Tổ quốc ăn năn

Nguyễn gia Kiểng

 

Mục Lục

 

 

  1. Lời đầu
  2. Cảm tạ
  3. Ghi chú về tài liệu tham khảo và bố cục
  4. Sơn hà gấm vóc
  5. Rất đượm hương và rộn tiếng chim
  6. Sơn xuyên chi cương vực kư thù
  7. Nước non ngh́n dặm
  8. Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh
  9. Nước non ngh́n dặm (II)
  10. Mưu sự tại nhân...
  11. Một dân tộc tinh anh?
  12. Một dân tộc hiếu học?
  13. Một dân tộc sáng dạ?
  14. Chuồng lợn và cái cày
  15. Hai bằng tiến sĩ
  16. Người Việt, người Nhật
  17. Một dân tộc bất khuất và tự hào?
  18. Yêu nước
  19. Ils ne s aiment pas
  20. Đôi bạn
  21. Phương pháp và gắn bó
  22. Phá vỡ định luật 8
  23. Hợp tan
  24. Anh hùng nước Nam
  25. Thằng nào đây?
  26. Tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi
  27. Máu chảy ruột mềm
  28. Mấy ngàn năm lịch sử
  29. con cháu tiên rồng
  30. Mở mắt và nhỏ lệ
  31. Ảo ảnh Lư Trần
  32. Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung
  33. Người trong một nước?
  34. Đem tâm t́nh viết lịch sử?
  35. Trở lại trường hợp Nguyễn Huệ
  36. Rước voi về dày mả tổ
  37. Cơng rắn cắn gà nhà
  38. Cho những người đă nằm xuống
  39. Chấp nhất kỷ chi kiến
  40. Dắt d́u nhau vào đến Cà Mau
  41. Cướp đất của ai?
  42. Dừng chân nghĩ lại
  43. Tám mươi năm Pháp thuộc
  44. Một bài học lịch sử
  45. Soi lại chân dung, ba nét đậm của đất nước
  46. Một chuyển tiếp tự nhiên
  47. Bốn ngàn năm văn hiến
  48. Một phép mầu, một may mắn và một bài học
  49. Kinh nghiệm Cao Ly
  50. Đoạn Trường Tân Thanh
  51. Thua kém và nguyên nhân
  52. Khổng Giáo và Khổng Tử
  53. Sự nghiệp và nhân cách của Khổng Tử
  54. Di sản Xuân Thu Chiến Quốc
  55. Đạo lư thánh hiền
  56. Việt Nho
  57. Mặt thật của ai?
  58. Giết hại công thần
  59. Anh không biết ǵ về cộng sản
  60. Ưu đạo bất ưu bần?
  61. Tổ quốc của kẻ sĩ
  62. Một chân dung tráng lệ của kẻ sĩ
  63. Chuyện cổ tích
  64. Mười triệu năm đánh đu 1
  65. Mười triệu năm đánh đu  2
  66. Cái tuổi dại khờ
  67. Và ánh sáng bừng lên
  68. Ḥa Lan: cái ǵ đă xảy ra?
  69. Anh: một dân tộc bán tiệm
  70. Hoa Kỳ:
  71. Nhật Bản: tự do trá h́nh và dân chủ giấu mặt
  72. Những xă hội phồn vinh khác
  73. Cùng một hiện tượng
  74. Những thí dụ phản bác?
  75. Singapore: một thị trưởng xuất sắc
  76. Mă Lai: dân chủ ngay từ khi thành lập
  77. Đại Hàn Dân Quốc:
  78. Thái Lan: măi đến 1992
  79. Philíppin: sự bịp bợm của Marcos
  80. Inđonesia: sự ra đời vội vă của một nước lớn
  81. Đài Loan: từ một chiến khu tới một quốc gia
  82. Châu Mỹ La Tinh: một thế kỷ rưỡi trong bóng đêm
  83. Những lập luận phản bác?
  84. Những định luật cho một xă hội phát triển?
  85. Kinh bang ế thế
  86. Huyền thoại kế hoạch
  87. Laissez-faire?
  88. Quốc gia, dân tộc
  89. Quốc gia
  90. Nhà nước
  91. Nhà nước- quốc gia
  92. Dân tộc
  93. Chủ quyền
  94. Quốc gia, nhà nước và dân chủ
  95. Đất nước ta
  96. Vài vấn đề về dân chủ
  97. Đi xa hơn dân chủ
  98. Các giá trị châu á?
  99. Thập nhị sứ quân
  100. Phản xạ tổng thống
  101. Chuyện của các luật sư
  102. Một thoáng suy tư về châu Phi
  103. Tổ quốc ăn năn
  104. Gởi vào giấc mộng, nhắn ra cuộc đời
  105. Một số nhận định về Tỏ QUốC ĂN NĂN và tác giả

 

Lời đầu

Tôi sang Pháp du học năm 1961, lúc 19 tuổi. Là đứa con của đồng quê Việt Nam, tôi được nuôi dưỡng lúc ban đầu bằng h́nh ảnh cánh đồng, lũy tre, bờ ruộng, con c̣, bằng những câu ca dao: bầu ơi thương lấy bí cùng... ta về ta tắm ao ta, v.v... Lớn lên một chút nữa, bằng những bài học quốc văn giáo khoa thư, truyện Phạm Công Cúc Hoa, truyện Lưu B́nh - Dương Lễ, truyện Tấm Cám, truyện Phù Đồng Thiên Vương, truyện Thạch Sanh - Lư Thông. Khi chớm có nhận thức, bằng những trang sử oai hùng của dân tộc: Ngô Quyền phá quân Nam Hán, Lư Thường Kiệt phá Tống b́nh Chiêm, Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, Lê Lợi b́nh quân Minh, Quang Trung đại thắng quân Thanh; bằng những gương tuẫn quốc của Trần B́nh Trọng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Điều. Vinh dự nhất là sự hy sinh dũng liệt của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vinh dự v́ trong trang sử này gia đ́nh tôi có góp phần hy sinh. Trí tuệ của tôi cũng được phần đào tạo bằng thơ văn Nguyễn Công Trứ, bằng Truyện Kiều, bằng tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, bằng B́nh Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trăi, bằng Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, bằng nhiều thơ văn ái quốc, kề cả những bài thơ của Đặng Phương - mà sau này tôi được biết là Nguyễn Ngọc Huy.
Tất cả cái vốn liếng tinh thần và văn hóa đó khiến tôi mang nặng một niềm tự hào dân tộc khi vừa tới Pháp. Trong thâm tâm, tôi tin rằng Việt Nam hơn Pháp, cũng như tôi đă tin Việt Nam hơn Trung Hoa. Nước Pháp chẳng qua chỉ có một nền văn minh vật chất, nhưng thua xa Việt Nam về văn hóa, tâm linh và sự thâm thúy. Nối chung Việt Nam hơn Pháp v́ phương Đông hơn phương Tây.
Phương Đông là nền văn minh lâu đời về tư tưởng, đạo đức và văn hóa, phương Tây chẳng qua chỉ hơn nhất thời về khoa học và kỹ nghệ. Phương Đông có chiều sâu trong khi phương Tây chỉ có bề rộng. Phương Đông có bề trong, phương Tây chỉ có bề ngoài; phương Đông có hồn trong khi phương Tây chỉ có xác. Tôi c̣n nhớ đă nhiều lần tranh luận gay go với những bạn học người Pháp cũng đầy tự hào dân tộc như tôi.
Sau một vài năm tôi thạo tiếng Pháp. Tôi ham đọc sách nên kiến thức vè lịch sử, chính trị, văn hóa Pháp c̣n có phần trội hơn cả nhiều bạn Pháp. Tôi tin là ḿnh đă hiểu rơ nước Pháp nói riêng và phương Tây nói chung.
Tất cả dần dần thay đỗi với thời gian. Càng sống với người Pháp, càng làm việc với họ và lại có dịp qua lại thường xuyên các nước châu Âu tôi càng khám phá ra rằng tôi chưa hiểu họ. Dần dần niềm tự hào dân tộc giảm đi, nhường chỗ cho một sự hoang mang và sau cùng là một sự chua xót và thẹn thùng vè sự thua kém của đất nước Việt Nam và con người Việt Nam. Tôi cũng dần dần có dịp tiếp xúc với người Mỹ và qua lại nước Mỹ. Có một nỗi đau càng ngày càng lớn trong tâm hồn tôi, nó đến một cách chậm chạp, lặng lẽ nhưng mănh liệt.
Tôi nhận ra người châu Âu rất nhân bản, thâm thúy, đầy óc sáng tạo, nền văn minh của họ hơn hẳn nền văn minh của đất nước ta, văn hóa của họ vượt hẳn văn hóa của nước ta cả về lượng lẫn phẩm.
Tôi tự hào về trống đ̣ng, về thành Cỗ Loa, về chùa Hương, về chùa Phổ Minh, vè các lăng tẩm ở Huế đề rồi phải xấu hỗ trước công tŕnh nghệ thuật nhiều gấp bội, cổ kính hơn nhiều lần, vĩ đại hơn nhiều lần và tinh xảo hơn nhiều lần mà tôi gặp được mỗi khi dừng chân ở bất cứ một địa điểm nào tại các nước châu Âu. Th́ ra tôi đă giống như một con ếch ngời đáy giếng.
Ngũ thập tri thiên mệnh. Năm mươi tuổi biết mệnh trời. Năm nay tôi đă ngoài 50 tuổi, không biết tôi đă tri thiên mệnh chưa, nhưng tôi đă khám phá ra một điều: đó là cái ǵ dù lạ lùng đến đâu cũng đều có một giải thích giản dị. Các nước phương Tây vượt trội bởi v́ văn hóa của họ lành mạnh, tâm lư của họ đúng đắn. Nước Việt Nam đau khổ và nghèo nàn bởi v́ văn hóa Việt Nam thui chột và tâm lư người Việt Nam bệnh hoạn. Điều đó dĩ nhiên chẳng có ǵ mới đối với bạn đọc và cũng chẳng có ǵ mới đối với tôi, chúng ta đă biết từ khá lâu rồi. Có điều cái biết bây giờ khác với cái biết của trước kia. Giữa hai sự hiểu biết đó có một khoảng cách, đó là kinh nghiệm. Kinh nghiệm là ǵ nếu không phải là sự khám phá lại những chân lư đơn giản và có ích? Nhưng kinh nghiệm không phải chỉ đem lại cho tôi sự chấp nhận thua kém, và niềm đau của sự thua kém đó. Nếu chỉ có thế th́ chẳng có ǵ để nói và cuốn sách này không có lư do ǵ đề đến với độc giả. Kinh nghiệm đó c̣n giúp tôi khám phá ra rằng Việt Nam có thể tiến lên, tiến xa và tiến cao. Với điều kiện là phải nghĩ lại ḿnh.
Đó là lư do ra đời của cuốn sách khiêm nhường này.
Xét lại ḿnh là một thao dượt có khi rất đau nhức, nhưng phải nh́n chân dung ḿnh ngay cả khi nó không đẹp. Tôi xin lỗi các độc giả mà những trang sau có thề làm phiền ḷng. Khi một sự thực làm phiền ḷng th́ đó là một bằng chứng rằng sự thực đó cần được nói ra. Cuốn sách nhỏ bé này, nếu là một phân tích không nhân nhượng về nước Việt và người Việt th́ cũng không phải là một cuốn sách tiêu cực, nó muốn được là một cuốn sách của hy vọng và niềm tin.
Và tác giả thực sự hy vọng.
Sẽ có nhiều độc giả nhận xét rằng cuốn sách này có nhiều thiếu sót. Thiếu sót chắc chắn là có và có nhiều, nhưng có hai loại: những điều thực sự tác giả không nh́n thấy và những điều tác giả thấy mà không nêu ra. Quan niệm của tôi là không nhắc lại những ǵ ḿnh nghĩ là đa số đă đồng ư đễ chỉ tập trung thảo luận về những ǵ mà nhiều người chưa đồng ư và nhất là những ǵ mà đa số không chấp nhận. Tôi nghĩ nên cố gắng đề nói ra những điều mới, và nếu trong mười điều mới nói ra có tới chín điều sai và chỉ một điều đúng th́ cũng c̣n có ích hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng đều là những điều đă biết. Khi không chấp nhận một ư kiến, người ta hay cho rằng ư kiến đó là sai, là dở. Nhiều độc giả sẽ thay nhiều điều nói ra trong những trang sau là sai và đánh giá tác giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó. Tôi cho rằng nói ra những điều ḿnh nghĩ là đúng dù biết rằng sẽ có nhiều người cho là sai và đánh giá thấp ḿnh là một thái độ khiêm tốn. Đó là cách khiêm tốn của tôi.
Cuốn sách này đề tặng ba người: Hồ Qú, vợ tôi, Hiền con trai tôi và Ḥa con gái tôi.
Hồ Qú thực ra là đồng tác giả cuốn sách này. Hồ Qú đă thảo luận với tôi vè mọi ư kiến trong cuốn sách này, đă đọc lại, sửa chữa và góp ư. Điều c̣n quan trọng hơn nữa là Hồ Qú đă cho tôi niềm vui trong lúc viết. Không những thế, tôi c̣n được vui vẻ chấp nhận một ngân sách thua lỗ. Với kinh nghiệm của những cuốn sách chính trị đứng đắn đă phát hành, cả hai chúng tôi đều không có một ảo tưởng nào vè tương lai tài chánh của cuốn sách.
C̣n về Hiền và Ḥa th́ đây chỉ là một sự công bằng. Cuốn sách này là của chúng. Tôi không có may mắn được dành toàn thời gian cho hoạt động và nghiên cứu chính trị. Tôi có hoạt động nghề nghiệp và hơn thế nữa có hoạt động nghề nghiệp rất vất vả. Cuốn sách này đă được viết và sửa chữa trong thời gian mà bố mẹ chúng dáng lẽ phải dành cho chúng.
Cuốn sách này cũng đề tặng nhóm Thông Luận v́ lư do cũng rất hiển nhiên. Thông Luận là tổ chức chính trị duy nhất mà tôi tham gia từ 1982 tới nay. Đó là gia đ́nh thứ hai của tôi. Tôi đă may mắn gặp được ở đó một số đông đảo các trí thức và chuyên gia hàng đầu, nặng t́nh với đất nước. Sinh hoạt của Thông Luận, đối với tôi và đối với mọi người trong anh em chúng tôi, đă là cả một cuộc mạo hiểm của trí tuệ. Tôi đă học hỏi được rất nhiều điều ở đó và có thề nói cuốn sách này xuất phát từ đó. Nói như thế không có nghĩa là mọi người trong nhóm Thông Luận đều đồng ư với những ǵ tôi viết ra, mà chỉ có nghĩa là nếu không có Thông Luận nội dung cuốn sách sẽ khác đi nhiều. Anh em Thông Luận chúng tôi đồng ư với nhau về mục tiêu tranh đấu cho một thể chế dân chủ đa nguyên, trong tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, bằng những phương pháp bất bạo động; nhưng trong nhiều điểm khác chúng tôi khác nhau. Thông Luận chủ xướng đa nguyên và trước hết chúng tôi áp dụng chủ nghĩa đa nguyên trong nội bộ của ḿnh. Kề từ đầu năm 2000, nhóm Thông Luận đă có danh xưng chính thức là Tập Hợp Dân Chủ Da Nguyên, nhưng v́ cuốn sách này đă được bắt đầu viết từ vài năm trước nên trong nhiều đoạn cụm từ nhóm Thông Luận đă được dùng thay v́ Tập Hợp Dân Chủ Da Nguyên. Cuốn sách này cũng đề tặng ba người đă mất. Lê Văn Đằng, Vũ Tiến Đạt và Nguyễn Hoàng Quốc Phái. Đằng và Đạt là bạn, Quốc Phái là con gái đầu ḷng của tôi.
Sáng thứ bảy 4-5-1994 khi bảy người chúng tôi trong Ban Thường Trực của Thông Luận họp mặt trong pḥng họp riêng của tôi chúng tôi uống cà-phê, ăn sáng và thảo luận rất thoải mái. Ngoài việc giải quyết một số vấn đề thông thường của tổ chức Thông Luận, chúng tôi bàn kế hoạch ủng hộ Đoàn Viết Hoạt, đang chịu một hoàn cảnh giam cầm nghiệt ngă. Chúng tôi đều đồng ư rằng điều cấp bách nhất là làm thế nào đễ Đoàn Viết Hoạt đừng chết. Chúng tôi không hề nghĩ rằng một lát nữa một trong bảy người chúng tôi sẽ chết. Phiên họp vừa hết, Đằng muốn thêm một lời kết luận. Đang phát biểu, Đằng th́nh ĺnh ngừng lại, ngất xỉu và chết ngay sau đó.
Đằng cùng tuổi với tôi, đậu tú tài cùng một năm với tôi và đi du học cùng một chuyến máy bay với tôi, rồi cùng về nước phục vụ trong cùng khoảng thời gian với tôi. Từ ngày gặp nhau chúng tôi vừa là chí hữu vừa là anh em. Đằng không phải là người bạn mà c̣n là một phần của con người và trí tuệ của tôi. Đằng mồ côi cha từ năm ba tuổi, rồi mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm sáu tuổi, sống nhờ sự nuôi dưỡng và thương yêu của các anh chị rất nghèo. Lúc mới tới Pháp, Đằng không có cả áo lạnh, phải lấy dầu cù-là thoa khắp cả người chống rét. Đằng xuất sắc về toán, đậu thủ khoa kỳ thi tuyển vào Đại Học Sư Phạm ban toán, nhưng khi được học bổng đi Pháp lại chọn học kinh tế tài chánh và cũng thành công mỹ măn. Về Sài G̣n làm cố vấn tổng trưởng tài chánh, Đằng vẫn cố dành th́ giờ đề đi dạy đại học. Cuộc đời của Đằng chỉ có cố gắng và phấn đấu.
Đằng không những là chuyên gia kinh tế xuất sắc nhiều người, trong đó có tôi, coi Đằng là chuyên gia kinh tế tài chánh lỗi lạc nhất của Việt Nam - mà c̣n rất đam mê chính trị. ở bên ngoài Đằng có vẻ là một người trầm mặc, ôn ḥa, nhưng trong nội bộ tổ chức Thông Luận chúng tôi, Đằng luôn luôn biểu quyết cho những lập trường táo bạo nhất. Có lẽ đó là cái bản chất của đứa con của đất miền Trung sỏi đá, nơi con người luôn luôn phải cứng cỏi và bướng bỉnh với thiên nhiên đề sống. Mối t́nh thân giữa chúng tôi đă bắt đầu từ đời trước. Thân phụ chúng tôi đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, cha của Đằng bị cộng sản giết chết, cha tôi may mắn thoát nạn. Cái gia phả chính trị đó đă gắn bó chặt chẽ chúng tôi với nhau.
Tôi đă học hỏi ở Đằng rất nhiều, đến nỗi giờ này tôi không thề phân biệt được trong những kiến thức và nhận thức của tôi cái ǵ là của tôi cái ǵ là của Đằng.
Tối hôm Đằng chết, khi đi thăm xác Đằng về, vợ tôi ngồi khóc và nói với tôi: Rồi anh sẽ ra sao đây? Anh sẽ chẳng bao giờ t́m được một người bạn như thế nữa.
Ngày 4-11-1961, ngày tôi rời Việt Nam đi du học đề gặp Đằng trong chuyến máy bay và kết nghĩa anh em, cũng là ngày tôi nh́n Vũ Tiến Đạt lần cuối. Đạt ra tiễn tôi tại phi trường hôm đó. Đạt cũng đậu tú tài năm đó nhưng không đi du học. Tôi quen Đạt không lâu trước đó, nhưng Đạt đề lại trong tôi một ấn tượng cực mạnh. Tôi có một nhóm bạn cùng lứa tuổi họp nhau đề bàn chuyện đất nước. Hoạt động chính trị duy nhất của chúng tôi là vận động cho liên danh Hồ Nhật Tân - Nguyễn Thế Truyền trong cuộc tranh cử tổng thống với Ngô Đ́nh Diệm năm 1961. Rồi một hôm một người bạn đem Đạt tới. Đạt không giống ai. Hắn có bản năng và lối phát biểu mạnh mẽ một cách lạ lùng. Hắn đă đọc và thuộc vô số lư thuyết và phương pháp hoạt động chính trị. Hắn quả quyết một cách đáng sợ. Đạt không giấu ai ư định của hắn là muốn làm tổng thống Việt Nam sau này. Đấy là một cao vọng quá lớn và có thề là kềnh càng với một thanh niên 18 tuổi, nhưng Đạt trả giá cho tham vọng ấy một cách ṣng phẳng. Hắn cố gắng vượt bực và cư xử một cách hùng tráng. Đậu xong luật, Đạt đi lính, hắn nói không dám đi lính là hèn, và hơn thế nữa hắn cho rằng đi sĩ quan cũng không phải là can đảm v́ không nguy hiềm lắm. Hắn đi lính từ binh nh́, vào các đơn vị tác chiến, lên đại úy, rồi thi đậu khóa tuyền lựa tham vụ ngoại giao đầu năm 1975. Việc chuyển sang ngoại giao chắc chắn nằm trong kế hoạch trau dồi bản lănh của hắn. Điều tiếc nhất trong đời tôi là trong suốt thời gian ở Việt Nam sau khi từ Pháp vè tôi đă không gặp được hắn, hắn ít về Sài G̣n và về trong những lúc tôi bận chuyện khác. Hắn cũng chỉ về chớp nhoáng rồi lại đi ngay. Măi sau này tôi mới biết rằng hắn đă về bộ ngoại giao từ đầu năm 1975, nhưng lúc đó t́nh h́nh Việt Nam đă bắt đầu biến chuyển nhanh chóng khiến tôi không c̣n th́ giờ và tâm trí để t́m gặp các bạn cũ nữa.
Trong trại cải tạo, sau ngày 30-4-1975, Đạt hiên ngang thách thức, hắn không nhận tội, không xin khoan hồng, lúc nào cũng dơng dạc đ̣i một điều duy nhất: được cư xử như một tù binh theo công ước quốc tế. Hắn cũng kêu gọi đồng đội đừng ngă ḷng, phải giữ lấy khí phách và danh dự. Có lẽ hắn tự coi là một tổng thống và phải cư xử xứng đáng như một tổng thống. Một hôm hắn bị bắn chết trong lúc đi lao động, người ta bảo hắn định vượt trại. Điều này không ai kiểm chứng được.
Lúc đó tôi cũng đang ở tù.
Khi ở tù ra, sau hơn ba năm, tôi đă khóc rất nhiều trên mộ Quốc Phái, con gái duy nhất của tôi, chết trong lúc cả cha mẹ nó đang bị giam giữ. Lúc đó Quốc Phái mới được sáu tháng. Tôi tự hỏi tại sao tôi có thề khóc lâu như thế và tôi hiểu rằng tôi sẽ khóc cho đứa bé này ngay cả nếu nó không phải là con tôi. Tôi khóc cho một đứa bé gái duy nhất, xinh đẹp của một kỹ sư và một bác sĩ, một đứa bé mà cuộc đời đă hứa cho tất cả, nhưng đă chết như một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ và được chôn cất sơ sài trong một nghĩa trang tiều tụy. Tôi khóc cho nạn nhân vô tội nhất của cuộc chiến này. Tôi chợt hiểu rằng tôi không thề bỏ cuộc. Nếu tôi không v́ đất nước quyết định hồi hương th́ Quốc Phái đă sinh ra ở Pari, sẽ lớn lên trong t́nh yêu và hạnh phúc, sẽ thành công mỹ măn. Tôi cần một thắng lợi đễ làm quà tặng và xin lỗi Quốc Phái và thắng lợi đó phải thực quảng đại, xứng đáng với Quốc Phái và xứng đáng với nỗi đau không bao giờ nguôi trong tôi.
Trong thứ tự những người được đề tặng, độc giả có thề hỏi tại sao tôi không đề những người đă chết trước những người c̣n sống? Lư do là v́ mặc dầu những t́nh cảm vô cùng tha thiết và vô cùng sâu đậm với người đă khuất, sự sống vẫn phải đi trước. Cuốn sách này muốn được là cuốn sách của hy vọng, viết cho những con người của đất nước hôm nay và ngày mai.

 

Cảm tạ

Tôi phải cám ơn trước hết toàn bộ các chí hữu trong gia đ́nh Thông Luận, nơi kiến thức và nhận thức của tôi đă h́nh thành nhờ nhưng cuộc thảo luận và trao đỏi và cũng đă một phần nào được thử nghiệm qua hành động.
Một ḷng biết ơn xâu xa xin được gởi tới những bậc thầy đă uốn nắn cách suy nghĩ của tôi. Các giáo sư Vũ Khắc Khoan, Lê Ngọc Huỳnh, Nguyễn Xuân Kỳ, hiện nay không c̣n nữa. Một lời tưởng nhớ cũng xin được gởi đến cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một người bạn thân và một người anh lớn đă chỉ dạy cho tôi rất nhiều khi mới hoạt động chính trị, rất tiếc là ông đă mất trước khi chúng tôi có thể sát cánh với nhau trong cùng một tổ chức.
Dĩ nhiên tôi không thề không nhắc tới thân phụ tôi, người thày đầu tiên của tôi, đă tạo ra tôi cả xác lẫn hồn và mẹ tôi, người đă cho tôi bài học quí giá nhất : đấu tranh chính trị trước hết là bằng trái tim.
Đoàn Xuân Kiên, Vơ Xuân Minh và Diệp Tường Bảo đă đọc lại và góp ư.
Lời cảm tạ sau cùng nhưng đặc biệt nhất xin dành cho Nguyễn Văn Huy, người đă thúc giục tôi viết cuốn sách này. Huy là tiến sĩ về dân tộc học và giảng dạy về môn dân tộc học vùng Đông Nam á tại Đại Học Paris 7. Huy rất say mê khảo cứu lịch sử Việt Nam và đă góp ư với tôi trong nhiều nhận định. Dù không chia sẻ hoàn toàn những ǵ tôi viết, Huy đă t́nh nguyện đọc lại, sửa chữa và thay tôi lo phần việc in ấn cuốn sách này.
Nguyễn Gia Kiểng

Ghi chú về tài liệu tham khảo và bố cục

Cuốn sách này là một cuốn sách đề thảo luận ư kiến, với mục đích chỉ đè xướng ra mà không kết thúc các cuộc thảo luận. V́ thế tác giả, do thời giờ eo hẹp, đă tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau mỗi chương. Sự thiếu sót này là do điều kiện biên soạn cuốn sách : tác giả, v́ không thề dành một khoảng thời gian liên tục đề viết, đă phải lập trước một bố cục, sau đó viết dần dần từng chương một trong ṿng bốn năm, trung b́nh mỗi ngày một vài giờ, đôi khi trên xe lửa hoặc máy bay. Cách viết như vậy không cho phép ghi chú tỉ mỉ những tài liệu trích dẫn. Bù lại, những trích dẫn quan trọng đă được ghi ngay trong các bài viết, như độc giả có thề nhận xét.
V́ là một cuốn sách ư kiến, và hơn nữa ư kiến cá nhân, nên việc liệt kê tài liệu lại càng khó. Tác giả viết với kiến thức và suy tư cá nhân của ḿnh cho nên nếu muốn liệt kê hết các tài liệu đă ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên cuốn sách th́ có lẽ phải liệt kê hết tủ sách của ḿnh. Điều này không phải chỉ khó mà c̣n không thể làm được v́, một mặt, có những tài liệu, như báo chí, tác giả đă tự ư hủy bỏ v́ không có chỗ lưu giữ và, mặt khác, có những biến cố đă khiến tác giả nhiều lần mất tất cả hay gần hết tủ sách.
Trong những trích dẫn về Khổng Giáo, tác giả sử dụng bản Luận Ngữ do Nguyễn Hiến Lê biên soạn và nhà xuất bản Văn Nghệ (Nam Cali, Mỹ) phát hành, có đối chiếu với các bản nghiên cứu Luận Ngữ bằng tiếng Pháp của Bùi Đức Tín (Pierre Gastine) và Anne Cheng. ở đây xin lưu ư độc giả là tác giả không đồng ư với phần lớn những giải thích về Khổng Giáo và Khổng Tử trong các lác phẩm này. Theo tác giả, Luận Ngữ và Khổng Tử cần được hiểu theo bối cảnh xă hội Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc trong khi các tác phẩm nói trên thường vô t́nh giải thích theo những quan niệm về Nho Giáo được h́nh thành rất lâu sau giai đoạn này. Phần lớn các số liệu về thế giới được lấy từ những nguồn tài liệu được cập nhật hóa hàng năm sau đây:
- Encyclopedia Universalis (Encyclopedia Universalis, Paris),
- Etat du Monde (Edition de la Découverte, Paris),
- Bilan Economique ét Social (của nhật báo Le Monde, Pháp),
- The World Almanac (Houghton, Miftline Company, Hoa Kỳ),
The World Bank anual Report (do Ngân Hàng Thế Giới phát hành hàng năm).
V́ Tổ Quốc An Năn là một cuốn sách để thảo luận về ư kiến nên tác giả đă ít dùng những tài liệu thống kê. Các số liệu được đưa ra thường là những con số có ư nghĩa quan trọng đặc biệt v́ thế độc giả có thề tin là chúng đă được kiểm chứng một cách thận trọng.
Về bố cục, cuốn sách này gồm năm phần. Mỗi phần gồm một số chương, trong cùng một chủ đề. Độc giả ít thời giờ có thề đọc từng chương một cách độc lập với nhau, nhưng cách đọc đúng nhất vẫn là đọc theo thứ tự của cuốn sách v́ trong mỗi chương tác giả coi như độc giả đă nắm được ư của phần trước. Tuy được viết thành những chương ngắn nhưng Tổ Quốc Ăn Năn không phải là một tuyển tập những bài nghị luận mà là một cuốn sách.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Sơn hà gấm vóc

 

Tôi c̣n nhớ một bài thơ học thuộc ḷng lúc ở lớp Nhất tiểu học, không biết của tác giả nào:
Trên dải đất chạy ven bờ biển cả
Dưới trời Đông Nam á rạng màu xanh
Một giống người nhỏ bé nhưng tinh anh
Đă xây đắp một sơn hà gấm vóc...
Trong trí óc non yếu của tôi, nước Việt Nam ta rộng răi và ph́ nhiêu, người Tàu chen chúc nhau phải di dân sang nước ta lập nghiệp. Đất nước ta, theo những bài học đầu đời của tôi và được nuôi dưỡng cho đến tuổi thanh niên, đầy tài nguyên phong phú. Nước ta đầy hứa hẹn và có một tương lai vô cùng xán lạn. ư nghĩ đất nước ta có tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú là ư nghĩ rất lan tràn. Tôi đă gặp không biết bao nhiêu người quả quyết như vậy. Sau 30-4-1975, trong trại cải tạo, tôi được nghe rất nhiều sĩ quan, công chức của miền Nam cũ lên án đế quốc Mỹ là đă tới Việt Nam dề cướp bóc tài nguyên. Một anh cựu trung úy và tốt nghiệp văn khoa c̣n phát biểu rằng sở dĩ đế quốc Mỹ lập căn cứ Khe Sanh là v́ ở đấy có một mỏ uranium lớn. Một công chức khác nói rằng Mỹ đến Việt Nam, hất Pháp ra là v́ những giếng dầu khổng lồ của Việt Nam. Có anh c̣n nói các giếng dầu của Việt Nam, so với các giếng dầu ở Trung Đông như con voi so với con tem. Anh ta không giải thích tại sao Mỹ lại rút lui, bỏ rơi những giếng dầu khổng lồ đó.
Dĩ nhiên họ phát biểu v́ hoàn cảnh. Họ thua trận, họ vào tù, họ phải mạt sát chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và đế quốc Mỹ đề mong được khoan hồng. Nhưng những điều họ nói về tài nguyên đất nước là thành thực. Họ tin như thế. Tôi hỏi anh sĩ quan đă nói về mỏ uranium ở Khe Sanh th́ anh ta không có một dữ kiện nào cụ thề cả, nhưng anh ta tin như thế và tin chắc như đinh đóng cột.
Không hiểu v́ lư do nào mà hầu hết mọi người Việt Nam đều có niềm tin sai lầm rằng đất nước Việt Nam bao la, tài nguyên của việt Nam vô tận. Cuốn Địa Lư Kinh Tế Việt Nam (Văn Trai, chủ nhiệm bộ môn Địa Lư Kinh Tế Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Ḥ Chí Minh, xuất bản lần thứ 4 năm 1990) khẳng định: Các tài nguyên quặng mỏ nước ta có nhiều loại trữ lượng lớn, chất lượng cao, dễ khai thác, bảo đảm phát triển công nghíệp trong nước lâu dài và mạnh mẽ, đồng thời c̣n có thể xuất khẩu nữa. Niềm tin ở tài nguyên to lớn của đất nước rất thường gặp trong nhiều bài viết, bài nói và tác phẩm của các tác giả thuộc mọi khuynh hướng chính trị. Niềm tin này tạo ra một sự yên tâm tai hại. H́nh như mọi người Việt Nam đều tin rằng đất nước ḿnh thế nào rồi cũng sẽ phú cường, do đó mà mất đi sự lo lắng cần thiết đề giữ ǵn đất nước và xây dựng tương lai. Và cũng v́ thế mà có tâm lư phá hoại và vô trách nhiệm.
Sự yên tâm này không những chỉ tai hại mà c̣n làm chết người. Đó là tâm lư ngự trị trong đầu óc những người lănh đạo đảng cộng sản. Năm 1945 họ thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, họ đập phá tất cả các thành phố, đường bộ, đường sắt. Trong chiến tranh họ không bao giờ lưỡng lự khi phá hoại bất cứ một công tŕnh nào. Một bài t́nh ca yêu nước của người cộng sản có hai câu:
Em đi phá lộ Đông Dương,.
Anh về đánh bốt Mỹ Lương, Đông Hà.
(Đánh bốt có nghĩa là đánh đồn. Trẻ em thường hát sai thành đánh đốt).
Thơ mộng quá! C̣n ông Hồ Chí Minh? ông phát biểu quyết tâm chinh phục miền Nam như sau: Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn nhưng chân lư ấy khôn thể nào thay đổi? Ghê gớm không? Sẵn sàng chấp nhận chiến tranh đến sông cạn, núi ṃn, không lư ǵ đến sự tàn phá mà đất nước có thể phải chịu đựng. Một lần khác ông tuyên bố rằng đế quốc Mỹ có thể gia tăng ném bom tại Bắc Việt, có thể phá hoại đường sá, hay tiêu hủy nhiều thành phố nhưng sẽ không bao giờ làm cho đảng cộng sản Việt Nam nhụt ư chí đấu tranh.
Độc giả đừng vội nghĩ rằng tôi đang chống cộng và kề tội người cộng sản. Tôi nghĩ rằng trong thâm tâm không nhiều th́ ít ai cũng yêu nước, và người cộng sản cũng thế. Có lẽ sai lầm cơ bản là chúng ta không đánh giá đúng tiềm năng của đất nước và mức độ chịu đựng tối đa của nó. Chúng ta nghĩ rằng nước ta có tiềm năng vô tận và v́ thế có bị đập phá cũng không sao.
Nếu ngược lại ta ư thức rằng đất nước ta nhỏ bé chật hẹp, tài nguyên của ta ít ỏi, có lẽ ta sẽ hành xử rất khác. Ta sẽ quí từng con đường nhỏ, từng cây cầu, từng dăy phố, từng căn nhà. Chúng ta sẽ tránh được những phí phạm và những cuộc chiến tranh làm chết hàng triệu người và tàn phá đất nước.
Mà sự thực ta có ǵ đâu?
Mỏ quan trọng nhất trong đất liền của ta là than đá anthracite với trữ lượng 6 tỷ tấn. Sản lượng hàng năm là 8 triệu tấn, nếu khai thác tối đa có thể đạt tới 20 triệu tấn. Có nên khai thác tối đa hay không lại là một vấn đề khác. Nhưng ngay cả như thế sản lượng than dá của ta cũng chỉ bằng ba phần ngàn sản lượng hàng năm của thế giới, thua xa Cao Ly (77 triệu tấn), Ba Lan (150 triệu tấn), Đức (77 triệu tấn), Anh (93 triệu tấn). Đó chỉ là để kể một vài nước có diện tích tương đương hay nhỏ hơn nước ta. Và tất cả những nước này c̣n nhiều tài nguyên phong phú khác mà ta không có. Mỏ sắt của ta, được kể như một tài nguyên lớn, chỉ có trữ lượng tổng cộng 540 triệu tấn - nghĩa là rất khiêm nhường, tương đương với sáu tháng sản xuất trên thế giới -, đă thế lại phân tán ra trên 200 mỏ, cho nên không thể khai thác qui mô được. Các mỏ khác của ta đều không đáng kể. Thí dụ như nickel, một trong những tài nguyên được coi là quan trọng của ta chỉ có một trữ lượng tổng cộng cho các mỏ là 3 triệu tấn, nhưng phần lớn lại pha lẫn trong chrome, ở Cổ Định (Thanh Hóa), tương đương với một năm sản xuất của ḥn đảo nhỏ xíu Nouvelle Calédonie.
Ngoài ra ta có hai mỏ khác có triển vọng khá là mỏ chrome ở Thanh Hóa (trữ lượng 21 triệu tấn) và mỏ apathite ở Lào Cai (trữ lượng công nghiệp 135 triệu tấn). Từ vài năm gần đây, Việt Nam trông đợi rất nhiều vào đầu khí. Nhưng đây cũng chỉ có thể là một hy vọng rất khiêm nhường.
Trữ lượng của ta, theo những ước đoán lạc quan, không bao nhiêu, chỉ vào khoảng 400 triệu tấn (thế giới: 400 tỷ tấn). Sản lượng dầu lửa hợp lư của ta sau này chỉ có thể đạt tới mức tối đa 15 triệu tấn mỗi nam, nghĩa là tương đương với một tuần lễ sản xuất của Mỹ, hoặc Nga, hoặc Saudi Arabia, trừ khi ta áp dụng chính sách ăn xổi ở th́, khai thác cho hết thực nhanh chóng và bất chấp tương lai. Trong trường hợp này những đầu tư thiết bị vào dầu lửa sẽ thành vô dụng sau một thời gian ngắn. Mặt khác, nhu cầu năng lượng của ta sẽ tăng lên mau chóng (ít ra ta phải hy vọng như vậy) cùng với đà phát triển, và các mỏ dầu chỉ giúp ta giảm nhẹ hóa đơn dầu nhập cảng mà thôi.
Khí đốt hy vọng mới của Việt Nam cũng vậy, với một trữ lượng 100 tỷ mét khối (hy vọng rằng ta c̣n t́m được thêm), 1 % của trữ lượng trong vùng và 7 phần mười ngàn (7/10.000) trữ lượng thế giới, ta cũng chỉ có thể hy vọng bớt đi phần khí đốt phải mua vào mà thôi. Nếu cần một con số nói lên sự nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên của ta th́ đó là con số 13. Hiện nay, năm 2000 chúng ta đứng hàng thứ 1 3 trên thế giới về dân số với 78 triệu người, nếu không kiểm soát được đà gia tăng th́ đến đầu thế kỷ 21 chúng ta sẽ qua mặt Đức (80 triệu dân) để lên hàng thứ 12, nhưng ta không đứng trong số 13 nước đầu, mà cũng không đứng trong số 30 nước đầu, về một tài nguyên nào cả.
Tài nguyên đă giới hạn như thế hiện nay chúng ta lại rất nghèo, rất lạc hậu, rất thua kém. Liệu chúng ta có một tương lai nào không? Và nếu muốn có th́ phải làm thế nào? Hăy khoan trả lời những câu hỏi đó. Nhưng ngay tại đây ta có thể nói rằng ư thức được hoàn cảnh khó khăn của ḿnh tự nó cũng đă là một hành trang quí báu, bởi v́ nó cho ta một cách ứng xử đúng đắn, nó đem lại cho ta một thái độ lo lắng và thận trọng trong việc dựng nước, nó giúp ta ư thức được sự cần thiết của cố gắng.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Rất đượm hương và rộn tiếng chim

Không biết ông Tố Hữu có phải là nhà thơ theo đúng nghĩa của một nhà thơ không. Nhưng ông có tài làm thơ, hiểu theo nghĩa những câu ngắn có vần ở cuối, và tài làm thơ đă góp phần quyết định đưa ông lên gần tới tột đỉnh của danh vọng và quyền lực. ông biết dùng những h́nh ảnh rất đẹp và giản dị ngay cả khi đề diễn tả những t́nh cảm giả tạo với những mục đích rất thực tiễn. Như khi ông dùng h́nh ảnh đứa bé tập nói để ca tụng Stahn, hay khi ông dùng h́nh ảnh một người con ân cần nắm tay cha để nịnh Hồ Chí Minh. Bài thơ Từ ấy của ông được người cộng sản ca tụng như một bài thơ hay.
Nó bắt đầu như sau:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lư chiếu qua tim
Hon tôi là một vườn xanh lá
Rất đượm hương và rộn tiếng chim.
Qua những câu thơ này, ông Tố Hữu muốn diễn tả nỗi hân hoan của ông khi t́m ra chân lư Mác-Lênin và dấn thân tranh đấu trong Đảng Cộng Sản Việt Nam. C̣n ǵ đẹp bằng màu xanh của lá và tiếng hót của chim?
ông Tố Hữu đă tranh đấu và đă thành công. Lư tưởng của ông đă đạt được. Con đường thắng lợi của đảng ông đă đi qua hàng triệu xác chết. Để đi đến kết quả nào?
Trong mùa hè 1992, một người bạn Pháp, sau chuyến đi công tác một tháng tại Việt Nam, kề cho tôi nghe là anh ta thường thức dậy sớm v́ sai biệt giờ giấc. Anh ta nói khu anh ta ở không có chợ v́ nằm ngoài thành phố và buổi sáng im lặng một cách lạ thường v́ hoàn toàn không có một tiếng chim.
Anh ta có nhiều chuyện quan trọng hơn đề nói cho tôi nghe và tôi cũng có nhiều chuyện để hỏi anh ta; những số liệu, những cuộc gặp gỡ, những nhân vật đă tiếp xúc, nhận định, cảm tưởng v.v. Và tôi không lưu ư tới chi tiết này.
ít lâu sau, lại một người bạn khác, hay đi về Việt Nam, kể cho tôi nghe chuyện qua bắc Mỹ Thuận. Tôi th́nh ĺnh nhớ tới những quán bán chim nướng và hỏi anh ta có ăn chim nướng ở đó không. Anh ta trả lời rằng có, nhưng đó chỉ là gà con mới nở được đem chiên thay cho chim chứ chim không c̣n nữa. Tôi bắt đầu lưu ư tới đàn chim Việt Nam.
Trong mùa hè 1993, nhiều anh em trong nhóm Thông Luận về thăm nhà. Tôi dặn mọi người đễ ư xem Việt Nam c̣n nhiều chim không. Họ đem thuật lại như nhau, và điều họ nói làm tôi sửng sốt: Việt Nam không c̣n chim? Chỉ có một người bạn đi từ Nam ra Bắc mới thấy một con chim ở Vịnh Hạ Long, anh ta vội vă lấy máy h́nh ra chụp ảnh con chim ấy đem về cho tôi.
Cà Mau trước đây có một rừng c̣ lớn, có rất nhiều loại c̣, nhiều đến nỗi có nhưng người chuyên đi vào rừng lượm trứng c̣ và mỗi ngày lượm được cả rổ đem ra chợ bán. Tôi dặn một người bạn nhớ viếng khu rừng c̣ đó và anh ta cho tôi hay khu rừng c̣ chỉ c̣n rất ít c̣ ít một cách không đáng kể. Thế là cuộc cách mạng của ông Tố Hữu thành công và Việt Nam hết chim.
C̣n màu xanh của lá?
Những người qua lại Việt Nam đều đồng ư. Rừng bị phá hoại thẳng tay. Cho tới năm 1993, hàng ngàn công ty thi nhau đốn cây lấy gỗ xuất khau. Hàng trăm ngàn gia đ́nh sống bằng nghe phá rừng lấy củi đem bán cho hàng triệu gia đ́nh cần chất đốt. Chỉ tới giữa năm 1993, nhà nước mới ra lệnh cấm xuất cảng gỗ, và mới bắt đầu có một cố gắng rất h́nh thức để trồng lại rừng, nhưng rừng vẫn tiếp tục bị phá nhanh chóng. Nhà nước cộng sản cũng không giấu giếm việc này, và nhiều báo chí đă lên tiếng báo động. Nhưng c̣n ǵ để báo động? Những con số đă thực kinh khủng: 3/4 rừng Việt Nam đă bị phá, chỉ riêng trong 20 năm từ 1975 đến 1995, kể từ ngày đất nước thống nhất hơn một nửa diện tích rừng trên toàn quốc bị phá hủy. Mùa hè 1999, tôi lại được đọc một nguồn tin của nhà nước theo đó th́ khoảng 1/3 diện tích rừng đă bị phá từ năm năm qua. Rừng Việt Nam c̣n lại bao nhiêu có lẽ không ai biết được một cách chính xác nhưng tôi nghĩ sự thực có lẽ c̣n bi đát hơn các con số. Báo chí thế giới đă nói tới rất nhiều, và chính quyền c̣n nói nhiều hơn, về những tàn phá gây ra cho rừng v́ những thảm bom B52 và nhất là chất độc màu da cam của Mỹ. Điều đó đúng, và rừng cây Việt Nam đă bị thiệt hại rất nhiều. Nhưng không thấm vào đâu so với những tàn phá của 25 năm quản lư đất nước bất chấp môi sinh. Người ta cứ tưởng đất nước Việt Nam vô tận, thiên nhiên Việt Nam vô tận nên cứ thẳng tay tàn phá.
Vô lư nhất là việc cho phép xuất cảng gỗ cho tới vài năm gần đây cũng vô lư và đần độn như việc xuất khẩu kim loại phế thải trước đây với giá rẻ mạt, rồi bây giờ phải mua lại với giá đắt gấp mấy chục lần. Việt Nam chưa bao giờ dư gỗ cả. Chúng ta có gỗ để xuất khẩu chỉ v́ chúng ta quá nghèo. Không cần nói tới miền Bắc và miền Trung, nơi cuộc sống nông thôn chỉ là một sự đầy đọa và ở đó chẳng làm ǵ có chuyện sắm bàn ghế, giường gỗ, tủ gỗ. Tôi đă đi qua các tỉnh miền Tây Nam phần trù phú, ở đó hầu như tất cả các căn nhà đ̣ng quê đều dựng lên bằng tre, và mỗi gia đ́nh chỉ có một hai chiếc giường bằng gỗ; bàn ghế hầu như không có. Khi mức sống đă tăng lên, và phải hy vọng là mức sống sẽ tăng lên, chúng ta sẽ phải nhập cảng một số lượng gỗ lớn.
Đất nước ta đă chật hẹp, đă không có tài nguyên thiên nhiên, c̣n bị phá hủy và trở thành cằn cỗi. Không c̣n rừng xanh và bặt tiếng chim!
Ngày xưa, Nguyễn Trăi kể tội quân Minh tàn phá nước ta: Tàn hại cả côn trùng thảo mộc? Quân Minh không phải là người Việt Nam và v́ thế có thể không quí trọng thiên nhiên Việt Nam. Ngày nay chính người Việt Nam tàn phá đất nước Việt Nam. Khi đất nước Việt Nam đă bị tàn phá đến nỗi không c̣n sinh sống được nữa th́ cũng không c̣n ǵ để nói và làm nữa. Tôi đă có dịp ghé thăm nước Tunisie. Quốc gia bé nhỏ này đang bị thiên nhiên tiêu diệt từ từ. Sa mạc ngày càng lấn lên từ miền Nam, nước Tunisie đă nhỏ lại càng nhỏ lại. Sự thiếu thốn thảo mộc đang làm thay đổi cả thời tiết. Mưa đổ ào xuống trong ṿng 10 ngày mỗi năm, rồi sau đó là hạn hán. Những con sông trung b́nh chỉ có nước một hai ngày mỗi năm, những ngày c̣n lại chúng đề trơ ḷng sông nứt nẻ. Cả một cố gắng vĩ đại và tuyệt vọng được tung ra dễ trồng cây ngăn chặn sự gậm nhấm của sa mạc. Nhưng đó là một thiên tai. ởViệt Nam tai họa do con người và do người Việt Nam.
Tuy vậy Tunisie vẫn c̣n chim, mắt tôi đă nh́n thấy nhiều đàn chim. Việt Nam không c̣n chim.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Sơn xuyên chi cương vực kư thù

 

Nguyễn Trăi (1380-1442) mở đầu bài B́nh Ngô Đại Cáo như sau:
Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân,
Điếu phạt vi sư mạc tiên khử bạo.
Như nói chuyện Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bằng,
Sơn xuyên chi cương vực kư thù,
Bắc Nam chi phong tục diệc dị.
Trong Việt nam Sử lược, học giả Trần Trọng Kim cung cấp một bản dịch mà nhiều người nói là của cụ Bùi Kỷ: Việc nhân nghĩa cốt yên dân, quân điếu phạt chỉ v́ khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đă lâu. Sơn hà cương vực đă chia, phong tục Bắc Nam cũng khác.
B́nh Ngô Đại Cáo là một áng văn bất hủ, lời lẽ hùng tráng mà ư kiến cũng rất sâu sắc. Được sáng tác vào năm 1427 khi nước ta vừa giành lại được độc lập từ tay quân Minh, B́nh Ngô Đại Cáo có giá trị của một bản tuyên ngôn độc lập. Nó xác nhận văn tài xuất chúng và ư thức chính trị phi thường của Nguyễn Trăi, một trong những anh hùng kiệt xuất nhất trong suốt ḍng lịch sử của nước ta. Hầu hết mọi người Việt nam đều chỉ biết đến B́nh Ngô Đại Cáo qua bản dịch của Trần Trọng Kim (hay Bùi Kỷ?). Bản dịch đó cũng là một tuyệt tác. Tuy nhiên, phù hợp với văn phong của thời các cụ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, nó chú trọng đến lời văn và âm hưởng nhiều hơn là ư, và địch giả đă bỏ qua một chi tiết có tầm quan trọng rất lớn trong sự tồn tại của đất nước ta mà Nguyễn Trăi đă nêu ra. Sơn xuyên chi cương vực kư thù được dịch là Sơn hà cương vực đă chia thay v́ núi sông bờ cơi riêng biệt hay lănh thổ có núi ngăn chia, bỏ qua mất cụm từ sơn xuyên , có nghĩa là núi sông nhưng cũng có thể có nghĩa là cách núi. Nguyễn Trăi muốn nhấn mạnh sự kiện Việt nam và Trung Quốc cách nhau một dăy núi. Câu mở đầu của B́nh Ngô Đại Cáo có thể dịch sát nghĩa hơn như sau:
Chính trị chuyên mưu t́m ḥa b́nh, chiến tranh chỉ là để khử trừ bạo ngược. Nước Việt nam là một nước văn hiến, lănh thổ có núi ngăn chia, phong tục Bắc Nam khác nhau....
Bỏ qua vách núi là bỏ qua một yếu tố rất quan trọng của nước ta. Chính nhờ núi mà nước ta c̣n đến ngày nay. Dọc theo biên giới Trung Quốc là cả một vùng núi non dày đặc, dày gần một trăm cây số. Dọc theo biên giới Lào là dăy Trường Sơn. Hai dăy núi này kết hợp với nhau làm một tường thành kiên cố che chở và cô lập các đồng bằng miền Bắc và miền Trung nước ta. Chính nhờ núi mà Trung Quốc đă không thể thôn tính và đồng hóa nước ta, và cũng nhờ núi mà nước Lào đă không bị Việt hóa.
Trước đây khi nước ta chưa thực sự h́nh thành, thế lực c̣n đơn sơ đến độ một đạo quân nhỏ cũng đủ đề chinh phục, Trung Quốc đă đặt được sự thống trị lên quận Giao Chỉ, nhưng số người Tàu đủ mạo hiểm để vượt núi qua nước ta lập nghiệp đă rất giới hạn. V́ thế mà một ngàn năm Bắc thuộc đă không thể biến Việt nam thành một vùng hoàn toàn hội nhập vào Trung Quốc. Khi người Việt nam trở thành đông đảo với thời gian và giềng mối xă hội trở thành gắn bó, ta đă đuổi được quan cai trị người Tàu rồi bảo vệ được nền độc lập. Từ khi giành hẳn được độc lập, năm 939 ta chỉ bị rơi vào ách Bắc thuộc hai mươi năm, từ 1407 đến 1427, trong một bối cảnh suy đồi đặc biệt. Cuộc chiến tranh giải phóng do Lê Lợi cầm đầu đă rất vẻ vang, nhưng khách quan mà nói lực lượng Trung Quốc xa hậu cứ và khi phải đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng Trung Quốc đă không chứng tỏ một quyết tâm đặc biệt nào đề duy tŕ nền thống trị.
Các đạo quân xâm lăng phải vượt qua những đường ṃn chật hẹp dài cả trăm cây số nên vận tải lương thực rát khó khăn, và làm mồi ngon cho các cuộc phục kích. Muốn xâm nhập nước ta, quân Trung Quốc thường phải đi đường biển đổ bộ xuống vùng Nghệ An, rất xa địa điểm xuất phát xét theo phương tiện di chuyển ngày xưa, hay cửa Bạch Đằng, tuy gần hơn nhưng vẫn c̣n phải đi một chặng đường hiểm trở đề tiến về Hà Nội.
Nhờ thường xuyên đánh thắng quân xâm lăng phương Bắc, chúng ta thường tự hào về sức sống mănh liệt của dân tộc, mà ít khi chịu khiêm tốn đề nh́n nhận rằng sự tồn tại của nước ta chỉ được bảo đảm nhờ vách núi dày đặc và hiểm trở. Nhiều nhà lư luận nặng đầu óc dân tộc đă biện bạch rằng dân ta đứng vững được nhờ có một nếp sống riêng, một nền văn hóa dân tộc cao, một tinh thần dân tộc cao và một tinh thần chiến đấu đặc biệt kiên cường.
Những yếu tố đó đều đúng nhưng chỉ đúng một phần mà thôi.
Ta đă phóng đại và huênh hoang quá đáng. Thực ra tinh thần dân tộc của ta không lấy ǵ làm mạnh và khả năng chiến đấu của ta tuy khá nhưng không thể nói là phi thường. Về văn hóa, ta đă bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta vẫn c̣n khác văn hóa Tàu th́ cũng chỉ v́ ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở tŕnh độ nhiều hơn là ở bản chất. Sau này khi lệ thuộc người Pháp, chúng tà cũng đă mê mải chạy theo văn hóa Pháp. Nhiều người c̣n muốn quên hẳn gốc gác Việt nam.
Những người vong bản này không hẳn là những người phản quốc, ngay cả phản quốc hiểu theo nghĩa cộng sản. Năm 1980, tôi có dịp nghe một bài nói chuyện của ông Phạm Văn Đồng, lúc đó là chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt nam. Ông Phạm Văn Đồng là một trong những người lănh đạo chủ chốt của cuộc chiến tranh cam go chống Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông Đồng là người đă giữ chức vụ thủ tướng lâu nhất tại Việt nam trong gần 40 năm. Trong các lănh tụ cộng sản, ông là người được các đảng viên kính trọng nhất sau ông Hồ Chí Minh. Ông được coi là lănh tụ cộng sản kỳ cựu có văn hóa cao. Điều đặc biệt là ông Phạm Văn Đồng, mặc dầu đảm nhiệm chức vụ chính trị quan trọng đă tỏ ra đặc biệt ưu tư tới tiếng Việt ông viết một loạt bài dưới đề tựa Giữ ǵn sự trong sáng của tiếng Việt.
Và tôi đă nghe ông Đồng nói những ǵ? Bài nói chuyện của ông có ít nhất 20% là tiếng Pháp. Ông chêm tiếng Pháp bất cứ lúc nào ông có thể chêm được. Có khi ông nói cả những câu hoàn toàn bằng tiếng Pháp mà hầu hết cử tọa không hiểu. Tôi hỏi một người bạn đảng viên khá cao cấp đă nhiều lần nghe ông Đồng thuyết tŕnh, anh ta cho hay ông Đồng lúc nào cũng nói như vậy v́ ông ấy học giỏi và quen miệng nói tiếng Pháp. Thực ra bác sĩ Đặng Văn Hồ (mà tôi gọi bằng chú do một liên hệ gia đ́nh gián tiếp), bạn học của ông Đồng, cho tôi hay ông Đồng chưa học hết trung học bản xứ và đă từng nói với bác sĩ Đặng Văn Hồ rằng: Mày đậu tú tài th́ học tiếp tao không có tú tài th́ đi làm cách mạng. Như thế vốn liếng tiếng Pháp của ông Đồng tuy có thực nhưng không nặng đến nỗi sau hơn một nửa thế kỷ đấu tranh chống Pháp ông vẫn c̣n phải chêm tiếng Pháp luôn miệng như vậy. Tôi học và sử dụng tiếng Pháp nhiều hơn hẳn ông Đồng, tôi cũng sinh sống tại đất Pháp lâu năm, nhưng không có nhu cầu phải pha thêm tiếng Pháp trong khi viết và nói tới mức độ như ông Đồng. Ông Đồng chêm tiếng Pháp v́ ông thích tiếng Pháp, cho rằng nói tiếng Tây là sang. Và ông nghĩ như vậy, bởi v́ những người chung quanh ông cũng nghĩ như vậy, người Việt nam rất vọng ngoại về mặt văn hóa.
Đă nói tới người cộng sản th́ cũng phải nói đến người quốc gia. Ông Nguyên Văn Thiệu tuy vốn liếng tiếng Pháp chẳng hơn ǵ ông Đồng là mấy nhưng cũng luôn miệng nói tiếng Pháp. Trong biên lai mà ông kư cho tướng Trần Văn Đôn đễ nhận một triệu đồng tiền thưởng của t́nh báo Mỹ sau cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, ông viết Bon pour 1.000.000 piastres. Một biên lai giữa người Việt với nhau lại viết bằng tiếng Pháp. Như thế mới sang. Trong thời gian làm việc tại Ngân Hàng Việt nam Thương Tín và Bộ Kinh Tế, tôi đă được đọc nhiều hồ sơ. Hồ sơ nào hầu như cũng pha tiếng Pháp, có hồ sơ hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Đó là sau khi Pháp đă ra đi gần 20 năm!
Sức chiến đấu kiên cường của ta cũng cần xét lại. Quả thật ta đă có những chiến công hiển hách, nhưng cũng có những lúc mà sức chiến đấu của ta kể như không có. Bảy người lính Pháp đă có thể vào chiếm tỉnh Ninh B́nh, bắt quan quân Việt nam qú gối hạ khí giới. Vài trăm lính Pháp đă có thể hạ được Thăng Long, đánh tan nhiều ngàn quân Việt nam, một lần bắt sống Nguyễn Tri Phương, một lần buộc Hoàng Diệu phải tuẫn tiết. Hồ Quí Ly chuẩn bị một đạo quân đông đảo và hùng hậu dề đương đầu với quân Minh. Nhưng chỉ một đạo quân nhỏ của Trương Phụ đă đánh tan được toàn bộ quân nhà Hồ và bắt sống Hồ Quí Ly trong một thời gian chớp nhoáng. Vậy phải giải thích thế nào những chiến công của ta? Quan sát kỹ ta thấy người Việt nam có tâm lư sợ và phục tùng uy quyền. Khi có những cấp chỉ huy cứng cỏi, họ chiến đấu có hiệu lực. Nhưng không nên vội đồng hóa tâm lư sợ và phục tùng cấp trên với ư chí sẵn sàng chiến đấu và chấp nhận hy sinh v́ đất nước. Trong một đoạn khác tôi sẽ trở lại vấn đề này. Tôi nói văn hóa đặc thù của ta không có bao nhiêu, tinh thần dân tộc và khả năng chiến đấu của ta chỉ giới hạn hoàn toàn không phải nhằm mục tiêu hạ nhục dân tộc ta. Để làm ǵ?
Tôi chỉ muốn lưu ư rằng khả năng tự vệ của dân tộc ta thực ra chỉ vừa phải, chúng ta đă tồn tại được chủ yếu là nhờ có núi làm biên giới thiên nhiên. Ngày nay, trong thế giới hiện đại này, núi không c̣n là mộc che thân của ta nữa và biển lại là cửa vào xâm nhập lư tưởng; sự xâm nhập không c̣n bằng quân sự mà bằng văn hóa, kinh tế, thương mại, sách báo, phim ảnh, âm nhạc. Ta phải hết sức lo lắng để giữ nước v́ bài toán giữ nước đă thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không c̣n trông vào núi được nữa. Muốn giữ nước từ đây ta phải có khả năng tự vệ thực sự, tinh thần dân tộc thực sự, ḷng yêu nước thực sự.
Làm thế nào đề có những yếu tố đó phải là ưu tư của mọi người quan tâm tới đất nước.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Nước non ngh́n dặm

 

Người Việt nam nào h́nh như cũng biết câu ca dao Nước non ngh́n dặm ra đi. Cụm từ nước non ngh́n dặm cũng đă là đầu đề của nhiều tác phẩm, và được dùng trong vô số bài hát, bài thơ. Nó đă làm cho nhiều người nghĩ đất nước ta rộng răi, bao la. Sự thực th́ chúng ta rất thiếu đất. Với 78 triệu người (năm 2000) trên một diện tích 330.000 km2, nghĩa là 237 người trên một kilômét vuông, chúng ta là một trong những nước có mật độ cao ngất, gần gấp đôi Trung Quốc (120 người / km2) và xấp xỉ bằng ấn-độ (270 người / km2), hai nước được coi là có nạn nhân măn trầm trọng.
Nhưng không phải chỉ có thế. T́nh trạng thiếu đất thật ra c̣n trầm trọng hơn nhiều. Nếu núi đă giúp ta giữ nước, th́ núi và đồi cũng đă chiếm mất của ta ba phần tư lănh thổ. Tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ, đồi và núi chiếm hơn 80% lănh thổ. Tỷ lệ đất đai canh tác được của ta không tới 25 %. Nếu trừ đi thành phố, nhà cửa, đường sá sông ng̣i th́ diện tích c̣n lại để trồng lúa tối đa của ta không quá 7 triệu héc-ta.
Nói đến thiếu đất người ta nghĩ ngay đến hạn chế sinh đẻ. Chính quyền hiện nay theo đuổi một chính sách hạn chế sinh đẻ vừa rời rạc vừa hung bạo.
Trong truyện ngắn nỗi tiếng Tướng về hưu, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện một vị tướng cộng sản về hưu đă phải bỏ ra đi t́m lại đơn vị cũ của ḿnh đề rồi thiệt mạng v́ không thể chịu đựng được cảnh cô con dâu, một bác sĩ sản khoa, đem những thai nhi đă bị phá về nhà làm thức ăn nuôi chó béc-giê kỹ nghệ. Trong cuộc Hội Luận Dân Chủ Đa Nguyên tháng 10-1990, nhà nghiên cứu Đinh Trọng Hiếu, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Pháp, vừa từ Việt nam sang sau một chuyến nghiên cứu dài ba tháng về đời sống nông thôn, đă lên diễn đàn mô tả lại cảnh mà ông đă nh́n thấy, cảnh ba bốn phụ nữ bị bắt buộc phá thai trong các trạm y tế. Họ nằm trần truồng bên nhau, dạng cẳng cố trục xuất thai nhi ra, sau khi đă nhận thuốc phá thai. V́ thiếu phương tiện, việc phá thai được phối hợp giữa thuốc và các biện pháp tay chân. Đinh Trọng Hiếu vừa kể vừa khóc.
Đọc báo trong nước, người ta cũng vẫn thường gặp những bài nói về các cán bộ, đảng viên bị phê b́nh, hay có khi bị kỷ luật v́ có tới ba con.
Nhưng mặc dầu vậy, dân số nước ta vẫn tiếp tục gia tăng xấp xỉ 2%, tức khoảng một triệu rưỡi người mỗi năm. Các biện pháp hạn chế dân số dă man đă chỉ làm xuống cấp con người chứ không ngăn chặn được nạn nhân măn. Có lẽ v́ con người trở thành rẻ rúng mà chính quyền không c̣n quan tâm tới sức khỏe. Sách báo không thầy đăng (hay có đăng mà tôi không đọc được?) tỷ lệ người chết hàng năm. Tôi t́m được một cuốn sách địa lư trung học (Địa lư lớp 9 - Nguyễn Trọng Điều, Nhà xuất bản Giáo Dục, 1989) hai con số: tỷ lệ người chết là 6,3 phần ngàn năm 1979 và 6,95 phần ngàn năm 1986. Như thế có nghĩa là trong ṿng 7 năm tỷ lệ người chết đă tăng lên 10%. Năm 1986 là năm bắt đầu chính sách mở cửa theo qui luật kinh tế thị trường. Từ đó hệ thống y tế của nước ta bị bỏ rơi và xuống cấp không ngừng. Hiện nay, năm 2000, y tế của ta có thể nói là đă sụp đổ hoàn toàn. Theo thống kê của nhà nước, số trẻ em chết trước khi được một tuổi đă tăng 10% trong năm 1998.
Hạn chế đà gia tăng dân số chắc chắn phải là ưu tư lớn của bất cứ một chính quyền Việt nam nào. Nhưng trước hết phải nh́n vấn đề một cách đúng đắn, phải nhận định rằng vấn đề sinh đẻ nhiều trước hết là một vấn đề văn hóa, xă hội và nhân sinh quan chứ không phải là một vấn đề thuần túy kinh tế, và do đó không thể giải quyết bằng những quyết định hành chánh, duy ư chí chính quyền cộng sản đă có một thái độ thiếu lương thiện trên vấn đề này. Trước năm 1975, đảng cộng sản hoàn toàn không đặt ra vấn đề hạn chế sinh đẻ. Lúc đi cải tạo sau ngày 30-4-1975, tôi c̣n được nghe một bài học tập lên án gay gắt ngụy quyền Sài g̣n là đă tiếp tay cho chính sách diệt chủng bằng cách hạn chế sinh đẻ. Chỉ sau Đại hội IV, năm 1976, vấn đề mới đặt ra. Và sau đó những dụng cụ và thuốc ngừa thai mới được khuyến khích, cùng với những quyết định hành chánh rất thô bạo.
Cũng cần phải phân biệt hai vấn đề hạn chế sinh đẻ và giải quyết t́nh trạng dân số cao. Có lẽ tất cả vấn đề là ở chỗ đó. Nếu chỉ hạn chế sự gia tăng dân số mà thôi th́ phải nói rằng đó là một cố gắng vô ích ngay cả nếu thực hiện được. Bởi v́ ngay bây giờ với 78 triệu dân, chúng ta đă tuyệt vọng rồi nếu vẫn cứ là một nước nông nghiệp. Tỷ lệ đất canh tác của ta hiện nay là 10 người một héc-ta. Với tỷ lệ này th́ dù có tăng năng suất tối đa và dù có luôn luôn mưa thuận gió ḥa, chúng ta vẫn sẽ là một nước nghèo khổ
Vấn đề thực sự đề giải quyết nạn đất hẹp người đông là phải thay đổi chức năng của đất nước từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp. Trong dài hạn, nông nghiệp của Việt nam chỉ có thể đảm bảo đời sống xứng đáng cho khoảng 10 triệu người, trong khi chúng ta sắp có 80 triệu dân. Phần c̣n lại phải chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Cuộc chuyển hóa này sẽ phải được coi là cố gắng vĩ đại nhất v́ từ ngày lập quốc và sẽ chỉ có thể giải quyết bằng một cố gắng liên tục trong nhiều thập niên. Ngay từ bây giờ những người làm chính sách phải luôn luôn có trong đầu viễn ảnh này.
Cho tới nay, chính quyền cộng sản luôn luôn có một chính sách cư trú mâu thuẫn. Đại hội IV của đảng cộng sản (năm 1976) chủ trương tiến lên sản xuất công nghiệp lớn xă hội chủ nghĩa nhưng đồng thời đảng lại thi hành chính sách đuổi dân ra khỏi thành phố, đưa dân về nông thôn hay đi các vùng kinh tế mới. Cho đến ngay bây giờ chuyển hộ khẩu về miền quê vẫn là chuyện dễ đàng, ngược lại chuyền hộ khẩu từ nông thôn ra thành phố vẫn là chuyện đội đá vá trời.
Nông thôn Việt nam từ lâu đă dư người rồi và càng ngày càng dư người hơn nữa. Thêm người ở nông thôn chỉ có tác dụng chuyển sự nghèo khổ từ thành thị về nông thôn, cho khuất mắt các vị lănh đạo chứ không giải quyết được ǵ cả. Không những không giải quyết được ǵ cả mà c̣n làm giảm năng suất nông nghiệp. Đông người quá th́ không thể cơ giới hóa và c̣n phải hạ thấp mức cơ giới hóa đề sử dụng lao động dư thừa, mà đă không cơ giới hóa th́ năng suất dĩ nhiên là thấp. Năng suất trung b́nh của ngành trồng lúa chỉ là 3,5 tấn hàng năm cho một héc-ta trong khi ruộng đất Việt nam có thể đạt năng suất 6 tấn.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh

 

Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ chúng ta gặp một trở ngại lớn: khí hậu. Chúng ta là một nước nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất là ở miền Nam. Sự phá hủy cây rừng từ nhiều năm nay, và vẫn chưa chấm dứt hẳn dù rừng không c̣n bao nhiêu, lại càng cho khí hậu thêm phần gay gắt khó chịu.
Khí hậu nóng làm cho con người uể oải, thiếu quyết tâm và mất kiên nhẫn. Các nước phát triển mạnh thường không phải là những nước nhiệt đới. Singapore là một ngoại lệ, nhưng Singapore không phải là một quốc gia theo đúng nghĩa của nó, mà là một thành phố và một hải cảng. Vả lại, đó là một đảo, được biển bao quanh và nhờ vậy gió biển cũng làm dịu bớt khí hậu, như tại Mă Lai. Có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định phát triển là đặc tính của các nước hàn đới và ôn đới. Bắc Mỹ phát triển hơn hẳn Nam Mỹ, Bắc Âu vượt hẳn Nam Âu. Các nước châu á phát triển mạnh cũng thé: Nhật, Triều Tiên, Hương Cảng, Đài Loan và có lẽ sau này Hoa Lục, cũng đều là những nước lạnh, hoặc ít ra không nóng. Có những nhà nghiên cứu xă hội lớn, như Max Weber và Alain Peyrefitte, không tin như vậy và giải thích bằng lư do văn hóa. Bắc Mỹ và Bắc Âu, theo họ, phát triển được nhờ tư tưởng Tin Lành phóng khoáng, trong khi Nam Mỹ và Nam ăn không phát triển v́ ảnh hưởng giáo điều thủ cựu của Công Giáo. Phân tích này có phần đúng, nhưng cũng có thể giải thích rằng tại v́ miền Bắc Âu lạnh, mà con người có nhiều sâu, phát triển óc phê phán và sáng tạo rồi chấp nhận Tin Lành.
Dầu sao th́ khí hậu nóng cũng vẫn là một trở ngại lớn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đồng ư các vùng bờ biển phát triển mạnh hơn các vùng lục địa. Biển là kho tàng hải sản vô tận, là sự nới rộng của bờ cơi, và, quan trọng hơn hết, là khả năng giao thông vận tải quan trọng và quí giá vô cùng.
Khi vừa mới tốt nghiệp kỹ sư, tôi làm việc cho hăng Pechiney, công ty đứng hàng thứ nh́ thế giới và thứ nhất tại châu Âu vào đầu thập niên 1970 về kỹ nghệ nhôm. Pechiney nhập cảng quặng nhôm từ úc và châu Phi. Nhà máy luyện nhôm nơi tôi làm việc nằm ở trung tâm nước Pháp, cách cảng Marseille chừng 400 km. Chi phí chuyên chở bằng đường biền từ úc tới Marseille gần 20.000 km, nhẹ hơn chi phí chuyên chở 400 km đường sắt từ Marseille đến nhà máy.
Ưu thế bờ biển - lục địa quan trọng không kém ưu thế lạnh - nóng. Người ta có thể quan sát rằng từ hai mươi năm nay tại Trung Quốc, vùng duyên hải đă phát triển vượt hẳn vùng lục địa. Ưu thế của bờ biển càng rơ nét trong trường hợp Trung Quốc nếu người ta nhớ lại rằng trong thập niên 1950 Mao Trạch Đông đă cho thi hành kế hoạch đệ tam tuyến, chuyển hết kỹ nghệ vào lục địa đề pḥng ngừa một cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ. Kế hoạch này đă biến Trùng Khánh thành thành phố đông dân nhất Trung Quốc, nó đă làm phá sản các vùng bờ biển.
Biển cũng làm cho khí hậu nóng bớt đi rất nhiều phần gay gắt. Nhờ biển và gió biển, khí hậu nước ta dễ chịu hơn nhiều so với khí hậu ở cùng vĩ độ tại Lào và Thái Lan. Trừ một vài tháng đặc biệt, ở vài nơi và trong vài năm khác thường, hàn thử biểu ít vượt quá 35oC. Nhiệt độ trung b́nh những tháng nóng nhất của nước ta chỉ là 28 hoặc 29 oC, nghĩa là một nhiệt độ tuy không thoải mái nhưng vẫn c̣n chịu đựng được.
Chúng ta có rất nhiều bờ biển và biển của ta rất tốt. Bờ biển của ta dài 3.200 km, c̣n dài hơn cả chiều dài thực sự của nước ta. Cả nước ta là một dải bờ biển, điểm sâu nhất trong đất liền tại miền Bắc là 600 km, trung b́nh bề dày của đất nước ta là 150km, tại Đồng Hới (Quảng B́nh) bề dày này chỉ có 50 km. Dọc theo bờ biển, chúng ta có khả năng thiết lập vô số hải cảng tốt. Hiện nay ta mới chỉ sử dụng một phần rất nhỏ của khả năng này với các hải cảng: Hải Pḥng, Vinh, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Sài g̣n. Tiềm năng hải cảng hứa hẹn một tương lai xán lạn cho kỹ nghệ đóng tàu, bảo tŕ và sửa chữa tàu và chuyên chở hàng hải. Những ngành này cho tới nay ta hoàn toàn không khai thác. Tuy có nhiều cảng thiên nhiên nước sâu, nhưng nói chung bờ biển nước ta lại rất xoải và có cát mịn, đo đó chúng ta có nhiều băi biển thiên nhiên tuyệt vời. Đó là những tiềm năng du lịch nếu được khai thác sẽ đem lại một nguồn lợi rất lớn v́ bờ biển của ta giữ nhiệt độ quanh năm trên 25 oC. Chúng ta là cửa mở ra Thái B́nh Dương của cả bán đảo Trung-ấn. Người ta có thể làm việc và kiếm tiền ở Thái Lan, Lào, Vân Nam, nhưng người ta bắt buộc phải nghỉ ngơi và tiêu xài tại bờ biển Việt nam. Kỹ nghệ du lịch của nước ta, nếu được phát triển đầy đủ, trong trung hạn có khả năng thu hút vài chục triệu du khách mỗi năm, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người trong ngành du lịch cũng như trong các ngành liên hệ. Vùng biền thuộc lănh hải Việt nam có khả năng cung cấp hai triệu tấn cá mỗi năm. Bờ biển dài và thuận lợi của Việt nam cho phép đánh bắt thêm dễ dàng một trọng lượng cá tương đương trên biển cả. Ngư nghiệp và công nghiệp thực phẩm do nguồn hải sản cho phép ta nuôi sống một số người tương đương với nông nghiệp.
Bờ biển miền Nam c̣n cho ta một tiềm năng nuôi tôm cá rất quan trọng mà ta hiện chỉ khai thác được một phần rất nhỏ. Ngoài ra, vùng Đồng Tháp thuộc đồng bằng Nam Bộ, với nguồn nước và nguồn cá to lớn của sông Mê Kông, c̣n là một tài nguyên lớn lao nuôi cá nước ngọt mà ta hầu như chưa khai thác. Biển là tài sản quí báu nhất của non sông hoa gấm, có khả năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng không phải ta chỉ có biển tốt mà ta c̣n có một vị trí vô cùng thuận lợi. Chúng ta là đường ra biển của Cam-bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-nam Trung Quốc, chúng ta nằm sát các trục giao thông hàng hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng phát triển mạnh. Chức năng thiên nhiên của ta do biển đem lại là chức năng của một nước du lịch, công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ. Nguồn lợi chính mà biển đem lại là nguồn lợi của giao thương với thế giới.
Nhưng muốn phát huy chức năng đó, điều bắt buộc tự nhiên là ta phải hội nhập với thế giới, có một chế độ chấp nhận được cho cả thế giới. Nghĩa là dân chủ.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Nước non ngh́n dặm (II)

 

Cái cảm giác nước non ngh́n dặm là có thực, và có ba lư do khiến cho người Việt, ngay cả khi có số liệu rơ ràng trong tay, vẫn có cảm giác đất nước xa xôi, bao la. Lư do thứ nhất là v́ nước ta dài thực, dài 2500 km từ Bắc tới Nam, chiều dài đó khiến cho các miền của đất nước khác nhau về địa h́nh, địa chất, về khí hậu và cả về con người. Chúng ta chỉ có một điểm giống nhau lớn và cũng là một điều may: chúng ta nói cùng một ngôn ngữ thuần nhất. Toàn bộ 85% dân số được gọi là người Kinh sử dụng tiếng Việt, và càng ngày số người của 15 % c̣n lại thuộc cấc sắc tộc ít người sử dụng được tiếng Việt càng thành đa số.
Ngay từ miền Thượng Du Bắc Việt xuống đồng bằng sông Ḥng kế cận nhau mà con người và cách sinh sống đă rất khác biệt rồi. Vào đến miền Trung với những cánh đồng dài, hẹp và khô cằn, khí hậu và con người lại khác, ngay cả giọng nói nhiều khi cũng khó hiểu đối với người miền Bắc hay miền Nam. Giữa miền Trung và miền Cao Nguyên Trung Phần, mà hiện nay được gọi bằng danh xưng khó hiểu là Tây Nguyên, sự khác biệt trước đây c̣n lớn hơn cả giữa đồng bằng sông Hồng và miền Thượng Du Bắc Việt. Vào đất miền Nam mưa nắng hai mùa, với những cánh đồng thẳng cánh c̣ bay, th́ cảnh trí lại càng khác, và con người cũng khác.
Lư do thứ hai là người Việt nam ta, do truyền thống nông nghiệp, do chiến tranh và do chính sách kiềm soát cư trú và hạn chế đi lại của chính quyền, không hay di chuyển. Đối với một người ở Thái B́nh, Huế và Sài G̣n cũng xa xôi như Paris. Sự thiếu di chuyển không những làm cho nhận thức hạn hẹp và lệ thuộc vào thành kiến, mà c̣n tạo ra một tâm lư từ chối t́m hiểu đất nước ḿnh.
Nước non ngh́n dặm cũng là nước non rất xa xôi, không liên hệ ǵ đến tôi ngoại trừ việc các quan chức bắt tôi phải đóng thuế và bắt con tôi đi lính!
Lư do thứ ba là sự coi thường môn địa lư của trí thức Việt nam. Trí thức Việt nam chủ yếu học đề thi lấy bằng chứ không phải lấy kiến thức nên chỉ chú trọng học những môn cần cho thi cử. Địa lư không phải là một trong những môn đó. ở trung học, không có môn học nào chán bằng môn địa lư. Thầy cũng dốt, học tṛ cũng dốt, sách lại dở. Trong các kỳ thi, môn địa lư chỉ có một hệ số không đáng kể. Những người điều khiển đất nước, bất luận chế độ nào, và ngay cả các chuyên viên về kế hoạch cung chỉ có một sự hiểu biết rất đại khái và mơ hồ về địa lư của đất nước.
Không nói ǵ xa xôi, ngay tại Sài G̣n cũng rất ít người biết rằng vào mùa thu cả một miền Đồng Tháp biến thành một biển nước ngọt mênh mang, sâu tới sáu mét, tàu biển cỡ trung b́nh chạy dễ dàng. Cũng rất ít người Sái G̣n biết rằng nông thôn miền Tây Nam Phần có một quan hệ nam nữ tự do vào bậc nhất thế giới. ở đây rất ít đàn ông nào chỉ có một vợ - con số trung b́nh là ba - và cũng khó kiếm ra một người đàn bà nào chỉ có một dời chồng. ở đó người ta hỏi nhau một cách tự nhiên Xin lỗi thím Tư, thức Tư là vợ cưới hay vợ dắt? Cưới hay dắt không quan hệ lắm. Con trai tới tuổi thanh niên gặp bạn gái vừa ư có thể dắt về nhà ở chung với cha mẹ. Sau một thời gian, nếu không hạp, bà mẹ không có thể dắt cô con dâu về trả lại cho cha mẹ. Trai gái làm quen nhau dễ dàng, luyến ái dễ dàng và chia tay nhau cũng rất dễ dàng.
Trong khi ở mọi nước phát triển môn địa lư được coi là tối quan trọng th́ tại Việt nam nó lại bị coi thường quá đáng. Sự thiếu hiểu biết về địa lư đất nước cũng là một trở ngại lớn cho những nhận thức. Chính v́ không hiểu địa lư nước ta mà cho tới nay nhiều người vẫn tự hào rằng ta đă giữ được nước v́ ta oai hùng chứ không phải v́ nhờ lănh thổ có núi ngăn chia. Chính v́ thiếu kiến thức địa lư mà cho tới nay, trong những đề nghị về phát triển kinh tế, người ta chỉ thấy những chính sách chung cho cả một nước, như thể là tỉnh Ḥa B́nh có thể phát triển theo cùng một mô thức với Minh Hải. Tôi c̣n được đọc một đề nghị phát triển cho cả nước và cho suốt thế kỷ có thể kiến thức địa lư có trong đầu óc những người làm kế hoạch và những chuyên viên nhưng nó chưa hiện diện đủ mạnh đề ảnh hưởng đến cách suy nghĩ.
Xin nêu hai thí dụ.
Nếu có phản xạ của nhà địa lư th́ không thể có một đồng thuận kỳ quặc là cả nhà cầm quyền lẫn các chuyên gia mỗi khi có dịp đều bày tỏ quan điểm lo âu về một hiểm họa rời bỏ nông thôn (exode rural) của dân chúng. Thế rồi các chuyên gia lên tiếng báo động, và nhà cầm quyền khuyến khích hay bắt buộc dân chúng di dân về miền quê. Đó là v́ chúng ta nhắc lại những ǵ đă được các chuyên gia viết ra cho các nước châu Mỹ La Tinh hay Pháp. Và một số nước tương tự, nơi mà nhiều khu đất mầu mỡ ph́ nhiêu bị nông dân rời bỏ. Không làm ǵ có một mối nguy như thế tại nước ta. Trăi lại chúng ta cần một exode rural. Hiện nay hơn sáu mươi triệu người Việt nam sống nhơ nông nghiệp trong khi ruộng đất của chúng ta chỉ đủ cho từ năm tới mười triệu người. Ta cũng không c̣n rừng để phá. Rừng của ta đă bị phá quá nhiều rồi, và vong hồn rừng đang báo oán chúng ta: lũ lụt đă trở thành thông lệ hàng năm tại miền Trung, kế tiếp là hạn hán v́ không c̣n rừng để giữ nước nữa. Nông thôn của ta quá dư người, mà đông người quá th́ không thể dùng nhưng phương pháp canh tác hiện đại được và năng suất sẽ thấp măi măi. Chức năng của chúng ta là chức năng của một nước ngư nghiệp, hàng hải, công nghiệp và dịch vụ. Cằn tổ chức cho nông dân rời nông thôn. Đi đâu và làm ǵ là một vấn đề khác sẽ được bàn tới trong một phần sau. Nhưng ngay từ bây giờ không nên ngăn cản người dân rời nông thôn. Trong giả thuyết xấu nhất ta cũng có thể nói như thế này: hiện nay với sáu mươi triệu người ở nông thôn chúng ta không đủ gạo ăn (ta có xuất cảng gạo nhưng bù lại một tỷ lệ quan trọng dân chúng lại thiếu đói), nếu chỉ có năm triệu người tại nông thôn thôi ta sẽ có năng suất cao, sản xuất dư gạo cho một trăm triệu người và c̣n có thể dư thừa đề xuất khẩu.
Một thí dụ thứ hai về sự thiếu ư thức địa lư có thể t́m thấy trong nhiều dự đoán dài hạn. Mọi người h́nh như đều lo âu về sự nghèo khó tại miền Trung. Đó là một lo âu chính đáng, nhưng là một vấn đề tương đối ngắn hạn. Trong cuộc chuyển hóa bắt buộc ta từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ, với hai ngành phụ là nông nghiệp và ngư nghiệp, bản đồ kinh tế của ta sẽ dần dần thay đổi, và trong vài thập niên nữa sẽ thay đổi hẳn (với điều kiện là nước ta vẫn c̣n tồn tại, một điều không hoàn toàn chắc chắn, trái với sự yên tâm chắc nịch của đại đa số người Việt!). Các tỉnh miền Trung nhờ bờ biển sẽ là những vùng phát triển mạnh nhất, trong khi vùng đồng bằng sông Hồng và miền Tây Nam Phần, nghĩa là những vùng nông nghiệp c̣n lại, sẽ tụt hậu v́ giới hạn tự nhiên của nghề nông và v́ t́nh trạng đất hẹp người đông.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Mưu sự tại nhân...

 

Độc giả đọc tới đây có thể rút ra một kết luận tương đối bi quan. Chúng ta đất hẹp, người đông, thiên nhiên bị tàn phá, lại đang rất nghèo nàn lạc hậu. Lợi thế của chúng ta là biển và vị trí th́ lại hầu như hoàn toàn chưa được khai thác và dân ta c̣n phải học hỏi nhiều mới có thể sử dụng được. Như thế có lẽ tương lai của ta mờ mịt lắm. Tôi xin cảnh giác trước độc giả về hai điều mâu thuẫn với nhau. Điều thứ nhất là độc giả sẽ c̣n phải chờ đợi ở những phần sau nhiều yếu tố tiêu cực hơn nữa, việc kiềm kê những điểm yếu của nước ta mới chỉ bắt đầu mà thôi. Điều thứ hai là, ngược lại, tất cả những nhược điềm vừa kể về địa lư thiên nhiên thực ra không quan trọng lắm và không đáng khiến ta phải quá bi quan, nhất là địa lư của chúng ta cũng không đến nỗi quá bất lợi.
Xin dẫn chứng một câu chuyện có thực mà tôi đă sống. Trại học tập cải tạo của chúng tôi ngoài các sĩ quan công chức của chế độ cũ ra c̣n có cả một số thường phạm. Điều đó chứng tỏ là chúng tôi là tù chứ chẳng phải là cải tạo viên ǵ cả. Số tù thường phạm gồm đủ loại: móc túi, đánh bài, buôn lậu, ăn trộm, ăn cướp và có một số cán bộ cộng sản bị phạt tù v́ những lư do ngoài chính trị thí dụ như một anh được sĩ bán thuốc nhà nước cho chợ trời, một anh đại đội trưởng bắn chết người.
Trong số những thường phạm có Nguyễn Văn Khánh, một thành phần bất hảo rất nguy hiểm bị giam chung với tôi. Khánh là cháu ngoại Sáu Cường, vơ sĩ khét tiếng miền Nam hồi thập niên 1930 đă từng thi đấu nhiều lần và chưa hề thua ai bao giờ. Mẹ Khánh cũng là một cao thủ vơ lâm với cuộc sống rất phóng đăng. Khánh nói với tôi: Ông thầy biết không, mẹ tôi đă qua tất cả mọi binh chủng . ư Khánh muốn nói mẹ nó đă chung chạ với rất nhiều người, trong đó có những quân nhân thuộc mọi binh chủng của quân đội miền Nam. Khánh cũng như các anh em của nó đều mang họ mẹ v́ không biết cha là ai. Khánh vạm vỡ khỏe mạnh và lúc nào cũng sẵn sàng ẩu đả, lại sân có máu con nhà vơ nên chẳng sợ ai cả. Lúc đó Khánh mới 20 tuổi mà thành tích đă ghê gớm, không biết bao nhiêu lần vào tù ra khám dưới chế độ cũ và chỉ sáu tháng dưới chế độ cộng sản Khánh đă là bộ mặt rất quen thuộc đối với công an tỉnh Cà Mau. Tất cả là những tội trạng giống nhau : trộm cướp, đánh lộn, đưa dẫn và làm tiền gái bán dâm. Khánh không biết đọc, không biết viết không biết ǵ cả, lại rất lười biếng và chỉ có một trí thông minh dưới mức trung b́nh. Khánh bị bắt trong một đợt càn quét tệ đoan xă hội và bị đưa đi cải tạo vô hạn định. V́ là thành phần bất hảo, gan ĺ, Khánh bị quyện cả hai chân. Lúc vào tù, Khánh chỉ có một bộ quan áo, và dĩ nhiên không có người thăm nuôi. Mẹ Khánh không biết đă lưu lạc nơi nào, các anh em Khánh hoặc đang sống lang thang vô gia cư, hoặc cũng đang ở tù với một tội trạng tương tự như Khánh. Nói chung, Khánh đang ở trong một hiện tại bi đát, không có một tương lai nào và cũng không có ai ưa Khánh đễ có thể d́u dắt, giúp đỡ. Trong một đêm giao thừa Khánh nói với tôi: Cuộc đời tôi tàn rồi! .
Đêm hôm đó, từ chiếc radio của người công an gác đêm vọng ra lời chúc Tết của chủ tịch Tôn Đức Thắng. Cả nước biết ông Tôn Đức Thắng đă xấp xỉ chín mươi tuổi và đă yếu lắm. Tôi hỏi Khánh :
- Mày nói đời mày tàn rồi, thế nếu đổi cuộc đời mày lấy cuộc đời của chủ tịch Tôn Đức Thắng mày có chịu không?
Khánh giẫy nẩy lên:
- Đâu được? Ông nói giỡn sao, ông ấy sắp chết đến nơi rồi.
Cả hai chúng tôi đều phá ra cười.
Th́ ra, cũng như hầu hết mọi người, Khánh quá chú tâm đến những thành công và danh vọng đề quên rằng thực ra điều quí giá nhất trong một đời người là sức khỏe và tuổi trẻ. C̣n sức khỏe và c̣n trẻ là c̣n hy vọng. đối với một đất nước, điều quan trọng nhất là con người, c̣n con người là c̣n tất cả dù t́nh trạng hiện tại ra sao. Bởi v́ con người có thể làm ra tất cả.
Nước Pháp không xa Ḥa Lan. Tôi có nhiều người bạn ở đó, và có cả một nghĩa tử. Năm nào tôi cũng qua Ḥa Lan nhiều lần. Đường đi lại dễ dàng, chỉ cần vài giờ lái xe. Từ cửa nhà tôi tới cửa nhà Đặng Minh Kỷ, phối trí viên của nhóm Thông Luận Ḥa Lan, chỉ có 500 cây số.
Nước Ḥa Lan chỉ rộng bằng một phần mười diện tích của Việt nam, với một dân số 15 triệu. Ḥa Lan có mật độ dân số cao vào bậc nhất thế giới, gần gấp hai lần Việt nam, gấp bốn lan nước Pháp. Ngoài một mỏ khí đốt ở miền Bắc, tại Groningen, Ḥa Lan không có một tài nguyên nào đáng kề cả. Đất của Ḥa Lan thấp hơn mức nước biền nên ngập lụt là một đe dọa thường trực. Tên của nước Ḥa Lan là Nederland, có nghĩa là đất thấp. Đất hẹp và bất lợi, người đông, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, nhưng Ḥa Lan là một thiên đàng hạ giới, do chính con người tạo ra. Người Ḥa Lan thường tự hào: Thượng Đế đă tạo ra thế giới, nhưng chính chúng tôi đă làm ra đất nước này. Hoàn toàn đúng. Dù nhỏ bé về cả đất đai lẫn dân số, nhưng Ḥa Lan là một cường quốc kinh tế. Tổng sản lượng quốc gia của Ḥa Lan trên 300 tỷ USD, gần 15 lần tổng sản lượng của Việt nam với 78 triệu dân, gấp rưỡi tổng sản lượng gộp lại của tất cả lục địa châu Phi với trên 600 triệu dân. Ḥa Lan có mặt một cách tích cực trên mọi thị trường thế giới. Trên thềm thế kỷ 21, ngoại thương của Ḥa Lan cao hơn hẳn ngoại thương của Trung Quốc ngay cả sau hơn hai thập niên theo đuổi chủ trương giàu có là vinh quang, gấp năm lần ngoại thương của ấn Độ và lúc nào cũng xuất siêu. Các công ty lớn của Ḥa Lan như Philips, Royal Dutch, Unilever có chi nhánh trên khắp các lục địa và tại tất cả các quốc gia phát triển. Nông phẩm của Ḥa Lan, nhất là sữa và thịt, tràn ngập các thị trường châu Âu.
Đất nước Ḥa Lan đẹp đẽ với những xa lộ tuyệt vời chạy qua những cánh đồng xanh tốt, với những đàn ḅ béo mập và những cây xanh rất thẩm mỹ. Ḥa Lan chưa phải trải qua một cuộc cách mạng nào, nhưng Ḥa Lan là một nước dân chủ và tự do nhất thế giới. Không ở đâu con người được quí trọng như ở Ḥa Lan và có lẽ cũng không ở đâu cái thú làm dân lại có thể lớn hơn ở Ḥa Lan. Tôi ưa sang Ḥa Lan v́ những người bạn quí ở đó, nhưng cũng v́ tôi ngưỡng mộ vô cùng đất nước và con người Ḥa Lan. Người Ḥa Lan đă làm cho tôi hiểu một cách âm thầm và chắc chắn rằng mưu sự tại nhân mà thành sự cũng tại nhân. Tôi cám ơn sâu xa và thành thực Ḥa Lan đă cho tôi hy vọng và niềm tin, nhờ đó mặc dầu những khó khăn và trở ngại ngày hôm nay tôi không bao giờ mất niềm tin rằng vẫn c̣n có thể có một nước Việt nam tương lai xứng đáng đề những người Việt hôm nay đầu tư cố gắng và đề cho các thế hệ ngày mai có thể yêu mến và tự hào.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Một dân tộc tinh anh?

 

Trong cuốn sách Việt nam Sử Lược quen thuộc với mọi người, Trần Trọng Kim viết về người Việt nam như sau: Về đằng trí tục và tính t́nh th́ người Việt nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái th́ trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quí sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường th́ nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự ḥa b́nh, nhưng mà đă đi trận mạc th́ cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.
Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có ḷng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.
Trần Trọng Kim, xuất thân là một giáo viên, được gởi đi học và tốt nghiệp Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) tại Pháp. Trường Thuộc Địa Pháp vào đầu thế kỷ này là một trường có tŕnh độ trung học, có mục đích khai mở nền văn minh Pháp nói riêng và phương Tây nói chung cho những trí thức Việt nam dầu tiên để họ về nước phục vụ cho chính quyền thuộc địa. Năm 1911, ông Hồ Chí Minh, lúc đó làm bồi tàu và mới tới Pháp, cũng có làm đơn với lời lẽ thống thiết viện cớ có cha đậu tiến sĩ Hán học để xin vào trường này, nhưng bị từ chối.
Tuy vốn liếng khoa bảng không có bao nhiêu (nhưng vào thời đó tŕnh độ của Trường Thuộc Địa cũng đă là cao lắm rồi), nhưng ông Trần Trọng Kim đă dày công học hỏi và nhờ trí tuệ xuất sắc ông trở thành một học giả lớn. Ngoài kiến thức uyên bác, Trân Trọng Kim c̣n là một người liêm khiết, lương thiện. Ông có uy tín rất lớn trong thời đại của ông. Năm 1945, khi nhật đảo chánh pháp, trả độc lập trên nguyên tắc cho Việt nam, ông Trần Trọng Kim, lúc đó đă về hưu, được vua Bảo Đại mời ra làm thủ tướng theo ư của người Nhật. Sự kiện ông được chỉ định làm thủ tướng là một ngạc nhiên cho rất nhiều người. Phần đông giới theo dơi thời cuộc lúc đó chờ đợi ông Ngô Đ́nh Diệm, một cựu thượng thư, có uy tín, có tham vọng chính trị và nhất là đă giao dịch với Nhật từ lâu. Ông Diệm đă tham gia từ 1941 tổ chức Việt nam Phục Quốc Hội của hoàng thân Cường Để do Nhật đỡ đầu. Người ngạc nhiên nhất chính là ông Ngô Đ́nh Diệm. Thực ra ngay từ khi đỗ bộ vào Việt nam, Nhật cũng đă có ư định dùng Trần Trọng Kim như một lá bài thay thế cho Ngô Đ́nh Diệm, có lẽ v́ họ nghĩ Ngô Đ́nh Diệm là một chính khách sắc bén hơn và có thể đ̣i hỏi họ nhiều hơn là Trần Trọng Kim. Tuy vậy ông Trần Trọng Kim cũng đă dần dần đ̣i hỏi được nơi người Nhật tất cả những nhượng bộ cần thiết. Nếu người Nhật coi Trần Trọng Kim là người không đáng lo ngại th́ người Pháp sau này lại lo ngại Trần Trọng Kim và làm áp lực để Bảo Đại chọn Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng năm 1948 thay v́ Trần Trọng Kim. Sau đó Trần Trọng Kim qua Phnom Penh sống với người con gái, ông mất vài năm sau đó, khi vừa trở về Việt nam.
Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đời chính trị của ông trong thiên hồi kư ngắn Một cơn gió bụi . Có lẽ những ai có ư định viết hồi kư đều nên đọc cuốn sách nhỏ này trước đă. Đó thực sự là một cuốn hồi kư. Nó được viết một cách thực thà, lương thiện, rành mạch, điều ít thấy trong các cuốn hồi kư khác. Hồi kư là một loại sách đặc biệt. Nó có tác dụng chính, và có thể nói là duy nhất, là ghi chép các sự kiện đễ làm chứng cho một giai đoạn. Đ̣i hỏi duy nhất của nó là phải trung thực, phải có giá trị của một tài liệu. Người Việt nam, nhất là các tướng tá quân đội miền Nam cũ, hay dùng hồi kư đề bóp méo sự thật, tán dương hay chạy tội cho ḿnh, bôi nhọ người khác. Những hồi kư như vậy không thể dùng làm tài liệu. Trần Trọng Kim được mọi người kính trọng, người ta kính trọng kiến thức của ông và người ta c̣n kính trọng hơn nơi ông nhân cách của một trí thức chân chính. Nếu không phải Trần Trọng Kim mà một người khác viết ra những ḍng trên, th́ chắc chắn sẽ bị cả một loạt bài đả kích và mạt sát thậm tệ v́ đă dám coi thường người Việt Nhưng v́ là do Trần Trọng Kim viết ra nên không ai căi lại, và hầu hết nh́n nhận là đúng. Tôi cũng có đọc trong nhiều cuốn sách cũ của các học giả Pháp một nhận định tương tự như vậy về người Việt, không biết có một sự tham khảo nào không. Điều chắc chắn là Trần Trọng Kim chỉ viết những điều ông tin là đúng.
Nói chung, Trần Trọng Kim nhận định người Việt nam có cấu tạo cơ thể tốt có trí óc tương đối tốt, siêng năng, hiếu học, biết trọng đạo đức, nhưng tâm lư th́ rất dở. Ông không nói người Việt Nam nói chung có yêu nước hay không, đó cũng là một điều lạ trong cuốn sách sử.
Tôi đă đề cập phần trước tới nước Ḥa Lan như là một kỳ quan của thế giới. Quan sát kỹ người Ḥa Lan, thành thực tôi không thấy họ thông minh hơn người Việt, hay có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Họ cũng không chăm chỉ hơn người Việt nam, hay có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Vậy mà họ đă tạo nên được quốc gia đáng phục nhất thế giới. Tôi làm việc với người Pháp và cũng đi tới một nhận định tương tự. Riêng người Anh th́ phải nói tuy họ có nét độc đáo riêng, nhưng trí tuệ của họ cũng chỉ xấp xỉ như người Ḥa Lan và người Pháp, ngoài ra họ lười biếng hơn hẳn người Việt nam.
Vậy mà tại sao các quốc gia đó giàu mạnh đến thế, trong khi nước ta nghèo nàn lạc hậu và tang tóc đến thế.
Khi một máy vi tính hoạt động dở th́ chỉ có hai giải thích : một là cái hardware (phần vật liệu hay phần cứng) của nó dở, hai là cái software (phần trí liệu hay phần mềm) của nó dở. Chất liệu, nghĩa là cấu tạo cơ thẻ và trí óc của người Việt nam tốt. Vậy th́ phải chăng cái software, nghĩa là cái văn hóa và tâm lư, của người Việt nam tồi dở? Tôi tin như thế. Một người bạn tôi sau hơn một thập niên làm cố vấn cho các chính phủ châu Phi đă chỉ rút ra được một kết luận rơ nét: các nước đó không vươn lên được v́ trở ngại văn hóa và tâm lư.
Đọc những bài đóng góp gần đây của các tác giả Việt nam về vấn đề phát triển đất nước, phần đông có giá trị, nhiều bài rất xuất sắc tôi ít thấy đề cập đến yếu tố tâm lư (hay văn hóa cũng thế v́ tâm lư và văn hóa rất gần nhau), trong khi đó tất cả các nhà bác học có thẩm quyền ở tam vóc thế giới về vấn đề phát triển đều coi yếu tố tâm lư là ye~u tố cốt lơi. Nhiều tác giả c̣n gọi phát triển là một cấu trúc tâm lư (structure mentale).
Tâm lư của một dân tộc, nhiều người thích dùng cụm từ hồn tính dân tộc, một phần do điều kiện thiên nhiên tạo thành, nhưng một phần lớn là do các giá trị đă được nh́n nhận từ lâu đời và đă tạo ra một nếp sống. Các giá trị ấy h́nh thành có khi do sự khám phá trong cuộc sống của dân tộc, có khi được du nhập và hấp thụ, được kiểm chứng và xét lại theo kinh nghiệm lịch sử. Lịch sử v́ thế đóng vai tṛ quan trọng trong sự h́nh thành tâm lư dân tộc. Lịch sử là trí nhớ tập thể của dân tộc, một nguồn tài liệu và gợi ư. Lịch sử cũng là tấm gương đề một dân tộc nhận diện được ḿnh, hiểu ḿnh, biết ḿnh nên làm ǵ và có thể làm ǵ. Muốn như thế, lịch sử phải chính xác và cũng phải được phân tích và khai thác một cách sáng suốt và khách quan.
Nhưng một mặt lịch sử của ta không chính xác, và, mặt khác, chúng ta rút ra từ lịch sử những kết luận và những bài học sai lầm.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Một dân tộc hiếu học?

 

Người Việt nam rất hiếu học. Tính hiếu học của người Việt là có thực. Điều này mọi người đều đồng ư và chính tôi cũng có thể kiểm chứng trong những môi trường mà tôi đă sống và những người mà tôi đă biết, ngay cả trong gia đ́nh tôi.
Tại trung học Trần Lục, nơi tôi theo học từ đệ thất (lớp 6 bây giờ) tới đệ Tứ (lớp 9), các học sinh phần lớn là di cư từ ngoài Bắc vào, chính trường Trần Lục cũng là một trường di chuyền từ Phát Diệm vào. Trường do các linh mục Phát Diệm thành lập và mang tên linh mục Trần Lục, c̣n gọi là cha Sáu, một tu sĩ có đức hạnh và rất tha thiết với văn hoá Việt nam. Ông Trần Lục có làm một tập thơ, mà tôi không nhớ tên, giáo huấn về đạo đức. Ông cũng xây dựng một nhà thờ lớn theo kiến trúc cổ truyền Việt nam được coi là rất thành công về nghệ thuật. Nh́n trên ảnh, nhà thờ này giống như một ngôi chùa. Tôi vào học trường Trần Lục v́ một lư do t́nh cờ. Anh em tôi sau tiểu học định thi vào trường Chu Văn An, trường mà mẹ tôi vẫn ca tụng là hay và mơ ước chúng tôi sẽ học tại đấy. Nhưng năm đó, bà có ư định mua một căn nhà trong một ngơ hẻm gần Tân Định nên chúng tôi thi vào Trần Lục để đi học cho gần. Về sau tuy việc mua nhà này không thành chúng tôi vẫn tiếp tục học ở đó. Lúc đó là những năm 1955-1956, các học sinh trừ một hai ngoại lệ, đều rất nghèo, gia đ́nh họ vốn đă không giàu có lại mất hết của cải trong đợt di cư nên càng nghèo. Đă thế, trường Trần Lục lại là một thứ trường tầm gửi, một thứ trường không có trường, phải học nhờ trường tiểu học Đồ Chiểu. Giải pháp t́m ra là học buổi trưa. Trường tiểu học Đồ Chiểu học sớm đi một chút buổi sáng và trễ một chút buổi chiều. Trường Đồ Chiểu tan học buổi sáng, vào lúc 10g30, trường Trần Lục học từ 10g30 đến 14g30, rồi trường Đồ Chiểu lấy lại trường sau đó. Học buổi trưa là cả một cực h́nh dưới trời nóng gay gắt. Cả thầy lẫn tṛ đều mệt mỏi, học sinh phần lớn đều không có tiền mua sách, có khi c̣n thiếu cả tiền mua vở và bút. Một cây bút ch́, một quyển vở đều quí báu cả. Hầu hết các gia đ́nh chúng tôi đều ở trong những căn nhà lụp xụp, nhiều nhà không có điện, tối phải thắp sáng bằng đèn dầu, vừa học vừa đập muỗi. Những buổi tập thể dục mặc quần xà lỏn để lộ đùi ra th́ thấy đứa nào cũng đầy dấu muỗi chích. Vậy mà cả trường đậu học hành chăm chỉ và đậu giỏi cả.
Trong khu tôi ở cũng có nhiều học sinh, họ không sáng dạ lắm nhưng học chăm chỉ một cách kỳ lạ, họ học tới khuya, nhiều người uống thuốc Maxiton cho đỡ buồn ngủ. Tờ mờ sáng họ đă thức dậy, học to tiếng để chống buồn ngủ, tiếng họ học đánh thức anh em tôi dậy. Có nhưng anh đă bắt đầu luyện thi tú tài khi tôi mới lên trung học, đến khi tôi đậu xong tú tài họ vẫn rớt dài dài, nhưng vẫn tiếp tục học. Có chí th́ nên, khi tôi ở Pháp về, sau 12 năm vắng mặt, phần lớn đậu đă tốt nghiệp đại học làm giáo sư, luật sư, được sĩ. Điều không may cho họ là trong thời gian 12 năm ấy xă hội miền Nam đă đổi mới, nhưng nghề trí óc không c̣n vinh hiển nữa và họ không sung túc bao nhiêu sau những cố gắng thật phi thường. Người khá nhất trong bọn họ là một anh thi măi không đậu tú tài đi làm bánh ḿ, sau trở thành chủ. Những lần đi ăn nhậu với nhau anh ta đều trả tiền.
Tôi học xong đệ tứ th́ bỏ trường Trần Lục đi làm ban ngày, buổi tối theo học lớp Khuyến Học Bổ Túc của Hội B́nh Dân Giáo Dục và lại gặp một loại người khác. Họ là công chức, quân nhân, muốn lấy thêm một mảnh bằng để thăng tiến, là những người đă di làm, và phần lớn đă có gia đ́nh, muốn có thêm học vấn, hay những học sinh nghèo ban ngày phải đi làm kiếm tiến. ở hàng đầu là các cô phần lớn đă đi làm, có người đă có chồng con. Trong một lớp bên cạnh có ông Cao Văn Viên, sau này là đại tướng tổng tham mưu trưởng Quân Lực Việt nam Cộng Ḥa. Họ học say mê, miệt mài mặc dầu học rất khó khăn.
Lớp học của tôi sau này có nhiều người khá thành công. Trương Văn Vân sau học khoa học rồi t́nh nguyện đi sĩ quan Dà Lạt, làm tiểu đoàn phó binh chủng Dù, vợ Vân là Thúy, do tôi giới thiệu làm được sư, con một thương gia giàu có, học tṛ cũ của tôi lúc tôi đi dạy kèm để kiếm tiền. Vân đi học tập cải tạo 12 năm sau ngày 30-4-1975. Vân và Thúy hiện định cư ở Seattle, Hoa Kỳ. Nguyễn Thiện Tường sau làm luật sư. Tường thi rớt tú tài 1, tôi phải dành cả mùa hè năm đó đễ kèm Tường. Chúng tôi hẹn nhau ở mái hiên sau của Thư Viện Quốc Gia, bên cạnh trường Petrus Kư và Chu Văn An, nơi có một số bàn ghế vứt bỏ. Tôi đem theo tiễu thuyết đễ đọc Tường ngồi học bên cạnh, có ǵ bí th́ hỏi tôi. Anh của Tường là Nguyễn Thiệu Hùng cũng là một gương hiếu học. Anh đậu tú tài trước chúng tôi và đi dạy trung học vừa học văn khoa. Không những thế, anh c̣n làm thơ và làm thơ hay. Tập thơ Bốn Mươi Bài Thơ của Hùng (bút hiệu Mai Trung Tĩnh) làm chung với Lê Đức Vượng (bút hiệu Vương Đức Lệ) được giải nhất Thơ Văn Toàn Quốc năm 1960. Nguyễn Thiệu Hùng và Lê Đức Vượng gần đây tham gia nhóm Diễn Dàn Tự Do với Đoàn Viết Hoạt và bị bắt. Tháng 7- 1993, Hùng bị kết án bốn năm tù, Vượng bị năm năm. Ra trước ṭa, Vượng chỉ xin chính quyền trả lại cho anh tập thơ hai mươi ngàn bài mà anh đă sáng tác trong gần hai mươi năm qua, nhưng chính quyền trả lời là tập thơ đă thất lạc.
Trịnh Văn Thi sau này tốt nghiệp cử nhân luật, làm thiếu tá cảnh sát, không biết bây giờ ở đâu. Đinh Văn Hoạt cũng tốt nghiệp cử nhân khoa học, vừa làm giáo sư vừa dạy vơ Việt nam.
Một hôm đi ăn tiệm ở Paris, ông chủ nhận ra tôi, rồi tự giới thiệu là Nguyễn Văn Ngọ, học lớp bên cạnh, cùng với ông Cao Văn Viên. Ông ta sau này cũng đậu cử nhân luật, làm tham vụ ngoại giao và ở nước ngoài nên thoát nạn ngày 30-4-1975. Chính ông Viên, sau khi đậu tú tài và làm tướng vẫn tiếp tục học và đậu cử nhân văn chương.
Mỗi lần hồi tưởng lại thời gian ấy, tôi vẫn cảm thấy một sự cảm phục xâu xa và một niềm hănh diện vô cùng về tính hiếu học của người Việt. Tôi c̣n nhớ măi đôi mắt quầng thâm của chị bạn ngồi bàn trên tôi. Có lẽ chị đă thức đêm nhiều lắm để học. Tôi vẫn tin tính hiếu học là hy vọng lớn nhất của dân tộc ta để vươn lên.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Một dân tộc sáng dạ?

 

Người Việt nam ta không những chỉ ham học mà c̣n học giỏi. Những trường hợp tôi đă kể cũng đă một phần nào chứng minh điều đó. Nhưng chưa đủ. Ngoài những nhân vật nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hăn, ta c̣n vô số những trường hợp thành công rực rỡ khác.
Nước Pháp mới đặt nền đô hộ trên nước ta từ 1883, th́ chỉ cần tới năm 1900 đă có những người Việt tốt nghiệp các trường lớn nhất tại Pháp. Sang tới thập niên 1920, 1930 th́ đếm không xuể những người tốt nghiệp các bằng cấp lớn. Tôi cũng có thể nh́n thấy sự thông minh của người Việt ngay chung quanh tôi. Tôi đi du học năm 1961, đó là đợt du học sang Pháp thứ hai sau mấy năm gián đoạn. Sau vụ xung đột giữa Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Hinh, rồi vụ B́nh Xuyên, liên hệ giữa Việt nam Cộng Ḥa và Pháp trở nên căng thẳng và Việt nam không c̣n gởi du học sinh sang Pháp nữa cho tới năm 1960. Lúc đầu chỉ những sinh viên thật xuất sắc mỗi năm vài chục. Cho tới năm 1964 mới có phong trào ồ ạt gởi sinh viên qua Pháp, để du học cũng có mà để khỏi phải đi quân dịch cũng có, và tŕnh độ mới sút giảm. Nhưng số sinh viên Việt nam vẫn c̣n rất ít so với các nước thuộc Pháp cũ. Tổng cộng chỉ vài ngàn. Vậy mà chúng tôi áp đảo hẳn các sinh viên ngoại quốc khác Trường khó đến đâu người Việt nam cũng vào lọt, bằng cấp nào sinh viên Việt nam cũng đậu, và thường đậu một cách vẻ vang. Đi du học cùng năm với tôi có khoảng 50 người, trong đó một nửa là đi học bổng, một nửa đi tự túc. Nhóm học bỏng dĩ nhiên trội hơn, nhưng tất cả đều thành công vẻ vang và mau chóng. Ngay cả những người đi sau 1964 không được gạn lọc cũng đậu thành công trong việc học và sau này trong sinh hoạt nghề nghiệp. Người Việt nam không những chỉ sáng dạ trong trường học mà c̣n có khả năng hấp thụ mau chóng các kiến thức trong cuộc sống. Không phải chỉ có những sinh viên mà ngay cả những người b́nh dân cũng chứng tỏ một khả năng học hỏi và suy nghĩ rất lớn. Trong trại cải tạo, chúng tôi thường đánh cờ giết th́ giờ, và nhiều người chẳng có tŕnh độ học vấn nào đáng kể mà đánh cờ cao một cách lạ lùng. Có một anh trưởng ấp chỉ học hết tiễu học mà hạ tôi dài dài, làm tôi có lúc lồng lộn lên v́ đánh cờ vốn là một môn khá của tôi. Trong cả năm trời đụng độ với anh ta, mặc dầu suy nghĩ đủ mọi chiêu pháp, tôi không sao dứt điểm nỗi anh ta, cùng lắm là có qua có lại. Có một anh trung úy thuộc ḷng tất cả mọi bộ kiếm hiệp của Kim Dung, một anh cán bộ xây dựng nông thôn chỉ nghe kể chuyện mà dần dần nhớ hết mọi chi tiết của truyện Tam Quốc. Tôi chỉ kể vài thí dụ, nhưng những thành tích tương tự như vậy có vô số trong đám hơn một ngàn tù binh trong trại. Những năm đi cải tạo cũng là những năm khiến tôi khám phá ra trí thông minh xuất chúng của người Việt.
Năm 1980, lúc đang loay hoay t́m cách vượt biên, tôi gặp Sáu Thinh. Năm 1954 anh ta đă ngoài hai mươi tuổi và đă bỏ học đi theo Việt Minh vài năm trước đó. Anh ta ra Bắc tập kết, vào đảng cộng sản đậu kỹ sư và làm trung tá tại bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân tại Hà Nội, anh ta được ông Giáp quí mến. Vào năm 1975, anh ta mất niềm tin ở chủ nghĩa cộng sản, bắt đầu đề cao dân chủ trong các sinh hoạt đảng, rồi bị hạ tầng công tác dần dần. Sáu Thinh giúp tôi nhiều công việc chuẩn bị. Tôi rất phục Sáu Thinh về sự thông minh của anh ta, nhưng chính anh ta lại kể cho tôi nghe một giai thoại ngộ nghĩnh.
Sau ngày chiến thắng, Sáu Thinh cùng người em, là tiễu đoàn trưởng đặc công và được nhiều huân chương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vinh quang về quê cũ thăm bà mẹ già ở Rạch Giá. Bà mẹ đă ngoài bảy mươi lấy ghe máy chở hai con trai anh hùng dân tộc đi thăm bà con với tất cả hănh diện. Nửa đường bất th́nh ĺnh mấy hư. Hai vị anh hùng ngơ ngẩn không biết phải làm ǵ, bà cụ loay hoay mở bu-gi ra chùi vào quần rồi lắp lại. Máy nổ trở lại và ba mẹ con đi tiếp. Sáu Thinh nói với tôi: Ḿnh vừa phục vừa ngượng, không biết bà cụ học nghề máy lúc nào, ngày ḿnh đi bà chỉ biết làm ruộng.
Trong mấy năm qua lại miền Tây Nam Phần, tôi đă nhiều lần ngạc nhiên về sự khéo léo và nhanh trí của nông dân tại đây. Họ tự sửa chữa lấy máy bơm, máy cày, máy phát điện một cách thật tài t́nh, có khi c̣n đổi cả chi tiết máy để tăng hiệu lực. Vào những năm 1979- 1981, các bộ phận rời rất hiếm, hỏng bộ phận nào nông dân chỉ cần ra khu chợ sẽ có thể tiện làm cho ngay. Do hay mua máy tàu đễ vượt biên, có khi cho chính ḿnh, có khi cho bè bạn, tôi làm quen được với một tổ thợ máy gần Ngă Ba ông Tạ. Tổ hợp này gồm toàn bộ đội miền Bắc xuất ngũ ở lại miền Nam làm ăn, có người đào ngũ. Trước 1975, họ chỉ là những người lính xuất thân từ miền quê Bắc Việt và hoàn toàn không biết ǵ về máy móc. Họ đến với nghề máy chỉ v́ có tư thế bộ đội, đảng viên nên không bị làm phiền phức và có thể di chuyển, chuyên chở dễ dàng những phụ tùng máy dầu lúc đó gần như là đồ quốc cấm. Mới đầu làm chung với những thợ máy miền Nam, về sau, khi những thợ máy miền Nam đă vượt biên hết, họ tự lập. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi họ trở thành những người thợ máy rất lành nghề, nh́n thoáng qua một bộ phận họ biết ngay là thuộc máy nào, mua được không, nếu không th́ chế tạo như thế nào. Một trong những vấn đề nan giải cho máy dầu dùng để vượt biên lúc đó là thiếu những bộ bạc sếch-măng, những ṿng thép tṛn nằm giữa pít-tông và xy-lanh. Bạc phải làm bằng thứ thép thật cứng mà Việt nam không có. Lúc đó bạc nhập cảng đă cạn rồi, mua rất đắt tiền mà cũng may lắm mới có. Dùng bạc nội địa th́ rất nguy hiểm v́ thép không đủ cứng để có thể chịu đựng được sự ma-sát liên tục của pít-tông xấp xỉ một ngàn chuyển động trong một phút. Một tỷ lệ khá lớn các tàu vượt biên bị hư máy giữa đường với những hậu quả bị thảm là do bạc bị gẫy. Tôi thường khuyên các bạn tôi là bằng bất cứ giá nào phải kiếm cho bằng được bộ bạc tốt. Vấn đề sau đó được giải quyết một cách ổn thỏa. Một tổ hợp cơ khí, cũng của các bộ đội gốc miền Bắc, lấy ṇng súng đại bác cưa ra và tiện thành bạc. Không có thép nào cứng bằng thép của ṇng súng đại bác. Việc họ t́m đâu ra ṇng súng lại cả là một bí mật, họ nói đó là những khẩu pháo phế thải, nhưng tôi thấy có những ṇng c̣n mới lắm. Đám anh em này làm tôi cảm phục vô cùng khả năng học hỏi và thích nghi mau chóng của người Việt, mặc dầu không thể tán thành việc họ lấy trộm ṇng đại bác ở kho quân đội ra để tiện làm bạc sếch-măng.
Hơn tất cả mọi tài liệu, sách báo, chính những tiếp xúc với thực tế với những con người đă cho tôi nh́n thấy rơ sự sáng dạ và khả năng thích nghi nhanh chóng của người Việt. Chính v́ thế mà mặc dầu những khó khăn và suy thoái trầm trọng về nhiều mặt ngày hôm nay tôi vẫn giữ được niềm tin vào tương lai đất nước.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Chuồng lợn và cái cày

 

Chúng ta có những con người rất hay, chỉ một thời gian ngắn sau khi người Pháp tới Việt nam đă có những người Việt nam đậu được những bằng cấp cao nhất và khó nhất. Chỉ một vài năm sau khi người Mỹ can thiệp đổ người đổ của vào Việt nam là nông dân miền Nam đă biết sử dụng, sửa chữa máy cày máy bơm. Chỉ cần một năm đă biến anh bộ đội gốc nông dân thành một thợ máy lành nghề. Vài năm cũng đă đủ để các cán bộ tháng 5-1975 c̣n ngồi xổm trên xe hơi, mơ ước một ly cà-phê cái nồi ngồi trên cái cốc và một điếu thuốc thơm có cán biết đ̣i hỏi xe hơi phải có máy lạnh, biết phân biệt các loại cognac ngon nhất và biết đầu cơ trên hối suất đồng đô-la. Người Việt ta học bài rất nhanh, nhưng chúng ta c̣n có ǵ đặc sắc nữa hay không hay chỉ giản dị là những học tṛ giỏi? Đó là một câu hỏi lớn? Có lần ngồi nói chuyện tếu, tôi giảng giải cho một cán bộ miền Bắc rằng con heo và con lợn là hai con vật khác nhau, chứ không phải chỉ là cùng một con vật mà miền Bắc gọi một tên, miền Nam gọi một tên khác.
Tôi nói với anh ta rằng con lợn là một con vật chỉ nặng trung b́nh 50 kí-lô, hay cùng lắm là 70 kí-lô, được nuôi quanh năm bằng bèo và cám, trong những chuồng rơm bẩn thỉu và hôi hám, bố nó là một con lợn con chỉ lớn hơn cái hộp sữa Guigoz một chút, được chọn trong đàn lợn con v́ là con đẹn nhất, yếu nhất không bơ bèo cám để nuôi. Ngược lại, con heo là con vật to lớn, có thể nặng tới 200 kí-lô, và chỉ tám tháng đă đạt tới trọng lượng trên 100 kí-lô. Nó được nuôi không những bằng cám, mà c̣n bằng thức ăn riêng của nó, có khi bằng cơm, bằng khoai, trong những chuồng bằng xi- măng sạch sẽ, có khi ngay trong nhà cùng với người, thỉnh thoảng được tắm rửa. Bố nó là một con heo to lớn, khỏe mạnh, lông rậm như chó, trông rất đẹp, được nuôi nấng rất chu đáo, mỗi khi làm phận sự xong được chủ cho ăn mấy trái trứng sống để lấy sức. Dĩ nhiên là chuyện ngụy biện tếu. Nhưng quả thật cách nuôi lợn tại miền Bắc thật là lạc hậu. Nuôi lợn không hợp vệ sinh, dinh dưỡng kém, chọn giống lại rất tầm bậy. Tại miền Nam, con heo giống, c̣n gọi là heo nọc, là cả một tài sản được chăm sóc chu đáo.
Nó được chọn một cách kỹ lưỡng, có khi cả chục đàn heo không chọn được con nào đáng làm heo nọc, người ta phải đi mua ở xa về. Con heo nọc lúc nào cũng khỏe mạnh, đẹp đẽ. ở ngoài Bắc, con lợn giống lại là con lợn vất đi, nuôi được vài ba tháng, nhảy xong là bị đem làm thịt. Giống đă xấu, thức ăn thiếu thốn, chuồng lại dơ bẩn, lợn ở ngoài Bắc lớn không được và lại hay chết v́ thiếu vệ sinh. Thực ra giống lợn ở ngoài Bắc cũng khác, màu đen, mặt bẹt, bụng cong và dù có nuôi thế nào cũng không đạt được tầm vóc của heo trong Nam được nhập cảng vào từ vài chục năm nay. Nhưng không hiểu tại sao từ ngàn năm nay, người miền Bắc không biết xét lại cách nuôi lợn. Điều đó tố cáo sự thiếu óc sáng tạo và đổi mới của người Việt
Cái cày ở đồng quê Bắc Việt cũng là cả một kỳ quan. Phải chọn một cây thật lớn và thật chắc, cây ổi nếu có thể được. Cái cày to, tṛn và rất nặng, muốn vác cày ra đồng phải khá lực lưỡng. Lưỡi cày tṛn ở dưới, nhọn ở đầu, sức cản lớn, cày lại nặng, khó ăn vào đất, trâu kéo ́ ạch. Con trâu khỏe lâm cũng chỉ cày được ba sào đất mỗi ngày (mỗi sào là 360 m2, ba sào tương đương với một công đất ở miền Nam). Thế mà từ đời này qua đời khác vẫn không ai nghĩ đến việc thay thế cái cày quái đản ấy, đến lúc rời làng ra tỉnh, tôi vẫn c̣n thấy cái cày đó. Trong khi đó tại miền Nam, cái cày được làm bằng một khúc cây cỡ bằng cổ chân, một tay xách cũng được. Lưỡi cày dẹp, bắt đất dễ dàng, trâu kéo nhẹ nhàng. Chỉ một chuyện giản dị như vậy thôi mà ta cũng không thay đổi được. Người Việt ta hễ nh́n thấy th́ bắt chước mau chóng, nhưng phát minh và sáng tạo quả không phải là khả năng của ta.
Người miền Nam, do được thiên nhiên ưu đăi hơn, cuộc sống phong phú hơn và cũng v́ được tiếp xúc nhiều với người nước ngoài nên có phần cởi mở và phóng khoáng hơn, nhưng nói chung vẫn là bắt chước chứ không phải tự ḿnh t́m ra.
Trên các kinh rạch miền Tây Nam Phần, nhà nào cũng làm cầu tiêu trên sông. Thật là gớm ghiếc. Tắm trên sông, rửa chén bát trên sông, giặt quần áo trên sông, đôi khi lấy nước uống trên sông, khi thiếu nước mưa, rồi cũng xả rác và phóng uế xuống sông. Trong khi đó chỉ cần đào một ngày là xong một hầm cầu, tốn kém chẳng bao nhiêu là có một cầu tiêu sạch sẽ. Nhưng đó là một nếp sống mà người ta đă quen rồi và không muốn thay đổi. Một ngày cũng là một ngày, và tại sao nhà này làm trong khi nhà khác vẫn không làm?
Nhưng điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay mọi chính quyền đều không nghĩ đến vấn đề đơn giản này. Năm 1956, các anh tôi học trung học đệ nhị cấp (lớp 10 trở lên) và bắt đầu theo các khóa huấn luyện quân sự. Tôi ṭ ṃ đọc sách quân sự của các anh tôi và thấy có những bài học như cách chống chiến xa, chống máy bay, v. v... Tôi hỏi các anh tôi có phải mục đích của các khóa huấn luyện này là để đào tạo ra các binh sĩ cộng sản để họ chống lại xe tăng và máy bay của phe quốc gia hay không. Lúc đó, và nhiều năm sau này chỉ có Việt nam Cộng Ḥa là có chiến xa và máy bay. Từ năm 1969 trở đi quân đội cộng sản mới bắt đầu dùng chiến xa và cũng chỉ sử dụng ở miền Trung, c̣n máy bay th́ không bao giờ họ dùng. Th́ ra đó là những bài học của quân đội Pháp, bộ tổng tham mưu quân đội miền Nam đem dịch ra để giảng dạy. Thật là bắt chước một cách ngu ngốc. Có khi nước đến chân họ vẫn không biết thích ứng. Tháng 3-1975, sau khi mất Buôn Ma Thuộc và sau cuộc triệt thoái thê thảm tại Cao Nguyên, một số công tư chức trong t́nh trạng hoăn dịch bị gọi ra nhập ngũ. Tôi gặp một anh bạn ở cơ quan của tôi về phép sau hai tuần huấn luyện. Tôi hỏi anh ta tập ǵ, anh ta trả lời rằng chưa tập vũ khí hiện mới chỉ tập mặc quân phục tề chỉnh, xếp hàng, điểm danh, đi theo đội ngũ và thể dục cơ bản. Một tháng sau th́ miền Nam đầu hàng. Những người Việt nam học giỏi và đậu bằng cấp cao th́ rất nhiều, nhưng rất ít ai tín ra được một ư mới, viết ra được một tác phẩm có sáng tạo, sáng chế ra được một cái ǵ, hay khám phá ra một định lư nào. Tôi may mắn biết một số người có phát minh thực sự, nhưng tỷ lệ của họ quá ít. Kết quả là chúng ta vẫn chỉ là những học tṛ. Học tṛ giỏi vẫn là học tṛ.
Chúng ta học th́ giỏi thực, và khi đă học th́ thường hay có thể biến hóa đôi chút, nhưng nói chung trí tuệ của ta h́nh như chỉ dừng ở đó. H́nh như thiếu óc sáng tạo không phải là một đặc tính riêng của người Việt, mà là đặc tính chung của người á Đông, mặc dầu căn bệnh này có phần hơi trầm trọng hơn nơi người Việt nam. Ngày nay Nhật Bản, Cao Ly và Đài Loan đă phát triển mạnh lắm rồi. Nhật Bản và Đài Loan c̣n dư một số tiền lớn không biết đầu tư vào đâu. Họ nhiều phương tiện hơn cả Hoa Kỳ và Tây Âu, nhưng họ không có những phát minh lớn và cũng không có thành công nào đáng kể về nghệ thuật và tư tưởng. Họ vẫn chỉ chạy theo sau người phương Tây, dù là chạy nhanh.
Đầu thập niên 90, nước Nhật khốn đốn với Truyền H́nh Siêu Phẩm (High Definition Television- HDT). Họ cải tiến rất xuất sắc phương pháp truyền h́nh cổ điển theo khái niệm đồng lư (analogic) và đạt tới một h́nh ảnh gần như tuyệt đối trung thực về cả nét lẫn màu. Đó là một tiến bộ lớn nhưng vẫn chỉ là cải tiến cái sẵn có. Họ nghĩ là đă vượt qua được Hoa Kỳ về kỹ thuật truyền h́nh. Nhưng ngay sau đó, Hoa Kỳ t́m ra phương pháp truyền h́nh bằng số (Digital Television-DT). Các h́nh ảnh được ghi nhận bằng số mă. Kết quả là máy truyền h́nh sắp tới của Hoa Kỳ tuy h́nh ảnh chưa được bằng HDT của Nhật - dù cũng đẹp hơn nhiều so với hiện nay - nhưng lại hơn Nhật về mọi mặt. Máy truyền h́nh của Nhật sẽ tốn 10.000 USD và chỉ là một máy truyền h́nh thụ động, trong khi máy truyền h́nh DT của Hoa Kỳ, sẽ chỉ tốn 5.000 USD và sẽ là một computer. Các h́nh ảnh có thể thu trên đĩa cứng như những hồ sơ (files) và có thể phát lại khi nào muốn. Máy truyền h́nh digital có thư viện riêng chứa phim ảnh, tài liệu riêng của mỗi gia đ́nh và cũng có thể tham khảo, tiếp nhận phim ảnh, tài liệu từ nhiều nguồn khác. Nó cũng là một computer của gia đ́nh để đặt hàng, mua hàng, thanh toán v.v. Người Nhật đă mau chóng nh́n nhận sự hơn hẳn quá rơ ràng của phương pháp truyền h́nh mới của Mỹ và bỏ cuộc. Họ đă tốn hàng trăm tỷ USD và bị thua sút Mỹ ít nhất mười năm. Mười năm đối với một đại cường và trong thời đại này là một thảm bại. Lịch sử thế giới của hai thế kỷ nay chủ yếu là lịch sử những cố gắng của phần c̣n lại của thế giới để đương đầu với ưu thế của người phương Tây và h́nh như có một kịch bản cố định: người phương Đông thua kém, cố hết sức bắt kịp người phương Tây, đến khi họ tưởng sắp qua mặt được người phương Tây th́ phương Tây lại t́m ra một phát minh mới và lại bỏ xa họ.
Người phương Tây hơn người phương Đông v́ họ có óc sáng tạo vượt trội. Điều này có thể thấy rơ nếu nh́n qua quốc tịch của những nhà bác học được giải Nobel. So với các dân tộc châu á khác th́ người Việt nam lại c̣n thiếu óc sáng tạo hơn nhiều. Đó là một nhược điểm lớn mà chúng ta phải khắc phục, và phải khắc phục khẩn cấp bằng một cố gắng liên tục và mănh liệt. Sự thiếu óc sáng tạo của người Việt không c̣n là một bí mật đối với ai. Chúng ta đều biết, nhưng chúng ta chưa ư thức được hai điều. Một là chỉ có những con người tự do mới có thể có óc sáng tạo, chúng ta không thể vừa kêu gọi phải sáng tạo lại vừa theo đuổi một chế độ đầy cấm đoán. Hai là thế giới sắp rời kỷ nguyên công nghiệp để đi vào kỷ nguyên của trí tuệ trong đó óc sáng tạo là tất cả, thiếu óc sáng tạo chúng ta sẽ măi măi tụt hậu và chịu sự thống trị của người nước ngoài. Và cũng cần ư thức rằng sự thiếu sáng tạo cũng là nguyên nhân của thảm kịch của chúng ta hiện nay : những người cầm quyền cứ ôm chặt lấy một chủ nghĩa đă phá sản và bị cả thế giới vứt bỏ, không khác ǵ những người nông dân hủ lậu khư khư giữ lấy chuồng lợn và cái cày.
Xét cho cùng th́ ở thời đại nào óc sáng lạo vẫn ở trên tất cả. Thượng đế cũng đă chỉ được tôn thờ v́ Người là tạo hóa, bởi v́ Người sáng tạo.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Hai bằng tiến sĩ

 

Vào năm 1956, ông Hoàng Văn Chí vượt tuyến vào Nam và cho xuất bản cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc cùng với nhiều tài liệu khác mà ông đem vào. Ông đă gây được một sôi nổi lớn tại miền Nam. Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm khai thác triệt để các tài liệu này v́ lúc đó đang phát động chiến dịch tố cộng. Các tài liệu được phổ biến rộng răi. Tài liệu được đặc biệt chú ư là bản tham luận của luật sư Nguyễn Mạnh Tường, từ đó tôi đă được đọc rất nhiều bài nói về ông. Điều làm tôi chú ư là tất cả mọi bài đều ca tụng ông Nguyễn Mạnh Tường đă đậu hai bằng tiến sĩ luật khoa và văn khoa khi mới ngoài hai mươi tuổi. Ngoài ra không thấy nói ông Tường đă đạt được một thành tích nào.
Vài năm trước khi qua đời, ông Nguyễn Mạnh Tường có dịp di Pháp và báo chí hải ngoại lại đề cập đến ông như là một trí thức đă bị cộng sản lừa gạt và ngược đăi. Trong tất cả những bài viết về ông Tường đều có nhắc lại việc ông đậu hai bằng tiến sĩ, thêm vào đó là việc ông đă tỏ ra có khí phách khi viết bài tham luận tố giác những tội ác của vụ cải cách điền địa. Ngoài ra cũng không có ǵ khác
Hồi tháng 5-1994, tôi có viết một bài tham luận về trí thức Việt nam đăng trên báo Ngày Nay, xuất bản ở Houston, Hoa Kỳ. Bài này là một bài tham luận về văn hóa và tư tưởng. Những điều tôi viết đă không làm hài ḷng một số trí thức và đă có một số bài phản ứng. Ông Phạm Nam Sách có viết một bài góp ư trên tờ Thời Luận, xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ. Bài của ông Sách lại đưa đến một bài báo khác kư tên Công Tôn Hoàng, chắc chỉ là một bút hiệu, đả kích cả ông Sách lẫn tôi. Tác giả cho biết chỉ đọc bài của ông Sách chứ không đọc bài của tôi. Tôi bị đả kích thật nặng lời hơn cả ông Sách, mặc dù những điều tác giả đả kích thực ra là do ông Sách viết chứ không phải tôi. Nhưng điều đó không quan trọng lắm. Điều đáng để ư là cả hai bài này đều đề cập đến ông Nguyễn Mạnh Tường, và một lần nữa nhắc lại việc ông Tường đậu hai bằng tiến sĩ.
Trong tất cả bài viết về ông Tường mà tôi đă được đọc cho đến nay không có bài nào không nói đến hai bằng tiến sĩ của ông. Ngoài ra không có ǵ đặc biệt. H́nh như việc ông đậu hai bằng tiến sĩ là quan trọng nhất trong cuộc đời ông dưới mắt nhiều người. Sự kiện đó được coi là đủ để kết luận ông là người giỏi và những điều ông nói là cao siêu.
Tôi có dịp gặp ông Tường tại Paris tại nhà một người bạn. Buổi nói chuyện kéo dài khá lâu và tôi thú thực không thấy ǵ đặc sắc. Ông nói nhiều điều đúng, không có ǵ để phản đối cả, nhưng đều là những điều rất thông thường.
Tôi cũng có đọc nhiều bài nói về ông Trần Đức Thảo, và tất cả mọi bài đều nói đến việc ông đậu thạc sĩ triết học. Có một số bài c̣n nói đến việc ông từng tranh luận với Jean-Paul Sarlre, nhưng các tác giả đều không biết ông tranh luận về cấp ǵ và đưa ư kiến ǵ. Tác giả nào h́nh như cũng ngưỡng mộ ông về mảnh bằng thạc sĩ của ông, việc tranh luận với Sartre chỉ được nêu ra để minh họa thêm tŕnh độ cao của ông mà thôi. Tôi chỉ đọc được một bài của ông Hoàng Khoa Khôi, một người thợ tự học và một người cách mạng mà tôi rất quư mến, tranh luận một cách không nhân nhượng với ông Thảo và tỏ ra không hề mặc cảm về cái bằng thạc sĩ của ông. Ông Thảo h́nh như làm luận án về hiện tượng luận, nhưng biết học trừu tượng không phải sở thích của tôi, nên tôi không đọc tác phẩm nào của ông cả. Tôi chỉ đọc một tập sách ngắn - đúng ra phải gọi là một bài dài - của ông nhan để ùn itméraire (Một lộ tŕnh), trong đó ông tóm lược diễn tiến tư tưởng của ông. Thú thực tôi thấy nó rất xoàng, phải nói thẳng là quá xoàng. Tuy nhiên đối với rất nhiều người, việc ông đậu bằng thạc sĩ là đă đủ để bảo đảm giá trị của những ǵ ông viết.
Tháng 7 năm 1990, tôi đi dự đám tang của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một người mà tôi rất quí mến, tôi cũng được nghe một bài điếu văn liệt kê tất cả những bằng cấp của ông một cách rất trân trọng, mặc dầu cuộc đời đấu tranh phong phú của Nguyễn Ngọc Huy có rất nhiều điều đáng nói hơn.
H́nh như đối với người Việt, bằng cấp là quan trọng nhất, và một con người trước hết được đánh giá qua nhưng bằng cấp mà ḿnh có. Bằng quí như thế nên tôi đă từng thấy những người chơi bằng. Họ có đủ mọi loại bằng cấp, mặc dầu chỉ làm được có một nghề. Có những người ngoài bốn mươi tuổi vẫn c̣n cố đi học để lấy thêm một bằng cấp khác, không biết để làm ǵ. Những th́ giờ đó nếu họ dùng để học hỏi mở mang kiến thức thực sự, hay để sống với vợ con, hay ngồi nghỉ ngơi và suy tư th́ hay biết mấy.
Trong sinh hoạt nghề nghiệp, tôi có dịp phỏng vấn nhiều người Việt nam để tuyền dụng. Hồ sơ ứng tuyển của họ lọt dễ dàng ṿng sơ khảo của sở nhân viên để đến tay tôi v́ họ có bằng cấp rất khá. Dần dần kinh nghiệm cho tôi một nhận định rất rơ ràng: người~ Việt thường có bằng cấp quá cao so với giá trị của họ. Không những thế, thường thường họ hiểu biết rất ít về những ǵ họ đă làm.
Trong ngành tin học ứng dụng vào quản trị, hoạt động chính của tôi trong những năm gần đây, các kỹ sư Việt nam thường chỉ biết tin học và mù tịt về quản trị. Trong khi tin học chỉ là phương tiện, quản trị mới là mục đích. Đă thế họ c̣n diễn đạt một cách rất khó hiểu. Điều trớ trêu là phần lớn cũng biết như vậy nhưng đă giải quyết một cách khác: trong CV (lư lịch) của họ, ngoài bằng kỹ sư tin học, có khi c̣n có thêm bằng tốt nghiệp một trường quản trị. Họ tin rằng với một bằng về tin học và một bằng về quản trị dĩ nhiên ḿnh phải được coi là giỏi cả về tin học lẫn quản trị. Có bằng là có tài và chúng ta yên trí.
Trong giao dịch nghề nghiệp, tôi có dịp tiếp xúc với đủ loại người và khám phá nơi người Việt ḿnh một đặc tính : họ có the bị lừa bởi bằng cấp của chính họ. Một khi đă có bằng cấp về một môn nào đó, họ tin chắc là họ giỏi về môn đó, mặc dầu trên thực tế họ chỉ biết rất lơ mơ. Sự đánh giá bằng cấp của người Việt thật là kỳ lạ đối với người Pháp mà tôi biết khá rơ, bằng cấp là chứng nhận một tŕnh độ hiểu biết, bằng cấp nói lên khoảng một phần ba nhưng ǵ họ biết, đối với người Việt nam nó là ba lần những ǵ họ biết. Người Việt nam ḿnh đánh giá người khác qua bằng cấp và sau cùng cũng tự đánh giá ḿnh qua bằng cấp. Bằng cấp đối với người Việt v́ vậy có một tầm quan trọng rất đặc biệt. Có thể nói người Việt v́ vậy có một tầm quan trọng rất đặc biệt. Có thể nói người Việt nam đi học để lấy bằng cấp chứ không phải đễ lấy kiến thức. Bằng cấp không những là phương tiện để lừa người khác mà c̣n là phương tiện để đánh lừa chính ḿnh. Tôi đă ca tụng tính hiếu học của người Việt trong những trang trước. ở đây, tôi phải đánh một dấu giáng trên niềm tin đó. Hiếu học là hay, những học để làm ǵ c̣n quan trọng hơn. Khổ thay phải nh́n nhận rằng nguyên nhân tính hiếu học của người Việt không lấy ǵ làm trong sáng lắm.
Nếu bằng cấp là hănh diện cho kẻ có th́ nó cũng là một tủi hổ cho người không có. Một anh lúc ở Việt nam là một tư chức nhỏ, tŕnh độ học vấn của anh ta cỡ vào khoảng giữa bậc trung học. Anh ta mơ mảnh bằng tiến sĩ, điều đó quan trọng vô cùng đối với anh, đến nỗi anh vật vă trong hơn mười lăm năm miệt mài, ban ngày đi làm lặt vặt kiếm sống, tối học đi thi lấy bằng tiến sĩ. Anh ta ghi danh vào một trường đại học không đ̣i hỏi bằng tú tài và cho làm luận án tiến sĩ mà không đ̣i hỏi bằng cao học, nghĩa là một thứ tiến sĩ đại hạ giá. Sau khi đă có bằng tiến sĩ, tôi không thấy anh ta khá hơn trước. Nhưng sự kiện có bằng tiến sĩ khiến anh ta trở nên thoải mái, tự tin, trông mặt anh ta sáng hẳn lên. ít ra mảnh bằng đă cho anh ta hạnh phúc.
Phải giải thích thế nào óc trọng bằng cấp và ham bằng cấp của người Việt? Nó là biểu hiện của một dân tộc thiếu óc làm chủ, một dân tộc có bản năng làm công và làm mướn. Nếu không có ư định đi xin việc làm mà nhất quyết xây dựng một cơ sở của riêng ḿnh chắc chắn người ta không cần bằng cấp, mà chỉ cần kiến thức.
Những người Trung Hoa ở Chợ Lớn không cần bằng cấp v́ họ không có ư định xin việc làm, họ làm cho chính họ. Và họ thành công hơn người Việt, và cũng giỏi hơn người Việt. Thời gian làm việc tại miền Nam trước 1975, đă cho tôi nhiều cơ hội để tiếp xúc và t́m hiểu họ. Trái với dư luận thông thường, họ không phải là những nhà triệu phú vô học, viết chữ c̣n run tay. Họ là những con người xuất chúng, có kiến thức rất sâu và rất rộng, có lư luận rất sắc bén và có cách tŕnh bày rất minh bạch. Chắc chắn họ đă học hỏi rất nhiều. Có điều là họ học cho giỏi chứ không học để lấy bằng.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Người Việt, người Nhật

 

Rất nhiều người Việt nam gán cho người Nhật một câu so sánh giữa người Nhật và người Việt mà chính tôi dù quen biết khá nhiều người Nhật chưa bao giờ nghe họ nói: Một người Việt hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt nam hợp lại thua ba người Nhật. Câu nói đó có vẻ như một nhận xét khiêm nhường, nh́n nhận sự thua kém về khả năng làm việc tập thể của người Việt, nh́n nhận khuyết điềm chính của người Việt là thiếu đoàn kết. Tuy vậy trong cách nói vẫn có sự thỏa măn : Một người Việt hơn một người Nhật, vế đầu này có vẻ được nhấn mạnh hơn vế sau.
Nếu quả thực người Nhật nào đă có nói câu đó th́ nó cũng chỉ là một câu khẳng định sự hơn hẳn của dân tộc Nhật, nó phải được hiểu là: Ngay cả nếu một người Việt nam có hơn một người Nhật đi nữa, th́ ba người Việt nam hợp lại vẫn thua ba người Nhật. Nói một cách khác, sự thua kém của dân tộc Việt nam so với dân tộc Nhật là tuyệt vọng, hết thuốc chữa. C̣n một người Việt nam có hơn một người Nhật hay không lại là một vấn đề khác. Tôi tin là không, theo nhưng kinh nghiệm sống.
Lúc c̣n đi học và ở cư xá đại học Paris, tôi đă có dịp làm quen với nhiều bạn Nhật.
Trước hết họ là những người đáng tin. Họ hứa điều ǵ, họ làm hết sức để giữ lời hứa, rủi làm không xong họ khiêm tốn và thành thực nhận lỗi, không viện dẫn một lư do nào cả. Thứ hai là họ thực sự chuyên cần, làm cái ǵ đều làm đến nơi đến chốn, học cái ǵ đều cố gắng học cho hiểu thật tường tận, không như người ḿnh chỉ làm cho xong, học tắt, học tủ đẻ thi đậu, bất chấp có thực sự hiểu hay không. Người Nhật hiểu biết một cách chắc chắn, v́ họ học đễ lấy kiến thức, nhưng thi có thể thua người Việt v́ người Việt học để đi thi lấy bằng. Bằng cấp của người Nhật có thể thấp hơn bằng cấp của người Việt mà sự hiểu biết của họ vẫn hơn. Tôi có được đọc một luận án của một sinh viên Nhật về xă hội Việt nam dưới thời Tự Đức. Anh ta dày công sưu tập tài liệu, suy nghĩ chín chắn và nhận định rất chính xác. ít có một công tŕnh biên khảo nào của người Việt về nước Việt có giá trị như thế, nhưng luận án của anh chỉ là một luận án tiến sĩ đệ tam cấp, nghĩa là một bằng cấp tiến sĩ thấp nhất trong thứ bậc các bằng tiến sĩ, và anh ta ghi rơ như vậy trong luận án. Dầu vậy, luận án của anh ta được đánh giá cao, và được một nhà xuất bản Pháp in, được quần chúng Pháp đọc, trong khi nhiều luận án tiến sĩ quốc gia, cấp tiến sĩ cao nhất, của người Việt về nước Việt không được như vậy.
Người Nhật rất yêu nước, và v́ yêu nước họ học hỏi rất kỹ về những khả năng của đất nước họ. Các bạn Nhật của tôi thường nói: Nước Nhật chúng tôi kẹt lắm, đất hẹp, người đông, tài nguyên thiên nhiên không có, con người lại không thông minh, chúng tôi cố gắng làm cũng không thể bằng được các nước khác . Nhờ sự lo âu thường trực đó mà họ đă xây dựng ra cường quốc số một tại châu á, và trên nhiều địa hạt cũng số một trên thế giới. Họ không tự hào là có giang sơn gấm vóc, dân tộc tinh anh.
Nhưng trên thực tế họ rất thông minh. Tôi đă đọc trên tuần báo Newsweek, một bài so sánh hệ số thông minh (I.Q.) của các dân tộc, và thấy người Nhật đứng đầu khá xa. Tuy vậy tôi chưa hề gặp một người Nhật nào tự hào dân tộc họ là thông minh. Th́ ra họ vừa thông minh vừa khiêm tốn. Sự khiêm lốn đó tôi đă thấy ngay trong các bạn Nhật của tôi.
Trong cư xá đại học tôi có một cô bạn người Nhật là Ichiko học về hội họa và điêu khắc. Thân nhau rồi, Ichiko rủ tôi về pḥng và cho tôi xem các tác phẩm của cô, con mắt mỹ thuật kém cỏi của tôi cũng phải bắt buộc tôi nh́n nhận đó là những tác phẩm rất hay. Tôi rủ một người bạn Pháp mê hội họa và điêu khắc tới xem, ra về anh ta tấm tắc khen hay. Thế nhưng khi tôi bảo Ichiko nên làm triển lăm th́ cô dẫy nẩy từ chối, bảo rằng ḿnh c̣n dở quá. Dầu vậy, Ichiko có lư do để tin ḿnh không dở, cô đă được giải nhất về điêu khắc trong một cuộc triển lăm của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật.
Người Việt nam, nhất là đám sinh viên Việt nam tại Paris chúng tôi, thường hay chê người Nhật là kém về ngôn ngữ. Quả thật họ nói tiếng Pháp rất dở. Ông thày dạy vơ của tôi chẳng hạn, sang Pháp đă mười mấy năm mà tiếng Pháp chẳng ra đâu vào đâu cả. Ông nói những tiếng thật tức cười như levez pieds (nhắc chân lên), baissez bras. Nhưng khi tới thăm ông, tôi gặp ông đang đọc một cuốn sách tiếng Nhật, hỏi ra th́ được biết thú tiêu khiền chính của ông là đọc sách tiếng Nhật. Nh́n cách bố trí căn pḥng có thể thấy ngay là ông chuẩn bị rất chu đáo đẻ tận hưởng thú đọc sách. Ông có cả một cái bàn thấp để ng̣i xếp bằng đọc sách, trên bàn là một cái giá sách nghiêng do ông đóng lấy. Cách sắp xếp trong pḥng rơ ràng là để có thể đọc sách trong những điều kiện tốt nhất. Các bạn Nhật của tôi đâu nói tiếng Pháp kém cả, nhưng bù lại họ nói rất dề hiểu, bởi v́ họ hiểu rơ những ǵ họ nói và khi không hiểu họ nói rơ ràng không hiểu chỗ nào. Dần dần tôi hiểu rằng họ không nói giỏi tiếng Pháp là v́ họ chú trọng học lấy kiến thức và v́ họ coi trọng văn hóa của họ. Là một dân tộc lớn, họ cho học tiếng mẹ đẻ là quan trọng hơn cả, họ học hỏi tiếng nước ngoài như một phương tiện đễ hiểu và học hỏi người khác. Người Nhật chác chắn không phải là một dân tộc có biệt tài về hùng biện, nhưng tôi phải thú nhận họ diễn tả rơ ràng và mạch lạc hơn người Việt. Người Việt là một trong những dân tộc dở về truyền thông nhất, điêu này tôi sẽ có dịp đề cập đến.
Nhưng hăy trở lại với người Việt ḿnh. Nếu ngay cả lấy ba người Việt có khả năng hơn ba người Nhật mà kết quả cũng chỉ là để tạo ra một nhóm ba người dở hơn nhóm của ba người Nhật kia th́ chắc chắn là người Việt ḿnh không có khả năng làm việc chung. Mà đă không cố khả năng làm việc chung được th́ không thể nói là ḿnh hay được bởi v́ khả năng quan trọng nhất, khó khăn nhất chính là khả năng làm việc chung. Nó đ̣i hỏi trước hết sự lương thiện, bơi v́ một tập hợp của chung con người chơi gian, chơi xấu, chơi gác nhau không thể kéo dài. Nó cũng đ̣i hỏi vô số đức tính khác : nhạy cảm, biết lắng nghe, biết truyền đạt ư kiến, có ư kiến hay, đủ bao dung để hiểu cái lư của người khác và nhất là đủ thông minh đễ thấy sự cần thiết của tổ chức và để thích ứng quyền lợi của ḿnh với quyền lợi của tổ chức. Nếu con người chỉ sống và làm việc một ḿnh thôi th́ sự hay dở có lẽ không đặt ra, ḿnh làm ḿnh hưởng, ḿnh làm ḿnh biết, làm sao đánh giá được hay, dở? Cái trí thông minh lớn nhất chính là khả năng làm việc chung. Đă không biết làm việc trong khuôn khổ một tổ chức th́ không thể nói là ḿnh thông minh.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Một dân tộc bất khuất và tự hào?

 

...Ôi đẹp biết bao, biết mấy tự hào
Sài G̣n ơi ta vẫy tay chào
cờ sao đang tung bay cao...
Xuân Hồng
(trích bài Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh)
Các nhà b́nh luận chính trị và lịch sử của ta dù là cộng sản hay không cộng sản đều đồng ư rằng dân tộc ta rất bất khuất và giàu tự ái dân tộc. Các thế hệ Việt nam lớn lên đều được huấn luyện để tin như vậy và tự hào về tính tự hào dân tộc của ta. Đó là một niềm tin cần thiết, và cũng có căn bản, nhưng tính bất khuất và ḷng tự hào dân tộc có được thể hiện một cách thường trực hay không lại là cả một vấn đề.
Trong cuốn Mặt Thật , Bùi Tín, một cựu đại tá phó tổng biên tập báo Nhân Dân đă ly khai với đảng cộng sản, viết về quan hệ giữa các cấp lănh đạo đảng cộng sản và các cố vấn Trung Quốc sang Việt nam hướng dẫn họ làm cải cách điền địa năm 1955 như sau:
[ ] Mỗi lần các vị học tṛ này gặp đoàn phái viên quư báu của Mao chủ tịch, về Thủ ti cải cờ (Thổ địa cải cách, theo tiếng Bắc Kinh), họ chỉ có thái độ tiếp nhận ư kiến của chuyên gia, không dám hỏi lại, cũng không dám căi lại. Anh bạn của tôi làm ở văn pḥng ban Chỉ đạo hồi ấy (năm 1954, 1956) kể lại: Triết cố vấn, Triệu cố vấn và Vương cố vấn chuyên ngồi dựa vào ghế bành lớn, ươn bụng ra phía trước, có lúc gác đại cả hai chân lên bàn, tay cam ly rượú mao đài, nhổ nước bọt ồn ào xuống đất, để phán bảo cho những người nắm vận mệnh của đất nước Việt nam. Thật thê thảm cho đất nước này [...]
Những người nắm vận mệnh của đất nước Việt nam mà Bùi Tín nói tới là các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc việt, Hồ Viết Thang, v.v... những lănh tụ cộng sản nỗi tiếng sắt đá và độc đoán. Họ không coi ư kiến của người Việt nam ra ǵ cả, đến ngay sinh mệnh của người Việt nam cũng không có một tầm quan trọng nào dưới mắt họ. Họ tàn sát thẳng tay những người không đồng ư với chủ nghĩa cộng sản. Những ai đọc những sách báo của đảng cộng sản ngày trước, và cho tới gần đây, khó có thể không ngượng v́ những lời tâng bốc không một chút dè dặt đối với Trung Quốc đàn anh, Liên xô vĩ đại, Lênin vĩ đại, Stalin vĩ đại, Mao chủ tịch vĩ đại. Họ xưng hô với khách ngoại quốc bằng Ngài, một tiếng mà họ không bao giờ dùng đối với người Việt. Sự kính nể người ngoại quốc không phải chỉ được thể hiện với các nước xă hội chủ nghĩa anh em mà ngay cả với các nước tư bản thù địch.
Trong hội đàm Paris (1968-1973), họ nhất định đ̣i nói chuyện với Mỹ chứ không thèm nói chuyện với phía Việt nam Cộng Ḥa. Có người nói đó là một thái độ chính trị cần có để tự xác nhận như là đại diện cho toàn dân Việt nam và phủ nhận mọi tư cách của Việt nam Cộng Ḥa. Nhưng kết quả của cuộc thương thuyết có bao giờ tuỳ thuộc ở thái độ này hay thái độ nọ đâu, nó luôn luôn chỉ tùy thuộc vào yếu tố duy nhất là tương quan lực lượng. Chọn lựa chiến lược của Mỹ dă như thế và tương quan lực lượng dă như thế th́ dù Hà Nội có khinh miệt hay kính trọng chính quyền Sài G̣n, kết quả của cuộc thương thuyết vẫn như thế. Thái độ khinh miệt phe quốc gia của Hà Nội chẳng có ảnh hưởng cụ thể nào lên cuộc thương thuyết cả, nó chỉ nói lên một tâm lư tôn kính người ngoại quốc và coi thường đồng bào của ḿnh. Nếu thực sự có tự ái dân tộc, họ đă phải t́m kiếm một giải phấp giữa người Việt nam với nhau. Nhưng tâm lư của họ là tâm lư trọng ngoại.
Cái tâm lư trọng người ngoài khinh người nhà được thể hiện một cách ô nhục qua vụ xử án những người trong Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Miền Nam Việt nam của Lê Quốc Túy cuối năm 1984. Năm người bị kết án tử h́nh là Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch và Huỳnh Vĩnh Sanh. Dù chẳng có cảm t́nh ǵ với Mặt Trận này nhưng lúc đó tôi cũng tham gia tranh đấu để các bị cáo được xét xử một cách đứng đắn. Đó chỉ là một thái độ bảo vệ công lư, thái độ này cũng được kích thích bởi t́nh bạn với Trần Văn Bá mà tôi quen thân từ hồi c̣n hoạt động với nhau trong Tổng Hội Sinh Viên Việt nam tại Paris. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cũng tham gia đắc lực cuộc vận động này với chúng tôi.
Một sự kiện ngộ nghĩnh là một hôm tôi nhận dược một thư của Ṭa Đại Sứ Hà Nội tại Paris. Thư gồm một phiếu gởi có en-tête và con dấu của ṭa đại sứ, kèm với một cáo trạng đối với các can phạm. Theo cáo trạng này th́ Mai Văn Hạnh là người chủ chốt nguy hiểm nhất, Trần Văn Bá là một người nông nổi nhiều anh hùng tính, Lê Quốc Quân là một người hoạt động đắc lực, hai người kia là ṭng phạm.
Trong buổi họp tối hôm đó, tôi đưa văn thư này cho Nguyễn Ngọc Huy xem, Nguyễn Ngọc Huy nói: Mai Văn Hạnh có thẻ thông hành Pháp, Huỳnh Vĩnh Sanh hồi trước đă có sắc lệnh nhập tịch Pháp dù không tới lấy thông hành, hai người này có thể thoát chết, nhưng ba người kia th́ nguy.
Quả đúng vậy. Mai Văn Hạnh, người được coi là chủ chốt nguy hiểm, và Huỳnh Vĩnh Sanh được ân xá, c̣n ba người kia - Bá, Quân và Bạch - bị đem xử bắn ngay một tuần sau đó. Hai năm sau, Mai Văn Hạnh được trả tự do cho đi Pháp. Tội nặng hơn nhưng nhờ có quốc tịch Pháp th́ thoát, tội nhẹ hơn nhưng mang quốc tịch Việt nam th́ bị bắn. Thực là một quan niệm kỳ cục về người Việt. Tự hào dân tộc ở đâu?
Lúc c̣n ở Sài G̣n, năm 1981, một hôm tôi gặp một anh chuyên gia Việt kiều mà tôi quen biết từ lâu. Anh ta du học tại Pháp, học rất kém, lận đận măi rồi bỏ qua Canada. Tôi biết quá rơ anh ta để có thể bảo đảm là anh ta không có khả năng nào đáng kể. Nhưng anh ta có xe đưa đón trọng vọng và được rất nhiều quan chức cao cấp tham khảo. Trong khi đó những kỹ sư giỏi gấp nhiều lần anh ta, tốt nghiệp từ Mỹ, từ Pháp, từ úc, lừ Canada không thiếu ǵ, nhưng được xếp cho ngồi đánh cờ trong các cơ quan. Họ chỉ được tuyển dụng để nhà nước kiểm soát chứ không được sử dụng. Không ai cần biết ư kiến của họ. óc khinh thường người Việt nam mạnh đến nỗi ngay cả những người tốt nghiệp ở nước ngoài mà phần nào đă được Việt nam hóa cũng bị coi thường. Nếu nói là v́ chúng tôi là ngụy quân ngụy quyền cũ nên không được trọng vọng như nhưng trí thức Việt kiều yêu nước, th́ cung không đúng, bởi v́ các kỹ sư có thẻ đảng hẳn hoi, tốt nghiệp từ Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan... cũng khá đông và nhiều người rất giỏi nhưng cũng chẳng được ưu đăi hơn chúng tôi bao nhiêu. Cũng có cả những chuyên viên tốt nghiệp từ Mỹ và Tây Âu tự nguyện về nước v́ nhiệt t́nh với chế độ nhưng cũng không được trọng vọng như anh chuyên viên Việt kiều kia, bởi v́ họ được coi là Việt nam.
Người cộng sản không có độc quyền về đặc tính thiếu tự hào dân tộc. Tôi đă ở trong ḷng chế độ Việt nam Cộng Ḥa để có thể xác nhận cái tính trọng ngoại khinh nội của chế độ. Tốt nghiệp ở nước ngoài là cái ch́a khóa mở hầu hết các cửa, tốt nghiệp ở trong nước là cả một trở ngại lớn cho sự thăng tiến. Có phải là v́ ở nước ngoài được huấn luyện kỹ hơn chăng? Lư cớ hơn là lư do. ở các Bộ Kinh Tế, Tài Chánh, sự nể v́ người ngoại quốc nặng đến nỗi các tổng giám đốc các công ty nước ngoài không bao giờ thèm biết tên các giám đốc Việt nam, có chuyện ǵ họ gơ cửa thẳng các ông bộ trưởng và họ luôn luôn được tiếp đón niềm nở. Một tổng giám đốc công ty Pháp tại Sài G̣n cho tôi hay là ông ta bắt buộc phải tuyển dụng các cấp giám đốc, phó giám đốc người Pháp chính cống từ Pháp qua dù đắt gấp bốn năm lần một người Việt nam tài giỏi hơn bởi v́ một người Pháp chính cống dễ nói chuyện với chính quyền Việt nam hơn là một người Việt nam. Ông ta nói với tôi như vậy giữa bữa ăn và tôi muốn độn thổ v́ xấu hổ.
Sự khinh thường người Việt không phải chỉ có nơi những người cầm quyền mà c̣n có trong quần chúng Việt nam. Mới đây cháu tôi tốt nghiệp ở Ḥa Lan xin đi làm cho một hăng Ḥa Lan có chi nhánh ở Việt nam và bị từ chối. Ban giám đốc giải thích rằng họ không tuyền dụng cấp chỉ huy người Việt cho chi nhánh tại Việt nam v́ lư do một người Ḥa Lan da trắng mắt xanh dễ điều khiển người Việt hơn một người Ḥa Lan gốc Việt. Người Ḥa Lan học bài nhanh thật!
Tôi quen biết một nhà b́nh luận thời cuộc viết nhiều bài về Việt nam và khá nổi tiếng. Anh ta vẫn thường hỏi ư kiến tôi mỗi khi viết bài, và bù lại cũng giúp tôi một số việc. Bài của anh hay được các báo Việt nam đăng lại và được ca tụng như là rất đúng, rất thâm thúy, ngay cả bởi những tờ báo đả kích tôi một cách nặng nề, mặc dù những điều anh ta viết không khác ǵ những điều tôi viết v́ một lư do giản dị: phần lớn những ư kiến của anh ta là ư kiến của tôi. Những người ca tụng anh ta và đả kích tôi không biết rằng chúng tôi quen nhau. Tôi cũng không dám nói cho anh ta biết là những người ấy chống tôi. V́ ngượng, v́ tự hào dân tộc.
Xem lại phim thời sự trong những ngày cuối tháng 4-1975, có một cảnh làm tôi thực sự đau ḷng. Một đại tá quân đội Việt nam Cộng Ḥa đến phút chót vẫn c̣n hiên ngang trấn giữ cửa vào Sài G̣n. Tôi thán phục sự dũng cảm của ông, nhưng ông lại nói một cách hănh diện trước ống kính của đài truyền h́nh Pháp: Tôi không sợ bởi v́ tôi đă từng là trung sĩ trong quân đội Pháp. Làm đại tá quân đội Việt nam nhưng lại hănh diện v́ đă là trung sĩ quân đội Pháp!
Tôi c̣n có thể kể vô số những trường hợp khác mà tôi đă thấy và đă biết. Có phải v́ chúng ta quá đinh ninh ḿnh là một dân tộc bất khuất và giàu tự hào dân tộc rồi không thấy cần nuôi dưỡng tự hào dân tộc thực sự, hay v́ trong thâm tâm mỗi người chúng ta không đánh giá cao chính ḿnh, cho nên chúng ta coi thường những người giống ḿnh?
Khi người ta có thể khinh bỉ, mạt sát và buộc tội một cách thậm tệ một người mà ḿnh chỉ biết qua một số dư luận thôi th́ phải chăng là người ta đang mạt sát chính ḿnh? Điều người ta thực sự nói qua sự hung hăng vô căn cứ đó là: Tao không cần biết mày là ai, đă thực sự nói và làm những ǵ, nhưng tao vẫn có thể mạt sát mày mà không sợ sai lầm, v́ mày cũng là người Việt như tao, mà đă như tao th́ mày chỉ có thể là lưu manh xằng bậy thôi. Một người có niềm tự hào thực sự bao giờ cũng quí trọng những người giống ḿnh. Nhưng thực tế là chúng ta thiếu một cách tuyệt vọng tự hào dân tộc. Chúng ta cần khẳn cấp nghĩ lại ḿnh. Một ḷng tự hào dân tộc thực sự có thể thay đổi con người chúng ta và đất nước chúng ta. Chúng ta sẽ kính trọng lẫn nhau và ngồi lại với nhau để giải quyết những bất đồng thay v́ khinh miệt lẫn nhau và chỉ t́m giải quyết với người ngoại quốc, hay cầu cạnh người ngoại quốc giải quyết giùm ḿnh những vấn đề của ḿnh.
Mà sự thực người Việt nam có thiếu anh tài đâu. Nguyễn Trăi đă từng viết : Nước Việt nam ta là một nước văn hiến... dù có lúc mạnh lúc yếu nhưng không thời nào thiếu hào kiệt

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Yêu nước

 

Ta không cố tự hào dân tộc, mà đă không có tự hào dân tộc th́ không thể yêu nước. Làm sao có thể yêu một cái ǵ mà ta coi thường? Cho nên ḷng yêu nước của người Việt, mà mọi người quả quyết là mạnh, có thể ch́ là một sự hiểu lầm.
Có một lập luận mà cả hai phe cộng sản và quốc gia đều đồng ư nhưng rất sai, là những người cộng sản đă chiến đấu dũng cảm v́ ḷng yêu nước chứ không phải v́ chủ nghĩa cộng sản. Lập luận này tiện cho cả đôi bên. Đảng cộng sản dĩ nhiên phải nói rằng họ tranh đấu v́ ḷng yêu nước, có như thế họ mới tranh thủ được sự hưởng ứng của những người chưa vào đảng cộng sản, mới có thể kết tội những đối thủ của họ là phản quốc, là bán nước, mới tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận các nước không cộng sản. C̣n bên chống cộng dĩ nhiên cũng phải nói rằng đa số những người theo phe cộng sản đă chỉ theo v́ ḷng yêu nước mà thôi. Có như thế họ mới có thể buộc tội đảng cộng sản là đă lừa bịp những người yêu nước nhẹ dạ, là tiếm đoạt hy sinh xương máu của nhân dân v́ độc lập dân tộc; có như thế họ mới nói được chủ nghĩa cộng sản phi nhân bất nghĩa, chẳng ai theo nếu biết thực chất. Gần đây những người công sản ly khai cũng lại sử dụng lập luận này v́ nó cũng tiện cho họ. Họ đă đoạn tuyệt với đảng cộng sản, đă từ bỏ chủ nghĩa cộng sản rồi th́ tự nhiên họ phải biện minh cho hoạt động trong quá khứ của ḿnh bằng điều mà họ nghĩ mọi người chấp nhận, nghĩa là ḷng yêu nước.
Kết quả là một sự dối trá khổng lồ từ cả mọi phía. Và cứ thế cuộc tranh căi thiếu lương thiện này tiếp tục gây ngộ nhận trong đầu óc mọi người.
Tôi đă nghiên cứu, quan sát, và tâm t́nh với rất nhiều người cộng sản ở mọi tŕnh độ và đi tới kết luận quả quyết rằng đại đa số những đảng viên cộng sản dă theo đảng v́ chủ nghĩa chứ không phải v́ ḷng yêu nước. Người cộng sản cũng yêu nước như mọi người Việt nam khác, không kém nhưng cũng không hơn. Ḷng yêu nước có thực nhưng chỉ đóng một vai tṛ rất thứ yếu trong chọn lựa của ho. Nó đă chỉ được dùng làm một chiêu bài, nó không phải là động cơ.
Vả lại ḷng yêu nước làm sao có thể là động cơ dược, nếu nó không mạnh? Độc giả sẽ tự nhận ra nhưng tôi cần cảnh giác trước hết rằng tôi hoàn toàn không có ư định làm một cáo trạng đối với người cộng sản và đảng cộng sản. ở đây tôi chỉ muốn nhận diện đất nước, điều tôi muốn làm sáng tỏ là ḷng yêu nước rất mờ nhạt trong ḷng người Việt nam, dù là cộng sản hay không cộng sản. Đă đến lúc chấm dứt sự ngộ nhận này để đem lại cho cuộc thảo luận về đất nước sự nghiêm túc phải có.
Chúng ta cần thắng một đặc tính rất kỳ lạ của người Việt là thường đặt nền tảng quan hệ và trao đổi trên một căn bản giả dối, không ai thực sự nghĩ nhưng mọi người đều muốn người khác tin là ḿnh nghĩ. Thí dụ các tổ chức chống cộng hải ngoại đều kêu gọi ngồi lại với nhau nhưng trong thâm tâm không ai thực sự muốn ngồi lại với nhau cả, mà chỉ muốn ngồi lên đầu nhau. Kết quả tất nhiên là rất khó đồng ư với nhau. Tôi mong độc giả lưu ư cái dân tộc tính này trước khi đọc những ḍng kế tiếp.
Ai đă có dịp vào thăm Viện Bảo Tàng Cách Mạng đều có thể nh́n thấy lá cờ lịch sử của Phong Trào xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi t́nh cảm của đảng cộng sản Việt nam. Lá cờ màu đỏ này chỉ có tám chữ Vạn Tuế Sô Nga, Sô Nga Vạn Tuế, chỉ có thế. (Chữ Sô viết bắt đầu bằng chữ S trên lá cờ). Vả lại cái tên Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng đă đủ nói lên bản chất của phong trào. Cái ǵ đă thực sự làm nức ḷng người, không phải là ḷng yêu nước mà là giấc mơ cộng sản, giấc mơ được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột và chà đạp. Giấc mơ ấy đă khiến những người nông dân cùng khổ miền Nghệ Tĩnh vùng lên, chấp nhận chết chứ không chấp nhận tiếp tục cuộc sống tôi đ̣i. Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đă thẳng tay tàn sát những kẻ thù của giai cấp vô sản, bất luận họ có yêu nước hay không yêu nước. Nó đă bị đàn áp trong một biển máu, sau khi đă làm đổ ra một biển máu. Sự dũng cảm của những con người của Phong Trào xô Viết Nghệ Tĩnh đă rất phi thường, nhưng nó hoàn toàn không do ḷng yêu nước mà đă chỉ được thúc đẩy bởi giấc mơ một cuộc sống không c̣n áp bức.
Tôi đă nói chuyện với vô số người cộng sản và cố gắng vượt qua cái vỏ bề ngoài của họ, tôi luôn luôn t́m thấy giấc mơ đó đằng sau cái b́nh phong yêu nước. Đó mới chính là lư tưởng đă khiến họ chấp nhận mọi gian khổ, nếu cần hy sinh cả tính mạng. Tôi cũng đă quan sát và trao đỗi với các trí thức cộng sản. Điều tôi có thể quả quyết là không ai lầm lần cả. Tất cả đều đă tán thành chủ nghĩa cộng sản, hay ít ra đă chấp nhận nó. Không có một người nào đă theo phong trào cộng sản v́ tưởng rằng nó không phải là cộng sản cả.
Đảng cộng sản cũng không hề giấu mục tiêu của họ. Họ sử dụng danh nghĩa giải phóng dân tộc song song với lư tưởng cộng sản chứ không phải thay cho lư tưởng cộng sản. Lúc nào họ cung đề cao đấu tranh giai cấp, ngay cả khi họ giải tán một cách tượng trưng Đảng cộng sản Đông Dương. Vả lại, ngay cả cái tên Đảng cộng Sản Đông Dương cũng đủ để nói lên rằng yếu tố Việt nam không hề có trong ưu tư của họ. Không thể nói là họ đă lường gạt. Sự bội ước này có thực, nhưng không phải ở chỗ họ đă đem áp dụng chủ nghĩa cộng sản, mà ở chỗ đảng cộng sản đă không thực hiện được lư tưởng công bằng xă hội mà chủ nghĩa cộng sản đă hứa hẹn, thay vào đó là một chế độ đầy rẫy bất công và tham nhũng. Cũng có những người đă thất vọng v́ nhận ra chủ nghĩa cộng sản là không tưởng. Nhưng không có ai không biết ngay từ đầu rằng mục đích của mặt trận Việt Minh là để thiết lập một chế độ cộng sản cả. Nói như vậy là không thành thực.
Vả lại, năm 1976, khi, sau chiến thắng, Đảng Lao Động được đỗi tên thành đảng cộng sản và chế độ cộng sản được chính thức tuyên bố, tôi hoàn toàn không thấy ai ngạc nhiên hay phẫn nộ cả. Tất cả nhưng người đă đóng góp cho thang lợi của đảng cộng sản đều hân hoan, hay ít ra không thất vọng. Thất vọng chỉ đến sau đó khi chế độ trở thành tham nhũng và đất nước bị suy thoái, đời sống nhân dân trở thành cơ cực.
Tôi không lên án người cộng sản là không yêu nước, tôi chỉ muốn nói là ḷng yêu nước của người Việt ḿnh nói chung là rất yếu. Trong thời kỳ Pháp thuộc, có lẽ chỉ có Việt nam Quốc Dân Đảng và một số hệ phái Đại Việt là thực sự chỉ lấy ḷng yêu nước làm nền tảng. Nhưng Việt nam Quốc Dân Đảng đă không mạnh lên được, một phần v́ thiếu tổ chức, một phần bị mọi thế lực đánh phá, nhưng lư do căn bản, theo tôi, vẫn là v́ ḷng yêu nước, lư tưởng duy nhất của Việt nam Quốc Dân Đảng, không đủ mạnh trong ḷng người Việt nam để có thể động viên được sự hy sinh của nhiều người, như lư tưởng cộng sản.
Để đối đầu với đảng cộng sản, các chính quyền quốc gia đều chủ yếu do những người không yêu nước cầm đầu. Các chính quyền Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, ngoại trừ một vài nhân vật của Đại Việt và Việt nam Quốc Dân Đảng xuất hiện ngắn ngủi trong một thỏa hiệp giai đoạn, gồm toàn bộ những người đă hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp. Nhưng họ đă thất bại v́ tham ô, kém cỏi chứ không phải v́ không được coi là những người yêu nước.
Ông Ngô Đ́nh Diệm xuất hiện đột ngột vào chính trường Việt nam và cầm quyền. Ông cũng không phải là một người yêu nước trái lại ông có một quá khứ dài hợp tác với người Pháp và đàn áp các phong trào yêu nước. Nhưng ông đă suưt nữa thành công. Ông thất nhân tâm v́ vụng về, thiển cận chứ không phải v́ bị lên án là không yêu nước. Yêu nước chưa bao giờ là một yếu tố quyết định để tranh thủ ḷng người tại Việt nam. Người Việt nam hoặc không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một cách rất tương đối. Người cộng sản yêu chủ nghĩa của họ hơn đất nước. Người Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ hơn đất nước. Những người cầm quyền phe quốc gia đặt quyền lợi của họ trên đất nước. Nhóm Phật Giáo ấn Quang tranh đấu để giành quyền lực và ảnh hưởng cho họ hơn là cho đất nước. Quần chúng Việt nam lo âu quyền lợi và sự yên ổn của ḿnh hơn là cho tương lai đất nước. Tại sao và làm thế nào để khắc phục là những câu hỏi mà ta cần đặt ra. Nhưng ít nhất phải nh́n nhận sự thực đó, phải coi nó là một dữ kiện trong đầu đề của bài toán đất nước, để đừng tiếp tục cường điệu với nhau, đeo mặt nạ và nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của lưỡi gỗ.
Ḷng yêu nước của người Việt nam không phải là không có nhưng rất mờ nhạt. Nó đă chỉ được thổi phồng lên do sự chia rẽ trầm trọng của dân tộc Việt nam. Nó không phải là một t́nh yêu v́ người ta chỉ nhân danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và nhường nhịn nhau đâu. Sự xung đột đă khiến mọi phe phái đều phải đề cao một điều duy nhất mà mọi người có thể chấp nhận, đó là ḷng yêu nước. Nhưng sự xung đột này tự nó cũng là bằng cớ rằng người Việt nam không yêu nước. Nếu thực sự yêu nước th́ người Việt nam trước hết phải thương yêu nhau đă, chứ không thể phủ nhận, mạt sát, lên án, tiêu diệt nhau một cách dề dàng như vậy. Có thể nào tưởng tượng được một gia đ́nh trong đó mọi người đều tha thiết yêu gia đ́nh, nhưng lại xung đột, xâu xé nhau và sẵn sàng giết nhau hay không?
Một bằng cớ khác chứng tỏ người Việt nam không yêu nước lắm là có một số đông vẫn chống lại tinh thần ḥa giải dân tộc. Vấn đề giản dị như thế này: khi một dân tộc đă có xung đột gay gắt th́ chỉ có hai chọn lựa, một là ḥa giải với nhau để quốc gia tiếp tục tồại và đi tới hai là không ḥa giải và chấp nhận tan vỡ.
Nhưng dầu sao th́ ḷng yêu nước cũng vẫn là mẫu số chung của dân tộc này để tồại và tiến lên. Ḷng yêu nước đó chưa có ở một mức độ cần có, chúng ta phải tạo ra hay phát minh lại. Trong khi chờ đợi, không nên lợi dụng và nhảm nhí hóa nó, v́ nó vẫn là hy vọng thoát nguy duy nhất của ta.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Ils ne s aiment pas

 

Giáo sư Nguyễn Huy Bảo sinh năm 1908. Ông du học tại Pháp, tốt nghiệp cử nhân triết học, roofi về nước dạy học tại Huế từ trước thế chiến II. Một số đông các trí thức miền Trung là học tṛ của ông. Ông làm khoa trưởng Đại Học Văn Khoa Sài G̣n cho tới năm 1964, rồi rời Việt nam làm chuyên viên cho Liên Hiệp Quốc và thực hiện nhiều công tác văn hóa giáo dục tại các nước châu Phi. Kinh nghiệm sống của ông đă giúp ông hiểu tại chỗ lư do khiến nhiều quốc gia không phát triển được. Là một người hoạt động không ngừng nghỉ, dầu tuổi đă ngoài chín mươi, tương lai của Việt nam không c̣n một quan trọng nào đối với ông nữa, ông vẫn c̣n tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm Thông Luận. Ông là một người Việt nam yêu nước thực sự và nồng nàn. Trong một buổi thuyết tŕnh tại Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận về đề tài Việt nam có thể có dân chủ được không?, ông đă phân tích những nhược điểm của người Việt nam. Ông kể lại rằng khi ông c̣n trẻ vừa tới Pháp du học, một giáo sư người Pháp có kinh nghiệm nhiều về Việt nam đă nói về người Việt nam rằng: Ils ne saiment pas (Họ không ưa nhau). Câu nói đó chắc là ông Nguyễn Huy Bảo đă phải kiểm chứng thấy trong cuộc đời của ông và đă phải làm ông đau ḷng lắm, để đến nỗi 60 năm sau, ông vẫn c̣n ấm ức và nhắc lại một cách rất thất vọng.
Phải giải thích người Việt nam không yêu nước v́ họ không quí mến nhau, hay người Việt nam không quí mến nhau v́ họ không yêu nước? Hai t́nh cảm đó luôn luôn đi đôi với nhau, hoặc có cả hai hoặc không có cả hai chứ không thể có một trong hai.
Ca dao ta có hai câu mà hầu như mọi người đều biết bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn và nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng. Thực là ai oán. Hai câu ca dao đó h́nh như đă xưa lắm rời. Tôi có đọc một cuốn sách nói rằng câu bầu ơi thương lấy bí cùng... có từ thời Hai Bà Trưng? Tôi không phải là một nhà nghiên cứu văn học để có thể có ư kiến về thời điểm xuất phát của những câu ca dao này, nhưng mọi người có thẩm quyền về văn học mà tôi quen biết đều xác nhận đó là những câu ca dao đă có từ rất lâu. Như thế có nghĩa là từ lâu rồi người Việt tệ bạc với nhau tới độ có những người phải đau ḷng thốt ra những lời nhắn nhủ năo nùng như thế.
Nguyễn Văn Thanh, người anh kết nghĩa trong tù của tôi nam nay đă 76 tuổi và sống tại Los Angeles, kể cho tôi nghe thời anh học trường Bưởi, giáo sư Đỗ Trí Lễ dạy Vật Lư, mỗi lần bực bội với học tṛ thường đi đi lại lại trong lớp và lẩm bẫm: Les Annamites sont des menteurs, des voleurs ét des assassins (Người Việt nam là bọn dối trá, trộm cắp và sát nhân). Sau này do những liên hệ hôn phối tôi được biết về giáo sư Đỗ Trí Lễ. Ông là một nhà giáo hiền lành, đức độ. Câu ông nói không phải do ông sáng tạo ra mà ông chỉ nhắc lại bởi v́ tôi cũng đă được nghe nhiều lần ở miệng người khác. Thật khó tin là người Việt nam có thể khinh ghét nhau đến thế được. Người Việt nam t́m đủ mọi lư do để ghét nhau. Người thành thị th́ gọi người nông thôn một cách khinh bỉ là bọn nhà quê với ngụ ư nói là những người dốt nát, đần độn, ngớ ngẩn. C̣n người nông thôn th́ `gọi người thành thị là kẻ chợ với hàm ư là gian trá, lật lọng. Người ta mạt sát nhau v́ lư do nghề nghiệp: đồ hàng cá, hàng thịt?. Khi c̣n ở ngoài Bắc, tôi đă được nghe câu tục ngữ: bạc quân xứ Huế, tệ quân xứ Nam. Xứ Huế đây là để chỉ miền Trung. Như vậy là người Trung và người Nam đều tệ bạc, chỉ có người Bắc là chung thủy thôi sao? Nhưng vào tới trong Nam, tôi lại thấy phần đông người miền Nam coi người Bắc và người Trung là không ngay thẳng. Ra tới Huế, tôi lại có thể nhận thấy rơ ràng người Huế tự nghĩ ḿnh có văn hóa và có chiều sâu hơn người miền Nam và miền Bắc. Tuy họ không nói trắng ra nhưng tôi có thể cảm thấy rơ ràng rằng theo họ, trừ một vài ngoại lệ, nói chung người Bắc và người Nam tuy có khác nhau nhưng đều hời hợt và phù phiếm.
Thế nhưng một ông vua nhà Nguyễn (Minh Mạng hay Tự Đức) lại mạt sát xứ Huế của chính ông là sơn bất cao thủy bất thâm, nam đa trá nữ đa dâm (Núi không cao, sông không sâu, con trai gian trá, con gái đa dâm). Đó là mạt sát theo thành kiến của một thời đại thôi chứ đa dâm thực ra là một tính tốt, nó chứng tỏ con người giàu sinh lực nhạy cảm và thông minh. Như vậy rơ ràng là người Việt nam khinh ghét nhau giữa những người khác miền với nhau và ngay cả giữa những người cùng sống một nơi. Khác biệt địa phương, cũng như mọi khác biệt, đều chỉ là những lư cớ để người Việt biểu lộ sự khinh ghét lẫn nhau đă sẵn có ở trong ḷng.
Claude Renaud là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Ông là người úc gốc Pháp, học chính trị tại Pháp, quen một cô bạn Việt nam xinh đẹp và lịch duyệt rồi cưới nhau. Renaud là một nhân vật cao cấp tại bộ ngoại giao và ngoại thương úc, từng làm cố vấn ṭa đại sứ úc tại Việt nam, rồi cố vấn ṭa đại sứ úc tại Pháp. Trong ngành ngoại giao cố vấn có hàm bộ trưởng.
Claude Renaud kể cho tôi nghe một cách thú vị những gian truân của anh trong việc chinh phục người đẹp. Gia đ́nh vợ anh không hài ḷng lắm để cho con gái lấy chồng ngoại quốc, nhưng trở ngại lớn nhất là bà nội v́ bà rất bảo thủ. Sau cùng sự kiên nhẫn và khôn khéo của nhà ngoại giao cự phách đă thuyết phục được bà cụ. Bà cụ đành nói: Thôi, thà để nó lấy chồng Tây c̣n hơn là để nó lấy chồng Bắc Kỳ? Bà cụ là người hiền lành, không hiểu sao cụ ghét người Bắc đến thế. Có lẽ đó là một thành kiến, nhưng nó chứng tỏ người Việt nam không ưa nhau.
Yếu tố cùng là người Việt nam có lẽ chỉ có một trọng lượng rất nhỏ, nên người Việt khi kết hợp với nhau thường dựa trên một mẫu số chung nào đó ngoài sự kiện cùng là người Việt. Cứ nh́n ngay những tổ chức chính trị, mà mục đích là tranh đấu cho một nước Việt nam thống nhất và đoàn kết. Không cần phải là một nhà quan sát tinh tường cũng đủ thấy. Người ta thường kết hợp với nhau trên một mẫu số chung địa phương, hay thành phần xă hội, hay tôn giáo: người Bắc, người Nam, người Trung, cựu hải quân, cựu học viên Quốc Gia Hành Chánh, Công Giáo, Phật Giáo, Ḥa Hảo v.v... Rất ít thấy nhưng tổ chức vượt ra ngoài được những yếu tố đó. Dĩ nhiên là cũng có. Đảng cộng sản có cả Bắc Trung Nam, nhưng họ có một mẫu số chung khác là chủ nghĩa cộng sản và họ cũng chỉ kết hợp giai cấp vô sản. Việt nam Quốc Dân Đảng cũng hiện diện tại cả Bắc Trung Nam, nhưng những hệ phái Bắc, Trung, Nam trên thực tế là những đảng riêng biệt với nhau. Một thí dụ cụ thể là năm 1967, ông Vũ Hồng Khanh, chủ tịch Việt nam Quốc Dân Đảng miền Bắc, ra ứng cử tổng thống th́ ông Nguyễn Ḥa Hiệp (Việt nam Quốc Dân Đảng miền Nam) cũng ra tranh cử. Các hệ phái Việt nam Quốc Dân Đảng tại ba miền không phải là những chi nhánh của một đảng mà là những đảng riêng biệt, không những không liên kết với nhau mà c̣n chống nhau v́ hệ phái nào cũng cho ḿnh là chính thống.
Khi miền Nam đang lâm nguy trước sự tiến công của cộng sản, một kết hợp chính trị ra đời, nhóm Liên Trường, kết hợp những người có một mẫu số chung là đă từng học các trường trung học miền Nam trước đây. Biết Nguyễn Ngọc Huy cũng tham gia, dù là một cách kín đáo, tôi có lần bực bội chất vấn : Nước sắp mất, không có lư tưởng nào để kết hợp hay sao mà lại kết hợp nhảm nhí như vậy?, ông Huy phân trần: Đó là mấy thằng bạn nó làm, ḿnh không tham gia th́ kỳ quá?.
Chính cá nhân tôi cũng đă từng được kiểm chứng cái tính ghét nhau của người Việt. Tôi có viết một số bài báo, tŕnh bày quan điểm chính trị của tôi. Quan điểm đó không được sự tán thành của một số người. Điều đó không hề làm tôi buồn ḷng, trái lại về một khía cạnh nào đó tôi c̣n vui ḷng v́ sự kiện nhiều người không đồng ư với ḿnh chứng tỏ ư kiến của ḿnh là mới. Tôi quan niệm đưa ra mười ư mới trong đó có chín ư sai và một ư đúng vẫn c̣n hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng chỉ là những ư cũ. Vậy th́ khi người ta đả kích tôi, tôi không buồn. Nhưng sao những lời lẽ lại có thể hằn học và nặng nè đến thế Bọn, tên, chúng, phản bội, cơ hội chủ nghĩa, đón gió trở cờ, phải vạch mặt chỉ tên, phải có thái độ, v.v.
Xét cho cùng không phải người ta phản đối những điều tôi viết ra, bởi v́ họ bịa đặt ra những điều tôi không hề viết hay nói, cắt xén những câu viết hay câu nói làm đổi hẳn ư nghĩa rồi dựa vào đó mà lên án. Lư do thực sự là họ có nhu cầu cần phải thóa mạ và đả phá một ai đó.
Phần lớn nhưng người viết bài đả kích tôi đều không biết tôi là ai cả v́ lư do giản dị là tôi chẳng làm được ǵ đáng để được biết tới và cũng không thuộc một gia đ́nh lớn nào để họ có thể lục lọi nguồn gốc, tôi chỉ là đứa con của những ruộng đồng không tên, không tuổi. Dầu vậy họ có thể viết tôi là đồ mất gốc, ḍng dơi bán nước, một câu Kiều và một chữ B́nh Ngô Đại Cáo không biết. Có người c̣n quả quyết tôi là cộng sản nằm vùng, có bài c̣n tả tôi là người điên, mặt mũi láo liên, chân đi hai hàng?
Rồi một số người biết tôi rất rơ cũng làm ngơ trước những xuyên tạc mà họ biết chắc chắn là sai, dù phần lớn có cảm t́nh với tôi. Tôi tự hỏi tại sao? Câu trả lời của tôi là tuy không diễn tả ra dược nhưng trong bản năng của họ, họ đều nghĩ rằng sự độc ác của người Việt trong cách đối xử với nhau là một chuyện thường, chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Đôi bạn

 

Cái bản năng thù ghét nhau trong con người Việt nam mạnh đến nỗi nó có thể bùng nỏ một cách rất bất ngờ, ngay cả giữa những người thân quen. Ông A và ông B là hai nhân vật có học thức và được nhiều người biết. Câu chuyện giữa họ mà tôi kể lại sau đây cũng đă được phơi bày trên nhiều tờ báo hải ngoại. Họ cũng là hai người bạn thân. Họ có tất cả mọi lư do để thân nhau. Họ là đồng nghiệp, cả hai đều giữ cùng một chức vụ dân cử quan trọng dưới thời Việt nam Cộng Ḥa, và hơn thế nữa đều là những người có uy tín nhất; cả hai đều là những nhà nghị luận có tên tuổi; cả hai đều chống cộng; cả hai đều đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Trước nguy cơ sụp đổ chắc chắn của Việt nam Cộng Ḥa, cả hai đều đồng ư là phải lật đổ Nguyễn Văn Thiệu mới có hy vọng cứu nguy. Họ cùng nhau âm mưu, rồi cùng bị bắt và bị giam với nhau. Trốn khỏi Việt nam sau ngày 30-4-1975, cả hai đều là những khuôn mặt lớn trong cộng đồng, đều nỗ lực hoạt động cho mục tiêu chấm dứt chế độ cộng sản. Lập trường của họ giống nhau, đường lối của họ cũng giống nhau. Khi nhóm Thông Luận chúng tôi để xướng lập trường dân chủ đa nguyên và ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, cả hai ông đều là những người đả kích và lên án chúng tôi gay gắt nhất. Sau đó, và h́nh như vào cùng một thời điểm, cả hai ông đều hiểu chúng tôi và ác cảm biến thành thiện cảm. Họ đều là những trí thức lớn mà tôi quí trọng. Năm 1993, ông A làm một cuộc thuyết tŕnh và sau đó công bố bài thuyết tŕnh trên nhiều tờ báo Việt ngữ tại hải ngoại. Trong bài thuyết tŕnh này ông chấp nhận đường lối ḥa giải và ḥa hợp dân tộc trong một số điều kiện. Những điều kiện này được ông tŕnh bày một cách khá rơ rệt, nó chứng tỏ lập trường chống cộng của ông vẫn không thay đổi, nghĩa là vẫn mănh liệt như trước. Điều mà ông tŕnh bày chỉ là một chiến lược để sớm chấm dứt chế độ cộng sản và thiết lập dân chủ mà thôi. Chỉ có một điều sơ suất là ông đă trích dẫn sai lời tuyên bố của Vơ Văn Kiệt, ông nói ông Kiệt chấp nhận ḥa giải dân tộc trong khi thực ra ông Kiệt chỉ kêu gọi ḥa hợp dân tộc, hiểu theo nghĩa đoàn kết dưới sự lănh đạo của đảng cộng sản mà thôi. Có lẽ v́ lúc viết, ông A không có bản văn trong tay chứ không phải ông bênh vực Vơ Văn Kiệt. Lập trường chống cộng của ông được phát biểu rất rơ rệt.
Nhưng chỉ cần như thế cũng đủ để ông B phản ứng bằng một bài báo gay gắt, lên án ông A là cơ hội chủ nghĩa, đón gió trở cờ, phản bội lư tưởng của ḿnh trước đây. Không những thế, ông B c̣n vạch những chi tiết trong liên hệ riêng tư để chứng tỏ ông A là người không ra ǵ. Rơ ràng là đánh thẳng tay, đánh cho chết luôn. Dĩ nhiên ông A không để yên. Ông trả đũa bằng một bài báo rất độc. Bài báo tuy không xuyên tạc lập trường và cuộc đời của ông B nhưng dùng những lư luận rất công phu để chứng tỏ ông B là một con người thiếu tế nhị, vi phạm những qui luật sơ đẳng nhất của đạo đức. Rơ ràng cũng là đánh lại thẳng tay, đánh cho chết luôn. B́nh thường ra, ông B có quyền buồn phiền về sự thay đổi lập trường - nếu ông nghĩ là có - của ông A. Ông có thể phản bác lại, đó là quyền của ông và hơn thế nữa, đó là phản ứng tự nhiên của một người đấu tranh chính trị. Nhưng tại sao ông có thể phản ứng một cách cạn tàu ráo máng như thế. Ngược lại, nếu ông B đă lỡ viết ra một bài như thế, th́ ông A hoặc có thể bỏ qua, hoặc có thể biện minh, nhưng sao lại ra tay tàn nhẫn như vậy?
Nhưng chúng ta không b́nh thường. Người Việt nam chúng ta trong tiềm thức không ưa nhau, chúng ta có sẵn một bản năng tiêu diệt lẫn nhau, chỉ đợi cơ hội là bùng phát.
Anh em Thông Luận chúng tôi, và cá nhân tôi, đă là đối tượng của những đả kích rất gay gắt, xuyên tạc và mạ lỵ. Nhưng chúng tôi hằng bảo nhau là phải coi chừng cái tâm lư thù ghét nhau và phải đè bẹp nó, không cho nó cơ hội cất cái đầu xấu xa của nó lên. Chúng tôi đă im lặng trước mọi công kích, chúng tôi chỉ tiếp tục tranh đấu cho lập trường của ḿnh mà thôi. Tưởng như thế là yên thân, không ngờ chúng tôi lại bị nhiều người buộc tội v́ chính sự chịu đựng đó. Ṭi nói chuyện với cô Thụy Giao, chủ bút báo Xây Dựng tại San José, và cô Thụy Giao lên án chúng tôi: Các anh khinh người quá người ta đả kích các anh, các anh không thèm trả lời, như thế là các anh coi mọi người là đồ bỏ?.
Tôi trả lời: Chúng tôi có trả lời đấy chứ, chúng tôi đọc nhưng bài đả kích và rút kinh nghiệm để tŕnh bày rơ lập trường của chúng tôi, giải đáp nhưng chất vấn đă nêu ra.
Mà thực tế là như thế.
Thực ra chúng tôi cũng muốn trả lời một cách trực tiếp, nhưng nhưng bài đả kích gay gắt và hằn học quá, rơ ràng các tác giả không muốn đối thoại.
Làm thế nào để khỏi bị lên án? Có lẽ không có cách nào cả v́ người Việt chúng ta mang sẵn cái bản năng buộc tội và kết án lẫn nhau ở trong ḷng. Chúng la cần cảnh giác coi chừng chính ḿnh.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Phương pháp và gắn bó

 

Năm 1964, nước Pháp lấy quyết định công nhận và b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Lục Địa. Quyết định này có nghĩa là họ chấp nhận điều kiện của Bắc Kinh, thôi không nh́n nhận Đài Loan là đại diện chính thức của Trung Hoa nữa và cũng không nh́n nhận Đài Loan là một quốc gia mà chỉ là một phần của nước Trung Hoa do Bắc Kinh đại diện.
Trong cuộc họp báo công bố quyết định này, tướng De Gaulle, tổng thống Pháp lúc đó, nói về nước Trung Hoa như sau: Trung hoa, quốc gia vĩ đại với lịch sử dài hàng ngàn năm, nơi mà từ thế hệ này qua thế hệ khác sự khéo léo của con người đă bù đắp lại sự thiếu sót về phương pháp và gắn bó... (La Chine, pays immense à lhistorie millénaire où depuis des générations lindustre des hommes a compensé le défaut de méthode ét de cohésion...).
Hơn ba mươi năm đă trôi qua kể từ ngày tôi ngồi trước máy truyền h́nh theo dơi cuộc họp báo của tướng De Gaulle nên có thể tôi không nhắc lại được đúng những lời của tướng De Gaulle, nhưng ông đă nói gần gần như thế. Tôi đă cố viết lại câu nói tiếng Pháp của ông v́ sự hiện diện của hai danh từ quan trọng: méthode (method trong tiếng Anh) và cohésion (cohesion). Dịch hai tiếng này không phải dễ.
Phải dịch cohésion là ǵ? Nó là một t́nh trạng của một toàn bộ, trong đó mọi thành tố phù hợp với nhau, bổ túc cho nhau, hỗ trợ cho nhau để tạo ra một tổng thể chung bền vững. Tạm dịch là gắn bó. Tiếng Việt ta không có từ ngữ để diễn tả khái niệm này bởi v́ người Việt ta không có ư niệm cohésion. V́ không có giác quan về sự gắn bó (cohésion) nên người Việt ta không thể kết hợp với nhau để làm những công tŕnh lớn, gồm nhiều phần và đ̣i hỏi sự đóng góp của nhiều người với nhiều tài năng khác nhau.
Methode th́ ta có tiếng phương pháp. Từ ngữ này không thấy trong văn học và tài liệu của ta trước thế kỷ 20. Có lẽ là ta đă dùng lại một chữ mà người Trung Hoa mới sáng chế ra gần đây để chỉ một khái niệm du nhập từ phương Tây. Tướng De Gaulle có lẽ cũng nghĩ là người Trung Hoa không có phương pháp. Trước đây, theo nhiều biết hạn hẹp của tôi, người Trung Hoa chỉ có chữ phương để chỉ một phương hướng (phương Đông, phương Tây), cũng có những chữ phương có nghĩa khác, thí dụ là thơm hay đầy đặn. Ngoài ra người Trung Hoa c̣n có c̣n chữ pháp để chỉ qui luật, phép tắc. Thí dụ như Tôn Tử binh pháp có nghĩa là qui luật dùng binh của Tôn Tử.
Chữ phương pháp được người ḿnh hiểu là cách làm, nhưng như vậy không đúng với nội dung của từ méthode. Méthode có nghĩa đó thực nhưng trong khoa học tổ chức c̣n có nghĩa phong phú hơn nhiều, và nghĩa này th́ tôi thấy tuyệt đại đa số người Việt không biết đến. V́ thế mặc dầu đă có danh từ phương pháp nhưng thật ra ta vẫn chưa có phương pháp.
Phương pháp trong khoa học tổ chức bao gồm một cố gắng phân tích một công tŕnh, t́m ra những yêu cầu về khả năng, phương tiện, vật liệu, thời hạn, kiểm điểm những ǵ ḿnh đă có và những ǵ cần phải thụ đắc, chia công tŕnh hay dự án ra làm những thành phần, quyết định sử dụng kỹ thuật nào cho mỗi phần, quyết định ai làm ǵ và làm như thế nào, vào lúc nào, theo dơi diễn tiến của dự án như thế nào, lấy những tiêu chuẩn nào để kiểm tra sự tiến hành nghiêm túc. Và điều quan trọng hơn hết là phương pháp phải được mọi người có trách nhiệm trong dự án hiểu biết và áp dụng. Phương pháp phải duy nhất trong dự án. Không thể có nhiều phương pháp trong một dự án bởi v́ phương pháp cũng là ngôn ngữ chung cho cả dự án. Mọi người phải nói cùng một thứ tiếng. Mỗi từ ngữ phải có ư nghĩa rơ rệt của nó và phải có cùng một nghĩa đối với mọi người. Trong sinh hoạt nghề nghiệp của tôi, từ kỹ sư, dự án trưởng, đến giám đốc kỹ thuật, tôi đă tham gia vào nhiều dự án thuộc khá nhiều ngành. Bất cứ một dự án nào người ta cũng có thể chọn lựa giữa nhiều phương pháp.
Các công ty lớn trước khi bát đầu thực hiện một công tŕnh dành rất nhiều th́ giờ cho phương pháp. Họ hội họp rất nhiều và thảo luận rất kỹ càng để yên trí mọi người hiểu rơ phương pháp đă dược chọn lựa, và biết chắc ḿnh phải làm ǵ và làm như thế nào. Ngay cả các tài liệu thông tin nội bộ cũng có mẫu rơ ràng. Dự án càng mới, kỹ thuật càng hiện dại th́ càng càn nhiều th́ giờ cho phương pháp. Tôi từng tham dự vào một dự án chỉ kéo dài một năm mà trong đó có hai tháng hội họp để chỉ bàn về phương pháp và sau đó trong các buổi họp hàng tuần phương pháp luôn luôn được nhắc lại.
Nghe tướng De Gaulle nói về người Trung Hoa như vậy tôi nghĩ thầm nếu người Trung Hoa không những khéo léo mà c̣n có cả phương pháp và sự gắn bó th́ họ đâu đến nỗi thoái hóa như ngày hôm nay.
Trong Việt nam Sử Lược, Tràn Trọng Kim nhận định: Nước ta về văn hóa, tư tưởng, nếp sống đều bắt chước theo người Tàu, nhưng cái ǵ cũng sau người Tàu một bước . Nhiều người c̣n chua chát nhận định văn hóa, tư tưởng Việt nam chỉ là một cóp nhặt của văn hóa, tư tưởng Tàu, và người Việt chỉ là một ấn bản mờ nhạt của người Tàu.
Nhận xét này tuy hơi tàn nhẫn nhưng không phải là sai. Người Việt nam c̣n thiếu phương pháp hơn người Tàu nhiều, như tôi có thể nhận thấy ngay trong các tiệm ăn Tàu nhỏ. Người hầu bàn tính tiền rất chính xác mà không cần nhớ hay đọc lại phiếu đặt hàng. Họ xếp một chồng đĩa nhựa nhỏ ở góc bàn ăn, mỗi đĩa theo màu sắc là một món có giá nhất định. Chỉ cần đếm đĩa là họ tính tiền được ngay. Trong bữa ăn so sánh số đĩa trên bàn với phiếu đặt hàng họ biết c̣n thiếu những món ǵ. Giản dị và hiệu quả. Sự thiếu sót về gắn bó của người Việt có thể nhận thấy rơ ràng trong các cơ quan chính quyền, các công ty, nhất là các công ty quốc doanh, và các hội đoàn. Tôi chưa được thấy một đơn vị nào mà mọi người làm việc nhịp nhàng với nhau. Tôi chưa thấy một người lănh đạo nào hiểu rằng vai tṛ của người lănh đạo trước hết là tạo ra và giữ ǵn sự gắn bó của đơn vị. Cơ quan này phá đám cơ quan kia, trong cùng một cơ quan đơn vị này bất chấp đơn vị kia cần ǵ và làm ǵ. Có khi cùng một đơn vị mà ở hai pḥng khác nhau hai người đang làm cùng một việc, trong khi có những việc rất cần làm mà không ai làm.
Lư do của sự thiếu đồng bộ là v́ người Việt nam không ưa nhau như đă nói trong phần trước, nhưng cũng v́ ư niệm t́m kiếm đồng thuận h́nh như vắng bóng trong đầu óc người Việt. Chúng ta chỉ biết áp đặt và khi không thể áp đặt th́ chúng ta bất lực. Một thí dụ đă kéo dài hai mươi năm qua tại hải ngoại là những cố gắng để kết hợp các tổ chức, trong tinh thần rất cẩu thả nhưng được diễn tả một cách rất kêu là gạt bỏ mọi dị đồng chính kiến . Nhưng như thế nào là gạt bỏ dị đồng chính kiến? Gạt bỏ chính kiến của ai? Hay gạt bỏ mọi chính kiến? Nếu vậy th́ ngồi lại với nhau để làm cái ǵ? Nhưng dĩ nhiên là không ai chịu gạt bỏ chính kiến của ḿnh cả. Và dĩ nhiên giấc mơ kết hợp chỉ là hoang tưởng. Làm thế nào để kết hợp những tổ chức không theo đuổi cùng một mục đích, không sử dụng cùng một phương tiện, và nhất là không bao giờ chấp nhận ai hơn ḿnh?
Khi tôi tới Paris hồi cuối năm 1982, một số thân hữu rủ tôi lập một tổ chức, tổ chức đó sau này được gọi là nhóm Thông Luận, rồi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tôi đă đề nghị là hăy dành hai năm để chỉ thảo luận với nhau mà thôi, và sẽ chỉ thành lập một tổ chức khi đă đồng ư với nhau trên tất cả những vấn đề cần được đặt ra, trên tầm quan trọng của mỗi vấn đề, và trên hướng giải quyết của những vấn đề đó. Và sự đồng ư đó phải được ghi nhận trên giấy trắng mực đen. Kết quả của hai năm làm việc đó là tập tài liệu Có Sở Tư Tưỏng. Sau khi tập tài liệu thành h́nh, chúng tôi ngừng gặp nhau một thời gian để mọi người suy nghĩ một minh và quyết định đi tới hay không đi tới. Chính nhờ thế mà sau này dù bị nhiều vu cáo, đánh phá, chúng tôi vẫn gắn bó với nhau. Trong khi đó tôi đă quan sát nhiều tổ chức tan ră bởi v́ sau một thời gian hoạt động mọi người khám phá ra rằng thực ra ḿnh không đồng ư với nhau như đă quá lạc quan mà tin tưởng lúc ban đầu.
Thiếu gắn bó cũng là một hậu quả tự nhiên của thiếu phương pháp. Mỗi người hiểu một cách, mỗi người làm một cách, làm sao có thể hoạt động được với nhau? Một kỹ sư Việt nam tốt nghiệp sau năm, sáu năm miệt mài ở đại học, có khi tốt nghiệp xong c̣n bỏ th́ giờ học thêm hai ba bằng cấp khác, nhưng lại không chịu bỏ ra một hai tuần lễ để đọc một quyển sách về phương pháp trong ngành của ḿnh, hay ngay cả một cuốn sách về phương pháp làm việc trong mọi ngành: cách cư xử với đồng đội, cách giao thiệp với cấp trên, cách điều khiền một đơn vị. Có người vào làm trong một công ty mà sau hai ba nam vẫn chưa thèm đọc sơ đồ tổ chức của công ty
Sự thiếu phương pháp của người Việt không những chỉ thể hiện trong công việc mà c̣n cả trong đời sống hằng ngày. Tôi rất ít gặp những người Việt nam giữ một cuốn nhật kư, hay đặt ra những mục tiêu ḿnh phải đạt tới trong tháng, trong năm để có thể nh́n lại ḿnh, kiểm điểm và rút kinh nghiệm, trong khi đó là điều mà đại đa số người phương Tây đều làm. Phương pháp làm việc của chúng ta là cứ đến đâu hay đến đó.
Chọn người bạn đường, vợ hay chồng, có lẽ là vấn đề quan trọng nhất của một đời người, quan trọng hơn danh vọng, bằng cấp và tài sản bởi v́ nó quyết định cuộc đời ta sẽ sung sướng hay đau khổ. Các cụ thường nói: Trai khôn t́m vợ, gái ngoan t́m chồng. Tuy vậy đă có bao nhiêu thanh niên nam nữ, đặt vấn đề hôn nhân một cách nghiêm túc và giải quyết một cách đứng đắn? Lấy vợ chồng ẩu, rồi sống cuộc sống hôn nhân cũng ẩu. Hầu như tất cả trai gái Việt nam trước khi lấy vợ lấy chồng đều không chịu đọc một cuốn sách nào về đời sống gia đ́nh, về tâm lư bạn trai bạn gái, hên hệ t́nh cảm và t́nh dục giữa vợ chồng, về những niềm vui và ràng buộc của lứa đôi, mặc dầu đó là một vấn đề rất phức tạp. Thế rồi bực bội, căi cọ, gia đ́nh không có hạnh phúc, hay không có hạnh phúc như có thể có. Điều ngộ nghĩnh nhất là các lớp huấn luyện chuẩn bị cho hôn nhân thường diễn ra trong các chùa hay các nhà thờ do các linh mục và đại đức hướng dẫn, trong khi trên nguyên tắc họ là những người ít có thẩm quyền nhất để bàn về đời sống vợ chồng.
Có rất đông người có tới sáu bảy con (số con thường là một sự t́nh cờ không có chủ đích trước) mà không hề học hỏi bao giờ về tâm lư trẻ thơ và cách giáo dục con cái, rồi ngạc nhiên là con cái mỗi đứa một tính và kết luận cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Cái may mắn nhất của tôi khi được đi du học không phải là nhưng kiến thức (tôi đă có thể tự học trong sách) mà là được nh́n, được sống, làm quen và làm việc với những người thuộc các dân tộc tiến bộ. Kết luận của tôi rất rơ ràng và đau đớn : so với họ, người Việt nam ḿnh thiếu phương phấp một cách thê thảm.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Phá vỡ định luật 8

 

Tôi có một người bạn rất say mê Kinh Dịch và thuộc ḷng tất cả các quẻ bát quái. Anh ta giải thích cho tôi rằng con số 8 là một con số kỳ diệu. Nó là một kết hợp chắc và mạnh nhất. Là một nhà khoa học, anh ta càng phục quẻ bát quái v́ nó có một kiểm chứng khoa học. Các nguyên tử mà ṿng ngoài có 8 điện tử (électrons) là những nguyên tử chắc nhất. Anh ta thán phục người Trung Hoa từ đời nhà Chu đă khám phá ra những nguyên lư kỳ diệu. Anh ta tin là vào đời nhà Chu, nước Tàu đă tiến tới một tŕnh độ văn minh rất cao siêu mà về nhiều mặt thế giới hiện nay chưa bắt kịp. Để thuyết phục tôi, anh ta dẫn chứng những kinh nghiệm tổ chức. Các buổi họp 8 người là tốt nhất, các tổ chức khoảng 8 người là những tổ chức hiệu lực nhất. Điều này người ta có thể quan sát được. Nhiều tổ chức lúc đầu khi mới thành lập với một số thành viên dưới 10 người th́ lành mạnh và hiệu lực lắm, sau khi bành trướng ra th́ lủng cũng, chia rẽ, rồi tan ră.
Tuy nhiên, điều anh bạn giải thích một cách huyền bí khoa học tổ chức có thể giải thích một cách kỹ thuật.
Khi hai người thảo luận với nhau th́ rất giản dị, người nọ nói người kia tiếp thu và ngược lại, chỉ có hai luồng giao cảm từ người nọ đến người kia và ngược lại. Nhưng khi ba người A, B, C trao đổi với nhau th́ có tới 12 luồng giao cảm: hai giữa A và B, hai giữa A và C, hai giữa B và C, hai giữa A và nhóm hợp thành bởi B và C, hai giữa B và nhóm hợp thành bởi A và C, và sau cùng hai luồng giao cảm giữa C và nhóm hợp thành bởi A và B. Bằng ấy luồng giao cảm qua lại trong một phối hợp giữa ba người mà thôi. Số quảng giao cảm tăng lên một cách rất nhanh chóng với số người tham dự. Bạn đọc nào thích toán hăy thử làm tính sẽ thấy nếu có năm người số lượng giao cảm qua lại là hơn một ngàn. Khoa học tổ chức kết luận một cách quả quyết là không thể chờ đợi một kết luận thông minh nào ở những buổi họp có quá 5 người b́nh đẳng với nhau về mọi mặt.
Trong thực tế cũng có những buổi họp có rất đông người mà vẫn có kết quả tốt nhưng đó là những buổi làm việc rất đặc biệt. Đó thực ra là những buổi họp có tính thông tin, trong đó một người, hay một vài người, thuyết tŕnh và thông báo những quyết định cho cử tọa, phần c̣n lại chỉ ghi nhận. Cũng có những buổi họp tuy trên lư thuyết là thảo luận nhưng trong đó một người hay một vài người có vai tṛ vượt trội hơn những người khác, những quảng giao cảm ít ỏi liên hệ tới họ mạnh hơn hẳn và lấn át những quảng giao cảm khác, giản dị hóa sự trao đỗi và giúp cho buổi họp đạt kết quả. V́ trong thực tế không thể có 8 người thực sự b́nh đẳng với nhau về mọi mặt nên con số 5 lư thuyết của khoa học tổ chức có thể nâng lên 8.
Xem như thế cái định luật 8 của anh bạn tôi không có ǵ là huyền bí và không chứng tỏ sự hiểu biết sâu xa của Kinh Dịch về sự mầu nhiệm của tạo hóa. Nó chỉ là một vấn đề cụ thể của tổ chức và phương pháp.
Nếu trong những điều kiện tuyệt đối khách quan, 5 người là con số tối đa để có thể làm việc với nhau, th́ trong những điều kiện b́nh thường và tự nhiên trong cuộc sống, 8 là con số trung b́nh. Trong những điều kiện tự nhiên luôn luôn có một hay một vài nhân vật nói hơn phần c̣n lại và tạo ra quanh họ những liên hệ mạnh hơn hẳn và giữ cho tập thể được gắn bó.
Cũng có thể là v́ một mục đích, một mục tiêu chung đủ rơ rệt đối với mọi người mà những quảng giao cảm giữa các thành phần bớt đi phần quan trọng so với những quảng giao cảm của mọi người với những người có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, với điều kiện là những người có trách nhiệm được chỉ định theo một the thức chấp nhận được cho tất cả mọi người. Đó là cái tại sao của các nền dân chủ. Đó là lối thoát ra khỏi cái giới hạn khe khắt của định luật 8. Một lối thoát khác là kỷ luật sắt và khủng bố.
Người Việt nam ta v́ dành quá ít suy nghĩ và t́m ṭi cho phương pháp mà thiếu hẳn khả năng làm việc có tổ chức. Do đó hoặc là chúng ta làm cho một tổ chức có sẵn và chịu sự lănh đạo một cách thụ động, hoặc chúng ta lập ra một tổ chức rồi tổ chức tan ră sau khi đă tăng trưởng quá mức giới hạn. V́ không biết tới phương pháp, nhiều khi ta không ư thức được sự cần thiết và nghiêm chỉnh của phương pháp. Tôi đă dự không biết bao nhiêu buổi họp, trong đó nhiều người nói một cách chắc nịch: Phải làm như thế này.... Chỉ cần nghe họ phát biểu, tôi cũng có thể nhận ngay ra rằng họ không biết ǵ về phương pháp cả hay chỉ nghe nói tới một cách rất lơ mơ. Nhưng họ cứ phát biểu vung vít, nói một cách rất quả quyết. Đôi khi có những người nói đúng, chứng tỏ có kinh nghiệm làm việc tập thể, nhưng tiếng nói của họ ch́m đám trong vô số phát ngôn bừa băi khác, và cử tọa không đủ hiểu biết để phân biệt cái đúng với cái sai. Kết quả của những buổi ngồi lại với nhau như thế chẳng có ǵ khó dự đoán. Người ta không làm được ǵ và chỉ chia tay nhau với kết luận hậm hực rằng anh này, anh kia nói bậy không biết ǵ cả. Nhưng người ta không chịu nh́n nhận rằng chính ḿnh cũng không biết ǵ cả và chỉ nói khơi khơi. Đă không biết thế nào là đúng th́ làm sao biết được ḿnh sai?
Tôi cũng đă chứng kiến không biết bao nhiêu cố gắng để kết hợp hàng chục đoàn thể với nguyên tắc đặt ra là b́nh đẳng tuyệt đối giữa các thành viên, một nguyên tắc được coi là đứng đắn, rồi đi đến đè nghị lănh đạo luân phiên, một nguyên tắc cũng được coi là rất công b́nh. Mỗi lần như thế tôi biết trước chắc chắn là họ sẽ mất th́ giờ vô ích. Không những vô ích mà c̣n rất có hại v́ sau khi đă kết hợp với nhau và thất bại người ta c̣n đỗ lỗi cho nhau.
Thiếu phương pháp làm việc chung là nhược điểm trầm trọng của người Việt, là lư do tại sao chúng ta thua kém các dân tộc khác mà tŕnh độ hiểu biết có thể không hơn ta. Nó giải thích tại sao ba người Việt thua ba người Nhật ngay cả nếu mỗi người Việt không thua mỗi người Nhật.
Phương pháp có thể học được một cách tương đối dễ dàng rồi theo thực tế mà nhuần nhuyễn. Nhưng chúng ta không những không có phương pháp mà c̣n không chịu học hỏi phương pháp bởi v́ học hỏi về phương pháp là một học hỏi thực dụng không đem lại hai bằng tiến sĩ. Cuối cùng chúng ta không có cả ư thức về phương pháp. Yêu cầu cấp bách của chúng ta là phải phá vỡ định luật 8.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Hợp tan

 

La Quán Trung mở đầu truyện Tam Quốc bằng câu: Phàm việc lớn trong thiên hạ cứ hợp rồi lại tan, tan rồi lại hợp. Hợp tan là một triết lư trong tư tưởng á Đông. Có người nói nó là một lẽ tự nhiên của tạo hóa, bởi v́ có âm th́ có dương, có cùng th́ có thông, có tan th́ có hoàn như Kinh Dịch đă nói. Nhưng tại sao cứ hợp rồi lại tan? Hợp th́ dễ hiểu v́ hợp quan gây sức mạnh, con người t́m sức mạnh và sự thành công trong hợp quàn Nhưng tại sao hợp rồi lại tan? Có phải thực sự là lẽ trời không? Hay ta quen đỗ cho ông Trời những ǵ ta không giải thích được. Ông Trời có sức mạnh vô biên mà cũng có xương sống đủ vững chắc để nhận tất cả những ǵ mà ta chất lên lưng ông.
Xin thưa là không, chẳng có lư do màu nhiệm nào cả. Sự nhiệm mầu có chăng là ở chỗ sau quá nhiều hợp tan người á Đông, và nhất là người Việt nam, vẫn chưa ư thức được sự cần thiết của phương pháp và tổ chức. Khoa học xă hội khẳng định mỗi kết hợp là một sinh vật riêng, một sinh vật phức tạp, khác với những cá nhân cấu tạo ra nó. Sức khỏe của sinh vật phức tạp đó là đồng thuận giữa các thành viên. Đồng thuận mạnh, tập thể mạnh. Đông thuận yếu, tập thể yếu. Đồng thuận mất, tập thể tan. Không có ǵ là huyền bí cả.
Cứ lấy thí dụ một kết hợp lỏng lẻo nhất trong mọi kết hợp: những người đi cùng một chuyến xe lửa. Họ cũng phải có đồng thuận. Họ phải đồng ư với nhau trên khá nhiều mặt: cùng một mục đích là đi từ điểm này tới điểm nọ trên một lộ tŕnh, đồng ư rằng xe lửa là phương tiện tốt nhất, đồng ư rằng ai lên trước th́ được chỗ ngồi, ai tới sau không được xô người khác để chiếm chỗ, đồng ư rằng đi xe phải mua vé, v. v... Khi xe lửa tới nơi, đồng thuận không c̣n nữa và tập thể tan.
Lẽ hợp tan ngày xưa có thể giải thích như thế này: gặp thời loạn lạc ước nguyện của mọi người là có ḥa b́nh để được sinh sống yên ổn. Tái lập ḥa b́nh và kỷ cương là đồng thuận. Đồng thuận này đủ mạnh để động viên mọi người quanh một con người may man được nh́n như là hy vọng. Ḥa b́nh thiết lập được rồi, một thời kỳ thịnh trị mở ra v́ đồng thuận kế tiếp của mọi người là cố gắng để mưu t́m sự sung túc. Sau một thời gian, khi sự sung túc đă tạm thời đạt được, đồng thuận yếu dần đi, những xung khắc quyền lợi ngày càng gia tăng rồi loạn lạc và tan ră. Các anh quân, minh chúa có thể làm cho đồng thuận mạnh thêm và kéo dài các triều đại, nhưng nếu không có những thay đổi cơ bản trong chiều sâu của xă hội th́ lẽ hợp tan là điều dĩ nhiên.
Một tập thể là một sinh vật rất phức tạp cần được quản lư một cách rất có phương pháp. Tập thể càng lớn, đồng thuận càng khó quản lư Chín người mười ư. Nếu không cẫn thận, tập thể có thể tan v́ chính sự lớn mạnh của ḿnh.
Tôi sang Paris năm 1961, lúc đó có một Tổng Hội Sinh Viên Việt nam tại Pháp do một số sinh viên thân miền Nam lănh đạo. Nói chung họ là những người tốt, ủng hộ chế độ Ngô Đ́nh Diệm do lư trí hơn là do t́nh cảm. Chế độ Ngô Đ́nh Diệm không được ḷng người nên tổng hội này yếu. Khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đổ, có một cố gắng lớn để thành lập một tổng hội sinh viên khác. Lúc đó sinh viên Việt nam đă đông hơn và các hoạt động thành lập tổng hội sinh viên diễn ra rất sôi nổi. Có rất nhiều nhóm ra đời giành nhau vai tṛ lănh đạo tổng hội, nhóm nào cũng có nhiều người giỏi với tô chức có qui củ. Nhưng rồi họ dần dần lủng cũng và yếu đi trước khi tổng hội sinh viên được thành lập.
Tôi chỉ theo dơi một cách bàng quan những hoạt dộng đó. Lúc đó chúng tôi có một nhóm bạn bè nhỏ, đa số nhưng sinh viên học để thi vào các trường lớn (grandes écoles). Nước Pháp có hai hệ thống giáo dục đại học song song, một hệ thống đại học b́nh thường đào tạo cử nhân, tiến sĩ và một hệ thống riêng của các trường lớn. Chúng tôi chẳng có tổ chức ǵ cả, chỉ chơi với nhau trên tinh thần bạn bè. ít ai có ư thức chính trị, nhưng bù lại chúng tôi đều có thiện chí và đều biết điều, và v́ tất cả đều khá sáng dạ nên cái ǵ chưa biết cũng có thể học hỏi nhanh chóng và sau đó biết lư luận để phân biệt phải trái.
Các nhóm tranh nhau tổng hội cuối cùng đều suy yếu và tan ră đi, chính tổng hội cũng sắp tan ră, cuối cùng chúng tôi không giành mà được đẩy ra nắm ban chấp hành tổng hội. Từ đó chúng tôi đặt ra một nếp sinh hoạt lành mạnh cho tổng hội, khiến tổng hội sống vững măi cho đến nay. Tổng Hội Sinh Viên Việt nam tại Paris tới nay đă gần bốn mươi tuổi, và là tổ chức không cộng sản lâu đời nhất tại hải ngoại. Sự thành công trong việc làm sống lại một tổng hội sinh viên sắp chết và cho nó một nội lực để có thể kéo dài khiến chúng tôi được rất nhiều người khen là xuất sắc. Nhưng lư do không phải như thề. Chúng tôi đă thành công và đứng vững chỉ v́ chúng tôi không phức tạp, chúng tôi không đặt ra những cơ chế rườm rà như những nhóm khác nên đă tránh được những mâu thuẫn nội bộ. Khi nắm được ban chấp hành, chúng tôi đă chẳng câu nệ chủ tịch, tổng thư kư, ủy viên; chúng tôi c̣n không phân biệt cả người trong ban chấp hành và người ngoài ban chấp hành. Cứ cùng một nhóm bạn bè, cùng đồng ư ủng hộ Việt nam Cộng Ḥa, c̣n việc th́ cứ ai làm được là làm. Lối làm việc giản dị đó mà thành công hơn hẳn v́ chúng tôi có những đồng thuận rơ ràng và gắn bó với nhau. Không phải là chúng tôi đă không gặp những vấn đề nan giải. Chẳng hạn như khi các tướng tá tỏ ra tham nhũng và vô tư cách, chúng tôi nhận xét là không thể duy tŕ đồng thuận ủng hộ chính quyền Sài G̣n nữa. Chúng tôi bèn họp nhau lại thảo luận trong nhiều đêm không ngủ và cùng đi tới kết luận ủng hộ chính thể cộng ḥa chứ không ủng hộ chính phủ Sài G̣n. Tổng hội lại đứng được. Bí quyết thành công của chúng tôi có lẽ là vô t́nh chúng tôi đă làm việc có phương pháp: không ai bịa đặt ra vấn đề, phân tích rơ các vấn đề đặt ra, giản dị hóa tối đa, rồi t́m giải pháp dễ thực hiện nhất. Các tổ chức khác đă tan v́ họ quá phức tạp. Họ đặt ra những cơ chế và những chức vụ không cần thiết, họ đặt ra những vấn đề mà họ không giải quyết được. Họ nghĩ là họ có tổ chức hơn chúng tôi và ngạc nhiên tại sao họ tan ră trong khi chúng tôi vẫn sống mạnh.
Gần đây, năm 1993, một tổ chức thanh niên sinh viên Việt nam tại Pháp có tổ chức rất thành công một ngày gặp gỡ và thảo luận. Các trao đổi đă diễn ra ở một tŕnh độ rất cao, mọi người đều thỏa măn, uy tín của tổ chức đó lên rất cao. Tuy nhiên thực tế hơi khác.
Việc chuẩn bị và tổ chức ngày hội thảo đó đă rất phức tạp và đă gây ra những xích mích đáng tiếc trầm trọng trong nội bộ. Sau đó ban chấp hành tan ră. Họ đă làm một công việc quá sức họ. Quá sức có nghĩa là họ đă làm một công việc khó khăn hơn mức độ mà sự đồng thuận của họ cho phép. Đây là một trường hợp điển h́nh. Tôi có thói quen hễ nghe tin một tổ chức nào vừa làm xong một công tác lớn được mọi người ca tụng là lại lo thầm rằng tổ chức đó sắp có vấn đề
Sau khi tan ră, người ta giận ghét nhau, gán cho nhau vô số tính xấu: lưu manh, gian dối, vô trách nhiệm, vô tư cách, v.v... Người ta giải thích bằng những lư do đạo đức một sự kiện chỉ giản dị là hậu quả của sự thiếu hiểu biết phương pháp làm việc tập thể.
Người Việt nam chúng ta không làm việc chung được với nhau bởi v́ chúng ta không ư thức được rằng đồng thuận là sức khỏe của mọi kết hợp và một tổ chức muốn sống phải giữ được đồng thuận. Giữ đồng thuận đ̣i hỏi mọi người hy sinh ư kiến riêng của ḿnh. Chúng ta không quan tâm giữ ǵn đồng thuận mà chỉ đ̣i thực hiện cho bằng được ư kiến của riêng ḿnh. Chúng ta thiếu giác quan đồng thuận.
Trong Binh Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trăi kể tội quân Minh bằng một câu rất lạ: chấp nhất kỷ chi kiến, giá họa ư tha nhân (chỉ biết có ư kiến của riêng ḿnh, luôn luôn cáo buộc người khác). Tôi có cảm tưởng Nguyễn Trăi kể tội đồng bào của chính ông. Câu trên Trần Trọng Kim dịch là cậy ḿnh là phải, chỉ quen đổ vạ cho người. Câu dịch thật là sai ư của tác giả. Quân Minh sang nước ta để cướp bóc, có chính nghĩa nào đâu để có thể cậy ḿnh là phải? Bản dịch đă không lột được một ư chắc đă dằn vặt tác giả hiểu lầm trong cuộc vận động kết hợp để giải phóng đất nước, và làm ông nhức nhối đến nỗi ông viết một câu lạc lơng vào một bài lên án quân xâm lược.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Anh hùng nước Nam

 

Hồi c̣n ở tiểu học, tôi có làm một bài luận với đầu đề : Trong những anh hùng nước Nam, em thích vị nào nhất? Hăy nói tại sao? . Bài luận này rất phổ thông, h́nh như người nào học tiểu học chương tŕnh Việt cũng đă gặp. Chỉ sau khi đảng cộng sản nắm chính quyền, câu hỏi mới không đặt ra nữa, v́ lúc đó người anh hùng vĩ đại nhất từ xưa đến nay của Việt nam dĩ nhiên bắt buộc phải là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tôi chọn vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ. Lư do là v́ ông ấy giỏi vơ và đánh thắng năm mươi vạn quân Thanh tại trận Đống Đa. Trong lớp tôi có tới gần một nửa cũng chọn Nguyễn Huệ. Phần c̣n lại chọn Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng, một vài đứa chọn Ngô Quyền, Trần B́nh Trọng, Lê Lợi, Lê Lai, Trần Quốc Toản, Lư Thường Kiệt.
Sau khi du học Pháp về lôi hỏi một số giáo viên tiểu học về bài luận. Họ cho biết năm nào cũng ra đề tài này và Nguyễn Huệ luôn luôn về nhất khá xa, kế tiếp là Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng. Thỉnh thoảng có Nguyễn Trăi, Ngô Quyền, Trần B́nh Trọng, Nguyễn Công Trứ.
Nói chung ba ngôi vị đầu vẫn thế, ở đoạn cuối bảng danh dự đă bắt đầu xuất hiện những nhân vật mới có thành tích về văn hóa. Nhưng mẫu số chung giữa các vị anh hùng này vẫn không đỗi: tất cả đều là vơ tướng. Nguyễn Trăi tuy xuất thân là nho sinh nhưng đă cầm quân đi đánh giặc và làm quân sư (ở đây xin chú thích chữ quân sư thường được hiểu trong ngôn ngữ dân gian là người bày mưu kế nhưng thực ra nó có nghĩa là tư lệnh, các quân sư được ra lệnh cho các tướng). Nguyễn Công Trứ tuy có sự nghiệp văn chương lớn, nhưng cũng là vơ tướng, cầm quân đánh dẹp khắp nơi, từng là B́nh Tây Đại Tướng, ông được coi là người văn vơ kiêm toàn. Tuyệt đối kháng thấy Nguyễn Du, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Huy Chú. Như thế anh hùng của Việt nam bắt buộc phải là vơ tướng, và hơn thế nữa phải thắng trận. Trần B́nh Trọng, Lê Lai là những vơ tướng được tôn vinh v́ ḷng can đảm, nhưng dần dần lọt sổ. Trường hợp Nguyễn Trăi có điều đáng nói. Ông giúp Lê Lợi, cầm quân đánh giặc giành lại được độc lập cho nước ta, nhưng gặp nạn ở cuối đời, bị tru di tam tộc, về sau mới được Lê Thánh Tông phục hồi danh dự. Sự oan nghiệt đó có lẽ đă không khiến ông xuất hiện một cách lộng lẫy dưới con mắt của trẻ thơ.
Trẻ thơ là tấm gương soi tâm hồn của một dân tộc. Từ những bài luận của học sinh tiểu học, phải suy ra rằng người Việt nam có tâm lư tôn thờ bạo lực rất mạnh. Bạo lực càng nhiều, công đức càng cao.
Nguyền Huệ xuất thân là tướng cướp, nhờ liên hệ với quân Thượng và quân gốc Chiêm Thành và đám cướp biên người Tàu mà mạnh dần lên, rồi nhờ tài dùng binh mà lên làm vua. Ông là người đặc biệt hung tợn và hiếu sát. Sự nghiệp của ông là những trận đánh khốc liệt trong đó người Việt nam tàn sát lẫn nhau; chỉ có hai ngoại lệ là một trận đánh thắng quân Xiêm và một trận Đống Đa, trong đó ông phá tan quân Thanh. Trong một bài sau tôi sẽ trở lại với nhân vật Nguyễn Huệ và trận Đống Đa. ở đây tôi chỉ xin đưa một nhận định tạm thời. Nếu nh́n một cách b́nh tĩnh th́ công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp ǵ so với những tàn phá và chết chóc mà ông đă gây ra cho đất nước. Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lư kính sợ bạo lực của người Việt nam; việc người ta tô vẽ cho ông nhưng đức tính mà ông hoàn toàn không có như giỏi trị nước an dân, có ḷng nhân ái, v. v... chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn sàng làm đẹp nó.
H́nh như ta c̣n cho rằng chỉ có những chiến công mới là đáng kể, những ǵ đạt được phải đạt bằng bạo lực mới là hay. Chu Văn An đă viết ra nhiều sách, Lê Quí Đôn có công làm ra bộ tự điển bách khoa đầu tiên, Lê Văn Hưu mở đầu cho khoa sử ở nước ta, Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên biết nhận định lịch sử một cách chính xác, có thể coi như nhà lư luận chính trị đầu tiên của nước ta, Phan Huy Chú là tác giả công tŕnh biên khảo lớn nhất. Tuy vậy, tất cả đều không phải là những anh hùng dân tộc. Nguyễn Du chỉ được biết tới như một nhà thơ lớn.
Không những người cộng sản, mà cả nhưng người chống cộng, đêuf nghĩ rằng thành tích to lớn nhất và cũng là nền tảng của sự chính đáng của đảng cộng sản là đă đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh phe quốc gia. Nhưng nếu không đánh th́ sao? Nếu biết vận dụng trí tuệ để tranh đấu bất bạo động chắc chắn chúng ta cũng đă được độc lập và thống nhất không muộn hơn, mà lại không phải trải qua những đỗ vỡ trầm trọng. Ta tôn thờ bạo lực ngay cả khi bạo lực có hại.
Người cộng sản không có độc quyền tôn thờ bạo lực. Việt nam Quốc Dân Đảng dù không có một hy vọng mảy may nào thắng được người Pháp bằng bạo lực vẫn chủ trương dùng con đường bạo lực ngay từ đầu. Quyết định khởi nghĩa năm 1930 chỉ là một quyết định tự sát.
Sự hấp dẫn của bạo lực đối với chúng ta quá mạnh. Mạnh đến nỗi ta không những chấp nhận mà c̣n mơ ước bạo lực. Khi không có bạo lực, ta phải cố bịa đặt để tưởng tượng rằng ḿnh có bạo lực. Các tổ chức chống cộng hải ngoại trước đây đều đồng thanh chủ trương phải giải phóng quê hương bằng bạo lực, dù hoàn toàn không có phương tiện của bạo lực.
Ông Vơ Đại Tôn có lực lượng ǵ đâu, ông chỉ cùng với hai ba người qua biên giới Lào chụp ảnh để gây ấn tượng trong cộng đồng người tị nạn. Ông Hoàng Cơ Minh lập một doanh trại ở Thái Lan rồi bảo đó là chiến khu quốc nội. Trách họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo tôi, không công b́nh. Họ phải làm như thế để tranh thủ sự ủng hộ. Giả thử nếu ông Vơ Đại Tôn không tạo cái ảo tưởng là có bạo lực th́ ông cũng không khác nhiều người hoạt động khác. Nếu ông Hoàng Cơ Minh không lập chiến khu th́ liệu ông có được sự ủng hộ mạnh mẽ đến thế không?
Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp bợm. Tôi sang Pháp lúc ông Hoàng Cơ Minh đang nỗi như cồn. Tôi đă nói chuyện với rất nhiều người, và không ai, kể cả những người ủng hộ ông, tin là ông có chiến khu thực sự đâu. Vậy làm sao có thể nói là đă bị lừa gạt? Nói như vậy là không thành thực. Sở dĩ người ta ủng hộ ông là v́ ông đă có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực, và ảo tưởng đó là giấc mơ của đa số người tị nạn thời đó. Họ đóng góp cho ông Hoàng Cơ Minh v́ ông cho phép họ nuôi dưỡng giấc mơ đó. Họ đóng góp cho ông để ông diễn tuồng kháng chiến vơ trang cho họ xem.
Ông Vơ Đại Tôn đă phải trải qua mười năm tù tội. Ông Hoàng Cơ Minh đă thiệt mạng. Nhiều người khác đang ṃn mỏi trong các nhà tù. Họ là những nạn nhân đáng thương của tâm lư tôn sùng bạo lực của người Việt nam.
Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán thành đường lối đấu tranh của họ. Nhưng đối với họ tôi luôn luôn có một t́nh cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng trách là tâm lư tôn sùng bạo lực của con người Việt nam.
Nhóm Thông Luận đă bị phản đối dữ dội v́ chủ trương từ bỏ bạo lực, và do đó đụng chạm tới một sự sùng ái lâu đời. Một dân tộc không nhiều th́ ít cũng xứng đáng với số phận của ḿnh.
Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt quệ như thế này cũng v́ cái tâm lư tôn sùng bạo lực ấy. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên thấy ḿnh là nạn nhân của bạo lực.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Thằng nào đây?

 

Đầu năm 1974, tôi đang làm chuyên viên tại Ngân Hàng Việt nam Thương Tín. Một đồng nghiệp ở pḥng bên xông vào pḥng tôi, với nét mặt lầm ĺ, ném một tài liệu xuống ngay trước mặt tôi và nói một cách sừng sộ:
- Đọc đi?
Tôi tưởng có chuyện ǵ nghiêm trọng nên đọc ngay trong khi anh bạn đứng đợi. Nhưng không, đó là một bài lăng nhăng, không tập trung vào một đề tài nào cả và cũng chẳng ra câu cú ǵ cả. Rất nhiều th́, mà, là, tại, v.v... nhưng rất ít ư và văn phạm. Tôi càng đọc càng bực bội. Trong câu cuối cùng mà tôi đọc, tác giả chê sự câu nệ bằng cấp bằng một câu : Thấy thằng nhỏ nó làm việc được th́ lại không cho nó làm, bắt nó có bằng tú tài mà nó có bằng tú tài rồi th́ nó có làm giỏi không?. Đến đây sức chịu đựng của tôi đă vượt quá giới hạn, tôi giận dữ hỏi gằn:
- Thằng nào đây? Bớp tai cho nó mấy cái?
Anh bạn phá ra cười:
- Tổng thống đấy!
Th́ ra đó là một bài nói chuyện của ông Nguyễn Văn Thiệu, trong một buổi hội nghị công chức cao cấp. Tổng thống ăn nói như vậy th́ cán bộ học hỏi được cái ǵ? Điều bi đát là ông Thiệu không phải là người ăn nói dở so với những cấp lănh đạo Việt nam khác. Nhưng bài nói chuyện của ông nếu chép lại th́ thấy là chẳng ra đâu vào đâu cả nhưng nếu nghe ông nói trực tiếp cũng có thể hiểu ông định nói ǵ, đó là điều ít khi xảy ra đối với những người lănh đạo chính quyền, chính đảng hay hiệp hội khác, nhưng người trên nguyên tắc phải có khả năng truyền thông cao. Tôi đă nghe khá nhiều bài thuyết tŕnh, đọc nhiều bài báo mà chẳng hiểu tác giả định nói cái ǵ. Các tác giả sắp xếp lộn xộn thứ tự của các ư kiến (khi họ có ư kiến, một điều tương đối hiếm), ôm đồm quá nhiều ư trong một câu dùng từ ngữ sai và bất chấp văn phạm. Đă thế khả năng tiếp thu của thính giả hay độc giả c̣n kém hơn họ (v́ ít ra họ c̣n dám nói và dám viết). Kết quả của sự trao đỗi không có ǵ khó dự đoán. Điều ai cũng có thể nhận thấy trong những buổi hội thảo của người Việt nam là cử tọa chờ cho diễn giả nói xong, đến phần quí vị nào có câu hỏi... một vài người xin phát biểu để nói (rất dài) ư kiến đă soạn sẵn của ḿnh, dù không hên hệ ǵ tới những điều diễn giả vừa nói.
Phần dẫn nhập dài ḍng này là để cảnh giác về một thiếu sót trầm trọng, bi đát, kinh khủng của người Việt: chúng ta không biết truyền thông. Chúng ta viết cẩu thả, nói lộn xộn, đọc sơ qua, nghe lơm bom, cho nên chúng ta không hiểu được nhau, rồi căi cọ với nhau, thù nhau, đánh phá nhau, và giết nhau. Người Việt nam không ư thức được hai điều tối quan trọng. Điều thứ nhất liên quan đến cá nhân: khả năng truyền thông là khả năng quan trọng nhất trong mọi khả năng của một con người để thành công. Điều thứ hai liên quan đến xă hội: một khả năng truyền thông tối thiểu là yếu tố không thể thiếu cho ḥa b́nh giữa những con người. Cách đây hơn mười năm, lúc đó tôi làm việc cho một công ty dịch vụ tin học, tôi được nha thương mại thông báo là một công ty dịch vụ chứng khoán lớn đang cần một số kỹ sư tin học để thực hiện một dự án tin học lớn. Việc đầu tiên là phải t́m một kỹ sư dự án trưởng, biết rành các kỹ thuật tin học sử dụng trong dự án và am tường các nghiệp vụ chứng khoán.
Chỉ có một kỹ sư đáp ứng hai đ̣i hỏi đó. Anh ta tốt nghiệp một trường kỹ sư khá danh tiếng, có mười năm kinh nghiệm trong ngành tin học, thông thạo các kỹ thuật tin học sử dụng trong dự án và lại đă từng tham gia vào việc thực hiện một dự án lớn về chứng khoán kéo dài hơn một năm. Quả là một con người lư tưởng cho hoàn cảnh, một con chim lạ, như người Pháp nói ùn oiseau rare. Anh giám đốc thương mại phấn khởi vô cùng: May quá, thế th́ thắng lợi chắc chắn rồi?. Nhưng tôi không chắc chắn như anh ta bởi v́ tôi nh́n thấy một mối nguy lớn mà anh ta không biết: anh kỹ sư đó là người Việt nam, và kinh nghiệm đă dạy cho tôi rằng người Việt truyền thông một cách rất luộm thuộm. Tôi lại không biết rơ anh kỹ sư này v́ anh thuộc một công ty nhỏ mà chúng tôi vừa mới sát nhập nên tôi không theo dơi anh trong dịp tuyển dụng. Từ ngày anh ấy hết công tác và về đây chờ đợi công tác khác, tôi cũng bận rộn chỉ chào hỏi và nói chuyện qua loa.
Mối lo của tôi được kiểm chứng hoàn toàn. Tôi mời anh lên, hỏi anh về dự án chứng khoán mà anh ta đă làm qua. Một sự im lặng nặng nề và tuyệt đối kéo dài gần mười phút. Tôi bối rối và hoảng hốt v́ chính sự im lặng đó. Anh không có ǵ để nói cả? V́ hai lư do.
Lư do thứ nhất, anh ta không hiểu rơ dự án đă làm và không nhớ. Người Việt nam ḿnh có một khả năng kỳ dị là có thể làm rất lâu trong một công việc mà ḿnh không thích và không hiểu. Cái ǵ cấm anh nếu không thích ngành chứng khoán th́ bỏ đi làm một việc khác? Với bằng cấp của ḿnh, anh có thể t́m việc khác một cách dễ dàng. Người Việt nam kiên nhẫn và cần cù, điều đó đúng, nhưng sự càn cù đó lại thường đi đôi với sự thụ động.
Lư do thứ hai, anh hoàn toàn không biết diễn đạt như phần lớn người Việt nam khác. Dù có hiểu và nhớ, anh cũng không thể tŕnh bày được. Tôi phải khuyến khích, hối thúc, đặt những câu hỏi ngắn, nói chung phải cạy mồm anh ra, mới được một số câu trả lời vụn vặt, nghèo nàn. Chỉ sang phần kỹ thuật trong tin học là thấy anh ta có vẻ thoải mái, mặc dầu cũng không lấy ǵ làm xuất sắc, bởi v́ tuy anh ta biết nhiều nhưng lại không tŕnh bày được một cách mạch lạc.
Cuối cùng tôi kết luận rằng anh không phù hợp với công tác, v́ đây là một công tác đ̣i hỏi khả năng lănh đạo, th́ anh ta phản đối. Anh ta nói anh ta là kỹ sư, có mười năm kinh nghiệm th́ dĩ nhiên anh xứng đáng giữ một vai tṛ quan trọng, nhiều người không có bằng cấp bằng anh ta mà chỉ năm năm đă có thể làm dự án trưởng. Tôi cố gắng giải thích rằng bằng cấp và thời gian kinh nghiệm của anh khá vững, nhưng công tác này đ̣i hỏi một sự hiểu biết tường tận về nghiệp vụ chứng khoán và một khả năng truyền thông rất cao v́ phải tiếp xúc với rất nhiều người, tham dự và điều khiển nhiều phiên họp. Tôi cũng khuyến khích anh ta nên chú ư tới nội dung của các dự án hơn là khía cạnh kỹ thuật, và nhất là nên cải tiến khả năng ăn nói. Anh vẫn khăng khăng biện luận rằng đă có bằng cấp ấy và thời gian kinh nghiệm ấy là đương nhiên anh ta phải phù hợp với công tác. về sau chúng tôi không làm việc với nhau nữa. Một lần một người quen thuật lại cho tôi nghe anh ấy nói tôi là người không tử tế với người Việt.
Một giám đốc của một công ty khách hàng biết rơ tôi v́ là bạn học cùng lớp một lần gọi điện thoại cho hăng tôi mm job trong nha điện toán của anh. Nhưng anh ta lại nói thêm: Nhưng mày đừng gởi cho tao một đồng hương của mày nghe? Người Việt của mày giỏi về kỹ thuật nhưng về truyền thông th́ lại dở quá, mà job này đ̣i hỏi rất nhiều liên lạc.
Tại sao chúng ta dở về truyền thông như vậy? Bởi v́ con người Việt nam không được giáo dục về truyền thông, mà hơn thế nữa lại được khuyến khích để đừng biết truyền thông. Xă hội ta là một phân chia đẳng cấp, trên nói dưới nghe, không có trao đỗi. Liên hệ trong xă hội ta là một tương quan lực lượng chứ không phải là một liên hệ trao đỗi. Khả năng truyền thông bị coi là một tật xấu cần phải bỏ. Đứa trẻ hay nói bị mắng là lắm mồm, thiếu hạnh kiểm. Cấp dưới dám bàn căi về quyết định của cấp trên bị coi là cứng đầu và bị trù dập.
Cách truyền đạt tư tưởng trực tiếp và sáng sủa bị coi là tầm thường, không sâu sắc. Khi Trịnh Kiềm hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm là có nên bỏ vua Lê để lên làm vua hay không th́ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói bóng nói gió: Năm nay mất mùa nên đem hạt giống cũ gieo lại th́ hơn. Cũng thế, khi Nguyễn Hoàng lâm nguy tới van kế Nguyễn Bỉnh Khiêm, th́ Nguyễn Bỉnh Khiêm thay v́ khuyên Nguyễn Hoàng nên vào Nam lập nghiệp lại cũng nói bóng gió: Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân. Cách nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là hay, là thâm thuư.
Cái ṿng luẩn quẩn là chúng ta truyền thông rất dở, rồi v́ không chịu nh́n nhận nhược điểm của ḿnh chúng ta đồng ư coi truyền thông là xấu. Kết quả là chúng ta không hiểu nhau. Trong trường hợp tốt nhất, mạnh ai nấy làm theo ư ḿnh, công việc chung mâu thuẫn và thiếu gắn bó. Trong trường hợp tệ nhất, chúng ta gán cho nhau những ư đồ đen tối, rồi xung khắc và thù địch nhau. Tôi đă chứng kiến hàng trăm, hàng ngàn cuộc căi vă gay go trong đó thực ra người ta đồng ư với nhau, nhưng chống đối nhau kịch liệt chỉ v́ không hiểu nhau, người nói đă nói dở người nghe lại không chịu nghe.
Và tôi cũng tin rằng nếu người Việt biết truyền thông, nghĩa là biết diễn đạt và biết nghe nhau, họ đă khám phá ra rằng người trước mặt ḿnh cũng có những lư tưởng và mục tiêu gần giống ḿnh và đă không giết nhau trong suốt ba mươi năm sau thế chiến thứ hai.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi

 

Tối yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
Tiếng nước tôi, tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi...
Phạm Duy (T́nh ca)
Một lư do quan trọng khác khiến chúng ta kém về truyền thông là chúng ta khinh thường tiếng Việt. Mà đă khinh thường tiếng mẹ đẻ th́ hậu quả tất nhiên là kém về truyền thông, v́ tiếng mẹ đẻ dù thế nào đi nữa cũng vẫn là ngôn ngữ mà một con người có thể sử dụng hay nhất. Nó là những tiếng đầu đời đă nhào nặn ra ư niệm, t́nh cảm, tâm hồn của con người. Một người dù có học và sử dụng một ngoại ngữ nhiều thế nào đi nửa vẫn không thể diễn tả tư tưởng và t́nh cảm của ḿnh một cách trung thành và tế nhị bằng tiếng mẹ đẻ của ḿnh. Đó vẫn chỉ là một ngôn ngữ mượn mà thôi. Những người trẻ trưởng thành tại hải ngoại có khả năng truyền thông hơn hẳn cha anh v́ được huấn luyện một cách khác, được khuyến khích phát biểu; nhưng cũng v́ tiếng Anh, tiếng Pháp được hấp thụ từ mẫu giáo và gần như là tiếng mẹ đẻ của họ. Họ không vướng một tiếng mẹ đẻ đă bị gạt bỏ.
Sự khinh thường tiếng Việt là một truyền thống của người Việt nam. Nôm na là cha mách qué, tiếng Việt là tiếng không cao thượng. Những văn bản quan trọng phải viết bằng chữ Nho. Người Việt ta khi cần nói một điều trịnh trọng, trang nhă rất thường hay xổ Nho: Thưa anh dĩ ḥa vi quí, ḿnh chẳng nên đôi co với họ làm ǵ, biết họ như vậy rồi ḿnh cứ kính nhi viễn chi là hơn. Không biết bao nhiêu lần rồi tôi đă nghe những câu nói tương tự như vậy, ngay cả tại hải ngoại này, ở cửa miệng hay ở ng̣i bút của những người có học thức và sử dụng tiếng Việt một cách nhuần nhuyễn hơn hẳn mức trung b́nh.
Chắc v́ coi tiếng Việt là thứ tiếng tầm thường, thấp kém nên khi viết và nói người ta không cần một thận trọng nào, bất chấp cả văn phạm lẫn chính tả. Trái lại khi phải viết một văn bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, người ta đắn đo từng câu, từng chữ, viết đi viết lại nhiều lần, ớm hỏi người này người kia viết như thế có đúng không, có hay không, v. v... Sự yên trí rằng viết tiếng Việt th́ thế nào cũng được thể hiện ngay cả trong những tài liệu quan trọng. Trong bản cương lĩnh của Phong Trào Yểm Trợ Dân Chủ và Tái Thiết Việt nam của cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu dài khoảng ba trang đánh máy, tôi đếm được gần một trăm lỗi chính tả và văn phạm. Đó là văn kiện căn bản của một nhân vật đă từng cầm vận mệnh của đất nước và có lẽ c̣n muốn cầm tiếp. Cẩu thả đến thế là cùng. Chung quanh ông Thiệu chắc chắn là có những người biết tiếng Việt nhưng ông Thiệu đă không thấy cần phải hỏi ư kiến họ. Viết tiếng Việt mà, thế nào cũng được. Giả sử phải viết một bản tuyên ngôn bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh chắc ông Thiệu sẽ thận trọng hơn nhiều.
Tôi không trách riêng ông Thiệu, bởi v́ đại đa số người Việt đều xử sự như thế, kể cả những người không biết một ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Việt. Năm 1974, tôi nhận dạy kinh tế cho một trường đại học tại Sài G̣n. Trước khi bắt đầu, tôi hỏi một số giáo sư dạy kinh tế cho tôi xem những bài đă được chấm đậu những năm trước. Mục đích của sự tham khảo này chỉ là để xem tŕnh độ tiếp thu của sinh viên về môn kinh tế như thế nào. Những tôi lại khám phá ra một sự kiện khác, kinh khủng hơn nhiều. Các sinh viên ở năm cuối cùng, sắp tốt nghiệp, hoàn toàn không biết viết tiếng Việt. Họ viết những câu rất dài và luộm thuộm, sai văn phạm, sai chính tả, sai cả nghĩa của từ ngữ. Bực bội quá tôi phải dọa các sinh viên là sẽ không chấm những bài viết sai tiếng Việt. Rời tôi đặt ra một qui luật có thể là hơi quá đáng: mỗi bài sẽ được chấm trên 20 điểm, 10 điểm trên ngữ pháp, 10 điểm về nội dung, nhưng nếu bài không đủ 5 điểm về ngữ pháp th́ sẽ không được chấm phần nội dung nữa. Biện pháp quá khích đó có lẽ đă có tác dụng làm các sinh viên coi trọng Việt văn hơn.
Trong các đơn xin việc tại Ngân Hàng Việt nam Thương Tín hay những đơn khiếu nại tại Bộ Kinh Tế, tôi gặp vô số đơn Thưa ông..., nguyên tôi là... . Tại sao lại nguyên? Chưa kể xin cứu xét cho chúng tôi được dễ dăi, v. v... . Đơn thường do những người tốt nghiệp đại học viết. Ngay cả những bài nghị luận chính trị trên báo chí, nhiều khi cũng không thể t́m ra chủ từ, động từ, túc từ. Ngay những nhà văn cũng không ngàn ngại viết xử dụng, gịng sông, dỗi dăi, yên tỉnh, đấu tranh dành tự do dân chủ. Một biểu ngữ lớn trong cuộc mít-tinh lớn: Cương quyết xiết chặc hàng ngũ... . Những lỗi chính tả, và ngay cả văn phạm, nhiều khi cũng có thể bỏ qua được, điều khó chịu nhất là nhiều khi đọc đi đọc lại vẫn không biết tác giả định nói ǵ. Đành phải đoán ṃ.
Viết đă ẩu, đọc lại càng ẩu hơn. Anh em Thông Luận chúng tôi đă là đối tượng của vô số bài đả kích v́ lập trường Ḥa Giải và Ḥa Hợp Dân Tộc. Chúng tôi đă mất rất nhiều th́ giờ để giải thích thế nào là ḥa giải dân tộc, thế nào là ḥa hợp dân tộc, tại sao lại phải ḥa giải trước, ḥa hợp sau v.v... Vậy mà trên 90% những bài đả kích chúng tôi vẫn nói chúng tôi là nhóm chủ trương ḥa hợp ḥa giải , nhiều bài c̣n nói chúng tôi chủ trương ḥa hợp ḥa giải dân tộc với cộng sản! Đọc ẩu trước khi lên án đă là tệ, có người c̣n không đọc. Một vị ở Canada viết cho chúng tôi một bài với tựa đề trả lời lập trường ḥa hợp ḥa giải của Thông Luận vạch ra thái độ ngây thơ ấu trĩ của chúng tôi. Một câu làm cho chúng tôi sửng sốt: vị này cho biết chưa hề đọc Thông Luận bao giờ, mà chỉ được biết tới lập trường của chúng tôi qua những bài đả kích.
Cái ṿng luẩn quẩn là người Việt viết luộm thuộm khó hiểu người đọc kỹ cũng không thể hiểu, nhưng người đọc không cần đọc kỹ mà vẫn trả lời một cách cũng ḥ đ̣, cũng luộm thuộm khó hiểu không kém. Phải nh́n nhận một sự thực đau ḷng: chúng ta là một dân tộc không biết đọc, không biết viết, và không biết nói.
Tiếng Việt là phương tiện trao đỗi giữa chúng ta. Phương tiện ấy mà hư hỏng th́ chúng ta không hiểu được nhau như khi nói chuyện qua một đường điện thoại đầy nhiễu xạ. Tiếng mẹ đẻ nếu không phải là ngôn ngữ duy nhất th́ cũng vẫn là ngôn ngữ dễ sử dụng nhất cho mỗi người, v́ nó hợp với tâm hồn và bản tính. Đă không thạo tiếng Việt th́ dù có học một ngôn ngữ khác công phu tới đâu chúng ta vân chỉ là những người truyền đạt kém cỏi. Mà tiếng Việt có khó ǵ đâu, nó phù hợp với cách suy nghĩ của ta. Chỉ cần lưu ư một chút chúng ta sẽ có thể truyền đạt và lănh hội mọi thông điệp một cách dễ dàng. Lư do căn bản có lẽ là v́ ta không yêu nước đầy đủ để có thể quí trọng những tài sản của đất nước. Hay v́ chúng ta thiếu tự hào dân tộc cho nên không nh́n những di sản của đất nước một cách trân trọng.
Tiếng Việt tuy không khó nhưng cũng không dễ. Nó có khả năng chuyên chở mọi thông điệp, mọi ư niệm, dù là văn hóa, nghệ thuật, chính trị, kinh tế, triết học, khoa học, kỹ thuật. Nó có thể và phải được coi là nhịp cầu nối người Việt chúng ta với nhau, cho phép chúng ta trao đổi với nhau, hiểu nhau, chỉ bảo cho nhau, để quí trọng nhau và cùng nhau xây dựng một tương lai Việt nam chung. Nếu tiếng Việt ta chưa hoàn chỉnh th́ ta cần cải thiện và phong phú nó - thêm vào một số âm, chấp nhận thêm một số từ đa âm, chế ra một số tiếng mới cho những ư niệm mới - rồi tiếp tục phát huy nó. Ngôn ngữ là một cố gắng sáng tạo không ngừng. Tiếng Pháp được coi là một ngôn ngữ hoàn chỉnh và người Pháp cũng có tiếng là dân tộc hoạt bát nhất thế giới, nhưng họ luôn luôn mài dũa ngôn ngữ của họ. Hồi làm tham vấn cho công ty xe hơi Renault của Pháp, tôi được chứng kiến một biện pháp bảo vệ ngôn ngữ rất gay gắt. Ông chủ tịch tổng giám đốc Raymond Lévy, mặc dầu đang điên đầu với t́nh trạng thua lỗ trầm trọng, vẫn c̣n đủ tỉnh táo để nhận xét rằng các văn kiện nội bộ không được soạn thảo một cách lưu loát và sáng sủa. Ông cho rằng đó là một trong những nguyên nhân đưa đến thua lỗ. Ông ra một thông cáo cho tất cả các cấp lănh dạo cho biết rằng từ nay ông dành quyền trả lại người gởi mà không nêu lư do tất cả những văn thư không được soạn thảo bằng một tiếng Pháp tuyệt đối hoàn chỉnh. Không phải là ông không biết lo những vấn đề khác ông cố gắng lắm, bằng cớ là xe hơi Renault nổi tiếng là loại xe kém phẩm chất nhất, sau năm năm dưới quyền lănh đạo của ông đă trở thành những chiếc xe nổi tiếng là tốt và bền bậc nhất châu Âu. Hăng Renault từ một hăng xe hơi lỗ nặng nhất châu Âu trở thành một hăng có lời, và gần đây đă sát nhập hăng Nissan một thời lừng lẫy của Nhật.

 

Phần 1 Đất nước và và Con người
Máu chảy ruột mềm

 

Người Việt nam không thông minh hơn ai, có sáng dạ thực nhưng là sáng dạ để bắt chước chứ không phải để phát minh. Người Việt có tâm lư tồi kém, không làm việc tập thể được. Người Việt hiếu học nhưng hiếu học để lấy bằng cấp chứ không phải để lấy kiến thức. Người Việt thiếu tự hào dân tộc và lại đố ky, ghen ghét nhau. Người Việt tôn thờ bạo lực và ác độc đối với nhau. Người Việt không có óc phương pháp. Người Việt không biết truyền thông, không biết đọc, không biết viết, v.v...
Độc giả đọc tới đây có thể bực bội và phẫn nộ như đang phải đọc một cáo trạng đối với dân tộc ḿnh, có thể tự hỏi phải chăng ḿnh đang đọc một cuốn sách đáng lẽ phải có tựa đề là Người Việt ṭi dở?. Nhưng kể tội và bêu xấu người Việt để làm ǵ, và để bêu xấu ai, khi chính tác giả là người Việt và nhận ḿnh măi măi là người Việt? Đó cũng là việc làm dễ dàng quá v́ nếu muốn t́m những cái xấu của người Việt th́ có khó ǵ đâu, tác giả chỉ cần nhận xét chính ḿnh. Đó là việc tôi đă làm, những nhược điểm của người Việt một phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, tôi có thể t́m thấy ở chính ḿnh.
Hơn nữa, những tật xấu và nhược điểm đó không phải là của riêng dân tộc Việt nam, mà dân tộc nào cũng có. Điều đáng tiếc là ở người Việt chúng mạnh mẽ, rơ rệt và áp đảo quá đáng. Chúng đè nặng lên chúng ta, có thể nói là đè bẹp chúng ta, và giam giữ chúng ta trong cảnh tang tóc, bần cùng, lạc hậu. Xét lại ḿnh chính là để tiến lên. Phải nh́n vào chân dung của ḿnh ngay cả nếu nó không được đẹp. Nếu cuốn sách nhỏ này đă dành nhiều trang để phân tích người Việt, th́ cũng v́ con người là vốn liếng quí báu nhất của chúng ta. Nếu nó đă được viết ra th́ cũng v́ tác giả c̣n hy vọng. Hy vọng ấy chính là con người Việt nam. Con người Việt nam, dù mang nhiều khuyết tật nhưng nói chung vẫn là con người có trí thông minh và có tâm hồn.
Vào khoảng năm 1980, tôi tới thăm một người bạn trong một hẻm đường Cách Mạng Tháng 8, đang ngồi hàn huyên trước hiên nhà, tôi th́nh ĺnh được biết một câu chuyện. Một câu chuyện tương tự như rất nhiều câu chuyện khác mà tôi đă được biết, nhưng nó đă ghi vào kư ức tôi v́ sự nhỏ bé và tầm thường của nó. Chính v́ thế mà nó có tính tiêu biểu cao.
Tiếng khóc nỉ non không biết từ bao giờ, nhưng tôi chợt nghe được và chú ư khi bà cụ rống lên nức nở: Mày đụ cho nó đă cái lồn mày, rồi mày đẻ con mày để cho tao nuôi, gạo đâu tao nuôi. Bà cụ gầy ốm, lem luốc, da mặt nhăn nheo, mỗi vết nhăn như đánh dấu một sự đau khổ. Bên cạnh bà cụ là hai đứa cháu gái khoảng bốn tuổi và mười tuổi rách rưới, xanh xao. Đứa nhỏ xíu sụt sùi khóc, đứa lớn im lặng ngơ ngác. Câu chuyện giữa chúng tôi bỗng nhiên trở thành vô nghĩa hoàn toàn dù chúng tôi đang nói về quê hương đất nước. Vợ bạn tôi nhận ra sự im lặng khổ tâm của chúng tôi và chị lại gần rồi kể cho chúng tôi nghe sự t́nh. Bà cụ này hiền lành, chất phác, từ trước vẫn nghèo lắm, tối ngày đi xin cơm thừa bán lại cho người ta nuôi heo. Lúc khá nhất bà nuôi được một con heo. Con gái bà lấy chồng làm lính Việt nam Cộng Ḥa đạp xích-lô từ sau 30-4-1975, hiện đang bệnh về nằm nhà mẹ. Người con gái theo bạn hàng gồng gánh, khuân vác và giúp người ta bán gạo lậu. Hồi đó buôn bán gạo là buôn lậu v́ nhà nước cấm. Lâu lâu chị mới về một lần. Nghe nói gạo vừa mới bị bắt nên lâu nay không có tiền đem về cho mẹ nuôi con. Dạo này cơm thừa không c̣n nữa, bà cụ có một thùng thuốc lá đem bán đầu con hẻm nhỏ đ̣ ra hẻm lớn, nơi chúng tôi đang ngồi. Ngoài thuốc lá bán lẻ từng điếu, bà cụ c̣n bán vài cái kẹo, một ít vé số. Trên tủ thuốc lá là một ngọn đèn dầu nhỏ để khách châm thuốc hút. Dạo này phải ăn vào vốn, và bây giờ th́ gia tài hết sạch. Tôi nh́n vào tủ thuốc và có thể kiểm chứng điều đó. Thùng thuốc vốn đă nhỏ lại rỗng tuếch, chỉ c̣n vài gói thuốc lá nội hóa Đà Lạt nhợt nhạt v́ phơi nắng khá lâu rồi. Tôi thấy lạ là trước một cảnh thương tâm như vậy chị vợ bạn tôi có vẻ rất b́nh tĩnh. Chị b́nh tĩnh v́ một lư do khác mà tôi hiểu ngay sau đó. Một người đàn bà ăn mặc xuềnh xoàng tiến lại gần, ngồi xuống bên cạnh cái ghế thấp bên cạnh bà cụ, không biết nói ǵ với bà cụ và đưa cho bà cụ một bao bằng giấy. Tôi có thể hiểu dễ dàng đó là một bao gạo, đủ để ba bà cháu ăn vài bữa. Người đàn bà này cũng móc trong túi đưa cho bà cụ một vài tờ giấy bạc. Th́ ra chị bạn tôi yên trí là thế nào cùng có người tới giúp bà cụ, chị hiểu rằng hàng xóm sẽ không bỏ rơi ba bà cháu. Một lát nữa chị bạn tôi cũng vào nhà trong rời trở ra tới chỗ bà cụ. Chị quay lưng lại phía chúng tôi nhưng tôi cũng hiểu là chị đưa tiền cho bà cụ. Nh́n cử chỉ từ chối ngượng ngùng của bà cụ, tôi hiểu là chị đă giúp cho bà cụ số tiền đủ để tiếp tục bán thuốc lá. Tiếng khóc nỉ non và lời than của bà cụ là một thông điệp gởi đến hàng xóm: tôi đang gặp hoạn nạn. Thông điệp ấy đă đến nơi và đă được hồi âm. Máu chảy ruột mềm.
Câu chuyện cũng có một happy end. Sau đó tôi được biết người con gái cũng về đem cho bà cụ ít tiền. Cuộc sống nghèo nàn của ba bà cháu lại tiếp tục. Kề lại câu chuyện trên đây, có lúc tôi đă định viết tắt một chữ trong lời nói của bà cụ. Nhưng rồi tôi thôi, tôi nghĩ câu nói ân t́nh đó nên được nhắc lại một cách trung thực như thế.
Những cảnh đùm bọc như thế, tôi đă được thấy nhiều lần. Đủ nhiều khiến tôi tin rằng người Việt nam ta dù thiếu nhiều đức tính nhưng không thiếu ḷng hảo tâm, íl nhất với những người quen biết. Nhưng ḷng hảo tâm của người Việt nam cũng c̣n có thể mở rộng cho cả những người ḿnh không quen biết.
Tôi đă thấy tận mắt từ thời thơ ấu. Nạn đói năm 1945 xảy ra vào lúc tôi chưa đầy ba tuổi, nhưng những h́nh ảnh cực mạnh đă in vào đầu tôi và c̣n theo tôi suốt đời. Nhà tôi tuy không giàu có theo tiêu chuẩn b́nh thường nhưng vào thời đó và ở vùng đó là một gia đ́nh khá giả. Mẹ tôi tuy cũng phải chân lấm tay bùn quanh năm nhưng gia đ́nh tôi có ruộng, có vườn, có ao và dư gạo ăn. Quân đội Nhật lúc bấy giờ dữ lắm, nhà nào có gạo là bị tịch thu, cho người đói ăn là một hành dộng có thể có hậu quả hiềm nghèo. Mẹ tôi phải giấu gạo, nhưng đêm nào cũng nấu cháo và dưới ánh đuốc bập bùng hàng đoàn người nối đuôi nhau trước cổng để được húp mỗi người một gáo cháo. Có những người đói đến nỗi kiệt sức mà chết. Ngay cổng vào nhà tôi có một căn nhà mà người trong nhà gọi là nhà xác. H́nh như đêm nào cũng có người chết v́ ngày nào cũng thấy bó chiếu chôn người. Tôi có nhiều anh và chị nuôi, một số là con cái của những người đă chết đói. Không ai bắt mẹ tôi phải làm cái việc tốn kém và nguy hiểm đó, ngoại trừ t́nh người và t́nh đồng bào. Và mẹ tôi cũng không phải là người duy nhất trong vùng làm việc đó. Sau năm 1975, và sau khi đi cải tạo về, tôi c̣n được biết một câu chuyện về t́nh người đặc biệt trong sáng khác. Và lần này câu chuyện cũng liên hệ trực tiếp tới gia đ́nh tôi.
Mẹ tôi có một người em gái. D́ tôi góa chồng năm 1946 khi chú tôi, một đảng viên Việt nam Quốc Dân Đảng, bị Việt Minh thủ tiêu để lại hai con trai sáu tuổi và hai tuổi. Lúc đó d́ tôi c̣n rất trẻ, mới 25 tuổi. Trước hiệp định Genève, d́ tôi có một quan hệ t́nh ái. Một bé gái ra chào đời đúng lúc cha nó vào Nam, gia đ́nh tôi lúc đó ở Hà Nội, rồi từ Hà Nội di cư vào Nam, nên hoàn toàn không biết chuyện này. Vào Nam, chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc với d́ tôi. Cho đến năm 1979.
Trong vụ cải cách điền địa tại Bắc Việt năm 1955, ông Bùi Tín nói con số nạn nhân chỉ vào khoảng 20.000 người. Một số đảng viên cộng sản khác mà tôi quen biết sau này, và cũng thành thực không kém Bùi Tín, lại nói rằng số nạn nhân có thể trên 100.000 người. Có thể là 50.000 người chăng? Nhưng ai biết được con số chính xác? Có một thống kê nào đâu? Nhưng tôi biết rơ ràng là có ít nhất ba nạn nhân không được kể là nạn nhân.
D́ tôi bị đem đấu tố là địa chủ gian ác v́ có mười mẫu ruộng (tức ba héc-ta rưỡi). Bà bị trói, bị đánh đập, bị xỉ vả là con đĩ, là gian ác rồi bị đuổi khỏi nhà, bà làm một cái lều bên đường và đi xin ăn, nhưng ít ai dám cho. Đứa con trai nhỏ chết đói xong th́ bà cũng chết. Đứa con trai lớn, Nhuệ, em họ tôi, là một thiếu niên ngô nghịch và táo bạo. Nó ăn trộm, ăn cướp nuôi em gái nhỏ, lang bạt tới Hải Pḥng th́ bị bắt rồi chết trong tù. Đứa em gái nhỏ, lúc đó mới bốn tuổi, ḅ lang thang sắp chết đói th́ gặp bà Năm.
Bà Năm quê ở Bến Tre. Vào đầu thập niên 1940 bà là một thiếu nữ trung lưu có nhan sắc. Khi tôi gặp bà vào năm 1980, bà đă 60 tuổi nhưng những nét đan thanh trên mặt bà cũng chứng tỏ rằng hồi thanh xuân bà đẹp vô cùng. Nhan sắc của bà lọt mắt một ông đốc phủ sứ, sau này nổi tiếng là một nhân sĩ có đạo đức lớn tại miền Nam, và ông ta nhất định bắt bà làm vợ bé. Phẫn uất quá, bà Năm trốn đi theo đảng cộng sản. Bà được kết nạp vào đảng cộng sản, lấy chồng đảng viên cộng sản rồi ra Bắc tập kết năm 1954. Cả hai vợ chồng làm việc tại cảng Hải Pḥng. Đầu năm 1957, một tai nạn khủng khiếp xảy ra, ông chồng bị chết ngay tức khác c̣n bà Năm bị dây cáp cắt đứt một chân. Lúc đó họ đă có hai con trai. Bà Năm ở bệnh viện ra th́ gặp em bé lang thang, bà bèn nhận nó làm con nuôi. Như thế đă là tuyệt vời, nhưng điều tuyệt vời hơn nữa là sau đó. Em tôi lúc đó c̣n quá bé để có thể nói cha mẹ nó là ai, quê hương nó ở đâu, nhưng bà Năm nhờ ḍ hỏi biết nó có một thằng anh chết trong tù, và bà chống nạng đi khắp các cơ quan điều tra. Bà t́m về được tới làng của d́ tôi, hỏi được tên bố mẹ và cả ngày sinh gần đúng. Tuy bà có thể làm khai sinh cho nó là con bà nhưng bà đă làm lại khai sinh chính xác cho nó. Nhờ là liệt sĩ có công với cách mạng, bà đă che chở được cho đứa con địa chủ gian ác này. Bà bảo vệ nó như cọp cái giữ con, không ai có thể đụng tới con gái bà.
Năm 1979, bà vào Nam và t́m được gia đ́nh tôi. Bà thành người bạn của gia đ́nh tôi. Bà dẫn đứa con gái nay đă có chồng vào nhận họ hàng của nó. Bà hay đến dùng cơm, kể lại quá khứ của ḿnh. Bà Năm rất tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản như một chủ nghĩa quảng đại và trong sáng.
Bà chống đối gay gắt chính quyền cộng sản nhưng v́ một lư do khác hẳn với lư do của những người chống cộng. Bà nói: Chúng nó phản bội lư tưởng cộng sản. Mẹ tôi, dù ghét cay ghét đắng cả đảng cộng sản lẫn chủ nghĩa cộng sản, vẫn rất quí trọng bà, hai bà có thể nói chuyện cả ngày mà không biết chán. Bà Năm đặc biệt thích tôi, bà hay bắt tôi ngoi nghe bà kể chuyện và bà c̣n đọc cho tôi nghe một truyện dài bằng thơ lục bát mà bà làm để kể đời ḿnh và tâm sự ḿnh.
Bà hay nói: Bây giờ bác nuôi con Hà như vậy là đă làm tṛn bổn phận, bác đem trả lại cho gia đ́nh cháu đấy?. Có lần tôi gắt lên với bà: Bác đừng nói như thế, nó chẳng là con của ai khác cả, nó chỉ là con của bác, của một ḿnh bác thôi!
Đôi mắt bà Năm ứa lệ. Từ lâu nay tôi không c̣n được tin bà Năm nữa. Những ḍng trên đây xin được tặng bà Năm để bày tỏ ḷng kính mến và biết ơn sâu xa đối với một người phụ nữ đă cho phép tôi, trong bao nhiêu thất vọng, vẫn c̣n tự hào được làm người Việt

Phần 2 Con đường đă qua
Mấy ngàn năm lịch sử

 

Báo chí trong nước hồi năm 1992 thuật lại một cuộc thảo luận được coi là sôi nổi và hào hứng nhất từ xưa đến nay. Đó là cuộc tranh căi về lời nói đầu của hiến pháp 1992, đúng ra là tranh căi về câu đầu của lời nói đầu. Các đại biểu quốc hội không đồng ư nên viết Trải qua bốn ngàn năm lịch sử hay Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, hay Trải hơn bốn ngàn năm lịch sử. Kết quả là ban lịch sử của Trung ương Đảng cộng Sản Việt nam quyết định chọn câu: Trải hơn bốn ngàn năm lịch sử và các đại biểu quốc hội đă vâng lời. Họ không bao giờ là đại biểu. Họ chỉ là những người được đảng chỉ định vào quốc hội.
Cuộc tranh căi này đáng chú ư về sự hời hợt của họ. Nó xoay quanh một con số, mà ai cũng biết là không chính xác, về chiều dài của lịch sử chứ không đi vào nội dung của lịch sử. Lịch sử dĩ nhiên là rất quan trọng. Nó là một kho kinh nghiệm và một nguồn suy tư. Nó cho phép một dân tộc, hiểu theo nghĩa là sự sống liên tục của những đời người ngắn ngủi kế tiếp nhau và gắn bó với nhau trong một số phận chung, nh́n lại ḿnh và hiểu ḿnh để tiếp tục sống và tiến lên.
Quan tâm tới lịch sử đánh dấu sự h́nh thành của ư niệm quốc gia. Hiểu như thế th́ tuy đất nước Việt nam (hiểu theo nghĩa đen là đất và nước) đă có từ hàng chục triệu năm và những con người Việt nam cũng đă có từ hàng chục ngàn năm và đă dần dần sống thành xă hội có tổ chức nhưng ư niệm về quốc gia Việt nam chỉ mới xuất hiện rất gằn đây, vào đầu thế kỷ thứ 13 khi Lê Văn Hưu soạn ra bộ Đại Việt Sử Kư. Điều này tự nó cũng đầy ư nghĩa. Nước Việt đă thành lập xong rồi, ư thức quốc gia của người Việt nam mới bắt đầu xuất hiện. Sự kiện này nói lên đặc tính của dân tộc Việt nam: ư niệm đi rất sau thực tiễn, hành động đi trước ư thức. Nhược điểm tổ tông truyền này vẫn c̣n có thể nhận thấy rất rơ rệt ngay trong thời đại chúng ta: cứ làm mà không cần suy nghĩ về tinh thần và cái trở thành của việc ḿnh đang làm. Chính v́ thế mà chúng ta luôn luôn thụ động để cho thực tế xô đẩy chứ không chủ động việc tổ chức tương lai của ḿnh.
Quan tâm về lịch sử, nghĩa là ư niệm quốc gia, đă tới chậm như vậy lại không được coi trọng. Sử bị bỏ rơi trong hơn hai thế kỷ, măi đến đời Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên mới soạn lại lần thứ hai bộ Đại Việt Sử Kư. Điều đáng ngạc nhiên là nhà Trần đă không cảm thấy cần chép lại chiến công hiển hách phá quân Nguyên của ḿnh. Như thế phải hiểu rằng người Việt nam không quan tâm lắm về đất nước của ḿnh. Bản Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo chỉ thúc dục các tướng chịu ơn vua phải chiến đấu cho vua chứ không nói đến dân tộc và đất nước. ư thức quốc gia chỉ thể hiện một cách mạnh mẽ rơ rệt trong bài B́nh Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trăi. V́ thế nếu coi B́nh Ngô Đại Cáo là tuyên ngôn lập quốc cũng không phải là quá đáng. Lúc đó đă là thế kỷ thứ 15.
Muốn có ích, nghĩa là muốn làm một nguồn kinh nghiệm cho phép rút ra những bài học chung cho dân tộc, lịch sử phải chính xác và đầy đủ. Lịch sử là một tài liệu để làm việc. Lịch sử không đầy đủ và không chính xác có nghĩa là chúng ta làm việc trên một tài liệu vừa thiếu vừa sai. Như thế làm sao có thể rút ra những kết luận đúng đắn? Nhưng lịch sử của ta rất sơ sài, lại rất thiếu chính xác. Các nhà viết sử đều là những bày tôi ăn cơm vua, mặc áo chúa phải viết cho vừa ḷng chủ chứ không viết theo sự thực. Bước vào thời đại mới, chúng ta lại chỉ có những chính quyền thiển cận coi lịch sử là dụng cụ tuyên truyền cho chế độ. Lịch sử, kể cả lịch sử cận đại của ta, không những thiếu sót mà c̣n bị xuyên tạc. Đă thế, vô số lư luận hồ đồ lại c̣n được tung ra với mục đích giải thích lịch sử theo chiều hướng có lợi cho một phe phái. Người Việt nam, kể cả trí thức, vốn đă thiếu óc phê b́nh, lại c̣n bị khủng bố bởi cả một phong trào khai thác lịch sử.
Cuối cùng chúng ta không những không biết rơ lịch sử của ḿnh, mà c̣n bị tiêm nhiễm những nhận định rất lệch lạc. Chúng ta là một dân tộc mất kư ức tập thể. Điều đó có thể giải thích một phần tại sao một dân tộc khá tốt bụng, khá sáng dạ, khá siêng năng, có một địa lư khá thuận lợi lại không vươn lên được và vẫn quằn quại măi trong nghèo khó và lạc hậu.

 

Phần 2 Con đường đă qua
con cháu tiên rồng

 

Người Trung Hoa tự coi là con Trời, người Nhật tự coi là con cháu của Mặt Trời, người Việt nam ta tự coi ḿnh là con cháu Tiên Rồng. Dân tộc nào cũng có tự ái riêng và đều muốn tự gán cho ḿnh một ḍng dơi cao quí. Những huyền sử đó có thể coi là ư thức cộng đồng đầu tiên. Mỗi dân tộc cần có một niềm tự hào nào đó để tự duy tŕ. Bài học đầu tiên mà ta có thể rút ra từ huyền sử đó là muốn trường tồn và tiến lên ta luôn luôn cần có thêm những lư do mới để tự hào. Từ đó ta có thể tự đặt cho ḿnh câu hỏi: Hiện nay ta có lư do nào để tự hào không? Nếu có là ta đang tiếp tục củng cố dân tộc, nếu không là ta đang làm hao ṃn vốn cũ.
Niềm tự hào con cháu tiên rồng, hiểu theo nghĩa một huyền thoại thống hợp gắn bó chúng ta với nhau, có cái lợi là làm ta hănh diện muốn tiếp tục làm người Việt, nhưng bù lại nó có thể cho chúng ta cái cảm tưởng rằng chúng ta là một giống ṇi thuần nhất và làm ta quên mất thực sự ta là ai, và đó mới là điều quan trọng. Cứ theo huyền sử th́ tổ nước ta là Sùng Lăm, tức Lạc Long Quân, con cháu của vua Thần Nông bên Tàu. Nước gốc của chúng ta là Xích Quỷ bao gồm cả một vùng đất rộng lớn của Trung Quốc, từ phía Nam sông Dương Tử và một phần nhỏ hơn nhiều là miền Bắc nước ta bây giờ. Sự tích kế tiếp là Sùng Lăm lấy bà Âu Cơ đẻ ra một trăm con, sau đó hai người chia tay nhau, mỗi người giữ năm mươi con. Âu Cơ ở lại núi, c̣n Sùng Lăm đem năm mươi con xuống vùng bể Nam Hải. Sau đó Sùng Lăm phong cho người con trưởng lên làm vua nước Văn Lang, tức là miền Bắc nước ta. Nước Văn Lang sau này được mở rộng thành nước Việt nam ngày nay.
Như vậy, cũng phải tương đối hóa ḍng dơi con ṛng cháu tiên của chúng ta. Thực ra như vậy, theo huyền sử của chính chúng ta, th́ người Hoa Nam mới là con rồng cháu tiên, c̣n chúng ta chỉ là một hệ phái của con rồng cháu tiên được lai giống với người địa phương. Chúng ta ít con rồng cháu tiên hơn người Trung Hoa ở phía Nam sông Dương Tử. Và chúng ta lai con rồng cháu tiên chắc không nhiều, bởi v́ giữa Hoa Nam và nước ta núi non hiểm trở, người đi dân xuống miền Nam không có bao nhiêu. Chính v́ thế mà dù bị hơn một ngàn năm Bắc thuộc, chịu hoàn toàn ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa mà chúng ta tiếp thu một cách nồng nhiệt và say mê, chúng ta vẫn có tiếng nói riêng, nếp sống riêng. Như Nguyễn Trăi nói: Lănh thổ có núi ngăn chia, phong tục Bắc Nam khác nhau Có nhà dân tộc học c̣n quả quyết người Việt nam thuộc chủng tộc Mă Lai - ấn Độ. Như thế đủ biết cái thành tố con rồng cháu tiên trong huyết thống của chúng ta không có bao nhiêu.
Nhưng cái huyền sử con rồng cháu tiên không phải là không có cơ sở thuần lư. Nó nói lên một nét dậm trong quá tŕnh h́nh thành của nước ta, đó là cuộc Nam Tiến đă khai sinh ra nước ta và vẫn c̣n tiếp tục cho tới cuối thế kỷ 18. Đất nước Việt nam được thành lập ban đau do hậu quả của cuộc Nam Tiến của người Trung Hoa và sau đó của chính người Việt. Nước Trung Hoa h́nh thành tại vùng đất giữa sông Hoàng Hà và sông Dương Tử, rồi v́ người càng ngày càng đông, một phong trào di dân t́m đất mới về phương Nam đă xuất hiện. Chuyện Lạc Long Quân đem năm mươi con xuống vùng bề Nam Hải có thể coi là một đợt di dân, tương tự như Nguyễn Hoàng đem dân vào miền Trung sau này.
Cuộc Nam Tiến của người Trung Hoa đến Quảng Đông, Quảng Tây th́ khựng lại v́ gặp bức tường núi dầy gần 100 cây số. Chỉ có một số ít người vượt được núi, hợp với thổ dân mà tạo ra nước Văn Lang.
Người Việt nam ta có lẽ v́ chỉ coi huyền sử như chuyện hoang đường hoàn toàn nên ít suy nghĩ về quá tŕnh lập quốc của ḿnh. Không thiếu ǵ trí thức lẫn lộn các giống Việt ở miền Nam Trung Hoa, sống trong nhiều nước nhỏ gọi là Bách Việt, với người Việt nam. Triết gia Kim Định coi người Việt nam là người Bách Việt, ông cho Nho Giáo là một phát minh của người Việt chứ không phải của người Tàu. Trong thập niên 1960, các trí thức và sinh viên Việt nam mở một loạt lớp học dạy miễn phí cho các học sinh trung học nghèo tại Sài G̣n. Cố gắng đáng ca tụng này được biết dưới danh hiệu Trung Tâm Bách Việt. Nhưng nếu người Bách Việt không phải người Trung Hoa th́ ai là người Trung Hoa? Chúng ta cũng có mang huyết thống Bách Việt trong người, nhưng yếu tố đó chỉ là một phần nhỏ thôi. ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng của Trung Hoa lên nước ta quan trọng gấp bội yếu tố huyết thống.
Nước Văn Lang được thành lập do pha trộn của một số nhỏ người Hoa Nam với một số đông người bản xứ, và cả những sắc dân từ quần đảo Nam Dương. Chúng ta có thể quả quyết là về nhân chủng yếu tố địa phương đă mạnh hơn bởi v́ sau cả ngàn năm dưới sự thống trị của người phương Bắc trong đó chữ Nho vừa được độc quyền vừa được tôn vinh, người Việt vẫn giữ được và không những thế c̣n phát triển được và cải thiện được ngôn ngữ riêng của ḿnh. Sau này, nhất là từ thế kỷ 15 trở đi, khi nước Văn Lang dần dần mở rộng về phía Nam, chúng ta đă tiếp nhận nhiều yếu tố huyết thống khác, kể cả một đợt di dân mới bằng đường biền của người Trung Hoa vào thẳng miền Nam Việt nam.
Nước Việt nam ta v́ vậy là một quốc gia biến đỗi không ngừng do những đóng góp đất đai và chủng tộc mới. Sự thay đổi không ngừng đó, thể hiện ngay trong quốc hiểu của ta: Văn Lang, âu tạc Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Tượng Quận, Giao Châu, Vạn Xuân, Đại C̣ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Việt nam, Đại Nam. Sự thay đổi đó khiến chúng ta nhiều khi lẫn lộn tên nước ḿnh. Sách Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện rơ ràng coi Nam Hải là tên nước ta, mặc dầu đó chỉ là tên của tỉnh Quảng Đông bên Trung Quốc vào thời Bắc thuộc. Ngay cả tên Việt nam ngày nay thực ra cũng rất mới. Vua Gia Long sau khi thống nhất đất nước muốn đặt quốc hiểu là Nam Việt nhưng v́ nhà Thanh không cho, sợ lẫn lộn với nước Nam Việt của Triệu Đà gom cả Quảng Đông và Quảng Tây, nên đă chọn quốc hiệu là Việt nam. Nhưng sau đó 18 năm, khi vua Gia Long chết, vua Minh Mạng lại bỏ tên Việt nam và đổi thành Đại Nam. Khi người Pháp đô hộ nước ta, hai tiếng Việt nam cũng không xuất hiện trở lại, nước ta bị chia làm Cochinchine, An nam, Tonkin. Đảng cộng sản lúc mới thành lập cũng không dùng chữ Việt nam, họ tự gọi là Đông Dương Cộng Sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng. Việt nam Quốc Dân Đảng là chính đảng đầu tiên sử dụng trở lại hai tiếng Việt nam. Hai tiếng Việt nam đă trở thành thiêng liêng khi 13 liệt sĩ Việt nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài tại Yên Bái ngày 17- 6-1930 hô to: Việt nam muôn năm!. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa, rồi ba năm sau Bảo Đại cho ra đời Quốc Gia Việt nam. Như thế tên Việt nam đă trở thành linh thiêng từ 1930 và mới trở thành chính thức từ 1945 trở di.
Chúng ta không ư thức được sự năng động trong quá tŕnh lập quốc của ḿnh nên đă cố bắt chước nơi người Tàu một quan niệm quốc gia cứng nhắc. Đất nước Việt nam được coi như là đất của một sắc tộc sắc tộc Kinh. Văn hóa của ta là văn hóa của người Kinh. Đạo đức của ta là đạo đức của người Kinh, pháp luật của ta là pháp luật của người Kinh. Lịch sử của ta cũng chỉ là lịch sử của người Kinh. Tất cả đều là của người Kinh, các sắc tộc khác hoàn toàn bị bỏ qua.
Trong khi khái niệm người Kinh tự nó cũng rất mơ hồ. Nó cũng chỉ là một sự ḥa trộn của nhiều chủng tộc. Nó chỉ là tập thể của những người chịu anh hưởng văn hóa của Trung Hoa mà thôi, trong khi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa càng ngày càng yếu đi trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.
Tại sao, những Phạm Hùng, Chế Bồng Nga lại không được coi là các vị vua của Việt nam?
Tôi không phải là một nhà sử học và cũng không phải là một nhà dân tộc học nên hoàn toàn không dám có tham vọng đưa ra một luận thuyết mới về nguồn gốc và sự h́nh thành của nước ta. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh về hai đặc điểm quan trọng nhất của dân tộc Việt nam.
Đặc điểm thứ nhất là chúng ta không phải là một quốc gia thuần nhất, mà là một quốc gia đa nguyên về bản chất. V́ thế chúng ta cần một ư thức quốc gia riêng: Quốc gia Việt nam không thể được định nghĩa như một chủng tộc mà cần được quan niệm như là sự chấp nhận chia sẻ một tương lai chung.
Đặc điểm thứ hai là dù có lịch sử tương đối dài, chúng ta trên thực tế là một quốc gia rất mới. Cả một nửa lănh thổ, và một phần đáng kể dân chúng, chỉ mới hội nhập từ bốn thế kỷ nay, nhiều vùng chỉ từ một thế kỷ nay. Cho nên chúng ta không thể thủ cựu, trái lại phải năng động, liên tục thích nghi và đổi mới bởi v́ sự nghiệp mở nước vẫn chưa thế coi là đă xong hẳn.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Mở mắt và nhỏ lệ

 

Tôi mở mắt và nghe ḿnh nhỏ lệ
Những trận giặc kéo dài qua nhiều năm
Nhân loại đau buồn kể lể
Thành phố bị chiếm tiêu điều
Làng mạc hắt hiu trong cơn điên cuồng lửa đạn
Em là người hậu chiến hon hắt hủi bơ vơ ngoài phố
Thương bằng hữu bỗng biến thành kẻ tội tù.
Mai Trung Tính (40 bài thơ)
Không hiểu do cảm hứng nào mà Mai Trung Tính làm ra những vần thơ tiên tri như thế. Mai Trung Tĩnh tên thật là Nguyễn Thiệu Hùng, anh ruột của Nguyễn Thiện Tường, bạn thân của tôi. Tôi hay lui tới gia đ́nh Tường, nhất là những sáng chủ nhật. Lúc đó ba của Hùng và Tường mất có lẽ đă lâu lắm rồi, mẹ Tường hay cho chúng tôi tiền để đi ăn phở với nhau. Không biết bà cụ buôn bán ǵ nhưng gia đ́nh tương dối khá giả, bà cụ coi tôi gần như một đứa con của gia đ́nh. Tường học đệ nhị với tôi ở lớp B́nh Dân Giáo Dục. Thực ra Tường có đủ điều kiện để đi học b́nh thường như những người khác nhưng cũng ghi tên học B́nh Dân Giáo Dục buổi tối để học với tôi cho có bạn. Lúc đó, năm 1960, Hùng đă đậu xong tú tài đang học Đại Học Văn Khoa, ngoài ra c̣n đi dạy Việt văn ở cấp trung học để kiếm thêm lợi tức cho gia đ́nh. Hùng thích Sartre, Gide và Camus, tuần nào cũng bỏ tiền ra mua Paris Match v́ thích nhưng bài b́nh luận chính trị của Raymond Cartier. Khi viết câu: Em là người hậu chiến hồn hắt hủi bơ vơ ngoài phố thương bằng hữu bỗng biến thành kẻ tội tư, Hùng không ngờ câu đó lại ứng nghiệm cho ḿnh tới hai lần trong khoảng 15 năm. Tập thơ 40 bài thơ, của Hùng làm chung với Lê Đức Vượng (tức Vương Đức) được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc năm 1960. Mỗi người hai mươi bài. Những câu thơ trên lấy từ bài Lịch sử của Hùng. Tôi c̣n nhớ, ngay ngày cuốn sách in xong, Hùng ân cần tặng tôi một bản. Tôi thích bài Lịch sử và nhớ cho tới bây giờ.
Tuy là giáo sư, nhưng như mọi người trong lứa tuổi, như các anh em tôi, Hùng cũng thuộc diện sĩ quan biệt phái. Ai cũng biết sĩ quan biệt phái chỉ là một cụm từ rỗng nghĩa, có mục đích để chính quyền Việt nam Cộng Ḥa có thể gọi nhập ngũ trở lại một số người bất cứ lúc nào. Nhưng trên thực tế đó là những người không có hay không c̣n, liên hệ ǵ tới quân đội. Bằng cớ là ngay trước lúc sắp sụp đổ, chính quyền Sài G̣n cũng không gọi họ nhập ngũ. Tuy vậy cái nhăn sĩ quan biệt phái, đă khiến Hùng bị bắt đi cải tạo gần bảy năm. Tôi gặp lại Hùng mùa thu năm 1982 khi Hùng mới đi cải tạo về và tôi cũng sắp đi Pháp. Bẵng đi tám năm, tôi không liên lạc với Hùng, rồi không ngờ lại được tin Hùng trong một trường hợp khác.
Phải nói là rất không ngờ. Sau khi đi cải tạo về, tôi gặp một số trí thức trẻ có ưu tư với đất nước và chúng tôi giao du với nhau thành một nhóm chia sẻ lập trường dân chủ. Gặp Hùng, tôi không rủ Hùng gia nhập v́ lúc đó Hùng mới đi tù về c̣n đang yếu mệt và tôi cũng sắp đi Pháp, vả lại tôi biết Hùng không thích chính trị. Đoàn Viết Hoạt ở tù ra năm 1988 th́ ít lâu sau đó bắt liên lạc được với chúng tôi. Tôi biết Hoạt có thành lập một nhóm bạn dự định cho lưu hành tập tài liệu Diễn Dàn Tự Do nhưng không biết rằng Hùng cũng có trong đó. Chỉ sau khi nghe tin Hoạt và nhóm Diễn Dàn Tự Do, trong đó có Hùng, bị bắt tôi mới biết và ngạc nhiên. Hùng bị kết án năm năm, sau đó kháng án và được giảm xuống bốn năm.
Cái nh́n lịch sử của nhà thơ rất chính xác. Lịch sử nước ta là một lịch sử đau thương. Đó là một chuỗi ngoại thuộc và chiến tranh.
Cứ coi như nước chúng ta thực sự thành lập với nhà Hồng Bàng với 18 đời vua. Cứ tính trung b́nh mỗi vị chừng mười lăm năm th́ nhà Hồng Bằng kéo dài được non ba trăm năm th́ bị nhà Thục cướp ngôi năm 258 trước công nguyên. Như thế th́ có nghĩa là chúng ta có khoảng hai ngàn năm trăm năm lịch sử. Thế nhưng cỗ sử của ta lại chép rằng Kinh Dương Vương, ông nội của vua Hùng Vương thứ nhất làm vua nước Xích Quỷ từ năm 2879 trước tây lịch, như thế là ta có tới gần năm ngàn năm lịch sử. Như vậy có một khoảng trống trên hai ngàn năm. Khoảng thời gian ấy là khoảng thời gian cần thiết để một số người từ Hoa Nam vượt vách núi dầy đặc trên một trăm cây số. Giả thuyết hợp lư nhất là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên một số người đă qua được vách núi đến được giáp vùng đồng bằng sông Ḥng để cùng với người thổ dân lập ra nước Văn Lang. Huyền sử con rồng cháu tiên có lẽ đă xuất phát từ một lư do rất thực tiễn. Muốn khuất phục những con người thô sơ, không ǵ bằng dựa vào phép thần tiên, và những người ít ỏi từ miền Bắc xuống đă tự tạo cho ḿnh một nguồn gốc thần tiên để thu phục người bản xứ.
Trong khoảng năm trăm năm đầu, đất nước Văn Lang chắc là có rất ít người. Bằng chứng là nhà Thục, ḍng họ đă diệt họ Ḥng Bằng, không hề có một dấu vết nào trong lịch sử Trung Hoa cả, đó chỉ là một gia đ́nh nào đó đă từ Hoa Nam sang Bắc Việt và qui tụ được một số gia nhân lập thành một giang sơn riêng. Vậy mà nhà Thục đă diệt được họ Hồng Bằng th́ đủ biết tầm vóc của Văn Lang lúc đó không hơn một bộ lạc là bao.
Dù nhỏ bé như vậy, mà trong năm trăm năm đầu trước công nguyên, dân ta đă phải chịu ba cuộc chiến tranh: nhà Thục diệt Hồng Bằng, rồi nhà Triệu diệt nhà Thục, rồi nhà Triệu bị nhà Hán bên Trung Hoa tiêu diệt và nước ta bị sát nhập vào Trung Quốc.
Kế tiếp là hơn một ngàn năm Bắc thuộc. Trong khoảng thời gian này cũng đă có vô số binh biến đẫm máu. Hai Bà Trưng khởi nghĩa, làm chủ đất nước và cầm cự được ba năm, rồi cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Chinh và Triệu Quốc Đạt. Rồi vô số những loạn lạc đao binh khác, có khi do chính các quan cai trị muốn xưng hùng xưng bá đánh giết lẫn nhau, có khi do nhân dân nồi dậy chống áp bức. Có lần dưới thời Tam Quốc bên Trung Hoa, lúc nước ta đang dưới sự đô hộ của nhà Ngô, dân Giao Châu nổi lên giết được quan thái thú rồi đi thần phục nhà Ngụy ở măi tận phương Bắc, để rồi lại bị Đông Ngô đánh dẹp. Trong thời gian năm trăm năm của thời Bắc thuộc lần thứ hai, từ năm 43 đến nam 554, nước ta lúc nào cũng có binh biến, và binh biến thường thường do các quan cai trị Trung Hoa thấy Giao Châu có núi ngăn cách với Trung Hoa muốn thành lập một quốc gia độc lập. Cuối cùng Lư Bôn, một người gốc Trung Hoa, làm chủ được đất nước, lập ra nhà Tiền Lư, kéo dài được sáu mươi năm. Nh́n vào giai đoạn này, ta có thể rút ra hai kết luận: Một là ư thức về ḿnh như một xă hội riêng biệt với phương Bắc của ta đă do chính những quan đô hộ người Trung Hoa đem đến. Hai là nước ta đă được thai nghén trong binh lửa và đó cũng là một điều không may.
Trong sáu mươi năm ngắn ngủi của nhà Tiền Lư, nước ta đă phải đương đầu với cuộc tái chiếm của Trung Hoa, rồi cuộc nội chiến giữa Triệu Quang Phục và Lư Phật Tử, cuối cùng lại rơi vào Bắc thuộc một lần nữa.
Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba này chiến tranh lại c̣n triền miên và dữ dội hơn nữa. Chiến tranh với Lâm ấp (Chiêm Thành), cuộc nổi dậy của Mai Thúc Loan, của Phùng Hưng, rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi chiến tranh với nước Nam Chiếu (ở khu vực Vân Nam, Trung Quốc bây giờ), và dĩ nhiên, yếu tố thường trực vẫn là những cuộc tranh giành giữa các quan đô hộ.
Trong thời gian ấy xă hội Việt nam vẫn tiếp tục h́nh thành, người mỗi ngày một đông, trí tuệ mỗi ngày một mở mang, ư thức cộng đồng càng ngày càng rơ rệt, ḱm kẹp của ách thống trị càng ngày càng bất lực. Đến đầu thế kỷ thứ 10, năm 906, một hiện tượng lạ lùng xảy ra, hệ thống đô hộ của người Trung Hoa tự nó sụp đổ và dân Giao Châu tôn Khúc Thừa Dụ lên làm chủ. Đất nước Việt nam coi như đă thực sự h́nh thành. Người Trung Hoa định tái lập nền thống trị nhưng không được nữa, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán rồi xưng vương, dân đất nước vào giai đoạn độc lập chính thức.
Một ngàn năm Bắc thuộc thường được coi như một giai đoạn đen tối của nước ta, nhưng đó cũng là giai đoạn đất nước ta thai nghén và h́nh thành như một đất nước theo khuôn mẫu chính trị Trung Hoa. Quá tŕnh h́nh thành của nước ta là một chuỗi dài chinh chiến. Đứa trẻ Việt nam v́ thế đă ra đời với một cơ thể yếu.
Nhưng được độc lập rồi, loạn lạc, chiến tranh không giảm mà c̣n tăng. Nhà Ngô trị nước chẳng được bao lâu th́ rơi vào loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước và thi hành một chính sách trị nước cực kỳ tàn bạo, kéo dài mười bốn năm. Lê Hoàn soán ngôi nhà Đinh lập ra nhà Tiền Lê trị v́ ba mươi năm. Trong ṿng ba mươi năm đó dân ta đă phải chịu đựng một cuộc chiến tranh với nhà Tống, một cuộc chiến tranh với Chiêm Thành và nhiều cuộc chiến tranh b́nh định khác. Nhà Tiền Lê chấm dứt với triều Lê Long Đỉnh kéo dài năm năm, từ 1005 đến 1009. Lê Long Đỉnh tuy chỉ làm vua trong một thời gian ngắn ngủi nhưng đă để tên lại trong lịch sử như là bạo chúa kinh khủng nhất của nước ta. Sự thực hay chỉ là một bịa đặt của nhà Lư để bào chữa cho việc cướp ngôi nhà Tiền Lê? Thế kỷ đầu của độc lập, đối với dân ta, c̣n đau thương hơn cả thời Bắc thuộc.
Triều Lư vẫn được coi là một thời thịnh trị của nước ta v́ đă lập ra triều chính, kỷ cương, văn hóa, thi cử như một quốc gia thực sự. Điều đó đúng, những nếu nh́n kỹ hơn một chút th́ trong hơn hai thế kỷ dưới thời Lư dân ta cũng không sung sướng là bao. Chiến tranh cũng rất thường xuyên: đánh dẹp Nùng Trí Cao, đánh dẹp các tù ương không thần phục, đánh Chiêm Thành, Ai Lao, rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi đem quân đánh Tống, rồi kháng cự với quân xâm lăng Tống và mất Cao Bằng, Lạng Sơn, rời lại đánh Chiêm Thành, rồi giặc Thân Lợi, giặc Phạm Du, cuộc nổi loạn của đám tướng Phạm B́nh Di - Quách Bốc làm nhà vua phải bỏ cả kinh dô mà chạy, cầu cứu họ Trần rồi mất ngôi về tay nhà Trần.
Công lao lớn nhất của nhà Trần là đă phá được quân Mông Cỗ trong ba cuộc chiến tranh khóc liệt bậc nhất trong lịch sử nước ta. Nhưng cũng không phải chỉ có thế. Anh em nhà Trần có lúc c̣n đánh lẫn nhau, giặc giă ở trong nước cũng không ít: giặc Mường, giặc Đoan Thượng, giặc Nguyễn Nọn, giặc Phạm Sư ổn, Dương Nhật Lệ, rồi nhưng cuộc chiến tranh liên miên với Chiêm Thành, trong đó quân Trần bại nhiều hơn thắng, kinh đô Thăng Long bị tàn phá nhiều lần. rồi đánh nhau với Ai Lao. Ngày nay nhiều người vẫn coi nhà Trần là một thời thịnh trị, gần như nhà Lư, v́ nhà Trần đều có công đánh được quân Nguyên, nhưng xét ra có lẽ chưa đời nào dân ta khổ bằng dưới thời nhà Trần.
Nhà Trần mất, nhà Hồ lên, quân Minh sang đánh chiếm nước ta. Lập tức Giản Định Đế, Trùng Quang Đế nổi lên rồi bị dẹp. Kế tiếp là cuộc kháng chiến mười năm của Lê Lợi. Giành được độc lập rồi, nhà Hậu Lê cũng phải đương đầu với vô số cuộc nổi dậy, nhất là cuộc nổi dậy của Trần Cao, kinh thành bị tàn phá mấy lần. Nhà Lê mất, một cuộc nội chiến phù Lê diệt Mạc bùng lên, kế tiếp là Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi cuộc nồi dậy của anh em Tây Sơn, cuộc chiến tranh với quân Thanh và quân Xiêm, cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và dư đảng phù Lê, cuộc nội chiến khốc liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn ánh.
Nhà Nguyễn thống nhất được đất nước, làm vua được tám mươi năm th́ mất nước vào tay người Pháp, sau khi đă phải đánh dẹp chật vật nhiều cuộc nỗi dậy khác, nhất là cuộc ly khai của Lê Văn Duyệt được Lê Văn Khôi tiếp nối. Sau thế chiến II, chúng ta chiến tranh khốc liệt cho tới năm 1975.
Trong suốt ḍng lịch sử của ta, dân ta được bao nhiêu năm ḥa b́nh? Có lẽ chỉ được khoảng một trăm năm mươi năm yên ổn dưới thời Lư, gần một thế kỷ dưới thời Trần, tám mươi năm dưới thời Hậu Lê, xấp xỉ bảy mươi năm (1672- 1739) tại miền Bắc trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh (dưới thời các chúa Trịnh Tạc, Trịnh Cán, Trịnh Cương). Và sáu mươi năm dưới thời Pháp thuộc, nhưng lại là ḥa b́nh trong ngoại thuộc. Xét ra, trong hai ngàn năm trăm năm lịch sử của ta, chúng ta chỉ có được khoảng bốn trăm năm vừa có độc lập vừa có ḥa b́nh tương đối. Thế nhưng ngay cả khi có ḥa b́nh tương đối, chúng ta cũng luôn luôn phải chịu đựng những chế độ hà khắc. Chúng ta rất ít có hoà b́nh và chưa bao giờ có tự do. Gần đây, dưới chế độ cộng sản, chúng ta cũng đă phải chịu một cuộc chiến tranh biên giới ngắn nhưng dữ dội với Trung Quốc, một cuộc chiến tranh dai dẳng tại Cam-bốt, và một cuộc nội chiến rất đặc biệt tuy không có tiếng bom đạn nhưng cũng diễn ra một cách thảm khốc trong ḷng người. Hàng trăm ngàn người đă bị tù tội, hàng triệu người bị cướp đoạt tài sản, bị phân biệt đối xử, bị trù dập và cấm đoán. Hơn một triệu người bỏ nước ra đi. Biết bao nhiêu là đau thương và thù hận.
Cuộc hành tŕnh vội vă qua lịch sử này có mục đích để chúng ta mở mắt và nhỏ lệ cho thân phận của đất nước ḿnh. Chúng ta chiến tranh nhau quá. Không có dân tộc nào trên mặt đất này chịu nhiều chiến tranh như chúng ta. Chiến tranh đă khiến chúng ta trở thành một dân tộc không b́nh thường. Câu hỏi tại sao nước ta có địa thế tốt, con người cần mẫn và tinh khôn mà lại không vươn lên được có lẽ đă có câu trả lời. Chiến tranh đă đầy đọa chúng ta trong suốt ḍng lịch sử để rồi trở thành một bản năng của chúng ta. Những người lănh đạo cộng sản lấy những quyết định chiến tranh một cách thản nhiên dễ sợ. Nhưng họ cũng không khác bao nhiêu so với những người Việt nam khác, họ chỉ thể hiện một chứng bệnh tâm thần tập thể của chúng ta mà thôi.
Thử nh́n những cuộc tranh căi chính trị tại hải ngoại. Chỉ v́ một ư kiến không hợp ư ḿnh, người ta có thể công kích nhau một cách thậm lệ, dữ dằn. Nếu có binh quyền trong tay chắc chắn là người ta không ngần ngại tuyên chiến.
Mộng ước của mọi người Việt nam hôm nay là đổi hướng đi của lịch sử và mở ra một kỷ nguyên của tiến bộ và hạnh phúc. Đó là một cuộc đổi đời rất lớn. Nhưng có cuộc đổi đời nào không đ̣i hỏi một thay đổi lớn về tâm lư? Nếu biết nhỏ lệ xót thương cho số phận của đất nước ta, biết dứt khoát tiêu diệt cái bản năng chiến tranh trong con người của môi chúng ta, biết lấy đối thoại, tương kính, tương nhượng làm căn bản dựng nước mới là chúng ta đă rút được bài học lịch sử quí giá nhất và đă vượt được trở ngại kinh khủng nhất.

 

Phần 2 Con đường đă qua
ảo ảnh Lư Trần

 

Đối với đại đa số người Việt, thời đại Lư Trần là thời đại vinh quang nhất của nước ta. Tôi đă được nghe nhiều người nói và đọc nhiều bài viết bày tỏ mong ước đưa đất nước trở lại thời đại thịnh trị đó. Nguyễn Hữu Thanh, người sáng lập ra Đảng Duy Dân và tư tưởng Duy Dân, lấy tên là Lư Đông A. Đông A có nghĩa là Trần, Lư Đông A có nghĩa là Lư Trần. Sự tôn kính thời đại Lư Trần có lư do của nó. Nhà Lư có công biến nước ta thành một quốc gia thực sự có kỷ cương, có tổ chức, có văn hóa. Nhà Trần có công đánh bại quân Nguyên - một đạo quân bách chiến bách thắng đă từng đánh bại cả thế giới, trừ nhật bản. Chiến thắng quân nguyên là một trang sử oai hùng mà người Việt nam có quyền hănh diện. Tuy nhiên sự tôn thờ thời đại Lư Trần mang ba ngộ nhận lớn.
Thứ nhất là coi thời đại Lư Trần là một thời an b́nh. Điều này chỉ đúng một phần. Nhà Lư trị v́ nước ta được hai trăm mười sáu năm, nhưng nếu cộng tất cả các năm mà lịch sử không chép có giặc giă, chiến tranh th́ chỉ được khoảng một năm năm mươi năm mà thôi. C̣n lại là gần bảy mươi năm chinh chiến. Trong lịch sử nước ta, tỷ lệ những năm ḥa b́nh như vậy là rất cao, tuy nhiên so với tiêu chuẩn của các nước khác, tỷ lệ đó phải được coi là rất khiêm nhường. Nhà Trần làm vua được một trăm bảy mươi lăm năm th́ chỉ có được khoảng chín mươi năm ḥa b́nh mà thôi. Gần như một nửa thời gian là chiến tranh, loạn lạc. Và chiến tranh rất khốc liệt. Trăi với một nhận định phổ thông, cuộc chiến tranh chống quân Nguyên không phải thảm khốc nhất. Ba cuộc chiến tranh với quân Nguyên chỉ kéo dài tổng cộng năm năm. Phần c̣n lại là nội chiến hoặc chiến tranh với Chiêm Thành. Những cuộc chiến tranh này thảm khốc không kém cuộc chiến tranh kháng Nguyên và kéo dài hơn. Kinh đô không biết bao nhiêu lần bị tàn phá. Dân chứng có lẽ c̣n cơ cực hơn cả trong cuộc chiến tranh chống quân Nguyên v́ quân Chiêm Thành, khác với quân Nguyên, không chủ trương tiêu diệt quân nhà Trần mà chỉ sang cướp bóc và đốt phá.
Ngộ nhận thứ hai là dưới thời Lư Trần nước ta đă lớn mạnh và văn minh lên. Điều này không đúng. Nh́n kỹ th́ nước ta không tiến bộ nhanh hơn so với thời Bắc thuộc. Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba (604-909), nước ta đă tiến bộ rất nhiều. Từ một xă hội bán khai, Việt nam đă trở thành một xă hội có văn hóa. Nhiều người Việt đă đậu những khoa thi lớn của Trung Quốc. Xă hội Việt nam đă trưởng thành, ư chí độc lập đă mạnh tới độ hệ thống cai trị của Trung Hoa tự nó tan ră. Trong khoảng thời gian năm trăm năm độc lập, trong đó bốn trăm năm là thời đại Lư Trần, nước ta đă tụt hậu rất nhiều, rồi mất độc lập. Sau khi Lê Lợi đuổi được quân Minh và tái lập được chủ quyền, Nguyễn Trăi đă kể tội quân Minh trong bài B́nh Ngô Đại Cáo như sau: Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biền ṃ châu [...]. Nay xây nhà mai đắp đập, chân tay nào phục dịch cho vừa... Lời kể tội này cho thấy trong khoảng thời gian đó Trung Hoa đă vượt xa Việt nam rất nhiều. Họ đă biết khai thác mỏ và luyện kim, đă biết đặt vấn đề xây dựng công cộng.
Ngộ nhận thứ ba, cũng là ngộ nhận lớn nhất và vẫn c̣n được nhắc đi nhắc lại cho tới ngày nay, là thời Lư Trần đă lấy Phật Giáo làm quốc giáo. Sự thực th́ chỉ có các vua đầu của nhà Lư là đă tôn thờ đạo Phật mà thôi, nhưng dù có tôn thờ Phật Giáo đi nữa, Phật Giáo cũng không được lấy làm căn bản cho chính trị. Khổng Giáo mới là căn bản. Có thể nói chính nhà Lư đă biến Khổng Giáo thành quốc giáo và mở đầu sự suy thoái của Phật Giáo. Dưới thời Bắc thuộc, Khổng Giáo là đạo lư của kẻ thống trị phương Bắc, Phật Giáo là tôn giáo của quần chúng Việt nam. Từ nhà Lư trở đi, Khổng Giáo trở thành đạo lư dân tộc và dần dần đẩy lui ảnh hưởng của Phật Giáo. Ngay cả các vị vua đầu nhà Lư, dù có tôn kính Phật Giáo, vẫn ra sức xây dựng Nho Giáo trước hết. Họ lập đền thờ Khổng Tử và Chu Công, xây dựng nền học vấn Nho Giáo, xây dựng xă hội và đất nước theo khuôn mẫu Nho Giáo. Các kỳ thi tuyển chọn nhân tài trị nước chỉ đ̣i hỏi những kiến thức của Nho Giáo mà thôi chứ hoàn toàn không đ̣i hoi một kiến thức Phật Giáo nào. Phật Giáo chỉ được coi như một tín ngưỡng cá nhân. Các nhà vua trị nước theo khuôn mẫu Khổng Giáo, vị nào sùng đạo Phật lắm th́ cũng chỉ giữ cho ḿnh. Một số cao tăng Phật Giáo được dùng làm quốc sư, nhưng chính họ cũng chi khuyên vua nên làm thế nào để trị nước cho hay trong khuôn mẫu Khổng Giáo mà thôi. Chính dưới thời Lư nước ta đă xác nhận khuôn mẫu xă hội Khổng Giáo cho suốt ḍng lịch sử sau này.
Đến đời nhà Trần th́ phật Giáo không những bị loại hẳn khỏi chính trị mà c̣n bị chèn ép. Cuối đời nhà Trần có việc ép buộc một số lớn tăng sĩ Phật Giáo bỏ tu hành. Khinh bỉ Phật Giáo dưới thời Trần lớn đến độ các danh sĩ lớn được mọi người kính trọng mạt sát Phật Giáo một cách công khai. Trương Hán Siêu, một đại thần được coi là tài giỏi, thanh liêm, đức độ, c̣n cho dựng bia khích bác Phật Giáo ngay tại cửa chùa, một điều mà ngày nay ngay cả chế độ cộng sản dù coi tôn giáo là thù địch cung không làm. Vậy mà vào thời Trần, việc làm của Trương Hán Siêu được coi là chính đáng, hay ít ra b́nh thường.
Nhà Trần lại nổi bật ở đặc điểm loạn luân và tàn ác. Anh em, cô cháu cứ lấy nhau một cách bừa băi. Không những thế, nhà Trần c̣n ép buộc dân chúng phải lấy nhau trong cùng một họ. Phong hóa nước ta chưa bao giờ đồi trụy đến thế.
Nhận định như vậy không phải là để phủ nhận thời đại Lư Trần. Thời đại này đă đem lại cho chúng ta nhiều tiến bộ. Hội nghị Diên Hồng đă là bước tiến đáng kể theo hướng dân chủ, tiếc thay không được nối tiếp. Thời đại Lư Trần cũng đem lại cho chúng ta một thời gian ḥa b́nh khá lâu, và biến nước ta thành một quốc gia chính thức theo nghĩa đúng của nó. Thời đại Lư Trần có nhiều điểm khả quan nhưng chỉ là khả quan tương đối so với lịch sử đau khổ của chúng ta mà thôi. Không có lư do ǵ để nói rằng đố là một thời đại hoàng kim của nước ta.
Càng không có lư do để muốn đem đất nước trở về thời đại Lư Trần. Sự kiện lập trường này thỉnh thoảng vẫn c̣n xuất hiện từ cửa miệng và ng̣i bút của một số trí thức mà không gặp sự bác bỏ gay gắt đáng lẽ phải có đủ tố cáo sự non nớt về trí tuệ của chúng ta. Trong thời đại chuyển biến dồn dập ngày nay, nhất là khi thế giới đă bắt đầu rời kỷ nguyên kỹ nghệ để tiến vào kỷ nguyên trí tuệ, ngay cả những khuôn mẫu tuyệt hảo cách đây vài chục năm cũng phải bỏ đi để t́m đường lối mới, huống chi một khuôn mẫu, tự nó chẳng có ǵ sáng tạo và cũng chỉ thành công một cách vừa phải cách đây tám thể kỷ. ảo ảnh Lư Trần chứng tỏ chúng ta hủ lậu, bảo thủ và mê muội một cách thực đau ḷng.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung

 

Trong một thời gian cách nhau hơn một thế kỷ, nước ta đă có hai trường hợp cướp ngôi. Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527. Hai trường hợp khởi đầu trong một kịch bản tương đối giống nhau: một ḍng họ hư đốn làm cho đất nước suy đồi, rồi một đại thần phế bỏ vua, tự lập lên ngôi. Trong cả hai trường hợp, vị vua cũ bị giết hại. Trong cả hai trường hợp, các triều thần của ḍng vua cũ được mời ở lại giúp vua mới. Nhưng kết quả đă khác nhau, và sự phán xét của lịch sử đă rất lạ lùng.
Hồ Quí Ly là một đại thần bất lực, bên trong làm cho đất nước suy đồi, bên ngoài th́ không giữ được bờ cơi. Quân Chiêm Thành ra vào cướp phá như chỗ không người, kinh đô mấy lần bị rơi vào tay quân địch, Hồ Quí Ly chỉ biết dắt vua bỏ chạy. Chẳng có công lao ǵ với đất nước nhưng Hồ Quí Ly cũng đă trấn áp được vua Trần rồi cướp ngôi. Hồ Quí Ly cũng tỏ ra đặc biệt bội bạc với đất nước Việt nam đă cho ông ta tất cả, ông ta vẫn tự coi là người Tàu dù tổ tiên đă lập nghiệp tại Việt nam từ bốn đời. Cướp được ngôi vua, Hồ Quí Ly, trước đó mang họ Lê theo bố nuôi, đă lấy lại họ Hồ theo họ cũ của ḿnh và đổi tên nước ta từ Đại Việt thành Đại Ngu theo tên cố quốc của ḿnh, rồi thi hành một chính sách cướp bóc ra mặt đối với dân chúng. Nguyên Trăi kể tội Hồ Quí Ly: Vừa qua nhà Hồ v́ chính sách phiền hà làm cho ḷng người oán giận. Kết quả là Hồ Quí Ly làm mất nước, nước ta lại rơi vào ṿng Bắc thuộc sau gần năm trăm năm độc lập. Tội của Hồ Quí Ly đối với Việt nam thực là lớn. Thế nhưng xem ra Hồ Quí Ly chỉ bị lên án vừa phải thôi, không những thế c̣n được khen là con người lỗi lạc, một trí tuệ siêu việt và sáng tạo.
Mạc Đăng Dung, hơn một trăm năm sau, có công giúp vua dẹp loạn rồi được tin dùng và lợi dụng cơ hội để cướp ngôi. Cũng như trường hợp Hồ Quí Ly, đám con cháu của triều đ́nh cũ sang Tàu cầu cứu và quân Tàu rục rịch đánh nước ta. Mạc Đăng Dung tự trói ḿnh xin thần phục Trung Quốc và giữ được nước. Nhà Mạc sau đó không tỏ ra dấu hiệu hà khắc nào, không gặp giặc giă nào đáng kể, dân t́nh không đến nỗi khổ sở. Nhưng nhà Mạc đă gặp cuộc chiến tranh qui mô để tái lập nhà Lê do Nguyễn Kim, rồi Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng lănh đạo, rồi bị tiêu diệt sau sáu mươi lăm năm. Mạc Đăng Dung đă bị tất cả các sử gia và trí thức mạt sát thậm tệ. Cách phán xét nhà Hồ và nhà Mạc cho tới nay ít làm ai ngạc nhiên. Cũng cùng thoán nghịch mà sao người làm mất nước lại không bị lên án gay gắt bằng người không làm mất nước? Đối với người lănh đạo quốc gia có tội nào lớn hơn tội làm mất nước? Người ta lên án Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung đă phản bội vua và cướp ngôi. Điều này vào thời đại đó và với khuôn mẫu đạo lư đó là đúng. Nhưng ngày nay nh́n lại th́ sao? Nếu chúng ta coi khuôn mẫu Khổng Giáo vẫn c̣n là tốt cho đất nước và cần được duy tŕ th́ cả Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung đều đáng lên án. Ngược lại nếu chúng ta coi khuôn mẫu Khổng Giáo là khuôn mẫu cỗ hủ đáng lẽ không được duy tŕ quá lâu như vậy, th́ hành động thoán nghịch của Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung phải được coi là đáng khen v́ nó là một thách thức đối với khuôn mẫu Khổng Giáo. C̣n nếu chúng ta không có ư kiến dứt khoát th́ hành động thoán nghịch chẳng là công mà cũng chẳng là tội. Nó chỉ là một biến cố chính trị. Vậy th́ ngoại trừ đối với một số người thủ cựu một cách mê muội, cái tội thoán nghịch không nên đặt ra nữa. Cái ǵ bắt một dân tộc phải tiếp tục chịu đựng những ông vua tồi tệ như cuối đời Trần hay cuối đời Hậu Lê? Đạo lư nào bắt buộc như vậy chỉ là một đạo lư tồi tệ. Xét công, tội của Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung phải dựa vào những ǵ họ để lại sau đó.
Hồ Quí Ly không làm được ǵ cho đất nước, chỉ làm khổ dân và rồi làm mất nước. Người ta ca tụng Hồ Quí Ly là có nhiều ư kiến sáng tạo: đổi lại hệ thống giáo dục một cách thực dụng hơn, đem toán học, địa lư và nông nghiệp vào giáo dục, lập các trạm y tế ở khắp nơi. Nhưng câu hỏi đặt ra là nếu quả thực đó là những ư kiến mà Hồ Quí Ly cho là ích quốc lợi dân th́ tại sao trong mấy chục năm làm thái sư, có tất cả mọi quyền trong tay, kể cả quyền giết vua mà Hồ Quí Ly đă sử dụng một cách thường xuyên, Hồ Quí Ly không đem áp dụng? Đó là một câu hỏi lớn mà sẽ không bao giờ la t́m được câu trả lời chính xác. Một trong những giải thích có thể là Hồ Quí Ly cũng chẳng thực sự coi trọng nhưng biện pháp canh tân sau đó Quí Ly cũng coi trọng cái học từ chương như mọi người thời đó, những biện pháp mà Quí Ly đưa ra chỉ là để đánh đổ các giá trị cũ để đào thải lớp nho sĩ thời đó, được quí trọng v́ cái học từ chương và trong đại đa số không ủng hộ Quí Ly.
Người ta cũng ca tụng Quí Ly đă biết phát minh ra tiền giấy. Có người c̣n nói Quí Ly dáng được coi là thủy tổ của ngành ngân hàng! Những điều này hoàn toàn sai và chứng tỏ rằng những người nói như vậy chỉ phát ngôn bừa băi chứ họ không biết ǵ về ngân hàng và tiền tệ. Tiền giấy của Quí Ly không khác ǵ tiền mă đă có từ lâu rồi để cúng tế người chết mà thôi, nó hoàn toàn không có một giá trị thanh toán nào cả. Hành động của Quí Ly chỉ là một hành động của kẻ tham lam muốn cướp hết vàng bạc trong nước cho ḿnh và những đồng tiền giấy chỉ là những chứng nhận đă nộp vàng để được yên thân mà thôi.
Nếu quả thực những điều Quí Ly làm là những biện pháp canh tân thực sự, th́ một trí tuệ đủ khả năng nh́n ra những biện pháp đó cũng phải ư thức được, ít nhất một phần nào, những khó khăn của việc thực hiện và đă không thi hành một cách vội vă, cẩu thả như Quí Ly đă làm. Trên thực tế, ngoại trừ việc cướp bóc vàng bạc, Quí Ly chẳng làm được ǵ cả. Nhà Hồ cung chỉ kéo dài được bảy năm. Người ta trách Mạc Đăng Dung là làm nhục quốc thể, qú lạy tướng Trung Hoa và cắt đất dâng cho Trung Quốc. Việc qú lạy tướng Tàu là tồi thực, nhưng đó là điều mà các vua Việt nam ngày trước vẫn thường làm trước sứ giả Trung Quốc, không phải riêng ǵ Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung đă quỵ luỵ hơn các vua khác v́ lúc đó ông ta không đứng trước một sứ giả mà trước một đạo quân hùng mạnh sắp tràn vào Việt nam xâm chiếm. Hành động hèn nhát của Đăng Dung đă cứu được đất nước khỏi chiến tranh và ngoại thuộc. Hèn thực, nhưng cũng may thay cho nước ta. Người ta lên án Mạc Đăng Dung đă dâng đất cho Trung Hoa. Nhưng sự dâng đất này chỉ là h́nh thức và không đáng kể. Mạc Đăng Dung chỉ dâng năm động ở Cao Bằng. Năm cái động đó có đáng ǵ đâu so với ngay cả những đất đai mà nhà Lư, được coi là oanh liệt, đă phải nhượng cho Trung Quốc để cầu ḥa, sau nhiều cố gắng chiến dấu. Vả lại, người Trung Hoa chẳng bao giờ sang tiếp thu năm cái hang núi này cả, cho nên trên thực tế, Mạc Đăng Dung không làm mất một tấc đất nào.
Người ta coi Hồ Quí Ly hơn Mạc Đăng Dung, ở chỗ Hồ Quư Ly đă dám đánh lại quân Tàu, dù là đánh để rồi thua và mất nước. Người ta sỉ vả Mạc Đăng Dung là đă hèn nhát xin hàng tướng Tàu, dù nhờ đó mà Việt nam tránh được chiến tranh và không mất nước. Mà thực sự Hồ Quí Ly có đánh được ǵ đâu, quân Minh đi đến đâu, quân Hồ bỏ chạy đến đó, như ngày trước quân Chiêm liến đến đâu, Hồ Quí Ly chạy đến đó, chỉ trong vài tháng cả vua quan bị bắt trói giải về Tàu.
Tại sao lại có việc trọng Hồ Quí Ly, khinh Mạc Đăng Dung? Có hai lư do. Lư do thứ nhất là tinh thần quốc gia chúng ta không cao. Ta không coi trọng những ǵ có lợi cho đất nước mà chỉ để ư xem cái ǵ là độc đáo trong một con người; chúng ta vẫn suy luận như những cá nhân chứ không phải như một dân tộc. Lư do thứ hai là óc tôn thờ chiến tranh đă nói ở một phần trước trong sách này. Đánh bao giờ cũng có sức quyến rũ hơn ḥa, dù là đánh ngu xuẩn như Hồ Quí Ly. Cho đến ngày nay, lập trường trọng Hồ khinh Mạc vẫn c̣n ngự trị, điều đó chứng tỏ trí tuệ tập thẻ chúng ta vẫn c̣n mê muội, tâm lư của chúng ta vẫn chưa được khai thông.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Người trong một nước?

 

Ông Hồ Chí Minh để lại một câu nói nổi tiếng, đă rất nhiều lần được nhắc lại và phá vài kỷ lục về in ấn: Nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn, nhưng chân lư ấy không thể nào thay đổi, ông ấy không nói thêm nhưng mọi người đều hiểu: nước Việt nam phải thống nhất dưới sự lănh đạo của Đảng cộng Sản Việt nam. Đó là một câu nói bày tỏ quyết tâm sắt đá áp đặt bằng mọi giá chế độ cộng sản trên toàn cơi Việt nam. ở vào thời điểm 1969, khi cuộc chiến Nam Bắc đang diễn ra khốc liệt, đó là một khẩu hiệu chiến tranh. Mọi người đều đă hiểu như vậy và đúng là phải hiểu như vậy.
Ngoài ra, câu nói Nước Việt nam là một chỉ có thể là một quyết tâm chứ không phải là một sự thực nếu nh́n vào lịch sử nước Miền Nam Việt nam được mở ra cùng với thế kỷ 17, khi Nguyễn Hoàng, c̣n gọi là chúa Tiên, bắt đầu khai phá, một thời gian sau khi đem dân vào Nam tránh họa Trịnh Kiểm. Con cháu Nguyễn Hoàng thiết lập ra một đất nước riêng biệt, đánh nhau với họ Trịnh để giữ bờ cơi trong gần một thế kỷ, sau đó Đàng Trong (tức miền Nam) và Đàng Ngoài (tức miền Bắc) sống như hai quốc gia riêng biệt và thù địch cho tới khi nhà Nguyễn bị Tây Sơn tiêu diệt vào năm 1778. Kế đó anh em Tây Sơn chia rẽ nhau và đất miền Nam của chúa Nguyễn bị chia làm hai, phía Bắc thuộc Nguyễn Huệ, phía Nam thuộc Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ. Ngay khi nhà Tây Sơn dựng lên, Nguyễn ánh khởi binh khôi phục nhà Nguyễn, mấy lần chiếm lại Gia Định rồi lại bị đánh bại. Nhưng khi anh em Tây Sơn chia rẽ nhau, Nguyễn ánh đă làm chủ được vùng đất từ Biên Ḥa trở vào cho tới mũi Cà Mau. Cho tới trận Đống Đa, năm 1789, nước ta thực sự bị chia làm bốn nước. Miền Bắc của vua Lê, từ Nghệ An cho tới Quang Nam của Nguyễn Huệ, miền Nam Trung Phần của Nguyễn Nhạc, và Nam Phần thuộc về Nguyễn ánh. Có lúc chúng ta có tới ba hoàng đế: Chiêu Thống tức Lê Duy Kỳ, Quang Trung tức Nguyễn Huệ và Thái Đức Hoàng Đế tức Nguyễn Nhạc, và một vương: Nguyễn ánh. Sau trận Đống Đa, Nguyễn Huệ diệt nhà Lê, ta c̣n lại hai hoàng đế và một vương. Đến năm 1802, Gia Long mới thống nhất được sơn hà. Như thế có nghĩa là một nửa của đất nước mới bắt đầu được hội nhập dần dần theo một tiến tŕnh bắt đầu từ cách đây hơn bốn trăm năm và mới kết thúc cách đây hai trăm năm. Trong khoảng thời gian bốn thế kỷ qua, cùng với sự mở rộng đất nước, chúng ta chia đôi trong hơn hai thế kỷ, có lúc chia ba, có lúc chia bốn. Gia Long thống nhất đất nước được sáu mươi hai năm th́ Nam Phần bị Pháp chiếm làm thuộc địa, rồi hai mươi năm sau đó cả nước bị Pháp đô hộ và chia ra làm ba Kỳ: miền Bắc, miền Trung và miền Nam với ba chế độ chính trị khác nhau. Sau thế chiến hai, nước Việt nam bị chia làm hai vùng quốc gia và cộng sản, dưới hai chế độ khác nhau. Từ năm 1954 đến năm 1975, hai vùng quốc gia và cộng sản tập trung lại thành hai miền Nam Bắc tiếp giáp nhau ở sông Bến Hải, vĩ tuyến 17. Đất nước lại thống nhất trở lại từ năm 1975.
Nói chung là từ ngày bắt đầu mở ra miền Nam, cách đây trên bổn trăm năm, chúng ta có được tám mươi năm thống nhất. Tám mươi năm trong thời gian hơn bốn trăm năm kể ra là quá ít, nhưng con số rất khiêm nhường đó cũng đă bỏ qua đi những chuyện các sứ quân nói lên hùng cứ một phương như vẫn xảy ra thường xuyên dưới triềư Nguyễn. Nó cũng không kể tới sự kiện là ngay cả khi có thống nhất về mặt hành chánh chúng ta cũng không có thống nhất trong dân tộc. Dưới thời nhà Nguyễn, nhân dân bị chia làm hai loại, giữa những người không có hay có đạo Công giáo. Khoảng một trăm ngàn người Công giáo đă bị sát hại ch́ v́ tín ngưỡng của họ. Từ sau 1975, dân tộc cũng bị chia làm hai loại người, những người cộng sản rất thiểu số nhưng lại chiếm tất cả mọi quyền hành và những người không cộng sản chiếm đại đa số nhưng lại chỉ có quyền phục tùng.
Tóm lại, từ bốn thế kỷ qua, đất nước Việt nam ít khi là một, c̣n dân tộc Việt nam th́ chưa bao giờ là một cả. Không những có chia cắt và chia rẽ, mà c̣n chia cắt để tàn sát lẫn nhau, chia rẽ để chà đạp và bách hại lăn nhau. Làm sao có thể ngạc nhiên nếu chúng ta không vươn lên được?
Cái quá tŕnh chia cắt và chia rẽ đó khiến chúng ta nh́n nhau không phải như người cùng một nước, mà là những người quốc gia hay cộng sản, người Bắc hay người Nam hay người Trung, người Công Giáo hay người Phật tử, người giàu hay người nghèo. Không những chia rẽ nhau mà c̣n thù ghét nhau.
Năm 1946, khi người Pháp trở lại Nam Phần, họ lập tức t́m được những người cộng tác để lập ra Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc! với chủ trương tách Nam Phần thành một quốc gia riêng. Phong trào đầu tiên mà chính quyền này phát động là bách hại những người gốc miền Bắc không may có mặt tại Sài g̣n. Kỹ thuật rất giản dị, một người khả nghi bị chặn lại và bị bắt phải nói ba tiếng Tân Sơn Nhất. Nếu phát âm là Tâng Sưng Nhức th́ được coi là người Nam, tức là người tốt; c̣n nếu phát âm là Tân Sơn Nhất là bị nhận ra là Bắc kỳ và bị ăn đ̣n. Điều đáng buồn là đây không phải chỉ là một chủ trương tồi tệ của một thiểu số manh động, đa số những người tham dự vào cái tṛ chơi đánh Bắc kỳ này là những người rất b́nh thường. Tất cả những nạn nhân đều không phải là những người giàu có và thế lực, những người này có đầy đủ mọi quan hệ cần thiết để che chở cho họ, họ vẫn sống yên ổn. Tất cả những nạn nhân đều là những người cùng khổ bị đem vào làm phu ở trong Nam. Năm 1945, sau khi tuyên bố thành lập nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa và nam được chính quyền, đảng cộng sản đă tàn sát thẳng tay những phần tử Việt nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt, mà họ thừa biết là rất yêu nước, v́ không chấp nhận chủ nghĩa của họ.
Ông Hồ Chí Minh coi tất cả những người cộng sản trên thế giới là anh em (ông từng viết: Năm châu bốn bề là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em), nhưng ông lại coi những đồng bào Việt nam của ông không chia sẻ lư tưởng Mác-Lênin của ông là thù địch và ông giết họ không gớm tay. Ngay cả những người cộng sản Đệ Tứ, cũng tôn sùng Mác và Lênin như ông nhưng không thuộc trường phái Stalin, ông cũng thẳng tay tiêu diệt. Dĩ nhiên để có lư cớ tàn sát họ, ông buộc cho họ đủ thứ tội phản động, phản quốc, Việt gian, v.v. Yêu nước trước hết là phải yêu đồng bào. Ai muốn nói ông Hồ Chí Minh tài giỏi, quyết tâm, can đảm là quyền của họ, nhưng không ai có thể thuyết phục tôi rằng ông là một người yêu nước. Phải nghĩ thế nào về cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc năm 1955? Những tài liệu và nhân chứng khác nhau ước lượng số người bị giết từ 20.000 đến 100.000. Trong đại bộ phận họ không phải là những người giàu - mà giàu có phải là một tội đáng chết không? - họ chỉ là những người có năm, mười mẫu ruộng, tuy không đến nỗi cùng khổ như những người bần cố nông khác nhưng cũng là những người nghèo. Tôi đă gặp rất nhiều người từng chứng kiến những vụ đấu tố hồi đó, họ cho hay rằng có những người dân quê rất b́nh thường đă tham gia một cách man rợ vào những cuộc giết người đó, không phải v́ bị ép buộc mà với những con mắt rực lửa hận thù. Nếu cải cách điền địa chỉ là do đă tâm của đảng cộng sản và của các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng th́ cũng đă là ghê gớm lắm rồi. Nhưng thực tế c̣n đau ḷng gấp ngh́n lần. Nó chứng tỏ rằng người Việt nam ác độc với nhau, và do đó không đáng với tên gọi là một dân tộc.
Ngay gần đây, vào năm 1992, tại trại cấm Hồng Ông, nơi hàng chục ngàn người Việt nam tị nạn bị nhốt vào các trại tù để sắp sửa bị đuổi về cũng đă xảy ra một trường hợp hổ nhục. Những con người cùng xấu số và đều khổ như nhau đó đă không thương nhau mà c̣n tàn sát nhau giữa người ra đi từ miền Bắc và người ra đi từ miền Nam.
Tôi may mắn được đi du học rồi lớn lên và làm việc tại các nước phương Tây. Điều tôi học hỏi được không phải ở trong những cuốn sách mà ở trong những cái nh́n. Người Mỹ nh́n nhau là người Mỹ, rất ít khi họ để ư nhăn hiệu dân chủ hay cộng ḥa, người ở bang New York hay người ở bang Michigan. Người Pháp nh́n nhau như những người Pháp trước khi là người ủng hộ đảng Xă Hội hay đảng De Gaulle, người Anh nh́n nhau như những người Anh trước khi là những người lao động hay bảo thủ. Họ là những dân tộc. Hơn hai ngàn năm lịch sử dựng nước của ta không đem ta lại gần nhau mà c̣n khiến ta thù địch với nhau. Chúng ta phải nh́n lại ḿnh và nghĩ lại ḿnh.
Dĩ nhiên chúng ta đều muốn nước Việt nam thống nhất và dân tộc Việt nam ḥa hợp. Đó là điều kiện bắt buộc. Hoặc là thế, hoặc là chúng ta sẽ không có một tương lai nào cả. Nhưng nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một là điều mà chúng ta phải xây dựng ra chứ chưa sẵn có. Và để xây dựng đất nước Việt nam đó chúng ta cần một tinh thần mới. Đó là tinh thần chấp nhận nhau, quí mến nhau, tôn trọng những dị biệt của nhau để cùng nhau xây dựng một tương lai chung.
Tinh thần đó là bắt buộc nhưng chưa đủ, chúng ta cần ư thức được một cách thật sâu đậm sự phân hóa và thù hận trầm trọng của đất nước ta. Chúng ta cần ư thức được rằng Ḥa Giải và Ḥa Hợp Dàn Tộc là một vấn đề vô cùng nặng nề và gai góc, cho nên cần được thực hiện với tất cả quyết tâm, với tất cả tâm hồn và với tất cả kiên nhẫn.
Khi nhóm Thông Luận để xướng ra lập trường Ḥa Giải và Ḥa Hợp Dân Tộc, cái nh́n của chúng tôi không phải chỉ hạn hẹp trong khuôn khổ cuộc tranh chấp quốc gia - cộng sản, mà là cái nh́n bao quát cho cả một ḍng lịch sử đau thương của dân tộc này. Chúng tôi đă gặp sự tiếp nhận nào? Chúng tôi đă gặp những đả kích gay gắt và hằn học từ đủ mọi phía. Người ta mạt sát chúng tôi là bọn cơ hội chủ nghĩa, bọn đón gió trở cờ, bọn phản bội. Nhưng phản bội cái ǵ?
Cũng có những người phản bác rằng Dân tộc Việt nam là một khối thống nhất, không có ǵ để thù hằn nhau. Cường điệu hay vô ư thức?
Ôn ḥa hơn, nhiều người đánh giá chúng tôi là ngây thơ ấu trĩ, là thiếu căn bản dân tộc, là mất gốc, là không thuộc lịch sử. Nhưng dân tộc nào, gốc nào và lịch sử nào? Một số người độ lượng hơn cho chúng tôi là những người t́nh cảm và không tưởng. Nhưng làm sao có thể đoạn tuyệt được với cái quá khứ đau buồn đè nặng từ nhiều thế kỷ và vượt lên trên được cả một khối hận thù chồng chất này nếu không có một tấm ḷng thực lớn?
Để thắng những trở ngại quá lớn lao, thái độ thực tiễn nhất là phải ước mơ. Vấn đề thống nhất đất nước - thống nhất không những về mặt hành chánh mà cả trong ḷng người - và ḥa hợp dân tộc chắc là không thể giải quyết xong ngay trong sinh thời của tác giả và độc giả cuốn sách này, nhưng nếu dồn mọi cố gắng, chúng ta có thể giải quyết một phần trong thời đại của chúng ta, và tạm xong sau vài thế hệ kế tiếp.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Đem tâm t́nh viết lịch sử?

 

Lúc sắp rời Việt nam đi du học tôi có được nghe nói khá nhiều về một cuốn sách mới xuất bản với một cái tên khá ngộ nghĩnh Đem Tâm T́nh Viết Lịch Sử. H́nh như là của Nguyễn Kiên Trung nếu tôi không nhớ sai.
Cuốn sách đó tôi không đọc một phần v́ không có cơ hội, một phần cũng v́ cái tên ngộ nghĩnh đó. Tại sao lại có thể lấy tâm t́nh mà viết lịch sử? Lịch sử phải chính xác và khách quan mới có thể dùng làm tài liệu để suy nghĩ và làm việc. Đem tâm t́nh để đọc lịch sử cũng đă là điều phải rất thận trọng, c̣n đem tâm t́nh mà viết lịch sử là điều hết sức nguy hiểm. Tâm t́nh nhất định là chủ quan rồi. Nếu tâm t́nh của ḿnh sai lệch th́ sao? Ḿnh có thể đầu độc những tâm hồn trong trắng.
Nhưng Đem Tâm T́nh Viết Lịch Sử là một truyền thơng của các xă hội thuộc văn hóa Trung Hoa. Các quan viết sử nhục mạ và bôi bẩn một số nhân vật làm cho họ bị đời sau nguyền rủa đồng thời cũng tâng bốc, làm đẹp và thánh hóa một số nhân vật khác để làm gương mẫu cho các thế hệ sau.
Cách viết sử này chỉ nhắm một mục đích chính trị ngắn hạn nhưng với thời gian nó đă tạo ra một tâm lư tai hại là lấy người xưa và việc xưa làm mẫu mực. Không những tai hại mà c̣n nguy hiểm, bởi v́ qua các anh hùng, một số giá trị bệnh hoạn được lưu truyền và làm ô nhiễm trí tuệ.
Một thí dụ. C̣n ǵ trong trắng hơn tâm t́nh các em bậc học sinh tiểu học? Vậy mà đa số các em lại say mê Quang Trung Nguyễn Huệ, một con người vô cùng hung bạo và hiếu sát. Trong đầu họ, và trong đầu chính tôi vào lứa tuổi đó, Nguyễn Huệ là tấm gương sáng. Đó cũng là v́ đầu óc ngây thơ của tôi đă bị ảnh hưởng của những bậc chú bác đem tâm t́nh viết và đọc lịch sử. Nh́n vào lịch sử để hiểu tâm lư và tập quán của dân tộc ḿnh, để thấy cái mạnh cái yếu của nước ḿnh, để biết cái ǵ có thể làm và cái ǵ không nên làm th́ rất hay. Những bắt chước cả kỹ thuật của người xưa là điều rất khờ khạo. Tâm lư bắt chước người xưa thực ra c̣n mạnh lắm. Vào cuối thập niên 80, một tổ chức chính trị lưu vong, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt nam của ông Hoàng Cơ Minh, đă tung ra cả một đợt học tập qui mô về Quang Trung Hoàng Đế. Thôi th́ đức của vua Quang Trung, phép trị nước của vua Quang Trung, mưu thuật Quang Trung, v. v... Nguyễn Huệ trở thành một đề tài học tập, một thứ cẩm nang hành động. Sự tôn thờ thần tượng đă làm cho chúng ta quên mất rằng thời đại của chúng ta đă tiến bộ rất nhiều so với thời xưa. Chúng ta có thê rút tỉa ra bài học chính trị nào của một thời đại trong đó vị hoàng dế muốn làm ǵ th́ làm, muốn giết ai th́ giết? Chúng ta có thể rút tỉa ra bài học văn hóa nào ở thời đại chỉ có chiến tranh và chém giết chứ không có máy in, và thiếu cả bút mực? Chúng ta có thể bắt chước chiến thuật nào nơi những người đi bộ đánh nhau bằng gươm giáo?
Tâm lư tôn thờ Nguyễn Huệ thật là dễ sợ và tôi đă có hai kinh nghiệm.
Lan thứ nhất trong một bữa ăn sinh nhật của một cô bạn, tôi nói chuyện với một cựu đại úy quân đội Việt nam Cộng Ḥa đồng thời cũng là cựu giáo sư trung học. Câu chuyện xoay sang Nguyễn Huệ v́ anh này lúc đó là một cán bộ của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và muốn chia sẻ với chúng tôi những điều anh vừa học tập. Anh ta quả quyết rằng nếu Nguyễn Huệ c̣n sống th́ Nguyễn ánh không những không thống nhất được đất nước mà c̣n toi mạng dưới tay Nguyễn Huệ. Tôi đáp lại rằng điều đó không chắc v́ đất Gia Đ́nh giàu có, dư khả năng cung cấp lương thực, trong khi miền Bắc lúc đó suy kiệt, vả lại Nguyễn ánh cũng là một người đởm lược, lại c̣n học được cách dùng binh của phương Tây do một số tay đánh thuê mà ông ta chiêu mộ, về vũ khí Nguyễn ánh chắc cũng hơn. Chỉ có thế thôi mà cũng đủ làm bùng lên một cơn thịnh nộ đến nỗi cô chủ nhà phải ra xem. Anh ta tha tội cho tôi, nhưng ân cần nhắn nhủ: Anh nên học lại sử Việt nam!. Người cộng sản có lư do, và dụng ư để tôn thờ Nguyễn Huệ, những một tổ chức chống cộng lấy chiêu bài tự do dân chủ mà cũng tôn vinh Nguyễn Huệ th́ quả là bắt chước một cách ngờ nghệch.
Kinh nghiệm thứ hai đỡ gay cấn hơn, nhưng lại nhiều ư nghĩa hơn. Nó xảy ra trong một cuộc họp mặt của một nhóm trí thức thượng lưu tại Paris. Đó là những người cởi mở, nhă nhặn và có tiếng tốt trong cộng đồng. Không biết ai tự nhiên đề cập đến chiến dịch học tập mưu thuật Quang Trung nói trên. Một bà, tác giả của nhiều bài nghiên cứu có giá trị về sử và, theo tôi biết, hoàn toàn không có cảm t́nh với tổ chức Hoàng Cơ Minh, hỏi tôi nghĩ ǵ về Nguyễn Huệ. Tôi đáp lại rằng Nguyễn Huệ không thể bắt chước, ông ta hay ở chỗ vơ nghệ hơn người, tính t́nh quả quyết và tự tin; những cái đó hoặc ḿnh có hoặc ḿnh không có chứ không thể bắt chước. C̣n về kiến thức binh bị th́ nếu sống lại bây giờ, tôi không chắc là ông ấy có được một nửa những kiến thức của một hạ sĩ quan. Sự bất đồng ư kiến xuất hiện rơ rệt trên mặt bà nữ sĩ, và bà quả quyết rằng nếu Nguyễn Huệ sống lại và cầm quân ngay lúc này ông vẫn là một vị tướng giỏi.
Cũng trong buổi gặp mặt của giới tao nhân mặc khách đó, tôi lại đụng độ với một người bạn về một nhân vật khác mà cả hai chúng tôi đều ngường mộ: Nguyễn Du. Buổi gặp mặt đó thực là vất vả cho tôi.
Nguyễn Du th́ ai cũng phải nh́n nhận là một thiên tài về thơ văn rồi. Vấn đề là tôi nghe các bạn chê văn hóa thời nay và lên tiếng bênh vực. Tôi biện luận rằng trong ṿng nửa thế kỷ qua văn học và nghệ thuật Việt nam đă tiến xa gấp nhiều lần con đường đă đi được trong suốt thời gian trước đó lừ thời lập quốc. Tôi nói rằng các tác phẩm ngày nay có phẩm chất hơn ngày xưa nhiều lắm, nhưng chỉ v́ nhiều tác giả quá, mà lại không ai vượt lên được, nên không thấy những hiện tượng như Nguyễn Du, Cao Bá Quát trong thời đại của họ. Có lẽ nếu dừng ở đấy th́ mọi người đều nghe lọt tai, nhưng tôi lại dại dột viện dẫn một thí dụ. Tôi nói nếu lấy một người rất rành về tiếng Việt nhưng chưa biết truyện Kiều rồi đưa cho anh ta đọc truyện Kiều và một tập thơ gồm những bài thơ đăng trên các báo chí ở khu Bolsa, tôi bảo đảm họ sẽ thấy tập thơ Bolsa hay hơn truyện Kiều. Tôi bị phản đối dư dội, một chị hỏi tôi đă uống rượu chưa mà phái ngôn bừa băi như thế. H́nh như mọi người, trừ tôi, đều đồng ư là cho tới nay vân chưa tác phẩm nào qua mặt được truyện Kiều. Cũng may là trong văn thơ không có việc biểu quyết giá trị, nếu không th́ tôi đă thảm bại rồi. Cái tâm lư tôn sùng và bắt chước người xưa không phải chỉ giới hạn trong cách viết và đọc sử. Nó đă lây lan ra văn học cũng như mọi bộ môn khác.
Tôi rất sợ những người đem tâm t́nh viết lịch sử v́ một cách chân t́nh họ có thể bóp méo lịch sử, thần thánh hóa người xưa và cũng có cái tập quán tai hại là lấy người xưa làm khuôn mẫu. Chúng ta thần thánh hóa người xưa v́ chúng ta không quí trong chính ḿnh: chúng ta không tin ở chính ḿnh nên chúng ta đă không nhận ra được nhưng hào kiệt ngay trong thời đại này, mặc dầu họ khá dông đảo, v́ lư do giản dị là họ có nhiều điểm giống ḿnh hoặc không hơn ǵ ḿnh; mà đă không hơn ḿnh th́ nhất định là phải tầm thường rồi.
Chúng ta chưa biết cách quản lư tổ tiên. Chủng ta cần t́m ra cách nào khác để quí trọng người xưa. Để vẫn yêu quí tổ tiên mà vẫn quí ḿnh. Có quí ḿnh chúng ta mới có thể nh́n ra những con người lỗi lạc ngay giữa chúng ta. Và chỉ có những hào kiệt của thời nay mới giúp được chúng ta. Trên đường chinh phục tương lai, chúng ta cần nh́n về đằng trước, chứ không thể chỉ nh́n đằng sau. Cũng như khi lái xe, chúng ta không thể chỉ nh́n kính chiếu hậu. Ôn cố tri tân (ôn lại chuyện xưa để biết chuyện ngày nay) là một phương pháp sai. Lấy những giải pháp ngày xưa cho những vấn đề hôm nay c̣n vụng về hơn là áp dụng những khuôn mẫu bên Tây bên Tàu cho nước ta. Lầm thời đại nghiêm trọng hơn lầm không gian.

 

Con đường đă qua
Trở lại trường hợp Nguyễn Huệ

 

Những điều tôi vừa viết về Nguyễn Huệ chắc đă làm một số độc giả nỗi nóng. Một số vị có thể hỏi tại sao tôi lại gây tranh căi vô ích về những vấn đề văn hóa và lịch sử giữa lúc cần dồn hết nghị lực cho cuộc vận động dân chủ. Lư do là v́ tôi thấy những cuộc tranh căi này không những không vô ích mà c̣n rất cần thiết. Cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ đă đi vào một giai đoạn mới. Sau nhiều tranh luận, những người dân chủ Việt nam đă đạt tới đồng thuận về một lập trường tranh đấu. Đây là một khai thông quan trọng và rất đáng mừng. Nhưng tại sao có đồng thuận rồi mà cuộc vận động dân chủ vẫn chưa khởi sắc, đồng bào trong và ngoài nước vẫn chưa hưởng ứng ở mức độ chờ đợi? Theo tôi, đó là v́ chúng ta đụng phải một bức tường tâm lư kiên cố do lịch sử và văn hóa để lại. Không chọc thủng được bức tường này chúng ta sẽ dẫm chân tại chỗ, không giành được dân chủ, và ngay cả nếu có giành được dân chủ cũng không thể vươn lên bắt kịp các quốc gia tiên tiến. Mà muốn chọc thủng bức tường tâm lư này th́ bắt buộc phải đặt lại một số vấn đề văn hóa và lịch sử.
Tôi không vô ư thức đến độ không biết rằng đụng tới lịch sử và văn hóa là đụng tới phần thầm kín, thiêng liêng và cấm kỵ của một dân tộc, do đó tất nhiên phải chờ đợi những phản ứng giận dữ. Chúng ta thua kém thế giới một cách bi đát và sự tồn vong của đất nước đang bị đe dọa. Khi mộng ước của rất nhiều người hiện nay chỉ giản dị là được rời Việt nam đi làm công dân một nước khác, khi có những bà mẹ đặt đứa con ba tuổi lên chiếc thuyền mỏng manh vượt biên với hy vọng duy nhất là nó t́m được một cuộc sống b́nh thường thôi tại một phương trời xa lạ nào đó, là chúng ta đang sống một thảm kịch quốc gia.
Nhưng giải thích thảm kịch đó bằng những lư do cụ thể như bối cảnh thế giới, sự mù quáng của vua quan nhà Nguyễn, chính sách đen tối của thực dân Pháp, sự thô bạo của đảng cộng sản, sự tồi dở của các chính quyền quốc gia, những âm mưu của người Mỹ, v.v. là những lập luận mà chúng ta dễ chấp nhận. Ngược lại nói rằng số phận hẩm hiu của chúng ta là hậu quả của chính cái mà chúng ta trân trọng nhất: hồn tính, giáo dục, di sản tinh thần của ông cha để lại th́ chúng ta cảm thấy bị xúc phạm.
Di sản tinh thần của một dân tộc thể hiện rơ nhất qua các anh hùng. Các anh hùng dân tộc là thuốc thử màu bộc lộ tâm lư của một dân tộc. Qua cách chọn lựa và tôn vinh các anh hùng, các dân tộc tiết lộ những giá trị mà ḿnh ôm ấp. Nếu chúng ta thay đổi cách nhận định anh hùng dân tộc th́ đồng thời chúng ta cũng thay đổi các giá trị nền tảng của xă hội ta, chúng ta sẽ thay đổi cách suy nghĩ và hành động và do đó thay đổi số phận của chúng ta.
Đối với đại đa số người Việt, Nguyễn Huệ không phải chỉ là một anh hùng mà c̣n là một thần tượng. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, mà tôi rất ái mộ, đă ca tụng Nguyễn Huệ và chiến thắng Đống Đa bằng những vần thơ nồng nàn trong một bài thơ rất dài mà tôi xin trích hầu độc giả hai câu:
Muôn chiến công một chiến công dồn lại
Một tấm ḷng muôn vạn tấm ḷng mang.
Chúng ta đă được huấn luyện ngay từ buổi đầu đời, từ ghế trường tiểu học để sùng bái Nguyễn Huệ. Như vậy Nguyễn Huệ vừa là thần tượng vừa là mối t́nh đầu của trí tuệ Việt nam, đụng tới ông là đụng tới cả một tín ngưỡng và một đam mê.
ở đây xin mở một dấu ngoặc đơn ngắn. Có một cái ǵ rất không ổn trong cách mà thanh thiếu niên Việt nam được giáo dục để đánh giá các anh hùng dân lộc. Nước ta có nhiều anh hùng nhưng có ba vị có công lớn nhất: Lư Công Uẩn mở ra đất nước có kỷ cương, văn hiến; Trần Hưng Đạo đánh đuổi quân Nguyên giúp chúng ta giữ được bờ cơi tránh được sự dầy đạp của quân Mông Cỗ hung bạo; Nguyễn Hoàng mở ra miền Nam trù phú. Cả ba đều là nhưng con người đức độ, đem phồn vinh cho dân chúng. Thế mà chỉ có Trần Hưng Đạo được nhắc tới thường xuyên, nhưng cũng rất xa sau Nguyễn Huệ; Lư Công Uẩn th́ họa hiếm; c̣n Nguyễn Hoàng th́ không bao giờ.
Cần phải trở lại trường hợp Nguyễn Huệ bởi v́ đó là một sai lầm đă kéo dài quá lâu và đă gây quá nhiều tác hại. Tôi không phải là sử gia, cũng không phải là một nhà nghiên cứu mà là một người hoạt động chính trị. Người hoạt động chính trị nói những điều cần nói, có bổn phận phải nói trung thực, dựa vào những sự kiện nghiêm túc và lư luận một cách lương thiện. Nhưng người hoạt động chính trị nếu không có th́ giờ như trường hợp của tôi, không có bổn phận phải ghi chú dữ kiện lấy từ sách nào, chương nào, trang nào, v.v... Đó là công việc của nhà nghiên cứu. Những dữ kiện mà tôi dựa vào để bàn về Nguyễn Huệ là có thực, các sử gia đều có. Trước hết là một vài nhận định về chiến thắng Đống Đa.
Nguyễn Huệ được tôn sùng nhờ trận Đống Đa mùa Xuân Kỷ Dậu 1789. Những công đức và thành tích khác của ông chỉ là phụ họa, đôi khi thêm thắt và thêu dệt. Theo kư ức tập thể của chúng ta trong trận này Nguyễn Huệ đă chỉ trong một đêm phá tan hai mươi vạn (hai trăm ngàn) quân Thanh, tránh cho chúng ta ách Bắc thuộc. Thực ra các tài liệu của nhà Thanh cho thấy một cách rất rơ rệt là vua Càn Long không có ư định đánh chiếm nước ta. Không những thế vua Càn Long c̣n cấm Tôn Sĩ Nghị giao chiến. Nhà Thanh can thiệp v́ có sự cầu cứu của mẹ vua Lê Chiêu Thống và đám quần thần nhà Lê, nhưng ư đồ của họ chỉ là dọa để Nguyễn Huệ thần phục Lê Chiêu Thống, và ngay cả nếu Nguyễn Huệ cứng đầu không chịu cũng chỉ giúp Lê Chiêu Thống có thanh thế mà chiêu tập lực lượng để chia đất với Nguyễn Huệ mà thôi. Dĩ nhiên nếu Việt nam tự nguyện sát nhập vào Trung Quốc th́ nhà Thanh sẽ rất hài ḷng nhưng họ không chấp nhận trả một giá nào cả.
Con số hai chục vạn quân Thanh cũng rất sai sự thực. Tôn Sĩ Nghị sang bằng đường bộ, mà đường bộ th́ bị vách núi dầy đặc ngăn cách không thể di chuyển một số quân khổng lồ như vậy. Trong những lần xâm chiếm qui mô Việt nam, quân Trung Quốc đều chủ yếu xâm lăng bằng đường thủy qua cửa Bạch Đằng hay Nghệ An. Thành phố Hà Nội hồi đó có bao nhiêu dân cư? Mười ngàn, mười lăm ngàn, hay hai chục ngàn là cùng. Không cần hai trăm ngàn, chỉ cần năm chục ngàn thôi th́ cũng đă là cả một sự tràn ngập không c̣n chỗ đứng, chưa nói tới việc quân Thanh kéo nhau đi chợ mua bán như sử chép. Các tài liệu c̣n giữ lại chỉ nói quân Thanh đóng đồn ở vài làng nhỏ cạnh Hà Nội.
Niềm tự hào dân tộc của tôi bị thương tổn lần đầu tiên vào khoảng năm 1958. Tôi đọc báo về cuộc thuyết tŕnh của giáo sư Tưởng Quân Chương, một chuyên gia người Đài Loan về Việt nam, tại Đại Học Văn Khoa Sài G̣n. Sự hiểu biết rất non nớt của tôi lúc đó cũng đủ để tôi ư thức rằng ông hơn hẳn nhiều trí thức Việt nam ngay về chính lịch sử và văn hóa Việt nam. Ông lập luận chắc chắn, dẫn chứng tài liệu đầy đủ về văn học Việt nam, từng tác phẩm, từng tác giả. Đề cập đến trận Đống Đa, Tưởng Quân Chương dẫn tài liệu của Thanh triều, nói rằng Tôn Sĩ Nghị tổng đốc Lưỡng Quảng đă đem sáu ngàn kỵ binh sang Việt nam để phô trương thanh thế và làm lễ thụ phong cho Lê Chiêu Thống nhưng đă bị Nguyễn Huệ đánh bất ngờ, thua chạy về và bị cách chức. Con số này theo tôi là hợp lư. Tôn Sĩ Nghị từ Trung Quốc sang Việt nam trong một hai tuần lễ th́ chắc chắn là sang bằng ky binh rồi, mà ky binh th́ sáu ngàn đă là nhiều lắm đối với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, muốn hơn cũng không có. Nên nhớ là nhà Thanh lúc đó yên b́nh đă mấy trăm năm nên không c̣n giữ quân đội hùng hậu nữa. Tôi chưa thấy sử gia Việt nam nào bác bỏ sự kiện của ông Tưởng Quân Chương.
Một tài liệu do người Việt nam viết về trận Đống Đa là cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái, một cuốn sách khá thuận cho Tây Sơn. Theo cuốn sách này th́ khi quân Thanh đến, Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm bàn với nhau rằng đánh quân Thanh không được v́ dân chúng Bắc Hà ủng hộ quân Thanh và ghét quân Tây Sơn, họ sẽ chỉ chỗ, dẫn đường, tiếp sức quân Thanh. (Đây cũng là một sự kiện rất quan trọng chứng tỏ dân chúng không ngưỡng mộ Nguyễn Huệ như một số tác giả viết). Ngô Văn Sở quyết định bỏ Thăng Long lui về giữ đèo Tam Diệp, nhưng đô đốc Phan Văn Lân không chịu, đ̣i Ngô Văn Sở cấp cho một ngàn quân (xin nhắc lại là một ngàn quân) ra giáp chiến. Phan Văn Lân đến bờ sông Như Nguyệt th́ gặp quân Thanh đóng ở bên kia sông. Lúc đó tiết trời lạnh giá nhưng Phan Văn Lân nhất định bắt quân lội qua sông đánh quân Thanh. Quân Tây Sơn chết đuối khá nhiều, số c̣n lại qua bên kia sông lạnh cóng nên bị quân Thanh tiêu diệt, Phan Văn Lân một ḿnh một ngựa chạy về. Thử hỏi nếu quân Thanh đông tới mười ngàn người thôi liệu Phan Văn Lân có dám liều lĩnh như vậy không?
C̣n một nguồn tài liệu khác về trận Đống Đa. Đó là những lá thư mà các giáo sĩ có mặt tại đó gởi về cho bạn bè tại Pháp. Những lá thư này được tập trung trong một tài liệu có tên là Những lá thư kỳ lạ và xúc tích của Sứ Bộ Truyền Giáo Viễn Đông (Lettres curieuses ét édifiantes de la Mission apostolique en Extrême Orient) c̣n lưu giữ tại Pháp. Đây là những lá thư riêng, không phổ biến, do đó chúng không có mục đích tuyên truyền. Các giáo sĩ nói thẳng là họ bênh vực nhà Tây Sơn v́ lư do cả chúa Trịnh lẫn chúa Nguyền đều cấm đạo trong khi Tây Sơn không để ư đến tôn giáo. Một giáo sĩ mô tả trận Ngọc Hồi (Đống Đa), trận đánh gay go nhất và có thể nói là duy nhất trong đêm hôm đó. Theo ông, quân Tây Sơn tiến vào bị quân Thanh đánh bật ra, hàng ngũ rối loạn. Lúc đó đích thân Nguyễn Huệ từ dưới xông lên, múa gươm chém chết mấy chục quân Thanh, làm chúng hoảng sợ bỏ chạy. Theo cách mô tả đó th́ trận Đống Đa không thể là lớn được. Hoàng Lê Nhất Thống Chí cũng nói quân Tây Sơn tiến sau hai mươi tấm mộc, đằng sau mỗi tám là ba mươi người. Như vậy tổng số quân Tây Sơn tham chiến ở Ngọc Hồi là sáu trăm người. Hoàng Lê Nhất Thống Chí c̣n nói thêm là khi nghe tin Ngọc Hồi có biến, Tôn Sĩ Nghị sai một bộ tướng đem hai chục ky binh đi giải cứu cùng với một đám nghĩa quân của vua Lê. Những dữ kiện này chứng tỏ trận Đống Đa chỉ là một trận nhỏ.
Mặt khác, cũng không nên quên là quân Thanh bị bất ngờ hoàn toàn nên rối loạn, lo chạy hơn là đánh lại. Vả lại cũng chỉ có một nửa quân Thanh sang sông vào Thăng Long, nửa kia vẫn ở bên tả ngạn và bỏ chạy khi đám quân sang sông bị đánh tan. Cần minh định một điều để tránh tranh căi. Số quân Thanh chết (chủ yếu là chết đuối khi xô lấn nhau sang sông làm sập cầu nổi) có thể nhiều hơn hẳn số quân từ Trung Quốc sang v́ rất nhiều người Hoa sinh sống tại Việt nam lúc đó cũng ỷ thế quân Thanh lộng hành tự coi như lính của nhà Thanh, rồi hoảng sợ bỏ chạy khi ky binh của Tôn Sĩ Nghị bị đánh tan. Kư ức dân gian và các tài liệu đều nói đến việc người ngựa chen nhau trên cầu. Cảnh này phù hợp với những ǵ vừa nói: quân cưỡi ngựa là quân Tôn Sĩ Nghị, đám chạy bộ là bọn a dua. Chúng ta đều biết trước khi ra Thăng Long đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ dừng lại ở Tam Diệp để mộ quân. Các giáo sĩ thuật cách mộ quân của Nguyễn Huệ: các tướng của Quang Trung, tất cả đều mang chức đô đốc, tới gần các làng, cưỡi ngựa lên một g̣ cao nh́n vào làng theo số nóc nhà mà ước lượng số quân mỗi làng phải nộp ra lệ hễ thiếu một người là họ tàn sát cả làng. Dân chúng hăi hùng đến nỗi làng nào không đủ con trai phải bắt con gái giả làm trai đem nộp cho Nguyễn Huệ. Những nông dân tuyền chọn như vậy thực ra là những tù binh chỉ có vai tṛ khuân vác, làm mộc đỡ tên và lấy số đông áp đảo tinh thần quân Thanh mà thôi, chủ lực của Quang Trung chỉ là số quân Tây Sơn mà ông đem từ Phú Xuân ra. Đánh xong trận Đống Đa, ông bỏ mặc số quân tân tuyển này, họ phải xin ăn dọc đường t́m về quê quán.
Nguyễn Huệ là con người như thế nào?
Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nguyễn Huệ là con ông Hồ Phi Phúc, người gốc Nghệ An, nhưng từ ba đời trước bị chúa Nguyễn bắt vào lập nghiệp tại làng Tây Sơn, thuộc tỉnh B́nh Định. Đến đời các con th́ đổi ra họ Nguyễn để dễ tiến thân. Họ Hồ dần dần trở nên khá giả, đến đời Hồ Phi Phúc th́ lại mở ṣng bạc nên càng giàu có. Nguyễn Huệ như vậy không phải xuất thân là một nông dân áo vải như Việt nam Sử lưọc viết. Về anh em Tây Sơn, cũng như về trận Đống Đa, Trần Trọng Kim dựa vào Hoàng Lê Nhất Thống Chí, nhưng lại thêm bớt theo chiều hướng có lợi cho Nguyễn Huệ. Tại sao? Chúng ta sẽ trả lời sau. Ba anh em Nhạc, Lữ và Huệ lớn lên đi ăn cướp. Khởi đầu Nguyễn Nhạc kết nạp được một đám thủ hạ đi cướp bóc trong vùng, sau khi thế lực đă mạnh mới về lập đồn ở ngay làng ḿnh công khai chống chúa Nguyễn. Có lẽ v́ họ hoành hành khá lâu tại vùng Tây Sơn nên sau này, khi họ làm vua, người ta vẫn gọi họ là nhà Tây Sơn. Ba anh em liên kết với hai đám cướp biển người Trung Hoa là Tập Đ́nh và Lư Tài và cũng chiêu mộ nhiều người Thượng. Trong các thư từ gởi cho nhau, các giáo sĩ thắc mắc không hiểu tại sao các tướng của Tây Sơn, dù là tướng đánh bộ đi nữa, đều xưng là đô dốc: đô đốc Sở, đô đốc Long, đô đốc Tuyết, đô đốc Lộc, đô đốc Lân, v.v. Đó là v́ quân Tây Sơn do đám cướp biển huấn luyện, và đối với bọn cướp biển chức đô đốc là một ước mơ.
Một sự kiện nổi bật mà các sử gia cố t́nh làm ngơ là quân Tây Sơn chỉ thuần túy là giặc cướp. Từ lúc dấy lên cho đến lúc tiêu diệt cả họ Trịnh và họ Nguyễn trong hai mươi năm trời, họ không đưa ra bất cứ một chủ trương dựng nước nào; không hề có một tờ hịch nào để hiệu triệu quốc dân, hay ngay cả một tờ kể tội họ Trịnh và họ Nguyễn. Họ chỉ đánh phá và cướp bóc mà thôi, không nhân danh một chính nghĩa nào. (ở miền Bắc, Nguyễn Hữu Cằu khi nỗi loạn chống nhà Trịnh ít nhất c̣n xưng là Bảo Dân Đại Tướng Quân).
Từ năm 1771, anh em Tây Sơn lập đồn trại, bành trướng thêm lực lượng, đánh chiếm Qui Nhơn rồi tiến lên mạn Bắc đánh chúa Nguyễn. Lúc đó, dù mới mười tám tuổi, Nguyễn Huệ đă bắt đồng đảng và dân chúng gọi ḿnh là Đức ông Tám. Cái lối tự xưng xấc xược này cũng là một đặc tính của đám thảo khấu. Cơ nghiệp chúa Nguyễn đă tan tác v́ Trương Phúc Loan chuyên quyền nên quân Tây Sơn đánh đâu được đấy, hầu như không có kháng cự. Họ Trịnh ở ngoài Bắc lại nhân cơ hội vào chiếm Thuận Hóa. Quân Nguyễn phía Nam bị Tây Sơn đánh lên, phía Bắc bị quân Trịnh đánh xuống nên tan ră nhanh chóng. Chúa Định Vương nhà Nguyễn phải bỏ chạy vào Gia Định để Đông Cung Thế Tử ở lại. Nguyễn Nhạc bắt được Đông Cung, gả con gái cho, giả ḥa với chúa Nguyễn ở Gia Định, nhưng lại ngấm ngầm liên kết với họ Trịnh xin làm tiên phong đánh chúa Nguyễn. Năm 1778 anh em Tây Sơn chiếm nốt Gia Đ́nh, tiêu diệt chúa Nguyễn. Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Đ́nh Vương ở Gia Đ́nh và Nguyễn Huệ làm Bắc B́nh Vương giữ mặt Bắc. Nguyễn Huệ là một tướng giỏi, nhiều công trận lại giữ mặt Bắc pḥng họ Trịnh nên nắm phần lớn quân Tây Sơn trong tay.
Năm 1786, nhân lúc nhà Trịnh tan tác v́ lính Tam Phủ làm loạn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ ra đánh chiếm Thuận Hóa, trước đây của chúa Nguyễn nhưng mới bị họ Trịnh chiếm. Nguyễn Huệ chiến thắng dễ dàng rồi theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, một tướng của họ Trịnh v́ bất măn mà bỏ vào theo Tây Sơn, tiến ra Thăng Long diệt họ Trịnh, dù không có lệnh của Nguyễn Nhạc. Lúc đó họ Trịnh đă suy sụp toàn bộ nên Nguyễn Huệ chiếm Tháng Long như vào chỗ không người. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả con gái là công chúa Ngọc Hân và ở lại Thăng Long gần hai tháng cho đến lúc Nguyễn Nhạc từ trong Nam ra gọi về. Khi vua Lê Hiển Tông chết, Nguyễn Huệ định không cho Lê Chiêu Thống lên kế vị, thân thích nhà Lê phải nhờ Ngọc Hân xin Nguyễn Huệ mới cho. Sau đó hai anh em Nhạc và Huệ đột ngột về Nam giữa đêm, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại với dụng ư để dân Bắc Hà giết Chỉnh v́ tội đă đem quân Tây Sơn ra Bắc. Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh chạy thoát vào Nghệ An ra mắt Nguyễn Huệ. Tuy thất vọng v́ Nguyễn Hữu Chỉnh không chết nhưng Nguyễn Huệ vẫn cấp cho Chỉnh một số vàng và vũ khí lấy được ở Thăng Long để Chỉnh lập nghiệp lại Nghệ An. Nguyễn Hữu Chỉnh tự tuyển quân chiếm giữ Nghệ An.
Vua Lê Chiêu Thống lúc đó chỉ có vài quan văn và khoảng mười lính hầu. Phe đảng họ Trịnh lại trở về Thăng Long tái lập nghiệp chúa. Lê Chiêu Thống không chịu cho họ Trịnh áp bức nữa nên vời Nguyễn Hữu Chỉnh ra. Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp được dư đảng họ Trịnh và được Lê Chiêu Thống phong tước Bằng Trung Công nắm giữ binh quyền. Trong khi Nguyền Hữu Chỉnh ra Bắc đánh dư đảng họ Trịnh th́ Nguyễn Huệ lại đem quân vào Nam đánh Nguyễn Nhạc. Nhạc phải khóc lóc năn nỉ Huệ mới tha. Sau khi về Phú Xuân, Nguyễn Huệ ra lệnh cho Vũ Văn Nhậm là phó tướng của ḿnh và cũng là rể của Nguyễn Nhạc, đem quân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Vũ Văn Nhậm bắt được Chỉnh đem giết đi. Vua Lê Chiêu Thống bỏ chạy lưu lạc khắp nơi, chiêu tập lực lượng chống Tây Sơn. Nguyễn Huệ ra Thăng Long bất ngờ, Vũ Văn Nhậm đang ngủ trưa bị lôi ra chém. Nguyễn Huệ đặt Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Ngô Thời Nhiệm ở lại trấn giữ rồi rút quân về Nam. Quần thần và tôn thất nhà Lê sang Trung Hoa cầu cứu. Tôn Sĩ Nghị sang, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, tiến ra Thăng Long đánh bại Tôn Sĩ Nghị. Nguyễn Huệ chỉ mới làm vua được bốn năm, đang chuẩn bị đánh Trung Hoa chiếm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây th́ mất năm 1792. Mười năm sau nhà Tây Sơn bị Nguyễn ánh tiêu diệt
Nguyền Huệ là một con người hung bạo đánh tất cả mọi người, đó là một sự thực. Nguyễn Huệ liên kết với hai tướng cướp Tập Đ́nh và Lư Tài đánh chúa Nguyễn rồi lại đánh Tập Đ́nh và Lư Tài, liên kết với chúa Trịnh rồi đánh chúa Trịnh, dùng Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bỏ Chỉnh cho dân Bắc Hà giết. Nguyền Hữu Chỉnh không chết mà lại phất lên được th́ sai Vũ Văn Nhậm đem quân đánh giết Nguyễn Hữu Chỉnh, tiện thể lấy luôn Bắc Hà. Rồi lại giết Vũ Văn Nhậm. Đến cả Nguyền Nhạc đối vơi Huệ vừa có nghĩa vua tôi vừa có nghĩa anh em, Huệ cũng đánh. Sau này ḥa với nhà Thanh, rồi lại kết nạp bọn cướp biển đi đánh phá nhà Thanh và c̣n định đem quân đánh nhà Thanh. Nguyễn Huệ dùng bạo lực và sự tráo trở trong mọi trường hợp đối với bất cứ ai có khả năng trở thành một đối thủ. Việc Huệ đánh Nhạc chỉ v́ hai anh em xích mích với nhau chuyện phân chia kho tàng lấy được ở Thăng Long là một hành động phản trắc và vô đạo. Nguyễn Huệ cũng rất tàn ác, các giáo sĩ thời đó dù bênh Tây Sơn cũng ghê sợ về sự tàn ác của Nguyễn Huệ và gọi ông là một thứ Attila mới trong những thư họ viết cho nhau. Họ kể lại khá chi tiết những việc làm dữ tợn của Nguyễn Huệ, mà khuôn khổ cuốn sách không cho phép tôi nhắc lại hết. Sau khi diệt nhà Trịnh và nói là một tấc đất của nhà Lê cũng không lấy, Huệ vẫn chiếm Nghệ An, vua Lê Chiêu Thống sai danh sĩ Trần Công Sán, mà Nguyễn Huệ biết tiếng và phục tài, cùng với hoàng thân Lê án, vừa là chú vừa là thày của công chúa Ngọc Hân, mang quốc thư vào xin lại Nghệ An và cam kết hàng năm nộp toàn bộ thuế của tỉnh cho Nguyễn Huệ, nhưng Nguyễn Huệ đă không cho c̣n hạ ngục và gông cổ cả phái đoàn rồi đem ra biển nhận thuyền cho chết. Nhiều người trách Nguyễn ánh nhỏ mọn quật mồ Nguyễn Huệ sau khi đă giết con cháu, mà quên rằng hành động thô bạo này chỉ là để báo thù một hành động thô bạo trước đó: Nguyễn Huệ đă tàn sát cả họ Nguyễn và đă đào mả tổ tiên Nguyễn ánh đem vất đi. Một lần trong một chuyến đánh phá Gia Định, một tướng Tây Sơn bị phục binh giết chết. Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nỗi giận ra lệnh tàn sát tất cả dân chúng trong vùng, bất luận già trẻ, lớn bé, trai gái. Cuộc tàn sát đă kinh hoàng đến độ dân chúng các vùng phụ cận sau đó không dám ăn tôm cá v́ sợ tôm cá ăn thịt những xác chết trôi đầy sông.
Một thí dụ khác là trận Đống Đa. Sau khi đă đánh tan quân Thanh và sợ quân Thanh quay lại phản ứng, Nguyễn Huệ ra lệnh cho dân chúng Thăng Long phải đắp xong trong ṿng ba ngày một chiến lũy chung quanh để pḥng thủ. Các giáo sĩ có mặt tại đó không thể nào tưởng tượng dân chúng Thăng Long có thể làm được điều đó. Nhưng họ đă làm được, họ đă làm tới kiệt sức, v́ sợ bị Nguyền Huệ tàn sát, họ biết Nguyền Huệ không hề do dự trước sự chém giết. Tường xây lên xong các giáo sĩ kinh hoàng, họ đặt tên cho Nguyễn Huệ là Attila mới từ đó. Các tài liệu của các giáo sĩ, và nhiều nhân chứng phương Tây có mặt tại Việt nam lúc đó, về anh em Tây Sơn hiện vẫn c̣n lưu giữ trong nhiều thư viện tại Pháp. Một sử gia Việt nam, ông Tạ Chí Đại Trường, đă sưu tập một số đáng kể trong cuốn sách Lịch Sử Nội Chiến 1771-1802 của ông. Đây là một cuốn sách nên đọc cho những ai muốn t́m hiểu về nhà Tây Sơn.
Khả năng nh́n xa trông rộng của Nguyễn Huệ cũng rất giới hạn. Nguyễn Huệ đem binh đánh làm suy yếu Nguyễn Nhạc, rồi làm ngơ để Nguyễn ánh tiêu diệt dần lực lượng của Nhạc và Lữ ở trong Nam. Cứ bỏ qua sự tàn nhẫn với hai người anh đi th́ đây cũng là một tính toán chiến lược rất chủ quan và phiêu lưu. Nguyễn ánh c̣n đang bành trướng thế lực ở trong Nam th́ Nguyễn Huệ đă nghĩ đến việc đánh Trung Hoa. Thật là một ư đồ điên đại, chứng tỏ Nguyễn Huệ không có một hiểu biết chiến lược nào cả. Nếu Nguyễn Huệ c̣n sống để mà gây chiến với nước Tàu th́ quả là đại hoạ cho nước ta. Cứ giả thử vua Càn Long cho không Nguyễn Huệ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tày th́ ngày nay nước ta cũng đă bị xóa bỏ rồi.
Cũng nên tương đối hóa tài dùng binh của Nguyễn Huệ. Nhà Nguyễn và nhà Trịnh đánh nhau cả thảy bảy lần trong gần nửa thế kỷ, từ 1627 đến 1674, làm cho đất nước, nhất là miền Bắc suy kiệt và dân chúng chán ghét chiến tranh. Đây cũng là giai đoạn mà đạo Công Giáo và tư tưởng Thiên Chúa Giáo, sau một thế kỷ du nhập, đă phát triển mạnh, làm lung lay tư tưởng Khổng Giáo, nền tảng chính đáng của chế độ. Quần chúng Việt nam không c̣n nh́n các vua chúa như những đại diện của Trời mà họ phải phục tùng vô điều kiện nữa. Cả hai họ Trịnh Nguyễn đều suy thoái, việc binh bị bị bỏ rơi, người dân vừa không phục, vừa bớt sợ.
Chúa Nguyễn c̣n lo đánh dẹp, mở mang bờ coi nên người dân bỏ vào miền đất hoang phía Nam lập nghiệp tránh bị bắt lính rất nhiều. Lực lượng của chúa Nguyễn vừa suy yếu vừa bị trải rộng, dần dần mất thực chất. Các băng đảng cướp lộng hành khắp nơi. Đă thế, từ thời Vơ Vương (1765) trở đi, Trương Phúc Loan lại chuyên quyền làm cho triều đ́nh tan nát. Anh em Tây Sơn, nhờ tập hợp được một sổ băng đảng, nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn mà không cần đánh một trận đáng kể nào.
Quân Tây Sơn đă thắng dễ dàng v́ thế lực của chúa Nguyễn đă hoàn toàn tan ră chứ không phải v́ lực lượng của họ mạnh. Năm 1778, lúc Tây Sơn đă diệt chúa Nguyễn và chiếm Gia Định, thế lực lên đến cao điểm làm kinh động cả nước, toàn quyền Anh tại ấn Độ cử một chuyên viên là Chapman sang quan sát t́nh h́nh Việt nam. Chapman làm quen được với anh em Tây Sơn và được đi thăm viếng quan sát tỉ mỉ khắp nơi. Chapman báo cáo rằng thế lực của quân Tây Sơn chẳng có ǵ đáng kể, chỉ cần một đạo quân một trăm người mà có kỷ luật cũng đủ để đánh tan toàn bộ quân Tây Sơn một cách nhanh chóng. Xin nhấn mạnh con số một trăm và cũng xin nhấn mạnh rằng Chapman chỉ nói tới kỷ luật chứ không hề nói tới nhu cầu vũ khí tối tân. ở ngoài Bắc, hồi đó gọi là đàng ngoài, t́nh thế c̣n bi đát hơn.
Đời sống cơ cực và cương thường đảo lộn (họ Trịnh phế lập và giết vua Lê một cách rất tùy tiện) nên cả uy quyền chính trị lẫn uy quyền đạo đức đều tan. Giặc giă nỗi lên khắp nơi. Trịnh Sâm vừa tạm dẹp xong giặc th́ lại say mê tửu sắc, bỏ trưởng lập thứ gây loạn ngay tại triều đ́nh. Điều cần đặc biệt lưu ư là họ Trịnh lúc đó không c̣n quân đội. Chỉ một đám lính Tam Phủ, vài ngần tên không người chỉ huy, mà muốn phá nhà ai, giết quan nào cũng được. Khi chúng nổi loạn, Quận Huy Hoàng Tế Lư trên nguyên tắc cầm mọi binh quyền, phải một ḿnh cưỡi voi ra đánh nhau với chúng rồi bị giết. Các tướng mỗi người trấn giữ một phương, mỗi người chỉ có vai chục gia nhân, rồi dựa vào đám gia nhân này mà đi bắt lính. Có khi họ bắt được cả ngần quân nhưng những quân đội ấy chỉ là những nông dân tội nghiệp không biết chiến đấu và cũng không muốn chiến đấu, hễ gặp quân địch là ră hàng bỏ chạy có khi c̣n đâm chết tướng để dễ chạy. Sách Hoàng Lê Nhất Thong Chí mô tả khá rơ xă hội miền Bắc lúc đó. Các sứ quân đă không có thực lực mà c̣n hiềm khích với nhau và chẳng tuân lệnh ai. Dân gian th́ hễ ai khỏe mạnh ăn cướp được là đi ăn cướp, rất ghét quân Tây Sơn nhưng gặp quan nhà Lê là bắt nộp cho Tây Sơn để lănh thưởng. (Sau này cũng chính dân chúng bát vua Cảnh Thịnh và các tướng Tây Sơn nộp cho Nguyễn ánh). Nguyễn Hữu Chỉnh bị anh em Tây Sơn bỏ rơi lên thuyền chạy về Nghệ An với mấy chục gia nhân, đến nơi không dám lên bộ. Vậy mà rời cũng đi bắt lính và thành lập được một đạo quân. Với cái quân đội ô hợp đó mà Nguyễn Hữu Chỉnh vào được Thăng Long như chỗ không người v́ các quân đội khác c̣n ô hợp hơn nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh hoành hành ở miền Bắc, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh, quân Nguyễn Hữu Chỉnh chưa đánh đă tan. Trong một bối cảnh như vậy, Nguyễn Huệ trấn áp được thiên hạ nhờ có được một đạo quân tinh nhuệ là điều dễ hiểu. Lư do thành công của Nguyễn Huệ là ông có một đạo quân thực sự trong khi các đối thủ của ông không có. Những chiến thắng như vậy không đ̣i hỏi một tài dùng binh nào.
ở trong Nam có trận thủy chiến tại Cần Giờ là đáng kề. Nguyễn Huệ chỉ huy gần một trăm chiến thuyền, như vậy cũng là vài ngần thủy quân, c̣n quân Nguyễn ánh không biết bao nhiêu. Nguyễn Huệ cũng phá được quân Xiêm. Trần Trọng Kim trong Việt nam Sử lược nói rằng quân Xiêm đông tới hai vạn người. Nếu đúng như vậy th́ quả là một đạo quân rất lớn vào thời đó, nhưng quân Xiêm vừa tới nước ta th́ đă ră hàng, đi cướp bóc khắp nơi chàng c̣n đội ngũ ǵ cả. Nếu có một đạo quân đàng hoàng th́ đánh tan chúng không khó.
Cả ba trận Cần Giờ, Mân Thít và Đống Đa đều ở rất dưới tầm cỡ của những trận đánh thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyễn, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh. Tài dùng binh của Nguyễn Huệ là có thực nhưng chưa được chứng minh ở tầm cỡ của các danh tướng thời Trần Hưng Đạo hay Lê Lợi.
Cần nhấn mạnh để đánh tan một hiểu lầm đă kéo dài quá lâu và đă là nguyên nhân cho nhiều giải thích lịch sử gượng ép: đó là quân Tây Sơn không mạnh mà cũng không tổ chức giỏi; họ đă thắng được các chính quyền Trịnh và Nguyễn bởi v́ các chính quyền này đă đi tới cuối tiến tŕnh phân ră. Nguyên nhân sâu xa của tiến tŕnh phân ră này là cả hai chế độ Trịnh Nguyễn đă không ư thức được rằng nền tảng của xă hội Việt nam đă thay đổi sau hơn hai thế kỷ tiếp xúc với người phương Tây, và cứ cố tiếp tục duy tŕ lối cai trị cũ trên một xă hội đă đổi mới.
Nguyễn Huệ chỉ mới làm vua được gần bốn năm th́ mất nên tài trị nước của ông không thể bàn đến. Một việc triều đ́nh của ông làm thường được ca tụng là hay dùng chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm thời đó đá phát triển lắm rồi. Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán đă ra đời trước đó và đă có Nguyễn Du. Chính Nguyễn ánh cũng đă dùng chữ Nôm trong một số văn thư. Cũng có người nhắc đến dụ Khuyến Nông của Nguyễn Huệ, nhưng đó chỉ là một dụ b́nh thường lặp lại những ǵ các vị vua trước đó đă nói. Một biện pháp làm khổ dân chúng rất nhiều là dùng Tín Bài, một thứ thẻ căn cước, để kiềm soát dân chúng, trong mục đích bắt lính chuẩn bị đánh Trung Hoa. Biện pháp này làm dân chúng bị tham quan ô lại sách nhiễu đến nói nhiều người phải trốn vào rừng sinh sống để tị nạn Tây Sơn. Vả lại làm vua một nước đă kiệt quệ v́ chiến tranh, vừa mới được một hai năm yên b́nh đă lo chuyện đánh nhau với một nước lớn gấp bội ḿnh là điều mà một vị vua sáng suốt không thể làm.
Nhà Tây Sơn tuy chỉ kéo dài một thời gian ngắn nhưng đă anh hưởng rất lớn lên lịch sử nước ta và dịa lư chính trị trong vùng.
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đă chặn đứng hẳn sự bành trướng của lănh thổ Việt nam vào đất Cam-bốt. Năm 1771, khi anh em Tây Sơn bắt đầu tấn công chúa Nguyễn cũng là năm cuối cùng mà một phần đất Cam-bốt được sát nhập vào Việt nam. Lúc đó đất Cam-bốt gần như vô chủ, các chúa Nguyễn dồn dập mở rộng lănh thổ, nhưng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đă làm họ sụp đổ và cuộc Tây tiến của Việt nam chấm dứt. Nếu không có anh em Tây Sơn chắc chắn nước Cam-bốt không c̣n.
Việc thôi bành trướng về phía Tây Nam, tùy cách nh́n, không nhất thiết là một sự thiệt tḥi cho chúng ta. Nhưng anh em Tây Sơn đă làm một việc khác rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đă khiến chúng ta là chúng ta ngày nay: đó là phá tan và chấm dứt hơn hai thế kỷ tiếp xúc và giao thương đầy hứa hẹn với thế giới bên ngoài, nhất là phương Tây.
Chúng ta bắt đầu tiếp xúc với phương Tây từ đầu thế kỷ 16, các giao thương tăng dần với thời gian. Đầu thế kỷ 18 đă có những trung tâm thương mại lớn. Ngoài Bắc có Hà Nội và Phố Hiến (thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nh́ Phổ Hiến). Trong Nam có Hội An. Hội An có địa vị đặc biệt quan trọng, đó là trái tim của mọi hoạt động kinh tế của Đàng Trong. Quân Tây Sơn đi đến đâu cướp phá và đem chết chóc đến đó. Tệ hại nhất là việc cướp phá Hội An. Các thương nhân bỏ chạy trong kinh hoàng và mọi hoạt động kinh tế sụp đổ. Miền Trung rơi vào nạn đói chưa từng thấy, người chết vô kể, có nơi mẹ ăn xác con. Khi quân Tây Sơn ra ngoài Bắc th́ Kinh Kỳ và Phố Hiến cũng tiêu tan. Cũng như tại Hội An, doanh nhân nước ngoài bỏ chạy trong kinh hoàng và không bao giờ trở lại Việt nam nữa. Cánh cửa của chúng ta khép lại với thế giới bên ngoài. Xă hội ta trở lại với bóng tối của sự lạc hậu. Kinh nghiệm Việt nam đă đen tối đến độ các thương nhân không trở lại nữa ngay cả sau khi nhà Tây Sơn đă đổ. Phần đông những người phương Tây đến sau này chỉ là các giáo sĩ.
Trần Trọng Kim là một học giả có công soạn ra bộ sử công phu đầu tiên cho nước ta. Đây là một đóng góp rất lớn cần được ghi nhận một cách xứng đáng. Trước ông lịch sử nước ta chỉ được chép một cách sơ sài và không trung thực. Điều khó tưởng tượng đối với thế hệ trẻ ngày nay là cho tới thế chiến II người Việt nam không học sử nước ḿnh. Người học trường Pháp th́ học sử Pháp, người học trường Nam th́ không học sử nào cả. Tập Việt nam Sử lược ra đời đầu thập niên 1930, thường được sử dụng như một cuốn sách để học quốc văn, đă có tác dụng rất lớn. Nó đă giúp người Việt nam hiểu quá khứ của ḿnh và tạo ra một ư thức quốc gia dân tộc. Việt nam Sử lược sau này được lấy làm cơ bản cho các sách giáo khoa sử ở cấp trung và tiểu học. ư thức về lịch sử của người Việt nam nói chung vấn chưa vượt quá Việt nam Sử lược.
Tuy nhiên, v́ không viết sách với mục đích giảng dạy, ông Trần Trọng Kim đă không cảm thấy có bổn phận phải tuyệt đối khách quan và, đặc biệt là đối với nhân vật Nguyễn Huệ, ông đă để nhiều tâm t́nh và thiên kiến vào đó. Ông dựng đứng ra chuyện Nguyễn Huệ ra Bắc phù Lê diệt Trịnh để ca tụng Nguyễn Huệ dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại cương thường cho rơ ràng. ấy là có sức mạnh mà biết làm việc nghĩa vậy (sic). Thật là đổi trắng thay đen! Trong khi khởi chiến th́ người ta thường hay mượn một danh nghĩa, điều nay chẳng có ǵ là lạ. Điều lạ là Nguyễn Huệ đă ngang ngược không thèm mượn một danh nghĩa nào cả. Nguyễn Huệ vâng lệnh Nguyễn Nhạc tiến ra Bắc với mục đích chiếm Thuận Hóa, rồi thấy dễ tiến luôn ra chiếm Thăng Long, không nhân danh ǵ cả. Nguyễn Huệ vào Thăng Long cướp kho tàng rồi rút về chỉ v́ chưa nắm vững t́nh h́nh, mặc dầu cũng chiếm đất Nghệ An. Việc phù Lê chỉ là câu nói ngoài miệng sau khi diệt xong họ Trịnh và thấy t́nh thế chưa chín muồi để chiếm miền Bắc mà thôi. Nếu thực sự phù Lê th́ Nguyễn Huệ đă không hống hách đ̣i quyết định việc kể lập vua Lê và đă không cướp kho, lấy đất như vậy.
Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh, không có trong một sử liệu nào, để thổi pḥng tầm vóc của trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. (Trong hịch của Tôn Sĩ Nghị có nói lới năm chục vạn, nhưng đó, theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí chỉ là tờ truyền đơn mà mục đích là hù dọa làm mất tinh thần quân Tây Sơn. Chính Nguyễn Huệ cũng biết đây chỉ là chuyện hù dọa). ở một điểm Trần Trọng Kim giấu cả sự kiện. Toàn bộ việc thuật lại trận Đống Đa của ông dựa theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Nhưng trong khi Hoàng Lê Nhất Thống Chí chép rằng quân Nguyễn Huệ đi sau các bức mộc bia, cứ ba mươi người đàng sau một bức, tất cả là hai mươi bức, th́ Trần Trọng Kim bỏ đi câu tất cả là hai mươi bức , v́ như thế chứng tỏ quân Tây Sơn chỉ có sáu trăm người, mâu thuẫn với tầm vóc hai chục vạn quân Thanh mà ông gán cho trận Đống Đa.
Ông Trần Trọng Kim cũng kể công Nguyễn Huệ cứu nước khỏi tay quân Thanh. Thực ra chính Nguyễn Huệ đă là nguyên nhân đưa tới việc quân Thanh can thiệp. Vả lại ở đoạn trên chúng ta đă thấy vào giai đoạn đó nhà Thanh hoàn toàn không có ư định đánh chiếm nước ta, chính v́ thế mà sau trận Đống Đa họ đă bỏ nhà Lê mà ḥa với Nguyễn Huệ. Ngược lại nếu Nguyễn Huệ c̣n sống để mà gây chiến với nhà Thanh th́ rất có thể nước ta đă tan hoang và mất về tay quân Tàu.
Nhờ Việt nam Sử lược mà Nguyễn Huệ được ca tụng như một đại anh hùng làm vẻ vang cho dân tộc, nhưng thực ra Nguyễn Huệ chẳng quan tâm ǵ đến thề diện quốc gia. Đó là một ư niệm phức tạp của giới văn học mà một người sinh ra và lớn lên trong một môi trường đặc biệt như Nguyễn Huệ không quan tâm. Ông chấp nhận sang chầu vua Thanh, lạy phục xuống đất và hôn chân vua Càn Long. Sợ nhà Thanh phản trắc hăm hại, ông cho một người giả làm ḿnh đi thay. Nhưng dù Nguyễn Huệ thật hay Nguyễn Huệ giả th́ trên danh nghĩa vẫn là vua Việt nam lạy và hôn chân vua Trung Hoa. Nguyễn Huệ cũng thường làm những tờ bẩm gởi cho Phúc An Khang (người thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng) trong đó ông tự xưng là tiểu phiên. Trừ trường hợp Mạc Đăng Dung, chưa có vua Việt nam nào hạ ḿnh đến thế.
Thái độ bênh Nguyễn Huệ của ông Trần Trọng Kim có nguyên nhân sâu xa. Gần hai thế kỷ phân tranh đă tạo ra theo tị hiềm giữa miền Nam và miền Bắc. Người miền Bắc vốn không ưa chúa Nguyễn, vua Gia Long sau khi đắc thắng lại trả thù báo oán, giết hại công thần khiến sĩ phu Bắc Hà càng ghét hơn. Các vua nhà Nguyễn không nể nang mà cũng chẳng đoái hoài ǵ đến miền Bắc, họ chỉ dùng bạo lực để thống trị mà thôi. Việc thi cử làm sĩ phu Bắc Hà rất phân nộ. Bắc Hà tự hào là đất văn học nhưng nhà Nguyễn chỉ cho Bắc Hà một số cử nhân, tiến sĩ thấp hơn miền Trung. Kể từ khi Pháp chiếm Việt nam th́ không cứ ǵ sĩ phu Bắc Hà mà sĩ phu cả nước trách nhà Nguyễn bất lực làm mất nước, nhưng sĩ phu Bắc Hà th́ mạt sát nhà Nguyễn ra mặt. Ông Trần Trọng Kim là một sĩ phu Bắc Hà và sách của ông chủ yếu viết cho sĩ phu Bắc Hà, trong đó tâm lư thù ghét nhà Nguyễn rất mạnh. Nguyễn Huệ là kẻ thù của nhà Nguyễn, vừa là hung thủ vừa là nạn nhân của nhà Nguyễn. Kẻ thù của kẻ thù là bạn. Ca tụng Nguyễn Huệ chỉ là một cách để chống nhà Nguyễn. Sự thù ghét nhà Nguyễn của ông Trần Trọng Kim rất rơ rệt.
Trong Việt nam Sử lược, ông mở đầu chương nói về Tây Sơn bằng một cuộc tranh luận công khai với nhà Nguyễn về nhà Tây Sơn, ông thẳng thắn nói lư của nhà Nguyễn không phải là lư của dân tộc. Ông Hoàng Xuân Hăn c̣n kể rằng khi ông vâng mệnh vua Bảo Đại mời ông Trần Trọng Kim vào gặp vua Bảo Đại để lập chính phủ, ông Kim mới đầu gạt phắt đi: Cái thằng Bảo Đại gặp nó làm ǵ. Lúc đó vua Bảo Đại chưa thoái vị. Trần Trọng Kim là một nhà nho, thường thường đối xử rất khiêm cũng, phải thù ghét lắm ông mới gọi vua bằng thằng.
Từ 1945 trở đi khi cuộc tương tranh quốc-cộng nổ ra, Nguyễn Huệ lại được thêm một đồng minh mới, mạnh hơn nhiều lần ông Trần Trọng Kim: Đảng cộng Sản Việt nam. Đảng cộng sản ca tụng Nguyễn Huệ đủ điều (một cuốn sách do chính quyền cộng sản xuất bản để ca tụng Nguyễn Huệ có tựa đề là Ḍng Gươm Nhân ái ) và đă dồn nỗ lực đưa h́nh ảnh Nguyễn Huệ anh hùng áo vải vào quần chúng v́ mục đích tuyên truyền. Tôn vinh Nguyễn Huệ là phủ nhận nhà Nguyễn, mà vua Bảo Đại của nhà Nguyễn lại đứng đầu phe quốc gia cho nên tôn vinh Nguyễn Huệ cũng là hạ nhục phe quốc gia. H́nh ảnh áo vải cờ đào (cờ đào th́ có nhưng áo vải th́ không) cũng rất thuận lợi cho cuộc cách mạng vô sản. Nguyễn Huệ cũng tiêu biểu cho những giá trị nền tảng của đảng cộng sản: bạo lực và chiến tranh. Cả Nguyễn Huệ lẫn đảng cộng sản đều đă làm khổ dân chúng và làm đất nước suy kiệt, sự chính đáng của cả hai chỉ dựa trên nhưng chiến thắng quân sự. Các đô đốc của Nguyễn Huệ cũng thuộc thành phần cơ bản, nghĩa là cũng không thuộc giới văn học như các cán bộ ṇng cốt của đảng cộng sản. Nguyễn Huệ cũng hành động như đảng cộng sản. Cũng dựa vào một thiểu số có đội ngũ để khống chế cả nước, cũng thẳng tay tiêu diệt mọi phần tử có thể trở thành đối thủ, cũng bất chấp mọi đau khổ của dân chúng và những đổ vở cho đất nước, cũng tráo trở và lật lọng với cả đồng minh và đối thủ. Chừng nào Nguyễn Huệ c̣n là thần tượng của người Việt nam chừng đó đảng cộng sản vẫn không thể bị phủ nhận dứt khoát, dù có bị thù ghét đến đâu đi nữa. H́nh ảnh Nguyễn Huệ đă đóng góp rất nhiều cho thắng lợi của đảng cộng sản và vẫn c̣n giúp đảng cộng sản duy tŕ một chỗ đứng nào đó trong ḷng người Việt nam. Sau 1975, các lănh tụ lớn của đảng cộng sản đều đến làng Tây Sơn trồng một cây để tỏ ḷng tôn kính với Nguyễn Huệ mà họ coi gần như một thánh tổ của đảng.
Tôn thất và triều thần nhà Nguyễn đă không thể tranh căi về Nguyễn Huệ v́ nếu tranh căi về Nguyễn Huệ th́ cũng phải bàn đến vua Gia Long và những hành động không đẹp của ông. Sau Bảo Đại ông Ngô Đ́nh Diệm cũng tránh đề cập đến các vấn đề lịch sử v́ thân thế của chính ông. Ông là bày tôi nhà Nguyễn và thuộc ḍng dơi bày tôi nhà Nguyễn, và hơn nữa ông làm quan dưới chế độ Pháp thuộc chứ không tham gia đấu tranh giành độc lập. Ông không có thế đứng mạnh để tranh căi về lịch sử và có lẽ cũng chẳng hiểu biết ǵ về lịch sử. Các tướng tá cầm quyền sau ông Diệm đều là những người không có chỗ đứng lịch sử vẻ vang v́ trong đại bộ phận họ đă từng ở trong quân đội Pháp. Vả lại họ hoàn toàn không quan tâm đến văn hóa và lịch sử. Nói chung phe quốc gia không nh́n thấy cả một chiến dịch tâm lư chiến của phe cộng sản đằng sau việc thổi phồng và tôn sùng Nguyễn Huệ.
C̣n các sử gia? Phải tiếc rằng họ đă có đủ tài liệu, mà đôi khi họ cũng đưa ra một cách lẻ tẻ, nhưng họ đă không có can đảm đính chính một sai lầm lịch sử, mặc dầu sai lầm này đă có tác dụng rất độc hại trên số phận của dân tộc.
Người Việt chúng ta có một đặc tính là bất cứ điều ǵ dù sai đến đâu mà được chấp nhận trong một thời gian cũng trở thành một chân lư khó lay chuyển. Không những chấp nhận mà chúng ta c̣n khó chịu khi có người đặt lại vấn đề. Chúng ta cũng có tâm lư dĩ ḥa vi quí, hễ điều ǵ bất luận đúng hay sai mà mọi người đă cho là đúng th́ đừng nên căi nữa, chỉ gây bất ḥa vô ích. Đôi khi sự gắn bó với thành kiến c̣n đi đôi với thái độ bất dung, hằn học đối với những người đề nghị xét lại một thành kiến. Và như thế sự sai lầm cứ tồn tại.
Tôi không phải là sử gia cũng không phải là nhà nghiên cứu. Tôi là một người hoạt động chính trị, và là một người hoạt động chính trị rất thiếu th́ giờ, do đó tôi chỉ đề cập đến những vấn đề có liên hệ đến cuộc vận động dân chủ hiện nay. Tôi đặt lại vấn đề Nguyễn Huệ bởi v́ sự tôn sùng ông đă có ảnh hưởng lớn trên số phận dân tộc và vẫn c̣n đang ngăn cản một chuyển biến tư tưởng cần thiết. Nguyễn Huệ tiêu biểu cho nhưng giá trị mà chúng ta cần đánh đổ: vơ biền, độc đoán, hung bạo, lật lọng và trái ngược với những giá trị mà ta cần phát huy: ḥa b́nh, bao dung, ḥa giải, lương thiện. Tôn sùng Nguyễn Huệ là một tâm lư rất tai hại mà ta cần chấm dứt. Hơn thế nửa, nhân vật Nguyễn Huệ thực sự lại không phải như vậy. Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Lê Chiêu Thống, v.v... Đều là tổ tiên chúng ta cả. Chúng ta phải chấp nhận họ như là quá khứ và cội nguồn của chính chúng ta. Không ai lựa chọn tổ tiên, phủ nhận tổ tiên là phủ nhận chính ḿnh, nhưng bóp méo lịch sử là một chuyện khác. Lịch sử vừa là tấm gương soi chân dung của một dân tộc vừa là một kho kinh nghiệm để học hỏi và quyết định những chọn lựa cho tương lai. Bóp méo lịch sử chúng ta sẽ không c̣n biết ḿnh là ai và sẽ phải làm việc với những tài liệu sai. Không, tôi không có ư định làm ngược lại điều mà ông Trần Trọng Kim và đảng cộng sản đă làm, nghĩa là đả phá Nguyễn Huệ v́ một dị ứng hay một mục đích chính trị. Nguyễn Huệ như thế nào chúng ta cứ chấp nhận ông như thế Chúng ta có một nhân vật Nguyễn Huệ đă nổi loạn, gây nhiều máu lửa và tang tóc, đă chiến thắng các đối thủ, đă lên làm vua, rồi chết sớm và con cháu bị tiêu diệt. Đó là sự kiện. Nhưng thần tượng Nguyễn Huệ thiên tài quân sự, anh minh sáng suốt và nhân nghĩa chỉ là một sự xuyên tạc lịch sử có dụng ư.
Không nên nghĩ rằng các vấn đề văn hóa và lịch sử không gắn bó mật thiết với vận mệnh của một dân tộc. Qua Nguyễn Huệ chúng ta đă dung túng một số giá trị độc hại góp phần quan trọng tạo ra số phận bi đát hiện nay của đất nước. Cách đây năm ngh́n năm, sắc dân Phénicien đă là những người tiến bộ nhất. Họ đă là người đầu tiên chinh phục biển cả, chế ngự cả vùng Địa Trung Hải và lập ra cả một nền văn minh thương nghiệp. Nhưng họ thờ thần Ham mon, thần chiến tranh và bạo lực. Sự hung bạo đă khiến họ tự hủy diệt và bị tiêu diệt sau đó. Tôi đă thăm di tích Carthage. Chỉ c̣n lại những bức tường đổ nát và những dấu vết của những tập quán ghê rợn. Thay đổi biểu tượng là thay đổi các giá trị nền tảng của xă hội, là thay đổi cách ứng xử, và cuối cùng thay đổi số phận của một dân tộc. Đối với những quốc gia đang bế tắc v́ đă là nạn nhân của những giá trị độc hại đó cũng là một bắt buộc.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Rước voi về dày mả tổ

 

Khi đem tâm t́nh viết lịch sử mà tâm t́nh lại có trộn lẫn đam mê th́ lịch sử không thể chính xác. Nhưng hậu quả khác nhau tùy theo đam mê theo hướng nào. Nếu đam mê theo chiều hướng sùng ái như đói với Nguyễn Huệ th́ hậu quả là ta đi vào con đường thủ cựu tôn thờ quá khứ. Nếu ngược lại, đam mê theo chiều hướng thù ghét ta có thể phạm vào một bất công lớn đối với một người đă nằm xuống không c̣n khả năng trả lời nữa, và nhất là có thể tạo ra đỗ vỡ lớn giữa những người c̣n sống. Giữa một người đề cao Nguyễn Huệ và một người đề cao Nguyễn ánh vẫn có thể có sự cảm thông, nhưng một người chống Nguyễn ánh và một người đề cao Nguyễn ánh khó có thể đối thoại với nhau. Lê Chiêu Thống và Nguyễn ánh là hai trường hợp điển h́nh cho đam mê lịch sử theo chiều hướng bài xích.
Lê Chiêu Thống bị mọi người mạt sát v́ đă cứu viện quân Thanh, cơng rắn cắn gà nhà và không có ai bênh vực. Kư ức về ông măi măi hoen ố. Nhưng Lê Chiêu Thống không đáng phải chịu bản án lịch sử quá nặng nề đó. Khi Nguyễn Huệ vừa diệt xong nhà Trịnh và cưới công chúa Ngọc Hân th́ vua Hiển Tông nhà Lê lâm bệnh nặng rồi từ trần không con nối dơi. Họ Lê thù họ Trịnh áp bức ḿnh quá đáng nên quyết nhân cơ hội này lập lại cơ đo thực sự. Họ suy tôn con người lỗi lạc nhất của ḍng họ Lê lúc đó là hoàng tôn Lê Duy Kỳ, một người xét theo gia phả đáng lẽ không được làm vua. Duy Kỳ lên ngôi đặt niên hiểu là Chiêu Thống Hoàng Đế. Nội cái tên cũng chứng tỏ cao vọng của ông. Nhưng Chiêu Thống hoàn toàn không có vây cánh và của cải. các Cựu thần mang tiếng là cựu thần nhà Lê nhưng đều là của nhà Trịnh. Trong hơn hai thế kỷ cầm quyền của nhà Trịnh, họ không những không có liên hệ nào với nhà Lê mà c̣n bị cấm tuyệt đối không được giao dịch với nhà Lê. Lê Chiêu Thống hoàn toàn cô đơn. Ông vừa cố hết sức thu thập được vài bộ hạ th́ dư đảng họ Trịnh đă nỗi lên đem Trịnh Bồng về lập lại phủ chúa. Chiêu Thống bí mật vời Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân Nghệ An ra dẹp Trịnh Bồng. Đây cũng là một quyết định rất can đảm bởi v́ nếu âm mưu bại lộ, ông chắc chắn sẽ bỏ mạng về tay phe đảng Trịnh Bồng. Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh vốn đă là thủ hạ của họ Trịnh mà c̣n diệt nhà Trịnh th́ chắc chắn không có lư do ǵ để pḥ Chiêu Thống. Nguyễn Hữu Chỉnh lại chuyên quyền, và Lê Chiêu Thống đành chịu. Lê Chiêu Thống chỉ lợi dụng thời kỳ hỗn loạn, họ Trịnh bị ghét, Nguyễn Hữu Chỉnh c̣n bị ghét hơn, để mua thời gian, chiêu nạp thêm thủ trúc. Dự định chưa đi đến đâu th́ Nguyễn Huệ đă sai Vũ Văn Nhậm ra giết Nguyễn Hữu Chỉnh và nắm quyền. Chiêu Thống cùng đám thủ hạ ít ỏi bỏ kinh đô trốn vào dân gian, bôn ba kháp đây đó lo việc khôi phục. Lê Chiêu Thống chỉ ở Thăng Long được hơn một năm. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí nói khá tỉ mỉ về những cố gắng và gian lao của Chiêu Thống trong giai đoạn này, qua đó ta có thể thấy Lê Chiêu Thống là một con người rất xông pha. Lúc Chiêu Thống đương chật vật ở Thanh Hóa th́ một số cựu thần nhà Lê đem mẹ ông sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh sang, Lê Chiêu Thống về Thăng Long được mấy ngày th́ Nguyễn Huệ đem quân đánh tan quân Thanh. Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu. Quần thần theo ông sang Tàu lúc đó cư xử khá liêm sỉ. Mặc dầu cô đơn họ cũng dám đương đầu với nhà Thanh. Có người chửi mắng quân Thanh, để rồi tất cả bị án đầy đi khắp nơi, sang Tây Vực, lên Măn Châu. Riêng Lê Chiêu Thống buồn phiền mà chết. Lê Chiêu Thống tỏ ra là một người yêu quê hương, trước khi chết dặn người nhà sau này nhớ đem xác ông về chôn tại cố quốc. Đó là một t́nh cảm mà trước ông không một người Việt nam lưu vong ở Trung Quốc nào bày tỏ. Sử chép sau khi Tây Sơn bị diệt, gia nhân đào xác Lê Chiêu Thống lên để đem về Việt nam theo lời dặn của ông th́ thấy cơ thể đă tan nhưng trái tim vẫn c̣n tươi đỏ. Câu chuyện này chắc chắn là bịa đặt, nhưng có thể giải thích rằng gia nhân ông biết ông chết với tấm ḷng tức tưởi nên tưởng tượng ra câu chuyện đó.
Lê Chiêu Thống thực sự muốn cầu cứu nhà Thanh hay là việc cầu cứu này hoàn toàn do đám tôn thất nhà Lê chủ xướng lúc vắng mặt ông? Câu hỏi này có lẽ không bao giờ sáng tỏ, nhưng khi quân Thanh đă vào tới Thăng Long rồi th́ Lê Chiêu Thống khó có chọn lựa nào khác là về Thăng Long. Nếu ông không về chắc chắn Tôn Sĩ Nghị sẽ bảo họ Lê t́m người khác và họ Lê chắc chắn cũng không v́ Chiêu Thống mà bỏ cơ hội ngần năm một thuở đó. Nhưng dù muốn hay không Lê Chiêu Thống đă về và đă tŕnh diện Tôn Sĩ Nghị th́ ông phải chịu trách nhiệm như chính ông đă gọi quân Thanh vào. Tội cầu viện quân Thanh nặng đến mức nào tùy quan điểm của mỗi người. Điều quan trọng là nên cố gắng t́m hiểu bối cảnh thời đại đó. Miền Nam lúc đó chưa hề hội nhập vào miền Bắc, nên người miền Bắc coi miền Nam gần như một nước khác. Có lẽ anh em Tây Sớn cũng coi như thế, nên Nguyễn Nhạc đă xưng hoàng đế ở trung Nam và dùng từ quư quốc để xưng hô với vua Lê. Người miền Bắc coi Tây Sơn gần như một đạo quân ngoại xâm, hơn nữa c̣n là một dám quân cướp hung bạo, nên việc họ đi cầu viện quân Thanh chống Tây Sơn là có thể hiểu được. Đọc tập thư từ của các giáo sĩ có mặt tại Bắc Hà lúc đó, ta có thể thấy rằng đa số dân Bắc Hà tán thành việc Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh. Các giáo sĩ này đều là những người ủng hộ Tây Sơn cả. Giờ đây, sau hai trăm năm lịch sử, biết bao máu và nước mắt đă đổ ra trên đất nước này, ư thức quốc gia của chúng ta đă rơ rệt hơn nhiều, việc cầu viện ngoại bang có thể lên án một cách không lưỡng lự, những có lẽ không nên đem ư thức của thời nay mà xét người ngày xưa. Vả lại chính Nguyễn Du mà chúng ta tôn vinh như một trí tuệ siêu việt cũng đă cố chạy theo Chiêu Thống mà không được. Về mặt lập trường Nguyễn Du không khác Chiêu Thống.
Xét trong ba người giành nhau ngôi bá chủ ở thời đó: Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long, th́ cả ba đều là những người có ư chí mạnh, có can đảm, có bản lănh. Nhưng Quang Trung và Gia Long giống nhau ở chỗ họ đều là những con người thủ đoạn và sắt máu. Chiêu Thống là con người nhân hậu và t́nh cảm nhất. Trong cái thời đại đao binh chém giết như thế, ở vào lúc mà những bản năng tàn sát được thả lỏng như thế, một con người như Chiêu Thống kể ra cũng hiếm.
Độc giả đọc tới đây chắc chắn phải tự hỏi: Tên Nguyễn Gia Kiểng này điên chăng, hắn ăn cái giải ǵ mà bênh vực tên việt gian Lê Chiêu Thống? Sao hắn ngu đến thế, rồi đây tên tuổi hắn sẽ bị gắn liền với Lê Chiêu Thống. Nhưng nếu làm chính trị chỉ là tính toán thiệt hơn th́ cũng buồn thực. Tôi chẳng có họ hàng ǵ với Lê Chiêu Thống, tổ tiên tôi cũng chẳng có ai làm quan nhà Lê. Nhưng tôi thấy cần phải sửa chữa lại một bất công quá đáng kéo dài quá lâu với một người đă chết. Lê Chiêu Thống là người Việt nam, tôi cũng là người Việt nam. Hơn nữa ông là một nhân vật lịch sử và tôi cần nh́n rơ lịch sử của nước tôi. Quan hệ giữa ông ta và tôi chỉ có thể. T́m trong lịch sử Việt nam tôi khám phá ra rằng việc mạt sát Lê Chiêu Thống chỉ mới gần đây thôi, đúng ra từ 1945 trở đi và có một mục đích chính trị chứ không phải hoàn toàn vô tư. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí của ḍng họ Ngô rất gắn bó với Tây Sơn cũng không hề lên án Lê Chiêu Thống, trái lại c̣n bày tỏ sự cảm thương. Sau thế chiến hai, đảng cộng sản Việt nam nắm được thế chủ động. Trước mặt họ là các đảng phái quốc gia Việt nam Quốc Dân Đảng, Việt nam Cách Mạng Đảng và Đại Việt được quân Tưởng Giới Thạch ủng hộ. Nếu Lê Chiêu Thống bị mọi người lên án v́ cầu viện quân Thanh th́ chính nghĩa của các đảng phái quốc gia này ở chỗ nào? Cho nên Lê Chiêu Thống phải bị mạt sát. Sau này mạt sát Lê Chiêu Thống cũng vẫn cần v́ nó đánh vào nhược điểm của phe quốc gia là dựa vào người Pháp rồi người Mỹ. Lê Chiêu Thống trở thành một chiêu bài. Lịch sử được uốn nắn để sử dụng cho mục đích chính trị. Các chính phủ quốc gia kế tiếp nhau chỉ gồm những người lănh đạo rất yếu về căn bản dân tộc và cũng yếu về lư luận chính trị nên đă không nh́n thấy cái bẫy Lê Chiêu Thống quá lớn này. Đặc điểm của những người cầm đầu phe quốc gia là họ có khá nhiều học vị nhưng lại chỉ có rất ít quan tâm về chính trị và càng ít quan tâm đối với lịch sử Việt nam. Họ, hay đúng hơn một vài trí thức có tŕnh độ trung b́nh ủng hộ họ, chỉ biết phản pháo bằng cách cũng lên án Lê Chiêu Thống nhưng buộc tội đảng cộng sản bỏ tổ quốc, đem Liên Xô, Trung Quốc và chủ nghĩa cộng sản ngoại lai về đầy đọa quê hương như Lê Chiêu Thống. Nhưng lập luận của phe quốc gia hời hợt và giả tạo nên đă thiếu hẳn sức thuyết phục. Kết quả là hai bên thi nhau mạt sát Lê Chiêu Thống, và hơn nữa lại cũng đồng ư với nhau rằng Lê Chiêu Thống là con người nhu nhược và hèn nhát, một điều hoàn toàn không đúng sự thực v́ Lê Chiêu Thống là con người rất có đảm lược và bản lănh, không ngại vào sinh ra tử. Lê Chiêu Thống đă là nạn nhân của sự khôn ngoan của phe cộng sản và sự nông cạn của những người càm đầu phe quốc gia, một nạn nhân đáng thương v́ con cháu nhà Lê không c̣n để bênh vực ông, số rất ít cựu thần nhà Lê đă thành cựu thần nhà Nguyễn. Nhưng bây giờ th́ cuộc chiến đă xong rồi. Có lẽ nên để cho người chết yên nghỉ th́ hơn.
Vả lại, nếu buộc tội Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào, th́ tại sao người cộng sản không ca tụng Ngô Đ́nh Diệm đă chết v́ không chịu cho Mỹ đổ bộ? Người cộng sản nên ôn ḥa hơn với Lê Chiêu Thống khi họ cũng dùng vũ khí và cố vấn Liên Xô, dùng cả quân Trung Quốc trong cuộc chiến vừa qua. Nhất là hiện nay họ cũng rất lễ độ với Trung Quốc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục lấn chiếm. Đảng cộng sản từ trước vẫn tự coi là có chính nghĩa nhờ một lập luận quái đản: các anh có tội đem quân nước ngoài vào để nó giết người Việt, trong khi chúng tôi có chính nghĩa v́ chúng tôi tự tay giết người Việt. Vậy mà lập luận này đă có sức thuyết phục trong nhiều thập niên. Điều này chứng tỏ rằng một dân tộc hiểu sai lịch sử của ḿnh cũng không khác một người mất trí và có thể ch́m rất sâu trong sự mê muội.
Khi ông Hồ Chí Minh chết, ông là chủ tịch nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa nhưng ông chỉ mơ ước về bên kia thế giới gặp cụ Marx, cụ Lênin. Khi Lê Chiêu Thống chết, ông lưu lạc bơ vơ và bị non sông ruồng bỏ nhưng ông lại mong được t́m về đất cũ. Giữa hai tâm hồn ấy, kể ra cũng có một sự khác biệt.
Về chiêu sâu, tôi nghĩ rằng khi một người đă chết th́ không c̣n ǵ quan trọng nửa. Dù chết đi trong tiếng khóc thương, hay trong tiếng nguyền rủa hận thù th́ cũng thế thôi, cát bụi vẫn là cát bụi. Nhưng c̣n một lư do nữa khiến tôi thấy cần nhắc lại trường hợp Lê Chiêu Thống, đó là để rút ra một bài học có ích. Tại sao một con người xuất chúng như Lê Chiêu Thống lại có thể làm việc đi cầu cứu quân Thanh? Và tại sao một số đông đảo dân chúng Bắc Hà lúc đó lại tán thành hành động này? Đó là v́ tinh thần dân tộc của ta đă rách nát sau những cuộc phân tranh triền miên. Đó cũng là v́ các phe phái hận thù nhau đến độ mất cả sự sáng suốt. Bài học mà ta cần phải rút ra là sự liên đới dân tộc và tinh thần trách nhiệm chỉ có thể xây dựng trong ḥa b́nh mà thôi.
Một bài học khác là không nên dựa vào lư mà cũng đừng dựa vào thế mạnh để bắt bí nhau, đừng đẩy người đuối lư hay kém thế vào những chọn lựa tuyệt vọng.
Từ năm 1945 cho đến năm 1975, người cộng sản không những không muốn thỏa hiệp với người quốc gia để t́m một giải pháp chấp nhận được cho mọi người, mà trái lại họ c̣n cố đẩy người quốc gia vào chỗ càng ngày càng lệ thuộc ngoại bang hơn, và họ vui mừng khi thấy phe quốc gia dựa vào ngoại bang để họ giành độc quyền chính nghĩa. Phe quốc gia cũng có cùng một thái độ, tuy không có cùng một mức độ thành công. Kết quả ra sao cho đất nước, chúng ta đều đă thấy.
Bài học đó đang có chiều hướng lập lại một lần nữa. Vấn đề cơ ban hiện nay là dân chủ hóa. Đối lập dân chủ có lư hoàn toàn khi đ̣i dân chủ da nguyên và đảng cộng sản vô lư hoàn toàn khi phủ nhận dân chủ đa nguyên. Nhưng hậu quả gần như tất nhiên của việc áp dụng dân chủ đa nguyên là đảng cộng sản sẽ mất chính quyền, cho nên đảng cộng sản coi những đ̣i hỏi dân chủ như một sự bắt bí. Ngược lại họ có quyền, có sức mạnh và họ sử dụng sức mạnh đó để đàn áp những nguyện vọng dân chủ, dần dần họ bị cô lập với dân chúng. Càng yếu đi họ càng phải nhượng bộ ngoại bang, quy luỵ với Trung Quốc dù Trung Quốc xâm lấn lănh thổ và lănh hải, quy luỵ với các thế lực tài phiệt ngoại quốc và nhượng cho họ những vùng đất có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất. Ch́a khóa của giải pháp cho đất nước là phải thỏa hiệp với nhau để t́m ra một giải pháp vẫn thực hiện được dân chủ mà không để dọa tương lai của bất cứ ai. Trong t́nh h́nh đất nước hôm nay trái tim cần hơn lư trí. Chúng ta cần những luật sư hơn những biện lư.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Cơng rắn cắn gà nhà

 

Nếu nỗi oan khiên kéo dài của Lê Chiêu Thống có thể giải thích được th́ sự lên án Nguyễn ánh là cơng rắn cắn gà nhà lại càng khó hiểu.
Nguyễn ánh bị nhiều người lên án là đă rước quân Pháp vào Việt nam, để rồi Việt nam bị Pháp đô hộ. Điều này hoàn toàn sai. Nguyễn ánh chết năm 1820, trong khi người Pháp chỉ bắt đầu xâm chiếm nước ta từ năm 1858, nghĩa là 38 năm sau dưới triều Tự Đức cháu nội ông. Hai vị vua nhà Nguyễn, Minh Mạng và Tự Đức, xứng đáng bị lên án nặng nề, nhưng không phải v́ họ đă thỏa hiệp với Pháp mà v́ họ đă chống Pháp một cách điên cuồng và mù quáng. Nguyễn ánh không phải đă không làm những việc sai trái. Năm 1784, ông đă gởi hoàng tử Cảnh theo giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện Louis XVI. Hai bên kư kết thỏa ước, theo đó Nguyễn ánh sau khi thành công sẽ dành nhiều đặc quyền lớn cho người Pháp và nhượng đứt đảo Côn Lôn cho Pháp. Ông cũng đă cầu viện quân Xiêm sang Việt nam giúp đánh quân Tây Sơn. Nhưng cả hai việc làm đáng trách này đă không giúp được ǵ cho ông. Thỏa ước kư với Louis XVI đă không được thực hiện, c̣n đám quân Xiêm th́ đă bị Nguyễn Huệ đánh tán nhanh chóng. Sau này Nguyễn ánh thành công, khôi phục được nhà Nguyễn hoàn toàn dựa vào cố gắng của chính ông. Nguyễn ánh có sử dụng một số tay đánh thuê người Pháp, nhưng đó chỉ là những cá nhân, điều này rất b́nh thường thời đó. Anh em Tây Sơn cũng đă sử dụng bọn cướp biển Lư Tài và Tập Đ́nh; họ cũng cố tranh thủ sự ủng hộ của người phương Tây mà không được v́ người phương Tây chỉ coi Tây Sơn là quân cướp.
Có người nói v́ Nguyễn ánh cầu viện mà người Pháp mới biết tới Việt nam. Lời buộc tội này lại càng ngây ngô hơn nữa. Người châu Âu nói chung và người Pháp nói riêng đă đến Việt nam từ đầu thế kỷ 16, lúc tổ tiên Nguyễn ánh là Nguyễn Hoàng chưa ra đời, rồi liên tục gia tăng sự hiện diện. Họ đă thiết lập nhiều trung tâm thương mại tại Hội An, Hà Nội và Hưng Yên. Người châu Âu đến nước ta là lẽ tự nhiên v́ lúc đó họ đă mạnh và đang bung ra khám phá thế giới. Việc họ đến nước ta, đem theo một văn hóa và một kỷ thuật mới đáng lẽ phải là một may mắn lớn cho nước ta, chỉ tiếc rằng chúng ta đă không đủ sáng suốt để lợi dụng. Nguyễn ánh có công lớn với đất nước. Chính ông đa thống nhất được đất nước. Không có ông không chừng ngày nay miền Nam và miền Bắc vẫn c̣n là hai quốc gia riêng biệt. Phe cộng sản mạt sát Nguyễn ánh là điều dễ hiểu, nhưng điều ngạc nhiên là Nguyễn ánh bị lên án một cách ḥ đồ như thế mà không được minh oan một cách rơ rệt, trong khi tôn thất nhà Nguyễn, ngày trước và ngay bây giờ, không thiếu những người có kiến thức và tŕnh độ cao. Đó là v́ một bên có lư do để ra sức buộc tội Nguyễn ánh, c̣n một bên dù muốn bênh Nguyễn ánh cũng không thể bào chữa cho ông một cách thông suốt. Nếu muốn bào chữa cho Nguyễn ánh th́ phải mổ xẻ sự nghiệp của ông một cách khách quan nhưng điều này lại khó làm. Muốn nói rơ về Nguyễn ánh th́ bắt buộc phải nh́n nhận những sai phạm của ông đối với đất nước - cầu viện Pháp, cầu viện Xiêm, và cách đối xử thô bạo của ông đối với con cháu Tây Sơn. Cũng phải luận việc ông bội bạc và giết hại các công thần. Điều này các vua nhà Nguyễn không cho phép v́ họ không thể chấp nhận một phê phán nào về ông tổ của họ. Sau này Ngô Đ́nh Diệm, sau khi đă truất phế vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, cũng không dại ǵ mà bênh vực ông tổ nhà Nguyễn. Sau Ngô Đ́nh Diệm là chế độ của các tướng tá, trong đó nhưng vấn đề văn hóa, lịch sử không đặt ra nữa. Nguyễn ánh bị buộc tội oan trong khi ông là người có công lớn, và hơn thế nữa tổ tiên ông c̣n có công rất lớn là đă khai phá ra một nửa đất nước.
Nếu ai hỏi tôi ai là người có công nhất đối với Việt nam, tôi sẽ lưỡng lự giữa Lư Công Uẩn và Nguyễn Hoàng. Lư Công Uẩn có công lập ra một quốc gia Việt nam thực sự, có kỷ cương, có triều chính, có văn hóa và đặt nền nếp cho Việt nam từ đó về sau (nhưng đồng thời ông cũng vô t́nh làm một điều tai hại là khẳng định vai tṛ của Khổng Giáo như một văn hóa chính thức). Nguyễn Hoàng có công mở ra một nửa đất nước, và đó cũng là nửa nước trù phú nhất. Lưỡng lự giữa hai người nhưng nếu bắt buộc phải chọn một người có lẽ tôi thiên về Nguyễn Hoàng.
Trước năm 1945, h́nh như không có chuyện buộc tội Nguyễn ánh. Phan Chu Trinh, một người chủ trương dân chủ và công khai bài xích triều Nguyễn, khi xỉ vả vua Khải Định là hèn đốn đă viết:
Ai về âm phủ hỏi Gia Long,
Khải Định thằng này phải cháu ông?
nghĩa là cũng nh́n nhận Nguyễn ánh là bậc anh hùng. Sau năm 1945, nhà Nguyễn đă thoái vị, đảng cộng sản đă nắm chính quyền tất nhiên không c̣n muốn ḷng dân nhớ nhà Nguyễn nữa. Lời cáo buộc Gia Long cơng rắn cần gà nhà bắt đầu từ đấy. Khi cựu hoàng Bảo Đại trở về thành lập chính quyền quốc gia, mạt sát và hạ bệ Gia Long dĩ nhiên nằm trong chính sách tuyên truyền của đảng cộng sản. Dưới chế độ cộng sản bênh vực Gia Long, chưa nói đến khen Gia Long, là phạm tội phản động.
Vụ án Gia Long tuy không ồn ào bề ngoài nhưng trong chiều sâu đă gây chia rẽ không nhỏ trong hàng ngũ miền Nam trước năm 1975. Tôi đều có nhiều dịp nhận ra điều đó. Một lần tôi được chứng kiến một cuộc căi vă ngắn nhưng rất dữ dội. Trong một câu chuyện văn, không hiểu tại sao hai nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ và Nguyễn ánh lại được đề cập tới. Một anh bạn khen Nguyễn Huệ là anh hùng, chê Gia Long là tầm thường, may nhờ Nguyễn Huệ mất sớm mà thắng được. Một anh bạn khác phản ứng một cách giận dữ: Nguyễn Huệ là một tên tướng cướp gặp thời, Gia Long mới có công thống nhất đất nước. Anh kia cũng không chịu thua. Cả hai đi tới kết luận là người trước mặt ḿnh không có tŕnh độ, rồi họ chấm dứt cuộc thảo luận với cùng một nét mặt khinh bỉ. Về sau tôi có hỏi người nọ về người kia, cả hai đều nói về nhau một cách nặng lời, chắc chắn là không thể hợp tác với nhau được nữa. Tại sao một giai đoạn lịch sử hai trăm năm về trước lại có thể chia rẽ chúng con người ngày hôm nay? Chúng ta đặt quá nhiều đam mê và xúc động vào một lịch sử rất không chính xác.
Thương nhau thương cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.
Có lẽ nhiều người đă giận các vua Minh Mạng, Tự Đức mù quáng và ngoan cố làm mất nước, ghét Bảo Đại hèn nhát trác táng, rồi ghét luôn cả Gia Long. Nhưng cách vận dụng lịch sử thiếu lương thiện nhất eâxn thuộc về đảng cộng sản. Họ luôn luôn bóp méo lịch sử cho những mục đích tuyên truyền. Năm 1979 khi vừa cải tạo về tôi nghe đứa cháu gái tôi học lịch sử: Năm... tên bán nước Gia Long đem quân đánh Phú Xuân. Tôi giật ḿnh, sách sử ǵ mà ngôn từ hạ cấp như vậy? Tôi đ̣i xem cuốn sách và c̣n thấy cả tên cướp nước Triệu Đà. Triệu Đà chết đă hơn hai ngàn năm nay cũng bị vạ lây, bởi v́ lúc đó hai chế độ cộng sản Việt nam và Trung Quốc đang xung đột. Để ư đến cách dạy sử lúc đó, tôi phải phẫn nộ. H́nh như Việt nam chỉ mới thực sự thành lập từ khi có đảng cộng sản.
Những đề tài thi sử thường gặp lúc đó là: Đảng cộng Sản Việt nam thành lập ngày nào, năm nào? Quân Dội Nhân Dân Việt nam thành lập ngày nào, năm nào? Bác Hồ ra đi t́m đường cứu nước năm nào, ở đâu?. Và câu hỏi quan trọng nhất: Ngày 2-9-1945 tại vườn hoa Ba Đ́nh, trước khi đọc tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ đă nói ǵ? (Câu trả lời là Bác Hồ đă nói: Tôi nói đồng bào có nghe rơ không?).
Sự sửa đổi lịch sử được thể hiện trên thực tế. Tại Sài G̣n, đường Nguyễn Hoàng được thay bằng đường Trần Phú, theo tên một cấp lănh đạo cộng sản đă chết. Chúa Hiền, người có công khai mở miền Nam, nhường tên đường cho Vơ Thị Sáu, một nữ cán bộ khủng bố cộng sản. Đường Gia Long dĩ nhiên không c̣n, nay là đường Lư Tự Trọng. Vô số công thần lập quốc bị xóa tên đường nhường chỗ cho nhưng cán bộ cộng sản không tên không tuổi. Từ ngày 30-4-1975, nước Việt nam không phải chỉ thay đổi hiện tại và tương lai mà c̣n thay đổi cả quá khứ.
Lịch sử là gia phả chung của đất nước, là kư ức tập thể của dân tộc xuyên tạc nó là xúc phạm đến trí tuệ của dân tộc. Chưa nói rằng bôi nhọ một người đă nằm xuống từ lâu rồi cho một mục đích giai đoạn là một việc mà chỉ có những kẻ thấp kém mới làm. Làm như thế đang cộng sản cũng đă hạ giá chính cái lư tưởng của họ. Nếu lư tưởng của họ trong sáng, dự án chính trị của họ đặc sắc th́ họ cần ǵ phải vận dụng những thủ đoạn tồi tàn như vậy?
Nhưng một câu hỏi cũng đặt ra cho chúng ta? Tại sao họ lại có thể làm như thế và một phần nào đó đă thành công? Đó là v́ chúng ta thiếu một sử quan đứng đắn. Lịch sử của ta thiếu sót và thiếu chính xác, đó là một điều đáng tiếc; nhưng điều c̣n đáng tiếc hơn nữa là cách tiếp cận lịch sử của chúng ta. Chúng ta không coi lịch sử như một tài sản chung của dân tộc mà mọi người phải trân trọng. Từ bao đời rồi lịch sử vẫn chỉ được coi là một diễn đàn để hạ nhục đối phương và tâng bốc ḿnh lên. Tập quán đó dần dần ăn rễ vào tâm lư mọi người, trong tiềm thức chúng ta. Chúng ta không coi việc xuyên tạc lịch sử là nghiêm trọng, chúng ta không coi lịch sử là kư ức của những cố gắng dựng nước, trái lại chúng ta coi lịch sử như là sự nối tiếp nhau của những trận đánh tàn phá đất nước. Chúng ta đọc lịch sử một cách sơ sài và dựa vào lịch sử để đưa ra những phê phán hồ đồ nhưng chắc nịch. Các dân tộc khác có thể chia rẽ v́ không đồng ư với nhau trên nhưng việc cằn làm cho hôm nay và ngày mai; người Việt nam lại c̣n có thể chia rẽ và hận thù nhau v́ những chuyện đă hoàn toàn thuộc về quá khứ mà mọi người chỉ biết một cách rất mơ hồ.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Cho những người đă nằm xuống

 

Một thảm kịch vẫn c̣n chia rẽ trầm trọng trong người Việt nam với nhau là việc cấm đạo. Con số nạn nhân thực sự là bao nhiêu không ai biết. Một số nhà nghiên cứu đưa ra ước lượng trên một trăm ngàn.
Họ đă bị giết không phải v́ đă phạm vào một tội ác nào mà chỉ v́ đă theo một tín ngưỡng không được triều đ́nh chấp nhận, dù tín ngưỡng ấy không xúi giục họ làm điều ǵ bạo ngược mà chỉ dạy họ công b́nh, bác ái. Có khi sự sống và sự chết được quyết định một cách giản dị: ai chịu bước qua thánh giá để chứng tỏ ḿnh đă phủ nhận tín ngưỡng Công Giáo th́ được sống, ai không chịu th́ bị dẫn thẳng ra pháp trường. Và khoảng một trăm ngàn người Công Giáo đă chịu chết để giữ tín ngưỡng của ḿnh. Họ đă chết một cách hiền lành không chống trả, chết trong lời cầu nguyện. Việc bách hại người Công Giáo đă là một vết nhơ khó tẩy xóa trong lịch sử Việt nam. Đó là sự kiện chính nhà nước Việt nam, chứ không phải một đoàn quân xâm lược nào, đă tàn sát một số lớn những người Việt nam hoàn toàn vô tội. Thảm kịch c̣n lớn hơn nữa v́ nhà nước đó biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ. Điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một chính quyền Việt nam nào, nhân danh sự liên tục của quốc gia, tổ chức một ngày để xin lỗi những người Công Giáo về sự sai lầm kinh khủng đó. Phải chăng là v́ các chính quyền không ư thức được cuộc sống liên tục của một quốc gia và do đó không cảm thấy có trách nhiệm về những ǵ những người cầm quyền trước ḿnh đă làm? Hay v́ một hành động long trọng như vậy sẽ không khỏi đặt ra những vấn đề lớn cho một chính quyền tự ḿnh cũng cảm thấy tay có nhúng chàm? Chính quyền cộng sản hiện nay cũng đưa ra vô số biện pháp chèn ép các tôn giáo. Tài liệu Quan điểm và cuộc sống của Nguyễn Hộ, được phổ biến năm 1994, c̣n tố giác chính đảng cộng sản Việt nam đă tập trung những người theo đạo Cao Đài tại Củ Chi, tàn sát họ và chôn tập thể. Ông Nguyễn Hộ là tư lệnh phó quân đội cộng sản khu vực Sài G̣n bao gồm Củ Chi hồi năm 1946 lúc xảy ra vụ tàn sát này nên những điều ông nói ra chỉ có thể đúng sự thực. Một điều cũng rất đáng ngạc nhiên là cho tới nay tập thể người Công Giáo chưa bao giờ chính thức đ̣i các chính quyền Việt nam phải giải oan, phục hồi danh dự và nhận lỗi với những nạn nhân. Họ tự thấy quá cô đơn, hay họ thấy không c̣n ràng buộc lắm với đất nước này nên không thấy cần phải đ̣i hỏi như vậy? Nhưng đó là một việc phải làm và sẽ phải làm một cách rất long trọng. Mọi người đều hiểu như vậy, và v́ không muốn làm hay không thể làm, nhiều người đă thoái thác bằng một thái độ cực kỳ tệ hại là tiếp tục bào chữa cho việc cấm đạo, tiếp tục bào chữa cho việc tàn sát người Công Giáo, tiếp tục bôi nhọ kư ức của những người đă chết oan và tiếp tục gây chia rẽ trầm trọng trong dân tộc. Thái độ thiếu lương thiện này lại gây ra một số nạn nhân khác: có những người nhẹ dạ đă thực sự bị lường gạt v́ những luận diệu dối trá ấy và thực sự ghét người Công Giáo. Tôi đă từng được nghe nhắc lại không biết bao nhiêu lần là đạo Công Giáo do thực dân Pháp đem đến, trong khi sự thực là đạo Công Giáo đă được các giáo sĩ Tây Ban Nha và Ḥa Lan truyền sang nước ta từ sau thế kỷ 16 trong khi người Pháp chỉ đến vào giữa thế kỷ 19, nghĩa là ba thế kỷ sau. Hơn nữa, tỷ lệ người Việt nam theo đạo Công Giáo vào cuối thế kỷ 17 trước khi có việc cấm đạo được ước lượng là xấp xỉ 10%. Sự xâm lăng và thống trị của người Pháp làm cho tỷ lệ người Việt nam theo đạo Công Giáo giảm đi chứ không tăng lên.
Năm 1989, khi vụ Phong Thánh cho 117 thánh tử đạo tại Việt nam đang sôi nổi, ṭa báo Thông Luận chúng tôi nhận được một thư độc giả. Lá thư, bằng một giọng điệu hằn học và miệt thị, kể lại việc quân Pháp đánh thành phố Hải Dương, trong đó chỉ có 15 người lính Pháp và cả trăm người Công Giáo đi theo gánh gạo, vác đạn, v.v... Không một lời về việc bách hại hàng trăm ngàn người Công Giáo vô tội
Năm 1993, Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận mời cụ Nguyễn Huy Bảo phát biểu trong một cuộc họp về đề tài Dân Việt nam có thể có dân chủ được không?. Đề tài đó không phải là tất cả buổi họp. Mỗi sinh hoạt của Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận gồm ba phần. Phần đầu về kiểm điểm nội dung những số báo Thông Luận từ kỳ họp trước đến nay; phần thứ hai hoặc thảo luận về một đề tài hoặc thảo luận về một vấn đề chính trị có tính thời sự, phần thứ ba là sinh hoạt thân hữu, trong đó các thân hữu tự do tŕnh bày những ǵ ḿnh đă làm, những ǵ một thân hữu khác đă làm, những ǵ ḿnh có ư định làm và t́m người hợp tác. Các thân hữu có xuất bản sách thường đem sách của ḿnh tới giới thiệu và bán trong phần này. Bài thuyết tŕnh của cụ Nguyễn Huy Bảo nằm trong phần thứ hai.
Cụ Bảo có đề cập tới chính sách thủ cựu của các vua quan nhà Nguyễn, trong đó có việc cấm đạo, như là những sai lầm đă khiến Việt nam lỡ mất một cơ hội canh tân với hậu quả tai hại. Chằng có ǵ là quá khích và lố lăng trong bài thuyết tŕnh. Nhưng như thế cũng đă đủ để ngay khi cụ vừa dứt lời, một thanh niên vẫn thường hay lui tới câu lạc bộ đùng đùng nỗi giận đứng lên bất chấp cả chủ tọa to tiếng mạt sát cụ Bảo bằng những lời lẽ nặng nề, bất chấp cả tinh thần trang trọng của buổi họp, bất chấp cả sự kính trọng tối thiểu mà lễ giáo Việt nam vẫn dành cho người lớn tuổi (cụ Bảo lúc đó đă 85 tuổi). Những công thức chế tạo sẵn đua nhau tuôn chảy: Ông là một sản phẩm của thực dân Pháp, Bài thuyết tŕnh của ông là của một con người đă chối bỏ tổ tiên... , Ông lập lại những luận điệu phản quốc, những lập luận của bọn giáo sĩ cướp nước, v.v... Tôi làm chủ tọa buổi họp hôm đó và tôi đă phải quả quyết cắt lời anh ta. Anh ta biết tôi và vẫn dành cho tôi một sự kính trọng nào đó không biết sự kính trọng đó bây giờ c̣n hay không v́ sau đó không thấy anh ấy lui tới câu lạc bộ nữa. Tôi ôn tồn nói với anh ta là không có ư kiến nào cấm nêu ra và không có đề tài nào cấm bàn đến, anh ta đừng sợ sẽ không được phát biểu hết ư kiến của ḿnh, nhưng phải tôn trọng chủ tọa và cũng phải tôn trọng tinh thần thảo luận của câu lạc bộ là mọi trao đỏi phải có sự tương kính. Rồi tôi lại trao lời cho anh nói tiếp. Có lẽ tự thấy ḿnh đă quá lời, anh ta xin lỗi v́ đă dùng lời lẽ quá nặng nhưng giải thích: Xin quí vị thông cảm cho, v́ dân tộc tôi đă đau khổ quá nhiều v́ bọn giáo sĩ tới làm do thám cho thực dân cướp nước, v́ những tên Việt gian bỏ đất nước đi theo bọn giáo sĩ. Tôi phải tố cáo bọn giáo sĩ, tố cáo mưu đồ cướp nước của Vatican... . Lời xin lỗi đồng thời cũng là một lời thóa mạ. Sau buổi họp, ra ngoài gặp tôi, anh ta vẫn c̣n hậm hực: Tôi phải vạch mặt lên này (cụ Bảo), hắn là một tên giáo sĩ. Giáo sĩ đối với anh ta là một từ ngữ rất nặng, tự nó đă có tính mạt sát rồi. Tôi không giận anh ta, v́ cái tập quán thù ghét thậm tệ người khác dựa trên những sự kiện mà chỉ cần b́nh tĩnh một chút cũng đủ thấy là rất sai là một đặc tính của người Việt nam. Tôi vẫn có cảm t́nh với anh ta. Xuất thân là một người lao động vượt biên sang Pháp, ngoài việc làm ăn anh ta c̣n dành rất nhiều th́ giờ để học hỏi. Anh ta đọc rất nhiều sách và tỏ ra có quan tâm với tương lai đất nước. Càng có cảm t́nh với anh bao nhiêu tôi càng giận những người trí thức thiếu lương thiện đă đầu độc những tâm hồn nhẹ dạ. Anh ta có kể cho tôi nghe một số sách mà tôi có đọc qua.
Đó là những cuốn sách viết úp úp mở mở, gom lọc tài liệu với dụng ư rơ rệt là tạo cho độc giả một ngờ vực rằng việc truyền bá đạo Công Giáo ở Việt nam nằm trong âm mưu thôn tính Việt nam của Pháp. Tôi không thể nh́n thấy một sự xứng đáng nào trong những cố gắng đó. Chúng chỉ tố giác sự thấp kém của các tác giả. Họ hận thù v́ thành kiến, rồi chính hận thù làm cho tâm hồn họ bị vẩn đục và trí tuệ họ bị mê muội. Với thời giờ bỏ ra nghiên cứu như vậy, nếu đừng để cho hận thù làm mù quáng đi, họ đă thấy là không làm ǵ có một âm mưu thôn tính Việt nam, chưa nói tới một âm mưu với sự đồng lơa giữa Vatican và chính quyền Pháp. Mà tại sao Vatican lại đồng loă với Pháp mà không đồng lơa với ư, Ḅ Đào Nha hay Tây Ban Nha? Những ai nghiên cứu phong trào thực dân trong ba thế kỷ 17, 18 và 19 đều biết rằng phong trào này chủ yếu là do các công ty tư nhân đi t́m lợi nhuận. Không làm ǵ có một ư chí chính trị của các nước châu Âu nói chung và Pháp nói riêng để chiếm đóng các nước châu á cả (trong một bài sau chúng ta sẽ bàn kỹ hơn về vấn đề này). Chính quyền Pháp đă bị đẩy tới chỗ phải can thiệp vào Việt nam dưới áp lực của dân chúng sau khi những đợt bách hại người Công Giáo gây ra xúc động quá lớn.
Tôi càng không hiểu tại sao, trong lúc này và tại hải ngoại, vẫn có những người cố gắng bôi nhọ người Công Giáo bằng những tài liệu xuyên tạc hạ cấp kiểu Tây Dương Gia Tô Bí Lục. Đề làm ǵ? Đáng buồn nhất là một số người lại c̣n gần liền sự phát triển của Phật Giáo với sự bài xích Thiên Chúa Giáo. Phật Giáo Việt nam không mạnh thêm, mà c̣n có thể bị hoen ố đi v́ những Phật tử như thế.
Lư do chính khiến cho vết thương cấm đạo vẫn c̣n rưóm máu cho tới nay là v́ chúng ta vẫn chưa t́m được cách đọc lịch sử. Điều đau nhức nhất trong thảm kịch cấm đạo là có những người Việt nam thực sự yêu nước, thực sự dũng cảm đă tham gia tích cực vào việc tàn sát và nhục mạ những người Công Giáo vô tội. Tôi muốn nói tới những phong trào Văn Thân và Cần Vương. Chắc chắn là trong động cơ thúc đẫy họ có ḷng yêu nước, nhưng sự cuồng tín tôn thờ Nho Giáo của họ c̣n mạnh hơn. Họ đă giết người Công Giáo bởi v́ họ thực sự tin rằng người Công Giáo đă bỏ đạo lư của ông cha, đi tôn thờ một tà đạo của người phương Tây mà lúc đó họ gọi là bọn quỷ trắng. Một người Việt nam đă theo đạo Công Giáo th́ không c̣n là đồng bào của họ nữa, mà chỉ c̣n là một tâm hồn đă bị quỷ ám cần phải tiêu diệt. Các phong trào Cần Vương và Văn Thân có lẽ đă chỉ giết vài người lính Pháp, nhưng họ đă giết hại hàng chục ngàn tinh mục và giáo dân Việt nam. Họ mù quáng, thiển cận, có tội lớn mà không có công nào. Họ chỉ cố gắng bảo vệ một cái quá khứ hủ lậu cần phải vất bỏ đi: Nhưng họ là những người có chí khí, có can đảm. Họ nằm trong truyền thống của đất nước và của ông cha, nên chúng ta chỉ có thể buồn v́ sự mù quáng của họ, chứ không thể ghét họ được. Do đó chúng ta bối rối, rồi để có thể tôn vinh họ, chúng ta biện hộ cho việc họ làm, đỗ tội cho những người Công Giáo vô tội đă nằm xuống.
Đó cũng là v́ ta không biết đọc lịch sử. Đó cũng là v́ ta không t́m ra được cách nào để yêu quí tổ tiên của ta. Đinh Tiên Hoàng, Lư Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Văn Thân và Cần Vương, và cả những người Công Giáo đă nằm xuống; những anh hùng lập quốc cùng những người đă có tội, những người can đảm cũng như những người hèn nhát, tất cả đều là tổ tiên của ta. Chúng ta không chối bỏ được gia phả. Những người đă có tấm ḷng như Văn Thân và Cằn Vương, chúng ta vẫn có thể quí mến họ, nhưng khi họ nhảm nhí th́ phải nói là họ nhảm nhí, chứ sao lại đổi trắng thay đen? Đâu phải v́ chúng ta quí trọng những người Cần Vương, Văn Thân mà nhất định chúng ta phải quí trọng ngay cả những sai quấy của họ và thù ghét những người Công Giáo mà họ đă thù ghét? Nhất là họ thù ghét một cách xằng bậy và hành động một cách càn dỡ?
Nguyễn Khắc Viện, một trí thức cộng sản đă đóng góp nhiều nghiên cứu có giá trị, đă viết về vụ phong Thánh như sau: Dầu sao th́ chúng tôi cũng không thể chối bỏ các vị tiền bối Văn Thân của chúng tôi. Ông ta cũng đặt nghi vấn là có sự liên kết của người Công Giáo với quân Pháp. Hai chữ dầu sao nói lên bối rối của ông ta. Nhưng ông Nguyễn Khắc Viện làm tôi thất vọng về sự tầm thường của một trí thức như ông. Ai bắt ông phải chối bỏ các vị Cần Vương và Văn Thân? Tại sao lại phải chối bỏ? Có phải v́ họ đă mù quáng giết người Công Giáo mà chúng ta phải chối bỏ họ không? Có phải khi ông cha ta làm điều ǵ sai th́ không c̣n là ông cha ta nữa không? Nếu lư luận như vậy th́ phải coi chừng chúng ta mất gia phả.
Một lần cho tất cả, phải khẳng định sự vô tội của người Công Giáo. Không làm ǵ có âm mưu nào trong việc truyền giáo tại Việt nam. Những giáo sĩ tới Việt nam chỉ để truyền đức tin Ki-tô mà thôi và các giáo dân đă theo đạo cũng chỉ v́ đức tin Ki-tô. Các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, rồi các vua nhà Nguyễn, thủ phạm của cuộc cấm đạo đẫm máu, ít ra cũng lương thiện hơn những học giả biện bạch cho họ. Các dụ cấm đạo chỉ buộc tội người Công Giáo theo một là đạo mà thôi, không bao giờ buộc thêm cho người Công Giáo một tội nào khác cả. Việc cấm đạo đă bắt đầu ở ngoài Bắc dưới chúa Trịnh Tráng để rồi đạt tới cao diễm dưới thời Trịnh Doanh; ở miền Nam ngay dưới thời Nguyễn Hoàng, rồi tiếp tục qua mọi đời chúa dù không gay gắt bằng. Đến khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, việc cấm đạo cũng chỉ ngừng lại ở thời Gia Long. Minh Mạng lên ngôi là lập tức cấm đạo, tiếp tục qua Thiệu Trị và đạt cao điểm dưới thời Tự Đức. Sau cùng chính vua Tự Đức cũng nhận ra sự sai lầm của ḿnh và ra một dụ bỏ việc cấm đạo, kêu gọi Văn Thân thôi bách hại người Công Giáo với lời lẽ trầm thống, chứng tỏ một sự hối hận rất chân thành.
Có người viện dẫn một số tài liệu của Bộ Hải Quân Pháp để chứng minh có sự toa rập giữa các giáo sĩ và chính quyền Pháp. Nhưng các giáo sĩ đă truyền giáo trong điều kiện khó khăn tất nhiên phải có sự giao dịch với các thế lực có ảnh hưởng tới Việt nam lúc đó. Những người bị bách hại tất nhiên phải t́m chỗ dựa. Điều này cũng tự nhiên như ngày nay chúng ta vận động các chính phủ dân chủ và các tổ chức nhân đạo bênh vực cho những người dân chủ gặp khó khăn tại Việt nam. Mặt khác, đừng quên là các giáo sĩ cũng đă làm nhiều khuyến cáo và đề nghị với chính các vua nhà Nguyễn để hy vọng giúp Việt nam canh tân và mạnh lên, chỉ tiếc là họ đă không được nghe v́ vua quan nhà Nguyễn quá thủ cựu. Nhiều người Công Giáo Việt nam, giáo sĩ cũng như giáo dân, mặc dầu bị ruồng rẫy, tù tội, hạ nhục vẫn cố hết sức t́m cách giúp các vua nhà Nguyễn cải tổ để đưa đất nước đi lên dù chỉ gặp sự dửng dưng của vua quan nhà Nguyễn. Nếu những bài điều trần của Nguyễn Trường Tộ lọt được tai vua quan nhà Nguyễn th́ đất nước chúng ta đây không như ngày nay.
Điều đáng ngạc nhiên chính là sự nhẫn nại của người Công Giáo. Mặc dầu bị bách hại đẫm máu họ đă không vùng lên chống lại chính quyền, trong khi đó là một phản ứng tự vệ rất b́nh thường. Nhà Nguyễn phá kỷ lục về giặc giă: các tay anh chị nổi lên khắp nơi tại miền Bắc, có khi để chống sưu cao thuế nặng, có khi để đ̣i lập lại nhà Lê, có khi chỉ v́ lư do giản dị là quan quân quá yếu. Người Công Giáo ở miền Bắc lúc đó rất đông đảo chiếm hơn 10% dân số, lại rất tập trung và rất gắn bó. Nếu họ nổi loạn, nhờ người Pháp huấn luỵện và giúp khí giới, họ đủ khả năng đánh bại được quân nhà Nguyễn lúc đó rất suy yếu về cả vật chất lẫn tinh thần. Một viên thiếu úy với bảy tên lính Pháp đă có thể nghênh ngang vào tính Ninh B́nh, bắt tất cả tuần phủ, án sát trói lại, tịch thu mấy chục khẩu đại bác, bắt quân Việt nam hạ khí giới qú hai bên đường. Người Công Giáo, nếu muốn, thừa sức đánh bại thứ quân đội vô dụng đó. Nhưng họ vẫn chịu đựng thà chết v́ đức tin chứ không nổi loạn. ở vào thời buổi đó, đâu đâu cũng có nỗi loạn, nhưng những người Công Giáo, có lư do nhất và có khả năng nhất để nỗi loạn, lại không nỗi loạn.
Cái ǵ đă khiến người Việt nam theo đạo Công Giáo đông đảo như vậy? Đó chính là thông điệp Ki-tô. Vào thời buổi nhiễu nhương, con người chà đạp và chém giết lẫn nhau, c̣n ǵ an ủi hơn là được nghe một thông điệp ḥa b́nh, bác ái, là được nghe những lời nhắn nhủ ai thương xót người ấy là phúc thật, ai chịu khốn khổ v́ lẽ phải ấy là phúc thật? Đạo Công Giáo đă được sự hưởng ứng mạnh mẽ của những người cùng khổ. Cũng như Phật Giáo, và khác với Nho Giáo, đạo Công Giáo đă đến với dân tộc Việt nam không phải qua giai cấp thống trị, mà qua giai cấp bị chà đạp. Dụ cấm đạo của vua Minh Mạng nhận định các giáo sĩ đă lôi kéo bọn bần dân mạt hạng.
Người Công Giáo nhẫn nại và chịu đựng nhưng thừa sự dũng cảm. Họ sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đức tin của họ. Sự dũng cảm của họ nổi bật vào một lúc mà sự nhút nhát là tâm lư chế ngự. Quan quân cứ nghe vài tiếng súng là vất gươm súng mà chạy. Chính những người Công Giáo tử đạo đă cho tôi niềm tin vững chắc vào dân tộc Việt nam: nếu có một lư tưởng trong sáng, người Việt nam có thể rất dũng cảm và chấp nhận những hy sinh rất to lớn. Sau này, một chính quyền sáng suốt của đất nước Việt nam dân chủ sẽ phải để ra một ngày lễ phục hồi danh dự cho những người Công Giáo đă tử đạo. Đó là điều chúng ta cần làm để ḥa giải cộng đồng Công Giáo với cộng đồng dân tộc, để hàn gắn một vết thương rất đau nhức, một trang sử bi đát của dân tộc ta. Chúng ta cũng sẽ phải có những ngày tưởng niệm cho những người đă chết oan trong những cuộc chiến vừa qua, những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất những người đă chết trong chiến dịch Phượng Hoàng, hay đă bị bắt cóc ám sát, những người đă bỏ ḿnh trên biển cả trong khi chạy trốn chế độ cộng sản. Chúng ta cần khép lại những vết thương đau, những trang sử bi đát của dân tộc, để có thể nh́n lại nhau là anh em ruột thịt và cùng bắt tay nhau xây một tương lai Việt nam chung.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Chấp nhất kỷ chi kiến

 

Giai đoạn Pháp đánh chiếm Việt nam là một giai đoạn lịch sử có tài liệu khá đầy đủ nhưng lại là giai đoạn khó học nhất. Hồi c̣n là học sinh tôi rất chán học giai đoạn này, dù khá mê sử. Lư do là v́ chán nản quá. Chỉ thấy tháng này bị thua to ở chỗ này, tháng tới bị đại bại ở chỗ khác. Năm này mất tỉnh này, năm sau mất tỉnh khác. Và thua một cách rất nhục nhă. Năm 1772, Francis Garnier đem 170 lính tới Hà Nội, yết bảng băi bỏ luật lệ nước ta, ban hành luật của riêng ḿnh, các quan quân cũng không dám phản ứng. Đă thế cũng chưa yên, Garnier c̣n bắt Nguyễn Tri Phương đầu hàng vô điều kiện, phải tự đến nộp ḿnh. Nguyễn Tri Phương không chịu, Garnier đánh thành, chỉ trong chớp nhoáng là xong, mấy ngàn quân Việt vất vũ khí mà chạy. Các tướng Việt, người chết, người bị bắt sống. Kế đó một thiếu úy Pháp đem bảy người lính tới chiếm Ninh B́nh, quan quân đem lọng ra đón xin hàng, các quan bị bắt trói, quân đội phải qú xuống hạ khí giới. Chỉ lúc đă trưởng thành tôi mới có đủ kiên nhẫn và chịu đựng để đọc lịch sử về giai đoạn này. Bây giờ đă ngoài năm mươi tuổi, đă đọc đi đọc lại nhiều lần, mà mỗi lần đọc vẫn thấy nhục nhă quá chừng.
Tinh h́nh nguy ngập như vậy, nhưng các vua quan nhà Nguyễn hoàn toàn không ư thức được. Họ hoàn toàn không biết ǵ về thế giới bên ngoài cũng như về t́nh h́nh bi đát của đất nước. Bất lực và thờ ơ trước cuộc xâm lăng từ bên ngoài bao nhiêu họ tỏ ra quan tâm và hiệu lực bấy nhiêu trong việc cấm đạo. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức rất ít khi ra khỏi thành phố Huế, trừ một vài lần ngự giá đi săn.
Quân Pháp bắt đầu thực sự đánh chiếm Việt nam từ năm 1858. Họ đánh chiếm Đà Nẵng, sau đó vào chiếm miền Nam, rồi ra đánh Bắc Việt, áp đặt nền đô hộ vào năm 1883.
Cuộc chinh phục đă kéo dài 25 năm. Thời gian đó tương đối dài, không phải v́ do sức kháng cự mạnh mẽ của Việt nam mà v́ sự do dự của nước Pháp. Nếu quả thực có quyết tâm muốn chiếm Việt nam, có lẽ người Pháp không cần quá một năm. Sức kháng cự của quân Việt nam không đáng kề. Cần đính chính một quan điểm rất phổ biến nhưng rất sai là nước Pháp, cũng như mọi đế quốc thực dân châu Âu trong thế kỷ 19, có âm mưu khuất phục và chiếm đóng Việt nam. Sở dĩ chúng ta dễ nghĩ hoặc tin như vậy là v́ chúng ta quen với lịch sử châu á trong đó mọi chinh phục đều do các nhà nước khởi xướng và thực hiện. Nhưng đó không phải là t́nh trạng của châu Âu. Các nước châu Âu quả nhiên đă tranh giành nhau chiếm đóng châu Mỹ v́ họ coi đó là phần đất vô chủ mạnh ai nấy chiếm. Nhưng chính sách của họ đối với châu á lại khác. Việc chinh phục châu á chủ yếu do các công ty tư phát động. Các công ty này chỉ có đủ lực lượng để chiếm những phần đất chưa có chủ quyền, như tại ấn Độ, Mă Lai, Indonesia. Việc Tây Ban Nha chiếm Phi-líp-pin là một ngoại lệ, nhưng Phi-líp-pin là một quần đảo vô chủ vào lúc đó. Các chính quyền châu Âu không có chính sách khuất phục và chiếm đóng các nước đă có tổ chức nhà nước. Cùng lắm họ chỉ can thiệp để bảo vệ các hoạt động thương mại hay truyền giáo, và ngay trung trường hợp này họ cũng rất thận trọng. Họ thường liên kết với nhau chứ không ra tay một ḿnh. Nói chung họ nhắm t́m thị trường và thường cố thỏa hiệp để tránh chiến tranh và thiệt hại. Việc Pháp đánh chiếm Việt nam là một ngoại lệ lớn mà nguyên nhân là chính quyền nhà Nguyễn vừa quá ngoan cố lại vừa quá yếu.
Lư do chính khiến người Pháp đánh chiếm Việt nam là việc cấm đạo, lư do phụ là Pháp muốn bành trướng thương mại tại Viễn Đông. Cũng v́ lư do chính khiến người Pháp chiếm Việt nam là do chính sách cấm đạo mà cho tới nay nhiều người ghét đạo Công Giáo, vẩn đỗ tội cho đạo Công Giáo đă làm Việt nam mất nước. Đó là một luận điệu rất ngây ngô. Cấm đạo là một chính sách xằng bậy, tàn sát dă man người Công Giáo là một tội ác đối với loài người. Nhà Nguyễn làm bậy để mất nước là lỗi tại nhà Nguyễn, sao lại buộc tội người Công Giáo, chỉ là nạn nhân mà thôi? Nếu chúng ta không thích người hàng xóm, xách súng sang giết họ rồi bị đi tù th́ có thể đổ lỗi rằng v́ người hàng xóm mà ḿnh bị đi tù được không?
Nối rằng lư do chính là cấm đạo cũng chưa đúng. Phải nói rằng lư do chính là sự ngoan cố quá đáng và sự tàn nhẫn quá đáng trong việc cấm đạo th́ đúng hơn.
Vua Minh Mạng lên ngôi năm 1820, th́ năm 1825 ra dụ cấm đạo Lúc này nước Pháp hoàn toàn vắng mặt tại Việt Nam và c̣n đang khốn đốn v́ xung đột nội bộ và những tàn phá do những cuộc chiến thảm khốc của Napoléon I để lại. Lư do cấm đạo trong dụ là đạo Phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc ḷng người và hủy hoại phong tục. Cùng năm ấy, một dụ cấm đạo khác gay gắt hơn nữa được ban hành và kèm thêm biện pháp treo giải thưởng cho những ai bắt được giáo sĩ đem nộp. Chính biện pháp này đă gây ra một phong trào bắt đạo và giết đạo tại khắp nơi. Chia rẽ lương giáo bắt đầu trầm trọng từ đó. Hận thù trong dân tộc tăng cao. Bắt đạo và giết đạo trở thành một phong trào dân gian, cho nên sau các hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Giấp Tuất (1874), mặc dù triều đ́nh chấp nhận không cấm đạo nữa nhưng các phong trào Văn Thân vẫn đi đánh phá các làng Công Giáo. Vua Minh Mạng tỏ ra rất ngây thơ khi sai một phái bộ sang Pháp yêu cầu Pháp ngừng việc truyền giáo tại Việt Nam. Làm sao chính quyền Pháp có thề thỏa măn yêu cầu vô lư này?
Việc cấm đạo tiếp tục qua thời Thiệu Trị rồi trở nên đặc biệt gay gắt dưới thời Tự Đức. Vua Tự Đức vừa lên ngôi năm 1848 là ra ngay một dụ cấm đạo, và năm 1851 lại có thểm một dụ cấm đạo khác khắc nghiệt hơn nữa. Mải tới năm 1862, sau khi phải kư hiệp ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, triều đ́nh nhà Nguyễn mới chính thức công nhận quyền giảng đạo và theo đạo.
Tuy triều đ́nh chấp nhận ngoài mặt như vậy nhưng việc cấm đạo vẫn tiếp tục trên thực tế do các nhóm Văn Thân chủ trương. Sau hiệp ước Giáp Tuất, vua Tự Đức phải ra dụ truyền cho đảng Văn Thân không được giết hại giáo dân nữa, nhưng họ vẫn tiếp tục, bất chấp cả lệnh vua. Việc cấm đạo đă tạo ra một cuộc nội chiến giữa các toán quân Văn Thân đánh phá các làng đạo và dân Công Giáo cố thủ để tự vệ.
Từ khi vua Minh Mạng cấm đạo năm 1825 đến năm 1858, khi Pháp bắt đầu đánh Việt nam, 33 năm đă trôi qua. Trong thời gian ấy người Pháp, và cả người Tây Ban Nha, tuy rất bất b́nh về việc cấm đạo vẫn c̣n do dự không muốn gây chiến với Việt nam. Các tài liệu của người Pháp về giai đoạn này khá đầy đủ và cho thấy chính phủ Pháp đă chịu rất nhiều áp lực của dư luận Pháp, phẫn nộ trước việc cấm đạo và đ̣i can thiệp.
Chính quyền Hoa Kỳ cũng đă đem một chiến thuyền tới làm áp lực gay gắt đ̣i bỏ dụ cấm đạo, nhưng rồi lại đi dù không kết quả. Tuy vậy, năm 1856, chính phủ Pháp chỉ cử chiến hạm Catinat đến đ̣i bỏ dụ cấm đạo. Vua quan ta không chịu tiếp. Tàu Catinat bắn phá Đà Nẵng cảnh cáo rồi bỏ đi. Mấy tháng sau, họ lại quay lại xin bỏ cấm đạo, quan quân nhà Nguyễn đă không coi sự cảnh cáo trước đây là nghiêm trọng c̣n lên mặt đ̣i Pháp phải xin lỗi. Họ xin lỗi, nhà Nguyễn vẫn cứ tiếp tục cấm đạo. Vào lúc đó, người Pháp nhận thấy rằng không c̣n giải pháp nào khác: hoặc họ phải để nhà Nguyễn tiếp tục tàn sát người Công Giáo trước sự công phân ngày càng lẽn cao của dư luận quần chúng Pháp, hoặc họ phải dùng vơ lực thực sự. Việc dùng vơ lực vừa dễ v́ nhà Nguyễn tuy hung bạo nhưng lại không có lực lượng nào đáng kể lại vừa phù hợp với quyền lợi thương mại của Pháp nên cuối cùng Pháp đi đến quyết định đánh Việt nam.
Năm 1858, Pháp liên kết với Tây Ban Nha đem chiến thuyền bắn phá và đổ bộ đánh chiếm Đà Nẵng rồi sau đó quay vào Nam đánh chiếm Nam Kỳ. Năm 1860, t́nh h́nh đă nguy ngập lắm, Pháp đang đánh Nam Kỳ mà vua Tự Đức vẫn chỉ lo cấm đạo. Lại một dụ khác. Lần này nhà Nguyễn ra lệnh phá tất cả các làng Công Giáo, bắt giáo dân thích hai chữ tà đạo vào mặt rồi phân phối đi các làng khác. Cứ năm người không có đạo được cử canh giữ một người có đạo. Thế rồi năm 1862 triều đ́nh phải kư hiệp ước nhường đứt ba tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn cho Pháp, phải bỏ dụ cấm đạo và bồi thường chiến tranh nặng nề cho Pháp. Chẳng bao lâu sau, Pháp lấy nốt ba tỉnh miền Tây Nam Phan. Sự mù quáng của vua quan nhà Nguyễn đă làm mất đi miền trù phú nhất của đất nước.
Dù đă bị thiệt hại nặng nề, vua quan nhà Nguyễn vẫn chưa sáng mắt ra để nắm lấy một hy vọng cuối cùng. Nước Pháp, sau khi chiếm được Nam Kỳ, đă thỏa măn và có ư ổn định t́nh thế ở đó. Năm 1872, có vụ Francis Garnier ra Bắc lộng hành rồi bị quân Cờ Đen giết chết, nhưng việc đó không nằm trong chính sách can thiệp của chính phủ Pháp. Nước Pháp muốn ḥa nên đă kư với triều Nguyễn hiệp ước Giáp Tuất (1874), với những điều khoản tương đối có lợi cho Việt nam, trong đó có cả không điều khoản giúp cho Việt nam 5 chiến hạm với đầy đủ súng đạn và 1.000 khẩu súng. Pháp c̣n cam kết gởi huấn luyện viên giúp Việt nam đào tạo quân đội.
Chỉ cần sáng suốt một chút thôi triều Nguyễn đă phải hiểu rằng ḿnh hoàn toàn không đủ sức để chống lại với Pháp, chọn lựa duy nhất là khai dụng triệt để hiệp ước Giáp Tuất để gia tăng sức mạnh, khi nào có sức mạnh rồi mọi việc sẽ trở thành dễ dàng, kể cả việc lấy lại Nam Kỳ. Nhưng triều đ́nh Nguyễn lại phá hoại hiệp ước Giáp Tuất, kiếm đủ cách để làm khó dễ. Đến sứ thần Pháp xin yết kiến vua mấy lần cũng không cho. Để rồi di đến đâu? Chín năm sau (1883) phải kư hiệp ước chấp nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lănh thổ, và từ đó ngay việc lên ngôi của vua cũng phải được Pháp cho phép và tấn phong. Nước ta hoàn toàn mất chủ quyền. Ngôi vua của nhà Nguyễn chỉ c̣n là hư vị.
Ai đọc những trang sử này mà không thấy giận cho sự mù quáng kinh khủng của vua quan nhà Nguyễn? Vua quan chỉ biết ngâm vịnh, kiến thức không ngoài Tứ Thư, Ngũ Kinh, Nghiêu Thuấn, Xuân Thu, Tam Quốc. Sử gia Trần Trọng Kim than: Việc mấy ngh́n năm trước cứ đem làm gương cho thời hiện tại rồi cứ nghễu nghện xưng ḿnh là hơn người, cho thiên hạ là dă man? Biết bao nhiêu người đă dâng sớ canh tân mà không được nghe, thấy nước mất chắc chắn mà không làm ǵ được. Ngày nay nhớ lại quăng thời gian đó ta cũng không khỏi bùi ngùi cho những Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điều, Nguyễn Hiệp, Lê Đ́nh, Phan Liêm, Bùi Viện. Có lẽ họ chết không nhắm mắt được.
Nhưng có phải quả thực là vua quan nhà Nguyễn ngu dốt, hèn nhát như nhiều người vẫn phê phán hay không? Điều đáng buồn là không, các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức không phải là những hôn quân, bạo chúa. Trừ những sai lầm trong cách giao tiếp với người Phương Tây, những biện pháp khác của họ không phải là dở. Mặc dầu gặp rất nhiều khó khăn, văn học của ta chưa bao giờ thịnh bằng thời Nguyễn. ở vào một thời đại khác, các vị vua ấy, nhất là vua Tự Đức, có thể đă là những bậc anh quân.
Nhà Nguyễn cũng không thiếu những bầy tôi có tài lương đống: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Kế Viêm, Phạm Đăng Quế, Nguyễn Đ́nh Giản, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản, Trần Đ́nh Túc, v. v... ở một thời đại khác chắc các vị này đă để tên trong lịch sử như những con người lỗi lạc tận trung báo quốc. Điều đă khiến các vua nhà Nguyễn và các đại thần thất bại là họ không ư thức được rằng thế giới đă thay đổi và họ đang sống trong một khúc quanh lịch sử lớn. Những cố gắng và hy sinh của họ đều đă vô ích chỉ v́ không c̣n hợp thời nữa. Lên án họ là mù quáng, thiển cận th́ cũng đúng thôi, nhưng họ có phải là nhưng con người thiển cận một cách bất thường hay không?
Tôi nghĩ là không. Thiển cận và thiếu giác quan về chuyển hóa và thời đại không phải là của riêng họ, mà là một hằng số của chính trị Việt nam. Chúng ta không có tư tưởng, và càng không có tư tưởng chính trị. Và h́nh như chúng ta vẫn chưa thức tỉnh để nhận ra điều đó.
Các vua quan nhà Nguyễn quả là không hiểu ǵ về thời thế. Sức mạnh áp đảo của người Pháp đă quá rơ rệt mà họ cứ ngoan cố chống lại và đôi khi c̣n khiêu khích. Đi từ thất bại này đến thết bại khác phải chấp nhận ngày hôm nay những nhượng bộ bốn lần lớn hơn nhưng ǵ mà dối phương đ̣i hỏi ngày hôm qua mà họ vẫn không mở mắt. Nước Tàu đă khốn khó, bị đánh tả tơi mà triều đ́nh Nguyễn vẫn tôn sùng và tin là có thể nhờ cậy được. Giặc ngoài đáng sợ như vậy mà cứ quay về đàn áp những người dân Công Giáo bên trong. Sự thiển cận của họ thật là kinh khủng, nhưng nó cũng khó so sánh được với sự thiển cận của các lực lượng chống cộng hải ngoại sau 1975.
Rơ ràng là sau năm 1975 không thể có giải pháp vơ trang nữa nhưng tổ chức nào cũng chủ chiến, cũng hô hào bạo lực. Sự mê muội của triều đ́nh Nguyễn khi trông đợi vào nước Trung Hoa đă suy kiệt có lẽ không lớn bằng sự mê muội của chủ trương tái lập chế độ Việt nam Cộng Ḥa đă chết hẳn rồi, và đă chết một cách thực hổ nhục. Thái độ châu chấu đá voi của triều Nguyễn chống Pháp tới cùng xét ra không lố bịch bằng thái độ của những người đă thảm bại và thua chạy nhưng vẫn nhất định đ̣i những người cộng sản phải tỉnh ngộ quay về với chính nghĩa quốc gia. Vua quan nhà Nguyễn tuy thủ cựu nhưng cũng không ngược đăi những người chủ trương canh tân bằng các lực lượng chống cộng đối xử với những người chủ trương dân chủ đa nguyên, ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, bất bạo động. Nếu vấn đề đặt ra cho triều Nguyễn lúc đó là canh tân, tôn trọng lự do tín ngưỡng, tránh đụng độ với người Pháp để tập trung mọi cố gắng mà tiến lên và mạnh lên, th́ vấn đề của đối lập Việt Nam sau 1975 là phải tận dụng sự thức lỉnh của những người cộng sản tiến bộ để ḥa giải với họ và cùng họ h́nh thành một kết hợp dân chủ mới. Cùng một vấn dề và cũng cùng một thái độ cố chấp. Ngày nay có hơn ǵ ngày xưa đâu. Chỉ khác ở chỗ các vua quan nhà Nguyễn c̣n có thể hưởng sự giảm khinh v́ họ không được nh́n thấy thế giới bên ngoài.
Chính quyền cộng sản có sáng suốt ǵ hơn vua quan nhà Nguyễn không? Ngày hôm nay vấn đề là bảo vệ chủ quyền dân tộc, đoàn kết dân tộc để phát triển đất nước. Nhưng họ đă làm ǵ? Họ đă cố bám lấy chủ nghĩa Mác-Lênin như nhà Nguyễn ngày xưa cố bám vào Nho Giáo. Họ quy luỵ trước một Trung Quốc đang bối rối như các vua nhà Nguyễn quỵ lụy với Thiên Triều đang khốn khổ ngày xưa. Họ bách hại những người dân chủ như các vua Nguyễn ngày xưa cấm đạo. Và họ cũng cấm đạo thực sự. Họ đàn áp Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo. Họ có khác ǵ nhà Nguyễn? Có khác chăng là ở chỗ các vua Nguyễn không có đủ phương tiện, không có báo chí, radio, truyền h́nh, không có các ṭa đại sứ ở khắp nơi để thấy được sự thay đổi của thế giới như họ.
Nhưng sự thiển cận không phải là tất cả. C̣n một lư do khác khó chấp nhận hơn. Nếu thực sự yêu nước, nếu suy nghĩ một cách lương thiện về quyền lợi của đất nước và chỉ quan tâm tới quyền lợi của đất nước mà thôi, th́ đường đi về tương lai không có ǵ khó, tất cả mọi vấn đề trở thành sáng sủa. Nhưng một lần nữa, phải nh́n nhận ràng đại đa số chúng ta bất chấp đất nước. Ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta yêu nước th́ thực ra chúng ta đang yêu một cái ǵ khác. Chúng ta yêu chỗ đứng, quyền lợi hay ḷng tự ái của chúng ta. Chúng ta yêu các thành kiến của chúng ta mà chúng ta cho là ư kiến, chúng ta yêu sự cố chấp của chúng ta mà chúng ta tạm coi là sự kiên tŕ. Chúng ta yêu chính ḿnh và yêu sự mê muội của ḿnh.
Chấp nhất kỷ chi kiến giá họa ư tha nhân, chỉ biết ư kiến ḿnh mà thôi, lúc nào cũng sẵn sàng buộc tội người khác. Câu viết lạc lơng của Nguyễn Trăi trong bài B́nh Ngô Đại Cáo vô t́nh nói lên nhận định của ông về con người Việt nam. Gần sáu thế kỷ đă trôi qua rồi mà sao Nguyễn Trăi vẫn c̣n đương thời đến thế.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Dắt d́u nhau vào đến Cà Mau

 

Tấm áo nâu,
Dắt d́u nhau vào chốn rừng sâu,
Dắt d́u nhau vào tới Cà Mau.
Phạm Duy (T́nh Ca)
Đại đa số người Việt nam nh́n nhận ông cha ḿnh đă tiêu diệt Chiêm Thành và lấn chiếm Cam-bốt. Sự nh́n nhận này đi đôi với một mặc cảm phạm tội. Tôi đă nghe nhiều người than Ông cha ḿnh kể ra cũng ác thực!. Tội ác của Việt nam đối với Chiêm Thành được coi là ghê gớm gấp nhiều lần đối với Cam-bốt v́ Cam- bốt chỉ bị mất đất đai trong khi Chiêm Thành bị tuyệt diệt. Tháng 4 năm 1975 một đồng nghiệp, bàn về cuộc thảm bại của Việt nam Cộng Ḥa và cuộc tháo chạy đẫm máu của dân và quân miền Nam trên quốc lộ 7B tại miền Trung, nói với tôi: Đó là vua Chàm báo thù người Việt!. Vua Chàm theo ngôn ngữ của anh là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, bởi v́ ông Thiệu người Phan Rang, trung tâm chính trị của nước Chiêm Thành trước đây, nơi mà hiện nay vẫn c̣n Tháp Chàm, một công tŕnh lớn của người Chiêm Thành.
Năm 1989, tôi có được mời tham dự một cuộc hội thảo quốc tế tại Paris về vấn đề Cam-bốt. Theo chương tŕnh nghị sự th́ mục đích của cuộc hội thảo là vấn đề Việt nam chiếm đóng Cam-bốt và những giải pháp cho cuộc khủng hoảng này. Tuy vậy cuộc hội thảo đă mau chóng biến thành một diễn đàn chống Việt nam, chống nước Việt nam và người Việt nam, chứ không phải chỉ chống chính quyền cộng sản Việt nam. Việt nam được mô tả như một dân tộc hiếu chiến và bành trướng, đă tàn sát dân tộc Chiêm Thành, chiếm đất đai của Cam-bốt và hiện đang âm mưu tiêu diệt Cam-bốt và Lào. Hiện diện trong hội nghị có đại diện các tổ chức đối lập Cam-bốt và nhiều chuyên gia Pháp về Đông Dương. Lúc đó cuộc chiếm đóng Cam-bốt của quân Việt nam đă kéo dài hơn mười năm. Các tổ chức đối lập Cam-bốt dĩ nhiên giành nhau chức vô địch chống Việt nam, nhưng các chuyên gia Pháp về Đông Dương cũng không nói ǵ khác, họ đều cảnh tỉnh người Cam-bốt hăy đoàn kết chống lại nguy cơ thôn tính của Việt nam mà họ coi là thường trực. Mặc dầu ngày hôm đó tôi được mời thuyết tŕnh với tư cách một chuyên viên kinh tế và đề tài của tôi là nhận định về những khả năng phát triển của Cam-bốt, tôi đă cảm thấy phải lên tiếng bác bỏ những ngộ nhận quá lớn về lịch sử cuộc nam tiến của người Việt. Tôi đưa ra một số sự kiện và yêu cầu các chuyên gia về Đông Dương có mặt trong pḥng hội đóng góp. Dĩ nhiên buổi hội thảo đă trở nên rất gay go, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên là các chuyên gia khẳng định bản tính xâm lược của người Việt đă chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về cuộc nam tiến của dân tộc ta. Bản tính xâm lược hiếu chiến của người Việt chỉ là một thành kiến chứ không phải một nhận định nghiêm chỉnh dựa trên tư liệu. Điều đáng nói là thành kiến này đa số người Việt nam cũng chia sẻ, v́ chúng ta đă chịu quá nhiều ảnh hường của những luận điệu được lập lại nhiều lần trong suốt thời pháp thuộc.
Chúng ta cần nhận thức rơ cuộc nam tiến của dân tộc ta v́ hai lư do: một là v́ đó là sự kiện rất vĩ đại đối với chúng ta, hơn một nửa lănh thổ của ta đă có được nhờ cuộc nam tiến đó; hai là v́ chúng ta cần chấm dứt một mặc cảm tội lôi không đúng.
Trước hết hăy nh́n lại trường hợp của nước Chiêm Thành. Sự đụng độ giữa nước Việt nam cổ xưa (với các quốc hiệu Văn Lang, Giao Châu, rồi Đại Việt) với Chiêm Thành đă diễn ra ngay từ lúc Việt nam chưa thực sự thành một quốc gia độc lập. Đó là sự đụng độ giữa hai nền văn minh. Một bên là văn minh Nho Giáo và nông nghiệp dưới ảnh hưởng Trung Hoa, một bên là văn minh ấn Độ dựa trên hai giai cấp tăng sĩ và chiến binh. Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, h́nh như lúc nào cũng có chiến tranh giữa quận Giao Chỉ thuộc Trung Quốc và nước Chiêm Thành. Từ khi Việt nam được độc lập, trong các triều đại kế tiếp nhau, Lư, Trần, Hậu Lê, Nguyễn, chiến tranh Việt-Chiêm là một hằng số. Lịch sử các triều đại Việt nam thường chỉ ghi vắn tắt kiểu Năm..., quân Chiêm Thành sang quấy phá, vua sai... Đi tiễu trừ, quân ta chiếm được... .
Cũng có đôi khi sử ta ghi lư do là v́ Chiêm Thành bỏ lệ triều cống. Nguyên nhân của những cuộc chiến liên tiếp gần hai ngàn năm này do đâu? Nếu dựa vào lịch sử Việt nam th́ thường thường là do Chiêm Thành gây hấn trước. Mặc dầu vào các thời đại đó đánh Chiêm Thành là một lẽ thường không cần ǵ phải biện bạch, và do đó các sử gia không có lư do ǵ để xuyên tạc nguyên do, nhưng không thể lấy sử Việt nam làm sự thực tuyệt đối. Nền văn minh ấn Độ hồi đó lấy thần linh và chiến tranh làm nền tảng, nước Chiêm Thành coi chiến tranh là lư tưởng nên có thể họ gây chiến thường hơn, nhưng đó chỉ là suy luận. Xung đột Đại Việt - Chiêm Thành ngày nay đă thuộc hẳn vào quá khứ, cả Đại Việt lẫn Chiêm Thành đều đă là những nhân tố lịch sử cấu tạo ra nước Việt Nam ngày nay. Người Việt nam ngày nay không có lư đo ǵ để bênh bên này hay bên kia cả. Tất cả đều đă thuộc vào gia phả của chúng ta. Nhận định chỉ có mục đích để hiểu.
Vấn đề là qua cả ngàn năm đụng độ, Chiêm Thành và Đại Việt đă trở thành hai quốc gia không thể sống chung, chỉ một quốc gia có thể tồn tại và nước nào yếu sẽ bị tiêu diệt. Đó đă có thể là số phận của Đại Việt, nhưng đó đă là số phận của Chiêm Thành. Cái lư một mất một c̣n có lẽ mọi người đều hiểu. Nhưng điều nghiêm trọng là nhiều người, kể cả người Việt nam, cho rằng người Việt có tội đă tàn sát và diệt chủng người Chiêm Thành. Điều này trước hết rất vô lư. Giả thử Đại Việt có tiêu diệt Chiêm Thành thực đi nữa th́ một người Việt nam hôm nay làm sao biết ḿnh có bao nhiêu phần trăm gốc Việt, bao nhiêu phần trăm gốc Chàm, hay bao nhiêu phần trăm gốc Hoa, gốc Miên, v.v... Để biết ḿnh là tội phạm hay là nạn nhân. Điều này cũng hoàn toàn không được lịch sử chứng minh. Lịch sử ta có ghi lại nhiều cuộc tàn sát đă man trong nhiều lần chinh chiến qua nhiều thời đại vào lúc nước Chiêm Thành hăy c̣n nhưng không hề ghi chép một cuộc tàn sát sau cùng nào đưa đến sự diệt chủng của người Chiêm Thành.
Theo lư luận th́ cũng không thể có việc diệt chủng. Cuộc chinh phục Chiêm Thành trở thành dồn dập trong thế kỷ chót của nước này, nghĩa là thế kỷ 17, dưới thời các chúa Nguyễn. Các chúa Nguyễn đem được bao nhiêu dân từ ngoài Bắc vào khai phá Đàng Trong? Chắc chắn là không nhiều lắm, bởi v́ ở thời đại ấy một con số khoảng một trăm ngàn người nhất định đă phải tạo ra một cuộc di dân rất qui mô được ghi chép lại. Nhưng lịch sử lại không hề nói tới một cuộc di dân lớn nào. Và từ thế kỷ thứ 17 trở đi, hai họ Trịnh - Nguyễn giao tranh với nhau, việc di dân vào Nam chắc chắn là rất khó khăn nếu có những người tiếp tục vào Nam th́ cũng chỉ là nhưng chuyến đi lẻ tẻ. Dù ước lượng một cách rộng răi tới đâu đi nữa th́ người Việt từ Bắc vào khai phá đất Chiêm Thành từ thế kỷ 17 về sau cũng không thể quá một trăm ngàn người. Thực ra cuộc di dân đă bắt đầu từ rất lâu trước Nguyễn Hoàng. Dưới triều Lê Thánh Tông, người Việt đă vào tới Nha Trang. Nhưng đây chỉ là nhưng đợt di dân rất lẻ tẻ. Nếu chỉ dựa vào người Việt di cư hoặc đă định cư ở Đàng Trong th́ các chúa Nguyễn nhất định không đương đầu được với họ Trịnh. Chắc chắn phải có sự ḥa nhập giữa người Việt di dân và người Chàm tại chỗ. Sự ḥa nhập này đă diễn ra một cách liên tục và âm thầm từ thế kỷ 11, nó đă chỉ tăng vận tốc dưới thời các chúa và vua họ Nguyễn. Một sự kiện đă được ghi nhận trong lịch sử là vua Minh Mạng đă từng bắt tất cả người Chàm phải mặc quần áo như người Việt và lấy họ Việt, nhất là họ Nguyễn. Biện pháp thô bạo này ít nhất chứng tỏ rằng không có sự tàn sát mà chỉ có sự ḥa nhập, dù là ḥa nhập bằng đồng hóa. Sự ḥa nhập này cũng có thể nhận thấy ở ngay giọng nói của người miền Trung. Sự ḥa nhập liên tục trên một qui mô lớn đă khiến Đàng Trong của các chúa Nguyễn có đủ người để vừa khai khẩn miền Trung vừa khai phá miền Nam.
Trong sự ḥa nhập này, chắc chắn người Chàm chiếm đa số, nhưng nó đă được coi như một sự Việt hóa bởi v́ người Việt, kẻ chiến thăng, chiếm tất cả mọi vai tṛ lănh đạo và áp đặt văn hóa, nếp sống của ḿnh. Dần dần trọng lượng Việt tăng cao v́ hai lư do. Lư do đầu tiên là điều mà một số nhà xă hội học gọi là định luật của đất: mỗi vùng đất tùy mức độ ph́ nhiêu và trong một điều kiện sinh sống nào đó có mật độ dân số riêng, dân số ít sẽ gia tăng mau chóng để đạt tới mức đó rồi khựng lại. Người di dân Việt nam và người Việt gốc Chàm chiếm được những vùng đất canh tác tốt nên sinh sản mau chóng hơn người Chàm thuần túy bị dồn vào rừng núi. Lư do thứ hai là sự Việt hóa càng ngày càng toàn diện do sự áp đặt văn hóa và nếp sống của kẻ chiến thắng.
Những người mà chúng ta gọi là người Chàm hiện nay chỉ là một phần của dân Chiêm Thành, gồm những người bất khuất không chịu sự đồng hóa của người Việt đă di tản vào miền rừng núi hiểm trở, và ở đó họ cũng chịu định luật của đất: thủy thổ đó, ở mức độ văn minh đó chỉ có đất sống cho từng đó người. Dân số của họ sút giảm đi với thời gian.
Dầu sao th́ hiện nay cuộc tranh căi về sự biến mất của nước Chiêm Thành cũng không c̣n là một đề tài thời sự nữa. Vấn đề đặt ra là đảm nhận sự ḥa nhập đó, một sự hội nhập bất công đối với người Chiêm Thành vào giai đoạn đó, dù giải thích thế nào đi nữa chúng ta cần t́m ra một thái độ đứng đắn trong khi nh́n lại vấn đề Chiêm Thành. Những người Chàm đă mất hay c̣n sống, đă hội nhập hay chưa hội nhập phải được coi là những con người thực sự của đất nước Việt nam. Lịch sử nước Chiêm Thành, cũng như lịch sử Văn Lang, Giao Châu, Đại Việt phải được coi là lịch sử của Việt. Nam. Phạm Hùng, Chế Mân, Chế Bồng Nga phải được coi là các vị vua của Việt nam ngày xưa. Văn hóa Chiêm Thành cần được sưu tầm và ǵn giữ như là tài sản của đất nước Việt nam. Vấn đề Chiêm Thành ngày nay đă trở thành một vấn đề hoàn toàn Việt nam. Người Việt nam cần nh́n và đảm nhận lịch sử của chính ḿnh một cách đúng đắn.
Đó cũng là một vấn đề hoàn toàn nằm trong chính sách đối nội của chúng ta, không giống như việc khai phá và hội nhập đất Chân Lạp.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Cướp đất của ai?

 

Các sử gia và các nhà b́nh luận vô t́nh hay cố ư đă làm cho nhiều người, Việt nam cũng như ngoại quốc, quên rằng miền Nam Việt nam đă được mở ra chủ yếu do một cuộc di dân ḥa b́nh để khai phá đất hoang chứ không phải do một cuộc lấn chiếm bằng bạo lực bờ cơi sẵn có của một nước Cam-bốt hiền ḥa.
Trong thâm tâm, đa số người Việt nam nh́n nhận như một sự thực không cần chứng minh rằng Việt nam có lỗi với Cam-bốt. Những vụ cáp dồn (tiếng Khmer có nghĩa là chém đầu người Việt) dù có gây ra nhiều phẫn nộ cũng không làm thay đổi được mặc cảm này. Đây là một trường hợp điển h́nh chứng tỏ phải coi chừng những sự thực không cần chứng minh. Trái với một cảm tưởng rất lan tràn, Cam-bốt không phải là đất nước của những con người hiền ḥa, nạn nhân của những tham vọng bành trướng và thống trị từ lân bang. Có thể nói đất nước Cam-bốt đă ra đời bằng bạo lực, đă trưởng thành trong bạo lực và đă suy tàn v́ bạo lực.
Được bồi đắp từ ḷng biển do phù sa sông Cửu Long, vùng đất gồm nước Cam-bốt và miền Nam Việt nam mới đầu thuộc đế quốc Phù Nam với những sắc dân đến từ biển, nhất là từ Indonesia và từ ấn Độ qua ngả Miến Điện và Thái Lan. Phù Nam đă mau chóng biến thành một đế quốc hiếu chiến. Vào thế kỷ thứ 7, người Khmer, một sắc dân theo văn minh ấn Độ, từ miền Nam Lào tràn xuống tiêu diệt đế quốc Phù Nam và dần dần khắc phục các sắc dân địa phương, chiếm quyền bá chủ trong vùng để lập ra đế quốc Khmer. Đế quốc Khmer c̣n tỏ ra hiếu chiến và bạo ngược hơn hẳn đế quốc Phù Nam. Đế quốc Khmer đă chế ngự được cả một vùng rộng lớn bao gồm cả Thái Lan, một phần Miến Điện và cả miền Nam Việt nam. Vào thế kỷ 12 đế quốc Khmer c̣n bành trướng về phía Bắc, chiếm gần hết đất Chiêm Thành, đến tận đèo Hải Vân của Việt nam hiện nay. Nhưng lănh thổ thực sự của nó tập trung ở vùng Angkor. Nhưng đền đài Angkor không phải chỉ là dấu tích của một nền văn minh mà trước hết là di tích của sự tàn bạo. Những sử liệu ít ỏi c̣n lại, mà đặc sắc nhất là kư ức của Chu Tá Quan, một sứ giả của nhà Nguyễn có mặt tại Cam-bốt, mô tả cảnh những người nô lệ bị xiềng xích vào nhau để xây đền đài dưới sự điều động tàn bạo của các tăng sĩ và chiến sĩ Khmer. Họ phải lao lực đến kiệt sức và khi chết thi hài được lôi ra làm thức ăn cho cầm thú. Từ thế kỷ 13 trở đi, người Thái Lan bắt đầu tiến lên, sức mạnh của họ đă dần dần bắt kịp và vượt người Khmer. Họ giành được độc lập rồi tiến đánh trả thù người Khmer trong hàng thế kỷ đă bắt họ làm nô lệ xây đèn đài cung điện. Họ đă hủy diệt đế quốc Khmer, tàn phá Angkor Vát và bắt người Khmer về làm nô lệ xây đền đài cho họ. Nền văn minh Angkor cáo chung vào năm 1431 với sự phá hủy lần cuối cùng thủ đô Angkor. Đế quốc Khmer xây dựng trên sự tàn bạo đă sụp đổ trong sự tàn bạo. Sự tàn phá và tàn sát của người Thái Lan đă khủng khiếp đến độ tất cả dấu tích đồ sộ của trung tâm Angkor bị ch́m mất trong rừng sâu và không một nhân chứng nào sống sót để nhớ lại sự hiện hữu của nó. Phải đợi đến năm 1850, một nhà khảo cứu Pháp mới t́nh cờ khám phá lại di tích Angkor mà ngay những người Cam-bốt cách đó hai trăm cây số không hề biết đến nữa.
Kể từ 1431 chung quanh Phnom Penh chỉ c̣n lại một triều đại Chân Lạp yếu nhược với ảnh hưởng không đáng kể trên những vùng đất trước kia thuộc ảnh hưởng của đế quốc Khmer. Cuộc nam tiến của người Việt đă đến rất lâu sau khi vùng đất miền Nam trở thành vô chủ. Những người Việt đầu tiên khai phá miền Nam không phải là những đạo quân viễn chinh mà phần lớn là những người nông dân nghèo khổ, chạy trốn cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn. Từ năm 1623 trở đi, trong khoảng một thế kỷ rưởi, Việt nam đă sát nhập nhiều vùng đất mới ở phía Nam. Những những sát nhập hành chánh này chỉ là sự hợp thức hóa một thực tại; những phần đất ấy từ lâu đă do người Việt sinh sống và khai thác. Cuộc nam tiến của nước ta chủ yếu là một sự bành trướng trong ḥa b́nh. Sự mở mang lănh thổ Việt nam đă chấm dứt khi anh em Tây Sơn nổi lên năm 1771 và Việt nam bắt đầu lâm vào nội chiến. Vua Sihanouk, bằng thái độ và bằng hành động của ông, lập lại y hệt h́nh ảnh của những vị vua Chân Lạp trong hai thế kỷ 17 và 18. Sihanouk trở mặt như chong chóng và đổi đồng minh như thay áo, ông được nhiều nhà b́nh luận chính trị phương Tây coi là khôn ngoan và mưu lược, nhưng tài trí của ông đă chỉ khiến nước Cam-bốt phải chịu những tàn phá kinh khủng nhất.
Các vị vua Chân Lạp, tổ tiên của Sihanouk, cũng đă cư xử không khác ǵ ông. Một vị vua Chân Lạp có thể ngày hôm nay cầu viện Việt nam để tranh ngôi vua với một người anh em họ, để rồi ngày mai lại cầu viện Thái Lan chống lại Việt nam và ít lâu sau thần phục Việt nam chống lại Thái Lan. Mỗi lần cầu viện ngoại bang họ đầu dâng lễ vật hay dâng đất. Việc dâng đất đối với họ không có ǵ là quan trọng v́ trên thực tế đó là những vùng đất mà họ đă mất chủ quyền từ lâu. Việc dâng đất chỉ có nghĩa là nh́n nhận một thực lại và cam kết sẽ không quấy nhiễu. Một câu hỏi có thể được đặt ra là tại sao người Cam-bốt lại thù ghét Việt nam hơn Thái Lan, trong khi Thái Lan đă xung đột nhiều hơn với Cam-bốt, đă sát nhập nhiều đất của Cam-bốt hơn, đă từng tàn sát người Cam-bốt một cách dă man, và nhất là đă tiêu diệt đế quốc Khmer?
Trước hết là sự xung đột giữa hai nền văn minh ấn Độ và Trung Hoa. Người Cam-bốt và người Thái Lan cùng chịu ảnh hưởng của văn minh ấn Độ nên dù đă có cả một quá khứ xung đột vô cùng đẫm máu họ ván thấy gần gũi với nhau trong khi người Việt nam, thuộc ảnh hưởng văn minh Trung Hoa, đối với họ là những kẻ lạ mặt. Nhưng trầm trọng hơn nữa là chính sách chia để trị của chính quyền thuộc địa Pháp. Người Pháp đă tạo ra cái huyền thoại nước Việt nam tham đất và đói đất để biến Việt nam thành một de doạ và một đối tượng thù ghét cho người Cam-bốt.
Trong chiều sâu c̣n một hằng số quan trọng hơn mà ta cần nắm vững khi nhận định về những tương quan giữa nước ta và Cam- bốt: người Cam-bốt rất thực tiễn, họ không đặt nặng những vấn đề văn hóa và lịch sử mà hành động chủ yếu theo những cái lợi trước mắt. Cho tới nay, những người lănh đạo Cam-bốt luôn luôn ḥa hoăn với các quốc gia có thể có ảnh hưởng mạnh lên nước họ và sẵn sàng lấy thái độ thù địch với những quốc gia mà họ nghĩ là không có hay không c̣n khả năng để dọa họ, nếu họ thấy là có lợi. Họ thường có thái độ thù địch đối với Việt nam v́ trong nhiều giai đoạn họ nhận định Việt nam vừa không có lợi ǵ cho họ lại vừa không làm ǵ được họ.
Cũng nên nh́n rô một đặc tính của người Khmer: trong suốt ḍng lịch sử họ luôn luôn phải chịu đựng những chế độ hung bạo cho nên sự hung bạo đă ăn rễ trong dân gian; người Cam-bốt rất dễ bị sách động vào các cuộc thảm sát. Trong một quốc gia khác, nhưng lănh tụ dù khát máu như Pol Pot cũng không thể gây ra một cuộc thảm sát như thế giới đă thấy tại Cam-bốt. Nh́n vào những ǵ người Cam-bốt đă làm với nhau, ta sẽ thấy rằng sự hung bạo của người Cam-bốt không phải là bằng chứng của hận thù, bởi v́ họ hung bạo ngay với đồng bào họ. Do đó không nên coi những vụ thảm sát người Việt tại Cam-bốt như là dấu hiệu của một hận thù không thể vượt qua được.
Một số đông chúng ta không hiểu rơ lịch sử của chính nước ḿnh, nhất là cuộc nam tiến của dân tộc Việt nam, và do đó vẫn c̣n bị ảnh hưởng của luận điệu của chính quyền thuộc địa Pháp, rồi cũng mang mặc cảm tội lỗi đối với Cam-bốt. Chúng ta đừng quên rằng, ngoại trừ một vài qui định hành chánh dưới thời Pháp thuộc không nhất thiết có lợi cho Việt nam, biên giới giữa hai nước không hề thay đổi từ hơn hai thế kỷ qua. Đó là một trong những biên giới ổn định nhất thế giới. Điều này đủ để bảo đảm cho khả năng chung sống ḥa b́nh giữa hai nước. Chúng ta cũng đừng quên rằng về phương diện địa lư Cam-bốt cần Việt nam hơn là Việt nam cần Cam-bốt. Trong tương lai, nếu Cam-bốt gượng dậy được từ thảm kịch hiện nay, họ sẽ không có chọn lựa nào khác là hợp tác chặt chẽ với Việt nam, và lúc đó họ sẽ hợp tác với chúng ta một cách rất nồng nhiệt.
Điều quan trọng trong quan hệ với Cam-bốt là chúng ta cần từ bỏ một mặc cảm tội lỗi không đung để vạch ra một chính sách sống chung trên căn bản tương kính, có lợi cho cả đôi bên. Đối với cuộc nam tiến mở nước của chúng ta, chúng ta cần ghi ân trước hết những hy sinh của những tổ tiên rất khiêm nhường của ta, những tấm áo nâu dắt d́u nhau vào chốn rừng sâu và dắt d́u nhau vào tới Cà Mau. Công mở nước là của họ chứ không phải của các vua chúa và các danh tướng.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Dừng chân nghĩ lại

 

Nhân nói về cuộc nam tiến, cũng cần nhận định rằng lịch sử nước ta có cái ǵ đó thực u uất. Trong suốt quá tŕnh mở nước và dựng nước của ta h́nh như các biến cố trọng đại lúc nào cũng khởi đầu từ những sự không may. Những người Lạc Việt đầu tiên đă từ Trung Hoa xuống miền Nam để tránh sự hà khắc, rồi hội nhập với người tại chỗ để lập ra nước Việt. Cuối thế kỷ 16, Nguyễn Hoàng v́ sợ bị bách hại, đem dân vào Hoành Sơn, cùng với những người di dân Việt đă theo nhau đến đó từ một hai thế kỷ trước hội nhập với người Chiêm Thành mà mở rộng miền Trung. Cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn đă khiến một số đông đảo chạy trốn về phía Nam, tránh sưu cao thuế nặng và tránh cho con cái khỏi bị bắt lính, rồi miền Nam dần dần thành h́nh. Lúc nào cũng theo người Việt chạy trốn một sự bất hạnh rồi vô t́nh đi thêm một bước đường mở nước. Sau năm 1975, chúng ta lại có một bạo quyền khác và v́ đă tựa lưng vào biển cả, đàn chim Việt đă vượt trùng dương, tạo ra cộng đồng người Việt hải ngoại, tỏa sự hiện diện của Việt nam ra khắp thế giới.
Tất cả những biến cố này đều là những biến cố trọng đại và vô cùng ích lợi. Chúng nói lên khả năng phi thường của một dân tộc luôn luôn đủ khôn khéo để biến họa thành phúc. Nhưng đồng thời chúng cũng là một hổ nhục lớn cho những người lănh đạo. Đến bao giờ chúng ta mới có thể chủ động thay v́ chỉ phản ứng trước một t́nh thế bắt buộc? đến bao giờ chúng ta mới có thể có những chuyển biến tốt do chủ ư, xuất phát từ một dự tính lạc quan? Tất cả những câu hỏi này chất vấn những người có chức năng lănh đạo đất nước, nghĩa là những người tri thức.
Đến đây, tôi đă mời độc giả cùng làm một cuộc hành tŕnh khá dài qua lịch sử nước ta, từ lúc lập quốc cho đến khi đạt tới lănh thổ hiện nay. Cuộc hành tŕnh này chỉ có mục đích giúp ta nh́n rơ hơn chúng ta là ai, hay ít nhất đừng hiểu lầm chính ḿnh. Chúng ta đă đi được một đoạn đường khá dài, và vừa đến một trạm xá thuận lợi để tạm dừng chân, ngồi xuống và nghĩ về ḿnh.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Tám mươi năm Pháp thuộc

 

Người Pháp khởi sự bắn phá Đà Nẵng năm 1858 rồi bỏ đi. Vài năm sau họ trở lại với một ư chí chinh phục thực sự. Năm 1862 họ đánh chiếm ba tỉnh miền Tây, sau đó chiếm hoàn toàn miền Nam rồi tiến ra Bắc. Nếu tính từ cột mốc 1862 này đến khi Việt nam tuyên bố độc lập năm 1945 th́ cuộc đô hộ của người Pháp đă kéo dài 83 năm. Tuy nhiên, chỉ từ năm 1884 trở đi sự thống trị của người Pháp mới được thiết lập trên toàn lănh thổ. Nếu lấy cột mốc 1884 th́ cuộc đô hộ của người Pháp kéo dài 61 năm. Thực ra hiệp ước Patenôtre trên lư thuyết cũng không đặt toàn bộ lănh thổ Việt nam dưới ách đô hộ của người Pháp. Nó chia Việt nam làm ba phần. Nam Phần là thuộc địa hẳn hoi của Pháp, Bắc Phần vẫn là lănh thổ của triều đ́nh Nguyễn nhưng đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. C̣n Trung Phần vẫn hoàn toàn thuộc chủ quyền nhà Nguyễn. Nhưng người Pháp đă nhanh chóng lấn chiếm thêm chủ quyền Việt nam trước sự bất lực của triều Nguyễn. Đến năm 1888, vua Thành Thái lên ngôi kư thêm một hiệp ước nhượng bộ nữa, đặt toàn lănh thổ Việt nam dưới sự đô hộ của Pháp. Từ đó người Pháp tha hồ phế lập các vua nhà Nguyễn. Những sự kiện này mọi người đọc qua lịch sử Việt nam đều biết. Sự kiện cần được nhấn mạnh là nói chung, trừ một số sĩ phu bất khuất, người Việt nam đă hoan hô sự thống trị của Pháp, hay ít nhất đă ưa chính quyền thuộc địa Pháp hơn là triều đ́nh nhà Nguyễn. Tại miền Bắc, các cô tôi kể chuyện các bà có thai cố gắng đi vào Hà Nội để để con v́ Hà Nội, không giống như các tỉnh miền Bắc khác, được coi là thuộc địa từ năm 1888 và những người ra sinh ra tại Hà Nội được coi là thần dân Pháp (sujet francais).
Tới đây có lẽ cũng nên mở một ngoặc đơn để nhận xét một đặc tính của người Pháp. Tại sao lại thần dân mà không phải là công dân (citoyen francais)? Lại là một tṛ chơi chữ và phân biệt tinh vi của người Pháp. Người Pháp có biệt tài lấp lửng và mơ hồ để bắt cá hai tay, vừa thủ lợi vừa tránh né trách nhiệm khi cần. Năm 1948 lại vịnh Hạ Long, Pháp thỏa thuận với Bảo Đại để Việt nam được độc lập, nhưng lại bắt buộc Việt nam ở trong khối Liên Hiệp Pháp. B́nh thường ra đă độc lập th́ phải có quyền gia nhập hoặc không gia nhập một khối nào, nhưng chính quyền Pháp đă ràng buộc hai vấn đề với nhau. Pháp thừa nhận Việt nam độc lập, nhưng độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp, có nghĩa là nếu Quốc Gia Việt nam quyết định rút ra khỏi khối Liên Hiệp Pháp th́ Pháp cũng không c̣n nh́n nhận nền độc lập của Việt nam nữa. Người Pháp chia rẽ nhau trên một giải pháp cho Việt nam và họ chọn một giải pháp nửa chừng và mâu thuẫn. Chưa hết, người Pháp c̣n đẩy tṛ chơi chữ đến một mức độ lố bịch, khôi hài. Câu nh́n nhận Việt nam độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp chỉ được viết bằng tiếng Việt chứ không được dịch ra tiếng Pháp trong hiệp ước Hạ Long. Người Pháp không có óc minh bạch của các dân tộc Anglo-saxon. Phải nói ngay rằng trong tiếp xúc với phương Tây ta đă không được tiếp xúc với phần tinh hoa nhất của họ, đó là điều đáng tiếc.
Tuy nhiên, mặc dầu những khổ nhục của t́nh trạng ngoại thuộc tám mươi năm Pháp thuộc đă đem lại cho đất nước ta những tiến bộ rất trọng đại. Đó là giai đoạn mà nước ta phát triển mau chóng nhất. Người Pháp đă xây dựng ra nhiều thành phố lớn, trong đó có hai cảng Hải Pḥng và Sài g̣n, đă xây dựng phần lớn các trục lộ giao thông lớn. Họ cùng đă đem văn hóa, nếp sống, cách tổ chức và những giá trị phương Tây vào đất nước ta. Có thể nói Pháp đă c̣ng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới. Đóng góp của người Pháp cho nước ta không thể chối căi, ngay cả dưới mắt một người Việt nam yêu nước. Năm 1936 khi chính phủ Mặt Trận B́nh Dân Pháp của thủ tướng Lon Blum có ư định trở lại hiệp ước 1884, nghĩa là trả lại miền Bắc và miền Trung cho triều đ́nh Nguyễn họ đă bị ngay những trí thức Việt nam tiến bộ phản đối dữ dội. Các trí thức này không phải không muốn độc lập, nhưng họ không muốn lập lại sự cai trị của triều đ́nh Huế. Không ai, kể cả vua Bảo Đại và các cận thần, ngạc nhiên trước sư phản đối này. Chúng ta đă bị ngoại thuộc nhiều lần trong quá khứ, nhưng lần này là một ngoại thuộc hoàn toàn khác. Từ trước kẻ xâm lăng đến ṿ vét tài sản, tàn phá đất nước và đẩy dân chúng vào cảnh cơ cực.
Làn này kẻ thống trị ngoại bang mở mang đất nước, nâng cao mức sống và trí tuệ của dân ta. ách đô hộ của người Pháp, với sự du nhập của văn hóa và các giá trị phương Tây c̣n có giá trị giải phóng của nó. Chính từ giai đoạn này mà chúng ta hoàn toàn không c̣n lệ thuộc Trung Quốc về mặt chính trị nữa và cũng có luôn khả năng ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đá quá lỗi thời. Không những bảo vệ Việt nam đối với Trung Quốc, người Pháp c̣n đủ sức mạnh để buộc Trung Quốc chấp nhận những thỏa hiệp có lợi cho Việt nam, chẳng hạn như hiệp ước về vịnh Bắc Phần.
Người Pháp c̣n cho Việt nam một cơ hội mở rộng không gian sinh hoạt. Họ thành lập ra Liên Hiệp Đông Dương gồm ba kỳ của Việt nam, Lào và Cam-bốt. Hai nước Lào và Cam-bốt vừa quá ít dân so với Việt nam, lại vừa ở mức độ phát triển thấp hơn nên Đông Dương thực ra là Việt nam. Chỉ trong vài thập niên, phần lớn các công chức cao cấp tại hai nước này đă là người Việt. Điều nghịch lư là sau thế chiến II, khi người Pháp bằng ḷng trả độc lập cho các nước Đông Dương nhưng đ̣i duy tŕ Liên Bang Đông Dương trong khối Liên Hiệp Pháp, chính phủ cách mạng Việt nam, do ông Hồ Chí Minh cầm đầu, đă phản đối dữ dội làm cho hội nghị Đà Lạt năm 1946 thất bại. Dĩ nhiên, tại Hội Nghị Đà Lạt, Pháp c̣n đưa nhiều đ̣i hỏi bắt chẹt khác, thí dụ như đ̣i tách Nam Kỳ ra riêng, nhưng điều đáng để ư là chính phủ Hồ Chí Minh đă phản đối dữ dội Liên Bang Đông Dương mà sau này họ đ̣i lập lại. Điều này chứng tỏ rằng những người làm chính trị của Việt nam thiếu hẳn viễn kiến. Nhiều người Việt nam ngày hôm nay vẫn c̣n tiếc cơ hội đó. Nhưng tiếc hay không cũng là sự đă rồi. Vấn đề là Liên Bang Đông Dương không nên nhắc lại nữa. Nó chỉ gây ngờ vực và lo âu cho hai nước Lào và Cam-bốt đối với Việt nam mà thôi. Điều chúng ta cần mưu t́m là một hợp tác b́nh đẳng trong tinh thần tương kính với hai nước láng giềng này. Một sự hợp tác như thế sẽ có lợi cho cả ba dân tộc. Chính v́ sự thành công của chính quyền thuộc địa Pháp mà thái độ đối với nó đă gây chia rẽ trầm trọng giữa người Việt nam. Có những người cho chế độ thuộc địa Pháp là hay và nên tiếp tục cũng có những người cho rằng độc lập là cần thiết nhưng cần phải tiếp tục hợp tác với người Pháp để mở mang dân trí và dân sinh trước đă, trong số những người này có hai trí thức lỗi lạc nhất đầu thế kỷ 20 là Phan Chu Trinh và Phạm Quỳnh. Sau cùng cũng có những người cho rằng phải đánh đuổi người Pháp để chấm dứt cái nhục bị đô hộ và giành lại chủ quyền ngay tức khắc. Các khuynh hướng này thay v́ thảo luận b́nh tĩnh với nhau đă mạt sát và kết án lẫn nhau. Người này gọi người kia là ngu dốt, người kia gọi người này là phản quốc bán nước.
Vấn đề thực là phức tạp. Điều phức tạp hơn nữa là giữa những người chủ trương giành độc lập ngay tức khắc cũng không có đồng thuận Có những người chỉ chủ trương giành độc lập, nhưng cũng có những người chủ trương đánh đuổi người Pháp để thiết lập một chế độ cộng sản. Và hai khuynh hướng này cũng sẵn sàng tàn sát nhau.
Chúng ta đă không biết ra khỏi ách đô hộ của người Pháp một cách tốt đẹp bởi v́ chúng ta đă thiếu hẳn một đồng thuận dân tộc. Đồng thuận dân tộc không phải là dễ, nó đ̣i hỏi một tư tưởng quốc gia và nó cũng đ̣i hỏi những khuôn mặt uy tín để có thể thuyết phục và qui tụ mọi người trên những chọn lựa quan trọng. Nhưng tư tưởng của chúng ta vốn đă rát kém, nếu không muốn nói là không có ǵ. Tư tưởng Khổng Giáo đă sụp đổ, nhưng thời gian tiếp xúc với phương Tây vẫn c̣n quá ngắn nên chưa xuất hiện được những nhà lư luận mới. Phan Chu Trinh là một nhân vật đă có thể góp phần tốt đẹp vàn cuộc chuyển hóa tư tưởng trọng đại của đất nước ta, nhưng tiếc thay ông đă qua đời quá sớm, năm 1925, lúc mới vừa 52 tuổi

 

Phần 2 Con đường đă qua
Một bài học lịch sử

 

Lư do vẫn thường được viện dẫn để giải thích tại sao chúng ta bị người Pháp thôn tính là: v́ ta thiếu vũ khí và kỹ thuật tói tân. Chúng ta có vẻ hài ḷng với giải thích đó, nhưng khi sự thôn tính đó diên ra một cách quá dễ dàng th́ vũ khí không giải thích tất cả. Vũ khí ngay cả thêm kỹ thuật tổ chức quân đội, cũng không thể giải thích thất bại quá hổ nhục của ta.
Để đánh thành Hà Nội do Nguyễn Tri Phương có chuẩn bị trước để pḥng vệ, người Pháp đă chỉ cần 170 quân và họ hạ thành Hà Nội trong nháy mắt, bắt sống Nguyễn Tri Phương. Lần thứ hai, họ đem một số quân đông gấp ba, gần 500 người, nhưng lần này Hoàng Diệu không kháng cự mà tự tử để quân Pháp chiếm thành. Để chiếm Hải Dương, quân Pháp đă chỉ cần 15 người lính bắn vài phát súng là xong. Quân nhà Nguyễn đă không kháng cự chứ không phải đă thua trận. Tại Ninh B́nh chúng ta c̣n nhục nhă hơn nhiều. Một viên thiếu úy dẫn bảy tên lính tới thành. Tổng đốc Nguyễn Đức Tuân và toàn bộ quân sĩ Việt nam phải hạ khí giới, qú xuống hai bên đường đầu hàng.
Trước đó, Jean Dupuis, một lái buôn với vài tên lính đánh thuê do y tuyển dụng đă có thể làm mưa làm gió mỗi lần đưa tàu buôn ra Bắc. Các quan lại Việt nam tại Hà Nội mỗi khi thấy tàu Dupuis tới gần phải chạy trước, sợ y bắt và nọc ra đánh.
Nếu bảo rằng ta thua v́ không có vũ khí th́ tại sao vài ngàn quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc lại hai lần đánh bại quân Pháp một cách dễ dàng, chém đầu viên chỉ huy Pháp? Mà Lưu Vĩnh Phúc có đánh lén đâu. Trong lần Henri Rivière ra Hà Nội, cũng là lần Pháp đem lực lượng hùng hậu nhất, trên 500 người, Lưu Vĩnh Phúc đem quân đến sát Hà Nội, đóng doanh trại, gởi chiến thư gọi Rivière ra đánh. Cách đối địch này chẳng có ǵ là độc đáo. Henri Rivière đem quân ra. Quân Cờ Đen xông tới tàn sát quân Pháp, chém Henri Rivière, đem bêu đầu. Năm đó là năm 1872.
Trước đó, đầu thế kỷ 19, giữa lúc Pháp hùng mạnh nhất về quân sự, với hoàng đế Napoléon I làm bá chủ cả châu Âu, th́ những người nô lệ da đen trên đảo Haiti nổi dậy thành lập một quốc gia độc lập thách thức đế quốc Pháp. Napoléon I đă cử một hạm đội hùng hậu gồm 86 chiến thuyền và 34.000 lính thủy dưới sự chỉ huy của đô đốc Leclerc, em rể Napoléon I, sang chinh phạt. Dưới quyền đô đốc Leclerc là 13 trung tướng và 27 thiếu tướng. Đạo quân hùng hậu và tinh nhuệ này c̣n mang theo một đàn chó trận được tập luỵện để săn người da đen. Chúng sử dụng những biện pháp cực kỳ tàn bạo, treo cổ, nhận nước cho chết, thả tù nhân cho chó ăn thịt, v.v... Nhưng những người da đen đơn sơ đă chống trả, họ đă đánh tan đạo quân này trong thời gian không đầy hai năm, buộc quân Pháp phải đầu hàng. Lúc đó tổng số người da đen tại Haiti chưa tới nửa triệu người.
Thành tích này thật nổi bật so với Việt nam. Lúc đó chúng ta đă có khoảng xấp xỉ mười triệu dân, đă có một lịch sử dài với nhau quá khứ chống ngoại xâm và mở mang bờ cơi rất oanh liệt. Quân Pháp sang chiếm nước ta cũng chỉ vài ngàn người với phương tiện thô sơ, mỗi lần ra Bắc họ chỉ đem vài trăm lính dưới sự chỉ huy của những sĩ quan trung cấp.
Vũ khí kỹ thuật tổ chức, ngay cả số đông cũng không phải là tất cả. Chúng ta thua, và thua rất nhục nhă, chỉ v́ tinh thần dân tộc của chúng ta không c̣n. Mỗi lần quân Pháp ra đánh Bắc Hà, dân chúng kéo nhau đi xem quân Tây và quân Nam đánh nhau như những người bàng quan. Các vua nhà Nguyễn đă chỉ coi miền Bắc và miền Nam như những vùng đất xa xôi. Các chính sách hà khắc, giết hại công thần, cấm đạo đă làm tan vỡ hoàn toàn đồng thuận dân tộc. Nước Việt nam vào giai đoạn đó chỉ c̣n là một hư cấu và v́ thế nó đă mất hết sức tự vệ.
Từ đó đến nay chúng ta có xây dựng cho ḷng yêu nước mạnh hay không? Một cách ngược đời, giai đoạn Pháp thuộc đă làm tăng trưởng tinh thần quốc gia và ḷng yêu nước. Ba yếu tố đă đóng góp vào sự tăng trưởng này. Một là sự hổ nhục v́ bị đô hộ bởi một số ít thực dân, thuộc một chủng tộc khác và đến từ phương xa, đă gây ra một phản ứng liên đới giữa những người cùng chung ṇi giống và văn hóa. Hai là do tiếp xúc với phương Tây, chúng ta đă tiếp thu được ư thức quốc gia, một ư thức trước đó chúng ta chỉ có một cách mơ hồ và người phương Tây cũng chỉ khám phá trước chúng ta không bao lâu; tôi sẽ c̣n trở lại vấn đề này trong những trang sắp tới. Ba là thời Pháp thuộc đă đem lại phồn vinh, và do đó một sinh lực mới cho cộng đồng dân tộc.
Sức mạnh mới đó đă khiến dân ta quật khởi vùng lên giành chủ quyền. Đảng cộng sản đă vận động được ḷng yêu nước đó để dựa vào chiêu bài giải phóng dân tộc mà tranh đấu cho chủ nghĩa cộng sản và họ cũng đă giáng một đ̣n chí tử vào ḷng yêu nước vừa mới có được một sức mạnh. Lần đầu tiên ở nước ta xuất hiện một lực lượng không kêu gọi đoàn kết dân tộc mà kêu gọi hận thù giữa dân tộc. Tiếng gọi đấu tranh giai cấp về thực chất là một tiếng gọi nội chiến, một tiếng gọi giải thể quốc gia, thay thế tinh thần quốc gia bằng tinh thần giai cấp. Sau đó chính sách toàn trị của họ đă biến đất nước thành của riêng một đảng - như ngày trước nó là của riêng một ḍng vua - và trục xuất đại khối dân tộc khỏi định mệnh đất nước. Đă thế, đảng cầm quyền lại c̣n áp dụng vô số biện pháp phân loại dân chúng và phân biệt đối xử. Những đỗ vỡ và thất vọng kéo dài quá lâu đă làm sụp đổ ḷng yêu nước của người Việt.
Ngày trước, chính sự suy sụp của tinh thần dân tộc đă khiến chúng ta thua một cách hỗ nhục dưới tay người Pháp chứ không phải v́ người Pháp mạnh. Ngày nay cũng chính sự suy sụp tinh thần dân tộc đă khiến chung la không tự giải phóng được khỏi tay đảng cộng sản chứ không phải v́ chế độ cộng sản mạnh. Có những lúc mà những bài học lịch sử thật đáng suy ngẫm.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Soi lại chân dung, ba nét đậm của đất nước

 

Cuốn sách này dĩ nhiên không thể có tham vọng lố bịch là viết lại lịch sử. Nó đă mời độc giả theo ḍng lịch sử mà nghĩ lại một số nhân vật và sự kiện với một dụng ư khác.
Cách mà một dân tộc đánh giá các triều đại và các nhân vật lịch sử nói lên rất nhiều về tâm lư của dân tộc đó. Chính qua cách chọn lựa và tôn vinh các anh hùng mà mỗi dân tộc bộc lộ hon tính của ḿnh.
Một mặt, việc luận công và tội trong lịch sử tùy thuộc ở các giá trị mà mỗi dân tộc đề cao hơn là ở những sự kiện đă thực sự xảy ra, và v́ thế có thể thay đối với thời gian. Một thí dụ là hoàng đế Napoléon I của nước Pháp. Napoléon là một thiên tài về quân sự, đă đánh bại và chế ngự gian hết châu Âu. Ông cũng là một nhân vật hào hoa phong nhă, có sức truyền cảm khó b́ và không những chỉ đem vinh quang quân sự cho nước Pháp, ông c̣n làm ra luật pháp, đặt ra những định chế quan trọng mà nước Pháp tới nay vẫn c̣n ǵn giữ và tự hào. Thời đại của ông cũng để lại những công tŕnh lớn, vĩ đại cả về tầm vóc lẫn mỹ thuật. Có một dạo người Pháp tôn sùng ông như một thần tượng, nhưng ngày nay, nếu được hỏi, ít có người Pháp nào c̣n bày tỏ sự ái mộ với Napoléon. Không phải v́ Napoléon đă thay đổi mà v́ tâm lư và cách nh́n lịch sử của người Pháp đă thay đổi.
Mặt khác, những nhận định và đánh giá rơ ràng là sai lầm mà lại kéo dài quá lâu cũng tố giác sự hời hợi và sự thiếu óc phê phán của một dân tộc.
Đặt lại một số vấn đề lịch sử như vậy cũng là chất vấn tâm lư tập thể của một dân tộc và rà soát lại các giá trị nền tảng, các giá trị đă góp phần quyết định tạo ra số phận của dân tộc đó. Các nhà tư tưởng hiện nay đều đồng ư trên một điểm: tâm lư và các giá trị là tất cả đối với một dân tộc; địa lư, tài nguyên thiên nhiên và ngay cả bối cảnh quốc tế chỉ là thứ yếu. Các dân tộc như Mỹ, Đức, Nhật, dù ở hoàn cảnh nào, dù có bị tàn phá đến đâu cũng vẫn nhanh chóng phục hồi và vươn lên trong khi nhiều dân tộc khác dù được thiên nhiên và hoàn cảnh ưu đăi tới đâu cũng vẫn thua kém. Một dân tộc v́ thế chỉ thay đổi được số phận của ḿnh nếu thay đổi tâm lư và các giá trị, nghĩa là thay đổi văn hóa, thay đổi cách suy nghĩ, hành động và ứng xử.
Cuộc hành tŕnh qua lịch sử mà cuốn sách này mời độc giả cùng đi đă không thoải mái. Tôi hiểu là những phân tích không khoan nhượng đă làm phiền ḷng không ít độc giả. Những ǵ mà chúng ta đă biết hoặc đă tin là một phần của chính chúng ta, và dĩ nhiên chúng ta cảm thấy như bị xúc phạm và bị đả thương khi có người bác bỏ. Tôi mong các độc giả đó hiểu cho rằng chính tôi đă rất đau nhức khi phải xét lại những ǵ mà chính ḿnh trong một thời gian dài đă cho là đúng và lấy làm nền tảng cho nhiều lư luận khác. Nhất là khi tôi phải làm việc đó tự ḿnh và một ḿnh, trong một cuộc xung đột với chính ḿnh.
Nhưng đó là việc phải làm. Chúng ta phải nhận định lại lịch sử để nhận diện lại chính chúng ta và thay đổi số phận của chúng ta. Hoàn cảnh bi đát của chúng ta hiện nay không cho phép chúng ta thỏa mân. Khi chúng ta nh́n lịch sử của ḿnh một cách khác cũng là lúc chúng ta nghĩ về ḿnh một cách khác, để từ đó chấp nhận một cách ứng xử khác và tiến tới một tương lai khác.
Cuộc hành tŕnh này đă dẫn chúng ta tới lịch sử hiện đại, nghĩa là phản lịch sử c̣n đang diễn ra mà chúng ta c̣n có thể tác động. Phần lịch sử này chúng ta sẽ phải đề cập một cách khác. Nhưng tới đây chúng ta đă có thể rút ra một vài nhận định quan trọng.
Một là đất nước ta đă h́nh thành như một phần của Trung Quốc, rồi do hoàn cảnh địa lư mà tách rời ra, nhưng chỉ tách rời về mặt hành chánh chứ không tách rời về mặt văn hóa. Như vậy ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trên chúng ta rất lớn, ngay cả khi chúng ta không ư thức được. Không phải là một sự ngẫu nhiên mà các vua quan nhà Nguyễn vẫn cố bám vào Trung Quốc giữa lúc chính Trung Quốc cũng đang rất khốn đốn. Cũng không phải là một ngẫu nhiên mà sau khi đă bị Pháp đô hộ và đă chịu ảnh hưởng nặng nề của Pháp, Việt nam Quốc Dân Đảng mà những người chủ xướng đều có Tây học, vẫn chủ trương rập khuôn Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Cũng không phải là một ngẫu nhiên mà đảng cộng sản Việt nam luôn lếch thếch chạy theo Đảng cộng sản Trung Quốc, dù có lúc hai bên đă thù ghét nhau thậm tệ. Cho dù thương nhau hay ghét nhau, cùng một văn hóa th́ vẫn cùng một cách hành động. Chúng ta c̣n muốn tiếp tục đi theo và đi sau người Trung Hoa nữa không, hay chúng ta đă nh́n thấy những khuôn mẫu khác và những lộ tŕnh khác tốt đẹp hơn? Nếu không muốn theo mô h́nh Trung Quốc nữa th́ chúng ta cần một cố gắng cởi trói, vượt thoát và khai thông rất trọng đại.
Hai là trong quá tŕnh lịch sử chúng ta đă bị ngoại thuộc nhiều hon là độc lập, chúng ta đă chịu đựng quá nhiều chiến tranh và chỉ được hưởng quá ít hoà b́nh, đă bị chia cắt nhiều hơn thống nhất. Đó là một lịch sử rất chật vật và v́ thế chúng ta là một dân tộc bị chấn thương nặng. Cách suy nghĩ và hành động của chúng ta chắc chắn là không b́nh thường. Do đó cần rất dè dặt trong các phân tích và các dự đoán chính trị. Có những sự kiện đáng lẽ phải xảy ra lại không xảy ra và cũng có những biến cố đáng lẽ không thể có lại vẫn có. Trong nhưng trường hợp như thế, một nhận định b́nh thường, nghĩa là không kể đến t́nh trạng bất b́nh thường của dân tộc ta, rất dễ khiến chúng ta lư luận gượng ép, khen chê một cách sai lạc và gây khó khăn thêm cho sự t́m kiếm một giải pháp đúng đắn. Trong hoàn cảnh phức tạp và khủng hoảng tinh thần này, chúng ta cần rất nhiều b́nh tĩnh và sáng suốt.
Sau cùng, tuy chúng ta có một lịch sử dài nhưng lại là một quốc gia mới h́nh thành xong. Chúng ta đă không ngừng đón nhận nhiều đóng góp về đất đai và chủng tộc. Cấu tạo địa lư và nhân văn của chúng ta mới chỉ rơ rệt từ nửa sau thế kỷ 18. Từ đó đến nay lại là giai đoạn đầy rẫy những thảm kịch nội chiến, ngoại xâm, ngoại thuộc, chia cắt, xung đột ư thức hệ, v. v... Chúng ta là một quốc gia chưa ổn vững, cần được cũng cố, xây dựng và ǵn giữ với tất cả thận trọng, nhất là vào giữa lúc mà ư niệm quốc gia đang bị công phá khắp nơi trên thế giới. Nguy cơ tan ră có thực. Trong khi dù muốn hay không chúng ta vẫn cần có một quốc gia để làm không gian liên đới cho cố gắng xây dựng một tương lai chung. V́ nhiều lư do, mà lư do giản dị nhất là không ai muốn ḥa nhập với một dân tộc nghèo khó như chúng ta.

 

Phần 2 Con đường đă qua
Một chuyển tiếp tự nhiên

 

Một cuộc hành tŕnh dù vội vă đến đâu qua lịch sử Việt nam cũng không thể bỏ qua đảng cộng sản. Tác động của nó vào lịch sử Việt nam đă vô cùng to lớn.
Đó là phong trào Việt nam lần đầu tiên tôn vinh đế quốc Nga (dưới mỹ từ Liên Bang Xô viết). Sự thần phục này nghịch lư về nhiều mặt. Nga là nước không những ở rất xa nước ta, chưa hề có một quan hệ nào với nước ta, mà lại là nước do điều kiện địa lư rất ít giao thiệp với thế giới bên ngoài. Nga có tŕnh độ phát triển thấp hơn hẳn các nước phương Tây. Văn hóa Nga dù không tồi cũng không sánh được với văn hóa phương Tây.
Chọn lựa đồng minh và quan thày kỳ lạ này đến từ một chọn lựa độc đáo khác: Đảng cộng sản Việt nam cũng là phong trào nổi dậy đầu tiên không lấy quốc gia làm đối tượng phục vụ, hơn thế nữa mục đích sau cùng của nó c̣n là giải thể quốc gia Việt nam (cũng như mọi quốc gia khác) để hội nhập vào một thế giới vô sản. Chủ nghĩa đă mạnh hơn các quan tâm về địa lư, lịch sử và văn hóa. Điểm này cần được nhận định đúng đắn để rút một suy tư về đất nước.. Chính v́ khó có thể tin rằng một phong trào không nhắm phục vụ mà c̣n nhắm giải thể Việt nam mà lại được người Việt nam ủng hộ nên ngay cả một số những người chống cộng vẫn cố biện bạch rằng phong trào cộng sản là một phong trào yêu nước.
Nhưng sự thực không phải như thế. Sự lấn cấn sở dĩ có là v́ chúng ta không phân biệt hai khái niệm khác nhau: người cộng sản và đảng cộng sản. Có và có nhiều người cộng sản yêu nước, nhưng Đảng cộng sản không phải là một đảng yêu nước.
Đảng cộng sản thành lập lúc ban đầu dưới danh xưng là Đảng Cộng Sản Đông Dương với vai tṛ phân bộ của phong trào cộng sản quốc tế. Nó nổi dậy lần đầu với tên gọi Xô Viết Nghệ Tĩnh và lá cờ đỏ mang khẩu hiệu Vạn Tuế Sô Nga. Cuộc nổi dậy này hoàn toàn chỉ do những động cơ giai cấp, dưới khẩu hiệu trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ nó chỉ nhắm tàn sát những người bị coi là kẻ thù của giai cấp vô sản. Trên thực tế đây không phải là một cuộc nổi dậy v́ Việt nam. Chiêu bài dân tộc chỉ được dùng tới sau đó, do một chọn lựa chiến lược mà Stalin áp đặt lên đệ tam quốc tế: chiến lược xây dựng chủ nghĩa xă hội trong từng quốc gia. Những người cộng sản Việt nam đầu tiên không phải đă hân hoan đón nhận mệnh lệnh này. Họ đă chỉ tuân hành nó một cách miễn cưỡng. Điều đă thôi thúc những người cộng sản trung kiên, đă khiến họ có thể hy sinh tính mạng và đă đem lại sức mạnh cho đảng cộng sản, vẫn là lư tưởng quốc tế vô sản.
Đảng cộng sản cũng khiến Việt nam một thời được cả thế giới biết đến và nẻ phục như một dân tộc anh hùng bất khuất đă chống trả một cách thắng lợi với hai cường quốc lớn Mỹ và Pháp. Nó cũng là phong trào lần đầu tiên đánh bại Hoa Kỳ. Mỗi người Việt nam, kể cả những người chống cộng và đă thực sự đứng trong hàng ngũ đối địch với đảng cộng sản, sẽ lầm nếu phủ nhận những chiến công này. Phủ nhận chúng cũng như người Ai Cập phủ nhận các kim tự tháp hay như người Trung Hoa phủ nhận Vạn Lư Trường Thành. Đó là những công tŕnh được xây dựng trên mồ hôi, nước mắt và xương máu của các dân tộc nhưng đồng thời cũng là những di sản của họ. Ngược lại, những người cộng sản cũng nên tương đối hóa những chiến thắng đó. Cùng lắm chúng chỉ khiến chúng ta xuất hiện như là một dân tộc giỏi chiến tranh trong một thế giới ngày càng tôn vinh những giá trị khác và trong đó chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc được quyết định bởi những thành tựu về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, thương mại. Hơn nữa chúng ta đă phải trả giá quá đắt cho những chiến thắng này. Chúng ta đă kiệt quệ hoàn toàn và c̣n thù ghét lẫn nhau, để rồi bế tắc trong sự thua kém.
Đảng cộng sản đă làm chết bốn triệu người qua ba mươi năm chiến tranh (con số sẽ cần được khảo sát một cách chính xác) nhưng đă nắm được chính quyền và thống nhất đất nước. Họ đă thất bại khi cầm quyền. Cần nói rơ về sự thất bại này để tránh ngộ nhận chủ quan: chế độ cộng sản, sau những đập phá lúc ban đầu do bản chất cách mạng của nó, đă làm nhiều cố gắng xây dựng đúng. Nó đă nâng cao phần nào cuộc sống của người dân mặc dầu dân số Việt nam tiếp tục tăng nhanh. Nó cũng đă thúc đẩy nhiều công tŕnh nghiên cứu có ích, và nó cũng dành cho người dân một chỗ đứng và một phẩm giá lớn hơn hắn các chế độ quân chủ tại Việt nam trước đó Nếu chúng ta không tự giới hạn trong cuộc tương tranh quốc- cộng mà cố gắng nh́n cả chiều dài của lịch sử th́ chế độ cộng sản phải được coi là chế độ hay nhất mà chúng ta đă có từ trước đến nay trong những chế độ đă cai trị toàn bộ Việt nam (không kể chế độ Việt nam Cộng Ḥa, một công thức canh tân được đề ra để đối đầu với công thức cộng sản, nhưng đă thất bại sau 27 năm tồn tại và chưa bao giờ kiểm soát được toàn bộ lănh thổ và dân số Việt nam).
Đảng cộng sản không thất bại so với các triều đại đă cai trị Việt nam trước họ. Nhưng họ đă thất bại so với thế giới. Các vua chúa Việt nam trước đây tuy không bằng họ ngày nay, nhưng lại hơn các lân bang lúc đó và v́ thế Việt nam đă đứng vững được và bành trướng được. Đảng cộng sản hơn các vua chúa ngày xưa nhưng lại thua kém các chính quyền khác trên thế giới ngày nay nên Việt nam tụt hậu. Trong khi các quốc gia khác tiến rất xa so với quá khứ của họ, Việt nam dưới chế độ cộng sản chỉ tiến khá xa so với quá khứ của ḿnh mà thôi. Đó là tất cả vấn đề. Tội chính của Đảng cộng Sản Việt nam là tội làm mất th́ giờ của đất nước, mà trong thời đại này th́ giờ là tất cả, mất th́ giờ nhiều quá có thể mất nước luôn. Việt nam trong thập niên 1960 và trong nửa đầu thập niên 1970 đă được cả thế giới biết đến và nề phục v́ đă làm một việc phi thường là dám chống lại quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Việt nam bước vào thế kỷ 21 cũng đang được cả thế giới biết đến, nhưng không nề phục chút nào, v́ đang làm một việc cũng rất phi thường khác là tiếp tục theo đuổi một chủ nghĩa ngây ngô đă sụp đổ. Nhưng làm sao có thể ôm lấy một cái ǵ đă đỏ nát tung tóe? Chế độ cộng sản Việt nam hiện nay chẳng phải là cộng sản. Nó chỉ là một pha trộn quái dị của nhiều thành tổ cộng sản, tư bản, phát-xít, quân phiệt và mafia. Trong chiều dài của lịch sử, đảng cộng sản đă có một thành tích quan trọng. Họ đă thống nhất đất nước. Đó là một thành tích lớn dù nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng chúng ta có thể thống nhất đất nước một cách ít tốn kém và đỗ vỡ hơn.
Họ đă chấm dứt vĩnh viễn được cuộc tranh căi, không c̣n lư do nữa nhưng vẫn không chịu chấm dứt hẳn, xem tôn giáo nào đáng được coi là quốc giáo. Họ đă dứt khoát khẳng định Việt nam là một nhà nước thế quyền. Trong thế giới ngày nay, loại trừ được ảnh hưởng của các tôn giáo trong sinh hoạt chính trị là một may mắn lớn. Tuy nhiên nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng chúng ta vẫn có thể làm được việc này bằng một cố gắng văn hóa, chính trị đứng đan mà không phải dùng tới những biện pháp thô bạo. Vấn đề nên làm là đưa các tôn giáo ra khỏi chính trị, đảng cộng sản đă làm điều ngược lại là đem chính trị vào tôn giáo. Điều mà đảng cộng sản cố gắng làm - nhưng không làm được - là tiêu diệt các tôn giáo. Họ cũng đă thay đổi một cách quan trọng tập tính người Việt. Đạo đức truyền thống đă bị phá sản hoàn toàn. Biết bao nhiêu người, kể cả những người cộng sản ngoan cố, đă than phiền sự băng hoại của đạo đức. Con người trở thành vị kỷ, lưu manh, thô lỗ. Nhưng cuộc chuyển hóa tư tưởng này không hoàn toàn tiêu cực. Trên ít nhất hai điểm nó rất tích cực.
- Một là nó đă tiêu diệt được óc tôn sùng bằng cấp, một căn bệnh tâm thần rất tai hại của người Việt. Không phải đảng cộng sản nhận thức được sự tai hại của tâm lư trọng bằng cấp và dụng tâm đánh đổ nó. Trái lại chính v́ họ quá trọng bằng cấp mà đă cấp phát bừa băi cho các đảng viên những học vị to lớn, với kết quả là khiến các bằng cấp trở thành những mảnh giấy lộn không hơn không kém. T́nh trạng này đưa đến hậu quả tốt mà họ không ngờ là con người từ đây sẽ chỉ được đánh giá theo khả năng. Từ đây người Việt nam sẽ phải học để biết, để có khả năng chứ không học để giành lấy một bằng cấp không c̣n chứng minh ǵ nữa. Nói một cách khác, từ đây người ta sẽ phải có thực học thay v́ chỉ cần học vị. Đây là một cuộc cách mạng văn hóa rất lớn, mà vô t́nh đảng cộng sản đă làm được.
Hai là nó đă phần nào biến dân tộc Việt nam từ một dân tộc từ chương, công chức và làm công thành một dân tộc buôn bán và kinh doanh. Ngay lúc đi tù về tôi đă chứng kiến cuộc chuyển hóa vĩ đại này. H́nh như nhà nào cũng buôn bán một cái ǵ. Một tủ kem, một thùng thuốc lá, một quảy tạp hóa tí hon, một quán cà-phê đột xuất v.v. Cũng có những người suốt ngày tháng loay hoay chạy mối bán thuốc tây, hàng vải, đủ thứ. Từ ngàn xưa chúng ta coi thường và bài xích thương mại và do đó đă nghèo khó, lạc hậu và thua kém. Chế độ cộng sản vô t́nh - hoàn toàn vô t́nh v́ chủ nghĩa của họ không những bài xích mà c̣n thù ghét thương mại - đă chữa được cho người Việt nam chứng bệnh tâm lư tổ tông truyện này. Trái với một số người, tôi không quá lo ngại về sự băng hoại đạo đức hiện nay. Thật ra chúng ta đ̣i hỏi ǵ ở con người? Chúng ta mong muốn những con người có khả năng, chăm chỉ, lương thiện và nhă nhặn. Tất cả những đức tính đó một sinh hoạt kinh tế thị trường đúng nghĩa, nhất là hoạt động buôn bán, sẽ đem lại. Trong một sinh hoạt kinh tế thị trường thực sự, không có khả năng, lười biếng, gian trá th́ mất việc; có khả năng, lương thiện, chăm chỉ th́ lên chức, lên lương. Buôn bán mà gian trá, thô lỗ th́ mất khách và phá sản. Kinh tế thị trường tự do cũng có cái lô-gích và cái đạo đức của nó. Phần lớn những thói hư tật xấu đều có thể khắc phục được trong ṿng một thế hệ nếu chúng ta mau chóng có được một nhà nước dân chủ pháp trị đúng đắn, tin tưởng vào kinh tế thị trường và khai thác triệt để mọi ưu điểm của nó.
Một thành quả cũng rất vô t́nh nhưng vô cùng vĩ đại của chế độ cộng sản là đă tạo ra cộng đồng người Việt hải ngoại. Lúc đi du học trong thập niên 1960, tôi nỡ ngàng khám phá ra là Việt nam không có cộng đồng hải ngoại như các dân tộc cùng tầm vóc khác. Đó là một thiệt hại rất lớn. Cộng đồng hải ngoại là những đầu cầu thương mại, văn hóa, khoa học và kỹ thuật rất quí báu nhưng, điều c̣n nhiều lần quí báu hơn, nó cũng là con mắt của một dân tộc để nh́n và hiểu thế giới. Một dân tộc không có cộng đồng hải ngoại không khác ǵ một người mù. Không có cộng đồng hải ngoại th́ không có ǵ đáng ngạc nhiên nếu chúng ta thiển cận, mù quáng, hẹp ḥi, bất dung, cố chấp, và sau cùng lạc hậu. Tất cả các quốc gia mới vươn lên gần đây đều đă nhờ sự đóng góp tích cực của một cộng đồng hải ngoại hùng mạnh.
Đảng cộng sản đă không chủ đích thành lập một cộng đồng người Việt hải ngoại v́ nh́n thấy vai tṛ của nó. Họ không có một viễn kiến quốc gia nào. Chính sự bạo ngược của họ đă làm cho hàng triệu người phải liều chết vượt biền ra đi, và họ c̣n cấm cản một cách đă man lần sóng vượt biên. Sau cùng chính họ cũng đứng ra tổ chức vượt biên, nhưng chỉ để làm tiền và trục xuất người Việt gốc Hoa theo một quan niệm dân tộc hẹp ḥi. Họ đă làm mất đi một tài nguyên nhân lực quan trọng của đất nước, đương thời cũng khiến cộng đồng người Việt hải ngoại không có được tiềm năng đóng góp mà đáng lẽ số lượng của nó phải đem lại bởi v́ phần lởn người Hoa khi c̣n ở Việt nam là những người Việt gốc Hoa nhưng khi ra nước ngoài chỉ c̣n là những người Mỹ, người Pháp, người úc gốc Hoa. Tuy vậy, kết quả vẫn c̣n đó, một cộng đồng người Việt hải ngoại gần ba triệu người, trong đó phân nửa sinh ra tại hải ngoại đă thành h́nh. Và đây là một trong những sự kiện lịch sử vĩ đại nhất từ ngày lập quốc
Một lời sau cùng trước khi sang phần khác: chúng ta sẽ rất lầm nếu căm thù đảng cộng sản và chế độ cộng sản. Chế độ cộng sản là một giai đoạn chuyển tiếp lô-gích từ chế độ quân chủ Khổng Giáo sang một chế độ dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, dù được văn bản hóa tại châu Âu, chỉ là một cải tiến của Khổng Giáo. Về bản chất, cộng sản và Khổng Giáo chỉ là một; ư thức hệ cộng sản đă cải tiến Khổng Giáo bằng cách đem vào, ở một mức độ thấp, một số ư niệm mới: luật pháp và nhân quyền, cùng với một kỹ thuật tổ chức hiệu lực hơn. Đó là điều sẽ được tŕnh bày trong phần sau.
ở đây tôi chỉ xin đưa ra hai nhận định. Một là, lư do chính khiến đảng cộng sản đă được hưởng ứng và đă thành công là v́ chủ nghĩa cộng sản rất phù hợp với văn hóa Khổng Mạnh mà chúng ta đă thấm nhuần và trân trọng trong suốt ḍng lịch sử. Chúng ta đă phải đi qua đoạn đường cộng sản bởi v́ đó là một giai đoạn chuyển tiếp tự nhiên trừ khi chúng ta làm một bước nhảy vọt về văn hóa và tâm lư, nhưng bước nhảy vọt này đă không có. Hai là, chế độ cộng sản, nh́n như một giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ quân chủ tuyệt đối đặt nền tảng trên Khổng Giáo sang một chế độ dân chủ, đă kéo dài bởi v́ chúng ta chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo một cách quá nặng nề. Chúng ta đă phải đi qua đoạn đường cộng sản v́, do thiếu kém tư tưởng, chúng ta đă không dám hoặc không muốn vứt bỏ một cách dứt khoát và nhanh chóng Khổng Giáo để quả quyết chọn lựa dân chủ. Không thiếu những người vừa chống cộng kịch liệt vừa đề cao Khổng Giáo như một đạo lư cao đẹp chỉ cần cải tiến để thích nghi với thời đại mới mà không ư thức được rằng chủ nghĩa cộng sản chính là một cải tiến lớn của Khổng Giáo. Không phải là một sự t́nh cờ mà phong trào cộng sản đă thành công ở cả ba nước theo Khổng Giáo: Trung Quốc, Cao Ly và Việt nam (trái với một nhận định hời hợt, Nhật Bản không phải là một nước Khổng Giáo). Cũng không phải là một sự t́nh cờ mà ba trong bốn nước cộng sản c̣n lại là những những nước thuộc văn hóa Khổng Giáo. Cộng sản không phải là một tai họa từ trên trời rơi xuống, nó tự chính chúng ta mà ra. Đó là một di sản của lịch sử mà chúng ta phải nh́n nhận và quản lư đúng đắn để thoát khỏi.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Bốn ngàn năm văn hiến

 

Trước khi vào Nam nhà tôi ở ngay dốc Cổ Ngư. Tiếp theo dốc Cổ Ngư là đường Cỏ Ngư nối liền đê Yên Phụ và vườn Bắch Thảo. Cỗ Ngư là một con đường đặc biệt nhất Hà Nội, nó nằm giữa hai hồ: hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Khoảng gần giữa đường Cồ Ngư c̣n có một con đường khác nối đường Cỗ Ngư với một ḥn đảo nhỏ trên Hồ Tây, và trên ḥn đảo này có chùa Trấn Quốc xây lại từ thời nhà Lư nhưng đă có từ thời Tiền Lư vào thế kỷ 6. Chính quyền cộng sản không có tinh thần tôn trọng các địa danh nên sau này họ đổi tên đường Cổ Ngư thành đường Thanh Niên cho có vẻ cách mạng và hiện đại. Có người bạn ở Hà Nội nói với tôi đây là sáng kiến của chính ông Hồ Chí Minh.
Dù chỉ sống ở đó có hơn một năm thôi nhưng đường Cỗ Ngư đă rất quen thuộc đối với tôi, tôi hay chạy tung tăng trên con đường đó và quen từng xe bánh tôm. Nhiều bà bán bánh tôm quen biết tên tôi và thỉnh thoảng gọi tôi lại cho một miềng bánh tôm, một phần tư của một cái bánh tṛn và dẹp, đường kính chừng 8 cm. Cử chỉ giản dị nhưng âu yếm.
Chùa Trấn Quốc yên tĩnh và thâm nghiêm đến độ tôi quen thuộc đường Cổ Ngư đến thế mà cũng sợ không dám vào, chỉ có hai lần vào chùa Trấn Quốc cùng với người lớn. Chùa không lớn lắm nhưng sạch sẽ và đẹp, hồi đó tôi chưa ư thức được giá trị lịch sử của sự kiện chùa đă có từ mười mấy thế kỷ.
Bên kia vườn Bắch Thảo, đi bộ một quăng đường không xa là tới Chùa Một Cột. Chùa nhỏ xíu, ở chính giữa một hồ sen cũng nhỏ xíu. Như tên gọi của nó, chùa nằm trên một cột lớn, chung quanh cột tua tủa những xà cong vươn lên như những cánh tay đỡ chùa. Chùa Một Cột cũng có từ thời nhà Lư, vào khoảng thế kỷ thứ 11 hay thế kỷ thứ 12, một chi tiết mà tôi chưa bao giờ cố gắng để nhớ.
Trường tiểu học của tôi nằm ở chùa Kim Liên, cũng nằm trên dê Yên Phụ, chiếm hết một mỏm đất khá rộng ph́nh ra trên Hồ Tây, kế ngay bên làng hoa Yên Phụ. Làng Yên Phụ là làng đẹp nhất mà tôi đă thấy. Cả làng sống bằng nghề trồng hoa và nuôi cá vàng. Hàng năm vào dịp Tết có hội ngay sân chùa, dân làng thi đua triền lăm hoa và cá. Thú nhất là những cuộc chọi gà trong hội này. Những con gà chọi oai vệ màu xám tro, màu đen nhánh, màu đỏ lửa với những cái cỗ vừa dài vừa to, trần trụi và đỏ rực một cách ngạo nghễ. Tôi mê gà chọi từ hồi đó. Có dạo lớp tôi học ở ngay trong chính ṭa của chùa, kế bên bàn thờ với một tượng Phật ngồi rất lớn. Về sau lớp tôi chuyển sang một trong những lớp nằm trong hai dẫy nhà trước chùa đối diện nhau bên này và bên kia sân chùa, nhường chỗ cho lớp mẫu giáo. Lư do có lẽ là các thầy sợ chúng tôi, lớp nh́, đă khá lớn nên hay phá phách, các em bé mẫu giáo ngoan ngoăn hơn. Chùa Kim Liên khá lớn, nhưng không c̣n sư săi nên được dùng làm trường tiểu học. Lúc đó chùa là đ́nh, nghĩa là nơi hội họp của dân làng, hơn là chùa. Chùa Kim Liên là chùa thân quen với tôi nhất nhưng cũng là chùa mà tôi chưa gặp trong một tài liệu nào. H́nh như chùa không lâu đời bằng chùa Trấn Quốc nhưng cũng là một ngôi chùa rất cổ nếu căn cứ vào mái và các kèo cột.
Kiến thức về kiến trúc của tôi không phải là thấp mà là số không, nhưng đại khái tôi thấy chùa nào cũng giống nhau, cũng mái cong, ngói nâu, cột gỗ, sân gạch, nền cao hơn sân vài bậc gạch. Hai người bạn tôi đều là kiến trúc sư và đều có nghiên cứu nhiều về kỹ thuật kiến trúc của các chùa Việt nam có hai nhận định khác hẳn nhau. Một anh th́ nói đó là một kỹ thuật rất tinh vi và một tŕnh độ nghệ thuật rất cao. Một anh, trái lại, chê các chùa Việt nam là không đa dạng, không mấy thay đổi từ đời này qua đời khác và tố giác sự thiếu sáng kiến của người Việt; anh này cũng nói là kiến trúc các chùa mang nhiều sai phạm về kỹ thuật. Tuy nhiên có hai điểm mà cả hai người đấu nh́n nhận: một là các chùa Việt nam là một trong những di sản phong phú và đáng tự hào của nước ta, hai là các di tích lịch sử của Việt nam quá ít về số lượng và thua kém hẳn các di tích lịch sử tại các nước châu á khác. So với châu Âu, cả hai đều nh́n nhận chúng ta thua kém rất xa.
Dĩ nhiên chúng ta c̣n nhiều di tích lịch sử quí báu khác. Thành Cỗ Loa, đền Hùng, đền vua Đinh, chùa Phổ Minh, chùa Hương Tích, chùa Non Nước, tháp Chàm (tôi không hiểu tại sao một số người không coi tháp Chàm là một di tích lịch sử của người Việt), cổ thành Quảng Trị, chùa Linh Mụ, cổ thành Huế, Tháp Mười, v.v... Để chỉ kể một vài di tích trong nhiều di tích. Nhưng phải nói là so với ḍng lịch sử trên hai ngàn năm th́ như thế vẫn là quá ít, và nói chung không độc đáo. Bốn ngàn năm văn hiến của chúng ta không để lại bao nhiêu chứng liệu vật chất.
Năm 1986, tôi có dịp nói chuyện với tinh mục Lương Kim Định. Tôi biết đến ông lằn đầu tiên năm 1968 khi một người bạn đưa cho đọc một số tác phẩm của ông về triết lư Việt Nho và An Vi. Tôi không đọc hết một cuốn sách nào của ông cả, bởi v́ đọc tới gần nửa cuốn th́ có cảm tưởng đă nắm được ư cho nên phần sau chỉ đọc lướt và đọc chéo. Nhân một dịp tôi sang Mỹ mùa thu 1987, Kim Định, v́ có đọc một số bài báo của tôi, tỏ ư muốn gặp tôi để thảo luận. Lúc đó ông đă nổi tiếng là một triết gia lớn của Việt nam, nhất là tại hải ngoại. Ông rất đẹp lăo, gương mặt sáng láng, thái độ ung dung, ngôn từ sáng sủa, mạch lạc và c̣n rất tráng kiện ở tuổi 70. Chúng tôi thảo luận khá lâu về Nho Giáo mà Kim Định khẳng định là của người Việt chứ không phải của người Trung Hoa và không được triển khai đúng đắn chứ thực ra là một triết lư rất hoàn hảo cần được dùng làm nền tảng xây dựng đất nước sau này. Chúng tôi đi đến một thỏa thuận là không đồng ư với nhau.
Cuối câu chuyện, sang đến phần triết lư An Vi của ông mà Lương Kim Định coi là một thông điệp của trống đồng, tôi nói với Kim Định là cách tiếp cận văn hóa Việt nam của ông rất phiêu lưu bởi v́ các di tích lịch sử và văn hóa của chúng ta quá ít ỏi để có thể là một thông điệp sáng sủa và chắc chắn. Chúng ta phải suy diễn rất nhiều mà suy diễn th́ lúc nào cũng chủ quan và dễ sai lầm. Kim Định giảng giải cho tôi về những ư nghĩa của trống đồng mà ông cho là rơ rệt và đầy đủ. Thấy tôi có vẻ không tin tưởng lắm, Kim Định hỏi lại: Thế th́ cậu đề nghị cách tiếp cận nào?. Tôi đáp là phải tiếp cận bằng con người Việt nam, bởi v́ nền văn minh Việt nam là một nền văn minh không có di tích vật chất. Tất cả ở trong con người, quá khứ tồn đọng trong con người và tương lai cũng chỉ là con người. nền văn minh Việt nam chắc chắn là có và đáng kể dù các di tích của ta không vĩ đại và phong phú bằng các nước láng giềng Trung Hoa, Thái Lan, Miến Điện, Cam-bốt và Lào. V́ thế cách tiếp cận dúng để t́m hiểu Việt nam là tâm lư học và xă hội học chứ không phải là khảo cổ học. Sự kiện chúng ta có những con người có thể mau chóng hấp thụ những kiến thức phức tạp và khó khăn nhất, có thể thích nghi ít nhất một cách tương đối với những thay đổi bối cảnh đột ngột nhất, có thể sống qua những thảm kịch ghê gớm nhất là bằng chứng của một nền văn minh đặc sắc. Tuy nhiên khối người tinh nhuệ đó đă chỉ đi từ tai họa này đến thảm kịch khác như vậy rơ ràng là họ phải có một tật nguyền tập thể nào đó. Con người Việt nam là cả một bí mật chưa được khám phá, nhưng điều chắc chắn là nó mang một tiềm năng rất lớn chưa phát huy được v́ một số bế tắc tâm lư. Khai thông được bế tắc này chúng ta sẽ giải tỏa một nguồn năng lượng vô cùng lớn và sẽ vươn lên rất mănh liệt.
Lương Kim Định cũng phân vẫn trước cách tiếp cận của tôi như tôi nghi hoặc trước cách tiếp cận của ông. Không phải chỉ có một mà có nhiều cách t́m hiểu nước Việt. Và tất cả đều có mặt đúng và có mặt yếu. Cái khó của chúng ta là phải làm một việc mà từ trước chúng ta đă không cố gắng để làm, nghĩa là t́m hiểu chúng ta là ai.
Từ đó tôi không c̣n cơ hội để gặp lại Kim Định. Tôi thường hỏi thăm về ông và vài năm sau được biết ông đau nặng, cho nên khi được tin ông qua đời, tôi không ngạc nhiên. H́nh ảnh c̣n lại trong tôi về Kim Định là một con người rất độc đáo. Ông được đào tạo theo giáo dục phương Tây, nhưng lại dùng nn kiến thức đó làm dụng cụ để t́m về nguồn gốc dân tộc, khám phá cái hay của dân tộc, đi đến niềm tự hào - theo tôi quá chủ quan về dân tộc và đề xướng một đường lối phát triển thuần túy Việt nam - mà tôi cho là gượng ép. Là một linh mục công giáo nhưng ông lại gần gũi với triết lư á Đông hơn là triết lư Thiên Chúa Giáo. Đức tin công giáo của ông h́nh như chỉ rất tương đối. Dù không đánh giá cao lắm những công tŕnh nghiên cứu của Kim Định, nhất là về điểm mà đa số thán phục ông, nghĩa là Nho Giáo, tôi vẫn dành cho ông một sự cảm mến đối với một người đă tận tụy với văn hóa dân tộc.
Trong lần gặp gỡ duy nhất ấy, chúng tôi khác ư với nhau nhiều nhưng chúng tôi đồng ư là lịch sử của chúng ta quá sơ sài và thiếu sót, di sản văn học của chúng ta không có bao nhiêu.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Một phép mầu, một may mắn và một bài học

 

Nếu có một thành tích đặc biệt xuất sắc, có thể coi như một phép mầu của dân tộc ta th́ đó là văn học. Xin nhấn mạnh cụm từ của dân tộc ta.
Độc giả đă đọc qua những trang trước của cuốn sách này chắc không nghĩ là tôi tự hào dân tộc thái quá, nhiều vị v́ thế có thể hỏi ta có ǵ xuất sắc về văn học? Quả nhiên ta có rất ít lư do để tự hào. Về múa chúng ta quả thật là kém. Ta thua hẳn hai dân tộc láng giềng tầm vóc nhỏ hơn là Lào và Cam-bốt, và có thể nói là thua xa mọi nước khác. Trong bộ môn này chúng ta đội sổ trong số các dân tộc có lịch sử tương đối dài. Điêu khắc và hội họa cũng chỉ mới khởi sắc gần đây, vào đầu thế kỷ thứ 20, do người Pháp đem đến. Trước đây ta có rất ít tranh và không có bức tranh nào có giá trị. Ta cũng có nhiều chạm trỗ trên kèo cột, giường tủ với mục đích bằng trí nhưng có thể nói những chạm trỗ này hoàn toàn không có một giá trị nghệ thuật nào. Các tượng tạc và đúc của ta cũng thế, chỉ là những biểu tượng gợi ư chứ không thể coi là những tác phẩm nghệ thuật, các tác giả là những người khéo tay chứ không phải là những nghệ sĩ. Rất khó phân biệt một công tŕnh nghệ thuật của ta thuộc thế kỷ thứ 10 hay thuộc thế kỷ 19 bởi v́ không có tiến bộ. Tất cả chỉ dừng lại ở sự khéo tay tự nhiên của con người. Học giả Trần Quang Hải, kế nghiệp cha là học giả Trần Văn Khê, đă dày công biên khảo, thu thập gia tài âm nhạc của chúng ta qua các thời đại. Phạm Duy, người nhạc sĩ thiên tài với ḷng yêu nước thiết tha, đă cố gắng vượt bực để vừa kư âm hóa vừa phong phú hóa cổ nhạc Việt nam. Tất cả những cố gắng đó đưa tới một bảng tổng kết đáng buồn: âm nhạc của ta cũng rất nghèo nàn. Nhu cầu nghệ thuật và sáng tạo hầu như hoàn toàn thiếu vắng ở dân tộc ta. Văn hóa nghệ thuật của ta chỉ là văn hóa nghê thuật nghỉ ngơi, nhàn dư chứ không phải là văn hóa nghệ thuật nhức nhối và khai phá. Không ǵ đáng ngạc nhiên nếu chúng ta không có tác phẩm đáng giá.
Nói tới văn hóa Việt nam thực ra chỉ là nói đến thơ văn. Và thơ văn của chúng ta chỉ xuất hiện từ thời nhà Lư, nghĩa là từ thế kỷ 11 trở đi Trước đó chúng ta có rất ít dấu tích thơ văn Việt nam. Có thể là do hoàn cảnh lịch sử, những thơ văn của người Việt đă có trước thế kỷ 11nhưng đă bị thất lạc. Nhưng cứ nh́n vào thành tích thơ văn của bốn thế kỷ Lư Trần, ta có thể khẳng định là thơ văn Việt nam trước đó nếu có cũng không. Đáng kể, cả về phẩm lẫn lượng. Bốn trăm năm độc lập, dưới hai triều đại mà chúng ta cho là huy hoàng nhất trong lịch sử, chắc chắn thơ văn Việt nam đă làm một bước nhảy vọt vĩ đại so với thời gian trước. Vậy nh́n vào thơ văn.
Lư Trần ta có thể h́nh dung được thơ văn trước đó. Những công tŕnh khảo cứu đă tổng kết được khoảng hơn sáu trăm bài thơ và văn đủ loại trong bốn thế kỷ. Cứ coi là một số đă bị thất lạc và cộng thêm một ngàn bài nữa để đưa con số này lên một ngàn sáu trăm th́, nói chung, chúng ta cũng chỉ sáng tác được mỗi năm bốn bài. Các bài lại thường thường rất ngắn, có khi chỉ vài câu thôi. Trung b́nh mỗi bài chưa tới một trăm chữ. Như vậy, ngay cả nếu ước lượng một cách rất rộng răi th́ trung b́nh trong bốn thế kỷ cực thịnh đó cả nước đă chỉ sáng tác được mỗi ngày một chữ? Có một sự kiện cần lưu ư là sau khi tiêu diệt được nhà Hồ (năm 1407), hoàng đế Trung Quốc là Minh Thành Tố đă ra lệnh cho quân Minh thu thập rồi tiêu hủy hay chở về Trung Quốc các tác phẩm bằng chữ Nho của Việt nam. Lệnh này đă không được thi hành nghiêm túc (tại sao? phải chăng là các quan nhà Minh thấy chẳng có ǵ đáng kẻ?) nên Minh Thành Tồ phải ra một lệnh thứ hai quở trách quan tướng nhà Minh và đ̣i phải thi hành triệt đề. Nhà Minh đă cướp mất của chúng ta những ǵ không ai biết rơ. Trong Việt nam Sử lược, Trần Trọng Kim dựa vào các pho sử có trước nói rằng quân Minh đă lấy của chúng ta 24 bộ sách. Thực tế có thể là hơn. Nhưng dựa vào những ǵ c̣n lại ta có thể kết luận là cũng không có ǵ đáng tiếc lắm, ít nhất về phẩm. Chúng ta hay nói tới các tác phầm của Chu Văn An, nhưng dựa vào những ǵ c̣n sót lại của Chu Văn An th́ cũng có thể kết luận rằng các tác phẩm của ông cũng không có giá trị đặc biệt nào.
Thơ văn Việt nam thực ra chỉ khởi sắc dưới thời Hậu Lê với các tác giả Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, và chỉ phát triển mạnh từ thế kỷ 18 trở đi để đạt tới cao điểm vào thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn, với các tác giả lớn như Lê Quư Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Huy Tự, Phan Huy Chú, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê... Sự khởi sắc đột ngột này có một nguyên nhân quan trọng, đó là thắng lợi của chữ Nôm trên chữ Hán.
Điều cần lưu ư là trong mười lăm thế kỷ đầu của công nguyên, ngay cả trong bốn thế kỷ Lư - Trần, các chính quyền, các vua chúa Việt nam và các sĩ phu Việt nam chỉ lo quảng bá tiếng Trung Quốc chứ không lo phát triển ngôn ngữ Việt nam. Không những không phát triển mà c̣n miệt thị (nôm na là cha mách qué). Điều khó tưởng tượng là các chính quyền và thành phần khoa bảng Việt nam đă say mê thực hiện một chính sách Hán hóa đất nước ḿnh. Nếu văn hóa nước ta c̣n, và do đó đất nước ta c̣n, là v́ họ đă thất bại? Công lao giữ nước như vậy không phải do các vua chúa, các anh hùng, các công hầu khanh tướng, cũng không do giới sĩ phu mà hoàn toàn do những người nông dân Việt nam.
Điều mầu nhiệm là mặc dầu bị chà đạp và miệt thị, không những bởi ngoại nhân mà c̣n do chính thành phần được coi là ưu tú của ḿnh, xă hội Việt nam vẫn giữ được tiếng nói riêng của ḿnh, để rồi dần dần tiếng Việt toàn thắng trên đất Việt. Người nông dân Việt nam đă giữ được ngôn ngữ của ḿnh và khuất phục được giơi sĩ phu? Sau đó người Việt đă dựa vào chữ Hán để chế ra chữ Nôm mà tạo ra chữ viết riêng của ḿnh, âm thầm tu bổ nó, dần dần biến nó thành một ngôn ngữ có giá trị văn chương.
Văn thơ chữ Nôm bắt đầu xuất hiện chính thức với bài Văn Tế Cá Sấu của Nguyễn Thuyên cuối đời nhà Trần, vùng lên mạnh mẽ vượt qua chữ Hán dưới thời Lê Trung Hưng (Trịnh-Nguyễn) để chiếm ngữ toàn bộ sân khấu văn chương dưới triều Nguyễn, chỉ để lại cho chữ Hán vai tṛ ngôn ngữ biên khảo. Sự thịnh hành của chữ Nôm đă giúp cho trí tuệ Việt nam phát triển, đă nâng cao tŕnh độ sĩ phu Việt nam và làm xuất hiện những tác phẩm dài, thơ văn cũng như biên khảo, bằng chữ Nôm và bằng cả chữ Hán. Cần lưu ư là trong suốt thời độc tôn của chữ Hán chúng ta đă chỉ có những tác phẩm vụn vặt.
Từ đó cho tới thế kỷ 20, tổng kết văn thơ Việt nam, ngoại trừ bài B́nh Ngô Đại Cáo, tất cả những tác phẩm lớn của chúng ta đều bằng chữ Nôm. Không có chữ Nôm th́ chúng ta đă không thể có những tác phẩm để tự hào: Chinh Phụ Ngâm, truyện Kiều, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai và những bài thơ bài phú bất hủ của Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến. Văn học của ta đă chỉ có giá trị sáng tạo từ khi chuyển sang chữ Nôm.
May mắn làm sao mà văn Nôm, tức văn Việt nam, nở rộ lên trong thế kỷ 19. Thử tưởng tượng cái ǵ sẽ xảy ra vào cuối thế kỷ 19, khi người Pháp áp đặt ách đô hộ lên nước ta và đem tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính thức, nếu lúc đó ta vẫn chưa có một văn học Việt nam riêng mà vẫn hoàn toàn dựa vào chữ Nho? Chúng ta sẽ không thể có Nam Phong Tạp Chí, Tự Lực Văn Đoàn với những tiếp nối của chúng. Chúng ta sẽ ở vào cùng một t́nh trạng bi đát như Lào và Cam-bốt hiện nay.
Các dân tộc châu Âu mặc dầu bị đế quốc La Mă đô hộ và áp đặt tiếng La Tinh cũng đă xây dựng được ngôn ngữ riêng của họ để dần dần thay thế tiếng La Tinh. Họ là những dân tộc tinh anh. Chúng ta cũng như họ. Nhưng dân tộc ta đă thắng một cuộc đấu tranh cam go hơn nhiều bởi v́ chính những thành phần ưu tú của đất nước ta đă đóng góp phồ biến chữ Hán và ngăn chặn sự phát triển của tiếng Việt.
Các dân tộc châu Âu đă chỉ đạt tới nền văn hóa huy hoàng của họ sau khi họ tự giải thoát khỏi tiếng La Tinh để dựa trên ngôn ngữ của riêng ḿnh. Cũng tương tự, người Việt đă chỉ đạt tới một nền văn học có giá trị từ khi dựa trên tiếng Việt. Đó là một bài học cần được ghi nhớ. Ngôn ngữ là dụng cụ của tư tưởng và tiến bộ, và mỗi con người chỉ phát huy được cao độ khả năng suy nghĩ và diễn tả của ḿnh qua tiếng mẹ đẻ. Một giáo sư ngữ học người Pháp, người Mỹ dù bỏ cả cuộc đời để học hỏi và trau dồi tiếng Việt cũng không thể viết nổi những câu thơ của Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Trịnh Công Sơn. Ngược lại, một người Việt nam dù học tiếng Pháp từ lúc mới chào đời và đậu thạc sĩ văn phạm như Phạm Duy Khiêm cũng không thể đạt tới tŕnh độ của những nhà văn lớn của Pháp. Vẫn c̣n lại một cái ǵ đó, một phần trăm hay một phần ngàn thôi nhưng quyết định tất cả, và phân biệt một tác phẩm kiệt xuất với một tác phẩm khá.
Xây dựng, mài dũa, hoàn thiện không ngừng tiếng Việt là nhiệm vụ trên hết mọi nhiệm vụ. Đó là dụng cụ không có không được của chúng ta để vươn lên. Cho tới nay sự quí trọng tiếng Việt của chúng ta c̣n ở rất xa mức độ cần có. Hàng chục thế kỷ khinh miệt tiếng mẹ đẻ vẫn c̣n để lại trong chúng ta những tàn dư tồi tệ. Khi viết một tài liệu bằng tiếng Việt, chúng ta (chúng tạ ở đây xin hiểu là đa số) cảm thấy không cần lo âu ǵ cả, viết sao cũng được; trái lại, khi viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, ta tra tự điển xem có đúng chính tả không, đắn đo không biết nên dùng chữ này hay chữ khác, hỏi ư kiến bạn bè, v.v... Chúng ta rất vô lễ với tiếng Việt. Không thiếu những nhà b́nh luận viết không có bố cục và không ra câu cú. Câu văn dài ḷng tḥng, chấm phẩy tùy tiện, mệnh để chính và phụ hỗn độn, chữ dùng không chính xác và viết sai chính tả. Có cả những bài thơ mang những lỗi ngữ vựng rất thông thường.
Chúng ta đừng quên ngôn ngữ không phải chỉ là dụng cụ phát biểu ư kiến mà c̣n là cấu trúc của tư tưởng. Chúng ta suy nghĩ bằng ngôn ngữ trước khi diễn tả bằng ngôn ngữ.
Vợ chồng ông hàng xóm của tôi người Trung Hoa; họ ở bên Pháp đă hơn hai mươi năm mà vẫn không nói được tiếng Pháp. Mỗi lần có người Pháp đến hỏi họ đều phải cầu cứu chúng tôi. Chỉ sau này khi các con đă lớn và học khá họ mới không cần vợ chúng tôi nữa. Ông bà ấy nói bằng tiếng Việt để chúng tôi thông ngôn sang tiếng Pháp. Nhưng họ không phải là những người Việt gốc Hoa, mà là những người Miên gốc Hoa. Họ sinh ra và lớn lên tại Phnom Penh. Năm 1976 họ chạy trốn Pol Pot sang Việt nam và rời Việt nam sang Pháp hai năm sau. Thời gian hai năm đó đủ để họ nói được tiếng Việt và nhớ măi tới hai mươi năm sau mặc dầu không hề cố gắng học tiếng Việt. Trái lại, từ khi tới Pháp họ đă theo học nhiều lớp tiếng Pháp nhưng sau hai mươi năm sống trên đất Pháp vẫn không nói được. Đó là v́ cấu trúc của tiếng Pháp quá khác với cấu trúc của tiếng Tàu, trong khi tiếng Việt và tiếng Tàu khá gần nhau.
Vẫn c̣n nhiều người nghĩ rằng trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, khi tiếng Anh đă trở thành ngôn ngữ quốc tế, chúng ta cần hoàn thiện tiếng Anh trước đă, tiếng Việt tàm tạm đủ dùng thôi cũng được. Như thế là quên rằng chúng ta suy nghĩ bằng tiếng mẹ đẻ, nếu chúng ta không nắm thật vững tiếng mẹ đẻ th́ chúng ta sẽ suy nghĩ kém, trí óc sẽ không thể phát triển tới mức tối đa được. Chúng ta sẽ thiếu một cái ǵ đó, cái một phần trăm hay một phần ngàn quyết định tất cả và phân biệt cái hơn hẳn với cái b́nh thường. Và chúng ta sẽ vĩnh viễn thua kém.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Kinh nghiệm Cao Ly

 

Chúng ta đều biết nước Cao Ly là nước nào. Tuy nhiên ngay việc gọi tên nó cũng làm nhiều người phân vân: Triều Tiên hay Hàn Quốc? Quốc hiệu của nước này đă thay đổi nhiều lần trong lịch sử và ngay bây giờ cũng không đồng nhất. Từ sau thế chiến II trên bán đảo Cao Ly có hai nước được thành lập và xung đột với nhau, Cộng Ḥa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên tại miền Bắc và Đại Hàn Dân Quốc tại miền Nam. Như vậy miền Bắc tự gọi là Triều Tiên trong khi miền Nam là Đại Hàn. Tuy vậy khi giao thiệp với các nước Tây Phương họ lại dịch giống nhau và đều dùng chữ Cao Ly (Korea, Corée). Miền Bắc là Cộng Ḥa Dân Chủ Nhân Dân Cao Ly (Democratic Peoples Repubhc of Korea, République Démocratique ét Populaire de Corée), miền Nam là Cộng Ḥa Cao Ly (Republic of Korea, République de Corée). Vậy khi cần nói đến cả hai miền của đất nước này la có thể tạm dùng chữ Cao Ly, một danh xưng mà ngôn ngữ Việt nam ít dùng, v́ thường sử dụng thẳng quốc hiệu chính thức của hai chế độ, nghĩa là Triều Tiên hay Đại Hàn.
Triều Tiên là quốc hiệu được Trung Quốc nh́n nhận từ năm 1391; Cao Ly là tên gọi của nước này trong năm thế kỷ trước đó; trong khi Hàn là tên một con sông ở chính giữa nước, và cũng là tên của một dân tộc đă sinh sống tại miền Nam bán đảo Cao Ly và là nguồn gốc của đa số dân Cao Ly. Một ngày nào đó, nếu nước này được thống nhất có rất nhiều triển vọng họ sẽ sử dụng tên Cao Ly. Vả lại những danh xưng Triều Tiên, Đại Hàn ngay từ bây giờ đă không có công dụng quốc tế.
Cao Ly có một lịch sử b́nh thường hơn nước ta. Đất nước này đă thành h́nh do sự sát nhập và thống nhất nhiều vương quốc nhỏ trên bán đảo. Kể từ thế kỷ 13 lănh thổ của họ không thay đổi nữa, gồm toàn bộ bán đảo, ngăn cách với Trung Quốc bởi con sông áp Lục.
Nhiều người Việt nam không am hiểu lịch sử Cao Ly, và do tự ái dân tộc, thường cho rằng trước đây không lâu nước ta c̣n tiến bộ và hùng mạnh hơn Cao Ly, sự thua kém của ta chỉ là gần đây mà thôi. Sự thực rất khác. Dân tộc Cao Ly từ lâu đă tiến bộ hơn ta nhiều về mọi mặt. Họ đă được độc lập trong suốt ḍng lịch sử. Đôi khi v́ suy yếu hơn nước Trung Hoa họ đă phải nhận vai tṛ chư hầu nhưng vẫn giữ được nền tự chủ, ít ra là tự trị, trái với Việt nam bị sát nhập làm một phần của Trung Quốc trong hơn một ngàn năm. Di sản của một ngàn năm nô lệ này vẫn c̣n để lại trong hồn tính và tư tưởng của chúng ta nhưng tật nguyền mà người Cao Ly, v́ là một dân tộc độc lập không có. Họ có tinh thần dân tộc cao hơn ta, có óc sáng tạo hơn ta và đă tiến triển rất sớm. Những tranh vẽ c̣n lại trong các ngôi mộ từ thế kỷ 4 chứng tỏ một tŕnh độ nghệ thuật rất cao, không thua ǵ người Trung Hoa. Cũng tại các ngôi mộ này ta thấy các dấu tích về quần áo, kiến trúc, công nghiệp, giải trí và binh bị rất đáng ngạc nhiên về sự tinh vi. Nếu ngày nay nước Cao Ly, ít nhất phần phía Nam được gọi là Đại Hàn Dân Quốc, tiến bộ mau chóng cũng nhờ họ được thừa hưởng một di sản văn hóa rất phong phú và đặc sắc.
Điều đặc sắc nhất là họ đă có một ngôn ngữ Cao Ly riêng, đă để lại nhưng bài thơ có giá trị triết lư, văn học ngay từ thế kỷ thứ 6. Ngôn ngữ này được sáng chế ra bằng cách sử dụng những bộ chữ của người Trung Hoa, gần giống như chúng ta đă dựa vào chữ Hán để chế ra chữ Nôm, nhưng sớm hơn. Ngay từ thế kỷ thứ 7, người Cao Ly đă biết kỹ thuật in sách. Cho tới nay, theo một số nhà nghiên cứu, bản in xưa nhất thế giới là bản in một cuốn sách của người Cao Ly. Ngay từ thế kỷ 7, người Cao Ly đă quan tâm học hỏi các môn toán thiên văn, y học. Năm 717 họ đă lập ra các học vị tiến sĩ Toán, tiến sĩ Y khoa, tiến sĩ Thiên văn. Trước đó, năm 692 họ đă có những tiến sĩ Luật. Nếu nh́n lại lịch sử của ta th́ phải thấy ta thua họ xa lắm và từ lâu rồi. Cho đến đầu thế kỷ 20 ta vẫn chỉ có những cử nhân tiến sĩ về văn chương mà thôi.
Kinh nghiệm Cao Ly mà tôi muốn nói tôi ở đây là kinh nghiệm về ngôn ngữ. Người Cao Ly rất hiếu học và cầu tiến. Từ thế kỷ thứ 10 họ say sưa học hỏi văn hóa Trung Hoa, treo giải thưởng cho những ai t́m được sách của Trung Hoa, rồi sao chép và phổ biến trong giới ưu tú. Lúc đó nước Trung Hoa lại may mắn gặp những thời kỳ thịnh trị qua suốt các triều đại Đường, Tống, Nguyễn, Minh. Văn học, triết lư và chính trị của Trung Hoa đều rất thịnh trong các triều đại này. Trí thức Cao Ly say mê học hỏi rồi dần dần bỏ quên cả ngôn ngữ gốc của ḿnh. Chữ Hán với thời gian chiếm vai tṛ của ngôn ngữ chính thức, át hẳn tiếng Cao Ly. Hậu quả của việc tôn sùng tiếng Trung Hoa là dần dần Cao Ly thua kém Trong Hoa và suy thoái đi, bởi v́ chữ Hán chỉ phổ biến trong giới thượng lưu mà thôi. Quần chúng Cao Ly vẫn chỉ sử dụng tiếng Cao Ly bản xứ. V́ ngôn ngữ này không được phát triển, tŕnh độ văn hóa của quần chúng không vươn lên được.
Sau hơn bốn thế kỷ bỏ rơi ngôn ngữ của chính ḿnh để chạy theo một ngôn ngữ và một văn hóa nước ngoài, người Cao Ly đă nhận ra sự sút kém của ḿnh. Đầu thế kỷ 15 họ quay trở lại phát triển tiếng Cao Ly và lần này họ làm một phát minh độc đáo: một tiếng Cao Ly mới xuất hiện với một mẫu tự riêng, gom 26 chữ cái, mỗi chữ cái diễn tả một âm riêng giống như các ngôn ngữ phương Tây, nhưng các mẫu tự dĩ nhiên là khác với các mẫu tự la tinh ABC v́ lúc đó Cao Ly chưa biết tới châu Âu.
Cuộc cách mạng văn hóa này đă gặp nhiều chống đối của giới sĩ phu sính chữ Hán, nhưng nhờ quyết tâm của chính quyền nó đă thành công và nước Cao Ly vươn lên mạnh mẽ. Cho tới nay, đây vẫn là ngôn ngữ chính thức của nước Cao Ly và đă được phong phú hóa rất nhiều để trở thành một ngôn ngữ đầy đủ khả năng để chuyên chở mọi kiến thức văn học, khoa học kỹ thuật.
Vào đầu năm 1998, một bài báo của một thân hữu được đăng trên tờ Cánh én tại Đức và Thông Luận đă phê phán một bài báo khác của tôi. Tác giả phê phán tôi cực đoan trong cách nhận định văn hóa và lịch sử dân tộc và đưa ra nhận định là h́nh như những người hoạt động chính trị Việt nam đều có chung nhau một điểm là hay chọn lựa thái độ cực đoan. Đề cập tới hai khuôn mặt chính trị Việt nam hồi đầu thế kỷ, tác giả nhận định Phan Bội Châu đă cực đoan trong thái đơ thân Nhật, một chọn lựa mà nếu thành công vào lúc đó sẽ là một thảm kịch cho dân tộc Việt nam; Phan Chu Trinh đă quá khích trong cố gắng cỗ vơ dùng chữ quốc ngữ thay chữ Nho với hậu quả là người Việt nam đă mất mát rất lớn v́ bị đoạn tuyệt với văn hóa Trung Hoa, văn hóa gốc của ḿnh. Tác giả viện dẫn trường hợp Cao Ly để nói rằng người Cao Ly, cũng như người Nhật, đă tiến mạnh nhờ tiếp tục sử dụng tiếng Hán. Tôi chia sẻ với bạn đó nhận định về Phan Bội Châu nhưng không thể đồng ư về trường hợp Phan Chu Trinh và chữ quốc ngữ, nhất là về thí dụ Cao Ly. Cao Ly đă sùng ái chữ Hán trong ṿng bốn thế kỷ nhưng vẫn có ngôn ngữ riêng của họ và từ năm thế kỷ gần đây ngôn ngữ riêng là ngôn ngữ chính thức chứ không phải chữ Hán. Họ tiến nhờ ngôn ngữ riêng chứ không phải nhờ chữ Hán mà họ chỉ sử dụng như một ngoại ngữ. Theo chỗ tôi biết, trong tiếng Cao Ly hiện nay chỉ có khoảng hai ngàn chữ có gốc chữ Hán mà thôi, nghĩa là rất ít so với sự hiện diện của chữ Hán trong tiếng Việt. Các chữ Hán vay mượn này cũng đă được Cao Ly hóa, nghĩa là viết bằng mẫu tự Cao Ly, chẳng khác ǵ ta viết chữ gốc Hán như ân nhân bằng mẫu tự la tinh. Sử dụng ngôn ngữ của riêng ḿnh là một bắt buộc đối với mọi dân tộc muốn trường tồn. Suy nghĩ và diễn tả là hai hành động cơ bản nhất của loài người. Chúng ta suy nghĩ và diễn tả bằng một ngôn ngữ, và chúng ta chỉ thoải mái và chỉ thành công tối đa trong ngôn ngữ của chính ḿnh. Sử dụng một ngoại ngữ chúng ta sẽ bị giới hạn trong cả suy nghĩ lẫn diễn đạt, chúng ta sẽ thua kém. Đó mới chỉ là nói về giới trí thức. Đối với cộng đồng dân tộc việc sử dụng ngoại ngữ thay v́ quốc ngữ c̣n nguy hiểm gấp bội. Quần chúng chỉ có thể dùng ngôn ngữ của ḿnh chứ không thể thấu hiểu một ngoại ngữ. Bỏ rơi quốc ngữ là bỏ rơi đại bộ phận dân tộc và chấp nhận vĩnh viên số phận nhược tiểu, trừ trường hợp dám thẳng thắn xóa bỏ văn hóa của ḿnh để chấp nhận một văn hóa mới. Nhưng cố gắng xóa bỏ văn hóa của chính ḿnh này sẽ đ̣i hỏi nhiều thế kỷ và tới nay chưa dân tộc nào làm được. Nước Việt nam của chúng ta đă thử nghiệm trong mười thế kỷ Bắc thuộc và hơn bốn thế kỷ độc lập sau đó nhưng đă không thành công.
Đất nước ta đang mở ra với thế giới vào giữa lúc mà tiếng Anh đang thời thượng. Chẳng bao lâu một cuộc thảo luận lớn sẽ diễn ra: nên đầu tư tích cực vào tiếng Anh để hội nhập mau chóng vào sinh hoạt thế giới hay nên dồn một cố gắng vĩ đại vào việc phát triển tiếng và cải tiến tiếng Việt? Nhiều người lư luận rằng với tiếng Anh chúng ta sẽ hiểu được cả thế giới và ngược lại cũng được cả thế giới hiểu. Tiếng Việt có rất nhiều trở ngại: tiếng đơn âm, khó kết hợp và biến hóa để tạo ra những từ mới, diễn tả những ư niệm mới; dấu phức lạp, khó dùng trong truyền thông và tin học; hơn nữa lại không được thế giới biết đến, đằng nào cũng vẫn phải dùng tiếng Anh trong các giao dịch quốc tế.
Mặc dầu tất cả những trở ngại rất lớn và có thực đó, lập trường của tôi rất rơ rệt: phải dùng tiếng Việt và phải đầu tư vào tiếng Việt. Lập trường của tôi không xuất phát từ một tinh thần quốc gia mà từ một nhận định thực tiễn: người Việt chỉ thành công qua tiếng Việt mà thôi. Chúng ta sẽ không có hy vọng nào để cả nước thông thạo tiếng Anh, mà có thông thạo đi nữa th́ cũng không bao giờ thông thạo được bằng người Anh hay người Mỹ. Chúng ta sẽ học tiếng Anh, nhưng đó sẽ chỉ là ngôn ngữ giao dịch với bên ngoài. Tiếng Việt sẽ vẫn là ngôn ngữ để học hỏi, để suy nghĩ, để giáo dục, huấn luỵện, đào tạo và trao đổi giữa chúng ta. Đó là chọn lựa duy nhất của chúng ta. Chúng ta đă có kinh nghiệm chữ Hán và chữ Nôm. Chúng ta đă chỉ thực sự tiến bộ khi chữ Nôm trưởng thành. Dân tộc Cao Ly cũng đă có một kinh nghiệm tương tự về ngôn ngữ của họ sau khi đă sùng ái chữ Hán. Các dân tộc châu Âu cũng đă chỉ vươn lên nhờ biết sáng tạo và cải tiến tiếng mẹ đẻ của họ để thay thế cho tiếng La Tinh.
Chúng ta cũng có một kinh nghiệm ngược lại đầy ư nghĩa. Tỉnh Québec của Canada gom đại đa số là người gốc Pháp, và họ có đủ điều kiện để phát triển tiếng Pháp, nhưng họ không phải là một phần của nước Pháp cho nên mặc dầu có phương tiện dồi dào và có ư chí mạnh mẽ giữ ǵn tiếng Phấp, họ đă không sáng tác được ǵ đáng kể bằng tiếng Pháp. Nước Việt nam ta với điều kiện địa lư và nhân văn có triển vọng để trở thành một nước lớn và giàu mạnh, nhưng triển vọng đó sẽ chỉ được thực hiện với tiếng Việt. Vậy chúng ta chỉ có một chọn lựa: xây dựng, cải tiến và phong phú hóa tiếng Việt.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Đoạn Trường Tân Thanh

 

Khi Thúc Sinh từ biệt Thuư Kiều để về quê sau một thời gian say sưa ân ái, Nguyễn Du tả cảnh chia tay bằng hai câu thơ bất hủ:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đă nhuộm màu quan san.
Kẻ ra đi, người c̣n bịn rịn nắm áo giữ lại, đến lúc biệt ly mới ngỡ ngàng nhận ra là mùa thu đă đến từ lúc nào không hay, lá vàng đă phủ đầy lối đi. Th́ ra đôi uyên ương đă quá say sưa đến quên cả thời gian.
Nhưng vần thơ trác tuyệt như vậy đầy rẫy trong truyện Kiều. Thiên tài của Nguyễn Du là đă vừa viết truyện vừa sáng tác ra ngôn ngữ để viết. Và những sáng lạo ngôn ngữ của ông quả là tuyệt vời. Nhưng cụm từ của ông đă trở thành những thành tố quan trọng của tiếng Việt. Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, rạch đôi sơn hà, hàng thần lơ láo, đội trời đạp đất, tài tử giai nhân, sở khanh, v.v... Kiến thức về văn học của tôi không có bao nhiêu, nhưng tôi cũng đă đọc khá nhiều tác giả lớn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và nhiều truyện Tàu. Tôi chưa hề thấy một nhà văn nào sáng tạo ra ngôn ngữ nhiều như Nguyễn Du.
Những về một khía cạnh khác, truyện Kiều lại đem đến cho tôi một tâm sự chua chát. Đoạn Trường Tân Thanh là tên của một tiểu thuyết vô danh của một tác giả vô danh bên Trung Quốc, Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du đă giữ nguyên tên tác phẩm và, theo một số nhà nghiên cứu văn học, cũng giữ nguyên cả cốt truyện, kể cả những chi tiết ngớ ngẩn như hồn ma Đạm Tiên, Từ Hải chết đứng, Thuư Kiều chết đi sống lại và gặp văi Giác Duyên... Ông cũng giữ nguyên cái triết lư tài mệnh tương đố bi quan và rẻ tiền. Nói chung, Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng của chính ḿnh mà chỉ ḥa nhịp theo cảm hứng của một tác giả tầm thường của Trung Quốc và đi theo mạch tư tưởng rất tầm thường của người này. Nguyễn Du là khuôn mặt văn học lớn nhất và cao nhất của nước ta cho tới ngày nay, cho nên nhưng thiếu sót của ông càng đáng tủi hổ cho chúng ta hơn là nơi những tác giả khác. H́nh như không có câu thơ nào trong Cung Oán Ngâm Khúc mà lại không có một điển tích văn hóa hay lịch sử Trung Hoa và quyết nhiên không có một qui chiếu Việt nam nào cả. Chinh Phụ Ngâm là tác phẩm hoàn toàn của người Việt nam, bản chữ Nho của Đặng Trần Côn cũng như bản chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm, nhưng đó lại là một truyện Tàu, bối cảnh và các nhân vật của nó đều là Trung Hoa. Tâm hồn của người chiến sĩ lên đường được diễn tả qua hai câu thơ:
Săn lâu lan rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Nhưng sự Phục Ba là sự ǵ? Đó là việc tướng nhà Hán Mă Viện, có tước Phục Ba Tướng Quân, đem quân đánh bại Hai Bà Trưng, dẹp cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên của Việt nam, và đặt ách đô hộ một ngàn năm trên nước ta. Một sự kiện như vậy mà lại gây hứng khởi trong ḷng hai danh sĩ xuất sắc bậc nhất của nước ta đủ chứng tỏ cảm hứng của sĩ phu Việt nam vào thời đó đều chỉ hoàn toàn là vay mượn.
Trong thế kỷ 19 thơ văn Việt nam đă làm một bước nhảy vọt vĩ đại cả về phẩm lẫn lượng. Bước nhảy vọt này đă được tiếp nối và tăng cường trong thế kỷ 20 với sự bành trướng của chữ quốc ngữ, thơ mới và tiểu thuyết theo kiểu phương Tây. Cũng trong thế kỷ 20 mà chúng ta bắt đầu làm quen với văn nghị luận và biên khảo. Nhưng chúng ta vẫn chưa có một tác phẩm nào lớn, có tầm vóc quốc tế. Cảm hứng vụn vặt, đam mê chốc lát - di sản của một nền văn hóa nhàn dư - đă chỉ đẻ ra những tác phẩm nhỏ, hoặc họa hiếm lắm là trung b́nh như trường hợp truyện Kiều. Chúng ta thiếu óc sáng tạo và thiếu sự dài hơi. Tại sao?
Không phải chúng ta thiếu tài năng. Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, v.v... đều đáng được coi là những thiên tài của ngôn ngữ.
Không phải chúng ta thiếu đề tài và chất liệu. Mười lăm thế kỷ đấu tranh với thiên nhiên để khai mở đồng bằng sông Ḥng, đấu tranh với ngoại bang, vua quan và sĩ phu để giữ ǵn căn cước. Cả một cuộc nam tiến vĩ đại kéo dài bảy thế kỷ trong đó những tấm áo nâu đă dắt d́u nhau vào tới Cà Mau. Hơn một trăm năm Trịnh - Nguyễn phân tranh, ba mươi năm tranh hùng Nguyễn ánh - Tây Sơn; cuộc xâm lăng của người Pháp và gần một thế kỷ Pháp thuộc mang theo một cuộc đụng độ dữ dội chưa từng có giữa hai thế giới và hai nền văn hóa khác hẳn nhau. Thế rồi cuộc chiến đấu giành độc lập, cuộc can thiệp của Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Nam - Bắc kéo dài hai mươi năm, nhưng cuộc di tản lịch sử đem người Bắc vào Nam và đem người Việt trải rộng ra khắp thế giới, v. v... Biết bao đổi thay bị hùng tráng lệ, biết bao đau khổ, mừng vui, t́nh nghĩa, phản trắc. Tất cả những đảo lộn dồn dập đó, nhất là trong hơn bốn thế kỷ gần đây, đă có thể cũng cấp đề tài cho những tác phẩm tầm cỡ lớn hơn Chiến Tranh và Ḥa B́nh, Anh em Karamazov, Les Hommes de Bonne Volonté, Les Thibault, Gon withthe Wind, Grapes of Wrath, A Farewell to Arms... Chúng ta không sáng tác được v́ chúng ta thiếu tầm nh́n và cách nh́n để thấy được cái vĩ đại ngay chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng.
Sự thiếu tư tưởng của chúng ta là quá rơ rệt. Chúng ta không có một đóng góp nào cho tư tưởng thế giới đă đành nhưng chúng ta cũng không nhận thức được về chính ḿnh. Việc du nhập một cách cuồng tín chủ nghĩa cộng sản vào Việt nam, cũng như sự kéo dài dai dẳng của nó, và của lập trường chống cộng, tố giác một cách phũ phàng sự yếu kém về tư tưởng của chúng ta. Hiện tượng Kim Dung trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 mới thực là kỳ quái? Truyện kiếm hiệp của Kừn Dung chỉ có giá trị tương đương với một bộ truyện giải trí nhi đồng, một bộ truyện bằng tranh hay một phim hoạt họa. Nó không dựa trên một sự thực nào, không có một giá trị văn học nào mà cũng không chuyên chở một tư tưởng nào, hay một nhăn quan nào về cuộc sống và thế giới. Nó chỉ có cái khác với các bộ sách kiếm hiệp cổ điền ở chỗ nó tương đối hóa tất cả, pha trộn thiện ác, chính tà. H́nh như nó cũng có tham vọng qua các nhân vật và phe phái phản ảnh phần nào thế tranh hùng trên thế giới. Nhưng nó tŕnh bày một cách ngây ngô hời hợt. Và nhất là nó hoàn toàn không có giá trị văn học. Vậy mà cả miền Nam say mê, ngay cả các trí thức được coi là lớn cũng bỏ công nghiên cứu và bàn luận. Tôi cũng có đọc một số truyện nổi tiếng nhất của Kim Dung với mục đích phân tích tâm lư của trí thức miền Nam lúc đó. Thể thực là tôi rất thất vọng, thất vọng về truyện Kim Dung th́ ít v́ dầu sao nó cũng có giá trị giải trí, nhưng thất vọng lớn về sự thấp kém bi đát của trí thức miền Nam lúc đó. Thiếu tư tưởng và cảm hứng th́ dĩ nhiên ta không thể sáng tạo mà phải đi vay mượn của nước ngoài. Nhưng có những bộ môn nghệ thuật trong đó chúng ta bắt buộc phải sáng tạo, phải có cảm hứng của chính ḿnh, dựa trên những chất liệu quanh ḿnh, chẳng hạn như hội họa, điêu khắc và, ở một mức độ bớt gay gắt hơn, ca múa. Chúng ta yếu trong những bộ môn này là lẽ dĩ nhiên. Điều đáng buồn là, ngoại trừ thơ văn, những sáng tạo ít ỏi của chúng ta cho đến dầu thế kỷ 20 này, dù là hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa, v.v... dều không do những phần tử sĩ phu mà do dân gian.
Điều cũng đáng buồn là hầu hết những người lỗi lạc nhất của chúng ta, những Nguyễn Trăi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quư Đôn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, v. v... Đều nhờ đă từng đi sứ hay xuất ngoại và học hỏi được ở nước ngoài. Như thế phải nói ngay rằng nền giáo dục của chúng ta không đào tạo ra được nhân tài. Cái ǵ đă giam hăm trí tuệ Việt nam, không cho nó vượt thoát, sáng tạo và bay bổng?
Giải thích đầu tiên là do lịch sử nước ta, mà chúng ta đă cùng nhau lược qua trong cuốn sách này. Chúng ta không phải là một dân tộc tự do. Trong hai ngàn năm sau công nguyên, nghĩa là gần như trọn chiều dài lịch sử đích thực của chúng ta, chúng ta đă bị ngoại thuộc hơn một ngàn năm, chúng ta đă phải chịu đựng những cuộc chiến thảm khốc trong phần lớn thời gian c̣n lại; ưu tư phải dành cho sự sống c̣n thay v́ cho suy nghĩ và sáng tạo. Các chế độ tự chủ của ta chẳng qua cũng chỉ là những bạo quyền bản xứ. Chúng ta không có tự do. Và một con người không có tự do th́ cũng không thể có óc sáng tạo.
Giải thích thứ hai là do địa lư. Nước ta được dựng lên từ châu thổ sông Hồng. Các công tŕnh thủy lợi, đắp đê ngăn nước, đào kênh dẫn nước là chuyện sinh tử của xă hội. Chúng ta cần những chế độ bạo ngược áp đặt những hy sinh tàn nhẫn để chống cự với thiên nhiên cho sự sống sót của tập thể. Đó là số phận nô lệ chung trong quá tŕnh h́nh thành của mọi dân tộc sống quanh những con sông lớn, với lưu lượng thay đổi đột ngột. Sau hàng ngàn năm bị chà đạp và hành hạ như thế, chúng ta hấp thụ bản chất nô lệ cộng thêm với cuộc sống nông dân cơ cực phải vật lộn với đất để lấy từ đất ra miềng ăn cho từng ngày. Kết quả là chúng không biết nh́n xa và sáng tạo. Cái địa lư đă nuôi ta cũng đồng thời để lại cho chúng ta những t́ vết. Vậy th́ để vươn lên chúng ta phải thắng được di sản lịch sử và địa lư đó. Các tiến bộ kỹ thuật đă giải tỏa chúng ta khỏi ách nô lệ của đê điều. C̣n lại là di sản tâm lư do quá khứ để lại. Chúng ta cần một quyết tâm sống như những con người tự do và xây dựng đất nước trên tự do, bởi v́ chỉ có những con người tự do mới có khả năng sáng tạo.
Lịch sử và địa lư không giải thích tất cả. C̣n những yếu tố khác mà chúng ta có lẽ đă chấp nhận do hoàn cảnh lịch sử và địa lư, nhưng với thời gian chúng đă đóng một vai tṛ c̣n quan trọng hơn.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Thua kém và nguyên nhân

 

Cuối thế kỷ 19 chúng ta bị người Pháp đánh bại và khuất phục một cách dễ dàng. Thất bại này đầy hổ nhục v́ nước Pháp lúc đó cũng đang chao đảo mạnh. Năm 1872 là năm quân Pháp đánh hạ Thăng Long, nghĩa là chỉ hai năm sau khi Pháp đại bại trước quân Đức, hoàng đế Napoléon III, cháu của Napoléon I, thua trận, bị bắt sống và đế quốc thứ hai của Pháp sụp đổ. Nhưng đạo quân viễn chinh của Pháp cũng không có bao nhiêu. Cả hai lần hạ thành Thăng Long họ đều chỉ cần vài trăm quân.
Cuối thế kỷ 20, khi nhiều quốc gia châu á khác cũng ở một tốc độ phát triển tương đương với chúng ta trong thế kỷ trước đă tiến lên mạnh mẽ, sự thua kém của chúng ta so với phương Tây vẫn tiếp tục trầm trọng thêm. Lợi tức b́nh quân trên mỗi đầu người của ta vào năm 2000 được ước lượng là 300 USD, nghĩa là chỉ xấp xỉ bằng 1/100 của Hoa Kỳ, Nhật và các nước Tây Âu mà thôi. Tóm lại trong hơn một thế kỷ đổi mới tuy chúng ta đă tiến triển khá nhiều, nhưng các nước tiên tiến c̣n tiến bộ nhanh hơn và khoảng cách giữa họ và chúng ta không hẹp lại mà c̣n rộng ra, trong khi nhiều nước cũng chậm tiến như chúng ta trước đây đă vươn lên mạnh mẽ.
Tại sao có sự thua kém đó?
Cần phải gạt đi ngay những câu trả lời quanh co: chúng ta không may mắn, chúng ta bị chiến tranh nhiều quá, các lănh tụ của chúng ta tồi tàn quá, v. v... Đó không phải là những câu trả lời thực sự. Thế tại sao chúng ta lại gặp toàn những xui xẻo, tại sao lại chiến tranh nhiều quá, tại sao lại chỉ có những người lănh đạo tồi? Định mệnh nào khiến chúng ta cứ, như Nguyễn Du nói, t́m toàn những ngả đoạn trường mà đi?
Khi một quốc gia thua kém mặc dù những điều kiện địa lư không đến nỗi quá bất lợi th́ chỉ có thể có hai giải thích, một là con người tồi, hai là văn hóa tồi mà thôi. Nhưng có thực là có hai giải thích không hay chỉ có một? Tất cả các nhà bác học về nhân chủng, y khoa, tâm lư đều đă đồng ư với nhau về một kết luận: chỉ có một giống người trên thế giới này mà thôi và mọi dân tộc đều có những khả năng như nhau hay ít ra gần như nhau. Chỉ có những phần tử cực đoan và kỳ thị, thường thường vô học, mới phủ nhận kết luận này. Với thời gian càng ngày nó càng được xác nhận. Có thể vẫn có những người hồ nghi về sự b́nh đẳng khả năng trí tuệ thực sự giữa những con người, coi đó là một xác quyết có tính cách triết học và nguyên tắc hơn là một sự kiện khoa học và khách quan nhưng cho tới nay họ chưa đưa ra được một lập luận giá trị nào. Nhưng ngay cả nếu chúng ta chấp nhận để tạm không bàn căi về sự hồ nghi đó th́ vấn đề vẫn không đặt ra đối với người Việt nam. Người Việt nam qua tiếp xúc với văn hóa, khoa học và kỹ thuật phương Tây đă chứng tỏ khả năng hấp thụ nhanh chóng bất cứ một kiến thức nào. Hơn hai triệu người Việt hải ngoại, sau một thời gian thích nghi rất ngắn ngủi, đă đạt được một mức sống và một tŕnh độ gần tương đương với dân tộc các nước tiếp cư. Con người Việt nam không tồi.
Nguyên nhân của sự thua kém bi đát hiện nay như vậy chỉ là v́ văn hóa của chúng ta quá tồi mà thôi. Vậy chúng ta phải thay đổi văn hóa nếu muốn vươn lên.
Mà văn hóa là ǵ? Đó lại là cả một câu hỏi phức lạp có thể tranh căi vô cùng tận. Nhưng trong sự suy nghĩ để đi t́m tiến bộ chung, chúng ta có thể tạm chấp nhận một định nghĩa thu hẹp: văn hóa của một dân tộc là toàn bộ những nhận thức và những giá trị đă tạo ra cho dân tộc đó một cách suy nghĩ và hành động, một cách tiếp cận và ứng xử với môi trường chung quanh.
Đến đây cần nhấn mạnh, và nhấn thực mạnh, một điều. Đó là nếu quan sát kỹ chúng ta sẽ thấy tất cả mọi giá trị, tốt cũng như xấu, đều hiện diện trong mọi nền văn minh, hay cũng như dở. Điều khác biệt là tầm quan trọng tương đối của các giá trị trong mỗi nền văn hóa. Các nền văn hóa khác nhau không phải v́ chúng chứa dựng những giá trị khác nhau mà v́ chúng dành cho các giá trị những trọng lượng khác nhau. Và sự khác biệt này có thể đưa đến những hậu quả cực kỳ lớn. Con sên cũng chuyển động, con ngựa cũng chuyển động, nhưng hai con vật này không chuyển động với cùng một vận tốc. Như vậy, trong cuộc thảo luận về văn hóa, chúng ta đừng nên mất th́ giờ để biện luận Khổng Giáo cũng có cái này, Công Giáo cũng có cái kia, Phật Giáo cũng có cái nọ, v.v... Khi chúng ta nói cần thay đổi văn hóa (hay cần làm một cuộc cách mạnh văn hóa) là chúng ta muốn nói cần thay đổi trọng lượng tương đối của các giá trị dựa trên kinh nghiệm của những dân tộc tiến bộ chứ không phải là cần nhập cảng giá trị này, loại bỏ giá trị kia. Không phải là một t́nh cờ mà Việt nam và Trung Quốc có thân phận gần giống nhau. Cả hai nước đều chịu những thảm kịch lớn, đều vướng mắc với một chủ nghĩa đă bị đào thải, đều thua kém bi đát trong khi những người dân của cả hai nước lập nghiệp tại nước ngoài đều khá thành công. Cũng không phải là một sự t́nh cờ mà Đảng cộng Sản Việt nam luôn luôn lẽo đẽo chạy theo Đảng cộng sản Trung Quốc như các vua chúa nhà Nguyễn lẽo đẽo chạy theo triều Thanh. Cùng một văn hóa đưa tới cùng một cách suy nghĩ và hành động, và cuối cùng đưa tới những chọn lựa giống nhau. Việt nam cùng một văn hóa với Trung Quốc, nghĩa là cùng đề cao một số giá trị và cùng xem thường một số giá trị khác, bởi v́ đă bị lệ thuộc Trung Quốc trong hơn một ngàn năm và đă cố gắng rập khuôn theo Trung Quốc trong gian một ngàn năm sau đó.
Ngày nay, trước hoàn cảnh bi đát của đất nước, nhiều người đă thao thức đặt vấn đề làm thế nào để đưa đất nước đi lên. Đại đa số những phát biểu này thuộc hai loại.
Loại thứ nhất phân tích những sai lầm hoặc tố giác những đă tâm trong quá khứ đă đưa đến t́nh trạng hiện nay.
Loại thứ hai quay lưng lại với quá khứ và hướng về tương lai, gồm những đề nghị về kế hoạch và kinh tế, đôi khi dựa trên những thống kê được sưu tập khá công phu.
Tôi cho cả hai cách tiếp cận này đều không đúng. Nếu vẫn giữ nguyên một văn hóa cũ th́ dù không làm sai lầm này người ta cũng sẽ làm sai lầm khác. C̣n các kế hoạch kinh tế tài chánh th́ tôi hoàn toàn dị ứng. Không phải v́ ta thực hiện kế hoạch kinh tế này thay v́ kế hoạch kinh tế khác mà đất nước ta sẽ khá hơn. Những chuyên gia nghĩ như vậy không hiểu ǵ về kinh tế và tạo ra cho người khác những ảo tưởng sai lầm. Họ không đóng góp mà c̣n đánh lạc hướng những suy tư khỏi nguyên nhân chính của mọi đau khổ của chúng ta hiện nay.
Chúng ta đă như ngày nay bởi v́ chúng ta đă có một văn hóa tồi tệ. Chúng ta chỉ vươn lên được nếu ư thức được rằng văn hóa của ta tồi, cần phải thay thế bằng một văn hóa khác. Ngay cả nếu chỉ giới hạn trong phát triển kinh tế mà thôi th́ cũng cần ư thức rằng phát triển kinh tế chủ yếu vẫn chỉ là một vấn đề tâm lư và văn hóa.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Khổng Giáo và Khổng Tử

 

Đọc xong những ḍng trước độc giả đă có thể đoán là tôi sắp đặt vấn đề Nho Giáo. Văn hóa truyền thống của ta là văn hóa Nho Giáo. Nói rằng văn hóa của ta cần được xét lại có nghĩa là chúng ta phải nhận định lại Nho Giáo.
Nhiều độc giả có Tây học, nhất là những độc giả trẻ, có thể sẽ phản ứng: tại sao lại cần đặt vấn đề Nho Giáo? Văn hóa của chúng ta ngày nay đâu c̣n là văn hóa Nho Giáo nữa, người Việt nam đă thôi học chữ nho và tư tưởng Nho Giáo từ gần một thế kỷ nay rồi. Tôi có biết Tứ Thư, Ngũ Kinh là ǵ đâu? v. v... Xin các bạn b́nh tĩnh. Văn hóa của chúng ta vẫn là văn hóa Nho Giáo. Từ giă một nền văn hóa không dễ đâu; nó đ̣i hỏi một cố gắng tàn bạo đối với chính ḿnh, điều mà cho tới nay chúng ta vẫn từ chối không làm. Kiến thức của chúng ta có thể đă đổi mới rất nhiều nhưng văn hóa không phải chỉ là kiến thức. Và văn hóa của chúng ta chưa thay đổi bao nhiêu. Một nếp sống mà chúng ta đă theo trong mấy ngàn năm không dề ǵ chúng ta có thể đoạn tuyệt trong ṿng một thế kỷ, nhất là trong suốt thế kỷ đó chúng ta lại rất ít đặt vấn đề triết lư và tâm lư. Chúng ta vẫn giữ hồn tính cũ và nói chung chỉ tiếp thu những hiểu biết mới một cách thực dụng, để sử dụng chúng với tâm lư có sẵn nghĩa là tâm lư Nho Giáo. Đó là nói về những người có học thức, c̣n đối với đại đa số quần chúng th́ lâm lư Nho Giáo lại c̣n tồn tại mạnh hơn.
Văn hoá và tâm lư chủ yếu nằm trong nếp sống, và một nếp sống có cách lưu truyền riêng của nó, qua sinh hoạt gia đ́nh, qua hành động, cử chỉ, thái độ và những cái nh́n của cha mẹ và người chung quanh, qua những gương anh hùng, liệt sĩ, vĩ nhân mà chúng ta tiếp thu tại học đường, qua những chuyện quyền bà kể cho cháu, cô giáo kể cho học tṛ ở ngay đầu đời. Văn hóa là toàn bộ những ư niệm và giá trị mà chúng ta đă được giáo dục để coi là đúng và do đó quyết định cách suy nghĩ, hành động và ứng xử của chúng ta. Kiến thức chỉ là bề mặt của văn hóa, là những dụng cụ để thể hiện một văn hóa. Văn hóa không đến với chúng ta bằng lư trí để chúng ta có thể biện luận, chọn lọc và phản bác. Nó đến một cách kín đáo và vô t́nh; nó nằm trong vô thức của chúng ta, nó xâm nhập tâm hồn chúng ta, trở thành bản năng của chúng ta. Nó khống chế và chỉ huy chúng ta mà chúng ta không ư thức được nên càng khó cưỡng lại. Nó là một phần của chính chúng ta nên chúng ta chỉ có thể xét lại nó nếu dám ra khỏi ḿnh để chống lại chính ḿnh. Do đó văn hóa và tâm lư có sức sống cực kỳ dai dẳng. Chúng ta vẫn tiếp tục được đào tạo theo Nho Giáo ngay cả nếu chúng ta không ư thức được như vậy. Nho Giáo vẫn c̣n hiện diện rất mạnh mẽ trong xă hội Việt nam và trong con người Việt nam. Bởi vậy chúng ta phải t́m hiểu nó để biết chúng ta là ai.
Nho Giáo thường được gọi là Khổng Giáo. Mặc dầu cách gọi này không đúng nhưng với thời gian nó đă thành chính thức. Từ khi có trao đổi giữa phương Đông và phương Tây th́ danh xưng Khổng Giáo đă thay thế hẳn danh xưng Nho Giáo, v́ người phương Tây chỉ biết đến danh xưng Khổng Giáo (Confucianism) mà thôi. Trước khi bàn về Khổng Giáo cần đặt ra ngoài ṿng trách nhiệm một nhân vật: ông Khổng Khâu. Ông này thường được gọi một cách tôn kính là Không Phu Tử hay Khổng Tử. Người á Đông, nhất là người Trung Quốc và người Việt nam, gọi ông là Đức Khổng, coi ông như một vị thánh, thánh tổ của một tôn giáo.
Không thiếu những tác phẩm nói đến Đạo Khổng.
Khổng Khâu sinh năm 551 trước Tây lịch và mất năm 479 trước Tây lịch, nghĩa là ngay chính giữa một thời đại dài 500 năm (722-221 trước Tây lịch) mà lịch sử gọi là thời Xuân Thu Chiến Quốc. Lúc đó Trung Quốc đă có gần bốn ngàn năm lịch sử rồi. Theo sử Trung Quốc th́ vị vua đầu tiên là Phục Hi (4480-43 65 trước Tây lịch) đă đặt ra tám quẻ bói toán để ḍ ư trời đất, quỉ thần. Niên đại có thể không được chính xác, nhưng sự kiện này chứng tỏ rằng ngay từ một thời đại rất xa xưa, khi hầu như cả nhân loại c̣n rất bán khai th́ xă hội Trung Quốc đă tiến hóa đến mức những băn khoăn siêu h́nh đă xuất hiện. Từ quá tŕnh lịch sử rất dài đó đă h́nh thành một sinh hoạt văn hóa và chính trị có nền nếp: Nho Giáo.
Thời đại của Khổng Tử là thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng là thời nhà Chu, một triều đại kéo dài hơn 900 năm, từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 3 trước Tây lịch. Nửa đầu nhà Chu rất ổn định, nhưng từ nửa sau thế lực của chính quyền trung ương suy yếu đi, đến độ phải dời đô về phương Đông để tránh giặc. Các nước chư hầu không c̣n thần phục trung ương nữa, mặc sức tranh giành và thôn tính lẫn nhau. Khổng Tử sinh sống trong nửa sau này. Lúc đó Nho Giáo đă thành h́nh từ rất lâu rồi.
Nho Giáo là một hệ thống giáo dục và đào tạo những người phục vụ cho các vua chúa, vua nhà Chu cũng như các vua chư hầu. Chữ Nho trong tiếng Trung Quốc gồm một chữ Nhân, có nghĩa là người, bên cạnh một chữ Nhu có nghĩa là cần thiết. Như vậy nho có nghĩa là người cần thiết để giúp các vua chúa trị nước. Cần hiểu rơ như vậy để đừng ngộ nhận coi Nho Giáo là một triết lư. Nho Giáo chỉ là sự giảng dạy những đức tính và kiến thức phải có để được chọn ra làm quan; nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là một chương tŕnh đào tạo công chức. Không phải ai theo học đạo Nho cũng đều được làm quan.
Vào thời nhà Chu và trước đó, những người được chọn để ra làm quan được gọi là sĩ và được đặt dưới quyền quản lư của một quan tư đồ; họ được huấn luỵện sáu nghề: lễ (các nghi thức), nhạc, xạ (vơ và ban cung), ngự (điều khiền xe, ngựa), thư (ghi chép tài liệu) và sổ (bói toán). Nếu lấy h́nh ảnh thời nay th́ sĩ là những học viên của một trường quốc gia hành chính.
Xă hội Trung Quốc từ ngày lập quốc đến rất lâu sau khi Khổng Tử ra đời và mất đi, cần nhấn mạnh là rất lâu sau khi Khổng Tử mất, được chia làm ba giai cấp vương hầu, quân tử và tiểu nhân. Sự phân chia này thuần túy dựa vào chỗ đứng trong xă hội chứ không mang một nội dung đạo đức nào. Vương hầu là những quí tộc giàu có, có đất đai và nông nô. Tiều nhân, c̣n gọi là dân, là nhưng nông nô bần cùng sống dưới sự thống trị của giai cấp quí tộc, dĩ nhiên giai cấp tiểu nhân chiếm tuyệt đại đa số trong xă hội. Quân tử là giai cấp trung gian giúp giai cấp quí tộc thống trị giai cấp tiểu nhân.
Phần lớn nhân sinh quan của Khổng Khâu được ghi chép lại trong sách Luận Ngữ. Khổng Khâu làm công việc đào tạo ra các quân tử, ông vạch ra một người quân tử kiểu mẫu. Thường thường những lời giáo huấn của Khổng Khâu có hai vế: Người quân tử th́... c̣n kẻ tiểu nhân th́... . Khổng Tử không tiết kiệm lời đề cao người quân tử và cũng không tiếc lời mạt sát đám tiểu nhân. Ông đứng hẳn về phía các vua chúa. Trong lịch sử Trung Hoa và thế giới chưa có ai có thái độ khinh bỉ đối với quần chúng bằng ông. Điều rất đáng ngạc nhiên là tuyệt đại đa số những người bàn luận về Khổng Giáo không hiểu ư nghĩa của những từ ngữ quân tử và tiểu nhân ở vào thời đại của Khổng Khâu (và rất lâu sau khi ông đă qua đời) nên họ thường hay coi sĩ và quân tử là những giá trị tinh thần, biểu tượng của một nhân cách, một đạo đức và họ hay đồng hóa sĩ và quân tử với sự cao thượng. Thực ra nho chỉ là những người học để ra làm quan, sĩ là những nho được tuyền chọn để được huấn luỵện thành quan, quân tử là một giai cấp, giai cấp của kẻ sĩ, nhưng kẻ làm tay sai cho các vua chúa để thống trị quần chúng. C̣n tiểu nhân chỉ có nghĩa là quần chúng mà thôi. Có thể với thời gian ư nghĩa của những danh từ tiểu nhân, quân tử đă biến đổi, nhưng ở vào thời đại của Khổng Khâu và rất lâu sau khi ông đă qua đời đó chỉ là những thành phần xă hội.
Giai cấp quân tử, hay sĩ, do đâu mà có? Đó có thể là những người trong giai cấp tiểu nhân may mắn được các vua chúa tin dùng, nâng đỡ rồi nhờ chức vụ mà đạt tới sự hiểu biết hơn quần chúng. Đó cũng có thể là những quí tộc sa sút, hay những người thua trận được kẻ chiến thắng dùng làm tay chân.
Khổng Tử là một sĩ. Ông là con của một vị quan nhỏ nước Lỗ tên là Thúc Lương Ngột. Năm 19 tuổi ông được bổ nhiệm vào chức vụ một quan thu thuế, rồi sau đó được cử trông coi đàn súc vật dùng vào việc cúng tế. Vào thời đại đó, cúng tế trời đất quỉ thần là một việc quan trọng hàng đầu. Theo sử sách th́ Khổng Tử say mê việc cúng tế ngay từ hồi c̣n thơ ấu cho nên thạo việc cúng tế rất sớm; ngay khi ông c̣n trẻ đă có những gia đ́nh gởi con theo ông học nghề cúng. Như vậy nghề chính của Khổng Tử là nghè thầy cúng. Hai nghề thu thuế và thày cúng đă có ảnh hưởng quyết định lên cá tính của ông. Trong suốt cuộc đời, Khổng Khâu rất trọng sự chính xác và các nghi thức, ông tin vào những sự huyền bí mà không bao giờ thắc mắc. Rất xuất sắc trong cúng tế, Khổng Khâu được vua nước Lỗ gởi về kinh đô nhà Chu để học hỏi thêm về lễ nghi. Nhờ cuộc du học đó mà ông rất được kính trọng khi trở về nước Lỗ. Cần nhấn mạnh là vào thời đó cúng là việc quan trọng nhất. Các triều đ́nh có hai loại quan, loại quan Chúc lo việc cúng tế và loại quan Sử lo việc lo việc thường ngày; nhưng quan Chúc cao hơn quan Sử v́ cúng tế được coi là cao nhất. Tuy vậy, vua nước Lỗ vẫn không tin dùng ông. Măi tới năm 51 tuổi, một tuổi rất cao vào thời đó, Khổng Tử mới được bổ nhiệm vào chức Trung Đô Tể và sau đó thăng dần tới chức tướng quốc, chức vụ đứng đầu các quan. Theo sách sử th́ ông trị nước rất nghiêm minh và đă đem lại ổn định và phồn thịnh cho nước Lỗ. Nhưng chỉ một năm sau khi nhận chức tướng quốc, ông từ chức v́ một lư do rất nhỏ mọn: vua nước Lỗ đă không chia phần thịt cho ông trong buổi tế Giao. Từ đó ông bắt đầu một cuộc hành tŕnh vất vả dài 11 năm qua nhiều nước để xin làm quan, nhưng ông không được vua nào dùng cả. Khi ông chán nản trở về nước Lỗ th́ đă 68 tuổi, ông bỏ mộng làm quan và tập trung cố gắng để viết sách.
Trong việc biên soạn sách, Khổng Khâu hoàn toàn không sáng tác ǵ cả mà chỉ ghi chép những ǵ đă có sẵn. Ông nói: Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác, ta tin và thích những ǵ của đời xưa (thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ). Đó không phải là một câu nói khiêm tốn như ta có thể nghĩ mà là cả một tín chỉ của Khổng Khâu. Ông coi những triết lư và hiểu biết của người xưa là đầy đủ và hoàn chỉnh, đời sau cứ thế mà theo không được sửa đổi, thêm bớt ǵ cả.
Khổng Khâu chép lại năm cuốn sách được gọi là Ngũ Kinh, Kinh Dịch (bói toán), Kinh Thư (văn từ của các vua quan), Kinh Thi (các bài thơ và các bài hát), Kinh Lễ (các nghi thức về cúng tế và hội họp trong triều đ́nh) và Kinh Nhạc. Ngoài ra Khổng Khâu c̣n soạn ra bộ sách Xuân Thu, cũng được gọi là kinh, chủ yếu kể chuyện về các vua chúa nước Lỗ. Các cuốn kinh này đều đă bị thất lạc. Đến khi nhà Hán trọng nho học mới cho t́m lại nhưng không được bao nhiêu. Các đệ tử hậu bối của Khổng Tử thêm bớt vào rất nhiều, tạo thành năm cuốn sách gọi là Ngũ Kinh: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Thi và Kinh Xuân Thu. Riêng Kinh Nhạc chỉ c̣n lại một chương được cho vào Kinh Lễ.
Các nho sĩ đời sau c̣n viết ra bốn cuốn sách khác là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. Bốn cuốn sách này, được gọi chung là Tứ Thư Đại Học (do người học tṛ của Khổng Tử là Tăng Tử viết) và Trung Dung (do người học tṛ của Tăng Tử là Khổng Cấp viết) thật ra chỉ là một số chương đă có trong Kinh, Luận Ngữ (do Tăng Tử và các môn đệ soạn) ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử; Mạnh Tử là cuốn sách do Mạnh Tử, tên thật là Mạnh Kha, sinh ra hơn một trăm năm sau ngày Khổng Tử mất, và các môn đệ của ông, chép lại những lời nói của Mạnh Tử.
Tứ Thư và Ngũ Kinh được coi như những cuốn sách căn bản của Nho Giáo, trong đó Luận Ngữ quan trọng hơn cả. Khổng Giáo, hay đúng hơn là Nho Giáo, đă được nhiều đóng góp của nhiều nho sĩ qua nhiều thời đại. Trong nhưng nho sĩ này, người nổi tiếng nhất là Mạnh Tử; tên Mạnh Tử được ghép liền với Khổng Tử, Khổng Giáo v́ thế c̣n được gọi là đạo Khổng Mạnh. Sau Mạnh Tử khoảng nửa thế kỷ c̣n một nho sĩ rất xuất sắc khác là Tuân Tử. Tuân Tử vừa có khả năng lư luận xuất chúng lại vừa có óc phê phán, ông bài bác tinh thần thủ cựu của những người đi trước đả phá sự mê tín vào thần linh, đề cao vai tṛ của giáo dục. Tuân Tử rất phóng khoáng, đi rất sâu vào tâm lư con người và phân tích khá cặn kẽ về sự hiểu biết. Ông là một triết gia thực sự và lẽ ra đă phải mở đường cho Nho Giáo đổi mới và tiến lên. Tiếc rằng ông bị cả một khối nho sĩ đông đảo chê bai, các vua chúa dĩ nhiên cũng không chấp nhận sự phóng khoáng của ông nên Tuân Tử không được coi là thánh hiền và tư tưởng của ông không được đề cao.
Sau thời Đông Chu Liệt Quốc, những đóng góp quan trọng nhất cho Nho Giáo là của Đồng Trọng Thư và Dương Hùng dưới thời nhà Hán (202-220 trước Tây lịch); Vương Thông vào thời nhà Tùy (581-618), Hàn Dũ vào thời nhà Đường (618-906); Vương An Thạch, Chu Đôn Di, Trương Tái, Tŕnh Hạo, Chu Di vào thời nhà Tống (960- 1280); Vương Dương Minh đời nhà Minh (1368- 1648). Những đóng góp đó đă khiến các học giả bối rối khi bàn về Nho Giáo và thường đặt câu hỏi Nho Giáo nào? Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho hay Minh Nho?. Tuy nhiên, các thay đổi này chỉ là những thay đổi về cách diễn đạt và áp dụng mà không thay đổi bản chất và tinh thần của Nho Giáo. Nho Giáo vẫn là một hệ thống ư thức tôn trọng chế độ quân chủ cực quyền, bảo thủ và bất dung. Đối với Nho Giáo, Khổng Tử không sáng tác ǵ cả. Đóng góp của ông không đáng kể so với Mạnh Tử và cũng kém hẳn các danh nho sau này. Ông đă chỉ chép lại các sách cũ và hơn nữa các sách của ông đều đă thất lạc. Như vậy khi phê phán tư tưởng Khổng Giáo, dù để bênh vực hay lên án, dù để khen hay chê, cần phải tách rời nó khỏi nhân vật Khổng Khâu. Về mặt tư tưởng, nên nhấn mạnh là về mặt tư tưởng, ông là một người vô can.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Sự nghiệp và nhân cách của Khổng Tử

 

Khổng Tử tuy không có đóng góp quan trọng nào về mặt tư tưởng nhưng lại có ảnh hưởng lớn trên sự phát triển của Nho Giáo, v́ thế mà người ta đă gọi Nho Giáo là Khổng Giáo. Một cách gián tiếp Khổng Tử đă góp phần quyết định làm cho tư tưởng Nho Giáo bế tắc và không đổi mới được với thời gian. Đến lượt nó, Nho Giáo đă khiến các xă hội á Đông thuộc văn hóa Trung Hoa dẫm chân tại chỗ trong hơn hai ngàn năm.
Tôi có viết một bài báo phê phán Khổng Giáo và đă nhận được một số phản ứng, tán thành có mà phản đối cũng có. Các vị phản đối thường trách tôi một điều là đem ư thức thời nay để phê phán người xưa, nghĩa là đặt lầm bối cảnh. Thực ra chính các vị này làm lẫn lớn về thời gian, họ đem bối cảnh tâm lư và xă hội của thế kỷ 19 để bàn luận về Khổng Tử.
Dù vai tṛ thực sự của ông thế nào, Khổng Tử đă được coi là vị thánh, một vị thầy của muôn đời (vạn thế sư biểu); cung cách của ông và những lời ông nói được lấy làm mẫu mực lập thân cho nhiều dân tộc á Đông, trong đó có Việt nam, nên chúng ta cần hiểu ông. Trước hết là đóng góp của ông đối với Nho Giáo. Đóng góp này rất lớn, Khổng Tử là người đầu tiên ghi chép lại một cách công phu và toàn bộ những kiến thức của Nho Giáo. Nhờ ông mà người đương thời có được một cái nh́n tổng quát về Nho Giáo và có thể học hỏi Nho Giáo một cách dễ dàng hơn hẳn lúc trước. Tuy vậy ông không đóng góp ǵ cho tư tưởng Nho Giáo, đồng hóa ông với Nho Giáo cũng sai lầm như coi một giáo sư toán có công biên soạn một số sách giáo khoa toán là một nhà toán học.
Tại sao Khổng Tử lại được tôn vinh như một vị thánh? Không phải đợi đến khi Hán Cao Tổ (tức Lưu Bang) sang nước Lỗ lễ mộ Khổng Tử, hay Hán Vũ Đế đưa Nho Giáo lên làm quốc giáo Khổng Tử mới được tôn vinh. Trước đó đă có vơ số sĩ tử sùng bái Khổng Tử. Phải h́nh dung bối cảnh thời đó mới hiểu được sự sùng bái Khổng Tử và đóng góp to lớn cho xă hội của ông.
Khổng Tử lưu lạc khắp nơi, không được vua chúa nào dùng phải quay về cố hương là nước Lỗ để mở trường dạy học. Nhờ uy tín Khổng Tử đă mở được trường tư đầu tiên tại Trung Quốc và đó là biến cố vô cùng quan trọng. Trước đó việc đào tạo kẻ sĩ là của triều đ́nh và chỉ có những người được chọn làm sĩ mới được huấn luỵện để ra làm quan mà thôi, nhưng làm thế nào để có thể trở thành sĩ nếu không phải đă sẵn là con quan như chính Khổng Tử? Đám tiểu nhân, hay quần chúng, không có phương tiện nào để tiến thân cả trừ ra những cơ hội cực kỳ may mắn được các vua chúa đoái hoài tới. Chính nhờ Khổng Tử mà quần chúng có được một phương tiện để thăng tiến qua giáo dục. Đây là một cuộc cách mạng văn hóa lớn, thay đổi hẳn tương quan xă hội, tạo ra một quan hệ lưu thông giữa hai giai cấp quân tử và tiểu nhân. ở vào thời đại của Khổng Tử, số phận đám tiểu nhân chỉ là sự đầy đọa mà thôi. Khổng Tử đă tạo ra gần ba ngàn môn đồ, giúp họ ra khỏi sự đầy đọa đó, họ mang ơn ông và thờ ông là lẽ tự nhiên. Đến lượt họ cũng mở trường dạy học và cũng truyền bá sự tôn thờ sư tổ của ḿnh, v́ thế mà Khổng Tử trở thành sư tổ của mọi nho sĩ. Cũng cần nhạn định rằng chỉ sau khi Khổng Tử mở trường nho và sĩ mới đồng nhất. Trước ông nho là những người học, sĩ là những nho được chọn để được huấn luỵện. Từ Khổng Tử trở đi ai muốn học cũng được và cũng có thể được bổ nhiệm ra làm quan. Khổng Tử đă sát nhập được hai thành phần nho và sĩ và, cần nhắc lại một lần nữa công lao to lớn này của Khổng Tử, ông cũng đă giảm bớt sự ngăn cách khe khắt giữa hai giai cấp quân tử và tiểu nhân. Sự nghiệp lớn nhất của Khổng Tử như vậy là về mặt xă hội. Ông đă góp phần quan trọng trong thay đổi sinh hoạt chính trị Trung Quốc.
Nhưng phải nói, đây là một đóng góp rất vô t́nh, Khổng Tử không hề muốn xóa bỏ sự ngăn cách giữa hai giai cấp quân tử và tiểu nhân. Trong nhưng lời giáo huấn học tṛ, ông phân biệt rơ quân tử và tiểu nhân, như cái đúng và cái sai, như ánh sáng và bóng tối, sự cao thượng và sự hèn hạ, cái đẹp và cái xấu. Tiểu nhân dưới mắt Khổng Tử là hạng người không đáng được bất cứ một quan tâm nào, hay bất cứ một sự nể nang nào. Ông từng nói: H́nh phạt không được dùng cho quan lớn, lễ nghi không được dùng đối với đám thứ dân (h́nh bất thướng đại phu, lễ bất há thứ dân). Khổng Tử đă đóng góp khai phóng quần chúng khi tạo ra trường tư, nhưng đó là điều hoàn toàn ngoài ư muốn của ông.
Một cách tương tự ta cũng có thể so sánh công trạng vô t́nh của Khổng Tử với một số sự kiện tích cực mà đảng cộng sản vô t́nh tạo ra. Họ khắc nghiệt quá khiến hàng triệu người bỏ trốn ra nước ngoài, nhờ đó mà Việt nam có một cộng đồng hải ngoại đáng kể từ sau ngày 30-4-1975. Đây là một sự kiện rất quan trọng và rất có lợi cho Việt nam, nhưng không phải do đảng cộng sản chủ ư tạo ra, trái lại họ đă hết sức cấm cản mà không được.
Đảng cộng sản cực lực bài xích và cấm đoán thương mại, nhưng những khó khăn mà chính sách của họ tạo ra sau ngày 30-4-1975 đă buộc mọi người phải xoay sở để sống, kết quả là hầu hết mọi gia đ́nh Việt nam đều phải buôn bán một cái ǵ đó. Người Việt nam v́ thế đă bỏ được phần nào tâm lư làm công ăn lương và chuyển sang tâm lư buôn bán kinh doanh. Đây cũng là một chuyển biến tâm lư rất đáng mừng nhưng không do chủ ư.
Khổng Tử xuất thân là một quan lại thu thuế và một thày cúng. Cả hai nghề này đều tập cho ông thói quen câu nệ thủ tục và h́nh thức. Nhất là nghề cúng tế mà không những chỉ hành nghề Khổng Tử c̣n say mê từ hồi thơ ấu. Suốt đời Khổng Tử không thay đổi từ cách ăn, cách mặc, cách đi đứng, cách cư xử, lúc nào ông cũng câu nệ và qui ước. Sách Luận Ngữ mô tả khá rơ rệt về ông: đồ ăn phải nấu thật chín, món ăn phải đúng mùa, phân lượng rau và thịt không thay đổi, chỉ có rượu là ông uống không đo lường, dù không khi nào say, đi dự tiệc th́ kính cẩn đứng lên khi đồ ăn được đem ra, nhưng khi nhận quà tặng của bằng hữu th́ chỉ nghiêng ḿnh chào nếu là quà để dùng cho cúng tế; về y phục th́ từ chối một số màu sắc, quần áo mùa đông và mùa hè có kiểu riêng, lễ phục th́ cánh tay mặt phải dài hơn cánh tay trái, quần áo ngủ phải dài hơn quần áo ban ngày nửa thước; nằm nghiêng, không nói lúc nằm, không ngồi trên một chiếc chiếu trải không ngay ngắn, ngồi trên xe th́ ngồi thẳng không nh́n về đàng sau; không nói nhanh và không dùng ngón tay để chỉ một vật ǵ. Trong triều đ́nh cung cách của Khổng Tử thay đổi tùy người. Đối với các quan cấp dưới th́ cứng cỏi, đối với các quan cấp cao th́ uyển chuyển. Khi đưa khách vào yết kiến th́ tỏ thái độ bối rối, rồi chắp tay và quay sang khách sau đó dang tay mà giới thiệu với vua. Sau buổi yết kiến khi khách ra về th́ hô lên: Khách không quay lại nữa. Khi đi sứ gặp vua nước khác th́ tỏ vẻ ân cần, kinh sợ. Tóm lại, tất cả đều theo một nghi thức được qui định một cách rất chi tiết từ trước. Đó là chân dung của một con người cực kỳ qui ước, hoàn toàn không tùy cơ ứng biến và không sáng tạo.
Khổng Tử được coi là một người cố đức lớn. Chữ đức vào thời đại đó phải được hiểu là làm đúng nghi lễ chứ không phải là có ḷng tốt. Không thấy có sách nào ghi chép Khổng Tử giúp đỡ người nghèo khổ hay gặp khó khăn, hoạn nạn. Tuy vậy ông dạy học tṛ nên cư xử trung thực, giữ tín nghĩa với bằng hữu, phải phụng dương cha mẹ, giúp người già sống yên ổn, yêu trẻ thơ. Tất cả những đức tính đó đều đáng quí cả nhưng cũng chỉ là những đức tính thông thường đă được nh́n nhận từ lâu. Khổng Tử đă sống và truyền bá một cuộc sống lương thiện theo tiêu chuẩn lúc đó, ông là một người đứng đắn nhưng bảo rằng ông có đức lớn th́ không đúng. Ông không có ḷng thương bao la với cả nhân loại, hay ước vọng cứu đời, cứu người như Phật Thích Ca, Giê-su Ki-tô, Gandhi hay Mẹ Teresa. Hay như hàng ngàn hàng triệu người khác qua các thời đại lặn lội vào chốn sỏi đá, rừng sâu đem sự giúp đỡ và niềm an ủi tới cho những người xấu số. Hay như bao người trên khắp thế giới trong thời nay chịu giam cầm tù tội để tranh đấu cho quyền làm người. Khổng Tử là một nhà giáo đứng đắn và có tài, thế thôi. V́ ông đă có công giáo dục nhiều đệ tử, giúp họ ra khỏi số phận hầm hiu nên họ biết ơn và tôn kính ông. V́ chủ nghĩa thủ cựu và tôn quân của ông có lợi cho các chế dộ quân chủ mà các vua chúa về sau đă tôn ông lên làm thánh để làm mẫu mực cho mọi người, nhưng đó chỉ là v́ một mục đích chính trị.
Khổng Tử có thực sự là một người có ḷng nhân đạo không? Chắc chắn là không. Ông mạt sát những người thứ dân khốn khổ một cách thô bạo. Kẻ tiểu nhân đối với ông chỉ là đối tượng để khinh bỉ và chà đạp mặc dầu họ không có tội ǵ ngoài tội đă không may sinh ra vào giai cấp cùng khổ. Nhiều người biện hộ cho Khổng Tử, nói rằng quân tử và tiểu nhân là những giá trị đạo đức. Nói như vậy là đem bối cảnh thế kỷ 19 để áp đặt vào thời đại Xuân Thu Chiến Quốc của Khổng Tử và hoàn toàn sai: Như đă nói, vào giai đoạn đó quân tử và tiểu nhân chỉ là hai thành phần xă hội phân chia theo tương quan quyền lực và kinh tế mà thôi. Chính bản thân Khổng Tử không coi quân tử và tiểu nhân là những tiêu chuẩn đạo đức ông từng nói trong Luận Ngữ. Người quân tử mà có đạo th́ yêu người, đứa tiểu nhân mà có đạo th́ dễ sai (quân tử học đạo tác ái nhân, tiểu nhân học đạo tạc đi sử giả) hoặc quân tử có dũng mà không có nghiă th́ làm loạn, tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa th́ đi ăn trộm (quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo). Sau này chính nhờ những giáo huấn của Khổng Tử mà quân tử được coi là đồng nghĩa với sự cao thượng và tiểu nhân được coi là đồng nghĩa với sự hèn hạ. Đó chẳng qua chỉ là sự xấc xược miệt thị những người yếu kém, cũng như sau này người cộng sản thóa mạ những người không đồng chính kiến với họ là phản động, phản quốc, v.v... Điều khác giữa cộng sản và Khổng Giáo là đảng cộng sản đă miệt thị những đối thủ tranh giành quyền lực với họ, trong khi Khổng Tử và các nho sĩ đă miệt thị những người cùng khổ không hề và cũng không dám chống lại họ. Đó chỉ là một sự tàn nhẫn thuần túy.
C̣n một điểm khác chưa thấy học giả nào đặt ra khi bàn về ḷng nhân của Khổng Tử. Ông là một chuyên viên cao cấp về cúng tế và rất say mê cúng tế, sử chép rằng hễ chỗ nào có tế lễ là đi xem rất chăm chú. Chắc chắn là chính ông cũng cử hành nhiều buổi tang lễ cho các vua chúa và các nhà quyền quí. Vào thời đó có tục chôn sống người trong các đám tang quí tộc để đưa đi hầu hạ người chết trong thế giới bên kia. Măi đến đời Tần Thủy Hoàng (thống nhất và làm hoàng đế Trung Hoa năm 221 đến năm 210 trước Tây lịch) tục lệ dă man ấy mới bị cấm. Chắc chắn là Khổng Tử đă chứng kiến nhiều vụ chôn sống người và chính ông đă cử hành nhiều buổi lễ như vậy nhưng Khổng Tử không những không xúc động mà c̣n cho rằng nghi lễ của người xưa để lại là hoàn toàn đúng không có ǵ cần sửa đổi. Về điểm này Tần Thủy Hoàng c̣n nhân đạo hơn ông.
Tài trí của Khổng Tử ra sao? ông có vẻ khá tự tin về học vấn của ḿnh, ông từng nói: Bảo ta là thánh th́ ta không dám, nhưng ta làm việc thánh không biết chán, dạy người không biết mỏi (nhược thánh dù nhân tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất yếm, hối nhân bất quyền), hoặc ta không phải sinh ra đă biết, nhờ thích việc ngày xưa, có học mà được. Khổng Tử c̣n tin tưởng hơn về tài trị nước của ḿnh, ông nói: Vua nào mà dùng ta th́ chỉ một năm đă khá, ba năm là thành công . Sự tự tin này đă không được thực tế xác nhận. Khổng Tử làm quan lớn tại nước Lỗ trong sáu năm, từ chức Trung Đô Tể lên đến Đại Tư Khấu rồi sau này Nhiếp Tướng Sự nhưng không thấy nước Lỗ giàu mạnh được bao nhiêu. Ông làm Nhiếp Chính Sự (tướng quốc) được một năm th́ từ quan và đi lưu lạc. Lư do khiến ông từ quan là v́ vua nước Lỗ không chia phần thịt cho ông trong lễ Giao. Lư do này thực là nhỏ mọn và làm cho các nho sĩ đời sau rất phiền ḷng. Chỉ v́ miếng thịt mà bỏ chức tướng quốc th́ c̣n thể thống ǵ, c̣n ǵ là chí lớn trị quốc, b́nh thiên hạ nữa. V́ vậy họ cố t́nh biện luận rằng đó chỉ là cái cớ, lư do thực sự khiến Khổng Tử bỏ đi là v́ Khổng Tử thấy vua không c̣n biết giữ lễ nghĩa nữa. Nhưng đó chỉ là những giả thuyết được đưa ra để biện hộ cho cái đức của Khổng Tử chứ không dựa vào căn cứ nào. Người ta chỉ kể được những chuyện vua nước Lỗ say mê xem đám vũ nữ nước Te sang múa hát, bỏ việc ba ngày không nghị triều, nhưng Khổng Tử đă từng làm quan cho nước Lỗ sáu năm rồi, sao đến bây giờ mới bỏ đi. Vả lại, theo Luận Ngữ th́ chính Khổng Tử cũng rất say mê đàn hát. Sang nước Tề học đàn ba tháng, không biết đến miếng thịt (văn thiều tam nguyệt bất tri nhục vị). Lập luận cho rằng Khổng Tử từ quan bỏ đi v́ vua nước Lỗ say mê vũ nữ càng không đúng v́ sau khi bỏ Lỗ sang Vệ, Khổng Tử lại bị lai tiếng về một vụ nữ sắc. Theo sách chép th́ vua nước Vệ có người vợ là Nam Tử, rất đẹp và cũng rất dâm đăng. Khổng Tử muốn được làm quan nước Vệ nên phải vào yết kiến nàng này và c̣n đi theo xe du ngoạn, v́ thế đă bị dư luận lúc đó chê cười. Khổng Tử cũng không trọng nguyên tắc như người ta vẫn đề cao ông, bởi v́ trên bước đường bôn ba t́m chủ, có lúc ông định đi theo pḥ một phản thần là Phất Bật. Bị học tṛ là Tử Lộ chất vấn, ông biện bạch rằng người trong sạch th́ dẫu có vào chỗ đen tối cũng vẫn trong sạch. Thật là ngụy biện.
Tại sao Khổng Tử lưu lạc khắp nơi trên mười năm trời xin làm quan mà không vua chúa nào dùng? Đó là v́ ông hoàn toàn lỗi thời. Lúc đó nhà Chu đă mạt vận lắm rồi, chẳng c̣n uy tín nào nữa. Các chư hầu dù muốn hay không cũng phải tự quyết và trong thực tế mọi vua chư hầu đều mơ ước làm minh chủ, nhưng Khổng Tử đi đâu cũng đề cao nhà Chu. Ông nói: Việc lễ nhạc và chinh phạt phải do Thiên Tử (tức nhà Chu) khởi xướng, các vua chư hầu mà đặt lễ nhạc và chinh phạt là vô đạo (Thiên hạ hữu đạo tắc lễ nhạc chinh phạt tự Thiên Tử xuất; thiên hạ vô đạo tắc lễ nhạc chinh phạt tự chư hầu xuất). Muốn đi pḥ người ta mà lại bài bác người ta như vậy th́ ai dùng? Khổng Tử cũng chủ trương tập trung mọi quyền lực vào tay vua, truất bỏ quyền tham gia chính trị của các đại thần (Thiên hạ hữu đạo, tắc chính bất tại đại thần). Một nhăn quan chính trị như vậy không những đă rất hủ lậu và thiển cận mà c̣n làm các quan đại thần bất b́nh. Không có ǵ đáng ngạc nhiên khi họ khuyên các vua đừng nên dùng Khổng Tử. Vả lại nếu kiến thức và tài dạy học của ông được mọi người đương thời nh́n nhận th́ ngược lại thành tích trị nước của ông chưa được bảo đảm. Với một lập trường tôn Chu tuyệt đối như vậy tại sao Khổng Tử không đến thẳng kinh đô nhà Chu không xa nước Lỗ bao nhiêu xin việc mà lại cứ dai dẳng xin pḥ các chư hầu không c̣n phục nhà Chu nữa? Lư do là v́ triều đ́nh nhà Chu lúc đó rất nghèo. Nhưng Khổng Tử vừa bỏ rơi nhà Chu và chạy theo các chư hầu lại vừa đ̣i họ phục tùng nhà Chu!
Khổng Tử cũng vô lư như người giữa mùa hè chính ḿnh cũng cởi trần nhưng lại hô hào mọi người nên mặc đồ thật ấm. Khổng Tử có tâm hồn nghĩa hiệp không? Câu hỏi này h́nh như chưa ai đặt ra, và đó cũng là một sự kiện đáng lưu ư. Ông thấy nước nào thịnh th́ t́m đến xin làm quan, thấy nước nào khó khăn th́ bỏ đi, ông không phải là người để đương đầu với thử thách và vượt qua trở ngại. Quan niệm lập thân của ông chỉ giản dị là cầu an và cầu vinh. Ông nói: Nước lâm nguy th́ không nên vào, nước bị loạn th́ không nên ở, lúc thiên hạ có đạo lư th́ ta xuất hiện, lúc không có th́ ta lên ở ẩn (nguy bằng bất nhập, loạn bằng bất cư, thiên hạ hữu đạo tác kiến, thiên hạ vô đạo tắc ẩn). Khổng Tử xứng đáng được tôn làm ông tổ của tị nạn kinh tế. Cái triết lư ở ẩn, tránh khó khăn và gian nguy của ông, về bản chất là một thái độ thấp hèn, đă trở thành một thứ đạo lư cho nho sĩ về sau. Tại nước ta vào cuối thế ky 19 đầu thế kỷ 20 có ông Nguyễn Khuyến đáng được coi là tiêu biểu cho cái đạo lư tồi tàn này. Nguyễn Khuyến là nho sĩ danh giá nhất thời đó, ông đậu đầu cả ba kỳ thi hương, thi hội và thi đ́nh nên được gọi là Tam Nguyên. Lúc đó ta mất nước về tay người Pháp, Nguyễn Khuyến làm ǵ? Ông rút về ở ẩn để ngâm vịnh, thỉnh thoảng cũng làm vài bài thơ châm biếm vua quan và xă hội thời Pháp thuộc. Với một thái độ trốn tránh trách nhiệm như vậy, Nguyễn Khuyến vẫn được ca tụng như một nhà nho đầy tiết tháo.
Chỗ đúng của Khổng Tử trong tư tưởng cần được nhận định như thế nào?
Xă hội Trung Quốc cho đến đời Khổng Tử đă tiến hóa rất nhiều cả về mặt kỹ thuật lẫn tư tưởng. Đến đời Xuân Thu th́ các vấn đề xă hội đă trở nên rất phức tạp, chế độ tập quyền sơ sài vẫn có từ trước đến đời nhà Chu không c̣n hợp thời nữa. Tổ chức chính trị Trung Quốc lúc đó đă đến lúc cần phải xét lại. Một khuynh hướng tản quyền tự nhiên dần dần xuất hiện, và bởi v́ nhà Chu không cải tiến ǵ cả để phù hợp với t́nh thế mới nên dần dần mất quyền lực và ảnh hưởng. Chỉ có hai con đường, một là chấp nhận sự tản quyền đó và t́m ra một giải pháp mới để phối hợp các chư hầu; hai là tổ chức lại bộ máy cai trị trung ương để nó có đủ sức mạnh đè bẹp các chư hầu và cai trị một đất nước đă trở thành rộng lớn, đông dân hơn và phức tạp hơn. Khổng Tử đă hoàn toàn không nh́n thấy điều đó, ông chủ trương phục hồi lại quyền hành nhà Chu với y nguyên lề thói cũ. Cho nên ông hoàn toàn lạc điệu và lỗi thời. Nhận thức chính trị của ông thực là kém cỏi.
Về mặt tư tưởng, các tiến bộ tích lũy từ hơn bốn ngàn năm đă lên tới cao điểm. Thời Xuân Thu Chiến Quốc là thời cực thịnh tư tưởng Trung Quốc. Ngay sau khi Khổng Tử qua đời, đoạn cuối của thời Xuân Thu Chiến Quốc đă xuất hiện cả một phong trào khai phá tư tưởng rộng khắp, với tầm vóc lớn hơn nhiều lần giai đoạn hoàng kim của tư tưởng Hy Lạp. Các nhà tư tưởng xuất hiện sau Khổng Tử như Tuân Tử, Mặc Tử, Hàn Phi, Công Tôn Long, v,v... Đă vượt rất xa Khổng Tử.
Tư tưởng Trung Hoa cho đến thời Xuân Thu Chiến Quốc vẫn chỉ là Nho Giáo. Chính sự trưởng thành của Nho Giáo đă làm nở rộ tư tưởng của thời Đông Chu Liệt Quốc. Tư tưởng, nhất là tư tưởng chính trị Trung Quốc trải qua một thời kỳ xét lại lộng lẫy và đầy hứa hẹn. Tiếc rằng nó đă khựng lại sau đó v́ trong hai chiều hướng chuyển biến chính trị, đẩy mạnh tản quyền hoặc tăng cường sức mạnh tập trung, khuynh hướng thứ hai đă thắng. Nho Giáo được phục hồi và Trung Quốc đă dẫm chân tại chỗ từ đó.
Khổng Tử kém xa, rất xa, các nhà tư tưởng sau ông, nhưng phải nh́n nhận rằng ông đă có đóng góp quan trọng cho giai đoạn cực thịnh của tư tưởng Trung Hoa vào cuối thời Xuân Thu Chiến Quốc. Nhờ trường tư của ông, ông đă đào tạo ra hàng ngàn sĩ tử và đến lượt họ đă đào tạo ra vô số sĩ tử khác. Các nhà trí thức lỗi lạc sau này dù vượt xa Khổng Tử và bài bác Khổng Tử cũng đều là những hậu bối tinh thần của Khổng Tử. Một lần nữa ta nh́n thấy vai tṛ khai phóng của giáo dục. C̣n về sau, việc phục hồi Nho Giáo cũng như việc tôn thờ Khổng Tử làm thánh nhân mâu mực muôn đời hoàn toàn không do trách nhiệm của Khổng Tử. Đó chỉ là do ư đồ của các chế độ quân quyền dùng Nho Giáo và Khổng Tử để cũng cố nền tảng của họ. Ông chỉ là nạn nhân của một khai thác chính trị.
Khổng Tử là một nhà giáo có tài và một nhà biên soạn sách có tài. Ông nghèo về t́nh cảm, kém về tư tưởng và nhận thức xă hội. Toàn bộ quan điểm chính trị và triết học của ông đều lỗi thời ngay cả vào lúc đó Nhưng ông nghĩ như thế và phát biểu như thế, đó là quyền của ông, ông không thể tiên đoán được những lạm dụng về sau.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Di sản Xuân Thu Chiến Quốc

 

Có thể nói lịch sử của nước ta thực sự bắt đầu vào thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Giai đoạn này tương ứng với thời các vua Hùng mở nước. Theo huyền sử th́ nguồn gốc của chúng ta cũng bắt đầu từ vua Thần Nông bên Trung Quốc. Huyền sử chỉ có một mức độ chính xác rất tương đối nhưng ít nhất nó nói lên một sự kiện, đó là người Việt nam và người Trung Hoa có cùng một cội nguồn. Chắc chắn là cũng đă có những người tiền sử sinh sống trên đất nước ta từ trước và đă ḥa nhập với người di dân từ phương Bắc xuống vào giai đoạn này, họ đông đảo hơn nhưng thành tố phương Bắc là chế ngự. Ngày nay hầu hết các họ của chúng ta cũng là những họ Trung Quốc. Như vậy giai đoạn từ Xuân Thu Chiến Quốc trở về trước có thể coi là lịch sử chung của cả hai dân tộc trước khi hai quốc gia riêng biệt được h́nh thành. Nhưng chúng ta cũng chỉ mới được độc lập không được bao lâu th́ lại bị sát nhập vào Trung Quốc trong hơn một ngàn năm. Hơn nữa, một quốc gia không phải chỉ là lănh thổ và con người mà c̣n là một nền văn hóa, mà văn hóa của ta th́ chủ yếu là văn hóa Khổng Mạnh đă được tổng hợp trong giai đoạn này.
Nếu thời Xuân Thu Chiến Quốc kết thúc một cách khác đi, nghĩa là nó không kết thúc với một chế độ quân chủ chuyên chính tập trung, và với Khổng Giáo được lấy làm quốc giáo độc tôn, th́ số phận và lịch sử của nước ta đă khác hẳn.
Tư tưởng Trung Quốc h́nh thành một cách thực nghiệm với thời gian, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc nó đạt tới một mức độ trưởng thành vừa đ̣i hỏi một cố gắng hệ thống hóa vừa cho phép những khai phá lớn khác. Nền văn minh Trung Quốc lúc đó như một cây đă đủ lớn và đến lúc trổ hoa. Cả một phong trào tư tưởng rộ lên như hoa nở mùa xuân. Các sách c̣n lưu giữ được, nhất là bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc, mô tả một không khí tưng bừng khai phá tư tưởng. Có những nhà hào phú nuôi cả trăm, ngàn thực khách chỉ để biện luận t́m ra chân lư về vũ trụ, xă hội và con người. Cũng có hàng trăm, hàng ngàn biện sĩ đi khắp các nước chư hầu đề nghị với các vua chúa các lư thuyết trị nước.
Khí thế của phong trào tư tưởng này thật là mạnh mẽ và nhưng thành lựu của nó lại càng lớn hơn. Có thể nói tất cả những triết lư và học thuyết của Trưng Quốc đều xuất hiện trong giai đoạn này. Và cũng có thể nói là mọi khái niệm triết lư và chính trị đều đă được đề cập tới và đẩy khá xa. Ngày nay nói tới tư tưởng thời Xuân Thu Chiến Quốc người ta thường hay nhắc tới Lăo Tử, Mặc Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi, Công Tôn Long, v.v... nhưng thực ra các triết gia và lư thuyết gia này không phải là đơn độc, họ chỉ là những phát ngôn viên c̣n được nhớ lại của các trường phái tư tưởng. Thời đó chưa có sự tranh giành tác quyền về tư tưởng.
Trường phái Lăo Tử chẳng hạn đă đưa ra cả một triết thuyết về vũ trụ mà ngay cả trong thời đại khoa học ngày nay người ta cũng không thể đánh giá là ngây ngô. Có thể coi những khai phá của Mặc Tử trong thuyết kiêm ái như là những viên đá đầu tiên cho một chủ nghĩa dân chủ xă hội nhân bản. Mặc Tử, Tuân Tử và Hàn Phi khởi xướng ra chủ trương nhà nước pháp trị. Kiêm ái và pháp trị nếu được phối hợp và phát triển chắc chắn dẫn tới dân chủ. Công Tôn Long đi rất xa về lô-gích trừu tượng, phân tích rất sâu về nguyên ủy và hậu quả (trứng có lông) về sự vật và cách nh́n sự vật (ngựa trắng không phải là ngựa).
Nhưng cả một rừng hoa đó cuối cùng đă không kết trái, hay đều kết trái nhưng trái đă không chín được để sinh ra những hạt giống cho sự sống tiếp tục. Tại sao?
Câu trả lời đầu tiên là, trái với văn minh phương Tây, thời Xuân Thu Chiến Quốc đă có những tiến bộ về tư tưởng mà không có tiến bộ về khoa học thuần túy. Họ đă có những Socrate nhưng không có được những Archimède. Triết lư không có sự chuyên chở của khoa học kỹ thuật th́ không bay bổng lên được và không ăn rễ được vào xă hội.
Giải thích như vậy cũng tạm ổn, nhưng chính sự thiếu vắng khoa học thuần túy cũng cần được giải thích.
Trung Quốc được thành lập trên lưu vực của hai con sông lớn, sông Hoàng Hà và sông Dương Tử. Cả hai con sông này đều là những ḍng sông dũng mănh đem phù sa và sự sung túc lại cho cái nôi đầu tiên của Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng là một đe dọa kinh niên cho sự tồn vong của con người. Tới mùa lũ ḍng sông có thể tràn bờ biến ruộng đồng thành biển cả, cuốn đi của cải và sinh mạng. Trong điều kiện như thế, ưu tiên thường trực nếu không muốn nói duy nhất của tập thể là chống lại nước. Các vị vua đầu tiên của Trung Hoa đều là những người có công trị thủy. Vua Thuần nhường ngôi cho vua Vũ v́ ông Vũ có công đắp đê ngăn nước lụt.
Mọi xă hội h́nh thành bên cạnh nhưng ḍng sông lớn với lưu lượng thay đổi đột ngột đều cần những vị vua có uy quyền tuyệt đối để áp đặt những cố gắng tập thể ghê gớm. Không phải là một sự t́nh cờ mà tất cả các chế độ được xây dựng bên cạnh những con sông lớn đều là những xă hội cực kỳ chuyên chế, dù là ở Trung Hoa, Việt nam, Cam-bốt, ấn Độ, Ethiopia, hay Ai Cập... nền tảng của các xă hội cổ xưa này là một khế ước bạo quyền bất thành văn nhưng rất rơ rệt giữa người chủ tể và dân chúng. Người chủ tể phải áp đặt những đ̣i hỏi thật dă man, đôi khi hy sinh cả một phần dân chúng, để đắp và bảo vệ đê điều, nhưng ngược lại chính nhờ những hy sinh kinh khủng đó mà cộng đồng tồn tại được thay v́ bị nước cuốn đi. Các nạn nhân có thể nguyền rủa bạo chúa, nhưng con cháu họ lại mang ơn bạo chúa v́ đă bảo đảm cho họ mùa màng và cuộc sống. Dần dần sự tàn bạo được chấp nhận như một định luật. Khổng Tử thừa hưởng di sản tinh thần của hệ thống xă hội đặt trên khế ước bạo quyền đó. Điều đặc biệt nơi ông là thay v́ nh́n khế ước bạo quân đó như một cái tệ cần thiết ông lại thấy nó toàn thiện, toàn mỹ. Khổng Giáo chủ yếu là cố gắng để chính đáng hóa bạo quyền và nâng sự chấp nhận kiếp sống nô lệ lên hàng một đạo đức tuyệt đối.
Khổng Tử sống trong một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng. Với thời gian uy quyền của bạo chúa bị suy giảm vě hai lư do, một lŕ đê điều tương đối đă ổn vững, công tác chủ yếu chỉ c̣n là giữ ǵn và tu bổ, vai tṛ của bạo chúa không c̣n cần thiết như trước nữa; hai là xă hội ngày càng phát triển, mức sống cao hơn, dân số đông hơn, các nhu cầu mới xuất hiện, nhiều tiểu chủ địa phương xuất hiện và trở thành mạnh. Tới một mức độ chín muồi nào đó nhận thức về xă hội và cách tổ chức xă hội cần được xét lại. Đó là hiện tượng đă xảy ra dưới triều đại nhà Chu. Các sử gia vẫn thường nhận định là nhà Chu suy v́ để mất uy quyền thiên tử, thực ra là v́ xă hội đă tiến hóa và đ̣i hỏi một hệ thống chính trị khác.
Nhà Chu không c̣n uy quyền trấn áp các chư hầu nữa th́ tất nhiên các chư hầu cạnh tranh và cấu xé lẫn nhau. ư hệ độc tôn quân quyền không c̣n hợp thời nữa th́ tất nhiên xuất hiện những suy tư mới.
Thời Đông Chu Liệt Quốc chính là khúc quanh lịch sử vĩ đại đó. Nhưng tập quán chính trị chuyên chính đă kéo dài gần bốn ngàn năm và đă ăn rễ vào tâm lư con người nên các tham vọng chuyên chế dĩ nhiên c̣n rất mạnh và c̣n có chỗ dựa tâm lư mạnh. Phải có một phép mầu ghê gớm các xă hội thiết lập bên các ḍng sông lớn mới lột xác và biến đổi được. Nhưng phép mầu đó đă không xảy ra tại Trung Quốc cũng như nó đă không xảy ra tại mọi nước khác. Người dân đă được điều kiện hóa để chấp nhận sự tàn bạo và như thế khi một chế độ tàn bạo cáo chung nó chỉ nhường chỗ cho một chế độ tàn bạo khác thích nghi hơn với thời đại mới. Giữa hai chuyền hướng bắt buộc phải có cho chế độ nhà Chu, một là chấm dứt khế ước bạo quyền, chính thức hóa sự tản quyền và nới rộng tự do cho dân chúng, hai là, ngược lại, tăng cường tới cực điểm bạo lực của trung ương để khuất phục các chư hầu và đập tan mọi ư đồ chống đối; cuối cùng Trung Quốc đă theo con đường thứ hai. Nhà Chu đă chấm dứt nhường chỗ cho nhà Tần với một bộ máy cai trị lớn hơn và mạnh hơn. Từ nhà Tần trở đi, một hệ thống chính trị khác, hệ thống quân chủ tập quyền và tuyệt đối dựa trên bạo lực không cần thiết đă ra đời thay thế cho hệ thống chính trị quân chủ dựa trên bạo lực cần thiết trước đó.
ở đây cũng cần mở một dấu ngoặc để nói về một sự kiện rất đáng chú ư. Sở dĩ, trong các chư hầu, nhà Tần đă mạnh lên để tiêu diệt các chư hầu khác và gom thâu thiên hạ là v́ đă áp dụng lư thuyết của Hàn Phi, chủ trương xiết chặt về chính trị nhưng cởi mở về kinh tế. Cái gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa ngày nay cũng không khác ǵ về nội dung, nó chỉ là một sự áp dụng lại một lư thuyết đă được đưa ra cách đây 22 thế kỷ. Nhà Tần đă chỉ tồn tại được vài chục năm bởi v́ chính sách độc tài chính trị cởi mở kinh tế đă mau chóng tích lũy mâu thuẫn và đă sụp đổ. Đây là một bài học, lịch sử h́nh như đang diễn lại.
Nhà Hán sau khi đă tiêu diệt nhà Tần đă xiết lại luôn về kinh tế, đem Khổng Giáo làm quốc giáo độc tôn, cấm đoán mọi ư đồ xét lại. Từ đó chế độ chính trị Trung Quốc không c̣n thay đổi nữa và Trung Quốc dẫm chân tại chó hơn hai mươi thế kỷ.
Các xă hội nông nghiệp h́nh thành bên các ḍng sông lớn đều mang một tật nguyền chung của các nền văn minh phù sa là tư tưởng và sáng kiến bị thui chột. Phải hàng ngàn năm mới đắp xong những con đê lớn với những chịu đựng ghê gớm. Cuộc sống đầy đọa và gắn chặt với đất đó đă nhồi nặn ra những con người chỉ quanh năm vất vả với đất để kiếm miếng ăn, dần dần sự thủ cựu và thiển cận biến thành một bản chất, không biết nghĩ và không dám nghĩ.
Chúng ta là một dân tộc như thế. Cả lịch sử lập quốc của ta đă chỉ là lịch sử con đê sông Hồng Hà. Ta hệ lụy với ḍng sông hơn mọi dân tộc khác, đến nỗi gọi quốc gia là nước. Quốc gia của ta chỉ quanh quẩn là đất nước, núi sông, sơn hà. Chúng ta c̣n tật nguyền hơn mọi dân tộc phù sa khác. Trí tuệ của ta thui chột một cách thê thảm. Người Trung Quốc c̣n biết xét lại và đổi mới, dù chỉ là một cách vụn vặt, Khổng Giáo của họ qua các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyễn, Minh, Thanh; người Việt nam chúng ta th́ hoàn toàn không. Người Trung Quốc c̣n biết dùng lịch phương Tây ngay từ đời nhà Minh; ta th́ tới cuối thế kỷ 19 vẫn bám chặt lịch cũ thay đổi đă chỉ đến do sự áp dặt của người Pháp khi ta đă mất chủ quyền. Ta có một bờ biển dài và đẹp, mở thênh thang ra một đại dương hiền ḥa nhưng ta vẫn chỉ sống đời này qua đời khác với đất như một dân tộc lục địa.
Đối với các dân tộc khác, tự do, dân chủ (hay nhân quyền cũng thế v́ đó chỉ là những gốc nh́n khác nhau của cùng một sự kiện là con người được quí trọng, được phát huy hết khả năng của ḿnh, được có ư kiến và sáng kiến) là một phương thức tổ chức xă hội; đối với chúng ta nó c̣n là một liều thuốc trị bệnh tê liệt trí năo. Chúng ta là một bệnh nhân mà tự do là liều thuốc chữa. Chúng ta phải uống thuốc tự do nếu muốn lành bệnh để tranh đua với thế giới.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Đạo lư thánh hiền

 

Những người bênh vực Khổng Giáo thường gắn liền Khổng Giáo với đạo đức. Bài bác Khổng Giáo bị coi là bài bác đạo đức, nghĩa là vô đạo. Trong một cuộc bút chiến với Phạm Quỳnh, ông Phan Kế Bính, một trí thức xuất chúng và cũng có Tây học, đă có công đóng góp nhiều cho văn hóa Việt nam và có tên đường ở Sài G̣n và Hà Nội, đă viết một câu chắc nịch: Đạo lư là đạo lư Khổng Mạnh Như vậy phải chăng các dân tộc không biết tới Khổng Mạnh là những dân tộc không có đạo đức?
Khổng Giáo đề cao một số giá trị mà con người phải cố gắng để đạt được. Nhưng nếu ta hỏi các nhà nghiên cứu Khổng Giáo những giá trị đó là ǵ th́ các vị này sẽ rất bối rối. Có vị bảo là trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cũng có vị bảo đó là nhân, trí, dũng, văn, có vị lại thêm trực (ngay thẳng), tri (hiểu biết), đạo, cung, kinh, dung (dễ chấp nhận người khác). Đọc Luận Ngữ và sách của các danh nho khác c̣n phải thêm: đạt, mẫn, tôn, trọng, thuận. Như vậy đủ thấy đạo lư Khổng Giáo dù đă xuất hiện và ngự trị từ cả hàng ngh́n năm vẫn c̣n rất mập mờ.
Các giá trị thường được nhắc tơi là trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Các giá trị này đă được cải thiện dần dần với thời gian và đi vào quần chúng. Lúc ban đầu chúng chỉ là những giá trị dành cho người quân tử, tức người làm quan hay học để làm quan, và có ư nghĩa đặc biệt của chúng.
Luân lư Khổng Giáo thường được tóm gọn trong tam cương, ngũ thường. Tam cương là ba bổn phận của kẻ sĩ: trung với vua, hiếu với cha mẹ, thủy chung với vợ. Tam cương không được rơ ràng lắm. Cũng có những học giả coi tam cương là quân, sư, phụ nghĩa là bổn phận đối với vua, với thầy và với cha. Ngũ thường th́ vẫn được coi là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Khổng Giáo về sau được bồ túc bởi một loạt giá trị dành cho phụ nữ, đó là tam ṭng, tứ đức.
Tam ṭng là ba sự phục tùng mà người đàn bà phải tuân thủ: lúc c̣n con gái th́ phải phục tùng cha, lấy chồng th́ phải phục tùng chồng, chồng chết th́ phải phục tùng con (tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử). Tứ đức là bốn đức tính người đàn bà phải rèn luỵện, đó là công (khéo tay), dung (nhan sắc), ngôn (ăn nói) và hạnh (hạnh kiểm). Thêm vào đó lại có một giá trị đặc biệt cho người đàn bà: chữ trinh.
Nếu hiểu hiếu là kính trọng và tận tụy với cha mẹ, nhân là yêu thương người, lễ là kính trọng người khác trong mọi giao dịch, tín là giữ lời hứa và tôn trọng mọi cam kết, trí là cố gắng để đạt tới sự hiểu biết rộng th́ dĩ nhiên đó là những giá trị của mọi xă hội và mọi nền văn minh chứ không phải của riêng Khổng Giáo. Nếu muốn nói tới các giá trị của Khổng Giáo th́ phải nói tới các giá trị chỉ có trong Khổng Giáo hay được đặc biệt nhấn mạnh và đề cao trong Khổng Giáo mà thôi.
Nhưng trước khi bàn về nội dung của Khổng Giáo ta phải nhận định một điểm rất quan trọng, đó là Khổng Giáo dứt khoát không phải là một đạo lư. Ngôn ngữ Việt nam và Trung Quốc thường hay lẫn lộn về khái niệm nên có thể nhưng điều sau đây không được sự nhất trí của nhiều độc giả, nhưng vấn đề là có thực. Triết học phân biệt đạo lư hay đạo đức (éthique, ethic) và luân lư (morale, moral). Đạo lư là nhưng giá trị có căn bản triết học, được phân tích rơ ràng, được biện luận đến nơi đến chốn và sau cùng được chấp nhận như là kết quả của một cố gắng suy tư. Luân lư, trái lại, chỉ là những điều được áp đặt và trở thành thói quen và qui luật trong một xă hội. Không thể coi việc người Do Thái cấm ăn thịt heo hay thịt những con vật mà móng chân sẻ ra, cấm ăn cá không có vẩy là một đạo lư được. Đó chỉ là một luân lư, nghĩa là một qui luật được luân chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà thôi.
Khổng Tử và các môn đệ không hề phân tích, biện luận mà chỉ phán ra các mệnh lệnh mà thôi, nên Khổng Giáo không phải là một đạo lư mà chỉ là một luân lư mà thôi. Về nội dung các giá trị Khổng Giáo th́ sao?
Trước hết, hệ thống giá trị áp đặt cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân đạo. Nó hạ giá người phụ nữ xuống hàng một nô lệ và một vật dụng. Trí tuệ và nhân cách của người đàn bà không được kể đến. Công, dung, ngôn, hạnh là ǵ? Công chỉ là tài thêu thùa, may mặc, nấu bếp, nghĩa là tài hầu hạ, phục dịch. Dung không phải là sắc đẹp mà là cấm không được làm đẹp v́ như thế là ḷe loẹt, lẳng lơ. Ngôn là ăn nối phải e dè, càng nói ít càng tốt. C̣n Hạnh chỉ là sự chăm chỉ phục tùng, phục tùng cha mẹ, rồi phục tùng chồng, rồi phục tùng cả con trai ḿnh. ấy là chưa kể trong gia đ́nh c̣n phải phục tùng cả chú bác, anh chị. Nếu là một người con gái út trong gia đ́nh nghèo th́ địa vị của một phụ nữ chẳng c̣n ǵ. Rồi lại có cái chữ trinh cực kỳ đểu cáng. Một người phụ nữ đă có quan hệ t́nh dục với ai bị coi là mất thân, có t́ vết, mất hết giá trị. Không phải chỉ có phụ nữ b́nh thường mà ngay cả các công chúa cũng không thoát khỏi sự khống chế tàn tệ của chữ trinh. ở Việt nam có chuyện Chử Đồng Tử. Anh chàng này nghèo khổ, không có nỗi cái khố, một hôm một cô công chúa vô t́nh quay màn tắm ngay chỗ anh ta trần truồng nằm chui dưới cát. Đến khi dội nước th́ lộ ra anh ta. Cô công chúa chỉ lỡ nh́n thấy anh ta trần truồng mà coi như bị mất trinh, đành phải cưới anh ta làm chồng cho phải đạo? Văn học Trung Quốc cũng không thiếu những câu chuyện các cô gái v́ vô t́nh đụng chạm phải một người đàn ông mà phải coi như đă mất trinh, đành phải lấy người đó làm chồng. Chữ trinh là một sáng tạo dă man của đàn ông để nô lệ hóa phụ nữ và coi phụ nữ như một đồ chơi độc quyền của họ. Ngày nay chúng ta đều đồng ư rằng quan niệm của Khổng Giáo về người phụ nữ là rất lạc hậu. Nhưng chúng ta đă thực sự vất bỏ nó chưa? Tôi chưa chắc, quán tính của chúng ta vẫn c̣n nặng lắm. Cái tâm lư chồng chúa vợ tôi vẫn c̣n hiện diện rất mạnh, ngay trong cả các gia đ́nh trí thức sinh sống tại các nước tân tiến phương Tây. Người vợ dù là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư đại học vẫn là nạn nhân của một sự phân công quái gở là lo chuyện bếp núc, phục dịch trong gia đ́nh trong khi đức ông chồng ung dung hưởng thụ. Người chồng Việt nam là một trong những người chồng thô bỉ nhất thế giới.
Tôi có lần nói chuyện với một học giả, giáo sư đại học. Ông ta lo lắng v́ con gái đă lớn và học chung với nhiều bạn trai. Mối lo của ông ta là con gái sẽ giao du với bạn trai. Tôi nói giao du là chuyện dĩ nhiên chẳng có ǵ đáng sợ, ông ấy trả lời rằng trai gái bây giờ nó tự do lắm, nó cứ bắt tay nhau một cách tự nhiên, có khi c̣n hôn nhau khi gặp gỡ hoặc chia tay. Tôi hỏi th́ đă sao?. Và ông ta nỗi đóa: Nó hôn má, rồi có ngày nó sẽ hôn môi, rồi nó sẽ làm t́nh!. Đối với ông ta h́nh như nếu con gái ông ta có bồ và hôn môi một chàng trai nào, nhất là lại làm t́nh th́ không khác ǵ trời sập. Nhưng ngược lại, nếu đứa con trai ông ta cũng làm những điều ấy th́ lại rất b́nh thường. Đó là một trí thức uyên bác đă sống tại Pháp gần 40 năm.
Chữ trung và chữ hiếu được định nghĩa từ đời nhà Tống một cách rơ rệt như thế này: Vua bảo phải chết mà không chịu chết là bất trung, cha bảo phải chết mà không chết là bất hiếu (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu). Trong Luận Ngữ, Khổng Tử định nghĩa chữ hiếu như sau: cha c̣n sống th́ phải theo ư cha, cha mất th́ theo việc cha làm, ba năm không được sửa đổi những ǵ cha đặt ra (phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hành, tam niên vô cải ư phụ chi đạo), cha mẹ có lầm lỗi can gián không được cũng không được làm trái ư, đau ḷng cũng không được giận (sự phụ mẫu cố gián, kiến chí bất ṭng, hữu kính bất vi, lao nhi bất oán); cha mẹ c̣n sống th́ không được đi xa (phụ mẫu tại, bất viễn du). Cũng cần lưu ư là chữ hiếu của Khổng Giáo chủ yếu là hiếu với cha mà thôi, người mẹ rất ít được đề cập tới. Sự kính mến người mẹ ở trong các xă hội thuộc văn hóa Trung Hoa có thể được nh́n như là một phản ứng dân gian trước sự tàn nhẫn của Khổng Giáo đối với phụ nữ. Chữ hiếu của Khổng Tử không những bệnh hoạn mà c̣n bất lương. Khổng Tử bàn luận với Diệp Công về sự ngay thẳng (trực cũng là một giá trị của Khổng Giáo). Diệp Công nói rằng người ngay thẳng nếu cha ḿnh đi ăn trộm cũng phải tố giác, Khổng Tử phản đối nói rằng đạo làm con th́ dù cha có đi ăn trộm cũng phải bênh, như thế mới là trực. Đó là những lời vàng ngọc của đức thánh Khổng?
Về sau các nho sĩ cũng không làm cho trung và hiếu lành mạnh hơn, trái lại chỉ thêm vào những điều xằng bậy, thí dụ như, hiếu được định nghĩa phải có con trai. Có ba tội bất hiếu, tội nặng nhất là không có con trai (bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại), trung được định nghĩa chỉ được thờ một chủ mà thôi.
Về chữ nhân, Khổng Tử định nghĩa một cách rất lăng nhăng. Nhan Hồi hỏi ông về nhân, Khổng Tử đáp đó là các đức tính cung (kính cẩn), khoan (khoan dung), mẫn (thông minh), huệ (may mắn). Như vậy th́ nhân không phải là một giá trị riêng mà chỉ là tổng hợp năm giá trị khác của Khổng Giáo. Việc coi mẫn và huệ là những thành tố của nhân cũng đáng ngạc nhiên. Khi Phần Tŕ hỏi th́ ông đáp nhân có nghĩa là yêu người; đây là lần duy nhất mà Khổng Tử định nghĩa khái niệm nhân một cách gần đúng. Khi Trọng Cung hỏi th́ ông đáp nhân là ra khỏi cửa phải như gặp thượng khách, sai dân th́ phải uy nghi như tế lễ lớn, ḿnh không muốn điều ǵ th́ đừng làm cho người khác (xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế, kỷ sở bất dục vật thi ư nhân); ở đây nhân chỉ giản dị là sự đúng đắn. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử c̣n đưa ra một định nghĩa khác về nhân: người trí th́ thích nước, người nhân th́ thích núi, người trí th́ động c̣n người nhân th́ tĩnh (trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh). Định nghĩa quái đản này tuy vậy cũng nói lên nhân sinh quan của Khổng Tử, ông không có lư tưởng giúp đời, nhân của ông là tĩnh, nghĩa là bất động, chứ không phải xông pha vào khó khăn để giúp người. Điều này phù hợp với đạo lập thân mà ông đă dạy người quân tử: nước nguy th́ không nên đến, nước loạn th́ không nên ở, xă hội lành mạnh th́ ra làm quan, xă hội không lành mạnh th́ rút về ở ẩn. Như vậy chữ nhân của Khổng Tử dứt khoát không phải là chữ nhân mà chúng ta thường hiểu. Khổng Tử được tôn thờ nên đời sau đă cố t́nh đem cái ḷng tốt của ḿnh mà hiểu những điều ông nói Khổng Tử đặc biệt bối rối khi nói về nhân v́ cá nhân ông không có ḷng nhân đạo, ông mạt sát thậm tệ những người dân cùng khổ và chắc chắn là ông đă từng chủ tŕ nhiều buổi lễ chôn sống những người vô tội trong những đám tang của những gia đ́nh quí tộc.
Nhân nói về chữ nhân cũng nên dừng lại giây lát để bàn về một chủ nghĩa chính trị có tên là nhân trị của Khổng Giáo. Đại đa số những người bàn về nhân trị thường cho đó là một chủ nghĩa nhân bản, lấy sự quí trọng con người làm căn bản. Điều này hoàn toàn sai. ư niệm nhân được định nghĩa một cách mơ hồ như đoạn trên không thể là nền tảng cho một thể chế chính trị nào. Chữ nhân trong nhân trị chỉ có nghĩa là cá nhân mà thôi, nhân trị v́ vậy có nghĩa là để cho một người cai trị một cách tùy tiện, đối ngược lại với pháp trị có nghĩa là cai trị theo luật pháp. Nhân trị chỉ giản dị là độc tài cá nhân tuyệt đối; mà về bản chất th́ mọi chế độ độc tài tuyệt đối đều dă man vô nhân đạo cả nên thuyết nhân trị cũng phải được xếp vào loại chủ thuyết dă man. Phan Chu Trinh đă phân tích khá rơ ràng về điểm này. Chữ Hán, nhất là khi đọc theo lối Việt, có nhiều chữ cùng âm mà khác nghĩa cho nên có những trường hợp ngộ nghĩnh là người Việt hiểu sai hẳn. Tôi từng được nghe rất nhiều người viện dẫn câu quân tử hợp quan, tiểu nhân hợp đảng để từ chối tham gia vào các tổ chức chính trị. Đối với họ tổ chức chính trị là đảng và như vậy những người quân tử cao thượng như họ không thèm gia nhập, đạo lư Khổng Mạnh đă dạy như vậy. Thực là oan cho Không Mạnh quá. Chữ đảng ở câu này không có nghĩa là đảng chính trị mà có nghĩa là xóm làng. Quân tử hợp quan, tiểu nhân hợp đảng có nghĩa là người có danh phận (quân tử) th́ có thể kết hợp với nhau (hợp quần) c̣n dân chúng (tiểu nhân) th́ chỉ sống chung với nhau trong xóm, nghĩa là không giao du và kết hợp rộng răi.
Chữ lễ, của Khổng Giáo cũng là một sự hiểu lầm. Đọc Kinh Lễ và Luận Ngữ th́ rất rơ ràng là lễ chỉ là nghi thức và h́nh thức mà thôi, thí dụ như tế trời th́ phải mặc áo nào, gặp vua th́ qú như thế nào, lạy bao nhiêu lạy, lúc tiếp chỉ của vua th́ phải có cũng cách nào, gặp quan lớn phải có thái độ nào, gặp quan nhỏ th́ ra sao, v.v... Khổng Tử khi đưa khách vào gặp vua th́ giang tay cúi đầu giới thiệu, rồi cung kính đứng đợi, đến lúc khách quay ra th́ hô lên khách không quay lại nữa. Đó là lễ của Khổng Giáo, nó không có nghĩa là sự đối xử lịch sự, bặt thiệp trong xă hội đối với mọi người.
Về lễ chính Khổng Tử đă nói một câu kinh khủng: lễ không kể đến bọn thứ dân (lễ bất há thứ dân).
Về lễ phép, phải nối rằng người á Đông rất vô lễ, nhất là những dân tộc chịu ảnh hưởng Khổng Giáo. Người phương Tây đi qua mặt một ai đều xin lỗi, nhận của ai món đồ nào đều cám ơn, gặp nhau chúc tụng nhau ngày vui, đi th́ nhường bước cho phụ nữ... Ngay cả giữa các đối thủ với nhau, họ cũng tỏ ra trang nhă. Wellington đánh bại Napoléon I, nhưng khi Napoléon bị cầm tù và chết trên đảo Sainte Hélène ông cũng tới đó nghiêng ḿnh kính cẩn. Ngược lại, các tướng Trung Hoa ra trận th́ chửi nhau, bắt được địch th́ đối xử tàn tệ. Quan Vân Trường được coi là bậc thánh, nhưng khi Lưu Bị giới thiệu đứa con nuôi là Lưu Phong th́ hỏi Lưu Bị ngay trước mặt Lưu Phong: Anh đă có con rồi, nuôi giống con tổ ṿ này làm ǵ?; bắt được tướng địch là Vu Cấm th́ nói: Tao giết mày cũng như giết giống chó ngựa thôi. Tập quán á Đông đối với kẻ trên, kẻ thắng th́ khúm núm, đối với kẻ dưới, kẻ bại th́ thô lỗ. Đó không phải là lễ hiểu theo nghĩa đúng và đẹp của nó.
Gần đây có phong trào kêu gọi tái lập phương châm tiên học lề hậu học văn. Những người chủ trương như vậy hoặc có dụng ư thống trị hoặc không hiểu ư nghĩa thực sự của tôn chỉ này. Tiên học lễ hậu học văn chỉ có nghĩa là trước hết học nghi thức và h́nh thức, học lạy, học qú và cúi đầu, nói chung là cúng tế, rồi sau đó mới học tới kiến thức. Tiên học lễ hậu học văn chỉ có nghĩa là trước học cúng rồi sau mới học chữ.
Cũng phải hiểu rằng, lễ và nhạc trong Khổng Giáo là những dụng cụ thống trị, mục đích của chúng là lấy nghi thức và âm thanh để trấn áp tinh thần và khuất phục.
Nhiều độc giả tới đây sẽ phê phán tôi là dựa vào kinh sách để lên án Khổng Giáo, trong khi Khổng Giáo được thể hiện một cách khác trong cuộc sống. Các vị có lư, luân lư Khổng Giáo trong đời sống hang ngày không đến nỗi như vậy.
Tại sao? Đó là v́ Khổng Giáo là một hệ thống giá trị khe khất, máy móc và vô nhân đạo được các vua chúa đem áp đặt vào cuộc sống. Người dân đành phải chấp nhận và v́ không thể chấp nhận nguyên vẹn nó, người dân đă phản ứng lại bằng cách thay đổi nội dung của nó để bớt đi phần nào sự khe khắt. Do đó mà Khổng Giáo đă phần nào được nhân bản hóa. Chữ trung th́ họ không đổi được, nhưng chữ hiếu đă được hiểu là sự quí trọng và săn sóc cha mẹ. Lễ được hiểu là cách đối xử đẹp đẽ giữa người và người, nhân cũng mang màu sắc của t́nh thương.
Nhà văn Bá Dương của Trung Quốc, trong một loạt bài tạp văn được tập trung trong một cuốn sách nhan đề Người Trung Quốc Xấu Xí (Sửu lậu đích Trung Quốc nhân), gọi văn hóa Khổng Giáo là một hũ tương đặc sệt. Tôi thấy cách gọi này không đúng hẳn. Tương chỉ làm bởi một chất chính là đậu, ngâm vào muối để cho ră ra và phân hóa lâu ngày mà thành. Khổng Giáo có đủ thứ, nào là kinh sợ quỉ thần, tuyệt đối phục tùng nhà vua, rồi lại đến cách ăn ở giữa vợ chồng, cha con, thầy tṛ, cách học hỏi, tu thân, v.v... Vật chất cũng có, tinh thần cũng có, siêu h́nh cũng có, luân lư cũng có mà chính trị cũng có. Nói chung là đủ thứ được pha trộn lộn xộn lâu ngày với nhau, thâm nhập vào nhau và biến chất lẫn nhau. Phải coi đó là một hũ mắm thập cẩm, thịt có, cá có, tôm có, mà rau cũng có. Mỗi người nếm nói một cách riêng, người th́ bảo là thịt, người th́ nói là cá, người lại nói là tôm. Ai cũng đúng cả mà cũng chẳng ai đúng cả. Cho nên có người nói Nho Giáo là hệ thống chính trị, có người nói đó là một triết lư và cũng có người coi nó là đạo lư. Điều quan trọng đối với chúng ta là những tập tính mà Khổng Giáo đă tạo ra trong nếp sống dân gian.
Trước hết là óc thủ cựu. Tôn chỉ thuật nhi bất tác, chỉ lập lại mà không sáng tạo, đă được các vua chúa áp đặt như một mệnh lệnh tuyệt đối. Với thời gian nó thành một đạo lư và làm tê liệt cả trí năo các dân tộc theo văn hóa Trung Hoa, nhất là Trung Quốc và Việt nam. Chúng ta không những không t́m cái mới mà c̣n thù ghét cái mới.
Thứ hai là óc bất dung, độc quyền lẽ phải. Các vua chúa áp đặt địa vị độc tôn của Khổng Giáo, rồi dùng bọn nô nho mạt sát mọi tư tưởng khác biệt nhân danh chính nghĩa vệ đạo. Dần dần chúng ta bỏ mất cả khả năng đối thoại. Chúng ta không thể thảo luận với nhau một cách b́nh tĩnh và tương kính, hễ khác ư kiến là phải dùng những lời lẽ hận thù, hằn học, là thấy cần phải tiêu diệt nhau. Chúng ta coi tranh luận có nghĩa là hạ bệ người trước mặt, làm cho hắn mất uy tín và bị lên án nếu được. Tôi có thể làm chứng về tinh thần vệ đạo, này bằng kinh nghiệm cá nhân. Tôi có viết một số bài báo tŕnh bày một số ư kiến cá nhân và đă nhận được một loạt bài phản bác. Có những bài rất cay nghiệt, nhưng các tác giả không phản bác được ǵ cả v́ họ chỉ tập trung cố gắng để khiến độc giả ghét tôi thay v́ tranh luận ư kiến!
Thứ ba là sự sùng bái người xưa một cách bệnh hoạn, hậu quả tổng hợp của sự sùng bái quỉ thần và chữ hiếu được đẩy quá xa. Yêu quí người xưa là một t́nh cảm tốt v́ đó là cội nguồn của ta. Tổ tiên đă khổ sở và vất vả để lại cho chúng ta một di sản, di sản đó dù nhiều hay ít chúng ta cũng là người thừa kế và thụ hưởng. Nếu không có di sản đó th́ ngày nay chúng ta vẫn c̣n ăn lông ở lỗ. Nhưng cái bệnh hoạn là ở chỗ ta tin người xưa là đúng và lấy họ làm mẫu mực. Chúng ta không dám tin rằng thế giới càng ngày càng tiến, chúng ta hiểu biết nhiều và thông minh hơn cha ông, cũng như con cháu chúng ta sẽ thông minh và hiểu biết hơn chúng ta.
Thứ tư là lô-gích bạo lực. Nhiều người sẽ phản đối và viện dần vô số câu nói rất ḥa b́nh và khoan dung. Nhưng quả thực phải nói nền tảng của xă hội Khổng Giáo là bạo lực. Vua không bao giờ có lỗi th́ làm sao mà thay thế những hôn quân, bạo chúa? Đạo lư Khổng Mạnh không cho phép chống lại vua, cho nên chỉ có nhưng kẻ bất chấp đạo lư nổi loạn giết vua mới thay đổi được t́nh thế. Kẻ ấy nếu thua th́ bị coi là giặc, là phản, là vô đạo, nhưng nếu may mắn thắng được th́ các nho sĩ sẽ qú xuống thần phục và giải thích là mệnh trời đă đổi. Mọi thay đổi chính quyền đều phải diễn ra qua bạo lực và đổ vỡ chứ không thể diễn ra một cách ḥa b́nh. Đảng cộng sản Việt nam khi chủ trương chống diễn biến ḥa b́nh đă chỉ lập lại một tâm lư bạo lực đă sẵn có trong văn hóa Khổng Giáo. Dĩ nhiên thương tật nặng nề nhất trong tâm lư Trung Quốc và Việt nam vẫn là tâm lư tôi đ̣i, nhẫn nhục trước độc tài chuyên chế. Như đă nói, chúng ta thừa hưởng tâm lư đó từ nền văn hóa phù sa. Khổng Tử chịu ảnh hưởng nặng nề của tâm lư đó, đưa nó lên hàng một đạo lư. Đến lượt Khổng Tử cũng được tôn lên hàng thánh nhân và một mẫu mực. Mấy chục thế kỷ chuyên chế của quân quyền về mặt chính trị và của Khổng Giáo về mặt tư tưởng đă biến tâm lư chấp nhận bạo quyền thành một bản năng; ta có thể là nạn nhân của một chế độ chuyên chính và chống lại chuyên chính ấy, nhưng nếu thành công ta sẽ áp đặt một thứ chuyên chính khác. Ta chưa dứt khoát được tư tưởng bởi v́, do di sản Khổng Giáo, ta vẫn c̣n mang mầm độc tài chuyên chính ngay trong ḷng ḿnh.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Việt Nho

 

Tôi không dùng hai chữ Việt Nho cùng một nghĩa với linh mục Kim Định. Theo linh mục Kim Định th́ đạo Nho nguyên là đạo của người Việt, người Trung Quốc chỉ đă học được của người Việt do đó coi đạo Nho là đạo của người Trung Quốc là một sai lầm. Có nhiều lư do khiến tôi không chia sẻ quan điểm đó. ở đây tôi dùng chữ Việt Nho để chỉ Khổng Giáo tại Việt nam, nghĩa là Khổng Giáo du nhập từ bên Trung Quốc sang, được tiếp thu và thể hiện tại Việt nam. Những ai đă bối rối khi đặt vấn đề Nho nào, Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho, Minh Nho hay Thanh Nho sẽ c̣n phải bối rối nữa v́ c̣n có thêm Việt Nho, cũng khác các thứ Nho kia. Khác với Khổng Giáo Trung Quốc, Khổng Giáo Việt nam không xuất hiện một cách tự nhiên và dần dần chín muồi với thời gian. Nó đă được hệ thống cai trị đem đến và áp đặt như một dụng cụ cai trị. Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương, sát nhập vào với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây mà lập ra nước Nam Việt vào cuối đời nhà Tàn, đầu đời nhà Hán và đem Khổng Giáo, tức là hệ thống cai trị của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, vào Việt nam. Sau khi nhà Triệu bị diệt th́ Việt nam trở thành một phần đất chiếm đóng của Trung Quốc. Không hề thấy sử sách ghi lại một cố gắng khai mở nào về mặt văn hóa. Như thế phải hiểu rằng Khổng Giáo trong những thế kỷ đầu sau khi được du nhập vào Việt nam chỉ thuần túy là văn hóa của kẻ chiếm đóng và cùng lắm là của một số những người có danh phận hợp tác với chính quyền mà thôi. Phải măi tới thời Tam Quốc, thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch mới có Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp mở mang việc học. Trước đó, thời Đông Hán, sách sử có ghi ba người là Lư Tiến, Lư Cầm và Trương Trọng đậu khoa hiếu liêm, nhưng rất có thể là họ đậu từ bên Tàu rồi được cử sang làm quan hoặc chính họ là con quan cai trị người Tàu. Nói chung, dân bản xứ không được huấn luỵện Khổng Giáo.
Như vậy phải nhận diện hai yếu tố: Một là trong bốn thế kỷ đầu của Bắc thuộc người Trung Hoa không có ư định giáo dục để đồng hóa người Việt thành người Trung Hoa, họ sang Việt nam để thống trị và khai thác mà thôi, và Khổng Giáo chỉ thể hiện qua bộ máy thống trị. Hai là khi Khổng Giáo bắt đầu được phổ biến tại Việt nam th́ cái hào quang của mùa xuân tư tưởng Xuân Thu Chiến Quốc đă qua rồi. Khổng Giáo đă thành Hán Nho, tức là thứ Nho Giáo đă xuống cấp, đă bị tước bỏ hết mọi tinh hoa của các Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi... Để chỉ c̣n là một thứ Nho Giáo thui chột. Cả hai yếu tố đều quan trọng khi nhận định về Nho Giáo ở Việt nam.
Chính sách ngu dân của người Trung Quốc rất rơ rệt. Trong hơn một ngàn năm đô hộ không có dấu tích lăng miếu nào của Khổng Giáo cả. Măi tới đời nhà Lư khi nước ta đă độc lập, các vua Việt nam mới bắt đầu xây Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử và 72 môn đệ của Khổng Tử. Nho học mới bắt đầu thực sự phát triển từ đó đến khi nhà Minh diệt được nhà Hồ, vua Minh Thành Tổ ra lệnh cho các quan cai trị phải tịch thu và tiêu hủy tất cả những cuốn sách bằng chữ Nho của người Việt nam. ít lâu sau h́nh như thấy lệnh này không được thi hành triệt để, Minh Thành Tổ lại xuống chỉ nhắc lại một lần nữa. Nhà Minh tịch thu sách chữ Nho mà không tịch thu sách chữ Nôm v́ họ nghĩ rằng Nho Giáo là tinh hoa của họ, họ sợ người Việt học chữ Nho sẽ trở nên hùng mạnh và thành mối nguy cho họ. Sử nước ta hay có thói quen cho rằng người Trung Quốc cố gắng đồng hóa để sát nhập Việt nam, nhưng xét theo những việc họ làm th́ chỉ thấy họ muốn thống trị Việt nam để vơ vét mà thôi chứ không muốn người Việt nam trở thành giống như người Tàu. Sự bành trướng của Trung Quốc có chỗ nghịch lư là chính người Trung Quốc h́nh như không muốn bành trướng, họ xây Vạn Lư Trường Thành để ngăn chặn các sắc dân phía Bắc. Những mở mang đất đai quan trọng của Trung Quốc như sát nhập nước Kim, Mông Cỗ và Măn Châu đều do chính những sắc dân này chinh phục được và sát phạt Trung Quốc rồi v́ dân số ít mà bị đồng hóa. Có lẽ nước ta c̣n đến ngày nay là v́ chúng ta chưa hề thắng và thống trị Trung Quốc.
Tóm lại, Nho Giáo Việt nam là thứ Nho Giáo cấp thấp được người Việt nam tiếp thu một cách muộn màng và sùng bái mà không có đóng góp nào. Cố gắng Hán hóa Việt nam quan trọng nhất đă diễn ra dưới hai triều đại Lư, Trần rồi tiếp tục dưới mọi triều đại kế tiếp. Trí thức Việt nam thường hay lên án âm mưu đồng hóa của Trung Quốc, nhưng nếu họ b́nh tĩnh mà nh́n vào lịch sử nước ta họ sẽ thấy cố gắng đồng hóa trước hết đến từ các vua chúa Việt nam. Cũng may là cố gắng này không thành công, những người Việt nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng Giáo dưới dạng sơ đẳng và cằn cỗi nhất. Chính v́ vậy mà văn hóa của Việt nam thấp kém và bất dung hơn Trung Quốc.
Nho Giáo đă chỉ phát triển sau một thời gian rất dài trong đó Phạt Giáo được tự do bành trướng. Nhờ ảnh hưởng của Phật Giáo mà mới đầu Nho Giáo dưới thời Lư có phần nhân bản hơn Trung Quốc. Chỉ từ thời Hậu Lê trở đi khi Phật Giáo đă suy vị, Việt nam mới theo hẳn một hệ thống chính trị Nho Giáo khác nghiệt.
Một số tác giả hay nói tới một đặc tính của văn hóa Việt nam là tam giáo đồng nguyên, ư nói sự sống chung hài ḥa giữa Phật Giáo, Nho Giáo và Lăo Giáo. Nhưng tam giáo đồng nguyên là một cụm từ của Trung Quốc rất vô nghĩa và cũng rất sai trong bối cảnh Việt nam. Phật Giáo đă phát triển trước Nho Giáo rất lâu, Nho Giáo phát triển được không bao lâu th́ quay ra hạ bệ Phật Giáo ngay, không làm ǵ có sự chung sống hài ḥa. C̣n ảnh hưởng của đạo Lăo tại Việt nam th́ không đáng kể, người Việt h́nh như không hiểu ǵ về triết lư Lăo Tử, chỉ tiếp thu một vài yếu tố hời hợt và mau chóng hội nhập chúng vào những mê tín đồng bóng.
Một yếu tố quan trọng khác của văn hóa Việt nam là đặc tính văn hóa phù sa rất mănh liệt. Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ để ra trăm con, một nửa theo mẹ lên núi, một nửa theo cha xuống biển là ở thời Xuân Thu Chiến Quốc. Tại sao lại xuống biển? Có lẽ phải hiểu là xuống vùng đồng bằng sông Hồng, lúc đó c̣n ngập nước sông vào mùa lũ, như vậy là lúc đó con đê sông Hồng chưa có và mới chỉ được đắp lên sau đó. Đê sông Hồng chỉ bắt đầu đáp lên sớm nhất là dưới thời nhà Triệu và được các quan cai trị người Tàu đốc thúc xây dựng tiếp. Hiện tượng này có tầm quan trọng đặc biệt. Người Trung Quốc đă phải mất ba bốn ngàn năm để ồn định việc đê điều trên hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử. Chúng ta có lẽ là nền văn minh phù sa muộn nhất. Tổ tiên ta vốn đă ít người mà lại phải thực hiện trong khoảng thời gian một ngàn năm công việc mà các dân tộc khác đă thực hiện trong ba, bốn ngàn năm, sự tàn bạo mà họ phải chịu đựng đă gấp ba bốn lần. Mọi xă hội phù sa đều chật vật và hệ lụy nặng nề với nước và đất, nhưng tổ tiên ta chắc chắn đă khổ cực với nước và đất hơn nhiều, họ đă phải trả những giá vô cùng đắt cho việc h́nh thành đồng bằng sông Hồng, đến nỗi nước và đất là tất cả đối với họ.
Quốc gia nào thành lập trên lưu vực của những con sông lớn cũng đều mang nặng dấu ấn của nền văn minh phù sa: cần cù, nhẫn nại, nhưng thủ cựu, thiếu sáng kiến và thiếu óc mạo hiểm. Chúng ta c̣n mang nặng đặc tính văn minh phù sa hơn những xă hội khác, những ưu và khuyết điểm đó c̣n hiện diện mạnh mẽ hơn trong tâm lư và văn hóa của chúng ta.
Một nét đậm khác là chúng ta là một dân tộ bị nô lệ quá lâu. Chúng ta nô lệ người Trung Quốc hơn mười thế kỷ. Các chế độ độc lập sau đó cũng đă rập khuôn theo guồng máy thống trị của người Trung Quốc. Việt nam tuy có độc lập nhưng thân phận của người trong nước không thay đổi là bao. Niềm an ủi duy nhất, và không phải không có tầm quan trọng, là được thấy các vua quan cũng giống ḿnh và nói cùng ngôn ngữ với ḿnh. Một cách trớ trêu có lẽ thời Pháp thuộc lại là thời dân ta được tự do suy nghĩ và phát biểu nhất, ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn ngủi tại miền Nam Việt nam. Lịch sử chật vật đó đă để lại những dấu ấn rất đậm trong văn hóa, trong cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Bản chất nô lệ vẫn chưa rời hẳn chúng ta. Nói ra như vậy có thể làm phiền ḷng một số độc giả, chính tôi cũng rất phiền ḷng, nhưng di sản của ta thế nào th́ ta phải nhận thế ấy. Ta cần biết ḿnh là ai để biết ḿnh có thể làm ǵ và phải làm ǵ. Vả lại ta không nên quan niệm đất nước chỉ là lịch sử và địa lư. Đất nước trước hết là một dự án tương lai chung. Nếu từ những di sản không mấy thuận lợi này mà ta xây dựng được đất nước đáng tự hào th́ cuộc sống của chúng ta lại càng có ư nghĩa.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Mặt thật của ai?

 

Ông Bùi Tín sinh ra trong một gia đ́nh Nho Giáo truyền thống. Thân sinh ông là Bùi Bằng Đoàn, làm thượng thư (bộ trưởng) trong triều đ́nh Huế. Cách mạng tháng 8 bùng ra lúc cậu Bùi Đường ấm, sau này đổi tên là Bùi Tín, mới vừa 19 tuổi. Ông Bùi Bằng Đoàn, nổi tiếng thanh liêm và học giỏi, trở thành chủ tịch quốc hội đầu tiên của chế độ Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa, một chức vụ hữu danh vô thực. Ông Bùi Bằng Đoàn chỉ ở đó để đem lại cho chính phủ Hồ Chí Minh một bộ mặt tri thức và đoàn kết dân tộc. Ông Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền Việt Minh v́ sợ hơn là v́ nhiệt t́nh. Ông Phạm Quỳnh, thủ tướng Nam Triều, đă bị giết, như nhiều quan chức triều đ́nh Huế khác.
Nhưng nếu ông Bùi Bằng Đoàn chỉ theo Việt Minh v́ sợ th́ cậu ấm Bùi Tín lại theo v́ lư tưởng. Cậu hăng say theo cách mạng mùa thu, đi bộ đội, tham dự nhiều trận đánh, từng bị thương và sau cùng được sử dụng ngay trong sở trưởng của cậu, nghề viết báo. Bùi Tín trở thành đại tá phó tổng biên tập tờ Nhân Dân, cơ quan trung ương của đảng cộng sản Việt nam. Chức vụ này rất lớn, bởi v́ tuyên truyền là công tác trọng yếu hàng đầu của chính quyền cộng sản.
Tờ Nhân Dân quan trọng hơn nhiều so với một bộ, nó được tổ chức như một chính phủ trong một chính phủ, với tất cả các ban tương ứng với các bộ: ban quốc pḥng, ban quốc tế, ban nông nghiệp, ban công nghiệp, ban văn hóa, xă hội, v. v... Vị thế của Bùi Tín cao hơn một thứ trưởng, vai tṛ của ông đặc biệt quan trọng. Bùi Tín là thành viên của phái đoàn cộng sản trong hội nghị bốn bên tại Tân Sơn Nhất. Do một sự t́nh cờ Bùi Tín cũng là người đại diện cho phe cộng sản nhận sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh sáng ngày 30-4- 1975.
Nhưng năm 1990, trong một chuyến công du sang Pháp Bùi Tín lấy quyết định xin tị nạn chính trị. Từ đó Bùi Tín đă viết rất nhiều bài báo, trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, tố giác chế độ cộng sản và vận động cho dân chủ đa nguyên. Bùi Tín cũng viết một số sách thuật lại những ǵ mà ông đă thấy trong một cương vị đặc biệt thuận lợi để quan sát chế độ cộng sản từ bên trong.
Trong cuốn Mặt Thật, cuốn sách gây sôi nổi nhất của ông, Bùi Tín mô tả chiến dịch cải cách ruộng đất được chính phủ Hồ Chí Minh phát động năm 1955, trong đó hàng ngàn, hàng vạn người bị giết oan.
Bùi Tín kể:
Các cố vấn Trung Quốc ngồi ưỡn bụng ra, để chân lên bàn uống rượu Mao Dài, vừa nhổ nước bọt ồn ào, vừa dạy dỗ các học tṛ dễ bảo Trường Chinh (tổng bí thư đảng cộng sản), Hoàng Quốc Việt (ủy viên bộ chính trị, sau đó là chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc), v v. Về cải cách điền địa. Họ ra lệnh giết bà Nguyễn Thị Năm, người đă từng ủng hộ Việt Minh từ năm 1937, đă từng che chở và nuôi dưỡng chính các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và có con đang làm chính ủy trung đoàn. Ông Hồ Chí Minh được tin la lên là không thể giết một phụ nữ, một ân nhân cách mạng, một người mẹ của một anh hùng quân đội. Nhưng các cố vấn Trung Quốc bảo là đă quá trễ, mọi việc đă chuẩn bị xong. Ông Hồ Chí Minh im mồm, và bà Năm bị bắn.
Phong cách của ông Ho Chí Minh là thế. C̣n các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt th́ không biết phải gọi là hạng người ǵ. Ông Phạm Văn Đồng thấy các bộ trưởng, thứ trưởng của ḿnh bị vu oan, bị thanh trừng, bị bỏ tù, không dám lên tiếng bênh vực Sau khi nghỉ hưu dù đă ngoài tám mươi tuổi, ông c̣n cố bám lấy hư vị cố vấn để giữ lợi lộc. Ông Lê Đức Thọ là một con người nham hiểm, dùng đủ mọi thủ đoạn nhơ bẩn và độc ác để triệt hạ các đồng chí cũ của ông. Ông Lê Duẩn là một thứ ếch ngồi đáy giếng, vừa thiển cận, vừa lỗ măng, vừa tự cao tự đại.
Các ông tướng Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, v.v... đều thiếu văn hóa, nông cạn và cực đoan Riêng ông Nguyễn Chí Thanh th́ c̣n hèn nhát, lúc bị mật thám Pháp bắt đă khai nhiều bí mật gây thiệt hại nặng cho đảng rồi đổ tội cho người đồng chí cùng bị bắt với ḿnh là Đặng Xuân Thiều làm ông này bị trù dập hơn ba mươi năm cho đến lúc về hưu.
C̣n ông Đỗ Mười? ông là thợ sửa khóa, nhận thức chính trị sơ sài và lại mắc bệnh tâm thần, ban đêm leo lên cây bàng ngồi ngất ngư.
Ng̣i bút Bùi Tín mô tả các lănh tụ cộng sản một cách tàn nhẫn. Tàn nhẫn v́ Bùi Tín chỉ kể lại mà không phê phán. Tay nghề bốn mươi năm cầm bút của Bùi Tín là ở chỗ đó. Mặt Thật là một cuốn sách hay, một tài liệu lịch sử thành công về diễn đạt và có giá trị văn học. Một cuốn sách cằn đọc. Tôn Thất Thiện trong một lá thư cho tôi nói rằng đọc xong ông phải kinh phục (kinh không có dấu sắc) tác giả.
Nhưng nếu như vậy th́ phải đặt ra một số câu hỏi. Tại sao những con người như vậy lại có thể khuất phục được cả một dân tộc? Tại sao hàng ngàn, hàng vạn trí thức lỗi lạc đă phục tùng họ một cách ngoan ngoăn, và c̣n hết lời tâng bốc họ, làm biết bao nhiêu người khác tưởng họ là những thần tượng và chạy theo họ? Chính Bùi Tín, tác giả cuốn Mặt Thật, trong bao nhiêu năm làm đại tá - nhà văn - nhà báo cũng đă tô son điểm phấn một cách đắc lực cho cái chế độ mà ngày nay ông muốn lột trần bộ mặt thật. Không lẽ trong cả mấy chục năm trường những trí thức xuất sắc như thế lại không nhận ra thực chất tồi tệ của những người lănh đạo cộng sản? Tại sao họ đă tự lừa dối lương tâm ḿnh và đóng góp lường gạt cả một dân tộc?
Người trí thức cộng sản không thể trả lời được những câu hỏi gay gắt đó, nhưng họ có thể hỏi ngược lại những người chất vấn họ những câu hỏi không kém nhức nhối. Bởi v́ đa số - dù không phải là tất cả những trí thức không cộng sản cũng đă phục tùng những công cụ chẳng ra ǵ của ngoại bang. Những trí thức quốc gia cũng đă đem hết tâm huyết hô hào biết bao nhiêu thanh niên bỏ ḿnh cho một lư tưởng dân chủ không hề làm bận tâm ông Diệm, ông Nhu, hay cho một chính nghĩa quốc gia không hề có trong đầu óc các ông Big Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều trí thức khác đă tự đặt ḿnh ra ngoài lề lịch sử, tự cắt bỏ khỏi số phận đất nước, đào nhiệm và cầu an.
Cuối cùng đất nước như ngày hôm nay, sau tất cả những ǵ đă xảy ra. Vai tṛ của người trí thức Việt nam - cộng sản và không cộng sản - thật là bẽ bàng. Công b́nh mà nói cũng có những trí thức Việt nam không làm tay sai cho một bè lũ hay một chế độ gian trá nào mà vẫn phấn đấu, vẫn cố hiện diện trong cuộc vận hành của lịch sử. Nhưng họ đă thất bại. Trí thức Việt nam đă thất bại hoàn toàn. Đỗ lỗi cho nhau, luận tội nhau chỉ là để xem ai tồi hơn ai, có ích lợi ǵ? Hơn nữa, lên án và kết tội nhau c̣n sai v́ nói chung trí thức Việt nam lương thiện, yêu nước và cũng đă hy sinh nhiều. Có một cái ǵ đó vượt khỏi lô-gích b́nh thường mà ta cần nhận diện để đừng buộc tội lẫn nhau một cách bất công và vô ích. Có lẽ chúng ta phải t́m giải thích cho sự phá sản này trong lư lịch và trong gia phả của người trí thức Việt nam chúng ta.
Trí thức Việt nam ngày nay là hậu thân của giai cấp sĩ phu ngày trước. Mối liên hệ phụ-tử vẫn c̣n rất thắm thiết. Kẻ sĩ vẫn c̣n là mẫu mực của rất nhiều trí thức Việt nam. Ngày nay người ta vẫn c̣n tự hào là có tư cách của kẻ sĩ, người ta vẫn c̣n khen nhau là có thái độ của kẻ sĩ.
Nhưng kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một mẫu người tồi hèn, vong thân?
Chúng ta vẫn c̣n là kẻ sĩ, và v́ thế vẫn c̣n mang cái tật nguyền này của kẻ sĩ. Vấn đề là như thế. Người ta có thể hấp thụ mau chóng những kiến thức và những kỹ thuật mới, nhưng từ bỏ một tập quán và một tâm tính đă được nhào nặn qua nhiều thế hệ, đă ăn rễ vào con người và đă biến thành một bản năng, là một điều khó gấp nhiều lần. Hăy thử lấy một thí dụ về trọng lượng của tập quán.
- Tại sao người Nhật lại lái xe bên tay trái? Họ có bị người Anh đô hộ bao giờ đâu? Lư do chỉ giản dị là các hiệp sĩ Nhật quen đi bên trái các hành lang để có thể nhanh chóng rút gươm bằng tay mặt!
Nho Giáo không tạo ra kẻ sĩ để làm một con người tự do, dễ chịu trách nhiệm trước xă hội và để lănh đạo xă hội mà chỉ tạo ra kẻ sĩ để làm dụng cụ cho một guồng máy và làm thủ hạ cho các vua chúa. Trong suốt ḍng lịch sử, kẻ sĩ Trung Hoa và Việt nam đều chỉ biết sống với số phận tôi tớ. Sĩ là một nghề, nghề đi học và nghề làm quan. Trước sau là nghề qú. Qú trước mặt thày để học với ước vọng thành đạt để được qú trước các vua chúa. Nếu qú là thái độ của kẻ sĩ th́ chờ đợi là triết lư của kẻ sĩ. Thời gian trưởng thành của kẻ si được gọi là thời chưa gặp (lúc vị ngộ hối tàng nói bong tất), gặp một chủ để thờ. Kẻ sĩ không khởi xướng ra một sự nghiệp nào mà chỉ chờ đợi để được làm bày tôi cho một minh chủ nên hậu quả tất nhiên là kẻ sĩ phải chấp nhận luật chơi sẵn có của kẻ đă làm nên sự nghiệp, đem trí tuệ của ḿnh minh họa cho ư của chủ. Và luật chơi của chủ rất khắc nghiệt. Các vua chúa muốn dùng họ th́ dùng, muốn cách chức đuổi đi, muốn căng nọc ra đánh, muốn thiến họ như thiến heo thiến gà, muốn giết họ th́ giết, muốn giết cả nhà họ cũng được, kẻ sĩ cam chịu hết. Thân phận kẻ sĩ chẳng có ǵ vinh, đó chỉ là thân phận của một tôi tớ, một dụng cụ thuộc quyền sử dụng và vứt bỏ tuỳ tiện của các vua chúa. Cái bản chất dụng cụ và tôi tớ ấy ngay cả những kẻ sĩ lỗi lạc nhất cũng không trút bỏ được. Điều kinh ngạc là trong hàng chục thế kỷ kẻ sĩ đă có thể chấp nhận một khuôn mẫu đầy đọa và hạ nhục ḿnh như thế, để rồi cuối cùng sự phục tùng vô điều kiện trở thành một bản năng và một giá trị. Khổng Minh tài ba như thế mà gặp thời nhiễu nhương cũng chỉ biết ngồi trong lều cỏ để chờ một minh chúa.
Nguyễn Trăi là một kẻ sĩ siêu việt cả về văn lẫn vơ, lại có cả chí khí hơn người, Lê Lợi là một phú nông cục mịch. Tại sao lại Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần? Tấn thảm kịch c̣n lớn hơn ở chỗ Lê Lợi không có đủ trí tuệ để viết ra câu đó, chính Nguyễn Trăi đă sáng tác ra câu đó.
Cao Bá Quát là một kẻ sĩ ưu việt và ngang ngược, dám nổi loạn chống lại nhà Nguyễn. Nhưng Cao Bá Quát không lănh dạo cuộc nổi dậy mà chỉ pḥ Lê Duy Cự. Giả thử cuộc nổi dậy thành công th́ cũng chỉ để đưa đến kết quả Lê Duy Cự vi quân, Cao Bá Quát vi thần . Ngay cả khi kẻ sĩ chống lại một ông chủ th́ cũng chỉ để hy vọng được pḥ một ông chủ khác, họ không sinh ra để làm chủ. Cao Bá Quát thất bại, bị chặt đầu và tru di tam tộc. Nguyễn Trăi thành công, để cũng chỉ được cái vinh dự qú gối trước Lê Lợi, rồi cũng bị chặt đầu và tru di tam tộc.
Trong lịch sử Trung Hoa, những kẻ làm nên nghiệp đế vương, dù là Lưu Bang, Hạng Vơ, Lư Thế Dân, Triệu Khuông Dận, Thành Cát Tư Hăn, Chu Nguyễn Chương đều không phải là kẻ sĩ. Họ là hào phú, là các tay anh chị, hay vốn thuộc ḍng dơi bá vương. (Tào Tháo là một ngoại lệ, nhưng Tào Tháo bị kẻ sĩ chối bỏ và lên án là gian thần).
Trong lịch sử Việt nam, những kẻ giành được ngôi vua, dù là Lư Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Lê Lợi, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh đều là quí tộc, vơ tướng hay các tay anh chị chứ không phải là kẻ sĩ. (Hồ Quí Ly là một ngoại lệ, nhưng Hồ Quí Ly hành động như vậy v́ tự coi ḿnh là người Hoa hơn là người Việt nên coi thường nề nếp Việt nam; chiếm được ngôi vua, Hồ Quí Ly đă lập tức đổi tên nước là Đại Ngu theo tên cố quốc của ḿnh).
Một thực tế thê thảm như vậy chứng tỏ khuôn mẫu Khổng Nho đă tha hóa kẻ sĩ tới mức nào. Một thực tế bi thảm khác là tất cả những tiến bộ về tư tưởng của Trung Hoa đă chỉ có trước khi Khổng Giáo được đưa lên hàng một quốc giáo. Hơn hai ngàn năm ngự trị của khuôn mẫu Khổng Giáo đă làm tê liệt hẳn óc sáng tạo. Các hậu quả vẫn c̣n thấy được: nhiều nước châu á, nhờ không chịu ảnh hưởng Khổng Giáo một cách quá nặng nề, ngày nay đă rất phát triển, những người châu á vẫn hầu như vắng mặt trong các giải Nobel, họ vẫn thua xa người phương Tây về óc sáng tạo trong mọi địa hạt.
Trong xă hội Khổng Nho, kẻ sĩ không hội nhập vào xă hội. Lúc hàn vi kẻ sĩ sống qua ngày, đợi cơ hội làm quan. Lúc được làm quan kẻ sĩ trở thành nhưng tay sai không điều kiện cho các vua chúa để thống trị quần chúng. Kẻ sĩ được vua chúa xếp hàng đầu trên nông, công, thương, nhưng thực ra kẻ sĩ bị loại khỏi xă hội. Một điều rất đáng chú ư là trong xă hội ta ngày xưa kẻ sĩ hoàn toàn vắng mặt trong các chức quyền địa phương xuất phát từ dân gian như chánh tổng và lư trưởng, những chức vụ đă có thể là những bàn đạp để tiến lên quyền lực quốc gia. Kẻ sĩ không có hậu thuẫn quần chúng v́ sống ngoài lề xă hội. Kẻ sĩ cũng không có tài sản v́ không biết và cũng không muốn kinh doanh buôn bán, không những thế kẻ sĩ c̣n được giáo dục và nhồi nặn để khinh thường và thù ghét hoạt động kinh doanh, buôn bán. Phi thương bất phú, kẻ sĩ không có độc lập về kinh tế cho nên cũng không có thể có tự chủ về chính trị. Tại sao lại Nguyễn Trăi vi thần? Bởi v́ không muốn vi hành cũng không được. Nguyễn Trăi không có thủ túc và cũng không có tài sản để phất cờ khởi nghĩa. Kẻ sĩ trong khuôn mẫu Khổng Nho là mẫu người lệ thuộc vào vua chúa và cuối cùng chịu ơn vua chúa. Quyền lực quốc gia chỉ truyền tay giữa một bên là các vua chúa và một bên là đám anh hùng áo vải, không người không chịu ơn vua chúa và do đó dám thách thức vua chúa.
T́nh trạng vong thân kéo dài từ đời này sang đời khác đă khiến kẻ sĩ mất hẳn ḷng tự tin. Tuy bề ngoài có khi kẻ sĩ huênh hoang có giang sơn th́ sĩ đă có tên, từ Chu Hán vốn sĩ này là quí (Nguyễn Công Trứ), nhưng trong thâm tâm kẻ sĩ không tin ở ḿnh và cũng không tin ở cả giai cấp sĩ của ḿnh; do đó kẻ sĩ không những không dám có ư định dựng nghiệp mà c̣n không sẵn sàng giúp một kẻ sĩ khác dựng nghiệp. Kẻ sĩ phải làm bầy tôi, nếu từ chối số phận tôi tớ và dám mơ ước làm vua, kẻ sĩ đă vi phạm đạo lư của giai cấp ḿnh và bị lên án là gian thần, thoán nghịch, phản tặc. Nguyễn Hữu Chỉnh coi thường vua Lê chúa Trịnh bất lực và muốn nắm quyền th́ đă sao, mà người ta lên án ông là gian hùng và hả hê khi ông bị bốn ngựa xé xác? Có sử gia nào đủ khách quan để nhận định rằng chính hành động vào Nam liên kết với Tây Sơn của Chỉnh đă mở đầu cho tiến tŕnh thống nhất đất nước?
Luân lư Nho Giáo bắt người có học không được làm chủ mà chỉ được làm tôi cho một ông chủ nào đó, và tệ hơn nữa phải làm tôi suốt đời cho một chủ bởi v́ tôi trung không thờ hai chúa. Kẻ sĩ trong quan niệm Nho Giáo là một kẻ nô lệ chứ không phải là một con người tự do. Do bản năng và địa vị xă hội, kẻ sĩ không dám và không thể, và do đó khiếp phục những kẻ dám và có thể. Bài B́nh Ngô Đại Cáo hùng tráng v́ Nguyễn Trăi viết cho Lê Lợi chứ không viết cho ḿnh, v́ lúc viết Nguyễn Trải đă tự đặt ḿnh vào địa vị của Lê Lợi, tưởng tượng ḿnh là vua (Trẫm đây, núi Lam Sơn dấy nghĩa..., một mảnh nhung y dựng nên nghiệp lớn...). Toi nói nhiều về kẻ sĩ như vậy bởi v́ cái tâm lư kẻ sĩ vẫn c̣n hiện diện rất mạnh trong tiềm thức của chúng ta. Di sản nặng nề nhất là triết lư ở ẩn, tránh hiểm nguy và chờ thời. Tâm lư này ngự trị trong đầu óc hầu hết mọi trí thức Việt nam. Nó cũng ngự trị ngay cả trong đầu óc những người có ư chí nhất dám hoạt động chính trị. ở các vị này nó thể hiện qua lối làm chính trị nhân sĩ. Nhưng người trí thức tự cho là ḿnh có một giá trị nào đó - có khi chỉ là do một sự tự đánh giá ḿnh rất chủ quan - thường không chịu tham gia tạo dựng ra một lực lượng chính trị nào và cũng không lên tiếng bênh vực một lập trường nào, ngay cả khi họ thấy là đúng. Họ chỉ muốn là những nhân sĩ đứng ngoài các tổ chức và các cuộc tranh căi gay go để vừa khỏi tốn công sức vừa khỏi bị cháy. Họ tin rằng một khi họ đă là nhân sĩ th́ dù ai nắm được chính quyền cũng vẫn cần họ. Đó là một tính toán mà họ cho là sáng suốt và quả thực là một chọn lựa sáng suốt khi người ta chỉ có tham vọng làm công cụ. Chính cái thái độ nhân sĩ này, hậu thân của tâm lư kẻ sĩ ngày xưa đă khiến các tổ chức đối lập dân chủ hiện nay không được hưởng ứng và không mạnh lên được trong một giai đoạn đầy thử thách như giai đoạn chúng ta đang sống.
Một di sản khác là sự thiếu quyết tâm. Trí thức Việt nam có nhiều người không thiếu ư kiến nhưng cái quán tính không dám và không thể thừa hưởng từ tâm lư kẻ sĩ do hàng ngàn năm uốn nắn này vẫn c̣n quá manh khiến họ do dự bất quyết, sẵn sàng thỏa hiệp và nhượng bộ trước những giải pháp thô bạo trái ngược với nguyện ước của ḿnh, rồi sau cùng đánh mất chính ḿnh. Nhiều trí thức c̣n thực sự ngưỡng mộ những tay anh chị bởi v́ họ ngưỡng mộ cái liều, cái bạo mà họ không có được. Họ bị hớp hồn trước những người có bản năng mạnh và dám làm, bởi v́ đó là một phần của chính họ mà họ đă mất đi và vẫn tiếc.
Mẫu người kẻ sĩ không phải chỉ c̣n tồn tại mà c̣n đang có cơ được hồi sinh. Các chế độ độc tài tại châu á, trong đó có Trung Quốc và Việt nam, đang dụng tâm thiết lập một thứ Khổng Giáo Mới làm chỗ dựa cho các chế độ độc tài ngày nay, như Khổng Giáo Cũ đă từng làm nền tảng cho các chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa. Một âm mưu tha hóa trí thức mới đang xuất hiện. Và lần này kẻ sĩ có một cái tên gọi mới: chuyên viên. Ngay trong lúc này đang có nhiều trí thức Việt nam chủ trương hăy thôi làm chính trị, tạm chấp nhận chế độ này, hợp tác với nó trên các mặt chuyên môn. Họ hy vọng sẽ dần dần dân chủ hóa được chế độ. Nhưng nếu kẻ sĩ ngày trước trong hơn hai ngàn năm không thay đổi được chế độ quân chủ th́ trí thức chuyên viên ngày nay dù có bản lĩnh hơn và có bối cảnh thuận lợi hơn cũng không thể thay đổi được chế độ độc tài này trong một hai thể hệ, nếu họ chỉ là những chuyên viên.
Hăy coi chừng lịch sử lập lại. Tại sao chủ nghĩa cộng sản bị phủ nhận tại Tây Âu, nơi đă khai sinh ra nó, mà lại thành công tại Trung Hoa, Việt nam và Triều Tiên? Tại sao, ngoại trừ ḥn đảo Cuba nhỏ bé, chế độ cộng sản chỉ tồn tại được trên ba nước này? Lư do chính là v́ chủ nghĩa cộng sản đă xuất hiện hồi đầu thế kỷ này như là một thứ Khổng Giáo Mới. Có ǵ khác giữa Khổng Giáo và chủ nghĩa Mác Lênin? Cũng đặt nền tảng trên bạo lực, cũng độc tài toàn trị, cũng giáo điều, cũng độc tôn, cũng nhân trị nghĩa là cai trị một cách tùy tiện bất chấp luật pháp, cũng bưng bít, cũng cấm đoán tư tưởng, cũng bài xích các tôn giáo, cũng triệt hạ kinh doanh, cùng đề cao sự nghèo khó để cai trị bằng sự nghèo khổ. Cả hai đều là những hệ thống nửa tôn giáo, nửa chính trị. Cả hai đều đưa đến bế tắc và cả hai đều có cùng một biện hộ sau khi đă thất bại: không phải lư thuyết sai mà là áp dụng sai. Chỉ cần lấy Marx và Anghen đạt vào địa vị của Khổng Tử và Mạnh Tử, lấy các cuốn Tư Bản Luận, Lênin Toàn Tập thay cho Tứ Thư và Ngũ Kinh, lấy Trung ương Đảng thay cho Triều Đ́nh, đem các đảng viên thay cho đám quân tử là đâu lại vào đó. Khổng Giáo đă dọn đường cho các chế độ cộng sản. Chỉ có điểm mới là chủ nghĩa cộng sản tâng bốc quần chúng vô sản mà Khổng Giáo mạt sát, dù chỉ là một sự tâng bốc giả dối. Nếu trước đây Khổng Giáo đă dọn đường cho các chế độ cộng sản th́ ngày nay những tồn đọng của tư tưởng Khổng Giáo đang giúp các chế độ này kéo dài.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Giết hại công thần

 

Có một sự kiện gần như một định luật trong lịch sử Việt nam là những người dựng nên đế nghiệp thường hay giết hại công thần sau khi đă thành công. Tại sao? Câu trả lời gần như tự động là những người đó gian xảo, bội bạc. Xét cho cùng th́ câu trả lời này không đúng.
Những người đă có khả năng qui tụ nhân tài, khiến họ tận tụy và nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử với ḿnh tất nhiên phải có những đức tính đặc biệt. Họ phải là những người có khả năng thu hút, chinh phục ḷng tin và sự trung thành bằng cách chứng tỏ tài năng và đức độ. Trừ một vài ngoại lệ rất họa hiếm, họ phải là những người khá tốt và thủy chung. Ngày nay một người tham gia một tổ chức chính trị chỉ kết bạn với lănh tụ mà thôi, nếu thất vọng có thể bỏ ra đi, nhưng ngày xưa th́ khác hẳn. Lănh tụ không những phải là người lănh đạo mà c̣n là minh chủ, một chúa công có quyền trên tính mạng của thuộc hạ. Các nhân tài ngày xưa v́ vậy chọn chúa rất thận trọng, họ hỏi han về minh chủ, tới yết kiến minh chủ, quan sát từng thái độ, cử chỉ, lời ăn tiếng nói, có khi xem tướng rồi mới quyết định v́ đó là quyết định vô cùng quan trọng đối với họ. Họ khó có thể lầm được. Muốn được họ thờ thường phải là người có đức lớn. Trong vô số những người phất cờ khởi nghĩa chỉ có một người thành công th́ người đó phải là người có bản lănh phi thường, mà bản lănh lớn nhất là qui tụ, điều động, chinh phục ḷng tin. Khó mà có thể giả dối được bởi v́ không thể đánh lừa một số người đông đảo trong suốt một thời gian dài tranh đấu cam go.
Vậy mà ông vua nào thành công dựng được nghiệp đế cũng giết hại công thần cả. Như thế việc giết hại công thần phải có một giải thích khác hơn là sự bội bạc. Giải thích đó là sự giết hại công thần là cần thiết trong lô-gích Khổng Giáo.
Khổng Giáo coi quyền của vua là quyền thiêng liêng của trời cho. Quần thần phải phục tùng vô điều kiện, có chết cũng không được thắc mắc. Đă là quyền thiêng liêng th́ trời ban cho ai, người đó được. Đă là kẻ sĩ, nghĩa là đă từ bỏ mọi ư định làm chủ để chỉ nuôi giấc mộng làm tôi cho một minh chủ, th́ dĩ nhiên phải tự coi là ḿnh không có mệnh trời đó rồi. Hạnh phúc của kẻ sĩ chỉ là được vào chốn cũng đ́nh, thấy mặt long nhan, được chút chức vị và hầu hạ một người được trời trao thiên mệnh. Nhưng những kẻ sĩ giúp một anh hùng lập nghiệp đế th́ lại khác. Họ đă được gặp một người dựng nghiệp, nghĩa là c̣n có mệnh trời hơn hẳn những ông vua khác. Họ đă chia cơm sẻ áo, chen vai sát cánh với kẻ anh hùng đó. Họ đă chứng kiến những sự lo âu, hốt hoảng, những sai lầm và nhát sợ của người anh hùng đó. Họ đă chứng kiến tận mắt và đầy đủ một cuộc lập nghiệp đế vương và đă khám phá ra rằng cuộc dựng nghiệp này chẳng có ǵ là thần thánh cả. Họ không c̣n là nhưng kẻ sĩ chân chính nữa. Những công thần đă giúp vua dựng nghiệp cũng phải là những người rất đởm lược, họ dễ nhận ra là ông vua anh hùng nhất cũng không khác họ bao nhiêu. Họ đă nh́n thấy bí quyết dựng nghiệp, họ đă nhận ra sự tương đói của thuyết thiên mệnh và biết đâu họ đă thấy chính họ cũng có thể làm vua. V́ thế họ phải chết.
Kẻ đế vương thực ra cũng không có chọn lựa. Tất cả căn bản quyền lực của ông ta dựa trên sự chính đáng của thiên mệnh, ông ta không thể dung túng những kẻ không c̣n tin tưởng tuyệt đối ở sự huyền bí đó nữa và lại có khả năng ngang tầm với ông ta. Đó không phải chỉ là mối nguy mất ngôi vua mà c̣n là mói nguy mất mạng và tuyệt giống bởi v́ trong hệ thống quân chủ chuyên chế, thiên mệnh đă được trao cho ông ta rồi th́ chỉ có cái chết mới có thể tước đoạt, và nhổ cỏ th́ phải nhỏ tận gốc. Những công thần có khả năng để dọa ngôi báu hay làm mất đi tính thiêng liêng của nó v́ vậy phải bị tiêu diệt.
Nhưng những công thần trung thành tuyệt đối cũng không thể dung túng được, bởi v́ họ để dọa trật tự của chế độ quân chủ tuyệt đối trong đó quần thần không hơn những con vật trước mặt nhà vua, vua muốn nọc ra đánh, muốn thiến tùy ư. Những khai quốc công thần không c̣n là những kẻ sĩ chân chính nữa v́ họ đă quá quen với vua, đối xử với họ như vậy không khỏi mang tiếng tệ bạc, mà không đối xử như vậy th́ không c̣n kỷ cương triều đ́nh. Họ là những cái gai phải nhổ để trật tự vua tôi được trở lại b́nh thường.
Mối liên hệ vua tôi, cốt cán của tư tưởng chính trị Khổng Giáo, đưa tới hai hậu quả.
Một là, kẻ sĩ, tinh hoa của xă hội, mất hết nhân cách, xă hội v́ thế lẫn quẩn trong sự thui chột và hèn kém.
Hai là, các cuộc khủng hoảng xă hội rất khó có lối thoát. Kẻ sĩ chân chính không phải là người khởi nghiệp. Triết lư của họ là lúc khó khăn th́ lánh mặt. Chỉ có một số rất ít có chí khí để tham gia tranh đấu trong thời ly loạn mà thôi. Những kẻ này phải chọn minh chủ thật kỹ. Trước hết minh chủ phải là người có chân mạng đế vương, nếu không th́ theo ông ta chỉ uổng mạng mà thôi, sau đó minh chủ lại phải là người thật trung hậu, nếu không th́ khi thành công mạng ḿnh cũng toi mạng về tay ông ta. Lịch sử Trung Quốc không thiếu những chuyện những người giúp chủ dựng nghiệp, lúc thành công th́ vội vă cao bay xa chạy. Kết quả là ít ai nhập cuộc, những loạn lạc thường kéo dài rất lâu, những kẻ có gan dạ dấn thân đă rất ít mà trong số này, những người t́m được minh chủ lại càng khó. Và những người dám đứng lên khởi xướng th́ lại không thể kết hợp được với nhau, bởi v́ không ai dám nhường ngôi minh chủ cho người khác, nhường ngôi minh chủ là nhường tất cả chứ không có thoả hiệp nào. Với thời gian chọn đúng chúa mà thờ trở thành một lo âu làm tê liệt những kẻ sĩ hiếm hoi có ư định cứu đời. Trong đa số trường hợp đưa họ trở lại sự thụ động cố hữu.
Ngày nay triết lư thiên mệnh của Khổng Giáo đă đi vào quá khứ, ít ai c̣n tin có nhưng kẻ có thiên mạng đế vương nữa. Nhưng cái tâm lư chọn minh chủ vẫn c̣n tồn tại, và bởi v́ nó là một tâm lư, nó nấp kín trong thâm sâu của chúng ta, nó chi phối hành động của chúng ta một cách bí mật đến nỗi chính chúng ta không thấy. Hai câu chuyện sau đây chứng tỏ cái tâm lư mà ta tưởng như đă hoàn toàn biến mất thực ra vẫn c̣n lảng vảng đâu đây. Tôi kể ra chỉ để độc giả thấy rằng đoạn tuyệt với một văn hóa là một điều rất khó.
Cách đây không lâu, một lănh tụ của một tổ chức chính trị có lúc gây được tiếng vang đă có nhă ư đến thăm tôi. Tôi hỏi anh lư do nào có thể khiến một người tham gia tổ chức của anh. Anh đắn đo rồi trả lời bởi v́ người ta ngưỡng mộ một lănh tụ như anh. Đó là một thanh niên hoàn toàn được đào tạo tại một nước tân tiến.
Tôi cũng biết hai người khoa bảng khác được đào tạo tại phương Tây. Không những chỉ có bằng cấp lớn mà họ c̣n thực sự có khả năng và bản lănh lớn, tôi rất ngưỡng mộ họ. Câu chuyện của họ lại có liên quan tới chính tôi. Chúng tôi đă sát cánh cùng nhau tranh đấu cho dân chủ trong một thời gian. Có cố gắng dài hơi nào mà không có lúc đem tới sự mệt mỏi và nghi hoặc? Một hôm tôi được họ mời đi ăn tối cùng với một người lạ mặt mà sau này tôi được biết là một nhà tướng số nổi tiếng. Chúng tôi nói chuyện vui vẻ, nhà tướng số kia đặt nhiều câu hỏi về tôi. ít lâu sau cả hai bạn tôi tuyên bố ngưng hoạt động. Măi về sau tôi mới hiểu là tất cả do bữa cơm tối đó. Họ đă nhờ nhà tướng số kia cho biết về tôi và kết luận của vị này là tôi không có tướng của một minh chủ.
Tôi rất buồn v́ mất hai bạn đồng hành hiếm có, nhưng tôi rất kính trọng họ, họ là những trí thức hiếm hoi c̣n có ư định dấn thân, và thực sự đă vất vả với tôi trong một thời gian. Tôi chỉ giận cái tâm lư kẻ sĩ của Khổng Giáo không chịu cút hẳn khỏi tâm hồn người Việt. Tôi cũng không giận ông thày tướng kia v́ thực ra ông ta nói đúng: thời này làm ǵ c̣n minh chủ, chỉ có những kẻ khùng mới nuôi mộng làm minh chủ mà thôi. Tôi chỉ muốn góp phần nhỏ bé của ḿnh cho thắng lợi dân chủ mà thôi. Vậy mà cũng gian truân.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Anh không biết ǵ về cộng sản

 

Chương Mặt Thật Của Ai? mà quí vị vừa đọc phần lớn lấy từ một bài báo cùng để tựa mà tôi đă gởi đăng báo Ngày Nay (Houston, Hoa Kỳ). Bài báo này đă gây cho tôi khá nhiều vấn đề. Trước hết là ngay trong nội bộ nhóm Thông Luận. Mới đầu tôi định đăng báo Thông Luận, tôi không ngờ gặp phải những phản ứng rất mạnh của những người bạn mà tôi đưa đọc trước. Họ sợ một bài báo như thế sẽ đem lại cho nhóm Thông Luận nhưng thù ghét mới. Thấy rằng nếu đăng báo Thông Luận có thể sẽ gây sứt mẻ đáng tiếc, tôi gởi đăng báo Ngày nay, rồi lại gặp một vấn đề khác. Một anh bạn đọc xong, nỗi giận nói rằng một bài đặc sắc như vậy sao không đăng báo ḿnh mà lại đem đăng báo khác. Bài đăng trên báo Ngày Nay cũng làm tôi vất vả.
Một loạt bài phản bác dữ dội được tung ra ngay sau đó. Một vị ở Houston, mà sau này tôi được biết là có kiến thức khoa học, cho rằng bài đó là một xúc phạm lớn đối với tổ tiên; Nguyễn Gia Kiểng là tác giả bài đó th́ là chính phạm, nhưng báo Ngày Nay đă đăng bài đó th́ cũng là ṭng phạm. (chính phạm và đồng phạm là những tiếng được dùng trong bài). Nếu có quyền, chắc chắn các vị này đă lôi cổ tôi ra ṭa và tặng cho vài cuốn lịch rồi. Cả tác giả bài đả kích này lẫn tờ báo đăng nó đều đang nỗ lực tranh đấu lên án cộng sản chuyên chính giáo điều, chà đạp tự do ngôn luận và báo chí.
Một nhân sĩ nhân đọc bài báo của tôi trên Ngày Nay, cảm hứng viết một bài góp ư, với tựa để là Nghe Qú , đóng góp thêm một số ư kiến cá nhân đồng thời phê phán một số nhân vật. Thế là tôi lại lănh một bài đánh khác, mà lần này đánh oan v́ những ư kiến làm tác giả bài đánh này nỗi giận không phải là của tôi mà là của vị nhân sĩ kia. Quá giận, tác giả lôi cả thân thế tôi ra phê phán và kết luận tôi là hạng người vô liêm sỉ. Cũng may lúc đó tôi có chút thời giờ rảnh rỗi nên đă gởi nguyên văn bài của ḿnh cho tác giả. Ông này tỏ ra rất đứng đắn v́ sau đó, khi đă biết có sự hiểu lầm, ông viết cho tôi một lá thư ngắn với lời lẽ thân thiện và cho đăng một bài cải chính trên ngay tờ báo đă đăng bài đánh tôi. Đó là lần duy nhất tôi thấy một người đánh oan một người khác đă giải oan cho người đó. B́nh thường thôi đánh cũng là phúc lắm rồi.
Một lần chúng tôi gặp một sự cố trong một buổi họp Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận. B́nh thường th́ những buổi họp của Câu Lạc bộ là sự gặp gỡ thân thiện của những người có cảm t́nh với nhau dù cùng hay không cùng chính kiến. Khi thành lập, chính tôi đề nghị đặt tên là Câu Lạc Bộ Độc Giả Thông Luận nhưng đề nghị của tôi bị phản bác, một vị đă đề nghị thay Độc Giả bằng Thân Hữu với lập luận rằng ai muốn là độc giả chẳng được, nhưng muốn gặp nhau thảo luận th́ phải có tinh thần thân hữu, thân hữu không có nghĩa là đồng ư mà chỉ là thái độ thân thiện, tương kính. Tôi vẫn thấy hai chữ Thân Hữu có vẻ giới hạn quá. Biểu quyết, và tôi thua. Kết quả là Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận ra đời với mục đích là lâu lâu gặp nhau một lần để thảo luận trong tinh thần không có ư kiến nào cấm nêu ra, không có đề tài nào cấm bàn đến.
Trớ trêu thay hôm xảy ra vụ lộn xộn đó, thuyết tŕnh viên lại chính là người đề nghị thay độc giả bằng thân hữu. Việc ông được chọn để dẫn nhập buổi gặp gỡ đó đă được quyết định từ mấy tháng trước, nhưng trong khoảng thời gian đó ông trở thành tổng thư kư của một tổ chức mới, tuy vừa thành lập nhưng có sức mạnh v́ chỉ là mặt ngoài của một tổ chức đă có từ lâu và có rất nhiều phương tiện. Chức vụ mới đó đă khiến ông không c̣n thân hữu với chúng tôi nữa và ông đem đến cả một lực lượng hùng hậu. Buổi họp biến thành một ṭa án nhân dân xử nhóm Thông Luận. Lực lượng này nhao nhao lên, bất chấp chủ tọa, muốn nói là nói, nói ǵ cũng được v́ họ sẵn sàng ẩu đả và h́nh như chỉ đợi cơ hội để ẩu đả. Chúng tôi cố nhịn nhục cho qua. Rồi buổi họp cũng xong, nhưng một thanh niên xấn lại phía tôi, chỉ tay vào mặt tôi mà nói: Anh là đồ ngây thơ ấu trĩ, anh không hiểu ǵ về cộng sản cả.
Tôi biết lúc đó không phải là lúc để thảo luận với anh ta. Tôi cũng không giận anh ta, từ đầu buổi họp tôi nhận xét anh ta là một trong những người ôn ḥa nhất của lực lượng này. Dáng dấp anh ta cũng khá trí thức, đôi mắt thông minh và hiền lành. Vả lại anh ta cũng khá khoan dung đối với chúng tôi: chúng tôi chỉ ngây thơ ấu trĩ và không biết ǵ về cộng sản chứ không phải là những tên phản bội, những tay sai cộng sản như các bạn anh ta nói sang sảng trong suốt buổi họp. Anh ta trạc độ ba mươi tuổi.
à, nếu tôi có thể ngây thơ ấu trĩ được th́ diễm phúc biết bao nhiêu? Tiếc quá, lúc đó tôi đă gần năm mươi tuổi rồi mà chưa làm được ǵ ra hồn, cuộc đời cũng chẳng có ǵ vui, đă nhiều thất vọng và mất mát. Muốn ngây thơ cũng không được nữa.
Không biết ǵ về cộng sản? Tôi biết không nhiều nhưng cũng biết chút đỉnh. Lớn lên ở vùng quê do cộng sản kiềm soát, cha bỏ trốn, chú bác bị giết, mẹ dắt ra hầu ṭa án nhân dân từ thời năm tuổi. Lớn lên chống cộng từ thời sinh viên, chống cộng trong hàng ngũ Việt nam Cộng Ḥa, đi tù cộng sản, làm viên chức cộng sản, làm dân cộng sản, sống ngoài ṿng pháp luật dưới chế độ cộng sản, rồi ra hải ngoại chống cộng sản. Có thể nói tôi là một trong những người có cơ hội quan sát cộng sản dưới mọi gốc nh́n và cọ sát với cộng sản trên nhiều cương vị. Anh thanh niên kia chắc có thân nhân bị đi tù cải tạo, gia đ́nh có thể đă bị tịch thu tài sản và đă gian lao t́m cách vượt biên, như thế là đủ để anh ấy nghĩ ḿnh biết rơ cộng sản đủ tư cách để coi những người không coi cộng sản như quỉ ma, thể dữ là không biết ǵ về cộng sản.
Thái độ của anh ta không làm tôi ngạc nhiên chút nào, bởi đó là thái độ tự nhiên của con người trong văn hóa Khổng Mạnh, một văn hóa được lưu truyền qua cuộc sống, từ đời này qua đời khác trải mấy ngh́n năm, mà người ta tiếp thu một cách tự nhiên và vô t́nh. Văn hóa Khổng Mạnh là thứ văn hóa xác quyết, bất cần chứng minh. Ông Khổng Khâu, ông Mạnh Kha và tất cả các danh nho qua các thời đại chỉ khẳng định một cách chắc nịch thôi chứ có bao giờ cần chứng minh cái ǵ đâu. Ông Khổng Khâu nói người có hiếu th́ cha chết ba năm không được thay đổi nếp sống gia đ́nh do cha để lại, người ngay thẳng th́ cha có đi ăn trộm cũng phải bao che, nhưng ông không hề bận tâm giải thích tại sao. Các ông thánh hiền kế tiếp nói rằng đă là đàn bà đức hạnh th́ phải phục ṭng cả cha, lẫn chồng, lẫn con cũng có cần biện luận ǵ đâu. Văn hóa của chúng ta là cái. Văn hóa trong đó ḿnh cứ ném bừa chân lư của ḿnh vào mặt người khác mà không cần suy nghĩ xem đó có phải là những chân lư thực không.
Văn hóa Khổng Mạnh là văn hóa phủ nhận kiến thức. Người ta không cần nghiên cứu, t́m hiểu, miễn là cứ thấy phải đạo là có thể tự tin và tự hào được rồi. Tất cả các cuốn Tứ Thư, Ngũ Kinh nếu gộp chung lại tất cả và in thành một cuốn sách th́ cũng chỉ vài trăm trang thôi, nghĩa là chỉ bằng một nửa cuốn sách mà các vị đang cầm trong tay thôi. Một người b́nh thường có thể học một tuần lễ là xong, thế mà các sĩ tử cứ nhai đi nhai lại trong mấy ngàn năm th́ hỏi kiến thức có cái ǵ đáng kể? Ông Phần Khôi là một nhà nho xuất chúng, ông đi học chữ quốc ngữ tới tŕnh độ tiểu học và quả quyết là đă học hỏi được nhiều hơn hẳn so với thời kỳ học chữ nho. Với thời gian, cả một xă hội học thói quen nói và làm mà không cần một kiến thức nào cả. Thái độ này tạo ra một niềm tin thầm kín rằng mọi người như nhau, chẳng ai biết ǵ hơn ai. Người ta có thể nói với bất cứ ai anh không biết ǵ cả, bởi v́ thực ra trong tiềm thức người ta đang nói về chính ḿnh.
Không những không trọng kiến thức, mà người ta c̣n bài bác việc mở mang kiến thức, bởi v́ văn hóa Khổng Mạnh chống lại điều mới, nghĩa là chống lại sự t́m hiểu. Khổng Tử nói: Bỏ công ra học điều lạ chỉ có hại (Công hồ dị đoan, tư hại đă dĩ). Những lời vàng ngọc đó trải đời này qua đời khác tạo ra tâm lư coi điều khác lạ là xấu là dở, là sai. Trong ngôn ngữ Trung Quốc mà ta du nhập, chữ dị, nghĩa là khác, đồng nghĩa với xằng bậy. Dị đoan theo nghĩa chiết tự của nó chỉ có nghĩa là điều lạ thôi, nhưng tập quán và thời gian đă biến nó thành nhảm nhí. Lập dị, quái dị, dị nghị, dị hợm đều mang nghĩa xấu cả. Về điểm này đôi khi tôi thấy vui ḷng là người Việt nam c̣n giữ được chữ khác với nghĩa khách quan. Không những bài bác điều mới, văn hóa Khổng Mạnh c̣n hung bạo với điều mới. Khổng Tử lên làm tướng quốc nước Lỗ th́ lập tức giết thiếu chính Măo. Chẳng thấy ông Măo có tội cụ thể nào ngoài tội có tài biện luận và lung lạc người khác. Những ai lên án đảng cộng sản đàn áp những người phát biểu ư kiến ngược lại với đảng nên suy nghĩ lại chuyện này. Nho sĩ theo gương bậc vạn thế sư biểư này đă để xướng lên cả một bổn phận đạo đức: vệ đạo. Vệ đạo là chủ trương bảo vệ toàn bộ các giá trị Khổng Giáo bằng cách đánh phá gay gắt và tiêu diệt bằng bạo lực những kẻ dám đi ra ngoài khuôn mẫu có sẵn. Khổng Khâu và các môn đệ, hậu bối của ông, cũng khuyến khích sự t́m ṭi, khảo cứu nhưng với điều kiện là đó chỉ là những t́m ṭi phải đạo, với mục đích minh họa những ư đă có sẵn, tương tự như đảng cộng sản kêu gọi sáng tạo với điều kiện là sáng tạo trong đường lối do đảng vạch ra, trong khuôn khổ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái chủ trương vệ đạo đó đă làm thui chột cả trí tuệ á Đông và đă dẫn ra pháp trường vô số những người có trí tuệ, đáng lẽ đă có thể cống hiến những đóng góp quí báu. Tôi không thù ghét những người đă đả kích tôi một cách gay gắt, đ̣i lên án, đ̣i phải có thái độ, đ̣i hành hung (kể cả đả thương thực sự) bởi v́ đó chỉ là di sản văn hóa của cái tâm lư vệ đạo đă mọc rễ vào tâm hồn chúng ta ngay cả khi chúng ta không ư thức được. Viết một cuốn sách hay về dân chủ không khó bằng không nổi giận khi có người phát biểu ngược ư minh v́ một đằng là kiến thức, một đằng là tâm lư. Kiến thức dễ tiếp thu và cũng dễ thay đổi; tâm lư, trái lại, là cái mà chúng ta không ư thức được và do đó không cảnh giác.
Những phản ứng giận dữ đối với một số bài viết về văn hóa và lịch sử của tôi c̣n xuất phát từ một di sản khác của Khổng Giáo, đó là tâm lư tôn sùng người xưa. Quí trọng tổ tiên là một t́nh cảm tự nhiên và cũng là một phần của trí thông minh của loài người. Nó cho phép loài người nối dài cuộc sống trí tuệ của ḿnh tới một thời xa xưa, hiểu được cuộc hành tŕnh đă dẫn tới ngày hôm nay, và cũng ư thức được những điều nên làm cho tương lai. Ḷng quí trọng người xưa biến cuộc sống thành liên tục và vĩnh cửu, sinh và tử chỉ là nhưng chốc lát trong cuộc sống liên tục và không ngừng biến đồi của loài người. Quan sát việc làm của người xưa ta rút ra được những kinh nghiệm để xây dựng ngày mai, ta học được những cái đúng của họ, va ta rút nhiều kinh nghiệm quí báu hơn ở những sai lầm của họ. Nhưng sự tôn sùng người xưa của Khổng Giáo không phải như vậy. Nó là một sự tôn sùng bệnh hoạn, coi người xưa là hơn ngày nay, coi người xưa là hoàn toàn đúng, chúng ta chỉ cằn lập lại là đủ. Khổng Tử chủ trương cứ học người xưa là biết việc ngày nay (ôn cố tri tân). Nhan Uyên hỏi ông về việc trị nước, Khổng Tử trả lời: Cứ theo lịch nhà Hạ, đội mũ nhà Chu, dùng nhạc của vua Thuấn, Các nho sĩ sau này c̣n đề cao hơn nữa cái tinh thần sùng bái và bắt chước tổ tiên đó, và người được đề cao làm mẫu mực hơn cả lại chính là Khổng Tử. Ngay cả những câu nói rất tầm thường, và tầm bậy, của ông như cha con phải giấu tội cho nhau, nước loạn th́ chớ ở lại cũng được đưa lên hàng đạo lư. Chính Khổng Tử khi nói những câu này cũng không thể ngờ rằng có ngày chúng sẽ được coi là nhưng khuôn vàng thước ngọc. Ông thủ cựu và kêu gọi thủ cựu, nhưng đó chỉ là những ư kiến thôi, chính các triều đại về sau mới biến nhưng ư kiến của ông thành chân lư bất di bất dịch. Cá nhân Khổng Tử nhiều lần dạy đệ tử không nên pḥ những vua chúa bất nghĩa, nhưng chính ông cũng hai lần định làm gia nhân cho những kẻ phản bội. Như vậy Khổng Tử tuy thủ cựu nhưng không cứng chác như người ta tưởng. Như đă nói, khi phê phán Khổng Giáo, ta không nên qui trách hết cho Khổng Tử.
Mặc Tử, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của Trung Quốc, đă nhiều lần lên án tâm lư rập khuôn theo người trước. Nếu Mặc Tử, thay v́ Khổng Tử, được lấy làm mẫu mực th́ Trung Quốc đă không thua kém như ngày nay. Mặc Tử có lư: nếu tất cả mọi thế hệ đều lấy những thế hệ trước làm mẫu mực th́ xă hội vẫn c̣n như thời Phục Hy, Thần Nông, nghĩa là vẫn c̣n ăn lông ở lỗ.
Tinh thần tôn sùng và rập khuôn theo người xưa h́nh như vẫn c̣n nặng làm trong tâm lư trí thức Việt nam. Một người bạn của tôi có hai bằng cấp khoa học rất cao tại Mỹ và Pháp, có lần giảng cho tôi về sự cao siêu huyền bí và tính khoa học của khoa tử vi. Tôi hỏi anh ta tại sao anh không thấy cái nhảm nhí của tử vi, chỉ có năm yếu tố thôi: giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh, nam, nữ mà suy ra tới 108 sao, nghĩa là chỉ có năm phương tŕnh bậc nhất mà có tới 108 ẩn số th́ hoặc là hệ thống phương tŕnh đó không có giải đáp chính xác, hoặc là thực ra chỉ có năm ẩn số mà thôi, 103 ẩn số c̣n lại tự động suy ra từ năm ẩn số chính, nghĩa là vất đi cũng được. Vậy th́ khoa tử vi sai ngay từ đầu, nó chỉ là một bài toán ngây ngô do sự kiện trí tuệ chưa được mở mang mà có. Anh ta cự lại: Tử vi không phải là toán?. Tôi c̣n biết nói ǵ đây? Toán có là ǵ đâu, ngoại trừ là một cách lư luận đúng? Nếu bảo có những cái không cần đúng th́ c̣n ǵ để bàn? Tức quá, tôi bảo anh ta thử lấy số tử vi của tôi xem sao. Anh ta bèn bấm đốt ngón tay và quả nhiên tôi thấy chỉ có năm sao, tôi không nhớ sao nào, là phải căn cứ vào năm dữ kiện ban đầu mà thôi, những sao khác cứ tự nhiên theo năm sao này mà định vị trí, nhưng anh ta vẫn không chịu thua, anh ta kết luận là tôi không hiểu được cái kiến thức cao siêu của người xưa. Tŕnh độ toán học của anh ta cao hơn tôi nhiều, nhưng anh ta không thấy được cái sai lầm rành rành ra đó v́ anh ta đă sẵn có định kiến là người xưa có lư rồi.
Một anh bạn khác cũng tốt nghiệp kỹ sư tại Mỹ và trước đó nổi tiếng là học sinh tú tài xuất sắc nhất của trường Chu Văn An, lận đận t́m cách vượt biên sau năm 1975. Chúng tôi gặp nhau sau khi đi tù cải tạo về và cùng có ư định là trốn khỏi Việt nam. Mỗi lần tính chuyện vượt biên anh đều xem bói dịch. Anh ta giải thích với tôi là bói dịch rất đúng bởi v́ nó do Chu Văn Vương chế ra. Tôi nói Chu Văn Vương là tổ nhà Chu, sống vào thế kỷ 12 trước Tây lịch, lúc loài người c̣n rất man rợ, có ǵ là thông thái, chẳng qua đó là niềm tin ngây thơ vào quỉ thần của mọi dân tộc bán khai. Anh ta tiếc cho tôi không hiểu được cái huyền bí của Kinh Dịch, bởi v́ thời đó con người c̣n trong sáng và c̣n giao cảm được với thần linh. Điều nghịch lư là đă mấy lần anh ấy ra đi sau khi trúng một quẻ tốt và lần nào cũng bỏ của chạy lấy người hoặc bị công an bắt trói phải chuộc mạng nhưng anh ấy vẫn tiếp tục tin Kinh Dịch.
Cả hai anh bạn tôi trên đây lúc b́nh thường đều là những người rất sáng suốt và chính xác, nhưng mỗi khi gặp quyết định khó khăn với một xác suất rủi ro lớn họ lại quay về với những tín ngưỡng cỗ lậu bởi v́ sự tôn sùng cổ nhân được truyền từ đời này qua đời khác vẫn c̣n mai phục trong trí óc họ. Đó là chuyện xa, nhưng c̣n chuyện gần hơn? Tôi được đọc không biết bao nhiêu tuyên cáo buộc tội lẫn nhau giữa các phe phái trong các đảng Đại Việt và Việt nam Quốc Dân Đảng. Phe nọ lên án phe kia là phản bội đường lối của các cố đảng trưởng, phe nào cũng tự hào là tuyệt đối trung thành với đường lối của các ngài. Sự theo đúng đường lối do người đi trước vạch ra h́nh như được coi là một tiêu chuẩn để quyết định ai đúng ai sai, ai chính ai tà. Cái tiêu chuẩn kỳ cục này có lẽ chỉ có ở Trung Quốc và Việt nam. Hai dân tộc này coi sự kiện không làm đúng như người xưa là xúc phạm đến người xưa. Trong các nước cộng sản, Trung Quốc và Việt nam cũng là hai nước chống xét lại một cách gay gắt nhất. Đó là di sản của tinh thần bất tác, vô cải mà Khổng Giáo đề cao. Nên nhớ rằng Khổng Tử coi như bổn phận của người con có hiếu là không sửa đổi ǵ hết nền nếp của cha trong ṿng ít nhất ba năm sau khi cha đă mất, nghĩa là nếu măi măi không sửa đổi ǵ th́ c̣n hiếu hơn.
Trong thế giới thay đổi dồn dập này, mà sức mạnh, chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc được quyết định bởi ư kiến và sáng kiến, bởi vận tốc của đổi mới, nếu có một tâm lư mà chúng ta phải khẩn cấp từ bỏ th́ đó chính là tâm lư thủ cựu.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Ưu đạo bất ưu bần?

 

Như tôi đă tŕnh bày, khi phê phán Khổng Giáo không nên đồng hóa nó với ông Khổng Khâu, càng không nên đổ hết trách nhiệm cho ông. Ông không chí thánh chí nhân như ông Trần Trọng Kim viết trong cuốn Nho Giáo, những cũng là người tốt, ông mở trường tư đầu tiên và tạo ra một cơ hội tiến thân quan trọng cho tàng lớp thứ dân. Thế cũng là một người có công lớn với đời rồi. Ông dạy học tṛ nhiều điều về luân lư thực tiễn. Xét theo bối cảnh thời đại của ông, trong những điều ông nói có những điều khá đúng, những điều hơi sai và những điều rất sai. Đó là lẽ tự nhiên, không có học giả, triết gia nào chỉ phát biểu những điều hoàn toàn đúng. Socrate, Platon, Aristote cũng vậy thôi, họ có những ư kiến thật sáng nhưng cũng có những nhận định sai lầm, thiếu sót. Bổn phận của những người đi sau là giữ lại, bổ túc và khai triển những đóng góp đúng, bỏ đi những sai lầm và, dĩ nhiên, không ngừng thêm vào những khám phá mới.
Văn hóa Khổng Giáo trở thành độc hại không phải v́ nó sai ngay từ đầu mà v́ nó đă không biết đổi mới. Nó đă khai thác triệt để hai tính xấu của Khổng Tử là tinh thần thủ cựu, bài bác điều mới lạ, và tinh thần bất dung (thí dụ như việc giết thiếu chính Măo chỉ v́ ông Măo có tài biện luận và không đồng ư với Khổng Tử). Không những thế nó c̣n bóp méo tư tưởng của chính Khổng Tử.
Một thí dụ của sự xuyên tạc đó là tinh thần an bần lạc đạo, nghĩa là cam phận nghèo mà vui với đạo đức. Tinh thần này theo các nho sĩ lấy từ một câu trong Luận Ngữ. người quân tử chỉ lo giữ đạo lư chứ không lo nghèo (quân tử ưu đạo bất ưu bần). Nhưng Khổng Tử nào đâu có ư định nói như thế. Ông nói nguyên văn như thế này: Người quân tử mưu t́m học đạo chứ không mưu t́m miếng ăn. Làm ruộng có khi mất mùa cũng đói, c̣n học đạo th́ có lộc. Người quân tử chỉ cần lo học cho giỏi chứ đừng sợ nghèo (Quân tử mưu đạo bất mưu thực. Canh dă, nỗi tại kỳ trung hĩ. Học dă, lộc tại kỳ trung hĩ. Quân Tử ưu đạo bất ưu bần). Đó chỉ là một lời khuyên thực dụng mà thôi, có nghĩa là cứ lo học đi rồi sẽ được làm quan và sẽ có ăn. Nên nhớ rằng mục đích của việc học đạo chỉ là để được làm quan. ư Khổng Tử qua câu nói này hoàn toàn không phải là sự chấp nhận nghèo khổ miễn là sống hợp đạo đức. (Cần hiểu chữ đạo của Khổng Tử đồng nghĩa với nghề, nghĩa là học thi, thư, lễ, nhạc cho thạo để ra làm quan chứ không phải là đạo đức như ta hiểu). Chính Khổng Tử cũng rất ham phú quí, ông từng nói phú quí mà cầu được th́ dù phải làm kẻ cầm roi đánh xe ngựa ta cũng nhận (phú quí nhi khả cầu dă, tuy chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi). Khổng Tử lương thiện nhưng không phải v́ thế mà ông đề cao sự nghèo khổ. Ông đă đi khắp nơi cầu được làm quan, có lúc sẵn sàng làm gia nhân cho những kẻ giàu có phản trắc. Nhân sinh quan của ông rất thực dụng: cầu ích lợi cho ḿnh và sống lương thiện. Đó là một nhân sinh quan rất khiêm tốn về mặt đạo đức.
Từ đời nhà Hán, luân lư của Khổng Giáo bị bóp méo đi để biến thành một thứ luân lư nông nghiệp lạc hậu. Lưu Bang, tức Hán Cao Tổ, sau khi diệt được Tần và Sở, thống nhất thiên hạ, nhận định rằng mối nguy cho ḍng họ ḿnh là những kẻ giàu có và gan dạ. Ông bèn xóa bỏ thương nghiệp và chỉ giữ lại nông nghiệp. Việc phân chia xă hội ra bốn giai cấp sĩ, nông, công, thương bắt đầu từ đó. Nếu chỉ xét về mục đích duy tŕ quyền hành th́ nhà Hán hoàn toàn có lư. Nghe nông chân lấm lấy bùn, được mùa th́ no, mất mùa th́ đói, không thể nào giàu lớn được, gia tài chỉ là ruộng đất, có bao nhiêu triều đ́nh thấy rơ hết. Vả lại, người nông dân ở yên một chỗ, kiến thức hạn hẹp mà đởm lược cũng không có bao nhiêu. Trái lại, người buôn bán giao du nhiều, hiểu biết rộng răi, lại quen đương đầu với rủi ro thành ra gan dạ (có gan làm giàu). Nghề buôn bán lại dẽ phát đạt, có thể đưa tới những tài sản rất lớn, kín đáo và dễ di chuyển. Những thương nhân giàu có này lại không làm quan ăn lộc vua và do đó không mang ơn vua như lớp nho sĩ, họ có thể là những đe dọa lớn cho các vua chúa. Chính v́ thế mà nhà Hán dẹp bỏ thương nghiệp, và khi thương nghiệp đă bị xóa bỏ, sự trao đổi hàng hóa không c̣n nữa th́ công nghiệp chỉ c̣n là một nghề phụ của nghề nông, làm ra những nhu yếu phẩm cho xóm làng mà thôi. Dưới đời nhà Hán, thương nhân không những bị trù dập thô bạo mà c̣n bị miệt thị như những kẻ xấu xa, đáng khinh bỉ.
Các triều đại về sau có lúc nới lỏng cho thương nghiệp đôi chút nhưng rời lại xiết lại ngay. Triều đại nào cũng coi thương nghiệp là mối nguy và đều ra sức trù dập và miệt thị. Cuối cùng với thời gian một giá trị mới đă được thêm vào Khổng Giáo, đó là tâm lư khinh bỉ nghe buôn bán. Phải công b́nh mà nói, tâm lư này hoàn toàn không có trong đầu óc Khổng Tử. Cả Khổng Tử lẫn các môn đệ của ông đầu không bao giờ bài xích thương nghiệp, cũng như Marx không bao giờ tưởng tượng có việc kiểm duyệt báo chí hay những chiến dịch tẩy năo, những trại tù cải tạo tư tưởng của các chế độ cộng sản sau này.
Thương nghiệp là động cơ tiến hóa của mọi xă hội. Nó vừa là sự chấp nhận rủi ro cho đổi mới vừa là sự giao lưu của người, của kiến thức, ư kiến và sáng kiến. Nó cũng là sự giàu có. Thương nghiệp đối với xă hội cũng như máu đối với cơ thề, nó là yếu tố tối cần thiết cho mọi sinh hoạt khác, dù là nông nghiệp, cộng nghiệp hay văn hóa xă hội. Có thương nghiệp mới có tiến bộ. Không có thương nghiệp th́ xă hội tê liệt và dẫm chân tại chỗ, kể cả về vật chất lấn tinh thần, là lẽ tự nhiên. Trong những yếu tố độc hại của Khổng Giáo, yếu tố độc hại nhất trên hẳn mọi yếu tố khác chính là sự thù ghét thương nghiệp, mà về việc này th́ Khổng Tử hoàn toàn vô can. Nó là một phát minh của Hán Nho và được duy tŕ v́ cần thiết cho sự ồn vững của các chế độ quân chủ chuyên chế. Không phải là một sự t́nh cờ mà các tiến bộ lớn của nhân loại đă phát sinh từ các thị trấn buôn bán và tư tưởng dân chủ cũng như các chế độ dân chủ đầu tiên đă nảy sinh từ đó. Cũng không phải là một sự t́nh cờ mà Hoa Kỳ, một quốc gia tạp chủng, khởi hành từ số không những có mẫu số chung là business, đá mau chóng trở thành siêu cường số một của thế giới.
Như đă nói, Việt nam vừa h́nh thành th́ đă tiếp thu Khổng Giáo từ đời nhà Hán, nghĩa là khi Khổng học đă bị tồi tệ hóa do sự thêm vào nhiều yếu tố độc hại, trong đó độc hại nhất là tâm lư thù ghét thương nghiệp. Suốt ḍng lịch sử, chúng ta đă chỉ biết có tâm lư này, không như người Trung Hoa ít ra đă có một thời Xuân Thu Chiến Quốc trong đó cả một rừng hoa tư tưởng nở rộ và thương nghiệp phát triển mạnh. Chính v́ thế mà văn hóa của ta thấp kém hơn văn hóa Trung Quốc. Chính v́ thế mà chúng ta dở về buôn bán hơn tất cả mọi quốc gia có cùng một chiều dài lịch sử.
Như một người mù ḷa quen với bóng tối, Việt nam cũng như Trung Quốc, nhưng hơn cả trung Quốc, đă thích nghi với sự nghèo khổ và t́m an ủi ngay trong sự nghèo khổ. An bần lạc đạo là một triết lư và một thứ thuốc an thần ru ngủ trí tuệ ta. Đáng lẽ chỉ nên coi sự nghèo khổ là một t́nh trạng đáng buồn cần chấm dứt, chúng ta coi nó như một sự vinh quang. Đáng lẽ chỉ nên coi người nghèo là những người không may cần được giúp đỡ, ta lại coi họ là những người trong sạch đáng tôn vinh. Tâm lư này lại là tâm lư của kẻ sĩ, nghĩa là thành phần tinh nhuệ nhất, hiểu biết nhất.
Nếu thù ghét thương mại là di sản độc hại nhất của Khổng Giáo th́ nó cũng là di sản nặng nề nhất của người Việt, ngay trong lúc này.
Thế hệ của tôi, những người vào đại học trong thập niên 1960, hoàn toàn bị tâm lư trọng sĩ khinh thương chế ngự. Ước mơ của chúng tôi chỉ là đậu cử nhân, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư để được làm giáo sư giám đốc. Cha mẹ chúng tôi cũng chúc tụng và mơ ước cho chúng tôi tương lai đó. Tâm lư của chúng tôi hoàn toàn là tâm lư kẻ sĩ, nghĩa là tâm lư làm quan hoặc làm công ăn lương, dù chúng tôi chẳng hề học Tứ Thư, Ngũ Kinh bao giờ. Cái tâm lư đó, chúng tôi đă tiếp thu từ sinh hoạt gia đ́nh và xă hội. Và chúng tôi cũng đă được giáo dục ngay tại trường học theo tâm lư đó. Nhưng mẫu người mà chúng tôi được khuyến khích dề noi gương chỉ là những danh tướng, danh thần, những nhà nho liêm chính, những nhà thơ, nhà văn, hoàn toàn không có một doanh nhân nào. Ngay cả những danh nhân ngoại quốc chúng tôi biết đến cũng chỉ là những ông vua, ông tướng, hay các nhà bác học, các nhà chính trị và các nhà văn lớn chứ hoàn toàn không có một doanh nhân nào. Doanh nhân là một giống người không ra ǵ. Chúng tôi đă lớn lên với một hệ thống giá trị như thế. Chúng tôi được đào tạo để làm những con người sống ngoài lề xă hội hay, nếu may mắn hơn, sống trên xă hội chứ không hội nhập và sống trong xă hội. ở vào thế hệ của tôi, và một phần nào đó ngay bây giờ tại Việt nam, học hết tú tài là đă thuộc thành phần tinh nhuệ của xă hội. Tôi may mắn thuộc vào thành phần tinh nhuệ nhất của thành phần tinh nhuệ đó. Bạn bè quen biết của tôi có vài trăm người được đi du học tại châu Âu, Hoa Kỳ, úc, New Zealand và Nhật. Tất cả đều thông minh tuấn tú, tất cả đều đă thành công theo tiêu chuẩn Việt nam, nghĩa là ngày nay chúng tôi đều có văn pḥng luật sư, pḥng mạch bác sĩ, nha sĩ, làm giáo sư hay kỹ sư, với một cuộc sống tương đối thoải mái, nhưng doanh nhân th́ chỉ có một vài người. Một số kỹ sư, chuyên viên nay đă ngoài năm mươi tuổi, lương quá cao so với yêu cầu của xí nghiệp đang ḥi hộp lo âu bị cho nghỉ việc, có những người đă mất việc. Nếu khối sinh lực và trí tuệ đó được dồn vào kinh doanh th́ đất nước đă khá hơn biết bao nhiêu, và ngay cả cuộc sống của mỗi chúng tôi cũng khá hơn nhiều. Hơn nữa nghề làm công, hay nghề cá nhân, đă không cho chúng tôi những cơ hội để tiếp xúc và học hỏi, cũng không đặt chúng tôi trước những trách nhiệm quan trọng; kết quả là giờ đây, vào giai đoạn gần chót của sự nghiệp, chúng tôi không những chỉ b́nh thường về vật chất mà c̣n kém cỏi cả trong tầm vóc và sự hiểu biết.
Thế hệ chúng tôi đă thừa hưởng một hệ thống giá trị độc hại và đă truyền lại nọc độc cho thế hệ sau. Tôi chưa nhận thấy một chuyển biến tâm lư đáng kể nào trong giới trẻ Việt nam. Phần lớn các con cháu của các bạn tôi đều hướng về những ngành học thuần túy kư thuật, và khi họ có học về doanh thương th́ cũng chỉ với tâm lư công nhân mà thôi. Tôi tiếp xúc với nhiều thanh niên và lúc nào cũng hỏi họ dự định thế nào cho tương lai, họ sẽ làm ǵ ở tuổi bốn mươi. Cho tới nay những câu trả lời của họ cũng không khác bao nhiêu so với thế hệ chúng tôi. Việt nam vẫn c̣n chờ đợi một chuyển biến tâm lư lớn, dù đă trải qua nhiều xáo trộn khốc liệt. Đó là tôi chỉ gặp một thành phần thanh niên may mắn có cơ hội để tiếp xúc với thế giới tiến bộ bên ngoài, những người lớn lên tại hải ngoại, hoặc những thành phần ưu tú được gởi ra nước ngoài làm nghiên cứu sinh hay thực tập sinh. Những thanh niên ở Việt nam sang c̣n cho tôi hay tâm lư của thanh niên trong nước c̣n tŕ trệ hơn họ về mặt kinh doanh. T́nh trạng này cho thấy ảnh hưởng của một nền văn hóa dai dẳng tới mức nào.
Chúng ta vẫn c̣n là những đứa con tinh thần của Khổng Giáo Việt nam một thứ Khổng Giáo đặc biệt tăm tối. Cái văn hóa Khổng Giáo đó đă làm thui chột cả một dân tộc. Nó khiến chúng ta dị ứng thương nghiệp đă đành, nhưng nó cũng gây ra một mặc cảm thấp kém ngay cả trong một số hiếm hoi dám kinh doanh buôn bán. Một người Việt nam hănh diện với một đứa con tốt nghiệp đại học và lănh lương vừa đủ sống hơn là một đứa con bán phở với lợi tức gấp bốn, năm lần. Một thương gia giàu có cũng thích gả con gái cho một tiến sĩ hơn là một thương gia trẻ, và cũng rất hài ḷng nếu tất cả các con ḿnh trở thành bác sĩ, kỹ sư và bỏ nghề buôn. Họ không thể trở thành những thương gia lớn được bởi v́ họ không hănh diện về nghề nghiệp của họ, và họ không hănh diện về nghề nghiệp của họ v́ thành phần xă hội của họ bị khinh khi. Ngôn ngữ Việt nam không thiếu những danh từ thóa mạ đối với người buôn bán: tên lái buôn, bọn con buôn, bọn hàng tôm hàng cá, v.v:.. Sự khinh bị này đưa tới một hậu quả thực sự là những người buôn bán nhỏ bị co cụm lại thành những nhóm cô lập, hờn giận với phần c̣n lại của xă hội, rồi cũng mất đi sự tự trọng và cư xử một cách rất thô lỗ trái ngược với tinh thần phải có của thương nghiệp. Kết quả là cả nghề buôn bán lẫn việc buôn bán đều không vươn lên được.
Văn hóa Khổng Giáo Việt nam tạo ra những thành kiến rất sai lầm và bất công đối với các thương gia. Sau khi đậu xong tú tài I tôi được một thương gia giàu có mướn dạy kèm cô con gái vừa lên đệ tứ, tức lớp 9 bây giờ. Những thành kiến sai lầm đă khiến tôi h́nh dung ông ta là một con người vô học chỉ sống v́ đồng tiền, và chắc là giả dối và gian lận. Tôi khám phá ra ḿnh ngu dốt. Hai ông bà vất vả suốt ngày, họ chỉ về nhà vào khoảng 9, 10 giờ tối. Họ bặt thiệp, hiền lành và rất hiểu biết. Tôi nhận ra bà ấy thông minh hơn hẳn các bà mẹ Việt nam khác và ông ấy có kiến thức cao hơn và rộng hơn hẳn những giáo sư của tôi. Ông bà ấy h́nh như chưa học hết bậc trung học, nhưng họ đă đạt tới tŕnh độ hiểu biết cao nhờ học hỏi trong cuộc sóng, bằng sự giao tiếp trong xă hội và bằng suy tư cá nhân. Cuộc gặp gỡ kéo dài hơn một năm này đă là một may mắn lớn cho tôi. Tôi được một số tiền thù lao khá lớn, đủ sống cho ḿnh mà c̣n giúp đỡ được cả gia đ́nh; nhưng tôi c̣n được cả một sự tỉnh ngộ.
Sau khi đi du học về, tôi làm tại Ngân Hàng Việt nam Thương Tín rồi sang Bộ Kinh Tế và lại có dịp gặp gỡ nhiều doanh nhân khác. Ngay khi về Việt nam tôi đă được nghe nhiều huyền thoại về các doanh nhân người Hoa, những Lư Long Thân, Huỳnh Trù, Trần Thành, Trương Đông Lương, v.v... Họ được mô tả là những người giàu sụ, có biệt tài làm ra tiền mặc dầu dốt nát tới độ kư tên ḿnh c̣n run tay. Sự hiểu ngầm ở đàng sau là họ giàu có nhờ khôn vạt, láu cá, mánh mung.
Điều đáng để ư là thành kiến không tốt đối với các doanh nhân gốc Hoa này không phải chỉ có trong dân chúng và báo chí, mà c̣n hiện diện ngay cả trong giới chuyên viên tài chánh, đáng lẽ ra phải được giác ngộ về kinh doanh. Hoàn cảnh đă cho tôi cơ hội gặp gỡ với những người này, và tôi nhận ra họ là nhưng con người rất thông minh và ngay thẳng. Không những thế, họ c̣n có kiến thức rộng răi về những vấn đề chính trị, văn hóa và xă hội. Trong buổi lễ khánh thanh một nhà máy cán sắt mới của công ty Vicasa, Lư Long Thân, chủ tịch công ty, sắp xếp để tôi ngồi ngay bên cạnh ông, buổi tiệc đă kéo dài hơn thường lệ v́ sau cà phê Lư Long Thân c̣n tṛ chuyện với tôi hơn hai giờ nữa. Lư Long Thân không cần ǵ tôi cả, ông ấy chỉ nói chuyện v́ gặp người hợp ư mà thôi. Ông ấy kể cho tôi những cuộc gặp gỡ và nhưng câu chuyện giữa ông ấy với các cấp lănh đạo Việt nam Cộng Ḥa và đặc biệt là buổi gặp gỡ một tuần trước đó với đại sứ Mỹ Graham Martin. Lư Long Thân hiểu biết nguy cơ đối với Việt nam Cộng Ḥa hơn là các cấp lănh đạo Việt nam mà tôi thường gặp. Nếu Nguyễn Văn Thiệu thực sự dùng Lư Long Thân làm cố vấn như nhiều lời đồn đại th́ có thể Việt nam Cộng Ḥa đă may mắn hơn.
Tâm lư bài bác thương nghiệp và tôn vinh sự thanh bạch tạo ra cho người Việt nam một quan hệ bệnh hoạn và tội lỗi đối với tiền bạc. Chúng ta đều biết quyền lực của đồng tiền, câu tục ngữ có tiền mua tiên cũng được không phải mới có. Hai chữ nói lái đầu tiên là tiền đâu cũng không mới. Chúng ta đều cần tiền và muốn có tiền nhưng chúng ta không đám công khai kiếm tiền, chúng ta được giáo dục để coi kiếm tiền như là một sự vẩn đục và chúng ta cố làm ra vẻ khinh thường sự giàu có và hănh diện với cảnh thanh bần. Chúng ta muốn mà không dám, chúng ta ao ước và giấu giếm như một tiểu thư con nhà gia giáo bề ngoài đề cao tiết hạnh dù trong pḥng vắng nhiều đêm cũng trằn trọc mơ ước những giây phút hoan lạc của một cô gái phá lệ. Cả một xă hội sống trong sự giả dối. Tâm lư này tạo ra cả một truyền thống tham nhũng. Thành phần tinh nhuệ đua nhau đi làm quan thay v́ làm giàu. Mặt khác, các ông quan thời xưa và các quan chức nhà nước ngày nay không thể sống với đồng lương chật hẹp cho nên phải dựa vào quà cáp, hay phải nhắm mắt để các bà vợ ăn tiền thay ḿnh để giữ được một mức sống đàng hoàng. (H́nh như ngày nay đă tiến bộ hơn, các quan chức thẳng thắn đ̣i tiền hối lộ chứ không cần qua một trung gian nào cả). Chống tham nhũng ở Việt nam rất khó v́ chúng ta có cả một văn hóa tham nhũng do truyền thống để lại.
Văn hóa thanh bần của Khổng Giáo cũng đă đem lại cho chúng ta những tai họa về chính trị. Ông Hồ Chí Minh và ông Ngô Đ́nh Diệm đều được kính trọng v́ họ tỏ ra là những người thanh liêm. Họ không có vợ, và điều đó h́nh như kéo theo hệ luận là họ trong sạch, thanh liêm. Họ được tín nhiệm về đức chứ không phải v́ tài và thực sự cả hai đều không có khả năng, cả hai đều thiếu bản lĩnh, đều không nh́n thấy những vấn đề và những giải pháp cho đất nước, nhưng họ đă được văn hóa và tâm lư Việt nam đặt vào vị trí quyết định vận mệnh của đất nước trong một giai đoạn trọng đại. Ông Hồ Chí Minh được tôn sùng hơn ông Ngô Đ́nh Diệm v́ đóng kịch khéo hơn, ông xuất hiện như một nhà nho khổ hạnh, sống suốt đời và tất cả cho dân tộc, trong khi thực ra ông là một người ham thụ hưởng hơn hắn mức trung b́nh. Cả hai ông, dù đă được ngoại bang nâng đỡ hay đặt để, cũng đă là sản phầm của văn hóa Khổng Giáo. Hai ông không chiếm độc quyền sân khấu chính trị Việt nam nhưng là những nhân vật tiêu biểu nhất. Những người lănh đạo chính trị khác, khi không hoàn toàn do ngoại bang chọn lựa, cũng giành được địa vị v́ những lư do thuần túy thuộc đức . Họ được tiếng là những người, hoặc thanh liêm, hoặc can trường, hoặc có công v́ đă vào tù ra khám, chứ hoàn toàn không phải v́ họ được nh́n nhận là có khả năng làm cho đất nước giàu có hơn. Kết quả: bốn triệu người chết và một GDP 300 đô la mỗi năm cho mỗi đầu người.
Văn hóa Khổng Giáo c̣n để lại cho chúng ta một di sản khác là sự vô lễ quá đáng. Mới đây tôi được đọc trên một tờ báo trong nước một bài của nhà văn Trần Mạnh Hảo đả kích một nhà văn khác vừa được giải thưởng văn học. Trước đây tôi đă được biết đến Trần Mạnh Hảo qua tác phẩm Ly Thân và có cảm t́nh với ông. Sau này tôi lại được nghe những dư luận không tốt về tư cách của ông từ những người mà tôi kính trọng về kiến thức và nhân cách. Tôi vẫn c̣n phân vân và bài báo của Trần Mạnh Hảo một phần nào đă giải tỏa cho tôi sự phân vân đó. Trần Mạnh Hảo đả kích đoạn của tác phẩm thuật lại chuyện vua Hàm Nghi bị Pháp bắt. Trần Mạnh Hảo hoàn toàn không dựa vào một tài liệu nào cả, nhưng cảm thấy có thể thẳng thắn bác bỏ chuyện của tác giả kia. Tại sao? Chỉ giản dị là tại cách xưng hô. Tác phẩm kia thuật lại những lời đối đáp của viên công sứ Pháp gọi vua Hàm Nghi là ngài, là nhà vua, v.v... Như thế là đủ để Trần Mạnh Hảo quả quyết là tác giả đó đă bịa đặt trắng trợn bởi v́ có khi nào một người chiến thắng lại nói với một tù nhân với lời lẽ cung kính như vậy. Trần Mạnh Hảo không hiểu rằng đó là cách đối xử rất tự nhiên và rất b́nh thường của người phương Tây, bởi v́ Trần Mạnh Hảo thuộc văn hóa Việt-Trung, trong đó sự lỗ măng là một thông lệ. Những ai đọc truyện Tàu và truyện đă sử Việt nam đều đă quá quen với ngôn ngữ xỉ vả và thóa mạ kẻ thù, nhất là kẻ thù sa cơ thất thế (trong các truyện Tàu tôi chỉ thấy thời Tam Quốc có Tào Tháo và Tôn Quyền là đôi khi đối đáp nhă nhặn với người chiến bại). Một chi tiết khác trong bài của Trần Mạnh Hảo là lời lẽ của nó rất gay gắt. Đó cũng là đặc tính chung của phần lớn những bài tranh luận giữa người Việt nam thuộc mọi thế hệ. H́nh như chúng ta cảm thấy có bồn phận phải nổi giận khi không đáng.
Nhưng sự lỗ măng không phải là một nét đặc trưng của riêng văn hóa Khổng Mạnh, mà là của mọi nền văn hóa trong đó thương mại thiếu vắng. Thương mại khiến người ta gặp gỡ nhiều, tiếp xúc rộng và trở thành lịch sự. Thương mại cũng bắt buộc người ta t́m lời lẽ trang nhă để thuyết phục khách hàng. Thương mại cũng bắt buộc người ta t́m hiểu khách hàng, đặt ḿnh vào địa vị khách hàng để cố khám phá khách hàng muốn ǵ và sau đó để chinh phục cảm t́nh của khách, để khách mua hàng hóa hay dịch vụ cần dùng nơi ḿnh thay v́ nơi một nhà cũng cấp khác. Những người có chút kinh nghiệm về thương mại đều hiểu rằng muốn như thế th́ chỉ có một cách là phải rất lương thiện, rất lễ độ và quí mến khách hàng một cách thực sự. Cảm t́nh và khả tín là hai vốn quí nhất của một doanh nhân. Thiếu hai đức tính đó th́ tốt hơn hết là đừng đi vào thương nghiệp, cùng lắm chỉ thành công nhỏ và tạm bợ mà thôi. Chính v́ thế mà các dân tộc buôn bán cũng là những dân tộc khả ái nhất.
Đọc một số bài phê phán văn hóa Khổng Giáo của tôi một số thân hữu thường bày tỏ sự lo ngại là nếu không c̣n Khổng Giáo liệu chúng ta có mất luôn các lễ giáo cỗ truyền của ḿnh không? Xin các bạn yên tâm. Trước hết, chỉ 10 các bạn không bỏ được sớm thôi, từ giă một nền văn hóa khó lắm. Sau đó, chúng ta sẽ lễ độ hơn chứ không mất lễ độ đâu. Một cách không chủ ư nhưng có thực, văn hóa Khổng Giáo, v́ loại bỏ thương mại, đă khiến con người trở nên vô lễ. Có những thân hữu khác lại biện luận rằng không nên bài xích Khổng Giáo v́ chính nhờ Khổng Giáo mà Việt nam và Trung Quốc đă được ổn định trong hơn hai ngàn năm. Nhưng ổn định nào? ổn định trong sự dậm chân tại chỗ, trong sự nghèo khổ, ḱm kẹp và thua kém, có phải là một ổn định đáng mong muốn không? Chúng ta đă là chúng ta ngày hôm nay chính v́ chúng ta đă là nạn nhân của sự ổn định đó. Mà thực ra có ổn định ǵ đâu. Lịch sử Trung Hoa và Việt nam, nhất là Việt nam trong hai mươi thế kỷ Khổng Giáo cho đến thế kỷ 19 đă đấm máu hơn lịch sử của mọi dân tộc khác, với đàn áp thường trực và nỗi loạn triền miên, khi không có chiến tranh với ngoại bang. Các bạn thử đọc lại thật kỹ lịch sử nước ta xem trước khi người Pháp đến, chúng ta có bao nhiêu năm chiến tranh? Các bạn sẽ khám phá ra con số thật kinh khủng và các bạn cũng sẽ thấy rằng con số những năm chiến đấu chống ngoại xâm chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Văn hóa Khổng Giáo do tính bất dung và vô nhân đạo của nó đặt xă hội trong t́nh thế thù địch thường trực. Cái mà chúng ta gọi là sự ổn định thực ra chỉ là sự tŕ trệ.
Truyền thống nào cũng có sức mạnh quán tính của nó.
Truyền thống càng dài quán lực càng cao. Không có ǵ đáng ngạc nhiên nếu khi phải từ giă một tập quán chúng ta cảm thấy một mất mát lớn, bởi v́ các lập quán nằm trong vô thức của chúng ta và gắn bó với cơ thể của chúng ta. Sự nghèo khổ không phải chỉ là một t́nh trang mà là cả một hệ thống có cả đạo đức, triết lư, sự thỏa măn và niềm hănh diện của nó. Thoát ra khỏi sự nghèo khổ không phải là dễ bởi v́ chính những người nghèo cảm thấy nếp sống của họ là đúng đắn, không có ǵ phải thay đổi. Cũng thế, những lập quán tệ hại đến đâu vẫn có cái tiện nghi gớm ghiếc, nhưng có thực, của chúng. Những người chống đối hủ tục bó chân phụ nữ của Trung Hoa không ai khác hơn là chính các phụ nữ Trung Hoa. Nhưng người lúc ban đầu phản đối mạnh nhất chiếc áo dài duyên đáng hiện nay của phụ nữ Việt nam không ai khác hơn là chính các phụ nữ Việt nam. Cũng những phụ nữ Việt nam và Trung Hoa khả kính đă bảo vệ một cách nồng nhiệt nhất tam ṭng, tứ đức - và chữ, trinh gớm ghiếc - đă đầy đọa họ trong hàng chục thế kỷ.
Đọc lịch sử Việt nam, có một trang mà chúng ta không thể đọc mà không nhỏ lệ. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta đă có hàng chục ngàn người dân rất b́nh thường, chọn lựa đi tới trước đao phủ thay v́ từ bỏ ḷng tin của ḿnh. Đó là những người Công Giáo dầu tiên của Việt nam, nạn nhân của chính sách cấm đạo dưới triều Nguyễn. Dù chia sẻ hay không tin tín ngưỡng của họ, mọi người Việt nam đều có thể hănh diện về sự dũng cảm đó. Đối đầu với họ, những người hưởng ứng chính sách cấm đạo và xả thân đi đánh các họ đạo là ai? Đó là những người Văn Thân, Cần Vương, những người cũng đáng quí nhất của dân tộc, nghĩ rằng ḿnh đang hy sinh bảo vệ đất nước của cha ông chống lại một cuộc xâm lăng mới và một tà thuyết mới. Nếu chúng ta, thay v́ là một xă hội nông nghiệp khép kín, là một dân tộc có truyền thống thương mại và trao đổi th́ phản ứng của chúng ta chắc chắn sẽ không như thế.
Điều mà chúng ta đang cần là một sự mạnh bạo đoạn tuyệt với một tâm lư lỗi thời và dám đổi mới, dám từ bỏ đường xưa lối cũ, dám muốn đi tới những chân trời mới, t́m những thành công thật lớn. Các bạn có thể hỏi tôi, nói lung bung như vậy có ích lợi ǵ không, có đề nghị cụ thể ǵ không? Có một đề nghị nhỏ rất dễ làm, mà nếu các bạn cùng làm tôi bảo đảm là chỉ trong ṿng một thế hệ đất nước sẽ rất khá. Đề nghị đó như thế này: khi một đứa trẻ ra chào đời các bạn hăy hôn và chúc nó: Con sẽ là doanh nhân, con nhé?.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Tổ quốc của kẻ sĩ

 

Có một điều đáng để ta ngạc nhiên và suy nghĩ là tại sao một nước lớn như Trung Quốc lại thường bị đánh bại rất dễ dàng? Các nước thời Xuân Thu Chiến Quốc phải xây tường ngăn chặn các sắc tộc phương Bắc thay v́ chinh phục họ. Tần Thủy Hoàng binh hùng tướng mạnh như thế, gồm thâu cả lục quốc mà sau khi thống nhất Trung Quốc cũng không làm ǵ hơn là tiếp tục xây Vạn Lư Trường Thành ngăn chặn thay v́ tiến công. Như thế th́ cái sức mạnh đó cũng đáng đặt một dấu hỏi lớn. Người Mông Cổ ở thế kỷ 12 chắc không tới một triệu dân mà đánh chiếm được Trung Quốc. Trước đó nhà Tống cũng đă bị nước Kim nhỏ bé ở phía Đông Bắc khuất phục. Người Mông Cổ chiếm Trung Quốc lập ra nhà Nguyễn mà không gặp chống đối. Nhà Nguyễn sụp đổ sau hơn một thế kỷ thống trị Trung Quốc không phải do một cuộc kháng chiến quốc gia nào mà chỉ v́ quan lại Mông Cổ về sau tham tàn dồn dân chúng tới t́nh trạng không chống lại cũng chết đói. Giặc giă nổi lên khắp nơi, Chu Nguyên Chương, sáng tổ nhà Minh, là thủ lănh một trong những nhóm nổi dậy đó. Chu Nguyên Chương giành được ngôi bá chủ phần lớn là v́ ông ta không chống quân Nguyên, trái lại ông ta để cho các nhóm khác đánh nhau với quân Nguyên cho đến khi kiệt quệ rồi đột kích tiêu diệt họ. Chu Nguyên Chương không có mục đích đánh đuổi quân Nguyên giành lại độc lập cho Trung Quốc mà chỉ lo lập nghiệp đế cho ḿnh, ông không đặt vấn đề dân tộc. Dưới mắt ông ta, quân Nguyên hay các nhóm khác đều là những đối thủ như nhau. Thắng lợi của Chu Nguyên Chương. không phải là thắng lợi của một cuộc chiến tranh giải phóng, mà chỉ là thắng lợi của một thủ lănh tham vọng nhất và khôn lỏi nhất trong một thời mà Trung Quốc phân lán. Người Trung Quốc chống lại triều Nguyên một cách bất đắc dĩ v́ bị ức hiếp quá chứ không phải v́ tinh thần dân tộc.
Ba thế kỷ sau, Trung Quốc, dưới triều Minh lại bị nước Măn Châu nhỏ bế thôn tính, và lần này mọi nhóm chống đối đầu bị tiêu diệt. Cuộc nổi loạn lớn nhất do Hồng Tú Toàn lănh đạo đă bị chính những nho sĩ Trung Quốc phục vụ nhà Thanh đánh bại. Nhà Thanh đă chỉ sụp đổ trước sức công phá của phương Tây và trước trào lưu dân chủ.
Xét trong ḍng lịch sử th́ tinh thần dân tộc của người Trung Quốc rất yếu, nếu không muốn nói là không có. Kẻ nào mạnh nhất trong số những cường hào lănh chúa kẻ đó làm chủ Trung Quốc, bất luận ông ta là người Hoa hay không.
Năm 1778, khi nước Anh đă chinh phục được ấn Độ, toàn quyền Anh tại ấn cử một cộng sự viên là Chapman sang điều nghiên về t́nh h́nh Việt nam. Lúc đó anh em Tây Sơn đă diệt được chúa Nguyễn, thanh thế kinh động cả nước. Tám năm sau Tây Sơn diệt Trịnh dễ như trở bàn tay. Chapman đi tham quan khắp nơi và được anh em Tây Sơn tiếp đón ân cần nên có dịp nh́n thấy rơ lực lượng của các phe, đặc biệt là phe Tây Sơn mạnh nhất lúc đó. Chapman phúc tŕnh cho toàn quyền Anh tại ấn Độ như sau: quân đội của Nguyễn Nhạc không đáng kể, giá trị quân sự rất kém. Tôi có thể nói chắc chắn là độ một trăm người có kỷ luật sẽ đánh bại toàn bộ quân lực của ông ta
Cái ǵ đă khiến Chapman đánh giá lực lượng Tây Sơn thấp quá như vậy. Không phải chỉ là sự tin tưởng vào vũ khí công hiệu hơn, vả lại Chapman chỉ nói tới kỷ luật. Những người nô lệ da đen nổi lên tại Hai ti đă đánh tan cả một quân lực hùng hậu của Napoléon I quân đội Anh tinh nhuệ như vậy mà cũng đă bị tiêu diệt toàn bộ một lữ đoàn trước một số bộ lạc Nam Phi chỉ trong một trận đánh. Vũ khí không quyết định tất cả như ta có thể nghĩ. Sự yếu kém của một quân đội chủ yếu là v́ nó thiếu lư do để chiến đấu, và v́ thế thiếu tổ chức và gắn bó.
Một thế kỷ sau, người Pháp đỗ bộ vào Việt nam và cũng đánh bại quân Việt nam dễ dàng. Tại miền Nam, Phan Thanh Giản tự vẫn thay v́ chống lại, để quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây không tốn một viên dạn. Phan Thanh Giản đă tuân tiết th́ chắc chắn không phải là người thiếu dũng cảm, ông đă chỉ thấy t́nh h́nh tuyệt vọng mà thôi. Tại miền Bắc, vài trăm quân Pháp đă có thể hai lần đánh bại quân Việt nam trong chớp mắt. Cả Nguyễn Tri Phương lẫn Hoàng Diệu đều là những tướng có thừa dũng cảm nhưng họ không làm ǵ được bởi v́ quân đội nhà Nguyễn tuy đông nhưng không có sức mạnh. Để chiếm các tỉnh miền Bắc có khi Pháp chỉ cần mười người lính bắn vài phát súng thị uy là tổng đốc bỏ chạy hoặc tự trối ra hàng. Nếu bảo rằng đó là do vũ khí tối tân th́ tại sao vài ngàn quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc lại đánh bại được quân Pháp?
Lư do thực sự là v́ chúng ta thiếu tinh thần quốc gia dân tộc.
Và một khi đă thiếu tinh thần quốc gia dân tộc th́ sức mạnh của quân đội chỉ dựa trên quyết tâm và bản lănh của người thủ lănh. Khi chúng ta có những thủ lănh giỏi như dưới thời Lư, Trần hay trong cuộc khơi nghĩa của Lê Lợi th́ ta có sức mạnh, khi ta không có tướng giỏi th́ quân đội ta không có giá trị. Các triều đại Trung Hoa và Việt nam có thể suy sụp rất nhanh chóng v́ một ông vua dở bởi v́ vua là tất cả. ư niệm quốc gia dân tộc không có, do đó không có một sức mạnh quốc gia độc lập với nhà vua. Cái lô-gích về sức mạnh tại Trung Quốc và Việt nam rất giản dị: một người, nhờ bản lănh hay địa vị, qui tụ quanh ḿnh một đội ngũ nhỏ, rồi dùng đội ngũ đó để khống chế dân chúng, bắt dân chúng phải phục tùng ḿnh và chiến đấu cho ḿnh chứ không dựa trên một ư chí chung. Chính v́ thế mọi lực lượng có thể thay đổi rất mau chóng tùy theo người thủ lĩnh.
Trong một bài báo tôi có phát biểu rằng ư niệm quốc gia dân tộc rất mới đối với chúng ta, các cụm từ yêu nước hay ái quốc hoàn toàn không có trong ngôn ngữ Việt nam trước thế kỷ 20. Nhận định này đă bị một số người phản đối, họ quả quyết sẽ t́m được bằng cớ ngược lại. Gần bốn năm đă trôi qua vẫn chưa ai t́m được. Có thể sau này có vị sẽ t́m thấy trong một tài liệu nào đó, nhưng một thí dụ hiếm hoi cũng sẽ không phản bác được nhận xét của tôi là tinh thần quốc gia của chúng ta chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ này. Các quân tướng và sĩ tử của ta trước đây chỉ biết có vua chứ không biết tới nước.
Tại sao tôi dám quả quyết như vậy mặc dù chưa đọc hết các tài liệu và tác phẩm Việt nam? Đó là v́ khái niệm nước như là một thực thể khác với vua, của chung mọi người và mọi người có bổn phận phục vụ và bảo vệ, chưa có. Mà nước đă không có th́ làm ǵ có chuyện yêu nước. Văn hóa Khổng Giáo, độc tôn trên đất nước ta cho tới thế kỷ 20, không nh́n nhận sự hiện hữu của quốc gia. Đó là một điều chắc chắn.
Khi Khổng Tử dạy các sĩ tử nước nguy th́ đừng tới, nước loạn th́ đừng ở, nước có đạo th́ ra ra làm quan, nước vô đạo th́ ta ở ẩn rơ ràng ông không nh́n nhận bất cứ một bổn phận nào đối với nước cả, ông chỉ coi nước là của một chủ, kẻ sĩ thấy phục vụ ông chủ đó có lợi th́ làm không có lợi th́ thôi. Cái triết lư ở ẩn mà Khổng Tử nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong Luận Ngữ và sau này đă trở thành cả một đạo sống của nho sĩ, là ǵ nếu không phải là sự phủ nhận quốc gia và sự khước từ mọi nhiệm vụ đối với cộng đồng? Thái độ của kẻ sĩ rất rơ rệt: chỉ mưu lợi cho ḿnh và sống trung thành với nghề sĩ, nghĩa là nghề đi học và làm quan của ḿnh. Phải nói rằng các nho sĩ rất có đạo lư nghề nghiệp. Họ trung thành tuyệt đối với người chủ đă dùng họ và dù được làm quan hay thất nghiệp họ vẫn hănh diện với nghề của ḿnh và tôn trọng những giá trị của nó. Những nhà nho không có tổ quốc, họ chỉ biết tới các tổ nghề, nghĩa là các thánh hiền của họ, và người chủ tuyển dụng họ, nghĩa là nhà vua.
Quốc gia là một ư niệm trừu tượng cần được nuôi dưỡng bởi những người có văn hóa, nhưng trong xă hội Khổng Giáo những người có văn hóa duy nhất là các nho sĩ lại không nh́n nhận quốc gia, như thế th́ không thể có quốc gia theo ư nghĩa một thực thể riêng biệt được. Trong xă hội Khổng Giáo, nước chỉ là vùng đất thuộc quyền sở hữu của nhà vua mà thôi, những con người sống trên vùng đất đó chỉ là những nô lệ của vua, vua muốn cắt đất nhường dân cho ai tùy ư. Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lư Thường Kiệt mà chúng ta coi là một bài thơ yêu nước cũng chỉ nhắc lại quan niệm đó: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (núi sông nước Nam là của vua nước Nam).
Cái gương Khổng Tử đi hết nước này sang nước khác để xin làm quan (có lúc ông định vượt biển sang pḥ vua Cao Ly) đă chứng minh rơ ràng kẻ sĩ không có tổ quốc. Vả lại cho đến khi người phương Tây sang chinh phục vấn đề quốc tịch không hề đặt ra; ai sống ở đâu th́ là dân của ông vua nơi đó, có thể làm quan cho ông vua đó, nhưng nếu đi nước khác cũng có thể làm quan và tuyệt đối trung thành với một ông vua khác, ngay cả nếu phải cầm quân đi đánh nước cũ. Ngũ Tử Tư đời chiến quốc bị trách là rước voi về dày mả tổ bởi v́ tổ tiên ông và chính ông đă làm quan nước Sở mà sau này ông lại dẫn quân Ngô về dày xéo lăng miếu nước Sở. Sẽ không ai trách ông nếu trước đó tổ tiên ông và chính ông chỉ là thường dân nước Sở. Trong lịch sử Trung Hoa, không thiếu những người nước này sang làm tướng quốc nước khác. Trong lịch sử Việt nam, Đàng Trong (miền Nam) và Đàng Ngoài (miền Bắc) được coi là hai nước riêng biệt, Nguyễn Nhạc và vua Lê Hiển Tông khi đối đáp với nhau gọi lănh thổ của nhau là quí quốc một cách rất tự nhiên.
Khi quân Thanh sang Việt nam năm 1789, để rồi bị Nguyễn Huệ đánh bại, dân Bắc Hà thấy gần gũi với quân Thanh hơn là quân Tây Sờn và cầu mong cho quân Thanh thắng. Dĩ nhiên cuộc chung đụng trong hàng ngàn năm phải làm nảy sinh ra một t́nh cảm cộng đồng, nhưng nó chỉ là t́nh cảm của những người cùng chung và cùng chịu một số phận (bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn), nó c̣n ở rất dưới điều mà ta có thể gọi là tinh thần quốc gia dân tộc hay ḷng yêu nước. Điều đó dễ hiểu, kẻ sĩ, những kẻ c̣n được hưởng một vinh quang nào đó của chế độ chính trị, đă không có tổ quốc th́ người dân, những người nô lệ, lại càng không có lư do ǵ để có tổ quốc. Nước là vua, mà vua là cái gông cùm. Không có tội nhân nào yêu gông cùm cả. Những kẻ không có ǵ th́ cũng không có bổn phận nào. Khi người Mông Cổ, Măn Thanh và những nước phương Tây xâm chiếm Trung Quốc, họ đă không đụng độ với nhân dân Trung Quốc, mà chỉ đụng độ với cấc vua nhà Tống, nhà Minh, nhà Thanh. Khi người Pháp sang chinh phục Việt nam, họ đă không đụng độ với dân tộc Việt nam mà chỉ đụng độ với các vua nhà Nguyễn. Chính v́ thế mà họ đă thắng lợi dễ dàng. ư niệm quốc gia dân tộc đă ra đời một cách chậm chạp tại phương Tây cùng với sự tăng trưởng của tự do và sự h́nh thành của xă hội dân sự. Người dân có tự do hơn và làm chủ cuộc sóng của ḿnh hơn nên đă bắt đầu cảm thấy ḿnh có một chỗ đứng nào đó trong xă hội, rồi dần dần cảm thấy gắn bó và có bổn phận với cộng đồng trong đó ḿnh đang sống. Càng có chỗ đứng họ càng đ̣i hỏi một chỗ đứng lớn hơn. ư niệm quốc gia dân tộc nảy sinh như thế và ngày một mạnh, càng mạnh nó càng đẩy lùi quyền lực của các vua chúa. Sau vài thế kỷ thai nghén, sự thành lập một nước cộng ḥa tại Ḥa Lan, sự h́nh thành của Hoa Kỳ và cuộc cách mạng Pháp đă chính thức khai sinh ư niệm quốc gia. Đó là ư niệm đất nước của mọi người thay v́ là của một ḍng họ. Người dân làm chủ đất nước và v́ thế yêu nước và có bổn phận với đất nước. ư niệm quốc gia dân tộc ra đời với cao vọng tận dụng tinh thần trách nhiệm, sinh lực, ư kiến và sáng kiến của mọi người. Niềm tin nền tảng của nó là những con người tự do mạnh hơn và cống hiến nhiều hơn là những con người nô lệ, xă hội của những con người tự do mạnh hơn là một tập thể nô lệ. Một guồng máy nhà nước mới ra đời và có sức mạnh hơn hẳn bởi v́ được sự hỗ trợ của moi người. Khi đi chinh phục thế giới, sức mạnh chính của các nước phương Tây là bộ máy nhà nước hiện đại chứ không phải là vũ khí hiện đại.
Như thế phải hiểu rằng ư niệm quốc gia dân tộc liên hệ mật thiết với dân chủ và tự do. Không có dân chủ và tự do th́ không thể có quốc gia, hay cùng lắm chỉ có quốc gia ở dạng ḅ sát thấp kém. Tại Việt nam, một cách nghịch lư, tinh thần quốc gia đă xuất hiện dưới thời Pháp thuộc do ba yếu tố:
1. Người Pháp giáo dục trí thức Việt nam theo văn hóa của họ, trong đó tinh thần quốc gia là một thành tố quan trọng;
2. Vai tṛ của vua nhà Nguyễn trở thành mờ nhạt, họ không c̣n là chủ đất nước nữa, đất nước trở thành một tài sản chung của mọi người Việt đang bị người nước ngoài chiếm đoạt; và
3. Chính sách phân biệt đói xử xấc xược của người Pháp khiến người Việt nam ư thức được rằng ḿnh là một khối dân tộc cùng một tổ tiên và cùng chia sẻ một sự tủi nhục. Cùng với thế kỷ 20 bắt đầu xuất hiện một số trí thức được gọi là các nhà ái quốc. Trong tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói là lất cả các nhà ái quốc này đều kêu gọi canh tân, bỏ cũ theo mới.
Trong một bài báo (Một cách nh́n cuộc chiến, Thông Luận số 82, tháng 05/95), tôi có viết rằng ḷng yêu nước của người Việt nam có thể chỉ là một ngộ nhận. Nhiều vị đă xúc động và lên tiếng phản đối. Tôi hiểu t́nh cảm của các vị đó và tôi rất kính trọng t́nh cảm đó, tôi không mong ǵ hơn là ḿnh đă nhận định sai. Nhưng quả là chúng ta đă ngộ nhận.
Chúng ta ngộ nhận khi nói rằng ư thức quốc gia dân tộc đă có từ lâu trong khi thực ra nó chỉ là một khái niệm mới xuất hiện từ thế kỷ 20, nghĩa là c̣n rất non trẻ so với chiều dài lịch sử của ta. Chúng ta ngộ nhận khi nghĩ rằng ḷng yêu nước của người Việt rất cao trong khi thực ra nó rất thấp. Chính v́ nó thấp mà khi người Pháp xâm chiếm nước ta đă chỉ có một thiểu số trí thức thực sự dấn thân đấu tranh v́ nước c̣n đại đa số vẫn đứng ngoài cuộc, và thái độ đứng ngoài cuộc đó của những Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Tản Dà, Trần Tế Xương, v.v... hoàn toàn không khiến họ bị chê trách. Chính v́ nó thấp mà một số nhỏ người Pháp đă có thể cai trị được cả khối người Việt, dùng chính người Việt để thống trị người Việt. Đặc biệt là trong giai đoạn thế chiến II, một nắm nhỏ người Pháp đă thua trận và đă mất nước vẫn thống trị được Việt nam một cách tàn bạo.
Tôi t́nh cờ sinh ra trong một gia đ́nh Việt nam Quốc Dân Đảng. Giáo dục gia đ́nh đă khiến tôi thù ghét và khinh bỉ một cách thậm tệ những người hợp tác với Pháp; tôi coi họ là đồ hèn hạ, lưu manh. Lớn lên, tôi được tiếp xúc với nhiều người như thế, tôi nhận ra họ là những người cũng lương thiện và tử tế như những người đấu tranh cách mạng, chỉ có một điều là họ không có ư thức dân tộc đủ mạnh để chấp nhận chịu gian khổ hay hy sinh quyền lợi. Càng trưởng thành tôi càng thấy không nên trách họ bởi v́ dù đă hấp thụ nhiều kiến thức mới của phương Tây, về mặt tâm tính họ vẫn thuộc hệ văn hóa Khổng Giáo, một văn hóa vô tổ quốc.
Cũng chính v́ ḷng yêu nước của người Việt nam không mạnh mà đảng cộng sản đă thắng lợi. Về bản chất, phong trào cộng sản không những vô tổ quốc mà c̣n chống tổ quốc, nó là một phong trào thế giới, nhắm thăng tiến giai cấp vô sản trên toàn thế giới. Nếu không quá lạm dụng bạo lực chủ nghĩa cộng sản có thể là một chủ nghĩa cao quí, dù chỉ là một ảo tưởng, nhưng phong trào cộng sản không phải là một phong trào yêu nước. Khẩu hiệu của nó là người vô sản không có tổ quốc. Tiếng gọi đấu tranh giai cấp, trong khuôn khổ của một nước, là một lời kêu gọi nội chiến. Phong trào xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi của đảng cộng sản Việt nam, nổi lên với lời tung hô: vạn tuế Sô Nga và tiếng thét: trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ hoàn toàn không phải là một phong trào dân tộc. Nhưng người cầm đầu đảng cộng sản và những đảng viên trung kiên nhất không phải là những người yêu nước mà chỉ là những người cộng sản Có thể đa số những người theo đảng cộng sản đă theo v́ ḷng yêu nước, nhưng khi nhận định bản chất của một tổ chức ta nên xét theo chủ trương, đường lối của nó và lư tưởng của những người cầm đầu nó chứ không nên dựa trên những người đi theo.
Hoàn cảnh đất nước sau ngày 30-4- 1975 đă khiến tôi có dịp tiếp xúc với vô số người cộng sản thuộc đủ mọi cấp bậc và tôi đă có thể kiểm chứng một điều: trong hàng ngũ cộng sản, một người có thể nói một cách quả quyết rằng quốc gia chỉ là một ư niệm vớ vẩn lạc hậu cần vất bỏ mà vẫn không hề bị trở ngại trong việc thăng tiến, trái lại nếu anh ta dám nói chủ nghĩa cộng sản chỉ là một chủ nghĩa tồi tệ chắc chắn anh ta sẽ lâm nguy, có thể mất mạng luôn. Bằng cớ rằng đảng cộng sản không phải là một tổ chức yêu nước cũng có thể t́m thấy trong các chính sách liên tục của họ. Suốt 30 năm chiến tranh, tôi chưa bao giờ ghi nhận một quan tâm thực sự nào của họ trước những đỗ vỡ kinh khủng về tinh thần, vật chất và nhân mạng cho đất nước. Họ có thể tiêu diệt thẳng tay những người Việt nam, yêu nước hay không, không đồng quan điểm với họ, có khi họ sẵn sàng tiêu diệt cả một số thành phần dân tộc. Trong cuộc cải cách ruộng đất 1955-1956, họ chủ trương tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ. (Chính sách này, v́ nhưng hậu quả tai hại của nó, sau đó được coi là một sai lầm nhưng không bị coi là một tội, những người cầm đầu và phát động nó chỉ bị kiểm điểm).
Sự thù ghét lẫn nhau và ác độc đối với nhau của người Việt nam là điều không ai có thể chối căi, nhưng để cố bào chữa cho ḷng yêu nước nói chung của người Việt, lại có một nhận định giảm khinh: chúng ta yêu nước, nhưng không yêu nhau. Như vậy yêu nước là ǵ? Đất nước là lănh thổ, là lịch sử, là con người và là một dự án tương lai chung. Trong các yếu tố đó, con người có tầm quan trọng vượt hẳn. Đất nước, lịch sử đều là của người, dự án tương lai cũng là của người. Nếu đồng hóa nước Việt với người Việt th́ cũng không sai (và trên thực tế đă có những học giả đồng hóa quốc gia và dân tộc). Mà người Việt không phải là một ư niệm trừu tượng mà là từng người và mọi người. Không yêu nhau là không yêu nước. Chấm.
Nếu mức độ quốc gia quá cao để ta có thể nhận định một cách rơ rệt th́ hăy lấy thí dụ khuôn khổ gia d́nh. Ta có thể coi một người là yêu gia đ́nh được không, khi người đó lúc nào cũng sẵn sàng đốt nhà, đập phá, ẩu đả và sát hại mọi anh chị em không vừa ư ḿnh? Nếu anh ta tự nghĩ anh ta là người yêu gia đ́nh th́ anh ta chỉ là người điên. Và nếu có ai coi anh ta là người yêu gia đ́nh th́ người đó cũng nên ghé thăm một bác sĩ tâm thần.
Nếu phải nhận định một cách thực vắn tắt đại hội VIII của Dâng Cộng Sản Việt nam, tháng 6- 1996, th́ ta có thể nói đó là một đại hội chống tổ quốc. Đảng cộng sản, sau nhiều thất bại thê thảm, nhất là khi khối cộng sản tan vỡ, đă đổi mới về kinh tế thị trường và đời sống một phần dân chúng đă được cải thiện; sinh hoạt đất nước bắt đầu khởi sắc, nhưng vị trí độc tôn và độc quyền của họ bị lung lay. Họ bèn lấy quyết định chặn đứng đà phát triển để cũng cố lại quyền lực của họ mặc dầu biết rơ làm như vậy đất nước sẽ bị thiệt hại nặng. Đại hội VIII là biến cố trong đó một đảng cầm quyền cố t́nh lấy quyết định có hại cho đất nước v́ quyền lợi của riêng ḿnh. Tuy vậy cũng không nên quá khe khắt đối với những người lănh đạo cộng sản. Thực ra họ cũng không khác với đa số người Việt.
Yêu nước tại Việt nam là một ngoại lệ chứ không phải là một thông lệ. Chúng ta là một dân tộc được nhào nặn trong suốt ḍng lịch sử bằng văn hóa Khổng Giáo, một văn hóa vô tổ quốc, ḷng yêu nước của ta yếu kém là lẽ dĩ nhiên. Chúng ta chớ nên nghĩ rằng ḿnh đă ra khỏi văn hóa Khổng Giáo. Chúng ta vẫn c̣n chịu ảnh hưởng Khổng Giáo một cách nặng nề lắm, ngay cả khi chúng ta không ư thức được và không nh́n nhận như vậy. Cứ lấy thí dụ triết lư ở ẩn, xem ra rất xa lạ đối với trí thức ngày nay. Có thể một người khoa bảng thời nay sẽ phản đối: tôi có biết triết lư ở ẩn là cái quái ǵ đau, anh chỉ nói lẩm cẩm, nhưng chính anh ta đang theo triết lư ở ẩn và, tuy không nói ra, rất tán thành triết lư đó.
Ông Hoàng Xuân Hăn là một thí dụ rất điển h́nh. Ông có kiến thức uyên bác trên rất nhiều lănh vực và có đạo đức cá nhân rất cao. Ông theo đúng triết lư Khổng Giáo nước loạn không ở, nước nhiễu nhương th́ ở ẩn. Mặc dầu là một nhân vật rất có uy tín và đă có thể đóng góp thay đổi số phận đất nước, ông đă chọn bỏ nước ra đi vào giữa lúc đất nước đang chuyển động lớn. Ông sang Pháp ở ẩn cho tới lúc qua đời. Ông Hăn là một người sáng suốt và lương thiện, ông hiểu rơ hậu quả của chọn lựa này. Trong một bài phỏng vấn mà tôi được đọc trên tờ báo Bulledingue (một tờ báo tiếng Pháp, nay đă đ́nh bản, rất có giá trị của một nhóm trí thức Việt nam tại pháp từng ủng hộ đảng cộng sản), ông trả lời về tương lai của cộng đồng người Việt hải ngoại như sau: Tôi sợ rằng rồi cũng như người Việt tại Trung Quốc, thế hệ đầu tha thiết với đất nước, thế hệ sau không c̣n nói thạo tiếng Việt nữa và thế hệ thứ ba quên là ḿnh có gốc Việt. Ông Hoàng Xuân Hăn dư biết về lâu về dài ra đi là từ bỏ đất nước, nhưng vẫn ra đi bởi v́ ở ẩn là cả một đạo lư cao thượng đối với người Việt nam và ông Hăn dù đă du học phương Tây và đậu những bằng cấp cao nhất vẫn là người Việt nam. Khi ông Hăn qua đời, trí thức Việt nam trong nước cũng như ngoài nước đồng loạt lên tiếng ca ngợi ông như một người mẫu mực, không thấy ai bày tỏ sự phiền ḷng rằng một người lỗi lạc như ông đáng lẽ phải có một chọn lựa tích cực hơn đối với đất nước. Thế hệ trước đă ca tụng Nguyễn Khuyến, thế hệ sau ca tụng Hoàng Xuân Hăn. Những Nguyễn Khuyến của thế hệ trước đă rất đông đảo, những Hoàng Xuân Hăn của thế hệ sau c̣n đông đảo hơn, ngay cả về tỷ lệ. Xem ra, dù đă kinh qua nhiều biến cố trọng đại, tâm lư người Việt ván chưa thay đổi bao nhiêu, tránh gian nguy và ở ẩn vẫn c̣n là một nhân sinh quan rất phải đạo. Người Việt nam vẫn c̣n chưa mất gốc, họ vẫn c̣n là những người Việt nam chân chính, nghĩa là không yêu nước, hoặc chỉ yêu nước một cách không tốn kém. Đọc tới đây xin độc giả đừng nghĩ rằng tôi có một dụng ư mỉa mai nào. Tôi thực sự quí trọng những người như Nguyễn Khuyến và Hoàng Xuân Hăn. Họ cao thượng thực sự, nhưng họ là sản phẩm của một nền văn hóa cam chịu và ẩn dật, họ đă sống phù hợp với nền văn hóa đó và họ là những mẫu người cao quí của nền văn hóa đó.
Tôi quen biết, hoặc được biết, khá nhiều trí thức Việt nam trong nước. Tất cả đều đồng ư chế độ hiện nay là tồi dở và độc hại, tất cả đều mong nó chấm dứt càng sớm càng hay, nhưng chỉ một số rất nhỏ chấp nhận rủi ro đứng lên đ̣i dân chủ, tuyệt đại đa số c̣n lại chỉ lo sống và tồn tại. Và để tồn tại họ phải chấp nhận thỏa hiệp với chế dộ, hợp tác với nó, và như thế giúp nó tiếp tục tồn tại, điều mà họ hoàn toàn không muốn. Mà những đặc ân mà họ được hưởng có lo lớn ǵ cho cam, chúng chỉ là những chức phó vụ trưởng, ủy viên hội đồng nhân dân tỉnh, v.v..., với lương và phụ cấp không quá 200 đô-la mỗi tháng. Hay một cửa hàng nhỏ của vợ con, hay khả năng được xuất bản vài tập truyện ngắn vô hại, hay được vẽ và bán vài bức tranh kiếm sống, được xuất ngoại vài năm một lần. Hoặc chỉ giản dị là cuốn sỗ lương hưu hai chục đô-la mỗi tháng. Hoặc giản dị hơn nữa là khỏi bị phiền hà. Tất cả đều hiểu những ân huệ đó chẳng có ǵ đáng kể, tất cả đều tin rằng nếu chế độ này chấm dứt th́ không những đất nước sẽ khá hơn nhiều mà chính bản thân họ cũng khá hơn hẳn. Nhưng họ không chấp nhận một hy sinh, dù là tạm thời và nhỏ bé, nào cả bởi v́ ḷng yêu nước, nghĩa là sự gắn bó và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng dân tộc, của họ không đủ mạnh. Mỗi người có cách riêng để luồn lách và tồn tại. Tất cả đều khôn, không ai chịu dại cả. Kết quả tổng hợp là đất nước vẫn tiếp tục quằn quại trong độc tài và lạc hậu. Một dân tộc gồm toàn những người khôn là một dân tộc rất đần độn. Chỉ có thể coi là yêu nước những người sẵn sàng chấp nhận một sự dại dột nào đó cho đất nước.
Trong cuộc xung đột dài và đẫm máu vừa qua, yêu nước đă là một khẩu hiệu được mọi phe phái sử dụng để giành giật hậu thuẫn. Hô măi hoặc nghe măi, khẩu hiệu đó trở thành một sự khủng bố tinh thần rồi chúng ta đă ghi nhận nó trong tiềm thức như một ngôn ngữ bắt buộc. Nhưng chúng ta cường điệu và dối trá, chúng ta đeo mặt nạ và sử dụng ngôn ngữ của lưỡi gỗ với nhau, khi xưng ḿnh là người yêu nước. Và chúng ta sai lầm lớn khi nghĩ rằng đa số người Việt nam yêu nước. Chỉ cần b́nh tĩnh quan sát sự thờ ơ bao trùm chung quanh chúng ta để nhận được một cải chính dứt khoát. Người Việt nam rất khó yêu nước. Trong ṿng hơn hai ngàn năm chúng ta được nhào nặn bởi văn hóa Khổng Giáo, một văn hóa vong thân, vị ky và phủ nhận đất nước. Từ gần một nửa thế kỷ nay chúng ta bị áp đặt văn hóa cộng sản không khác với Khổng Giáo bao nhiêu về bản chất. Cả hai đều là những văn hóa kỳ thị, đặt nền tảng trên một giai cấp chứ không phải trên tinh thần dân tộc. Một kẻ sĩ Việt nam ngày xưa gắn bó với một kẻ sĩ Trung Hoa hơn là một thứ dân Việt nam. Một bần cố nông Việt nam gần đây được nhoi sọ để coi mọi người vô sản thế giới là anh em và coi người tư sản Việt nam là kẻ thù.
Đă thế, người ta c̣n nhân danh tổ quốc để phạm tội ác, để hạ sát hàng ngàn hàng vạn nạn nhân vô tội. Những nạn nhân bị ghép tội phản quốc trong đại đa số lại chính là những người yêu nước hiếm hoi. Người ta c̣n cưỡng đoạt tổ quốc và cố gắng ḥa tan nó trong một chủ nghĩa (yêu nước là yêu chủ nghĩa xă hội). Không có ǵ đáng ngạc nhiên nếu đa số người Việt chọn lựa đứng ngoài mọi hệ lụy với đất nước.
Quốc gia chỉ mạnh nếu là đất nước của những con người tự do, tận dụng được hết sinh lực, thi thố được mọi tài năng, phát huy được mọi ư kiến và sáng kiến của ḿnh. Nhưng quốc gia cũng không thể mạnh nếu không có ḷng yêu nước, cũng như một gia đ́nh không thể có hạnh phúc nếu không có t́nh yêu.
Thuận vợ thuận chồng tát biền Đông cũng cạn không ai ngờ vực mănh lực ghê gớm của t́nh yêu, chúng ta cần ư thức rằng ḷng yêu nước cũng có mănh lực tương tự trong việc xây dựng một tương lai chung cho dân tộc. Chúng ta rất cần một sức bật của ḷng yêu nước. Nhưng chúng ta cũng cần ư thức rằng ḷng yêu nước của chúng ta rất non yếu và tật nguyền cần được điều trị và gây dựng, chứ không phải một vốn đă sẵn dồi dào để sử dụng và lạm dụng. Ḷng yêu nước ấy, những người dân chủ phải xây dựng ra chứ không thể mong chờ ǵ ở chế độ độc tài này. Mọi chế độ chuyên chế, dù là chế độ quân chủ ngày xưa hay chế độ độc tài cộng sản ngày nay, đều có chung một chủ trương là tiêu diệt mọi ư thức cộng đồng và mọi liên hệ gắn bó trong xă hội để có thể thống trị một đám đông cô đơn. Họ không cần người dân yêu nước, họ chỉ cần người dân khuất phục. Họ không cần người dân yêu họ, họ chỉ cần người dân đừng yêu nhau. ư niệm quốc gia dân tộc do dân chủ mà có, chỉ có dân chủ mới có thể giúp ta gây dựng và phát huy nó. Cuộc đấu tranh cho dân chủ cũng là cuộc đấu tranh nhằm đem lại cho người Việt lư do để yêu nước.
Những người dân chủ phải khẳng định dự án xây dựng một nhà nước khiêm tốn phục vụ thay v́ khống chế xă hội dân sự, đặt ḿnh dưới người dân thay v́ trên người dân, một nhà nước tối thiểu để nhường không gian tối đa cho sinh lực, ư kiến và sáng kiến của công dân. Và họ cũng cần khẳng định: người dân không có bổn phận phải yêu nước; chính nhà nước và thành phần ưu tú của đất nước, nghĩa là thành phần trí thức, phải làm cho đất nước trở thành đáng yêu. Đất nước không được hạch hỏi người dân đă làm ǵ cho ḿnh, trái lại phải tự hỏi ḿnh đă có ích lợi ǵ cho người dân. - Có lẽ chính vào lúc ḷng yêu nước không c̣n là một cưỡng bách nữa mà chúng ta sẽ có được ḷng yêu nước thực sự, hay ít ra nhận diện được những người thực sự yêu nước, và nhờ đó có thể kết nghĩa với nhau để cùng nhau đưa đất nước ra khỏi bế tắc.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Một chân dung tráng lệ của kẻ sĩ

 

Nói tới Khổng Giáo th́ phải nói ngay tới kẻ sĩ. Mục đích duy nhất của Khổng Giáo là đào tạo ra kẻ sĩ. Kẻ sĩ được coi là một lư tưởng mà mọi người phải hướng tới.
Bức chân dung kẻ sĩ, như một mẫu người vong thân và vị kỷ, được mô tả trong những trang trước phải chăng là quá đáng? Nhiều người, trong đó có cả những thân hữu quí mến của tôi, đă hơn một lần phát biểu rằng nhận định của tôi về kẻ sĩ qua các bài báo đă được đăng là sai lệch. Vậy th́ tôi xin nhường lời cho một kẻ sĩ chân chính viết về chính kẻ sĩ. Đó là Nguyễn Công Trứ qua bài Kẻ Sĩ của ông. Kẻ sĩ không thể có một đại diện nào hoàn hảo hơn Nguyễn Công Trứ. Ông trải qua tất cả tiến tŕnh học tập, sống và hành động của một kẻ sĩ lư tưởng. Ông cũng là một mẫu mực thành công của kẻ sĩ. Cả văn nghiệp lẫn vơ nghiệp của ông ít ai b́ kịp, ông cũng rất dũng cảm và thanh liêm. Điều làm người ta quí mến ông hơn nữa là ông lại phóng khoáng và đầy nghệ sĩ tính. Ông là một trong những kẻ sĩ lỗi lạc nhất và đáng kính phục nhất trong lịch sử Việt nam.
Nguyễn Công Trứ trải qua một thời thanh niên lận đận, ông đậu Giải Nguyễn (thủ khoa kỳ thi hương) năm đă 43 tuổi. Sự muộn màng này không phải do ông không thành công trong các bài thi mà v́ quan trường thấy giỏi quá sợ ông thành kiêu căng nên đánh rớt ông để tập cho ông tính khiêm nhường. Nguyễn Công Trứ mất hơn hai mươi năm cường tráng nhất của đời minh v́ chữ khiêm của kẻ sĩ ông theo đúng phương châm vững ḷng tin, chăm học, kiên tŕ, cải thiện tŕnh độ nho học (độc tín, háo học, thủ tử, thiện đạo) trong lúc chưa gặp thời. Sau đó ông thi đậu rồi làm quan và làm tướng một cách thật xuất sắc, thăng lên những chức vụ rất cao, đánh Nam dẹp Bắc lập những chiến công thật lẫy lừng. Ông cũng đă đem dân đi dinh điền lập ra nhiều huyện trù phú tại tỉnh Thái B́nh. Nguyễn Công Trứ rất hài ḷng về sự nghiệp của ḿnh, ông tự thuật như sau:
Khi thủ khoa, khi tham tán, khi tổng đốc Đông
Gồm thao lược đă nên tay ngất ngưởng
Lúc b́nh Tây cờ đại tướng...
Hoạn lộ của ông khá nhiều gian truân. Có lúc ông bị gièm là có ư làm phản, có lúc ông bị cách chức tuột xuống làm lính, nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn kiên tŕ bày tỏ tài năng và ḷng trung nghĩa và rồi lại vươn lên. Ông về hưu sau ba mươi năm hoạt động mănh liệt. Nhưng mặc dầu công việc dồn dập ông vẫn để lại một văn nghiệp to lớn về cả phẩm lẫn lượng.
Tác giả đă đặc sắc như vậy, bài Kẻ Sĩ cũng đặc sắc không kém. Nó tóm gọn một cách đẹp đẽ tất cả nhân sinh quan của kẻ sĩ. Nó lại được viết bằng một thể văn đặc biệt, thể hát nói. Đó là loại thơ được sáng tác trong lúc hát cô đầu, lúc kẻ sĩ phóng khoáng nhất. Cái ǵ quá đẹp th́ khó đúng, có thể bức chân dung kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ không trung thực v́ đă được lộng lẫy hóa quá đáng. Kẻ sĩ mà Nguyễn Công Trứ mô tả là kẻ sĩ tráng lệ nhất. Tôi có hỏi một số học giả và được biết là Trung Quốc không có bài thơ hay bài văn nào mô tả kẻ sĩ đẹp đẽ và hùng tráng hơn bài Kẻ Sĩ sau đây của Nguyễn Công Trứ, mà tôi chép lại nguyên văn và đánh số từng câu để chú giải.
1. Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
2. Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên
3. Có giang sơn th́ sĩ đă có tên
4. Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quí
5. Miền hương đảng đă khen rằng hiếu nghị
6. Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường
7. Khí hạo nhiên chí đại, chí cương
8. So chính khí đă đầy trong trời đất
9. Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
10. Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn
11. Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang Văn
12. Phù thế giáo một vài câu thanh nghị
13. Cầm chính đạo để tịch tà, cự bí
14. Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên
15. Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
16. Đem quách cả sở tồn làm sở dụng
17. Trong lăng miếu ra tài lương đống
18. Ngoài biên thùy rạch mũi Can Tương
19. Làm sao cho bách thế lưu phương
20. Trước là sĩ sau là khanh tướng
2 1. Kinh luân khởi tâm thượng binh giáp tàng hung trung
22. Vũ trụ chi gian giai phận sự
23. Nam nhi đáo thử thị hào hùng
2 4. Nhà nưóc yên mà sĩ được thung dung
25. Bấy giờ sĩ sẽ t́m ông Hoàng Thạch
26. Dăm ba chú tiểu đồng lếch thếch
27. Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
28. Nào xe, nào ngựa, nào địch, nào đờn
29. Đồ thích chí chất đầy trong một túi
30. Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi tới
31. Nhắm cuộc đời mà ngẫm kẻ trọc thanh
32. Này này, sĩ mới hoàn danh.
Bài thơ này dùng khá nhiều chữ Hán nên có lẽ một số độc giả cần vài giải thích.
Hai câu (1) và (2) nói rằng trong năm tước quan (công, hầu, bá, tử, nam), kẻ sĩ đều có mặt và trong bốn giai cấp xă hội (sĩ, nông, công, thương), kẻ sĩ đứng đầu. Thật là hănh diện được làm kẻ sĩ.
Trong câu (4), Chu và Hán là hai triều đại lớn của Trung Quốc gần sát nhau, từ thế kỷ 12 trước Tây lịch tới thế kỷ 3 sau Tây lịch.
Hai câu (5) và (6): ở xóm làng (lưỡng đảng), kẻ sĩ đă được tôn kính là người có lư luận (hiếu nghị) nên phải sống đúng tam cương (quân, sư, phụ hay bổn phận đối với vua, với cha mẹ và với thầy dạy học) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).
Hai câu (7) và (8): Bản chất của kẻ sĩ (khí hạo nhiên) rất lớn và rất vững (chí đại, chí cương), tinh thần (chính khí) của kẻ sĩ đầy trời đất.
Hai câu (9) và (10): Khi chưa gặp (lúc vị ngộ) được minh chúa th́ ở yên (hối tàng) trong lều cỏ (bồng tất) nghèo nàn, cứ thanh thản mà vui chơi bằng cách câu cá trên sông Vị (điếu Vị) hay trồng trọt trên đất Sằn (canh Sẵn). Đầu đời nhà Chu, Khương Tử Nha ngồi câu cá trên sông Vị đợi minh chúa tới năm đă ngoài 80 tuổi mới được Chu Văn Vương đem xe đến đón về làm quan. Trước đó một nhân vật huyền bí khác của Trung Quốc, làm ruộng ở đất Sằn cho đến khi được minh chúa tới đón. Tất cả những hoạt động câu cá, trồng trọt này không có mục đích sản xuất (Chương Tử Nha câu cá bằng lưỡi câu thẳng) mà chỉ có mục đích chờ thời mà thôi.
Hai câu (11) và (12): Dù chưa gặp được các minh chúa như vua Thang, vua Văn đem xe có quấn cỏ vào bánh (bờ luân) cho êm tới đón về, vẫn giữ đạo nho bằng cách nói lên những lời đúng (thanh nghị).
Ba câu (13), (14) và (15): Giữ vững chính đạo, tức Khổng Giáo, để tiêu diệt những tà thuyết (tịch tà), chống lại những khó khăn của cuộc sống (cự bi). Quyết tâm quay ngược lại sóng dữ (hồi cuồng lan) ngăn nước của cả trăm con sông.
Năm câu từ (16) đến (20): Khi đă được ra làm quan (kẻ sĩ được làm quan cũng sung sướng như rồng gặp mây) th́ đem lết cả tài ḿnh có (sở tồn) ra sử dụng. Trong triều đ́nh (lăng miếu là mộ các vua, thường chôn ở ngay triều đ́nh, kẻ sĩ coi là một diễm phúc được nh́n mộ các vua trước) th́ trổ tài làm quan (tài lương đống), ngoài trận mạc biên thùy th́ vung gươm báu (Can và Tương là một cặp vợ chồng thời xưa ở Trung Quốc làm nghề luỵện kiếm và đă hy sinh v́ kiếm báu). Làm thế nào để cả trăm thế hệ về sau biết đến tiếng thơm (bách thế lưu phương) mới hay. Trước là làm đẹp h́nh ảnh kẻ sĩ, sau là làm quan lớn (khanh tướng).
Ba câu (21), (22) và (23) tóm lược thế nào là một người trai anh hùng: phải có kiến thức trị nước (kinh luân) ở sẵn trong đầu (tâm trương) và phải chứa sẵn tài cầm binh ở trong bụng (binh giáp tàng hung trung). Khắp nơi đều là phạm vi hoạt động (vũ trụ chi gian giai phận sự). Làm trai như thế mới đúng là anh hùng hào kiệt. Những câu cuối nói rằng khi đă làm tṛn phận sự th́ kẻ sĩ lại rút về ở ẩn ngao du danh lam thắng cảnh, hưởng thể đàn hát và không màng đến xă hội nữa. Như thế là kẻ sĩ hoàn tất một cuộc đời đẹp (hoàn danh).
Chúng ta thấy ǵ qua cái chân dung lẫm liệt của kẻ sĩ này? Trước hết nó bộc lộ một thái độ thuần phục văn hóa tuyệt đối với Trung Quốc. Mọi điển tích, mọi địa danh, triều đại đều là của Trung Quốc cả. ư niệm quốc gia dân tộc hoàn toàn vắng mặt, tổ quốc của kẻ sĩ là Trung Quốc, đúng ra là Khổng Giáo Trung Quốc.
Sau đó là tâm lư tôi tớ. Kẻ sĩ chỉ chờ để được làm tôi tớ cho một ông chủ, chứ hoàn toàn không có ư chí xây dựng một sự nghiệp của riêng ḿnh trong mọi hoàn cảnh. Không được một minh chúa dùng làm tôi tớ kẻ sĩ sẵn sàng để phí uổng đời ḿnh. Cả đời kẻ sĩ chỉ sống với giác mộng được làm tôi tớ. Đúng là một thái độ vong thân tuyệt đối.
Suốt cuộc đời hoặc không may th́ ở ẩn cam chịu cuộc sống nghèo nàn trong lều cỏ, hoặc may th́ làm bầy tôi cho một ông vua, sau đó vui chơi. Hoàn toàn không thấy có một trách nhiệm nào đối với cộng đồng cả. Cuộc sống hoàn toàn vị kỷ.
Và dĩ nhiên chỉ có người con trai mới đáng kể, phụ nữ không thể là kẻ sĩ v́ thế không đáng đếm xỉa tới.
Tôi đă đề cập đến Nguyễn Trăi và lần này lại đề cập tới Nguyễn Công Trứ. Tôi hoàn toàn không dám mai mỉa hai vị tiền bối này. Tôi rất kính trọng họ, bởi v́ họ là tinh hoa của lịch sử Việt nam, là những người đă có công lớn với đất nước và cũng là những người mà chúng ta có thể tự hào. Điều cần lên án là cái văn hóa Khổng Giáo tồi tệ đă tha hóa cả những con người lỗi lạc như thế. Riêng đối với Nguyễn Trăi, ông đă có công lớn giành lại độc lập cho Việt nam từ tay quân Minh, ông cũng là tác giả B́nh Ngô Đại Cáo, áng văn nghị luận chính trị đầu tiên của Việt nam đồng thời cũng là một bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng, nhưng ông đă chết tức tưởi và cả họ bị giết hại. Thủ phạm là ai nếu không phải là chế độ quân quyền dựa trên Khổng Giáo, là cái giá trị tam cương độc hại của Khổng Giáo?
Nguyễn Trăi, Nguyễn Công Trứ và vô số kẻ sĩ lỗi lạc khác nếu thi thố được hết tài năng và sáng kiến của ḿnh th́ c̣n vĩ đại gấp trăm lần và c̣n cống hiến cho đất nước những thành quả to lớn gấp trăm lần. Nhưng họ là kẻ sĩ và đă phải chấp nhận cuộc sống vong thân của kẻ sĩ.
Tâm lư kẻ sĩ vẫn c̣n hiện diện mạnh lắm trong chúng ta. Không thiếu những người rất đáng quí trọng hiện nay ao ước được sống như kẻ sĩ hay hănh diện đă sống như kẻ sĩ. Nguyễn Xuân Tụ, người bạn quí mến của tôi, lấy tên là Hà Sĩ Phu, có thể có nghĩa là sĩ phu Bắc Hà, cũng có nghĩa của một câu hỏi c̣n ai là kẻ sĩ ngày nay hay thế nào là sĩ phu do sự thiếu chính xác của tiếng Trung Quốc và tiếng Việt. Ông Tụ trân trọng kẻ sĩ lắm, cũng như nhà văn Hoàng Tiến, người đă viết kháng thư trách chính quyền cộng sản đối xử tệ bạc với trí thức mà ông coi là những kẻ sĩ của thời nay. Tôi th́ chỉ thấy kẻ sĩ là một bóng ma tiều tụy và vong thân cần phải tống cổ một cách tức khắc và không nề nang ra khỏi trí tuệ và tâm hồn của chúng ta, nếu chúng ta muốn một tầm vóc khác cho đời ḿnh và một tương lai khác cho đất nước.

 

Phần 3 V́ đâu nên nỗi?
Chuyện cổ tích

 

Tới đây có lẽ một số độc giả đă cảm thấy mệt mỏi và chán nản với những biện luận về lịch sử và tư tưởng, nhiều vị chắc đă muốn gấp cuốn sách này lại và cất đi. Vậy để quí vị giải khuây chốc lát và lấy lại can đảm để đọc tiếp, tôi xin kể một vài câu chuyện cồ tích. Những câu chuyện này đều ngắn v́ tôi chỉ biết một cách sơ sài. Chuyện thứ nhất là Phù Đổng Thiên Vương, c̣n gọi là Thánh Gióng, có lẽ v́ Gióng là tên nôm của làng Phù Đổng chăng? Điều này có thể kiểm chứng khá dễ dàng nhưng tôi vẫn không có th́ giờ để làm. Hiện nay hàng năm, tại làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Vĩnh Phú vẫn có ngày hội lớn về sự tích Thánh Gióng. Tục truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ 6, nước ta, thời bấy giờ gọi là Văn Lang, bị giặc Ân đánh phá (không tài liệu sử nào cho biết giặc Ân là giặc nào), vua cho đi rao truyền trong nước t́m người tài ra đánh giặc. Lúc đó tại làng Phù Đổng, có một đứa bé đă ba tuổi mà vẫn chưa biết nói, chỉ nằm một chỗ, nghe tiếng loa truyền bỗng nhiên ngồi dậy, vươn ḿnh thành một thanh niên cao một trượng, rồi theo sứ giả về cầu vua, xin đúc một cây rồi sắt và một con ngựa sắt. Được cấp roi, ngựa, chàng thanh niên liền nhảy lên yên. Ngựa sắt bỗng nhiên cử động được. Chàng thanh niên phi ngựa ra trận đánh tan quân giặc. Đến núi Sóc Sơn th́ giặc tan hết và chàng thanh niên cũng về trời mất tích. Dân chúng tưởng nhớ tôn làm Phù Đổng Thiên Vương, hoặc Thánh Gióng. Đây là chuyện cổ tích mà lúc c̣n nhỏ tôi thích nhất bởi v́ nó vừa là chuyện của một đứa bé, vừa là chuyện kiếm hiệp và cũng vừa là chuyện thần thoại.
Chuyện thứ hai là chuyện Chử Đồng Tử. Vào đời vua Hùng Vương 16, Chử Đồng Tử là một thiếu niên mồ côi mẹ sống với cha bằng nghề bắt cá trên sông. Hai cha con nghèo đến độ chỉ có một cái khố phải chia nhau mà mặc. Các bạn trẻ có lẽ không biết cái khố là ǵ. Tôi tuy không già lắm nhưng hồi c̣n trẻ ở nhà quê cũng đă được nh́n thấy những người mặc khố (ngôn ngữ nông thôn gọi là đóng khố thay v́ mặc khố). Nó gần giống như một quần xi-líp, nghĩa là rất ít vải, tác dụng duy nhất của nó chỉ là để che hậu môn và bộ phận sinh dục.
Một hôm, giữa lúc cha đang đóng khố, Chử Đồng Tử đang trần truồng bên bờ sông th́ một công chúa được lính hầu kiệu tới. Chử Đồng Tử hốt hoảng không biết trốn đâu bèn chui đại xuống băi cát, lấy cát phủ lên ḿnh. Không biết anh ta thở cách nào nhưng anh ta tự chôn khá kín, công chúa cũng như lính đều không thấy. Sự t́nh cờ đă khiến công chúa chọn ngay chỗ anh ta vùi ḿnh để quây pḥng tắm. Công chúa cứ thoải mái múc nước gội lên ḿnh, cho đến lúc giật ḿnh nhận ra một chàng trai cường tráng lơa thể ngay dưới chân ḿnh bởi v́ trong lúc xối nước cô đă làm trôi di lớp cát phủ trên thân Chử Đồng Tử. Thế là một đôi trai gái trần truồng gặp nhau trong một pḥng kín. Công chúa như thế đă bị coi như mất trinh tiết với Chử Đồng Tử, nhà vua chỉ c̣n cách cho hai người kết hôn, và Chử Đồng Tử trở thành pḥ mă. Câu chuyện này rất vui, bởi v́ nó vừa là một chuyện t́nh vừa là một câu chuyện của sự may mắn, một chàng trai đánh cá nghèo khổ t́nh cờ lấy được công chúa. Chuyện thứ ba là chuyện Lưu B́nh - Dương Lễ. Đây vừa là một câu chuyện về t́nh bạn, vừa là câu chuyện lập thân. Không biết câu chuyện xẩy ra ở bên Tàu hay tại nước ta nhưng h́nh như người Việt nam nào cũng biết.
Lưu B́nh và Dương Lễ là đôi bạn thân thiết. Sau một kỳ thi Dương Lễ đỗ, được ra làm quan và sống phú quí, trong khi Lưu B́nh thi rớt. Lưu B́nh đến thăm bạn và bị Dương Lễ sai lính cầm roi đánh đuổi một cách khinh bỉ. Tức quá, Lưu B́nh về nhà quyết chí học cho đậu để rửa nhục. Đang lúc túng thiếu th́ bỗng nhiên Lưu B́nh gặp được một cô gái xinh đẹp và có tài sản, bằng ḷng lấy Lưu B́nh và nuôi Lưu B́nh ăn học. Hạnh phúc làm con người trở thành thông minh và chuyên cần, khóa sau Lưu B́nh đỗ cao và trở thành quyền quí. Lúc đó Lưu B́nh mới mời Dương Lễ tới nhà ḿnh để chứng kiến sự giàu sang của ḿnh, với dụng ư làm cho Dương Lễ phải xấu hổ v́ sự bội bạc ngày xưa. Nhưng cuộc gặp gỡ này chỉ là dịp để Lưu B́nh khám phá ra rằng vợ ḿnh thực ra là một t́ thiếp của Dương Lễ, được gởi tới để giúp Lưu B́nh ăn học. Dương Lễ đă giúp bạn một cách khôn ngoan, vừa làm nhục bạn để kích thích ư chí, vừa giúp phương tiện để bạn học thành công. Câu chuyện này đẹp và có giá trị giáo dục nên tôi được nghe kể khá nhiều lần và lần nào cũng thích thú lắng nghe dù đă thuộc ḷng.
Chuyện thứ tư là một chuyện đă sử. Đó là câu chuyện Thị Lộ, c̣n gọi là chuyện rắn báo thù và liên hệ đến cái chết bi thảm của Nguyễn Trăi, một khai quốc công thần có công pḥ Lê Lợi đánh đuổi quân Minh giành độc lập cho nước ta và cũng là nhà tư tưởng chính trị lớn của nước ta. Sau khi giúp vua lấy lại được đất nước, Nguyễn Trăi được phong đứng đầu trăm quan, rời sau đó cáo quan về quê.
Khi về hưu, Nguyễn Trăi ra lệnh cho gia nhân dọn sạch khu vườn bấy lâu bị bỏ hoang nên đầy bụi rậm và cỏ đại. Đêm trước ngày khởi sự, Nguyễn Trăi nằm mơ thấy một con rắn biết nói tới xin ông hoăn lại việc dọn vườn v́ nó mới sinh con nhỏ nên chưa thể đi ngay chỗ khác được. Cho là chuyện mộng mị vớ vẩn, Nguyễn Trăi không để ư tới và cũng chẳng nói với ai. Ngày hôm sau gia nhân dọn vườn và tŕnh với ông đă thấy một ổ rắn, họ đă giết được bày rắn con nhưng rắn mẹ chạy thoát, họ chỉ chặt được một khúc đuôi. Tối hôm đó Nguyễn Trăi đang nằm đọc sách th́ một giọt máu từ nóc nhà nhỏ xuống ngay cuốn sách thấm ba trang. Đó là máu của con rắn mẹ đă leo lên nóc nhà.
ít lâu sau Nguyễn Trăi gặp Thị Lộ, một cô gái trẻ vừa xinh đẹp vừa giỏi thơ văn, ông bèn lấy làm thiếp và rất chiều chuộng. Một hôm, vua Lê (đây là Lê Thái Tông, con của Lê Lợi tức Lê Thái Tổ) du hành qua đấy bèn ghé thăm Nguyễn Trăi và ngủ đêm tại nhà ông. Thấy Thị Lộ xinh đẹp, vua bèn bảo Nguyễn Trăi để Thị Lộ ngủ với ḿnh. Đêm hôm đó, không biết vua say sưa hoan lạc với Thị Lộ thế nào mà chết, Nguyễn Trăi bị buộc tội giết vua và bị giết cùng với cả họ hàng ba đời. Lúc đó người ta mới hiểu Thị Lộ chính là hồn ma của rắn mẹ hiện h́nh làm gái để báo thù Nguyễn Trăi, và giọt máu thấm ba trang giấy là điềm báo trước Nguyễn Trăi sẽ bị tru di tam tộc.
Câu chuyện này tuy thương tâm, nhưng có sức hấp dẫn đặc biệt. Nó ly kỳ và ma quái, hơn nữa nó lại là chuyện về rắn, con vật vừa kinh dị vừa quyến rũ.
Bây giờ, các bạn đă được giải khuây rồi tôi xin thưa một điều. Đó là những câu chuyện bề ngoài rất vô hại, và đôi khi c̣n có tính giáo dục, cũng có thể chuyên chở những giá trị rất độc hại. Càng độc hại hơn nửa khi chúng là những câu chuyện bà kể cho cháu, v́ chúng ta tiếp thu một cách ngây thơ, vô t́nh và không cảnh giác. Những câu chuyện như thế tiếp thu ở tuổi thơ ngây đă là những dấu ấn đầu tiên trong trí tuệ và khiến chúng ta chấp nhận một cách thụ động, không bàn căi những giá trị thực ra có tác dụng quan trọng đối với xă hội và con người.
Cả bốn câu chuyện này không vô tư như chúng ta tưởng, chúng đều có tác dụng truyền bá những giá trị cũng cố cho một trật tự có sẵn: quyền lực tuyệt đối của vua, lư tưởng nô dịch của kẻ sĩ, và thân phận thấp kém của phụ nữ.
Phù Đổng là một vị thần chứ không phải là một con người. Sinh ra được ba năm mà vẫn nằm im, rồi vươn vai một cái mà cao đến một trượng, rồi cưỡi ngựa sắt, một ḿnh đánh tan giặc, rồi lên núi về trời. Một vị thần như vậy mà cũng pḥ vua th́ chắc chắn vua phải là trời, và đă là trời th́ dĩ nhiên quyền lực của vua phải tuyệt đối. Chuyện Thánh Gióng là một câu chuyện bịa đặt, có thể dựa trên một sự kiện có thực nhưng rất khác, trong mục đích đặt nền tảng cho chế độ quân chủ chuyên chế. Ngày nay trong nước đang có một khuynh hướng khai thác chuyện Thánh Gióng cho một mục đích chính trị đúng đắn, lấy gương Thánh Gióng cao thượng sau khi dẹp xong giặc đă bỏ đi để nhắc nhở đảng cộng sản và phê phán thái độ ĺ lợm khư khư giữa lấy quyền lực của họ. Tôi rất ngờ vực tác dụng của cuộc vận động này. Ví những chiến công của đảng cộng sản với Thánh Gióng là nh́n nhận rằng những cuộc chiến mà đáng cộng sản khởi xướng và điều động có chính nghĩa và có ích cho dân tộc. Điều này không hiển nhiên, nhưng không phải là điều tôi muốn bàn. Điều tôi muốn bàn là sự thiếu sức thuyết phục của lập luận. Tại sao lại phải bỏ ra đi sau khi đă lập công? Tại sao không ở lại tiếp tục giúp nước? Thực ra chúng ta không có quyền đ̣i đảng cộng sản phải ra đi chúng ta chỉ đ̣i họ ra đi khi không c̣n được nhân dân chấp nhận nữa. Chỉ có cuộc bầu cử tự do mới cho thấy nhân dân c̣n muốn họ ở lại hay không.
Tại sao một công chúa, chỉ v́ vô t́nh nh́n thấy một thanh niên khỏa thân mà lại có thể bị coi là mất tiết hạnh? Một công chúa mà c̣n như vậy th́ một cô gái con nhà thứ dân ra sao? Số phận người phụ nữ sao mà rẻ rúng thế! Câu chuyện Chử Đồng Tử không vô tư, nó có mục đích cũng cố sự thống trị của nam giới trên nữ giới, đồng thời nó cũng có mục đích tôn vinh quân quyền. Lấy công chúa được coi là diễm phúc lớn nhất của đời người. Bất luận công chúa tuổi tác nhan sắc, đức hạnh ra sao. Trẻ em Việt nam bị đầu độc nặng đến nỗi không có đứa nào đặt câu hỏi thế Chử Đông Tử có bằng ḷng lấy công chúa không?. Câu chuyện không phải chỉ có mục đích giải trí, nó c̣n có dụng ư giáo dục.
Người vợ của Lưu B́nh sau này sẽ tiếp tục là vợ Lưu B́nh hay sẽ về với chồng cũ là Dương Lễ. ở với Lưu B́nh th́ sẽ không c̣n được quí trọng v́ đă qua tay Dương Lễ, nghĩa là đă ô uế rồi, mà về với Dương Lễ cũng không xong bởi v́ cũng đă chung sống với Lưu B́nh. Thân phận t́ thiếp lầm lũi là lối thoát hợp đạo lư duy nhất cho cô. ở cương vị t́ thiếp, cô có thể bị trao đổi một cách rất phải đạo như một vật dùng. Cái chữ trinh mà đàn ông bắt đàn bà phải tôn trọng như tính mạng chính họ lại chà đạp lên một cách thản nhiên. Nhưng chuyện Lưu B́nh - Dương Lễ không phải là chuyện trai gái mà là chuyện quan trường. Nó cho thấy mộng đời duy nhất của thanh niên là thi đỗ để làm quan. Không làm quan th́ không là ǵ cả, c̣n hễ làm quan th́ có tất cả, nhà cao cửa rộng, thê thiếp đầy đàn. Cái lư tưởng mà đứa trẻ được nhồi sọ ngay lúc ra chào đời là cố học để làm quan, là trong sách có gái đẹp. Sách thánh hiền thật là cao quí!
Câu chuyện Lưu B́nh - Dương Lễ c̣n chứa đựng cả một quan niệm về công quyền, đó là quan niệm chức quyền thay v́ chức trách. Chức vụ là một địa vị cho phép thụ hưởng chứ không phải là một trách nhiệm. Lưu B́nh cũng như Dương Lê chỉ mới đậu xong và ra làm quan đă lập tức trở thành giàu sang, phú quí. Đằng sau câu chuyện có mục đích giáo dục đó là cả một văn hóa tham nhũng. C̣n chuyện Thị Lộ? Câu chuyện này chắc chắn là một sự bịa đặt của triều đ́nh nhà Lê để dùng sự huyền bí chạy tội ác man rợ tàn sát cả ba họ một khai quốc công thần. Nhưng nó cũng có tác dụng b́nh thường hóa bản chất thô bạo của văn hóa Khổng Giáo. Thị Lộ là phụ nữ và đă là phụ nữ th́ nhân phẩm của bà không đáng kể. Bà là thiếp của Nguyễn Trăi, nhưng vua muốn thỏa măn nhục dục bà cũng phải tuân theo. Cái chữ tiết trinh được đề cao như đạo lư tuyệt đối của phụ nữ cũng phải dừng lại trước đ̣i hỏi của nhà vua: ở đây người đàn bà c̣n bị ví với rắn độc. Thật là tàn nhẫn, người phụ nữ Việt nam không những chỉ bị chà đạp, khinh bỉ mà c̣n bị thù ghét.
C̣n Nguyễn Trăi? Vị đệ nhất công thần này từng nằm gai nếm mật cạnh Lê Lợi, bố của Lê Thái Tông, cũng phải nộp người yêu của ḿnh cho một thằng bé bằng tuổi con ḿnh hành lạc ngay tại nhà ḿnh, không chừng c̣n phải lạy tạ ơn mưa móc và dọn giường chiếu cho nó. Và khi không may vua v́ quá đê mê mà chết th́ bị kết tội và bị giết cả ba họ. Vua là trời, quần thần không là ǵ cả. Một ông quan, nghĩa là một kẻ sĩ may mắn thành đạt, dù tài giỏi tới đâu đi nữa, dù chức phẩm cao tới đâu đi nữa cũng không hơn ǵ một con vật trước mặt vua, vua muốn nọc ra đánh vài chục trượng, muốn thiến, muốn giết bỏ tùy ư. Và muốn giết sạch cả cha mẹ, anh em, con cháu cũng được luôn. Vậy mà làm quan vẫn là giấc mơ của kẻ sĩ! Những đứa trẻ được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện như thế làm sao lớn lên giữ được phẩm cách, làm sao tránh khỏi tâm lư vong thân?
Văn hóa của một dân tộc là toàn bộ những giá trị đă được chấp nhận và tạo ra cách suy nghĩ, hành động và ứng xử của dân tộc đó. Khi nhận định về văn hóa cá nhân của ḿnh, chúng ta thường mắc phải một sai lầm rất ḷn là đồng hóa văn hóa với kiến thức, trong khi kiến thức chỉ là một phần không quan trọng của văn hóa. Chúng ta có thể có những kiến thức rất sâu sắc về y học, điện tử, động nhiệt học, kế toán và cả triết lư nữa, nhưng văn hóa của chúng ta, nghĩa là cách sống, suy nghĩ, hành động và ứng xử của chúng ta vẫn theo một hệ thống giá trị có sẵn nào đó.
Và văn hóa có cách lưu truyền của nó. Một số giá trị ban đầu, nảy sinh do một bối cảnh xă hội đặc thù hay được kẻ cầm quyền áp đặt tạo ra một nếp sinh hoạt xă hội. Đến lượt nó, nếp sinh hoạt đó, với những thể hiện vật chất và tâm tính, điều kiện hóa con người, để rồi con người truyền lại cho nhau qua các thế hệ. Chúng ta tiếp thu một văn hóa lúc mới chào đời khi trí tuệ c̣n non nớt chưa có khả năng tự vệ, chúng ta chấp nhận những giá trị của văn hóa đó như những sự hiền nhiên không cần bàn căi, bởi v́ những giá trị đó không đến với chúng ta bằng lư luận. Chúng đến với chúng ta qua kiến trúc của làng xă, phố phường, bề rộng của những con đường, h́nh dạng của căn nhà, kích thước của cái cửa sổ. Chúng đến với chúng ta qua sinh hoạt gia đ́nh và bằng hữu. Chúng cũng đến với chúng ta qua những câu chuyện bà kể cho cháu, cô giáo kể cho học tṛ. Nói chung, chúng thường đến một cách gián tiếp và giấu mặt khiến chúng ta chấp nhận một cách vô t́nh, chứ không đến một cách trực tiếp và lộ diện để chúng ta có thể nhận định và chọn lựa. Chính v́ thế mà một số người Việt nam có thể không hề nh́n thấy một lần trong đời cuốn Luận Ngữ và không biết ǵ về sử Trung Hoa mà vẫn thuộc văn hóa Khổng Giáo và vẫn là sản phẩm tinh thằn của Đông Chu Liệt Quốc. Một cách tương tự một người châu Âu dù chưa từng nghe nói tới Socrate, Plalon và chưa đọc một chuyện thần thoại Hy Lạp nào, vẫn bị ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Hy Lạp và vẫn là đứa con tinh thần của Ulysse. Rất có thể là có những bạn đọc trẻ không hề biết tới một chuyện nào trong cả bốn câu chuyện cồ tích mà tôi vừa kề, nhưng không nhiều th́ ít, và nhiều chứ không ít, các bạn vẫn chịu ảnh hưởng của những giá trị mà chúng chuyên chở, bởi v́ các giá tŕ ấy đă được môi trường sinh sống và những người đă tiếp thu chúng trước truyền lại cho các bạn. Tôi thường được nghe nhiều vị phân vân nếu bỏ văn hóa truyền thống th́ chúng ta c̣n lại ǵ, chúng ta có mất mát lớn hay không. Xin quí vị yên ḷng, quí vị dù muốn cũng không bỏ được đâu. Chính tôi, một người phê phán gay gắt Khổng Giáo, tôi ván là một sản phẩm của Khổng Giáo. Một văn hóa cố sức sóng dai dẳng khó tưởng tượng nỗi của nó. Nếu thay đổi một nền ván hóa là việc dễ dàng th́ bộ mặt thế giới đă khác hẳn, đă không có những quốc gia có lợi tức b́nh quân trên mỗi đầu người lớn gấp một trăm lần nhiều quốc gia khác.
Văn hóa quyết định tổ chức xă hội, và tổ chức xă hội quyết định chỗ đứng và sự hơn kém của các dân tộc. Chế độ cộng sản không phải là một sự ngẫu nhiên của lịch sử. Nó thành công và tồn tại được mà không gặp sự chống trả đáng lẽ phải có bởi v́ nó chỉ là sự kết tinh của nhưng giá trị nền tảng của xă hội ta.
Tôi sinh sống bằng nghề kỹ sư cố vấn. Nghề nghiệp của tôi thường cho tôi cơ hội để thậm định giá trị của các hệ thống quản trị bằng tin học. Kinh nghiệm cho thấy chỉ có hai nguyên nhân đưa tới một hệ thống tin học dở: một là máy (hardware) dở, hai là các chương tŕnh (software) được đặt vào máy dở. Cũng thế, khi một quốc gia lạc hậu và thua kém th́ chỉ có hai giả thuyết: một là con người tồi, hai là văn hóa tồi.
Nhưng con người của ta không tồi, chúng ta khá thông minh và chúng ta cũng rất chăm làm. Vậy th́ cái ǵ khiến chúng ta không vươn lên được nếu không phải là v́ văn hóa của ta độc hại? Muốn vươn lên chúng ta phải thay đổi văn hóa, nghĩa là các giá trị nền tảng. Nhưng đây lại là một việc rất gian lao v́, xin nhắc lại một lần nữa, văn hóa có sức sống rất dai dẳng. Nếu quả quyết và dứt khoát th́ cũng chưa chắc ǵ sau 50 năm nữa chúng ta đă thay đổi được. Nếu lại c̣n lưỡng lự tiếc nuối th́ không biết đến bao giờ. Thế kỷ 20 đối với chúng ta đă là một thế kỷ của canh tân, nhưng chúng ta chưa đi đến đâu trên lộ tŕnh canh tân, bởi v́ chúng ta tuy đă thấy được sự lạc hậu của các giá trị cũ nhưng lại không muốn chấp nhận những giá trí mới. Cái gốc của chúng ta dở nhưng chúng ta lại sợ mất gốc. Chúng ta như người ra đi nhưng không biết đi đâu, cho nên chúng ta không thể đi xa.
Thế giới đang nhỏ lại và các dân tộc đang đến gần nhau.
Không có những giá trị phương Đông và những giá trị phương Tây, chỉ có nhưng giá trị tốt và nhưng giá trị có hại. Những giá trị tốt là ḥa b́nh, tự do, dân chủ, b́nh đẳng, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp lác, lợi nhuận, liên đới và môi trường. Những giá trị đó đă tạo ra sức mạnh của các nước phương Tây. Chúng không phải là những giá trị của phương Tây mà là những giá trị phổ cập của loài người, có sẵn trong mọi dân tộc và mọi nền văn minh, nhưng chỉ gần đây mới có một số ít dân tộc triệt để phát huy chúng và trở thành giàu mạnh hơn hẳn phần c̣n lại của thế giới.
Đến đây tôi xin khẩn khoản thưa với độc giả đôi lời tha thiết. Tất cả người Việt chúng ta, dù ở trong hay ngoài nước, dù ở lứa tuổi nào vẫn c̣n bị nhiễm độc rất nặng nề v́ nền văn hóa Khổng Mạnh được du nhập vào nước ta với cái nội dung c̣n tồi tệ hơn nguyên bản của nó tại Trung Quốc. Xin chớ vội nghĩ rằng tư tưởng của chúng ta đă hoàn toàn đổi mới. Cái di sản văn hóa hai ngàn năm đó vẫn khống chế chúng ta. Chúng ta phải ư thức điều đó th́ mới có hy vọng rũ bỏ được nó để bay bỏng và tiến xa. Một bệnh nhân không biết ḿnh mắc bệnh th́ không thể chữa bệnh.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Mười triệu năm đánh đu 1

 

Tôi không phải là một nhà khảo cổ hay một nhà nhân chủng học. Kiến thức của tôi về nguồn gốc con người chỉ rất sơ sài. Một vài hiểu biết của tôi về vấn đề này có được do một sự t́nh cờ. Tôi có hai con nhỏ và hàng năm vào mùa hè chọn đi nghỉ tại thị xă Menton trên bờ biển Địa Trung Hải miền Nam nước Pháp, giáp ranh với nước ư. Thị xă Menton này là một thành phố rất dễ thương, nóng suốt mùa hè, rất ít khi có mưa. Trong suốt sáu mùa hè liên tiếp, tôi chưa bao giờ bị một trận mưa nào trong lúc nghỉ hè, có nghĩa là được tắm biển mỗi ngày. Đó là một điều rất quan trọng. Ngày hè ngắn ngủi, mất ngày nào là uổng ngày đó. Menton lại có một vũng biển rất tốt, kín gió và hầu như không có sóng, các con tôi có thể bơi lội an toàn Hai dứa rất thích Menton và hàng năm cứ đến gần tháng bảy là chúng nô nức rạo rực chờ đợi đi Menton. Menton là một thành phố dành cho trẻ con và người già. Thanh niên rất ít đến đây v́ không nhộn nhịp như các bờ biển khác, Saint Tropez, Saint Maxime, Nice, Cannes chẳng hạn. Nhưng cái duyên của Menton cũng là ở chỗ đó. Thành phố yên tĩnh, khang trang và lịch duyệt. Dân ở đây phần lớn là người giàu có đă về hưu, họ lịch sự và ḥa nhă.
Nhưng Menton c̣n có một đặc điểm khác mà tôi rất thích. Menton có nhiều lịch sử. Chung quanh Menton có nhiều hang động mang vết tích con người từ vài chục ngàn năm (tại nước ta những dấu vết về sự sống của con người không quá mười ngàn năm). Đi về hướng Bắc một chút có Vallée des Merveilles trong đó người ta c̣n thấy những vách đá có chạm trổ những tranh vẽ thô sơ của con người cách đây cả chục ngàn năm. Mỗi lằn đứng trước những chạm trồ tôi đều có một xúc cảm lớn, tưởng chừng như những con người đó c̣n đâu đây ngay gần sát với ḿnh.
ở Menton người ta cũng đào được một hài cốt một người đă chết cách đây trên mười ngàn năm nhưng c̣n nguyên vẹn. Đây quả là một kỳ quan. Xác người này rất đẹp. Đó là một người đàn ông cao độ 1,80 mét, một chiều cao phi thường vào thời đại đó, khi chiều cao trung b́nh của con người chỉ vào khoảng 1,40 mét. Không biết hồi đó kỹ thuật ướp xác đă cao đến mức nào, hay chỉ do một sự t́nh cờ, nhưng xác c̣n nguyên vẹn, c̣n nguyên cả da thịt dù đă khô lại. Xác nằm cong queo, h́nh như là do cách bố trí chôn cất thời đại đó, đầu đội mũ làm bằng những vỏ óc nhỏ xiên thành từng chuỗi, cái mũ cũng c̣n nguyên vẹn. Xác này được đặt ngay chính giữa viện bảo tàng tiền sử, một kiêu hănh của thành phố Menton.
Trong viện bảo tàng này có rất nhiều dụng cụ và di tích từ vài trăm ngàn năm, và nhiều cảnh sinh hoạt được các nhà khảo cổ dựng lại giúp ích cho những người thường như tôi hiểu người xưa đă sống như thế nào. Trên tường lại có cả những bản chỉ dẫn tóm lược về diễn biến của trái đất kể từ ngày khai thiên lập địa. Đặc sắc hơn, có một pḥng chiếu phim tân kỳ với đủ mọi loại phim tài liệu có tính giáo dục. Khách vào thăm viện bảo tàng chỉ cần bấm một cái nút vào bên cạnh tên một phim là sau đó được b́nh thản ngồi xem những phim tài liệu về nguồn gốc con người. Năm nào tới Menton tôi cũng vào thăm viện bảo tàng trên dưới mười lần và say sưa xem những phim ảnh đó. Có những phim đă xem mấy chục lần vẫn chưa biết chán.
Qua những phim ảnh đó và những dấu tích của viện bảo tàng tôi được biết là khoảng mười lăm triệu năm trước đă xuất hiện các loài khỉ lớn, thủy to của loài người. Nhưng sau đó, trong mười triệu năm người ta không c̣n t́m thấy một vết tích nào về sự sống của các loài khỉ này cả. Cái ǵ đă xảy ra? Có thể chẳng có ǵ là đặc biệt cả các loài khỉ vẫn sống và tiếp tục tiến hóa những người ta đă không t́m ra vết tích. Cũng cần phải nói là các dấu tích chấm phá được rất rời rạc, sự mất dấu tích có thể chỉ là t́nh cờ. Nhưng từ năm triệu năm gần đây, người ta lại t́m thấy dấu tích của một số loài khỉ lớn, và lần này với một thay đổi nhỏ: bàn tay của một loài trong các loại đă nhân đă dài ra, bốn ngón tay trước nhô ra đằng trước trong khi ngón tay cái thụt về phía sau. Tại sao? Không có ai có thể giải thích một cách rơ ràng. Rất có thể là, do điều kiện sinh sống, có những loài khỉ đă t́m được lá cây và trái cây ngay sát mặt đất và tiếp tục ḅ đi kiếm ăn, nhưng cũng có những loài khỉ đă phải đu cây thường xuyên, và kết quả của mười triệu năm đánh đu đó là h́nh dạng bàn tay thay đổi. Sự thay đổi t́nh cờ và nhỏ bé này đă có hậu quả vô cùng lớn là tạo ra giống người và thế giới con người. Do sự sắp xếp bàn tay mới mà lần này khi bàn tay nắm lại, ngón tay cái trở thành đối diện với bốn ngón kia tạo ra một sức nắm chắc và mạnh hơn hẳn so với một bàn tay mà cả năm ngón đều ở gần cùng một mức. Sức nắm này tạo ra một khả năng mới: con người có thể dùng đụng cụ và dần dần biết dùng dụng cụ, rồi với thời gian biết t́m cách cải tiến dụng cụ. Sự suy nghĩ bắt đầu, từ đó khối óc mở mang ra. Hơn nữa, có lẽ cũng do mười triệu năm đánh đu mà con người thẳng ra, dần dần biết đứng, biết đi. Hai bàn tay được giải tỏa, không cần phải dùng cho việc di chuyền nữa, để dùng hoàn toàn vào việc sử đụng dụng cụ. Trí óc lại càng mở mang. Và sau đó, cách đáy khoảng hai triệu rưỡi năm, giống người thực sự xuất hiện. Các nhà bác học về khảo cổ ước lượng con người xuất hiện cách đây khoảng ba triệu hay hai triệu rưỡi năm tại châu Phi, vào lúc đă biết chế tạo những dụng cụ đầu tiên bằng đá, rồi từ châu Phi mà tỏa ra châu Âu và châu á.
Giả thuyết về nguồn gốc con người này - dầu sao cũng chỉ là một giả thuyết dù nó được tất cả mọi nhà bác học chấp nhận - nhắn nhủ chúng ta, tất cả loài người, cần có một thái độ khiêm tốn. Chỉ nhờ một biến đổi rất chi tiết và rất vô t́nh của cấu trúc bàn tay mà có loài người văn minh. Nếu không, có lẽ chúng ta vẫn chỉ là loài khỉ lom khom hái lá mà ăn trong rừng núi. Nếu không, chúng ta cũng đă chẳng có các tín ngưỡng, thượng đế, máy điện tử, xe hơi, máy bay, những tư tưởng lớn và Intemet. Đồng thời nó cũng cho ta một nhận định: một biến cố rất nhỏ bé và t́nh cờ lúc ban đầu có thể có khả năng với thời gian dán tới những thay đổi thật vĩ đại.
Như chúng ta sẽ thấy trong những trang sau, lịch sử của sự phát triển của những nền văn minh rất huy hoàng cũng khởi đầu bằng những sự kiện rất t́nh cờ.
Đoạn này là một dẫn nhập có mục đích chuẩn bị tinh thần cho một cuộc thảo luận chi tiết về hiện tượng phát triển, đặc biệt là phát triển kinh tế, ở nhưng trang sau. Nhưng ngay bây giờ ta có thể làm một con tính nhẩm. Loài người xuất hiện cách đây ba triệu năm, nền văn minh công nghiệp mới xuất hiện từ khoảng 300 năm nay tại một vài nước. Như vậy nếu đem so sánh cả quá tŕnh tiến triển ba triệu năm của loài người với một năm th́ hiện tượng phát triển chỉ mới bắt đầu vào hỏi 23 giờ 59 phút ngày 31tháng 12, phút cuối cùng của năm.
Phát triển như vậy là một hiện tượng rất mới và cũng chỉ giới hạn trong một sổ quốc gia nhỏ do một vài yếu tố mà dân tộc Việt nam, cũng như mọi dân tộc c̣n lạc hậu và đang ao ước phát triển, cần nh́n rơ để chụp bắt.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Mười triệu năm đánh đu 2

 

Ngày nay khi nói loài người từ giống khỉ mà ra chúng ta không c̣n xúc phạm tới tín ngưỡng nào cả. Sự kiện này đă được chứng minh rơ ràng tới mức không ai có thể phủ nhận. Các tôn giáo tin ở một thượng đế tạo ra trời đất và con người, hay tin ở một ṿng luân hồi huyền bí, không c̣n phản bác lập luận loài người từ giống khỉ mà ra nữa mà chỉ cố thuyết phục để các tín đồ hiểu kinh sách một cách tượng trưng thay v́ một cách từ chương. Dầu sao đi nữa th́ chính sự tiến hóa từ loài khỉ lên loài người cũng là một phép màu mở cửa cho mọi suy luận.
Một cách thực tiễn chúng ta có thể coi thủy tổ của loài người là con khỉ đầu tiên (đúng hơn phải gọi là cụ khỉ đầu tiên) nghĩ ra việc đập hai ḥn đá vào nhau để đẽo thành dụng cụ. Cử động này đă khai sinh ra loài người bởi v́ chính vào giây phút đó con khỉ đó biến thành người và dần dần giúp những con khỉ chung quanh thành nhưng con người đầu tiên.
Từ đó loài người đă bước nhiều bước tiến vĩ đại, đă biết dùng lửa, biết chăn nuôi, trồng trọt, đắp đê ngăn nước, chế tạo vật dụng bằng kim loại, khám phá ra bánh xe, thuyền bè, đặc biệt là biết phát minh và sử dụng ngôn ngữ để trao đổi. Những khám phá đó đă cải thiện một cách trọng đại đời sống con người và đă giúp cho tổ chức của xă hội con người dần dần h́nh thành. Nhưng đó không phải là những tiến bộ có chủ ư. Đó chỉ là một sự gặp gơ t́nh cờ giữa một trí tuệ sơ sinh và cuộc sống hằng ngày. Một hiện tượng tự nhiên - lửa cháy do sấm sét, những trái cây tṛn lăn trên mặt đất, những thân cây nổi trên sông, v.v... rồi một lúc nào đó một ánh sáng vụt lóe lên trong đầu óc đơn sơ, con người biết lặp lại điều ḿnh đă thấy nhiều lần và đem ứng dụng cho cuộc sống.
Đó là giai đoạn mà trí tuệ mộc mạc chưa ư thức được sự hiện hữu của chính ḿnh. Những tiến bộ, v́ là sự gặp gỡ t́nh cờ và mầu nhiệm của rất nhiều yếu tố, đă chỉ đến một cách vô cùng chậm chạp. Thí dụ, từ ngày mà vị thủy tổ của loài người xuất hiện, loài người đă phải chờ đợi gần hai triệu năm mới t́m ra lửa. Nhờ biết dùng lửa để sưởi ấm loài người mới dám rời bỏ châu Phi nóng ấm để lấn tràn qua châu á và châu Âu. Con người đă săn thú và lượm trái cây ăn ngay từ khi chưa thành con người nhưng phải đợi măi đến cách đây khoảng 20.000 năm mới bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt. Ta có thể coi giai đoạn đầu tiên của loài người như là một bóng đêm mênh mông và dày đặc, con người sờ soạng tiến tới có khi rơi vào vực thẳm, có khi đụng đầu vào đá, nhiều khi di giật lùi. Phải sau ba triệu năm người bộ hành mỏng manh nhưng ngoan cố đó mới may mắn t́m được vùng có ánh sáng. Đó thực sự là một phép mầu không ai giải thích nỗi. Nếu bảo đó là mầu nhiệm của tạo hóa th́ cũng không phải là không có lư do. Giai đoạn đầu tiên này thực ra đă kéo dài quá 99% lịch sử loài người. Chỉnh nhờ chăn nuôi và trồng trọt mà xă hội loài người đă thay đổi lớn về mặt tổ chức và các tiến bộ đă đến với một nhịp độ hơn hẳn. Lần này trí tuệ ư thức được ḿnh, con người suy nghĩ và biết ḿnh suy nghĩ, con người động năo t́m cách chinh phục thiên nhiên, cải thiện đời sống của ḿnh và cải thiện liên hệ giữa các thành phần trong xă hội một cách có chủ ư. Trong giai đoạn thứ hai này, loài người đă phát minh ra các mô h́nh tổ chức xă hội và cũng đă đặt những viên đá đầu tiên cho hầu hết các bộ môn của kiến thức: triết học, chính trị học, vật lư, toán, cỏ khí, y khoa, kinh tế, luật pháp, v.v...
Những xă hội xuất hiện đầu tiên lẽ dĩ nhiên đều là những xă hội nông nghiệp với những đặc tính khác nhau theo môi trường thiên nhiên. Tuy nhiên với thời gian hai kiểu mẫu xă hội chính đă trở thành áp đảo.
Kiểu mẫu thứ nhất là một xă hội tản canh dành một trọng lượng đáng kể cho chăn nuôi và ngư nghiệp, và trong đó việc trồng trọt không tập trung vào một loại cây lương thực. Các xă hội này, h́nh thành tại châu Âu, đă rất chật vật lúc ban đầu, nghĩa là trong gần hết ḍng lịch sử kể từ ngày thành h́nh. Dân số không tăng trưởng mạnh v́ luôn luôn thiếu thực phẩm. (Châu Âu đă chỉ tạm giải quyết được nạn đói từ thế kỷ 17 nhờ cây ngô đem từ châu Mỹ về) chính sự sống c̣n cũng là một công tŕnh phấn đấu thường ngày để cải thiện kỹ thuật nuôi trồng và trao đổi các hàng hóa giữa các cụm sản xuất nhỏ và đa dạng. Các xă hội đa dạng này không khuyến khích sự ra đời của những cơ cấu quyền lực lớn, trái lại thuận lợi cho tự do cá nhân và sự tồn tại của những cộng đồng nhỏ trong đó bạo lực và sự khống chế không phải là nét đậm nhất, bởi v́ bạo lực chủ yếu là sản phẩm của sự bất lực trong việc điều hành đúng đắn một tập thể lớn. Sau buổi đầu chật vật, chính mô h́nh này đă vươn lên chinh phục và chế ngự toàn thế giới và thúc đẫy thế giới đi những bước thực nhanh chóng.
Kiểu mấu thứ hai là các xă hội phù sa tại châu á và Trung Đông, thành lập trên lưu vực những con sông lớn, nặng về trồng ngũ cốc. Các xă hội này sống nhờ ḍng sông và lệ thuộc ḍng sông. Ḍng sông trước hết đem lại hoa màu - lúa gạo và tôm cá - dồi dào. Chính nhờ thế mà các xă hội phù sa đă mau chóng đạt tới mức độ tạm đủ về thực phẩm và vượt hẳn các xă hội thuộc kiểu mẫu thứ nhất về mọi mặt. Ngày nay không thiếu những người Trung Đông nhắc lại rằng khi thành phố Babylone rực ánh sáng với những lâu đài nguy nga th́ toàn châu Âu vẫn c̣n ch́m đắm trong sự man mọi. Cũng không thiếu người châu á nhắc lại rằng người Trung Hoa đă biết xem thiên văn và làm ra lịch từ rất lâu trước khi người châu Âu khám phá chữ viết.
Nhưng nếu ḍng sông đem lại hoa màu và sự sống th́ nó cũng thường xuyên để dọa cuốn đi cả hoa màu lẫn cuộc sống. Con người phải thường xuyên đắp đê ngăn nước lũ; công tŕnh này đ̣i hỏi những cố gắng rất to lớn của toàn thể xă hội, nếu cần nó đ̣i hỏi hy sinh cả một phần của cộng đồng để cuộc sống có thể tiếp tục với phần c̣n lại. Các xă hội phù sa cần một bạo quyền để áp đặt những hy sinh rất phi thường. Dần dần nền tảng của các xă hội này chính là một khế ước bạo quyền, trong đó một bạo chúa có nhiệm vụ áp đặt những hy sinh mà quần chúng phải phục tùng một cách không bàn căi. Đó là cái giá phải trả để xă hội có thể tiếp tục. Bạo quyền được chính đáng hóa. Những người bị hy sinh có thể nguyền rủa bạo chúa nhưng con cháu họ sẽ cảm ơn bạo chúa. Dần dần chính những người bị hy sinh cũng không c̣n nguyền rủa bạo chúa nữa, họ chấp nhận cái chết như một định mệnh. Bạo quân được b́nh thường hóa.
Cũng tương tự như ḍng nước, các bạo quân một mặt bảo đảm sự tồn tại của các xă hội phù sa, một mặt tiêu diệt tự do và sáng kiến và trói buộc chúng tại chỗ. Các xă hội phù sa tiến rất mau chóng đến một mức độ văn minh khá cao, rồi đứng lại ở đó. Chúng gần như trưởng thành ngay sau khi thành h́nh rồi không tiến hóa nữa.
Trước khi thảo luận thêm về hai kiểu mẫu xă hội chính này, xin mở một dấu ngoặc để nói về một vài kiều mẫu xă hội khác. Trên bờ Địa Trung Hải, tại thành phố Tyr và vùng phụ cận thuộc nước Lebanon hiện nay, một sắc dân đă t́m ra một nếp sống độc đáo ngay từ hơn sáu ngàn năm về trước: đó là nền văn minh hàng hải và thương mại. Trái với cuộc sống trên trái đất, nếp sống này đ̣i hỏi một sự can đảm rất lớn, có thể là quá lớn đối với những con người c̣n chưa nắm được hết những bí mật của thiên nhiên. Giữa trời nước và sóng gió, con người chỉ c̣n trông cậy vào sự khôn ngoan và liều lĩnh của chính ḿnh. Sắc dân Phénicien này đă là nhưng con người đầu tiên dám chinh phục biển cả. Để h́nh dung sự dũng cảm của họ nên nhận định cách ứng xử của người á Đông, nhất là Việt nam, trong nhiều ngàn năm đă đứng bên bờ biển nh́n Thái B́nh Dương với con mắt kính sợ. Nhưng người Phénicien không phải chỉ phát minh ra ngành hàng hải, họ c̣n phát minh ra cả sự buôn bán, yếu tố cốt lơi của giàn mạnh. Chính nhờ sự khôn ngoan và liều lĩnh của kẻ đi biển và buôn bán mà sắc dân Phénicien ít ỏi đă mau chóng chế ngự được cả vùng Địa Trung Hải. Nhưng có lẽ v́ những cố gắng đă quá lớn đối với họ mà người Phénicien đă gục ngă. Họ đă dám chinh phục biển cả nhưng sự liều lĩnh trong bất trắc và bao la đă khiến họ thờ nhiều thần linh, trong đó có thần Baal-Hammon, vị thần độc hại nhất đă đưa họ tới tiêu diệt. Mỗi gia đ́nh phải đem chặt đầu để cúng cho Hammon đứa con trai đầu tiên vừa đủ 12 tuổi để đền đáp lại những chiến thắng và ân huệ của Hammon. Những hy sinh gớm ghiếc cho thần Hammon dần dần khiến họ thiếu chiến sĩ trong khi niềm tin ở thần Hammon lại thường thôi thúc họ gây chiến. Cuối cùng họ bị người La Mă tiêu diệt sau khi đă hấp thụ được những kiến thức hàng hải của họ.
Trên các cao nguyên hoang vu tại miền Bắc châu á, Mông Cổ và Tân Cương, đă h́nh thành những xă hội du mục dựa trên bộ tộc, bạo lực và đẳng cấp. Các xă hội này đă phát triển khá mạnh dưới thời Trung Cỗ nhưng ngày nay kiều mẫu xă hội này kể như đă bị tiêu diệt. Có thể nói khẩu súng mà người phương Tây chế tạo ra đă ban chết nền văn minh cao nguyên này. Khẩu súng của người phương Tây và nhất là những con vi trùng mà họ đem tới cũng đă tiêu diệt những nền văn minh gần giống như nền văn minh này tại châu Mỹ, từ thế kỷ 16.
Ngoại trừ năm nước da trắng ở phía Bắc, lục địa châu Phi, cái nôi của nhân loại, đă lạc vào một lối đi hoàn toàn khác, đó là phủ nhận mọi t́nh cảm có thể có giữa người với người. Các bộ lạc hoàn toàn được xây dựng trên huyết thống. Chế độ nô lệ ra đời cùng với trí thông minh và khiến trí thông minh không phát triển được. Ngoài quan hệ huyết thống, liên hệ giữa các cá nhân và các bộ lạc hoàn toàn dựa trên sức mạnh. Những nô lệ bị đánh đập, giết bỏ, mua bán, và sau này xuất nhập cảng như thể vật và đồ vật. Lục địa châu Phi hoặc không có khái niệm về giống người hoặc không cho khái niệm này một tầm quan trọng nào. Chính v́ thế mà châu Phi đă dừng lại ở sự dă man. Nếu cố dịp tôi sẽ c̣n trở lại vấn đề châu Phi trong phần sau của cuốn sách này. Nhưng ở đây ta có thể tạm rút ra một quan sát: các xă hội dành cho cá nhân sự kính trọng lớn nhất cũng là những xă hội dễ tiến lên nhất. Châu Phi đă khinh miệt con người một cách tuyệt đối nên châu Phi cũng lạc hậu một cách tuyệt đối. Trước khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, khó có thể nói lục địa châu Phi Da Đen có một nền văn minh.
Trở lại với hai kiểu mẫu xă hội chính, ta có thể nói trong gần như cùng một thời điểm, hai nền văn minh Đông và Tây đă đạt tới cao điểm tương đương, châu Âu với Hy Lạp, châu á với Trung Quốc của thời Xuân Thu. Cùng một tŕnh độ nhưng hai hướng đi khác nhau. Phương Tây đă ṃ mẫm theo hướng tự do, mạo hiểm và sáng kiến trong khi phương Đông lạc vào ngơ cụt của tự măn và thủ cựu. Nền văn minh Hy Lạp là một điểm khởi hành trong khi nền văn minh Thương Chu là một điểm tận cùng. Sau gần hai ngàn năm, từ thế kỷ 15 trở đi, tuy tương quan lực lượng không thay đổi nhưng phương Tây t́m thấy hướng đi đến nền văn minh hiện đại trong khi phương Đông vẫn chỉ nh́n thấy chỗ ngồi cũ. Phương Tây bắt đầu chuyển động và bỏ xa phương Đông.
Tôi xin lỗi đă làm mất th́ giờ của độc giả qua một tóm lược thô vụng về lịch sử loài người, một điều mà một lần nữa tôi xin nhắc lại là tôi không có kiến thức nào đáng nói. Mục đích của phần trên chỉ là để độc giả ghi nhận hai điều.
Một là, cho đến một ngày rất gần đây, nghĩa là trong hầu như tất cả lịch sử của thể giới, tất cả mọi tiến bộ đều đă đến một cách rất t́nh cờ. Do một sự t́nh cờ mà bàn tay một vài giống khỉ đầu tiên đă biến đổi, do một sự t́nh cờ mà một con khỉ đầu tiên đă đẽo đá thành dụng cụ; do t́nh cờ mà có lửa, có các nghề chăn nuôi, trồng trọt, có thuyền bè. Cũng do sự t́nh cờ của điều kiện thiên nhiên mà các xă hội phù sa đă chọn sự bất động trong khi các xă hội châu Âu đă được xô đẩy tới hướng đi của tự do và tiến bộ. Chúng ta có thể lấy làm tiếc cho nguồn gốc của chúng ta nhưng không có lư do ǵ để phải hổ thẹn. Mặt khác cũng không có lư do ǵ để cảm thấy có bổn phận phải gắn bó với truyền thống. Truyền thống chỉ là kết quả t́nh cờ của những sờ soạng trong bóng đêm dày đặc. Người phương Tây cũng sờ soạng trong bóng đêm như chúng ta; họ chỉ đă may mắn mà t́m được lối thoái ra ánh sáng. Chính từ lúc này, khi mọi dân tộc đă có thể nh́n ra con đường phải đi, sự vinh nhục mới đặt ra. Cái vinh là ở chỗ nh́n thấy, cái nhục là ở chỗ không nh́n thấy hay nh́n thấy mà không dám đi vào. Các dân tộc thông minh là các dân tộc biết mau chóng nh́n ra và bước lên lối đi của tiến bộ. Các dân tộc đần độn là các dân tộc tự bịt mắt để ngoan cố trong bế tắc. Hai là, những hơn kém giữa phương Tây và phần c̣n lại của thế giới chỉ là một hiện tượng rất gần đây thôi, khoảng ba, bốn trăm năm vừa qua. Ba trăm năm trong ba triệu năm chỉ là một vài giây trong một ngày. Nếu có đôi khi chúng ta cảm thấy tủi nhục th́ chúng ta cũng nên tự an ủi rằng đó chỉ là một hiện tượng nhất thời và có thể chấm dứt rất mau chóng. Nhật Bản đă cho chúng ta một bằng cớ.
Tôi xin phép được nhấn mạnh: kinh nghiệm sống, học hỏi và làm việc với người phương Tây đă cho tôi tin chắc chắn là con người phương Tây không hơn con người phương Đông. Sở dĩ các nước phương Tây phát triển và giàu mạnh hơn các nước khác là v́ xă hội của họ được xây đựng trên những giá trị đúng mà họ t́nh cờ được đẩy tới gần và sau đó nhờ cố gắng mà đạt tới. Họ đă t́m ra lối đi ra khỏi sự nghèo khó và dẫn tới sự phồn vinh, tại sao chúng ta không nhanh chóng chọn lựa lối đi đó?
Cần chấm dứt một kịch bản đă lặp lại quá nhiều lần và trở thành nhàm chán: phương Tây đi trước, phương Đông chạy theo sau và làm những cố gắng phi thường để bắt kịp. Đến khi phương Đông tưởng sắp qua mặt được phương Tây th́ phương Tây lại t́m ra một khám phá mới, lao vút về phía trước và bỏ phương Đông lại đàng sau. Cứ như thế mà tiếp diễn. Lần duy nhất mà phương Đông tưởng rằng ḿnh đă đi trước phương Tây là khi một số nước phương Đông đi theo chủ nghĩa cộng sản, tưởng rằng ḿnh đă t́m ra cách tổ chức xă hội tương lai của nhân loại để rồi vỡ mộng nhận ra rằng đó chỉ là một ảo tưởng đẫm máu. Lư do của sự thua kém dai dẳng này là một khác biệt về văn hóa. Văn hóa phương Tây tôn trọng cá nhân và do đó phát triển được tối đa ư kiến và sáng kiến, trong khi các văn hóa phương Đông đều coi thường con người và làm thui chột trí tuệ. Điều mà phương Đông phải học hỏi trước hết của phương Tây lại là điều họ cố phủ nhận: chủ nghĩa cá nhân tự do.
Vả lại mọi thái độ thủ cựu xét cho cùng đều ngây ngô. Tiến bộ là ǵ nếu không phải là sự từ bỏ không ngừng nếp sống cũ và khám phá không ngừng những nẻo đường mới? Nếu những người tiền sử cùng khư khư giữ nguyên văn hóa của họ chắc chắn ngày nay loài người vẫn chỉ là những bộ lạc ăn thịt lẫn nhau.
Nhân nói chuyện ăn thịt người, cách đây không lâu lắm, vào cuối tháng 11- 1998, tôi được xem một phim tài liệu về một ḥn đảo trong quần đảo Nam Dương (Indonesia). Trên đảo có một số bộ lạc làm nhà trên cây và ăn thịt người. Ngày nay họ đă khá tiến bộ, đă biết mặc quần áo của các tổ chức từ thiện cấp cho nhưng vẫn c̣n giao chiến giữa các bộ lạc và ăn thịt tù binh. Viên lănh chúa bộ lạc giải thích việc ăn thịt tù binh là chính đáng, bởi v́ nó thể hiện ư chí tiêu diệt tội ác và các tù binh là biểu tượng của tội ác. Viên lănh chúa này chắc chắn coi việc ăn thịt người là một văn hóa cần phải ǵn giữ. Cũng như các dân tộc thuộc văn minh Trung Hoa coi cái ách tam ṭng quàng lên đầu phụ nữ là một truyền thống tốt đẹp.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Cái tuổi dại khờ

 

Tuổi hai mươí tuổi của không ngờ
Tuổi hai mươi tuổi của dại khờ
Nguyễn Chí Thiện
Trong thập niên 1960, tại châu Âu, và nhất là lại Pháp, nở rộ lên một phong trào nghiên cứu phát triển kinh tế. Có cả một trường đại học chỉ chuyên giảng dạy về phát triển kinh tế, như thể phát triển kinh tế phải được coi là một khoa học riêng. Trường này tên là Institut detudes de Développement Economique ét Social (IEDE hay Viện Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế và Xă Hội). Nhiều bạn tôi đă tốt nghiệp tại trường này. Nhưng dù học trường này hay không th́ mọi người đều bị lôi cuốn vào các cuộc tranh luận về phát triển kinh tế. Thời trang lúc đó là cố gắng động năo để t́m ra nhưng kế hoạch và mô thức kinh tế có khả năng phát triển một nước lạc hậu. Các mô thức được đặc biệt quí trọng, nhất là nếu chúng lại được tŕnh bày bằng những phương tŕnh toán học phức tạp với những dấu hiệu dẫy số, vi phân, tích phân, luỹ thừa, v.v... Vô số các mô thức đă được phát minh ra trong các quán cà phê Paris bởi những ứng cử viên giải Nobel kinh tế không qua bất cứ một kinh nghiệm thực tiễn nào. Kinh nghiệm lúc đó gần như bị phủ nhận, v́ một lư do rất hùng hồn là người ta coi những ǵ học hỏi được trong các nước tư bản là không thể áp dụng cho các nước chưa mở mang. Hầu hết các nước châu Phi và châu Mỹ La Tinh đă là những nạn nhân đau đớn của những lư thuyết thành h́nh trong giai đoạn này. Đặc biệt nước Algeria đă tiêu hao hết cả tài nguyên về dầu khí cho hai lư thuyết thời thượng của giai đoạn đó: thuyết lệ thuộc và thuyết các kỹ nghệ kỹ nghệ hóa.
Như mọi thanh niên có chút tâm huyết, tôi cũng đă tốn nhiều th́ giờ và công sức cho những lư thuyết đó, để rồi nhận ra sự trống rỗng của chúng và sự khờ khạo của chính ḿnh. Than ôi, cái tuổi đại khờ! Những mô thức phát triển kinh tế có thể rất khác nhau về góc nh́n, về lư luận, về các thông số và phương tŕnh, nhưng chúng đều có một đặc điểm chung: chúng đều sai.
Lư do đầu tiên là không thể có công thức giải quyết được sự nghèo khổ. Vấn đề chỉ giản dị như vậy thôi sao? Làm sao có thể coi những sự kiện thực tế như là những thông số của toán học? Mô thức toán học nào hội nhập được những đức tính như chuyên cần hay lười biếng, thực thà hay gian dối, trách nhiệm hay phá hoại? Và c̣n vấn đề tham nhũng? Dĩ nhiên các lư thuyết gia về phát triển không giải đáp được những câu hỏi đó và tác phẩm của họ nói chung, thay v́ là những lư thuyết về phát triển phần lớn chỉ là những phân tích hiện tượng không phát triển, kèm theo những cáo trạng gay gắt đói với các nước tư bản phát triển và các công ty đa quốc gia bị coi như là nguyên nhân của sự nghèo khổ tại các nước chưa phát triển. Lư thuyết thực dân mới được ra đời trong giai đoạn này. Nó có thể tóm tắt như sau: các nước tư bản sau khi đă thấy chính sách chiếm đóng và thống trị không áp dụng được nữa bèn chuyển qua ư đồ thống trị kinh tế, dùng viện trợ và các công ty đa quốc gia làm vũ khí. Tinh thần chủ đạo của nó là các nước tư bản và phát triển có dụng ư ác độc muốn giữ các nước chưa mở mang trong t́nh trạng lạc hậu để có thể tiếp tục thống trị. Các lư thuyết gia cố quên đi là sự nghèo khổ đă có từ muôn kiếp trước và chính nhờ tiếp xúc với các nước phát triển mà các nước lạc hậu đă bớt lạc hậu.
Lư do thứ hai, trầm trọng hơn nhiều, là họ đă nhầm đối tượng nghiên cứu. Điều cần phân tích và nhận định là hiện tượng phát triển chứ không phải là hiện tượng không phát triển, bởi v́ không phát triển là t́nh trạng chung của cả thế giới từ hồi khai thiên lập địa đến giờ, có ǵ là lạ đâu. Phát triển trên qui mô quốc gia là một hiện tượng rất mới và cũng chỉ giới hạn ở một số rất ít quốc gia mà thôi. Nó xuất hiện tại nước Ḥa Lan nhỏ xíu khoảng hơn 400 năm về trước, rồi non một thế kỷ sau đó tại Anh và Hoa Kỳ, các nước Tây Âu khác đă chỉ biết đến hiện tượng phát triển sau đó. Nhiều cụ già người Pháp vẫn c̣n nhớ rất rơ những ngày đói lạnh. Các thống kê cho thấy cho đến cuối thế kỷ trước, quá phân nửa trẻ em các nước Tây Âu chết trước tuổi dậy th́. Các nước tiến bộ nhất cũng chỉ mới thực sự khắc phục được sự đói khổ khoảng chừng một thế kỷ nay thôi, trong khi đối với ba phần tư của nhân loại đói khổ vẫn c̣n là người đồng hành cổ hưu. Điều lạ chính là hiện tượng phát triển. Tại sao một số quốc gia bỗng dưng trở thành giàu có và phồn vinh, vượt hẳn phần c̣n lại của thế giới? Đó mới là câu hỏi đáng đặt ra và cần phải trả lời.
Các lư thuyết gia về phát triển khi tập trung phân tích hiện tượng không phát triển không những chỉ làm đối tượng mà c̣n sai về phương pháp: có rất nhiều lư do để không phát triển, nhưng chỉ có rất ít lư do để có phát triển, cũng như có muôn vàn cách để giải sai một bài toán nhưng thường th́ chỉ có một cách để giải đúng, và chính cách đó mới cần khám phá. Điều rất đáng ngạc nhiên, và phải được coi là một may mắn lớn, là ở tất cả mọi nơi hiện tượng phát triển luôn luôn có cùng một giải thích. Cuộc phiêu du trí tuệ của thập niên 1960 đă sản xuất ra vô số lư thuyết về phát triển mà tôi xin tóm lược sau đây một vài mẫu hàng chính và đă có hậu quả đáng kể c̣n sót lại trong trí nhớ để độc giả tiêu khiển.
Lư thuyết lệ thuộc (théorie de la dépendance), theo đó các nước tư bản tiên tiến chỉ chuyển giao cho các nước chưa mở mang những kỹ thuật sơ đẳng, thuộc khâu dưới. Các trung tâm nghiên cứu vẫn nằm tại mẫu quốc, các kỹ thuật hiện đại nhất cũng chỉ được áp dụng tại mẫu quốc, các chi nhánh tại các nước lạc hậu chỉ làm công việc ít giá trị thặng dư như chùi bóng, lắp rắp, đóng thùng, v v.. Hậu quả là họ bị kiềm giữ trong thế lệ thuộc thường trực. Đây là cả một phương thức phân công lao động quốc tế trong đó các quốc gia chưa mở mang hy sinh thị trường tiêu thụ của chính ḿnh để chỉ được trao những công tác thấp kém. Lư thuyết này quên hẳn rằng các công ty đa quốc gia không có tổ quốc mà chỉ có lợi nhuận. Một công ty Mỹ sẽ quyết định đầu tư tại Bombay thay v́ Detroit nếu đầu tư tại Bom bay đem lại một lợi nhuận 1% cao hơn mà cũng không rủi ro hơn. Họ thiết lập những nhà máy tân tiến ở một nước không phải v́ đó là nước họ hay nước có cùng chủng tộc và văn hóa với họ mà chỉ v́ ở đó có nhân công giỏi và giá rẻ, thuế nhẹ và xă hội ổn vững, nói chung là có lợi nhuận cao và rủi ro thấp. Các lư thuyết gia cũng quên rằng điều mà các nước thiếu mở mang cần học nhất không phải là kỹ thuật mà là tâm lư, tổ chức và phương pháp làm việc, những điều mà chính sự tiếp xúc với các công ty lớn có thể đem lại. Lư thuyết ngây ngô này sở dĩ rất thời thượng trong thập niên 1960 v́ nó chống tư bản, đặc biệt là chống Mỹ, và do đó phù hợp với tâm lư khuynh tả của đa số trí thức lúc đó.
Lư thuyết các kỹ nghệ kỹ nghệ hóa (théorie des industries industrialisantes), theo đó các đầu tư không có tác dụng kích thích phát triển như nhau. Cùng một khoản tiền đầu tư vào hai ngành khác nhau sẽ có hậu quả khác nhau trên sinh hoạt kinh tế. Có những ngành trong khi phát triển cũng kích thích sự phát triển của nhiều ngành khác, nói khác đi chúng có tác dụng kỹ nghệ hóa. Ngược lại cũng có những đầu tư không có, hoặc chỉ có rất ít, tác dụng thúc đẩy đối với các hoạt động kinh tế khác. Do đó, theo lư thuyết này, các nước thiếu mở mang nên tập trung cố gắng vào những kỹ nghệ có tác đụng kỹ nghệ hóa mạnh. Đây là một thí dụ điển h́nh của một quan sát dúng dẫn tới một kết luận sai, tương tự như thấy người đeo kính đọc sách rồi kết luận đeo kính có lợi cho sự đọc sách. Lư thuyết này có ít nhất hai sai lầm. Sai lầm thứ nhất là nó quên rằng người đầu tư, dù là người bản xứ hay người ngoại quốc, phải đầu tư để có lợi nhuận chứ không đầu tư v́ nhà máy lập ra có tác dụng kỹ nghệ hoá. Đó là công việc của nhà nước. Nhưng nhà nước cũng phải đầu tư làm sao cho có lợi nhuận, nếu không sẽ phải tài trợ bằng ngân sách và như thế vừa phải đánh thuế nặng hơn đối với các hoạt động khác vừa phải giảm bớt những chi tiêu tối cần thiết như giáo dục và sức khỏe. Sai lầm thứ hai, ngớ ngẩn hơn nhiều và rất tai hại, là cho rằng kỹ nghệ nặng mới là kỹ nghệ kỹ nghệ hóa, trong khi thực tế trái~ ngược hẳn, kỳ nghệ tiêu dùng thúc dẩy kỹ nghệ nặng chứ không phải kỹ nghệ nặng thúc đẩy kỹ nghệ nhẹ. Nhu cầu sản xuất vật dụng bằng sắt thép đẻ ra nhu cầu có nhà máy luyện kim, chứ không phải kỹ nghệ luyện kim đẻ ra nhu cầu sản xuất vật dụng bằng sắt thép. Lư thuyết này là một phó sản của lư thuyết lệ thuộc.
Lư thuyết về sự trật khớp (théorie de la désarticulation), theo đó các công ly nước ngoài gây xáo trộn trong các xă hội truyền thống v́ nó tạo ra một lớp người mới, làm việc cho các công ty nước ngoài, hưởng mức lương cao hơn, có nếp sống khác, văn hóa cao và cách suy nghĩ khác, hậu quả là làm mất đi sự đồng bộ trong xă hội, mặt khác chúng cũng làm gia tăng hố phân cách giàu nghèo và gây căng thẳng trong xă hội. Đây cũng là một lư thuyết cực kỳ ngớ ngẩn bởi v́ phúc lợi lớn nhất của sự tiếp xúc với các nước tân tiến chính là bẻ găy cái sự đồng bộ đă là nguyên nhân của sự lạc hậu và đem lại một văn hóa mới, một cách suy nghĩ mới, một cách làm việc mới. Chác chắn là có sự xáo trộn, nhưng đây là một xáo trộn phải có và có ích. Vấn đề là phải quản lư sự xáo trộn đó, làm sao cho cách suy nghĩ và làm việc mới được phổ biến nhanh chóng để xă hội thay da đổi thịt, chứ không phải là để ngăn chặn.
Lư thuyết về các mô h́nh hướng nội và hưóng ngoại (modèles endogènes ét modèles exogènes), theo đó có hai công thức chính để phát triển, một là cố gắng sản xuất ra những hàng hóa để thay thế hàng nhập cảng (substitutions des importations) theo mô h́nh hướng nội, hai là dồn hết sức để xuất cảng thật nhiều theo mô h́nh hướng ngoại. Rất ít nhà lư thuyết nào đặt vấn đề lợi nhuận (sản xuất hàng thay thế hàng nhập cảng có tốn kém hơn nhập cảng hay không? xuất cảng lời hay lỗ? v.v...). Khi có đặt ra vấn đề lợi nhuận th́ các lư thuyết gia lại hoàn toàn đồng ư là phải chịu lỗ trong giai đoạn đầu, nhưng không nói giai đoạn đầu có thể kéo dài bao lâu và một nước nghèo khổ có thể tiếp tục chịu đựng măi sự thua lỗ này mà không sụp đổ hay không. Lư thuyết này quả là sản phẩm của các lư thuyết gia cố t́m khoái lạc trong việc xây dựng ra những lư thuyết phù phiếm rồi cố gượng ép chúng vào thực tại. Cứ như là một nhà nước không mất trí có thể nhân danh chủ trương hướng nội để cấm cản một hoạt động xuất nhập cảng đang phồn thịnh, hay ngược lại nhân danh mô h́nh hướng ngoại để trù dập một sinh hoạt nội địa cần thiết
Điều lạ lùng nhưng có thật là lư thuyết này đă được đem thử nghiệm. Lư do là chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản đă đưa rất nhiều phần tử vô học lên cầm quyền. Nói chung tất cả nhưng lư thuyết này đều có cùng ba đặc tính: hoàn toàn không kể đến vai tṛ của thị trường, coi phát triển kinh tế chủ yếu là một vấn đề kỹ thuật có thể giải quyết được bằng một kế hoạch, và đề cao vai tṛ quyết định gần như duy nhất của chính quyền. Các trở ngại về tâm lư và văn hóa chỉ được đề cập đến một cách qua loa, có lệ. Những lư thuyết này đă cổ vơ cho các chế độ độc tài duy ư chí và đưa tới sự phá sản của đại đa số các nước cộng sản châu Phi và châu Mỹ La Tinh.
Điều đáng ngạc nhiên của giai đoạn này là các nước châu á không cộng sản đă không bị ảnh hưởng của những lư luận này, nhất là đă không bị ảnh hưởng tai hại của lư thuyết lệ thuộc. Họ đă nồng nhiệt tranh thủ đầu tư quốc tế và đă bắt chước một cách giản dị cách làm việc của các nước đă phát triển. Họ cũng cố gắng xuất cảng thật nhiều nhưng không phải là v́ họ chọn mô h́nh phát triển hướng ngoại mà chỉ v́ xuất cảng có lời và họ cũng cần ngoại tệ để nhập cảng nguyên liệu và trang thiết bị. Họ sản xuất tất cả những ǵ có lợi dù là để xuất cảng hay để tiêu thụ trong thị trường nội dịa. Nhờ thế họ đă không bị phá sản trong thập niên 1970 như các nước chậm tiến khác, không những thế họ c̣n tiến lên cho đến mùa hè 1997, khi lâm vào khủng hoảng v́ tham nhũng chồng chất, vay nợ bừa băi và đầu cơ điên đại vào nhà đất.
Ngày nay trường IEDES không c̣n nữa, môn phát triển kinh tế cũng không c̣n được giảng dạy như một bộ môn riêng nữa. Người ta trở lại với những nhận định mà các nhà nghiên cứu đứng đắn đă nói từ rất lâu: phát triển không phải là một vấn đề kinh tế mà là một vấn đề văn hóa xă hội.
V́ đâu đă có phát triển?
Rất may là sự quan sát các nước đă cất cánh bay bỗng từ lạc hậu tới phồn vinh cho phép chúng ta rút ra những kết luận rất rơ rệt, rơ rệt đến nỗi phải ngạc nhiên là tại sao người ta đă không nhận ra ngay lập tức. Tôi sẽ mời độc giả cùng quan sát những kinh nghiệm phát triển đầu tiên và những nước mới phát triển gần đây. ở đây xin hăy tạm nói một cách cô đọng, các độc giả c̣n phân vân sẽ nh́n rơ hơn khi đọc tiếp những trang sau.
Phát triển đă nảy sinh tại một số quốc gia khi, do một sự tinh cờ của hoàn cảnh lịch sử, bộ máy chính quyền trở thành vắng mặt hay gần như vắng mặt, quần chúng được một không gian tự do hơn hẳn và v́ thế đă tổ chức cuộc sống cộng đồng trên căn bản đồng thuận và tương kính. Hoặc v́ không muốn hoặc v́ không được phép, họ đă không t́m kiếm uy quyền để khống chế lẫn nhau mà chỉ thi đua nhau làm giàu trong một luật chơi công b́nh.
Nhận xét này đúng với Ḥa Lan, cái nôi phát triển của nhân loại, đúng với nước Anh, càng đúng với nước Mỹ và cũng đúng cả với nước Nhật, nếu ta nh́n lịch sử nước Nhật một cách đúng đắn. Phát triển đă đến sau khi xă hội trở thành tự do và dân chủ. Ngày nay chúng ta có thể liệt kê những yếu tố cần thiết cho phát triển:
- một chế độ tự do, dân chủ và đa nguyên;
- một nhà nước nhẹ nhường không gian tối đa cho xă hội dân sự, cho ư kiến và sáng kiến cá nhân,
- một sinh hoạt kinh tế thị trường bảo đảm cạnh tranh công bằng;
- một xă hội tinh động và b́nh đẳng, không bị trói buộc bởi những thành kiến, không bị ngăn cách bởi những giai cấp hay những đại gia đ́nh;
- một tâm lư tôn vinh kinh doanh và buôn bán;
- một tinh thần quốc gia (hay cộng đồng) mạnh;
- một xă hội trong đó thông tin được tự do, các kinh nghiệm và kiến thức được truyền bá nhanh chóng và dễ dàng.
Tất cả đều là những yếu tố vô h́nh. Tư bản và nguyên liệu chỉ là những yếu tố phụ.
Nói chung, phát triển là một vấn đề tâm lư và văn hóa. Có những tâm lư kích thích phát triển và cũng có những tâm lư ngăn cản phát triển. Có những nền văn hóa có lợi cho phát triển và cũng có những nền văn hóa cấm cản sự phát triển. Chính v́ thế mà một nước không phát triển không giống như một nước giàu mạnh trước khi phát triển. Có những quốc gia phát triển nhanh, có nhưng quốc gia phát triển chậm và cũng có những quốc gia không thể phát triển nếu không tháo gỡ được một số tắc nghẽn tâm lư. Chính v́ thế mà phát triển đă chỉ xuất hiện tại một số ít quốc gia mà thôi. Phát triển rất dễ mà lại rất khó. Rất dễ v́ không đ̣i hỏi một lư thuyết phức tạp hay một kế hoạch cao siêu nào cả. Rất khó v́ đ̣i hỏi một tâm lư và một văn hóa mới. Mà thay đổi tâm lư và văn hóa là điều khó nhất. Có ai nhận là tâm lư của ḿnh tồi đâu? Và có dân tộc nào nhận văn hóa của ḿnh là kém dâu, trừ ra là một dân tộc đă rất tiến hóa? Chính v́ khó thay đổi tâm lư và văn hóa mà có những dân tộc rất phồn vinh và những dân tộc vô cùng cơ cực, mặc dù mọi nhà bác học đều đồng ư rằng mọi con người thuộc mọi chủng tộc đều có những khả năng ngang nhau v́ đều có một khối óc nặng trung b́nh 1.600 gam.
Chúng ta khó có thể từ bỏ một văn hóa bởi v́ nó là một phần của chính chúng ta. Vậy th́ cái ǵ có thể giúp chúng ta thay đổi văn hóa? Chúng ta cần một hiến pháp qui định rơ là trên đất nước Việt nam không có ư kiến nào cấm nêu ra và cũng không có đề tài nào cấm bàn đến, nhờ thế chúng ta mở tung cửa cho những phê phán các giá trị truyền thống và làm cho chúng mất đi tính thiêng liêng không thể bàn căi. Chúng ta cũng cần một chính sách cổ vơ cho tự do dưới mọi h́nh thức: tự do suy nghĩ và phát biểu, tự do chọn lựa lối sống, kể cả tự do cơ thề, bởi v́ chính nhờ thay đổi cách sống mà ta có thể thay đổi cách cách suy nghĩ.
Nhờ thay đổi cách sống và cách suy nghĩ mà ta có thể làm quen với nhưng giá trị mới và dần dần thấy chúng chấp nhận được. Tôi thường được nghe hai quan điểm, mỗi lần nghe là mỗi lần đầu nhói.
Một lập luận cho rằng văn hóa của chúng ta rất cao siêu. Nếu quả thật văn hóa của ta cao siêu như thế th́ tại sao chúng ta lại thua kém thê thảm như ngày nay và tại sao ngay cả nhưng công tŕnh nghiên cứu văn hóa phương Đông có giá trị nhất cũng là do người phương Tây? Và nếu quả thật văn hóa của chúng ta cao siêu như thế th́ tại sao nó lại không có một sức thu hút nào đối với tuổi trẻ, tại sao thanh thiếu niên Việt nam hải ngoại lớn lên lại thành Mỹ con, Pháp con, Đức con trong một thời gian kỷ lục? Càng khư khư ôm lấy một văn hóa độc hại, chúng ta càng ngụp lặn trong sự thấp kém.
Lập luận thứ hai, mà tôi thường được nghe từ miệng những người có học vị cao về kinh tế (và v́ thế khiến tôi vững tin rằng phát triển kinh tế không thể phó thác cho cấc kinh tế gia, cũng như chiến tranh không thể phó thác cho các tướng lănh), là chúng ta cần phát triển trước đă rồi hăy nói đến dân chủ và tự do. Vấn đề là chúng ta không thể có phát triển nếu không có dân chủ và tự do. Nhưng đây lại là một điều không nằm trong chương tŕnh huấn luyện của các nhà kinh tế thuần túy. Nếu trong cuộc thảo luận về phát triển các nhà kinh tế khiêm tốn hơn một chút và các nhà tư tưởng tích cực hơn một chút nữa th́ may mắn biết bao!

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
và ánh sáng bừng lên

 

(Hành hương về cội nguồn của phát triển và phồn vinh)
Vượt lên lên mọi đam mê chính trị, thảm kịch của chúng ta ngày nay là một sự tụt hậu đầy hổ nhục cho mọi người Việt nam dù thuộc quá khứ nào hay theo khuynh hướng nào. Mọi cuộc đấu tranh chính trị đều là vô nghĩa nếu không nhắm mục đích sau cùng là đưa đất nước tiến lên và cũng vô nghĩa nếu không biết con đường nào sẽ đưa đất nước đi lên.
Điều chúng ta cần nhắc lại một lần nữa là hiện nay, trên thềm thế kỷ 21và thiên niên kỷ thứ ba, phát triển là một hiện tượng rất mới và chỉ giới hạn trong một số rất ít quốc gia, nhờ một số điều kiện rất đặc biệt mà ta cần quan sát.
Tôi xin mời độc giả làm một cuộc du lịch thăm viếng một số nước, nơi hiện tượng phát triển đă xuất hiện trước tiên và một cách ngoạn mục. Đây là một cuộc thăm viếng có hướng dẫn, rất nhanh chóng và có chủ đích. Chúng ra sẽ chỉ quan sát nhưng ǵ giúp chúng ta trả lời câu hỏi tại sao họ đă phát triển?. Cuộc tham quan này tuy vội vă nhưng vẫn thật thà, không giấu giếm. Những ǵ không được quan sát sẽ không phản bác kết luận mà chúng ta sẽ rút ra. Đây là một cuộc hành hương về cội nguồn của hiện tượng phát triển để t́m hiểu. Chúng ta sẽ thành công nếu vào một lúc nào đó ánh sáng bỗng dưng bừng lên và chúng ta vui mừng thốt lên: Hiểu rồi, th́ ra thế!.
Hiện tượng phát triển trên qui mô quốc gia đă xuất hiện hầu như cùng một lúc tại châu Âu và Hoa Kỳ. Châu âu đi trước một chút và phát triển nhanh chóng hơn trong giai đoạn đầu. Nói là châu Âu nhưng thực ra, nếu muốn chính xác hơn, phải nói là Ḥa Lan và Anh, các nước khác đă chỉ bị, hay được, lôi kéo theo. Một cách vắn tắt, có thể nói thế kỷ 17 đă là thế kỷ Ḥa Lan, thế kỷ 18 là thế kỷ Anh, từ thế kỷ 19 Hoa Kỳ lên ngôi bá chủ hoàn cầu. Cũng từ nửa sau thế kỷ 19, Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ dù chưa bao giờ đạt tới sức mạnh của Hoa Kỳ. Viết tới đây tôi sợ bị một số học giả chê là quá sơ sài, v́ thực ra hiện tượng phát triển vốn đă có từ trước với các thành phố buôn bán. Venice (ư) ngay từ thế kỷ 12 đă đạt tới một sức mạnh kinh tế, chính trị và cả về quân sự rất huy hoàng. Antwerpen (Bỉ) từ thế kỷ 15 đă trở thành trung tâm thương mại số một của thế giới. Nhiều thị trấn khác trong vùng biển Baltic băng giá, một Địa Trung Hải của Bắc Âu, cũng đă trở nên rất phồn thịnh trong cùng một thời điểm. Nhưng tất cả những thành tựu ngoạn mục này, ngay cả trường hợp Venice, chỉ là những ốc đảo phồn vinh cô lập. Điều tôi muốn nhận định ở đây là hiện tượng phát triển lên qui mô quốc gia. Sẽ là một sự lố bịch, có thể nói là một sự xúc phạm đối với trí tuệ, nếu muốn tóm tắt lịch sử phát triển của Ḥa Lan, Anh, Hoa Kỳ và Nhật Bản trong một vài trang giấy. Mục đích ở đây là t́m ra cái ǵ đă làm nảy sinh ra phát triển và sau đó đă duy tŕ được đà phát triển. Xin nói ra ngay rằng kết luận sẽ chẳng có ǵ thực sự độc đáo. Điều quan trọng là sau đó chúng ta thực sự tin. Và niềm tin là tất cả, nó sẽ tránh cho chúng ta những hoang mang, bối rối và lạc lối trong những biện luận mông lung. Chúng ta đang rất cần niềm tin đó.
Bây giờ, xin mời độc giả khởi hành.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Ḥa Lan: cái ǵ đă xảy ra?

 

Cho tới giữa thế kỷ 16, quyền lực tại châu Âu tập trung về phía Nam, với Tây Ban Nha làm bá chủ. Đế quốc của Charles Quint, trong đó Tây Ban Nha vượt trội nhất, bao phủ gần hết châu Âu và cả miền đất rộng lớn vừa khám phá ra, nghĩa là châu Mỹ. Nhưng đột nhiên vào giữa thế kỷ 16, năm 1568, châu Âu rung động v́ cuộc nổi dậy tại Ḥa Lan. Càng ngạc nhiên hơn nữa v́ đất nước nhỏ bé này đă kháng cự thắng lợi trước sức mạnh của quân lực Tây Ban Nha hùng hậu trong hơn bốn mươi năm, trong một cuộc chiến được mệnh danh là chiến tranh cho tự do, buộc Tây Ban Nha phải ngừng chiến, chấp nhận thực tế của sự ly khai và sau đó kư thỏa ước Den Haag chính thức nh́n nhận Nước Cộng Ḥa Ḥa Lan. Từ đó Ḥa Lan, với không đầy mười triệu dân, tiếp tục tiến lên mạnh mẽ, trở thành siêu cường số một của thế giới trong thế kỷ 17. Cái ǵ đă xảy ra?
Montesquieu (1681-1755), thủy tổ của lư thuyết tam quyền phân lập và lư thuyết những bất lợi tiên khởi, nhận định rằng người Bắc Âu đă bị thiên nhiên ngược đăi nên phải phấn đấu để tiến lên, và để tiến lên cần tự do, trong khi các dân tộc Nam Âu v́ được thiên nhiên ưu đăi nên không cần phấn đấu và do đó dể chấp nhận cuộc sống nô lệ.
Max Weber (1864- 1920), dựa vào thành tựu của Ḥa Lan, và của Anh và Mỹ sau đó, cho rằng phát triển là do ảnh hưởng của đạo Tin Lành năng động và cởi mở hơn đạo Công Giáo. Đi xa hơn nữa, Weber cho rằng chủ nghĩa tư bản là một sản phẩm của đạo Tin Lành. Karl Marx, thiên tài trong nghệ thuật lấy ư kiến của người khác làm khám phá của ḿnh bằng cách nói ngược lại, cho rằng chính chủ nghĩa tư bản đă khai sinh ra đạo Tin Lành. Quanh quẫn vẫn chỉ là một ư: có một liên hệ mật thiết giữa một tôn giáo (Tin Lành) và phát triển.
Phải nghĩ ǵ về những giải thích này?
Dĩ nhiên dân tộc nào cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của điều kiện địa lư, nhưng lư thuyết những khó khăn tiên khởi rất khó đứng vững. Nếu bảo rằng nhờ bị thiên nhiên ngược đăi mà nhiều dân tộc đă phải phấn đấu, rồi nhờ đó tiến lên th́ rất khó giải thích tại sao nước Mỹ, với tài nguyên bao la và điều kiện sinh sống dễ dăi, đă vươn lên mạnh mẽ? Ngược lại, một số dân tộc khác như Mali, Ethiopia, Bangladesh lạc hậu cùng cực và bị coi là tuyệt vọng chính v́ thiếu tài nguyên thiên nhiên. Các giải thích của những nhà nghiên cứu về điều kiện thiên nhiên thường rất mâu thuẫn. Có khi cùng một sự kiện được sử dụng cho hai giải thích hoàn toàn trái ngược nhau: có lúc họ nói rằng nước Anh đă trở thành hùng mạnh nhờ than đá và sắt, có khi họ lại lư luận rằng nước Nhật đă phát triển v́ người Nhật bắt buộc phải sản xuất nhiều để xuất cảng lấy ngoại tệ mua nguyên liệu và nhiên liệu. Lư thuyết những khó khăn tiên khởi độc đáo ở chỗ nó vừa ngược đời vừa hùng hồn, nhưng không đúng. Tài nguyên thiên nhiên chắc chắn là có ảnh hưởng, và dĩ nhiên về lâu về dài có ảnh hưởng tốt, nhưng không thể giải thích tất cả.
Khí hậu cũng thường được viện dẫn như một lư do giải thích sự phát triển, dựa vào nhận xét chung là các nước khí hậu lạnh thường phát triển hơn các nước nhiệt đới. Nhưng Nga và Mông Cổ (chưa nói dân Esquimo?) cùng có khí hậu rất lạnh mà tại sao không phát triển
C̣n lư do tôn giáo? Chắc chắn là các dân tộc theo một tín ngưỡng tiêu cực coi cuộc đời không đáng sống và không đáng cải thiện, như ấn Độ và Tây Tạng, sẽ rất khó ra khỏi cảnh nghèo khổ nếu không thay đổi tâm lư, v́ một lư do dễ hiểu là họ không coi nghèo khổ là một tai họa. Nhưng bảo rằng đó là do ảnh hưởng của đạo Tin Lành th́ phải trả lời thế nào về sự trỗi dậy ngoạn mục của Nhặt Bản?
Chắc chắn phải có một lư do căn bản hơn trong khi nhưng lư do khác như tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, tôn giáo chỉ là những biểu hiện ngoài mặt.
Từ thế kỷ 15, trung tâm quyền lực tại châu Âu dời về miền Nam, các vùng phía Bắc chung quanh Ḥa Lan ít được quan tâm tới. Đó lại là vùng đất thấp, śnh lấy và giá lạnh, cảnh trí chẳng có ǵ là hùng vĩ, thành quách lâu đài cũng khó xây dựng. Các vùng này ở trong một t́nh trạng đặc biệt: một mặt họ nằm dưới quyền lực của các triều đ́nh lớn và không thể lập ra một chính quyền mạnh của ḿnh mà không sợ búa ŕu, mặt khác v́ gần như bị bỏ quên nên họ phải tự tổ chức sinh hoạt riêng của ḿnh. Công thức duy nhất và bắt buộc là cố gắng ùm ra đồng thuận để sống yên với nhau, tránh mọi xung đột có thể lôi kéo sự can thiệp của triều đ́nh Tây Ban Nha. Một xă hội tự do dân chủ dần dần thành h́nh với một chính quyền rất giản dị, người cai trị Ḥa Lan không phải là một ông vua, cũng không phải là một lănh chúa mà chỉ được gọi là một đại thường trú v́ ông cư ngụ và làm việc ở ṭa nhà được dựng ra để giải quyết các vấn đề hành chính tối cần thiết.
Nhưng người Ḥa Lan cũng không thể có vinh quang được làm vương, làm tướng, họ chỉ c̣n một lư tưởng là làm giàu. Một thanh niên Ḥa Lan lớn lên không thể nuôi mộng ǵ khác hơn là kinh doanh buôn bán thành công.
Một xă hội mới dàn dàn thành h́nh. Chính cái xă hội tự do dân chủ này, với một guồng máy chính quyền thật nhẹ và thu hẹp nhường không gian tối đa cho cá nhân, và trong đó mọi cá nhân theo đuổi lư tưởng làm giàu, đă thúc đẩy sáng kiến và cố gắng và tạo nên sự phồn vinh của Ḥa Lan. Vào năm 1551, khi hoàng đế Charles Quint phong cho ḍng họ Bourguignon 12 quận đất thấp phía Bắc (gồm Ḥa Lan và Bỉ ngày nay), vùng đất này đóng thuế cho triều đ́nh Tây Ban Nha một số tiền gấp bảy lần lợi nhuận quan trọng đem về từ toàn châu Mỹ. Ḥa Lan đă phồn vinh hơn hẳn Tây Ban Nha. Mười bảy năm sau, họ nổi dậy tuyên bố rũ bỏ ách thống trị của mẫu quốc. Sức mạnh kinh tế và quyết tâm sống tự do đă khiến họ đẫy lùi được đạo binh hùng hậu của Tây Ban Nha.
Trái với nhận xét của Max Wteber, không phải đạo Tin Lành đă tạo ra sự phồn vinh của vùng đất thấp bao gồm Ḥa Lan và Bỉ, bởi v́ phần lớn của cải vẫn nằm trong tay những nhà kinh doanh theo đạo Công Giáo. ở một khía cạnh nào đó, có thể nói người Công Giáo c̣n năng động hơn cả người Tin Lành trong giai đoạn đầu. Nhưng dần dần do sự bách hại đạo Tin Lành tại Pháp, ư, Tây Ban Nha, những người Tin Lành đă di cư tới Bỉ và nhất là Ḥa Lan để tị nạn. Họ là một đóng góp quan trọng cho sự phồn vinh của Ḥa Lan, nhưng họ không phải là yếu tố quyết định nhất. Đóng góp quyết định nhất là những nghệ nhân, thợ khéo, thương gia di cư tới Ḥa Lan để tránh những chính quyền độc tài khắc nghiệt. Không khí tự do dân chủ tại Ḥa Lan đă giúp họ làm giàu cho ḿnh và cho quê hương mới. Descartes (1596-1650), nhà toán học và tư tưởng lớn bậc nhất của nước Pháp vào thời đại của ông, năm nào cũng phải tới Ḥa Lan sống vài tháng để lấy hứng sáng tác trong không khí tự do, dù ông là người Công Giáo.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Anh: một dân tộc bán tiệm

 

Nước Anh, từ sau khi vua John Lack Land (Jean Sans Terre) kư Đại Hiến Chương (Magna Carta) năm 1215 nh́n nhận những quyền tự do lớn cho giới quí tộc, đă không c̣n là một nền quân chủ tuyệt đối trung ương tập quyền nữa. Sự áp bức vẫn c̣n nhưng là những áp bức của các lănh chúa địa phương không đủ mạnh, phải dựa vào dân chúng, do đó cần người dân và phải tương đối nể nang người dân. Đặc điểm của Đại Hiến Chương là nó định chế hóa đối thoại chính trị, buộc nhà vua phải tham khảo với một nghị viên. Nó cũng nh́n nhận cả quyền nổi loạn chống bạo quyền. Cuộc cách mạng của Oliver Cromwell (1599-1658), năm 1649 giáng một đ̣n chí tử vào cả quyền lực lẫn danh giá của triều đ́nh London (vua Charles I bị hành quyết và một thể chế cộng ḥa ngắn ngủi được thành lập). Năm 1688, sau một cuộc cách mạng ngắn, các nguyên tắc tự do dân chủ được chính thức ban hành, mở đầu một giai đoạn phát triển huy hoàng. Sự hiện diện của chính quyền từ đó trở nên giới hạn và ngay cả các giá trị cũng thay đổi. Làm quan tướng trong triều đ́nh không vinh quang hơn là làm những phú nông, phú thương. Phải nói ngay rằng những thay đổi ngoạn mục này có rễ từ rất lâu đời. Thói quen sinh sống trong bối cảnh phóng khoáng đă đem lại cho người Anh, kể cả quí tộc, một tâm lư rất khác so với lục địa châu Âu. Họ không khinh thường những hoạt động sản xuất (có cả một huân tước được mang danh hiệu huân tước củ cải v́ trở thành giàu có nhờ sản xuất và cỗ vơ cho củ cải đường). Cuộc sống hải đảo đă đem lại cho họ một tâm lư đặc biệt, phiêu lưu mạo hiểm nhưng lại không màng những đanh giá phù phiếm của quyền lực. Vả lại, cũng tương tự như trường hợp Ḥa Lan, họ vừa được các đế quốc hùng mạnh ở lục địa bỏ quên, vừa không thể xưng hùng xưng bá để tránh búa ŕu. Sau này vào thế kỷ 18 trở đi khi họ đă tự nhận ra ḿnh đă quá mạnh và đi chinh phục thế giới là một chuyện khác.
Nét đặc thù của nước Anh từ trước thế kỷ 17, khi hiện tượng phát triển bắt đầu xuất hiện một cách rơ rệt, là một không khí cởi mở, phóng khoáng và tự do. Nước Anh đă là nước dân chủ đầu tiên trên thế giới, trước rất lâu so với các nước khác. Tại sao? Đó là câu hỏi rất phức tạp mà một cuốn sách vài trăm trang cũng không thể trả lời một cách đầy đủ, nhưng lư do chủ yếu có lẽ là địa lư. Đối với chúng ta ngày nay, Anh là một đảo nhỏ về diện tích, nhưng cho tới thế kỷ 16 đó là một lănh thổ bao la đối với khoảng 3 hay 4 triệu dân. Cuộc sống tản mác trên một lănh thồ ph́ nhiêu đồng đều đó không cho phép ra đời một chính quyền trung ương mạnh. Cuộc sống hải đảo biệt lập cũng không làm nảy sinh ra những tham vọng quyền lực điên cuồng. Thêm vào đó, những con người sống với biển cả và dám thách thức biển cả cũng không dễ chấp nhận cuộc sống phục tùng tuyệt đối của những kẻ nô lệ.
Cuộc sống thủy thủ cũng đă đem lại cho họ tập quán yêu thích buôn bán. Napoléon I có lần nhận định một cách không mấy nể nang rằng người Anh là một dân tộc bán tiệm (ùn peuple de boutiquiers). Ông đă lầm, người Anh không chỉ bán tiệm, họ là những thương gia có viễn kiến rất sớm. Ngay từ thế kỷ 15, họ đă thành lập nhiều công ty buôn bán có tầm vóc lớn. Một trong những công ty đó mang một tên đầy ư nghĩa Đồng Đội Của Những Nhà Mạo Hiểm Thương Mại Luân Đôn (Fellowship of the Merchant Adventurers of London). Cần ghi nhận mạo hiểm nhưng cũng cần ghi nhận đồng đội.
Người Anh có một đặc điểm là rất thích những kết hợp ngoài chính quyền, những kết hợp của những người cùng theo đuổi một mục đích và cùng chấp nhận một luật chơi. Chính họ đă phát minh ra các Club, mà hầu hết mọi ngôn ngữ khác đem dùng và chúng ta phiên âm là Câu Lạc bộ. Xă hội dân sự tại Anh xuất hiện rất sớm và phát triển rất nhanh, rất mạnh. Cho đến nay, tham gia các hội đoàn và Câu Lạc bộ vẫn là một nét đặc thù của người Anh. Tất cả những yếu tố đó đều là đặc tính của một sinh hoạt dân chủ. Người Anh gieo hạt giống dân chủ một cách vô t́nh, rất lâu trước khi họ có tư tưởng dân chủ. Và họ cũng đều có tư tưởng dân chủ rất sớm. Vài dẫn chứng: Một nhà tư tưởng, Dudley North, viết năm 1691: Ḥa b́nh, cố gắng và tự do, chứ không bất cứ một lư do nào khác, đem lại thương mại và giàu có và vai tṛ của luật pháp là đảm bảo ḥa b́nh, công lư và khuyến khích các công nghệ bằng cách tôn vinh chúng. Vài năm sau, năm 1699, Charles Davenant (1656-1714), dân biểu Anh, viết: Tự do và phồn vinh đi cùng với nhau tay trong tay?
Lư do nào đă khiến một dân tộc vài triệu dân trên một ḥn đảo vào thế kỷ 16 trở thành bá chủ hoàn cầu hai thế kỷ sau đó? Câu trả lời ở đây rất là hiển nhiên: một chế độ tự do dân chủ, nhà nước nhẹ, một xă hội dân sự năng động và ḷng yêu thích thương mại. Nhưng điều cần được đặc biệt chú ư ở đây là bối cảnh tự do đă xuất hiện rất lâu trước khi sự giàu có ló dạng. Những hạt giống của tự do dân chủ đâm mộng, thành cây, rồi trổ hoa kết trái. Trái cây ở đây là sức mạnh và sự phồn vinh.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Hoa Kỳ:


đất nước của những con người tự do và dũng cảm

Châu Mỹ đă được khám phá ra từ năm 1492 và hầu như ngay sau đó các chính quyền Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ra công khai phá và khai thác. Sự khai thác này đă rất thành công, nếu ta không nghĩ đến chính sách diệt chủng của những đoàn conquistadors đầu tiên. Châu Mỹ được coi như một kho của vô tận. Ngày nay nếu được hỏi về nước Peru, đa số chúng ta sẽ chỉ biết mang máng rằng đó là một nước ở Nam Mỹ, có một ông tổng thống người Nhật tên là Fujinori ǵ đó, không lớn lắm, không giàu lắm và khá lộn xộn. Hơi giản lược nhưng mà đúng. Vậy mà cho tới thế kỷ 19, Peru đồng nghĩa với thiên đường hạ giới. Trong tiếng Pháp, thành ngữ trouver le Pérou (t́m thấy nước Peru) vẫn được coi là đồng nghĩa với may mắn và đạt ước mơ.
Sự khai thác châu Mỹ tiến tiến mạnh ngay sau khám phá của Columbus, nhưng chỉ giới hạn ở vùng châu Mỹ La Tinh thuộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Vùng đất phía Bắc thuộc Hoa Kỳ và Canada hiện nay vẫn bị bỏ hoang. Anh và Pháp cạnh tranh nhau khai phá vùng đất này nhưng cả hai nước đều gặp nhiều vấn đề nội bộ, và lại c̣n bận chống nhau nữa, nên không đặc biệt chú ư đến châu Mỹ. Việc di dân và khẩn hoang vùng đất này không nằm trong một chính sách quốc gia nào mà do sáng kiến của những công ty tư nhân. Từng đoàn người lẻ tẻ trên những con tàu mong manh kéo nhau tới đó. Trong tuyệt đại bộ phận họ là những người bị phân biệt đối xử nên phải ra đi chứ không phải v́ Pháp hay Anh thiếu đất. Nước Pháp vào thế kỷ 16 tuy là nước đông dân hạng nh́ thế giới (sau Trung Quốc nhưng trước ấn Độ) nhưng chỉ có khoảng 20 triệu dân mà thôi. Nước Anh lúc đó không có tới 4 triệu dân. Những người ra đi đều là thành phần nghèo khổ và bị hắt hủi, phần lớn là người Anh; nước Pháp trong suốt tiến tŕnh di dân chỉ gởi qua Québec sáu ngàn người và một số ít hơn tới Louisiana.
Cho tới ngày 9 tháng 6 năm 1620, khi con tàu Maynower cập bến, với một trăm người di dân, trên cả lănh thổ Hoa Kỳ bao la chỉ có khoảng hai ngàn người da trắng. Những người di dân tới đây không sống dưới một chính quyền nào, họ ít quá để triều đ́nh Anh chú ư, những người chủ bỏ tiền cho họ vượt đại dương th́ ở quá xa và cũng chỉ quan tâm lấy lại vốn cộng thêm lời của số tiền đầu tư bỏ ra, c̣n lại th́ để mặc họ muốn làm ǵ th́ làm. Khoảng 40 người trên tàu Mayflower rủ nhau đi lập nghiệp tại Provincetown, trong bang Massachussetts. Đến nơi họ thảo chung với nhau một kết ước sống chung, Kết Tóc Mayflower (The Mayflower Compact). Không biết họ có ư thức được không, nhưng những con người thô sơ và mỏng manh đó (phân nửa đă chết trong mùa đông giá lạnh đầu tiên) đă làm một trong những hành động sáng tạo vĩ đại nhất trong lịch sử loài người. Đó là tuyên ngôn thành lập một xă hội tự do, dân chủ và pháp trị:
[ ] Chúng tôi thỏa thuận thành lập với nhau một tập thể.
[ ] Mỗi khi thấy cần thiết cho phúc lợi chung, chúng tôi sẽ làm ra và ban hành các luậ t lệ đúng đắn và đồng đề u cho tất cả, và chúng tôi sẽ tuân phục nhưng luật lệ đó .
Tinh thần Mayflower đă mau chóng trở thành tinh thần nền tảng của xă hội Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có một đặc điểm nổi bật: đó là quốc gia ngay từ lúc thai nghén đă không hề biết một chế độ nào khác ngoài tự do và dân chủ. Đó quả là đất nước của những con người tự do (land of the frees). Năm 1776, khi tuyên bố độc lập, dù đă tiến bộ rất nhiều, họ mới chỉ có hai triệu rưỡi dân nghèo đói, tŕnh độ văn hóa thấp, phần lớn không biết đọc biết viết và hơn nữa rất xa lạ với nhau. Dân chủ và tự do đă dần dần đem đến sự gắn bó, ư thức quốc gia, sáng kiến và sức mạnh. Tân quốc gia Hoa Kỳ đă lôi cuốn những người yêu chuộng tự do dân chủ tại châu Âu. Ḷng tin vào tương lai đă cho họ một tỷ lệ sinh đẻ cao. Một thế kỷ sau, năm 1890, họ là quốc gia tiến bộ nhất và hùng mạnh nhất thế giới với 63 triệu dân. Bước vào thế kỷ 2 1và thiên niên kỷ thứ ba, họ là siêu cường độc nhất của thế giới với gần 300 triệu dân. Thế kỷ 21 sẽ c̣n là thế kỷ Hoa Kỳ, sự hơn hẳn sẽ c̣n gia tăng lên chứ không giảm đi trong nhiều thập niên. Trường hợp Hoa Kỳ chứng tỏ tự do và dân chủ không đ̣i hỏi một tŕnh độ văn hóa hay kinh tế nào, trái lại c̣n là lư do thúc đẩy phát triển kinh tế và văn hóa.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Nhật Bản: tự do trá h́nh và dân chủ giấu mặt

 

Người Việt nam sùng bái sự học một cách quá đáng và lệch lạc nên bất cứ một điều ǵ, dù sai tới đâu, mà đă được nhồi sọ ở trường học cùng trở thành một chân lư rất khó lay chuyển. Một trong những sai lầm lớn mà hầu như mọi người Việt nam, bất luận có bằng cấp nào, cũng tin một cách chắc nịch là nhờ vua Minh Trị sáng suốt biết canh tân kịp thời mà nước Nhật đă trở thành tân tiến và hùng mạnh. Tôi đă gặp không biết bao nhiêu trí thức tiếc rằng các vua Minh Mạng, Tự Đức đă không được như Minh Trị, nếu không Việt nam chắc đă không thua Nhật Bản. Sự thực Minh Trị không hơn ǵ Tự Đức, và nước Nhật đă không tiến lên nhờ Minh Trị. Không những thế, c̣n có thể nói chính Minh Trị đă bẻ găy, hay đúng hơn đă là dụng cụ để giúp đám quân phiệt bẻ găy đà tiến hài ḥa của Nhật Bản về tương lai. Cuối lộ tŕnh Minh Trị là một cuộc chiến tự hủy, hai trái bom nguyên tử và một phần quan trọng của lănh thổ bị mất. Minh Trị lên ngôi năm 1867, lúc mới 14 tuổi. Phải mê tín dị đoan mới có thể tin một cậu bé bằng ấy tuổi và được nuôi nấng trong hoàng cũng có thể có cả một dự án canh tân đất nước. Thực ra Minh Trị lên ngôi vào đúng lúc quyền bính nước Nhật rối loạn hoàn toàn, các sứ quân liên kết với nhau lật đổ và chấm dứt chế độ chúa công (shogun) được thiết lập từ thế kỷ 12 theo một mô h́nh tương đương như vua Lê chúa Trịnh tại nước ta. Lúc đó nước Nhật đă tiếp xúc với phương Tây từ hơn ba thế kỷ, từ năm 1543, nghĩa là cùng một lúc với Việt nam.
Vào thời điểm Minh Trị lên ngôi, nước Nhật đă thay đổi rất nhiều rồi, khác hẳn với Việt nam. Câu chuyện sau đây đủ nói lên mức độ phát triển của nước Nhật trước khi người phương Tây đến. Một người Bồ Đào Nha, tên là Pinto, đến nước Nhật vào khoảng cuối thế kỷ 16 đem theo một cây súng. Ông ta khoe hiệu lực của cây súng hơn hẳn những thanh kiếm của các hiệp sĩ Nhật, rồi cho mượn. Vài tháng sau, khi ông ta ra đi, người Nhật đă chế ra được 500 khẩu súng giống hệt như vậy. Hai năm sau trên toàn nước Nhật có tới 300.000 khẩu súng Pinto. Kỹ năng của người Nhật đă tiến tới một tŕnh độ rất cao ngay từ thế kỷ 16.
Các tài liệu của nước ta, cũng như phần lớn các tài liệu phiến diện của phương Tây mà ta sao dịch lại, đánh dấu sự mở cửa của Nhật về phương Tây từ năm 1853 (tức mười bốn năm trước khi Minh Trị lên ngôi) khi phó đề đốc (comodore) Perry chỉ huy một đoàn chiến hạm Mỹ tiến vào cảng Đông Kinh đưa tối hậu thư buộc Nhật mở cửa khẩu cho tàu bè phương Tây, và Nhật nhượng bộ. Thực ra, một cách không chính thức, Nhật đă mở cửa cho phương Tây và đă tiếp thu rất nhiều kỹ thuật và phương pháp phương Tây từ ba thế kỷ trước rồi. Người Nhật đă quen với phương Tây và đă đủ tiến hóa để hiểu sức mạnh của phương Tây. Họ nhượng bộ v́ hiểu biết chứ không phải v́ nhát sợ. Họ đă quen sử dụng lịch phương Tây từ lâu, cho nên năm 1873 họ bỏ hẳn lịch Tàu để chỉ dùng lịch Tây. Họ cũng đă mở những trường học về y khoa và khoa học cơ bản từ thập niên 1720, nổi tiếng nhất là Trường Ḥa Lan (người Nhật quả nhiên biết chọn thày?). Năm 1744, họ xây một đài quan sát thiên văn với hai kính viễn vọng lớn. Từ năm 1810, họ tổ chức cả một cơ quan chuyên môn dịch sách khoa học kỹ thuật phương Tây. Ngày 7 tháng 1năm 1870, đúng ba năm sau khi Minh Trị lên ngôi, bức điện tín đầu tiên được đánh đi từ Tokyo.
Nước Nhật đă rất tiến bộ khi người phương Tây đến. Chính nhờ tiến bộ mà họ đă nhận thức được sự hơn hẳn của phương Tây và đă hấp thụ rất mau chóng các kỹ thuật phương Tây. Tại sao? Đó là nhờ một sự kiện ngoài chủ đích của mọi người. Xă hội Nhật do các lănh chúa thống trị dựa trên giai cấp hiệp sĩ. Các lănh chúa và các hiệp sĩ cực kỳ kiêu căng không thèm ḥa trộn với dân chúng mà để mặc quần chúng tự tổ chức lấy cuộc sống của ḿnh, miễn là nộp đủ thuế. Trong t́nh trạng ấy, quần chúng Nhật tuy ở sát nhưng thực ra lại sống rất xa giai cấp thống trị. Họ không thể tổ chức thành chính quyền nếu không muốn lănh búa ŕu và họ phải t́m cách sinh sống với nhau trong đồng thuận để tránh những can thiệp của bọn hiệp sĩ. Một cách tiệm tiến và thầm lặng, một sinh hoạt tự do đă h́nh thành giữa quần chúng với nhau, dưới sự giám sát từ xa của các lănh chúa. Đó là lư do khiến xă hội Nhật đă phát triển, rồi chính sự phát triển này đă tạo ra áp lực buộc giới cầm quyền Nhật nhượng bộ dần dần.
ở đây, Nhật cũng không phải là một ngoại lệ. Nhật cũng đă phát triển nhờ tự do dân chủ, dù là tự do trá h́nh, dân chủ giấu mặt. Không hiểu được điều này là không hiểu phép mầu Nhật Bản, một phép mầu đă bắt đầu từ trước khi người phương Tây tới và đă gia tăng vận tóc sau đó. Minh Trị sau khi lên ngôi đă chỉ là một biểu tượng giúp cho đám quân phiệt tiêu diệt dần tự do dân chủ và đưa Nhật Bản đến bế tắc. Những năm cuối của triều đại Minh Trị c̣n là những năm đen tối cho nước Nhật: bành trướng quân sự, chiếm Đài Loan và Cao Ly, đàn áp đẫm máu ở trong nước. Khi Minh Trị chết, năm 1912, chế độ Nhật trở thành một chế độ độc tài quân phiệt thuần túy với hậu quả mà chúng ta đă thấy. Sau thế chiến II, Nhật bại trận, phải đầu hàng không điều kiện, chấp nhận một hiến pháp tự do do Hoa Kỳ áp đặt và giám sát, và nước Nhật lại vươn lên.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Những xă hội phồn vinh khác

 

Đến đây chúng ta đă xong một cuộc hành tŕnh qua những kinh nghiệm phát triển. Chúng ta đă dừng chân ngắn ngủi tại các chặng đường Ḥa Lan, Anh, Mỹ và Nhật. Cuộc hành tŕnh vội vă này đă không cho phép chúng ta dừng lại ở một số phép mầu tại một số quốc gia khác.
Như Thụy Sĩ, quốc gia nhỏ bé và bị quên lăng trong nhiều thế kỷ, không có bờ biển, không tài nguyên thiên nhiên, lại thêm núi non trùng điệp, vậy mà đă trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới. Trong nhiều thế kỷ Thụy Sĩ đă là vùng đất không nước nào ḍm ngó, nó đă thành đất dung thân của người Đức, người Pháp, người ư muốn xa lánh bạo lực và sự bất dung. Người Thụy Sĩ đă xây dựng với nhau một xă hội tự do dân chủ theo phương châm dĩ ḥa vi quí. Và họ đă t́m được hạnh phúc. Đặc điểm của Thụy Sĩ mà mọi người đấu biết là có một chế độ dân chủ đi xa nhất trong mọi chế độ dân chủ: dân chủ trực tiếp ở một số địa phương. Hay như trường hợp của các nước Bắc Âu, Đan Mạch và Thụy Điển (cho tới gần đây Thụy Điển là nước có lợi tức b́nh quân trên mồi đầu người cao nhất châu Âu). Các quốc gia xa xôi băng giá và ít người này cũng ở trong thế chẳng ai để ư đến họ và họ cũng chẳng dám vênh váo thách thức với ai. Họ tổ chức với nhau một xă hội đồng thuận và khiêm nhường, tôn trọng tự do và sáng kiến của mỗi người. Và họ đă là những quốc gia phát triển đầu tiên; như phần đầu bài này đă nói, vùng biển Baltic đă phát triển rất sớm.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Cùng một hiện tượng

 

Điều ngạc nhiên và lư thể là dưới nhưng bề ngoài có vẻ rất khác nhau cùng một hiện tượng đă được lặp lại.
Hiện tượng diễn ra như sau: một cộng đồng quốc gia vào một lúc nào đó, do một t́nh cờ địa lư hay lịch sử, rơi vào một hoàn cảnh đặc biệt, quyền lực khống chế không quan tâm tới họ và để mặc họ sống với nhau. Một tổ chức xă hội mới đă dần dần h́nh thành với bốn đặc tính: một là v́ không có chọn lựa nào khác họ đă tổ chức với nhau một chính quyền tối thiểu, thậm chí không chính thức, và sinh sống với nhau theo qui luật tự nhiên của thị trường; hai là do không thể có tham vọng quyền lực, mọi người tập trung cố gắng làm giàu; ba là do chính quyền không can thiệp vào đời sống hàng ngày, người dân được hưởng một mức độ tự do lớn, do đó phát huy tối đa sáng kiến; bốn là thương mại được ưa chuộng và tôn vinh. Yếu tố thứ tư thực ra chỉ là một hậu quả của yếu tố thứ hai và nhất là thứ ba. Đă chủ tâm làm giàu và lại được tự do phát huy sáng kiến th́ chắc chắn con người trở thành mạo hiểm, thích trao đổi và buôn bán. Chính quyền nhẹ, tự do và dân chủ, kinh tế thị trường, ham mê làm giàu, trọng thương mại và cởi mở với thế giới bên ngoài là những yếu tố đem tới sự giàu có. Những yếu tố đó là nguyên nhân thực sự của phát triển, cho dù chúng xuất phát trong hoàn cảnh nào. Chúng ta có thể coi đó là một định luật đúng trong mọi trường họp. Ngay cả các thị trấn thương mại đă phát triển sớm nhất cũng không phải là ngoại lệ. Kiến thức của tôi rất nhiều giới hạn, nhưng nhưng kinh nghiệm phát triển mà tôi có dịp nghiên cứu, và tôi có cảm tưởng không bỏ sót trường hợp quan trọng nào, cho tôi một nhận xét là trong chiều sâu mọi phát triển trên phạm vi quốc gia đều có cùng một nguyên nhân, dù bề ngoài chúng có thể bộc lộ dưới một lư do đặc biệt: tôn giáo, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, v.v... Điều đáng lưu ư là thực ra nhiều chế độ độc tài hoặc thiếu dân chủ cũng đă nhận ra điều này. Đó là lư do khiến họ cho phép lập ra những khu chế xuất, vùng kinh tế đặc biệt, v.v... mà đặc tính là ở đó tự do được thả lỏng, các thủ tục được giảm nhẹ, sự hiện diện của chính quyền bớt lộ liễu. Các vùng này đều đă thành công và khiến nhiều kinh tế gia coi chúng như một giải pháp. Nhưng đây chỉ là một biện pháp nửa chừng. Nếu các khu chế xuất có lợi, tại sao không mở rộng cho cả nước?
Nét đậm nhất cần ghi nhớ sau những ḍng này là, một mặt, xă hội tự do dân chủ kích thích cố gắng và cho phép con người phát huy tối đa khả năng của ḿnh, và mặt khác, tự do dân chủ không đ̣i hỏi một điều kiện nào, nó phù hợp với mọi xă hội và mọi tŕnh độ. Các dân tộc vươn lên đầu tiên đă t́nh cờ đạt tới tự do và dân chủ trong trường hợp đặc biệt. Ngày nay, đă hiểu được phúc lợi của tự do và dân chủ, chúng ta có thể cố ư tạo dựng tự do và dân chủ để vươn lên.
Kết luận trên đây có phải là hiển nhiên quá đến độ nhạt nhẽo không? Nếu được như vậy th́ c̣n ǵ hơn, nhưng điều đáng buồn là không. Tôi đă quá nhiều lần được nghe từ miệng nhưng vị khoa bảng cao, kể cả những vị tự coi và được coi là những chuyên viên kinh tế, kể cả một số người hoạt động chính trị dưới danh nghĩa dân chủ, nói tới một tŕnh độ dân trí tối thiểu để có dân chủ, hay tự do quá trớn, dân chủ quá trớn, hay dân chủ tự do có nguy cơ dẫn tới vô trật tự và hỗn loạn v.v... Những lúc đó tôi chua chát nhớ tới lời nói của một ông thầy tôi: Có bằng cấp chưa phải là có kiến thức và thực học.
Trước khi chấm dứt bài này, tôi thấy cần thêm hai chú thích. Một là, những ḍng trên có thể khiến độc giả nghĩ tôi phản bác Max Weber. Sự thực là không, Weber là một trong những nhà lư luận về kinh tế và xă hội mà tôi ngưỡng mộ nhất. Những đóng góp của ông thật là to lớn. Nếu nh́n mặt trăng thay v́ chỉ nh́n ngón tay chỉ mặt trăng th́ ta thấy Weber nói đúng. Đạo Tin Lành chỉ là ngón tay mà thôi, điều mà Weber thực sự khám phá ra cho chúng ta là tầm quan trọng quyết định của văn hóa. Chính v́ thế mà các quốc gia tự do dân chủ như nhau đă có những nhịp độ phát triển khác nhau v́ văn hóa khác nhau. Phát triển, kể cả phát triển kinh tế, chủ yếu là do tâm lư con người, mà tâm lư con người là sản phẩm của văn hóa. ở thời đại mà Weber nghiên cứu, thời đại của các thế kỷ 16, 17 và 18, tôn giáo là yếu tố áp đảo của văn hóa. Văn hóa Tin Lành cởi mở, phóng khoảng, lấy đối thoại làm căn bản thay cho giáo điều, khuôn phép. Đó là một văn hóa tự do. Đạo Tin Lành đă đem lại phồn vinh (không ai có thể chối căi là các dân tộc theo đạo Tin Lành tiến bộ hơn hẳn các dân tộc theo các tôn giáo khác) v́ nó chuyên chở văn hóa tự do và đối thoại. Nhưng chúng ta cũng có thể đạt tới một văn hóa tự do, lấy chính tự do, dân chủ và đa nguyên làm những giá trị căn bản, mà không cần cỗ xe Tin Lành. Hai là, nhưng biện luận trên đây có một chỗ yếu là đă gán ghép tự do và dân chủ, trong khi các kinh nghiệm chỉ chứng tỏ tự do đă đóng vai tṛ quyết định. Các nước phát triển đầu tiên đă bắt đầu phát triển ngay từ khi chưa hẳn có dân chủ, nếu hiểu dân chủ là thể chế chính trị trong đó những người cầm quyền được dân chúng tự do bầu ra trong một nhiệm kỳ giới hạn nhất định. Trong một phần khác tôi sẽ trở lại vai tṛ của dân chủ. ở đây chỉ xin nói một cách vắn tắt: quả thực tự do mới cần thiết và mới là cứu cánh, nhưng dân chủ là yếu tố cần thiết để đảm bảo tự do, để đà phát triển có thể tiếp tục thay v́ bị găy đổ giữa đường.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Những thí dụ phản bác?

 

Tự do, dân chủ đi trước và tạo ra phát triển kinh tế chưa phải là một niềm tin phổ cập. Cho tới nay vẫn có một số khá đông người cho rằng phát triển kinh tế tạo ra dân chủ, với hệ luận là các dân tộc đang chịu ách độc tài hăy cứ tạm gác những đ̣i hỏi về tự do dân chủ để tập trung cố gắng phát triển kinh tế, sau đó chính phát triển kinh tế sẽ mang lại tự do dân chủ. Đây là một lư luận rất tiện nghi cho các chế độ độc tài như Việt nam; không có ǵ ngạc nhiên nếu họ sử dụng nó. Điều đáng tiếc là nhiều người khao khát tự do dân chủ cũng hoài nghi và không thể phản bác luận điệu kinh tế đi trước chính trị một cách thực dứt khoát.
Những phân vân về tương quan giữa dân chủ và phát triển có ít nhất ba nguyên nhân.
Một là, trên thực tế phát triển kinh tế cũng thúc đẩy dân chủ và tự do v́ thế mà chúng ta dễ lẫn lộn hậu quả với nguyên nhân. Hai là do chính hiệu lực nhanh chóng của tự do dân chủ: nó lập tức đưa đến tiến bộ về mặt kinh tế, do đó một số người không nhận ra cái ǵ trước cái ǵ sau. Ba là, v́ nhiều lư do, trong đó lư do quan trọng nhất là sự kháng cự của những người lănh đạo không chịu từ bỏ lập tức những đặc quyền đặc lợi, dân chủ và tự do không tới toàn bộ cùng một lúc mà thường tới từng đợt một, dưới sức ép của thực tại xă hội theo từng mức độ phát triển người quan sát thiếu chăm chú khó thấy được rằng ở mỗi giai đoạn một mức độ dân chủ tự do lớn hơn đă cho phép một mức độ phát triển lớn hơn. Trong cuộc kháng cự lồng lộn để cố giữ nguyên quyền lực của họ, các chế độ độc tài dùng đủ mọi lập luận, nhiều khi dựa vào những giải thích gian trá của chính hiện tượng phát triển tại các quốc gia đang dân chủ hóa. Những kinh nghiệm thường được viện dẫn để phản bác những đ̣i hỏi dân chủ và nhân quyền là trường hợp của những nước được mệnh danh là các con rồng châu á như Đài Loan, Nam Hàn, Mă Lai, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Brunei, và đói khi ngay cả Hồng Kông. Các chế độ độc tài châu á, nhất là Việt nam, thường căn cứ vào đó để nói rằng có thể phát triển mà không cần dân chủ và chính phát triển kinh tế sẽ đem lại dân chủ. Sự thực như thế nào? Chúng ta lại thử làm một ṿng khảo sát.
Cần loại bỏ ngay trường hợp Hồng Kông. Đó là một nhượng địa của nước Anh cho tới ngày 30-6-1997. Một toàn quyền người Anh đại diện cho nước Anh, giao toàn bộ việc quản lư đời sóng hàng ngày cho một guồng máy hành chính người Hồng Kông. Vị toàn quyền không ở đó để áp đặt một ách thống trị, vai tṛ của ông là đảm bảo các quyền tự do theo quan niệm của nước Anh. Trong những năm cuối cùng trước khi trao trả Hồng Kông cho Bắc Kinh, toàn quyền Chris Patten c̣n xuất hiện như một người luật sư của tự do, dân chủ và nhân quyền tại châu á. Ông bị nhiều chế độ châu á đả kích như một nhân vật giáo điều nhân quyền.
Dưới sự giám sát và bảo vệ của nước Anh, Hồng Kông là một mẫu mực thành công của khuôn mẫu dân chủ tư bản phương Tây. Hồng Kông không những không chứng minh rằng có thể phát triển mà không cần dân chủ, trái lại nó c̣n là bằng chứng đầu tiên tại châu á về phép mầu dân chủ tư bản.
Cũng phải loại bỏ trường hợp của Brunei trong cuộc thảo luận về tương quan giữa dân chủ và phát triển. Đúng là vương quốc nhỏ bé này không có dân chủ, chế độ của nó là một chế độ quân chủ tuyệt đối mặc dầu vậy nó vẫn có một mức sống rất cao. Những trước hết Brunei chỉ giàu chứ không phát triển. Brunei là một quốc gia giàu có lạc hậu. Hăy cứ nh́n trong những phim tài liệu những rác rưởi trôi lềnh bềnh và ngập ngụa dưới chân những làng cất trên cọc cao bên mé sông, mé biển. Brunei cũng không phải là một quốc gia mà chỉ là một giếng dầu. 260.000 dân sống trên một diện tích nhỏ xíu chưa đầy 6.000 km2, trong đó quá ba phần tư là rừng hoang. Brunei không muốn độc lập mà đă bị nước Anh bắt phải độc lập và đă tự an ủi bằng cách xây một hoàng cung tốn kém 350 triệu USD, tốn kém này nếu đem chia cho dân số th́ mỗi người phải đóng góp 1500 USD. Muốn h́nh dung sự hoang phí này phải tưởng tượng nước Mỹ bỏ ra 350 tỷ USD để xây ṭa Bạch ốc. Sự giàu có của Brunei không do con người làm ra mà đă phun từ ḷng đất lên. Con người ở đây không cần làm ǵ cả, cũng không phải đóng một loại thuế nào, mà được chu cấp tất cả một cách dồi dào. Chắc chắn họ có thể chấp nhận bỏ qua dân chủ và tự do với giá này. Nhưng thực ra là họ cũng không mất ǵ cả. Họ sống quá sung túc và không cần tranh đấu đ̣i hỏi bất cứ ǵ, do đó không có ư định chống lại nhà vua, và ngược lại nhà vua cũng không cần kiểm soát họ. Nhà vua cũng không cần cấm đoán họ đi đâu v́ đi đâu họ cũng không sung túc như ở chính nước họ. Cũng không có một quốc gia nào ngăn cản những du khách Brunei tới nước họ để tiêu xài. Kết quả là do sự sung túc cực kỳ người Brunei có tất cả mọi quyền tự do, trừ quyền tự do trai gái hôn nhau ngoài đường do phong tục Hồi Giáo. Brunei vẫn thiếu mở mang.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Singapore: một thị trưởng xuất sắc

 

Singapore cũng là một trường hợp rất hi hữu. Nó là một thành phố thương cảng hơn là một quốc gia và cũng không phải là một thành phố lớn, với một diện tích 639 km2 và một dân số chưa đầy ba triệu. Nhưng Singapore không phải là một ngoại lệ đối với qui luật tự do dân chủ tạo ra phát triển. Được thành lập từ đầu thế kỷ 19 bởi một người Anh, bắt đầu từ một làng đánh cá với khoảng một trăm người, Singapore chưa hề biết tới một tổ chức xă hội nào khác hơn là khuôn mẫu tự do dân chủ phương Tây. Singapore được hoàn toàn tự trị dưới sự giám sát của người Anh tương tự như Hồng Kông từ 1959 và trở thành một nước độc lập từ 1965. Chính quyền nằm trong tay một quốc hội xuất phát từ bầu cử tự do và quốc hội chỉ định một thủ tướng. Chắc chắn Singapore không phải là một chế độ dân chủ gương mẫu. Đảng Nhân Dân Hành Đồng, cầm quyền từ ngày độc lập, đă sử dụng những biện pháp không mấy lương thiện để tiếp tục nắm chính quyền, chẳng hạn như trợ cấp cho những khu nào bầu cho đảng cầm quyền. Nhưng các đảng đối lập không bị cấm, người đối lập không bị bỏ tù, báo chí không là độc quyền của nhà nước. Đảng cầm quyền dùng các biện pháp bất chính để thắng cử nhưng không cấm đối lập ứng cử và không gian lận kết quả các cuộc bầu cử. Singapore cũng là một nước có luật lệ khá khe khắt, nhưng với một diện tích quá nhỏ và một mật độ dân số 5.000 người trên một cây số vuông, đó có lẽ là cái giá phải trả để giữ ǵn trật tự an ninh. Vả lại luật pháp tuy khe khắt nhưng lại được áp dụng một cách đứng đán cho tất cả mọi người. Và dẫu sao nhu cầu dân chủ cũng không đặt ra cho một thành phố nhỏ như Singapore một cách gay gắt như đối với một quốc gia lớn. Dân chủ chủ yếu là phương thức sinh hoạt cho một nước có tầm vóc đáng kể, phải đương đầu với những chọn lựa lớn và phải cai trị một dân số đông đảo với nhưng điều kiện sinh hoạt, những ưu tư và nguyện ước khác nhau. Singapore không có nhưng vấn nạn đó. Chức năng của nó rất ro rệt v́ con người ở đây không có mục đích nào khác hơn là làm giàu; điều mà họ mong muốn là được tự do sinh sống và làm ăn, và họ đă đạt được. Nhu cầu dân chủ chỉ là thứ yếu.
Trong những năm gần đây, cựu thủ tướng Lư Quang Diệu, người đă có công dẫn dắt Singapore trong hơn ba mươi năm trên con đường đi tới phồn vinh, đă lên tiếng nhiều lần đề cao những giá trị châu á với một giọng điệu bài bác chung chung các giá trị của phương Tây. V́ tự do, dân chủ và nhân quyền được coi là những giá trị của phương Tây nên những phát biểu của họ Lư được hiểu là không thuận cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đă lập tức tôn ông Lư làm bậc thầy (trên thực tế họ đă mời ông làm cố vấn, để rồi có lúc bị ông mắng là không chịu cải tổ kịp thời).
Nhưng đối với Singapore, chúng ta không nên quên hai sự kiện rất cơ bản:
Một là, dù Singapore có phồn vinh đến đâu đi nữa nó cũng chỉ là một thành phố trung b́nh và dù ông Lư Quang Diệu có thành công đến đâu đi nữa ông cũng chỉ có kinh nghiệm của một viên thị trưởng. Ông có thể lấy kinh nghiệm của ḿnh để làm cố vấn cho một thành phố thương cảng như Sài G̣n, Đà Nẵng, Hải Pḥng nhưng ông không thể dạy bảo một quốc gia với những vấn đề mà ông chưa bao giờ biết tới.
Hai là, có một cái ǵ rất khôi hài trong những giá trị của châu á, mà Lư Quang Diệu đề cao khi đă về hưu. Hơn tất cả mọi quốc gia và hơn cả Hồng Kông, Singapore là nước châu á bị Tây phương hóa nặng nhất. Mọi người Singapore đều thạo tiếng Anh và đa số không viết thạo tiếng Tàu. Tập tính của người Singapore là tập tính buôn bán, tôn giáo của Singapore là của cải vật chất, cái Khổng Giáo mà ông Lư đề cao chỉ là một thứ Khổng Giáo đô-la. Trong suốt cuộc đời hoạt động của ông, Lư Quang Diệu đă dồn mọi có gắng để bắt chước phương Tây tối đa. Chỉ đến khi về già, ông mới bày tỏ một sự lưu luyến muộn màng với nguồn gốc Trung Hoa của ông. Đó chẳng qua là tâm lư lá rụng về cội thông thường của con người. Người ta có thể hiểu ông nhưng không thể lấy những lời nói của ông làm tiền mặt.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Mă Lai: dân chủ ngay từ khi thành lập

 

Mă Lai cũng không khác Singapore bao nhiêu về quan hệ với phương Tây. Đó cũng là một quốc gia hoàn toàn do người phương Tây thành lập ra, lănh thổ chỉ mới tạm ổn định từ năm 1963: Lịch sử của quốc gia này, với một diện tích 330.000 km2 (đúng bằng Việt nam) nhưng chỉ có khoảng 20 triệu dân, chỉ thực sự bắt đầu từ thế kỷ 16. Trước đó, trong những thế kỷ đầu của công nguyên bán đảo Mă Lai chỉ là một vùng rừng núi hoang vu với một số rất nhỏ thổ dân, và là trạm dừng chân của các đoàn thuyền buôn từ phương Bắc, phần lớn từ ấn Độ, tới Sumatra. Những người Bumiputra, tự coi là chủ nhân của đất Mă Lai, chỉ bắt đầu đến từ Sumatra từ thế kỷ thứ VIII. Dấu vết chính trị đầu tiên được ghi nhận là một vương quốc nhỏ được thành lập ở phía Nam bán đảo đầu thế kỷ 15. Khi một số người Bồ Đào Nha đến chinh phục mỏm Malacca năm 1511, họ chỉ gặp một sự kháng cự rất yếu ớt của những bộ lạc rất lẻ tẻ. Người Bồ Đào Nha đă đóng góp làm cho sinh hoạt thương mại phát triển mau chóng. Hơn một thế kỷ sau, năm 1641, Mă Lai lại được may mắn khác: người Ḥa Lan, một dân tộc rất sáng lạo và giàu óc kinh doanh, hất cẳng người Bồ Đào Nha và chiếm lấy Mă Lai. Sự thịnh vượng lại càng gia tăng dưới sự cai trị của người Ḥa Lan, nhưng nó cũng bắt đầu cám dỗ một đế quốc mới vừa qua mặt Ḥa Lan về sức mạnh: nước Anh. Năm 1795 Ḥa Lan phải nhường bán đảo Mă Lai và vùng Bắc Borneo cho Anh để rút về cố thủ quần đảo Indonesia
Sự khác biệt rất lớn giữa hai đế quốc thực dân lớn nhất trong, thế kỷ 19, Anh và Pháp, là ở chỗ người Pháp cố gắng phá vỡ mọi giềng mối quốc gia có sẵn để dễ thống trị, trong khi người Anh cố thành lập ra những quốc gia ngay cả ở những nơi không có quốc gia để có những đối tác kinh doanh. Trong suốt một thế kỷ họ đă tạo dựng ra nước Mă Lai bằng cách kết hợp những cộng đồng rất khác khau trên bán đảo. Họ thành lập ra Liên Bang Mă Lai năm 1891, mở rộng dần dần lănh thổ và quyền tự quản của người địa phương, rồi trả độc lập cho Mă Lai năm 1957, sau khi đă kư kết một hiệp ước quân sự. Cũng chính người Anh năm 1963 đă sáp nhập vùng đất phía Bắc đảo Borneo vào Liên Bang Mă Lai.
Sự nhắc lại vắn tắt lịch sử Mă Lai này cho thấy nó hoàn toàn được tạo dựng lên do người phương Tây, cho nên tinh thần nền tảng của nó không thể khác phương Tây, nghĩa là tự do và dân chủ. Quốc gia tân lập này gồm 55% người Bumiputra nói tiếng Mă Lai (tiếng nói chung của nhiều sắc dân thuộc quần đảo Indonesia nơi họ xuất phát), hơn 30% người gốc Trung Hoa và non 10% người gốc ấn Độ. Người Trung Hoa tuy ít hơn về dân số nhưng lại hơn hẳn người Bumiputra về kiến thức và tài sản. Với một cấu tạo nhân chủng như vậy, Mă Lai không thể tồn tại dưới một chế độ độc tài. Nó đă tồn tại được nhờ một thỏa thuận: người Hoa nhường nhịn người Bumiputra, và người Bumiputra chấp nhận người Hoa. Cũng cần lưu ư một đặc điểm của người Hoa ở Mă Lai: họ là những người thích buôn bán làm giàu hơn là thích quyền lực chính trị. Trong thời gian thế chiến II, hầu như đă chỉ có một nhóm nhỏ cộng sản gốc Hoa kháng chiến chống lại quân chiếm đóng Nhật. Tháng 8-1945 khi Nhật đầu hàng, họ đă nắm được chính quyền tại Mă Lai nhưng đă hạ khí giới khi người Anh trở lại v́ tự thấy không đủ sức mạnh và hậu thuẫn quần chúng để chống lại. Người Anh v́ thế đă lấy lại được quyền lực một cách không tốn kém và tiếp tục tạo dựng ra Liên Bang Mă Lai. Về sau này, khi Đảng cộng Sản Mă Lai phát động kháng chiến trở lại, họ cũng chỉ qui tụ được, ở lúc mạnh nhất, không đầy bảy ngàn người, chu yếu là người Hoa, và dần dần tàn lụi đi. Tập tính hiếu ḥa, chăm làm giàu và không ham quyền lực của người gốc Hoa là bí quyết của sự phát triển của Mă Lai sau này, đồng thời cũng là lư do khiến cho Mă Lai tiếp tục đứng vững.
Gần đây, những lời tuyên truyền chống các giá trị phương Tây, hàm ư chống dân chủ và nhân quyền, của thủ tướng Mahathir Bin Mohamad đă làm những người dân chủ Việt nam khó chịu và chính quyền cộng sản Việt nam khoái chí, nhưng ta cần phải hiểu ràng đó chỉ là những lời tuyên bố dùng cho nhu cầu tiêu thụ nội địa mà thôi. Sự thực không phải như vậy. Mă Lai ngay từ ngày thành lập đă được hưởng không khí tự do dưới sự giám sát của người Anh. Từ khi có độc lập nó là một nước dân chủ (chế độ chính trị của Mă Lai là quân chủ lập hiến nhưng rất ít ai biết đến vua Mă Lai). Nền dân chủ đó không hoàn chỉnh do điều kiện dân trí, nhưng có tất cả mọi yếu tố cốt lơi của dân chủ: tự do ngôn luận, tự do kết hợp, tự do bầu cử và ứng cử. Các chính đảng được hoạt động tự do, các cuộc bầu cử diễn ra một cách đúng hạn kỳ và lương thiện từ ngày độc lập. Mă Lai hoàn toàn không phải là một chế độ độc tài. Luật pháp Mă Lai có nhiều khe khắt nhưng do một quốc hội dân cử biểu quyết ra. Những diễn văn bảo thủ của Mahathir chỉ có mục đích tuyển cử: toàn bộ giới lănh đạo Mă Lai, kể cả Mahathir, đều thuộc giai cấp trưởng giả thành thị Tây phương hóa 100%, nên luôn luôn lo sợ bị một đảng bảo thủ mị dân nổi lên đánh bại. Mahathir bài xích phương Tây chỉ để tỏ ra ḿnh vẫn là Mă Lai, vẫn truyền thống và không mất gốc.
Mă Lai hoàn toàn không phải là bằng chứng cho rằng một quốc gia có thể phát triển mà không cần tự do dân chủ. Ngược lại, hoàn toàn ngược lại, đó là bằng chứng rằng dân chủ và tự do đă có khả năng biến một quốc gia tân lập, với dân trí thấp và chủng tộc phức tạp thành một trong những quốc gia giàu mạnh nhất vùng Đông Nam á.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Đại Hàn Dân Quốc:


sự thành công của những chế độ độc tài sáng suốt?

Một ngộ nhận khác của người Việt nam là trường hợp Nam Cao Ly (tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc). Quốc gia nhỏ bé này, với diện tích 98.500 km2, chưa bằng một phần ba Việt nam, và dân số 47 triệu, trong ṿng ba thập niên đă vươn lên từ địa vị một nước nghèo và bị chiến tranh tàn phá thành cường quốc kinh tế thứ 11 của thế giới. Trong ṿng hơn ba mươi năm, từ 1960 đến 1993, Nam Cao Ly được các tướng lănh cai trị cho nên dưới mắt thế giới đó là một nước độc tài quân phiệt. Thành công ngoạn mục của Nam Cao Ly v́ thế đă được nhiều tập đoàn độc tài, đặc biệt là chính quyền cộng sản Việt nam, lấy làm bằng cớ là một chế độ độc tài sáng suốt có khả năng phát triển kinh tế hiệu lực hơn là một chế độ dân chủ. Sự thực như thế nào?
Các tướng lănh thay nhau lên làm tổng thống Nam Cao Ly chắc chắn không phải là những người yêu chuộng dân chủ và nhân quyền. Pak Chung Hee (Phác Chính Hy) đă bắt cóc và định thủ tiêu lănh tụ đối lập Kim Dae Jung (Kim Đại Trung), tướng Chun Doo Hwan (Toàn Đầu Hoán) đă tàn sát hàng trăm sinh viên tại Kwangju. Họ là những tay vơ biền, và chính t́nh trạng căng thẳng do sự hiện diện của một chính quyền quân phiệt hung dữ tại Bắc Hàn đă dưa họ lên cầm quyền. Nhưng vấn đề là họ không áp đặt được chế độ độc tài Nam Cao Ly vẫn là một nước dân chủ, với đầy đủ nhưng yếu tố cơ bản của một chế độ dân chủ: tự do ngôn luận, tự do kết hợp, tự do bầu cử và ứng cử. Trên thực tế, những cuộc bầu cử tại Nam Cao Ly đă rất sôi nỗi với nhưng kết quả rất khít khao. Syng Man Rhee (Lư Thừa Văn) bị lật đổ năm 1960 bởi những cuộc xuống đường rầm rộ phản đối bầu cử gian lận. Tướng Pak Chung Hee chỉ hơn đối thủ Djang Myon không đầy 1% trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1963. Do thành công ngoạn mục về kinh tế, ông đắc cử vẻ vang năm 1967 (87%), nhưng bốn năm sau đó, năm 1971, chỉ thắng khít khao đối thủ Kim Dae Jung (54% / 46%). Một giai đoạn sôi động diễn ra sau đó khi Pak Chung Hee, dựa vào hậu thuẫn mà quần chúng dành cho ông ta, sửa đổi hiến pháp để tiếp tục nắm chính quyền. Dù bản hiến pháp mới đă được dân chúng Nam Cao Ly ủng hộ mạnh mẽ (73 % qua trưng cầu dân ư), trí thức và sinh viên đă tỏ ra sáng suốt và dũng cảm, họ nh́n thấy một âm mưu thiết lập chế độ độc tài mị dân và đă chống đối mănh liệt. Chun Doo Hwan, cầm quyền sau khi Pak Chung Hee bị ám sát, đắc cử với 90% số phiếu của một Đại Hội Quốc Dân Thống Nhất Đất Nước năm 1982 đă chống trả hung bạo những tranh đấu của sinh viên trí thức, nhưng càng ngày cuộc đấu tranh càng được quần chúng hiểu và ủng hộ đưa tới những cuộc biểu t́nh khổng lồ. Chun Doo Hwan phải nhượng bộ và chấp nhận rút lui, tướng Roh Tae Woo (Lư Thái Ngu) chấp nhận trở lại cách bầu tổng thống theo phổ thông đầu phiếu và chỉ thắng cử với 36% trong cuộc bầu cử năm 1987 nhờ sự chia rẽ của đối lập dân chủ mà tổng số phiếu của hai ứng cử viên, Kim Dae Jung và Kim Yong Sam, cộng lại là 55%. Lực lượng dân chủ ngày càng mạnh lên, buộc đảng cầm quyền phải làm một thỏa hiệp kỳ lạ với đảng của cựu ứng cử viên tổng thống Kim Yong Sam (Kim Đồng Tam) theo đó hai đảng hợp nhất, với Kim Yong Sam làm chủ tịch và là ứng cử viên tổng thống. Năm 1992, Kim Yong Sam đắc cử tổng thống trong một cuộc bầu cử lương thiện. Cuối năm 1997 Kim Dae Jung đánh bại ứng cử viên đảng cầm quyền và đắc cử tổng thống.
Các cuộc bầu cử quốc hội cũng diễn ra một cách đều đặn và lương thiện từ 1963, trong đó đảng cầm quyền chưa bao giờ được đa số tuyệt đối.
Như vậy, Nam Cao Ly đă là một nước dân chủ từ thập niên 1960. Cho tới đầu thập niên 1990 đó chưa phải là một nền dân chủ hoàn hảo, nhưng vẫn là một nền dân chủ thực sự, một lần nữa nếu hiểu dân chủ là một chế độ bảo đảm tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do kết hợp, tự do bầu cử và ứng cử. Điều khác với Mă Lai là tại Nam Cao Ly các tướng lănh cầm quyền đă chủ trương áp đặt chế độ độc tài và trí thức Nam Cao Ly đă phải tranh đấu cam go để đánh bại họ và bảo vệ dân chủ. Thật là sai khi nói rằng Nam Cao Ly đă phát triển mạnh mẽ trong hơn ba mươi năm dưới chế độ độc tài quân phiệt. Càng bất lương khi lấy trường hợp Nam Cao Ly để lập luận rằng có thể phát triển mà không cần có dân chủ. Không, Nam Cao Ly đă chỉ bắt đầu phát triển sau khi loại bỏ chế độ độc tài Syng Man Rhee, và từ đó đă tiến lên nhờ dân chủ và tự do. Sự thực là Nam Cao Ly đă vươn lên nhờ trí thức của nó đă sáng suốt và dũng cảm để bảo vệ dân chủ và do đó duy tŕ được đà phát triển. Không những không phải là một ngoại lệ, trường hợp Nam Cao Ly c̣n chứng tỏ phải dân chủ hóa mới có thể phát triển và dân chủ phải đi trước phát triển. Cũng đừng nên quên rằng điều nổi bật nhất và đáng chú ư nhất là Cao Ly đă bị chia cắt làm hai, miền Bắc (Cộng Ḥa Nhân Dân Triều Tiên) theo chế độ độc tài cộng sản trong khi miền Nam (Đại Hàn Dân Quốc) theo chế độ dân chủ tư bản, miền Nam tư bản đă trở thành một cường quốc trong khi miền Bắc suy sụp và đói nặng.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Thái Lan: măi đến 1992

 

Thái Lan chỉ được biết tới như một con rồng hay con cọp tương lai trong vài năm trước cuộc khủng hoảng tài chánh châu á khởi đầu từ tháng 7-1997 tại chính Bangkok. Thái Lan không phải là một mẫu mực thành công về kinh tế và v́ thế về cơ bản không chứng minh điều ǵ rơ rệt. Điều đáng nói là Thái Lan đă phải thành công hơn.
Quốc gia này may mắn nhất Đông Nam á, có lịch sử khá lâu đời và không bị ngoại thuộc, ngoại trừ thời gian ngắn ngủi bị Nhật chiếm đóng nhưng không gây đỗ vở. Thái Lan đă kháng cự một cách rất h́nh thức trong ṿng vài giờ rồi đầu hàng và sau đó cũng chỉ bị Nhật chiếm đóng một cách h́nh thức cho đến khi Nhật đầu hàng. Thái Lan cũng may mắn có một h́nh thức dân chủ thật sớm, ngay từ 1932 khi một cuộc đảo chánh buộc vua Thái chấp nhận chế độ quân chủ lập hiến, nhường thực quyền cho một chính phủ xuất phát từ một quốc hội do dân bầu.
Với sự chuyển hóa mau chóng và b́nh ổn lâu dài như vậy đáng lẽ Thái Lan phải là nước phát triển bậc nhất châu á, nhất là Thái Lan có đất rộng, vị trí khá thuận lợi và tài nguyên khá phong phú. Nhưng sự thực đă không diễn ra như vậy, v́ có bề ngoài nhưng cũng c̣n có bề trong. Mà bề trong là ǵ?
Đó là các tập đoàn tướng lănh đă thay nhau cầm quyền dưới một chế độ dân chủ trong h́nh thức nhưng độc tài quân phiệt trong nội dung. Lịch sử cận đại của Thái Lan có thể tóm tắt như thế này: khi một nhóm tướng lănh cảm thấy đủ sức mạnh, họ đảo chính lật đổ đám tướng lănh đang cầm quyền và nhóm tướng lănh bị hất cẳng quay ra làm thương mại hoặc cạo đầu đi tu chờ cơ hội trở lại cầm quyền. Nhưng cuộc đảo chánh không đổ máu kế tiếp nhau trước sự dửng dưng thụ động của quần chúng. T́nh trạng này đă chỉ thật sự chấm dứt tháng 9- 1992, khi lập đoàn quân phiệt phải nhượng bộ, sau khi đă đàn áp đẫm máu mà không dẹp được, những cuộc xuống đường rầm rộ đ̣i dân chủ. Chế độ độc tài quân phiệt Thái Lan đă kéo dài suốt sáu mươi năm bởi v́ nó dựa trên một liên minh rất vững chắc giữa quân phiệt, tài phiệt và nhà vua, nghĩa là một liên minh vừa có bạo lực, vừa có tiền lại vừa có tính chính đáng do lịch sử và truyền thống. Chưa kể là nó c̣n có một đồng minh gián tiếp là Phật Giáo Tiểu Thừa, một tôn giáo nhân nhục và thụ động.
Nếu trường hợp Thái Lan có chứng minh điều ǵ th́ đó là dân chủ không do phát triển kinh tế mang lại. Trong suốt thời gian sáu mươi năm, mặc dù mức độ tăng trưởng không cao nhưng sinh hoạt kinh tế xă hội cũng đă thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giành dân chủ đă chỉ do sinh viên chủ động, mà sinh viên th́ không thuộc một thành phần kinh tế nào, c̣n gia đ́nh họ th́ hầu hết thuộc thành phần quân phiệt hoặc tài phiệt, nghĩa là những thành phần được ưu đăi và đáng lẽ phải gắn bó với chế độ. Người ta không ghi nhận một cuộc đấu tranh có động cơ kinh tế nào trong suốt thời gian này. Các sinh viên đă chỉ xuống đường v́ những lư tưởng tự do, dân chủ, nhân duyên do ảnh hưởng của văn hóa và truyền thông. Mọi cuộc biểu t́nh của sinh viên đều bị đàn áp thẳng tay, mỗi lần vài chục sinh viên thiệt mạng, trong khi những cuộc đảo chánh quân sự rất ít khi có người chết hay bị thương.
Mùa Xuân 1992, sau một cuộc bầu cử gian dối, lực lượng sinh viên xuống đường đă mạnh gấp bội nhưng lần trước, không phải v́ cơ cấu kinh tế đă thay đổi mà v́ sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và khối cộng sản đă đẩy thế giới vào kỷ nguyên dân chủ. Khí thế đấu tranh cho dân chủ đạt một cường độ chưa từng có, trong khi tập đoàn quân phiệt Thái vừa lung lay như mọi tập đoàn độc tài trên thế giới, vừa mất lư cớ cầm quyền để chống nguy cơ cộng sản. Chế độ quân phiệt Thái cáo chung. Về mặt kinh tế, Thái Lan đă chỉ phát triển chậm chạp cho tới giữa thập niên 1960, sau đó Thái Lan, nhờ vị trí hậu cần cho đoàn quân Hoa Kỳ tại Việt nam, đă nhận được một khoản viện trợ lớn và kinh tế đă có phần khởi sắc, tuy vậy Thái Lan cũng vẫn c̣n thua xa nước láng giềng Mă Lai. Phải chờ đợi đến sau 1992 khi chế độ quân phiệt chấm dứt, kinh tế Thái Lan mới thực sự cất cánh. Từ đó trở đi người ta mới bắt đầu nói tới Thái Lan như con rồng mới. Cuộc khủng hoảng tài chánh ập tới, đưa Thái Lan trở lại với một tham vọng khiêm nhường hơn. Mùa hè 1998, đúng một năm sau cuộc khủng hoảng, tôi có dịp trở lại thăm viếng Thái Lan và nhận xét một cách rất khác với nhiều người. Tôi thấy đó là một quốc gia dân chủ, với sinh hoạt kinh tế đang được lành mạnh hóa và một tâm lư kinh doanh rất rơ rệt. Trái với nhiều người, tôi lạc quan cho Thái Lan sau này hơn là trước mùa hè 1997.
Điều cần chú ư là Thái Lan đă phát triển mạnh sau khi dân chủ hóa, và từ đó không c̣n những xung đột đẫm máu như trước nữa. Trường hợp Thái Lan như vậy cũng không phải là một ngoại lệ của qui luật dân chủ đi trước và kéo theo phát triển. Hơn nữa nó c̣n bẻ găy một lư cớ quen thuộc của các tập đoàn độc tài là dân chủ đưa tới hỗn loạn. Chính dân chủ đă tránh cho Thái Lan một thảm kịch. Thử tưởng tượng cái ǵ sẽ xảy ra vào mùa hè năm 1997, khi một cách rất đột ngột kinh tế gần như sụp đổ hoàn toàn, nếu chế độ vẫn là độc tài quân phiệt? Chắc chắn sẽ có bạo loạn và đổ máu lớn.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Philíppin: sự bịp bợm của Marcos

 

Cho đến năm 152 1, khi Magellan, một nhà mạo hiểm người Tây Ban Nha đặt chân đến, Phi-líp-pin là một quan đảo không tên không tuổi với hơn 7.000 đảo và hàng trăm bộ lạc nhỏ. Quốc gia tân lập này đă hoàn toàn do người Tây Ban Nha tạo dựng ra, tên của nó cũng được đặt theo tên vị vua Tây Ban Nha đương thời. Như thế Phi-líp-pin đă được Tây phương hóa ngay từ thời thành lập. Trước đó không hề có một dấu tích đáng kể nào của nền văn minh châu á, dù là Phật Giáo, Khổng Giáo, Hồi Giáo hay ấn Độ Giáo. Hiện nay tôn giáo chính của Phi-líp-pin là Công Giáo, do người Tây Ban Nha mang tới, với trên 60% dân chúng. Tuy là một quốc gia rất mới, nhưng nhờ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, Phi-líp-pin lại là một trong những dân tộc có tinh thần quốc gia đầu tiên tại châu á, trong khi Việt nam và Trung Quốc chỉ có tinh thần trung quân. Các phong trào đ̣i độc lập đă xuất hiện ngay từ thế kỷ 18 và được nuôi dưỡng bởi những tư tưởng của các nhà văn.
Năm 1896, một phong trào dân tộc được ủng hộ rộng răi đă tuyên bố độc lập. Hai năm sau Tây Ban Nha bối rối phải nhượng bộ trước áp lực của Hoa Kỳ sau khi bị đại bại trong một cuộc hải chiến và đă chấp nhận bán lại toàn bộ quần đảo Phi-líp-pin cho Hoa Kỳ với giá tượng trưng 20 triệu USD. Hoa Kỳ không có truyền thống thực dân và cũng không cần đất đai mà chỉ t́m kiếm các đầu cầu thương mại, nên đă lập tức chuẩn bị trả độc lập cho quốc gia tân lập này. Tuy vậy một nửa thế kỷ tiếp xúc với Hoa Kỳ vẫn không lay chuyển được ba thế kỷ rưỡi do Tây Ban Nha nhào nặn. Nền văn minh phương Tây mà Phi-líp-pin tiếp nhận vẫn là nền văn minh Tây Ban Nha với những nhược điểm của nó: thiếu tinh thần trách nhiệm và đối thoại, tập tính giáo điều và ưa bạo lực. Có thể nói Phi-líp-pin đă tiếp thu văn hóa phương Tây ở dạng kém nhất. Tuy chỉ có một chế độ dân chủ xô bồ, Phi-líp-pin vẫn tiếp tục phát triển một cách tương đối khả quan cần nhấn mạnh tĩnh từ tương đối - từ ngày được độc lập, năm 1946. T́nh h́nh Phi-líp-pin đă xấu đi từ 1965 khi Ferdinand Marcos, với sự hỗ trợ của giai cấp giàu có, đă đắc cử tổng thống. Marcos đă khéo dùng mọi thủ đoạn mị dân như tô vẽ thành tích chống Nhật trong thế chiến II, tạo cho ḿnh h́nh ảnh một anh hùng vơ nghệ cao cường, dũng lược hơn người, có vợ từng là hoa hậu, để thu hút quần chúng. Để kéo dài vô hạn định thời gian tại chức thay v́ hai nhiệm kỳ bốn năm như hiến pháp qui định, Marcos ban hành lệnh giới nghiêm năm 1971, rồi quân luật năm 1972. Những năm cuối trào của Marcos đă là những năm cực kỳ đen tối cho Phi-líp-pin: loạn quân Hồi Giáo, loạn quân cộng sản, cướp bóc, đàn áp, thủ tiêu và biểu t́nh bạo động v.v... trong một bối cảnh tham nhũng cực kỳ trắng trợn; kinh tế Phi-líp-pin hoàn toàn suy sụp và nợ nước ngoài chồng chất. Hoa Kỳ và các định chế tiền tệ quốc tế thấy không c̣n tiếp tục ủng hộ Marcos được nữa, các áp lực càng ngày càng tăng cao đ̣i Marcos từ chức, giới giàu có cũng cảm thấy quyền lợi của họ không c̣n đi đôi với chế độ Marcos nữa. Giọt nước làm tràn ly là cuộc ám sát lănh tụ đối lập Benigno Aquino trên cửa chiếc máy bay đưa ông từ Mỹ về nước. Chống đối bùng lên dữ đội, buộc Marcos phải chấp nhận bầu cử lại quốc hội năm 1984 đúng hạn kỳ hiến định. Đối lập dân chủ tuy không giành được đa số nhưng đă thắng lớn tại Manilla. Đây là tiếng chuông báo hiểu ngày tàn của chế độ Marcos v́ trước đó, những cuộc đầu phiếu và trưng cầu dân ư luôn luôn đem lại cho ông ta gần như toàn bộ số ghế trong quốc hội và những đa số 80%, 90%. Lúng túng trước áp lực trong nước cũng như ngoài nước, Marcos chơi bạo tổ chức bầu cử tổng thống năm 1986 trước hạn định một năm. Tính toán của Marcos là buộc đối lập phải tranh cử vào lúc chưa kịp chuẩn bị. Marcos đă có lư v́ quả nhiên ông ta đă thắng bà quả phụ Cory Aquino trên 500.000 phiếu. Nhưng đối lập dân chủ đă dựa vào hậu thuẫn của trí thức và hỗ trợ quốc tế, nhất là của Hoa Kỳ, đă tự tuyên bố bừa là thắng cử và phủ nhận kết quả của cuộc bầu cử mà họ cho là gian lận, dù sau này các tài liệu chứng tỏ Marcos đă thực sự thắng cử. Quân đội và giới tài phiệt bỏ rơi Marcos, ông ta đào thoát khỏi Phi-líp-pin và chết trong cảnh lưu vong.
Từ đó dân chủ được tái lập, sinh hoạt chính trị và kinh tế dần dần trở lại b́nh thường, ḥa b́nh cũng dần dần được văn ḥi. Từ đó Phi-líp-pin tiến những bước đều đặn và chắc chắn trên đường phát triển với một mức độ tăng trưởng rất khả quan, và may mắn hơn, không bị tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng châu á mùa hè 1997. Nhiều nhà b́nh luận bắt đầu nói tới một phép mầu Phi-líp-pin. Những điều không may cho người Phi-líp-pin là họ đă không biết rút kinh nghiệm của bài học Marcos và vẫn duy tŕ chế độ tổng thống, một chế độ rất dễ đưa đến lạm quyền trong những nền dân chủ non trẻ. Sau hai nhiệm kỳ tổng thống b́nh thường, năm 1998 một tài tử kịch ảnh là Joseph Estrada đắc cử tổng thống và lợi dụng chức quyền để tham nhũng và ăn chơi trác táng, gây nhiều thiệt hại lớn về vật chất cũng như tinh thần cho Phi-líp-pin. Tuy nhiên dân chủ đă được thiết lập và người dân Phi-líp-pin nhiều lắm cũng chỉ phải chịu đựng viên tổng thống tồi này trong một nhiệm kỳ.
Nhưng ǵ đă xảy ra tại Phi-líp-pin chứng tỏ rơ rệt hai điểm:
Một là, trái ngược hẳn với luận điểm của Marcos, dân chủ đă không đem lại hỗn loạn, nó đem lại ḥa b́nh và trật tự. Trái lại, chính chế độ độc tài đă đem đến hỗn loạn và suưt nữa đẩy Phi-líp-pin xuống vực thẳm.
Hai là, dân chủ đă đem lại phát triển và một lần nữa dân chủ đă đi trước phát triển.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Inđonesia: sự ra đời vội vă của một nước lớn

 

Nước đuy nhất có thể coi là độc tài trong khối ASEAN cho tới gần đây là Indonesia. Nhưng Indonesia cũng là nước lạc hậu nhất trong sáu nước thành viên kỳ cựu của khối ASEAN, với lợi tức b́nh quân trên mỗi đầu người là 800 USD mỗi năm. Cần lưu ư là con số bi đát này dầu sao cũng cao gấp ba lần lợi tức của người Việt nam.
Một nước độc tài quân phiệt rồi bị nghèo khó lạc hậu th́ có ǵ đáng nói? Indonesia cùng lắm chỉ chứng minh một chế độ độc tài quân phiệt không đến nỗi tai hại bằng một chế độ cộng sản như tại Việt nam. Nếu có ǵ cần ghi chú, nhưng ngoài khuôn khổ của cuộc thảo luận ngắn này mà mục đích là t́m ra tương quan giữa dân chủ và phát triển, th́ đó là thực ra chế độ quân phiệt tại Indonesia không đến nỗi độc tài như người ta tưởng.
Ngay trong thời gian bị Ḥa Lan đô hộ, các đảng phái chính trị vẫn được phép thành lập và hoạt động nhưng họ quá yếu để có thể để dọa guồng máy cai trị của Ḥa Lan. Sau thế chiến II, dưới chế độ Sukamo, các chính đảng c̣n gặp thời cơ thuận tiện hơn, đặc biệt đảng cộng sản phát triển mạnh nhất. Vào năm 1965, trước khi âm mưu đảo chánh thất bại và bị tiêu diệt, đảng cộng sản Indonesia đă có tới ba triệu đảng viên và hai mươi triệu đoàn viên. Từ năm 1965 trở đi quân đội khống chế chính trường Indonesia nhưng cũng không cấm đoán các đảng đối lập; báo chí vẫn c̣n được hưởng một mực độ độc lập tương đối.
Nhưng khó khăn của Indonesia thực ra là những khó khăn của một quốc gia đang thành lập một cách vội vă, dựa trên bạo lực và bất chấp đồng thuận. Cho tới khi người Ḥa Lan đến, vào thế kỷ 16, Indonesia hoàn toàn không có đặc tính nào của một quốc gia, mà là cả một thế giới phức tạp với khoảng 17.000 ḥn đảo lớn nhỏ, trải rộng 5.000 km từ Đông sang Tây và 2.000 km từ Bắc xuống: Nam, với hàng trăm sắc dân và thổ ngữ. Vô số vương quốc không tên không tuổi được thành lập rồi bị tiêu diệt. Một cuộc kiểm kê không đầy đủ năm 1939 cho thấy trên quần đảo Indonesia c̣n có 269 vương quốc hoàn toàn độc lập với nhau. ánh sáng leo lét của văn minh đă chỉ dừng lại tại hai ḥn đảo Sumatra và Java; càng về phía Đông sự bán khai càng gia tăng. Mặc dầu đă tiến bộ khá nhiều nhờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, phần lớn các bộ lạc trên các đảo phía Đông vẫn c̣n ở trong t́nh trạng tiền sử, một số vẫn c̣n ăn thịt người, chiến tranh giữa các bộ lạc không cần một lư do nào cả v́ là một tập quán. Việc thành lập nước Indonesia với lănh thổ hiện nay trên thực tế chỉ là trao cho đảo Java trách nhiệm khai hóa các đảo miền Đông: Borneo, Irian Jaya, Sulawesi, v.v..., một trách nhiệm hoàn toàn vượt quá khả năng của đảo Java nghèo nàn và lạc hậu. Hoa Kỳ đă phản đối việc thành lập này và đều có lư. Đáng lẽ đă phải đặt các đảo này dưới quyền sở hữu của Liên Hiệp Quốc và sau đó Liên Hiệp Quốc ủy nhiệm cho các quốc gia tiên tiến và giàu mạnh khai phá. Với sự thành lập duy ư chí như vậy, đảo Java không có cách ǵ để giữ sự gắn bó giữa các đảo ngoại trừ quân lực, cho nên việc quân đội nắm chính quyền có thể coi như cái giá mà Indonesia đă phải trả cho tham vọng thành lập nhanh chóng một nước lớn. Điều đáng lưu ư là quân đội Indonesia do người Ḥa Lan thành lập ra và chịu ảnh hưởng của tinh thần Ḥa Lan, một tinh thần không quân phiệt chút nào, do đó quân đội Indonesia rất hợp hiến, họ không trực tiếp nắm chính quyền mà luôn đứng sau một chính quyền dân sự. Quân đội cũng tôn trọng chính quyền dân sự đó, chỉ can thiệp trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Hậu quả là vẫn có một mức độ tự do dân chủ tương đối và quân đội một phần nào đó c̣n xuất hiện như một bảo đảm cho dân chủ trước những tham vọng chuyên chính của đảng cộng sản và của các lực lượng Hồi Giáo sau đó.
Nếu muốn nhận diện tương quan giữa dân chủ và phát triển th́ có lẽ nên nh́n vào sự thay đổi nhanh chóng của đảo Java, trung tâm quyền lực của Indonesia. Nhờ một sinh hoạt ít nhiều dân chủ, ḥn đảo bán khai này đă tới một mức độ phát triển khả quan, cao hơn cả Trung Quốc, một nước đi trước họ cả ngàn năm với tài nguyên và nhân lực hơn hẳn. Nếu không mang gánh nặng khai phá các đảo phía Đông chắc chắn đảo Java c̣n mở mang hơn nhiều. Indonesia, mặc dầu khởi hành rất sau Trung Quốc với những điều kiện khó khăn hơn nhiều, đă phát triển hơn Trung Quốc v́ đă mở cửa tiếp nhận các giá trị tự do và dân chủ trong khi Trung Quốc đă chỉ chọn một thứ chế độ Khổng Giáo hiện đại hóa, nghĩa là cộng sản.
Tháng 5-1998, chế độ độc tài quân phiệt Suharto sụp đổ sau gần một năm chao đảo v́ cuộc khủng hoảng tài chính châu á. Một năm sau, một cuộc tổng tuyển cử đă đem lại thắng lợi cho các lực lượng đối lập dân chủ. Cuộc chuyển hóa về dân chủ của Indonesia sẽ không dễ đàng bởi v́ t́nh h́nh Indonesia quá phức tạp và v́ chính các lực lượng dân chủ cũng chưa đủ trưởng thành. Nhưng dù gặp khó khăn thế nào đi nữa, Indonesia cùng đă khá hơn trước và chắc chắn sẽ vươn lên, trừ trường hợp các thế lực quân phiệt một lần nữa phản công bẻ găy tiến tŕnh dân chủ hóa.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Đài Loan: từ một chiến khu tới một quốc gia

 

Trường hợp duy nhất tại châu á có vẻ như chứng minh rằng có thể phát triển mà không cần dân chủ là Đài Loan. Càn nhấn mạnh là có vẻ v́ đó chỉ là một cái nh́n phiến diện. Quả thực từ năm 1949, khi đám tàn quân của Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan và thiết lập tại đó một quốc gia ly khai với Hoa Lục, Đài Loan đă chỉ có nhưng chính quyền xuất phát từ Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Hai cha con Tưởng Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc kế tiếp nhau làm tổng thống trong gần bốn mươi năm cho tới năm 1988. Quân luật được thi hành cho tới 1987. Mặc dầu vậy, kinh tế Đài Loan vẫn tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ và hiện nay Đài Loan đă trở thành một nước dân chủ với một sức sống gần tương đương với Tây Âu, với một nền kinh tế lành mạnh hơn hẳn: thất nghiệp hầu như không có, dự trữ ngoại tệ tính trên mỗi đầu người cao hơn hẳn mọi quốc gia trên thế giới.
Trường hợp Đài Loan đă được một số người viện dẫn để bảo vệ lập trường cho rằng có thể bỏ qua dân chủ, tập trung mọi sức lực xây dựng kinh tế rồi phát triển kinh tế sẽ đem đến dân chủ. Sự thực như thế nào?
Đảo Đài Loan cho tới thế kỷ thứ VIII gần như hoang vu, với một số ít thổ dân gốc Mă Lai (điều này cho thấy các sắc dân gốc Mă Lai từ ngàn xưa đă trải rộng khắp Đông á). Dần dần người di dân từ hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến đă khiến người gốc Hoa trở thành đa số, nhưng những người gốc Hoa này coi họ là người Đài Loan hơn là người Trung Hoa. Từ cuối thế kỷ 15 đảo này đă bị người Tây Ban Nha, rồi Ḥa lan chiếm đóng và khai thác. Giữa thế kỷ 17, sau những đợt di dân lớn từ Hoa Lục, Đài Loan trở thành một vương quốc độc lập, rồi bị nhà Thanh chinh phục và sáp nhập thành một tỉnh của Trung Quốc. Năm 1895, nhà Thanh thua trận phải nhường đảo này cho Nhật. Lưu Vĩnh Phúc, viên chủ tướng tài ba của quân Cờ Đen từng tận lực giúp Việt nam chống Pháp, đă cùng với tổng đốc Đài Loan Dương Tinh Tùng tuyên bố thành lập nước Cộng Ḥa Đài Loan. Nước cộng ḥa đầu tiên lại châu á này đă bị quân Nhật đánh bật khỏi Đài Bắc trong ṿng một tuần lễ, dù Lưu Vĩnh Phúc vẫn c̣n kháng cự tại miền Nam gần mười năm nữa. Sau thế chiến II, Đài Loan, với khoảng 10 triệu dân, được trao trả lại cho Trung Quốc. Bước ngoặt lớn của Đài Loan xảy ra năm 1949 khi Tưởng Giới Thạch bỏ lục địa đem gần hai triệu người gồm gia đ́nh, đảng viên và quân đội Quốc Dân Đảng sang đây. Trong những thập niên đầu Đài Loan không phải là một quốc gia mà là một chiến khu. Lực lượng Quốc Dân Đảng di tản sang đây tự coi là một chính phủ Hoa Lục di tản, với đầy đủ quốc hội, chính phủ và quân đội; họ ván tiếp tục tự nhận là chính quyền của toàn thể Trung Quốc và chỉ coi Đài Loan là một tỉnh. Qui chế chiến khu là một thực tế. Chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra tại eo biển, cạnh các ḥn đảo Kim Môn, Mă Tổ, Trần Thành: Bên ngoài th́ Hạm đội 7 của Mỹ túc trực.
Cần hiểu rơ t́nh trạng này khi nhận định về vấn đề dân chủ tại Đài Loan. Dân chủ là một phương thức sinh hoạt quốc gia cho phép đạt tới một đồng thụân được chấp nhận giữa các khuynh hướng khác nhau dù không thỏa măn mọi người. Nhưng tại Đài Loan vấn đề đồng thuận không đặt ra. Những người Quốc Dân Đảng sang đây hoàn toàn đồng ư với nhau trên hầu như tất cả và rất đoàn kết trong một mục tiêu chung là chống lại Hoa Lục, dưới sự lănh đạo của Tưởng Giới Thạch mà họ coi là một lănh tụ anh minh. Vấn đề dân chủ thực sự chỉ đặt ra vài thập niên sau đó, khi những người bản địa Đài Loan đă tiến lên về kinh tế và văn hóa, và đ̣i hỏi tổ chức Đài Loan như một quốc gia. Trong những thập niên đầu, đoàn người di tản từ Hoa Lục sang hơn hẳn dân bản địa về mọi mặt. Họ là tập hợp tinh nhuệ nhất của Trung Quốc, đồng thời họ cũng mang theo những tài sản rất lớn. Có thể nói vào năm 1949 đại bộ phận chất xám và tư bản Trung Quốc đă tản cư qua Đài Loan làm sinh hoạt kinh tế và mức sống Đài Loan gia tăng mau chóng, cải thiện một cách ngoạn mục mức sống của những người bản địa Đài Loan. Đối lập với Quốc Dân Đảng trên đảo Đài Loan cũng không có v́ các thành phần cộng sản đă bị tiêu diệt hoàn toàn một năm trước cuộc di tản, vào năm 1948, khi các cuộc bạo động xuống đường bị đàn áp trong một biển máu, với hơn mười ngàn người bị hành quyết trong vài ngày, phần đông là đảng viên cộng sản.
Sự sáng suốt của chính quyền Quốc Dân Đảng là đă hiểu ngay rằng họ sẽ phải biến Đài Loan thành một quốc gia thật sự. Họ đă nỗ lực nâng cao mức sống và tŕnh độ văn hóa người địa phương, mà đại đa số có gốc Trung Hoa, để hội nhập người địa phương vào sinh hoạt chính trị. Mức sống và tŕnh độ văn hóa càng tiến triển họ càng nới rộng tự do và dân chủ, và luôn luôn đi trước yêu cầu. Trường hợp Đài Loan về thực chất là một cố gắng xây dựng một quốc gia và một chế độ dân chủ từ một chiến khu. Điều mà thế giới đang chứng kiến là sự ra đời của một quốc gia thật sự tại Đài Loan.
Thất bại mau chóng của Quốc Dân Đảng tại Hoa Lục cũng như hào quang của chế độ cộng sản và lănh tụ Mao Trạch Đông sau đó đă khiến dư luận thế giới miệt thị tập đoàn Tưởng Giới Thạch như một tập đoàn bất lực và tham nhũng, nhưng ngày nay chúng ta đă có bước lùi cần thiết để nh́n lại lịch sử cận đại Trung Quốc. Tưởng Giới Thạch và bộ tham mưu của ông không tồi dở như người ta tưởng. Chính di sản Trung Quốc do nhà Thanh để lại mới là tồi tàn. Kinh tế lụn bại, đất nước phân tán dưới những sứ quân tham tàn và xâu xé nhau. Tưởng Giới Thạch đă phải có bản lănh lắm mới thống nhất được Trung Quốc, nhưng ông đă thất bại trước Mao Trạch Đông v́ thử thách mà chính quyền của ông tự đặt cho ḿnh quá lớn: đó là xây dựng một Trung Quốc theo mô h́nh dân chủ phương Tây, điều mà người Trung Quốc không hiểu và do đó không chia sẻ. Cuộc tương tranh quốc - cộng tại Trung Quốc cũng như tại Việt nam chủ yếu là một cuộc xung đột giữa hai mô h́nh xă hội được đề nghị để thay thế ư thức hệ Nho Giáo đă lỗi thời và sụp đổ. Một bên là mô h́nh dân chủ kiểu phương Tây và một bên là mô h́nh cộng sản. Về bản chất, chủ nghĩa cộng sản là một thứ Khổng Giáo cải tiến khá gần gũi với xă hội Nho Giáo: cũng đặt nền tảng trên một chủ nghĩa nửa chính trị nửa tôn giáo, cũng giáo điều độc tôn, cũng tập trung tuyệt đối, cũng khống chế tư tưởng, cũng bóp nghẹt xă hội dân sự và đè bẹp cá nhân, cũng cấm đoán thương mại và sự giàu có, nhưng quan tâm tới quần chúng hơn và có tổ chức tinh vi hơn. Chính v́ thế mà chủ nghĩa cộng sản dễ hiểu đối với người dân các nước thuộc văn hóa Khổng Giáo và đă được ủng hộ. Ngược lại mô h́nh dân chủ phương Tây đ̣i hỏi một đoạn tuyệt văn hóa quá lớn nên đă không được hưởng ứng. Tưởng Giới Thạch đă thua v́ xă hội Trung Hoa sau hơn hai ngàn năm Nho Giáo chưa chín muồi cho thay đổi, chứ không phải v́ ông ta kém Mao Trạch Đông. Giờ này chắc không c̣n ai ngờ vực là nếu Tưởng Giới Thạch thắng, thay v́ Mao Trạch Đông, th́ Trung Quốc đă khá hơn rất nhiều so với hiện nay.
Không thực hiện được cuộc canh tân theo mô h́nh phương Tây trên đất nước Trung Quốc bao la và phân ră, phe Quốc Dân Đảng đă thực hiện nó trên khuôn khổ hạn hẹp của Đài Loan và họ đă thành công. Điều cần chú ư là tại Đài Loan chính quyền Quốc Dân Đảng đă luôn luôn chủ động, nới rộng tự do một bước trước khi những thay đổi về kinh tế xă hội đ̣i hỏi. Chính v́ vậy mà Đài Loan đă ổn vững và liên tục tiến lên. Ngay từ 1969, chính quyền Quốc Dân Đảng đă tổ chức những cuộc bầu cử bổ túc các dân biểu địa phương vào quốc hội, các quyền tự do phát biểu và hội họp đă được thừa nhận. Năm 1986, các chính đảng được phép thành lập và tranh cử. Năm 1987, quân luật được băi bỏ hẳn. Từ 1991 mọi đạo luật của thời kỳ quân luật đều được băi bỏ, Đài Loan trở thành một nước dân chủ thật sự, và cũng là nước dân chủ nhất châu á, ngoại trừ Nhật Bản. Đa số những cấp lănh đạo tối cao của Đài Loan hiện nay là người địa phương. Sự thành công của Quốc Dân Đảng chính là ở chỗ họ đă biết thăng tiến người địa phương và sau đó tự hội nhập vào với người địa phương. Trong cuộc bầu cử quốc hội hoàn toàn tự do và lương thiện năm 1998 họ đă thắng lớn. Họ đă thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 v́ chia rẽ chứ không phải v́ không được cử tri tín nhiệm.
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế châu á bắt đầu từ mùa hè 1997, Đài Loan đă là nước ít bị thiệt hại nhất, bởi v́ nó là quốc gia dân chủ và lành mạnh nhất trong những nước vừa vươn lên.
Không, Đài Loan không phải là một ngoại lệ của qui luật dân chủ đi trước và tạo ra phát triển. Đó chỉ là quốc gia ra đời trong một trường hợp đặc biệt.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Châu Mỹ La Tinh: một thế kỷ rưỡi trong bóng đêm

 

Ṿng du lịch vội vă một số nước châu á trên đây đă chứng minh, nếu cần phải lặp lại một lần nữa, là dân chủ, tự do và nhân quyền không hề đưa đến hỗn loạn mà trái lại c̣n đem tới ḥa b́nh và ổn vững, không hề cản trở mà c̣n tạo ra và thúc đẩy phát triển kinh tế. V́ vấn đề chủ yếu của chúng ta là nhận diện liên hệ mật thiết giữa dân chủ và phát triển nên có lẽ chúng ta sẽ c̣n thiếu sót nếu không nh́n qua, dù chỉ là một cách sơ lược các nước châu Mỹ La Tinh.
Các quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên này đă được độc lập từ đầu thế kỷ 19, nghĩa là gần hai thế kỷ nay, nhưng trong hơn một thế kỷ rưỡi đă quằn quại trong nghèo khó và bạo loạn. V́ sao? Đó là v́ ngay từ khi được độc lập, họ đă phải chịu dựng những chế độ độc tài với những người hùng oai phong lẫm liệt, tài ba xuất sắc, ngự trị trong hàng mấy chục năm. Người hùng nào cuối cùng cũng đă có công lớn là làm cho đất nước kiệt quệ và phân ră. Các nước châu Mỹ La Tinh đă chỉ vươn lên bắt đầu từ thập niên 1980 khi dứt khoát chuyển hóa về dân chủ. Một lần nữa qui luật dân chủ đi trước và tạo ra phát triển được ứng nghiệm.
Một ngoại lệ: nước Chile. Nhưng đây không phải là ngoại lệ của qui luật dân chủ đi trước và tạo ra phát triển mà lại là ngoại lệ của châu Mỹ La Tinh. Chile đă là nước châu Mỹ La Tinh duy nhất chọn con đường dân chủ rất sớm. Và, trùng hợp làm sao, Chile cũng là nước phát triển hơn hẳn mọi nước châu Mỹ La Tinh khác. Trong cuộc lược duyệt này chúng ta đă bỏ qua bốn nước châu á: Miến Điện, Lào, Kampuchea và Việt nam. Có ǵ cần nhận định về trường hợp bốn nước này? Có, và có hai điều mà không ai có thể chối căi: một là cả bốn nước này đều đă phải chịu đựng từ lâu các chế độ độc tài đồng thời cả bốn đều là những nước nghèo khó và tụt hậu nhất trong vùng; hai là, cả bốn nước đều đa đạt được một số tiến bộ trong nhưng năm gần đây sau khi đă chấp nhận nới rộng một phần nào tự do.
Chú thích thêm về trường hợp Chile
Vào lúc tôi đang viết những ḍng này, thế giới đang sôi nổi v́ cựu tổng thống Chile Augusto Pinochet bị giữ lại tại Anh và có thể bị dẫn độ sang Tây Ban Nha để bị xét xử về tội ác đối với loài người. Các thủ tục kéo dài và sau cùng Pinochet được phép về nước v́ đă già yếu.
Chế độ Pinochet khiến người ta dễ đồng hóa Chile với chế độ độc tài. Thực ra Pinochet chỉ là một ngoặc đơn ngắn trong lịch sử Chile. Chile đă có một chế độ dân chủ lưỡng đảng ngay từ năm 1823. Sau đó thỉnh thoảng vẫn có những người hùng thiết lập những chế độ độc tài nhưng dân chủ vẩn được mau chóng văn hồi. Chile cũng là một nước có hiến pháp ổn định. Hiến pháp năm 1823 được áp dụng tới 1925, và sau 1925 một hiến pháp dân chủ khác được ban hành và kéo dài tới 1973. Năm 1969, một người cộng sản, ông Salvađor Allenđe, đắc cử tổng thống một cách khó khăn. Bản tính cực đoan và nóng nảy, Salvador Allende đă muốn mau chóng biến Chile thành một nước cộng sản và tỏ ra chống Mỹ kịch liệt. Trong một thời gian ngắn, kinh tế Chile hoàn toàn suy sụp, các công ty ngoại quốc rút ra hoặc chuẩn bị rút ra. Bất măn tăng cao, dân chúng xuống đường biểu t́nh phản đối liên tục. Allende c̣n làm một phiêu lưu nguy hiểm khác là thành lập các đoàn vơ trang riêng của ḿnh. Cơ quan ĺnh báo Mỹ, CIA, một mặt ráo riết thúc đẩy chính phủ Mỹ và các công ty Mỹ tẩy chay Chile, mặt khác xúi giục quân đội và các đảng cánh hữu lật đổ Allende. Năm 1973, quốc hội Chile, định chế đă chung quyết bầu ra Allende sau khi cuộc bầu cử tổng thống qua phổ thông đầu phiếu không đem lại kết quả ngă ngũ biểu quyết coi Allende không c̣n là tổng thống hợp pháp nữa. Quân đội, dưới quyền tướng Pinochet, coi quyết định này như một lệnh truất phế và tiến đánh dinh tổng thống, Allende bị giết chết. Về mặt thuần túy pháp lư, cuộc đảo chánh của Pinochet không phải hoàn toàn phi pháp. Pinochet chỉ trở thành bất hợp pháp sau khi ông ta nắm được chính quyền, giải tán quốc hội và thi hành chính sách khủng bố. Pinochet đă lănh đạo Chile với bàn tay sắt, đàn áp thô bạo các phần tử cộng sản và thân cộng, thủ tiêu hơn 3.000 người. Nhưng chính Pinochet cũng chuẩn bị để văn hồi dần dần dân chủ. Năm 1988, sau một cuộc trưng cầu dân ư trong đó ông thất bại, Pinochet nhường quyền cho một chính quyền dân sự, nhưng vẫn giữ quân đội và đă chỉ chấp nhận từ bỏ quân đội sau khi đă đ̣i được làm thượng nghị sĩ suốt đời để hưởng qui chế bất khả xâm phạm.
Chế độ độc tài của Pinochet kéo dài tổng cộng 17 năm, tuy nhiên trong mười năm về sau các đảng không cộng sản vẫn được tự do hoạt động. Trong lịch sử gần hai trăm năm của nền dân chủ Chile khoảng thời gian độc tài của Pinochet tương đối ngắn. Việc Pinochet bị dư luận thế giới và đa số nhân dân Chile lên án là bằng chứng rằng nhân loại đă văn minh hơn. Nếu cứu cánh có thể biện minh cho phương tiện th́ chắc chắn Pinochet không thể bị lên án. Ông ta đă sử dụng những biện pháp bạo ngược nhưng đă đạt được cứu cánh tốt đẹp là ngăn chặn âm mưu thiết lập một chế dộ chuyên chính, ổn định được xă hội, phát triển được đất nước và sau cùng xây dựng được dân chủ. Nhưng ngày nay dân chủ đă đủ trưởng thành để kết án cả những kẻ đă phục vụ nó bằng nhưng biện pháp thô bạo. Những tập đoàn độc tài không bằng Pinochet, nghĩa là không những đă thô bạo mà c̣n làm cho đất nước kiệt quệ đi, càng đáng bị lên án một cách quả quyết hơn.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Những lập luận phản bác?

 

Các chế độ độc tài không phải chỉ đă viện dẫn những thí dụ cụ thể để lập luận rằng dân chủ không có lợi cho cố gắng phát triển. Họ cũng đă điều động những học giả, kể cả những học giả có tên tuổi, để xây dựng cả một học thuyết. Trong hầu hết mọi trường hợp uy tín của các học giả này chính là nhờ họ đă được các chế độ độc tài đề cao. Tuy vậy, cũng có những học giả vô tư, thực sự tin rằng dân chủ mâu thuẫn với phát triển. Trong một phần sau tôi sẽ tŕnh bày lư do tại sao những người rất uyên thâm và xuất sắc cũng có thể sai lầm lớn trên những vấn đề thực ra khá giản dị.
Lư thuyết về mâu thuẫn giữa dân chủ và phát triển có lúc đă rất thời thượng, đến nỗi phần đông các học giả bênh vực dân chủ cũng chỉ dám biện hộ rằng dân chủ không có hại ǵ cho phát triển. Tôi xin tóm tắt sau đây toàn bộ những lập luận của phe chủ trương dân chủ không có lợi cho phát triển. Công việc này đă làm mất khá nhiều thời giờ, nhưng đó là việc phải làm để giải quyết một lần cho tất cả những lấn cấn về quan hệ giữa dân chủ và phát triển. Nói một cách tổng quát, phe phản bác dân chủ đưa ra ba lập luận cùng với những nghiên cứu thống kê về các nước đang phát triển.
Lập luận thứ nhất là các chính quyền dân chủ, v́ lệ thuộc vào lá phiếu của cử tri, không dám thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng để áp đặt tiết kiệm dùng cho đầu tư. Làm như thế họ sẽ bị cử tri trừng phạt trong lần bầu cử tới. Các chính quyền dân chủ v́ vậy bắt buộc phải, một mặt, dành một phần lớn ngân sách cho các vấn đề xă hội thay v́ tập trung tài nguyên cho phát triển và, mặt khác, nâng đỡ các kỹ nghệ tiêu dùng thay v́ đặt ưu tiên vào những kỹ nghệ nền tảng cho phát triển (đây là một điệp khúc của lư thuyết những kỳ nghệ kỳ nghệ hóa).
Lập luận thứ hai là thế giới cạnh tranh gay gắt hiện nay (hiện nay ở đây có nghĩa là các thập niên 1960 và 1970 và những năm đầu của thập niên 1980) khác xa bối cảnh của các thế kỷ trước khi những quốc gia Tây Âu đầu tiên đă vươn lên. Phát triển ngày càng trở nên phức tạp. Nhà nước do đó sẽ phải can thiệp một cách thường xuyên và tích cực để chỉ huy cố gắng phát triển. V́ vậy nhà nước cần phải nắm thật nhiều quyền lực, nếu cần phải độc tài. Nhiều học giả c̣n bổ túc thêm bằng một lập luận khác: giai đoạn độc tài chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp có mục đích tạp trung mọi cố gắng xây dựng quốc gia và phát triển kinh tế, sau đó dân chủ sẽ đến một cách tự nhiên. Các vị này không nói rơ giai đoạn quá độ này có thể kéo dài bao lâu, cũng như h́nh thức dân chủ nào sẽ đến sau đó và đến như thế nào.
Lập luận thứ ba là một lập luận thuần túy chính trị. Nó có thể tóm lược như sau: các nước chưa mở mang cũng là những nước mà các định chế chính trị (luật pháp, chính phủ, quốc hội, các ṭa án, v v.) c̣n mới và yếu; một chế độ dân chủ trong bối cảnh này sẽ đặt các định chế chính trị dưới áp lực quá mạnh của các đ̣i hỏi mâu thuẫn từ xă hội dân sự (tôn giáo, địa phương, nghiệp đoàn, hội đoàn) Do đó các nước chưa mở mang cần một chính quyền thật mạnh, nghĩa là độc tài, để bảo đảm sự ổn vững cần thiết cho phát triển.
Các tác phẩm và bài viết của trường phái chống dân chủ nhân danh phát triển rất dồi dào về số lượng trong suốt ba thập niên 1960, 1970 và 1980. Thuần túy lư thuyết cũng có, phối hợp lư luận với quan sát cụ thể cũng có. Khó có thể thống kê được số tấn giấy đă được dùng cho việc in ấn, nhưng tất cả đều chỉ xoay quanh ba lập luận trên đây.
Song song với cuộc tranh luận lư thuyết, nhiều học giả đă thực hiện những công tŕnh khảo sát rất công phu trên nhiều quốc gia. Robert March công bố năm 1979 một thống kê về phát triển trên 98 nước trong thời gian 15 năm, từ 1955 đến 1970. Dirk Berg Schlosser công bố năm 1984 một công tŕnh khảo cứu về các nước châu Phi; Dwight Kinh khảo sát sáu nước châu á trong thập niên 1970; Yousseff Cohen khảo sát một số nước châu Mỹ La Tinh trong cùng thời kỳ; G. William Dick khảo sát các kết quả thống kê của 72 quốc gia trong thời gian từ 1959 đến 1968. Đó là chỉ kể một vài trong số rất nhiều công tŕnh khảo sát qui mô. Các nghiên cứu về từng quốc gia một th́ không thể đếm nổi bởi v́ các chế độ độc tài tuy chủ trương thắl lưng buộc bụng đối với quần chúng dưới quyền cai trị của họ, nhưng lại rất rộng răi đối với những công tŕnh nghiên cứu có tác dụng đề cao họ. Bên cạnh những nghiên cứu theo đơn đặt hàng, hoặc theo mệnh lệnh, cũng có những nhà nghiên cứu đứng đắn thực sự muốn t́m ra trong kinh nghiệm cụ thể một liên hệ giữa dân chủ và phát triển.
Một trong những khảo sát cụ thể (case study) hay được viện dẫn nhất để chứng minh dân chủ không có lợi cho phát triển, hay nói một cách khác độc tài có lợi cho phát triển, là khảo sát so sánh giữa ấn Độ và Trung Quốc, hai quốc gia đông dân nhất thế giới và đă chọn hai con đường khác hẳn nhau từ một nửa thế kỷ nay. ấn Độ đa trở thành một nước dân chủ từ 1947 trong khi, ngược lại, Trung Quốc đă chọn chế độ cộng sản chuyên chính từ 1949. Theo mọi khảo sát nước Trung Hoa độc tài đă thắng nước ấn Độ dân chủ trên tất cả mọi địa hạt kinh té, dù là công nghiệp hay nông nghiệp, chứng minh một cách hùng ḥn sự hơn hẳn về mặt kinh tế của một chế độ độc tài so với một chế độ dân chủ.
Tất cả những lư luận và khảo sát cụ thể đó đă cho phép một số người dơng dạc khẳng định: dân chủ hay phát triển giữa hai cái đó phải chọn một.
Tới đây, chúng ta có thể bắt đầu khảo sát các lư luận phản bác dân chủ. Trước hết là một vài nhận xét tổng quát:
- Các lập luận này đều dựa trên một định để được coi là một sự thực hiển nhiên không cần chứng minh là sự can thiệp mạnh của các chính quyền vào sinh hoạt kinh tế là một điều phải làm và nên làm. Sự hiền nhiên này hiện nay không c̣n hiển nhiên chút nào. Cùng lắm vai tṛ của nhà nước trong hoạt động kinh tế là một đề tài thảo luận; đối với đa số các nhà nghiên cứu nhà nước càng ít can thiệp càng hay.
Các lập luận này nh́n phát triển kinh tế như một vấn đề thuần túy kỹ thuật, có thể giải quyết bằng những chương tŕnh và kế hoạch. Các yếu tố tâm lư và văn hóa hoàn toàn vắng mặt. Tệ nạn tham nhũng cũng không được kể đến. Các học giả không coi tham nhũng là yếu tố quan trọng, hoặc coi nó là một tệ nạn nẩy nở và tác hại như nhau trong mọi chế độ chính trị. Ngày nay cách nh́n này đă bị bác bỏ. Kinh nghiệm đă đưa các nhà quan sát đến một đồng thuận: phát triển không phải là một vấn đề kỹ thuật mà chủ yếu là một vấn đề tâm lư và văn hóa. Mặt khác cũng không c̣n ai phủ nhận quan hệ giữa chế độ chính trị và mức độ tham nhũng. Các lập luận này đầu coi là phát triển đồng nghĩa với phát triển công nghiệp. Dịch vụ và thương mại hầu như không đóng vai tṛ nào hay chỉ có vai tṛ rất thứ yếu. Quan điểm này ngày nay đă trở thành hoàn toàn lạc hậu, sau khi đă bị thực tế phản bác một cách phũ phàng.
Chính v́ dựa trên những tiền đề đă bị bác bỏ mà ngày nay các lập luận này không c̣n được nhắc tới nữa và các lư thuyết gia một thời vang bóng bênh vực chúng cũng đă ch́m vào quên lăng. Tuy vậy một lần cho tất cả, chúng ta hăy phân tích những lư luận này, bởi v́ điều đáng tiếc là trí thức Việt nam chúng ta đầu tư rất ít vào tư tưởng, do đó những điều có thể rất cũ vẫn c̣n là mới với nhiều người Việt, kể cả một số chuyên gia kinh tế.
Lập luận thứ nhất (các chính quyền dân chủ thường phải đặt quá nặng các vấn đề nhân sinh và hy sinh những đầu tư cơ bản có tác dụng đẩy mạnh phát triển) chắc chắn phải khiến độc giả có cảm giác ngờ ngợ như đă gặp ở đâu rồi. Quả đúng như vậy, đằng sau lập luận này là lư thuyết về các kỹ nghệ kỹ nghệ hóa đă làm phá sản nhiều quốc gia, thí dụ như Algeria. Trong một dịp trước chúng ta đă đề cập đến lư thuyết này. Nếu quả thực các chính quyền dân chủ đầu tư nhiều cho sức khỏe và giáo dục, chú trọng thỏa măn những đ̣i hỏi cấp bách của dân chúng và đặt trọng tâm vào các kỹ nghệ tiêu dùng th́ hay biết bao. Sau bao nhiêu năm bị lôi cuốn vào những lư luận cao siêu về phát triển, các quốc gia đă khám phá ra rằng đầu tư vào giáo dục và sức khỏe là đầu tư có hiệu năng kinh tế cao nhất. Tiêu thụ, và đặc biệt là tiêu thụ trong thị trường nội địa, cũng đă được nh́n nhận như yếu tố cốt lơi của hoạt động kinh tế. Đầu tư vào kỹ nghệ tiêu dùng, trước hết là những kỹ nghệ sản xuất nhu yếu phẩm, cũng là đầu tư có tác dụng kích thích kinh tế lớn nhất. Ngược lại, đầu tư vào những kỹ nghệ nặng sản xuất hàng trăm ngàn tấn thép mà các kỹ nghệ tiêu dùng chưa đ̣i hỏi chỉ là phí phạm. Cũng thế, xây dựng những hạ tầng cơ sở chưa thực sự cần thiết cũng là một phí phạm khác, phí phạm trong phí tổn xây dựng, phí phạm liên tục trong phí tổn bảo tŕ, rồi cuối cùng cũng vẫn hư hỏng v́ không được sư dụng. Nền tảng của kinh tế thị trường mà ngày nay không c̣n nước nào chối căi vẫn là... thị trường. Phải sản xuất những ǵ thị trường chờ đợi. Có thể tiên liệu những nhu cầu của thị trường cho năm năm hay mười năm sáp tới, hay xa hơn nữa nếu có thể, nhưng không thể bắt thị trường phải tiêu thụ nhưng sản phẩm mà nó không cần, nếu không muốn bị đánh thức khỏi giấc mơ duy ư chí một cách tàn nhẫn.
Trên thực tế, điều đáng tiếc là các chế độ dân chủ đă không hành động như các lư thuyết gia phê phán. Trong phần lớn các nước dân chủ, giới chủ nhân thường hay dựa vào nhưng kẽ hở của luật pháp và thể yếu của giới công nhân, nhất là tại những nước có tỷ lệ thất nghiệp cao, để giữ lương bổng ở mức độ thấp. Họ chèn ép công nhân trong mục đích đạt tới tỷ lệ lợi nhuận cao nhất với hy vọng tái đầu tư vào việc bành trướng xí nghiệp mà không ư thức được sự cần thiết phải gia tăng sức mua của quần chúng. Đây là một cái nh́n thiển cận mà nhà nước cần điều chỉnh v́ lợi ích của giai cấp công nhân và v́ chính lợi ích của giai cấp chủ nhân. Trong nhiều trường hợp, như tại ấn Độ, lớp người giàu có c̣n sử dụng tài sản tích lũy được cho những xa hoa phi sản xuất. Tóm lại đầu tư vào y tế, giáo dục và nâng cao mức tiêu thụ của quần chúng không những không tai hại mà c̣n là điều nên làm và phải làm. Một trong những khám phá quan trọng nhất của hai thập niên cuối của thế kỷ 20 là không những phát triển có thể mà hơn thế nữa c̣n phải đi song song với cải thiện dân sinh.
Lập luận thứ hai (về sự cần thiết phải gia tăng mức độ can thiệp của nhà nước v́ bối cảnh cạnh tranh ngày càng mạnh và hoạt động kinh tế ngày càng phức tạp, và do đó cần một nhà nước mạnh, nghĩa là một nhà nước độc tài) chưa bao giờ là một lập luận nghiêm chỉnh. Nó luôn luôn chỉ là một xác quyết suông dựa trên dẫn chứng là sự thành công của các nước cộng sản. Từ khi các chế độ cộng sản sụp đổ, và thế giới nh́n rơ những thành tựu to lớn của các chế đô cộng sản đều chỉ là bịp bợm, lập luận này đă mất hết nội dung.
Dĩ nhiên trong một nước chưa phát triển nhà nước bắt buộc phải trọng tài một cách khó khăn giữa những đ̣i hỏi mâu thuẫn, và chính đáng như nhau, với một ngân sách hạn hẹp, đặc biệt là trong kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sá, hải cảng, phi trường, hệ thống viễn thông, v.v...) và như thế cần phải mạnh. Nhưng thế nào là một nhà nước mạnh? Nhà nước mạnh không có nghĩa là nhà nước độc tài, có nhiều công an và nhà tù. Ngược lại. Sức mạnh của nhà nước, hiểu theo nghĩa sức mạnh để phát triển đất nước, chủ yếu dựa trên hậu thuẫn của dân chúng. Sức mạnh này các nhà nước độc tài không có, chúng dùng bạo lực để thống trị dân chúng và gặp sự chống đối của dân chúng. Sự chống đối có thể thụ động, không có tổ chức nhưng tổng kết lại cũng vẫn đủ sức để làm hỏng mọi kế hoạch của nhà nước. Trong thực tế, trong những quốc gia có tầm vóc lớn, các kế hoạch của những tập đoàn thống trị mù quáng tự coi ḿnh đủ thông minh để suy nghĩ thay cho hàng chục triệu người, và xấc xược áp đặt sự suy nghĩ đó lên mọi người, chỉ có thể là ngớ ngẩn. Các chính quyền độc tài có thể thừa sức để bỏ tù những người đ̣i dân chủ, họ cũng có thể thừa sức để ngăn chặn sự h́nh thành của những tổ chức đối lập, nhưng không bao giờ đủ phương tiện để kiểm soát mọi hành động của mọi người và cuối cùng không bao giờ quản trị được xă hội một cách đúng nghĩa, ngay cả về trật tự an ninh. (Tới đây tôi xin phép độc giả mở một ngoặc đơn về sự chống đối thụ động của dân chúng. Vợ tôi làm việc cho một hội từ thiện, hội Măng Non. Hội này mở những lớp dạy tiếng Việt tại Paris và dùng học phí thu được, cùng với sự đóng góp của các hội viên, để xây trường học tại những vùng nghèo khổ ở Việt nam. Hội cũng cấp nhiều học bổng mỗi năm và khuyến khích thân hữu nhận làm con nuôi một số học sinh mồ côi. Trong các hồ sơ xin học bỗng hay xin được nhận làm con nuôi, có rất nhiều học sinh có cha mẹ bị điện giật chết. Tôi t́m hiểu và được biết nguyên nhân: đó là công tŕnh đường dẫn điện cao thế 500 KVA Bắc-Nam mà ông thủ tướng Vơ Văn Kiệt chủ trương và đôn đốc. Công tŕnh này là một trong những kế hoạch lớn nhất của nhà nước Việt nam trong thập niên 1990 và là cả một kỳ quan của sự ngu dốt mà chỉ có một chế độ rất độc đoán mới áp đặt được. Tại sao lại dẫn điện từ Bắc vào Nam? Miền Bắc không thực sự thừa điện mà chỉ tạm thời thừa điện v́ chưa phát triển. Tải điện đi cả ngàn cây số cũng phải chịu những mất mát to lớn trên đường dẫn. Đây là một kế hoạch duy ư chí nhằm đặt miền Nam trong thế lệ thuộc miền Bắc về năng lượng để dễ kiểm soát. Công tŕnh này mới đầu dự trù tốn kém 500 triệu đô la, sau điều chỉnh lại ở mức độ 800 triệu đô la, nhưng vẫn không đủ. Sau không điều chỉnh nữa mà cứ làm tới, theo tâm lư lỡ phóng lao th́ phải theo lao. Nó đă là một phí phạm lớn nhưng nó c̣n tạo ra vô số thảm kịch về nhân mạng. Dân chúng ùa nhau cắt dây điện để bán làm đồng vụn. Tôi đọc trên báo trong nước có lần trong ṿng một tuần lễ đường dây bị cắt trên hai ngàn đoạn. Số người đi cắt dây bị điện giật chết không biết bao nhiêu mà kể. Một số khác, có lẽ cũng đông đảo không kém, bị điện giật chết v́ đụng phải dây điện rớt xuống đường).
Về lập luận thứ hai này cũng nên lưu ư một lư do mà các lư thuyết gia bênh vực nó đưa ra: cần một nhà nước độc tài bởi v́ t́nh thế mới đ̣i hỏi như thế, bối cảnh thế giới hiện nay khác với bối cảnh thế giới trong các thế kỷ 17, 18 và 19 khi các quốc gia phát triển đầu tiên xuất hiện. Một cách gián tiếp họ nh́n nhận Hoa Kỳ và các nước Tây Âu đă phát triển nhờ có tự do và dân chủ, một điều mà họ không nh́n nhận khi tranh căi về chính các nước này. Rơ ràng là một cách tranh căi không lương thiện.
Lập luận thứ ba (về nhu cầu cằn có ổn định xă hội để phát triển và do đó cần một chế độ độc tài) th́ đúng là ăn ngang nói ngược, đổi trắng thay đen. Đồng ư, và đồng ư một trăm phần trăm, là phải có ổn định xă hội để phát triển, nhưng các chế độ độc tài có đảm bảo ổn định xă hội không? Hoàn toàn không? Chế độ độc tài cho phép người cầm quyền thay đổi luật pháp và lấy các quyết định một cách rất tùy tiện. Nay cho phép, mai cấm đoán. Đó là chưa kể người cầm quyền không cần tôn trọng những luật pháp mà ḿnh ban hành, khi không giải thích chúng một cách tùy tiện. Trong một bối cảnh bấp bênh không tiên liệu được như vậy, ai có thể yên trí để làm những dự án đầu tư? (Phương châm của người kinh doanh tại Việt nam hiện nay là ba không: không làm lớn, không làm lộ và không làm lâu) Ngược lại, trong một nước dân chủ, hiến pháp và luật pháp là kết quả của những tranh căi sâu rộng trong đó mọi ư kiến đầu được tŕnh bày trước khi được biểu quyết một cách lương thiện cho nên phản ánh mọi nguyện vọng và do đó khó thay đổi. Luật chơi v́ vậy rơ ràng và mọi người có thể tiên liệu được tương lai. Sự gian trá của lập luận này là đồng hóa ổn định xă hội với sự kéo dài của các chính quyền, hai điều không những khác nhau mà c̣n mâu thuẫn với nhau. ổn định thực sự là luật pháp được tôn trọng và không thay đổi một cách bất ngờ, điều mà chỉ có những chế độ dân chủ pháp trị mới bảo đảm được.
Một điều rất cũ, quá cũ, nhưng cũng cần được nhắc lại v́ quá quan trọng: các chế độ độc tài để ra tham nhũng. Độc quyền đưa đến lạm quyền và lạm quyền đưa đến tham nhũng, đó là một qui luật bắt buộc. Tham nhũng là ǵ nếu không phải là lợi dụng công quyền cho lợi ích cá nhân? Càng nhiều quyền th́ càng dễ tham nhũng. Cho nên các chế độ độc tài dù quyết tâm chống tham nhũng đến đâu đi nữa cũng bất lực, tham nhũng chỉ tăng lên chứ không giảm đi như ta đă thấy trong trường hợp Việt nam. Muốn giảm tham nhũng th́ trước hết phải giảm quyền lực nhà nước, muốn chống tham nhũng th́ trước hết phải tôn trọng quyền tự do tố giác và phải tách bộ máy tư pháp khỏi sự kiểm soát của chính quyền, tóm lại phải có dân chủ. Có thể nói tham nhũng là 90% trở ngại của phát triển. Bất cứ một lư thuyết phát triển nào không kể đến sự tác hại của tham nhũng đều chỉ là lư thuyết suông.
C̣n những khảo sát cụ thể?
Một cách vắn tắt, chúng đều vô giá trị.
Nguyên nhân đầu tiên là chính sự mơ hồ của việc phân loại các nước dân chủ và độc tài. Phần lớn các khảo sát này đầu được thực hiện trước thập niên 1980. Cho tới thập niên 1980, các nước kém mở mang thay đổi chế độ thường xuyên, một chế độ quân phiệt bế tắc phải nhường chỗ cho một chế độ dân cử, rồi sau đó một đại tá lại đảo chính tái lập chế độ độc tài. Có thể thành tích của một nước được coi là dân chủ thực ra chỉ là di sản của một chế độ độc tài, và ngược lại.
Sau đó là sự ngắn ngủi của thời gian khảo sát. Thời gian này thường chỉ là năm hay mười năm, trong khi mức dộ phát triển là thành quả của cả một quá tŕnh dài.
Cuối cùng là sự thiếu chính xác của chính nhưng số liệu. Nếu các chế độ dân chủ thường khá lương thiện trong những số liệu th́ ngược lại trong các chế độ độc tài các số liệu rất đáng ngờ vực. Độc giả muốn ư thức được điều này hăy thử t́m đọc các tài liệu của Bắc Triều Tiên, của Việt nam, hay các chế độ độc tài châu Phi để có một khái niệm. Cái ǵ cũng đẹp, cũng tốt, cũng vượt chỉ tiêu. Khổ một nỗi là các nhà nghiên cứu, ngay cả các chuyên viên của những định chế rất nghiêm chỉnh như Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, cũng bắt buộc phải sử dụng những thống kê chính thức v́ không có dữ kiện nào khác.
Nhưng điều lư thú nhất là nếu những khảo sát đầu tiên đưa tới những kết luận có lợi cho các chế độ độc tài th́ càng về sau các nhà nghiên cứu, sau khi đă vật lộn với những số liệu mà chính họ cũng phải nh́n nhận là không chính xác, càng kết luận là dân chủ không có hại ǵ cho phát triển, trong nhiều trường hợp họ c̣n thấy dân chủ có tác dụng tốt cho phát triển. Chấm, và chấm hết.
Sau cùng, nên nghĩ thế nào về sự so sánh giữa Trung Quốc và ấn Độ?
Mới thoạt nh́n sự so sánh này có giá trị: cả hai nước đều là những quốc gia lớn, tầm vóc của chúng cho phép đại cương hóa các quan sát; hai quốc gia đă chọn lựa một cách quả quyết hai hướng đi khác nhau, ấn Độ chọn dân chủ trong khi Trung Quốc đi theo chế độ độc tài cộng sản; thời gian quan sát cũng khá dài, gần một nửa thế kỷ. Tuy nhiên giá trị của sự so sánh chỉ dừng lại ở đó. Chúng ta cũng gặp phải sự sai lệch của những dữ kiện. Nếu các số liệu của ấn Độ có thể coi là tương đối khả tín th́ ngược lại những số liệu của Trung Quốc rất khó tin. Chẳng hạn như nông nghiệp của Trung Quốc được ghi nhận là đă tăng trưởng trung b́nh 3, 1% môi năm từ 1950 đến 1980 trong khi nông nghiệp của ấn Độ chỉ tăng trưởng 2,3% mỗi năm. Sự thực mà mọi người đấu nh́n nhận là trong thời gian này, qua các giai đoạn bước nhảy vọt rồi cách mạng văn hóa, nông nghiệp của Trung Quốc suy sụp hoàn toàn, làm gần 50 triệu người chết đói. Cung trong thời gian đó không ai phủ nhận rằng ấn Độ đă tiến từ địa vị một nước thiếu đói quanh năm tới t́nh trạng tự túc về lương thực và thực phầm. Những số liệu như vậy khiến sự so sánh không đứng đắn chút nào. Nhưng đó không phải là lư do chính khiến ta phản bác sự so sánh. Lư do chính là một người quan sát đứng đắn không thể nghĩ đến việc so sánh ấn Độ và Trung Quốc. Lịch sử và văn hóa của hai nước quá khác nhau. Nếu căn cứ vào việc Trung Quốc theo chế độ độc tài đă phát triển nhanh hơn ấn Độ theo chế độ dân chủ để rồi kết luận dân chủ không có lợi cho phát triển bằng độc tài th́ cũng ngây ngô như thấy con ḅ lớn hơn con chó rồi kết luận là những con vật có sừng lớn hơn những con vật không có sừng. ấn Độ cho tới khi người phương Tây đến không phải là một quốc gia mà là cả một thế giới hỗn tạp với những tập quán và triết lư hủ lậu; xă hội phân hóa thành vô số đẳng cấp kỳ thị lẫn nhau; các triết lư không t́m cách cải thiện cuộc sống mà coi cuộc đời như một bể khổ vô phương cứu chữa; con người t́m hạnh phúc trong những suy tư siêu h́nh, t́m khoái lạc trong việc nằm trên bàn đinh nhọn hoặc thỏi sáo cho rắn hổ múa. Trái lại Trung Quốc là một xă hội thực tiễn, đề cao cố gắng để giải quyết những nhu cầu vật chất. Trước đây không ai nghĩ tới việc so sánh ấn Độ với Trung Quốc, nếu ngày nay người ta so sánh hai nước th́ cũng v́ ấn Độ đă tiến lên, và tiến lên nhờ dân chủ.
Tôi không phản bác những khảo cứu so sánh, với điều kiện là phải so sánh những cái có thể so sánh. Muốn so sánh hiệu năng kinh tế của dân chủ và độc tài th́ phải so sánh t́nh trạng của cùng một nước trước và sau khi thay đổi từ một chế độc độc tài sang một chế độ dân chủ, hay sang một chế độ tuy chưa phải là dân chủ nhưng với một mức độ tự do lớn hơn. Hoặc ngược lại từ một chế độ dân chủ, hay tương đối cởi mở, sang một chế độ độc tài. Như thế phải so sánh Đại Hàn Dân Quốc trước và sau Lư Thừa Văn, Phi-líp-pin trước và sau khi chế độ Marcos bị lật đổ, Thái Lan trước và sau năm 1992, từng nước châu Mỹ La Tinh hay từng nước Đông Âu trước và sau cuộc chuyển hóa về dân chủ. Hoặc cũng có thể so sánh các chế độ khác nhau của cùng một dân tộc như hai miền Nam và Bắc Việt nam trước năm 1975, Nam và Bắc Cao Ly, Đài Loan và Hoa Lục. Nhưng so sánh này không cho phép bất cứ ngờ vực nào: dân chủ hơn hẳn độc tài về mặt kinh tế.
Nhưng cuộc thảo luận này có thể khiến cây che khuất rừng. Kinh tế không phải là tất cả. Hạnh phúc của một dân tộc không phải chỉ là lợi tức trung b́nh trên mỗi đầu người, càng không phải là tỷ lệ tăng trưởng 5 hay 10% mỗi năm. C̣n nhưng điều cao hơn, và cao hơn nhiều. Đó là phẩm giá, là quyền được nói và làm điều minh muốn, là quyền được sống mà không sợ bị bắt giam vô cớ, được phát triển khả năng của ḿnh mà không cần đút lót, và được tham dự vào những quyết định quan trọng cho cộng đồng. Những điều này chỉ có một chế độ dân chủ có thể đem lại. Các tập đoàn độc tài viện lư cớ phát triển kinh tế để hy sinh tự do. Lập trường này tự nó đă khó chấp nhận, điều c̣n khó chấp nhận hơn là v́ chà đạp tự do và làm thui chột óc sáng tạo họ cũng ngăn chặn luôn cả phát triển kinh tế. Ho biện luận là cần hy sinh hôm nay cho ngày mai nhưng thực ra họ hy sinh hôm nay chỉ để hủy hoại ngày mai.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Những định luật cho một xă hội phát triển?

 

Cái đầu quả nhiên nhanh hơn đôi chân và hơn cả máy bay phản lực. Qua một vài chục trang giấy, chúng ta đă du hành ngược thời gian, lên đến thời tiền sử rời lại xuôi ḍng về đến hiện tại, sau khi đă thăm viếng những cái nôi đầu tiên của phát triển tại châu Âu và Hoa Kỳ, rồi các nước vừa phát triển tại châu á và châu Mỹ La Tinh.
Chúng ta đă nhận định và cũng đă khảo sát cả những lập luận trái ngược. Đến đây chúng ta có thể rút ra những kết luận. Nếu chúng ta tự so sánh với một nhà khoa học rút ra những định luật sau khi đă quan sát các thí nghiệm, chúng ta cũng có thể rút ra một số định luật cho một xă hội muốn phát triển hay muốn tiếp tục phát triển. Dĩ nhiên, với thái độ khiêm tốn phải có, bởi v́ các định luật trong khoa học nhân văn không chính xác như những định luật trong khoa học vật lư, chúng luôn luôn đ̣i hỏi một ứng dụng sáng tạo phù hợp với môi trường.
Định luật 1: Tất cả mọi thành tố cơ bản của phát triển đều vô h́nh, nằm trong con người và xă hội. Phát triển chủ yếu là một vấn đề tâm lư và văn hóa.
Định luật 2: Dân chủ là nguyên nhân tạo ra phát triển và cũng là môi trường của phát triển. Mức độ dân chủ quyết định giới hạn tối đa của phát triển. Dân chủ càng cao khả năng phát triển càng cao. Không có dân chủ quá đáng.
Định luật 3: Phát triển đ̣i hỏi một đồng thuận dân tộc trong một dự án tương lai chung, phù hợp với quyền lợi của mỗi cá nhân. Hiến pháp và luật pháp thể hiện đồng thuận xây dựng một tương lai chung đó và v́ thế được ổn vững và được coi như nền tảng duy nhất của tổ chức xă hội.
Định luật 4: Phát triển đ̣i hỏi kinh tế phải được tự do vận hành theo qui luật tự nhiên của thị trường thay v́ bị g̣ bó trong một kế hoạch. Chính quyền phải tránh can thiệp và đặt ra nhưng cưỡng chế mâu thuẫn với qui luật của thị trường.
Định luật 5: Các thủ tục hành chánh phải được giảm tới mức tối thiểu cần thiết. Chính quyền tốt nhất là chính quyền nhẹ nhất, nhường không gian tối đa cho xă hội dân sự, cá nhân, ư kiến và sáng kiến.
Định luật 6: Phát triển lành mạnh đ̣i hỏi hủy bỏ mọi đặc quyền đặc lợi, mọi thế lực ngoài qui định luật pháp, mọi thành kiến và giáo điều, mọi phân biệt và ngăn cách.
Định luật 7: Tự do là tâm hồn, động cơ và sức mạnh của xă hội. Trong một xă hội muốn phát triển mạnh không thể có nhưng ư kiến cấm nêu ra và cũng không thể có đề tài cấm bàn đến.
Định luật 8: Bạo lực phải bị tuyệt đối lên án và hoàn toàn xóa bỏ như một phương thức ứng xử. Mọi mâu thuẫn trong xă hội phải được giải quyết qua đối thoại và thỏa hiệp.
Định luật 9: Vận tốc phát triển tỷ lệ thuận với chỗ đứng dành cho thương mại. Thương mại càng được ưa thích và quí trọng, xă hội phát triển càng nhanh chóng: Thương mại phải được coi là động cơ của mọi tiến bộ khoa học, kỹ thuật, văn hóa, đạo đức.
Định luật 10: Mọi luật và qui định phải phù hợp với tŕnh độ hiểu biết của dân chúng và liên lục thích nghi với bối cảnh xă hội, nhưng luôn luôn phải giản dị, dễ hiểu, dễ tuân thủ cho mọi người và được áp dụng triệt để.
Mười định luật trên đây thực ra là những định luật căn bản. Chúng ta đă bỏ qua những yếu tố khác tuy rất quan trọng nhưng tự nhiên sẽ được khám phá ra khi những định luật căn bản đă được thỏa măn, như sức khỏe, giáo dục, truyền thông, hạn chế dân số, bảo vệ môi trường, v.v...
Sự liệt kê giản lược này dĩ nhiên cần một số ghi chú bổ túc:
Định luật 1 là một khám phá mới. Cho tới một ngày khá gần đây các nhà nghiên cứu, khi giải thích hiện tượng phát triển, đều đề cao vai tṛ của những yếu tố vật chất như tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lư. Max Weber là một trong những nhà tư tưởng hiếm hoi đề cao vai tṛ của tâm lư và văn hóa, nhưng ông lại tập trung lư luận vào châu Âu và dành cho đạo Tin Lành một vai tṛ chủ yếu. Tư tưởng của ông v́ vậy khó có tiếng vọng nơi các xă hội không theo Thiên Chúa Giáo. Chỉ cho tới một ngày rất gần đây, nhờ sự quan sát của các nhà ngoại giao, các chuyên viên trong các chương tŕnh hợp tác phát triển và các phái viên của các tổ chức thiện nguyện, người ta mới ư thức được rằng sự tụt hậu và tŕ trệ là do một cấu trúc tâm lư không thích hợp. Một quốc gia không thể phát triển nếu quyền lực thay v́ được coi là một trách nhiệm lại được nh́n như một phần thưởng, nếu danh giá trong xă hội là làm quan thay v́ kinh doanh, nếu tâm lư quần chúng là một người làm quan cả họ phải được nhờ, nếu sự giàu có bị thù ghét, nếu hoạt động kinh tế được nh́n như một cuộc chơi với tổng sổ là số không, người này giàu tất nhiên kẻ khác phải nghèo, v́ thế kinh doanh đồng nghĩa với bóc lột. Muốn phát triển một xă hội, phải từ bỏ tâm lư cũ đă tạo ra sự lạc hậu và đề cao những giá trị tiến bộ: ḥa b́nh, tự do, dân chủ, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác và lợi nhuận. Cần nhấn mạnh giá trị lợi nhuận.
Định luật 2 là kết luận căn bản nhất rút ra từ sự quan sát các nước đă phát triển đầu tiên và các nước mới phát triển gần đây sau cuộc du lịch tham quan của chúng ta trong nhưng bài trước. Điều đặc biệt cần ghi nhận là định luật này không có một ngoại lệ nào nếu ta nh́n trong chiều sâu thay v́ một cách phiến diện. Định luật 3 gần như là một hệ luận của định luật 2, nhưng nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng động viên quần chúng. Đồng thuận là điều kiện để ḷng yêu nước có thể đóng được vai tṛ kết hợp và thôi thúc của nó. Định luật này giải thích tại sao các chế độ phát-xít quân phiệt tại Đức, ư và Nhật trước thế chiến II đă đạt được những tiến bộ đáng kể trước khi sụp đổ trong máu lửa. Đó là v́ do hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc này đă có một đồng thuận lớn và đă được động viên trong một cố gắng chung, dù chỉ là đồng thuận mê muội trên một ư đồ bá quyền nước lớn. Sau đó chính v́ không có dân chủ mà các nước này tích lũy mâu thuẫn và bị đẩy vào chiến tranh tự hủy. ở đây cũng cần hiểu rơ những định nghĩa khác nhau của ổn định. ổn định có lợi và cần thiết cho phát triển là ổn định trong sinh hoạt xă hội, nghĩa là hiến pháp và luật pháp, không bị thay đổi tùy tiện theo ư muốn của người cầm quyền. Đó hoàn toàn không phải là sự ổn định được hiểu như là sự không thay đổi người cầm quyền. Từ sau thế chiến II, Nhật và ư là hai quốc gia thay đổi chính phủ rất thường xuyên, trung b́nh một chính phủ chỉ kéo dài xấp xỉ một năm, mà vẫn phát triển mạnh bởi v́ luật chơi, nghĩa là hiến pháp và luật pháp không thay đổi. Trái lại, các nước độc tài, với những chính quyền kéo dài nhiều thập niên, lại rất tụt hậu. Tại sao? Bởi v́, như đă được tŕnh bày trong bài trước nhưng nhắc lại một lần nửa tưởng không phải là vô ích, chế độ độc tài cho phép người cầm quyền thay đổi luật chơi một cách tùy tiện, tạo ra xáo trộn và bất ổn thường trực cho sinh hoạt của xă hội.
Định luật 4 cũng hiển nhiên như định luật 2, nhưng có lúc đă bị che khuất bởi những tŕnh bày dối trá. Các chế độ phát-xít Đức, ư và Nhật trước tác chiến II và nhất là các chế độ cộng sản, bằng những giấu giếm và thống kê bịp bợm, đă làm cho nhiều người tưởng là có thể phát triển bằng những kế hoạch duy ư chí, bất chấp các qui luật của thị trường. Sự sụp đổ của phong trào cộng sản đă chỉ là sự tái lập lại một chân lư vốn đă có từ lâu.
Định luật 5 tập hợp hai nhận thức cơ bản: một là chính ư kiến và sáng kiến, chứ không phải nguyên nhân nào khác, làm cho kinh tế tăng trưởng, mà muốn ư kiến và sáng kiến nảy nở th́ xă hội dân sự và các cá nhân phải được giải phóng khỏi mọi g̣ bó; hai là các thủ tục rườm rà vừa ngăn cản sáng kiến vừa đề ra tham nhũng, bệnh ung thư của hoạt động kinh tế. Tham nhũng là ǵ nếu không phải là sự lạm dụng công quyền cho lợi ích cá nhân? Muốn tránh tham nhũng th́ trước hết phải giới hạn vai tṛ của chính quyền. Cũng phải nhận xét rằng thủ tục đẻ ra thủ tục bởi v́ nó tạo ra những công chức sống nhờ thủ tục và cố gắng tạo ra thêm càng nhiều thủ tục càng tốt để cũng cố địa vị. Mặt khác, chính quyền ôm đồm quá nhiều sẽ không làm tṛn được những nhiệm vụ tối cần thiết của một chính quyền, nghĩa là bảo vệ trật tự an ninh, trọng tài đúng đắn những mâu thuẫn và tranh tụng trong xă hội, thi hành đúng đắn luật pháp, ǵn giữ liên đới xă hội, quản lư đúng đắn tiền tệ. Một xă hội được cai trị quá nhiều cũng là một xă hội không được cai trị đầy đủ.
Định luật 6 nói lên sự cần thiết của một đoạn tuyệt văn hóa và tâm lư. Mỗi quốc gia có những lư do khác nhau để bị tŕ trệ. Lư do có thể là những đặc quyền dành cho một giai cấp, một tập đoàn hay một số gia đ́nh, thành phần được ưu đăi này dựa vào địa vị áp đảo của ḿnh để kiềm giữ thành phần c̣n lại của xă hội trong sự nghèo khổ ngơ hầu giữ nguyên vai tṛ thống trị của ḿnh. Hay là một số người và nghề được tôn vinh quá đáng, ngược lại một loại người và nghề bị khinh bị và loại trừ, xă hội bị chia cắt thành những tập thể mâu thuẫn với nhau, phá hoại lẫn nhau và triệt tiêu lẫn nhau; sự lưu thông bị tắc nghẽn, xă hội ở trong một t́nh trạng nội chiến thường trực. Một thí dụ trong các xă hội theo văn hóa Khổng Giáo là lâm lư trọng văn khinh nghề, một tâm lư từ chối sự giàu mạnh. Một thí dụ khác, cũng trong các xă hội này, là tâm lư trọng nam khinh nữ, chà đạp và loại trừ khỏi hoạt động xă hội một nửa tài nguyên nhân lực.
Đoạn tuyệt văn hóa rất khó, như chúng ta đă nhận xét trong nhiều trang trước, nhưng đó là điều kiện tiên quyết để có thể phát triển. Nhiều người chất vấn: xă hội ta đặt nền tảng trên những giá trị Khổng Giáo, nếu bỏ đi chúng ta c̣n lại ǵ? Phải trả lời dứt khoát: chẳng thà không có ǵ c̣n hơn là có thuốc độc. Người phá rừng hoang làm đất canh tác không thể tự hỏi: khu đất này chỉ có cây hoang nếu phá hết th́ c̣n lại ǵ? Trước hết phải đốn hết cây dại trước khi làm đất và trồng cây ăn trái.
Đ́nh luật 7 nói lên một niềm tin rất nền tảng: tự do có khả năng sửa chữa những khuyết tật của chính nó. Nếu trong nhất thời tự do quá trớn có thể để ra những hậu quả xấu th́ sau đó chính cái tự do quá trớn đó sẽ xóa bỏ những hậu quả xấu này. Đây là niềm tin vào trí tuệ của con người. Định luật này cũng là một đồng minh của định luật 6. Tự do phát biểu tuyệt đối là vũ khí tiêu diệt mọi thành kiến lệch lạc, mọi ngăn cách, mọi đặc quyền đặc lơi. Đó cũng là vù khí hiệu lực nhất để chống tham nhũng. Tại sao nước Mỹ đă vươn lên từ một vùng đất hoang thành siêu cường số một của thế giới. Một trong nhưng lư do là hiến pháp Mỹ không những khẳng định tự do phát biểu mà c̣n cấm quốc hội biểu quyết bất cứ một đạo luật nào giới hạn tự do phát biểu, dù với đa số nào. Đễ có thể có một đoạn tuyệt văn hóa và tâm lư như định luật 6 đ̣i hỏi chúng ta không thể chỉ chấp nhận tự do, mà c̣n phải coi tự do như một quốc giáo và khuyến khích tự do dưới mọi h́nh thức như tự do suy nghĩ, phát biểu, chọn lựa, thụ hưởng, kể cả tự do cơ thể. Tự do cơ thể đặc biệt quan trọng bởi v́ khi cơ thể đă được giải phóng th́ rất nhiều thành kiến cũng tiêu tan và cách suy nghĩ sẽ thay đổi. Các trí thức canh tân của ta đầu thế kỷ 20 đă rất đúng khi họ kêu gọi cắt tóc ngắn, động tác giản dị này đă có ảnh hưởng tâm lư quyết định.
Đ́nh luật 8 là tuyên cáo của một xă hội nhân bản và một nền văn minh mới. Bạo lực phải bị lên án ngay trong ư niệm chứ không phải chỉ trong thực tế. Dù không dùng bạo lực thực sự đi nữa th́ khả năng sử dụng bạo lực hay ư nghĩ bạo lực cũng làm cho con người có thể thù ghét nhau v́ bất đồng ư kiến hay mâu thuẫn quyền lợi. Loại trừ hẳn bạo lực ngay trong ư niệm sẽ khiến mọi người không c̣n chọn lựa nào khác ngoài đối thoại tương kính để đi đến thỏa hiệp và như thế không những bảo đảm ḥa b́nh trong xă hội mà c̣n đem lại ḥa b́nh trong tâm hồn mọi người.
Định luật 9 cần được đặc biệt chú ư v́ nó là sự thực đă bị các quyền lực chính trị cố t́nh xuyên tạc và che đậy. Thương mại luôn là động cơ của mọi tiến bộ. Xă hội Hy Lạp nguyên thủy coi thương mại là hoạt động cao quí nhất, họ đặt giai cấp kỹ sư và thợ thủ công dưới giai cấp thương nhân. Dù là một phân biệt giai cấp không chính đáng, quan niệm này cũng bày tỏ một sự đánh giá có căn bản: thương nhân là những con người có bản lănh nhất, giao thiệp nhiều, hiểu biết rộng, nhiều sáng kiến và dám chấp nhận rủi ro. Người á Đông từ lâu cũng đă nhận định phi thương bất phú (không làm thương mại th́ không thể giàu có). Từ chối thương mại như vậy chính là từ chối sự giàu mạnh. Các chế độ độc tài toàn trị đều sợ thương nhân v́ thế chà đạp thương nhân để triệt tiêu một mối để dọa cho quyền lực của chúng. Một mặt chúng dùng bạo lực đàn áp, mặt khác chúng dùng độc quyền ngôn luận để phỉ báng thương nhân như là hạng người gian trá tham lam. Với thời gian chúng đă thành công tạo ra một thành kiến thù ghét đối với hoạt động kinh doanh làm giàu. Nho Giáo từ đời nhà Hán bắt đầu bài xích và cấm đoán thương mại. Các chế độ cộng sản trong thế kỷ 20 cũng có cùng một chọn lựa. Các xă hội Khổng Giáo ngày xưa và cộng sản gần đây tŕ trệ là v́ thế. Nguyên nhân sâu xa của chính sách bài bác thương mại là một triết lư chính trị: ưu tư ǵn giữ chính quyền được đặt trên sự giàu mạnh của xă hội. Các chế độ độc tài toàn trị không cần quốc gia giàu mạnh, trái lại chúng cần dân chúng nghèo khó và ngu dốt để có thể tiếp tục thống trị.
Thương mại đ̣i hỏi và làm phát triển nhiều đức tính tốt. Người làm thương mại phải hiểu nhu cầu của xă hội và v́ thế phải cố gắng t́m hiểu xă hội. Người làm thương mại sống bằng chữ tín nên phải thực thà, nếu không muốn bị tẩy chay và phá sản. Người làm thương mại cần khách hàng nên phải thực sự quí trọng người khác v́ không có sự giả dối nào có thể kéo dài. Người làm thương mại phải tỏ ra dễ mến để tranh thủ khách hàng cho nên ngôn ngữ và thái độ phải trang nhă. ở một chương trước chúng ta đă nói rằng chính v́ thương mại không phát triển mà con người trong các xă hội Khổng Giáo thường rất thô lỗ.
Thực tế cho thấy các tiến bộ đầu tiên, kể cả dân chủ, đă xuất hiện tại các trung tâm thương mại. Các thí dụ phát triển đầu tiên tại Ḥa Lan, Anh và Mỹ cũng đă chứng tỏ vai tṛ quyết định của thương mại.
Định luật 10 và một nhận định thực tiễn. Xă hội phát triển chỉ có thể là xă hội dân chủ pháp trị. Nhưng muốn luật pháp được tôn trọng, trước hết luật pháp phải được mọi người thấu hiểu. Không thể lấy một đạo luật, dù hay tới đâu, của một nước đă phát triển và có hoạt động kinh tế phức tạp để áp đặt vào một nước mà đa số dân chúng chưa đọc thông viết thạo và hoạt động kinh tế chủ yếu là trao đổi trực tiếp hay buôn bán lặt vặt, hay sản xuất trên qui mô gia đ́nh. Luật pháp phải phù hợp với tŕnh độ hiểu biết trung b́nh của xă hội.
Luật pháp không hoàn chỉnh nhưng áp dụng được c̣n hơn luật pháp hoàn chỉnh những người dân không hiểu nổi và do đó không thể tuân thủ. Luật pháp phải được xây dựng một cách liên tục và trưởng thành cùng với sự phát triển của quốc gia. Nhưng ở đây phải đặc biệt cảnh giác trước một sự gian trá khác. Đó là giới hạn tự do và dân chủ viện cớ dân trí chưa cao. Ngược lại, và ngược hẳn lại, chính trong hoàn cảnh dân trí chưa cao và hoạt động kinh tế chưa phức tạp, luật pháp phải ít g̣ bó hơn, ít giới hạn hơn. Sự gian trá của các chế độ độc tài đập vào mắt mọi người: chúng nhằm đàn áp trước hết những người có tŕnh độ cao, chúng dồn những cố gắng rất tốn kém để kiểm soát tư tưởng, trong khi để mặc cho các tệ đoan xă hội hoành hành. Các xă hội độc tài khắc nghiệt thường rất hỗn loạn và vô kỷ luật: trộm cướp, măi dâm, buôn lậu, phóng uế, phá hủy môi trường, đánh cá bằng chất nỗ v.v... hầu như không bị kiểm soát v́ lư do dễ hiểu là các tệ nạn này không đe dọa tập đoàn cầm quyền.
Mười định luật về phát triển trên đây có thể tóm gọn trong bốn chữ: dân chủ đa nguyên. Trong một xă hội dân chủ đa nguyên tất nhiên mọi người phải được tôn trọng, được tự do kết hợp, bầu cử và ứng cử. Chính quyền như thế sẽ xuất phát từ dân chúng và được dân chúng ủng hộ. Trong một xă hội dân chủ đa nguyên tất nhiên mọi ư kiến, dù mới mẻ và có vẻ ngược đời đến đâu cũng vẫn được quyền phát biểu. Tinh thần đa nguyên, nghĩa là tinh thần tôn trọng mọi khác biệt, có hệ luận tự nhiên là người ta không được dùng bạo lực để tiêu diệt người khác ư kiến và quyền lợi với ḿnh, mà phải t́m cách sống chung qua đối thoại và thỏa hiệp. Đă không tiêu diệt và đàn áp lẫn nhau th́ cố gắng tự nhiên là t́m đồng thuận. Đă tôn trọng mọi người, dù thuộc thành phần xă hội nào và khuynh hướng nào, th́ tất nhiên không thể có những đặc quyền đặc lợi, thành kiến và ngăn cách; hay nếu có cũng sẽ bị xóa bỏ với thời gian. Sau cùng, một xă hội dân chủ đa nguyên, sau khi các thành kiến và đặc quyền đă được hủy bỏ, chắc chắn sẽ khám phá ra vai tṛ chủ đạo của thương mại v́ đó là một sự thực hiền nhiên, mọi người đều có thể thấy một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Tới đây có lẽ cũng nên có một nhận định tổng hợp và đúc kết về hiện tượng phát triển kinh tế: tăng trưởng kinh tế, nguyên nhân của phát triển, xảy ra khi xă hội hội đủ ba yếu tố: (1) nhiều người lạc quan và muốn kinh doanh, (2) họ có thể kinh doanh và (3) họ có phương tiện để kinh doanh.
Để lạc quan và muốn kinh doanh, họ cần một bối cảnh tâm lư thuận lợi: hoạt động kinh doanh được xă hội quí trọng, ư kiến và sáng kiến được đề cao, sự chấp nhận rủi ro được đề cao và dĩ nhiên ḷng tin trong kinh doanh sẽ thành công.
Để có thể kinh doanh, doanh nhân cần trật tự an ninh, cần được tự do hoạt động và được luật pháp bảo vệ và luật pháp không thay đổi một cách tùy tiện. Họ cũng không thể bị trói buộc bởi quá nhiều qui định, không bị g̣ bó trong một kế hoạch quốc gia cứng nhắc, và nhất là không bị sách nhiễu bởi tệ tham nhũng, một căn bệnh trầm kha của mọi chế độ độc tài.
Phương tiện kinh doanh không phải chỉ là vốn. Trước hết là một nguồn nhân lực có phẩm chất, hạ tầng cơ sở và các phương tiện giao thông và truyền thông tốt, một hệ thống ngân hàng đắc lực khi cần vốn luân chuyển. Vốn đầu tư chỉ là một trong những phương tiện và cũng không phải là phương tiện quan trọng nhất. Tư bản có trí khôn và lô-gích riêng của nó, ở đâu kinh doanh có lợi vốn sẽ tự nó t́m đến. Yếu tố quan trọng nhất vẫn là những con người cần mẫn và có kỹ năng.
Cả ba yếu tố nền tảng trên đây cho tăng trưởng kinh tế, và phát triển kinh tế sau đó, một lần nữa nhắc nhở chúng ta một chân lư: phát triển hay tŕ trệ chủ yếu là một vấn đề tâm lư và văn hóa.
Chúng ta cần thay đổi văn hóa, nghĩa là thay đổi xă hội và con người để có thể phát triển.
Một lời trước khi chấm dứt. Những qui luật phát triển trên đây có thể làm cho một số độc giả phân vân: phải chăng chúng ta tiến tới một xă hội do đồng tiền ngự trị? Sự phân vân càng day dứt đối với tâm hồn á Đông, và nhất là Việt nam, từ ngàn xưa đă coi sự thanh bản như một giá trị cao quí. Nhưng thực ra một xă hội phát triển và tự do không phải chỉ đem lại sự giàu có; nó c̣n đem lại phẩm giá cho con người, đem lại sự sáng tạo trong mọi địa hạt. Tôi không biết một triết gia phương Tây nào đó đă nói: Đồng tiền là một đầy tớ tốt nhưng là một chủ nhân xấu. Câu nói này được rất nhiều người coi là cao siêu nhưng thực ra nó chỉ là một nhận xét của một người thiếu hiểu biết. Đông tiền chắc chắn không phải là ông chủ tốt bởi v́ nó không có lương tâm và t́nh cảm, nhưng nó cũng không thể là một đầy tớ. Nó quá mạnh và kiêu hănh. Nếu bị coi là một đầy tớ, nó sẽ phản ứng thẳng tay và làm chúng ta đau đớn. Đồng tiền, hay đúng hơn tài sản, khi đă đạt tới một tầm vóc nào đó, có cuộc sống riêng của nó và cũng có lô-gích riêng của nó; chúng ta phải thảo luận và thỏa hiệp với nó chứ không thể coi nó như một vật dụng. Nó cần được đối xử như một người bạn và một người đồng đội chứ không phải một chủ nhân hay một đầy tớ. Nó không thống trị mà cũng không khuất phục. Vả lại, ngay cả sự thống trị của đồng tiền, dù không phải là lư tưởng, cũng vẫn dễ chịu hơn là sự chuyên chế của đức hạnh. Đồng tiền là tiện nghi, là tự do và là điều ai cũng có thể hiểu và chấp nhận, trong khi đức hạnh thường chủ quan và thay đổi theo người, hay lớp người, có quyền quyết định cái ǵ là đức hạnh, cái ǵ là trái với đức hạnh. Đức hạnh có thể là một nhà tù vô h́nh nhưng rất nghiệt ngă.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Kinh bang tế thế

 

Ngày nay, khi bàn về t́nh h́nh đất nước, người ta sẽ rất may mắn nếu được coi là một chuyên viên kinh tế. Tâm lư quần chúng, kể cả đa số trí thức, dành cho các nhà kinh tế một sự nể trọng đặc biệt, như thể là chỉ có họ mới thực sự có thẩm quyền để nói về tương lai đất nước. Thái độ này xuất phát từ ư thức càng ngày càng mạnh rằng vấn đề cơ bản của chúng ta là phát triển kinh tế ư thức này rất đúng, chỉ có kết luận rút ra từ đó, nghĩa là đề cao những người được coi là kinh tế gia, mới sai. Hỏi các nhà kinh tế làm thế nào để phát triển đất nước cũng giống như hỏi một ông hàng thịt cách nuôi heo. Họ không biết.
Cái ǵ làm cho kinh tế phát triển? Đó là nhờ một kỹ sư phát minh ra một cái máy mới nào đó hay một phương thức sản xuất nào đó làm cho số lượng sản phẩm tăng lên với cùng một vốn đầu tư và cùng một số công nhân. Đó là nhờ một nhà kinh doanh sau nhiều quan sát và suy nghĩ đă nh́n ra một yêu cầu mới của thị trường rồi tạo ra một cơ sở kinh doanh, tuyển dụng một số nhân công mới, vừa kiếm được một tài sản cho ḿnh, vừa giải quyết sinh kế cho nhiều gia đ́nh, vừa kích thích một số hoạt động kinh tế khác. Đó là nhờ một nhà kinh doanh kư được một hợp đồng xuất cảng với nước ngoài. Đó là nhờ một doanh nhân hợp tác với một nhà sáng chế lập ra một số cơ sở sản xuất một sản phẩm mới, thỏa măn một cách tốt đẹp hơn nhu cầu của người tiêu thụ, v.v... Tất cả những yếu tố đó thường chẳng có mấy liên hệ với môn kinh tế học. Độc giả có thể phản bác rằng những thí dụ trên chỉ là những trường hợp cá nhân, lẻ tẻ trong khi chúng ta đang nói về kinh tế trên qui mô quốc gia. Xin thưa rằng kinh tế quốc gia không ǵ khác hơn là tổng số những trường hợp cụ thể đó. Sáng kiến, sản phẩm mới, kỹ thuật mới, phương pháp mới, thị trường mới, và tính mạo hiểm kinh doanh làm cho kinh tế phát triển.
Tuyệt đai đa số nhưng chuyên viên kinh tế làm việc trên những vấn đề rất giới hạn: những biến thiên trong số lượng tiêu thụ của loại sản phẩm; nhưng biến thiên về giá và số lượng sản xuất của một nguyên liệu; những chuyển biến của một ngành đặc biệt và những nguyên nhân tạo ra các chuyển biến đó; những thay đổi trong cách tiêu xài của quần chúng; trọng lượng tương đối của dầu khí trong giá thành cửa một loại mặt hàng; trọng lượng tương đối của các thành phần xă hội trong tổng sản lượng quốc gia; biến thiên của mức lương trung b́nh trong một thời gian nào đó của một khu vực nào đó; sự phân phối lợi tức giữa các thành phần xă hội, v.v... Tất cả những công việc này đ̣i hỏi một sự hiểu biết lường tận về đối tượng nghiên cứu, những quan sát rất chi tiết và đôi khi những dụng cụ toán học khá phức tạp, đặc biệt là về môn thống kê. Tuy vậy chúng ta thường chỉ coi là kinh tế gia những người hiểu biết, hoặc tỏ ra hiểu biết, về hoạt động kinh tế tổng hợp của cả quốc gia như tổng sản lượng quốc gia, khối lượng tiền tệ lưu hành, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, tương quan giữa các khu vực cấp một, cấp hai, cấp ba, giữa các ngành hoạt động v.v...., nói một cách khác về môn kinh tế chính trị (economics hay économie politique), trong khi những hiểu biết này vừa ít lại vừa dễ.
Kinh nghiệm của tôi tuy chẳng bao nhiêu nhưng cũng đủ để cho phép tôi khẳng định về môn kinh tế chính trị nó rất dễ. Một người b́nh thường với tŕnh độ tú tài, hơn một chút nữa càng hay, nếu tự tin và quyết tâm có thể nắm vững những kiến thức cơ bản của môn kinh tế chính trị trong ṿng một năm, dĩ nhiên với điều kiện là có được sách tốt hoặc thầy tốt. Một số độc giả đọc đến đây có thể giẫy nẩy lên: Tên này xấc xược dốt nát nên nói bậy. Lời phê phán này lại càng có cơ sở bởi v́ kinh nghiệm đă cho thấy không thiếu những người rất thông minh, có học vị rất cao, đă từng bỏ ra nhiều năm nghiên cứu và đă giữ những chức vụ rất quan trọng vẫn có thể tuyên bố những điều rất sai về kinh tế. Nếu môn kinh tế chính trị chỉ giản dị và dễ dàng như vậy th́ tại sao những người rất giỏi lại có thể có những nhận định rất sai?
Quả thực chính tôi cũng đă chứng kiến nhiều trường hợp như vậy. Một thí dụ, tôi đă hai lần được nghe hai vị tiến sĩ kinh tế, một tại Pháp và một tại Mỹ, nói rằng tham nhũng cũng là một yếu tố kích thích cần thiết cho phát triển kinh tế. Vị tiến sĩ tại Mỹ th́ tôi không rơ lắm nhưng vị ở Paris th́ tôi biết khá rơ, có học vị thực sự và đang giữ một chức vụ quan trọng trong một cơ quan nghiên cứu rất lớn và đầy uy tín. Về phía các nhân vật quốc tế tôi cũng đă từng được nghe những vị có uy tín và chức quyền rất cao phát biểu những điều rất sai, sai một cách lố lăng. Mà không phải do tôi, một cách chủ quan coi những phát biểu này là sai, nhiều chuyên gia rất có thẩm quyền khác đă chứng tỏ sự sai lạc của chúng một cách rơ rệt như hai cộng với hai là bốn.
Tại sao những người rất giỏi lại có thể nghĩ và nói những điều rất sai như vậy? Theo tôi có ba nguyên nhân chính. Một là những kiến thức cơ bản thường rất tẻ nhạt hay ít quyến rũ bởi thế nhiều người thông minh coi chúng là thiên nhiên, rời không chịu đầu tư thời giờ nắm cho thật vững, mà có nắm thật vững th́ những kiến thức đó mới nhập tâm và trở thành phản xạ trong lư luận. Không phải ai học thức các định lư đều có thể giải được những bài toán, chỉ có những người đă nhập tâm những định lư đó mới sử dụng chúng một cách tự nhiên. Nhiều người học kinh tế vội vă tiến ngay vào những chủ để sôi động, có thể gây được sự chú ư và thán phục. Đó là thói thường của những người nghĩ ḿnh giỏi, khiến họ đôi khi hụt hẫng. Điều tai hại là do địa vị của họ, những điều họ nói dễ được tin, gây ra thành kiến sai cho nhiều người khác. Cuối cùng một vấn đề đáng lẽ giản dị trở thành phức tạp. Không thiếu ǵ những người học vơ không đủ kiên nhẫn chịu mất th́ giờ để tập đứng tấn, luyện hô hấp và di chuyển, mà muốn học ngay những bài quyền, những thế đánh ngoạn mục. Không thiếu những nhà văn, nhà thơ không chịu mất th́ giờ t́m hiểu ngữ pháp và ngữ vựng mà đă vội vă sáng tác và xuất bản tác phẩm.
Hai là mọi lư luận kinh tế đều phải dựa trên những sự kiện thực tế, mà những sự kiện này thường đ̣i hỏi rất nhiều th́ giờ để t́m kiếm và c̣n đ̣i hỏi một th́ giờ lớn hơn nữa để thấu hiểu, cho nên những người thông minh nhất cũng rất dễ tưởng rằng ḿnh đă thấu hiểu, rồi đưa ra những kết luận vội vă và sai lạc.
Ba là bản tính con người, dù thuộc chủng tộc hay văn hóa nào, thường rất ít khi mất th́ giờ để kiểm điểm những kiến thức và niềm tin của ḿnh để t́m xem có ǵ mâu thuẫn không, cho nên một con người rất thông thái vẫn có thể cùng một lúc tin ở những sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Thái độ ba phải này h́nh như đặc biệt trầm trọng nơi người á Đông nói chung và người Việt nam nói riêng. Một thí dụ là quan điểm tam giáo đồng nguyên của chúng ta, ván thường được viện dẫn để chứng minh và tự hào, rằng người Việt nam rất bao dung và đă tổng hợp được một cách đẹp đẽ ba ḍng tư tưởng Khổng, Phật, Lăo. Thế nào là đồng nguyên? Nếu hiểu là cùng nguồn gốc địa lư th́ chắc chắn sai v́ Phật Giáo xuất phát từ ấn Độ trong khi Lăo Giáo và Khổng Giáo xuất phát từ Trung Hoa. Nếu hiểu là cùng một thái độ th́ cũng sai v́ chọn lựa cơ bản của Khổng Giáo chỉ thực tiễn là làm quan lại, chọn lựa của Lăo Giáo là không t́m kiếm bất cứ ǵ, trong khi chọn lựa Phật Giáo là t́m giải thoát cá nhân cho những đau khổ của cuộc sống. Người ta có thể kính trọng cả ba nhưng không thể nghĩ rằng có thể theo cả ba cùng một lúc và càng không thể coi chúng là đồng nguyên được. Một thí dụ động trời khác là chủ trương kinh tế thị trường theo định hướng Mác-Lênin. Làm sao có thể mâu thuẫn đến như thế được, chủ nghĩa Mác Lênin là ǵ nếu không phải là sự phủ nhận một cách thù ghét thị trường? Nếu mỗi người chúng ta thỉnh thoảng bỏ thời giờ kiểm điểm những hiểu biết của ḿnh và cố gắng t́m ra nhưng mâu thuẫn giữa những hiểu biết đó th́ hay biết bao. Đến đây, tôi đă nói mông lung lắm rồi, xin đi vào một số vấn đề cụ thể.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Huyền thoại kế hoạch

 

Vấn đề đầu tiên là kế hoạch kinh tế. Tôi vẫn thường được hỏi: Các anh có kế hoạch ǵ để phát triển kinh tế. Người Việt nam chúng ta, miền Nam cũng như miền Bắc, cộng sản cũng như chống cộng, rất coi trọng kế hoạch. Chính quyền miền Nam ngày trước có cả một Bộ Kế Hoạch. Chính quyền miền Bắc ngày trước (và Việt nam ngày nay) có một phó thủ tướng đặc trách kế hoạch đứng đầu ngành kinh tế, chỉ gần đây kế hoạch mới hơi xuống giá, chỉ c̣n lại một Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà thôi. Phải nói thẳng tôi rất dị ứng với kế hoạch. Lư do là v́ tôi tin tưởng vào kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường là ǵ nếu không phải là để cho thị trường quyết định giá cả cũng như số lượng của từng sản phẩm? Làm sao có thể vừa tin ở kinh tế thị trường - nghĩa là để cho tư nhân theo quan sát thị trường tự quyết định làm ǵ, làm tới đâu, và với giá nào - lại vừa quyết định là trong năm năm tới phải sản xuất bao nhiêu quần áo, bao nhiêu xe gắn máy? Cùng lắm chúng ta chỉ có thể tiên liệu để biết sẽ phải thích nghi như thế nào. Cùng lắm nhà nước chỉ có thể có những kế hoạch xây dựng hạ tầng cơ sở. Giữa hai điều, kế hoạch và kinh tế thị trường, phải chọn một. Các nước tư bản phát triển không có bộ kế hoạch. Nước Pháp cho tới đầu thập niên 1980 vẫn c̣n Cao ủy Kế hoạch, giờ đây không thấy ai nói đến nữa, Cao ủy Kế hoạch vẫn c̣n, nhưng vai tṛ chủ yếu của nó là phân phối những cơ sở vật chất mà nó đứng tên làm chủ quản, trước khi biến mất. Người cộng sản, trước đây, có lẽ ít mâu thuẫn hơn người không cộng sản ở điểm này v́ họ phủ nhận tự do kinh doanh và tin, hay ít nhất tuyên bố là tin, ở kế hoạch. Nhưng giờ đây khi họ cũng đă tin, và có lẽ là tin thực, ở kinh tế thị trường th́ họ cũng phải chọn lựa. Một mâu thuẫn khổng lồ khác của chính quyền cộng sản là, một mặt tin rằng kế hoạch là cốt lơi của kinh tế và kinh tế rất phức tạp, một mặt lại chỉ đặt vào địa vị lănh đạo kế hoạch và kinh tế những người hoàn toàn không có một khả năng chuyên môn nào về kinh tế và cũng chưa hề quen biết với những vấn đề kinh tế. Chẳng hạn như nhà thơ Tố Hưu được đưa lên làm phó thủ tướng đặc trách kế hoạch kinh tế, rồi đến ông Vơ Văn Kiệt, một vị tướng công an suốt cuộc đời hoại động chỉ lo tổ chức tuyên truyền, bắt cóc, ám sát. Sau ông Kiệt là ông Phan Văn Khải, một người, theo những người từng học và làm việc với ông, tuy có được gởi sang du học Liên xô vài năm nhưng v́ vốn tiếng văn hóa và ngoại ngữ quá yếu nên chẳng học được ǵ và phần lớn sự nghiệp là làm phụ tá ngoan ngoăn cho ông Kiệt. Những nhà kinh tế thực sự phải có can đảm nói thẳng, mỗi khi được hỏi, là chúng ta không thể có kế hoạch kinh tế nếu chúng ta thực sự chọn kinh tế thị trường, nghĩa là nếu chúng ta thông minh.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Laissez-faire?

 

Nhưng chúng ta có cần một chính sách kinh tế không? Tôi lại có thể bị coi là khiêu khích nếu trả lời thực ra cũng không cần lắm. Nhưng quả thực là như thế. Những biện pháp mà chúng ta thường gọi là kinh tế như đào tạo chuyên môn, gởi sinh viên ra nước ngoài thực tập, khuyến khích hay hạn chế tín dụng, mở mang đường giao thông, xây dựng thương cảng, nhà kho, v.v... thực ra phải xuất phát từ nhu cầu thị trường và một phần lớn cũng phải do tư nhân làm chứ không do nhà nước tự ư quyết định và thực hiện một ḿnh. Trong một sinh hoạt kinh tế thị trường, thông thường nhà nước chỉ có thể nghiên cứu, tiên liệu và thông tin cho doanh nhân để họ có thể quyết định đúng. Nhưng những điều này các công ty tư cũng có thể làm được, và thường nên để họ làm v́ họ làm đúng hơn.
Một khi đă chấp nhận kinh tế thị trường, nhà nước chỉ c̣n rất ít việc phải làm v́ mọi chọn lựa đều giản dị và rơ rệt, hầu như bắt buộc: phải khuyến khích sản xuất, nội thương, ngoại thương; phải giản dị hóa công việc của doanh nhân, phải có thông tin kinh tế chính xác và kịp thời; phải cố gắng trải đều hoạt động kinh tế trên khắp lănh thổ thay v́ tập trung vào một số địa phương, v.v... Chẳng cần ǵ một chính sách kinh tế, tất cả những việc đó đều hiển nhiên phải làm và phải làm tối đa. Làm thế nào là một chuyện khác, nhưng không c̣n là những vấn đề kinh tế nữa. Nếu có một bí quyết th́ đó chỉ là bí quyết mà ai cũng biết, đó là phải đối thoại thường xuyên và đầy đủ với doanh nhân, để biết những yêu cầu và khó khăn của họ. Và nhà nước càng làm ít chừng nào càng tốt chừng ấy. Adam Smith từng được coi, có lẽ hơi oan, là sáng tổ của trường phái cứ để họ làm (laissez-faire), nghĩa là cứ để các tác nhân kinh tế tự t́m lấy cách làm việc rồi đâu sẽ có đó, sẽ có một bàn tay vô h́nh an bài tất cả một cách tốt đẹp. Không nên hiểu Smith một cách quá khích, cứ để họ làm không có nghĩa là cứ để nó chết hay cứ để mặc chúng nó tàn sát nhau. Đó chỉ là một cách để nói rằng các tác viên kinh tế qua cọ sát và trao đổi thường ngày, mỗi người theo đuổi mục đích lợi nhuận riêng của ḿnh, dần dần sẽ đi đến một thăng bằng trong đó mọi người đều có phần và đều đóng góp cho phát triển của xă hội; nhà nước nên giới hạn ở mức tối thiểu những can thiệp của ḿnh, nhất là không nên áp đặt những kế hoạch và mục tiêu. Như thế không có nghĩa là vai tṛ của nhà nước không quan trọng. Trái lại nhà nước có vai tṛ rất quan trọng trong việc quyết định thăng bằng đó sẽ như thế nào. Sẽ là một thăng bằng rừng rú trong đó kẻ mạnh đề bẹp kẻ yếu hay là một thăng bằng văn minh và nhân bản. Sẽ là một thăng bằng ở mức độ thấp hay cao. Nhưng đây không phải là một vấn đề thuần túy kinh tế, mà là một vấn đề văn hóa và chính trị.
Vai tṛ chính của nhà nước là vai tṛ của một trọng tài, bảo đảm pháp luật, trật tự và an ninh, diệt trừ tham nhũng và tạo những quan hệ ngoại giao tốt đẹp đồng thời thông tin chính xác về sinh hoạt kinh tế thế giới để giúp doanh nhân t́m thị trường và tránh những sai lầm tai hại. Muốn giúp doanh nhân t́m thị trường xuất cảng th́ phải bổ nhiệm ở các ṭa đại sứ những tùy viên thương mại có khả năng nhất, nhưng đó không phải là một vấn đề kinh tế mà chỉ là vấn đề làm việc đứng đắn, không tham nhũng, không phe đảng.
Kinh tế phát triển là do những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật làm gia tăng năng suất, nhưng gia tăng năng suất là một vấn đề của các chuyên viên trong các xí nghiệp.
Kinh tế cũng phát triển nhờ t́m được các thị trường mới hoặc cải thiện các thị trường có sẵn, trong cũng như ngoài nước. Nhưng trong một nền kinh tế thị trường cố gắng này là của các công ty chứ không phải của nhà nước. Vai tṛ của nhà nước trong hoạt động kinh tế là tạo điều kiện để doanh nhân hoạt động dễ dàng và bảo đảm cạnh tranh công bằng. Chỉ có thể. Chấm, và chấm hết.
Những điều mà chúng ta thường coi là nằm trong một chính sách kinh tế thường thường là những việc chớ nên làm, thí dụ như nâng đỡ một ngành này, hạn chế một ngành khác, cho nhập cảng một loại hàng này, cấm nhập cảng một mặt hàng khác hay đánh thuế nặng một số mặt hàng. Nhưng can thiệp đó làm lệch lạc đi qui luật thị trường và tạo ra những hậu quả tai hại gấp nhiều lần lợi ích trước mắt mà thường người ta chỉ khám phá ra sau khi đă quá trễ. Tại sao? Bởi v́ không ai có thể nắm vững được hết những liên hệ đan xen chằng chịt của một thị trường với hàng chục triệu đối tác, mọi tính toán đề chỉ có thể là giản đơn và do đó đều sai. Việc khuyến khích phát triển các vùng nghèo khó thực ra cũng không nằm trong một chính sách kinh tế. Giải pháp cũng rất hiển nhiên: mở mang đường giao thông và viễn thông và tản quyền tối đa để doanh nhân có thể giải quyết mọi vấn đề thủ tục và hành chánh ngay tại chỗ. Lúc đó không cần khuyến khích doanh nhân cũng sẽ t́m đến những vùng nhà đất rẻ, nhân lực rẻ và dồi dào, thị trường chưa được cũng ứng đúng mức. Nhưng nếu kế hoạch không nên có, chính sách cũng không cần thiết th́ vẫn c̣n lại vấn đề quản lư kinh tế. ở đây vấn đề cũng khá giản dị và trong lô gích thị trường các giải pháp cũng khá hiển nhiên. Vai tṛ quản lư kinh tế của nhà nước thực ra không có ǵ phức tạp.
Trước hết cần có luật lệ kinh doanh đúng đắn và giản dị. Đây có lẽ là điều khó nhất về mặt chuyên môn. Cần đối thoại thường trực với doanh nhân và các nghiệp đoàn để hiểu biết các vấn đề đặt ra cho các xí nghiệp và các ngành nghề; cần hiểu biết luật lệ và thông tục thương mại quốc tế. Luật pháp một mặt phải thích nghi thường trực với thực tế nhưng mặt khác cũng không được thay đổi quá đột ngột, đặt doanh nhân trước những bất ngờ bối rối. Luật cũng phải được mọi người thấu hiểu và hiểu như nhau. Xét cho cùng th́ cách để làm luật hay nhất vẫn là thảo luận tự do. Đó cũng là cách để mọi người biết đến luật và hiểu luật. Vấn đề sau đó là áp dụng luật pháp một cách công minh, điều này cần những luật sư và những thẩm phán có khả năng và một bô máy tư pháp không tham nhũng, nhưng đây không phải là một vấn đề kinh tế, mà là một vấn đề chính trị và đào tạo.
Vấn đề quan trọng thực sự là quản lư tiền tệ, nhưng ở đây kinh nghiệm đă chứng tỏ rằng giải pháp cũng khá hiển nhiên, chỉ cần áp dụng đúng đắn:
- Không nên áp đặt một hối suất cố định cho đồng tiền, trái lại nên thả nỗi hối suất để nó thích nghi hàng ngày với thực tế, và như thế tránh được những đầu cơ trên hối suất;
Kiểm soát lăi suất căn bản (lăi suất chiết khấu) để giữ cho lạm phát đừng quá cao và cũng đừng quá thấp, đâu đó ở mức từ 3 tới 5 % đối với một nước như Việt nam. T́m ra một tỷ lệ lạm phát thích hợp là một điều rất khó, chỉ có thể làm được sau một thời gian ḍ dẫm, một khi đă t́m được rồi canh chừng nó, nếu mức lạm phát lên cao hơn mức thích hợp th́ tăng lăi suất chiết khấu, nếu mức lạm phát xuống dưới mức thích hợp th́ giảm lăi suất chiết khấu.
Quản lư tiền tệ không phức tạp nhưng phải ḍ dẫm một cách thận trọng. Trên thực tế khuynh hướng chung của thế giới là không trao quyền phát hành tiền và quản lư lăi suất cho nhà nước mà trao cho một ngân hàng trung ương với một thống đốc và một hội đồng quản trị do chính phủ bổ nhiệm nhưng hoạt động độc lập, hay gần như độc lập, với chính quyền. Như vậy trách nhiệm quản lư kinh tế của nhà nước thực ra càng ngày càng nhẹ đi. Vấn đề khó khăn nhất, và cũng hoàn toàn thuộc quyền của chính quyền, là quyết định mức thuế cho từng khoản lợi tức (lương bổng, lăi xí nghiệp, lời chứng khoán, v.v...) và cho từng ngành, từng mặt hàng. ở đây cũng có một trường phái đ̣i giản dị hóa thuế bằng cách đánh một thuế suất gộp cho tất cả (flat tax). Có thể đây chỉ là một sự giản dị hóa quá đáng và không thực tiễn nhưng ít nhất nó cũng chứng tỏ có một chiều hướng giảm thiểu vai tṛ quản lư kinh tế của nhà nước. Chính sách thuế tùy thuộc trước hết ở triết lư chính trị. Thuế là phương tiện để nhà nước thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của ḿnh: bảo vệ lănh thổ, an ninh quốc gia, công lư, giáo dục, y tế, và nhất là liên đới xă hội. Mức thuế cao th́ doanh nhân sẽ chán nản, không phấn khởi đầu tư nữa và hoạt động kinh tế sẽ suy giảm kéo theo sự suy giảm của tổng sản lượng quốc gia và mức sống. Ngược lại, thuế không đủ (thế nào là đủ là một vấn đề khác) th́ nhà nước sẽ không làm tṛn được nhiệm vụ của ḿnh, nhất là nhiệm vụ cứu trợ và liên đới, xă hội sẽ căng thẳng và hỗn loạn, trật tự trị an không được bảo đảm, giáo dục và đào tạo sẽ xuống cấp với hậu quả sau cùng là chính hoạt động kinh tế cũng sẽ suy sụp. ở đây cũng thế, không có một lư thuyết nào cả, phải ḍ dẫm và rút kinh nghiệm mà thôi và chỉ có thể thay đổi một cách rất chậm chạp và thận trọng. Vấn đề xem ra có vẻ phức tạp, nhưng thực ra không phức tạp v́ việc tăng hay giảm thuế thường thường chỉ ở mức độ một hay một nửa phần trăm.
Tóm lại, quản lư kinh tế là trách nhiệm thực sự và cần thiết của nhà nước, nhưng không phải là khó. Có thể nói một nhà nước chỉ bảo đảm được luật pháp, trật tự an ninh và nhất là không tham nhũng cũng đă rất tốt rồi.
Tuy nhiên có một vấn đề quan trọng liên quan đến triết lư chính trị là có nên tách rời trách nhiệm liên đới.xă hội và hoạt động của các xí nghiệp hay không. Nói một cách khác, có nên buộc các xí nghiệp phải trực tiếp đảm nhiệm một phần công tác liên đới xă hội như qui định một số ngày huấn luyện nhất định trong năm, tôn trọng một số ngày nghỉ lớn (như năm hay sáu tuần lễ tại châu Âu), trả lương những ngày nghỉ bệnh, chịu một số ràng buộc trong việc sa thải v.v... hay không?
Mọi xă hội văn minh đều phải đặc biệt quan tâm đến liên đới xă hội. Xă hội văn minh không thể từ chối cho người què một cặp nạng. Không một ưu tư phát triển nào có thể biện minh cho sự bỏ rơi những người nghèo khó, thương tật. Giúp đỡ những người yếu đuối hoặc thiếu may mắn để họ vươn lên đóng góp cho sự phận vinh chung, không những chỉ là một phản xạ nhân bản mà c̣n là một hành động thông minh của cộng đồng quốc gia.
Dĩ nhiên là các xí nghiệp phải tham gia vào công tác liên đới xă hội, nhưng tham gia như thế nào và đến một mức độ nào tùy thuộc ở triết lư chính trị. Quan niệm của tôi là phải tách rời hai nhiệm vụ. Liên đới xă hội là trách nhiệm của nhà nước, bỏn phận của các công ty là sản xuất thực nhiều và t́m lợi nhuận tối đa; không nên bắt các xí nghiệp phải đảm nhận một nhiệm vụ không nằm trong chức năng tự nhiên của nó. Điều này có nghĩa là các qui định về trách nhiệm của các công ty phải thực sự là tối thiểu, phần c̣n lại là thỏa thuận giữa xí nghiệp và công nhân theo từng trường hợp. Nhà nước chỉ bảo đảm sự thực hiện đứng đắn của hợp đồng. Liên đới xă hội sẽ do nhà nước thực hiện với sự hợp tác của các tổ chức thiện nguyện thuộc xă hội dân sự. Và nhà nước đảm nhiệm chức năng liên đới xă hội của ḿnh qua thuế. Nếu thấy cần tăng thêm các trợ cấp xă hội, nhà nước sẽ tăng thuế, ngược lại, nếu thấy nhu cầu bớt căng thẳng nhà nước có thể giảm thuế. Và nhà nước sẽ phải có những sáng kiến để động viên xă hội dân sự đóng góp và tham gia vào các công tác liên đới xă hội.
Tới đây, để chấm dứt với huyên thoại về sự phức tạp và cao siêu của kinh tế, xin thêm vài ghi chú về lạm phát và thất nghiệp: Các vấn đề quản lư kinh tế có thể rất nhức nhối nhưng đều giản dị về mặt lư thuyết. Riêng hai vấn đề lạm phát và thất nghiệp thường hay gây một số ngộ nhận, các ngộ nhận này lại thường được các nhà kinh tế khuếch đại ra trong mục đích làm cho ḿnh có vẻ thông thái hơn. Hậu quả là quần chúng hoang mang và nghĩ rằng đó là những vấn đề rất phức tạp.
Khẩu hiệu thông thường là chống lạm phát, nhưng chống lạm phát không có nghĩa là đem tỷ lệ lạm phát xuống số không. ở một mức độ thấp, lạm phát không những có lợi mà c̣n cần thiết. Thí dụ, một mặt, nhiều khi cần giảm lương công nhân trong một số ngành nghề đang suy thoái không c̣n khả năng sử dụng số lượng nhân công mà chúng đang sử dụng nữa để thúc đẩy các công nhân tự cố gắng di chuyển sang những hoạt động khác đang phát triển, có như thế sinh hoạt kinh tế mới năng động và không ngừng thích nghi với tiến hóa, có như thế kinh tế mới lành mạnh. Nhưng, mặt khác, các xí nghiệp không thể cắt giảm lương mà không gây bất măn và xáo trộn. Giải pháp, cần thiết v́ lư do tâm lư, là vẫn tăng lương mà thực sự là giảm. ở một mức lạm phát 5%, xí nghiệp (và cả nhà nước) có thể tăng lương cho công nhân (hay công chức) 2 %. Thực tế là lương đă giảm 3% và công nhân thấy rơ điều đó, nhưng sẽ không phản ứng giận dữ.
Khẩu hiệu thông thường cũng là toàn dụng, nghĩa là mọi người đều có công ăn việc làm, nhưng một tỷ lệ thất nghiệp quá thấp không cần phải ở số không, cũng làm cho các hoạt động kinh tế mất đi sự co giăn, và đưa tới bế tắc v́ một mặt cản trở sự phát triển của các ngành cần công nhân, một mặt đưa tới tăng lương và lạm phát, chưa kể là c̣n không kích thích sự học hỏi và cầu tiến. Vả lại một tỷ lệ thất nghiệp thấp, ở mức 4% hay 5%, hoàn toàn có thể quản lư được trong một quốc gia đă dự trù các biện pháp liên đới xă hội. Vậy phải nói một cách bộc trực là quốc gia nào cũng cần duy tŕ một mức lạm phát vừa đúng và một tỷ lệ thất nghiệp thích nghi.Vấn dề khó là làm thế nào để định ra tỷ lệ lạm phát vừa đúng và tỷ lệ thất nghiệp thích nghi. Đây cũng không phải là một vấn đề lư thuyết mà chỉ là kết quả của một sự quan sát trong một thời gian dài. Hai tỷ lệ này thay đổi theo từng quốc gia, và trong mỗi quốc gia theo từng thời kỳ. Sau khi đă t́m ra các tỷ lệ này, đụng cụ chính để giữ lạm phát và thất nghiệp ở đó là lăi suất cơ bản. Một cách giản dị, trừ khi có những biến cố đặc biệt, khi lăi suất cơ bản được hạ thấp th́ tín dụng và đầu tư sẽ gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia và số công ăn việc làm, nghĩa là sẽ làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, nhưng đương thời cũng làm gia tăng tỷ lệ lạm phát. Ngược lại, khi lăi suất cơ bản tăng lên th́ tín dụng và đầu tư sẽ giảm, lạm phát sẽ giảm nhưng hoạt động kinh tế cũng giảm và thất nghiệp sẽ tăng. Nhà nước, hoặc ngân hàng trung ương, phải hết sức thận trọng trong việc giảm lăi suất mặc dầu nó có tác dụng kích thích các hoạt động kinh tế v́ kinh nghiệm ở mọi nước cho thấy chống lạm phát là một việc rất tốn kém, tốn kém gấp bội lợi ích có được vào lúc hạ lăi suất để kích thích tăng trưởng.
Cần lưu ư một sự kiện mà chính quyền tại các nước phát triển nào cũng biết nhưng không nh́n nhận: tỷ lệ lạm phát thay đổi chậm hơn so với tỷ lệ thất nghiệp. Do đó các ngân hàng trung ương thường quan sát tỷ lệ thất nghiệp để có thể hành động nhanh chóng. Khi cảm thấy tỷ lệ thất nghiệp xuống quá thấp so với tỷ lệ thất nghiệp tối ưu họ gia tăng lăi suất để nâng số người thất nghiệp lên. Dĩ nhiên mục đích tốt là để trả lại cho kinh tế mức độ co giăn cần thiết và tránh lạm phát, nhưng thực tế là họ đă căn cứ vào tỷ lệ thất nghiệp để canh chừng lạm phát và cố t́nh gia tăng mức độ thất nghiệp khi thấy nó xuống quá thấp. Điều này họ làm và phải làm nhưng không bao giờ dám công khai nh́n nhận v́ đối với công chúng nó quá phũ phàng. Họ biện bạch loanh quanh. Hậu quả là cuộc thảo luận về kinh tế càng trở thành khó hiểu. Nhưng cuộc tranh căi về kinh tế trong các nước dân chủ thường hay rất sôi nổi v́ chúng đụng chạm tới túi tiền của mọi người, và do đó được chăm chú theo dơi, chúng cũng rác rối v́ phải dung ḥa những quyền lợi mâu thuẫn, nhưng không phải v́ chúng thực sự cao siêu và phức tạp.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Quốc gia, dân tộc

 

Trên những khái niệm rất cơ bản về chính trị hầu như chúng ta không có cùng một ngôn ngữ. Thảo luận chính trị là điều khá mới đối với người Việt, nếu thêm vào đó chúng ta lại không đồng ư trên những khái niệm như quốc gia, dân tộc, nhà nước, v.v... th́ cuộc thảo luận lại càng khó khăn. Điều này thực ra không đáng ngạc nhiên lắm v́ ít nhất hai ly do.
Lư do đầu tiên là do chính sự phức tạp của những khái niệm chính trị cơ bản, đó là những phát minh rất phức tạp của trí tuệ mà cho tới nay vẫn chưa có đồng thuận dứt khoát.
Lư do thứ hai là do cách tiếp cận của người Việt nam (đúng ra là của người Trung Hoa mà người Việt bắt chước) đối với các khái niệm chính trị đến từ phương Tây. Cách tiếp cận này là lấy một từ ngữ được coi là tương đương của ngôn ngữ Trung Hoa để dịch một từ ngữ của phương Tây, trong khi những từ ngữ tương đương đó có thể chẳng tương đương chút nào v́ chứa đựng hai khái niệm khác nhau, có khi c̣n ngược hẳn với nhau. Cách tiếp cận này đưa đến ngộ nhận cả trong các cuộc thảo luận lẫn trong cách suy nghĩ.
Một vài thí dụ:
Càng ngày tôi càng được đọc nhiều bài của các vị rất uyên thâm, trong đó từ ngữ dân tộc được kèm theo trong ngoặc đơn chữ nation. Các vị này muốn nhấn mạnh dân tộc có nghĩa là nation trong tiếng Pháp và tiếng Anh. Khi viết dân tộc (nation), chắc chắn tác giả rất tin tưởng về sự hiểu biết của ḿnh và sợ người đọc không hiểu. Tuy nhiên cũng những vị này, có khi trong cùng một bài, lại dịch peuple, hay people, cũng là dân tộc, trong khi trong tiếng Pháp peuple và nation là hai khái niệm khác nhau. Tôi cũng đă từng gặp nhiều vị dịch từ kép nation-state (hay état-nation) là quốc gia dân tộc. Tôi tưởng tượng ra sự bối rối của những độc giả có đôi chút kiến thức chính trị. Cụm từ quốc gia dân tộc trong tiếng Việt từ trước đến nay vẫn chỉ là cách viết tắt của quốc gia và dân tộc. Tranh đấu v́ quốc gia dân tộc có nghĩa là tranh đấu cho quốc gia và dân tộc. Mỗi ngôn ngữ có những đặc tính riêng, một trong những đặc tính của tiếng Việt là hay tiết kiệm chữ và. Chúng ta hay nói anh em họ hàng thay v́ anh em và họ hàng. Tinh thần quốc gia dân tộc có nghĩa là tinh thần quốc gia và dân tộc. Từ kép nation-state (hay état-nation) có một ư nghĩa hoàn toàn khác. Chúng ta sẽ c̣n trở lại trong đoạn sau. Ngộ nghĩnh hơn nữa, nhiều vị c̣n chiết tự những danh từ chính trị theo chữ Hán. Chẳng hạn như nhiều vị giải thích danh từ pháp luật bằng cách giải nghĩa pháp là ǵ, luật là ǵ, v.v... trong khi khái niệm pháp luật của phương Tây và của Trung Hoa rất khác nhau, và tác giả đang nói về luật pháp theo nghĩa thông dụng đối với mọi người hôm nay, nghĩa là theo quan niệm phương Tây, do đó không thể chiết tự theo chữ Hán.
Chúng ta đă không quen với lư luận chính trị mà lại hiểu khác nhau những khái niệm cơ bản th́ làm sao hiểu được nhau? Như vậy chúng ta cần đồng ư với nhau trên ư nghĩa của một số từ ngữ trước khi muốn đồng ư với nhau về lập trường. Có thể sau khi đă đồng ư với nhau về từ ngữ, chúng ta sẽ khám phá ra rằng chúng ta không có ǵ khác biệt.
Tôi sắp liều lĩnh đề nghị một số định nghĩa cho một số từ ngữ cần thiết cho các cuộc thảo luận chính trị. Liều lĩnh, bởi v́ quốc gia, dân tộc, nhà nước, chủ quyền, v.v... là những ư niệm tuy thường gặp nhưng lại rất phức tạp. Đă có hàng trăm cuốn sách trong đó có nhưng cuốn dầy cả ngàn trang đề cập tới những khái niệm này mà vẫn chưa sáng tỏ. Những đề nghị sau đây chỉ có thể là sơ sài. Tôi cũng tự giới hạn trong cái nh́n của một người dân chủ, nhưng điều này có lẽ cũng không thực sự là một giới hạn nếu ta hiểu rằng cái nh́n dân chủ là cái nh́n chung của cả thế giới hiện nay. Độc giả sẽ lưu ư là tôi dùng nhiều qui chiếu bằng tiếng Pháp hơn là tiếng Anh. Lư do là các dân tộc Anh và Mỹ nặng đầu óc thực nghiệm, không mất th́ giờ để định nghĩa những ư niệm phức tạp về mặt lư thuyết. Họ cũng không có yêu cầu, bởi v́ gần như họ không có tranh luận chính trị thực sự. Họ đă chấp nhận ngay từ đầu chủ nghĩa cá nhân tự do, với cái hệ luận tất yếu của nó là dân chủ thị trường, và không bao giờ phải đặt lại những vấn đề triết lư chính trị và chủ nghĩa. Đó là những dân tộc may mắn, nhưng cũng v́ thế mà tư tưởng chính trị của họ không phong phú bằng Pháp, đất nước của các cuộc cách mạng và xung đột ư thức hệ.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Quốc gia

 

Trước hết là quốc gia, danh từ Việt nam để dịch chữ nation, cả trong tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Quốc gia là một khái niệm rất trừu tượng được phát minh ra trong cuộc cách mạng Pháp để bao gồm một lănh thổ, một chính quyền, một di sản văn hóa trong đó thông thường ngôn ngữ là chính, một lịch sử và một tập thể nhưng con người chấp nhận lịch sử đó và di sản văn hóa đó, chịu sự chi phối của chính quyền đó và cùng xây dựng với nhau một lương lai chung. Điều khó hiểu trong định nghĩa này là phần lớn các thành tố của quốc gia lại không chắc chắn. Quốc gia Hoa Kỳ chẳng hạn đă ra đời vào lúc hầu như chưa có lịch sử với nhiều di sản văn hóa khác nhau. Lănh thổ có thể bị chiếm đóng, chính quyền có thể bị lưu vong hoặc tạm thời tan ră, ngôn ngữ có thể không phải chỉ có một, v v. mà quốc gia vẫn có hoặc vẫn c̣n. Ngoại trừ dân tộc và ư định chia sẻ một tương lai chung h́nh như không có thành tố nào tuyệt đối phải có, mặc dầu nếu có cũng có thể làm rơ hơn sự hiện hữu của quốc gia. Một thành tố mạnh, thí dụ như di sản văn hóa, có thể bù lại cho sự yếu kém, hoặc ngay cả vắng mặt, của một hay nhiều thành tố khác
Người ta có thể định nghĩa một quốc gia b́nh thường nhưng lại gập bối rối lớn trong những trường hợp đặc biệt. Quốc gia trước hết là một khái niệm tinh thần và t́nh cảm, trong đó nguyện ước chia sẻ một tương lai chung có tầm quan trọng quyết định. Một quốc gia trong đó mọi người không theo đuổi một dự án tương lai chung, v́ có nội chiến hay v́ quốc gia bị đặt dưới quyền định đoạt tùy tiện của một số người trong khi đa số dân chúng không có tiếng nói trong những quyết định lớn, không c̣n là một quốc gia đúng nghĩa. Đồng nghĩa với quốc gia là nước, đất nước, non sông hay tổ quốc được dùng tùy trường hợp.
Nước được dùng khi ta muốn nhấn mạnh đến yếu tố địa lư. Về nước có nghĩa là về lănh thổ Việt nam. Nước cũng được dùng khi muốn đề cập đến quốc gia một cách giản dị. Tương đương với nước trong tiếng Pháp là pays, trong tiếng Anh là country. Đất nước được dùng để chỉ quốc gia một cách t́nh cảm. Non sông càng t́nh cảm hơn v́ bé nhỏ và gần gũi hơn, cũng như sơn hà, sông núi.
Tổ quốc cũng t́nh cảm như đất nước, non sông, nhưng nhấn mạnh hơn về lịch sử và di sản văn hóa. Chính v́ nó gợi lại lịch sử và tổ tiên, mà tổ quốc có tính thiêng liêng hơn, và do đó cũng xa cách hơn đất nước. Tổ quốc, do đó, chỉ nên dùng trong những trường hợp đặc biệt trang trọng. (Dùng tổ quốc để đạt tên cho một tổ chức chính trị, nhất là một tổ chức bù nh́n như Mặt Trận Tổ Quốc, là một sự thô bỉ).

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Nhà nước

 

Đi kèm với quốc gia là nhà nước, danh từ của tiếng Việt tương đương với từ état của tiếng Pháp hay state của tiếng Anh. Chắc không khỏi có những độc giả xua tay phản bác: Tầm bậy, quốc là nước, gia là nhà, quốc gia là nhà nước. Xin chớ nóng nảy, chúng ta đang nói tiếng Việt, và không phải tiếng Việt nào cũng phải rập khuôn theo chữ Hán. Máy bay trực thăng không đồng nghĩa với máy bay lên thẳng v́ có những máy bay lên thẳng không phải là trực thăng. Trực thăng là loại máy bay lên thẳng và có quạt trên nóc. Người Việt nam ta hiểu khá rơ thế nào là nhà nước. Đó là toàn bộ guồng máy chính quyền: lập pháp, tư pháp và hành pháp. Nói một cách giản dị đó là quốc hội, các ṭa án, chính phủ và các cơ quan thuộc quyền điều khiền của chính phủ.
Nếu định nghĩa vật chất của nhà nước khá giản dị th́ ư nghĩa và vai tṛ của nó lại rất phức tạp. Georges Burdeau, một trong những học giả nổi tiếng của nước Pháp về các định chế chính trị, từng nói rằng nhà nước là phát minh phức tạp nhất của loài người từ ngày khai thiên lập địa. Nhận định này không phải là quá đáng. Đặc tính nổi bật của nhà nước là nhà nước là thực thể duy nhất trong quốc gia có quyền áp đặt một cưỡng chế thân xác trên con người. Nhưng đây là một đặc tính chứ không phải là một định nghĩa. Nhà nước (état, State) đảm nhiệm vai tṛ đại diện toàn quyền và đuy nhất cho quốc gia. Thế giới chỉ biết đến quốc gia qua nhà nước. Đối với quốc tế, nhà nước là quốc gia. Chính v́ thế mà một số nước đă tự giới thiệu ḿnh là état hay state. Trước đây chúng ta đă có Quốc Gia Việt nam, được dịch ra là état du Vietnam, hay State of Việt nam. Hiện nay có état dIsrael hay State of Israel, sắp tới có état Palestinien hay Palestinian State, có thể dịch là Quốc Gia Do Thái, Quốc Gia Palestine, nhưng thực ra là Nhà Nước Do Thái, Nhà Nước Palestine. Lư do khiến các quốc gia này hay xưng ḿnh là état hay State thay v́ nation là v́ ư niệm nation vừa phức tạp vừa t́nh cảm mà lại thiếu sự xác nhận rơ rệt và mạnh mẽ là có một guồng máy chính quyền tự chủ.
Nếu sau hiệp ước Hạ Long năm 1948, ông Bảo Đại thay v́ dùng cụm từ Quốc Gia Việt nam đă dùng cụm từ Nhà Nước Việt nam để dịch cụm từ état du Vietnam mà ông đă thỏa thuận với nước Pháp th́ chúng ta đă tránh được sự lấn cấn này.
Một chức năng khác của nhà nước là có toàn quyền, theo luật định, trên khắp lănh thổ. Một quốc gia chỉ có thể có một nhà nước. Trong trường hợp của các nước theo thề chế liên bằng phải hiểu rằng quyền hành của các chính quyền tiểu bang là quyền được chính quyền liên bang chuyền nhượng. Nhà nước Hoa Kỳ là chính quyền liên bang. Trong trường hợp nước Mỹ, chúng ta lại gặp một sự lẫn lộn do lịch sử để lại là các bang cũng được gọi là state, nhưng đó không phải là những nhà nước cũng không phải là những quốc gia. Người Đức chỉ gọi các bang là các lander (vùng).
Một danh từ khác đáng lẽ đă có thể dùng để thay thế cho nhà nước là chính quyền. Trong tiếng Việt, thói quen cho đến nay là chính quyền thường được dùng để chỉ bộ máy hành pháp, đôi khi bao gồm cả các ṭa án. Thực ra chính quyền và nhà nước chỉ là một.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Nhà nước- quốc gia

 

Sự lẫn lộn giữa nhà nước và quốc gia, do cách chuyển ngữ état, hay state, thành quốc gia đă khiến nhiều tác giả bối rối trước cụm từ état-nation (hay nation-state). Bối rối là v́ état đă dịch là quốc gia nếu nation cũng là quốc gia th́ không lẽ cụm từ nation- state là quốc gia - quốc gia hay sao? Đề tháo gỡ bối rối này, các vị dịch nation là dân tộc, như vậy cụm từ nation-stale sẽ là quốc gia dân tộc. Thế là xong? Nhưng thực ra đây chỉ là tránh ngă xe đạp để rồi bị rớt máy bay v́ cụm từ quốc gia dân tộc hoàn toàn chẳng có một liên hệ nào với nation-state. Nếu nh́n vào nội dung và t́m cách diễn tả nội dung thay v́ chỉ t́m cách giải quyết vấn đề thuật ngữ chúng ta sẽ thoải mái hơn nhiều.
Nation- state (état-nation) có nghĩa ǵ? Đây là một cụm từ chỉ mới xuất hiện trong ngôn ngữ chính trị gần đây mà thôi, từ khi khuynh hướng toàn cầu hóa xuất hiện đ̣i xét lại quyền hạn của các nhà nước để đi đến một thế giới đồng điều hơn, với một luật pháp quốc tế và trong đó một số quyền hành của các nhà nước được chuyển giao cho các định chế cao hơn, hoặc quốc tế như Liên Hiệp Quốc, hoặc khu vực kiểu Liên Hiệp Châu Âu. Trong chiều sâu đây là một sự xét lại khái niệm quốc gia với nhận định rằng quốc gia không phải là đơn vị cao nhất đối với một con người, mà phải được đặt dưới một số định chế quốc tế. Khuynh hướng này gặp phản ứng của một số quốc gia muốn giữ tối đa bản thể và quyền tự quyết. Cụm từ nation-state, hay état-nation, trong đó state, hay état, là danh từ và nation đóng vai tṛ tính từ, xuất hiện để chỉ các nhà nước muốn giữ nguyên ư nghĩa quốc gia của ḿnh. Nói một cách khác, đó là những nhà nước độc lập, nhưng nhà nước giữ tối đa chủ quyền. Như vậy dịch cụm từ nation-state, hay Etat-nation, không có ǵ khó. Ta có thể dịch là nhà nước độc lập, nhà nước tự chủ, nhà nước toàn quyền, hoặc nhà nước - quốc gia, ba cụm từ này hoàn toàn đồng nghĩa. Nhưng dứt khoát không phải là quốc gia dân tộc. Nhưng nhà nước đầu tiên ra đời đă là những nhà nước-quốc gia. Nhưng từ nửa sau thế kỷ 19 trở đi đă bùng ra một cuộc tranh căi sôi nỗi về các ư niệm quốc gia và nhà nước. Karl Marx tỏ ra đặc biệt tích cực trong cuộc tranh luận này. Một trong những sai lầm cơ bản của chủ nghĩa cộng sản là đă không đánh giá đúng vai tṛ của các nhà nước-quốc gia. Sự tập trung quyền lực trên toàn thế giới không những là điều không thể thực hiện được mà c̣n là điều không nên thực hiện v́ nặng nề và trói buộc. Ngay cả những nước lớn cũng c̣n phải tản quyền thành nhưng địa phương tự quản với một chính quyền trung ương làm công tác điều hợp. Thế giới đại đồng trong lương lai sẽ là thế giới của sự phối hợp giữa những quốc gia chung sống và hợp tác với nhau, cùng chia sẻ với nhau một số giá trị phổ cập và cùng chấp nhận một số qui ước chung chứ không phải thế giới trong đó các quốc gia bị xóa bỏ. Sự ra đời của những nhà nước- quốc gia thay thế cho những nhà nước quân chủ đă là là một biến cố trọng đại thúc đẫy tiến bộ. Các nhà nước-quốc gia đầu tiên đă h́nh thành tại phương Tây và đă đem lại cho các dân tộc phương Tây một sức mạnh hơn hẳn.
ư niệm quốc gia, như một thực thể của chúng thay v́ của một người hay một nhóm người, đă động viên được sinh lực và sáng kiến của mọi người và đă khai sinh ra tổ chức nhà nước hiện đại. Khi đi chinh phục thế giới vào thế kỷ 18 và 19, sức mạnh chính của người phương Tây không phải là vũ khí và kỹ thuật hiện đại mà là tổ chức nhà nước hiện đại phục vụ cho một quốc gia được quan niệm như là không gian liên đới của một tập thể người có nhiều điểm chung và cùng xây dựng một tương lai chung. Quan niệm này khiến quốc gia vừa có ích vừa cần thiết, nó cũng đem lại cho nhà nước sự chính đáng và, do đó, sức mạnh.
Một chú thích. Cũng như tất cả mọi ư niệm mới, ư niệm quốc gia đă không tránh khỏi những tật bệnh trong quá tŕnh h́nh thành và trưởng thành; mà tật bệnh độc hại nhất là chủ nghĩa quốc gia (nationalisme), coi quốc gia như là cứu cánh duy nhất và không gian trách nhiệm duy nhất. Chủ nghĩa quốc gia đồng hóa sự thù ghét các dân tộc khác với sự quí mến dân tộc ḿnh. Nó lẫn lộn tinh thần bài ngoại với ḷng yêu nước, nó là một quan niệm hẹp hồi về dân tộc. Nhưng tật bệnh này ngày càng được nhận diện và điều trị, và một khi đă được điều trị xong, ư niệm quốc gia sẽ lấy lại được ư nghĩa thực sự của nó, sẽ đẹp hơn, mạnh hơn chứ không yếu đi.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Dân tộc

 

C̣n dân tộc? Cho đến nay mọi người Việt nam có kiến thức Tây học đều đă đồng ư dân tộc tương đương với từ peuple của tiếng Pháp và people của tiếng Anh. Dân luôn luôn phải là người và chỉ có thể là người. Chưa thấy ai đặt lại cách dịch này. Vấn đề là một số học giả cũng dùng tiếng dân tộc để dịch chữ nation. Cách dịch này chắc chắn là sai v́ trong tiếng Pháp nation và peuple là hai ư niệm rất khác nhau về mặt lư thuyết (trong tiếng Anh, sự khác biệt giữa people và nation không rơ rệt bằng). Chúng ta đều hiểu dân tộc là tiếng dùng để chỉ toàn bộ những con người của một quốc gia, nghĩa là những người chấp nhận đảm nhiệm cùng nhau một di sản và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Mặc dầu sự hiện diện của chữ tộc, dân tộc không mang một nội dung huyết thống chủng tộc nào. Trong những yếu tố cấu tạo của quốc gia (lănh thổ, nhà nước, lịch sử, di sản văn hóa, dân tộc và dự án tương lai chung) chắc chắn dân tộc là yếu tố hữu h́nh quan trọng nhất (cũng như dự án tương lai là yếu tố vô h́nh quan trọng nhất), nhưng không phải là tất cả. Đồng hóa dân tộc với quốc gia có thể là gần đúng về mặt sinh hoạt thường ngày nhưng rất sai về mặt lư thuyết như ta sẽ trở lại trong phần sau, khi đề cập đến chủ quyền.
Cần lưu ư là dân tộc, cũng như peuple, không phải chỉ là những công dân hiện có, mà c̣n có ư nghĩa vượt thời gian, ngược về quá khứ và nối dài về tương lai, để chỉ chung những con người đă, đang và sẽ thuộc về quốc gia. Khi ta nói đến cuộc Nam tiến của dân tộc Việt nam th́ dân tộc là để chỉ chung một khối người từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 18.
Một danh từ tương đương với dân tộc là nhân dân. Cho đến nay nhân dân vẫn được dùng để chỉ dân tộc trong trường hợp ta muốn nhấn mạnh tới những người đang sống. Đôi khi nhân dân cũng được dùng kèm với một địa danh để chỉ tập thể những người dân trong một vùng. Chẳng hạn như nhân dân Thái B́nh. Đây có thể coi là một sự phong phú của tiếng Việt, nhưng về nội dung dân tộc và nhân dân không khác nhau.
Dân và dân chúng dùng để chỉ mọi người hay toàn bộ những con người sống dưới sự quản lư của một nhà nước. Quần chúng chỉ có nghĩa giản dị là khối đông người, thường được dùng để đối lại với một thiểu số chọn lọc.
Cần lưu ư một sự cẩu thả của chế độ cộng sản Việt nam là họ dùng cả danh từ dân tộc để chỉ các sắc tộc, như dân tộc Kinh dân tộc Tày, dân tộc Dao , v.v... để rồi đi đến nhận xét lúng túng dân tộc Việt nam gồm nhiều dân tộc , trong khi trong nhiều trường hợp họ lại quả quyết dân tộc Việt nam là một. Sự cẩu thả c̣n để ra một quái thai về ngôn ngữ: người dân tộc, được dùng để chỉ những người thuộc một trong những sắc tộc ít người.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Chủ quyền

 

C̣n chủ quyền (souveraineté)? Như đă nói, khái niệm quốc gia (nation), dù đă hiện hữu bàng bạc từ lâu do sự sống chung của những con người trên cùng một lănh thổ và chia sẻ cùng một số phận, chỉ được chính thức phát minh ra trong cách mạng Pháp 1789 v́ nhu cầu trả lời câu hỏi chủ quyền, tức quyền cao nhất và bao trùm, thuộc về ai một khi chế độ quân chủ đă bị lật đổ? Trước đó Jean-Jacques Rousseau, thủy tổ đích thực của chủ nghĩa cộng sản, chủ trương rằng chủ quyền thuộc về dân tộc, hay nhân dân. Mới thoạt nghe, lập trường này có vẻ hợp lư nhưng đem ra thực hiện người ta nhận ra là nó đưa đến những hậu quả nguy hiểm.
Nếu nhân dân làm chủ th́ hệ luận tất nhiên là phải làm thế nào để nhân dân trực tiếp cầm quyền. Nếu khối nhân dân quá đông th́ nhân dân sẽ chỉ định ra, bằng cách này hay cách khác, những đại biểu thay mặt cho ḿnh, nhưng theo triết lư nhân dân làm chủ mỗi đại biểu này phải hoàn toàn làm việc theo mệnh lệnh của người dân trong đơn vị đă chỉ định ḿnh và có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào. Nhiều nhà tư tưởng trong cách mạng Pháp đă nh́n thấy mối nguy của triết lư chính trị này. Trước hết là quần chúng không đủ tŕnh độ để quyết định những vấn đề khó khăn và phức tạp, kế đó là cơ quan quyền lực sẽ xung đột và lê liệt v́ những đ̣i hỏi ích kỷ của địa phương, sau cùng và nguy hiểm nhất là nếu có một đảng mị dân hay khủng bố, hay vừa mị dân vừa khủng bố, nào đó khống chế được quần chúng th́ họ sẽ nhân danh nhân dân nắm tất cả quyền hành, biến các đại biểu thành những con tin, và đưa đến độc tài toàn trị; người dân sẽ mất tất cả mọi quyền, có thể kể cả quyền sống. Từ đó nẩy ra một cuộc tranh căi, và tranh đấu, sôi nổi giữa một phe quá khích chủ trương chủ quyền dân tộc (souveraineté populaire) và một phe ôn ḥa chủ trương chủ quyền quốc gia (souveraineté nationale). Hậu duệ của phe chủ trương chủ quyền nhân dân không ai khác hơn là các đảng cộng sản và phát-xít, trong khi hậu duệ của phe chủ trương chủ quyền quốc gia là các chế độ dân chủ. Theo quan điểm của trường phái dân chủ th́ nhân dân không làm chủ, chủ quyền thuộc về một cái ǵ đó cao hơn cả nhân dân, bao gồm cả lănh thổ, lịch sử, di sản văn hóa, chính quyền, dân tộc và dự án tương lai chung. Điều này có nghĩa là ngay cả nếu tất cả mọi người đồng ư, họ vẫn không có toàn quyền trên đất nước. Khối toàn dân này vẫn phải tôn trọng một số nguyên tắc. Các cử tri ở mỗi đơn vị không bầu ra đại biểu của đơn vị ḿnh, mà chỉ được trao trách nhiệm chọn lựa một trong những đại biểu cho quốc gia. Một khi đă được bầu, người đại biểu là của quốc gia, không nhận mệnh lệnh của cử tri trong đơn vị mà được hoàn toàn hành động theo sự suy nghĩ của ḿnh, các cử tri trong đơn vị không có quyền băi nhiệm đại biểu trong suốt nhiệm kỳ. Những nhà tư tưởng dân chủ cho rằng phương thức này, một mặt, bảo đảm cho công việc chung được quản lư một cách thông minh và, mặt khác, tránh được nguy cơ chủ quyền bị một đảng chiếm đoạt. Trên thực tế, người đại biểu muốn được đơn vị ḿnh tiếp tục tín nhiệm cũng phải lắng nghe và thỏa măn nguyện vọng của các cử tri, người dân vẫn làm chủ, nhưng một cách tương đổi và gián tiếp. Triết lư chủ quyền quốc gia c̣n một hệ luận khác, tuy lư thuyết nhưng rất quan trọng, là nhà nước (chính phủ và quốc hội) tuy xuất phát từ một đa số vẫn không thể tự coi là có thể hoàn toàn định đoạt một cách tùy tiện. Do đó các thiểu số vẫn phải được tôn trọng.
Ngược lại, đối với phe cộng sản, quốc gia chỉ là một phát minh của giai cấp tư sản nhằm chiếm đoạt quyền làm chủ của quần chúng vô sân cho liên minh tư sản-trí thức.
Một lần nữa, cần nhác lại quốc gia là một ư niệm trừu tượng được phe dân chủ phát minh để giải quyết bài toán dân chủ. Đến đây, xin lưu ư bốn điều:
Một là khái niệm quốc gia đă nảy sinh cùng với khái niệm dân chủ, hồi sau một chút th́ đúng hơn. Trong một bài báo tôi đă viết như vậy và đă bị nhiều phản bác, nhưng quả thực là như thế. Các vương quốc trước đây, kể cả Việt nam, không phải là những quốc gia thực sự, lănh thổ không rơ rệt, người dân không chia sẻ một dự án tương lai chung nào cả mà chỉ chịu đựng ách thống trị được áp đặt bằng bạo lực. Các vương quốc đó có thể là bước đầu để xây dựng một quốc gia chứ chưa phải là những quốc gia.
Hai là cần lưu ư sự hụt hẫng của thói quen chiết tự. Cho đến nay chúng ta vẫn hiểu dân chủ một cách giản dị là dân làm chủ. Cũng đúng thôi, nhưng không đúng hẳn. Về lư thuyết, các chế độ dân chủ đă ra đời do sự phủ nhận chủ quyền dân tộc để thay thế bằng chủ quyền quốc gia, nói một cách khác, theo triết lư dân chủ th́ dân không làm chủ, quốc gia mới là chủ; dân là thành phần chủ yếu của quốc gia, thay mặt quốc gia để chọn lựa phương thức tổ chức xă hội và chỉ định những người cầm quyền, nhưng không phải là quốc gia. Quốc gia là một sáng tạo của trí tuệ cao hơn dân tộc. Quốc gia là một khái niệm tinh thần và t́nh cảm.
Ba là cuộc tranh luận giữa hai trường phái chủ quyền dân tộc (cộng sản và phát-xít) và chủ quyền quốc gia (dân chủ) hiện nay tuy đă ngă ngũ trên thế giới (với sự toàn thắng của phe dân chủ) mà vẫn c̣n dai dẳng ở Việt nam. Chúng ta có thể lưu ư sự phủ nhận khái niệm quốc gia của mọi chế độ cộng sản, kể cả chế độ cộng sản Việt nam. Họ chỉ sử dụng từ ngữ dân tộc, hay nhân dân, hay quốc dân, trong ngôn ngữ chính trị: Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, kinh tế quốc dân, quân đội nhân dân, công an nhân dân, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân. Từ quốc gia mới chỉ được dùng gần đây và chỉ có nghĩa địa lư, tương đương với toàn lănh thổ, như giải bóng đá quốc gia. Những người dân chủ cần lưu ư điểm này trong cuộc vận động tư tưởng hiện nay. Lấn cấn từ ngữ có thể đưa đến bối rối trong lư luận. Đảng cộng sản đă thống trị trong một nửa thế kỷ tại miền Bắc và một phần tư thế kỷ trên cả nước, di sản ngôn ngữ của họ chắc chắn là đáng kẻ, điều quan trọng là phải biết ḿnh đang nói về cái ǵ.
Bốn là chế độ cộng sản Việt nam c̣n đóng góp thêm cho sự hỗn loạn ngôn ngữ bằng khẩu hiệu dân làm chủ, đảng lănh đạo, nhà nước quản lư. Thực ra, trong các chế độ cộng sản, nhà nước thực sự chính là bộ máy đảng. Nhà nước này đứng trên quốc gia và đứng ngoài pháp luật mà nó ban hành, trong khi nhà nước chính thức chỉ là công cụ của bộ máy đảng. Tách rời đảng và nhà nước là thay đổi hẳn bản chất của chế độ. Chính v́ thế mà chủ trương tách rời đảng và nhà nước có lúc được nêu ra đă mau chóng bị bóp nghẹt.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Quốc gia, nhà nước và dân chủ

 

Như định nghĩa trên đây th́ quốc gia là trên hết. Nhà nước tuy là đại diện toàn quyền nhưng cũng chỉ là công cụ của quốc gia với sứ mệnh phục vụ quốc gia. Như vậy dứt khoát nhà nước phải ở trong và ở dưới quốc gia. Nhưng đây chỉ là lư luận trọng tinh thần dân chủ. Trên thực té tùy ở bản chất của nhà nước mà nó cao hơn hay thấp hơn quốc gia.
Trong các chế độ quân chủ chuyên chính trước đây, chỉ có chính quyền của vua và những thần dân sống trên đất của vua chứ không có quốc gia đúng nghĩa. Nhà nước là tất cả và tất cả nhà nước qui vào vua.
Trong các chế độ độc tài, nhà nước định đoạt một cách tùy tiện. Nhà nước ban hành luật lệ nhưng lại không bị ràng buộc bởi chính các luật lệ đó. Vai tṛ của người dân hoặc bị phủ nhận (như trong các chế độ độc tài quân phiệt), hoặc bị thoán đoạt (như trong các chế độ cộng sản). Không làm ǵ có sự chia sẻ tự nguyện một tương lai chung, chỉ có một ước vọng chung là tự do và dân chủ, nhưng đó là một dự án tương lai chung bị cấm đoán. Nhà nước khống chế và ở trên quốc gia. Quốc gia, nếu có, cũng chỉ ở t́nh trạng thoi thóp.
Điều cần lưu ư là ngay trong các chế độ được coi là dân chủ chân chính như nước Pháp, tương quan giữa nhà nước và quốc gia cũng chưa rơ rệt. Các nhà tư tưởng chính trị Pháp vẫn c̣n đang đồng ư trên một điểm quan trọng, và trầm trọng, là vấn đề của nước Pháp vẫn c̣n là giảm nhẹ nhà nước xuống cho ngang hàng với quốc gia (réduction de l état à la Nation). Nhà nước Pháp vẫn chưa thực sự dân chủ, bởi v́ nó vẫn c̣n quá nặng, quá lớn, quá tập trung và bởi v́ quyền hành của tổng thống Pháp vẫn c̣n quá áp đảo. Chế độ tổng thống cộng với nhà nước tập trung đưa đến một chế độ có thể gọi là quân chủ cộng ḥa, trong đó nhà nước ở trên quốc gia và áp đảo quốc gia. Kết luận này của các nhà tư tưởng Pháp thực đáng suy ngẫm.
Dân chủ thực sự chỉ đến khi nhà nước ở trong và ở dưới quốc gia với sứ mạng phục vụ quốc gia, có vai tṛ tạo điều kiện lư tưởng nhất để mọi người chia sẻ, hưởng ứng và cùng nhau xây dựng một tương lai chung. Nó phải nhẹ, phải tản quyền, phải kính trọng mọi người và liên tục mưu t́m đồng thuận của mọi người. Nói một cách khác, nó phải đa nguyên. Dân chủ thực sự là dân chủ đa nguyên. Đó là chế độ tương lai của loài người tiến bộ.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Đất nước ta

 

Tất cả phần trên chỉ là một sự ghi chép với đôi chút chủ quan, chẳng hạn như sự nhấn mạnh trên tầm quan trọng của một dự án tương lai chung trong định nghĩa quốc gia. Mong các vị học giả châm chước cho về một sự tóm lược quá đáng trên những khái niệm tư chúng vốn đă rất tế nhị mà lại c̣n bị ngôn ngữ chính trị thông thường làm mờ tối thêm. Sau lời cáo lỗi thành thực đó, tôi cũng xin được có một ư kiến cá nhân về đất nước ḿnh.
Sự phát minh ra khái niệm quốc gia (và nhà nước hiện đại dựa trên đồng thuận dân tộc mà nó đi kèm) đă là phát minh trọng đại nhất từ xưa đến nay của loài người. Nó đă được quan niệm như là một không gian liên đới của một cố gắng chung. Nó đă tạo ra sức mạnh của các nước phương Tây. Nhưng ngày nay các quốc gia tiên tiến đă đạt đến một mức độ phát triển ở đó sự cần thiết của quốc gia không c̣n là tuyệt đối nữa. Họ đang xét lại ư niệm quốc gia trong ư định đi một bước tiến xa hơn nửa.
Những khái niệm quốc gia đă rất cần thiết và có ích cho một giai đoạn phát triển. Thảm kịch của chúng ta là chúng ta c̣n đang ở một giai đoạn phát triển rất cần quốc gia, nhưng chúng ta chưa h́nh thành nổi một quốc gia vào lúc ư niệm này đă sắp sửa bị vượt qua. Như vậy chúng ta vừa phải xây dựng một quốc gia vừa phải đúng hẹn với trào lưu tiến bộ của thế giới.
Công việc đă khó lại càng khó hơn v́ phải nói người Việt chúng ta có rất ít suy tư về quốc gia và dân tộc. Chúng ta có lẽ là dân tộc duy nhất trên thế giới này gọi quốc gia là nước. Đối với chúng ta, quốc gia ván chỉ giản dị là nước, là đất nước, là sông núi, quanh quẩn vẫn là đất và nước, những yếu tố hoàn toàn vật chất và địa lư. Điều này tố giác rơ rệt sự thiếu vắng của một tư tưởng chính trị và một suy tư về quốc gia. Do đó tinh thần dân tộc và ḷng yêu nước của chúng ta dĩ nhiên là rất yếu. Chính v́ ḷng yêu nước của chúng ta quá yếu mà chúng ta vần chưa h́nh thành được một lực lượng dân tộc dân chủ có tầm vóc để chấp nhận thách đố của một đảng cầm quyền đă đưa đất nước từ đỗ vỡ này đến thảm kịch khác. Đừng chạy trốn sự thực, có hiểu được bệnh của ḿnh mới có hy vọng lành bệnh.
Người Việt nam chúng ta rất cần một quốc gia, như là một không gian liên đới của một cố gắng chung, để nhờ đó cùng nhau vươn lên tới một cuộc sống phồn vinh và đáng tự hào. Và trong thế kỷ 21, với nhân quyền và dân chủ được coi như những giá trị cơ bản và phổ cập, sẽ chỉ tồn tại được những quốc gia không những được định nghĩa như một không gian liên đới, một t́nh cảm và một lương lai chung, mà c̣n phải thành công trong việc đem lại phúc lợi và niềm tự hào cho người dân. Nói một cách khác, những quốc gia thực sự dân chủ, đa nguyên và được quản lư một cách thông minh. Các quốc gia khác sẽ tan vỡ.
Hiện nay chúng ta chỉ có một chế đô độc tài, quản lư đất nước một cách tồi dở, với một dự án tương lai mà nhà nước áp đặt nhưng bị toàn dân khước từ là xây dựng chủ nghĩa xă hội. Sự tồn vong của đất nước ta đang bị đe dọa nặng nề, không phải v́ một ngoại bang nào ḍm ngó xâm chiếm mà v́ bị tụt hậu nhục nhă giữa trào lưu tiến bộ mănh liệt của thế giới và v́, hơn thế nữa, dưới mắt người dân, quốc gia là một gánh nặng chứ không phải một chỗ dựa.
Chúng ta phải có dân chủ và phải có dân chủ thật mau chóng; đấu tranh cho dân chủ là tên gọi mới của cuộc đấu tranh giữ nước. Chúng ta phải tiến và phải tiến nhanh, nghĩa là phải vượt lên trên mọi hận thù, chia rẽ và ngờ vực để động viên được mọi khối óc, mọi trái tim và mọi bàn tay Việt nam trong một cố gắng chung; ḥa giải và ḥa hợp dân tộc là tiếng kêu cứu khẩn cấp của tổ quốc lâm nguy.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Vài vấn đề về dân chủ

 

Trong những trang trước, khi bàn về phát triển cũng như về những khái niệm quốc gia, dân tộc, chúng ta đă đề cập tới dân chủ. Dân tộc ta đă là nạn nhân của sự thiếu vắng dân chủ nhưng lại chưa thực sự ư thức được sự cần thiết của nó. Điều đáng ngạc nhiên là ít ai ngạc nhiên về sự nghịch lư này, kể cả đa số trí thức. Cần nhấn mạnh trạng từ thực sự v́ quả nhiên đại đa số người Việt, nếu không muốn nói là tất cả, muốn có dân chủ, nhưng đó chỉ là một ư muốn bàng bạc thôi. Nếu đem dân chủ cho không th́ chúng ta vui vẻ chấp nhận, nhưng nếu phải trả một giá nào đó th́ rất ít người sẵn sàng, dù cái giá đó vào thời điểm này chỉ rất vừa phải. Chúng ta chưa có dân chủ v́ chúng ta chưa thực sự tin tưởng vào sự cần thiết của nó. Chúng ta chưa thấy nó quan trọng cho đời sống của chính chúng ta. Nếu chúng ta thực sự muôn dân chủ chúng ta sẽ có dân chủ. Khi ngồi viết những ḍng này, vào cuối năm 2000, tôi phải nh́n nhận một điều: chế độ cộng sản hiện nay dưới con mắt của một quan sát viên quốc tế khách quan không phải là một chế độ hung bạo. Độc tài, ngoan cố, ĺ lợm, gian trá th́ đúng, nhưng đàn áp đối lập dân chủ một cách hung bạo th́ không. Từ tháng Giêng 1996 đến nay, họ đă chỉ bắt giam một trí thức đối lập, Nguyễn Thanh Giang trong vňng hai tháng, quản chế vŕ sách nhiễu bốn người, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự và Mai Thái Lĩnh, và cắt điện thoại của khoảng hai mươi người. Theo tiêu chuẩn quốc tế đó không phải là một chính sách đàn áp dă man. Sự dă man đă có trước đây: chỉ v́ phát biểu lập trường của ḿnh mà Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Đ́nh Huy, Lê Công Minh, Đinh Thế Vinh, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thái và hàng trăm người khác đă bị xử những bản án rất nặng nề, chung thân, hai mươi năm tù, v.v... Nhiều người dân chủ khác như Phạm Quang Cảnh, Trần Thanh Đ́nh, v.v... đă bị xử tử Nhưng ngày nay sự hung bạo đă giảm rất nhiều. Chế độ cộng sản đă nhượng bộ trước dư luận thế giới hay họ đă chỉ nhận ra là phong trào dân chủ không nguy hiểm? Đó c̣n là một câu hỏi, nhưng thực tế là hiện nay phong trào dân chủ yếu v́ nó thực sự yếu chứ không phải v́ bị đàn áp thẳng tay, và nó yếu v́ ư thức dân chủ của chúng ta không mạnh.
ư thức về dân chủ của người Việt nam yếu kém là một điều không thể chói căi. Tôi rủ một trí thức rất có tŕnh độ và thiện chí tham gia vận động dân chủ và được trả lời là anh không thích chính trị, anh chỉ dồn hết cố gắng để tranh đấu cho nhân quyền. Trong cách suy nghĩ của anh, tranh đấu cho nhân quyền là điều trong sạch, gần như một công tác từ thiện, trong khi đấu tranh cho dân chủ là làm chính trị với tất cả những phức tạp và xấu xa như thủ đoạn, ḷng tham, v.v... Một trí thức từ trong nước ra nói với tôi rằng người trong nước (ư anh ta muốn nói trí thức trong nước) chỉ quan tâm tới những vấn đề cụ thể như công ăn việc làm thôi, c̣n dân chủ th́ ít ai nghĩ tới v́ không thực tiễn.
Vậy vấn đề dầu tiên cần được đặt ra là dân chủ là ǵ? Tôi xin đưa một định nghĩa ngắn gọn, hiểu được cho mọi người và cũng được mọi người chấp nhận, dù các học giả uyên thâm có thể nghi là chưa đầy đủ: dân chủ là một cách tổ chức xă hội, nói khác đi một chế độ chính trị, trong đó các quyền tự do ngôn luận và báo chí, tự do thành lập và gia nhập các tổ chức, tự do bầu cử và ứng cử được tôn trọng.
Tất cả tự do này, và nhiều quyền tự do khác nữa, được qui định rô ràng trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân Quyền năm 1948 (và được Liên Hiệp Quốc đưa vào hiến chương). Như vậy bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân Quyền cũng là bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Dân Chủ. Phân biệt nhân quyền và dân chủ là sai. Nhân quyền và dân chủ chỉ là hai cách nh́n của cùng một vấn đề. Nhân quyền là dân chủ dưới gốc nh́n cá nhân, dân chủ là nhân quyền dưới gốc nh́n quốc gia.
Đă là một cách tổ chức th́ về phương diện triết lư dân chủ chỉ là một phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Cứu cánh là làm thế nào để con người ngày một tự do hơn và sung túc hơn. Nói một cách huỵch toẹt th́ cứu cánh là vừa có tự do vừa có tiền. Nếu có một phương thức nào khác cho phép đạt tới một mức độ tự do lớn hơn và một mức sống sung măn lớn hơn th́ ta không bắt buộc phải chọn dân chủ. Nhưng dân chủ là kết quả của kinh nghiệm nhiều ngàn năm ḍ dẫm của loài người. Churchill đă nói một câu châm biếm bất hủ rằng dân chủ là chế độ chính trị dở nhất, trừ khi ta so sánh nó với mọi chế độ chính trị đă được biết tới. Cho tới nay dân chủ đă là chế độ chính trị duy nhất đem lại tự do và hạnh phúc, vậy th́ cũng là một chọn lựa bắt buộc giữa nhưng chế độ chính trị đă được thử nghiệm. Một điều bắt buộc phải có mà ta chưa có cũng phải được coi như một mục đích giai đoạn trước khi nh́n xa hơn. ở thời điểm này chúng ta có quyền tiếp tục suy nghĩ về những phương thức khác hay hơn dân chủ để làm cho thế giới giàu đẹp và tự do hơn nhưng chúng ta không thể chấp nhận thái độ từ khước dân chủ, nhất là để ngoan cố duy tŕ một chế độ đă được thử nghiệm và đă thất bại.
Nhận định dân chủ chỉ là một phương tiện, hay một mục tiêu giai đoạn, là cần thiết cho chính cố gắng xây dựng dân chủ. Nếu ta coi tự do (và cái hệ quả đă được chứng minh của nó là phồn vinh) mới là cứu cánh th́ chính quyền trước hết phải là một chính quyền tối thiểu đă. Chính quyền dân chủ, nghĩa là chính quyền tốt, cũng không bằng không có chính quyền nếu không thực sự cần thiết. Một chính quyền dù xuất phát từ những cuộc bầu cử tự do và lương thiện nhưng nếu can thiệp vào tất cả mọi địa hạt, qui định quá nhiều và đảm nhiệm quá nhiều sinh hoạt cũng là một chính quyền kềnh càng gây trở ngại cho người dân. ư thức rơ ràng rằng tự do mới là cứu cánh chúng ta sẽ hiểu rằng chính quyền tốt nhất là chính quyền nhẹ nhất và nguyên tắc tiên quyết của một nhà nước là những ǵ người dân có thể làm được nhà nước sẽ không làm.
Cũng cần ư thức rằng nền tảng của tự do là sự hiểu biết, quyền tự do cần bản nhất là quyền được thông tin đầy đủ. Tự do thực sự là tự do trong sự hiểu biết chứ không phải tự do trong sự u mê. Trong thánh kinh Thiên Chúa Giáo, thượng đế đă tạo ra Adam và Eva, hai người nhởn nhơ trong vườn địa đàng trong sự ngu dốt, họ chỉ thành những con người tự do sau khi Eva rủ chồng ăn trái cây hiểu biết. Thượng đế đă chỉ tạo ra hai động vật, Eva đă tạo ra loài người. Chúng ta đă nói, nhưng cần nhắc lại v́ tầm quan trọng của nó, đặc tính đầu tiên của dân chủ là cho tới nay nó đă là thể chế duy nhất đem lại tự do và sung túc. Sự thực hiển nhiên này thực ra mới chỉ hoàn toàn sáng tỏ trước mắt mọi người từ hơn một thập niên nay sau khi phong trào cộng sản thế giới sụp đổ. Trước đó những thành quả ngoạn mục của các chế độ phát-xít Nhật, Đức, ư, rồi các chế độ cộng sản, nhất là Liên Xô, có lúc đă làm một só khá đông người tin rằng một chế dộ độc tài thông minh có thể đem lại một nhịp độ phát triển nhanh hơn. Thực ra những thành tích ngoạn mục của các chế độ độc tài, phát-xít và cộng sản, ngay cả khi có thực, cũng chỉ là những bịp bợm nếu được đồng hóa với phát triển kinh tế. Về bản chất đó là sự gia tăng của đầu ra (output) hậu quả của sự gia tăng của đầu vào (input). Cố gắng lớn hơn đă đưa tới kết quả lớn hơn chư không phải bộ máy đă hiệu lực hơn. Trong hầu như mọi trường hợp, cố gắng quá lớn về nhân lực và tài nguyên c̣n đưa tới sự kiệt quệ sau đó. Tần Thủy Hoàng đă xây được Vạn lư Trường Thành, các vua Ai Cập đă xây được những kim tự tháp chỉ nhờ áp đặt những hy sinh tàn bạo; chế độ Liên xô sau này đă bắn được nhiều vệ tinh vào không gian và chế ra hàng ngàn đầu đạn nguyên tử nhờ những đầu tư quá sức chịu đựng của Liên Xô. Tất cả những thành quả ấy đă được xây dựng trên máu và nước mắt và đă làm kiệt quệ tiềm năng quốc gia. Các chế độ bạo ngược chà đạp lên tự do đă đành nhưng cũng không đem lại phát triển. Phát triển là gia tăng đầu ra ở một tỷ lệ lớn hơn so với gia tăng của đầu vào, nghĩa là không những gia tăng đầu tư mà c̣n gia tăng năng suất nhờ một cách làm việc hay hơn.
Đặc tính quan trọng thứ hai của dân chủ là hầu như mọi suy tư lớn về dân chủ đă xuất hiện như một sự phản bác đối với chế độ đương hành. Platon, nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên, thực ra đă lư luận về dân chủ để phản bác chế độ dân chủ sơ khai được h́nh thành một cách ngẫu nhiên tại Hy Lạp. Ông định nghĩa dân chủ như sau: Dân chủ đến sau khi những người nghèo lật đổ những người giàu, tàn sát một số, lưu đầy một số và giữ lại một số khác. Đó là chính quyền của người nghèo. Với một nhận định khinh bỉ như vậy dĩ nhiên Platon đề nghị một chế độ khác mà ông cho là lư tưởng hơn, đó là chế độ cộng ḥa đặt dưới sự lănh đạo của những hiền triết. Tuy phản bác dân chủ như nó xuất hiện vào thời điểm của ông, nhưng thực ra Platon đă đóng góp nhiều ư kiến quí báu cho dân chủ sau này. Các nhà tư tưởng dân chủ tại La Mă và tại châu Âu sau này cũng đă lên tiếng để phản bác các chế độ đương thời của họ. Những người đấu tranh cho dân chủ ở mọi nước hiện nay cũng không khác. Như vậy một nét đặc thù cần được ghi nhận của dân chủ là nó có sự năng động riêng của nó. Do bản chất phản bác của nó, dân chủ luôn luôn nhận ra và sửa đồi những sai lầm của chính nó. Nhờ khả năng tự phê phán và điều chỉnh đó, một mặt ta không lo các xă hội dân chủ sẽ thỏa măn và dừng lại ở một lúc nào đó, nghĩa là sẽ không có sự chấm dứt của lịch sử như Francis Fukuyama tiên đoán, và mặt khác cũng không cần lo sợ sẽ có dân chủ quá độ.
Đặc tính quan trọng thứ ba của dân chủ là những cuộc tranh luận về dân chủ tự chúng đă rất có lợi cho xă hội. Thảo luận về dân chủ là thảo luận về công việc quốc gia, nhờ đó, một mặt, người dân hiểu được việc nước và cảm thấy gắn bó với đất nước, mặt khác, họ cũng qua đó mà hấp thụ được nhiều kiến thức mà họ khó có thể có một cách khác. Tôi xin dẫn chứng một kinh nghiệm mà cá nhân ḿnh đă sống. Nhóm Thông Luận chúng tôi mặc dầu đại bộ phận là thành phần được gọi (hay bị gọi) là trí thức khoa bảng nhưng phần lớn là kỹ sư. Chúng tôi chỉ có rất ít chuyên viên về luật. Về luật hiến pháp chúng tôi lại càng thiếu. Năm 1995, để chuẩn bị cho việc tu chỉnh Dân Chính Trị dân Chủ Đa Nguyên 1996, chúng tôi quyết định thảo luận và biểu quyết một cách dân chủ việc đề nghị một định chế chính trị cho Việt nam trước các đại hội thành viên. Nhiều người cho đây là một quyết định liều lĩnh và phiêu lưu v́ anh em phần đông có rất ít kiến thức về các định chế chính trị và có thể biểu quyết không đúng. Chúng tôi đă có rất nhiều cuộc thảo luận sôi nổi và chính nhờ những cuộc thảo luận này mà kiến thức chính trị trung b́nh của tổ chức cao hẳn lên. Phải hơn một năm sau chúng tôi mới đi đến đồng thuận nhưng sau đó tôi nhận xét là sự hiểu biết của nhiều bạn tôi về các định chế chính trị c̣n hơn cả một số vị mà trước đó chúng tôi coi là chuyên viên về hiến pháp. Tôi khám phá một cách thích thú một điều không ngờ là phúc lợi của dân chủ càng lớn khi quần chúng thiếu hiểu biết về chính trị. Chính khía cạnh mà nhiều người coi là tiêu cực của dân chủ, nghĩa là những cuộc thảo luận triền miền do sự thiếu hiểu biết, lại là khía cạnh tích cực nhất, bởi v́ sau đó là một bước nhảy vọt của sự hiểu biết, và sự hiểu biết là nền tảng của tiến bộ.
Đặc tính thứ tư của dân chủ, đă được đề cập tới trong một chương trước nhưng vẫn cần nhắc lại, là nó là điều kiện không có không được để có thể nói tới quốc gia hay ḷng yêu nước mọt cách đúng đắn. Khi đất nước đă bị chiếm đoạt làm của riêng dưới quyền định đoạt tùy tiện của một người hay một nhóm người th́ dân chúng không c̣n lư do ǵ để phải lo âu cho đất nước cả. Lư do thật giản dị: đất nước đă là của riêng anh th́ anh cứ lo liệu lấy một ḿnh, tôi đă không có quyền th́ cũng chẳng có bổn phận. Chưa kể là nếu anh chà đạp tôi th́ tôi c̣n phá cho bơ ghét, không phá công khai được th́ tôi cũng phá ngầm.
Các chế độ độc tài như vậy hủy diệt ư thức quốc gia và ḷng yêu nước. Di sản độc hại nhất của các chế độ cộng sản chính là sự phá hoại này. Một thí dụ: ai cũng biết nước Nga ngày nay đang bị khủng hoảng tài chính rất nặng và hầu như không có lối thoát. Tuy nhiên rất ít người biết rằng đó là một cuộc khủng hoảng tài chính rất kỳ cục: nước Nga thiếu tiền trong khi vẫn xuất siêu (xuất cảng nhiều hơn nhập cảng) một cách liên tục và ở một mức độ rất cao. Trên nguyên tắc t́nh trạng đó phải đưa tới một sự dồi dào ngoại tệ, nhưng ngược lại ngân quỹ nhà nước Nga lại thiếu ngoại tệ một cách cực kỳ bi đát, ngân sách trống rỗng đến nỗi không trả được cả lương công chức. Đó là v́ người Nga hoàn toàn không c̣n tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia, họ coi trốn thuế và gian lận thuế như một môn thể thao lành mạnh. Những người có tiền th́ cất giấu trong nhà hoặc tại các ngân hàng ngoại quốc. Nước Nga rộng lớn mênh mông như vậy nhưng cũng là một trong những nước mà môi trường bị hủy hoại trầm trọng nhất bởi v́ người Nga thiếu tinh thần quốc gia và do đó hành xử một cách vô trách nhiệm.
Các chế dộ độc tài c̣n tạo ra một mối nguy khác là để chúng thường khơi dậy tinh thần dân tộc hẹp ḥi, nghĩa là sự thù ghét người khác để thay thế cho ḷng yêu nước, nghĩa là sự yêu mến và gắn bó với dân tộc và đất nước ḿnh. Tinh thần dân tộc hẹp ḥi này ngăn cản những hợp tác lành mạnh giữa các quốc gia và là mối đe dọa cho ḥa b́nh.
Sau cùng, cần lưu ư đặc biệt là các chế độ cộng sản đă phản bội chính lư tưởng cộng sản. Trong cuộc thảo luận sôi nỗi về dân chủ ở thế kỷ 19, vấn đề trọng tâm là làm thế nào để thực hiện dân chủ. Những lư thuyết gia cộng sản tiên khởi, kể cả Karl Marx khi ông chưa bị lăo hóa, không hề đặt lại nguyên tắc cơ bản của dân chủ (tự do ngôn luận, tự do thành lập và gia nhập các tổ chức, tự do bầu cử và ứng cử). Họ chỉ cố gắng t́m một phương thức để bảo đảm dân chủ thực sự, nghĩa là dân chủ cho những người nghèo khổ, chiếm đại đa số lúc đó. Lư luận của họ là những người nghèo và thiếu kiến thức sẽ không có khả năng, cả tinh thần lẫn vật chất, để sử dụng các quyền tự do mà họ được hưởng trên lư thuyết và như thế chính quyền cuối cùng vẫn ở trong tay một thiểu số giàu có. Từ đó họ chủ trương tập thể hóa các phương tiện sản xuất và phủ nhận quyền tư hữu để bảo đảm sự b́nh đẳng thực sự về chính trị. Về cơ bản những ư kiến của họ nhằm cải tiến chứ không phủ nhận dân chủ. Trong hai hướng để tăng cường dân chủ, một hướng là nâng cao các quyền tự do chính trị và một hướng thứ hai là mở rộng dân chủ cho thật nhiều người, họ đă đặt trọng tâm vào hướng thứ hai và coi nhẹ hướng thứ nhất. Họ vấp vào hai sai lầm cơ bản, một về chính trị và một về kinh tế. Về chính trị, họ không nhận thức được rằng dân chủ là một chế độ mới và sẽ c̣n thay đổi không những về h́nh thức mà c̣n cả về nội dung quyền lực chính trị, họ đă quá nóng vội. Về kinh tế, họ nh́n hoạt động kinh tế như một tṛ chơi với tổng số cố định người này được người kia phải thua; họ không nghĩ là mọi người đều có thể cùng tiến lên sự sung túc; họ không thể tưởng tượng một xă hội trung đó những người thất nghiệp cũng sẽ có xe hơi. Họ lầm, nhưng dứt khoát họ không phủ nhận dân chủ. Trong đầu óc họ không có độc quyền báo chí của nhà nước, không có những cuộc bầu cử bịp bợm, với kết quả định sẵn, không có những nhà tù chính trị, không có việc cấm đoán các hội đoàn. Các chế độ cộng sản sau này thực ra chỉ là một sự thoán đoạt, sau khi đă phản bội, những tư tưởng của các nhà lư thuyết cộng sản đầu tiên. Bây giờ hăy bàn về một số lấn cấn của người Việt nam chung quanh vấn đề dân chủ.
Dân chủ sẽ đưa tói hỗn loạn! Lập luận này được đảng cộng sản đưa ra như một sự thực hiển nhiên không cần chứng minh và được một số người chấp nhận một cách thụ động. Nhưng nó chỉ là một lập luận lỗ măng, bất chấp cả lư luận lẫn thực tại đất nước. Hiện nay nước ta đang hỗn loạn và - hơn thể nữa - đang rất hỗn loạn. Trộm cướp hoành hành như chỗ không người. Buôn lậu có kho nhà nước, tàu chiến, xe tăng. Móc ngoặc, tham nhũng, hối mại quyền thế trở thành một nếp sống. Cây rừng, bờ biển, danh lam thắng cảnh, ngay cả di tích lịch sử bị phá hủy một cách vô tội vạ. Chưa kể loạn sứ quân, bắt người tùy hứng, giam giữ, tra tấn. Ngoại trừ chính sách khủng bố chính trị, Việt nam đang ở trong một t́nh trạng gần như vô chính phủ.
Kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng sản Việt nam và những trao đổi với những người đă trưởng thành và làm việc trong các chế độ độc tài khác cho tôi một kết luận rất rơ rệt: không cứ ǵ Việt nam mà mọi chế độ cộng sản, nói chung mọi chế độ độc tài, đều rất hỗn loạn. Một người có thể vượt đèn đỏ, đánh vợ con, đả thương trầm trọng đồng nghiệp, gây mất mát nặng nề cho cơ quan ḿnh, phóng uế bừa băi, v.v... mà chỉ bị cảnh cáo, hay phạt qua loa. Các chế độ độc tài dung túng sự vô kỷ luật và vô trách nhiệm để bù lại sự thiếu tự do, họ chỉ thù ghét những phát biểu đứng đắn của trí tuệ, chứ không thù ghét những tệ đoan xă hội.
Dân chủ không đưa tới hỗn loạn, trái lại nó đem lại luật chơi rơ ràng minh bạch, nó bảo đảm công lư và luật pháp, nó đem lại tinh thần trách nhiệm v́ nó cho phép mọi người có chỗ đứng và tiếng nói trong việc nước. Nó đem lại trật tự trong đầu óc con người và trong xă hội.
Dân chủ không có lợi cho phát triển kinh tế! Một xác quyết nông cạn phát xuất từ ngộ nhận về bản chất của dân chủ do sự nhận diện hời hợt hoặc gian trá về những lúng túng của một số quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp về dân chủ. Dân chủ không phải là chiếc đũa thần giải quyết mọi vấn đề và đem lại phồn vinh. Dân chủ không thay thế cho những chính sách và nhưng con người. Dân chủ là một phương thức sinh hoạt cho phép đặt vấn đề một cách đứng đắn t́m giải pháp một cách đứng đắn và chọn lựa một cách đúng đắn những người trách nhiệm. Tự nó, dân chủ không giải quyết một vấn đề nào cả, nhưng không có dân chủ th́ không có vấn đề nào có thể giải quyết được một cách đứng đắn. Chính v́ thế mà mức độ dân chủ quyết định giới hạn cho phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng. Chính v́ thế mà các nước giàu mạnh đều là các nước dân chủ trong khi các nước độc tài đều chậm liến. Khuyết tật của thái độ thực tiễn cho rằng nên gác lại nhưng đ̣i hỏi chính trị để tập trung cố gắng vào vấn đề phát triển kinh tế rồi chính phát triển kinh tế sẽ đem lại dân chủ chính là ở chỏ nó không thực tiễn: chấp nhận độc tài để hy vọng phát triển kinh tế người la sẽ chỉ có độc tài mà không có phát triển. Dân chủ không đem cơm áo và hạnh phúc để phát không. Dân chủ không bố thí. Nó tạo ra những con người tự do và trách nhiệm, làm chủ đời ḿnh, phát huy được khả năng và sáng kiến của ḿnh để xây dựng đời ḿnh và đất nước ḿnh. Chính v́ thế mà dân chủ đă giải tỏa được sinh lực quốc gia và đem đến sự phồn vinh.
Chính v́ thế mà dân chủ mới đẹp.
Dân chủ là một xa xỉ phẩm đối với các nước thiếu mở mang! Quả là một thái độ miệt thị và kỳ thị chủng tộc. ở miệng những người thuộc các quốc gia thiếu mở mang, nó c̣n là một sự mạ lị chính ḿnh một cách ngu ngốc. Dân chủ không phải là một xa xỉ phẩm đối với bất cứ một dân tộc nào. Khi các dân tộc phương Tây bắt đầu dân chủ hóa, họ ở một mức độ kinh tế, xă hội và dân trí c̣n kém xa chúng ta ngày hôm nay. Riêng người Mỹ chưa hề biết một chế độ nào khác hơn là dân chủ, họ bắt đầu dân chủ từ những con người đến từ nhiều nguồn gốc và phong tục, thiếu thốn tất cả, kể cả văn hóa và đồng thuận. Nhờ có dân chủ họ đă tạo ra quốc gia hùng mạnh nhất trái đất. Những dân chủ có thể là một xa xỉ phẩm, và trên thực tế dân chủ đă từng là xa xỉ phẩm trong nhiều trường hợp. Dân chủ bịp bợm quả nhiên là một tṛ chơi vô cùng tốn kém và là một gánh nặng. Trái lại dân chủ thành thực là một dụng cụ quí giá. Những người cầm quyền cho rằng dân chủ là một xa xỉ phẩm thực ra chỉ có ư định dàn dựng một thứ dân chủ bịp bợm.
Dân chủ thành thực không nhất thiết là dân chủ hoàn chỉnh, mức độ hoàn chỉnh của một nền dân chủ tăng lên với thời gian, cùng với mức độ phát triển và dân trí; nhưng một nền dân chủ thành thực vần có nhưng thành tố tối thiểu của nó: tự do ngôn luận, đa đảng và bầu cử tự do. Kinh nghiệm cá nhân qua những trao đổi đă cho tôi một nhận định là tất cả những người lo âu một cách lương thiện rằng dân chủ có thể là một xa xỉ phẩm khi dân trí c̣n thấp đều làm một sai lầm chung: họ trừu tượng hóa dân chủ. Nếu thay v́ dặt câu hỏi: Việt nam có thể có dân chủ không?, họ đặt những câu hỏi cụ thể như có nên có tự do ngôn luận không, có nên có bầu cử, tự do lập hôi không, v.v... họ sẽ không c̣n băn khoăn.
Cũng không nên cuồng tín và quá khích. Phải thực tế mà nh́n nhân dân chủ sẽ không thể đem lại tất cả mọi phúc lợi của nó trong một t́nh trạng dân trí chưa mở mang. Nhưng điều cần phải ư thức một cách rất rơ rệt là dù trong hoàn cảnh nào dân chủ cũng hơn xa độc tài.
Dân chủ tự nhiên sẽ tới! Nếu dễ dàng như vậy th́ tại sao mặc dầu mọi nước dân chủ đều giàu mạnh nhưng chỉ có một số ít dân tộc có được dân chủ? Dân chủ là một điều quí giá cho nên nó không tự nhiên mà mọc lên như cỏ đại mà phải tranh đấu để có. Các nước dân chủ phương Tây, mà đa số người Việt nam mơ ước, đă phải tranh đấu cam go lắm mới có được dân chủ như ngày nay và họ vẫn c̣n rất cảnh giác bảo vệ nền dân chủ đă tranh thủ được. ở đâu và bao giờ cũng thế, khuynh hướng chuyên quyền độc đoán luôn luôn là một cám dỗ mạnh. Nếu chúng ta không phấn đấu mà chỉ ngồi chờ để có dân chủ th́ chắc chắn chúng ta sẽ chỉ có cái ngược lại của dân chủ.
Cũng chớ nên lạc quan mà nghĩ rằng dân chủ sẽ tới nhờ áp lực của đà tiến chung của thế giới. Nhưng áp lực này có thể đem đến dân chủ nhưng cũng có thể làm sụp đổ chính quốc gia. Vấn đề là chúng ta có đủ th́ giờ không, đất nước ta có thể tồn tại được cho đến khi có dân chủ hay không? Như đă nói ở một phần trước của cuốn sách này, ư niệm quốc gia dân tộc đang bị công phá một cách gay gắt. Sẽ chỉ c̣n lại trong thế kỷ 21 những quốc gia được xây đựng trên một đồng thuận nghĩa là những quốc gia có dân chủ. Các quốc gia khác sẽ tan vỡ trong hỗn loạn. Với đà tiến hóa dồn dập hiện nay sự tan vỡ có thể là rất nhanh chóng. Chần chừ măi trong cố gắng xây dựng dân chủ chúng ta có thể sẽ không c̣n quốc gia trước khi đạt tới dân chủ. Không cần phải là một nhà thông thái mới thấy được nguy cơ này, chỉ cần một chút quan sát và suy nghĩ lương thiện. Có cần một kết luận cho cuộc mạn đàm chung quanh vấn đề dân chủ này không? Có lẽ không, nhưng thay vào đó là một nhận định về sự khó khăn của cuộc thảo luận về dân chủ, và về chính trị nói chung. Khó ở chỗ người Việt nam h́nh như có một bản năng tự tin ghê gớm về lư luận chính trị. Nhiều người, kẻ cả nhưng trí thức có tầm vóc, có thể tin chắc như đinh đóng cột vào những lập trường không được xây dựng trên một cơ sở hiểu biết đúng đắn nào, và ở mỗi giai đoạn lại có thể tin chắc như đinh đóng cột vào những lập trường khác nhau. Những xác quyết cứ tự nhiên mọc ra, lúc nào cũng tuyệt đối, và không cần được xây dựng trên một vốn hiểu biết nào. Người Việt nam chúng ta, kể cả trí thức, thật rất vô lễ đối với kiến thức.
Một vị đàn anh của tôi, tốt nghiệp cùng trường nhưng trước nhiều năm, cách đây ba mươi năm thuyết phục tôi tham gia một phong trào trung lập của anh. Anh quả quyết chỉ có con đường đó là cứu văn được đất nước, anh cũng quả quyết phải đấu tranh rất cam go chứ không thể khoanh tay chờ đợi. Lập trường của anh không dựa trên một hiểu biết đặc sắc nào. Có lẽ anh chỉ t́nh cờ đọc được một cuốn sách hay một vài bài báo và nghĩ rằng đó là những kiến thức không ai có. Những tôi không thảo luận được với anh v́ anh quá quả quyết trong những ư kiến của ḿnh. Sau đó tôi về Việt nam, c̣n anh, người đă thuyết phục tôi phải dấn thân tranh đấu cam go, vẫn ở lại Pháp. Hơn ba mươi năm sau tôi gặp lại anh và lần này cũng không thảo luận được với anh v́ anh lại tin tưởng chắc nịch vào một chân lư mới là cách làm chính trị hay nhất là đừng làm chính trị? Anh nói bằng tiếng Pháp: La meilleure politique, cest pas de politique du tout? . Anh coi những hoạt động của tôi chỉ có hại v́ các anh càng đ̣i dân chủ đảng cộng sản càng chống dân chủ, cứ để mặc họ, họ sẽ tự động dân chủ hóa.
Cái nghiệp hoạt động chính trị nhiều khi cũng éo le. Biết tôi có chút ít hoạt động, nhiều người thường hay muốn gặp tôi để tŕnh bày những con đường cứu nước mà họ đă khám phá ra. Có người vẽ ra những ṿng tṛn, có người vẽ ra những h́nh tam giác, có người giảng giải cho tôi về lẽ tuần hoàn của trời đất, có người nói chỉ có triết lư đạo Phật mới là nền tảng vững chắc xây dựng đất nước, cũng có người quả quyết rằng đạo Cao Đài là con đường bắt buộc của Việt nam. Những người này đều giống nhau ở một điểm là họ cho những điều họ nghĩ là hoàn toàn đúng và do đó không thể nghe một lập luận nào khác.
Một người mệt mỏi chỉ có thể nói chứ không thể nghe, v́ nghe đ̣i hỏi sức khỏe và sự tỉnh táo. Có lẽ chúng ta là một dân tộc đă quá mệt mỏi sau nhiều đỗ vỡ và mất mát. Và chính sự mệt mỏi này đă là lư do đầu tiên khiến chúng ta khó thảo luận với nhau về các vấn đề chính trị mà đặc điểm chung là bề mặt có vẻ như rất đơn giản trong khi trong chiều sâu chúng rất phức tạp.
Lư do thứ hai gây khó khăn, và đôi khi hỗn loạn, cho các cuộc thảo luận chính trị là chúng ta không ư thức được rằng muốn lư luận chính trị một cách đúng đắn cần qua một giai đoạn nhập môn nghiêm túc. Đó là giai đoạn nhập tâm những khái niệm căn bản của chính trị, quốc gia, dân tộc, nhà nước, chủ quyền, nhân quyền, tự do, dân chủ, văn hóa, phát triển, v.v... Và nhất là t́m ra mối liên hệ giữa các khái niệm đó. Cố gắng nhập môn này rất khó và đ̣i hỏi rất nhiều th́ giờ, nhưng là một sự bất buộc nếu không người ta sẽ rất dễ quên ḿnh đang nói về cái ǵ, rồi sẽ nhảy loạn xạ từ khái niệm này sang khái niệm khác, từ đầu Ngô sang ḿnh Sở, sẽ mâu thuẫn với những ǵ ḿnh mới nghĩ tuần trước và những ǵ ḿnh có thể nói ngày mai. Tôi đă từng được nghe nhiều bài thuyết tŕnh và đọc nhiều bài tham luận trong đo tác giả mâu thuẫn với chính ḿnh trong ṿng vài phút phát biểu hay trong một trang giấy. Những khái niệm chính trị có vẻ giản đơn nhưng thực ra chúng rất phức tạp.
Những người muốn tham gia vào cuộc thảo luận chính trị, và nhất là vào cuộc vận động dân chủ, có lẽ nên quan sát các tu sĩ. Không phải các vị đại đức, thượng tọa, linh mục, mục sư đều có tŕnh độ hiểu biết cao, nhiều vị chỉ có những kiến thức rất sơ sài. Nhưng tại sao nói chung họ vẫn sống và phát biểu được đúng tín ngượng của tôn giáo họ? Đó là v́ họ đă trải qua cố gắng nhập môn. Mười điều giáo lệnh, tứ điều đế, v.v... có ǵ là phức tạp đâu, thế mà họ ván tụng kinh, gơ mơ, lằn tràng hạt hàng ngày. Nhờ đó họ nhập tâm. Các khái niệm chính trị c̣n phức tạp hơn nhiều, nhưng nếu mọi người phát biểu về chính trị dành được một phần thời giờ mà các nhà tu dành cho việc tụng niệm để nhập tâm chúng th́ cuộc thảo luận về dân chủ chắc chắn sẽ được nâng cấp. Và tương lai đất nước cũng sẽ khá hơn.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Đi xa hơn dân chủ

 

V́ chỉ là một phương tiện để xây dựng tự do và hạnh phúc, dân chủ cần được thích nghi với tiến hóa của xă hội. Cuộc thảo luận để cải thiện dân chủ và đi xa hơn mức độ dân chủ tối thiểu (tự do ngôn luận và báo chí, tự do thành lập và gia nhập các tổ chức, tự do bầu cử và ứng cử) luôn luôn phải tiếp tục.
Một hướng t́m kiếm là giới hạn ở mức thực sự cần thiết tầm vóc và vai tṛ của nhà nước để nhường không gian tối đa cho cá nhân và xă hội dân sự. Thế nào là mức thực sự cằn thiết đang là trọng tâm của cuộc tranh luận chính trị tại hầu hết các quốc gia. Hướng thứ hai là mở rộng sự thụ hưởng tự do và dân chủ cho thật đông người, nói cách khác là đem các quyền tự do có trên nguyên tắc vào thực tại. Đằng sau những cuộc thảo luận quanh khái niệm dân chủ, đang h́nh thành một khái niệm dân chủ mới, một thứ hậu dân chủ là dân chủ đa nguyên.
Khái niệm dân chủ đa nguyên sau một thời gian ngắn bị phản bác đă mau chóng được người Việt nam chấp nhận. Đó là điều đáng mừng, nhưng h́nh như sự chấp nhận này chưa đi đôi với nhận thức rằng dân chủ đa nguyên không phải chỉ là một thuật ngữ mới mà là một ư niệm mới, một bước tiến mới của dân chủ. Phần đông vẫn chỉ hiểu đa nguyên là đa đảng, do đó dân chủ đa nguyên chủ yếu là một khẩu hiệu để chống độc tài, để phản bác dân chủ tập trung của đảng cộng sản. Về điểm này tôi phải nh́n nhận là đảng cộng sản tỏ ra hiểu biết hơn nhiều người chống cộng. Họ phân biệt đa nguyên và đa đảng khi họ đưa ra cương lĩnh chống đa nguyên, đa đảng.
Mặc dầu thảo luận về tương lai của dân chủ là một khuynh hướng thời thượng, cho tới nay trong các tác phẩm chính trị nổi tiếng trên thế giới chưa có một định nghĩa rơ rệt cho dân chủ đa nguyên. Nhóm Thông Luận đă đưa ra một định nghĩa rơ rệt với năm đặc tính của dân chủ đa nguyên. Từ khi định nghĩa này được đưa ra năm 1992, qua các thảo luận trực tiếp với các nhà nghiên cứu chính trị cũng như qua những tác phẩm mới, chúng tôi đă chỉ nhận được nhưng bổ túc chứ chưa gặp một phản bác nào.
Định nghĩa đó như sau:
[ ] Dân chủ đa nguyên là dân chủ nhưng không phải dân chủ nào cũng là dân chủ đa nguyên.
Dân chủ đa nguyên là một hệ thống chính trị mới với những đặc tính bắt buộc của nó. Ta có thể nhấn mạnh năm đặc tính: Một là, dân chủ đa nguyên nh́n nhận và tôn trọng chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người thuộc mọi thành phần xă hội, mọi tín ngưỡng và mọi khuynh hướng chính trị. Dân chủ đa nguyên lên án mọi phân biệt đối xử, nó chống đối quyết liệt chế độ độc đảng. Một cách cụ thể bản hiến pháp của một thể chế dân chủ đa nguyên không thể chứa dựng bất cứ một qui chiếu nào về một chính đảng một chủ nghĩa hay một tôn giáo.
Hai là, ngoài nguyên tắc phân quyền phải có trong mọi nền dân chủ xứng đáng với tên gọi của nó, dân chủ đa nguyên đ̣i hỏi tản quyền để tôn trọng sự khác biệt giữa các địa phương. Một chính quyền dù xuất phát từ bầu cử tự do đi nữa cũng không phải là dân chủ đa nguyên nếu phần lớn quyền hành tập trung trong tay chính quyền trung ưong. Trong một thể chế dân chủ đa nguyên các chính quyền địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, phải có những quyền luật định rộng răi để tổ chức cuộc sống phù hợp với hoàn cảnh riêng của mỗi vùng. Mỗi vùng phải có diện tích và dân số ở mức độ thoả đáng để có thể là những thực thể đủ tầm vóc để tự quản được và phát triển được. Như thế một số nguyên nhân xung đột sẽ tự nhiên được giải tỏa. Các sắc tộc ít người sẽ có được tiếng nói đáng kể tại các địa phương mà họ tập trung đông đảo. Các chính đảng không có được đa số trong các cuộc bầu cử toàn quốc vẫn có thể nắm được chính quyền tại những địa phương nơi họ được tín nhiệm. Dân chủ đa nguyên làm nhẹ đi mối căng thẳng chính quyền - đối lập và bẻ găy mối xung khắc được làm vua thua làm giặc. Tản quyền dưa tới hệ luận là chính quyền trung ương không cai trị trực tiếp mà chỉ đảm nhiệm các sứ mạng quóc pḥng, ngoại giao, tiền tệ và phối họp giữa các địa phương. Một vai tṛ khác của chính quyền trung ương là thực hiện các công tŕnh cơ sở hạ tầng trên qui mô cả nước và trợ giúp các chương tŕnh địa phương đáng khuyến khích.
Ba là, dân chủ đa nguyên đặt nền tảng trên xă hội dân sự. Bên cạnh các chính đảng, các cộng đồng sắc tộc, địa phưong và tôn giáo, các hiệp hội công dân tổ chức theo ngành nghề quyền lợi, nhân sinh quan, sở nguyện, ưu tư, v.v... Được hoạt động độc lập với chính quyền, được nh́n nhận một chỗ đứng trọng yếu, được có tiếng nói và ảnh hưởng trong sinh hoạt cũng như trong sự tiến hóa của xă hội. Nhà nước tự coi ḿnh là có sứ mạng phục vụ xă hội dân sự chứ không khống chế xă hội dân sự, không định đoạt sinh hoạt thường ngày thay cho xă hội dân sự. Về mặt kinh tế điều này có nghĩa là nền kinh tế quốc gia phải dặt nền tảng trên các xí nghiệp tư, khu vực quốc doanh phải được giói hạn ở mức tối thiểu và nếu không có th́ càng hay. Vai tṛ nền tảng của các hiệp hội công dân đa dạng là một bảo đảm chắc chắn cho sự chuyển hóa thường trực, tự nhiên và liên tục của xă hội, tránh những xáo trộn đột ngột và đầy đổ vỡ của các cuộc cách mạng.
Bốn là, dân chủ đa nguyên kính trọng các thiểu số và luôn luôn mưu t́m thỏa hiệp. Trong một thể chế dân chủ đa nguyên, nguyên tắc thiểu số phục tùng đa sổ không được sử dụng một cách tự động và máy móc mà chỉ được dùng tới sau khi đă tận dụng mọi cố gắng để t́m đồng thuận. Dân chủ đa nguyên chống lại mọi h́nh thức chuyên chính, kể cả chuyên chính của đa số. B́nh thường trong một thể chế dân chủ sự chính đáng của một chính quyền dựa trên kết quả của cuộc bầu cử cuối cùng, nhưng trong dân chủ đa nguyên sự chính đáng của một chính quyền c̣n nằm cả trong sự thành khẩn t́m đồng thuận trong mọi quyết định quan trọng.
Năm là, dân chủ đa nguyên trong bản chất của nó tôn trọng mọi thành phần dân tộc và không thể để một thành phần này bóc lột và chà đạp một thành phần khác. V́ thế dân chủ đa nguyên coi rất trọng công bằng xă hội và không thể đi đôi với cái thựng được gọi là tư bản rừng rú
Trong một thể chế dân chủ đa nguyên, nhà nước không c̣n là người chỉ huy tuyệt đối. Vai tṛ của nhà nước chỉ là đảm nhiệm ba chức năng: trọng tài trong các quan hệ giữa các thành tố của xă hội, chế tài những vi phạm, và ḥa giải những đ̣i hỏi mâu thuẫn của các thành phần dân tộc. Nhà nước ḥa giải thay v́ nhà nước chỉ huy là nét đậm của dân chủ đa nguyên. Nó phân biệt hẳn dân chủ đa nguyên với các chế độ chuyên chính, nhưng nó cũng khiến dân chủ đa nguyên khác với nhiều chế độ dân chủ trong đó chính quyền vẫn c̣n tham vọng định đoạt thay cho xă hội dân sự. [... ] (Trích Thử Thách và Hy Vọng - Dự án Chính trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996, Thông Luận, Paris 1996, trang 17-19).
Tầm quan trọng của xă hội dân sự đă được Alexis de Tocqueville nhấn mạnh rất sớm ngay từ đầu thế kỷ 19, mặc dù ông chưa đạt tới khái niệm đa nguyên. Ông đă cảnh giác rằng đặc tính cốt lơi của các chế độ độc tài là đè bẹp xă hội dân sự. Ông nhận định ràng các chế dộ độc tài không cần người dân thương yêu họ mà chỉ cần người dân dừng thương yêu nhau và đừng kết hợp với nhau để cho chúng để khống chế một xă hội phân ră. Nâng cao tầm quan trọng của xă hội dân sự lên hàng một thành tố nền tảng của sinh hoạt quốc gia có hệ luận tự nhiên là chính quyền phải triệt thoái về mức độ tối thiểu cần thiết để nhường không gian tự do tối đa cho các công dân. Đó cũng là điều mà các nhà tư tưởng thuộc trường phái tự do đă đề nghị từ lâu. Nhiều nhà tư tưởng khác cũng đă báo động về nguy cơ của một sự chuyên chính của đa số. Dĩ nhiên cũng không thể quên ưu tư của các nhà tư tưởng thuộc khuynh hướng xă hội là ngăn cản sự khống chế của người giàu trên người nghèo. Phong trào cộng sản thế giới đă sụp đổ nhưng vấn đề mà nó đặt ra vẫn c̣n rất thời sự trước sự bành trướng của các công ty lớn ảnh hưởng một cách quan trọng trên cuộc sống của rất nhiều người, đôi khi trên cả một số quốc gia. Các công ty đa quốc gia đă có từ lâu và cũng đă ảnh hưởng trên chính sách của các nước nhược tiểu từ lâu, nhưng sự bện rất mới và cần được cảnh giác là gần đây ngày càng xuất hiện những công ty quá lớn. Một số công ty có trị giá tích sản tương đương với tổng sản lượng của cả khối ASEAN. Các công ty đa quốc gia lớn là những trung tâm quyền lực khổng lồ mới trong đó lănh đạo hoàn toàn không bị chi phối bởi những nguyên tắc dân chủ. Một giải pháp kỹ thuật vẫn cần được t́m ra cho vấn nạn này trừ khi, như niềm tin của nhiều người, một mặt chính phát triển kinh tế sẽ khiến các công ty cần công nhân hơn là công nhân cần xí nghiệp, mặt khác các sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, thẻ thao sẽ tiến lên, giảm bớt trọng lượng của sinh hoạt kinh tế. Một trường phái tư tưởng mới cũng đang xuất hiện với niềm tin vào một chủ nghĩa dân chủ chứng khoán, theo đó các công ty, v́ nhận vốn từ quần chúng qua thị trường chứng khoán và lệ thuộc quần chúng trong việc bán hàng và dịch vụ sản xuất ra, sẽ dần dần bị kiểm soát bởi quần chúng, nghĩa là cũng sẽ dân chủ hóa. Tuy giải pháp chưa t́m ra nhưng nguyên tắc đă rơ rệt: mọi người phải có chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau độc lập với trọng lượng kinh tế.
Dân chủ đa nguyên là tổng hợp chính trị ở giai đoạn này của nhiều đột phá trong kho tàng suy tư của nhân loại.
Chúng ta chưa có dân chủ mà đă nghĩ đến dân chủ đa nguyên có phải là quá sớm và quá không tưởng không? Đúng, nếu ta nghĩ rằng một học sinh trung học chỉ nên nghĩ tới bằng tú tài chứ không cần nghĩ tới đại học. Có nhiều triển vọng cô hay cậu học sinh thực tiễn này sẽ không đi xa trên đường học vấn.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Các giá trị châu á?

 

Có một lần tôi được coi một hoạt cảnh tức cười trong một phim hài hước. Một nhà mô phạm đang thao thao bất tuyệt giảng giải giá trị thiêng liêng của gia đ́nh trước một cử tọa trẻ. Ông đang hùng hồn thuyết phục đám thanh niên về những tệ hại của quan hệ t́nh dục ngoài khuôn khổ vợ chồng th́ một bất ngờ xảy đến. Một chàng trai, với tất cả bộ dạng của một người đồng tính luỵến ái, từ ngoài xông vô nắm lấy ông đánh ghen. Th́ ra ông không những ngoại t́nh mà c̣n ngoại t́nh với người cùng phái. Bài giảng dĩ nhiên chấm dứt ở đây.
Cuộc khủng hoảng kinh tế châu á bắt đầu từ mùa hè 1997 cũng đă cắt ngang cuộc tranh luận đang sôi nổi về các giá trị châu á một cách tương tự. Nó lố bịch hóa những người đang rêu rao là các quốc gia Đông á đă phát triển mạnh nhờ các giá trị châu á, và như thế người châu á không cần những giá trị phương Tây như dân chủ và nhân quyền. Nhưng kết thúc một cuộc tranh căi v́ một bên tranh luận bị quê là một kết thúc không ổn. Người tranh luận bị cụt hứng nhưng chắc ǵ nhưng điều họ nói đă sai? Như thể cuộc tranh luận về các giá trị châu á có thể sẽ c̣n được phát động lại trong tương lai, trong một hoàn cảnh khác và với mục mục đích khác Do đó chúng ta cũng cần xem thực chất của cuộc tranh căi này là cái ǵ.
Điểm thứ nhất là cuộc tranh căi về các giá trị châu á đă được tung ra hồi đầu thập niên 1990, hầu như cùng một lúc tại Singapore và Malaysia. Đây là một điều nghịch lư bởi v́ Singapore và Malaysia chính là hai nước có ít tư cách nhất để phát biểu nhân danh văn hóa và truyền thống châu á.
Singapore là một thương cảng hơn là một quốc gia, do người phương Tây thành lập cách đây hai thế kỷ, bắt đầu từ một làng đánh cá nhỏ với vài chục ngư dân. Nó đă được tạo ra và cai trị hoàn toàn theo khuôn mẫu phương Tây. Dân chúng Singapore, ba triệu người hiện nay, chu yếu là những người Hoa đă chạy trốn hệ thống chính trị và văn hóa châu á tại quê hương cũ.
Malaysia cho tới cuối thế kỷ 14 chỉ là một bán đảo hoang vu và là trạm dừng chân cho các thuyền buôn qua lại giữa ấn Độ và Sumatra. Dữ kiện lịch sử đầu tiên là cuộc thăm viếng của một sứ giả Trung Quốc dưới triều Minh năm 1405. Lúc đó Malaysia chỉ có vài vương quốc nhỏ hoàn toàn cô lập với phần c̣n lại của châu á. cho tói khi được tuyên bố là thuộc địa của Anh, đặt dưới quyền quản trị của công ty British North Borneo Company, vào năm 1881, Malaysia không có ǵ giống với một quốc gia cả. Malaysia không có lịch sử và cũng không có một văn hóa riêng, chưa nói tới văn hóa châu á. Như Singapore, Malaysia được thành lập và cai trị hoàn toàn theo khuôn mâu phương Tây. Cũng giống như Singapore, người Malaysia rất hài ḷng với chính quyền thuộc địa Anh và không đ̣i độc lập họ đă chỉ được độc lập sau một quyết định của nước Anh. Hệ thống chính trị của họ không khác bao nhiêu di sản mà người Anh để lại.
Tóm lại, các giá trị châu á đă được đề cao bởi hai nước không hề thể hiện chúng.
Điểm nghịch lư thứ hai là cả Lee Khan Yew (Lư Quang Diệu) của Singapore lẫn Mahathir Muhamad của Malaysia, hai người hô hào tích cực nhất cho những giá trị châu A, đều là những người đă rất Tây phương hóa. Cả hai đều đă đóng vai tṛ then chốt trong việc Tây phương hóa sinh hoạt của đất nước họ. Lư Quang Diệu chỉ bắt đầu nói tới các giá trị Khổng Giáo sau khi ông từ chức thủ tướng. Việc ông nhấn mạnh tới truyền thống tôn trọng các bậc trưởng thượng của người châu á có thể được nh́n như một phản ứng tự vệ dể cố kéo dài ảnh hưởng trên chính trường. Lư Quang Diệu tỏ ra khó chịu trong qui chế hai bên của ông: ông đi kháp nơi, ban phát những lời khuyên cho mọi người trên mọi vấn đề. Các lập luận về các giá trị châu á của ông có vẻ đă thành công cho cá nhân ông v́ ít ra chúng đă làm ông nổi bật.. Mahathir thuộc một thiểu số trong sắc tộc Mă Lai được giáo dục theo văn hóa Anh. Nếp sống của ông hoàn toàn là nếp sống của người Anh. Các con ông cũng thế, con gái út ông có chồng người Pháp. Mahathir rất sợ bị coi như là một người Mă Lai mất gốc. V́ thế những lời tuyên bố của ông về các giá trị châu á cũng chỉ nhằm một mục đích sửa đổi h́nh ảnh của ông, để ông có vẻ Mă Lai và Hồi Giáo hơn là sự thực. Từ một năm nay vụ án Anwar Ibrahim đă gây rất nhiều tiếng vang. Dư luận thế giới coi Anwar như một chính khách tiến bộ và hiện đại, nạn nhân của Mahathir, một người cầm quyền thủ cựu. Thực ra Anwar từng là một người Hồi Giáo toàn nguyên và quá khích trong giai đoạn đầu của sự nghiệp chính trị. Ông ngưỡng mộ Khomeini và phấn khởi v́ cuộc cách mạng Hồi Giáo tại Iran đến nỗi ông từng hành hương sang Teheran để bày tỏ sự cảm phục đối với Khomeini. Mahathir đă chỉ chọn Anwar làm người thừa kế chính thức của ḿnh để tranh thủ cử tri Hồi Giáo Mă Lai cho ông. Chính v́ thế mà ông đă rất giận dữ và thù ghét Anwar khi Anwar muốn tỏ ra hiện đại hơn ông..
Tóm lại, hai nhân vật đề cao các giá trị châu á nhất cũng là những người không chấp nhận chúng cho chính ḿnh. Cuộc tranh căi đă thiếu thực thà ngay từ đầu.
Điểm thứ ba mà tôi muốn lưu ư độc giả là các giá trị châu á chỉ là một diễn văn chứ hoàn toàn không phải là một chủ thuyết. Không hề có một luận cương hay một cẩm nang nào cả. Tất cả chỉ là những bài viết ngắn và những cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh được đăng trên nhật báo The Intemational Herald Tribune và tập san Foreign Affairs. Trong số những người chủ xướng và hô hào cho các giá trị châu á, người ta không thấy một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà văn lớn nào, người ta chỉ thấy những công chức thuộc hai chính quyền Singapore và Malaysia. Cuộc vận động cho các giá trị châu á giống như một chiến dịch tuyên truyền hơn là một cuộc thảo luận trí tuệ.
Một đặc điểm khác là những ồn ào về các giá trị châu á đă chỉ giới hạn trong khuôn khổ ASEAN. Các quốc gia châu á khác đă không tham gia cuộc ḥa tấu này. Không có khuôn mặt chính trị hoặc trí thức lớn nào của Nhật tỏ ra quan tâm. ấn Độ, Pakistan và Bangladesh hoàn toàn không biết tới. Nam Cao Ly và Đài Loan gạt bỏ thẳng thừng các luận điệu về các giá trị châu á và quả quyết chọn lựa con đường dân chủ hóa. Ngay trong khối ASEAN, Indonesia, Thái Lan và Phi-líp-pin tỏ ra dửng dưng. Chỉ có Hà Nội, Bắc Kinh và Rangoon tỏ ra hưởng ứng. Báo chí và quan chức Việt nam thỉnh thoảng ca tụng nhưng quan điểm đứng đắn của Lư Quang Diệu và Mahathir, dù không đề cập đến cụm từ giá trị châu á. Cũng nên lưu ư rằng trong mọi phát biểu về các giá trị châu á của họ, cả Lư Quang Diệu lẫn Mahathir cùng những cộng sự viên của hai ông đều không bao giờ đề cập đến ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Đối với họ, h́nh như châu á chỉ là Đông á. Nhưng những giá trị châu á được nêu ra là ǵ?
Lư Quang Diệu và Mahathir lại xung khắc một cách tràm trọng về nội dung của chúng. Đối với họ Lư, các giá trị châu á chỉ có thể là các giá trị Khổng Giáo trong khi đối với Mahathir chúng lại chủ yếu là các giá trị Hồi Giáo. Hai nhân vật này tuy ghét nhau nhưng h́nh như cũng đồng ư với nhau rằng người châu á quan tâm đến xă hội, cố gắng, giáo dục, tiết kiệm, phát triển và ổn định hơn là tới cá nhân, tiện nghi, tiêu thụ, nhân quyền và dân chủ; ngoài ra người châu á kính trọng tổ tiên, người lớn tuổi và chính quyền. Dân chủ và nhân quyền có vẻ như là hai đối tượng đánh phá quan trọng nhất của những diễn văn về các giá trị châu á. Nhưng ở đây các quan chức Singapore và Malaysia lại tỏ ra bối rối. Thông thường họ phản bác dân chủ và nhân quyền như những giá trị của phương Tây, nhưng cũng có khi họ lại nói đó là những giá trị phổ cập chỉ cần thích nghi với hoàn cảnh châu á.
Lư Quang Diệu hô hào một cách rất hăng say cho kinh tế thị trường và sự minh bạch (transparency), hai cột trụ của dân chủ. Có những lúc ông nói rằng dân chủ và nhân quyền cũng quan trọng đấy nhưng không quan trọng bằng kỷ luật và sản xuất. Người kế vị ông, đương kim thủ tướng Singapore Goh Chok Tong c̣n đi xa hơn, đối với ông: Các quyền kinh tế và xă hội cũng quan trọng không kém các quyền dân sự và chính trị . Không kém nhưng cũng không hơn. ở một dịp khác ông Goh Chok Tong c̣n tuyên bố mạnh dạn hơn: Chúng tôi tin tưởng ở dân chủ, nhưng dưới một h́nh thức đảm bảo được kỷ luật và đồng thuận. Bà Chan Hăng Chen, cựu giám đốc Viện Nghiên Cứu Đông Nam á và đại sứ Singapore tại Liên Hiệp Quốc, tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn trên The Intemationa Herald Tribule: Dân chủ và nhân quyền là những giá trị phổ cập nhưng những điều kiện để thể hiện chúng tại châu á có phần khác. C̣n Mahathir? Trong một dịp, ông đă chỉ xin thêm thời gian: Đừng đ̣i hỏi chúng tôi phải thay đổi ngay tức khắc. Chúng tôi sẽ thay đổi, nhưng chúng tôi sẽ không thay đổi nhanh như người ta đ̣i chúng tôi. Có lẽ ít ai đ̣i Mahathir phải thay đổi ngay tức khắc v́ thực ra Malaysia, hơn cả Singapore, đă là nước dân chủ hóa sớm nhất trong khối ASEAN. Chính nhưng lời tuyên bố mâu thuẫn này đă khiến Bắc Kinh, Hà Nội và Rangoon, những chế độ thực sự chống dân chủ và nhân quyền, không ủng hộ nhiệt t́nh những phát biểu về các giá trị châu á của Singapore và Malaysia.
Hiển nhiên là cộng đồng, kỷ luật, cố gắng, giáo dục, và ngay cả gia đ́nh, không phải là những giá trị đặc biệt của châu á. Người phương Tây cũng quí trọng những giá trị này, có khi c̣n hơn. Lấy một thí dụ: liên đới xă hội là yếu tố cốt lơi của xă hội, như thế tinh thần liên đới trên nguyên tắc phải rất cao trong các xă hội châu á v́ tại đó cộng đồng được coi là một giá trị nền tảng, nhưng sự thực là liên đới mạnh hơn hẳn ở phương Tây so với châu á. Trong những nước châu á, khi một người bị sa thải hay gặp tai nạn đó chỉ là chuyện cá nhân của người đó, không có an sinh xă hội, không có trợ giúp của nhà nước, hoàn cảnh bi đát của người đó không là quan tâm của bất cứ ai.
Hiển nhiên, về cơ bản, những cái gọi là giá trị châu á không có nội dung nào đặc biệt. Nhưng sự gay gắt đă thay thế cho lư luận. Phương Tây được mô tả là đang suy thoái v́ dựa trên những giá trị bệnh hoạn, châu á sẽ qua mặt phương Tây v́ xă hội châu á được xây dựng trên những giá trị lành mạnh. Kế đó là cáo trạng. Người phương Tây đă tỏ ra xấc xược và bá quyền khi mưu toan áp đặt những giá trị của họ lên toàn thế giới, nhưng sự ngạo mạn này không thể tiếp tục được nữa v́ t́nh thế đă thay đổi và tương lai sẽ thuộc về châu á v.v.. cả những người hô hào các giá trị châu á, Kishore Mahbubani, đại sứ Singapore tại Liên Hiệp Quốc, là người quá khích nhất. Ông hô hào: Bạn trẻ ơi, hăy quay về phương Đông? , ông quả quyết:! Địa Trung Hải là biển của quá khứ, Đại Tây Dương là đại dương của hiện tại, Thái B́nh Dương là đại dương của tương lai. Những người khác tỏ ra ôn ḥa hơn nhưng tất cả đều cùng một luận điêu chống phương Tây và cũng đều cùng một giọng điều đắc tháng.Thái độ đác thắng này dĩ nhiên là lố lăng v́, trừ trường hợp của Nhật và hai thành phố Singapore và Hồng Kông, tất cả các quốc gia châu á vẫn c̣n thua xa các nước dân chủ phương Tây. Malaysia chẳng hạn, chỉ có một sản lượng trên mỗi đầu người tương đương với 20% mức độ của Hoa Kỳ và các nước Tây Âu.
Nhưng tại sao cuộc tranh luận về các giá trị châu á đă ồn ào như vậy? Chúng ta sẽ sai lầm nếu gạt phăng đi với thái độ khinh thường. Có ít nhất hai lư do đă khiến cuộc tranh luận về các giá trị châu á gây sôi nổi trên báo chí.
Lư do thứ nhất là châu á đang đ̣i hỏi một chỗ đứng xứng đáng hơn. Hơn hai thập niên tập trung đều đặn ở một tỷ lệ cao đă gia tăng rất nhiều trọng lượng của châu á. Từ 4% năm 1960, tổng sản lượng của các nước châu á đă lên mức 25% tổng sản lượng của thế giới vào năm 1992 khi cuộc tranh căi về các giá trị châu á vừa bắt đầu. Châu á cũng đạt tới 25 % trọng lượng của ngoại thương trên thế giới vào năm 1994 và cũng giữ trong tay một phần ba trữ kim của thế giới. Năm 1990, châu á đă mua của các nước phương Tây một số lượng hàng hóa và dịch vụ trị giá 650 tỷ USD, gấp đôi con sổ của con số năm 1980, nhưng chỉ xấp xỉ bằng một nửa con số hiện nay. Châu á đă trở thành một thị trường hấp dẫn cho các nước phương Tây và trọng lượng của nó sẽ càng ngày càng tăng lên. Rơ ràng là châu á xứng đáng được trọng nể hơn. Quan hệ giữa châu á và phương Tây phải thay đổi để phù hợp với tương quan lực lượng mới. Các nước phương Tây đều hiểu như vậy. Đó là lư do khiến họ đă chú ư đặc biệt đến những diễn văn về giá trị châu á. Mặt khác cũng v́ sức mạnh thực sự của diễn văn về các giá trị châu á là sự thành công về mặt kinh tế của các nước châu á mà nó đă yếu hẳn đi sau cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu hồi tháng 7-1997.
Lư do thứ hai là những phát biểu về các giá trị châu á thực ra chỉ là một phần của một cuộc tranh luận quan trọng và to lớn hơn nhiều đang diễn ra tại châu á và sẽ có ảnh hưởng lớn trên tương lai của thế giới. Các quốc gia châu á đang ở trong một khúc quanh lịch sư đặc biệt quan trọng. Tăng trưởng kinh tế đă cải thiện một cách đáng kể đời sống con người nhưng đồng thời cũng mang đến những đ̣i hỏi thay đổi chính trị mạnh mẽ theo chiều hướng gia tăng tự do, dân chủ và nhân quyền. Cuộc chuyển hóa đe dọa nền tảng chính đáng của nhiều người cầm quyền và buộc họ đi t́m một biện minh văn hóa và tư tưởng cho quyền lực của họ. Trong bối cảnh ấy, so với ảo tưởng đấm máu của ư thức hệ cộng sản trước đây, các giá trị châu á là một phản ứng khá hiền lành, một chủ thuyết ít độc hại hơn hẳn.
Thực sự có những giá trị châu á không và những giá trị nào? Các nước châu á được thành lập một cách riêng biệt và chỉ có một sự hiểu biết lẫn nhau rất sơ sài. Nhiều quốc gia châu á đă do người phương Tây lập ra và phần lớn các biên giới quốc gia đều hoặc do người phương Tây quyết định hoặc chịu ảnh hưởng của họ. Nếu chỉ muốn nói một cách sơ sài th́ ta có thể nói. Đông á chịu ảnh hưởng Trung Hoa và, ở những mức độ khác nhau, mang nhưng đặc tínhcủa văn hóa Khổng Giáo; Tây á là một sự đan xen giữa văn hóa ấn Độ Giáo và văn hóa Hồi Giáo, trong khi ở phía Nam, Indonesia à Malaysia là những quốc gia Hồi Giáo. Nhưng ngay cả cách mô tả sô sài đó cùng không đúng, Thái Lan và Miến Điện là hai nước Phật Giáo, trong khi Phi-líp-pin lại là một nước đa số Công Giáo. Và cũng không nên quên từ thế kỷ 20 văn hóa và các phương pháp làm việc của phương Tây cũng đă mọc rễ khắp nơi.
Mặt khác cũng không hề có một t́nh cảm liên đởi nào giữa các quốc gia châu á. Người Nhật cho rằng họ là một dân tộc riêng biệt, thông minh và hùng mạnh hơn mọi dân tộc khác. Người Thái cũng nghĩ rằng họ là một dân tộc tinh nhuệ hơn hẳn, đă giữ được độc lập trước cuộc chinh phục của phương Tây. Quan hệ đáng kể nhất của Miến Điện với thế giới bên ngoài nói chung và châu á nói riêng trong lịch sử dài hơn một ngàn năm của họ là những cuộc chiến tranh với Thái Lan, mà những thù hận vẫn chưa chấm dứt hằn. C̣n người Trung Hoa th́ dù đă trải qua nhiều thăng trầm và tủi hổ họ vẫn chưa bỏ hẳn được mặc cảm tự tôn của thời xa xưa khi họ tự coi là trung tâm của thế giới trong khi các dân tộc láng giềng chỉ là những thiểu số man rợ. Coi châu á như một thực thể tự nó đă là điều vô lư. Chỉ có những người thiếu hiểu biết mới có thể nói tới một văn hóa hay một triết lư phương Đông.
Tuy nhiên, nếu chúng ta cố hết sức để nhận ra nhưng nét giống nhau trong nếp sống và suy nghĩ của các dân tộc châu á th́ chúng ta cũng có thể t́m thấy một số điểm. Những điểm này, phải nói ngay, không phải chỉ có ở châu á mà hiện diện ở mọi xă hội ngoài phương Tây và ở cả phương Tây trước đây vài thế kỷ, dù có lẽ ở một mức độ thấp hơn. Đó là:
Cơ cấu đại gia đ́nh liên hệ cá nhân trước hết với người cùng một ḍng máu. Tâm lư này có thể nhận thấy trong hầu hết các nước châu á với những hậu quả quan trọng về cả kinh tế lẫn chính trị. Các công ty lớn ở Nhật, Hồng Kông, Nam Cao Ly được điều hành như những vương quốc gia đ́nh. Các nhà độc tài trước hết dựa trên gia đ́nh, dành cho con cái, họ hàng những đặc quyền lớn. Các bà nội trợ thay chồng, con trai và con gái kế vị cha mẹ làm lănh tụ các chính đảng hay làm tổng thống tại Phi-líp-pin, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, ấn Độ, Miến Điện và Bắc Cao Ly.
Quan niệm quyền lực chính trị như là sự tưởng thưởng cho địa vị và thành tích trong quá khứ hơn là một trách nhiệm đ̣i hỏi khả năng và tầm nh́n. Chức quyền thay v́ chức trách. Do đó người lănh đạo quốc gia không cần phải thành công mà chỉ cần sống xứng đáng với địa vị của ḿnh. Sự chống đối lại chính quyền bị xem như chống lại trật tự xă hội và như một thái độ không phải đạo. Chừng nào người cầm đầu quốc gia chưa mắc phải những tội ác tày trời th́ không có lư do ǵ chính đáng để đ̣i thay thế ông ta hay bà ta. Tâm lư này giải thích sự kiện một đảng hay một lănh tụ có thể cầm quyền liên tục trong nhiều thập niên. Dĩ nhiên tâm lư người châu á đă thay đổi nhiều, nhưng một thắng lợi như của Bill Clinton trước George Bush năm 1992 vẫn c̣n là điều không thể có tại châu á. Sự lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị. Về điểm này phải nói rằng sự phân biệt giữa tôn giáo và chính trị, giữa Thiên Chúa và Ceasar, quả là một đặc tính của tư tưởng phương Tây. Tại các nước châu á, Thượng Đế và Vua liên hệ rất mật thiết với nhau, khi không phải là một. Tại Trung Quốc, dưới ảnh hưởng Khổng Giáo, vua là thượng đế; tại các nước Hồi Giáo như Pakistan và Bangladesh, thượng đế là vua, c̣n tại ấn Độ và hai nước theo Phật Giáo là Thái Lan và Miến Điện, thượng đế chỉ là phụ tá ngoan ngoăn của vua. Người ta có thể nghĩ rằng sở dĩ chủ nghĩa cộng sản đă thành công và đứng vững tại Đông á hơn là lại Tây Âu, nơi nó được phát minh ra, là v́ chính nó cũng là một hệ thống nửa tôn giáo nửa chính trị như Khổng Giáo trước đây. Về điểm này cũng thế, đă có nhiều thay đổi, nhưng chưa thay đổi hẳn.
Cả ba yếu tố trên đây xét cho cùng đều là những trở ngại cho phát triển và tiến bộ. Cần nhận xét là những quốc gia từ bỏ chúng sớm nhất cũng là những quốc gia phát triển nhất. Khối ASEAN trước cuộc khủng hoảng kinh tế được các ông 1ư Quang Diệu và Mahathir coi, đúng hơn là lạm coi, như là thành tŕ của cái mà các ông ấy gọi là các giá tri châu á. Nhưng t́nh thế đă thay đổi.
Ngày nay cả năm nước sáng lập và có trọng lượng nhất trong khối đều đă là những nước dân chủ. Khi Việt nam xin gia nhập ASEAN, ban lănh đạo cộng sản hy vọng t́m được ở ASEAN một chỗ dựa cho chế độ độc tài; từ nay và sắp tới, trong những cuộc gặp gỡ thường xuyên của khối, họ sẽ chỉ gặp những nhà lănh đạo dân chủ thôi thúc họ cải tổ nhanh hơn. Từ nay, trong không khí mới của ASEAN, độc tài không c̣n ǵ là oai hùng nữa mà chỉ là lố bịch, thiếu văn minh, mất vệ sinh.
Ngày nay, nếu có một giá trị châu á mới nhưng đích thực, th́ đó là khát vọng của mọi người châu á muốn được sung túc hơn và được kính trọng hơn. Khát vọng này đang thôi thúc mọi dân tộc châu á. Họ đă ư thức được tiềm năng chưa được khai thác của họ, họ cảm thấy hổ nhục v́ nghèo khổ và thiếu tự do, họ tin rằng họ có thể, và phải, rút ngắn khoảng cách với các dân tộc phương Tây. Họ không quan tâm ǵ đến những cái gọi là giá trị châu á, họ chỉ quan tâm đến những giá trị làm cho cuộc sống của họ đáng sống và đáng tự hào hơn. Ngay cả một cô hầu bàn tại Sài G̣n hay một anh tài xế xe tuk-tuk tại Bangkok cũng đă hiểu rằng phát triển và phồn vinh phải đi đôi với dân chủ và nhân quyền.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Thập nhị sứ quân

 

Đinh Bộ Lĩnh, tức vua Đinh Tiên Hoàng, được coi là một trong những đại anh hùng của nước ta v́ đă có công dẹp mười hai sứ quân và qui đất nước về một mối. Sự nghiệp của ông gây ấn tượng mạnh đến độ ngày nay khi tiếng Việt đă phát triển nhiều rồi chúng ta vẫn c̣n nhắc tới giai đoạn trước nhà Đinh bằng cụm từ thập nhị sứ quân thay v́ mười hai sứ quân. Hơn thế nữa, thập nhị sứ quan đă trở thành một thành ngữ để chỉ nguy cơ đất nước bị tan ră thành nhiều mảnh. Nó như một tai họa ám ảnh chúng ta. Mỗi dân tộc thường có những nhân vật có sức thu hút đặc biệt, ngôn ngữ phương Tây ngày nay nói là họ có charisma. Sức thu hút~ đó có tác dụng làm cho nhân vật được đề cao hơn công lao thực sự của ḿnh, và đem lại cho những hành động của vị ấy một dấu ấn tâm lư sâu đậm.
Huyền thoại của Đinh Bộ Lĩnh là đă tỏ ra anh hùng và độc đáo ngay từ thời thơ ấu. Ông mồ côi cha từ nhỏ, ở với chú và chăn trâu cho chú, ông bắt những đứa trẻ chăn trâu khác tôn ḿnh làm minh chủ, bắt chúng làm kiểu rước ḿnh như vua, tổ chức chúng thành quân đội lấy lau làm cờ rồi đi đánh nhau với trẻ con các làng khác. Có lần thắng trận, ông giết trâu của chú khao quân. Nếu chỉ có thế th́ Đinh Bộ Lĩnh chỉ là một đứa trẻ ngỗ nghịch và vô giáo dục, nhưng sau này Đinh Bộ Lĩnh diệt các sứ quân, gom thâu đất nước và lên làm vua nên những hành động ngang ngược của ông thời thơ ấu được coi là biểu hiểu của chí lớn. Đinh Bộ Lĩnh trở thành thần tượng của thiếu nhi Việt nam. Tội nghiệp cho thiếu nhi Việt nam, một mặt người ta dạy chúng ngưỡng mộ Đinh Bộ Lĩnh nhưng, mặt khác nếu chúng thực sự làm nhưng ǵ Đinh Bộ Lĩnh đă làm (ăn hiếp bè bạn, lập đảng đánh nhau, phá tài sản) th́ chác chắn chúng sẽ bị ăn đ̣n, mà ăn đ̣n không oan chút nào v́ thực ra đó chỉ là hành động của một đứa trẻ hư hỏng.
Một lần nữa chúng ta thấy rơ sự nghèo nàn về tư tưởng của người Việt. Chúng ta không suy luận và phê phán mà chỉ biết tâng bốc kẻ thắng. Hễ kẻ nào đă thành công và trở thành chúa tể th́ những hành động của kẻ đó, dù xằng bậy đến đâu cũng được bào chữa và đánh bóng để đưa lên làm mẫu mực cho thời đại và cho đời sau. Chúng ta viết sử một cách không đứng đắn và chúng ta cũng đọc sử một cách không đứng đắn.
Bài hát Hoa Lư mà các thầy cô tôi dạy tôi ở trường tiểu học bắt đầu bằng câu: Ta cùng nhau đi thăm nơi hùng xưa... và kết thúc bằng câu ca tụng Đinh Bộ Lĩnh là đấng anh hùng v́ nước quên ḿnh. Thực ra Đinh Bộ Lĩnh chẳng bao giờ quên ḿnh cả. Trái lại ông luôn luôn chỉ biết có ḿnh thôi. Ông bất chấp tất cả, ông chỉ biết tham vọng quyền lực và thể vui của riêng ḿnh. Lúc nhỏ ông ở với chú, lập băng đảng đánh lộn và phá tài sản của chú. Lớn lên ông đi làm giặc rất sớm v́ theo sử chép ông theo sứ quân Trần Lăm, được Trần Lăm tin dùng và gả con gái cho, rồi lên thay Trần Lăm làm sứ quân khi Trần Lăm chết, sau đó rời bản doanh từ Thái B́nh về Hoa Lư. Vậy mà năm 951, mới 26 tuổi, ông đă lừng lẫy ở Hoa Lư đến nỗi hai ông vua nhà Ngô (Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn, con Ngô Quyền) phải thân chinh đi đánh mà không được. Đúng là một tay anh chị, lúc bé th́ du côn, lớn lên đi làm giặc. Và việc làm giặc chống nhà Ngô này là hoàn toàn vô đạo v́ anh em nhà Ngô rất chính đáng, cha họ là Ngô Quyền có công đánh bại quân xâm lược Nam Hán, chính thức xác nhận nền độc lập dân tộc, hai anh em Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn đều là những người nhân nghĩa. Nhưng Đinh Bộ Lĩnh táo bạo và đánh trận giỏi. Nhờ vậy ông đă diệt được mọi sứ quân và cả nhà Ngô, gom thâu lănh thổ nước ta rồi lên ngôi hoàng đế. Sử sách ca tụng Đinh Bộ Lĩnh có công dẹp loạn sứ quân mà quên rằng chính ông cũng gây ra loạn sứ quân.
Nhiều người cho rằng việc xưng đế của Đinh Bộ Lĩnh, tức vua Đinh Tiên Hoàng, tương đương với một tuyên ngôn độc lập. Trên thực tế nước ta đă dần dần h́nh thành trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc. Nhờ những đóng góp về dân số và văn hóa từ phương Bắc và những cố gắng khai mở của các quan cai trị nặng t́nh với quê hương mói như Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp, một xă hội văn minh mới đă dần dần h́nh thành tại đồng bằng sông Hồng. Vách núi hiểm trở ngăn cách đă khiến sự đi lại giữa Giao Châu và Trung Quốc c̣n khó khăn hơn đường biển. Xă hội Giao Châu ngày càng phát triển và ngày càng khác với xă hội Trung Quốc. Giao Châu là một xă hội Phật Giáo trong khi Trung Quốc là một xă hội Khổng Giáo. Sự thống trị của Trung Quốc yếu dần đi, để rồi tới một lúc không c̣n duy tŕ được nữa. Năm 906, guồng máy cai trị của Trung Quốc tại Giao Châu tự nó sụp đổ. Trung Quốc loạn lạc, quan cai trị bỏ về nước, người Giao Châu tôn một hào kiệt bản xứ là Khúc Thừa Dụ lên thay, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc và mở đầu kỷ nguyên tự chủ.
Cần lưu ư là nền độc lập của nước ta đă đến một cách tự nhiên như là sự chín muồi của tiến tŕnh h́nh thành của một xă hội mới chứ không phải do ư chí muốn độc lập và chống lại Trung Quốc. Ba đời họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ) và cả Dương Đ́nh Nghệ sau đó, dù tự lập nên và chống với quân xâm lăng phương Bắc vẫn chỉ xưng là tiết độ sứ, một chức quan do Trung Quốc lập ra để cai trị Giao Châu. ư thức quốc gia của chúng ta tiến chậm hơn thực tại xă hội, địa lư và nhân văn. Ngô Quyền sau khi thắng được quân Nam Hán đă xưng vương, chính thức xác nhận nền độc lập. Hành động có ư nghĩa lịch sử trọng đại này h́nh như đă không được ghi nhận một cách phấn khởi, nên ngay sau khi Ngô Quyền qua đời hào kiệt khắp nơi đă thi nhau xưng hùng xưng bá. Sự triệt thoái của Trung Quốc đă tạo ra một khoảng trống quyền lực tại Giao Châu cho các thủ lănh địa phương. Đinh Bộ Lĩnh là một trong những thủ lănh này. Việc ông nổi loạn chỉ là do tham vọng cá nhân chứ không phải là để chống lại một chính quyền bất chính. Đinh Bộ Lĩnh đă thắng được không phải v́ có chính nghĩa, trái lại ông đă chống lại một chính quyền rất có chính nghĩa, mà chỉ v́ ông đánh trận giỏi. Việc ông xưng đế cũng chỉ nằm trong một tiến tŕnh độc lập tự nhiên sau họ Khúc, họ Dương và họ Ngô mà thôi. Nhưng nếu Đinh Bộ Lĩnh là một tướng giỏi th́ Đinh Tiên Hoàng lại chỉ là một ông vua tồi và bạo ngược. Ông không làm được điều ǵ ích quốc lợi dân trong mười ba năm cầm quyền (967-980). Ông bày ra nhưng tṛ gớm ghiếc: lập vạc dầu để luộc người, dựng cột đồng nung đỏ để nướng người, nuôi hỗ báo để xé xác phạm nhân, chặt chân tay, cắt tai, mũi, v.v... Ông cũng hoang dâm vô dộ, bỏ con trưởng lập con thứ một cách bất công để đến nỗi các con ông giết nhau. Cuối cùng ông bị phản thần giết chết giữa lúc đang say rượu nằm ngủ. Đinh Tiên Hoàng là người đầu tiên đem sự hung bạo vào chính trị nước ta, trước đó xă hội ta là một xă hội Phật Giáo lấy sự hiền ḥa làm nền tảng. Ông cũng là người khởi xướng ra một cách ứng xử chính trị mới, đó là dùng nội chiến để tiêu diệt lẫn nhau thay v́ giải quyết những quan hệ quyền lực qua thỏa hiệp và hợp tác. Nước Việt nam vừa tự chủ, như một đưa trẻ sơ sinh, đă bị tiêm những độc tố kinh khủng.
Đinh Tiên Hoàng, một cách vô t́nh, cũng c̣n khai sinh ra một chủ trương chính trị khác tại Việt nam, đó là quan điểm nhà nước tập trung và toàn quyền. Việc ông gom thâu các sứ quân khác đă được tôn vinh triệt để, đă khiến sự tập trung mọi quyền lực quốc gia về một mối trở thành một lẽ dĩ nhiên trong tâm lư tập thể của chúng ta, và đă khai sinh ra cả một phản xạ tập trung mà các diễn biến lịch sử sau này tăng cường thêm. Họ Trịnh đă coi việc cất quân đánh họ Nguyễn ở phương Nam là giải pháp duy nhất. Nguyễn Huệ cất quân diệt họ Trịnh và đánh cả ông anh là Nguyễn Nhạc. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản quyết tâm đánh gục chế độ Việt nam Cộng Ḥa ở miền Nam cho dù sông có thể cạn, núi có thể ṃn, nhiều thành phố có thể bị tiêu diệt. Gần đây khi nhóm Thông Luận đưa ra chủ trương tản quyền và địa phương tự quân (không nên sợ những từ ngữ, đó quả thực là một chủ trương gần giống với một chế độ liên bang) th́ ngay trong nội bộ đă có những tiếng nói rất thành thực bày tỏ mối lo đất nước bị đưa vào t́nh trạng thập nhị sứ quân, nghĩa là tan ră.
Nhưng có những hiển nhiên không đúng chút nào nếu ta quan sát và suy luận một cách b́nh tĩnh.
Trung Quốc từ lúc h́nh thành đă tiến những bước vĩ đại cả về kỹ thuật lẫn tư tưởng cho đến thời Đông Chu Liệt Quốc dưới chế độ phong kiến tản quyền, và đă dẫm chân tại chỗ trong hơn hai ngàn năm sau, từ nhà Tần trở đi, dưới chế độ quân chủ tập trung. Hoa Kỳ đă chỉ biết có chế độ liên bang và đă trở thành cường quốc hùng mạnh nhất thế giới chỉ sau một trăm năm lập quốc. Cộng Ḥa Liên Bang Đức đă hơn hẳn các nước châu Âu khác. Liên Bang Xô viết đă thất bại nhưng nó chỉ là một liên bang giả hiệu, mọi quyền hành, kế cả quyền sinh sát tuỳ tiện, tập trung vào một điện Kremlin. Nước Pháp tập trung đang vùng vẫy từ nhiều thập niên để tản quyền. Chế độ tản quyền hơn hẳn chế độ tập quyền. Không phải là một ngẫu nhiên mà nó đang là phương thức mọi quốc gia hướng tới.. Điều cần được đặc biệt lưu ư là nó cũng là giải pháp cho những quốc gia tụt hậu và thiếu dân chủ.
Trước hết nó là một đảm bảo cho dân chủ. Các vùng tự quản dĩ nhiên không thể có chế độ độc tài v́ thẩm quyền của chính quyền địa phương chỉ là điều hành các vấn đề kinh tế, văn hóa, xă hội trong khuôn khó của luật pháp quốc gia. Ngược lại, chính quyền trung ương cũng không thể độc tài v́ phần lớn sinh hoạt quốc gia nam trong tay các chính quyền vùng hay tiểu bằng. Trung ương và địa phương kiểm soát lẫn nhau với kết quả sau cùng là mọi bên đều phải khiêm tốn và chừng mực. Một chính quyền địa phương tồi dở không thể cấm đoán bầu cử tự do và cũng không thể gian lận bầu cử mà không bị chính quyền trung ương chế tài tức khắc. Ngược lại, một chính quyền trung ương không được nhân dân tín nhiệm cũng chắc chắn bị thay thế v́ không thể khống chế được dân chúng, dân chúng tùy thuộc các chính quyền vùng nhiều hơn chính quyền trung ương. Sinh hoạt chính trị chỉ có thể là dân chủ. Hơn nữa mọi âm mưu đảo chính đều vô vọng. Một viên tưởng nếu điên rồ đảo chính và lật dỗ được chính quyền trung ương sẽ bị bó tay sau đó trước các chính quyền địa phương tự trị và sẽ may mắn lắm nếu t́m được máy bay để kịp thời tẩu thoát. Tản quyền đem dân chủ tới mọi nơi và mọi người qua các cuộc tranh luận và tranh cử địa phương. Trong một nước chưa có truyền thống dân chủ, một chính quyền tập trung ngay cả có thiện chí cũng có thể chỉ thực hiện được dân chủ đối với một thiểu số trí thức ở thủ đó.
Tản quyền có lợi cho mọi sinh hoạt, đặc biệt là những sinh hoạt kinh tế. Nó tránh được những đường dây hành chánh dài và phức tạp, tiết kiệm được th́ giờ và phí tổn; nó kích thích văn hóa và báo chí địa phương, nó cho phép mỗi địa phương chọn lựa phương thức sinh hoạt phù hợp nhất với đặc tính và điều kiện của ḿnh, đồng thời lấy những quyết định nhanh chóng. Các vùng nghèo khó sẽ có được một chính quyền riêng dành tất cả ưu tư cho vùng thay v́ phải chờ đợi, và thường thường bị quên lăng, ở một chính quyền trung ương bận rộn với những vấn đề dồn dập của những vùng đă phát triển và hoạt động mạnh, như chúng ta đă thấy hiện nay chính quyền Việt nam dành hết th́ giờ giải quyết những vấn đề của Sài g̣n và Hà nội. Không ai báo động một cách thành tâm và chính xác những khó khăn của một vùng bằng chính quyền vùng. Một chính quyền địa phương tự quản vừa có khả năng tự giải quyết một số khó khăn, vừa có khả năng động viên cử tri vùng làm áp lực buộc chính quyền trung ương phải quan tâm đến những khó khăn ngoài tầm tay của chính quyền vùng.
Tản quyền đóng góp một cách quyết định vào sự ổn vững của quốc gia. Nó khoanh vùng nhiều vấn đề và tránh cho quốc gia nhiều khủng hoảng đáng lẽ chỉ xảy ra trong một vùng, đối với chính quyền vùng. Hơn nữa, nó c̣n giúp cho quốc gia có thể thực hiện những cải tổ lớn mà không rơi vào hỗn loạn.
Tôi sinh sống nhiều năm tại Pháp để nhận xét điều đó. Nước Pháp có một tổ chức giáo dục mà mọi người đều nhận định là lỗi thời và cần cải tổ, nhưng hễ chính phủ nào cải tổ giáo dục là sẽ bị đánh đổ nhanh chóng, lư do là v́ cải tổ nào cũng đụng chạm tới quyền lợi của một loại người và bị chống đối. Người ta có thể đồng ư trên 90% nhưng biện pháp cải tổ nhưng bất măn với 10% c̣n lại và như thế là đủ để xuống đường phản đối. Điều nhức nhối là đ̣i hỏi của số 10% không đồng ư lại thay đổi tùy thành phần; sửa đổi để vừa ư thành phần này th́ lại gây phẫn nộ thêm cho nhiều thành phần khác. Nguyên nhân là chính quyền Pháp tập trung, hệ thống giáo dục áp dụng cho cả nước, cho nên mọi kế hoạch cải tổ đều bị phải được cả nước chấp nhận trong khi các vùng và các thành phần xă hội có những quyền lợi khác nhau. Vấn đề cải tổ giáo dục vẫn c̣n nguyên vẹn dù đă làm găy đỗ sự nghiệp của nhiều vị thủ tướng (kể cả đương kim tông thống Jacques Chirac lúc ông c̣n là thủ tướng, may mà sau một thời gian ông gượng dậy được). Chúng ta hăy tưởng tượng t́nh h́nh sẽ ra sao nếu nước Pháp là một nước tản quyền thay v́ tập trung? Vấn đề cải tổ giáo dục sẽ thuộc quyền của các chính quyền địa phương thay v́ thuộc chính quyền trung ương và sẽ thực hiện tại từng địa phương, ở những thời điểm khác nhau, thay v́ cùng một lúc trên cả nước. Các phản đối cải tổ nếu có, cũng sẽ chỉ ở mức độ địa phương và chính quyền địa phương sẽ được sự hỗ trợ của đại đa số dư luận trong nước (v́ 90% những biện pháp cải tổ là đúng và những người ngoài vùng sẽ chỉ nh́n thấy sự đúng đắn của kế hoạch cải tổ chứ không bị đụng chạm về quyền lợi), các phản đối sẽ giảm hẳn đi cường độ. Tóm lại, cùng lắm sẽ chỉ có xung đột nhỏ ở cấp địa phương mà thôi, cuộc cải tổ sẽ thực hiện được, sẽ được lấy làm mẫu mực cho các vùng khác. Nhưng thực ra có tất cả mọi triển vọng là sẽ không có xung đột nào cả, bởi v́ nguyên nhân đưa tới nhu cầu cải tổ lớn chính là v́ hệ thống giáo dục tập trung quá kềnh càng (Pháp có tới hơn một triệu công chức riêng trong ngành giáo dục) nên khó cải tổ, do đó nhiều điều đáng lẽ phải sửa đổi đă không được sửa đổi, dần dần tích lũy lại thành quá lớn và đ̣i hỏi một cải tổ sâu rộng. Tương tự như vấn đề giáo dục, nước Pháp c̣n ba cuộc cải tổ lớn nữa cần phải làm là nông nghiệp, hệ thống an sinh xă hội và hệ thống vận chuyển công cộng. Ba vấn đề cùng một lư do hiện hữu: tập trung, và cùng một lư do bế tắc: tập trung. Trong một nước tản quyền, phần lớn những vấn đề kinh tế, xă hội đặt ra ở từng địa phương và ở những thời điểm khác nhau. Mỗi địa phương là một thí điểm cho một sáng kiến giải quyết và là một kinh nghiệm cho các địa phương khác. Tổ chức tản quyền như vậy giúp quốc gia tiến tới trong sự ổn vững. Một ưu điểm vô cùng quan trọng khác của tản quyền là nó làm giảm bớt xung đột đảng phái, bảo đảm ḥa hợp dân tộc và văn minh hóa sinh hoạt chính trị. Một chính đảng có thể cầm quyền ở cấp trung ương nhưng lại là đối lập trong nhiều vùng. Ngược lại các đảng đối lập có thể cầm quyền ở một sổ địa phương. Xung khắc chính quyền - đối lập sẽ bớt hẳn sự gay gắt. Trong hoàn cảnh hiện nay của Việt nam, tản quyền giúp chúng ta chấm dứt tâm lư tồi tệ được làm vua (và lộng hành), thua làm giặc (và phá hoại)!. Đó là một giải đáp cho yêu cầu ḥa giải và ḥa hợp dân tộc.
Tản quyền c̣n một đóng góp quan trọng khác, đó là bảo đảm một chính quyên trung ương tài giỏi, v́ tất nhiên đa số những người cầm quyền ở cấp trung ương đều đă trải qua giai đoạn đầu của sự nghiệp chính trị trong các chính quyền vùng và khả năng đă được kiểm chứng.
Tản quyền cũng là một trong những thành tố căn bản của dân chủ đa nguyên, nó cho phép các khuynh hướng chính trị, các sắc tộc và tôn giáo thiều số có được một trọng lượng đáng kể tại những vùng mà họ hiện diện đông đảo, do đó nó làm dịu bớt những tâm trạng bất măn và những ư đồ ly khai.
Tóm lại, tản quyền có tất cả mọi phúc lợi. Nhưng muốn tản quyền có nội dung và lác dụng mong muốn của nó, tản quyền phải hội đủ hai điều kiện: một là mỗi vùng phải có khả năng tồn tại và phát triển được, hai là tản quyền không khuyến khích những ư đồ ly khai.
- Điều kiện thứ nhất đ̣i hỏi mỗi vùng phải có diện tích, dân số, tài nguyên hay điều kiện n địa lư tương đối đủ. Nước ta hiện có gần 80 triệu dân (hy vọng là dân số rồi sẽ ấn định ở mức 100 triệu), chúng ta có thể chia làm từ mười đến mười lăm vùng (và tại sao không mười hai?), mỗi vùng với dân số từ năm tới mười triệu người. Để tránh những phiền toái về hộ tịch, mỗi vùng sẽ là sự kết hợp của một số tỉnh hiện nay. Các vùng sẽ có một nghị viện, một chính quyền dân cử và một guồng máy hành chánh riêng. ở đơn vị tỉnh, ta có thể h́nh dung một hội đồng tỉnh do dân bầu ra và một tỉnh trưởng xuất phát từ hội đồng tỉnh, trong khi guồng máy hành chánh văn là một bộ phân của guồng máy hành chánh vùng.
Điều kiện thứ hai đ̣i hỏi giới hạn rơ ràng thẩm quyền của chính quyền vùng. Các vùng dĩ nhiên không được quyền có quân đội số cảnh sát vùng cũng phải nằm trong một tỷ lệ nào đó so với số cảnh sát trung ương có mặt trong vùng, thí dụ 1- 1; luật pháp của vùng không được mâu thuẫn với luật pháp trung ương. Các vùng không có tiền tệ riêng, không được có đại diện ngoại giao, không được quyền kư hiệp ước với nước ngoài, không được làm chủ các công ty có mục đích kinh doanh, không được tổ chức nhưng cuộc trưng cầu dân ư có nội dung chính trị. Các vùng cũng không được kư kết các hiệp ước với nhau. Với tất cả những giới hạn trên đây chúng ta không cần lo ngại một âm mưu ly khai nào; ngược lại, những giới hạn này không hề làm suy giảm thẩm quyền văn hóa, kinh tế và xă hội nào của vùng.
Hiện nay đất nước ta tuy thống nhất về mặt hành chánh nhưng vẫn c̣n rất chia rẽ trong ḷng người, chia rẽ v́ quá khứ chính trị, chia rè về tôn giáo, sắc tộc, v.v... nhưng nặng nề nhất là chia rè Bắc- Nam. Với sự phân vùng và tản quyền như trên, mối chia rẽ Bắc- Nam sẽ không c̣n nữa, bởi v́ sẽ không c̣n miền Bắc, miền Nam mà sè chỉ c̣n vùng này và vùng nọ. Các sắc tộc ít người sẽ có trọng lượng lớn lại các vùng thượng du miền Bắc và cao nguyên miền Trung, đồng bào gốc Khmer sẽ có tiếng nói đáng kể ở miền Tây Nam phần. Các tín đ̣ Cao Đài, Ḥa Hảo sẽ có một chỗ đứng quan trọng ở các tỉnh Tây Ninh và Long Xuyên. Tinh thần địa phương là bước đầu của tinh thần quốc gia dân tộc nếu được phép phát huy một cách tự nhiên. Khi các địa phương được phát triển tự nhiên, họ sẽ không c̣n cảm thấy muốn ly khai nữa. Vả lại, đà tiến hóa của thế giới hiện nay là kết hợp chứ không phải ly khai. Các nước châu Âu đang kết hợp thành Liên Hiệp Châu Âu, các nước Bắc Mỹ và Nam Mỹ cùng đang cố gắng kết hợp thành khối. Cộng đồng nào, địa phương nào cũng muốn được hội nhập trong một thực thể lớn hon. Trừ khi nhà nước là xiềng xích, bạo ngược, khống chế và bóc lột, không ai muốn ly khai.. Chúng ta nên sợ độc tài, bạo ngược chứ không nên sơ tản quyền. ám ảnh thập nhị sứ quân không c̣n lư do tồn lại.
Trong một cuộc thảo luận có người bạn đă chất vấn tôi: Ḷng người đă phân hóa như thế này, anh c̣n đ̣i tản quyền để chia cắt lănh thổ, anh muốn đỗ dầu vào lửa hay sao?. Tôi đă trả lời: Không. Tản quyền không làm đất nước tan vỡ, trái lại nó khiến cho đất nước được quản trị một cách hợp lư hơn và thông minh hơn, nó cũng góp phần ḥa giải người Việt với đất nước ḿnh v́ nó xoa dịu những bực bội. Tản quyền không phải là đỗ dầu vào lửa mà là đem nước chữa cháy.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
Phản xạ tổng thống

 

Trong một cuộc nói chuyện cách đây không lâu, một nhân vật từ trong nước ra có lúc đă nỗi sùng cự lại tôi: Thế anh muốn ǵ? Anh đ̣i làm tổng thống hay sao?. ư vị này là trách tôi đ̣i thay đổi quá nhiều. Dầu sao ở miệng của một người cộng sản hai tiếng tổng thống cũng là lạ v́ chức vụ tổng thống không hề có trong các chế độ cộng sản. Tôi cũng nhớ vào giai đoạn mở cửa của ông Nguyễn Văn Linh trong đó trí thức trong nước được phép thi đua phê phán chế độ, Dương Thu Hương đă có một bài tham luận đặc sắc; theo một bài tường thuật, một vị cao niên nào đó đă tán thành đến độ nói với Dương Thu Hương: Sau này tôi sẽ bầu cho cô làm tổng thống. Đối với nhiều người Việt nam, kể cả người cộng sản, có lẽ tương lai của Việt nam sau này đương nhiên là chế độ tổng thống. Tuy nhiên chế độ tổng thống là một chế độ rất dở. Cho đến nay trong lịch sử thế giới đă chỉ có một trường hợp chế độ tổng thống tương đối thành công là Hoa Kỳ. Tất cả các quốc gia theo chế độ tổng thống đă thất bại. Trong đại đa số, nó đưa đến độc tài, trong những trường hợp c̣n lại, nó đưa đến một xung đột bế tắc giữa tổng thống và quốc hội, đặt quốc gia trong t́nh trạng căng thẳng thường trực
Những khuyết tật của chế độ tổng thống không khó nhận diện. Nhưng trước hết phải hiểu thế nào là chế độ tổng thống. Nước Đức cũng có tổng thống, nhiều quốc gia theo chế độ đại nghị cũng có tổng thống, nhưng các nước này không áp dụng chế độ tổng thống v́ tổng thống chỉ có vai tṛ nghi lễ; quyền hành ở trong tay một thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội. V́ thủ tướng đồng thời cũng là lănh tụ của đảng cầm quyền, hay liên hiệp các đảng cầm quyền, nên cũng có thể bị thay thế bất cứ lúc nào do quyết định của đảng ḿnh hay của liên hiệp đă đưa ḿnh lên làm thủ tướng. Trong các chế độ này tổng thống không cầm quyền nên cũng không bị thay thế trong một nhiệm kỳ nhất định. Chế độ tổng thống là chế độ trong đó tổng thống do dân chúng trực tiếp bầu ra theo phổ thông đầu phiếu, đứng đầu chính phủ và cầm quyền thực sự.
Có một số chế độ tổng thống không b́nh thường trong đó tổng thống nắm quyền nhưng lại không được quốc dân trực tiếp bầu ra theo phổ thông đầu phiếu mà do một định chế đặc biệt. Đó là trường hợp của Nam Cao Ly dưới thời Toàn Đầu Hoán, đó cũng là trường hợp của Indonesia từ thời Suharto. Những chế độ này thường là sản phẩm của một t́nh trạng bất b́nh thường, nhằm che giấu thực chất của một chế độ độc tài cá nhân nên không thể được coi là những chế độ dân chủ. Nam Cao Ly đă băi bỏ chế độ này và Indonesia chẳng bao lâu nữa cũng sẽ chuyển hướng về một chế độ hợp lư hơn.
Trước hết chúng ta hăy khảo sát một loại chế độ xuất hiện từ vài thập niên nay, được gọi là chế độ bán tổng thống. Khởi đầu từ Pháp, mô h́nh này sau đó lan ra một số quốc gia Đông Âu, Nga và Nam Cao Ly. Một số quốc gia châu Phi có lẽ do ảnh hưởng của Pháp cũng theo chế độ này. Trong các chế độ này tổng thống cũng do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra, nhưng lại phải chia sẻ quyền hành pháp với một thủ tướng.
Nếu chúng ta có thể hiểu khá dễ dàng một chế độ tổng thống hay một chế độ đại nghị th́ lại rất khó nhận diện các quan hệ quyền lực trong một chế độ bán tổng thống. Tất cả tùy thuộc ở sự phân chia quyền lực giữa tổng thống và thủ tướng. Nếu thủ tướng không chịu trách nhiệm trước quốc hội mà chỉ do tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước tổng thống th́ trên thực tế ông (hay bà) chỉ là một phụ tá của tổng thống, một thứ bộ trưởng thứ nhất, và lúc đó chế độ bán tổng thổng chẳng khác ǵ một chế độ tổng thống thuần túy bao nhiêu. Đó là trường hợp của chế độ Việt nam Cộng Ḥa tại miền Nam Việt nam trước đây. Ngược lại, nếu thủ tướng xuất phát từ quốc hội và chịu trách nhiệm trước quốc hội th́ vai tṛ của thủ tướng lại có thể quan trọng hơn cả vai tṛ tổng thống, ít nhất trong chính sách đói nội. Giữa hai thái cực đó là vô số công thức trung gian. Chế độ hiện nay lại Nga có thể coi là chế độ ba phần tư tổng thống, chế độ tại Nam Cao Ly là hai phần ba tổng thống. Điều cần lưu ư là trong bất cứ trường hợp nào trọng lượng của tổng thống cũng rất lớn, v́ lư do là ông có sự chính đáng của phổ thông đầu phiếu trực tiếp. Ông là người duy nhất trong quốc gia được toàn dân bầu ra.
Lư do ra đời của các chế độ bán tổng thống (hăy tạm gọi như thê) là một sự quân b́nh giữa hai ưu tư bảo đảm dân chủ và ngăn ngừa bất ổn chính trị. Người ta muốn một tổng thống vững chắc do dân chúng bầu ra với một nhiệm kỳ rơ rệt, nhưng lại sợ nếu để ông (hay bà) nắm trọn hành pháp th́ sẽ dẫn tới độc tài hoặc xung đột bế tác với quốc hội. Đây là thái độ mà ta có thể gọi là bắt cá hai tay. Kinh nghiệm của các chế độ bán tổng thống đă có thể cho phép chúng ta hai nhận định.
Một là, về mặt thực tế, hậu quả đă khác với nhưng ǵ những người khởi xướng ra nó tưởng tượng. Các chế độ ba phần tư tổng thống! như tại Nga vẫn giữ hầu như nguyên vẹn nhưng bất lợi của một chế độ tổng thống, trong khi các chế độ thực sự bán tổng thống như tại Pháp đưa đến t́nh trạng ngược đời là nhân vật nhiều quyền lực nhất, nghĩa là tổng thống, lại có thể thuộc phe đối lập với tất cả những bất tiện của nó: hai vị nguyên thủ hành pháp cùng đi dự một hội nghị, những lời qua tiếng lại không ngừng trên đỉnh cao của quốc gia làm người dân mất đi sự nể trọng và tin tưởng vào nhà nước, để dọa khủng hoảng thường trực, v.v... Cũng nên nhấn mạnh một tính toán sai lầm của những người khai sinh ra chế độ bán tổng thống là việc tổng thống và thủ tướng thuộc hai đảng chống đối nhau không phải là một ngoại lệ mà đă mau chóng trở thành một thông lệ trong các chế độ bán tổng thống thực sự, như đă thấy tại Ba Lan và Pháp. Cử tri hay có thái độ công b́nh, đă bầu cho tổng thống thuộc phe này th́ bầu cho một đa số trong quốc hội, và do đó thủ tướng, thuộc phe kia. Các nhà làm hiến pháp đă bắt cá hai tay th́ có ǵ ngạc nhiên nếu dân chúng cùng bắt cá hai tay? Điều đáng ngạc nhiên chính là người ta đă ngạc nhiên khi t́nh trạng này xảy ra.
Chính trị quả thực chỉ là một khoa học thực nghiệm.
Hai là các chế độ bán tổng thống đă là hậu quả của một sai lầm về nhận thức chính trị. Lư do để bầu ra một tổng thống theo phổ thông đầu phiếu là để bảo đảm một mức độ ổn vững chính trị nào đó, tránh t́nh trạng chính phủ bị thay đổi liên tục bởi một quốc hội trong đó không có một đa số rơ rệt, mỗi lần các đảng phái thay đổi đồng minh là một thủ tướng và một chính phủ mới. Nhưng thực ra sự kiện một quốc hội gồm hai đảng lớn hay bị phân chia thành nhiều đảng nhỏ không phải là một hậu quả của chế độ đại nghị mà chỉ là hậu quả của thể thức đầu phiếu.
Nói chung, có hai thể thức đầu phiếu chính:
Thể thức thứ nhất là bầu đơn đanh và một ṿng, trong đó cử tri ở mỗi đơn vị bầu cử bầu một dân biểu và chỉ bầu một lần, người nào được số phiếu cao nhất th́ đắc cử. Với lối bầu dă man này, một đảng có thể chỉ được 20% số phiếu của cử tri toàn quốc mà vẫn nắm được hai phần ba số dân biểu trong quốc hội nếu các ứng cử viên của họ về hạng nhất, thí dụ như với 20%, trong hai phần ba số đơn vị bầu cử trong khi các ứng cử viên khác chỉ được 12 % hay 15 %. Lối bầu cử này loại bỏ các đảng nhỏ và nâng đỡ các đảng lớn. Nó đặt các đảng nhỏ trước một chọn lựa: hoặc kết hợp lại với nhau thành một đang lớn, hoặc bị gạt ra ngoài lề; nó dần dần đưa tới chế độ lưỡng đảng
Thể thức thứ hai là bầu theo tỷ lệ. Theo lối đầu phiếu này, cử tri toàn quốc, hay trong mỗi vùng lớn, sẽ bầu cho các liên danh do các chính đảng đưa ra. Sau cuộc bầu cử, mỗi liên danh sẽ được một sổ dân biểu theo tỷ lệ, thí dụ một liên danh được 25 % số phiếu th́ được 25 % tổng số dân biểu, hay hơn một chút bởi v́ thường thường người ta hay qui định một tỷ lệ lối thiểu của số phiếu đạt được, thí dụ 5%, để được chia ghế; các chính đảng không được 5% tổng số phiếu của cử tri không được chia phần, số ghế dân biểu đáng lẽ về phần họ được đem chia cho các đảng vượt được tỷ lệ 5%. Lối bầu phiếu này rất dân chủ v́ nó cho phép mọi khuynh hướng chính trị có chút tầm vóc được hiện diện trong quốc hội, và do đó được tham dự thảo luận về các chọn lựa lớn của nhà nước. Ngược lại, nó thường đưa đến t́hh trạng khó khăn là quốc hội bị chia vụn thành nhiều đảng nhỏ, không đảng nào nắm được đa số và do đó thủ tướng có thể bị thay đổi thường xuyên nếu do quốc hội chỉ định và chịu trách nhiệm trước quốc hội, như trong các chế độ đại nghị. Như vậy nếu muốn tránh t́nh trạng bất ổn do một quốc hội bị chia vụn th́ người ta chỉ cần chấp nhận lối đầu phiếu đơn danh và một ṿng là xong, không cần phải phát minh ra một chế độ bán tổng thống, hai phần ba tổng thống hay ba phần tư tổng thống. Tóm lại, cả lư do khiến các chế độ gọi là bán tổng thống được phát minh ra lẫn những hậu quả mà người ta dự đoán chúng sẽ đem lại đều là những sai lầm. Sai lầm về phân tích chính trị hoặc sai lầm về tiên liệu phản ứng của cử tri. Nói như thế không có nghĩa là tôi đề nghị gạt bỏ chế độ bán tổng thống một cách không thương tiếc. ít nhất nó cũng sửa chữa được phần nào những xơ cứng của chế độ tổng thống. Nó có thể là một giải pháp trấn an cho chúng ta sau này nếu do lo âu và lương tự - không đúng nhưng khó trút bỏ - chúng ta chưa dám chọn lựa dứt khoát chế độ đại nghị. Bây giờ trở về với chế độ tổng thống. Những bất lợi và nguy cơ của chế độ tổng thống không khó nh́n thấy.
Trước hết, nó dành quá nhiều quyền cho một người không thể bị thay đổi trong một thời gian dài, ít nhất cũng bốn năm. Tỏng thống có thể dùng quyền lực này mà bất chấp cả quốc hội. Nếu trong thời gian này tổng thống làm toàn sai lầm, hoặc vi phạm luật pháp th́ sao? Hậu quả là đất nước bị lâm vào t́nh trạng bệnh hoạn vô phương cứu chữa trong suốt nhiệm kỳ, hoặc sẽ phải trải qua một cuộc khủng hoảng lớn trước khi hạ bệ được tổng thống. Điều mà người ta nghĩ là một ưu điểm của ché độ tổng thống - sự kiện nguyên thủ hành pháp không thể bị thay đổi trong một nhiệm kỳ - thực ra là một mối nguy. Chế độ tổng thống cũng chờ đợi quá nhiều đức tính và khả năng ở một người trong khi không ai có thể hoàn hảo, hơn nữa ai cũng có thể bị sút giảm sức khỏe và khả năng một cách bất ngờ.
Nhưng c̣n một hậu quả nghiêm trọng hơn là chế độ có thể trở thành độc tài. Tâm lư tại các nước thiếu mở mang là hay bầu lại cho người cầm quyền trừ khi ông ta quá tồi dở. Một tổng thống mị dân có thể mê hoặc cử tri để trở thành một thứ thần tượng rồi không những tái đắc cử mà c̣n đem cả tay chân và thủ hạ vào quốc hội, sửa đổi hiến pháp, ban hành t́nh trạng khẩn cấp, v.v... Để kéo dài thời gian cầm quyền. Đó là t́nh trạng đă xảy ra ở hầu hết các nước mới được độc lập. Đó đă là trường hợp của mọi nước châu Mỹ La Tinh, trừ Chile, trong một thế kỷ rưỡi từ giữa thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20.
Và nếu tổng thống xung đột với quốc hội? Nhà nước sẽ chỉ được quản lư theo lối xử lư thường vụ; luật quốc hội biểu quyết tổng thống không ban hành, các đề nghị của tổng thống quốc hội không chấp nhận. Đất nước sẽ dẫm chân tại chỗ trong khi bối cảnh quốc gia và quốc tế thay dỗi. Guồng máy nhà nước cũng có thể bị ngừng trệ v́ ngân sách không được biểu quyết hoặc tháo khoán. Cách bầu cử tổng thống qua phổ thông đầu phiếu tự nó đă không đứng đắn.
Cuộc bầu cử một người trên một nước lớn đ̣i hỏi những chi phí rất quan trọng cho ứng cử viên, do đó chỉ có những người rất giàu hoặc được sự hỗ trợ của những thế lực tài phiệt lớn mới có thể tranh cử. Như vậy bằng cách này hay cách khác quyền lănh đạo chính trị sẽ luôn luôn thuộc về người giàu có chứ không phải thuộc về người thực sự có trí tuệ và khả năng.
Lối bầu cử tổng thống là bầu cho một người trước khi bầu cho một dự án chính trị. Tổng thống có thể được bầu v́ những lư do không liên hệ ǵ với khả năng chính trị: con cháu một vĩ nhân, đẹp trai, ăn ảnh, vợ đẹp, nói chuyện duyên đáng, v.v... làm mất sự nghiêm trang của sinh hoạt quốc gia. Cử tri có thể bầu cho một ứng cử viên như thế, nhưng sau đó lại nhàm chán với sinh hoạt chính trị. Lô-gích của một cuộc bầu cử tổng thống là được ăn cả ngă về không cho nên các cuộc bầu cử tổng thống thường rất gay gắt và gây chia rẽ trầm trọng, nhất là trong một quốc gia đang bị đặt trước những chọn lựa khó khăn. Mỗi cuộc thay đổi tổng thống đều tương tự như một cuộc cách mạng với những người rất vui mừng và những người rất tức giận.
Hậu quả của chế độ tổng thống cũng là làm tan vỡ các đảng phái chính trị. T́nh trạng này có hai lư do. Một là v́ sự được hay thua dựa trên một người nên nhu cầu là có được một ê-kíp quảng cáo chính trị tốt chứ không phải một bộ tham mưu chính trị giỏi, vấn đề là làm thế nào để đánh bóng được ứng cử viên của ḿnh để giành được chức tổng thống trước khi cần những nhà chiến lược lớn. Hai là v́ chức vụ tổng thống là tất cả cho nên những nhân vật lớn trong cùng một đang không thể thỏa hiệp với nhau. Hai nhân vật ngang tam cỡ với nhau không thể thỏa hiệp để người có hy vọng hơn ra ứng cử, bởi v́ không có sự qua lại, phải nhượng bộ tất cả hoặc không nhượng bộ ǵ hết. Các quốc gia theo chế độ tổng thống v́ vậy thường không thể có các chính đảng lớn như tại các quốc gia theo chế độ đại nghị. Sự kiện thiếu vắng các chính đảng lớn là một bất lợi trầm trọng cho quốc gia. Các chính đảng lớn vừa là ḷ đào tạo ra các nhà lănh đạo vừa là nơi mỏ xẻ và trao đổi những ư kiến về những chọn lựa quan trọng đặt ra cho đất nước. Hơn nữa, các nước theo chế độ tổng thống không phải chỉ thiếu chính đảng lớn mà c̣n thiếu chính đảng đúng nghĩa. V́ tất cả quyền hành tập trung vào tổng thống nên vị tổng thống nào cũng lôi kéo được sự hùa theo của một số đông đảo những phần tử cơ hội chủ nghĩa và vụ lợi: Tỏng thống luôn luôn có một đảng rất lớn nhưng thường không có phẩm chất, bởi v́ phần lớn là những phần tử xu nịnh.
Tôi sống tại Pháp và đă theo dơi năm cuộc bầu cử tổng thống. Mỗi cuộc bầu cử là mỗi lần dân Pháp bị chia làm hai phe. Kết quả vừa được công bố th́ lập tức hàng trăm ngh́n người xuống đường đốt pháo bông, bóp kèn, nhảy múa và gào hét On a gagné? (Ta đă thắng!) trong khi những người thuộc phe thua th́ ḷng đau như cắt. Mỗi lần bầu cử tổng thống là mỗi lần nội bộ các đảng lớn khủng hoảng trầm trọng. Trong đảng xă hội, tổng thống Mitterrand và nhân vật uy tín thứ hai là Michel Rocard trở thành những kẻ thù, không phải chỉ suốt đời mà cả sau khi ông Mitlerrand đă chết. Đảng Xă Hội hầu như tan ră sau lần bầu cử tổng thống thứ hai. Bên cánh hữu th́ Tập Hợp Cộng Ḥa, đảng lớn nhất cũng tan ră dần sau cuộc bầu cử tổng thống. Đôi bạn ba mươi năm Chirac và Balladur đă trở thành những đối thủ không thể nh́n mặt nhau, sau khi cả hai đều ra ứng cử tổng thống dù thuộc cùng một đảng. Nguyên nhân lúc nào cũng giống nhau: người ta không thể thỏa hiệp, bởi v́ chức vụ tổng thống là tất cả. Hậu quả tai hại như vậy dù Pháp mới chỉ là một nước theo chế độ bán tổng thống, trong đó hiến pháp dành cho thủ tướng toàn quyền trong các vấn đề kinh tế xă hội.
Bây giờ, hăy nh́n ngay vào trường hợp Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất mà chế độ tổng thống có thể coi là thành công. Sự thành công này có một giải thích: Hoa Kỳ không giống bất cứ một quốc gia nào khác trên thế giới.
Quốc gia này đă được thành lập sau khi xă hội dân sự đă trở thành mạnh mẽ, từ đó xă hội dân sự luôn luôn nắm vai tṛ chủ động, nhà nước Hoa Kỳ luôn luôn là một nhà nước nhẹ tới mức tối thiểu. Trong tác phẩm để đời của ông về Nền Dân Chủ Mỹ (De la Démocratie en Amérique) viết năm 1830, Alexis de Tocqueville kể lại rằng ông t́m gặp một thị trưởng một thành phố khá lớn tại Mỹ và thấy một người rất tầm thường đang loay hoay sửa mái nhà, qua câu chuyện ông thấy vị thị trưởng chỉ có một tŕnh độ hiểu biết rất giới hạn. Tocqueville nhận ra là tại Mỹ những người thông minh và tài giỏi đều lao vào kinh doanh làm giàu, chỉ những người trung b́nh mới tham gia vào chính quyền. Chính quyền v́ vậy luôn luôn trọng nể xă hội dân sự và tự cho ḿnh sứ mạng là phục vụ xă hội dân sự và tạo điều kiện để xă hội dân sự có thể hoạt động lành mạnh. Nền tảng của nước Mỹ là xă hội dân sự. Không những thế Hoa Kỳ lại theo chế độ liên bang tản quyền tối đa, vai tṛ của nhà nước trung ương lại càng bị giảm thiểu. Trong phần thảo luận về dân chủ, chúng ta đă nói tự do mới là cứu cánh của chính trị, ưu tư đầu tiên phải là giảm thiểu vai tṛ của chính quyền để nhường chỗ tối đa cho cá nhân và xă hội dân sự. Hoa Kỳ là bằng chứng rằng một chính quyền dở mà nhẹ vẫn hơn một chính quyền tốt nhưng kềnh càng. Một nét đặc thù khác của nước Mỹ là ngay từ ngày lập quốc nó đă có một đồng thuận rất mạnh trên một triết lư chính trị, triết lư chính trị đó là chủ nghĩa cá nhân tự do. V́ vậy mà Hoa Kỳ không có những cuộc tranh luận chính trị lớn. Các issues của những cuộc bầu cử chỉ là những vấn đề nhỏ: có nên hạn chế quyền phá thai không, có cho phép cầu nguyện trong trường học không, ủng hộ hay không ủng hộ án tử h́nh, hay cùng lắm là tăng hay giảm 0,5 % thuế, v.v... Trường hợp Hoa Kỳ v́ vậy không thể nới rộng cho các quốc gia đang bị đặt trước những chọn lựa quan trọng. Các nước khác bắt chước chế độ tổng thống của Hoa Kỳ đă chỉ tiến dần về độc tài và bế tắc.
Tuy vậy, chế độ tổng thống cũng đă gây những khó khăn đáng kể cho Hoa Kỳ, một tổng thống kém cỏi như Harding đă có thể tiếp tục trong sự sai lầm, góp phần quyết định đưa cả Hoa Kỳ và thế giới vào cuộc khủng hoảng bị đát 1929. Chính cuộc khủng hoảng này đă giúp cho các đảng phát-xít lên cầm quyền tại ư và Đức, đưa đền thế chiến; nó cũng đă cũng cấp lập luận cho chế độ cộng sản Liên xô và nhiều chế độ độc tài khác để bài bác dân chủ. Một thí dụ gần đây hơn là vụ tai tiếng của Bill Clinton và Monica Lewinski, gây chia rẽ và bối rối vô ích cho nước Mỹ trong hơn một năm trời. Nếu Clinton chỉ là một thủ tướng, ông đă có thể từ chức một cách êm thấm. Hoa Kỳ đă thành công với chế độ tổng thống nhờ một xă hội dân sự mạnh, tổ chức liên bang, chính quyền nhẹ và đồng thuận cao, nhưng chắc chắn Hoa Kỳ sẽ thành công hơn nhiều nếu theo chế độ đại nghị.
Cần lưu ư là vào lúc lập quốc, chính quyền liên bang Hoa Kỳ chỉ có một nhiệm vụ chính là đảm bảo quốc pḥng. Dần dần với vai tṛ ngày càng lớn trên thế giới và với các vấn đề ngày càng phức lạp chính quyền liên bang đă trở thành một chính quyền thực sự, nhưng đồng thời chế độ Hoa Kỳ cũng chuyển biến từ từ tới gần một chế độ đại nghị.
Tại Pháp, do sự phá sản của lối đầu phiếu theo tỷ lệ được đổ lỗi oan cho chế độ đại nghị và do uy tín áp đảo của tướng De Gaulle, chế độ bán tổng thống đă được thành lập, nhưng càng ngày càng có những tiếng nói có thẩm quyền cất lên đ̣i chuyển hóa về chế độ đại nghị. Maurice Druon, cựu bộ trưởng của De Gaulle và viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp, đánh giá chế độ tổng thống là một sai lầm vĩ đại của De Gaulle.
Thực ra chế độ tổng thống là ǵ? Nó là một cải tiến của chế độ quân chủ tuyệt đối theo hai hướng: một là vua được bầu là do phổ thông đầu phiếu thay v́ lên ngôi theo cha truyền con nối và được gọi là tổng thống; hai là quyền hạn của tổng thống được qui định theo hiến pháp. Tóm lại, chế độ tổng thống là một bước tiến do dự từ chế độ quân chủ sang dân chủ. Nói khác đi, nó phản ánh một lấn cấn tiếc nuối đối với những chế độ mệnh danh là độc tài sáng suốt. Nguyễn Ngọc Huy đă bày tỏ tâm lư này trong cuốn Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn. Ông giải thích rằng trước đây đảng Đại Việt chọn chế độ độc tài và theo lănh tụ chế v́ vào lúc đảng Đại Việt được thành lập các chế độ độc tài đang thịnh hành; sau đó v́ các chế độ độc tài không c̣n được nh́n nhận, đảng Đại Việt đă chuyên sang chế độ tổng thống v́ nghĩ rằng chế độ này giữ được những ưu điểm của chế độ độc tài dù vẫn dân chủ. Ngày nay thực tế đă chứng minh rơ ràng rằng không làm ǵ có những ưu điểm của chế độ độc tài cả, các chế độ độc tài sáng suốt chỉ là một huyền thoại, mọi chế độc tài đều tồi tệ. Chỉ c̣n một chọn lựa dứt khoát là dân chủ. Chế độ dân chủ nhất là chế độ đại nghị, trong đó quyền hành thuộc về một thủ tướng do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội.
Trong chế độ đại nghị, người dân bầu một cách đúng đắn hơn hẳn, họ bầu cho một dự án chính trị thay v́ cho một người, và họ cũng bầu cho hàng trăm dân biểu cùng một lúc. Cử tri mỗi đơn vị có phương tiện để tiếp xúc và t́m hiểu các ứng cử viên để có thể bầu với sự hiểu biết. Rủi ro sai lầm giảm đi, và sai lầm nếu có cũng không trầm trọng v́ họ chỉ bầu một trong số bốn, năm trăm dân biểu. Vị thủ tướng có thể bị quốc hội thay đổi bất cứ lúc nào và phải luôn luận chứng tỏ khả năng của ḿnh trước một hội đồng giám khảo có bản lănh. Do đó thủ tướng vừa phải có thực tài vừa phải hết sức thận trọng. Sự thay đối thủ tướng, nếu cần, cũng không gây ra khủng hoảng lớn. Các chính đảng cũng hoạt động nghiêm túc và hài ḥa hơn, hai nhân vật ngang tầm cỡ trong cùng một đảng cũng có thể dễ dàng thoả hiệp với nhau hơn, để một người làm lănh tụ và trở thành thủ tướng nếu đảng thắng cử, bởi v́ chức thủ tướng không phải là tất cả, thủ tướng chỉ là người thứ nhất trong số những người ngang nhau trong một chính phủ.
Chế độ thủ tướng chắc chắn hơn hẳn chế độ tổng thống, với điều kiện là nó vừa bảo đảm được một mức độ ổn vững tương đối vừa bảo đảm được tiếng nói của mọi khuynh hướng trong các cuộc tranh luận trên những vấn đề lớn của đất nước. Đó là một bài toán có lời giải. Chúng ta đă biết là lối đầu phiếu đơn danh và một ṿng đưa tới một quốc hội với hai đảng lớn. Mặt khác chúng ta cũng biết rằng lối đầu phiếu theo tỷ lệ đảm bảo tiếng nói trong quốc hội cho mọi khuynh hướng.
Như vậy giải pháp tói ưu là một thề chế đại nghị tản quyền với một quốc hội trong đó 90% dân biểu được bầu theo thể thức đơn danh và một ṿng, và 10% c̣n lại được bầu theo tỷ lệ. Số 90% bầu theo thề thực đơn danh bảo đảm sự hiện diện của một đa số trong quốc hội và do đó sự ổn vựng của chính quyền, trong khi số 10% bầu theo tỷ lệ có hai mục đích, một là bảo đảm cho mọi khuynh hướng được có tiếng nói, hai là cho phép những người lănh đạo các chính đảng khỏi phải lo tranh cử tại các địa phương và tập trung cố gắng vào những vấn đề quốc gia. Giải pháp này đă được dưa ra trong Dự án chính trị dân chủ đa nguyên 1996 của nhóm Thông Luận. Gần đây, Guy Carcassonne, chuyên gia có uy tín về các định chế chính trị lại Pháp, phản ánh những trao đổi của các chuyên gia lớn trên thế giới về hiến pháp, cũng đi tới cùng một đề nghị.
Người Việt nam chúng ta sở dĩ coi chế độ tổng thống là tự nhiên v́ đó là chế độ không cộng sản duy nhất mà đại đa số chúng ta biết tới. ở miền Nam Việt nam trước đây đă chỉ có chế độ tổng thống. Sau này hai cộng đồng người Việt hải ngoại lớn nhất là tại Mỹ và Pháp, cả hai nước này đều theo chế độ tổng thống. Từ đó chúng ta tiêm nhiễm một thứ phản xạ tổng thống. Nhưng có những phản xạ rất có hại, cũng như có những thành kiến cần phải từ bỏ.

 

Phần 4 Vài trang bị cho tương lai
chuyện của các luật sư

 

Nước ta chỉ mới tạm gọi là giành được độc lập từ sau thế chiến II, mà đă có khá nhiều hiến pháp. Phe cộng sản có bốn hiến pháp: hiến pháp 1946, hiến pháp 1959, hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992. Phe quốc gia dù chỉ tồn tại chưa đầy 30 năm cũng đă có hai bản hiến pháp 1956 và 1967. Đó là chưa kể những bản tuyên ngôn, hiến ước, hiến chương được dùng như những hiến pháp tạm thời. Nếu so với nhau quốc gia khác như Mỹ chỉ có một hiến pháp từ thời lập quốc, Đức và Nhật chỉ có một hiến pháp từ 1945, hoặc Anh chẳng có một hiến pháp thành văn nào th́ chúng ta quả là giữ một kỷ lục về số lượng hiến pháp. Thể thực, tôi không biết có một dân tộc nào trên thế giới có một lượng hiến pháp bằng nước ta trong cùng một giai đoạn không. Tôi chắc là không. Tuy vậy số lượng hiến pháp không hề chứng tỏ người Việt nam chúng ta trăn trở về hiến pháp, luôn luôn dằn vặt suy nghĩ t́m cách thay đổi cho phù hợp hơn, trái lại nó c̣n chứng tỏ người Việt nam không có một quan điểm đúng đắn về hiến pháp. Đặc tính chung của tất cả mọi bản hiến pháp đă có là chúng đều đă được soạn thảo một cách vội vă và kín đáo, được thông qua hầu như không tranh căi và được ban hành trước sự dửng dưng của dân chúng. Đảng cộng sản hiển nhiên là coi hiến pháp là của người cầm quyền. Hiến pháp là văn kiện tổ chức nhà nước, mà nhà nước theo triết học Mác-Lênin chỉ giản dị là công cụ đàn áp của kẻ thống ưị. Lời nói đầu của hiến pháp 1992 gồm 530 chữ trong đó có 53 chữ, nghĩa là đúng 10%, được dành cho hơn bốn ngàn năm lịch sử của Việt nam, phần c̣n lại chỉ nói về đảng cộng sản. Chưa đủ, lời nói đầu, phần long trọng nhất của hiến pháp, c̣n qui chiếu về cương ĺnh chính trị của đại hội lần thứ sáu của đảng cộng sản, một văn kiện chỉ có giá trị giai đoạn ngay cả với đảng cộng sản. Bản chất của hiến pháp như là một công cụ đàn áp được thể hiện rơ ràng qua nhưng điều đầy tính hăm dọa, thí dụ như điều 13.
Thế c̣n những người Việt nam nói chung? Phần đông chúng ta cũng có một quan niệm rất sai lầm về hiến pháp. H́nh như đối với chúng ta hiến pháp chỉ là một văn kiện tổ chức chính quyền có tính chuyên môn và thuộc thẩm quyền của các luật sư. Ngược lại, phần lớn các luật sư cũng tự coi là có thẩm quyền để nói về hiến pháp hơn người khác, mà không hiểu tại sao..
Trí thức trung niên và cao niên của ta thừa hưởng văn hóa Pháp, từ đó, một cách phiến diện, coi hiến pháp nằm trong phạm vi luật học, một lẫn lộn mà chính các học giả Pháp cũng đă nh́n nhận. Thực ra hiến pháp tuy là luật căn bản của quốc gia và là cội nguồn của luật pháp nhưng không nằm trong phạm vi luật học mà thuộc phạm vi văn hóa, chính trị và xă hội. Một luật sư dù có khả năng biện hộ tài t́nh những vụ kiện cáo nhà đất và ly dị vẫn có thể không có tư cách ǵ để bàn về hiến pháp. Luật phải qui chiếu vào hiến pháp nhưng hiến pháp không thuộc phạm vi của luật học. Các chuyên gia về hiến pháp của Pháp cũng đă nhận ra sự mập mờ của cụm từ droit constitutionnel được dịch sang tiếng việt là luật hiếnpháp và càng ngày càng dùng cụm từ định chế chính trị (institutions politiques) nhiều hơn. Cụm từ này tuy đúng nghĩa hơn nhiều, nhưng cùng chưa đúng hẳn.
Vậy th́ hiến pháp là ǵ?
Nó đúng là văn kiện qui định những định chế chính trị, nhưng đồng thời nó cũng đặt nguyên tắc, nếu không qui định một cách rơ rệt, cho tương quan giữa các thành tố của xă hội, cũng như cho nhiều định chế văn hóa, xă hội khác cần thiết cho sự sống và tiến hóa của cộng đồng quốc gia. Như vậy, muốn nói tới hiến pháp, trước hết phải có một quan niệm về quốc gia đă. Trong một bài trước chúng ta nhận định quốc gia như không gian liên đới của một dân tộc để cho phép họ sống chung và xây dựng với nhau một tương lai chung. Như vậy hiến pháp phải là một thỏa ước về một hiện tại và một tương lai. Trong hiện tại chúng ta đang thừa hưởng di sản nào, đang có những vấn đề nào và phải tổ chức cộng đồng quốc gia như thế nào cho phù hợp? Chúng ta đang đứng trước những nguy cơ nào và phải tổ chức như thể nào để ngăn ngừa? Và với tất cả khả năng và tiềm năng của chúng ta, chúng ta muốn một tương lai như thế nào và phải tổ chức cố gắng chung như thế nào để đạt tới? Tất cả những câu hỏi đó hiến pháp phải trả lời và những người có thẩm quyền để đề nghị những câu trả lời là những người đă trải qua nhiều trăn trở và suy tư về đất nước và có đủ sự hiểu biết để có thể đưa ra những kết luận. Đó là những nhà chính trị, những nhà xă hội học, nhưng nhà tư tưởng với những đóng góp của các chuyên gia mọi ngành, trong đó luật học chỉ là một.
V́ là một qui ước sống chung và làm việc chung, hiến pháp phải có sức thuyết phục, nghĩa là vừa phải hợp lư vừa phải hợp t́nh để được mọi người, ngay cả những người không đồng ư, nh́n nhận tính chính đáng, lương thiện và thành khẩn. Nó cũng phải có khả năng động viên và thôi thúc, nghĩa là cũng phải có giá trị của một lời kêu gọi.
Hiến pháp có thực sự cần thiết không?
Câu hỏi có vẻ khiêu khích nhưng câu trả lời là không. Vai tṛ của nó là phát biểu một đồng thuận sống chung và theo đuổi những mục đích chung, nếu đồng thuận đă rơ ràng th́ hiến pháp không cần thiết, quốc gia có thể sinh hoạt chỉ bằng những đạo luật đặc biệt. Nước Anh không có hiến pháp mà vẫn là một quốc gia rất phồn vinh. Không cần thiết trên nguyên tắc nhưng hiến pháp có lợi về mặt thực tiễn bởi v́ nó vạch ra một tinh thần chỉ đạo cho các đạo luật. Trong trường hợp Việt nam, giữa lúc ḷng người hoang mang và phân tán, chúng ta cần một hiến pháp để làm một căn bản đồng thuận, nhưng với điều kiện là hiến pháp đó thực sự là kết quả của một cố gắng t́m đồng thuận dân tộc.
Hiến pháp có cần ổn vững không?
Câu trả lời là chắc chắn cần. Thay đổi hiến pháp là thay đổi luật chơi cơ bản nhất của xă hội, có thể gây xáo trộn trong sinh hoạt quốc gia và làm đổ vỡ nhiều dự án. Kinh nghiệm đă cho thấy một hiến pháp dân chủ ổn vững là điều kiện không có không được cho phát triển, bởi v́ có như thế người dân mới yên tâm làm những dự định cho tương lai. Cần nhấn mạnh cụm từ hiến pháp dân chủ ổn vững bởi v́ nếu hiến pháp chỉ là sự áp đặt của kẻ thắng, nhất là lại chứa đựng những qui định khiêu khích th́, ngược lại, càng kéo dài bao lâu nó càng gây tác hại và làm rạn nứt dân tộc bấy nhiêu. Sự ổn vững của hiến pháp rất cần thiết, cho nên ưu tư lớn nhất của người soạn thảo hiến pháp phải là làm thế nào để nếu một lực lượng khác lên cầm quyền họ cũng không có lư do để đổi hiến pháp. Việc một lực lượng chính trị cầm quyền áp đặt hiến pháp theo ư ḿnh vừa là một thái độ xấc xược vừa chứng tỏ sự thấp kém của những người không có tham vọng để lại dấu ấn lâu dài. Quan sát các quốc gia trên thế giới, chúng ta có thể thấy là hầu như có một định luật là các nước càng ít thay đổi hiến pháp th́ càng phát triển, càng nhiều hiến pháp bao nhiêu th́ càng tŕ trệ bấy nhiêu. Sự phồn vinh tỷ lệ nghịch với số lượng hiến pháp được ban hành.
Nhưng ổn vững không có nghĩa là bất động. Hiến pháp phải đáp ứng những yêu cầu lớn của giai đoạn và do đó cũng phải có khả năng thích nghi với thời đại. Không nên tu chỉnh hiến pháp một cách tùy tiện, nhưng ngược lại cũng không nên khóa chặt cánh cửa đối với những tu chỉnh cần thiết, và càng không nên đưa vào hiến pháp những ǵ chỉ có giá trị nhất thời và v́ thế có thể qui định bằng một đạo luật thường. Một trường hợp điển h́nh là hiến pháp Bồ Đào Nha (Portugal) ban hành năm 1976. Vào lúc đó Portugal vừa trải qua ba mươi năm dưới chế đô độc tài Salazar, quan tâm chính của các nhà lập pháp Portugal là làm thế nào ngăn chặn mọi khả năng trở lại của một chế độ độc tài. Họ đă chọn chế độ đại nghị, đó là một chọn lựa đúng. Họ cũng chọn cách bầu cử quốc hội theo lối bầu tỷ lệ. Quả nhiên lối bầu theo tỷ lệ là thể thức bầu cử dân chủ và đa nguyên nhất. Nhưng họ đă làm một sai lầm lớn do nhiệt t́nh quá đáng là ghi ngay vào hiến pháp một điều khoản cấm thay đổi cách đầu phiếu này (và dĩ nhiên cả điều khoản cấm thay đổi). Ngày nay chính giới Portugal nhận ra sự bất lợi của lối bầu cử theo tỷ lệ nhưng không thay đổi được. Nước Portugal v́ vậy luôn luôn bị đặt trước nguy cơ là không có nổi một đa số gắn bó trong quốc hội, và do đó một chính phủ đủ vững mạnh, để lấy những quyết định quan trọng.
Hiến pháp có phải là đặc biệt cho một quốc gia không?
Câu trả lời là vừa có vừa không.
Có, bởi v́ mỗi dân tộc có một di sản văn hóa riêng với những cái hay và những cái dở và một lịch sử riêng với những yếu tố tích cực và những yếu tố tiêu cực. Do đó mỗi dân tộc có những vấn đề trọng đại riêng phải giải quyết. Hiến pháp phản ánh đặc thù dân tộc. Không, bởi v́ quốc gia nào cũng phải hội nhập vào đà tiến chung của thế giới và v́ thế không thể phủ nhận luật pháp quốc tế và các giá trị phổ cập của loài người. Nhiều quốc gia đă long trọng xác nhận bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và các công ước đính kèm như là thành phần của hiến pháp của ḿnh. Đó là một chọn lựa rất đúng đắn.
Chúng ta có cần một hiến pháp mới cho Việt nam không? Câu trả lời không hiển nhiên như nhiều người có thể nghĩ. Cho tới nay có một sự kiện khá ngộ nghĩnh. Phần lớn các thành phần đối lập, kể cả các tổ chức chống cộng hải ngoại từng chủ trương kháng chiến vơ trang, đều lên tiếng đ̣i bỏ điều 4 (điều qui định đảng cộng sản là lực lượng lănh đạo xă hội và nhà nước). Chỉ có thể thôi sao? Thế c̣n điều 9, điều 13, điều 30, điều 45, v.v...? Và c̣n danh xưng Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt nam? Và lời nói đầu dành 90% để nói về công đức của đảng cộng sản? Chỉ đ̣i bỏ điều 4 là một thái độ quá khiêm tốn, ngay cả cho một giai đoạn chuyển tiếp về dân chủ v́ c̣n rất nhiều điều khoản khác cũng quá khích không kém và nếu được duy tŕ sẽ có thể bẻ găy tiến tŕnh dân chủ hóa. Thí dụ như điêu 45 qui định quân đội phải bảo vệ chủ nghĩa xă hội. Quí vị trong một chính phủ chuyển tiếp (giả thử như sẽ có) phải coi chừng, quí vị có thể bị quân đội đảo chính một cách rất hợp hiến? Sự kiện điệp khúc bỏ điều 4 được lặp đi lặp lại trong các nghị quyết, kháng thư, tuyên ngôn... chứng tỏ phần lớn các tổ chức không quan tâm đến hiến pháp và không đọc hiến pháp, như đại đa số người Việt nam từ trước đến nay.
Để chuyển hóa về dân chủ th́ ngay giai đoạn chuyển tiếp, không phải chỉ một điều 4, mà c̣n nhiều điều khác cần được vô hiệu hóa. Công việc sẽ quá phức tạp v́ phải rà soát lại toàn bộ hiến pháp? Không hẳn như vậy, chúng ta có thể chỉ cần một nghị quyết, do quốc hội đương hành biểu quyết hoặc do một trưng cầu dân ư, tuyên bố vô hiểu hóa mọi qui chiếu của hiến pháp về bất cứ một tổ chức, một chủ nghĩa hay một nhân vật nào. Tất cả vấn đề là thiện chí, nếu thực sự có ư chí dân chủ hóa th́ không có vấn đề nào không giải quyết được
Rồi sau đó? Chúng ta có thể đồng ư soạn thảo lại một bản hiến pháp mới hoặc sửa đổi hiến pháp hiện thời. Nhưng dù chọn giải pháp tu chính đi nữa th́ cũng phải thay lời nói đầu, sửa đổi các điều khoản nói về đảng cộng sản, chủ nghĩa Mác-Lênin, Mặt Trận Tổ Quốc, Đoàn thanh Niên Cộng sản, và nhiều điều khoản về tổ chức nhà nước, v.v... Nói khác đi, dù là tu chính đi nữa, trên thực tế vẫn là một hiến pháp hoàn toàn mới về nội dung. Chúng ta sẽ cho hiến pháp này nội dung nào?
Như đă nói, hiến pháp phải đáp ứng những đ̣i hỏi trọng đại của hiện tại và cũng phải phù hợp với xă hội tương lai mà chúng ta muốn đạt tới. Trong hiện tại (hiện tại có nghĩa là khi chế độ dân chủ chính thức được thành lập), ba ưu tư chính của chúng ta là bảo đảm một bối cảnh chính trị ổn vững, ngăn chặn sự trở lại của một chế độ độc tài dưới bất cứ h́nh thức nào và thực hiện ḥa giải dân tộc. Trong tương lai, chúng ta muốn một nước Việt nam hội nhập vào đà tiến chung của thế giới, một nước Việt nam phát triển nhanh để bắt kịp sự chậm trễ so với các nước khác, một nước Việt nam ngày càng thống nhất trong ḷng người, một nước Việt nam tản quyền để cho phép mỗi vùng được quản lư một cách phù hợp với điều kiện riêng của ḿnh và phất huy được tối đa các ưu điểm của ḿnh. Chúng ta cũng muốn một xă hội đa nguyên trong đó mọi sắc tộc và mọi tín ngưỡng được thỏa măn những khát vọng chính đáng. Nếu nhưng mục tiêu trên được chấp nhận th́ một cách thực tế hiến pháp tương lai có thể gồm:
1. Môt lời nói đầu, được coi là có giá trị pháp lư cao nhất, trong đó các mục tiêu trên được nêu ra, với ít nhất những khẳng định sau đây:
- Việt nam coi bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và mọi công ước liên hệ, cùng với những tu chính sau này của chúng, là thành phần tạo thành và khăng khít của hiến pháp Việt nam (khẳng định này nhắm mục đích cho phép Việt nam đi cùng nhịp với tiến bộ của thế giới).
- Trong nước Việt nam không có những ư kiến cấm nêu ra và cũng không cố những đề tài cấm bàn đến (khẳng định này lấy tự do và sáng kiến làm sức mạnh dựng nước).
- Xă hội Việt nam được xây dựng trên tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc (ḥa giải và ḥa hợp không những là nhu cầu cấp bách của đất nước hiện nay mà c̣n là một triết lư chính trị mới trên thế giới).
2. Các điều khoản về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Các điều khoản này không cần đi vào chi tiết v́ những quyền công dân phần lớn đă nằm trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân Quyền và các công ước liên hệ, mặt khác nên theo tinh thần thực nghiệm, nghĩa là bổ túc dần dần hiến pháp, biến hiến pháp thành một suy tư thường trực trong quốc gia.
3. Các điều khoản về tổ chức nhà nước, trong đó qui định:
- Lănh thổ Việt nam thống nhất trong sự kết hợp các vùng. Chính quyền trung ương giữ độc quyền về quốc pḥng, ngoại giao và tiền tệ. Mỗi vùng được có chính quyền riêng do dân chúng bầu ra. Các chính quyền vùng không được có quân đội và tiền tệ riêng, không được kư kết những hiệp ước với nước ngoài và với các vùng khác, không được làm chủ các cơ sở có mục đích kinh doanh. Chi tiết về biên giới các vùng và cách tổ chức chính quyền vùng sẽ do một đạo luật riêng do quốc hội biểu quyết.
- Chính quyền trung ương gồm một quốc hội trong đó không dưới 80% đại biểu được bầu theo thể thức đơn danh và một ṿng, phần c̣n lại bầu theo tỷ lệ, một thượng viện mà vai tṛ chính là đại diên cho các vùng, trong đó mỗi vùng có một số thượng nghị sĩ bằng nhau; một tổng thống, hay chủ tịch nước, do quốc hội và thượng viện bầu ra với vai tṛ chủ tŕ những nghi lễ và bảo đảm sự liên lục, ổn vững và đoàn kết quốc gia; một chính phủ gồm một thủ tướng do quốc hội bầu ra và những bộ trưởng do thủ tướng chỉ định; và một ṭa án tối cao có quyền phán quyết tính hợp hiến của các đạo luật do quốc hội biểu quyết và các nghị định của chính phủ, trọng tài các tranh tụng giữa những cơ quan quyền lực, xét xử các cấp lănh đạo cấp cao, và xét lại các phán quyết của các ṭa án trung ương cũng như địa phương.
Mỗi vùng sẽ có một nghị viện riêng và một chính quyền vùng do nghị viên vùng bầu ra và chịu trách nhiệm trước nghị viện vùng.
- Các chính đảng được nh́n nhận là có vai tṛ quan trọng trong sinh hoạt quốc gia và được tài trợ theo luật pháp.
4. Một số điều khoản đặc biệt có mục đích nhấn mạnh mục tiêu dài hạn của quốc gia để thu hút sự chú ư của dân chúng, thí dụ như qui định chức năng của Việt nam là một nước thương mại, công nghiệp và du lịch; Việt nam vận động mọi cố gắng để chung sống trong tinh thần hữu nghị và hợp tác với các quốc gia khác, đóng góp cũng cố ḥa b́nh trong vùng và trên thế giới; trách nhiệm đặc biệt trọng đại của mọi công dân Việt nam là ǵn giữ và không ngừng cải thiện môi trường sinh sống, không khí, cây rừng, bờ biển, lănh hải và thềm lục địa.
Hiến pháp chỉ dừng lại ở những nguyên tắc và tinh thần chỉ đạo; những chi tiết cụ thể, có thể rất quan trọng, như việc qui định các đơn vị bầu cử, tổ chức chính quyền địa phương, số lượng và thể thức chỉ định các thẫm phán ṭa án tối cao, số lượng và thể thức bầu cử các thượng nghị sĩ, v.v... do các đạo luật đặc biệt.
Về mặt kỹ thuật, hiến pháp chỉ có một bó buộc chính la đừng có mâu thuẫn giữa các điều khoản. Điều này các luật gia có thể đóng góp nhưng thực ra chỉ đ̣i hỏi ở người soạn thảo một khả năng lô-gích vừa phải.
Một lời sau cùng về hiến pháp: hiến pháp là hợp đồng về một dự án sống chung và xây dựng một tương lai chung; dự án ấy có thể đ̣i hỏi nhiều suy tư trong nhiều năm của rất nhiều người, nhưng một khi chúng ta đă biết ḿnh muốn ǵ, cho ḿnh và cho con cháu, việc soạn thảo thành văn bản có thể chỉ đ̣i hỏi vài ngày.

 

Phần 5 Vươn ḿnh lớn dậy
Một thoáng suy tư về châu Phi

 

Cuốn sách này đă đi tới phần kết luận, và phần kết luận chắc phải tập trung vào Việt nam v́ đây là cuốn sách của một người Việt nam viết cho những người Việt nam. Tuy vậy, trước khi thực sự nói chuyện đất nước tôi vẫn thấy cần ṿng qua một lục địa khá xa lạ đối với người Việt: châu Phi, bởi v́ trên một vấn đề rất quan trọng chúng ta lại khá gần với họ. Dĩ nhiên ĺnh trạng của chúng ta không đến nôi bi đát như các nước châu Phi, nhưng đôi khi cũng cần nh́n những thái cực để hiểu rơ bản chất của một vấn đề.
Đối với tôi châu Phi trước hết là phần châu Phi Da Đen ở miền Nam sa mạc Sahara và không kể nước Nam Phi ở cực Nam. Năm nước Bắc Phi (Algéria, Morocco, Tunisia, Libya và Ai Cập) là những nước da trắng, Nam Phi cũng là một nước do người da trắng thành lập và do thiểu số da trắng cai trị trong hàng thế kỷ. Sáu quốc gia này tuy cũng thuộc châu Phi nhưng có những vấn đề của mọi quốc gia b́nh thường. Họ không giống phần c̣n lại, phần ở giữa, gồm gần bốn mươi quốc gia toàn người da đen, với gần 80% dân số châu Phi và với cùng một thảm kịch.
Châu Phi này đối với tôi có một sức thu hút đặc biệt. ánh sáng của trí tuệ lần đầu tiên vụt hiện tại đó, tạo nên giống người, rồi tiếp tục soi sáng dẫn dắt con người tiến lên trong hơn một triệu năm. Sau đó loài người tỏa rộng ra châu Âu và châu á. Nhưng sau đó h́nh như ánh sáng cũng ra đi và bóng đêm trở lại với vùng đất này. Châu Phi Da Đen không tiến hóa thêm nữa.
Một cảm giác kỳ lạ khác là mặc dù đă bỏ ra một số th́ giờ để t́m hiểu, hơn thế nữa c̣n may mắn có nhiều bạn đă làm việc nhiều năm tại châu Phi và cũng có nhiều đồng nghiệp da đen, để có thể học hỏi nơi họ, tôi vẫn không sao nh́n thấy được sự khác biệt giữa các nước châu Phi Da Đen với nhau. Các nước này đối với tôi vẫn chỉ là một khối lạc hậu, có quá khứ nhưng không có lịch sử và chưa chắc chắn có một tương lai đáng gọi là một tương lai. Ngày nay vùng châu Phi này là một thảm kịch không chỉ riêng cho người da đen mà cho cả nhân loại. Hiện tại đă đen tối, lương lai lại c̣n đen tối hơn. Đất đai đang khô cằn đi, nạn nhân măn ngày càng trầm trọng, bệnh AIDS gia tăng kinh khủng, chết đói quanh năm, chiến tranh bộ lạc thường ngày, đôi khi với những cuộc diệt chủng khó tưởng tượng. Tất cả mọi chương tŕnh phát triển châu Phi Da Đen với sự tài trợ và yểm trợ của các định chế quốc tế cho tới nay đều đă thất bại.
Lư do chính, nếu không muốn nói là duy nhất, khiến mọi cố gắng đưa châu Phi ra khỏi bế tắc đều thất bại là các chính quyền đều rất yếu. Chúng chỉ có h́nh thức mà không có nội dung. Một đám loạn quân ô hợp chừng vài ngàn người, có khi chỉ cần vài trăm người, cũng có thể đánh gục một chính quyền hợp pháp. Một đại úy, có khi một trung sĩ, cũng có thể đảo chính lật đổ chính quyền để tự xưng là tổng thống, kiêm đại tướng tổng tư lệnh tối cao quân lực, để rồi sau đó ít lâu cũng bị lật đổ. Các chính quyền trong đại đa số chỉ là những chính quyền giả tưởng, không đủ sức mạnh để tự vệ, chưa nói để đôn đốc những cố gắng phát triển. Gần đây các phe đảng h́nh như đă khám phá ra sự thực hiển nhiên này và nội chiến trở thànhmột phương thức gọn nhẹ nhất để giải quyết tranh chấp quyền lực. Vào lúc này, cuối năm 2000, hiện có khoảng mười cuộc nội chiến đủ tầm vóc để được dư luận thế giới biết đến.
Trong suốt ba thập niên 1960, 1970 và 1980 độc tài đă được coi là giải pháp để giải quyết vấn đề yếu kém của các chính quyền. Nhưng các chế độ độc tài đă không đem lại nhưng nhà nước mạnh mà chỉ đem đến tham nhũng và nghèo khổ, có khi c̣n làm tan vỡ nhiều quốc gia như Somalia, Ethiopia, Liberia, Sierra Leone, Suđan v v. Từ thập niên 1990, dân chủ được dùng làm thuốc chữa. Kết quả tuy có khá hơn nhưng cũng không mấy khả quan. Nhưng tại sao các chính quyền châu Phi lại đều yếu? Lư do là v́ chúng không phải là những nhà nước - quốc gia, nghĩa là những nhà nước được xây dựng trên một lănh thổ thực sự và một dân tộc thực sự.
Cho tới nay giải thích thông thường nhất và h́nh như được mọi người chấp nhận là các biên giới quốc gia tại châu Phi đều giả tạo, do các chính quyền thực dân châu Âu vạch ra một cách tùy tiện, dựa trên những vùng chiếm đóng của các nước châu Âu trước đây chứ không phân ánh một thực tế chủng tộc và văn hóa nào cả. Có những sắc tộc bị ngăn cách và phân tán trong nhiều quốc gia, ngược lại phần lớn các quốc gia đều bao gồm những sắc tộc thù địch với nhau. Giải thích này có lư. Các biên giới tùy tiện này chắc chắn không đóng góp tạo ra sự ổn định. Tuy nhiên có những điều có lư mà không đúng, và đây là một trường hợp.
Nếu những bất ổn tại châu Phi là do các biên giới do các chính quyền thực dân vạch ra th́ phải trả lời thế nào hai câu hỏi sau đây:
- Tại sao Tổ Chức Đoàn Kết Châu Phi (OUA- organisation de lunité Africaine hay AUO -african Unity Organization) đă nhanh chóng thỏa thuận coi những biên giới này là chính thức và phải được tôn trọng? Cần lưu ư là quyết định này đă là quyết định đầu tiên của các nước châu Phi và đă được đồng thanh biểu quyết.
Tại sao cho tới nay chưa hề có những tranh chấp biên giới?
Thực ra cũng đă có một tranh chấp biên giới nhỏ giữa Libya và Chad, nhưng nguyên nhân chỉ là v́ hai nước chiếm đóng trước đây, Pháp và ư, chưa qui định biên giới rơ ràng. Ngạc nhiên hơn nữa là khi một quốc gia tan ră không c̣n chính quyền, như trường hợp Somalia, cũng không có nước nào lấn chiếm lănh thổ.
Như vậy phải kết luận rằng biên giới giả tạo không phải là nguyên nhân đưa đến sự yếu kém của các chính quyền châu Phi Da Đen.
Vậy nguyên nhân thực sự là ǵ? Đó là một nguyên nhân nội tại của châu Phi Da Đen và hiện diện trong mọi nước. Nói một cách vắn tắt, các guồng máy nhà nước tại châu Phi đều yếu v́ chúng là những nhà nước không có quốc gia. Châu Phi Da Đen chỉ có những nhà nước chứ không có quốc gia nào.
Các quốc gia này đều giả tạo v́ đều không dựa trên một nền lảng dân tộc, lịch sử và văn hóa nào cả. Người Mỹ đă mau chóng tự thành lập được một quốc gia từ số không những người châu Phi lại không làm được với sự trợ giúp của thé giới, bởi v́ họ không có ư thức dân tộc, nghĩa là không có nguyện ước sống chung với nhau và xây dựng với nhau một tương lai chung. Họ không nh́n nhau như đồng bào mà như những kẻ thù, hay cùng lắm như những người xa lạ. Đó là hậu quả của đợt săn bắt và buôn bán nô lệ đă diễn ra một cách man rợ trong ba thế kỷ 17, 18 và 19. Nhưng trước khi đi xa hơn chúng ta hăy ghi nhận một sự hiển nhiên nhưng nhiều người lại dễ quên: những quốc gia trong đó người dân không chấp nhận lẫn nhau sẽ không có một tương lai nào.
Trong một bộ phim về lịch sử những người da đen tại Hoa Kỳ, một người nô lệ sau khi bị đánh đập tàn nhẫn, than thở: Tôi đang vào rừng đón khúc cây để làm một cái trống th́ chúng ập đến bắt tôi đi rồi chúng đưa tôi tới đây làm nô lệ. Cha mẹ tôi, anh em tôi ở đâu bây giờ?. Thật là xúc động. Trong trí tưởng tượng tập thẻ của thế giới, việc săn bắt và buôn bán nô lệ đă xảy ra tương tự như thế, nghĩa là những người da đen châu Phi bị bắt cóc, dồn xuống tàu và chở qua châu Mỹ. Nhưng theo các tài liệu khảo cứu nghiêm túc, sự thực đă không xảy ra như thế. Những người bị đưa sang Mỹ làm nô lệ cũng không phải là những người xấu số nhất, trái lại họ đă rất may mắn so với nhiều đồng bào họ. _
Không phải các toán thực dân da trắng đă lùng bắt người da đen. Cũng không phải người da trắng đă chỉ huy các toán quân da đen đi săn bắt nô lệ. Người phương Tây đă chỉ mua nô lệ của các trung tâm cũng cấp nô lệ. Việc truy lùng và săn bắt nô lệ hoàn toàn do các tổ chức da đen tại châu Phi thực hiện. Có thể buộc tội người phương Tây đă có trách nhiệm tạo ra một thị trường tiêu thụ, nhưng cũng phải nh́n nhận ngược lại rằng việc xuất cảng nô lệ đă có từ thế kỷ thứ 10 tại châu Phi. Người da trắng đă chỉ t́m thấy một thị trường xuất cảng nô lệ vào giữa lúc mà sự phát triển của nông nghiệp Hoa Kỳ đ̣i hỏi nhiều nhân lực mới. Tục buôn bán nô lệ không biết đă có từ thời nào tại châu Phi. Cố lẽ nó đă có ngay từ khi người châu Phi Da Đen bắt đầu sống có tổ chức. Xă hội châu Phi đă ra đời trong sự thiếu vắng hoàn toàn một ư thức về loài người như là một chủng tộc với cấu tạo cơ thề, những khả năng và những nhu cầu như nhau và do đó cần kính trọng lẫn nhau. Tuyệt đối không có sự thương yêu giữa người và người, ngoại trừ liên hệ bộ tộc và huyết thống. Đây là lư do giải thích tại sao châu Phi đă dừng lại ở tŕnh độ bán khai.
Mức độ phát triển của một xă hội tùy thuộc một cách mật thiết ở mức độ quí trọng con người của xă hội đó. Châu Phi đă hoàn toàn không có sự quí trọng con người. Các bộ lạc và các gia đ́nh có thể lực đă săn bắt nô lệ phục dịch cho ḿnh và đem buôn bán hoặc giết bỏ như một vật dụng từ một thời rất xa xưa. Đến thế kỷ thứ 10 bắt đầu có dịch vụ xuất cảng nô lệ sang các nước A Rập, đặc biệt là Ai Cập. Việc buôn bán nô lệ giữa khối A Rập và châu Phi vẫn tiếp tục trong thời gian có làn sóng buôn bán sang châu Mỹ. Theo ước lượng của một số nhà nghiên cứu th́ số lượng nô lệ bị bán qua châu Mỹ trong hơn hai thế kỷ, khoảng mười triệu người, cũng tương đương với số lượng nô lệ bị bán sang khối A Rập trong chín thế kỷ.
Việc buôn bán nô lệ sang châu Mỹ đă làm cho phong trào săn bắt nô lệ gia tăng hẳn lên cả về qui mô lẫn mức độ tàn bạo. Các tổ chức nhà nước đầu tiên ra đời tại châu Phi đă là những nhà nước sản xuất nô lệ (một cụm từ thông dụng thời đó). Các thủ đô của những nhà nước sản xuất nô lệ được thành lập tại các vùng bờ biển, đó vừa là những trung tâm tập trung nô lệ cuối cùng trước khi xuống tàu vừa là nơi tập trung những hàng hóa được chở tới để trao đổi. Khi nguồn nhân lực vùng bờ biển suy giảm, một số vệ tinh được thành lập trong đất liền để săn bắt sâu hơn trong lục địa. Các nhà nước nô lệ v́ vậy c̣n có những chư hầu trong lục địa thi đua làm công tác săn bắt nô lệ và bán lại cho thủ đô. Sau đó c̣n có một số bộ lạc khác v́ muốn sống yên ổn cũng phải đi lùng bắt nô lệ để nộp cho các trung tâm lớn hơn. Nhiều khi các bộ lạc giao chiến với nhau để vừa tự vệ vừa bắt tù binh làm nô lệ.
Nói chung, trong suốt ba thế kỷ 17, 18 và 19, cả châu Phi tan tác v́ một phong trào săn lùng nô lệ rộng khắp và điên cuồng. Số nô lệ tới được bờ biển để xuống tàu chỉ là một tỷ lệ tương đối nhỏ so với số người bị thiệt mạng v́ bị giết trong lúc bị truy lùng hay chết v́ kiệt sức trên đường áp tải ra bờ biển. Mặc dầu vậy, vào năm 1815, khi nước Anh cấm các nước thuộc ảnh hưởng của ḿnh buôn bán nô lệ họ đă phải bồi thường thiệt hại cho số lượng 800.000 nô lệ tồn kho Con số này tự nó nói lên qui mô và mức độ man rợ của phong trào buôn bán nô lệ.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 tại Anh, nước buôn bán nô lệ nhiều nhất, đă có những tiếng nói phản đối. Năm 1807 quốc hội Anh biểu quyết một đạo luật cấm mọi hoạt động buôn bán nô lệ. Tích cực trong việc buôn bán nô lệ trước đó bao nhiêu, nước Anh sau đó tận ĺnh trong cố gắng bài trừ việc buôn bán nô lệ bấy nhiêu. Họ gặp sự chống đói của Tây Ban Nha và sự chần chừ của Pháp. Tuy vậy vào năm 1815, nhờ sức mạnh áp đảo, họ cũng đă áp đặt được một hiệp ước quốc tế cấm buôn bán nô lệ. Từ đó các tàu chiến của Anh ráo riết truy kích các tàu buôn nô lệ trên biển cả. Việc buôn bán nô lệ sau đó tuy vẫn c̣n tiếp tục một cách lén lút nhưng đă giảm hẳn đi. Trong nửa sau thế kỷ 19, mặc dầu việc buôn bán nô lệ sang châu Mỹ đă coi như chấm đứt, việc săn bắt nô lệ tại châu Phi không giảm đi mà chỉ tăng thêm về mức độ dă man. Số cầu về nô lệ giảm đi càng khiến các nhà nước sản xuất nô lệ trở nên tàn ác hơn. Những nô lệ yếu đuổi bị tàn sát thẳng tay để chỉ giữ lại những nô lệ khỏe mạnh và được giá.
Năm 1885, khi các cường quốc châu Âu họp tại Berlin và quyết định chia nhau cai trị trực tiếp châu Phi, tệ xuất cảng nô lệ mới chấm dứt. Tới nay lương tâm nhân loại vẫn c̣n xúc động v́ phong trào buôn bán nô lệ, nhưng ngoài một số nhà nghiên cứu ít ai t́m hiểu thực chất của nó. Tập quán buôn bán nô lệ đă là một truyền thống lâu đời của người châu Phi. Nhưng, như mọi tập quán, nó đă được thời gian b́nh thường hóa. Người châu Phi, kể cả những nạn nhân, đều dần dần sống quen với nó, và châu Phi Da Đen cũng đă ổn định ở một mức độ văn minh và phát triển tối đa mà một xă hội không có ư thức về con người có thể đạt tới. Sự giao dịch với khối A Rập đă biến việc buôn bán nô lẽ gia tăng và trở thành một hoạt động ngoại thương từ thế kỷ thứ 10, nhưng dần dần với thời gian nó cũng đă thành một điều mà người châu Phi cam chịu như một định mệnh. Trái lại, chính đợt săn lùng qui mô và man rợ diễn ra từ thế kỷ 17, khi người châu Âu bắt đầu buôn nô lệ sang châu Mỹ, đă vượt quá mọi sức chịu đựng và làm châu Phi hoàn toàn tan nát. Sau đó sự cai trị của người châu Âu đă dần dần khai hóa cho người châu Phi Da Đen khiến họ ư thức được sự tàn bạo mà họ đă là nạn nhân, rồi căm thù những thủ phạm. Nhưng các thủ phạm lại không ai khác hơn là những người đang cầm quyền, hay các bộ lạc lân cận. Đó là lư do khiến các nhà nước mới thành lập không thể mạnh v́ chúng không được xây dựng trên một nguyện ước sống chung và xây dựng một tương lai chung.
Di sản của cuộc buôn bán nô lệ để lại vẫn c̣n rất nặng nề. Hơn một nửa thế kỷ dưới trật tự áp đặt của người châu Âu đă phần nào hàn gắn những đỗ vỡ, nhưng gần một nửa thế kỷ độc lập đă chỉ mở lại những vết thương khi các bộ lạc da đen phải trực diện với nhau. Cần ư thức rằng khi các nước châu Âu quyết định chia nhau cai trị châu Phi th́ tại lục địa này chỉ có những nhà nước sản xuất nô lệ. Những kháng cự ít ỏi mà họ gặp đă chỉ là những kháng cự của các nhà nước này. Châu Phi lúc đó đă hoàn toàn tan ră và kiệt quệ, những con người duy nhất có chút khôn ngoan đều là những kẻ săn nô lệ. Để cai trị, người châu Âu đă phải dùng lại chính những người này. Sau đó đến khi các nước châu Âu rút ra họ cũng trao lại chính quyền cho con cháu của những trùm săn bắt và buôn bán nô lệ, những kẻ mà với ngôn ngữ ngày nay ta có thể gọi là tội phạm đối với nhân loại. Các chính quyền châu Phi v́ vậy không có căn bản chính đáng nào. Tập đoàn cầm quyền luôn luôn phải dựa trên một sắc tộc trong khi các sắc tộc khác nh́n sắc tộc cầm quyền, và nh́n nhau, như những kẻ thù không thề đội trời chung.
Trong bốn thập niên được độc lập, châu Phi đă thiếu hẳn một tư tưởng chính trị làm nền tảng để lạo dựng ra những quốc gia. Cũng có một vài cố gắng lẻ tẻ, như Leopold Sedar Senghor, cựu tổng thống Senegal và thành viên Hàn Lâm Viện Pháp, đưa ra thuyết Négritude, nhưng chỉ là những biểu văn hời hợt. Châu Phi vẫn c̣n thiếu một phân tích lương thiện về chính ḿnh, điều mà các trí thức và các chính khách châu Phi không thể làm, do chính xuất thân của họ. Diễn văn thông thường của các chính trị gia châu Phi cho tới nay văn chỉ là đỗ tội cho người phương Tây đă bắt và bán người châu Phi làm nô lệ, rồi sau đó chiếm đóng và vơ vét tài nguyên của châu Phi. Cáo trạng này không phải là sai, nhưng rất thiếu sót và chắc chắn không đủ để đoàn kết người châu Phi trong một căm thù chung đối với người phương Tây. Nguyên nhân của thảm kịch chính là văn hóa (hay sự thiếu vắng văn hóa?) của châu Phi. Hận thù lớn nhất vẫn là hận thù giữa người châu Phi với nhau, mà chỉ có một cố gắng ḥa giải tích cực và bền bỉ trong hàng thế kỷ mới có thể xóa bỏ được. Nhưng cho tới nay chưa có chính quyền châu Phi nào đủ sáng suốt đê nh́n thấy sự cần thiết của cố gắng ḥa giải này.
Những phần tử tinh hoa của châu Phi Da Đen mà tôi đă tiếp xúc - và tôi đă may mắn gặp được khá nhiều người như vậy, những trí thức lỗi lạc, những người đă cầm quyền, những người đang cầm quyền và cả những người đang cố gắng để giành vị trí lănh đạo trong nhiều nước châu Phi - đều không nhận thức được nhu cầu ḥa giải dân tộc hay, rộng hơn, ḥa giải giữa người châu Phi Da Đen với nhau. Họ thừa hưởng một di sản lịch sử và họ coi đó là một sự kiện b́nh thường. Họ cho rằng người châu Phi không có ǵ để thù hận nhau v́ không ai có trách nhiệm cả, thay v́ nghĩ rằng mọi người đều có trách nhiệm. Họ không hiểu rằng nếu không trút bỏ được di sản lịch sử đó th́ các nước châu Phi sẽ không có một tương lai nào cả. Tôi không phải là một nhà nghiên cứu để có thể bỏ th́ giờ t́m hiểu những vấn đề tại lục địa rất xa xôi này. Tôi đă chỉ chú ư đến châu Phi sau khi qua một vài hiểu biết đầu tiên tôi nhận ra là có những vấn đề của châu Phi rất đáng để người Việt nam chúng ta suy nghi và rút ra những kết luận cho ḿnh.
Trước hết là về chính thảm kịch buôn bán nô lệ. Yêu cầu nhân lực nô lệ của châu Mỹ đă tạo ra thảm kịch săn lùng man rợ trong hơn hai thế kỷ bởi v́ nó đă gặp môi trường thuận lợi tại châu Phi. Thị trường tiêu thụ nô lệ châu Mỹ đă không tạo ra mà chỉ biến một tệ nạn có sẵn thành một tai họa khủng khiếp. Trí thức và các nhà chính trị châu Phi, con cháu những trùm săn bắt nô lệ phải nhận phần trách nhiệm trước hết, phải sám hối và phải nỗ lực hàn gắn những vết thương mà ông cha họ đă gây ra. Thiếu thành tâm ăn năn và hàn gắn này châu Phi sẽ không có tương lai.
Cũng tương tự, khi chủ nghĩa cộng sản, một chủ nghĩa đặt nền tảng trên căm thù (căm thù giai cấp) được du nhập vào Việt nam nó đă t́m thấy một mảnh đất mầu mỡ: một đại đa số nghèo khó bị chà đạp từ cả ngàn năm, những hận thù chồng chất do chiến tranh Trịnh Nguyễn, nội chiến Nguyễn ánh - Tây Sơn, chính sách cấm đạo, rồi cuộc chiếm đóng của người Pháp với những người theo Pháp và những người chống Pháp v.v... Chủ nghĩa cộng sản v́ thế đă thành công tại Việt nam v́ đất nước ta đă chín muồi để chờ đợi một tiếng gọi thù hận. Không nên đỗ lỗi cho Pháp, cho Mỹ, cho Lênin, Stalin hay Mao. Cũng không nên đỗ lỗi cho Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Bảo Đại hay Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu. Họ chỉ là những sản phẩm của một di sản lịch sử đầu buồn và một đất nước bệnh hoạn. Không có họ th́ cũng sẽ có những con người khác làm những điều họ đă làm. Thiếu một cái nh́n vượt thoát, chúng ta sẽ không thể hiểu thực trạng của ḿnh và nh́n ra lối thoát.
Sau đó là t́nh trạng bi đát hiện nay và tương lai bế tắc của chấu Phi. Hơn một thế kỷ sau, vết thương của việc săn bắt và buôn bán nô lệ vẫn như c̣n nguyên vẹn. Những trí thức châu Phi, mà tôi đă gặp, đều hằn học với các sắc tộc khác trong nước họ mà không hề ư thức rằng các sắc tộc khác cũng có những lư do tương tự để hằn học với họ, và chính sự hận thù giữa các sắc tộc đă là lư do khiến châu Phi bế tắc. Những xung đột đẫm máu bao giờ cũng để lại những hậu quả rất dai đáng, lưu truyền qua các thế hệ. Hận thù không tự nó tan biến với thời gian. Nó vẫn c̣n đó và làm tê liệt châu Phi. Ngay cả với một cố gắng hàn gắn thành thực và kiên tŕ th́ xă hội cũng chỉ có thể tạm lành bệnh sau một thời gian rất dài. Châu Phi vẫn c̣n rất bi đát và bế tác v́ di sản của những hận thù do một thảm kịch cách đây hơn một thế kỷ. Một ḿnh thời gian không đủ, c̣n cần một cố gắng hàn gắn thật quả quyết.
Chúng ta cũng thế, chúng ta đă trải qua hơn ba thế kỷ chia cắt, nôi chiến, xung đột và ngoại thuộc, kết thúc bởi một cuộc chiến tranh ư thức hệ kéo dài ba thập niên với hàng triệu người thiệt mạng và sau đó là vô số biện pháp phân biệt đối xử. Chúng ta cũng bị thương tích rất nặng. Mỗi lần nghe những người khẳng định dân tộc Việt nam là một khối thuần nhất, không hận thù nhau và không cằn ḥa giải, tôi lại sững sờ v́ sự vô tư của họ. Cũng như các nước châu Phi, chúng ta đă đỗ vỡ và tổn hại rất nặng trong thể xác và trong tâm hồn. Ḥa giải dân tộc cũng là chuyện dời sông lấp biển đối với chúng ta, nhưng nếu không thực hiện được ḥa giải và ḥa hợp dân tộc th́ những la sẽ chỉ là một dân tộc bại liệt, và dù dưới chế độ nào đi nữa cũng chỉ có một tương lai thua kém. Trước mắt, nếu không ḥa giải được với nhau, nếu mỗi người vẫn khư khư giữ lấy cái lư riêng của ńnh, chúng ta sẽ vẫn c̣n tiếp tục chia rẽ người Nam - người Bắc, Phật Giáo - Công Giáo, Quốc Gia - Cộng Sản và tiếp tục quằn quại dưới chế độ độc tài đảng trị.
Cuối cùng là một tật nguyền chung của người châu Phi Da Đen và chúng ta: thiếu hẳn phản xạ ḥa giải. Trong hàng triệu năm người châu Phi Da Đen chỉ biết một phương thức để giải quyết các mâu thuẫn, đó là tiêu diệt đối phương hoặc bị đối phương tiêu diệt, do đó vấn đề ḥa giải không bao giờ đặt ra v́ không có đối tượng. Tôi đă hỏi rất nhiều trí thức châu Phi Da Đen và đều nhận được một câu trả lời: không những ư niệm ḥa giải không có trong đầu óc người châu Phi mà ngay cả từ ngữ ḥa giải cũng không có trong bất cứ một thổ ngữ nào. Chúng ta không đến nỗi như vậy, nhưng tật nguyền của chúng ta cũng rất trầm trọng. Kề từ đời nhà Trần, nghĩa là từ gần tám thế kỷ nay, nhổ cỏ tận gốc, tiêu diệt toàn bộ, tru di tam tộc vẫn là những biện pháp được người cầm quyền sử dụng để thay thế cho ḥa giải, để khỏi phải ḥa giải. Xét cho cùng đó cũng là một cách để giải quyết nhu cầu ḥa giải. Dần dần với thời gian, cách ứng xử hung bạo đó đă ăn rễ vào tâm lư tập thể và làm cho ư niệm ḥa giải trở thành xa lạ và bất b́nh thường đối với người Việt.
Khi nhóm Thông Luận, sau này là Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, đưa ra chủ trương ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, chúng tôi đă bị đă kích gay gắt từ mọi phía. Chính quyền cộng sản cho đó là một âm mưu để đánh phá chính quyền cách mạng bằng cách đưa ra một nhu cầu giả tạo (v́ dân tộc Việt nam là một khối thuần nhất dưới sự lănh đạo của đảng cộng sản). Các lực lượng chống cộng coi đó chỉ là toan tính chính trị đen tối trong ư đồ bắt tay hợp tác với chế độ cộng sản v́ tham vọng cá nhân (v́ dân tộc Việt nam là một khối thuần nhất chống lại bạo quyền cộng sản). Rất ít người nh́n thấy đó là đoạn tuyệt tâm lư để thoát ra khỏi cái ṿng lẩn quẩn của hận thù và chia rẽ, được làm vua thua làm giặc đang giam hăm chúng ta trong sự thua kém bi đát. Ḥa giải và ḥa hợp dân tộc có thể là một chiến lược, trong chừng mực nó công phá tinh thần bất dung, óc độc quyền lẽ phải và tham vọng độc quyền chính trị, nhưng nó trước hết là một triết lư chính trị mới cho đất nước.
Tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc cũng vượt lên trên những quan tâm nhất thời. Nó nhắm tháo gỡ tất cả mọi hận thù và hiềm tỵ có thể có giữa người Kinh và người Thượng, người Nam và người Bắc, người Công Giáo và người Phật Giáo, người quốc gia cũ và người cộng sản cũ, người hải ngoại và người trong nước, người thành thị và người thôn quê, người giàu và người nghèo, những người đă chịu nhiều mất mát và những người được hoàn cảnh ưu đăi, nói chung là mọi nguyên nhân chia rẽ do điều kiện địa lư, di sản lịch sử và các thành kiến để lại. Để thay thế tâm lư đưọc-thua bằng tâm lư cùng thắng. Để quan niệm quốc gia không phải như một chiến trường mà như một không gian liên đới cho những cố gắng mưu t́m những thành công riêng cho mỗi người trong khuôn khổ một thành công chung cho tất cà.
Một lời trước khi chấm dứt. Tôi đă bỏ qua nước Nam Phi v́ nó không giống những nước châu Phi Da Đen khác. Tuy nhiên cũng có một điều đáng suy nghĩ về quốc gia này. Tại đây thiểu số da trắng trước khi đầu hàng đă áp dụng chính sách phân cách (Apartheid). Họ lùa những người da đen vào những khu tự trị riêng biệt. Đó là một chiến lược để biến những người da đen thành những người ngoại quốc, để biến một vấn đề đối nội thành một vấn đề đối ngoại. Ngày nay cũng có những người Việt nam nói rằng dân tộc Việt nam rất thuần nhất, không hận thù nhau và không có nhu cầu ḥa giải, chỉ có một thiểu số cộng sản phản bội và chống lại dân tộc (hay chỉ có một thiểu số phản động chống lại tổ quốc xă hội chủ nghĩa) cần phải loại bỏ. Cùng một ngôn ngữ, ngôn ngữ Apartheid, muốn biến những người trong nước thành những người ngoại quốc để khỏi phải ḥa giải. Ngôn ngữ này đă bị vất bỏ tại Nam Phi. Nó cũng sẽ phải bị vất bỏ tại Việt nam.

 

Phần 5 Vươn ḿnh lớn dậy
Tổ quốc ăn năn

 

Cuốn sách này đă tự giới hạn ở mức độ thảo luận ư kiến. Tuy vậy trong khi tŕnh bày và phân tích các vấn đề, tác giả cũng đă gợi ư một số giải pháp.
Chúng ta có rất nhiều điều phải làm, nên làm, có thể làm và nếu làm được sẽ mở ra cho đất nước những vận hội rất lớn. Mặt khác chúng ta cũng có những điều nên thôi làm ngay lập tức, và nếu chấm dứt được th́ cũng đă là cả một phúc lớn cho mọi người. Nhưng mọi ư kiến sẽ chỉ là những ư kiến để thảo luận, và mọi đề nghị cũng sẽ chỉ là những đề nghị để đó, chừng nào chúng ta chưa thay thế được chế độ độc tài này bằng một chế độ dân chủ. Và muốn thay đổi được chế độ cực kỳ ngoan cố này chúng ta cần một điều mà chúng ta chưa có và cũng chưa có dấu hiệu nào là sẽ có trong một tương lai nh́n thấy được: đó là một sức bật mới của ḷng yêu nước.
Tinh thần quốc gia dân tộc của chúng ta hiện nay đă xuống rất thấp.
Hiện t́nh của chúng ta là một đảng cầm quyền đă cai trị đất nước một cách thô bạo trong một nửa thế kỷ, đă thất bại trên tất cả mọi phương diện và trong tất cả mọi địa hạt, đă gây vô số tội ác mà không hề gặp một chống đối qui mô nào. Phải nh́n nhận rằng trên thế giới này khó t́m ra một dân tộc bạc nhược như vậy. Mà có phải con người Việt nam bạc nhược đâu. Cũng những con người ấy khi được tổ chức và chỉ huy đă đánh bại quân Tống, quân Nguyễn, quân Thanh, đă từng chiến thắng vẻ vang tại Điện Biên Phủ, đă từng tàn sát lẫn nhau một cách rất dũng cảm tại B́nh Long, Quảng Trị. Khả năng chiến đấu của người Việt nam không ai chối căi. Cũng những con người ấy đă dám chất nhau trên những chiếc thuyền ọp ẹp vượt biển cả t́m cuộc sóng mới. Chúng ta không chống lại không phải v́ chúng ta thiếu can đảm mà v́ chúng ta đă ră hàng. Sự ră hàng đó cho người Việt nam một cảm giác bất lực và làm tê liệt mọi ư chí tranh đấu. Dầu vậy, họ không cố gắng để tái lập lại hàng ngũ v́ họ đă mất niềm tin và hy vọng.
Bạn tôi, một trí thức dân chủ có uy tín ở trong nước từng làm thế giới xúc động khi anh bị bắt giam, nói với tôi là các con anh tốt nghiệp đại học một cách rất xuất sắc nhưng hoàn toàn không biết ǵ về t́nh h́nh Việt nam, chúng không cần biết tên ông tổng bí thư đảng cộng sản, cũng chẳng cần biết ai đang làm thủ tướng, bộ trưởng, v.v... Chúng sống tại Việt nam, nhưng sống ngoài lề mọi biến chuyền. Tôi có khá nhiều bạn trong và ngoài nước cùng theo đuổi lư tưởng dân chủ. Con cái họ nói chung cũng đều như thế cả. T́nh trạng của họ nói chung là bi đát. Họ chỉ là một thiểu số rất nhỏ, cô đơn ngay trong gia đ́nh. Một giải thích thường được đưa ra là người Việt nam đă quá chán chế độ cộng sản và không muốn nghĩ đến nữa. Nhưng giải thích này không ổn v́ người Việt nam cũng không cần biết những ai đang đấu tranh cho dân chủ. Họ không cần biết ǵ hết. Thực ra họ chán ngán tất cả những ǵ liên quan đến chuyện nước non.
Dĩ nhiên đối với dân tộc nào th́ dấn thân chính trị cũng chỉ là sự kiện của một thiểu số. Nhưng khi thiểu số đó không tới một phần trăm thay v́ ở mức năm, mười phần trăm th́ phải nói là không c̣n tinh thần dân tộc. Số người Việt ở hải ngoại trên hai triệu người với gần nửa triệu người có tŕnh độ đại học và một tổng số thu nhập cao hơn tổng sản lượng trong nước. Chỉ cần 10% của khối người này mà biết tranh đấu thông minh để động viên những ước vọng dân chủ trong nước cũng đủ để đánh bại đảng cộng sản. Nhưng thực tế nếu cộng hết những phần tử thực sự dấn thân trong mọi đoàn thề đấu tranh cho dân chủ và nhân quần chúng ta cùng chưa có được hai ngàn, nghĩa là một phần ngàn. Trong khi đó th́ những Thanh Hải Vô Thượng Sư, Lương Si Hằng, Lương Minh Đáng, có thể có hàng chục ngàn, hay hàng trăm ngàn đệ tử. Người Việt có thể hưởng ứng nồng nhiệt những tổ chức nhảm nhí nhưng chỉ dành cho quê hương đất nước một quan tâm nhỏ.
Hàng năm có hàng trăm ngàn người Việt từ nước ngoài về thăm quê hương. Từ 1975 đến nay đă có nhiều triệu chuyến đi về. Chỉ cần một phần trăm những người đi về vừa thăm nhà vừa vận động dân chủ thôi, dù là trong khuôn khổ của một tổ chức hay chỉ ở mức đơ cá nhân, t́nh h́nh Việt nam cũng đă khác. Nhưng tất cả đă về nước mà không mang theo một thông điệp tự do, dân chủ hay nhân quyền nào.
Nếu chỉ cần 10% của cộng đồng người Việt hải ngoại cũng đủ để đánh bại đảng cộng sản th́ một tỷ lệ nhỏ hơn của những người trong nước cũng đủ để buộc đảng cộng sản phải nhượng bộ. Trong ĺnh trạng hiện nay của nó, chế độ cộng sản không dám bắn vào đám biểu t́nh mà cũng không dám bắt giam hàng loạt. Nhưng một người quen tôi nói rằng khi đề cập tới chuyện đất nước th́ người trong nước không muốn nghe. Và anh ta có lư. Tôi đă từng nhờ một số thanh niên, vừa tốt nghiệp đại học và may mắn t́m được một chỗ thực tập khá dài hạn tại Việt nam quan sát, làm quen và t́m hiểu tuổi trẻ trong nước. Tất cả cho lôi một câu trả lời giống nhau: họ không gặp ai quan tâm tới chính trị cả, tuổi trẻ trong nước chỉ có một mục đích là kiếm tiền và ăn chơi. Không phải v́ lư do an ninh, Việt nam đă thay đổi khá nhiều so với mười năm về trước; việc bàn chuyện chính trị, ngay cả đă kích đích danh và thậm tệ những lănh tụ cộng sản cũng không c̣n là một nguy hiểm nữa, chính quyền chỉ đàn áp những tiếng nói có uy tín và nhưng dự định kết hợp thành tổ chức thôi. Người Việt không muốn nói và không muốn nghe chuyện đất nước chỉ v́ không muốn chứ không phải v́ không dám.
Cũng không phải v́ không có vấn đề. Ai cũng có vấn đề cả. Người ta thù ghét sự tham nhũng và những đặc quyền đặc lợi. Người ta chán ngấy những báo và đài của đảng quanh năm nói lấy được, những ông lănh đạo đảng và nhà nước lúc nào cũng huênh hoang là được sự hưởng ứng nồng nhiệt của toàn dân. Người ta tức đến lộn ruột khi nh́n những phần tử quyền theo mánh mung phô trương sự giàu có. Người ta chịu đựng hàng ngày, hàng giờ sự bực bội của quan liêu bàn giấy, trộm cướp, măi dâm, bụi bặm, hôi thói, kẹt xe. Người ta c̣n có thể căm thù v́ chính sách phân biệt đối xử đối với ḿnh hay đối với con cái ḿnh tại trường học, sở làm. Người ta khổ v́ nghèo túng. Và trong thâm tâm người ta đều biết tất cả là hậu quả của chế độ và chỉ có thể chấm dứt cùng với chế độ. Nhưng người ta không phản ứng bởi v́ trong vô thức người ta đă lấy quyết định gạt bỏ đất nước ra khỏi đời ḿnh. Dân chủ, tự do cho không th́ lấy chứ nhổ một sợi lông chân cho đất nước cũng không làm. Mỗi người chỉ lo giải quyết những vấn đề cá nhân của ḿnh bằng những giải pháp cá nhân. Chúng ta không c̣n suy nghĩ chung, phản xạ tập thể và tinh thần quốc gia dân tộc. Đa số người Việt đă quay lưng lại với đất nước. Vấn đề cấp bách hiện nay là ḥa giải người Việt nam với đất nước Việt nam.
Cuối năm 1982, vài ngày trước khi xuất ngoại đi Pháp, tôi rủ một người bạn đi uống cà phê. Buổi chia tay nào cũng buồn. Chúng tôi nói chuyện trời đất loanh quanh chỉ để ngồi với nhau. Rồi có một lúc không hiểu v́ lư do ǵ tôi nói đến hai tiếng yêu nước. Bạn tôi, một nhà tư tưởng lớn, nói một cách vừa mỉa mai vừa chua xót:
- Hai tiếng yêu nước bây giờ đă trở thành tục tĩu!
Sau câu nói đó cả hai chúng tôi đều im lặng, mỗi người theo một mạch suy nghĩ.
Bạn tôi nói đúng. Vào thời điểm đó, và ngay cả sau đó, hai tiếng yêu nước thật là thô bỉ. Mỗi lần chúng xuất hiện ở đâu, chúng đều có tác dụng nhảm nhí hóa, nhiều khi làm ngược hẳn ư nghĩa của khái niệm mà chúng đi kèm. Trí Thức Yêu Nước là hội của những người có học thức nhưng đă chấp nhận từ bỏ tư duy của chính ḿnh để nói vuốt đuôi theo lập trường của đảng, nghĩa là những người không c̣n là trí thức. Công Giáo Yêu Nước, Phật Giáo Yêu Nước, là tổ chức của những người ủng hộ chính sách đàn áp và bôi nhọ tôn giáo, nói cách khác là những người đă phản bội tôn giáo của ḿnh. Hai tiếng yêu nước sau cùng đă nhảm nhí đến độ chính đảng cộng sản cũng không c̣n đủ trơ trẽn để dùng nữa.
Phải khách quan mà nh́n nhận rằng đảng cộng sản đă hủy diệt ḷng yêu nước một cách rất có hệ thống. Họ nổi lên lúc đầu như một phong trào vô tổ quốc, lấy giai cấp vô sản trên toàn thế giới làm đối tượng phục vụ, kêu gọi hận thù giai cấp và tiêu diệt lẫn nhau giữa người Việt. Sau đó, t́nh cờ (?) trùng hợp với lúc Stalin đưa ra chủ thuyết xây dựng chủ nghĩa xă hội trong từng quốc gia họ mới quay lại sử dụng chiêu bài dân tộc, nhưng lại nhân danh tổ quốc để tàn sát những người không chấp nhận chủ nghĩa của họ. Tổ quốc trở thành đao phủ. Những người địa chủ và tư sản không những bị ruồng bỏ mà c̣n bị coi là thù địch và bị tàn sát. rồi cũng nhân danh tổ quốc họ phát động cuộc chiến thôn tính miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt quệ. Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc.
Toàn thắng rồi, tổ quốc xă hội chủ nghĩa quên phắt cam kết thực hiện ḥa giải và ḥa hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cỗ con cái ngụy quân, ngụy quyền ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không c̣n chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của ḿnh. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội v́ hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tồ quốc đểu cáng và lật lọng.
Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi t́m được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ văng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ư, người dân phải chịu đựng hết. V́ tổ quốc có súng.
Tổ quốc của phe quốc gia chắc chắn không hiểm độc bằng tổ quốc xă hội chủ nghĩa, nhưng cũng không kém phần nhảm nhí. Từ ngày thành lập năm 1948 (trên một chiến hạm Pháp), chế độ quốc gia chưa bao giờ coi ḷng yêu nước có một giá trị ǵ. Chính quyền luôn luôn nằm trong tay những người hoặc không có một ư thức nào về quốc gia dân tộc, hoặc đă từng làm việc cho chính quyền thuộc địa Pháp, thường thường là cả hai. Ḷng yêu nước và ư thức dân tộc hoàn toàn vắng mặt trong những tiêu chuẩn được dùng để chọn lựa nhân sự, ngay cả ở những cấp cao nhất. Không những không được trọng nể, những người yêu nước c̣n bị ngờ vực và chèn ép. Mẫu người tốt của các chính quyền quốc gia là mẫu người không thắc mắc và quan tâm ǵ đến chính trị. Chính nghĩa quốc gia chỉ đơn thuần là chống cộng. Quân đội được tổ chức như một quân đội chuyên nghiệp, nhưng lại không chuyên nghiệp đúng nghĩa bởi v́ phần lớn các tướng lĩnh chỉ là những trung úy, đại úy trong quân đội Pháp và lên lon do bè cánh chứ không phải v́ khả năng. Chiến tranh tâm lư chủ yếu là tổ chức những buổi văn nghệ giải trí cho quân đội. Trong bài diễn văn cuối cùng để từ chức của ông, sau tám năm cầm quyền trong đó ông đă làm nản ḷng mọi người và cuối cùng thất bại thê thảm trước cuộc tổng tấn công của quân cộng sản, ông tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qui trách Mỹ bằng một lập luận độc đáo: Trước đây người Mỹ bỏ ra trên 20 tỷ đô la môi năm, nay họ chỉ cấp cho tôi chưa đầy một tỷ th́ tôi chỉ đánh được hai tuần. Trong thâm tâm chắc chắn ông đang nghĩ ông đánh giặc cho người Mỹ. Công bằng mà nói, do chính sự lỏng lẻo và xô bồ của nó, chế độ miền Nam cũng đă cho phép một số người có khả năng và thiện chí lên đến được những cấp bậc khá cao (cũng như họ đă để cho cán bộ cộng sản lọt vào chức cố vấn tổng thống hoặc lên đến cấp tướng), nhưng con số những người này quá ít ỏi và cũng chưa ai trong bọn họ có được vai tṛ quyết định. Tổ quốc của phe quốc gia vẫn chỉ là những ông bà lớn bảnh bao thỏa măn, là những giấy phép nhập cảng, là những trương mục ngân hàng. Đó cũng là những đợt bắt quân dịch, nhưng thương phế binh đi ăn xin ngoài đường nếu thấp cổ bé miệng, hay đi cắm dùi chiếm đất nếu láo bạo hơn và có băng đảng. Là những người mẹ, người vợ xanh xao thiếu đói chầu chực để lănh tiền tử tuất của chồng con.
Tôi đă có mặt tại Việt nam trong hai năm cuối của cuộc chiến. Trước khi về nước tôi đă biết là tương lai miền Nam rất hiểm nghèo, mười phần thua chỉ có một phần thắng; nhưng chỉ vài ngày sau đó tôi hiểu ngay là chế độ Việt nam Cộng Ḥa chắc chắn sẽ sụp đổ. Chính nghĩa quốc gia đă mất hết nội dung. Đa số quần chúng vẫn ghét và sợ cộng sản, nhưng không c̣n ai nghĩ đến đất nước. Các anh em họ của tôi ở Hố Nai đều là lính kiểng lính ma. Họ vui mừng v́ gia đ́nh đă chạy được tiền mua một chỗ lính văn pḥng xa trận mạc. Một người em họ tôi là hạ sĩ quan không quân, hắn khoe rằng vào không quân như hắn là trước ngực đeo một chữ thọ, sau lưng đeo một chữ nhàn. Hố Nai là vùng của người di cư từ miền Bắc vào đó là những người chống cộng kịch liệt nhất và gan dạ nhất. Các bà mẹ chạy tiền mua chỗ lính kiểng cho con cũng chính là những bà vợ trước năm 1955 đă cùng với chồng lăn xả vào cận chiến với quân cộng sản để bảo vệ các làng tề công giáo.
Một bạn học cũ của tôi là thiếu lá tiểu đoàn phó Dù. Câu đầu tiên han hỏi tôi là: Sao mày ngu thế, thua đến nơi rồi c̣n đâm đầu về làm ǵ nữa?. Tuy vậy hắn và đơn vị của hắn vẫn chiến đấu dũng cảm cho tới giờ phút chót. Hắn chiến đấu không phải v́ ḷng tin mà v́ danh dự cá nhân. Nhiều người khác đă đặt cho tôi câu hỏi tương tự và khi tôi trả lời là đă biết trước miền Nam rất có thể sẽ thua nhưng vẫn về th́ họ rất ngạc nhiên. Họ không thể tưởng tượng được là có thể có một người v́ đất nước mà liều lĩnh đến thế. Nếu được đề nghị đi làm tùy viên quân sự ở nước ngoài th́ chắc chắn không tướng tá nào từ chối. ư chí chiến đấu của miền Nam vào lúc đó đă hoàn toàn sụp đổ.
Tổ quốc của phe cộng sản là một tổ quốc gian ác, trong khi tổ quốc của các chính quyền quốc gia là một tổ quốc tầm phào. Mặc dầu vậy, hai cái tổ quốc đó đă làm chết gần bốn triệu người trong một cuộc chiến kéo dài gần ba mươi năm. Trong số những người nằm xuống ở cả hai bên đă có những con người thực sự dũng cảm và thực sự yêu nước, nhiều người đă bị kết tội phản quốc và bị hạ sát.
Một số độc giả đọc tới đây có thể giận dữ v́ tác giả đă ăn nói một cách hàm hồ. Quí vị có thể cho là tôi đă xúc phạm khi lẫn lộn các nhà nước, hay các chính quyền, với tổ quốc. Các chính quyền chỉ là những tập đoàn nhất thời, có thể tàn ác và thô bỉ, nhưng tổ quốc là vĩnh cửu, cao cả, thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nhưng thưa quí vị, ở bất cứ lúc nào chính quyền tuy không phải là tổ quốc cũng là người đại diện chính thức của tổ quốc. Người dân có thể cảm nhận về tổ quốc thế nào tuỳ ư, nhưng họ chỉ tiếp xúc thực sự với tổ quốc qua các chính quyền. Nếu trong một thời gian rất dài mà tổ quốc chỉ có những người đại diện gian ác và thô bỉ th́ phải nói rằng chính tổ quốc có vấn đề. Sự chán nản kéo dài quá lâu với các chính quyền chắc chắn sẽ biến thành sự chán nản đối với chính đất nước. Nếu phần nỗi của lư trí không cho phép ta nh́n nhận sự thực đó, th́ tiềm thức và trái tim của chúng ta cũng đă nghĩ như vậy và đôi chân của chúng ta đă làm như vậy, hoặc muốn làm như vậy Không phải ai bỏ nước ra đi từ 1975 cũng là ra đi để chuẩn bị cho ngày trở lại, trái lại đại đa số đă ra đi để vĩnh viễn t́m cho ḿnh và cho con cháu một quê hương mới và một quốc tịch mới. Mộng ước của rất nhiều người Việt nam trong nước ngày nay cũng chỉ giản dị là được rời khỏi Việt nam và làm công dân một nước khác. Có nhưng bạn tôi nói một cách rất quả quyết rằng trong bất cứ trường hợp nào và bất kể trong thời gian bao lâu cũng phải phân biệt tổ quốc với người cầm quyền; tổ quốc là vô h́nh, là cao cả, thiêng liêng, bất khả xâm phạm, chúng ta chỉ có bổn phận phải phụng thờ chứ không bao giờ có quyền oán trách. Như thế phải chăng chỉ có người dân có bổn phận với tổ quốc chứ tổ quốc không hề có một trách nhiệm nào đối với người dân? Trong một trang trước trước tôi đă nhắc đến chuyện người Phénicien ở thời tiền sử có tục lệ giết con tế thần Hammon, nhưng ít ra họ cũng được quyền mong đợi Hammon sẽ đem lại cho họ chiến thắng và sự thịnh vượng. Cái tổ quốc hoàn toàn vô trách nhiệm này c̣n cay nghiệt hơn cả Hammon. Như thế th́ tổ quốc có lợi ǵ cho đời ta và ta có lư do ǵ, ngoài một sự u mê, để gắn bó với tổ quốc? Tốt hơn hết là ta đừng có tổ quốc, hay đi t́m một tổ quốc khác. Đó chính là điều nhiều người đă làm, hoặc đang muốn làm mà không nói ra. Có cộng đồng di dân nào mất căn cước dân tộc nhanh chóng cho bằng cộng đồng người Việt tị nạn? Trong vài thập niên nữa sẽ rất khó gặp được một người Việt c̣n viết và đọc được tiếng Việt tại Mỹ và tại Pháp.
Khái niệm về tổ quốc và ḷng yêu nước của chúng ta rất đặc biệt, khác với hầu hết các dân tộc tiên tiến. Tổ quốc của họ gần gũi và cụ thể hơn tổ quốc của chúng ta. Sự kiện này có một giải thích: quốc gia và ḷng yêu nước là những ư niệm rất mới đối với chúng ta. Đây cũng là một điểm có thể gây tranh luận rát gay gắt. Chúng ta có một lịch sử dựng nước khá dài, ít ra cũng trên hai ngàn năm, và chúng ta đă độc lập từ mười thế kỷ nay. Lịch sử ta cũng không thiếu những chiến công mở nước và dựng nước oai hùng. Vậy th́ quả là một nghịch lư khi nói rằng chúng ta chỉ mới biết đến quốc gia và ḷng yêu nước gần đây thôi.
Nhưng có những điều có vẻ nghịch lư mà vẫn đúng, nếu nh́n một cách khác.
Thực ra ḷng yêu nước mới chỉ xuất hiện ở nước ta từ đầu thế kỷ 20 này thôi. Trước đó trong ngôn ngữ ta không hề có hai tiếng yêu nước hay ái quốc, chúng ta chỉ biết có vua và khái niệm trung quân (trung thành với vua). Ḷng yêu nước khi xuất hiện đă có vẻ rất ngộ nghĩnh đối với dân ta. Những người đầu tiên bày tỏ quan tâm với đất nước và dân tộc được gọi là những nhà ái quốc. Các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Ngọc Quyến v.v... là những nhà ái quốc. Ông Hồ Chí Minh lấy tên là Nguyễn ái Quốc. Nếu ai cũng yêu nước cả th́ làm ǵ có những người nổi bật như những nhà ái quốc? Yêu nước vào đầu thế kỷ này như vậy phải là một điều lạ và một ngoại lệ.
Chúng ta được nhào nặn bởi văn hóa Khổng Giáo và, như đă nói ở một phần trước, văn hóa Khổng Giáo không có tổ quốc. Nước chỉ là một tài sản riêng của nhà vua, những người dân trong nước chỉ là những nô lệ của vua. Những người nô lệ không có bất cứ một quyền lợi nào và do đó cũng không có bất cứ một trách nhiệm nào. Họ chỉ phục tùng bạo lực mà thôi. Họ đă được đạo đức Khổng Giáo nhồi sọ trong hàng ngàn năm là phải biết ơn vua, tôn thờ vua và tuyệt đối phục tùng vua, và họ đă chấp nhận như một định mệnh. Nhưng nếu có kẻ nào khác giết vua và lên cầm quyền, họ cũng sẽ phục tùng vua mới như vậy. Họ không có tiếng nói và do đó cũng không có ư thức ǵ về đất nước. Vũ trụ của họ chỉ là gia đ́nh. Nước non xa xôi ngh́n dặm. Làng nước là thế giới bên ngoài. Đất nước chỉ là đất và nước. Họ quyến luyến với mảnh đất chứa đựng hài cốt tổ tiên họ, như một t́nh cảm tự nhiên ràng buộc con người với môi trường quen thuộc. T́nh cảm này tuy là một thành tố thực sự của ḷng yêu nước nhưng không thể đồng hóa với ḷng yêu nước, một gắn bó tự nguyện và trách nhiệm đối với cộng đồng quốc gia. Ông cha chúng ta không chờ đợi một phúc lợi nào từ một chính quyền hoàn toàn không phải của họ; trái lại họ phải đóng sưu thuế, phải đi lính và cũng có thể bị giết oan. Nhà nước chỉ là gánh nặng mà số phận nô lệ bắt họ phải chịu đựng, họ không có quyền đ̣i hỏi ǵ ở nhà nước. Cái ư niệm tổ quốc cao cả, thiêng liêng, không trách nhiệm và không thể trách cứ không ǵ khác hơn là di sản của tâm lư nô lệ. T́nh trạng này không phải là đặc thù của Việt nam mà là của chung của các xă hội Khổng Giáo.
Chúng ta chỉ mới khám phá ra ư thức quốc gia và ḷng yêu nước của chúng ta gần đây thôi. Điều không may cho chúng ta là ngay khi ư niệm quốc gia vừa xuất hiện, nó đă bị lấn át bởi ư thức hệ cộng sản, một ư thức hệ quốc tế chủ trương xóa bỏ không gian quốc gia để tiến thảng tới xây dựng một thế giơi đại đồng. Điều không may khác là, cũng như mọi ư niệm chính trị phương Tây được du nhập vào nước ta, ư niệm quốc gia và dân tộc đă chỉ được tiếp thu một cách hời hợt, qua lăng kính Khổng Giáo truyền thống, do đó ư niệm quốc gia vừa mới ra đời đă bị thiêng liêng hóa, rồi trở thành xa cách với người dân, một món nợ (nợ nưóc) hơn là một phúc lợi, một gánh nạng hơn là một may mắn. Tổ quốc thay thế cho thiên tử và cũng dễ sợ như thiên tử.
Sau đó nhưng cuộc chiến đẫm máu, những đọa đầy, đổ vỡ và thất vọng đă bóp nghẹt ḷng yêu nước sơ sinh. Sự thiếu vắng của ḷng yêu nước, và cái hệ luận tự nhiên của nó là tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, đă là nguyên nhân chính của khổ đâu gần đây và bế tắc hiện nay. Tôi biết hai kư giả Pháp khá nổi tiếng. Họ không phải là những nhà văn nhà báo lớn nhất của nước Pháp, nhưng tŕnh độ nhận thức của họ cao hơn hầu hết các chính trị gia Việt nam. Đặc điểm chung của họ là rất tha thiết đối với đất nước và con người Việt nam, do đó họ hiểu biết đất nước Việt nam hơn hẳn các chuyên gia về Việt nam khác.
Một người là Pierre d Harcourt. Tôi đă gặp và thảo luận với Pierre d Harcourt suốt một ngày năm 1966. Lúc đó tôi c̣n là một sinh viên trong khi ông đă là một kư giả nổi tiếng. Sau đó tôi gặp lại ông ta trong vài cuộc thảo luận về Việt nam nhưng chỉ đủ th́ giờ để chào hỏi. Tôi không thể nói là thân với d Harcourt, nhưng tôi vẫn theo dơi và biết những việc ông làm. Ông viết nhiều bài báo bênh vực Việt nam Cộng Ḥa thời chiến tranh, ông cũng từng tranh luận nhiều trên các đài phát thanh, truyền h́nh và tại các buổi mít tinh. Lần nào ông cũng tỏ ra sắc bén, lấn áp đối phương với những lập luận chính xác và đầy đủ dư kiện. Phải hiểu rằng ở vào thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, khi chủ nghĩa cộng sản đang lên đến đỉnh cao của sự ngưỡng mộ và Đảng cộng Sản Việt nam được coi như lương tâm của thế giới, chọn lựa ủng hộ miền Nam, với những bê bối của các tướng lănh được rêu rao và khuếch đại hằng ngày, là một chọn lựa rất can đảm của một người có lư tưởng. Sau năm 1975 Pierre d Harcoun có viết một cuốn sách với một tít đầy ư nghĩa Vietnam, quas-tu-fail de tes fils? (Việt nam, Ngươi Đă Làm Ǵ Với Các Con Của Ngươi trong đó ông chất vấn đất nước Việt nam về những ngược đăi mà người dân Việt nam đă phải chịu đựng. Ông đánh giá cao con người Việt nam và cho rằng đất nước Việt nam đă phí phạm tài nguyên rất lớn nằm trong con người Việt nam v́ đối xử tệ bạc đối với con dân của ḿnh. Dù chống cộng kịch liệt, Pierre d Harcourt đă không đổ lỗi riêng cho đảng cộng sản mà trách cứ cả đất nước Việt nam. Ông là một người phương Tây, và người phương Tây không coi tồ quốc là cao cả tuyệt đối đến nỗi không thể bị chất ván
Sau năm 1975 Pierre d Harcourt vẫn tiếp tục bênh vực chế độ Việt nam Cộng Ḥa và công kích chế độ cộng sản. Ông cũng đă hoạt động nhiều dề bênh vực những người tị nạn, kể cả đóng góp nhằm xây dựng một lực lượng đối lập hải ngoại. Không may, ông đă chỉ gặp phải những người không tốt, rồi đi đến kết luận là người Việt nam không thực sự yêu nước. Tuổi già và sự thất vọng cuối cùng đă khiến ông bỏ cuộc.
Michel Tauriac th́ tôi quen rất thân. Ông đă phỏng vấn tôi nhiều lần trên các đài truyền h́nh và phát thanh Pháp, rồi chúng tôi trở thành thân quen và gọi nhau bầng tu, toi (mày, tao) mặc dầu ông lớn hơn tôi gần hai mươi tuổi. Tauriac viết vô số bài và phóng sự về Việt nam, ông cũng là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết với các nhân vật chính là người Việt. Tauriac hoạt động chính trị khá tích cực, đă từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành truyền thông, và cũng làm cố vấn cho Jacques Chirac về các vấn đề Việt nam khi Chirac c̣n là chủ tịch đảng RPR (Tập Hợp Cộng Ḥa) và thủ tướng Pháp.
Tauriac quả thật là hết ḷng với Việt nam, ông làm tất cả những ǵ có thể làm cho Việt nam và h́nh như không bao giờ biết chán nản là ǵ. Trong tháng 8-1999, khi Nguyễn Mạnh Hùng, giáo sư tại trường đại học George Mason mà Tauriac từng quen biết và đă từng thăm viếng tại Washington DC, ghé Paris để tham dự một hội thảo quốc tế, Tauriac đă mời Nguyễn Mạnh Hùng và tôi dùng cơm tối. Trong câu chuyện, có lúc ông buột miệng than: chế độ cộng sản Việt nam chẳng mạnh ǵ, vấn đề là người Việt nam không có ư chí tranh đấu ǵ cả, người ta có cảm tưởng đó là một đàn cừu. Phải thân t́nh làm Tauriac mới dám tự cho phép nói câu đó v́ b́nh thường ông là người rất nhă nhặn. Th́ ra ông cũng thất vọng. Cả Nguyễn Mạnh Hùng và tôi đều ngượng, nhưng đó là một sự thực mà chúng tôi không thể phản đối. ư chí tranh đấu của chúng ta c̣n kém cả các dân tộc châu Phi, chưa nói châu Mỹ La Tinh. ở bất cứ một nước nào khác, chắc chắn một chế độ như chế dộ cộng sản Việt nam không thể yên ổn như thế. Tôi chỉ biết giải thích cho Tauriac rằng người Việt nam không hèn nhát, vấn đề là họ đă quá thất vọng với đất nước Việt nam và đă mất đi ḷng yêu nước. Một lần nữa tôi nghĩ rằng cần ḥa giải người Việt với đất nước ḿnh.
Một người có lư do nào để yêu nước?
Người ta có thể yêu nước v́ quyền lợi. Đất nước là trật tự an ninh, là công lư, là công ăn việc làm, là an sinh xă hội, là sự bảo vệ khi di chuyển trên thế giới. Nhưng tổ quốc Việt nam lại chỉ là một de dọa và một gánh nặng. Người dân có thể bị bắt giam, quản chế, tịch thu tài sản một cách tùy tiện. Họ phải đóng thuế, đút lót, hối lộ cho quan chức nhà nước mà không được chờ đợi ở nhà nước một quyền lợi nào cả, ngay cả quyền phát biểu ư kiến của ḿnh. Người ta có thể yêu nước v́ một niềm hănh diện. Người Mỹ hănh diện v́ là công dân của siêu cường số một thế giới. Người Pháp, người Anh, người Đức và mọi người Tây Âu hănh diện v́ sự giàu có và những đóng góp to lớn về văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật của nước họ cho nhân loại. Người Việt nam chỉ có thể tủi hổ v́ sự thua kém bi đát trên mọi phương diện của đất nước ḿnh. Thỉnh thoảng cũng có những người chưa giác ngộ cố gắng để tự hào rằng chúng ta đă đánh thắng Pháp, thắng Mỹ, v.v... Nhưng niềm tự hào đó chỉ có tác dụng khiến cho chúng ta trở thành quê kệch trong một thế giới văn minh ghê tởm tất cả những ǵ liên quan tới bạo lực; hơn nữa nó c̣n xoáy vào một vết thương trên cơ thể dân tộc mà chúng ta cần quên đi.
Người ta cũng có thể yêu đất nước v́ lư do giản dị là đó là đất nước của ḿnh, như một người có thể yêu đứa con của ḿnh không phải v́ nó tài giỏi, thông minh hay giàu có, mà chỉ v́ nó là con ḿnh. Nhưng đất nước Việt nam cũng không c̣n là của người Việt nam. Nó đă bị chiếm đoạt làm của riêng của đảng cộng sản. Những công dân nào dám nói đất nước phải như thế này, thế kia mới khá có thể bị bỏ tù nếu những điều họ nói không giống như đảng muốn họ nói. Mà đảng cộng sản cũng không phải là của hai triệu đảng viên cộng sản. Những đảng viên, ngay cả các đảng viên cao cấp, cũng không tự do hơn người khác, có khi c̣n bị trói buộc hơn, càng cao cấp lại càng phải phục tùng đảng hơn trong lời nói và hành động. Đảng là một cái ǵ đó rất vô h́nh v́ không là ai cả, nhưng lại rất cụ thể như công an, ṭa án và nhà tù. Đất nước không c̣n là của ai cả, dù cộng sản hay không cộng sản. Vậy th́ ai có lư do để yêu nước? Người ta cũng có thể yêu nước v́ được đào tạo bởi một văn hóa yêu nước. Nhưng trong cả hàng ngàn năm chúng ta đă chỉ được đào tạo bởi văn hóa Khổng Giáo, một thứ văn hóa vô tổ quốc, dạy người dân thờ chủ chứ không yêu nước. Thực ra đó cũng không phải là một văn hóa đúng nghĩa mà chỉ là sự nhồi sọ có mục đích huấn luyện những kẻ nô lệ phục tùng chủ nhân một cách không thắc mắc. Người Việt nam không có lư do ǵ để yêu nước cho tới thế kỷ 20. Và sau đó họ được nhồi sọ là phải yêu nước vô điều kiện. Ngôn ngữ của tổ Quốc Việt nam đối với người dân là mày phải yêu tao và phục tùng tao tuyệt đối, c̣n tao không có bất cứ bổn phận nào đối với mày cả. Tổ quốc xấc xược và thô bạo. Không có ǵ ngạc nhiên nếu người Việt nam không yêu nước, ngay cả khi họ không dám thú nhận là không yêu nước. Không có ǵ ngạc nhiên khi rất nhiều người sẵn sàng từ bỏ tất cả để ra đi chạy trốn nanh vuốt của tổ quốc. Nhiều người, trong đó có chính tác giả cuốn sách này, đă từng dự đoán sự sụp đổ của chế độ cộng sản. Những dự đoán này đều đúng cả nhưng đă không xảy ra. Chúng ta dự đoán rằng đảng cộng sản sẽ mất hết chỗ dựa quần chúng, lư tưởng cộng sản trở thành lố bịch, khó khăn chồng chất, áp lực thế giới và trong nước lên đến mức ngột ngạt, nội bộ đảng và nhà nước phân hóa, v.v... Tất cả những dự đoán này đều đúng cả, nhưng chế độ vẫn không sụp đổ v́ lư do giản dị là nó không gặp một sự chống đối đáng kể nào cả. Ngay cả khi nó có ngă gục trên chính quyền đi nữa, và trên thực tế có thể coi là nó đă ngă gục trên chính quyền, th́ vẫn cần một sức mạnh nào đó để kéo cái thi thể đó đi chỗ khác.
Nhưng sức mạnh này chúng ta lại không có. Sai lầm khổng lồ của nhiều tổ chức chống cộng là đă chỉ dồn cố gắng để cô lập và tảy chay chế độ, trước đây chủ trương không gởi tiền giúp đỡ thân nhân, không du lịch Việt Cộng, không đầu tư vào Việt nam, sau đó vận động để Hoa Kỳ đừng bỏ cấm vận, đừng thiết lập quan hê ngoại giao, đừng hợp tác thương mại, đừng cho chế độ cộng sản hưởng qui chế quan hệ thương mại b́nh thường, v.v..~ Mục tiêu của những cố gắng này là nhằm làm dân chúng căm thù chế độ và làm chế độ gặp thêm khó khăn. Nhưng dân chúng đă căm thù chế độ vô cùng rồi và chế độ cũng đă chao đảo lắm rồi, nói cách khác mục tiêu đă đạt được từ lâu rồi. Cái thiếu là một kết hợp trên ư chí đổi đời và kết hợp này chỉ có một ḷng yêu nước thực sự mới có thể mang lại.
Nhiều người không nh́n thấy rằng ch́a khóa của lối thoát là ḷng yêu nước. Nếu thực sự yêu nước th́ người ta đều thấy ngay sự cần thiết của một tập hợp dân tộc mới và đă làm tất cả cố gắng và hy sinh để tập hợp này ra đời, người ta đă thực tâm đi t́m kiếm những người có tâm huyết và khả năng để kết nghĩa, đă hăng hái tham gia các tổ chức đấu tranh, đă sẵn sàng hy sinh tư kiến và ḷng tự ái để tổ chức được bèn vững và phát triển, đă mong mỏi sát nhập tổ chức của ḿnh với các tổ chức khác để h́nh thành một tổ chức lớn hơn. Người ta cũng sẽ rất phẫn nộ với nhưng phần tử bịp bợm, gian trá, phá hoại, v.v... Và một mặt trận dân chủ có tầm vóc đă h́nh thành từ lâu rồi. Nhưng thực tế đă trái hẳn. Tôi đă chứng kiến hnhiều tổ chức, chính trị cũng như cộng đồng, được xây dựng bằng rất nhiều công sức mà rồi tan vỡ chỉ v́ những xích mích cá nhân rất nhỏ mọn. Tôi cũng đă chứng kiến những tổ chức thiếu cả về lư luận, nhân sự lẫn phương tiện nhưng không hề có ư định sát nhập vào một tổ chức nào lớn hơn để rồi tàn lụi dần đi. Và hàng ngày tôi vẫn thấy những khuôn mặt mà mọi người đều biết là hời hợt, cải lương, giả dối hay những tổ chức đă lộ rơ chân tướng là thiếu lương thiện vần tiếp tục hiện diện mà không bị lên án. Khi người ta không cần phân biệt phải trái, đúng sai, tốt xấu là người ta thực sự không quan tâm.
Đất nước sẽ đi về đâu?
Chúng ta thấy rơ là đất nước sẽ không ra khỏi được t́nh trạng bế tắc hiện nay, trừ trường hợp đảng cộng sản dám lấy một quyết định thực táo bạo là tự ư chuyển hóa thực sự về dân chủ. Nhưng không có dấu hiệu ǵ là họ có đủ dũng cảm đê lấy quyết định này, trái lại chỉ có những dấu hiệu ngược lại. Mặt khác, sự thay đổi đơn phương này không phải là không có nhưng rủi ro. Một chính sách cởi mở không chuẩn bị hoặc không lương thiện rất có thể sẽ chỉ làm bùng nổ những căm thù đă quá lớn và quá chồng chất, đưa đất nước vào t́nh trạng hỗn loạn. Để thay đổi, đảng cộng sản cần một đồng minh khách quan: một lực lượng dân chủ có hậu thuẫn quần chúng và thực sự muốn dân chủ hóa đất nước trong ḥa b́nh và trong tinh thần ḥa giải dân tộc. Nhưng lực lượng này chưa h́nh thành được v́ một mặt người Việt nam không c̣n đủ ư chí để kết hợp, và mặt khác, do một sự mù quáng khó tưởng tượng, chế độ cộng sản đang dồn mọi cố gắng để ngăn cản sự h́nh thành của mọi đối lập ôn ḥa. Chúng ta bế tắc
Như thế, với t́nh trạng này, chế độ sẽ ngày một yếu đi, tiếp tục ruỗng nát thêm từ bên trong, trong khi xă hội càng ngày càng phân hóa và suy sụp, cho tới một lúc mà chính quyền trở nên rỗng tuếch và không kiểm soát được t́nh thế nữa v́ không c̣n phương tiện để cai trị bằng bạo lực. Bất ổn và bạo loạn sẽ xảy ra khắp nơi, nhiều vùng sẽ không c̣n an ninh, trật tự và luật pháp. Lúc đó tất cả có thể xảy ra.
Đừng nên để lịch sử lặp lại một lần nữa. Chúng ta đă có một kinh nghiệm bi đát. Năm 1533, người giáo sĩ Thiên Chúa Giáo đầu tiên tới Việt nam giảng đạo. Từ đó giao thiệp với phương Tây ngày càng gia tăng, và tư tưởng phương Tây cũng đến cùng với hàng hóa. Tới cuối thế kỷ 17 đă có khoảng 10% dân chúng theo đạo Công Giáo, ảnh hưởng của tư tưởng Thiên Chúa Giáo nói riêng và tư tưởng phương Tây nói chung đă khá phổ biến trong dân chúng. Khổng Giáo, nền tảng của chế độ quân quyền, đă lung lay không c̣n đảm bảo được sự chính đáng của chế độ nữa. Tuy vậy, cả họ Nguyễn ở Đàng Trong lẫn họ Trịnh ở Đàng Ngoài đầu không ư thức được sự chuyển hóa không thể đảo ngược được của xă hội mà họ đang cai trị. càng chao đảo họ càng đàn áp, càng đàn áp họ càng làm cho xă hội tan nát thêm và chế độ của họ yếu thêm v́ mất cả ḷng dân lẫn sự chính đáng. Cả hai chế độ Trịnh Nguyễn đều mất dần nội dung và thực lực. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí mô tả một xă hội miền Bắc tan ră: chính quyền chỉ c̣n là cái vỏ rỗng, thiếu cả ngân khố lẫn quân đội. Quan triều đ́nh ra đường bị dân chặn lại trấn lột ngay giữa kinh thành, dân chúng ai có sức khỏe th́ đi ăn cướp. ở Đàng Trong, họ Nguyễn cũng không khá hơn, trộm cướp c̣n nhiều hơn và có tổ chức hơn theo những ghi chép của các giáo sĩ và thương nhân phương Tây. Và cả trong Nam cũng như ngoài Bắc không có một lực lượng canh tân đứng đắn nào ra đời. Thế rồi triều Nguyễn sụp đổ v́ Trương Phúc Loan chuyên quyền và triều Trịnh sụp đổ v́ loạn kiêu binh của đám lính Tam Phủ. Nhưng Trương Phúc Loan cũng như bọn lính Tam Phủ chỉ là những giọt nước cuối cùng làm tràn một b́nh đă đầy, hay một cơn gió nhẹ làm rụng một chiếc lá đă khô. Tất cả chỉ là biến cố ngẫu nhiên nhưng tất yếu của một quá tŕnh phân ră. Không có Trương Phúc Loan này th́ cũng sẽ có một Trương Phúc Loan khác, không có kiêu binh Tam Phủ th́ cũng có kiêu binh khác, v́ lư do căn bản là chính quyền đă mất căn bản chính đáng và quá yếu. Trong t́nh huống đó tất cả đều có thể xảy ra, dù không có ǵ có thể dự báo được
Trong sự thiếu vắng của một lực lượng chính trị đúng đắn, sự suy yếu của cả hai chế độ Trịnh, Nguyễn cuối cùng đă chỉ để lại một khoảng trống quyền lực và một xă hội tan ră. Đảng cướp Tây Sơn, một đảng cướp thuần túy, không có bất cứ một dự án chính trị nào, đă cướp được chính quyền nhờ mưu lược và gan dạ. Họ đă cai trị đất nước một cách tàn bạo, để rồi cũng bị tiêu diệt một cách tàn bạo sau một cuộc nội chiến đẫm máu. Chúng ta biết những ǵ đă xảy ra sau đó: nước Việt nam kiệt quệ và đă thất bại dễ dàng trong cuộc xâm lăng của một đạo quân Pháp ít ỏi.
Ngày nay hơn hai thế kỷ sau, chúng ta đang đứng trước một t́nh trạng tương tự. Các tiếp xúc dồn dập với thế giới bên ngoài và các phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại đă khiến khát vọng tự do dân chủ lên cao; chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng của chế độ cộng sản hiện nay cũng như Khổng Giáo đă là nền tảng của chế độ quân quyền ngày xưa, bị lố bịch hóa. Chính quyền không chịu đổi mới kịp đ̣i hỏi của t́nh thế và ngày càng phân hóa thêm. Cũng giống hơn hai thế kỷ trước, chúng ta không có một lực lượng xứng đáng làm một giải pháp thay thế. Chúng ta đang tiến tới một sự hỗn loạn tương tự, để rồi khi chính quyền đă quá yếu, một lấy anh chị nào đó nhờ táo bạo và khôn lanh, hay được hậu thuẫn của ngoại bang, sẽ nắm được chính quyền và làm đất nước đă tan nát lại càng tan nát thêm. Và cũng rất có thể nhiều người sẽ ca tụng tay anh chị đó và dùng đủ mọi lư luận để bênh vực, như nhiều người đă từng ca lụng Nguyễn Huệ.
Nhưng thảm kịch đă xảy ra hơn hai thế kỷ trước và thảm kịch có thể sẽ xảy ra sắp tới có thể chỉ giống nhau tới đó thôi chứ không thể giống nhau ở giai đoạn tiếp theo. Xă hội Việt nam ngày nay đă quá phức tạp và con người Việt nam ngày nay cũng quá khôn ngoan để một người hay một băng đảng dù mưu mô đến đều có thể gom thu về một mối mà không cần một dự án chính trị đúng đắn. Nước Việt nam có thể bị ră nát thành nhiều mảnh, dưới sự kiểm soát của nhiều thế lực với những quyền lợi khác nhau và những chỗ dựa khác nhau, như chúng ta đă chứng kiến tại một số nước châu Phi. Lúc đó, trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, với ư niệm quốc gia dân tộc ngày càng bị tương đối hóa, sẽ chẳng có bao nhiêu người c̣n đủ tha thiết và quyết tâm để thống nhất lại đất nước. Vả lại có muốn cũng không được v́ thống nhất là một điều rất khó thực hiện. Tôi có thể quả quyết điều này theo kinh nghiệm cá nhân: việc thống nhất các lực lượng rất thân hữu với nhau và có tất cả mọi lư do để kết hợp với nhau cũng đă quá khó rồi?
Việt nam có thể bị xóa bỏ như một quốc gia không? Nhiều người quả quyết là không, và tôi cũng tin như vậy. Nhưng điều đó chưa chắc đă đáng mừng. C̣n có một điều quan trọng hơn sự tồn vong của quốc gia Việt nam, đó là cái trở thành của khối 80 triệu người Việt. Sự hấp hối của một quốc gia kéo dài rất lâu, hàng thế kỷ. Trong trường hợp một dân tộc đông đảo có lịch sử sống chung lâu đời, có một văn hóa khá đồng nhất và nhất là một ngôn ngữ chung như Việt nam, cơn hấp hối đó có thể kéo dài vô tận. Không chết được nhưng cũng không sống. Và khối người Việt nam sẽ ra sao? Sẽ chỉ có một số rất nhỏ t́m được quê hương mới tại những quốc gia dân chủ văn minh, trong số rất nhỏ này cũng sẽ chỉ có một số rất nhỏ hội nhập được thực sự vào xá hội mới, số c̣n lại sẽ chỉ là những công dân hạng thứ. Nhưng đó là những người may mắn. Đại bộ phận người Việt sẽ sống làm lũi, bơ vơ ngay trên đất nước ḿnh dưới cái nh́n vừa thương hại vừa khinh khi của thế giới.
Nhất định chúng ta phải giữ lấy đất nước Việt nam, ít nhất v́ chính quyền lợi của chúng ta. Thế giới tương lai sẽ không phải là thế giới của những con người vô tổ quốc, đó sẽ là thế giới của những quốc gia thân hữu. Quốc gia là một bảo đảm và một không gian tương trợ cần thiết cho cố gắng chung và thành công chung. Quốc gia là môi trường tự nhiên cho mỗi người để phát triển, như khu rừng cần cho con cọp để vùng vẫy. Và quốc gia cũng là một t́nh yêu để sống có hạnh phúc như cái hôn của mẹ cần cho một đứa trẻ để lớn lên.
Muốn giữ vững đất nước phải làm lại đất nước. Và muốn làm lại đất nước chúng ta không thể thiếu ḷng yêu nước và tinh thần trách nhiệm. Đó là ch́a khóa của vấn đề. Nhưng làm thế nào đễ phục hồi lại ḷng yêu nước?
Trước hết mỗi người Việt nam phải ăn năn và sám hồi. An~năn v́ chúng ta, mỗi người chúng ta, đă ngây thơ coi tổ quốc như là vô tận, không thể hao ṃn và đă không quan tâm làm cho tổ quốc ngày một vững mạnh hơn và đáng yêu hơn. Hay v́ chúng ta đă khờ khạo nghĩ rằng ḿnh có thể tự giải quyết các vấn đề cá nhân của ḿnh bằng những giải pháp cá nhân như luồn lách, móc ngoặc, hối lộ, bỏ nước ra đi, v.v... mà không ư thức rằng phải có một giải pháp chung cho thảm kịch chung của 80 triệu người cùng một lịch sử, văn hóa và cùng một số phận. Hay v́ chúng ta sẽ không đủ thông minh để thấy cần kết hợp với nhau, chung sức chung ḷng để cùng làm lại đất nước. Mỗi người chống cộng với tư cách cá nhân, tranh đấu một ḿnh hay hài ḷng với những tổ chức bỏ túi. Chúng ta đă tự cho ḿnh vai tṛ quá cao bởi v́ trí tuệ chúng ta quá thấp.
Hay v́ chúng ta đă khiếp nhược, đă không dám chống lại sự tồi dở và sự bạo ngược, đă cúi đầu, đă giả câm giả điếc để được yên thân.
Hay v́, một cách giản dị, chúng ta đá sai lầm lớn khi nghĩ rằng đất nước không cần thiết lắm cho đời ḿnh.
Sau đó, chính tổ quốc phải nhận lỗi về những đầy đọa đă gây ra cho các con ḿnh, và tự sửa đổi. Tổ quốc phải rời bỏ bàn thờ thiêng liêng, tối cao và vô trách nhiệm để thân thiện đến với mọi người. Tổ quốc phải lột xác để trở thành một tổ quốc khác, một tổ quốc hiền ḥa thay v́ dữ tợn, một tổ quốc có trái tim thay v́ có nanh vuốt, một tổ quốc khuyến khích thay v́ cấm đoán, một tổ quốc đáng yêu thay v́ đáng sợ, một tổ quốc che chở thay v́ đe dọa. Tổ quốc phải là một tổ quốc trách nhiệm, cụ thể như một dự án tương lai chung và gần gũi như một người bạn, một tổ quốc biết hối hận và ăn năn. Tôi biết chuyện một gia đ́nh đầu khổ, người cha nghiện ngập, cờ bạc, hung bạo, gia đ́nh là một địa ngục. Một ngày kia đứa con đă lớn lên và quyết định bỏ đi. Người cha bừng tỉnh, không ngăn con mà chỉ im lặng nh́n con sắp xếp hành lư. Khi đứa con đă ra đến cửa, ông rầu rầu xin lỗi nó và chúc nó may mắn. ít lâu sau đứa con lại trở về. Tổ quốc ăn năn th́ tổ quốc sẽ hồi sinh, sẽ đẹp và mạnh. Và mỗi người sẽ đều được phúc lợi. Cọp lại có rừng để vùng vẫy, đứa trẻ lại có mẹ để hôn.

 

Phần 5 Vươn ḿnh lớn dậy
Gởi vào giấc mộng, nhắn ra cuộc đời

 

Hồn ai có đi về trên khói sóng
Và giờ đây thông cảm với hồn ta
Th́ lắng tai nghe mấy lời ca
Gở vào giấc mộng, nhắn ra cuộc đời.
Vũ Hoàng Chương
Xin cảm ơn các độc giả đă chiếu cố đến cuốn sách này. Nếu bạn đă đọc đến đây th́ hẳn bạn phải là một người khá đặc biệt, một người không cần đọc cuốn sách này để t́m những kiến thức và ư kiến. Bạn đă đọc hết cuốn sách v́ đă t́m thấy ở đây một phần tư duy của chính ḿnh.
Vậy xin kết thúc cuốn sách bằng một lời phi lộ. Một lời riêng nhưng cũng là chung.
Tôi ra đời vào giữa thế chiến II, lúc đất nước c̣n đang bị ngoại thuộc và, hơn thế nữa, bị ngoại thuộc một cách ô nhục nhất. Một nắm nhỏ người Pháp, đă thua trận và mất nước, vẫn c̣n duy tŕ được một ách thống trị khắc nghiệt trên cả nước. Họ đă chỉ bị quân Nhật lật đổ chứ không phải bị người Việt nam đứng lên đánh bại. Đă có nhiều người Việt nam đứng lên, nhưng trước mặt họ lại có một số người Việt nam đông đảo hơn nhiều tiếp tay giúp người Pháp duy tŕ ách thống trị trên dân tộc ḿnh. Điều này măi măi là một vết thương đầu cho tôi bởi v́ nó không cho phép tôi tự hào về dân tộc ḿnh.
Từ đó đến nay đất nước không ngừng thua kém hơn so với thế giới, trong khi chúng ta đă phải trả những cái giá rất khủng khiếp. Nhưng thất vọng liên tục chồng chất đă làm đại đa số người Việt mất ḷng tin vào đất nước, không c̣n nghĩ tới nước nữa. Chúng ta không c̣n dự định chung, do đó chúng ta ră hàng và bất lực. Và đất nước trôi giạt về một tương lai đầy bất trắc.
Khi tôi ngồi viết những ḍng này, t́nh h́nh đất nước cũng tương tự như khi tôi ra chào đời. Một nhóm người rất nhỏ, theo đuổi một chủ nghĩa đă hoàn toàn phá sản, lấy làm quan thầy và mẫu mực một chế độ đă sụp đổ, vẫn tiếp tục duy tŕ được ách thống trị thô bạo và chặn đường tiến của dân tộc về tương lai mà không gặp một chống đối đáng kể nào. Tôi vẫn không thể hănh diện là người Việt. Tôi đă có dịp sống và làm việc trong ḷng chế độ cộng sản, đă trao đổi thân mật và hiện nay vẫn thường xuyên được tiếp xúc với nhiều người của chế độ, có khi ở những cấp bậc khá cao. Tất cả đầu đồng ư rằng chế độ này phải dân chủ hóa, nó không thể và không được quyền tiếp tục như hiện nay. Nhưng chế độ vẫn c̣n đó, và tiếp tục cai trị một cách thô bạo. Cũng như trong thời thế chiến II, mọi người đều muốn dân chủ nhưng chỉ có một số ít đứng lên, trước mặt họ là một số đông đảo gấp bội cố luồn lách để sống yên và, để sống yên, phải hợp tác với chế độ và giúp chế độ tiếp tục tồn tại. Sau hơn một nửa thế kỷ thăng trầm và đổ vở, thảm kịch của Việt nam vẫn thế. Đó là thảm kịch của ư chí và niềm tin.
Tôi đă là một đứa trẻ may mắn. Cả làng tôi, và có lẽ cả huyện tôi, đă chỉ có một ḿnh tôi được đi học đến nơi đến chốn, được đi du học sớm, được quan sát thế giới và cũng được một địa vị tương đối khá trên cả quê ḿnh lẫn quê người. Dù đă trải qua nhiều khổ đau và mất mát, tôi vẫn là người rất được số phận ưu đăi so với đồng bào tôi. Có thể nói ngày nay tôi là một trong những người Việt ít ỏi không cần đất nước, nếu chỉ cầu mong một cuộc sống thoải mái cho ḿnh. Những ḷng không thể yên. Vẫn c̣n cái tâm sự bẽ bằng của một đứa con nhà nghèo đi làm con nuôi nhà giàu bỏ rơi anh em. Vẫn có sự hổ nhục âm thầm như khi đạp ga cho xe chạy nhanh, làm như không nh́n thấy gia đ́nh người quen hư xe bên đường giữa một đêm mưa gió. Và một niềm ân hận rằng ḿnh đă không phát huy được hết khả năng của ḿnh, đă không làm được tất cả những ǵ ḿnh muốn làm và có thể làm v́ không ở trong môi trường tự nhiên của ḿnh; cuộc đời ḿnh nhỏ lại và thấp xuống.
Điều làm tôi dằn vặt nhất hiện nay là h́nh như đại đa số người Việt không nh́n thấy một mối nguy lớn cho đất nước. Chúng ta đều đồng ư ràng t́nh h́nh hiện nay rất tệ hại cho đất nước và phải chấm dứt. Nhưng h́nh như chúng ta chỉ nghĩ rằng nếu t́nh h́nh này cứ tiếp tục th́ đất nước sẽ tŕ trệ, sẽ chậm tiến và bị thua kém thế giới mà thôi. Chúng ta chưa ư thức rằng t́nh h́nh này có thể đưa đất nước đến chỗ giải thể. Thế giới đă đi vào một kỷ nguyên mới, trong đó ư thức quốc gia dân tộc bị xét lại một cách triệt đẻ. Những quốc gia không được hiểu như một dự án tương lai chung, một t́nh cảm và một không gian tương trợ cho cố gắng vươn lên của mọi người sẽ không c̣n lư do tồn tại và sẽ không thể tồn tại. Những quốc gia như thế sẽ giải thể trong ḷng người, rồi giải thể thực sự. Chúng ta đă chứng kiến nhiều quốc gia tự tan vỡ mà không bị ngoại xâm. Chúng ta cũng đă thấy nhiều quốc gia rất dân chủ và phồn vinh mà vẫn bị chao đảo v́ những chủ trương ly khai chỉ v́ người dân không c̣n nh́n thấy công dụng thực sự của quốc gia nữa. Sẽ c̣n nhiều quốc gia khác bị tan vỡ, và những quốc gia tan vỡ đầu tiên sẽ là những quốc gia mà biên giới được coi là hàng rào ngăn cản những giá trị phổ cập của loài người, mà chủ quyền dân tộc được hiểu như quyền tự do lộng hành của một tập đoàn cầm quyền. Chúng ta đang là một quốc gia như thế và chúng ta đang đứng trước một t́nh trạng khẩn cấp.
Một dằn vặt khác của tôi là h́nh như đa số người Việt không nh́n thấy sự cần thiết của đất nước cho chính đời ḿnh. Chúng ta mơ ước, hoặc hài ḷng với một cuộc sống trung b́nh tại hải ngoại. Chúng ta thoả măn khi t́m được một việc làm vừa đủ sống và không bị công an hạch sách ở trong nước. Những khổ đau và chịu đựng quá lớn và quá lâu đă làm cho chúng ta mất tham vọng và nhỏ lại. Chúng ta định cư trong sự nhỏ bé tinh thần và vật chất. Chúng ta đă mất đi sự cao cả trong trí tuệ và tâm hồn. Chúng ta không thấy rằng một quốc gia lành mạnh sẽ là một không gian phát triển cho phép đời ta vươn tới một tầm vóc lớn hơn, dù chúng ta sống ở trong nước hay ở nước ngoài.
Tôi đă sống lâu năm tại Pháp, trong tuổi sinh viên và trong tuổi hành nghề. Cuộc sống tại Pháp đă cho phép tôi nh́n thấy một vài điều. Nước Pháp có 60 triệu dân và có hơn nửa triệu xí nghiệp hoạt động một cách lành mạnh. Nước Pháp có khoảng một triệu cấp lănh đạo, trong đó ít nhất một trăm ngàn cấp lănh đạo rất quan trọng. Trong khi tôi đang viết những ḍng này th́ tổng sản lượng quốc gia của Pháp bằng 60 lần Việt nam, lợi tức của mỗi người Pháp bằng 80 lần mỗi người Việt. Pháp không phải là một mẫu mực tại Tây Âu. Ho thua kém nhiều nước châu Âu khác. Tổ chức chính quyền của họ tập trong và kềnh càng. Các hoạt động phân phối một cách không đồng đều trên lănh thổ. Tâm lư người Pháp cũng không lành mạnh. Nước Pháp gần như bị chia đôi, một nửa dân Pháp năng động và sáng tạo trong khi nửa kia vô trách nhiệm và trông đợi ở bao cấp. Nhưng nếu chúng ta bằng được nước Pháp? Đất nước chúng ta sẽ là một môi trường bao la cho biết bao tham vọng chính đáng, sẽ là đất dụng vơ cho biết bao tài năng, sẽ là biết bao trách nhiệm vẻ vang cho biết bao nhiêu người. Chúng ta sẽ thiếu rất nhiều người cho rất nhiều công việc quan trọng và đầy say mê. Mọi người, trước hết là những người có kiến thức, sẽ đều có nhưng trách nhiệm đáng tự hào, sẽ không ai phải lo âu không có được một chỗ đứng xứng đáng. Và chúng ta sẽ không c̣n phải hổ thẹn trước mặt người ngoại quốc.
Chúng ta sẽ hănh diện mà gọi tên đất nước ḿnh.
Và tại sao chúng ta lại không thể bằng nước Pháp? Tôi học với họ và làm việc với họ, tôi rất ngưỡng mộ người Pháp, nhưng tôi cũng không thấy họ hơn người Việt nam, hay có hơn cũng không bao nhiêu. Con người Việt nam có chất liệu tốt, chúng ta khá thông minh, hiếu học, rất chăm làm và cũng giỏi chịu đựng. Chúng ta có thể bắt đầu ngay bằng cái sở trường của chúng ta là chịu học và chăm làm. Dĩ nhiên về lâu về dài như thế chưa đủ; chỗ đứng sau cùng của một dân tộc vắn được quyết định bởi óc sáng tạo và tinh thần mạo hiểm, hai đặc tính mà chúng ta rất thiếu và cần phát minh ra; nhưng trong t́nh trạng thua kém bi đát hiện nay, hiếu học, chăm làm và chịu đựng cũng là khá đủ để vươn lên. Rồi trong quá tŕnh vươn lên chúng ta sẽ phát triển óc sáng tạo và tinh thần mạo hiểm. Rất nhiều dân tộc chậm tiến không có nổi tiềm năng con người của chúng ta. Về lâu về dài chúng ta cũng không phải là không có thể mạnh. Chúng ta là một quốc gia bờ biển, biển mở rộng lănh thổ của chúng ta, mở cửa đất nước chúng ta ra thế giới và đem thế giới đến với chúng ta. Chúng ta lại có một vị trí tuyệt vời, nằm ngay giữa trung tâm của một vùng đầy hứa hẹn và ngay sát nhiều trục giao thông quan trọng. Chúng ta có thể phát triển rất mạnh và, hơn thế nữa, c̣n có thể hưởng thụ được cả sự phát triển của các nước khác, bởi v́ trong một châu á phồn vinh sau này, chúng ta là bờ biển Thái B́nh Dương của cả Thái Lan, Kampuchea, Lào và Việt Nam. Điều mà chúng ta thiếu chỉ là ư chí và tham vọng.
Hiện nay chúng ta đang đứng trước một ngă ba đường đặc biệt. Một ngả là sự giải thể quốc gia và cơn hấp hối rất dài, trong đó người Việt sẽ lầm lũi, bơ vơ, bị thế giới khinh thường và hắt hủi. Một ngả khác là một nước Việt nam phồn vinh đem lại hạnh phúc và tự hào cho mọi người. Chúng ta chỉ có hai lối đi: một bên là đường hầm đen tối và lầy lội dẫn tới cái chết, một bên là đại lộ thênh thang dẫn tới vinh quang.
Đại lộ vinh quang, hơn nữa, cũng là đại lộ an toàn. Dân tộc ta đă phải trả giá quá đắt cho hận thù và chia rẽ, cho óc độc quyền lẽ phải, cho sự cuồng tín và tôn thờ bạo lực. Chúng ta đă hiểu bằng máu và nước mắt và đă chấp nhận trong da thịt những giá trị giản dị nhưng mầu nhiệm như ḥa b́nh, tự do, dân chủ và bao dung. Chế độ độc tài này sẽ là chế độ độc tài cuối cùng tại Việt nam, với điều kiện là chúng ta vẫn c̣n là một quốc gia sau cuộc thử thách này. Rũ bỏ được nó, chúng ta sẽ vĩnh viễn đi vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, dân chủ, kỷ nguyên của những cố gắng chung và của thành công chung. Con đường tiến tới tương lai của chúng ta như vậy sẽ không quanh co. Mặt khác, trong khi các nước châu á khác, v́ chưa trải qua những kinh nghiệm đắt giá của chúng ta, c̣n lưỡng tự giữa truyền thống và tiến bộ, chúng ta sẽ chấp nhận một cách quả quyết và nhiệt t́nh những giá trị phổ cập của loài người tiến bộ, sẽ lấy tự do làm động lực để tiến tới, và chúng ta chắc chắn sẽ mau chóng bắt kịp được sự chậm trễ.
Sự chọn lựa là hiển nhiên. Tất cả vấn đề là chúng ta có c̣n đủ lạc quan và tin tưởng để chọn con đường thênh thang, và thực ra dễ dàng, dẫn tới vinh quang không, hay sẽ để cho sự mệt mỏi và tuyệt vọng xô đẩy vào con đường chông gai và tăm tối dẫn đến sự tiêu vong?
Chính v́ thế mà, hơn lúc nào hết, đất nước đang cần những con người hiếm hoi c̣n giữ được niềm tin và ḷng yêu nước, như một cơ thể suy nhược cố tập trung sức lực c̣n lại. Những người này phải ư thức được rằng họ là một sắc tộc thiểu sổ phải dựa vào nhau để sống và vươn lên. Giữa họ phải có tinh thần kết nghĩa, phải chưa gặp đă là anh em, chưa quen đă là chí hữu. Phải kết hợp nhanh chóng, mạnh dạn, nhiệt t́nh.
Họ phải hănh diện v́ sứ mạng trọng đại và cao cả của ḿnh. Đổi lại ḍng lịch sử, đổi số phận của cả một dân tộc đông đảo gần một trăm triệu người không phải là một cơ hội mà đời người nào cũng có thể có.
Họ phải nhận diện đúng những trở ngại trước mắt. Trở ngại lớn nhất không phải là sự ngoan cố của chế độ cộng sản mà là sự mệt mỏi và tâm lư bỏ cuộc của người Việt. Thắng được sự thụ động của quần chúng, tạo được một sức bật mới của ḷng yêu nước và của ư chí làm lại đất nước th́ sự ngoan cố của chế độ cộng sản sẽ tan biến mau chóng. Chế độ này thiếu cả sức mạnh lẫn quyết tâm, nó xấc xược chỉ v́ chúng ta nhu nhược.
Họ sẽ phục hồi thế giá cho hoạt động chính trị và cho những người đấu tranh v́ đất nước bằng thái độ và hành động. Họ sẽ không mất th́ giờ cho những hành động mị dân nhằm giành giật cảm t́nh của một quần chúng cần được thức tỉnh thay v́ mơn trớn. Họ sẽ đốt đuốc đi t́m nhau. Họ sẽ nhận diện nhau như những tinh hoa của đất nước và như ư chí c̣n lại của dân tộc. Họ sẽ kính trọng nhau và truyền sự kính trọng đó cho quần chúng, gây lại niềm tin cho quần chúng và tranh thủ sự hưởng ứng của quần chúng.
Nếu trong cái rủi cũng có cái may th́ trong cái khó cũng có cái dễ. Cái khó là với t́nh trạng quần chúng hiện nay chúng ta không thể hy vọng h́nh thành nhanh chóng được một kết hợp lớn. Cái dễ là trong t́nh trạng phân ră hiện nay chúng ta không cần một lực lượng lớn mà vẫn có thể là lực lượng áp đảo nhất, và thành công. Trước hết hăy tự giới hạ trong thành phần tinh nhuệ, nghĩa là thành phần có đạo đức, lư tưởng, quyết tâm, có tŕnh độ hiểu biết tạm đủ, và có khả năng hội nhập trong một đội ngũ. Một ngàn người như thế có thể là một lực lượng đủ để hành động. H́nh thành được một tập hợp như vậy là chúng ta đă có thể báo tin mừng cho dân tộc về sự ra đời của hy vọng, bởi v́ sau đó mọi việc đều dễ và t́nh h́nh đất nước có thể thay đổi rất nhanh chóng.
Chúng ta có cả một kho tàng nhân sự chưa được khai thác.
Nhưng người muốn đổi đời không thiếu trong nước cũng như ngoài nước, trong cũng như ngoài bộ máy nhà nước, kể cả đa số đảng viên cộng sản. Điều chúng ta thiếu là một tụ điểm cho những khát vọng. Một tập hợp của khoảng một ngàn người có trí tuệ và trái tim đủ để làm tụ điểm đó. Khó khăn là tạo ra tập hợp này. Nhưng đó là mục tiêu trong tầm tay.
Chúng ta không khởi hành từ số không. Chúng ta đă sẵn có một số người. Chúng ta có khát vọng thay đổi của tám mươi triệu người. Chúng ta cũng có cả một kho tàng những người muốn làm một cái ǵ cho đất nước nhưng c̣n cảm thấy bất lực v́ cô đơn và đang chờ đợi một kết hợp dân chủ đáng tin cậy.
Nhưng hành trang quan trọng nhất của chúng ta vẫn là một niềm tin và hănh diện âm thầm nhưng mănh liệt ở trong ḷng. Chúng ta đang phấn đấu để cứu đất nước do ông cha để lại và để chuyền nhượng lại một đất nước đẹp hơn và đáng tự hào hơn. Đó là một cuộc đấu tranh cao cả v́ nó không nhằm tiêu diệt hay hạ nhục một ai, mà nhàm giải thoát và thăng hoa mọi người. Đó là một cuộc đấu tranh chính nghĩa. Ḷng dân hôm nay là của ta, chúng ta thực hiện di chúc dựng nước của người xưa với t́nh yêu nồng nàn dành cho các thế hệ mai sau. Chúng ta có đồng bào, tổ tiên và con cháu. Chúng ta có hiện tại, ngh́n trước và ngh́n sau.
Vậy th́ chúng ta hăy nắm tay nhau cùng phấn đấu và cùng mơ ước một tương lai Việt nam chung. Ngay hôm nay và bây giờ.
Paris, ngày 8 tháng 11 năm 2000

 

Một số nhận định về Tỏ QUốC ĂN NĂN và tác giả

 

Tổ quốc ăn năn là một tác phẩm chính luận rất khác với những ǵ chúng ta thường đọc. Mục dịch của nó là đề nghị một kế sách cho việc phát triển đất nước khi thật sự bước vào kỷ nguyên dân chủ đa nguyên. Nhưng không phảí chỉ có thế. Tác giả quyển sách đă trải qua kinh nghiệm của một nhà hoạt động, và dựa trên kinh nghiệm bản thân để nhận ra những khó khăn của một hành tnnh dân chủ và phát triển cho đất nước. Tác giả đă làm một việc rất mới đối với một luận văn chính trị: đó là duyệt lại đi sản của lích sử và văn hóa của dân tộc mà ông xem là những trở ngại chính cho một hành tŕnh về tương lai phồn vinh cho đất nước.
Di sản của lịch sử và văn hóa là những nguyên lai của sự kiện tại sao dân tộc chúng ta lại lạc hậu bần cùng như ngày nay. Duyệt lại di sản văn hóa của dân tộc là một việc lớn, và khó. Tác giả đă làm một việc như thế trong suốt ba phần đầu của sách. Một cống hiến xuất sắc nữa là tác giả đă đưa ra một chương tŕnh kiến tạo lái đất nước để thật sự tiền về kỷnguyên dân chủ đa nguyên, phồn vinh và phát triển.
Bàng bạc sau những trang viết là một tấm ḷng nhân ái và tấm ḷng lo trước của một công dân yêu tổ quốc thắm thiết.
Đoàn Xuân Kiên
(chuyên viên ngữ học, nhà b́nh luận, Lon don)

Được đọc góp ư và sửa chữa Tổ quốc ăn năn là một niềm vui lớn cho tôi. Độc giả có thể đồng ư hay không đồng với tác giả, nhưng Tổ quốc ăn năn là cuốn sách chính luận độc đáo nhất do một người Việtnam viết ra trong thế kỷ 20. Nó cũng là một cuốn sách có thể dùng làm chuyên cho thể văn chính luận tiếng Việt và, một phần nào cho tiếng Việt nói chung. Rất ít khi tiếng Việt được sử dụng một cách chính xác và truyền cảm bằng trong cuốn sách này, nó làm cho người ta yêu tiếng Việt và tự hào về tiếng Việt. Chắc chắn nhiều độc giả sẽ đồng ư với tôi
Nguyễn Văn Huy
(chuyên viên dân tộc học, nhà văn, nhà báo)

Nguyễn Gia Kiểng không thích đi đường ṃn. Hắn luôn khai phá. Luôn đặt ngược những sự việc đă tưởng mặc nhiên là thế, không cần bàn căi nữa. Chuyện hắn thích chọc ngoáy những cái đă định h́nh, và chuyện về những vấn đề mà hắn đă nêu ra và sẽ c̣n nêu ra, là chuyện thường ngày, chuyện đương nhiên, không thể khác. Chấp nhận hay không chấp nhận lập luận của Kiểng là việc của mỗi người đọc hắn, tùy thuộc nhăn quan, và cả tính t́nh, của người đó.
Cái mà Kiểng muốn là sự tranh căi, chứ không phải những tràng vỗ tay. Hăy để cho hắn có cái mà hắn muốn. Tôi không thích tranh luận về những đề tài Kiểng nêu ra. Phần lớn chúng nằm ngoài thời biểu của tôi. Một số nằm ngoài tầm hiểu biết của tôi.
Điêu tôi ghi nhận ở những ǵ tôi đọc được của Kiểng là cái mới, cái độc đáo của văn phong mang dấu ấn không trộn lẫn được của Nguyễn Gia Kiểng. Hắn đưa vào tiếng Việt những cách nói mới, có vẻ phương Tây đấy, mà lại rất Việt. Sẽ có nhưng người nghiên cứu ngữ ngôn đánh giá công lao của hắn, và biết đâu đấy, rồi đây họ lại chẳng trân trọng cho hắn hẳn một ṿng nguyệt quế.
Vũ Thư Hiên
(nhà văn, tác giả Đêm Giữa Ban Ngày, Pháp)

Một lằn nữa, kẻ hèn Nguyễn Gia Kiểng lại làm một chuyện chẳng hèn chú tnào: một quyển sách dày 600 trang và buộc tất cả chúng ta phải xét lại toàn bộ những định kiến về lịch sử, văn hóa và con người Việt nam. Chúng ta đă được hé thấy một phần suy nghĩ táo bạo của tác giả qua mấy bài đă được công bố trên báo lấy từ cuốn sách ra: bài về kẻ sĩ, bài về Quang Trung, v.v... Không ít người bực tức v́ những niềm tin sắt đá được nuôi dưỡng từ nhỏ, từ trong gia đ́nh ra ngoài xă hội đến vào học đường, bỗng một sớm một chiều bị lung lay tận gốc rễ. Nhưng ở trong đời, chính những biến cố lớn, những vụ động đất mới để làm cho ta thức tỉnh. Đồng ư hay không là một chuyện, nhưng có điều thực là sống mà tỉnh thức th́ rất nên, nên lắm nữa là khác.
Nguyễn Ngọc Bích
(học giả, nhà báo, Hoa Kỳ)
Nguyễn Gia Kiểng thuộc hàng ngũ chuyên viên trẻ phải bỏ nước ra đi sau năm 1975. Sáng kiến, lối suy luận độc đáo, can đảm trí thức và ḷng yêu nước đă tạo cho ông một thế đứng đặc biệt trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Các bài viết của ông từng gây ra tranh luận sôi nổi và tạo cho ông lắm kẻ thù nhưng cũng đem lại cho ông nhiều người mến mộ. Nếu cứ nh́n vào việc trước mà tính đến chuyện sau, người ta có thể đoán rằng cuốn Tổ quốc ăn năn sẽ gây ra nhiều tranh luận và kích thích được những suy nghĩ hữu ích. Trong thư viết cho bạn bè, ông tâm sự rằng nếu tôi nói lên được mười điều mà trong đó có chín điều sai, một điều đúng th́ cũng là một đóng góp rồi? Lập luận đó làm tôi giật ḿnh. Một người nhún nhường quá đáng hoặc đang bị lửa đốt tâm can mới thốt ra như vậy. Người làm chính trị mà như vậy, nhỡ người ta bảo rằng anh này sai nhiều hơn đúng th́ sao?
Nguyễn Mạnh Hùng
(giáo sư đại học George Mason, Virginia,
chủ tịch Indochina Institute, Hoa Kỳ)
Nguyễn Gia Kiểng là một trí thức dám thẳng thắn và can đảm nói lên những điều ḿnh nghĩ, minh tin là đúng, cho dù có làm phật ḷng người khác. Đó là điểm son của Nguyễn Gia Kiểng. Khác với đa số người khác, chỉ nói cho phải đạo với đám đông.
Đinh Quang Anh Thái
(kư giả, cựu tù nhân chính trị, Hoa Kỳ)
Ông Nguyễn Gia Kiểng là một người vốn có ư kiến độc đáo về các vấn đề đất nước. Và cách tŕnh bày của ông thường làm người khác ư kiến dễ bất măn. Nhưng - tôi nghĩ - chủ ư của ông Kiểng là bằng cách đó mới tạo ra tranh luận để các vấn đề được đào sâu. Tổ quốc ăn năn, chỉ đọc cái đầu để của cuốn sách đă muốn tranh luận rồi, huống chi đọc hết hơn 600 trang cuốn sách đa sự của ông.
Trần B́nh Nam
(nhà hoại động và b́nh luận chính trị, Hoa Kỳ)
Nguyễn Gia Kiểng nh́n về tương lai mà không để ư đến quá khứ. Th quan về phân tách m à xao lăng tổng hóp. Phê phán nhiều mà ít khi khen ngợi. H́nh như chỉ muốn đi t́m đối thủ mà ít khi kết nghĩa bạn bè. Tuy nhiên điều kỳ lạ là mới gặp anh lần đầu mà tôi đă có cảm tưởng như đă quen biết từ nhiều kiếp trước. Anh phê phán nhiều v́ dân tộc chúng ta đang giẫy chết trên xảo ngữ ngọt ngào. Anh chỉ phân tách v́ chúng ta đầy ắp những tổng hợp vô giá ttị. Anh dũng mănh tiến vào tương lai v́ đă gói ghém trong tâm thức quá khứ đsu thương của dân tộc Tôi coi Nguyễn Gia Kiểng là một đồng chí rất tốt trong cuộc đấu tranh cho tương lai Việt nam.
Đào Tăng Đức
(luật sư Hiệp Hội Dân Chủ Pháp Tŕ,
tác giả Việt nam Dân Chủ Tranh Dấu Luận, úc)
Nếu giá trị của nghị luận chính trí là thúc đẩy người đọc h́nh thành một nhận định, có một thái độ và từ đó (nếu có thể) làm một hành động chính trị, th́ Nguyễn Gia Kiểng là người thành công nhất ở hải ngoại và trong một giới hạn nào đó, cả ở trong nước. Tại sao những bài viết của Nguyễn Gia Kiểng có sức hấp dẫn người đọc? Tôi cho là ông Nguyễn Gia Kiểng nắm được cả hai yếu tố nội dung và h́nh thức khiến một bài nghị luận phải được chú ư. ấy là ư tưởng và nghệ thuật diễn đạt ư tưởng.
Nhờ có đầu óc cấp tiến, một kỹ thuật phân tích thuận lư và một cách lư luận thông minh, Nguyễn Gia Kiểng gây hứng khởi cho rất nhiều suy nghĩ về tương lai Việt nam. Gía trị các bài viết của Nguyễn Gia Kiểng c̣n đọc nhân lên nhiều lần nhờ lối hành vẫn trong sáng.
Bằng một thái độ tranh luận thẳng thắn, lương thiện và triệt để, Nguyễn Gia Kiểng đă tạo được sự chú ư của dư luận qua nhiều cuộc tranh căi sôi nổi trong nhiều tầng lớp người Víệt hải ngoại. Cũng chính những đức tính ấy đă góp phần tạo nên sắc thái độc đáo của riêng một Nguyễn Gia Kiểng trên diễn đàn dân chủ hiện nay.
Sơn Dương
(kư giả, úc)
Tôi muốn có nhiều Nguyễn Gia Kiểng hon nữa, nhưng đồng thời muốn những Nguyễn Gia Kiểng série 2 này, ngoài thái độ khiêu khích về mặt tư tưởng, th́ lại rất khiêm tốn về mặt hành văn, rất thận trọng trong sự lựa chọn từ ngữ để tránh gây trong độc giả cảm tưởng rằng tác giả khinh miệt ḿnh, cho ḿnh là number ten trong khi tác giả là number one về mặt trí tuệ, kiến thức và lo cho phúc lợi chung.
Tôn Thất Thiện
giáo sư, nhà nghiên cứu và b́nh luận chính trị, Canada
Lập trường của Nguyễn Gia Kiểng là chỉ nên đưa ra nhưng ư kiến mới, hoặc khác; nếu ḿnh nói ra mười điều mới trong đó có tới chín điều sai và chỉ có một điều đúng th́ ḿnh vẫn c̣n đóng góp được một cái ǵ đó, c̣n hơn là viết mựí điều đúng cả mười nhưng đều là những điều đă biết rồi. Tôi cho đó là một thái độ khiêm tốn, tơn trọng th́ giờ của người đọc.
Nguyễn Hữu Chung
chuyên gia, nhà b́nh luận chính trị, Canada