt Nam hàng
thế kỷ. Nguyên nhân của tình trạng đáng buồn tại Việt Nam là chủ nghĩa
Mác-Lênin không tưởng và cái đảng đã mang chủ thuyết đó vào đất nước ta, áp
dụng một cách ngu tối. Thấy sai mà không chịu sửa chỉ vì sợ mất địa vị độc
tôn thống trị. Tương lai mà toàn dân mong đợi là một tương lai với một chính
quyền thực sự nằm trong tay nhân dân, dân phải thực sự làm chủ xã hội, làm
chủ chính quyền, một tương lai không còn chế độ cộng sản cướp quyền dân, bóc
lột dân, nhũng lạm, hà hiếp dân. Chế độ dân chủ thực sự là một chế độ nơi đó
phẩm giá, danh dự của mọi người dân phải được tôn trọng, bất khả xâm
phạm ; nơi các quyền tự do căn bản của con người được tôn trọng và mang
tính chất bắt buộc đối với cả hành pháp lẫn lập pháp ; nơi luật pháp
phải rõ ràng, minh bạch và công bằng trong một xã hội pháp trị. Nếu có một
cuộc cách mạng phải tiến hành tại Việt Nam bây giờ, thì đó là cuộc cách mạng
giải thể chế độ cộng sản độc tài thối nát hiện nay để nhân dân được đổi đời
thật sự, được sống trong tự do dân chủ thật sự. Trần Ðức Tường |