Tổ quốc ăn năn
Nguyễn gia Kiểng
Mục Lục
Tôi
sang Pháp du học năm 1961, lúc 19 tuổi. Là đứa con
của đồng quê Việt Nam, tôi được nuôi
dưỡng lúc ban đầu bằng h́nh ảnh cánh
đồng, lũy tre, bờ ruộng, con c̣, bằng
những câu ca dao: bầu ơi thương lấy bí cùng...
ta về ta tắm ao ta, v.v... Lớn lên một chút nữa,
bằng những bài học quốc văn giáo khoa thư,
truyện Phạm Công Cúc Hoa, truyện Lưu B́nh -
Dương Lễ, truyện Tấm Cám, truyện Phù
Đồng Thiên Vương, truyện Thạch Sanh - Lư
Thông. Khi chớm có nhận thức, bằng những trang
sử oai hùng của dân tộc: Ngô Quyền phá quân Nam Hán, Lư
Thường Kiệt phá Tống b́nh Chiêm, Trần Hưng Đạo
phá quân Nguyên, Lê Lợi b́nh quân Minh, Quang Trung đại
thắng quân Thanh; bằng những gương tuẫn
quốc của Trần B́nh Trọng, Nguyễn Tri
Phương, Hoàng Điều. Vinh dự nhất là sự
hy sinh dũng liệt của Nguyễn Thái Học và
Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vinh dự v́ trong trang
sử này gia đ́nh tôi có góp phần hy sinh. Trí tuệ
của tôi cũng được phần đào tạo
bằng thơ văn Nguyễn Công Trứ, bằng
Truyện Kiều, bằng tư tưởng Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, bằng B́nh Ngô Đại Cáo của
Nguyễn Trăi, bằng Hịch Tướng Sĩ của
Trần Hưng Đạo, bằng nhiều thơ văn
ái quốc, kề cả những bài thơ của
Đặng Phương - mà sau này tôi được
biết là Nguyễn Ngọc Huy.
Tất cả cái vốn liếng tinh thần và văn hóa
đó khiến tôi mang nặng một niềm tự hào dân
tộc khi vừa tới Pháp. Trong thâm tâm, tôi tin rằng
Việt Nam hơn Pháp, cũng như tôi đă tin Việt Nam
hơn Trung Hoa. Nước Pháp chẳng qua chỉ có một
nền văn minh vật chất, nhưng thua xa Việt Nam
về văn hóa, tâm linh và sự thâm thúy. Nối chung
Việt Nam hơn Pháp v́ phương Đông hơn
phương Tây.
Phương Đông là nền văn minh lâu đời
về tư tưởng, đạo đức và văn
hóa, phương Tây chẳng qua chỉ hơn nhất
thời về khoa học và kỹ nghệ. Phương
Đông có chiều sâu trong khi phương Tây chỉ có
bề rộng. Phương Đông có bề trong,
phương Tây chỉ có bề ngoài; phương Đông có
hồn trong khi phương Tây chỉ có xác. Tôi c̣n nhớ
đă nhiều lần tranh luận gay go với những
bạn học người Pháp cũng đầy tự hào
dân tộc như tôi.
Sau một vài năm tôi thạo tiếng Pháp. Tôi ham
đọc sách nên kiến thức vè lịch sử, chính
trị, văn hóa Pháp c̣n có phần trội hơn cả nhiều
bạn Pháp. Tôi tin là ḿnh đă hiểu rơ nước Pháp nói
riêng và phương Tây nói chung.
Tất cả dần dần thay đỗi với thời
gian. Càng sống với người Pháp, càng làm việc
với họ và lại có dịp qua lại thường
xuyên các nước châu Âu tôi càng khám phá ra rằng tôi chưa
hiểu họ. Dần dần niềm tự hào dân tộc
giảm đi, nhường chỗ cho một sự hoang
mang và sau cùng là một sự chua xót và thẹn thùng vè sự
thua kém của đất nước Việt Nam và con
người Việt Nam. Tôi cũng dần dần có dịp
tiếp xúc với người Mỹ và qua lại
nước Mỹ. Có một nỗi đau càng ngày càng
lớn trong tâm hồn tôi, nó đến một cách chậm
chạp, lặng lẽ nhưng mănh liệt.
Tôi nhận ra người châu Âu rất nhân bản, thâm thúy,
đầy óc sáng tạo, nền văn minh của họ
hơn hẳn nền văn minh của đất
nước ta, văn hóa của họ vượt hẳn
văn hóa của nước ta cả về lượng
lẫn phẩm.
Tôi tự hào về trống đ̣ng, về thành Cỗ Loa,
về chùa Hương, về chùa Phổ Minh, vè các lăng
tẩm ở Huế đề rồi phải xấu
hỗ trước công tŕnh nghệ thuật nhiều
gấp bội, cổ kính hơn nhiều lần, vĩ
đại hơn nhiều lần và tinh xảo hơn
nhiều lần mà tôi gặp được mỗi khi
dừng chân ở bất cứ một địa
điểm nào tại các nước châu Âu. Th́ ra tôi đă
giống như một con ếch ngời đáy giếng.
Ngũ thập tri thiên mệnh. Năm mươi tuổi
biết mệnh trời. Năm nay tôi đă ngoài 50 tuổi,
không biết tôi đă tri thiên mệnh chưa, nhưng tôi
đă khám phá ra một điều: đó là cái ǵ dù lạ
lùng đến đâu cũng đều có một giải
thích giản dị. Các nước phương Tây
vượt trội bởi v́ văn hóa của họ lành
mạnh, tâm lư của họ đúng đắn. Nước
Việt Nam đau khổ và nghèo nàn bởi v́ văn hóa
Việt Nam thui chột và tâm lư người Việt Nam
bệnh hoạn. Điều đó dĩ nhiên chẳng có ǵ
mới đối với bạn đọc và cũng
chẳng có ǵ mới đối với tôi, chúng ta đă
biết từ khá lâu rồi. Có điều cái biết bây
giờ khác với cái biết của trước kia.
Giữa hai sự hiểu biết đó có một khoảng
cách, đó là kinh nghiệm. Kinh nghiệm là ǵ nếu không
phải là sự khám phá lại những chân lư đơn
giản và có ích? Nhưng kinh nghiệm không phải chỉ
đem lại cho tôi sự chấp nhận thua kém, và
niềm đau của sự thua kém đó. Nếu chỉ có
thế th́ chẳng có ǵ để nói và cuốn sách này không
có lư do ǵ đề đến với độc giả.
Kinh nghiệm đó c̣n giúp tôi khám phá ra rằng Việt Nam có
thể tiến lên, tiến xa và tiến cao. Với
điều kiện là phải nghĩ lại ḿnh.
Đó là lư do ra đời của cuốn sách khiêm
nhường này.
Xét lại ḿnh là một thao dượt có khi rất đau
nhức, nhưng phải nh́n chân dung ḿnh ngay cả khi nó
không đẹp. Tôi xin lỗi các độc giả mà
những trang sau có thề làm phiền ḷng. Khi một sự
thực làm phiền ḷng th́ đó là một bằng chứng
rằng sự thực đó cần được nói ra.
Cuốn sách nhỏ bé này, nếu là một phân tích không nhân
nhượng về nước Việt và người
Việt th́ cũng không phải là một cuốn sách tiêu
cực, nó muốn được là một cuốn sách
của hy vọng và niềm tin.
Và tác giả thực sự hy vọng.
Sẽ có nhiều độc giả nhận xét rằng cuốn
sách này có nhiều thiếu sót. Thiếu sót chắc chắn
là có và có nhiều, nhưng có hai loại: những
điều thực sự tác giả không nh́n thấy và
những điều tác giả thấy mà không nêu ra. Quan
niệm của tôi là không nhắc lại những ǵ ḿnh
nghĩ là đa số đă đồng ư đễ chỉ
tập trung thảo luận về những ǵ mà nhiều
người chưa đồng ư và nhất là những ǵ mà
đa số không chấp nhận. Tôi nghĩ nên cố
gắng đề nói ra những điều mới, và
nếu trong mười điều mới nói ra có tới
chín điều sai và chỉ một điều đúng th́
cũng c̣n có ích hơn là nói mười điều đúng
cả mười nhưng đều là những
điều đă biết. Khi không chấp nhận một ư
kiến, người ta hay cho rằng ư kiến đó là sai,
là dở. Nhiều độc giả sẽ thay nhiều
điều nói ra trong những trang sau là sai và đánh giá tác
giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó.
Tôi cho rằng nói ra những điều ḿnh nghĩ là
đúng dù biết rằng sẽ có nhiều người cho
là sai và đánh giá thấp ḿnh là một thái độ khiêm tốn.
Đó là cách khiêm tốn của tôi.
Cuốn sách này đề tặng ba người: Hồ Qú,
vợ tôi, Hiền con trai tôi và Ḥa con gái tôi.
Hồ Qú thực ra là đồng tác giả cuốn sách
này. Hồ Qú đă thảo luận với tôi vè mọi ư
kiến trong cuốn sách này, đă đọc lại,
sửa chữa và góp ư. Điều c̣n quan trọng hơn
nữa là Hồ Qú đă cho tôi niềm vui trong lúc viết.
Không những thế, tôi c̣n được vui vẻ
chấp nhận một ngân sách thua lỗ. Với kinh
nghiệm của những cuốn sách chính trị
đứng đắn đă phát hành, cả hai chúng tôi
đều không có một ảo tưởng nào vè
tương lai tài chánh của cuốn sách.
C̣n về Hiền và Ḥa th́ đây chỉ là một sự
công bằng. Cuốn sách này là của chúng. Tôi không có may
mắn được dành toàn thời gian cho hoạt
động và nghiên cứu chính trị. Tôi có hoạt
động nghề nghiệp và hơn thế nữa có
hoạt động nghề nghiệp rất vất
vả. Cuốn sách này đă được viết và
sửa chữa trong thời gian mà bố mẹ chúng dáng lẽ
phải dành cho chúng.
Cuốn sách này cũng đề tặng nhóm Thông Luận v́
lư do cũng rất hiển nhiên. Thông Luận là tổ
chức chính trị duy nhất mà tôi tham gia từ 1982
tới nay. Đó là gia đ́nh thứ hai của tôi. Tôi
đă may mắn gặp được ở đó một
số đông đảo các trí thức và chuyên gia hàng
đầu, nặng t́nh với đất nước. Sinh
hoạt của Thông Luận, đối với tôi và
đối với mọi người trong anh em chúng tôi,
đă là cả một cuộc mạo hiểm của trí
tuệ. Tôi đă học hỏi được rất
nhiều điều ở đó và có thề nói cuốn sách
này xuất phát từ đó. Nói như thế không có
nghĩa là mọi người trong nhóm Thông Luận
đều đồng ư với những ǵ tôi viết ra, mà
chỉ có nghĩa là nếu không có Thông Luận nội dung
cuốn sách sẽ khác đi nhiều. Anh em Thông Luận
chúng tôi đồng ư với nhau về mục tiêu tranh
đấu cho một thể chế dân chủ đa nguyên,
trong tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, bằng
những phương pháp bất bạo động;
nhưng trong nhiều điểm khác chúng tôi khác nhau. Thông
Luận chủ xướng đa nguyên và trước
hết chúng tôi áp dụng chủ nghĩa đa nguyên trong
nội bộ của ḿnh. Kề từ đầu năm
2000, nhóm Thông Luận đă có danh xưng chính thức là
Tập Hợp Dân Chủ Da Nguyên, nhưng v́ cuốn sách này
đă được bắt đầu viết từ vài
năm trước nên trong nhiều đoạn cụm
từ nhóm Thông Luận đă được dùng thay v́
Tập Hợp Dân Chủ Da Nguyên. Cuốn sách này cũng
đề tặng ba người đă mất. Lê Văn
Đằng, Vũ Tiến Đạt và Nguyễn Hoàng
Quốc Phái. Đằng và Đạt là bạn, Quốc
Phái là con gái đầu ḷng của tôi.
Sáng thứ bảy 4-5-1994 khi bảy người chúng tôi
trong Ban Thường Trực của Thông Luận họp
mặt trong pḥng họp riêng của tôi chúng tôi uống
cà-phê, ăn sáng và thảo luận rất thoải mái. Ngoài
việc giải quyết một số vấn đề
thông thường của tổ chức Thông Luận, chúng
tôi bàn kế hoạch ủng hộ Đoàn Viết
Hoạt, đang chịu một hoàn cảnh giam cầm
nghiệt ngă. Chúng tôi đều đồng ư rằng
điều cấp bách nhất là làm thế nào đễ
Đoàn Viết Hoạt đừng chết. Chúng tôi không
hề nghĩ rằng một lát nữa một trong bảy
người chúng tôi sẽ chết. Phiên họp vừa
hết, Đằng muốn thêm một lời kết
luận. Đang phát biểu, Đằng th́nh ĺnh ngừng
lại, ngất xỉu và chết ngay sau đó.
Đằng cùng tuổi với tôi, đậu tú tài cùng
một năm với tôi và đi du học cùng một
chuyến máy bay với tôi, rồi cùng về nước
phục vụ trong cùng khoảng thời gian với tôi.
Từ ngày gặp nhau chúng tôi vừa là chí hữu vừa là
anh em. Đằng không phải là người bạn mà c̣n
là một phần của con người và trí tuệ
của tôi. Đằng mồ côi cha từ năm ba
tuổi, rồi mồ côi cả cha lẫn mẹ từ
năm sáu tuổi, sống nhờ sự nuôi dưỡng và
thương yêu của các anh chị rất nghèo. Lúc mới
tới Pháp, Đằng không có cả áo lạnh, phải
lấy dầu cù-là thoa khắp cả người chống
rét. Đằng xuất sắc về toán, đậu
thủ khoa kỳ thi tuyển vào Đại Học Sư
Phạm ban toán, nhưng khi được học bổng
đi Pháp lại chọn học kinh tế tài chánh và
cũng thành công mỹ măn. Về Sài G̣n làm cố vấn
tổng trưởng tài chánh, Đằng vẫn cố dành
th́ giờ đề đi dạy đại học.
Cuộc đời của Đằng chỉ có cố
gắng và phấn đấu.
Đằng không những là chuyên gia kinh tế xuất
sắc nhiều người, trong đó có tôi, coi
Đằng là chuyên gia kinh tế tài chánh lỗi lạc
nhất của Việt Nam - mà c̣n rất đam mê chính
trị. ở bên ngoài Đằng có vẻ là một
người trầm mặc, ôn ḥa, nhưng trong nội
bộ tổ chức Thông Luận chúng tôi, Đằng luôn
luôn biểu quyết cho những lập trường táo
bạo nhất. Có lẽ đó là cái bản chất của
đứa con của đất miền Trung sỏi đá,
nơi con người luôn luôn phải cứng cỏi và
bướng bỉnh với thiên nhiên đề sống.
Mối t́nh thân giữa chúng tôi đă bắt đầu
từ đời trước. Thân phụ chúng tôi
đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân
Đảng, cha của Đằng bị cộng sản
giết chết, cha tôi may mắn thoát nạn. Cái gia phả
chính trị đó đă gắn bó chặt chẽ chúng tôi
với nhau.
Tôi đă học hỏi ở Đằng rất nhiều,
đến nỗi giờ này tôi không thề phân biệt
được trong những kiến thức và nhận
thức của tôi cái ǵ là của tôi cái ǵ là của
Đằng.
Tối hôm Đằng chết, khi đi thăm xác
Đằng về, vợ tôi ngồi khóc và nói với tôi:
Rồi anh sẽ ra sao đây? Anh sẽ chẳng bao giờ
t́m được một người bạn như
thế nữa.
Ngày 4-11-1961, ngày tôi rời Việt Nam đi du học
đề gặp Đằng trong chuyến máy bay và kết
nghĩa anh em, cũng là ngày tôi nh́n Vũ Tiến Đạt
lần cuối. Đạt ra tiễn tôi tại phi
trường hôm đó. Đạt cũng đậu tú tài
năm đó nhưng không đi du học. Tôi quen Đạt
không lâu trước đó, nhưng Đạt đề
lại trong tôi một ấn tượng cực mạnh.
Tôi có một nhóm bạn cùng lứa tuổi họp nhau
đề bàn chuyện đất nước. Hoạt
động chính trị duy nhất của chúng tôi là vận
động cho liên danh Hồ Nhật Tân - Nguyễn Thế
Truyền trong cuộc tranh cử tổng thống với
Ngô Đ́nh Diệm năm 1961. Rồi một hôm một
người bạn đem Đạt tới. Đạt
không giống ai. Hắn có bản năng và lối phát
biểu mạnh mẽ một cách lạ lùng. Hắn đă
đọc và thuộc vô số lư thuyết và phương
pháp hoạt động chính trị. Hắn quả
quyết một cách đáng sợ. Đạt không giấu
ai ư định của hắn là muốn làm tổng
thống Việt Nam sau này. Đấy là một cao vọng
quá lớn và có thề là kềnh càng với một thanh niên
18 tuổi, nhưng Đạt trả giá cho tham vọng
ấy một cách ṣng phẳng. Hắn cố gắng
vượt bực và cư xử một cách hùng tráng.
Đậu xong luật, Đạt đi lính, hắn nói
không dám đi lính là hèn, và hơn thế nữa hắn cho
rằng đi sĩ quan cũng không phải là can
đảm v́ không nguy hiềm lắm. Hắn đi lính
từ binh nh́, vào các đơn vị tác chiến, lên
đại úy, rồi thi đậu khóa tuyền lựa tham
vụ ngoại giao đầu năm 1975. Việc chuyển
sang ngoại giao chắc chắn nằm trong kế
hoạch trau dồi bản lănh của hắn. Điều
tiếc nhất trong đời tôi là trong suốt thời
gian ở Việt Nam sau khi từ Pháp vè tôi đă không
gặp được hắn, hắn ít về Sài G̣n và
về trong những lúc tôi bận chuyện khác. Hắn
cũng chỉ về chớp nhoáng rồi lại đi
ngay. Măi sau này tôi mới biết rằng hắn đă
về bộ ngoại giao từ đầu năm 1975,
nhưng lúc đó t́nh h́nh Việt Nam đă bắt
đầu biến chuyển nhanh chóng khiến tôi không c̣n
th́ giờ và tâm trí để t́m gặp các bạn cũ
nữa.
Trong trại cải tạo, sau ngày 30-4-1975, Đạt hiên
ngang thách thức, hắn không nhận tội, không xin khoan
hồng, lúc nào cũng dơng dạc đ̣i một điều
duy nhất: được cư xử như một tù
binh theo công ước quốc tế. Hắn cũng kêu
gọi đồng đội đừng ngă ḷng, phải
giữ lấy khí phách và danh dự. Có lẽ hắn tự
coi là một tổng thống và phải cư xử
xứng đáng như một tổng thống. Một hôm hắn
bị bắn chết trong lúc đi lao động,
người ta bảo hắn định vượt
trại. Điều này không ai kiểm chứng
được.
Lúc đó tôi cũng đang ở tù.
Khi ở tù ra, sau hơn ba năm, tôi đă khóc rất
nhiều trên mộ Quốc Phái, con gái duy nhất của
tôi, chết trong lúc cả cha mẹ nó đang bị giam
giữ. Lúc đó Quốc Phái mới được sáu
tháng. Tôi tự hỏi tại sao tôi có thề khóc lâu như
thế và tôi hiểu rằng tôi sẽ khóc cho đứa bé
này ngay cả nếu nó không phải là con tôi. Tôi khóc cho
một đứa bé gái duy nhất, xinh đẹp của
một kỹ sư và một bác sĩ, một đứa
bé mà cuộc đời đă hứa cho tất cả,
nhưng đă chết như một đứa trẻ
mồ côi cả cha lẫn mẹ và được chôn
cất sơ sài trong một nghĩa trang tiều tụy.
Tôi khóc cho nạn nhân vô tội nhất của cuộc
chiến này. Tôi chợt hiểu rằng tôi không thề
bỏ cuộc. Nếu tôi không v́ đất nước
quyết định hồi hương th́ Quốc Phái
đă sinh ra ở Pari, sẽ lớn lên trong t́nh yêu và
hạnh phúc, sẽ thành công mỹ măn. Tôi cần một
thắng lợi đễ làm quà tặng và xin lỗi
Quốc Phái và thắng lợi đó phải thực
quảng đại, xứng đáng với Quốc Phái và
xứng đáng với nỗi đau không bao giờ nguôi
trong tôi.
Trong thứ tự những người được
đề tặng, độc giả có thề hỏi
tại sao tôi không đề những người đă
chết trước những người c̣n sống? Lư do
là v́ mặc dầu những t́nh cảm vô cùng tha thiết và
vô cùng sâu đậm với người đă khuất,
sự sống vẫn phải đi trước. Cuốn
sách này muốn được là cuốn sách của hy
vọng, viết cho những con người của
đất nước hôm nay và ngày mai.
Tôi
phải cám ơn trước hết toàn bộ các chí
hữu trong gia đ́nh Thông Luận, nơi kiến thức
và nhận thức của tôi đă h́nh thành nhờ nhưng
cuộc thảo luận và trao đỏi và cũng đă
một phần nào được thử nghiệm qua hành
động.
Một ḷng biết ơn xâu xa xin được gởi
tới những bậc thầy đă uốn nắn cách suy
nghĩ của tôi. Các giáo sư Vũ Khắc Khoan, Lê
Ngọc Huỳnh, Nguyễn Xuân Kỳ, hiện nay không c̣n
nữa. Một lời tưởng nhớ cũng xin
được gởi đến cố giáo sư
Nguyễn Ngọc Huy, một người bạn thân và một
người anh lớn đă chỉ dạy cho tôi rất
nhiều khi mới hoạt động chính trị, rất
tiếc là ông đă mất trước khi chúng tôi có thể
sát cánh với nhau trong cùng một tổ chức.
Dĩ nhiên tôi không thề không nhắc tới thân phụ
tôi, người thày đầu tiên của tôi, đă tạo
ra tôi cả xác lẫn hồn và mẹ tôi, người
đă cho tôi bài học quí giá nhất : đấu tranh chính
trị trước hết là bằng trái tim.
Đoàn Xuân Kiên, Vơ Xuân Minh và Diệp Tường Bảo
đă đọc lại và góp ư.
Lời cảm tạ sau cùng nhưng đặc biệt
nhất xin dành cho Nguyễn Văn Huy, người đă
thúc giục tôi viết cuốn sách này. Huy là tiến sĩ
về dân tộc học và giảng dạy về môn dân
tộc học vùng Đông Nam á tại Đại Học Paris
7. Huy rất say mê khảo cứu lịch sử Việt Nam
và đă góp ư với tôi trong nhiều nhận định. Dù
không chia sẻ hoàn toàn những ǵ tôi viết, Huy đă t́nh
nguyện đọc lại, sửa chữa và thay tôi lo
phần việc in ấn cuốn sách này.
Nguyễn Gia Kiểng
Ghi chú về
tài liệu tham khảo và bố cục
Cuốn
sách này là một cuốn sách đề thảo luận ư
kiến, với mục đích chỉ đè xướng ra
mà không kết thúc các cuộc thảo luận. V́ thế tác
giả, do thời giờ eo hẹp, đă tự cho phép
bỏ qua phần chú thích sau mỗi chương. Sự
thiếu sót này là do điều kiện biên soạn cuốn
sách : tác giả, v́ không thề dành một khoảng thời
gian liên tục đề viết, đă phải lập
trước một bố cục, sau đó viết dần
dần từng chương một trong ṿng bốn năm,
trung b́nh mỗi ngày một vài giờ, đôi khi trên xe
lửa hoặc máy bay. Cách viết như vậy không cho phép
ghi chú tỉ mỉ những tài liệu trích dẫn. Bù
lại, những trích dẫn quan trọng đă
được ghi ngay trong các bài viết, như độc
giả có thề nhận xét.
V́ là một cuốn sách ư kiến, và hơn nữa ư
kiến cá nhân, nên việc liệt kê tài liệu lại càng
khó. Tác giả viết với kiến thức và suy tư cá
nhân của ḿnh cho nên nếu muốn liệt kê hết các
tài liệu đă ảnh hưởng trực tiếp hay
gián tiếp lên cuốn sách th́ có lẽ phải liệt kê
hết tủ sách của ḿnh. Điều này không phải
chỉ khó mà c̣n không thể làm được v́, một
mặt, có những tài liệu, như báo chí, tác giả
đă tự ư hủy bỏ v́ không có chỗ lưu giữ
và, mặt khác, có những biến cố đă khiến tác
giả nhiều lần mất tất cả hay gần
hết tủ sách.
Trong những trích dẫn về Khổng Giáo, tác giả
sử dụng bản Luận Ngữ do Nguyễn Hiến
Lê biên soạn và nhà xuất bản Văn Nghệ (Nam Cali,
Mỹ) phát hành, có đối chiếu với các bản
nghiên cứu Luận Ngữ bằng tiếng Pháp của Bùi
Đức Tín (Pierre Gastine) và Anne Cheng. ở đây xin
lưu ư độc giả là tác giả không đồng ư
với phần lớn những giải thích về
Khổng Giáo và Khổng Tử trong các lác phẩm này. Theo tác
giả, Luận Ngữ và Khổng Tử cần
được hiểu theo bối cảnh xă hội Trung
Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc trong khi các tác
phẩm nói trên thường vô t́nh giải thích theo những
quan niệm về Nho Giáo được h́nh thành rất lâu
sau giai đoạn này. Phần lớn các số liệu
về thế giới được lấy từ
những nguồn tài liệu được cập
nhật hóa hàng năm sau đây:
- Encyclopedia Universalis (Encyclopedia Universalis, Paris),
- Etat du Monde (Edition de la Découverte, Paris),
- Bilan Economique ét Social (của nhật báo Le Monde, Pháp),
- The World Almanac (Houghton, Miftline Company, Hoa Kỳ),
The World Bank anual Report (do Ngân Hàng Thế Giới phát hành hàng
năm).
V́ Tổ Quốc An Năn là một cuốn sách để
thảo luận về ư kiến nên tác giả đă ít dùng
những tài liệu thống kê. Các số liệu
được đưa ra thường là những con
số có ư nghĩa quan trọng đặc biệt v́
thế độc giả có thề tin là chúng đă
được kiểm chứng một cách thận
trọng.
Về bố cục, cuốn sách này gồm năm phần.
Mỗi phần gồm một số chương, trong cùng
một chủ đề. Độc giả ít thời
giờ có thề đọc từng chương một
cách độc lập với nhau, nhưng cách đọc
đúng nhất vẫn là đọc theo thứ tự
của cuốn sách v́ trong mỗi chương tác giả coi
như độc giả đă nắm được ư
của phần trước. Tuy được viết
thành những chương ngắn nhưng Tổ Quốc
Ăn Năn không phải là một tuyển tập
những bài nghị luận mà là một cuốn sách.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Sơn hà gấm vóc
Tôi
c̣n nhớ một bài thơ học thuộc ḷng lúc ở
lớp Nhất tiểu học, không biết của tác
giả nào:
Trên dải đất chạy ven bờ biển cả
Dưới trời Đông Nam á rạng màu xanh
Một giống người nhỏ bé nhưng tinh anh
Đă xây đắp một sơn hà gấm vóc...
Trong trí óc non yếu của tôi, nước Việt Nam ta
rộng răi và ph́ nhiêu, người Tàu chen chúc nhau phải di
dân sang nước ta lập nghiệp. Đất
nước ta, theo những bài học đầu
đời của tôi và được nuôi dưỡng cho
đến tuổi thanh niên, đầy tài nguyên phong phú.
Nước ta đầy hứa hẹn và có một
tương lai vô cùng xán lạn. ư nghĩ đất
nước ta có tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú là ư nghĩ
rất lan tràn. Tôi đă gặp không biết bao nhiêu
người quả quyết như vậy. Sau 30-4-1975, trong
trại cải tạo, tôi được nghe rất
nhiều sĩ quan, công chức của miền Nam cũ lên
án đế quốc Mỹ là đă tới Việt Nam
dề cướp bóc tài nguyên. Một anh cựu trung úy và
tốt nghiệp văn khoa c̣n phát biểu rằng sở
dĩ đế quốc Mỹ lập căn cứ Khe Sanh
là v́ ở đấy có một mỏ uranium lớn. Một
công chức khác nói rằng Mỹ đến Việt Nam,
hất Pháp ra là v́ những giếng dầu khổng lồ
của Việt Nam. Có anh c̣n nói các giếng dầu của
Việt Nam, so với các giếng dầu ở Trung Đông
như con voi so với con tem. Anh ta không giải thích tại
sao Mỹ lại rút lui, bỏ rơi những giếng
dầu khổng lồ đó.
Dĩ nhiên họ phát biểu v́ hoàn cảnh. Họ thua
trận, họ vào tù, họ phải mạt sát chế
độ Việt Nam Cộng Ḥa và đế quốc
Mỹ đề mong được khoan hồng. Nhưng
những điều họ nói về tài nguyên đất
nước là thành thực. Họ tin như thế. Tôi
hỏi anh sĩ quan đă nói về mỏ uranium ở Khe
Sanh th́ anh ta không có một dữ kiện nào cụ thề
cả, nhưng anh ta tin như thế và tin chắc như
đinh đóng cột.
Không hiểu v́ lư do nào mà hầu hết mọi người
Việt Nam đều có niềm tin sai lầm rằng
đất nước Việt Nam bao la, tài nguyên của
việt Nam vô tận. Cuốn Địa Lư Kinh Tế
Việt Nam (Văn Trai, chủ nhiệm bộ môn
Địa Lư Kinh Tế Trường Đại Học Kinh
Tế Thành Phố Ḥ Chí Minh, xuất bản lần thứ
4 năm 1990) khẳng định: Các tài nguyên quặng
mỏ nước ta có nhiều loại trữ
lượng lớn, chất lượng cao, dễ khai
thác, bảo đảm phát triển công nghíệp trong
nước lâu dài và mạnh mẽ, đồng thời c̣n
có thể xuất khẩu nữa. Niềm tin ở tài nguyên
to lớn của đất nước rất
thường gặp trong nhiều bài viết, bài nói và tác
phẩm của các tác giả thuộc mọi khuynh
hướng chính trị. Niềm tin này tạo ra một
sự yên tâm tai hại. H́nh như mọi người
Việt Nam đều tin rằng đất nước
ḿnh thế nào rồi cũng sẽ phú cường, do
đó mà mất đi sự lo lắng cần thiết
đề giữ ǵn đất nước và xây dựng
tương lai. Và cũng v́ thế mà có tâm lư phá hoại và
vô trách nhiệm.
Sự yên tâm này không những chỉ tai hại mà c̣n làm
chết người. Đó là tâm lư ngự trị trong
đầu óc những người lănh đạo
đảng cộng sản. Năm 1945 họ thực
hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, họ đập
phá tất cả các thành phố, đường bộ,
đường sắt. Trong chiến tranh họ không bao
giờ lưỡng lự khi phá hoại bất cứ
một công tŕnh nào. Một bài t́nh ca yêu nước của
người cộng sản có hai câu:
Em đi phá lộ Đông Dương,.
Anh về đánh bốt Mỹ Lương, Đông Hà.
(Đánh bốt có nghĩa là đánh đồn. Trẻ em
thường hát sai thành đánh đốt).
Thơ mộng quá! C̣n ông Hồ Chí Minh? ông phát biểu
quyết tâm chinh phục miền Nam như sau: Đất
nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là
một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn nhưng chân lư
ấy khôn thể nào thay đổi? Ghê gớm không? Sẵn
sàng chấp nhận chiến tranh đến sông cạn, núi
ṃn, không lư ǵ đến sự tàn phá mà đất
nước có thể phải chịu đựng. Một
lần khác ông tuyên bố rằng đế quốc Mỹ
có thể gia tăng ném bom tại Bắc Việt, có thể
phá hoại đường sá, hay tiêu hủy nhiều thành
phố nhưng sẽ không bao giờ làm cho đảng
cộng sản Việt Nam nhụt ư chí đấu tranh.
Độc giả đừng vội nghĩ rằng tôi
đang chống cộng và kề tội người
cộng sản. Tôi nghĩ rằng trong thâm tâm không nhiều
th́ ít ai cũng yêu nước, và người cộng
sản cũng thế. Có lẽ sai lầm cơ bản là
chúng ta không đánh giá đúng tiềm năng của
đất nước và mức độ chịu
đựng tối đa của nó. Chúng ta nghĩ rằng
nước ta có tiềm năng vô tận và v́ thế có
bị đập phá cũng không sao.
Nếu ngược lại ta ư thức rằng đất
nước ta nhỏ bé chật hẹp, tài nguyên của ta
ít ỏi, có lẽ ta sẽ hành xử rất khác. Ta sẽ
quí từng con đường nhỏ, từng cây cầu,
từng dăy phố, từng căn nhà. Chúng ta sẽ tránh
được những phí phạm và những cuộc
chiến tranh làm chết hàng triệu người và tàn phá
đất nước.
Mà sự thực ta có ǵ đâu?
Mỏ quan trọng nhất trong đất liền của
ta là than đá anthracite với trữ lượng 6 tỷ
tấn. Sản lượng hàng năm là 8 triệu tấn,
nếu khai thác tối đa có thể đạt tới 20
triệu tấn. Có nên khai thác tối đa hay không lại
là một vấn đề khác. Nhưng ngay cả như
thế sản lượng than dá của ta cũng chỉ
bằng ba phần ngàn sản lượng hàng năm
của thế giới, thua xa Cao Ly (77 triệu tấn), Ba
Lan (150 triệu tấn), Đức (77 triệu tấn), Anh
(93 triệu tấn). Đó chỉ là để kể
một vài nước có diện tích tương
đương hay nhỏ hơn nước ta. Và tất
cả những nước này c̣n nhiều tài nguyên phong phú
khác mà ta không có. Mỏ sắt của ta, được
kể như một tài nguyên lớn, chỉ có trữ
lượng tổng cộng 540 triệu tấn - nghĩa
là rất khiêm nhường, tương đương
với sáu tháng sản xuất trên thế giới -, đă
thế lại phân tán ra trên 200 mỏ, cho nên không thể khai
thác qui mô được. Các mỏ khác của ta đều
không đáng kể. Thí dụ như nickel, một trong
những tài nguyên được coi là quan trọng của
ta chỉ có một trữ lượng tổng cộng cho
các mỏ là 3 triệu tấn, nhưng phần lớn
lại pha lẫn trong chrome, ở Cổ Định (Thanh
Hóa), tương đương với một năm
sản xuất của ḥn đảo nhỏ xíu Nouvelle
Calédonie.
Ngoài ra ta có hai mỏ khác có triển vọng khá là mỏ
chrome ở Thanh Hóa (trữ lượng 21 triệu tấn)
và mỏ apathite ở Lào Cai (trữ lượng công
nghiệp 135 triệu tấn). Từ vài năm gần
đây, Việt Nam trông đợi rất nhiều vào
đầu khí. Nhưng đây cũng chỉ có thể là
một hy vọng rất khiêm nhường.
Trữ lượng của ta, theo những ước
đoán lạc quan, không bao nhiêu, chỉ vào khoảng 400
triệu tấn (thế giới: 400 tỷ tấn). Sản
lượng dầu lửa hợp lư của ta sau này
chỉ có thể đạt tới mức tối đa 15
triệu tấn mỗi nam, nghĩa là tương
đương với một tuần lễ sản xuất
của Mỹ, hoặc Nga, hoặc Saudi Arabia, trừ khi ta
áp dụng chính sách ăn xổi ở th́, khai thác cho hết
thực nhanh chóng và bất chấp tương lai. Trong
trường hợp này những đầu tư thiết
bị vào dầu lửa sẽ thành vô dụng sau một
thời gian ngắn. Mặt khác, nhu cầu năng lượng
của ta sẽ tăng lên mau chóng (ít ra ta phải hy
vọng như vậy) cùng với đà phát triển, và các
mỏ dầu chỉ giúp ta giảm nhẹ hóa đơn
dầu nhập cảng mà thôi.
Khí đốt hy vọng mới của Việt Nam cũng
vậy, với một trữ lượng 100 tỷ mét
khối (hy vọng rằng ta c̣n t́m được thêm), 1 %
của trữ lượng trong vùng và 7 phần mười
ngàn (7/10.000) trữ lượng thế giới, ta cũng
chỉ có thể hy vọng bớt đi phần khí
đốt phải mua vào mà thôi. Nếu cần một con
số nói lên sự nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên của
ta th́ đó là con số 13. Hiện nay, năm 2000 chúng ta
đứng hàng thứ 1 3 trên thế giới về dân
số với 78 triệu người, nếu không kiểm
soát được đà gia tăng th́ đến
đầu thế kỷ 21 chúng ta sẽ qua mặt
Đức (80 triệu dân) để lên hàng thứ 12,
nhưng ta không đứng trong số 13 nước
đầu, mà cũng không đứng trong số 30
nước đầu, về một tài nguyên nào cả.
Tài nguyên đă giới hạn như thế hiện nay chúng
ta lại rất nghèo, rất lạc hậu, rất thua
kém. Liệu chúng ta có một tương lai nào không? Và
nếu muốn có th́ phải làm thế nào? Hăy khoan trả
lời những câu hỏi đó. Nhưng ngay tại đây
ta có thể nói rằng ư thức được hoàn
cảnh khó khăn của ḿnh tự nó cũng đă là
một hành trang quí báu, bởi v́ nó cho ta một cách ứng
xử đúng đắn, nó đem lại cho ta một thái
độ lo lắng và thận trọng trong việc
dựng nước, nó giúp ta ư thức được
sự cần thiết của cố gắng.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Rất đượm hương và rộn
tiếng chim
Không
biết ông Tố Hữu có phải là nhà thơ theo đúng
nghĩa của một nhà thơ không. Nhưng ông có tài làm
thơ, hiểu theo nghĩa những câu ngắn có vần
ở cuối, và tài làm thơ đă góp phần quyết
định đưa ông lên gần tới tột
đỉnh của danh vọng và quyền lực. ông
biết dùng những h́nh ảnh rất đẹp và
giản dị ngay cả khi đề diễn tả
những t́nh cảm giả tạo với những mục
đích rất thực tiễn. Như khi ông dùng h́nh ảnh
đứa bé tập nói để ca tụng Stahn, hay khi ông
dùng h́nh ảnh một người con ân cần nắm tay
cha để nịnh Hồ Chí Minh. Bài thơ Từ ấy
của ông được người cộng sản ca
tụng như một bài thơ hay.
Nó bắt đầu như sau:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lư chiếu qua tim
Hon tôi là một vườn xanh lá
Rất đượm hương và rộn tiếng chim.
Qua những câu thơ này, ông Tố Hữu muốn diễn
tả nỗi hân hoan của ông khi t́m ra chân lư Mác-Lênin và
dấn thân tranh đấu trong Đảng Cộng Sản
Việt Nam. C̣n ǵ đẹp bằng màu xanh của lá và
tiếng hót của chim?
ông Tố Hữu đă tranh đấu và đă thành công. Lư
tưởng của ông đă đạt được. Con
đường thắng lợi của đảng ông
đă đi qua hàng triệu xác chết. Để đi
đến kết quả nào?
Trong mùa hè 1992, một người bạn Pháp, sau chuyến
đi công tác một tháng tại Việt Nam, kề cho tôi
nghe là anh ta thường thức dậy sớm v́ sai
biệt giờ giấc. Anh ta nói khu anh ta ở không có
chợ v́ nằm ngoài thành phố và buổi sáng im lặng
một cách lạ thường v́ hoàn toàn không có một
tiếng chim.
Anh ta có nhiều chuyện quan trọng hơn đề nói
cho tôi nghe và tôi cũng có nhiều chuyện để
hỏi anh ta; những số liệu, những cuộc
gặp gỡ, những nhân vật đă tiếp xúc,
nhận định, cảm tưởng v.v. Và tôi không
lưu ư tới chi tiết này.
ít lâu sau, lại một người bạn khác, hay đi
về Việt Nam, kể cho tôi nghe chuyện qua bắc
Mỹ Thuận. Tôi th́nh ĺnh nhớ tới những quán bán
chim nướng và hỏi anh ta có ăn chim nướng
ở đó không. Anh ta trả lời rằng có, nhưng
đó chỉ là gà con mới nở được đem
chiên thay cho chim chứ chim không c̣n nữa. Tôi bắt
đầu lưu ư tới đàn chim Việt Nam.
Trong mùa hè 1993, nhiều anh em trong nhóm Thông Luận về
thăm nhà. Tôi dặn mọi người đễ ư xem
Việt Nam c̣n nhiều chim không. Họ đem thuật
lại như nhau, và điều họ nói làm tôi sửng
sốt: Việt Nam không c̣n chim? Chỉ có một
người bạn đi từ Nam ra Bắc mới
thấy một con chim ở Vịnh Hạ Long, anh ta
vội vă lấy máy h́nh ra chụp ảnh con chim ấy
đem về cho tôi.
Cà Mau trước đây có một rừng c̣ lớn, có
rất nhiều loại c̣, nhiều đến nỗi có
nhưng người chuyên đi vào rừng lượm
trứng c̣ và mỗi ngày lượm được cả
rổ đem ra chợ bán. Tôi dặn một người
bạn nhớ viếng khu rừng c̣ đó và anh ta cho tôi hay
khu rừng c̣ chỉ c̣n rất ít c̣ ít một cách không
đáng kể. Thế là cuộc cách mạng của ông
Tố Hữu thành công và Việt Nam hết chim.
C̣n màu xanh của lá?
Những người qua lại Việt Nam đều
đồng ư. Rừng bị phá hoại thẳng tay. Cho
tới năm 1993, hàng ngàn công ty thi nhau đốn cây
lấy gỗ xuất khau. Hàng trăm ngàn gia đ́nh
sống bằng nghe phá rừng lấy củi đem bán cho
hàng triệu gia đ́nh cần chất đốt. Chỉ
tới giữa năm 1993, nhà nước mới ra lệnh
cấm xuất cảng gỗ, và mới bắt đầu
có một cố gắng rất h́nh thức để
trồng lại rừng, nhưng rừng vẫn tiếp
tục bị phá nhanh chóng. Nhà nước cộng sản
cũng không giấu giếm việc này, và nhiều báo chí
đă lên tiếng báo động. Nhưng c̣n ǵ để
báo động? Những con số đă thực kinh
khủng: 3/4 rừng Việt Nam đă bị phá, chỉ
riêng trong 20 năm từ 1975 đến 1995, kể từ
ngày đất nước thống nhất hơn một
nửa diện tích rừng trên toàn quốc bị phá
hủy. Mùa hè 1999, tôi lại được đọc
một nguồn tin của nhà nước theo đó th́
khoảng 1/3 diện tích rừng đă bị phá từ
năm năm qua. Rừng Việt Nam c̣n lại bao nhiêu có
lẽ không ai biết được một cách chính xác
nhưng tôi nghĩ sự thực có lẽ c̣n bi đát
hơn các con số. Báo chí thế giới đă nói tới
rất nhiều, và chính quyền c̣n nói nhiều hơn,
về những tàn phá gây ra cho rừng v́ những thảm
bom B52 và nhất là chất độc màu da cam của
Mỹ. Điều đó đúng, và rừng cây Việt Nam
đă bị thiệt hại rất nhiều. Nhưng không
thấm vào đâu so với những tàn phá của 25 năm
quản lư đất nước bất chấp môi sinh.
Người ta cứ tưởng đất nước
Việt Nam vô tận, thiên nhiên Việt Nam vô tận nên
cứ thẳng tay tàn phá.
Vô lư nhất là việc cho phép xuất cảng gỗ cho
tới vài năm gần đây cũng vô lư và đần
độn như việc xuất khẩu kim loại
phế thải trước đây với giá rẻ
mạt, rồi bây giờ phải mua lại với giá
đắt gấp mấy chục lần. Việt Nam
chưa bao giờ dư gỗ cả. Chúng ta có gỗ
để xuất khẩu chỉ v́ chúng ta quá nghèo. Không
cần nói tới miền Bắc và miền Trung, nơi
cuộc sống nông thôn chỉ là một sự đầy
đọa và ở đó chẳng làm ǵ có chuyện sắm
bàn ghế, giường gỗ, tủ gỗ. Tôi đă
đi qua các tỉnh miền Tây Nam phần trù phú, ở
đó hầu như tất cả các căn nhà đ̣ng quê
đều dựng lên bằng tre, và mỗi gia đ́nh
chỉ có một hai chiếc giường bằng gỗ;
bàn ghế hầu như không có. Khi mức sống đă
tăng lên, và phải hy vọng là mức sống sẽ
tăng lên, chúng ta sẽ phải nhập cảng một
số lượng gỗ lớn.
Đất nước ta đă chật hẹp, đă không
có tài nguyên thiên nhiên, c̣n bị phá hủy và trở thành
cằn cỗi. Không c̣n rừng xanh và bặt tiếng chim!
Ngày xưa, Nguyễn Trăi kể tội quân Minh tàn phá
nước ta: Tàn hại cả côn trùng thảo mộc? Quân
Minh không phải là người Việt Nam và v́ thế có
thể không quí trọng thiên nhiên Việt Nam. Ngày nay chính
người Việt Nam tàn phá đất nước
Việt Nam. Khi đất nước Việt Nam đă
bị tàn phá đến nỗi không c̣n sinh sống
được nữa th́ cũng không c̣n ǵ để nói và
làm nữa. Tôi đă có dịp ghé thăm nước Tunisie.
Quốc gia bé nhỏ này đang bị thiên nhiên tiêu diệt
từ từ. Sa mạc ngày càng lấn lên từ miền
Nam, nước Tunisie đă nhỏ lại càng nhỏ
lại. Sự thiếu thốn thảo mộc đang làm
thay đổi cả thời tiết. Mưa đổ ào
xuống trong ṿng 10 ngày mỗi năm, rồi sau đó là
hạn hán. Những con sông trung b́nh chỉ có nước
một hai ngày mỗi năm, những ngày c̣n lại chúng
đề trơ ḷng sông nứt nẻ. Cả một
cố gắng vĩ đại và tuyệt vọng
được tung ra dễ trồng cây ngăn chặn
sự gậm nhấm của sa mạc. Nhưng đó là
một thiên tai. ởViệt Nam tai họa do con
người và do người Việt Nam.
Tuy vậy Tunisie vẫn c̣n chim, mắt tôi đă nh́n thấy
nhiều đàn chim. Việt Nam không c̣n chim.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Sơn xuyên chi cương vực kư thù
Nguyễn
Trăi (1380-1442) mở đầu bài B́nh Ngô Đại Cáo
như sau:
Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân,
Điếu phạt vi sư mạc tiên khử bạo.
Như nói chuyện Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bằng,
Sơn xuyên chi cương vực kư thù,
Bắc Nam chi phong tục diệc dị.
Trong Việt nam Sử lược, học giả Trần
Trọng Kim cung cấp một bản dịch mà nhiều
người nói là của cụ Bùi Kỷ: Việc nhân
nghĩa cốt yên dân, quân điếu phạt chỉ v́
khử bạo. Như nước Việt ta từ
trước, vốn xưng nền văn hiến đă
lâu. Sơn hà cương vực đă chia, phong tục
Bắc Nam cũng khác.
B́nh Ngô Đại Cáo là một áng văn bất hủ,
lời lẽ hùng tráng mà ư kiến cũng rất sâu
sắc. Được sáng tác vào năm 1427 khi nước
ta vừa giành lại được độc lập
từ tay quân Minh, B́nh Ngô Đại Cáo có giá trị của
một bản tuyên ngôn độc lập. Nó xác nhận
văn tài xuất chúng và ư thức chính trị phi
thường của Nguyễn Trăi, một trong những anh
hùng kiệt xuất nhất trong suốt ḍng lịch sử
của nước ta. Hầu hết mọi người
Việt nam đều chỉ biết đến B́nh Ngô
Đại Cáo qua bản dịch của Trần Trọng
Kim (hay Bùi Kỷ?). Bản dịch đó cũng là một
tuyệt tác. Tuy nhiên, phù hợp với văn phong của
thời các cụ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, nó chú
trọng đến lời văn và âm hưởng
nhiều hơn là ư, và địch giả đă bỏ qua
một chi tiết có tầm quan trọng rất lớn
trong sự tồn tại của đất nước ta
mà Nguyễn Trăi đă nêu ra. Sơn xuyên chi cương
vực kư thù được dịch là Sơn hà cương
vực đă chia thay v́ núi sông bờ cơi riêng biệt hay lănh
thổ có núi ngăn chia, bỏ qua mất cụm từ
sơn xuyên , có nghĩa là núi sông nhưng cũng có thể có
nghĩa là cách núi. Nguyễn Trăi muốn nhấn mạnh
sự kiện Việt nam và Trung Quốc cách nhau một dăy
núi. Câu mở đầu của B́nh Ngô Đại Cáo có
thể dịch sát nghĩa hơn như sau:
Chính trị chuyên mưu t́m ḥa b́nh, chiến tranh chỉ là
để khử trừ bạo ngược. Nước
Việt nam là một nước văn hiến, lănh thổ
có núi ngăn chia, phong tục Bắc Nam khác nhau....
Bỏ qua vách núi là bỏ qua một yếu tố rất
quan trọng của nước ta. Chính nhờ núi mà
nước ta c̣n đến ngày nay. Dọc theo biên giới
Trung Quốc là cả một vùng núi non dày đặc, dày
gần một trăm cây số. Dọc theo biên giới Lào
là dăy Trường Sơn. Hai dăy núi này kết hợp
với nhau làm một tường thành kiên cố che chở
và cô lập các đồng bằng miền Bắc và
miền Trung nước ta. Chính nhờ núi mà Trung Quốc
đă không thể thôn tính và đồng hóa nước ta, và
cũng nhờ núi mà nước Lào đă không bị
Việt hóa.
Trước đây khi nước ta chưa thực sự
h́nh thành, thế lực c̣n đơn sơ đến
độ một đạo quân nhỏ cũng đủ
đề chinh phục, Trung Quốc đă đặt
được sự thống trị lên quận Giao
Chỉ, nhưng số người Tàu đủ mạo
hiểm để vượt núi qua nước ta lập
nghiệp đă rất giới hạn. V́ thế mà một
ngàn năm Bắc thuộc đă không thể biến Việt
nam thành một vùng hoàn toàn hội nhập vào Trung Quốc.
Khi người Việt nam trở thành đông đảo
với thời gian và giềng mối xă hội trở thành
gắn bó, ta đă đuổi được quan cai
trị người Tàu rồi bảo vệ
được nền độc lập. Từ khi giành
hẳn được độc lập, năm 939 ta
chỉ bị rơi vào ách Bắc thuộc hai mươi
năm, từ 1407 đến 1427, trong một bối
cảnh suy đồi đặc biệt. Cuộc chiến
tranh giải phóng do Lê Lợi cầm đầu đă
rất vẻ vang, nhưng khách quan mà nói lực
lượng Trung Quốc xa hậu cứ và khi phải
đương đầu với cuộc chiến tranh
giải phóng Trung Quốc đă không chứng tỏ một
quyết tâm đặc biệt nào đề duy tŕ nền
thống trị.
Các đạo quân xâm lăng phải vượt qua
những đường ṃn chật hẹp dài cả
trăm cây số nên vận tải lương thực rát
khó khăn, và làm mồi ngon cho các cuộc phục kích.
Muốn xâm nhập nước ta, quân Trung Quốc
thường phải đi đường biển
đổ bộ xuống vùng Nghệ An, rất xa
địa điểm xuất phát xét theo phương
tiện di chuyển ngày xưa, hay cửa Bạch
Đằng, tuy gần hơn nhưng vẫn c̣n phải
đi một chặng đường hiểm trở
đề tiến về Hà Nội.
Nhờ thường xuyên đánh thắng quân xâm lăng
phương Bắc, chúng ta thường tự hào về
sức sống mănh liệt của dân tộc, mà ít khi
chịu khiêm tốn đề nh́n nhận rằng sự
tồn tại của nước ta chỉ được
bảo đảm nhờ vách núi dày đặc và hiểm
trở. Nhiều nhà lư luận nặng đầu óc dân
tộc đă biện bạch rằng dân ta đứng
vững được nhờ có một nếp sống
riêng, một nền văn hóa dân tộc cao, một tinh
thần dân tộc cao và một tinh thần chiến
đấu đặc biệt kiên cường.
Những yếu tố đó đều đúng nhưng
chỉ đúng một phần mà thôi.
Ta đă phóng đại và huênh hoang quá đáng. Thực ra
tinh thần dân tộc của ta không lấy ǵ làm mạnh và
khả năng chiến đấu của ta tuy khá nhưng
không thể nói là phi thường. Về văn hóa, ta đă
bắt chước người Tàu một cách mê mải và
vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta vẫn
c̣n khác văn hóa Tàu th́ cũng chỉ v́ ta bắt
chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa
Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là
ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở
tŕnh độ nhiều hơn là ở bản chất. Sau
này khi lệ thuộc người Pháp, chúng tà cũng đă
mê mải chạy theo văn hóa Pháp. Nhiều người
c̣n muốn quên hẳn gốc gác Việt nam.
Những người vong bản này không hẳn là những
người phản quốc, ngay cả phản quốc
hiểu theo nghĩa cộng sản. Năm 1980, tôi có
dịp nghe một bài nói chuyện của ông Phạm Văn
Đồng, lúc đó là chủ tịch Hội Đồng
Bộ Trưởng nước Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghĩa Việt nam. Ông Phạm Văn Đồng là
một trong những người lănh đạo chủ
chốt của cuộc chiến tranh cam go chống Pháp
kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên
Phủ. Ông Đồng là người đă giữ chức
vụ thủ tướng lâu nhất tại Việt nam
trong gần 40 năm. Trong các lănh tụ cộng sản, ông
là người được các đảng viên kính
trọng nhất sau ông Hồ Chí Minh. Ông được coi
là lănh tụ cộng sản kỳ cựu có văn hóa cao.
Điều đặc biệt là ông Phạm Văn
Đồng, mặc dầu đảm nhiệm chức
vụ chính trị quan trọng đă tỏ ra đặc
biệt ưu tư tới tiếng Việt ông viết
một loạt bài dưới đề tựa Giữ ǵn
sự trong sáng của tiếng Việt.
Và tôi đă nghe ông Đồng nói những ǵ? Bài nói
chuyện của ông có ít nhất 20% là tiếng Pháp. Ông chêm
tiếng Pháp bất cứ lúc nào ông có thể chêm
được. Có khi ông nói cả những câu hoàn toàn
bằng tiếng Pháp mà hầu hết cử tọa không
hiểu. Tôi hỏi một người bạn đảng
viên khá cao cấp đă nhiều lần nghe ông Đồng
thuyết tŕnh, anh ta cho hay ông Đồng lúc nào cũng nói
như vậy v́ ông ấy học giỏi và quen miệng nói
tiếng Pháp. Thực ra bác sĩ Đặng Văn Hồ
(mà tôi gọi bằng chú do một liên hệ gia đ́nh gián
tiếp), bạn học của ông Đồng, cho tôi hay ông
Đồng chưa học hết trung học bản
xứ và đă từng nói với bác sĩ Đặng
Văn Hồ rằng: Mày đậu tú tài th́ học
tiếp tao không có tú tài th́ đi làm cách mạng. Như
thế vốn liếng tiếng Pháp của ông Đồng
tuy có thực nhưng không nặng đến nỗi sau
hơn một nửa thế kỷ đấu tranh
chống Pháp ông vẫn c̣n phải chêm tiếng Pháp luôn
miệng như vậy. Tôi học và sử dụng
tiếng Pháp nhiều hơn hẳn ông Đồng, tôi
cũng sinh sống tại đất Pháp lâu năm,
nhưng không có nhu cầu phải pha thêm tiếng Pháp trong
khi viết và nói tới mức độ như ông
Đồng. Ông Đồng chêm tiếng Pháp v́ ông thích
tiếng Pháp, cho rằng nói tiếng Tây là sang. Và ông nghĩ
như vậy, bởi v́ những người chung quanh ông
cũng nghĩ như vậy, người Việt nam
rất vọng ngoại về mặt văn hóa.
Đă nói tới người cộng sản th́ cũng phải
nói đến người quốc gia. Ông Nguyên Văn
Thiệu tuy vốn liếng tiếng Pháp chẳng hơn ǵ
ông Đồng là mấy nhưng cũng luôn miệng nói
tiếng Pháp. Trong biên lai mà ông kư cho tướng Trần
Văn Đôn đễ nhận một triệu
đồng tiền thưởng của t́nh báo Mỹ sau
cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm, ông viết Bon pour 1.000.000 piastres. Một
biên lai giữa người Việt với nhau lại
viết bằng tiếng Pháp. Như thế mới sang.
Trong thời gian làm việc tại Ngân Hàng Việt nam
Thương Tín và Bộ Kinh Tế, tôi đă
được đọc nhiều hồ sơ. Hồ
sơ nào hầu như cũng pha tiếng Pháp, có hồ
sơ hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Đó là sau khi Pháp đă
ra đi gần 20 năm!
Sức chiến đấu kiên cường của ta
cũng cần xét lại. Quả thật ta đă có
những chiến công hiển hách, nhưng cũng có
những lúc mà sức chiến đấu của ta kể
như không có. Bảy người lính Pháp đă có thể
vào chiếm tỉnh Ninh B́nh, bắt quan quân Việt nam qú
gối hạ khí giới. Vài trăm lính Pháp đă có thể
hạ được Thăng Long, đánh tan nhiều ngàn
quân Việt nam, một lần bắt sống Nguyễn Tri
Phương, một lần buộc Hoàng Diệu phải
tuẫn tiết. Hồ Quí Ly chuẩn bị một
đạo quân đông đảo và hùng hậu dề
đương đầu với quân Minh. Nhưng chỉ một
đạo quân nhỏ của Trương Phụ đă
đánh tan được toàn bộ quân nhà Hồ và bắt
sống Hồ Quí Ly trong một thời gian chớp nhoáng.
Vậy phải giải thích thế nào những chiến
công của ta? Quan sát kỹ ta thấy người Việt
nam có tâm lư sợ và phục tùng uy quyền. Khi có những
cấp chỉ huy cứng cỏi, họ chiến
đấu có hiệu lực. Nhưng không nên vội
đồng hóa tâm lư sợ và phục tùng cấp trên với
ư chí sẵn sàng chiến đấu và chấp nhận hy
sinh v́ đất nước. Trong một đoạn khác
tôi sẽ trở lại vấn đề này. Tôi nói văn
hóa đặc thù của ta không có bao nhiêu, tinh thần dân
tộc và khả năng chiến đấu của ta
chỉ giới hạn hoàn toàn không phải nhằm mục
tiêu hạ nhục dân tộc ta. Để làm ǵ?
Tôi chỉ muốn lưu ư rằng khả năng tự
vệ của dân tộc ta thực ra chỉ vừa
phải, chúng ta đă tồn tại được chủ
yếu là nhờ có núi làm biên giới thiên nhiên. Ngày nay, trong
thế giới hiện đại này, núi không c̣n là mộc
che thân của ta nữa và biển lại là cửa vào xâm
nhập lư tưởng; sự xâm nhập không c̣n bằng
quân sự mà bằng văn hóa, kinh tế, thương
mại, sách báo, phim ảnh, âm nhạc. Ta phải hết
sức lo lắng để giữ nước v́ bài toán
giữ nước đă thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không
c̣n trông vào núi được nữa. Muốn giữ
nước từ đây ta phải có khả năng tự
vệ thực sự, tinh thần dân tộc thực
sự, ḷng yêu nước thực sự.
Làm thế nào đề có những yếu tố đó
phải là ưu tư của mọi người quan tâm
tới đất nước.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Nước non ngh́n dặm
Người
Việt nam nào h́nh như cũng biết câu ca dao
Nước non ngh́n dặm ra đi. Cụm từ
nước non ngh́n dặm cũng đă là đầu
đề của nhiều tác phẩm, và được
dùng trong vô số bài hát, bài thơ. Nó đă làm cho nhiều
người nghĩ đất nước ta rộng răi,
bao la. Sự thực th́ chúng ta rất thiếu đất.
Với 78 triệu người (năm 2000) trên một
diện tích 330.000 km2, nghĩa là 237 người trên một
kilômét vuông, chúng ta là một trong những nước có
mật độ cao ngất, gần gấp đôi Trung
Quốc (120 người / km2) và xấp xỉ bằng
ấn-độ (270 người / km2), hai nước
được coi là có nạn nhân măn trầm trọng.
Nhưng không phải chỉ có thế. T́nh trạng
thiếu đất thật ra c̣n trầm trọng hơn
nhiều. Nếu núi đă giúp ta giữ nước, th́ núi
và đồi cũng đă chiếm mất của ta ba
phần tư lănh thổ. Tại miền Bắc và Bắc
Trung Bộ, đồi và núi chiếm hơn 80% lănh thổ.
Tỷ lệ đất đai canh tác được
của ta không tới 25 %. Nếu trừ đi thành phố,
nhà cửa, đường sá sông ng̣i th́ diện tích c̣n
lại để trồng lúa tối đa của ta không
quá 7 triệu héc-ta.
Nói đến thiếu đất người ta nghĩ
ngay đến hạn chế sinh đẻ. Chính quyền
hiện nay theo đuổi một chính sách hạn chế
sinh đẻ vừa rời rạc vừa hung bạo.
Trong truyện ngắn nỗi tiếng Tướng về
hưu, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện
một vị tướng cộng sản về hưu
đă phải bỏ ra đi t́m lại đơn vị
cũ của ḿnh đề rồi thiệt mạng v́ không
thể chịu đựng được cảnh cô con
dâu, một bác sĩ sản khoa, đem những thai nhi
đă bị phá về nhà làm thức ăn nuôi chó béc-giê
kỹ nghệ. Trong cuộc Hội Luận Dân Chủ
Đa Nguyên tháng 10-1990, nhà nghiên cứu Đinh Trọng
Hiếu, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Pháp,
vừa từ Việt nam sang sau một chuyến nghiên
cứu dài ba tháng về đời sống nông thôn, đă
lên diễn đàn mô tả lại cảnh mà ông đă nh́n thấy,
cảnh ba bốn phụ nữ bị bắt buộc phá
thai trong các trạm y tế. Họ nằm trần
truồng bên nhau, dạng cẳng cố trục xuất
thai nhi ra, sau khi đă nhận thuốc phá thai. V́ thiếu
phương tiện, việc phá thai được
phối hợp giữa thuốc và các biện pháp tay chân.
Đinh Trọng Hiếu vừa kể vừa khóc.
Đọc báo trong nước, người ta cũng
vẫn thường gặp những bài nói về các cán
bộ, đảng viên bị phê b́nh, hay có khi bị kỷ
luật v́ có tới ba con.
Nhưng mặc dầu vậy, dân số nước ta
vẫn tiếp tục gia tăng xấp xỉ 2%, tức
khoảng một triệu rưỡi người mỗi
năm. Các biện pháp hạn chế dân số dă man đă
chỉ làm xuống cấp con người chứ không
ngăn chặn được nạn nhân măn. Có lẽ v́
con người trở thành rẻ rúng mà chính quyền không
c̣n quan tâm tới sức khỏe. Sách báo không thầy
đăng (hay có đăng mà tôi không đọc được?)
tỷ lệ người chết hàng năm. Tôi t́m
được một cuốn sách địa lư trung
học (Địa lư lớp 9 - Nguyễn Trọng
Điều, Nhà xuất bản Giáo Dục, 1989) hai con
số: tỷ lệ người chết là 6,3 phần ngàn
năm 1979 và 6,95 phần ngàn năm 1986. Như thế có
nghĩa là trong ṿng 7 năm tỷ lệ người
chết đă tăng lên 10%. Năm 1986 là năm bắt
đầu chính sách mở cửa theo qui luật kinh tế
thị trường. Từ đó hệ thống y tế
của nước ta bị bỏ rơi và xuống
cấp không ngừng. Hiện nay, năm 2000, y tế
của ta có thể nói là đă sụp đổ hoàn toàn.
Theo thống kê của nhà nước, số trẻ em
chết trước khi được một tuổi
đă tăng 10% trong năm 1998.
Hạn chế đà gia tăng dân số chắc chắn
phải là ưu tư lớn của bất cứ một
chính quyền Việt nam nào. Nhưng trước hết
phải nh́n vấn đề một cách đúng
đắn, phải nhận định rằng vấn
đề sinh đẻ nhiều trước hết là
một vấn đề văn hóa, xă hội và nhân sinh quan
chứ không phải là một vấn đề thuần túy
kinh tế, và do đó không thể giải quyết bằng
những quyết định hành chánh, duy ư chí chính quyền
cộng sản đă có một thái độ thiếu
lương thiện trên vấn đề này. Trước
năm 1975, đảng cộng sản hoàn toàn không
đặt ra vấn đề hạn chế sinh
đẻ. Lúc đi cải tạo sau ngày 30-4-1975, tôi c̣n
được nghe một bài học tập lên án gay
gắt ngụy quyền Sài g̣n là đă tiếp tay cho chính
sách diệt chủng bằng cách hạn chế sinh
đẻ. Chỉ sau Đại hội IV, năm 1976,
vấn đề mới đặt ra. Và sau đó những
dụng cụ và thuốc ngừa thai mới
được khuyến khích, cùng với những quyết
định hành chánh rất thô bạo.
Cũng cần phải phân biệt hai vấn đề
hạn chế sinh đẻ và giải quyết t́nh
trạng dân số cao. Có lẽ tất cả vấn
đề là ở chỗ đó. Nếu chỉ hạn
chế sự gia tăng dân số mà thôi th́ phải nói rằng
đó là một cố gắng vô ích ngay cả nếu
thực hiện được. Bởi v́ ngay bây giờ
với 78 triệu dân, chúng ta đă tuyệt vọng rồi
nếu vẫn cứ là một nước nông nghiệp.
Tỷ lệ đất canh tác của ta hiện nay là 10
người một héc-ta. Với tỷ lệ này th́ dù có
tăng năng suất tối đa và dù có luôn luôn mưa
thuận gió ḥa, chúng ta vẫn sẽ là một nước
nghèo khổ
Vấn đề thực sự đề giải
quyết nạn đất hẹp người đông là
phải thay đổi chức năng của đất
nước từ một nước nông nghiệp sang
một nước công nghiệp. Trong dài hạn, nông
nghiệp của Việt nam chỉ có thể đảm
bảo đời sống xứng đáng cho khoảng 10
triệu người, trong khi chúng ta sắp có 80 triệu
dân. Phần c̣n lại phải chuyển sang công nghiệp và
dịch vụ. Cuộc chuyển hóa này sẽ phải
được coi là cố gắng vĩ đại
nhất v́ từ ngày lập quốc và sẽ chỉ có
thể giải quyết bằng một cố gắng liên
tục trong nhiều thập niên. Ngay từ bây giờ
những người làm chính sách phải luôn luôn có trong
đầu viễn ảnh này.
Cho tới nay, chính quyền cộng sản luôn luôn có
một chính sách cư trú mâu thuẫn. Đại hội IV
của đảng cộng sản (năm 1976) chủ
trương tiến lên sản xuất công nghiệp
lớn xă hội chủ nghĩa nhưng đồng
thời đảng lại thi hành chính sách đuổi dân ra
khỏi thành phố, đưa dân về nông thôn hay đi
các vùng kinh tế mới. Cho đến ngay bây giờ
chuyển hộ khẩu về miền quê vẫn là
chuyện dễ đàng, ngược lại chuyền
hộ khẩu từ nông thôn ra thành phố vẫn là
chuyện đội đá vá trời.
Nông thôn Việt nam từ lâu đă dư người
rồi và càng ngày càng dư người hơn nữa. Thêm
người ở nông thôn chỉ có tác dụng chuyển
sự nghèo khổ từ thành thị về nông thôn, cho
khuất mắt các vị lănh đạo chứ không
giải quyết được ǵ cả. Không những
không giải quyết được ǵ cả mà c̣n làm
giảm năng suất nông nghiệp. Đông người
quá th́ không thể cơ giới hóa và c̣n phải hạ
thấp mức cơ giới hóa đề sử dụng
lao động dư thừa, mà đă không cơ giới hóa
th́ năng suất dĩ nhiên là thấp. Năng suất
trung b́nh của ngành trồng lúa chỉ là 3,5 tấn hàng
năm cho một héc-ta trong khi ruộng đất Việt
nam có thể đạt năng suất 6 tấn.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh
Trong
cuộc chuyển hóa vĩ đại từ một
nước nông nghiệp sang một nước công
nghiệp và dịch vụ chúng ta gặp một trở
ngại lớn: khí hậu. Chúng ta là một nước
nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất
là ở miền Nam. Sự phá hủy cây rừng từ
nhiều năm nay, và vẫn chưa chấm dứt hẳn
dù rừng không c̣n bao nhiêu, lại càng cho khí hậu thêm
phần gay gắt khó chịu.
Khí hậu nóng làm cho con người uể oải, thiếu
quyết tâm và mất kiên nhẫn. Các nước phát
triển mạnh thường không phải là những
nước nhiệt đới. Singapore là một ngoại
lệ, nhưng Singapore không phải là một quốc gia
theo đúng nghĩa của nó, mà là một thành phố và
một hải cảng. Vả lại, đó là một đảo,
được biển bao quanh và nhờ vậy gió biển
cũng làm dịu bớt khí hậu, như tại Mă Lai. Có
nhiều nhà nghiên cứu khẳng định phát triển
là đặc tính của các nước hàn đới và ôn
đới. Bắc Mỹ phát triển hơn hẳn Nam
Mỹ, Bắc Âu vượt hẳn Nam Âu. Các nước
châu á phát triển mạnh cũng thé: Nhật, Triều Tiên,
Hương Cảng, Đài Loan và có lẽ sau này Hoa Lục,
cũng đều là những nước lạnh, hoặc
ít ra không nóng. Có những nhà nghiên cứu xă hội lớn,
như Max Weber và Alain Peyrefitte, không tin như vậy và
giải thích bằng lư do văn hóa. Bắc Mỹ và Bắc
Âu, theo họ, phát triển được nhờ tư
tưởng Tin Lành phóng khoáng, trong khi Nam Mỹ và Nam ăn
không phát triển v́ ảnh hưởng giáo điều
thủ cựu của Công Giáo. Phân tích này có phần đúng,
nhưng cũng có thể giải thích rằng tại v́
miền Bắc Âu lạnh, mà con người có nhiều sâu,
phát triển óc phê phán và sáng tạo rồi chấp nhận
Tin Lành.
Dầu sao th́ khí hậu nóng cũng vẫn là một trở
ngại lớn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng
đồng ư các vùng bờ biển phát triển mạnh
hơn các vùng lục địa. Biển là kho tàng hải sản
vô tận, là sự nới rộng của bờ cơi, và, quan
trọng hơn hết, là khả năng giao thông vận
tải quan trọng và quí giá vô cùng.
Khi vừa mới tốt nghiệp kỹ sư, tôi làm
việc cho hăng Pechiney, công ty đứng hàng thứ nh́
thế giới và thứ nhất tại châu Âu vào
đầu thập niên 1970 về kỹ nghệ nhôm. Pechiney
nhập cảng quặng nhôm từ úc và châu Phi. Nhà máy
luyện nhôm nơi tôi làm việc nằm ở trung tâm
nước Pháp, cách cảng Marseille chừng 400 km. Chi phí
chuyên chở bằng đường biền từ úc
tới Marseille gần 20.000 km, nhẹ hơn chi phí chuyên
chở 400 km đường sắt từ Marseille
đến nhà máy.
Ưu thế bờ biển - lục địa quan
trọng không kém ưu thế lạnh - nóng. Người ta
có thể quan sát rằng từ hai mươi năm nay
tại Trung Quốc, vùng duyên hải đă phát triển
vượt hẳn vùng lục địa. Ưu thế
của bờ biển càng rơ nét trong trường hợp
Trung Quốc nếu người ta nhớ lại rằng
trong thập niên 1950 Mao Trạch Đông đă cho thi hành
kế hoạch đệ tam tuyến, chuyển hết
kỹ nghệ vào lục địa đề pḥng ngừa
một cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ. Kế hoạch
này đă biến Trùng Khánh thành thành phố đông dân
nhất Trung Quốc, nó đă làm phá sản các vùng bờ
biển.
Biển cũng làm cho khí hậu nóng bớt đi rất
nhiều phần gay gắt. Nhờ biển và gió biển,
khí hậu nước ta dễ chịu hơn nhiều so
với khí hậu ở cùng vĩ độ tại Lào và
Thái Lan. Trừ một vài tháng đặc biệt, ở vài
nơi và trong vài năm khác thường, hàn thử biểu
ít vượt quá 35oC. Nhiệt độ trung b́nh những
tháng nóng nhất của nước ta chỉ là 28 hoặc
29 oC, nghĩa là một nhiệt độ tuy không thoải
mái nhưng vẫn c̣n chịu đựng được.
Chúng ta có rất nhiều bờ biển và biển của
ta rất tốt. Bờ biển của ta dài 3.200 km, c̣n dài
hơn cả chiều dài thực sự của nước
ta. Cả nước ta là một dải bờ biển,
điểm sâu nhất trong đất liền tại
miền Bắc là 600 km, trung b́nh bề dày của
đất nước ta là 150km, tại Đồng Hới
(Quảng B́nh) bề dày này chỉ có 50 km. Dọc theo bờ
biển, chúng ta có khả năng thiết lập vô số
hải cảng tốt. Hiện nay ta mới chỉ sử
dụng một phần rất nhỏ của khả
năng này với các hải cảng: Hải Pḥng, Vinh,
Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Sài g̣n. Tiềm năng hải
cảng hứa hẹn một tương lai xán lạn cho
kỹ nghệ đóng tàu, bảo tŕ và sửa chữa tàu và
chuyên chở hàng hải. Những ngành này cho tới nay ta
hoàn toàn không khai thác. Tuy có nhiều cảng thiên nhiên
nước sâu, nhưng nói chung bờ biển nước
ta lại rất xoải và có cát mịn, đo đó chúng ta
có nhiều băi biển thiên nhiên tuyệt vời. Đó là
những tiềm năng du lịch nếu được
khai thác sẽ đem lại một nguồn lợi rất
lớn v́ bờ biển của ta giữ nhiệt
độ quanh năm trên 25 oC. Chúng ta là cửa mở ra Thái
B́nh Dương của cả bán đảo Trung-ấn.
Người ta có thể làm việc và kiếm tiền
ở Thái Lan, Lào, Vân Nam, nhưng người ta bắt
buộc phải nghỉ ngơi và tiêu xài tại bờ
biển Việt nam. Kỹ nghệ du lịch của
nước ta, nếu được phát triển
đầy đủ, trong trung hạn có khả năng thu
hút vài chục triệu du khách mỗi năm, tạo công
ăn việc làm cho hàng triệu người trong ngành du
lịch cũng như trong các ngành liên hệ. Vùng biền
thuộc lănh hải Việt nam có khả năng cung cấp
hai triệu tấn cá mỗi năm. Bờ biển dài và
thuận lợi của Việt nam cho phép đánh bắt
thêm dễ dàng một trọng lượng cá tương
đương trên biển cả. Ngư nghiệp và công
nghiệp thực phẩm do nguồn hải sản cho phép
ta nuôi sống một số người tương
đương với nông nghiệp.
Bờ biển miền Nam c̣n cho ta một tiềm năng
nuôi tôm cá rất quan trọng mà ta hiện chỉ khai thác
được một phần rất nhỏ. Ngoài ra, vùng
Đồng Tháp thuộc đồng bằng Nam Bộ,
với nguồn nước và nguồn cá to lớn của
sông Mê Kông, c̣n là một tài nguyên lớn lao nuôi cá nước
ngọt mà ta hầu như chưa khai thác. Biển là tài
sản quí báu nhất của non sông hoa gấm, có khả
năng cao hơn nhiều so với nông nghiệp. Nhưng
không phải ta chỉ có biển tốt mà ta c̣n có một
vị trí vô cùng thuận lợi. Chúng ta là đường
ra biển của Cam-bốt, Lào, Thái Lan và miền Tây-nam
Trung Quốc, chúng ta nằm sát các trục giao thông hàng
hải quan trọng và ở ngay trung tâm của một vùng
phát triển mạnh. Chức năng thiên nhiên của ta do
biển đem lại là chức năng của một
nước du lịch, công nghiệp, thương nghiệp
và dịch vụ. Nguồn lợi chính mà biển đem
lại là nguồn lợi của giao thương với thế
giới.
Nhưng muốn phát huy chức năng đó, điều
bắt buộc tự nhiên là ta phải hội nhập
với thế giới, có một chế độ chấp
nhận được cho cả thế giới. Nghĩa
là dân chủ.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Nước non ngh́n dặm (II)
Cái
cảm giác nước non ngh́n dặm là có thực, và có ba
lư do khiến cho người Việt, ngay cả khi có
số liệu rơ ràng trong tay, vẫn có cảm giác
đất nước xa xôi, bao la. Lư do thứ nhất là v́
nước ta dài thực, dài 2500 km từ Bắc tới
Nam, chiều dài đó khiến cho các miền của
đất nước khác nhau về địa h́nh, địa
chất, về khí hậu và cả về con người.
Chúng ta chỉ có một điểm giống nhau lớn và
cũng là một điều may: chúng ta nói cùng một ngôn
ngữ thuần nhất. Toàn bộ 85% dân số
được gọi là người Kinh sử dụng
tiếng Việt, và càng ngày số người của 15 %
c̣n lại thuộc cấc sắc tộc ít người
sử dụng được tiếng Việt càng thành
đa số.
Ngay từ miền Thượng Du Bắc Việt xuống
đồng bằng sông Ḥng kế cận nhau mà con
người và cách sinh sống đă rất khác biệt
rồi. Vào đến miền Trung với những cánh
đồng dài, hẹp và khô cằn, khí hậu và con người
lại khác, ngay cả giọng nói nhiều khi cũng khó
hiểu đối với người miền Bắc hay
miền Nam. Giữa miền Trung và miền Cao Nguyên Trung
Phần, mà hiện nay được gọi bằng danh
xưng khó hiểu là Tây Nguyên, sự khác biệt
trước đây c̣n lớn hơn cả giữa
đồng bằng sông Hồng và miền Thượng Du
Bắc Việt. Vào đất miền Nam mưa nắng hai
mùa, với những cánh đồng thẳng cánh c̣ bay, th́
cảnh trí lại càng khác, và con người cũng khác.
Lư do thứ hai là người Việt nam ta, do truyền
thống nông nghiệp, do chiến tranh và do chính sách kiềm
soát cư trú và hạn chế đi lại của chính
quyền, không hay di chuyển. Đối với một
người ở Thái B́nh, Huế và Sài G̣n cũng xa xôi
như Paris. Sự thiếu di chuyển không những làm cho
nhận thức hạn hẹp và lệ thuộc vào thành
kiến, mà c̣n tạo ra một tâm lư từ chối t́m
hiểu đất nước ḿnh.
Nước non ngh́n dặm cũng là nước non rất
xa xôi, không liên hệ ǵ đến tôi ngoại trừ
việc các quan chức bắt tôi phải đóng thuế và
bắt con tôi đi lính!
Lư do thứ ba là sự coi thường môn địa lư
của trí thức Việt nam. Trí thức Việt nam
chủ yếu học đề thi lấy bằng chứ
không phải lấy kiến thức nên chỉ chú trọng
học những môn cần cho thi cử. Địa lư không
phải là một trong những môn đó. ở trung học,
không có môn học nào chán bằng môn địa lư. Thầy
cũng dốt, học tṛ cũng dốt, sách lại dở.
Trong các kỳ thi, môn địa lư chỉ có một hệ
số không đáng kể. Những người điều
khiển đất nước, bất luận chế
độ nào, và ngay cả các chuyên viên về kế
hoạch cung chỉ có một sự hiểu biết
rất đại khái và mơ hồ về địa lư
của đất nước.
Không nói ǵ xa xôi, ngay tại Sài G̣n cũng rất ít
người biết rằng vào mùa thu cả một
miền Đồng Tháp biến thành một biển
nước ngọt mênh mang, sâu tới sáu mét, tàu biển
cỡ trung b́nh chạy dễ dàng. Cũng rất ít
người Sái G̣n biết rằng nông thôn miền Tây Nam
Phần có một quan hệ nam nữ tự do vào bậc
nhất thế giới. ở đây rất ít đàn ông nào
chỉ có một vợ - con số trung b́nh là ba - và cũng
khó kiếm ra một người đàn bà nào chỉ có
một dời chồng. ở đó người ta hỏi
nhau một cách tự nhiên Xin lỗi thím Tư, thức
Tư là vợ cưới hay vợ dắt? Cưới hay
dắt không quan hệ lắm. Con trai tới tuổi thanh
niên gặp bạn gái vừa ư có thể dắt về nhà
ở chung với cha mẹ. Sau một thời gian, nếu
không hạp, bà mẹ không có thể dắt cô con dâu về
trả lại cho cha mẹ. Trai gái làm quen nhau dễ dàng,
luyến ái dễ dàng và chia tay nhau cũng rất dễ
dàng.
Trong khi ở mọi nước phát triển môn địa
lư được coi là tối quan trọng th́ tại Việt
nam nó lại bị coi thường quá đáng. Sự
thiếu hiểu biết về địa lư đất
nước cũng là một trở ngại lớn cho
những nhận thức. Chính v́ không hiểu địa lư
nước ta mà cho tới nay nhiều người vẫn
tự hào rằng ta đă giữ được
nước v́ ta oai hùng chứ không phải v́ nhờ lănh
thổ có núi ngăn chia. Chính v́ thiếu kiến thức
địa lư mà cho tới nay, trong những đề
nghị về phát triển kinh tế, người ta
chỉ thấy những chính sách chung cho cả một
nước, như thể là tỉnh Ḥa B́nh có thể phát
triển theo cùng một mô thức với Minh Hải. Tôi c̣n
được đọc một đề nghị phát
triển cho cả nước và cho suốt thế kỷ
có thể kiến thức địa lư có trong đầu óc
những người làm kế hoạch và những chuyên
viên nhưng nó chưa hiện diện đủ mạnh
đề ảnh hưởng đến cách suy nghĩ.
Xin nêu hai thí dụ.
Nếu có phản xạ của nhà địa lư th́ không
thể có một đồng thuận kỳ quặc là
cả nhà cầm quyền lẫn các chuyên gia mỗi khi có
dịp đều bày tỏ quan điểm lo âu về
một hiểm họa rời bỏ nông thôn (exode rural)
của dân chúng. Thế rồi các chuyên gia lên tiếng báo
động, và nhà cầm quyền khuyến khích hay bắt
buộc dân chúng di dân về miền quê. Đó là v́ chúng ta
nhắc lại những ǵ đă được các chuyên gia
viết ra cho các nước châu Mỹ La Tinh hay Pháp. Và
một số nước tương tự, nơi mà
nhiều khu đất mầu mỡ ph́ nhiêu bị nông dân
rời bỏ. Không làm ǵ có một mối nguy như thế
tại nước ta. Trăi lại chúng ta cần một exode
rural. Hiện nay hơn sáu mươi triệu người
Việt nam sống nhơ nông nghiệp trong khi ruộng
đất của chúng ta chỉ đủ cho từ năm
tới mười triệu người. Ta cũng không c̣n
rừng để phá. Rừng của ta đă bị phá quá
nhiều rồi, và vong hồn rừng đang báo oán chúng ta:
lũ lụt đă trở thành thông lệ hàng năm
tại miền Trung, kế tiếp là hạn hán v́ không c̣n
rừng để giữ nước nữa. Nông thôn
của ta quá dư người, mà đông người quá
th́ không thể dùng nhưng phương pháp canh tác hiện
đại được và năng suất sẽ thấp
măi măi. Chức năng của chúng ta là chức năng
của một nước ngư nghiệp, hàng hải, công
nghiệp và dịch vụ. Cằn tổ chức cho nông dân
rời nông thôn. Đi đâu và làm ǵ là một vấn
đề khác sẽ được bàn tới trong một
phần sau. Nhưng ngay từ bây giờ không nên ngăn
cản người dân rời nông thôn. Trong giả
thuyết xấu nhất ta cũng có thể nói như
thế này: hiện nay với sáu mươi triệu
người ở nông thôn chúng ta không đủ gạo
ăn (ta có xuất cảng gạo nhưng bù lại
một tỷ lệ quan trọng dân chúng lại thiếu
đói), nếu chỉ có năm triệu người
tại nông thôn thôi ta sẽ có năng suất cao, sản
xuất dư gạo cho một trăm triệu
người và c̣n có thể dư thừa đề
xuất khẩu.
Một thí dụ thứ hai về sự thiếu ư thức
địa lư có thể t́m thấy trong nhiều dự đoán
dài hạn. Mọi người h́nh như đều lo âu
về sự nghèo khó tại miền Trung. Đó là một lo
âu chính đáng, nhưng là một vấn đề
tương đối ngắn hạn. Trong cuộc
chuyển hóa bắt buộc ta từ một nước
nông nghiệp sang một nước công nghiệp và
dịch vụ, với hai ngành phụ là nông nghiệp và
ngư nghiệp, bản đồ kinh tế của ta
sẽ dần dần thay đổi, và trong vài thập niên
nữa sẽ thay đổi hẳn (với điều kiện
là nước ta vẫn c̣n tồn tại, một
điều không hoàn toàn chắc chắn, trái với sự
yên tâm chắc nịch của đại đa số
người Việt!). Các tỉnh miền Trung nhờ
bờ biển sẽ là những vùng phát triển mạnh
nhất, trong khi vùng đồng bằng sông Hồng và
miền Tây Nam Phần, nghĩa là những vùng nông nghiệp
c̣n lại, sẽ tụt hậu v́ giới hạn tự
nhiên của nghề nông và v́ t́nh trạng đất hẹp
người đông.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Mưu sự tại nhân...
Độc
giả đọc tới đây có thể rút ra một
kết luận tương đối bi quan. Chúng ta
đất hẹp, người đông, thiên nhiên bị tàn
phá, lại đang rất nghèo nàn lạc hậu. Lợi
thế của chúng ta là biển và vị trí th́ lại
hầu như hoàn toàn chưa được khai thác và dân ta
c̣n phải học hỏi nhiều mới có thể sử
dụng được. Như thế có lẽ tương
lai của ta mờ mịt lắm. Tôi xin cảnh giác
trước độc giả về hai điều mâu
thuẫn với nhau. Điều thứ nhất là
độc giả sẽ c̣n phải chờ đợi ở
những phần sau nhiều yếu tố tiêu cực
hơn nữa, việc kiềm kê những điểm
yếu của nước ta mới chỉ bắt
đầu mà thôi. Điều thứ hai là, ngược
lại, tất cả những nhược điềm
vừa kể về địa lư thiên nhiên thực ra không
quan trọng lắm và không đáng khiến ta phải quá bi
quan, nhất là địa lư của chúng ta cũng không
đến nỗi quá bất lợi.
Xin dẫn chứng một câu chuyện có thực mà tôi
đă sống. Trại học tập cải tạo
của chúng tôi ngoài các sĩ quan công chức của chế
độ cũ ra c̣n có cả một số thường
phạm. Điều đó chứng tỏ là chúng tôi là tù
chứ chẳng phải là cải tạo viên ǵ cả.
Số tù thường phạm gồm đủ loại:
móc túi, đánh bài, buôn lậu, ăn trộm, ăn
cướp và có một số cán bộ cộng sản
bị phạt tù v́ những lư do ngoài chính trị thí dụ
như một anh được sĩ bán thuốc nhà
nước cho chợ trời, một anh đại đội
trưởng bắn chết người.
Trong số những thường phạm có Nguyễn
Văn Khánh, một thành phần bất hảo rất nguy
hiểm bị giam chung với tôi. Khánh là cháu ngoại Sáu
Cường, vơ sĩ khét tiếng miền Nam hồi
thập niên 1930 đă từng thi đấu nhiều
lần và chưa hề thua ai bao giờ. Mẹ Khánh cũng
là một cao thủ vơ lâm với cuộc sống rất
phóng đăng. Khánh nói với tôi: Ông thầy biết không,
mẹ tôi đă qua tất cả mọi binh chủng . ư
Khánh muốn nói mẹ nó đă chung chạ với rất
nhiều người, trong đó có những quân nhân
thuộc mọi binh chủng của quân đội miền
Nam. Khánh cũng như các anh em của nó đều mang
họ mẹ v́ không biết cha là ai. Khánh vạm vỡ
khỏe mạnh và lúc nào cũng sẵn sàng ẩu
đả, lại sân có máu con nhà vơ nên chẳng sợ ai
cả. Lúc đó Khánh mới 20 tuổi mà thành tích đă ghê
gớm, không biết bao nhiêu lần vào tù ra khám dưới
chế độ cũ và chỉ sáu tháng dưới
chế độ cộng sản Khánh đă là bộ
mặt rất quen thuộc đối với công an
tỉnh Cà Mau. Tất cả là những tội trạng
giống nhau : trộm cướp, đánh lộn,
đưa dẫn và làm tiền gái bán dâm. Khánh không biết
đọc, không biết viết không biết ǵ cả,
lại rất lười biếng và chỉ có một trí
thông minh dưới mức trung b́nh. Khánh bị bắt trong
một đợt càn quét tệ đoan xă hội và bị
đưa đi cải tạo vô hạn định. V́ là
thành phần bất hảo, gan ĺ, Khánh bị quyện
cả hai chân. Lúc vào tù, Khánh chỉ có một bộ quan áo,
và dĩ nhiên không có người thăm nuôi. Mẹ Khánh không
biết đă lưu lạc nơi nào, các anh em Khánh hoặc
đang sống lang thang vô gia cư, hoặc cũng đang
ở tù với một tội trạng tương tự
như Khánh. Nói chung, Khánh đang ở trong một hiện
tại bi đát, không có một tương lai nào và cũng
không có ai ưa Khánh đễ có thể d́u dắt, giúp
đỡ. Trong một đêm giao thừa Khánh nói với
tôi: Cuộc đời tôi tàn rồi! .
Đêm hôm đó, từ chiếc radio của người
công an gác đêm vọng ra lời chúc Tết của chủ
tịch Tôn Đức Thắng. Cả nước biết
ông Tôn Đức Thắng đă xấp xỉ chín
mươi tuổi và đă yếu lắm. Tôi hỏi Khánh :
- Mày nói đời mày tàn rồi, thế nếu đổi
cuộc đời mày lấy cuộc đời của
chủ tịch Tôn Đức Thắng mày có chịu không?
Khánh giẫy nẩy lên:
- Đâu được? Ông nói giỡn sao, ông ấy sắp
chết đến nơi rồi.
Cả hai chúng tôi đều phá ra cười.
Th́ ra, cũng như hầu hết mọi người,
Khánh quá chú tâm đến những thành công và danh vọng
đề quên rằng thực ra điều quí giá nhất
trong một đời người là sức khỏe và
tuổi trẻ. C̣n sức khỏe và c̣n trẻ là c̣n hy
vọng. đối với một đất nước,
điều quan trọng nhất là con người, c̣n con
người là c̣n tất cả dù t́nh trạng hiện
tại ra sao. Bởi v́ con người có thể làm ra
tất cả.
Nước Pháp không xa Ḥa Lan. Tôi có nhiều người
bạn ở đó, và có cả một nghĩa tử.
Năm nào tôi cũng qua Ḥa Lan nhiều lần.
Đường đi lại dễ dàng, chỉ cần vài
giờ lái xe. Từ cửa nhà tôi tới cửa nhà Đặng
Minh Kỷ, phối trí viên của nhóm Thông Luận Ḥa Lan,
chỉ có 500 cây số.
Nước Ḥa Lan chỉ rộng bằng một phần
mười diện tích của Việt nam, với một
dân số 15 triệu. Ḥa Lan có mật độ dân số
cao vào bậc nhất thế giới, gần gấp hai
lần Việt nam, gấp bốn lan nước Pháp. Ngoài
một mỏ khí đốt ở miền Bắc, tại
Groningen, Ḥa Lan không có một tài nguyên nào đáng kề
cả. Đất của Ḥa Lan thấp hơn mức
nước biền nên ngập lụt là một đe
dọa thường trực. Tên của nước Ḥa Lan
là Nederland, có nghĩa là đất thấp. Đất
hẹp và bất lợi, người đông, tài nguyên thiên
nhiên ít ỏi, nhưng Ḥa Lan là một thiên đàng hạ
giới, do chính con người tạo ra. Người Ḥa
Lan thường tự hào: Thượng Đế đă
tạo ra thế giới, nhưng chính chúng tôi đă làm ra
đất nước này. Hoàn toàn đúng. Dù nhỏ bé
về cả đất đai lẫn dân số, nhưng
Ḥa Lan là một cường quốc kinh tế. Tổng
sản lượng quốc gia của Ḥa Lan trên 300 tỷ
USD, gần 15 lần tổng sản lượng của
Việt nam với 78 triệu dân, gấp rưỡi
tổng sản lượng gộp lại của tất
cả lục địa châu Phi với trên 600 triệu dân.
Ḥa Lan có mặt một cách tích cực trên mọi thị
trường thế giới. Trên thềm thế kỷ 21,
ngoại thương của Ḥa Lan cao hơn hẳn ngoại
thương của Trung Quốc ngay cả sau hơn hai
thập niên theo đuổi chủ trương giàu có là vinh
quang, gấp năm lần ngoại thương của
ấn Độ và lúc nào cũng xuất siêu. Các công ty
lớn của Ḥa Lan như Philips, Royal Dutch, Unilever có chi
nhánh trên khắp các lục địa và tại tất
cả các quốc gia phát triển. Nông phẩm của Ḥa
Lan, nhất là sữa và thịt, tràn ngập các thị
trường châu Âu.
Đất nước Ḥa Lan đẹp đẽ với
những xa lộ tuyệt vời chạy qua những cánh
đồng xanh tốt, với những đàn ḅ béo mập
và những cây xanh rất thẩm mỹ. Ḥa Lan chưa
phải trải qua một cuộc cách mạng nào, nhưng
Ḥa Lan là một nước dân chủ và tự do nhất
thế giới. Không ở đâu con người được
quí trọng như ở Ḥa Lan và có lẽ cũng không ở
đâu cái thú làm dân lại có thể lớn hơn ở Ḥa
Lan. Tôi ưa sang Ḥa Lan v́ những người bạn quí
ở đó, nhưng cũng v́ tôi ngưỡng mộ vô cùng
đất nước và con người Ḥa Lan.
Người Ḥa Lan đă làm cho tôi hiểu một cách âm
thầm và chắc chắn rằng mưu sự tại nhân
mà thành sự cũng tại nhân. Tôi cám ơn sâu xa và thành
thực Ḥa Lan đă cho tôi hy vọng và niềm tin, nhờ
đó mặc dầu những khó khăn và trở ngại
ngày hôm nay tôi không bao giờ mất niềm tin rằng
vẫn c̣n có thể có một nước Việt nam
tương lai xứng đáng đề những
người Việt hôm nay đầu tư cố gắng
và đề cho các thế hệ ngày mai có thể yêu mến
và tự hào.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Một dân tộc tinh anh?
Trong
cuốn sách Việt nam Sử Lược quen thuộc
với mọi người, Trần Trọng Kim viết
về người Việt nam như sau: Về đằng
trí tục và tính t́nh th́ người Việt nam có cả các
tính tốt và các tính xấu. Đại khái th́ trí tuệ
minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều
người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu
học, trọng sự học thức, quí sự lễ
phép, mến điều đạo đức: lấy
sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo
thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có
tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác
nhạo chế. Thường th́ nhút nhát, hay khiếp sợ
và muốn sự ḥa b́nh, nhưng mà đă đi trận
mạc th́ cũng có can đảm, biết giữ kỷ
luật.
Tâm địa nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn,
hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu
danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma
tin quỉ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không
nhiệt tín tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác,
nhưng có ḷng nhân, biết thương người và hay
nhớ ơn.
Trần Trọng Kim, xuất thân là một giáo viên,
được gởi đi học và tốt nghiệp
Trường Thuộc Địa (Ecole Coloniale) tại Pháp.
Trường Thuộc Địa Pháp vào đầu thế kỷ
này là một trường có tŕnh độ trung học, có
mục đích khai mở nền văn minh Pháp nói riêng và
phương Tây nói chung cho những trí thức Việt nam
dầu tiên để họ về nước phục
vụ cho chính quyền thuộc địa. Năm 1911, ông
Hồ Chí Minh, lúc đó làm bồi tàu và mới tới Pháp, cũng
có làm đơn với lời lẽ thống thiết
viện cớ có cha đậu tiến sĩ Hán học
để xin vào trường này, nhưng bị từ
chối.
Tuy vốn liếng khoa bảng không có bao nhiêu (nhưng vào
thời đó tŕnh độ của Trường Thuộc
Địa cũng đă là cao lắm rồi), nhưng ông
Trần Trọng Kim đă dày công học hỏi và nhờ
trí tuệ xuất sắc ông trở thành một học
giả lớn. Ngoài kiến thức uyên bác, Trân Trọng Kim
c̣n là một người liêm khiết, lương
thiện. Ông có uy tín rất lớn trong thời đại
của ông. Năm 1945, khi nhật đảo chánh pháp,
trả độc lập trên nguyên tắc cho Việt nam,
ông Trần Trọng Kim, lúc đó đă về hưu,
được vua Bảo Đại mời ra làm thủ
tướng theo ư của người Nhật. Sự
kiện ông được chỉ định làm thủ
tướng là một ngạc nhiên cho rất nhiều
người. Phần đông giới theo dơi thời
cuộc lúc đó chờ đợi ông Ngô Đ́nh Diệm,
một cựu thượng thư, có uy tín, có tham vọng
chính trị và nhất là đă giao dịch với Nhật
từ lâu. Ông Diệm đă tham gia từ 1941 tổ chức
Việt nam Phục Quốc Hội của hoàng thân
Cường Để do Nhật đỡ đầu.
Người ngạc nhiên nhất chính là ông Ngô Đ́nh
Diệm. Thực ra ngay từ khi đỗ bộ vào
Việt nam, Nhật cũng đă có ư định dùng
Trần Trọng Kim như một lá bài thay thế cho Ngô
Đ́nh Diệm, có lẽ v́ họ nghĩ Ngô Đ́nh
Diệm là một chính khách sắc bén hơn và có thể
đ̣i hỏi họ nhiều hơn là Trần Trọng Kim.
Tuy vậy ông Trần Trọng Kim cũng đă dần
dần đ̣i hỏi được nơi người
Nhật tất cả những nhượng bộ cần
thiết. Nếu người Nhật coi Trần Trọng Kim
là người không đáng lo ngại th́ người Pháp sau
này lại lo ngại Trần Trọng Kim và làm áp lực
để Bảo Đại chọn Nguyễn Văn Xuân
làm thủ tướng năm 1948 thay v́ Trần Trọng
Kim. Sau đó Trần Trọng Kim qua Phnom Penh sống với
người con gái, ông mất vài năm sau đó, khi vừa
trở về Việt nam.
Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đời chính
trị của ông trong thiên hồi kư ngắn Một cơn
gió bụi . Có lẽ những ai có ư định viết
hồi kư đều nên đọc cuốn sách nhỏ này
trước đă. Đó thực sự là một cuốn
hồi kư. Nó được viết một cách thực thà,
lương thiện, rành mạch, điều ít thấy
trong các cuốn hồi kư khác. Hồi kư là một loại
sách đặc biệt. Nó có tác dụng chính, và có thể nói
là duy nhất, là ghi chép các sự kiện đễ làm
chứng cho một giai đoạn. Đ̣i hỏi duy
nhất của nó là phải trung thực, phải có giá
trị của một tài liệu. Người Việt nam,
nhất là các tướng tá quân đội miền Nam
cũ, hay dùng hồi kư đề bóp méo sự thật, tán
dương hay chạy tội cho ḿnh, bôi nhọ
người khác. Những hồi kư như vậy không
thể dùng làm tài liệu. Trần Trọng Kim
được mọi người kính trọng,
người ta kính trọng kiến thức của ông và
người ta c̣n kính trọng hơn nơi ông nhân cách
của một trí thức chân chính. Nếu không phải
Trần Trọng Kim mà một người khác viết ra
những ḍng trên, th́ chắc chắn sẽ bị cả
một loạt bài đả kích và mạt sát thậm
tệ v́ đă dám coi thường người Việt
Nhưng v́ là do Trần Trọng Kim viết ra nên không ai căi
lại, và hầu hết nh́n nhận là đúng. Tôi cũng
có đọc trong nhiều cuốn sách cũ của các
học giả Pháp một nhận định tương
tự như vậy về người Việt, không
biết có một sự tham khảo nào không. Điều
chắc chắn là Trần Trọng Kim chỉ viết
những điều ông tin là đúng.
Nói chung, Trần Trọng Kim nhận định
người Việt nam có cấu tạo cơ thể
tốt có trí óc tương đối tốt, siêng năng,
hiếu học, biết trọng đạo đức,
nhưng tâm lư th́ rất dở. Ông không nói người
Việt Nam nói chung có yêu nước hay không, đó cũng là
một điều lạ trong cuốn sách sử.
Tôi đă đề cập phần trước tới
nước Ḥa Lan như là một kỳ quan của thế
giới. Quan sát kỹ người Ḥa Lan, thành thực tôi
không thấy họ thông minh hơn người Việt, hay
có hơn cũng không hơn bao nhiêu. Họ cũng không
chăm chỉ hơn người Việt nam, hay có hơn
cũng không hơn bao nhiêu. Vậy mà họ đă tạo nên
được quốc gia đáng phục nhất thế
giới. Tôi làm việc với người Pháp và cũng
đi tới một nhận định tương
tự. Riêng người Anh th́ phải nói tuy họ có nét
độc đáo riêng, nhưng trí tuệ của họ
cũng chỉ xấp xỉ như người Ḥa Lan và
người Pháp, ngoài ra họ lười biếng hơn
hẳn người Việt nam.
Vậy mà tại sao các quốc gia đó giàu mạnh
đến thế, trong khi nước ta nghèo nàn lạc
hậu và tang tóc đến thế.
Khi một máy vi tính hoạt động dở th́ chỉ có
hai giải thích : một là cái hardware (phần vật
liệu hay phần cứng) của nó dở, hai là cái
software (phần trí liệu hay phần mềm) của nó
dở. Chất liệu, nghĩa là cấu tạo cơ
thẻ và trí óc của người Việt nam tốt.
Vậy th́ phải chăng cái software, nghĩa là cái văn
hóa và tâm lư, của người Việt nam tồi dở?
Tôi tin như thế. Một người bạn tôi sau
hơn một thập niên làm cố vấn cho các chính
phủ châu Phi đă chỉ rút ra được một
kết luận rơ nét: các nước đó không vươn
lên được v́ trở ngại văn hóa và tâm lư.
Đọc những bài đóng góp gần đây của các
tác giả Việt nam về vấn đề phát triển
đất nước, phần đông có giá trị,
nhiều bài rất xuất sắc tôi ít thấy đề
cập đến yếu tố tâm lư (hay văn hóa cũng
thế v́ tâm lư và văn hóa rất gần nhau), trong khi
đó tất cả các nhà bác học có thẩm quyền
ở tam vóc thế giới về vấn đề phát
triển đều coi yếu tố tâm lư là ye~u tố
cốt lơi. Nhiều tác giả c̣n gọi phát triển là
một cấu trúc tâm lư (structure mentale).
Tâm lư của một dân tộc, nhiều người thích
dùng cụm từ hồn tính dân tộc, một phần do
điều kiện thiên nhiên tạo thành, nhưng một
phần lớn là do các giá trị đă được nh́n
nhận từ lâu đời và đă tạo ra một
nếp sống. Các giá trị ấy h́nh thành có khi do sự
khám phá trong cuộc sống của dân tộc, có khi
được du nhập và hấp thụ, được
kiểm chứng và xét lại theo kinh nghiệm lịch
sử. Lịch sử v́ thế đóng vai tṛ quan trọng
trong sự h́nh thành tâm lư dân tộc. Lịch sử là trí
nhớ tập thể của dân tộc, một nguồn
tài liệu và gợi ư. Lịch sử cũng là tấm
gương đề một dân tộc nhận diện
được ḿnh, hiểu ḿnh, biết ḿnh nên làm ǵ và có
thể làm ǵ. Muốn như thế, lịch sử phải
chính xác và cũng phải được phân tích và khai thác
một cách sáng suốt và khách quan.
Nhưng một mặt lịch sử của ta không chính
xác, và, mặt khác, chúng ta rút ra từ lịch sử
những kết luận và những bài học sai lầm.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Một dân tộc hiếu học?
Người
Việt nam rất hiếu học. Tính hiếu học
của người Việt là có thực. Điều này
mọi người đều đồng ư và chính tôi
cũng có thể kiểm chứng trong những môi
trường mà tôi đă sống và những người mà
tôi đă biết, ngay cả trong gia đ́nh tôi.
Tại trung học Trần Lục, nơi tôi theo học
từ đệ thất (lớp 6 bây giờ) tới
đệ Tứ (lớp 9), các học sinh phần lớn
là di cư từ ngoài Bắc vào, chính trường Trần
Lục cũng là một trường di chuyền từ
Phát Diệm vào. Trường do các linh mục Phát Diệm
thành lập và mang tên linh mục Trần Lục, c̣n gọi
là cha Sáu, một tu sĩ có đức hạnh và rất tha
thiết với văn hoá Việt nam. Ông Trần Lục có
làm một tập thơ, mà tôi không nhớ tên, giáo huấn
về đạo đức. Ông cũng xây dựng một
nhà thờ lớn theo kiến trúc cổ truyền Việt
nam được coi là rất thành công về nghệ
thuật. Nh́n trên ảnh, nhà thờ này giống như
một ngôi chùa. Tôi vào học trường Trần Lục
v́ một lư do t́nh cờ. Anh em tôi sau tiểu học
định thi vào trường Chu Văn An, trường mà
mẹ tôi vẫn ca tụng là hay và mơ ước chúng tôi
sẽ học tại đấy. Nhưng năm đó, bà có
ư định mua một căn nhà trong một ngơ hẻm
gần Tân Định nên chúng tôi thi vào Trần Lục
để đi học cho gần. Về sau tuy việc mua
nhà này không thành chúng tôi vẫn tiếp tục học ở
đó. Lúc đó là những năm 1955-1956, các học sinh
trừ một hai ngoại lệ, đều rất nghèo,
gia đ́nh họ vốn đă không giàu có lại mất
hết của cải trong đợt di cư nên càng nghèo.
Đă thế, trường Trần Lục lại là
một thứ trường tầm gửi, một thứ
trường không có trường, phải học nhờ
trường tiểu học Đồ Chiểu. Giải
pháp t́m ra là học buổi trưa. Trường tiểu
học Đồ Chiểu học sớm đi một chút
buổi sáng và trễ một chút buổi chiều.
Trường Đồ Chiểu tan học buổi sáng, vào
lúc 10g30, trường Trần Lục học từ 10g30
đến 14g30, rồi trường Đồ Chiểu
lấy lại trường sau đó. Học buổi
trưa là cả một cực h́nh dưới trời nóng
gay gắt. Cả thầy lẫn tṛ đều mệt
mỏi, học sinh phần lớn đều không có
tiền mua sách, có khi c̣n thiếu cả tiền mua vở và
bút. Một cây bút ch́, một quyển vở đều quí
báu cả. Hầu hết các gia đ́nh chúng tôi đều
ở trong những căn nhà lụp xụp, nhiều nhà
không có điện, tối phải thắp sáng bằng
đèn dầu, vừa học vừa đập muỗi.
Những buổi tập thể dục mặc quần xà
lỏn để lộ đùi ra th́ thấy đứa nào
cũng đầy dấu muỗi chích. Vậy mà cả
trường đậu học hành chăm chỉ và
đậu giỏi cả.
Trong khu tôi ở cũng có nhiều học sinh, họ không
sáng dạ lắm nhưng học chăm chỉ một cách
kỳ lạ, họ học tới khuya, nhiều
người uống thuốc Maxiton cho đỡ buồn
ngủ. Tờ mờ sáng họ đă thức dậy,
học to tiếng để chống buồn ngủ,
tiếng họ học đánh thức anh em tôi dậy. Có
nhưng anh đă bắt đầu luyện thi tú tài khi tôi
mới lên trung học, đến khi tôi đậu xong tú
tài họ vẫn rớt dài dài, nhưng vẫn tiếp
tục học. Có chí th́ nên, khi tôi ở Pháp về, sau 12
năm vắng mặt, phần lớn đậu đă
tốt nghiệp đại học làm giáo sư, luật
sư, được sĩ. Điều không may cho họ
là trong thời gian 12 năm ấy xă hội miền Nam
đă đổi mới, nhưng nghề trí óc không c̣n vinh
hiển nữa và họ không sung túc bao nhiêu sau những
cố gắng thật phi thường. Người khá
nhất trong bọn họ là một anh thi măi không
đậu tú tài đi làm bánh ḿ, sau trở thành chủ.
Những lần đi ăn nhậu với nhau anh ta
đều trả tiền.
Tôi học xong đệ tứ th́ bỏ trường
Trần Lục đi làm ban ngày, buổi tối theo học
lớp Khuyến Học Bổ Túc của Hội B́nh Dân Giáo
Dục và lại gặp một loại người khác.
Họ là công chức, quân nhân, muốn lấy thêm một
mảnh bằng để thăng tiến, là những
người đă di làm, và phần lớn đă có gia
đ́nh, muốn có thêm học vấn, hay những học
sinh nghèo ban ngày phải đi làm kiếm tiến. ở hàng
đầu là các cô phần lớn đă đi làm, có
người đă có chồng con. Trong một lớp bên
cạnh có ông Cao Văn Viên, sau này là đại tướng
tổng tham mưu trưởng Quân Lực Việt nam
Cộng Ḥa. Họ học say mê, miệt mài mặc dầu
học rất khó khăn.
Lớp học của tôi sau này có nhiều người khá
thành công. Trương Văn Vân sau học khoa học
rồi t́nh nguyện đi sĩ quan Dà Lạt, làm tiểu
đoàn phó binh chủng Dù, vợ Vân là Thúy, do tôi giới
thiệu làm được sư, con một thương
gia giàu có, học tṛ cũ của tôi lúc tôi đi dạy kèm
để kiếm tiền. Vân đi học tập cải
tạo 12 năm sau ngày 30-4-1975. Vân và Thúy hiện
định cư ở Seattle, Hoa Kỳ. Nguyễn Thiện
Tường sau làm luật sư. Tường thi rớt tú
tài 1, tôi phải dành cả mùa hè năm đó đễ kèm
Tường. Chúng tôi hẹn nhau ở mái hiên sau của
Thư Viện Quốc Gia, bên cạnh trường Petrus Kư
và Chu Văn An, nơi có một số bàn ghế vứt
bỏ. Tôi đem theo tiễu thuyết đễ
đọc Tường ngồi học bên cạnh, có ǵ bí
th́ hỏi tôi. Anh của Tường là Nguyễn Thiệu
Hùng cũng là một gương hiếu học. Anh
đậu tú tài trước chúng tôi và đi dạy trung
học vừa học văn khoa. Không những thế, anh
c̣n làm thơ và làm thơ hay. Tập thơ Bốn
Mươi Bài Thơ của Hùng (bút hiệu Mai Trung Tĩnh)
làm chung với Lê Đức Vượng (bút hiệu
Vương Đức Lệ) được giải
nhất Thơ Văn Toàn Quốc năm 1960. Nguyễn
Thiệu Hùng và Lê Đức Vượng gần đây tham
gia nhóm Diễn Dàn Tự Do với Đoàn Viết Hoạt
và bị bắt. Tháng 7- 1993, Hùng bị kết án bốn
năm tù, Vượng bị năm năm. Ra trước
ṭa, Vượng chỉ xin chính quyền trả lại cho
anh tập thơ hai mươi ngàn bài mà anh đă sáng tác
trong gần hai mươi năm qua, nhưng chính quyền
trả lời là tập thơ đă thất lạc.
Trịnh Văn Thi sau này tốt nghiệp cử nhân
luật, làm thiếu tá cảnh sát, không biết bây giờ
ở đâu. Đinh Văn Hoạt cũng tốt
nghiệp cử nhân khoa học, vừa làm giáo sư vừa
dạy vơ Việt nam.
Một hôm đi ăn tiệm ở Paris, ông chủ
nhận ra tôi, rồi tự giới thiệu là Nguyễn
Văn Ngọ, học lớp bên cạnh, cùng với ông Cao
Văn Viên. Ông ta sau này cũng đậu cử nhân
luật, làm tham vụ ngoại giao và ở nước ngoài
nên thoát nạn ngày 30-4-1975. Chính ông Viên, sau khi đậu tú
tài và làm tướng vẫn tiếp tục học và
đậu cử nhân văn chương.
Mỗi lần hồi tưởng lại thời gian
ấy, tôi vẫn cảm thấy một sự cảm
phục xâu xa và một niềm hănh diện vô cùng về tính
hiếu học của người Việt. Tôi c̣n nhớ
măi đôi mắt quầng thâm của chị bạn
ngồi bàn trên tôi. Có lẽ chị đă thức đêm
nhiều lắm để học. Tôi vẫn tin tính
hiếu học là hy vọng lớn nhất của dân
tộc ta để vươn lên.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Một dân tộc sáng dạ?
Người
Việt nam ta không những chỉ ham học mà c̣n học
giỏi. Những trường hợp tôi đă kể
cũng đă một phần nào chứng minh điều
đó. Nhưng chưa đủ. Ngoài những nhân vật
nổi tiếng như Phạm Quỳnh, Trần Trọng
Kim, Hoàng Xuân Hăn, ta c̣n vô số những trường hợp
thành công rực rỡ khác.
Nước Pháp mới đặt nền đô hộ trên
nước ta từ 1883, th́ chỉ cần tới năm
1900 đă có những người Việt tốt nghiệp
các trường lớn nhất tại Pháp. Sang tới
thập niên 1920, 1930 th́ đếm không xuể những
người tốt nghiệp các bằng cấp lớn. Tôi
cũng có thể nh́n thấy sự thông minh của
người Việt ngay chung quanh tôi. Tôi đi du học
năm 1961, đó là đợt du học sang Pháp thứ hai
sau mấy năm gián đoạn. Sau vụ xung đột
giữa Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Hinh, rồi
vụ B́nh Xuyên, liên hệ giữa Việt nam Cộng Ḥa và
Pháp trở nên căng thẳng và Việt nam không c̣n gởi
du học sinh sang Pháp nữa cho tới năm 1960. Lúc
đầu chỉ những sinh viên thật xuất sắc
mỗi năm vài chục. Cho tới năm 1964 mới có
phong trào ồ ạt gởi sinh viên qua Pháp, để du
học cũng có mà để khỏi phải đi quân
dịch cũng có, và tŕnh độ mới sút giảm.
Nhưng số sinh viên Việt nam vẫn c̣n rất ít so
với các nước thuộc Pháp cũ. Tổng cộng
chỉ vài ngàn. Vậy mà chúng tôi áp đảo hẳn các sinh
viên ngoại quốc khác Trường khó đến đâu
người Việt nam cũng vào lọt, bằng cấp
nào sinh viên Việt nam cũng đậu, và thường
đậu một cách vẻ vang. Đi du học cùng năm
với tôi có khoảng 50 người, trong đó một
nửa là đi học bổng, một nửa đi tự
túc. Nhóm học bỏng dĩ nhiên trội hơn, nhưng
tất cả đều thành công vẻ vang và mau chóng. Ngay
cả những người đi sau 1964 không
được gạn lọc cũng đậu thành công
trong việc học và sau này trong sinh hoạt nghề
nghiệp. Người Việt nam không những chỉ sáng
dạ trong trường học mà c̣n có khả năng
hấp thụ mau chóng các kiến thức trong cuộc
sống. Không phải chỉ có những sinh viên mà ngay
cả những người b́nh dân cũng chứng tỏ
một khả năng học hỏi và suy nghĩ rất
lớn. Trong trại cải tạo, chúng tôi thường
đánh cờ giết th́ giờ, và nhiều người
chẳng có tŕnh độ học vấn nào đáng kể
mà đánh cờ cao một cách lạ lùng. Có một anh
trưởng ấp chỉ học hết tiễu học
mà hạ tôi dài dài, làm tôi có lúc lồng lộn lên v́ đánh
cờ vốn là một môn khá của tôi. Trong cả năm
trời đụng độ với anh ta, mặc dầu
suy nghĩ đủ mọi chiêu pháp, tôi không sao dứt
điểm nỗi anh ta, cùng lắm là có qua có lại. Có
một anh trung úy thuộc ḷng tất cả mọi bộ
kiếm hiệp của Kim Dung, một anh cán bộ xây
dựng nông thôn chỉ nghe kể chuyện mà dần
dần nhớ hết mọi chi tiết của truyện
Tam Quốc. Tôi chỉ kể vài thí dụ, nhưng những
thành tích tương tự như vậy có vô số trong
đám hơn một ngàn tù binh trong trại. Những năm
đi cải tạo cũng là những năm khiến tôi
khám phá ra trí thông minh xuất chúng của người
Việt.
Năm 1980, lúc đang loay hoay t́m cách vượt biên, tôi
gặp Sáu Thinh. Năm 1954 anh ta đă ngoài hai mươi
tuổi và đă bỏ học đi theo Việt Minh vài
năm trước đó. Anh ta ra Bắc tập kết, vào
đảng cộng sản đậu kỹ sư và làm
trung tá tại bộ tổng tham mưu quân đội nhân
dân tại Hà Nội, anh ta được ông Giáp quí mến.
Vào năm 1975, anh ta mất niềm tin ở chủ nghĩa
cộng sản, bắt đầu đề cao dân chủ
trong các sinh hoạt đảng, rồi bị hạ
tầng công tác dần dần. Sáu Thinh giúp tôi nhiều công
việc chuẩn bị. Tôi rất phục Sáu Thinh về
sự thông minh của anh ta, nhưng chính anh ta lại
kể cho tôi nghe một giai thoại ngộ nghĩnh.
Sau ngày chiến thắng, Sáu Thinh cùng người em, là
tiễu đoàn trưởng đặc công và
được nhiều huân chương anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân, vinh quang về quê cũ
thăm bà mẹ già ở Rạch Giá. Bà mẹ đă ngoài
bảy mươi lấy ghe máy chở hai con trai anh hùng dân
tộc đi thăm bà con với tất cả hănh
diện. Nửa đường bất th́nh ĺnh mấy
hư. Hai vị anh hùng ngơ ngẩn không biết phải
làm ǵ, bà cụ loay hoay mở bu-gi ra chùi vào quần rồi
lắp lại. Máy nổ trở lại và ba mẹ con
đi tiếp. Sáu Thinh nói với tôi: Ḿnh vừa phục
vừa ngượng, không biết bà cụ học nghề
máy lúc nào, ngày ḿnh đi bà chỉ biết làm ruộng.
Trong mấy năm qua lại miền Tây Nam Phần, tôi
đă nhiều lần ngạc nhiên về sự khéo léo và
nhanh trí của nông dân tại đây. Họ tự sửa
chữa lấy máy bơm, máy cày, máy phát điện một
cách thật tài t́nh, có khi c̣n đổi cả chi tiết máy
để tăng hiệu lực. Vào những năm 1979-
1981, các bộ phận rời rất hiếm, hỏng
bộ phận nào nông dân chỉ cần ra khu chợ sẽ
có thể tiện làm cho ngay. Do hay mua máy tàu đễ
vượt biên, có khi cho chính ḿnh, có khi cho bè bạn, tôi làm
quen được với một tổ thợ máy gần
Ngă Ba ông Tạ. Tổ hợp này gồm toàn bộ
đội miền Bắc xuất ngũ ở lại
miền Nam làm ăn, có người đào ngũ.
Trước 1975, họ chỉ là những người lính
xuất thân từ miền quê Bắc Việt và hoàn toàn không
biết ǵ về máy móc. Họ đến với nghề
máy chỉ v́ có tư thế bộ đội, đảng
viên nên không bị làm phiền phức và có thể di
chuyển, chuyên chở dễ dàng những phụ tùng máy
dầu lúc đó gần như là đồ quốc cấm.
Mới đầu làm chung với những thợ máy
miền Nam, về sau, khi những thợ máy miền Nam
đă vượt biên hết, họ tự lập. Chỉ
trong một thời gian ngắn ngủi họ trở thành
những người thợ máy rất lành nghề, nh́n
thoáng qua một bộ phận họ biết ngay là
thuộc máy nào, mua được không, nếu không th́
chế tạo như thế nào. Một trong những
vấn đề nan giải cho máy dầu dùng để
vượt biên lúc đó là thiếu những bộ bạc
sếch-măng, những ṿng thép tṛn nằm giữa pít-tông
và xy-lanh. Bạc phải làm bằng thứ thép thật
cứng mà Việt nam không có. Lúc đó bạc nhập
cảng đă cạn rồi, mua rất đắt tiền
mà cũng may lắm mới có. Dùng bạc nội
địa th́ rất nguy hiểm v́ thép không đủ
cứng để có thể chịu đựng
được sự ma-sát liên tục của pít-tông
xấp xỉ một ngàn chuyển động trong một
phút. Một tỷ lệ khá lớn các tàu vượt biên
bị hư máy giữa đường với những
hậu quả bị thảm là do bạc bị gẫy. Tôi
thường khuyên các bạn tôi là bằng bất cứ giá
nào phải kiếm cho bằng được bộ
bạc tốt. Vấn đề sau đó được
giải quyết một cách ổn thỏa. Một tổ hợp
cơ khí, cũng của các bộ đội gốc
miền Bắc, lấy ṇng súng đại bác cưa ra và
tiện thành bạc. Không có thép nào cứng bằng thép
của ṇng súng đại bác. Việc họ t́m đâu ra
ṇng súng lại cả là một bí mật, họ nói đó là
những khẩu pháo phế thải, nhưng tôi thấy có
những ṇng c̣n mới lắm. Đám anh em này làm tôi cảm
phục vô cùng khả năng học hỏi và thích nghi mau
chóng của người Việt, mặc dầu không
thể tán thành việc họ lấy trộm ṇng
đại bác ở kho quân đội ra để tiện
làm bạc sếch-măng.
Hơn tất cả mọi tài liệu, sách báo, chính
những tiếp xúc với thực tế với những
con người đă cho tôi nh́n thấy rơ sự sáng dạ
và khả năng thích nghi nhanh chóng của người
Việt. Chính v́ thế mà mặc dầu những khó khăn
và suy thoái trầm trọng về nhiều mặt ngày hôm nay
tôi vẫn giữ được niềm tin vào tương
lai đất nước.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Chuồng lợn và cái cày
Chúng
ta có những con người rất hay, chỉ một
thời gian ngắn sau khi người Pháp tới Việt
nam đă có những người Việt nam đậu
được những bằng cấp cao nhất và khó
nhất. Chỉ một vài năm sau khi người Mỹ
can thiệp đổ người đổ của vào
Việt nam là nông dân miền Nam đă biết sử
dụng, sửa chữa máy cày máy bơm. Chỉ cần
một năm đă biến anh bộ đội gốc
nông dân thành một thợ máy lành nghề. Vài năm cũng
đă đủ để các cán bộ tháng 5-1975 c̣n
ngồi xổm trên xe hơi, mơ ước một ly
cà-phê cái nồi ngồi trên cái cốc và một điếu
thuốc thơm có cán biết đ̣i hỏi xe hơi
phải có máy lạnh, biết phân biệt các loại cognac
ngon nhất và biết đầu cơ trên hối suất
đồng đô-la. Người Việt ta học bài
rất nhanh, nhưng chúng ta c̣n có ǵ đặc sắc
nữa hay không hay chỉ giản dị là những học
tṛ giỏi? Đó là một câu hỏi lớn? Có lần
ngồi nói chuyện tếu, tôi giảng giải cho một
cán bộ miền Bắc rằng con heo và con lợn là hai
con vật khác nhau, chứ không phải chỉ là cùng một
con vật mà miền Bắc gọi một tên, miền Nam gọi
một tên khác.
Tôi nói với anh ta rằng con lợn là một con vật
chỉ nặng trung b́nh 50 kí-lô, hay cùng lắm là 70 kí-lô,
được nuôi quanh năm bằng bèo và cám, trong
những chuồng rơm bẩn thỉu và hôi hám, bố nó
là một con lợn con chỉ lớn hơn cái hộp
sữa Guigoz một chút, được chọn trong đàn
lợn con v́ là con đẹn nhất, yếu nhất không
bơ bèo cám để nuôi. Ngược lại, con heo là con
vật to lớn, có thể nặng tới 200 kí-lô, và
chỉ tám tháng đă đạt tới trọng
lượng trên 100 kí-lô. Nó được nuôi không những
bằng cám, mà c̣n bằng thức ăn riêng của nó, có khi
bằng cơm, bằng khoai, trong những chuồng
bằng xi- măng sạch sẽ, có khi ngay trong nhà cùng
với người, thỉnh thoảng được
tắm rửa. Bố nó là một con heo to lớn, khỏe
mạnh, lông rậm như chó, trông rất đẹp, được
nuôi nấng rất chu đáo, mỗi khi làm phận sự
xong được chủ cho ăn mấy trái trứng
sống để lấy sức. Dĩ nhiên là chuyện
ngụy biện tếu. Nhưng quả thật cách nuôi
lợn tại miền Bắc thật là lạc hậu.
Nuôi lợn không hợp vệ sinh, dinh dưỡng kém,
chọn giống lại rất tầm bậy. Tại
miền Nam, con heo giống, c̣n gọi là heo nọc, là
cả một tài sản được chăm sóc chu
đáo.
Nó được chọn một cách kỹ lưỡng, có
khi cả chục đàn heo không chọn được con
nào đáng làm heo nọc, người ta phải đi mua
ở xa về. Con heo nọc lúc nào cũng khỏe mạnh,
đẹp đẽ. ở ngoài Bắc, con lợn
giống lại là con lợn vất đi, nuôi
được vài ba tháng, nhảy xong là bị đem làm
thịt. Giống đă xấu, thức ăn thiếu
thốn, chuồng lại dơ bẩn, lợn ở ngoài
Bắc lớn không được và lại hay chết v́
thiếu vệ sinh. Thực ra giống lợn ở ngoài
Bắc cũng khác, màu đen, mặt bẹt, bụng cong và
dù có nuôi thế nào cũng không đạt được
tầm vóc của heo trong Nam được nhập
cảng vào từ vài chục năm nay. Nhưng không
hiểu tại sao từ ngàn năm nay, người
miền Bắc không biết xét lại cách nuôi lợn.
Điều đó tố cáo sự thiếu óc sáng tạo và
đổi mới của người Việt
Cái cày ở đồng quê Bắc Việt cũng là cả
một kỳ quan. Phải chọn một cây thật
lớn và thật chắc, cây ổi nếu có thể
được. Cái cày to, tṛn và rất nặng, muốn vác
cày ra đồng phải khá lực lưỡng.
Lưỡi cày tṛn ở dưới, nhọn ở
đầu, sức cản lớn, cày lại nặng, khó
ăn vào đất, trâu kéo ́ ạch. Con trâu khỏe lâm
cũng chỉ cày được ba sào đất mỗi
ngày (mỗi sào là 360 m2, ba sào tương đương
với một công đất ở miền Nam). Thế mà
từ đời này qua đời khác vẫn không ai
nghĩ đến việc thay thế cái cày quái đản
ấy, đến lúc rời làng ra tỉnh, tôi vẫn c̣n
thấy cái cày đó. Trong khi đó tại miền Nam, cái cày
được làm bằng một khúc cây cỡ bằng
cổ chân, một tay xách cũng được.
Lưỡi cày dẹp, bắt đất dễ dàng, trâu kéo
nhẹ nhàng. Chỉ một chuyện giản dị như
vậy thôi mà ta cũng không thay đổi được.
Người Việt ta hễ nh́n thấy th́ bắt
chước mau chóng, nhưng phát minh và sáng tạo quả
không phải là khả năng của ta.
Người miền Nam, do được thiên nhiên ưu
đăi hơn, cuộc sống phong phú hơn và cũng v́
được tiếp xúc nhiều với người
nước ngoài nên có phần cởi mở và phóng khoáng
hơn, nhưng nói chung vẫn là bắt chước
chứ không phải tự ḿnh t́m ra.
Trên các kinh rạch miền Tây Nam Phần, nhà nào cũng làm
cầu tiêu trên sông. Thật là gớm ghiếc. Tắm trên
sông, rửa chén bát trên sông, giặt quần áo trên sông,
đôi khi lấy nước uống trên sông, khi thiếu
nước mưa, rồi cũng xả rác và phóng uế
xuống sông. Trong khi đó chỉ cần đào một ngày
là xong một hầm cầu, tốn kém chẳng bao nhiêu là
có một cầu tiêu sạch sẽ. Nhưng đó là
một nếp sống mà người ta đă quen rồi và
không muốn thay đổi. Một ngày cũng là một
ngày, và tại sao nhà này làm trong khi nhà khác vẫn không làm?
Nhưng điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay
mọi chính quyền đều không nghĩ đến
vấn đề đơn giản này. Năm 1956, các anh
tôi học trung học đệ nhị cấp (lớp 10
trở lên) và bắt đầu theo các khóa huấn luyện
quân sự. Tôi ṭ ṃ đọc sách quân sự của các anh
tôi và thấy có những bài học như cách chống
chiến xa, chống máy bay, v. v... Tôi hỏi các anh tôi có
phải mục đích của các khóa huấn luyện này là
để đào tạo ra các binh sĩ cộng sản
để họ chống lại xe tăng và máy bay của
phe quốc gia hay không. Lúc đó, và nhiều năm sau này
chỉ có Việt nam Cộng Ḥa là có chiến xa và máy bay.
Từ năm 1969 trở đi quân đội cộng
sản mới bắt đầu dùng chiến xa và cũng
chỉ sử dụng ở miền Trung, c̣n máy bay th́ không
bao giờ họ dùng. Th́ ra đó là những bài học
của quân đội Pháp, bộ tổng tham mưu quân
đội miền Nam đem dịch ra để giảng
dạy. Thật là bắt chước một cách ngu
ngốc. Có khi nước đến chân họ vẫn không
biết thích ứng. Tháng 3-1975, sau khi mất Buôn Ma Thuộc
và sau cuộc triệt thoái thê thảm tại Cao Nguyên,
một số công tư chức trong t́nh trạng hoăn
dịch bị gọi ra nhập ngũ. Tôi gặp một
anh bạn ở cơ quan của tôi về phép sau hai
tuần huấn luyện. Tôi hỏi anh ta tập ǵ, anh ta
trả lời rằng chưa tập vũ khí hiện
mới chỉ tập mặc quân phục tề chỉnh,
xếp hàng, điểm danh, đi theo đội ngũ và
thể dục cơ bản. Một tháng sau th́ miền Nam
đầu hàng. Những người Việt nam học
giỏi và đậu bằng cấp cao th́ rất nhiều,
nhưng rất ít ai tín ra được một ư mới,
viết ra được một tác phẩm có sáng tạo,
sáng chế ra được một cái ǵ, hay khám phá ra
một định lư nào. Tôi may mắn biết một
số người có phát minh thực sự, nhưng tỷ
lệ của họ quá ít. Kết quả là chúng ta vẫn
chỉ là những học tṛ. Học tṛ giỏi vẫn là
học tṛ.
Chúng ta học th́ giỏi thực, và khi đă học th́
thường hay có thể biến hóa đôi chút, nhưng nói
chung trí tuệ của ta h́nh như chỉ dừng ở
đó. H́nh như thiếu óc sáng tạo không phải là
một đặc tính riêng của người Việt, mà
là đặc tính chung của người á Đông, mặc
dầu căn bệnh này có phần hơi trầm trọng
hơn nơi người Việt nam. Ngày nay Nhật
Bản, Cao Ly và Đài Loan đă phát triển mạnh
lắm rồi. Nhật Bản và Đài Loan c̣n dư
một số tiền lớn không biết đầu tư
vào đâu. Họ nhiều phương tiện hơn
cả Hoa Kỳ và Tây Âu, nhưng họ không có những phát
minh lớn và cũng không có thành công nào đáng kể về
nghệ thuật và tư tưởng. Họ vẫn
chỉ chạy theo sau người phương Tây, dù là
chạy nhanh.
Đầu thập niên 90, nước Nhật khốn
đốn với Truyền H́nh Siêu Phẩm (High Definition
Television- HDT). Họ cải tiến rất xuất sắc
phương pháp truyền h́nh cổ điển theo khái
niệm đồng lư (analogic) và đạt tới một
h́nh ảnh gần như tuyệt đối trung thực
về cả nét lẫn màu. Đó là một tiến bộ
lớn nhưng vẫn chỉ là cải tiến cái sẵn
có. Họ nghĩ là đă vượt qua được Hoa
Kỳ về kỹ thuật truyền h́nh. Nhưng ngay sau
đó, Hoa Kỳ t́m ra phương pháp truyền h́nh bằng
số (Digital Television-DT). Các h́nh ảnh được ghi
nhận bằng số mă. Kết quả là máy truyền h́nh
sắp tới của Hoa Kỳ tuy h́nh ảnh chưa
được bằng HDT của Nhật - dù cũng
đẹp hơn nhiều so với hiện nay - nhưng
lại hơn Nhật về mọi mặt. Máy truyền
h́nh của Nhật sẽ tốn 10.000 USD và chỉ là
một máy truyền h́nh thụ động, trong khi máy
truyền h́nh DT của Hoa Kỳ, sẽ chỉ tốn 5.000
USD và sẽ là một computer. Các h́nh ảnh có thể thu trên
đĩa cứng như những hồ sơ (files) và có
thể phát lại khi nào muốn. Máy truyền h́nh digital có
thư viện riêng chứa phim ảnh, tài liệu riêng
của mỗi gia đ́nh và cũng có thể tham khảo,
tiếp nhận phim ảnh, tài liệu từ nhiều
nguồn khác. Nó cũng là một computer của gia đ́nh
để đặt hàng, mua hàng, thanh toán v.v. Người
Nhật đă mau chóng nh́n nhận sự hơn hẳn quá rơ
ràng của phương pháp truyền h́nh mới của
Mỹ và bỏ cuộc. Họ đă tốn hàng trăm
tỷ USD và bị thua sút Mỹ ít nhất mười
năm. Mười năm đối với một
đại cường và trong thời đại này là
một thảm bại. Lịch sử thế giới
của hai thế kỷ nay chủ yếu là lịch sử
những cố gắng của phần c̣n lại của
thế giới để đương đầu
với ưu thế của người phương Tây và
h́nh như có một kịch bản cố định:
người phương Đông thua kém, cố hết
sức bắt kịp người phương Tây,
đến khi họ tưởng sắp qua mặt
được người phương Tây th́ phương
Tây lại t́m ra một phát minh mới và lại bỏ xa
họ.
Người phương Tây hơn người
phương Đông v́ họ có óc sáng tạo vượt
trội. Điều này có thể thấy rơ nếu nh́n qua
quốc tịch của những nhà bác học
được giải Nobel. So với các dân tộc châu á
khác th́ người Việt nam lại c̣n thiếu óc sáng
tạo hơn nhiều. Đó là một nhược
điểm lớn mà chúng ta phải khắc phục, và
phải khắc phục khẩn cấp bằng một
cố gắng liên tục và mănh liệt. Sự thiếu óc
sáng tạo của người Việt không c̣n là một bí
mật đối với ai. Chúng ta đều biết,
nhưng chúng ta chưa ư thức được hai
điều. Một là chỉ có những con người
tự do mới có thể có óc sáng tạo, chúng ta không
thể vừa kêu gọi phải sáng tạo lại vừa
theo đuổi một chế độ đầy cấm
đoán. Hai là thế giới sắp rời kỷ nguyên công
nghiệp để đi vào kỷ nguyên của trí tuệ
trong đó óc sáng tạo là tất cả, thiếu óc sáng
tạo chúng ta sẽ măi măi tụt hậu và chịu sự
thống trị của người nước ngoài. Và cũng
cần ư thức rằng sự thiếu sáng tạo cũng
là nguyên nhân của thảm kịch của chúng ta hiện
nay : những người cầm quyền cứ ôm chặt
lấy một chủ nghĩa đă phá sản và bị
cả thế giới vứt bỏ, không khác ǵ những
người nông dân hủ lậu khư khư giữ
lấy chuồng lợn và cái cày.
Xét cho cùng th́ ở thời đại nào óc sáng lạo
vẫn ở trên tất cả. Thượng đế
cũng đă chỉ được tôn thờ v́
Người là tạo hóa, bởi v́ Người sáng
tạo.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Hai bằng tiến sĩ
Vào
năm 1956, ông Hoàng Văn Chí vượt tuyến vào Nam và
cho xuất bản cuốn Trăm hoa đua nở trên
đất Bắc cùng với nhiều tài liệu khác mà ông
đem vào. Ông đă gây được một sôi nổi
lớn tại miền Nam. Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
khai thác triệt để các tài liệu này v́ lúc đó
đang phát động chiến dịch tố cộng. Các
tài liệu được phổ biến rộng răi. Tài
liệu được đặc biệt chú ư là bản
tham luận của luật sư Nguyễn Mạnh
Tường, từ đó tôi đă được
đọc rất nhiều bài nói về ông. Điều làm
tôi chú ư là tất cả mọi bài đều ca tụng ông
Nguyễn Mạnh Tường đă đậu hai bằng
tiến sĩ luật khoa và văn khoa khi mới ngoài hai
mươi tuổi. Ngoài ra không thấy nói ông Tường
đă đạt được một thành tích nào.
Vài năm trước khi qua đời, ông Nguyễn
Mạnh Tường có dịp di Pháp và báo chí hải
ngoại lại đề cập đến ông như là
một trí thức đă bị cộng sản lừa
gạt và ngược đăi. Trong tất cả những
bài viết về ông Tường đều có nhắc
lại việc ông đậu hai bằng tiến sĩ, thêm
vào đó là việc ông đă tỏ ra có khí phách khi viết
bài tham luận tố giác những tội ác của vụ
cải cách điền địa. Ngoài ra cũng không có ǵ
khác
Hồi tháng 5-1994, tôi có viết một bài tham luận
về trí thức Việt nam đăng trên báo Ngày Nay,
xuất bản ở Houston, Hoa Kỳ. Bài này là một bài
tham luận về văn hóa và tư tưởng. Những
điều tôi viết đă không làm hài ḷng một số
trí thức và đă có một số bài phản ứng. Ông
Phạm Nam Sách có viết một bài góp ư trên tờ Thời
Luận, xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ. Bài
của ông Sách lại đưa đến một bài báo
khác kư tên Công Tôn Hoàng, chắc chỉ là một bút hiệu,
đả kích cả ông Sách lẫn tôi. Tác giả cho
biết chỉ đọc bài của ông Sách chứ không
đọc bài của tôi. Tôi bị đả kích thật
nặng lời hơn cả ông Sách, mặc dù những
điều tác giả đả kích thực ra là do ông Sách
viết chứ không phải tôi. Nhưng điều đó
không quan trọng lắm. Điều đáng để ư là
cả hai bài này đều đề cập đến ông
Nguyễn Mạnh Tường, và một lần nữa
nhắc lại việc ông Tường đậu hai
bằng tiến sĩ.
Trong tất cả bài viết về ông Tường mà tôi
đă được đọc cho đến nay không có bài
nào không nói đến hai bằng tiến sĩ của ông.
Ngoài ra không có ǵ đặc biệt. H́nh như việc ông
đậu hai bằng tiến sĩ là quan trọng nhất
trong cuộc đời ông dưới mắt nhiều
người. Sự kiện đó được coi là
đủ để kết luận ông là người
giỏi và những điều ông nói là cao siêu.
Tôi có dịp gặp ông Tường tại Paris tại nhà
một người bạn. Buổi nói chuyện kéo dài khá
lâu và tôi thú thực không thấy ǵ đặc sắc. Ông nói
nhiều điều đúng, không có ǵ để phản
đối cả, nhưng đều là những
điều rất thông thường.
Tôi cũng có đọc nhiều bài nói về ông Trần
Đức Thảo, và tất cả mọi bài đều
nói đến việc ông đậu thạc sĩ triết
học. Có một số bài c̣n nói đến việc ông
từng tranh luận với Jean-Paul Sarlre, nhưng các tác
giả đều không biết ông tranh luận về
cấp ǵ và đưa ư kiến ǵ. Tác giả nào h́nh như
cũng ngưỡng mộ ông về mảnh bằng
thạc sĩ của ông, việc tranh luận với Sartre
chỉ được nêu ra để minh họa thêm tŕnh
độ cao của ông mà thôi. Tôi chỉ đọc
được một bài của ông Hoàng Khoa Khôi, một
người thợ tự học và một người cách
mạng mà tôi rất quư mến, tranh luận một cách
không nhân nhượng với ông Thảo và tỏ ra không
hề mặc cảm về cái bằng thạc sĩ
của ông. Ông Thảo h́nh như làm luận án về
hiện tượng luận, nhưng biết học
trừu tượng không phải sở thích của tôi, nên
tôi không đọc tác phẩm nào của ông cả. Tôi
chỉ đọc một tập sách ngắn - đúng ra
phải gọi là một bài dài - của ông nhan để ùn
itméraire (Một lộ tŕnh), trong đó ông tóm lược
diễn tiến tư tưởng của ông. Thú thực
tôi thấy nó rất xoàng, phải nói thẳng là quá xoàng. Tuy
nhiên đối với rất nhiều người,
việc ông đậu bằng thạc sĩ là đă
đủ để bảo đảm giá trị của
những ǵ ông viết.
Tháng 7 năm 1990, tôi đi dự đám tang của giáo
sư Nguyễn Ngọc Huy, một người mà tôi
rất quí mến, tôi cũng được nghe một bài
điếu văn liệt kê tất cả những
bằng cấp của ông một cách rất trân trọng,
mặc dầu cuộc đời đấu tranh phong phú
của Nguyễn Ngọc Huy có rất nhiều điều
đáng nói hơn.
H́nh như đối với người Việt, bằng
cấp là quan trọng nhất, và một con người
trước hết được đánh giá qua nhưng
bằng cấp mà ḿnh có. Bằng quí như thế nên tôi
đă từng thấy những người chơi
bằng. Họ có đủ mọi loại bằng
cấp, mặc dầu chỉ làm được có một
nghề. Có những người ngoài bốn mươi
tuổi vẫn c̣n cố đi học để lấy
thêm một bằng cấp khác, không biết để làm
ǵ. Những th́ giờ đó nếu họ dùng để
học hỏi mở mang kiến thức thực sự,
hay để sống với vợ con, hay ngồi nghỉ
ngơi và suy tư th́ hay biết mấy.
Trong sinh hoạt nghề nghiệp, tôi có dịp phỏng
vấn nhiều người Việt nam để tuyền
dụng. Hồ sơ ứng tuyển của họ lọt
dễ dàng ṿng sơ khảo của sở nhân viên
để đến tay tôi v́ họ có bằng cấp
rất khá. Dần dần kinh nghiệm cho tôi một
nhận định rất rơ ràng: người~ Việt
thường có bằng cấp quá cao so với giá trị
của họ. Không những thế, thường
thường họ hiểu biết rất ít về
những ǵ họ đă làm.
Trong ngành tin học ứng dụng vào quản trị,
hoạt động chính của tôi trong những năm
gần đây, các kỹ sư Việt nam thường
chỉ biết tin học và mù tịt về quản
trị. Trong khi tin học chỉ là phương tiện,
quản trị mới là mục đích. Đă thế
họ c̣n diễn đạt một cách rất khó hiểu.
Điều trớ trêu là phần lớn cũng biết
như vậy nhưng đă giải quyết một cách
khác: trong CV (lư lịch) của họ, ngoài bằng kỹ
sư tin học, có khi c̣n có thêm bằng tốt nghiệp
một trường quản trị. Họ tin rằng
với một bằng về tin học và một bằng
về quản trị dĩ nhiên ḿnh phải
được coi là giỏi cả về tin học
lẫn quản trị. Có bằng là có tài và chúng ta yên trí.
Trong giao dịch nghề nghiệp, tôi có dịp tiếp xúc
với đủ loại người và khám phá nơi
người Việt ḿnh một đặc tính : họ có
the bị lừa bởi bằng cấp của chính họ.
Một khi đă có bằng cấp về một môn nào
đó, họ tin chắc là họ giỏi về môn đó,
mặc dầu trên thực tế họ chỉ biết
rất lơ mơ. Sự đánh giá bằng cấp
của người Việt thật là kỳ lạ
đối với người Pháp mà tôi biết khá rơ,
bằng cấp là chứng nhận một tŕnh độ
hiểu biết, bằng cấp nói lên khoảng một
phần ba nhưng ǵ họ biết, đối với
người Việt nam nó là ba lần những ǵ họ
biết. Người Việt nam ḿnh đánh giá người
khác qua bằng cấp và sau cùng cũng tự đánh giá ḿnh
qua bằng cấp. Bằng cấp đối với
người Việt v́ vậy có một tầm quan
trọng rất đặc biệt. Có thể nói
người Việt v́ vậy có một tầm quan
trọng rất đặc biệt. Có thể nói
người Việt nam đi học để lấy
bằng cấp chứ không phải đễ lấy
kiến thức. Bằng cấp không những là
phương tiện để lừa người khác mà
c̣n là phương tiện để đánh lừa chính
ḿnh. Tôi đă ca tụng tính hiếu học của
người Việt trong những trang trước. ở
đây, tôi phải đánh một dấu giáng trên niềm
tin đó. Hiếu học là hay, những học để
làm ǵ c̣n quan trọng hơn. Khổ thay phải nh́n nhận
rằng nguyên nhân tính hiếu học của người
Việt không lấy ǵ làm trong sáng lắm.
Nếu bằng cấp là hănh diện cho kẻ có th́ nó
cũng là một tủi hổ cho người không có.
Một anh lúc ở Việt nam là một tư chức
nhỏ, tŕnh độ học vấn của anh ta cỡ
vào khoảng giữa bậc trung học. Anh ta mơ
mảnh bằng tiến sĩ, điều đó quan
trọng vô cùng đối với anh, đến nỗi anh
vật vă trong hơn mười lăm năm miệt mài,
ban ngày đi làm lặt vặt kiếm sống, tối
học đi thi lấy bằng tiến sĩ. Anh ta ghi danh
vào một trường đại học không đ̣i
hỏi bằng tú tài và cho làm luận án tiến sĩ mà không
đ̣i hỏi bằng cao học, nghĩa là một thứ
tiến sĩ đại hạ giá. Sau khi đă có bằng
tiến sĩ, tôi không thấy anh ta khá hơn trước.
Nhưng sự kiện có bằng tiến sĩ khiến anh
ta trở nên thoải mái, tự tin, trông mặt anh ta sáng
hẳn lên. ít ra mảnh bằng đă cho anh ta hạnh phúc.
Phải giải thích thế nào óc trọng bằng cấp
và ham bằng cấp của người Việt? Nó là
biểu hiện của một dân tộc thiếu óc làm
chủ, một dân tộc có bản năng làm công và làm
mướn. Nếu không có ư định đi xin việc
làm mà nhất quyết xây dựng một cơ sở
của riêng ḿnh chắc chắn người ta không cần
bằng cấp, mà chỉ cần kiến thức.
Những người Trung Hoa ở Chợ Lớn không
cần bằng cấp v́ họ không có ư định xin
việc làm, họ làm cho chính họ. Và họ thành công
hơn người Việt, và cũng giỏi hơn
người Việt. Thời gian làm việc tại
miền Nam trước 1975, đă cho tôi nhiều cơ
hội để tiếp xúc và t́m hiểu họ. Trái
với dư luận thông thường, họ không phải
là những nhà triệu phú vô học, viết chữ c̣n run
tay. Họ là những con người xuất chúng, có
kiến thức rất sâu và rất rộng, có lư luận
rất sắc bén và có cách tŕnh bày rất minh bạch.
Chắc chắn họ đă học hỏi rất
nhiều. Có điều là họ học cho giỏi chứ
không học để lấy bằng.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Người Việt, người Nhật
Rất
nhiều người Việt nam gán cho người Nhật
một câu so sánh giữa người Nhật và
người Việt mà chính tôi dù quen biết khá nhiều
người Nhật chưa bao giờ nghe họ nói:
Một người Việt hơn một người
Nhật, nhưng ba người Việt nam hợp lại
thua ba người Nhật. Câu nói đó có vẻ như
một nhận xét khiêm nhường, nh́n nhận sự thua
kém về khả năng làm việc tập thể của
người Việt, nh́n nhận khuyết điềm chính
của người Việt là thiếu đoàn kết. Tuy
vậy trong cách nói vẫn có sự thỏa măn : Một
người Việt hơn một người Nhật,
vế đầu này có vẻ được nhấn
mạnh hơn vế sau.
Nếu quả thực người Nhật nào đă có nói
câu đó th́ nó cũng chỉ là một câu khẳng
định sự hơn hẳn của dân tộc Nhật,
nó phải được hiểu là: Ngay cả nếu một
người Việt nam có hơn một người
Nhật đi nữa, th́ ba người Việt nam hợp
lại vẫn thua ba người Nhật. Nói một cách
khác, sự thua kém của dân tộc Việt nam so với dân
tộc Nhật là tuyệt vọng, hết thuốc
chữa. C̣n một người Việt nam có hơn một
người Nhật hay không lại là một vấn
đề khác. Tôi tin là không, theo nhưng kinh nghiệm
sống.
Lúc c̣n đi học và ở cư xá đại học Paris,
tôi đă có dịp làm quen với nhiều bạn Nhật.
Trước hết họ là những người đáng
tin. Họ hứa điều ǵ, họ làm hết sức
để giữ lời hứa, rủi làm không xong họ
khiêm tốn và thành thực nhận lỗi, không viện
dẫn một lư do nào cả. Thứ hai là họ thực
sự chuyên cần, làm cái ǵ đều làm đến
nơi đến chốn, học cái ǵ đều cố
gắng học cho hiểu thật tường tận,
không như người ḿnh chỉ làm cho xong, học
tắt, học tủ đẻ thi đậu, bất
chấp có thực sự hiểu hay không. Người
Nhật hiểu biết một cách chắc chắn, v́
họ học đễ lấy kiến thức, nhưng
thi có thể thua người Việt v́ người
Việt học để đi thi lấy bằng. Bằng
cấp của người Nhật có thể thấp
hơn bằng cấp của người Việt mà sự
hiểu biết của họ vẫn hơn. Tôi có
được đọc một luận án của một
sinh viên Nhật về xă hội Việt nam dưới
thời Tự Đức. Anh ta dày công sưu tập tài
liệu, suy nghĩ chín chắn và nhận định
rất chính xác. ít có một công tŕnh biên khảo nào của
người Việt về nước Việt có giá trị
như thế, nhưng luận án của anh chỉ là
một luận án tiến sĩ đệ tam cấp,
nghĩa là một bằng cấp tiến sĩ thấp
nhất trong thứ bậc các bằng tiến sĩ, và anh
ta ghi rơ như vậy trong luận án. Dầu vậy,
luận án của anh ta được đánh giá cao, và
được một nhà xuất bản Pháp in,
được quần chúng Pháp đọc, trong khi
nhiều luận án tiến sĩ quốc gia, cấp
tiến sĩ cao nhất, của người Việt
về nước Việt không được như
vậy.
Người Nhật rất yêu nước, và v́ yêu
nước họ học hỏi rất kỹ về
những khả năng của đất nước
họ. Các bạn Nhật của tôi thường nói:
Nước Nhật chúng tôi kẹt lắm, đất
hẹp, người đông, tài nguyên thiên nhiên không có, con
người lại không thông minh, chúng tôi cố gắng làm
cũng không thể bằng được các nước
khác . Nhờ sự lo âu thường trực đó mà
họ đă xây dựng ra cường quốc số
một tại châu á, và trên nhiều địa hạt
cũng số một trên thế giới. Họ không tự
hào là có giang sơn gấm vóc, dân tộc tinh anh.
Nhưng trên thực tế họ rất thông minh. Tôi đă
đọc trên tuần báo Newsweek, một bài so sánh hệ
số thông minh (I.Q.) của các dân tộc, và thấy
người Nhật đứng đầu khá xa. Tuy
vậy tôi chưa hề gặp một người
Nhật nào tự hào dân tộc họ là thông minh. Th́ ra
họ vừa thông minh vừa khiêm tốn. Sự khiêm
lốn đó tôi đă thấy ngay trong các bạn Nhật
của tôi.
Trong cư xá đại học tôi có một cô bạn
người Nhật là Ichiko học về hội họa và
điêu khắc. Thân nhau rồi, Ichiko rủ tôi về pḥng
và cho tôi xem các tác phẩm của cô, con mắt mỹ
thuật kém cỏi của tôi cũng phải bắt
buộc tôi nh́n nhận đó là những tác phẩm rất
hay. Tôi rủ một người bạn Pháp mê hội họa
và điêu khắc tới xem, ra về anh ta tấm tắc
khen hay. Thế nhưng khi tôi bảo Ichiko nên làm triển lăm
th́ cô dẫy nẩy từ chối, bảo rằng ḿnh c̣n
dở quá. Dầu vậy, Ichiko có lư do để tin ḿnh không
dở, cô đă được giải nhất về
điêu khắc trong một cuộc triển lăm của
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật.
Người Việt nam, nhất là đám sinh viên Việt
nam tại Paris chúng tôi, thường hay chê người Nhật
là kém về ngôn ngữ. Quả thật họ nói tiếng
Pháp rất dở. Ông thày dạy vơ của tôi chẳng
hạn, sang Pháp đă mười mấy năm mà tiếng
Pháp chẳng ra đâu vào đâu cả. Ông nói những
tiếng thật tức cười như levez pieds
(nhắc chân lên), baissez bras. Nhưng khi tới thăm ông,
tôi gặp ông đang đọc một cuốn sách
tiếng Nhật, hỏi ra th́ được biết thú
tiêu khiền chính của ông là đọc sách tiếng
Nhật. Nh́n cách bố trí căn pḥng có thể thấy ngay
là ông chuẩn bị rất chu đáo đẻ tận
hưởng thú đọc sách. Ông có cả một cái bàn
thấp để ng̣i xếp bằng đọc sách, trên
bàn là một cái giá sách nghiêng do ông đóng lấy. Cách
sắp xếp trong pḥng rơ ràng là để có thể
đọc sách trong những điều kiện tốt
nhất. Các bạn Nhật của tôi đâu nói tiếng
Pháp kém cả, nhưng bù lại họ nói rất dề
hiểu, bởi v́ họ hiểu rơ những ǵ họ nói và
khi không hiểu họ nói rơ ràng không hiểu chỗ nào.
Dần dần tôi hiểu rằng họ không nói giỏi
tiếng Pháp là v́ họ chú trọng học lấy kiến
thức và v́ họ coi trọng văn hóa của họ. Là
một dân tộc lớn, họ cho học tiếng mẹ
đẻ là quan trọng hơn cả, họ học
hỏi tiếng nước ngoài như một phương
tiện đễ hiểu và học hỏi người
khác. Người Nhật chác chắn không phải là một
dân tộc có biệt tài về hùng biện, nhưng tôi
phải thú nhận họ diễn tả rơ ràng và mạch
lạc hơn người Việt. Người Việt là
một trong những dân tộc dở về truyền thông
nhất, điêu này tôi sẽ có dịp đề cập
đến.
Nhưng hăy trở lại với người Việt ḿnh.
Nếu ngay cả lấy ba người Việt có khả
năng hơn ba người Nhật mà kết quả
cũng chỉ là để tạo ra một nhóm ba
người dở hơn nhóm của ba người
Nhật kia th́ chắc chắn là người Việt ḿnh
không có khả năng làm việc chung. Mà đă không cố
khả năng làm việc chung được th́ không
thể nói là ḿnh hay được bởi v́ khả năng
quan trọng nhất, khó khăn nhất chính là khả
năng làm việc chung. Nó đ̣i hỏi trước
hết sự lương thiện, bơi v́ một tập
hợp của chung con người chơi gian, chơi
xấu, chơi gác nhau không thể kéo dài. Nó cũng đ̣i
hỏi vô số đức tính khác : nhạy cảm,
biết lắng nghe, biết truyền đạt ư
kiến, có ư kiến hay, đủ bao dung để
hiểu cái lư của người khác và nhất là
đủ thông minh đễ thấy sự cần
thiết của tổ chức và để thích ứng
quyền lợi của ḿnh với quyền lợi của
tổ chức. Nếu con người chỉ sống và làm
việc một ḿnh thôi th́ sự hay dở có lẽ không
đặt ra, ḿnh làm ḿnh hưởng, ḿnh làm ḿnh biết,
làm sao đánh giá được hay, dở? Cái trí thông minh
lớn nhất chính là khả năng làm việc chung. Đă
không biết làm việc trong khuôn khổ một tổ
chức th́ không thể nói là ḿnh thông minh.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Một dân tộc bất khuất và tự hào?
...Ôi
đẹp biết bao, biết mấy tự hào
Sài G̣n ơi ta vẫy tay chào
cờ sao đang tung bay cao...
Xuân Hồng
(trích bài Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh)
Các nhà b́nh luận chính trị và lịch sử của ta dù
là cộng sản hay không cộng sản đều
đồng ư rằng dân tộc ta rất bất khuất
và giàu tự ái dân tộc. Các thế hệ Việt nam
lớn lên đều được huấn luyện
để tin như vậy và tự hào về tính tự hào
dân tộc của ta. Đó là một niềm tin cần
thiết, và cũng có căn bản, nhưng tính bất
khuất và ḷng tự hào dân tộc có được
thể hiện một cách thường trực hay không
lại là cả một vấn đề.
Trong cuốn Mặt Thật , Bùi Tín, một cựu
đại tá phó tổng biên tập báo Nhân Dân đă ly khai
với đảng cộng sản, viết về quan
hệ giữa các cấp lănh đạo đảng
cộng sản và các cố vấn Trung Quốc sang Việt
nam hướng dẫn họ làm cải cách điền
địa năm 1955 như sau:
[ ] Mỗi lần các vị học tṛ này gặp đoàn phái
viên quư báu của Mao chủ tịch, về Thủ ti
cải cờ (Thổ địa cải cách, theo tiếng
Bắc Kinh), họ chỉ có thái độ tiếp nhận
ư kiến của chuyên gia, không dám hỏi lại, cũng
không dám căi lại. Anh bạn của tôi làm ở văn pḥng
ban Chỉ đạo hồi ấy (năm 1954, 1956) kể
lại: Triết cố vấn, Triệu cố vấn và
Vương cố vấn chuyên ngồi dựa vào ghế
bành lớn, ươn bụng ra phía trước, có lúc gác
đại cả hai chân lên bàn, tay cam ly rượú mao
đài, nhổ nước bọt ồn ào xuống
đất, để phán bảo cho những người
nắm vận mệnh của đất nước
Việt nam. Thật thê thảm cho đất nước
này [...]
Những người nắm vận mệnh của
đất nước Việt nam mà Bùi Tín nói tới là các
ông Trường Chinh, Hoàng Quốc việt, Hồ Viết
Thang, v.v... những lănh tụ cộng sản nỗi
tiếng sắt đá và độc đoán. Họ không coi ư
kiến của người Việt nam ra ǵ cả,
đến ngay sinh mệnh của người Việt nam
cũng không có một tầm quan trọng nào dưới
mắt họ. Họ tàn sát thẳng tay những
người không đồng ư với chủ nghĩa
cộng sản. Những ai đọc những sách báo
của đảng cộng sản ngày trước, và cho
tới gần đây, khó có thể không ngượng v́
những lời tâng bốc không một chút dè dặt
đối với Trung Quốc đàn anh, Liên xô vĩ
đại, Lênin vĩ đại, Stalin vĩ đại,
Mao chủ tịch vĩ đại. Họ xưng hô
với khách ngoại quốc bằng Ngài, một tiếng
mà họ không bao giờ dùng đối với người
Việt. Sự kính nể người ngoại quốc
không phải chỉ được thể hiện với
các nước xă hội chủ nghĩa anh em mà ngay cả
với các nước tư bản thù địch.
Trong hội đàm Paris (1968-1973), họ nhất định
đ̣i nói chuyện với Mỹ chứ không thèm nói
chuyện với phía Việt nam Cộng Ḥa. Có người
nói đó là một thái độ chính trị cần có
để tự xác nhận như là đại diện cho
toàn dân Việt nam và phủ nhận mọi tư cách
của Việt nam Cộng Ḥa. Nhưng kết quả
của cuộc thương thuyết có bao giờ tuỳ
thuộc ở thái độ này hay thái độ nọ
đâu, nó luôn luôn chỉ tùy thuộc vào yếu tố duy
nhất là tương quan lực lượng. Chọn lựa
chiến lược của Mỹ dă như thế và
tương quan lực lượng dă như thế th́ dù Hà
Nội có khinh miệt hay kính trọng chính quyền Sài G̣n,
kết quả của cuộc thương thuyết
vẫn như thế. Thái độ khinh miệt phe
quốc gia của Hà Nội chẳng có ảnh hưởng
cụ thể nào lên cuộc thương thuyết cả,
nó chỉ nói lên một tâm lư tôn kính người ngoại
quốc và coi thường đồng bào của ḿnh.
Nếu thực sự có tự ái dân tộc, họ đă
phải t́m kiếm một giải phấp giữa
người Việt nam với nhau. Nhưng tâm lư của
họ là tâm lư trọng ngoại.
Cái tâm lư trọng người ngoài khinh người nhà
được thể hiện một cách ô nhục qua
vụ xử án những người trong Mặt Trận
Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước
Giải Phóng Miền Nam Việt nam của Lê Quốc Túy
cuối năm 1984. Năm người bị kết án
tử h́nh là Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, Lê Quốc
Quân, Hồ Thái Bạch và Huỳnh Vĩnh Sanh. Dù chẳng có
cảm t́nh ǵ với Mặt Trận này nhưng lúc đó tôi
cũng tham gia tranh đấu để các bị cáo
được xét xử một cách đứng
đắn. Đó chỉ là một thái độ bảo
vệ công lư, thái độ này cũng được kích
thích bởi t́nh bạn với Trần Văn Bá mà tôi quen
thân từ hồi c̣n hoạt động với nhau trong
Tổng Hội Sinh Viên Việt nam tại Paris. Giáo sư
Nguyễn Ngọc Huy cũng tham gia đắc lực
cuộc vận động này với chúng tôi.
Một sự kiện ngộ nghĩnh là một hôm tôi
nhận dược một thư của Ṭa Đại
Sứ Hà Nội tại Paris. Thư gồm một phiếu
gởi có en-tête và con dấu của ṭa đại sứ,
kèm với một cáo trạng đối với các can
phạm. Theo cáo trạng này th́ Mai Văn Hạnh là
người chủ chốt nguy hiểm nhất, Trần
Văn Bá là một người nông nổi nhiều anh hùng
tính, Lê Quốc Quân là một người hoạt
động đắc lực, hai người kia là ṭng
phạm.
Trong buổi họp tối hôm đó, tôi đưa văn
thư này cho Nguyễn Ngọc Huy xem, Nguyễn Ngọc Huy
nói: Mai Văn Hạnh có thẻ thông hành Pháp, Huỳnh
Vĩnh Sanh hồi trước đă có sắc lệnh
nhập tịch Pháp dù không tới lấy thông hành, hai
người này có thể thoát chết, nhưng ba
người kia th́ nguy.
Quả đúng vậy. Mai Văn Hạnh, người
được coi là chủ chốt nguy hiểm, và
Huỳnh Vĩnh Sanh được ân xá, c̣n ba người
kia - Bá, Quân và Bạch - bị đem xử bắn ngay
một tuần sau đó. Hai năm sau, Mai Văn Hạnh
được trả tự do cho đi Pháp. Tội
nặng hơn nhưng nhờ có quốc tịch Pháp th́
thoát, tội nhẹ hơn nhưng mang quốc tịch
Việt nam th́ bị bắn. Thực là một quan niệm
kỳ cục về người Việt. Tự hào dân
tộc ở đâu?
Lúc c̣n ở Sài G̣n, năm 1981, một hôm tôi gặp một
anh chuyên gia Việt kiều mà tôi quen biết từ lâu. Anh
ta du học tại Pháp, học rất kém, lận
đận măi rồi bỏ qua Canada. Tôi biết quá rơ anh ta
để có thể bảo đảm là anh ta không có
khả năng nào đáng kể. Nhưng anh ta có xe
đưa đón trọng vọng và được rất
nhiều quan chức cao cấp tham khảo. Trong khi đó
những kỹ sư giỏi gấp nhiều lần anh ta,
tốt nghiệp từ Mỹ, từ Pháp, từ úc, lừ
Canada không thiếu ǵ, nhưng được xếp cho
ngồi đánh cờ trong các cơ quan. Họ chỉ
được tuyển dụng để nhà nước
kiểm soát chứ không được sử dụng. Không
ai cần biết ư kiến của họ. óc khinh
thường người Việt nam mạnh đến
nỗi ngay cả những người tốt nghiệp
ở nước ngoài mà phần nào đă được
Việt nam hóa cũng bị coi thường. Nếu nói là
v́ chúng tôi là ngụy quân ngụy quyền cũ nên không
được trọng vọng như nhưng trí thức
Việt kiều yêu nước, th́ cung không đúng, bởi
v́ các kỹ sư có thẻ đảng hẳn hoi, tốt
nghiệp từ Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc,
Ba Lan... cũng khá đông và nhiều người rất
giỏi nhưng cũng chẳng được ưu
đăi hơn chúng tôi bao nhiêu. Cũng có cả những chuyên
viên tốt nghiệp từ Mỹ và Tây Âu tự nguyện
về nước v́ nhiệt t́nh với chế độ
nhưng cũng không được trọng vọng như
anh chuyên viên Việt kiều kia, bởi v́ họ
được coi là Việt nam.
Người cộng sản không có độc quyền
về đặc tính thiếu tự hào dân tộc. Tôi
đă ở trong ḷng chế độ Việt nam Cộng
Ḥa để có thể xác nhận cái tính trọng ngoại
khinh nội của chế độ. Tốt nghiệp
ở nước ngoài là cái ch́a khóa mở hầu hết các
cửa, tốt nghiệp ở trong nước là cả
một trở ngại lớn cho sự thăng tiến. Có
phải là v́ ở nước ngoài được huấn
luyện kỹ hơn chăng? Lư cớ hơn là lư do.
ở các Bộ Kinh Tế, Tài Chánh, sự nể v́
người ngoại quốc nặng đến nỗi các
tổng giám đốc các công ty nước ngoài không bao
giờ thèm biết tên các giám đốc Việt nam, có
chuyện ǵ họ gơ cửa thẳng các ông bộ
trưởng và họ luôn luôn được tiếp
đón niềm nở. Một tổng giám đốc công ty
Pháp tại Sài G̣n cho tôi hay là ông ta bắt buộc phải
tuyển dụng các cấp giám đốc, phó giám
đốc người Pháp chính cống từ Pháp qua dù
đắt gấp bốn năm lần một người
Việt nam tài giỏi hơn bởi v́ một người
Pháp chính cống dễ nói chuyện với chính quyền
Việt nam hơn là một người Việt nam. Ông ta nói
với tôi như vậy giữa bữa ăn và tôi muốn
độn thổ v́ xấu hổ.
Sự khinh thường người Việt không phải
chỉ có nơi những người cầm quyền mà c̣n
có trong quần chúng Việt nam. Mới đây cháu tôi tốt
nghiệp ở Ḥa Lan xin đi làm cho một hăng Ḥa Lan có chi
nhánh ở Việt nam và bị từ chối. Ban giám
đốc giải thích rằng họ không tuyền
dụng cấp chỉ huy người Việt cho chi nhánh
tại Việt nam v́ lư do một người Ḥa Lan da
trắng mắt xanh dễ điều khiển
người Việt hơn một người Ḥa Lan
gốc Việt. Người Ḥa Lan học bài nhanh thật!
Tôi quen biết một nhà b́nh luận thời cuộc
viết nhiều bài về Việt nam và khá nổi
tiếng. Anh ta vẫn thường hỏi ư kiến tôi
mỗi khi viết bài, và bù lại cũng giúp tôi một
số việc. Bài của anh hay được các báo
Việt nam đăng lại và được ca tụng
như là rất đúng, rất thâm thúy, ngay cả bởi
những tờ báo đả kích tôi một cách nặng
nề, mặc dù những điều anh ta viết không khác
ǵ những điều tôi viết v́ một lư do giản
dị: phần lớn những ư kiến của anh ta là ư
kiến của tôi. Những người ca tụng anh ta và
đả kích tôi không biết rằng chúng tôi quen nhau. Tôi
cũng không dám nói cho anh ta biết là những người
ấy chống tôi. V́ ngượng, v́ tự hào dân tộc.
Xem lại phim thời sự trong những ngày cuối tháng
4-1975, có một cảnh làm tôi thực sự đau ḷng.
Một đại tá quân đội Việt nam Cộng Ḥa
đến phút chót vẫn c̣n hiên ngang trấn giữ
cửa vào Sài G̣n. Tôi thán phục sự dũng cảm
của ông, nhưng ông lại nói một cách hănh diện
trước ống kính của đài truyền h́nh Pháp: Tôi
không sợ bởi v́ tôi đă từng là trung sĩ trong quân
đội Pháp. Làm đại tá quân đội Việt nam
nhưng lại hănh diện v́ đă là trung sĩ quân
đội Pháp!
Tôi c̣n có thể kể vô số những trường
hợp khác mà tôi đă thấy và đă biết. Có phải
v́ chúng ta quá đinh ninh ḿnh là một dân tộc bất
khuất và giàu tự hào dân tộc rồi không thấy
cần nuôi dưỡng tự hào dân tộc thực sự,
hay v́ trong thâm tâm mỗi người chúng ta không đánh giá
cao chính ḿnh, cho nên chúng ta coi thường những
người giống ḿnh?
Khi người ta có thể khinh bỉ, mạt sát và
buộc tội một cách thậm tệ một
người mà ḿnh chỉ biết qua một số dư
luận thôi th́ phải chăng là người ta đang
mạt sát chính ḿnh? Điều người ta thực
sự nói qua sự hung hăng vô căn cứ đó là: Tao
không cần biết mày là ai, đă thực sự nói và làm
những ǵ, nhưng tao vẫn có thể mạt sát mày mà
không sợ sai lầm, v́ mày cũng là người Việt
như tao, mà đă như tao th́ mày chỉ có thể là
lưu manh xằng bậy thôi. Một người có
niềm tự hào thực sự bao giờ cũng quí
trọng những người giống ḿnh. Nhưng
thực tế là chúng ta thiếu một cách tuyệt
vọng tự hào dân tộc. Chúng ta cần khẳn cấp
nghĩ lại ḿnh. Một ḷng tự hào dân tộc thực
sự có thể thay đổi con người chúng ta và
đất nước chúng ta. Chúng ta sẽ kính trọng
lẫn nhau và ngồi lại với nhau để giải
quyết những bất đồng thay v́ khinh miệt
lẫn nhau và chỉ t́m giải quyết với
người ngoại quốc, hay cầu cạnh
người ngoại quốc giải quyết giùm ḿnh
những vấn đề của ḿnh.
Mà sự thực người Việt nam có thiếu anh tài
đâu. Nguyễn Trăi đă từng viết : Nước
Việt nam ta là một nước văn hiến... dù có lúc
mạnh lúc yếu nhưng không thời nào thiếu hào
kiệt
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Yêu nước
Ta
không cố tự hào dân tộc, mà đă không có tự hào dân
tộc th́ không thể yêu nước. Làm sao có thể yêu
một cái ǵ mà ta coi thường? Cho nên ḷng yêu nước
của người Việt, mà mọi người quả
quyết là mạnh, có thể ch́ là một sự hiểu
lầm.
Có một lập luận mà cả hai phe cộng sản và
quốc gia đều đồng ư nhưng rất sai, là
những người cộng sản đă chiến
đấu dũng cảm v́ ḷng yêu nước chứ không
phải v́ chủ nghĩa cộng sản. Lập luận
này tiện cho cả đôi bên. Đảng cộng sản
dĩ nhiên phải nói rằng họ tranh đấu v́ ḷng
yêu nước, có như thế họ mới tranh thủ
được sự hưởng ứng của những
người chưa vào đảng cộng sản, mới
có thể kết tội những đối thủ của
họ là phản quốc, là bán nước, mới tranh
thủ được sự ủng hộ của dư luận
các nước không cộng sản. C̣n bên chống cộng
dĩ nhiên cũng phải nói rằng đa số những
người theo phe cộng sản đă chỉ theo v́ ḷng
yêu nước mà thôi. Có như thế họ mới có
thể buộc tội đảng cộng sản là đă
lừa bịp những người yêu nước nhẹ
dạ, là tiếm đoạt hy sinh xương máu của
nhân dân v́ độc lập dân tộc; có như thế
họ mới nói được chủ nghĩa cộng
sản phi nhân bất nghĩa, chẳng ai theo nếu
biết thực chất. Gần đây những
người công sản ly khai cũng lại sử dụng
lập luận này v́ nó cũng tiện cho họ. Họ
đă đoạn tuyệt với đảng cộng
sản, đă từ bỏ chủ nghĩa cộng sản
rồi th́ tự nhiên họ phải biện minh cho hoạt
động trong quá khứ của ḿnh bằng điều
mà họ nghĩ mọi người chấp nhận,
nghĩa là ḷng yêu nước.
Kết quả là một sự dối trá khổng lồ
từ cả mọi phía. Và cứ thế cuộc tranh căi
thiếu lương thiện này tiếp tục gây ngộ
nhận trong đầu óc mọi người.
Tôi đă nghiên cứu, quan sát, và tâm t́nh với rất
nhiều người cộng sản ở mọi tŕnh
độ và đi tới kết luận quả quyết
rằng đại đa số những đảng viên
cộng sản dă theo đảng v́ chủ nghĩa chứ
không phải v́ ḷng yêu nước. Người cộng
sản cũng yêu nước như mọi người
Việt nam khác, không kém nhưng cũng không hơn. Ḷng yêu
nước có thực nhưng chỉ đóng một vai tṛ
rất thứ yếu trong chọn lựa của ho. Nó
đă chỉ được dùng làm một chiêu bài, nó không
phải là động cơ.
Vả lại ḷng yêu nước làm sao có thể là
động cơ dược, nếu nó không mạnh?
Độc giả sẽ tự nhận ra nhưng tôi
cần cảnh giác trước hết rằng tôi hoàn toàn
không có ư định làm một cáo trạng đối
với người cộng sản và đảng cộng
sản. ở đây tôi chỉ muốn nhận diện
đất nước, điều tôi muốn làm sáng
tỏ là ḷng yêu nước rất mờ nhạt trong ḷng
người Việt nam, dù là cộng sản hay không
cộng sản. Đă đến lúc chấm dứt sự
ngộ nhận này để đem lại cho cuộc
thảo luận về đất nước sự nghiêm
túc phải có.
Chúng ta cần thắng một đặc tính rất kỳ
lạ của người Việt là thường
đặt nền tảng quan hệ và trao đổi trên
một căn bản giả dối, không ai thực sự
nghĩ nhưng mọi người đều muốn
người khác tin là ḿnh nghĩ. Thí dụ các tổ
chức chống cộng hải ngoại đều kêu
gọi ngồi lại với nhau nhưng trong thâm tâm không
ai thực sự muốn ngồi lại với nhau cả,
mà chỉ muốn ngồi lên đầu nhau. Kết quả
tất nhiên là rất khó đồng ư với nhau. Tôi mong
độc giả lưu ư cái dân tộc tính này trước
khi đọc những ḍng kế tiếp.
Ai đă có dịp vào thăm Viện Bảo Tàng Cách Mạng
đều có thể nh́n thấy lá cờ lịch sử
của Phong Trào xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi t́nh cảm
của đảng cộng sản Việt nam. Lá cờ màu
đỏ này chỉ có tám chữ Vạn Tuế Sô Nga, Sô Nga
Vạn Tuế, chỉ có thế. (Chữ Sô viết bắt
đầu bằng chữ S trên lá cờ). Vả lại cái
tên Xô Viết Nghệ Tĩnh cũng đă đủ nói lên
bản chất của phong trào. Cái ǵ đă thực sự
làm nức ḷng người, không phải là ḷng yêu
nước mà là giấc mơ cộng sản, giấc
mơ được giải phóng khỏi sự áp bức,
bóc lột và chà đạp. Giấc mơ ấy đă
khiến những người nông dân cùng khổ miền
Nghệ Tĩnh vùng lên, chấp nhận chết chứ không
chấp nhận tiếp tục cuộc sống tôi đ̣i.
Phong Trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đă thẳng tay tàn sát
những kẻ thù của giai cấp vô sản, bất
luận họ có yêu nước hay không yêu nước. Nó
đă bị đàn áp trong một biển máu, sau khi đă
làm đổ ra một biển máu. Sự dũng cảm
của những con người của Phong Trào xô Viết
Nghệ Tĩnh đă rất phi thường, nhưng nó
hoàn toàn không do ḷng yêu nước mà đă chỉ được
thúc đẩy bởi giấc mơ một cuộc
sống không c̣n áp bức.
Tôi đă nói chuyện với vô số người cộng
sản và cố gắng vượt qua cái vỏ bề
ngoài của họ, tôi luôn luôn t́m thấy giấc mơ
đó đằng sau cái b́nh phong yêu nước. Đó
mới chính là lư tưởng đă khiến họ chấp
nhận mọi gian khổ, nếu cần hy sinh cả tính
mạng. Tôi cũng đă quan sát và trao đỗi với các
trí thức cộng sản. Điều tôi có thể quả
quyết là không ai lầm lần cả. Tất cả
đều đă tán thành chủ nghĩa cộng sản, hay
ít ra đă chấp nhận nó. Không có một người nào
đă theo phong trào cộng sản v́ tưởng rằng nó
không phải là cộng sản cả.
Đảng cộng sản cũng không hề giấu
mục tiêu của họ. Họ sử dụng danh nghĩa
giải phóng dân tộc song song với lư tưởng
cộng sản chứ không phải thay cho lư tưởng
cộng sản. Lúc nào họ cung đề cao đấu
tranh giai cấp, ngay cả khi họ giải tán một cách
tượng trưng Đảng cộng sản Đông
Dương. Vả lại, ngay cả cái tên Đảng
cộng Sản Đông Dương cũng đủ
để nói lên rằng yếu tố Việt nam không
hề có trong ưu tư của họ. Không thể nói là
họ đă lường gạt. Sự bội ước
này có thực, nhưng không phải ở chỗ họ
đă đem áp dụng chủ nghĩa cộng sản, mà
ở chỗ đảng cộng sản đă không thực
hiện được lư tưởng công bằng xă
hội mà chủ nghĩa cộng sản đă hứa
hẹn, thay vào đó là một chế độ đầy
rẫy bất công và tham nhũng. Cũng có những
người đă thất vọng v́ nhận ra chủ
nghĩa cộng sản là không tưởng. Nhưng không có
ai không biết ngay từ đầu rằng mục đích
của mặt trận Việt Minh là để thiết
lập một chế độ cộng sản cả. Nói
như vậy là không thành thực.
Vả lại, năm 1976, khi, sau chiến thắng,
Đảng Lao Động được đỗi tên
thành đảng cộng sản và chế độ
cộng sản được chính thức tuyên bố, tôi
hoàn toàn không thấy ai ngạc nhiên hay phẫn nộ
cả. Tất cả nhưng người đă đóng góp
cho thang lợi của đảng cộng sản
đều hân hoan, hay ít ra không thất vọng. Thất
vọng chỉ đến sau đó khi chế độ
trở thành tham nhũng và đất nước bị suy
thoái, đời sống nhân dân trở thành cơ cực.
Tôi không lên án người cộng sản là không yêu
nước, tôi chỉ muốn nói là ḷng yêu nước
của người Việt ḿnh nói chung là rất yếu.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, có lẽ chỉ có Việt
nam Quốc Dân Đảng và một số hệ phái
Đại Việt là thực sự chỉ lấy ḷng yêu
nước làm nền tảng. Nhưng Việt nam Quốc
Dân Đảng đă không mạnh lên được,
một phần v́ thiếu tổ chức, một phần
bị mọi thế lực đánh phá, nhưng lư do căn
bản, theo tôi, vẫn là v́ ḷng yêu nước, lư
tưởng duy nhất của Việt nam Quốc Dân
Đảng, không đủ mạnh trong ḷng người
Việt nam để có thể động viên
được sự hy sinh của nhiều người,
như lư tưởng cộng sản.
Để đối đầu với đảng
cộng sản, các chính quyền quốc gia đều
chủ yếu do những người không yêu nước
cầm đầu. Các chính quyền Bảo Đại,
Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn
Văn Tâm, ngoại trừ một vài nhân vật của
Đại Việt và Việt nam Quốc Dân Đảng
xuất hiện ngắn ngủi trong một thỏa
hiệp giai đoạn, gồm toàn bộ những
người đă hợp tác với chính quyền thuộc
địa Pháp. Nhưng họ đă thất bại v́ tham
ô, kém cỏi chứ không phải v́ không được coi
là những người yêu nước.
Ông Ngô Đ́nh Diệm xuất hiện đột ngột
vào chính trường Việt nam và cầm quyền. Ông
cũng không phải là một người yêu nước
trái lại ông có một quá khứ dài hợp tác với
người Pháp và đàn áp các phong trào yêu nước.
Nhưng ông đă suưt nữa thành công. Ông thất nhân tâm v́
vụng về, thiển cận chứ không phải v́
bị lên án là không yêu nước. Yêu nước chưa bao
giờ là một yếu tố quyết định
để tranh thủ ḷng người tại Việt nam.
Người Việt nam hoặc không yêu nước,
hoặc chỉ yêu nước một cách rất tương
đối. Người cộng sản yêu chủ nghĩa
của họ hơn đất nước. Người
Công Giáo coi trọng tôn giáo của họ hơn đất
nước. Những người cầm quyền phe
quốc gia đặt quyền lợi của họ trên
đất nước. Nhóm Phật Giáo ấn Quang tranh
đấu để giành quyền lực và ảnh
hưởng cho họ hơn là cho đất nước.
Quần chúng Việt nam lo âu quyền lợi và sự yên
ổn của ḿnh hơn là cho tương lai đất
nước. Tại sao và làm thế nào để khắc
phục là những câu hỏi mà ta cần đặt ra.
Nhưng ít nhất phải nh́n nhận sự thực
đó, phải coi nó là một dữ kiện trong
đầu đề của bài toán đất nước,
để đừng tiếp tục cường
điệu với nhau, đeo mặt nạ và nói chuyện
với nhau bằng ngôn ngữ của lưỡi gỗ.
Ḷng yêu nước của người Việt nam không
phải là không có nhưng rất mờ nhạt. Nó đă
chỉ được thổi phồng lên do sự chia
rẽ trầm trọng của dân tộc Việt nam. Nó
không phải là một t́nh yêu v́ người ta chỉ nhân
danh tổ quốc để giết nhau chứ có bao
giờ nhân danh tổ quốc để tha thứ và
nhường nhịn nhau đâu. Sự xung đột
đă khiến mọi phe phái đều phải đề
cao một điều duy nhất mà mọi người có thể
chấp nhận, đó là ḷng yêu nước. Nhưng sự
xung đột này tự nó cũng là bằng cớ rằng
người Việt nam không yêu nước. Nếu thực
sự yêu nước th́ người Việt nam
trước hết phải thương yêu nhau đă,
chứ không thể phủ nhận, mạt sát, lên án, tiêu
diệt nhau một cách dề dàng như vậy. Có thể
nào tưởng tượng được một gia
đ́nh trong đó mọi người đều tha
thiết yêu gia đ́nh, nhưng lại xung đột, xâu xé
nhau và sẵn sàng giết nhau hay không?
Một bằng cớ khác chứng tỏ người
Việt nam không yêu nước lắm là có một số
đông vẫn chống lại tinh thần ḥa giải dân
tộc. Vấn đề giản dị như thế này:
khi một dân tộc đă có xung đột gay gắt th́
chỉ có hai chọn lựa, một là ḥa giải với
nhau để quốc gia tiếp tục tồại và
đi tới hai là không ḥa giải và chấp nhận tan
vỡ.
Nhưng dầu sao th́ ḷng yêu nước cũng vẫn là
mẫu số chung của dân tộc này để
tồại và tiến lên. Ḷng yêu nước đó chưa
có ở một mức độ cần có, chúng ta phải
tạo ra hay phát minh lại. Trong khi chờ đợi, không
nên lợi dụng và nhảm nhí hóa nó, v́ nó vẫn là hy
vọng thoát nguy duy nhất của ta.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Ils ne s aiment pas
Giáo
sư Nguyễn Huy Bảo sinh năm 1908. Ông du học
tại Pháp, tốt nghiệp cử nhân triết học,
roofi về nước dạy học tại Huế từ
trước thế chiến II. Một số đông các trí
thức miền Trung là học tṛ của ông. Ông làm khoa
trưởng Đại Học Văn Khoa Sài G̣n cho tới
năm 1964, rồi rời Việt nam làm chuyên viên cho Liên
Hiệp Quốc và thực hiện nhiều công tác văn
hóa giáo dục tại các nước châu Phi. Kinh nghiệm
sống của ông đă giúp ông hiểu tại chỗ lư do
khiến nhiều quốc gia không phát triển
được. Là một người hoạt động
không ngừng nghỉ, dầu tuổi đă ngoài chín
mươi, tương lai của Việt nam không c̣n
một quan trọng nào đối với ông nữa, ông
vẫn c̣n tham gia tích cực vào các hoạt động
của nhóm Thông Luận. Ông là một người Việt
nam yêu nước thực sự và nồng nàn. Trong một
buổi thuyết tŕnh tại Câu Lạc Bộ Thân Hữu
Thông Luận về đề tài Việt nam có thể có dân
chủ được không?, ông đă phân tích những
nhược điểm của người Việt nam. Ông
kể lại rằng khi ông c̣n trẻ vừa tới Pháp du
học, một giáo sư người Pháp có kinh nghiệm
nhiều về Việt nam đă nói về người
Việt nam rằng: Ils ne saiment pas (Họ không ưa nhau).
Câu nói đó chắc là ông Nguyễn Huy Bảo đă phải
kiểm chứng thấy trong cuộc đời của ông
và đă phải làm ông đau ḷng lắm, để
đến nỗi 60 năm sau, ông vẫn c̣n ấm ức
và nhắc lại một cách rất thất vọng.
Phải giải thích người Việt nam không yêu
nước v́ họ không quí mến nhau, hay người
Việt nam không quí mến nhau v́ họ không yêu nước? Hai
t́nh cảm đó luôn luôn đi đôi với nhau, hoặc có
cả hai hoặc không có cả hai chứ không thể có
một trong hai.
Ca dao ta có hai câu mà hầu như mọi người
đều biết bầu ơi thương lấy bí cùng,
tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn và nhiễu
điều phủ lấy giá gương, người trong
một nước phải thương nhau cùng. Thực là
ai oán. Hai câu ca dao đó h́nh như đă xưa lắm
rời. Tôi có đọc một cuốn sách nói rằng câu
bầu ơi thương lấy bí cùng... có từ thời
Hai Bà Trưng? Tôi không phải là một nhà nghiên cứu
văn học để có thể có ư kiến về
thời điểm xuất phát của những câu ca dao này,
nhưng mọi người có thẩm quyền về
văn học mà tôi quen biết đều xác nhận đó
là những câu ca dao đă có từ rất lâu. Như thế
có nghĩa là từ lâu rồi người Việt tệ
bạc với nhau tới độ có những
người phải đau ḷng thốt ra những lời
nhắn nhủ năo nùng như thế.
Nguyễn Văn Thanh, người anh kết nghĩa trong tù
của tôi nam nay đă 76 tuổi và sống tại Los
Angeles, kể cho tôi nghe thời anh học trường
Bưởi, giáo sư Đỗ Trí Lễ dạy Vật
Lư, mỗi lần bực bội với học tṛ
thường đi đi lại lại trong lớp và
lẩm bẫm: Les Annamites sont des menteurs, des voleurs ét des
assassins (Người Việt nam là bọn dối trá,
trộm cắp và sát nhân). Sau này do những liên hệ hôn
phối tôi được biết về giáo sư Đỗ
Trí Lễ. Ông là một nhà giáo hiền lành, đức
độ. Câu ông nói không phải do ông sáng tạo ra mà ông
chỉ nhắc lại bởi v́ tôi cũng đă
được nghe nhiều lần ở miệng
người khác. Thật khó tin là người Việt nam có
thể khinh ghét nhau đến thế được.
Người Việt nam t́m đủ mọi lư do để
ghét nhau. Người thành thị th́ gọi người nông
thôn một cách khinh bỉ là bọn nhà quê với ngụ ư
nói là những người dốt nát, đần
độn, ngớ ngẩn. C̣n người nông thôn th́
`gọi người thành thị là kẻ chợ với hàm
ư là gian trá, lật lọng. Người ta mạt sát nhau v́
lư do nghề nghiệp: đồ hàng cá, hàng thịt?. Khi c̣n
ở ngoài Bắc, tôi đă được nghe câu tục
ngữ: bạc quân xứ Huế, tệ quân xứ Nam.
Xứ Huế đây là để chỉ miền Trung.
Như vậy là người Trung và người Nam
đều tệ bạc, chỉ có người Bắc là
chung thủy thôi sao? Nhưng vào tới trong Nam, tôi lại
thấy phần đông người miền Nam coi
người Bắc và người Trung là không ngay thẳng.
Ra tới Huế, tôi lại có thể nhận thấy rơ
ràng người Huế tự nghĩ ḿnh có văn hóa và có
chiều sâu hơn người miền Nam và miền
Bắc. Tuy họ không nói trắng ra nhưng tôi có thể
cảm thấy rơ ràng rằng theo họ, trừ một vài
ngoại lệ, nói chung người Bắc và người
Nam tuy có khác nhau nhưng đều hời hợt và phù
phiếm.
Thế nhưng một ông vua nhà Nguyễn (Minh Mạng hay
Tự Đức) lại mạt sát xứ Huế của
chính ông là sơn bất cao thủy bất thâm, nam đa trá
nữ đa dâm (Núi không cao, sông không sâu, con trai gian trá, con gái
đa dâm). Đó là mạt sát theo thành kiến của
một thời đại thôi chứ đa dâm thực ra là
một tính tốt, nó chứng tỏ con người giàu
sinh lực nhạy cảm và thông minh. Như vậy rơ ràng
là người Việt nam khinh ghét nhau giữa những
người khác miền với nhau và ngay cả giữa
những người cùng sống một nơi. Khác
biệt địa phương, cũng như mọi khác
biệt, đều chỉ là những lư cớ để
người Việt biểu lộ sự khinh ghét lẫn
nhau đă sẵn có ở trong ḷng.
Claude Renaud là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Ông là
người úc gốc Pháp, học chính trị tại Pháp,
quen một cô bạn Việt nam xinh đẹp và lịch
duyệt rồi cưới nhau. Renaud là một nhân vật
cao cấp tại bộ ngoại giao và ngoại
thương úc, từng làm cố vấn ṭa đại
sứ úc tại Việt nam, rồi cố vấn ṭa
đại sứ úc tại Pháp. Trong ngành ngoại giao
cố vấn có hàm bộ trưởng.
Claude Renaud kể cho tôi nghe một cách thú vị những
gian truân của anh trong việc chinh phục người
đẹp. Gia đ́nh vợ anh không hài ḷng lắm
để cho con gái lấy chồng ngoại quốc,
nhưng trở ngại lớn nhất là bà nội v́ bà rất
bảo thủ. Sau cùng sự kiên nhẫn và khôn khéo của
nhà ngoại giao cự phách đă thuyết phục
được bà cụ. Bà cụ đành nói: Thôi, thà
để nó lấy chồng Tây c̣n hơn là để nó
lấy chồng Bắc Kỳ? Bà cụ là người
hiền lành, không hiểu sao cụ ghét người Bắc
đến thế. Có lẽ đó là một thành kiến,
nhưng nó chứng tỏ người Việt nam không
ưa nhau.
Yếu tố cùng là người Việt nam có lẽ
chỉ có một trọng lượng rất nhỏ, nên
người Việt khi kết hợp với nhau
thường dựa trên một mẫu số chung nào đó
ngoài sự kiện cùng là người Việt. Cứ nh́n
ngay những tổ chức chính trị, mà mục đích là
tranh đấu cho một nước Việt nam thống
nhất và đoàn kết. Không cần phải là một nhà
quan sát tinh tường cũng đủ thấy.
Người ta thường kết hợp với nhau trên
một mẫu số chung địa phương, hay thành
phần xă hội, hay tôn giáo: người Bắc,
người Nam, người Trung, cựu hải quân,
cựu học viên Quốc Gia Hành Chánh, Công Giáo, Phật Giáo,
Ḥa Hảo v.v... Rất ít thấy nhưng tổ chức
vượt ra ngoài được những yếu tố
đó. Dĩ nhiên là cũng có. Đảng cộng sản có
cả Bắc Trung Nam, nhưng họ có một mẫu
số chung khác là chủ nghĩa cộng sản và họ
cũng chỉ kết hợp giai cấp vô sản. Việt
nam Quốc Dân Đảng cũng hiện diện tại
cả Bắc Trung Nam, nhưng những hệ phái Bắc,
Trung, Nam trên thực tế là những đảng riêng
biệt với nhau. Một thí dụ cụ thể là năm
1967, ông Vũ Hồng Khanh, chủ tịch Việt nam
Quốc Dân Đảng miền Bắc, ra ứng cử
tổng thống th́ ông Nguyễn Ḥa Hiệp (Việt nam
Quốc Dân Đảng miền Nam) cũng ra tranh cử. Các
hệ phái Việt nam Quốc Dân Đảng tại ba
miền không phải là những chi nhánh của một
đảng mà là những đảng riêng biệt, không
những không liên kết với nhau mà c̣n chống nhau v́
hệ phái nào cũng cho ḿnh là chính thống.
Khi miền Nam đang lâm nguy trước sự tiến công
của cộng sản, một kết hợp chính trị
ra đời, nhóm Liên Trường, kết hợp những
người có một mẫu số chung là đă từng
học các trường trung học miền Nam trước
đây. Biết Nguyễn Ngọc Huy cũng tham gia, dù là
một cách kín đáo, tôi có lần bực bội chất
vấn : Nước sắp mất, không có lư tưởng
nào để kết hợp hay sao mà lại kết hợp
nhảm nhí như vậy?, ông Huy phân trần: Đó là
mấy thằng bạn nó làm, ḿnh không tham gia th́ kỳ quá?.
Chính cá nhân tôi cũng đă từng được kiểm
chứng cái tính ghét nhau của người Việt. Tôi có
viết một số bài báo, tŕnh bày quan điểm chính
trị của tôi. Quan điểm đó không
được sự tán thành của một số
người. Điều đó không hề làm tôi buồn
ḷng, trái lại về một khía cạnh nào đó tôi c̣n vui
ḷng v́ sự kiện nhiều người không đồng
ư với ḿnh chứng tỏ ư kiến của ḿnh là mới.
Tôi quan niệm đưa ra mười ư mới trong đó
có chín ư sai và một ư đúng vẫn c̣n hơn là nói
mười điều đúng cả mười nhưng
chỉ là những ư cũ. Vậy th́ khi người ta
đả kích tôi, tôi không buồn. Nhưng sao những
lời lẽ lại có thể hằn học và nặng nè
đến thế Bọn, tên, chúng, phản bội, cơ
hội chủ nghĩa, đón gió trở cờ, phải
vạch mặt chỉ tên, phải có thái độ, v.v.
Xét cho cùng không phải người ta phản đối
những điều tôi viết ra, bởi v́ họ bịa
đặt ra những điều tôi không hề viết hay
nói, cắt xén những câu viết hay câu nói làm đổi
hẳn ư nghĩa rồi dựa vào đó mà lên án. Lư do
thực sự là họ có nhu cầu cần phải thóa
mạ và đả phá một ai đó.
Phần lớn nhưng người viết bài đả
kích tôi đều không biết tôi là ai cả v́ lư do giản
dị là tôi chẳng làm được ǵ đáng để
được biết tới và cũng không thuộc
một gia đ́nh lớn nào để họ có thể
lục lọi nguồn gốc, tôi chỉ là đứa con
của những ruộng đồng không tên, không tuổi.
Dầu vậy họ có thể viết tôi là đồ
mất gốc, ḍng dơi bán nước, một câu Kiều và
một chữ B́nh Ngô Đại Cáo không biết. Có
người c̣n quả quyết tôi là cộng sản
nằm vùng, có bài c̣n tả tôi là người điên,
mặt mũi láo liên, chân đi hai hàng?
Rồi một số người biết tôi rất rơ
cũng làm ngơ trước những xuyên tạc mà họ
biết chắc chắn là sai, dù phần lớn có cảm
t́nh với tôi. Tôi tự hỏi tại sao? Câu trả
lời của tôi là tuy không diễn tả ra dược
nhưng trong bản năng của họ, họ
đều nghĩ rằng sự độc ác của
người Việt trong cách đối xử với nhau
là một chuyện thường, chẳng có ǵ đáng
ngạc nhiên.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Đôi bạn
Cái
bản năng thù ghét nhau trong con người Việt nam
mạnh đến nỗi nó có thể bùng nỏ một
cách rất bất ngờ, ngay cả giữa những
người thân quen. Ông A và ông B là hai nhân vật có học
thức và được nhiều người biết. Câu
chuyện giữa họ mà tôi kể lại sau đây
cũng đă được phơi bày trên nhiều tờ
báo hải ngoại. Họ cũng là hai người bạn
thân. Họ có tất cả mọi lư do để thân nhau.
Họ là đồng nghiệp, cả hai đều giữ
cùng một chức vụ dân cử quan trọng
dưới thời Việt nam Cộng Ḥa, và hơn thế
nữa đều là những người có uy tín nhất;
cả hai đều là những nhà nghị luận có tên
tuổi; cả hai đều chống cộng; cả hai
đều đối lập với chính quyền
Nguyễn Văn Thiệu. Trước nguy cơ sụp
đổ chắc chắn của Việt nam Cộng Ḥa,
cả hai đều đồng ư là phải lật
đổ Nguyễn Văn Thiệu mới có hy vọng
cứu nguy. Họ cùng nhau âm mưu, rồi cùng bị
bắt và bị giam với nhau. Trốn khỏi Việt nam
sau ngày 30-4-1975, cả hai đều là những khuôn mặt
lớn trong cộng đồng, đều nỗ lực
hoạt động cho mục tiêu chấm dứt chế
độ cộng sản. Lập trường của
họ giống nhau, đường lối của họ
cũng giống nhau. Khi nhóm Thông Luận chúng tôi để
xướng lập trường dân chủ đa nguyên và
ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, cả hai ông đều
là những người đả kích và lên án chúng tôi gay
gắt nhất. Sau đó, và h́nh như vào cùng một
thời điểm, cả hai ông đều hiểu chúng
tôi và ác cảm biến thành thiện cảm. Họ
đều là những trí thức lớn mà tôi quí trọng.
Năm 1993, ông A làm một cuộc thuyết tŕnh và sau đó
công bố bài thuyết tŕnh trên nhiều tờ báo Việt
ngữ tại hải ngoại. Trong bài thuyết tŕnh này ông
chấp nhận đường lối ḥa giải và ḥa
hợp dân tộc trong một số điều kiện.
Những điều kiện này được ông tŕnh bày
một cách khá rơ rệt, nó chứng tỏ lập
trường chống cộng của ông vẫn không thay
đổi, nghĩa là vẫn mănh liệt như
trước. Điều mà ông tŕnh bày chỉ là một
chiến lược để sớm chấm dứt
chế độ cộng sản và thiết lập dân
chủ mà thôi. Chỉ có một điều sơ suất là
ông đă trích dẫn sai lời tuyên bố của Vơ Văn
Kiệt, ông nói ông Kiệt chấp nhận ḥa giải dân
tộc trong khi thực ra ông Kiệt chỉ kêu gọi ḥa
hợp dân tộc, hiểu theo nghĩa đoàn kết
dưới sự lănh đạo của đảng
cộng sản mà thôi. Có lẽ v́ lúc viết, ông A không có
bản văn trong tay chứ không phải ông bênh vực Vơ
Văn Kiệt. Lập trường chống cộng
của ông được phát biểu rất rơ rệt.
Nhưng chỉ cần như thế cũng đủ
để ông B phản ứng bằng một bài báo gay
gắt, lên án ông A là cơ hội chủ nghĩa, đón gió
trở cờ, phản bội lư tưởng của ḿnh
trước đây. Không những thế, ông B c̣n vạch
những chi tiết trong liên hệ riêng tư để
chứng tỏ ông A là người không ra ǵ. Rơ ràng là đánh
thẳng tay, đánh cho chết luôn. Dĩ nhiên ông A không
để yên. Ông trả đũa bằng một bài báo
rất độc. Bài báo tuy không xuyên tạc lập
trường và cuộc đời của ông B nhưng dùng
những lư luận rất công phu để chứng tỏ
ông B là một con người thiếu tế nhị, vi
phạm những qui luật sơ đẳng nhất
của đạo đức. Rơ ràng cũng là đánh
lại thẳng tay, đánh cho chết luôn. B́nh thường
ra, ông B có quyền buồn phiền về sự thay
đổi lập trường - nếu ông nghĩ là có -
của ông A. Ông có thể phản bác lại, đó là
quyền của ông và hơn thế nữa, đó là
phản ứng tự nhiên của một người
đấu tranh chính trị. Nhưng tại sao ông có thể
phản ứng một cách cạn tàu ráo máng như thế.
Ngược lại, nếu ông B đă lỡ viết ra
một bài như thế, th́ ông A hoặc có thể bỏ
qua, hoặc có thể biện minh, nhưng sao lại ra tay
tàn nhẫn như vậy?
Nhưng chúng ta không b́nh thường. Người Việt
nam chúng ta trong tiềm thức không ưa nhau, chúng ta có
sẵn một bản năng tiêu diệt lẫn nhau,
chỉ đợi cơ hội là bùng phát.
Anh em Thông Luận chúng tôi, và cá nhân tôi, đă là đối
tượng của những đả kích rất gay
gắt, xuyên tạc và mạ lỵ. Nhưng chúng tôi
hằng bảo nhau là phải coi chừng cái tâm lư thù ghét
nhau và phải đè bẹp nó, không cho nó cơ hội
cất cái đầu xấu xa của nó lên. Chúng tôi đă
im lặng trước mọi công kích, chúng tôi chỉ
tiếp tục tranh đấu cho lập trường
của ḿnh mà thôi. Tưởng như thế là yên thân, không
ngờ chúng tôi lại bị nhiều người buộc
tội v́ chính sự chịu đựng đó. Ṭi nói
chuyện với cô Thụy Giao, chủ bút báo Xây Dựng
tại San José, và cô Thụy Giao lên án chúng tôi: Các anh khinh
người quá người ta đả kích các anh, các anh
không thèm trả lời, như thế là các anh coi mọi
người là đồ bỏ?.
Tôi trả lời: Chúng tôi có trả lời đấy
chứ, chúng tôi đọc nhưng bài đả kích và rút
kinh nghiệm để tŕnh bày rơ lập trường
của chúng tôi, giải đáp nhưng chất vấn
đă nêu ra.
Mà thực tế là như thế.
Thực ra chúng tôi cũng muốn trả lời một cách
trực tiếp, nhưng nhưng bài đả kích gay
gắt và hằn học quá, rơ ràng các tác giả không
muốn đối thoại.
Làm thế nào để khỏi bị lên án? Có lẽ không
có cách nào cả v́ người Việt chúng ta mang sẵn cái
bản năng buộc tội và kết án lẫn nhau ở
trong ḷng. Chúng la cần cảnh giác coi chừng chính ḿnh.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Phương pháp và gắn bó
Năm
1964, nước Pháp lấy quyết định công
nhận và b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao
với Trung Hoa Lục Địa. Quyết định này
có nghĩa là họ chấp nhận điều kiện
của Bắc Kinh, thôi không nh́n nhận Đài Loan là
đại diện chính thức của Trung Hoa nữa và
cũng không nh́n nhận Đài Loan là một quốc gia mà
chỉ là một phần của nước Trung Hoa do
Bắc Kinh đại diện.
Trong cuộc họp báo công bố quyết định này,
tướng De Gaulle, tổng thống Pháp lúc đó, nói
về nước Trung Hoa như sau: Trung hoa, quốc gia
vĩ đại với lịch sử dài hàng ngàn năm,
nơi mà từ thế hệ này qua thế hệ khác
sự khéo léo của con người đă bù đắp
lại sự thiếu sót về phương pháp và gắn
bó... (La Chine, pays immense à lhistorie millénaire où depuis des générations
lindustre des hommes a compensé le défaut de méthode ét de cohésion...).
Hơn ba mươi năm đă trôi qua kể từ ngày tôi
ngồi trước máy truyền h́nh theo dơi cuộc họp
báo của tướng De Gaulle nên có thể tôi không nhắc
lại được đúng những lời của
tướng De Gaulle, nhưng ông đă nói gần gần
như thế. Tôi đă cố viết lại câu nói
tiếng Pháp của ông v́ sự hiện diện của hai
danh từ quan trọng: méthode (method trong tiếng Anh) và
cohésion (cohesion). Dịch hai tiếng này không phải dễ.
Phải dịch cohésion là ǵ? Nó là một t́nh trạng
của một toàn bộ, trong đó mọi thành tố phù
hợp với nhau, bổ túc cho nhau, hỗ trợ cho nhau
để tạo ra một tổng thể chung bền
vững. Tạm dịch là gắn bó. Tiếng Việt ta
không có từ ngữ để diễn tả khái niệm
này bởi v́ người Việt ta không có ư niệm cohésion.
V́ không có giác quan về sự gắn bó (cohésion) nên
người Việt ta không thể kết hợp với
nhau để làm những công tŕnh lớn, gồm nhiều
phần và đ̣i hỏi sự đóng góp của nhiều
người với nhiều tài năng khác nhau.
Methode th́ ta có tiếng phương pháp. Từ ngữ này
không thấy trong văn học và tài liệu của ta
trước thế kỷ 20. Có lẽ là ta đă dùng
lại một chữ mà người Trung Hoa mới sáng chế
ra gần đây để chỉ một khái niệm du
nhập từ phương Tây. Tướng De Gaulle có
lẽ cũng nghĩ là người Trung Hoa không có
phương pháp. Trước đây, theo nhiều biết
hạn hẹp của tôi, người Trung Hoa chỉ có
chữ phương để chỉ một phương
hướng (phương Đông, phương Tây), cũng
có những chữ phương có nghĩa khác, thí dụ là
thơm hay đầy đặn. Ngoài ra người Trung
Hoa c̣n có c̣n chữ pháp để chỉ qui luật, phép
tắc. Thí dụ như Tôn Tử binh pháp có nghĩa là qui
luật dùng binh của Tôn Tử.
Chữ phương pháp được người ḿnh
hiểu là cách làm, nhưng như vậy không đúng với
nội dung của từ méthode. Méthode có nghĩa đó
thực nhưng trong khoa học tổ chức c̣n có
nghĩa phong phú hơn nhiều, và nghĩa này th́ tôi thấy
tuyệt đại đa số người Việt không
biết đến. V́ thế mặc dầu đă có danh
từ phương pháp nhưng thật ra ta vẫn chưa
có phương pháp.
Phương pháp trong khoa học tổ chức bao gồm
một cố gắng phân tích một công tŕnh, t́m ra
những yêu cầu về khả năng, phương
tiện, vật liệu, thời hạn, kiểm
điểm những ǵ ḿnh đă có và những ǵ cần
phải thụ đắc, chia công tŕnh hay dự án ra làm
những thành phần, quyết định sử dụng
kỹ thuật nào cho mỗi phần, quyết định
ai làm ǵ và làm như thế nào, vào lúc nào, theo dơi diễn
tiến của dự án như thế nào, lấy những
tiêu chuẩn nào để kiểm tra sự tiến hành
nghiêm túc. Và điều quan trọng hơn hết là
phương pháp phải được mọi
người có trách nhiệm trong dự án hiểu biết
và áp dụng. Phương pháp phải duy nhất trong
dự án. Không thể có nhiều phương pháp trong
một dự án bởi v́ phương pháp cũng là ngôn
ngữ chung cho cả dự án. Mọi người phải
nói cùng một thứ tiếng. Mỗi từ ngữ
phải có ư nghĩa rơ rệt của nó và phải có cùng
một nghĩa đối với mọi người. Trong
sinh hoạt nghề nghiệp của tôi, từ kỹ
sư, dự án trưởng, đến giám đốc
kỹ thuật, tôi đă tham gia vào nhiều dự án
thuộc khá nhiều ngành. Bất cứ một dự án nào
người ta cũng có thể chọn lựa giữa
nhiều phương pháp.
Các công ty lớn trước khi bát đầu thực
hiện một công tŕnh dành rất nhiều th́ giờ cho
phương pháp. Họ hội họp rất nhiều và
thảo luận rất kỹ càng để yên trí mọi
người hiểu rơ phương pháp đă dược
chọn lựa, và biết chắc ḿnh phải làm ǵ và làm
như thế nào. Ngay cả các tài liệu thông tin nội
bộ cũng có mẫu rơ ràng. Dự án càng mới, kỹ
thuật càng hiện dại th́ càng càn nhiều th́ giờ
cho phương pháp. Tôi từng tham dự vào một dự
án chỉ kéo dài một năm mà trong đó có hai tháng hội
họp để chỉ bàn về phương pháp và sau
đó trong các buổi họp hàng tuần phương pháp
luôn luôn được nhắc lại.
Nghe tướng De Gaulle nói về người Trung Hoa
như vậy tôi nghĩ thầm nếu người Trung
Hoa không những khéo léo mà c̣n có cả phương pháp và
sự gắn bó th́ họ đâu đến nỗi thoái hóa
như ngày hôm nay.
Trong Việt nam Sử Lược, Tràn Trọng Kim nhận
định: Nước ta về văn hóa, tư
tưởng, nếp sống đều bắt
chước theo người Tàu, nhưng cái ǵ cũng sau
người Tàu một bước . Nhiều người
c̣n chua chát nhận định văn hóa, tư tưởng
Việt nam chỉ là một cóp nhặt của văn hóa,
tư tưởng Tàu, và người Việt chỉ là
một ấn bản mờ nhạt của người
Tàu.
Nhận xét này tuy hơi tàn nhẫn nhưng không phải là
sai. Người Việt nam c̣n thiếu phương pháp
hơn người Tàu nhiều, như tôi có thể nhận
thấy ngay trong các tiệm ăn Tàu nhỏ. Người
hầu bàn tính tiền rất chính xác mà không cần nhớ
hay đọc lại phiếu đặt hàng. Họ
xếp một chồng đĩa nhựa nhỏ ở góc
bàn ăn, mỗi đĩa theo màu sắc là một món có giá
nhất định. Chỉ cần đếm đĩa là
họ tính tiền được ngay. Trong bữa ăn so
sánh số đĩa trên bàn với phiếu đặt hàng
họ biết c̣n thiếu những món ǵ. Giản dị và
hiệu quả. Sự thiếu sót về gắn bó của
người Việt có thể nhận thấy rơ ràng trong
các cơ quan chính quyền, các công ty, nhất là các công ty
quốc doanh, và các hội đoàn. Tôi chưa
được thấy một đơn vị nào mà
mọi người làm việc nhịp nhàng với nhau. Tôi
chưa thấy một người lănh đạo nào
hiểu rằng vai tṛ của người lănh đạo
trước hết là tạo ra và giữ ǵn sự gắn
bó của đơn vị. Cơ quan này phá đám cơ quan
kia, trong cùng một cơ quan đơn vị này bất
chấp đơn vị kia cần ǵ và làm ǵ. Có khi cùng
một đơn vị mà ở hai pḥng khác nhau hai
người đang làm cùng một việc, trong khi có
những việc rất cần làm mà không ai làm.
Lư do của sự thiếu đồng bộ là v́
người Việt nam không ưa nhau như đă nói trong
phần trước, nhưng cũng v́ ư niệm t́m
kiếm đồng thuận h́nh như vắng bóng trong
đầu óc người Việt. Chúng ta chỉ biết áp
đặt và khi không thể áp đặt th́ chúng ta bất
lực. Một thí dụ đă kéo dài hai mươi năm
qua tại hải ngoại là những cố gắng
để kết hợp các tổ chức, trong tinh
thần rất cẩu thả nhưng được
diễn tả một cách rất kêu là gạt bỏ
mọi dị đồng chính kiến . Nhưng như
thế nào là gạt bỏ dị đồng chính kiến?
Gạt bỏ chính kiến của ai? Hay gạt bỏ
mọi chính kiến? Nếu vậy th́ ngồi lại
với nhau để làm cái ǵ? Nhưng dĩ nhiên là không ai
chịu gạt bỏ chính kiến của ḿnh cả. Và
dĩ nhiên giấc mơ kết hợp chỉ là hoang
tưởng. Làm thế nào để kết hợp
những tổ chức không theo đuổi cùng một
mục đích, không sử dụng cùng một phương
tiện, và nhất là không bao giờ chấp nhận ai
hơn ḿnh?
Khi tôi tới Paris hồi cuối năm 1982, một số
thân hữu rủ tôi lập một tổ chức, tổ
chức đó sau này được gọi là nhóm Thông
Luận, rồi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Tôi
đă đề nghị là hăy dành hai năm để
chỉ thảo luận với nhau mà thôi, và sẽ chỉ
thành lập một tổ chức khi đă đồng ư
với nhau trên tất cả những vấn đề cần
được đặt ra, trên tầm quan trọng
của mỗi vấn đề, và trên hướng
giải quyết của những vấn đề đó.
Và sự đồng ư đó phải được ghi
nhận trên giấy trắng mực đen. Kết quả
của hai năm làm việc đó là tập tài liệu Có
Sở Tư Tưỏng. Sau khi tập tài liệu thành h́nh,
chúng tôi ngừng gặp nhau một thời gian để
mọi người suy nghĩ một minh và quyết
định đi tới hay không đi tới. Chính nhờ
thế mà sau này dù bị nhiều vu cáo, đánh phá, chúng tôi
vẫn gắn bó với nhau. Trong khi đó tôi đă quan sát
nhiều tổ chức tan ră bởi v́ sau một thời
gian hoạt động mọi người khám phá ra
rằng thực ra ḿnh không đồng ư với nhau như
đă quá lạc quan mà tin tưởng lúc ban đầu.
Thiếu gắn bó cũng là một hậu quả tự
nhiên của thiếu phương pháp. Mỗi người
hiểu một cách, mỗi người làm một cách, làm
sao có thể hoạt động được với
nhau? Một kỹ sư Việt nam tốt nghiệp sau
năm, sáu năm miệt mài ở đại học, có khi
tốt nghiệp xong c̣n bỏ th́ giờ học thêm hai ba
bằng cấp khác, nhưng lại không chịu bỏ ra
một hai tuần lễ để đọc một
quyển sách về phương pháp trong ngành của ḿnh, hay
ngay cả một cuốn sách về phương pháp làm
việc trong mọi ngành: cách cư xử với
đồng đội, cách giao thiệp với cấp trên,
cách điều khiền một đơn vị. Có
người vào làm trong một công ty mà sau hai ba nam vẫn
chưa thèm đọc sơ đồ tổ chức
của công ty
Sự thiếu phương pháp của người
Việt không những chỉ thể hiện trong công
việc mà c̣n cả trong đời sống hằng ngày. Tôi
rất ít gặp những người Việt nam giữ
một cuốn nhật kư, hay đặt ra những mục
tiêu ḿnh phải đạt tới trong tháng, trong năm
để có thể nh́n lại ḿnh, kiểm điểm và
rút kinh nghiệm, trong khi đó là điều mà đại
đa số người phương Tây đều làm.
Phương pháp làm việc của chúng ta là cứ đến
đâu hay đến đó.
Chọn người bạn đường, vợ hay
chồng, có lẽ là vấn đề quan trọng nhất
của một đời người, quan trọng hơn
danh vọng, bằng cấp và tài sản bởi v́ nó
quyết định cuộc đời ta sẽ sung
sướng hay đau khổ. Các cụ thường nói:
Trai khôn t́m vợ, gái ngoan t́m chồng. Tuy vậy đă có bao
nhiêu thanh niên nam nữ, đặt vấn đề hôn nhân
một cách nghiêm túc và giải quyết một cách
đứng đắn? Lấy vợ chồng ẩu,
rồi sống cuộc sống hôn nhân cũng ẩu.
Hầu như tất cả trai gái Việt nam trước
khi lấy vợ lấy chồng đều không chịu
đọc một cuốn sách nào về đời sống
gia đ́nh, về tâm lư bạn trai bạn gái, hên hệ t́nh
cảm và t́nh dục giữa vợ chồng, về những
niềm vui và ràng buộc của lứa đôi, mặc
dầu đó là một vấn đề rất phức
tạp. Thế rồi bực bội, căi cọ, gia đ́nh
không có hạnh phúc, hay không có hạnh phúc như có thể
có. Điều ngộ nghĩnh nhất là các lớp
huấn luyện chuẩn bị cho hôn nhân thường
diễn ra trong các chùa hay các nhà thờ do các linh mục và
đại đức hướng dẫn, trong khi trên nguyên
tắc họ là những người ít có thẩm quyền
nhất để bàn về đời sống vợ
chồng.
Có rất đông người có tới sáu bảy con
(số con thường là một sự t́nh cờ không có
chủ đích trước) mà không hề học hỏi bao
giờ về tâm lư trẻ thơ và cách giáo dục con cái,
rồi ngạc nhiên là con cái mỗi đứa một tính
và kết luận cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Cái may
mắn nhất của tôi khi được đi du
học không phải là nhưng kiến thức (tôi đă có
thể tự học trong sách) mà là được nh́n,
được sống, làm quen và làm việc với
những người thuộc các dân tộc tiến bộ.
Kết luận của tôi rất rơ ràng và đau đớn
: so với họ, người Việt nam ḿnh thiếu
phương phấp một cách thê thảm.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Phá vỡ định luật 8
Tôi
có một người bạn rất say mê Kinh Dịch và
thuộc ḷng tất cả các quẻ bát quái. Anh ta giải
thích cho tôi rằng con số 8 là một con số kỳ
diệu. Nó là một kết hợp chắc và mạnh
nhất. Là một nhà khoa học, anh ta càng phục quẻ
bát quái v́ nó có một kiểm chứng khoa học. Các nguyên
tử mà ṿng ngoài có 8 điện tử (électrons) là những
nguyên tử chắc nhất. Anh ta thán phục người
Trung Hoa từ đời nhà Chu đă khám phá ra những
nguyên lư kỳ diệu. Anh ta tin là vào đời nhà Chu,
nước Tàu đă tiến tới một tŕnh độ
văn minh rất cao siêu mà về nhiều mặt thế
giới hiện nay chưa bắt kịp. Để
thuyết phục tôi, anh ta dẫn chứng những kinh
nghiệm tổ chức. Các buổi họp 8 người
là tốt nhất, các tổ chức khoảng 8
người là những tổ chức hiệu lực
nhất. Điều này người ta có thể quan sát
được. Nhiều tổ chức lúc đầu khi
mới thành lập với một số thành viên
dưới 10 người th́ lành mạnh và hiệu lực
lắm, sau khi bành trướng ra th́ lủng cũng, chia
rẽ, rồi tan ră.
Tuy nhiên, điều anh bạn giải thích một cách
huyền bí khoa học tổ chức có thể giải thích
một cách kỹ thuật.
Khi hai người thảo luận với nhau th́ rất
giản dị, người nọ nói người kia
tiếp thu và ngược lại, chỉ có hai luồng giao
cảm từ người nọ đến người
kia và ngược lại. Nhưng khi ba người A, B, C
trao đổi với nhau th́ có tới 12 luồng giao
cảm: hai giữa A và B, hai giữa A và C, hai giữa B và C,
hai giữa A và nhóm hợp thành bởi B và C, hai giữa B và
nhóm hợp thành bởi A và C, và sau cùng hai luồng giao
cảm giữa C và nhóm hợp thành bởi A và B. Bằng
ấy luồng giao cảm qua lại trong một phối hợp
giữa ba người mà thôi. Số quảng giao cảm
tăng lên một cách rất nhanh chóng với số
người tham dự. Bạn đọc nào thích toán hăy
thử làm tính sẽ thấy nếu có năm người
số lượng giao cảm qua lại là hơn một
ngàn. Khoa học tổ chức kết luận một cách
quả quyết là không thể chờ đợi một
kết luận thông minh nào ở những buổi họp có
quá 5 người b́nh đẳng với nhau về mọi
mặt.
Trong thực tế cũng có những buổi họp có
rất đông người mà vẫn có kết quả
tốt nhưng đó là những buổi làm việc rất
đặc biệt. Đó thực ra là những buổi
họp có tính thông tin, trong đó một người, hay
một vài người, thuyết tŕnh và thông báo những
quyết định cho cử tọa, phần c̣n lại
chỉ ghi nhận. Cũng có những buổi họp tuy
trên lư thuyết là thảo luận nhưng trong đó
một người hay một vài người có vai tṛ
vượt trội hơn những người khác,
những quảng giao cảm ít ỏi liên hệ tới
họ mạnh hơn hẳn và lấn át những quảng
giao cảm khác, giản dị hóa sự trao đỗi và
giúp cho buổi họp đạt kết quả. V́ trong
thực tế không thể có 8 người thực sự
b́nh đẳng với nhau về mọi mặt nên con
số 5 lư thuyết của khoa học tổ chức có
thể nâng lên 8.
Xem như thế cái định luật 8 của anh bạn
tôi không có ǵ là huyền bí và không chứng tỏ sự
hiểu biết sâu xa của Kinh Dịch về sự
mầu nhiệm của tạo hóa. Nó chỉ là một
vấn đề cụ thể của tổ chức và phương
pháp.
Nếu trong những điều kiện tuyệt
đối khách quan, 5 người là con số tối đa
để có thể làm việc với nhau, th́ trong những
điều kiện b́nh thường và tự nhiên trong
cuộc sống, 8 là con số trung b́nh. Trong những
điều kiện tự nhiên luôn luôn có một hay một
vài nhân vật nói hơn phần c̣n lại và tạo ra quanh
họ những liên hệ mạnh hơn hẳn và giữ
cho tập thể được gắn bó.
Cũng có thể là v́ một mục đích, một mục
tiêu chung đủ rơ rệt đối với mọi
người mà những quảng giao cảm giữa các thành
phần bớt đi phần quan trọng so với
những quảng giao cảm của mọi người
với những người có trách nhiệm thực
hiện mục tiêu, với điều kiện là những
người có trách nhiệm được chỉ
định theo một the thức chấp nhận
được cho tất cả mọi người. Đó
là cái tại sao của các nền dân chủ. Đó là
lối thoát ra khỏi cái giới hạn khe khắt của
định luật 8. Một lối thoát khác là kỷ
luật sắt và khủng bố.
Người Việt nam ta v́ dành quá ít suy nghĩ và t́m ṭi cho
phương pháp mà thiếu hẳn khả năng làm
việc có tổ chức. Do đó hoặc là chúng ta làm cho
một tổ chức có sẵn và chịu sự lănh
đạo một cách thụ động, hoặc chúng ta
lập ra một tổ chức rồi tổ chức tan ră
sau khi đă tăng trưởng quá mức giới hạn.
V́ không biết tới phương pháp, nhiều khi ta không ư
thức được sự cần thiết và nghiêm
chỉnh của phương pháp. Tôi đă dự không
biết bao nhiêu buổi họp, trong đó nhiều
người nói một cách chắc nịch: Phải làm
như thế này.... Chỉ cần nghe họ phát biểu,
tôi cũng có thể nhận ngay ra rằng họ không
biết ǵ về phương pháp cả hay chỉ nghe nói
tới một cách rất lơ mơ. Nhưng họ
cứ phát biểu vung vít, nói một cách rất quả
quyết. Đôi khi có những người nói đúng,
chứng tỏ có kinh nghiệm làm việc tập thể,
nhưng tiếng nói của họ ch́m đám trong vô số
phát ngôn bừa băi khác, và cử tọa không đủ
hiểu biết để phân biệt cái đúng với cái
sai. Kết quả của những buổi ngồi lại
với nhau như thế chẳng có ǵ khó dự đoán.
Người ta không làm được ǵ và chỉ chia tay
nhau với kết luận hậm hực rằng anh này, anh
kia nói bậy không biết ǵ cả. Nhưng người ta
không chịu nh́n nhận rằng chính ḿnh cũng không
biết ǵ cả và chỉ nói khơi khơi. Đă không
biết thế nào là đúng th́ làm sao biết
được ḿnh sai?
Tôi cũng đă chứng kiến không biết bao nhiêu
cố gắng để kết hợp hàng chục đoàn
thể với nguyên tắc đặt ra là b́nh đẳng
tuyệt đối giữa các thành viên, một nguyên
tắc được coi là đứng đắn, rồi
đi đến đè nghị lănh đạo luân phiên,
một nguyên tắc cũng được coi là rất công
b́nh. Mỗi lần như thế tôi biết trước
chắc chắn là họ sẽ mất th́ giờ vô ích.
Không những vô ích mà c̣n rất có hại v́ sau khi đă
kết hợp với nhau và thất bại người ta
c̣n đỗ lỗi cho nhau.
Thiếu phương pháp làm việc chung là nhược
điểm trầm trọng của người Việt,
là lư do tại sao chúng ta thua kém các dân tộc khác mà tŕnh
độ hiểu biết có thể không hơn ta. Nó
giải thích tại sao ba người Việt thua ba
người Nhật ngay cả nếu mỗi người
Việt không thua mỗi người Nhật.
Phương pháp có thể học được một
cách tương đối dễ dàng rồi theo thực
tế mà nhuần nhuyễn. Nhưng chúng ta không những
không có phương pháp mà c̣n không chịu học hỏi
phương pháp bởi v́ học hỏi về
phương pháp là một học hỏi thực dụng
không đem lại hai bằng tiến sĩ. Cuối cùng
chúng ta không có cả ư thức về phương pháp. Yêu
cầu cấp bách của chúng ta là phải phá vỡ
định luật 8.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Hợp tan
La
Quán Trung mở đầu truyện Tam Quốc bằng câu:
Phàm việc lớn trong thiên hạ cứ hợp rồi
lại tan, tan rồi lại hợp. Hợp tan là một
triết lư trong tư tưởng á Đông. Có người
nói nó là một lẽ tự nhiên của tạo hóa, bởi
v́ có âm th́ có dương, có cùng th́ có thông, có tan th́ có hoàn
như Kinh Dịch đă nói. Nhưng tại sao cứ
hợp rồi lại tan? Hợp th́ dễ hiểu v́
hợp quan gây sức mạnh, con người t́m sức
mạnh và sự thành công trong hợp quàn Nhưng tại sao
hợp rồi lại tan? Có phải thực sự là
lẽ trời không? Hay ta quen đỗ cho ông Trời
những ǵ ta không giải thích được. Ông Trời
có sức mạnh vô biên mà cũng có xương sống
đủ vững chắc để nhận tất cả
những ǵ mà ta chất lên lưng ông.
Xin thưa là không, chẳng có lư do màu nhiệm nào cả.
Sự nhiệm mầu có chăng là ở chỗ sau quá
nhiều hợp tan người á Đông, và nhất là
người Việt nam, vẫn chưa ư thức
được sự cần thiết của phương
pháp và tổ chức. Khoa học xă hội khẳng
định mỗi kết hợp là một sinh vật
riêng, một sinh vật phức tạp, khác với
những cá nhân cấu tạo ra nó. Sức khỏe của
sinh vật phức tạp đó là đồng thuận
giữa các thành viên. Đồng thuận mạnh, tập
thể mạnh. Đông thuận yếu, tập thể
yếu. Đồng thuận mất, tập thể tan.
Không có ǵ là huyền bí cả.
Cứ lấy thí dụ một kết hợp lỏng
lẻo nhất trong mọi kết hợp: những
người đi cùng một chuyến xe lửa. Họ
cũng phải có đồng thuận. Họ phải đồng
ư với nhau trên khá nhiều mặt: cùng một mục
đích là đi từ điểm này tới điểm
nọ trên một lộ tŕnh, đồng ư rằng xe
lửa là phương tiện tốt nhất, đồng
ư rằng ai lên trước th́ được chỗ
ngồi, ai tới sau không được xô người
khác để chiếm chỗ, đồng ư rằng đi
xe phải mua vé, v. v... Khi xe lửa tới nơi,
đồng thuận không c̣n nữa và tập thể tan.
Lẽ hợp tan ngày xưa có thể giải thích như
thế này: gặp thời loạn lạc ước
nguyện của mọi người là có ḥa b́nh để
được sinh sống yên ổn. Tái lập ḥa b́nh và
kỷ cương là đồng thuận. Đồng
thuận này đủ mạnh để động viên
mọi người quanh một con người may man
được nh́n như là hy vọng. Ḥa b́nh thiết lập
được rồi, một thời kỳ thịnh
trị mở ra v́ đồng thuận kế tiếp
của mọi người là cố gắng để
mưu t́m sự sung túc. Sau một thời gian, khi sự
sung túc đă tạm thời đạt được,
đồng thuận yếu dần đi, những xung
khắc quyền lợi ngày càng gia tăng rồi loạn
lạc và tan ră. Các anh quân, minh chúa có thể làm cho
đồng thuận mạnh thêm và kéo dài các triều
đại, nhưng nếu không có những thay đổi
cơ bản trong chiều sâu của xă hội th́ lẽ
hợp tan là điều dĩ nhiên.
Một tập thể là một sinh vật rất phức
tạp cần được quản lư một cách rất
có phương pháp. Tập thể càng lớn, đồng
thuận càng khó quản lư Chín người mười ư.
Nếu không cẫn thận, tập thể có thể tan v́
chính sự lớn mạnh của ḿnh.
Tôi sang Paris năm 1961, lúc đó có một Tổng Hội
Sinh Viên Việt nam tại Pháp do một số sinh viên thân
miền Nam lănh đạo. Nói chung họ là những
người tốt, ủng hộ chế độ Ngô
Đ́nh Diệm do lư trí hơn là do t́nh cảm. Chế
độ Ngô Đ́nh Diệm không được ḷng
người nên tổng hội này yếu. Khi chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm đổ, có một cố gắng
lớn để thành lập một tổng hội sinh
viên khác. Lúc đó sinh viên Việt nam đă đông hơn và
các hoạt động thành lập tổng hội sinh viên
diễn ra rất sôi nổi. Có rất nhiều nhóm ra
đời giành nhau vai tṛ lănh đạo tổng hội,
nhóm nào cũng có nhiều người giỏi với tô
chức có qui củ. Nhưng rồi họ dần dần
lủng cũng và yếu đi trước khi tổng
hội sinh viên được thành lập.
Tôi chỉ theo dơi một cách bàng quan những hoạt
dộng đó. Lúc đó chúng tôi có một nhóm bạn bè
nhỏ, đa số nhưng sinh viên học để thi
vào các trường lớn (grandes écoles). Nước Pháp có
hai hệ thống giáo dục đại học song song,
một hệ thống đại học b́nh thường
đào tạo cử nhân, tiến sĩ và một hệ
thống riêng của các trường lớn. Chúng tôi
chẳng có tổ chức ǵ cả, chỉ chơi với
nhau trên tinh thần bạn bè. ít ai có ư thức chính trị,
nhưng bù lại chúng tôi đều có thiện chí và
đều biết điều, và v́ tất cả
đều khá sáng dạ nên cái ǵ chưa biết cũng có
thể học hỏi nhanh chóng và sau đó biết lư
luận để phân biệt phải trái.
Các nhóm tranh nhau tổng hội cuối cùng đều suy
yếu và tan ră đi, chính tổng hội cũng sắp tan
ră, cuối cùng chúng tôi không giành mà được
đẩy ra nắm ban chấp hành tổng hội. Từ
đó chúng tôi đặt ra một nếp sinh hoạt lành
mạnh cho tổng hội, khiến tổng hội
sống vững măi cho đến nay. Tổng Hội Sinh
Viên Việt nam tại Paris tới nay đă gần bốn
mươi tuổi, và là tổ chức không cộng sản
lâu đời nhất tại hải ngoại. Sự thành
công trong việc làm sống lại một tổng hội
sinh viên sắp chết và cho nó một nội lực
để có thể kéo dài khiến chúng tôi được
rất nhiều người khen là xuất sắc. Nhưng
lư do không phải như thề. Chúng tôi đă thành công và
đứng vững chỉ v́ chúng tôi không phức tạp,
chúng tôi không đặt ra những cơ chế rườm
rà như những nhóm khác nên đă tránh được
những mâu thuẫn nội bộ. Khi nắm
được ban chấp hành, chúng tôi đă chẳng câu
nệ chủ tịch, tổng thư kư, ủy viên; chúng tôi
c̣n không phân biệt cả người trong ban chấp hành
và người ngoài ban chấp hành. Cứ cùng một nhóm
bạn bè, cùng đồng ư ủng hộ Việt nam
Cộng Ḥa, c̣n việc th́ cứ ai làm được là làm.
Lối làm việc giản dị đó mà thành công hơn
hẳn v́ chúng tôi có những đồng thuận rơ ràng và
gắn bó với nhau. Không phải là chúng tôi đă không
gặp những vấn đề nan giải. Chẳng
hạn như khi các tướng tá tỏ ra tham nhũng và
vô tư cách, chúng tôi nhận xét là không thể duy tŕ
đồng thuận ủng hộ chính quyền Sài G̣n
nữa. Chúng tôi bèn họp nhau lại thảo luận trong
nhiều đêm không ngủ và cùng đi tới kết
luận ủng hộ chính thể cộng ḥa chứ không
ủng hộ chính phủ Sài G̣n. Tổng hội lại
đứng được. Bí quyết thành công của chúng
tôi có lẽ là vô t́nh chúng tôi đă làm việc có phương
pháp: không ai bịa đặt ra vấn đề, phân tích
rơ các vấn đề đặt ra, giản dị hóa
tối đa, rồi t́m giải pháp dễ thực hiện
nhất. Các tổ chức khác đă tan v́ họ quá phức
tạp. Họ đặt ra những cơ chế và
những chức vụ không cần thiết, họ
đặt ra những vấn đề mà họ không
giải quyết được. Họ nghĩ là họ có
tổ chức hơn chúng tôi và ngạc nhiên tại sao
họ tan ră trong khi chúng tôi vẫn sống mạnh.
Gần đây, năm 1993, một tổ chức thanh niên
sinh viên Việt nam tại Pháp có tổ chức rất thành
công một ngày gặp gỡ và thảo luận. Các trao
đổi đă diễn ra ở một tŕnh độ
rất cao, mọi người đều thỏa măn, uy tín
của tổ chức đó lên rất cao. Tuy nhiên thực
tế hơi khác.
Việc chuẩn bị và tổ chức ngày hội
thảo đó đă rất phức tạp và đă gây ra
những xích mích đáng tiếc trầm trọng trong
nội bộ. Sau đó ban chấp hành tan ră. Họ đă
làm một công việc quá sức họ. Quá sức có
nghĩa là họ đă làm một công việc khó khăn
hơn mức độ mà sự đồng thuận
của họ cho phép. Đây là một trường hợp
điển h́nh. Tôi có thói quen hễ nghe tin một tổ
chức nào vừa làm xong một công tác lớn
được mọi người ca tụng là lại lo
thầm rằng tổ chức đó sắp có vấn
đề
Sau khi tan ră, người ta giận ghét nhau, gán cho nhau vô số
tính xấu: lưu manh, gian dối, vô trách nhiệm, vô tư
cách, v.v... Người ta giải thích bằng những lư do
đạo đức một sự kiện chỉ
giản dị là hậu quả của sự thiếu
hiểu biết phương pháp làm việc tập thể.
Người Việt nam chúng ta không làm việc chung
được với nhau bởi v́ chúng ta không ư thức
được rằng đồng thuận là sức
khỏe của mọi kết hợp và một tổ
chức muốn sống phải giữ được
đồng thuận. Giữ đồng thuận đ̣i
hỏi mọi người hy sinh ư kiến riêng của ḿnh.
Chúng ta không quan tâm giữ ǵn đồng thuận mà chỉ đ̣i
thực hiện cho bằng được ư kiến
của riêng ḿnh. Chúng ta thiếu giác quan đồng
thuận.
Trong Binh Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trăi kể tội quân
Minh bằng một câu rất lạ: chấp nhất
kỷ chi kiến, giá họa ư tha nhân (chỉ biết có
ư kiến của riêng ḿnh, luôn luôn cáo buộc người
khác). Tôi có cảm tưởng Nguyễn Trăi kể tội
đồng bào của chính ông. Câu trên Trần Trọng Kim
dịch là cậy ḿnh là phải, chỉ quen đổ
vạ cho người. Câu dịch thật là sai ư của tác
giả. Quân Minh sang nước ta để cướp bóc,
có chính nghĩa nào đâu để có thể cậy ḿnh là
phải? Bản dịch đă không lột được
một ư chắc đă dằn vặt tác giả hiểu
lầm trong cuộc vận động kết hợp
để giải phóng đất nước, và làm ông
nhức nhối đến nỗi ông viết một câu
lạc lơng vào một bài lên án quân xâm lược.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Anh hùng nước Nam
Hồi
c̣n ở tiểu học, tôi có làm một bài luận với
đầu đề : Trong những anh hùng nước Nam,
em thích vị nào nhất? Hăy nói tại sao? . Bài luận này rất
phổ thông, h́nh như người nào học tiểu
học chương tŕnh Việt cũng đă gặp.
Chỉ sau khi đảng cộng sản nắm chính
quyền, câu hỏi mới không đặt ra nữa, v́ lúc
đó người anh hùng vĩ đại nhất từ
xưa đến nay của Việt nam dĩ nhiên bắt
buộc phải là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tôi chọn vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ. Lư do là v́
ông ấy giỏi vơ và đánh thắng năm mươi vạn
quân Thanh tại trận Đống Đa. Trong lớp tôi có
tới gần một nửa cũng chọn Nguyễn
Huệ. Phần c̣n lại chọn Trần Hưng
Đạo, Đinh Tiên Hoàng, một vài đứa chọn
Ngô Quyền, Trần B́nh Trọng, Lê Lợi, Lê Lai, Trần
Quốc Toản, Lư Thường Kiệt.
Sau khi du học Pháp về lôi hỏi một số giáo viên
tiểu học về bài luận. Họ cho biết năm
nào cũng ra đề tài này và Nguyễn Huệ luôn luôn
về nhất khá xa, kế tiếp là Trần Hưng
Đạo, Đinh Tiên Hoàng. Thỉnh thoảng có Nguyễn
Trăi, Ngô Quyền, Trần B́nh Trọng, Nguyễn Công
Trứ.
Nói chung ba ngôi vị đầu vẫn thế, ở
đoạn cuối bảng danh dự đă bắt
đầu xuất hiện những nhân vật mới có
thành tích về văn hóa. Nhưng mẫu số chung
giữa các vị anh hùng này vẫn không đỗi: tất
cả đều là vơ tướng. Nguyễn Trăi tuy
xuất thân là nho sinh nhưng đă cầm quân đi đánh
giặc và làm quân sư (ở đây xin chú thích chữ quân
sư thường được hiểu trong ngôn ngữ
dân gian là người bày mưu kế nhưng thực ra nó
có nghĩa là tư lệnh, các quân sư được ra
lệnh cho các tướng). Nguyễn Công Trứ tuy có
sự nghiệp văn chương lớn, nhưng cũng
là vơ tướng, cầm quân đánh dẹp khắp nơi,
từng là B́nh Tây Đại Tướng, ông
được coi là người văn vơ kiêm toàn. Tuyệt
đối kháng thấy Nguyễn Du, Lê Quí Đôn, Chu Văn
An, Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Huy Chú. Như thế
anh hùng của Việt nam bắt buộc phải là vơ
tướng, và hơn thế nữa phải thắng
trận. Trần B́nh Trọng, Lê Lai là những vơ
tướng được tôn vinh v́ ḷng can đảm,
nhưng dần dần lọt sổ. Trường hợp
Nguyễn Trăi có điều đáng nói. Ông giúp Lê Lợi,
cầm quân đánh giặc giành lại được
độc lập cho nước ta, nhưng gặp nạn
ở cuối đời, bị tru di tam tộc, về sau
mới được Lê Thánh Tông phục hồi danh
dự. Sự oan nghiệt đó có lẽ đă không
khiến ông xuất hiện một cách lộng lẫy
dưới con mắt của trẻ thơ.
Trẻ thơ là tấm gương soi tâm hồn của
một dân tộc. Từ những bài luận của
học sinh tiểu học, phải suy ra rằng
người Việt nam có tâm lư tôn thờ bạo lực
rất mạnh. Bạo lực càng nhiều, công đức
càng cao.
Nguyền Huệ xuất thân là tướng cướp,
nhờ liên hệ với quân Thượng và quân gốc
Chiêm Thành và đám cướp biên người Tàu mà mạnh
dần lên, rồi nhờ tài dùng binh mà lên làm vua. Ông là
người đặc biệt hung tợn và hiếu sát.
Sự nghiệp của ông là những trận đánh
khốc liệt trong đó người Việt nam tàn sát
lẫn nhau; chỉ có hai ngoại lệ là một trận
đánh thắng quân Xiêm và một trận Đống
Đa, trong đó ông phá tan quân Thanh. Trong một bài sau tôi
sẽ trở lại với nhân vật Nguyễn Huệ và
trận Đống Đa. ở đây tôi chỉ xin
đưa một nhận định tạm thời.
Nếu nh́n một cách b́nh tĩnh th́ công lao của
Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp ǵ so với
những tàn phá và chết chóc mà ông đă gây ra cho đất
nước. Việc ông được tôn sùng quá đáng
tố giác một tâm lư kính sợ bạo lực của
người Việt nam; việc người ta tô vẽ cho
ông nhưng đức tính mà ông hoàn toàn không có như
giỏi trị nước an dân, có ḷng nhân ái, v. v...
chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới
độ ta sẵn sàng làm đẹp nó.
H́nh như ta c̣n cho rằng chỉ có những chiến công
mới là đáng kể, những ǵ đạt
được phải đạt bằng bạo lực
mới là hay. Chu Văn An đă viết ra nhiều sách, Lê
Quí Đôn có công làm ra bộ tự điển bách khoa
đầu tiên, Lê Văn Hưu mở đầu cho khoa
sử ở nước ta, Ngô Sĩ Liên là người
đầu tiên biết nhận định lịch sử
một cách chính xác, có thể coi như nhà lư luận chính
trị đầu tiên của nước ta, Phan Huy Chú là tác
giả công tŕnh biên khảo lớn nhất. Tuy vậy,
tất cả đều không phải là những anh hùng dân
tộc. Nguyễn Du chỉ được biết tới
như một nhà thơ lớn.
Không những người cộng sản, mà cả nhưng
người chống cộng, đêuf nghĩ rằng thành
tích to lớn nhất và cũng là nền tảng của
sự chính đáng của đảng cộng sản là
đă đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh phe quốc gia.
Nhưng nếu không đánh th́ sao? Nếu biết vận
dụng trí tuệ để tranh đấu bất bạo
động chắc chắn chúng ta cũng đă được
độc lập và thống nhất không muộn hơn,
mà lại không phải trải qua những đỗ vỡ
trầm trọng. Ta tôn thờ bạo lực ngay cả khi
bạo lực có hại.
Người cộng sản không có độc quyền tôn
thờ bạo lực. Việt nam Quốc Dân Đảng dù
không có một hy vọng mảy may nào thắng
được người Pháp bằng bạo lực
vẫn chủ trương dùng con đường bạo
lực ngay từ đầu. Quyết định khởi
nghĩa năm 1930 chỉ là một quyết định
tự sát.
Sự hấp dẫn của bạo lực đối
với chúng ta quá mạnh. Mạnh đến nỗi ta không
những chấp nhận mà c̣n mơ ước bạo
lực. Khi không có bạo lực, ta phải cố bịa
đặt để tưởng tượng rằng ḿnh
có bạo lực. Các tổ chức chống cộng
hải ngoại trước đây đều đồng
thanh chủ trương phải giải phóng quê
hương bằng bạo lực, dù hoàn toàn không có
phương tiện của bạo lực.
Ông Vơ Đại Tôn có lực lượng ǵ đâu, ông
chỉ cùng với hai ba người qua biên giới Lào
chụp ảnh để gây ấn tượng trong
cộng đồng người tị nạn. Ông Hoàng
Cơ Minh lập một doanh trại ở Thái Lan rồi
bảo đó là chiến khu quốc nội. Trách họ là
bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ
và, theo tôi, không công b́nh. Họ phải làm như thế
để tranh thủ sự ủng hộ. Giả thử
nếu ông Vơ Đại Tôn không tạo cái ảo
tưởng là có bạo lực th́ ông cũng không khác
nhiều người hoạt động khác. Nếu ông
Hoàng Cơ Minh không lập chiến khu th́ liệu ông có
được sự ủng hộ mạnh mẽ đến
thế không?
Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp
bợm. Tôi sang Pháp lúc ông Hoàng Cơ Minh đang nỗi
như cồn. Tôi đă nói chuyện với rất
nhiều người, và không ai, kể cả những
người ủng hộ ông, tin là ông có chiến khu
thực sự đâu. Vậy làm sao có thể nói là đă
bị lừa gạt? Nói như vậy là không thành thực.
Sở dĩ người ta ủng hộ ông là v́ ông đă
có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực,
và ảo tưởng đó là giấc mơ của đa
số người tị nạn thời đó. Họ
đóng góp cho ông Hoàng Cơ Minh v́ ông cho phép họ nuôi
dưỡng giấc mơ đó. Họ đóng góp cho ông
để ông diễn tuồng kháng chiến vơ trang cho
họ xem.
Ông Vơ Đại Tôn đă phải trải qua mười
năm tù tội. Ông Hoàng Cơ Minh đă thiệt mạng.
Nhiều người khác đang ṃn mỏi trong các nhà tù.
Họ là những nạn nhân đáng thương của tâm
lư tôn sùng bạo lực của người Việt nam.
Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán
thành đường lối đấu tranh của họ.
Nhưng đối với họ tôi luôn luôn có một t́nh
cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng trách là
tâm lư tôn sùng bạo lực của con người Việt
nam.
Nhóm Thông Luận đă bị phản đối dữ
dội v́ chủ trương từ bỏ bạo lực,
và do đó đụng chạm tới một sự sùng ái
lâu đời. Một dân tộc không nhiều th́ ít cũng
xứng đáng với số phận của ḿnh.
Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta
kiệt quệ như thế này cũng v́ cái tâm lư tôn sùng
bạo lực ấy. Tất cả chúng ta đều có
trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên
thấy ḿnh là nạn nhân của bạo lực.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Thằng nào đây?
Đầu
năm 1974, tôi đang làm chuyên viên tại Ngân Hàng Việt nam
Thương Tín. Một đồng nghiệp ở pḥng bên
xông vào pḥng tôi, với nét mặt lầm ĺ, ném một tài liệu
xuống ngay trước mặt tôi và nói một cách
sừng sộ:
- Đọc đi?
Tôi tưởng có chuyện ǵ nghiêm trọng nên đọc
ngay trong khi anh bạn đứng đợi. Nhưng không,
đó là một bài lăng nhăng, không tập trung vào
một đề tài nào cả và cũng chẳng ra câu cú ǵ
cả. Rất nhiều th́, mà, là, tại, v.v... nhưng
rất ít ư và văn phạm. Tôi càng đọc càng bực
bội. Trong câu cuối cùng mà tôi đọc, tác giả chê
sự câu nệ bằng cấp bằng một câu :
Thấy thằng nhỏ nó làm việc được th́
lại không cho nó làm, bắt nó có bằng tú tài mà nó có
bằng tú tài rồi th́ nó có làm giỏi không?. Đến
đây sức chịu đựng của tôi đă
vượt quá giới hạn, tôi giận dữ hỏi
gằn:
- Thằng nào đây? Bớp tai cho nó mấy cái?
Anh bạn phá ra cười:
- Tổng thống đấy!
Th́ ra đó là một bài nói chuyện của ông Nguyễn
Văn Thiệu, trong một buổi hội nghị công
chức cao cấp. Tổng thống ăn nói như vậy
th́ cán bộ học hỏi được cái ǵ?
Điều bi đát là ông Thiệu không phải là
người ăn nói dở so với những cấp lănh
đạo Việt nam khác. Nhưng bài nói chuyện của
ông nếu chép lại th́ thấy là chẳng ra đâu vào
đâu cả nhưng nếu nghe ông nói trực tiếp
cũng có thể hiểu ông định nói ǵ, đó là
điều ít khi xảy ra đối với những
người lănh đạo chính quyền, chính đảng
hay hiệp hội khác, nhưng người trên nguyên
tắc phải có khả năng truyền thông cao. Tôi đă
nghe khá nhiều bài thuyết tŕnh, đọc nhiều bài báo
mà chẳng hiểu tác giả định nói cái ǵ. Các tác
giả sắp xếp lộn xộn thứ tự của
các ư kiến (khi họ có ư kiến, một điều
tương đối hiếm), ôm đồm quá nhiều ư
trong một câu dùng từ ngữ sai và bất chấp
văn phạm. Đă thế khả năng tiếp thu
của thính giả hay độc giả c̣n kém hơn
họ (v́ ít ra họ c̣n dám nói và dám viết). Kết quả
của sự trao đỗi không có ǵ khó dự đoán.
Điều ai cũng có thể nhận thấy trong
những buổi hội thảo của người
Việt nam là cử tọa chờ cho diễn giả nói
xong, đến phần quí vị nào có câu hỏi... một
vài người xin phát biểu để nói (rất dài) ư
kiến đă soạn sẵn của ḿnh, dù không hên hệ
ǵ tới những điều diễn giả vừa nói.
Phần dẫn nhập dài ḍng này là để cảnh giác
về một thiếu sót trầm trọng, bi đát, kinh
khủng của người Việt: chúng ta không biết
truyền thông. Chúng ta viết cẩu thả, nói lộn
xộn, đọc sơ qua, nghe lơm bom, cho nên chúng ta không
hiểu được nhau, rồi căi cọ với nhau,
thù nhau, đánh phá nhau, và giết nhau. Người Việt
nam không ư thức được hai điều tối quan
trọng. Điều thứ nhất liên quan đến cá
nhân: khả năng truyền thông là khả năng quan
trọng nhất trong mọi khả năng của một
con người để thành công. Điều thứ hai
liên quan đến xă hội: một khả năng
truyền thông tối thiểu là yếu tố không thể
thiếu cho ḥa b́nh giữa những con người. Cách
đây hơn mười năm, lúc đó tôi làm việc cho
một công ty dịch vụ tin học, tôi được
nha thương mại thông báo là một công ty dịch
vụ chứng khoán lớn đang cần một số
kỹ sư tin học để thực hiện một
dự án tin học lớn. Việc đầu tiên là
phải t́m một kỹ sư dự án trưởng,
biết rành các kỹ thuật tin học sử dụng
trong dự án và am tường các nghiệp vụ chứng
khoán.
Chỉ có một kỹ sư đáp ứng hai đ̣i
hỏi đó. Anh ta tốt nghiệp một trường
kỹ sư khá danh tiếng, có mười năm kinh
nghiệm trong ngành tin học, thông thạo các kỹ
thuật tin học sử dụng trong dự án và lại
đă từng tham gia vào việc thực hiện một
dự án lớn về chứng khoán kéo dài hơn một
năm. Quả là một con người lư tưởng cho
hoàn cảnh, một con chim lạ, như người Pháp
nói ùn oiseau rare. Anh giám đốc thương mại
phấn khởi vô cùng: May quá, thế th́ thắng lợi
chắc chắn rồi?. Nhưng tôi không chắc chắn
như anh ta bởi v́ tôi nh́n thấy một mối nguy
lớn mà anh ta không biết: anh kỹ sư đó là
người Việt nam, và kinh nghiệm đă dạy cho tôi
rằng người Việt truyền thông một cách
rất luộm thuộm. Tôi lại không biết rơ anh
kỹ sư này v́ anh thuộc một công ty nhỏ mà chúng
tôi vừa mới sát nhập nên tôi không theo dơi anh trong
dịp tuyển dụng. Từ ngày anh ấy hết công tác
và về đây chờ đợi công tác khác, tôi cũng
bận rộn chỉ chào hỏi và nói chuyện qua loa.
Mối lo của tôi được kiểm chứng hoàn
toàn. Tôi mời anh lên, hỏi anh về dự án chứng
khoán mà anh ta đă làm qua. Một sự im lặng nặng
nề và tuyệt đối kéo dài gần mười phút.
Tôi bối rối và hoảng hốt v́ chính sự im
lặng đó. Anh không có ǵ để nói cả? V́ hai lư do.
Lư do thứ nhất, anh ta không hiểu rơ dự án đă làm
và không nhớ. Người Việt nam ḿnh có một khả
năng kỳ dị là có thể làm rất lâu trong một
công việc mà ḿnh không thích và không hiểu. Cái ǵ cấm anh
nếu không thích ngành chứng khoán th́ bỏ đi làm một
việc khác? Với bằng cấp của ḿnh, anh có
thể t́m việc khác một cách dễ dàng. Người
Việt nam kiên nhẫn và cần cù, điều đó
đúng, nhưng sự càn cù đó lại thường
đi đôi với sự thụ động.
Lư do thứ hai, anh hoàn toàn không biết diễn đạt
như phần lớn người Việt nam khác. Dù có
hiểu và nhớ, anh cũng không thể tŕnh bày
được. Tôi phải khuyến khích, hối thúc,
đặt những câu hỏi ngắn, nói chung phải
cạy mồm anh ra, mới được một số
câu trả lời vụn vặt, nghèo nàn. Chỉ sang
phần kỹ thuật trong tin học là thấy anh ta có vẻ
thoải mái, mặc dầu cũng không lấy ǵ làm
xuất sắc, bởi v́ tuy anh ta biết nhiều nhưng
lại không tŕnh bày được một cách mạch
lạc.
Cuối cùng tôi kết luận rằng anh không phù hợp
với công tác, v́ đây là một công tác đ̣i hỏi
khả năng lănh đạo, th́ anh ta phản đối.
Anh ta nói anh ta là kỹ sư, có mười năm kinh
nghiệm th́ dĩ nhiên anh xứng đáng giữ một vai
tṛ quan trọng, nhiều người không có bằng cấp
bằng anh ta mà chỉ năm năm đă có thể làm
dự án trưởng. Tôi cố gắng giải thích
rằng bằng cấp và thời gian kinh nghiệm của
anh khá vững, nhưng công tác này đ̣i hỏi một
sự hiểu biết tường tận về nghiệp
vụ chứng khoán và một khả năng truyền thông
rất cao v́ phải tiếp xúc với rất nhiều
người, tham dự và điều khiển nhiều
phiên họp. Tôi cũng khuyến khích anh ta nên chú ư tới
nội dung của các dự án hơn là khía cạnh kỹ
thuật, và nhất là nên cải tiến khả năng
ăn nói. Anh vẫn khăng khăng biện luận
rằng đă có bằng cấp ấy và thời gian kinh
nghiệm ấy là đương nhiên anh ta phải phù
hợp với công tác. về sau chúng tôi không làm việc
với nhau nữa. Một lần một người quen
thuật lại cho tôi nghe anh ấy nói tôi là người
không tử tế với người Việt.
Một giám đốc của một công ty khách hàng biết
rơ tôi v́ là bạn học cùng lớp một lần gọi
điện thoại cho hăng tôi mm job trong nha điện toán
của anh. Nhưng anh ta lại nói thêm: Nhưng mày
đừng gởi cho tao một đồng hương
của mày nghe? Người Việt của mày giỏi
về kỹ thuật nhưng về truyền thông th́
lại dở quá, mà job này đ̣i hỏi rất nhiều
liên lạc.
Tại sao chúng ta dở về truyền thông như vậy?
Bởi v́ con người Việt nam không được
giáo dục về truyền thông, mà hơn thế nữa
lại được khuyến khích để đừng
biết truyền thông. Xă hội ta là một phân chia
đẳng cấp, trên nói dưới nghe, không có trao
đỗi. Liên hệ trong xă hội ta là một
tương quan lực lượng chứ không phải là
một liên hệ trao đỗi. Khả năng truyền
thông bị coi là một tật xấu cần phải
bỏ. Đứa trẻ hay nói bị mắng là lắm
mồm, thiếu hạnh kiểm. Cấp dưới dám bàn
căi về quyết định của cấp trên bị coi
là cứng đầu và bị trù dập.
Cách truyền đạt tư tưởng trực tiếp
và sáng sủa bị coi là tầm thường, không sâu
sắc. Khi Trịnh Kiềm hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm
là có nên bỏ vua Lê để lên làm vua hay không th́ Nguyễn
Bỉnh Khiêm nói bóng nói gió: Năm nay mất mùa nên đem
hạt giống cũ gieo lại th́ hơn. Cũng thế,
khi Nguyễn Hoàng lâm nguy tới van kế Nguyễn Bỉnh
Khiêm, th́ Nguyễn Bỉnh Khiêm thay v́ khuyên Nguyễn Hoàng nên
vào Nam lập nghiệp lại cũng nói bóng gió: Hoành Sơn
nhất đái vạn đại dung thân. Cách nói của
Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là hay, là thâm thuư.
Cái ṿng luẩn quẩn là chúng ta truyền thông rất
dở, rồi v́ không chịu nh́n nhận nhược
điểm của ḿnh chúng ta đồng ư coi truyền
thông là xấu. Kết quả là chúng ta không hiểu nhau.
Trong trường hợp tốt nhất, mạnh ai nấy
làm theo ư ḿnh, công việc chung mâu thuẫn và thiếu gắn
bó. Trong trường hợp tệ nhất, chúng ta gán cho
nhau những ư đồ đen tối, rồi xung khắc
và thù địch nhau. Tôi đă chứng kiến hàng trăm,
hàng ngàn cuộc căi vă gay go trong đó thực ra người
ta đồng ư với nhau, nhưng chống đối nhau
kịch liệt chỉ v́ không hiểu nhau, người nói
đă nói dở người nghe lại không chịu nghe.
Và tôi cũng tin rằng nếu người Việt
biết truyền thông, nghĩa là biết diễn
đạt và biết nghe nhau, họ đă khám phá ra rằng
người trước mặt ḿnh cũng có những lư
tưởng và mục tiêu gần giống ḿnh và đă không
giết nhau trong suốt ba mươi năm sau thế
chiến thứ hai.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi
Tối
yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời,
người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
Tiếng nước tôi, tiếng mẹ ru từ lúc nằm
nôi...
Phạm Duy (T́nh ca)
Một lư do quan trọng khác khiến chúng ta kém về
truyền thông là chúng ta khinh thường tiếng Việt.
Mà đă khinh thường tiếng mẹ đẻ th́
hậu quả tất nhiên là kém về truyền thông, v́
tiếng mẹ đẻ dù thế nào đi nữa cũng
vẫn là ngôn ngữ mà một con người có thể sử
dụng hay nhất. Nó là những tiếng đầu
đời đă nhào nặn ra ư niệm, t́nh cảm, tâm
hồn của con người. Một người dù có
học và sử dụng một ngoại ngữ nhiều
thế nào đi nửa vẫn không thể diễn tả
tư tưởng và t́nh cảm của ḿnh một cách trung
thành và tế nhị bằng tiếng mẹ đẻ
của ḿnh. Đó vẫn chỉ là một ngôn ngữ
mượn mà thôi. Những người trẻ
trưởng thành tại hải ngoại có khả năng
truyền thông hơn hẳn cha anh v́ được
huấn luyện một cách khác, được khuyến
khích phát biểu; nhưng cũng v́ tiếng Anh, tiếng
Pháp được hấp thụ từ mẫu giáo và
gần như là tiếng mẹ đẻ của họ.
Họ không vướng một tiếng mẹ đẻ
đă bị gạt bỏ.
Sự khinh thường tiếng Việt là một
truyền thống của người Việt nam. Nôm na là
cha mách qué, tiếng Việt là tiếng không cao
thượng. Những văn bản quan trọng phải
viết bằng chữ Nho. Người Việt ta khi
cần nói một điều trịnh trọng, trang nhă
rất thường hay xổ Nho: Thưa anh dĩ ḥa vi quí,
ḿnh chẳng nên đôi co với họ làm ǵ, biết họ
như vậy rồi ḿnh cứ kính nhi viễn chi là hơn.
Không biết bao nhiêu lần rồi tôi đă nghe những câu
nói tương tự như vậy, ngay cả tại
hải ngoại này, ở cửa miệng hay ở ng̣i bút
của những người có học thức và sử
dụng tiếng Việt một cách nhuần nhuyễn
hơn hẳn mức trung b́nh.
Chắc v́ coi tiếng Việt là thứ tiếng tầm
thường, thấp kém nên khi viết và nói người ta
không cần một thận trọng nào, bất chấp
cả văn phạm lẫn chính tả. Trái lại khi
phải viết một văn bản bằng tiếng Anh,
tiếng Pháp, người ta đắn đo từng câu,
từng chữ, viết đi viết lại nhiều
lần, ớm hỏi người này người kia
viết như thế có đúng không, có hay không, v. v...
Sự yên trí rằng viết tiếng Việt th́ thế nào
cũng được thể hiện ngay cả trong
những tài liệu quan trọng. Trong bản cương lĩnh
của Phong Trào Yểm Trợ Dân Chủ và Tái Thiết
Việt nam của cựu tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu dài khoảng ba trang đánh máy, tôi đếm
được gần một trăm lỗi chính tả và
văn phạm. Đó là văn kiện căn bản
của một nhân vật đă từng cầm vận mệnh
của đất nước và có lẽ c̣n muốn
cầm tiếp. Cẩu thả đến thế là cùng.
Chung quanh ông Thiệu chắc chắn là có những
người biết tiếng Việt nhưng ông Thiệu
đă không thấy cần phải hỏi ư kiến họ.
Viết tiếng Việt mà, thế nào cũng
được. Giả sử phải viết một
bản tuyên ngôn bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh chắc
ông Thiệu sẽ thận trọng hơn nhiều.
Tôi không trách riêng ông Thiệu, bởi v́ đại đa
số người Việt đều xử sự như
thế, kể cả những người không biết
một ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Việt. Năm 1974,
tôi nhận dạy kinh tế cho một trường
đại học tại Sài G̣n. Trước khi bắt
đầu, tôi hỏi một số giáo sư dạy kinh
tế cho tôi xem những bài đă được chấm
đậu những năm trước. Mục đích
của sự tham khảo này chỉ là để xem tŕnh
độ tiếp thu của sinh viên về môn kinh tế
như thế nào. Những tôi lại khám phá ra một
sự kiện khác, kinh khủng hơn nhiều. Các sinh viên
ở năm cuối cùng, sắp tốt nghiệp, hoàn toàn
không biết viết tiếng Việt. Họ viết
những câu rất dài và luộm thuộm, sai văn
phạm, sai chính tả, sai cả nghĩa của từ
ngữ. Bực bội quá tôi phải dọa các sinh viên là
sẽ không chấm những bài viết sai tiếng
Việt. Rời tôi đặt ra một qui luật có
thể là hơi quá đáng: mỗi bài sẽ được
chấm trên 20 điểm, 10 điểm trên ngữ pháp, 10
điểm về nội dung, nhưng nếu bài không
đủ 5 điểm về ngữ pháp th́ sẽ không
được chấm phần nội dung nữa. Biện
pháp quá khích đó có lẽ đă có tác dụng làm các sinh viên
coi trọng Việt văn hơn.
Trong các đơn xin việc tại Ngân Hàng Việt nam
Thương Tín hay những đơn khiếu nại
tại Bộ Kinh Tế, tôi gặp vô số đơn
Thưa ông..., nguyên tôi là... . Tại sao lại nguyên? Chưa
kể xin cứu xét cho chúng tôi được dễ dăi, v.
v... . Đơn thường do những người
tốt nghiệp đại học viết. Ngay cả
những bài nghị luận chính trị trên báo chí, nhiều
khi cũng không thể t́m ra chủ từ, động
từ, túc từ. Ngay những nhà văn cũng không ngàn
ngại viết xử dụng, gịng sông, dỗi dăi, yên
tỉnh, đấu tranh dành tự do dân chủ. Một
biểu ngữ lớn trong cuộc mít-tinh lớn:
Cương quyết xiết chặc hàng ngũ... .
Những lỗi chính tả, và ngay cả văn phạm,
nhiều khi cũng có thể bỏ qua được,
điều khó chịu nhất là nhiều khi đọc
đi đọc lại vẫn không biết tác giả
định nói ǵ. Đành phải đoán ṃ.
Viết đă ẩu, đọc lại càng ẩu hơn. Anh
em Thông Luận chúng tôi đă là đối tượng
của vô số bài đả kích v́ lập trường Ḥa
Giải và Ḥa Hợp Dân Tộc. Chúng tôi đă mất
rất nhiều th́ giờ để giải thích thế
nào là ḥa giải dân tộc, thế nào là ḥa hợp dân
tộc, tại sao lại phải ḥa giải trước,
ḥa hợp sau v.v... Vậy mà trên 90% những bài đả
kích chúng tôi vẫn nói chúng tôi là nhóm chủ trương ḥa
hợp ḥa giải , nhiều bài c̣n nói chúng tôi chủ
trương ḥa hợp ḥa giải dân tộc với
cộng sản! Đọc ẩu trước khi lên án
đă là tệ, có người c̣n không đọc. Một
vị ở Canada viết cho chúng tôi một bài với
tựa đề trả lời lập trường ḥa
hợp ḥa giải của Thông Luận vạch ra thái
độ ngây thơ ấu trĩ của chúng tôi. Một
câu làm cho chúng tôi sửng sốt: vị này cho biết
chưa hề đọc Thông Luận bao giờ, mà chỉ
được biết tới lập trường của
chúng tôi qua những bài đả kích.
Cái ṿng luẩn quẩn là người Việt viết
luộm thuộm khó hiểu người đọc kỹ
cũng không thể hiểu, nhưng người
đọc không cần đọc kỹ mà vẫn trả
lời một cách cũng ḥ đ̣, cũng luộm thuộm
khó hiểu không kém. Phải nh́n nhận một sự
thực đau ḷng: chúng ta là một dân tộc không biết
đọc, không biết viết, và không biết nói.
Tiếng Việt là phương tiện trao đỗi
giữa chúng ta. Phương tiện ấy mà hư hỏng
th́ chúng ta không hiểu được nhau như khi nói
chuyện qua một đường điện thoại
đầy nhiễu xạ. Tiếng mẹ đẻ
nếu không phải là ngôn ngữ duy nhất th́ cũng
vẫn là ngôn ngữ dễ sử dụng nhất cho
mỗi người, v́ nó hợp với tâm hồn và
bản tính. Đă không thạo tiếng Việt th́ dù có
học một ngôn ngữ khác công phu tới đâu chúng ta
vân chỉ là những người truyền đạt kém
cỏi. Mà tiếng Việt có khó ǵ đâu, nó phù hợp
với cách suy nghĩ của ta. Chỉ cần lưu ư
một chút chúng ta sẽ có thể truyền đạt và lănh
hội mọi thông điệp một cách dễ dàng. Lư do
căn bản có lẽ là v́ ta không yêu nước
đầy đủ để có thể quí trọng
những tài sản của đất nước. Hay v́
chúng ta thiếu tự hào dân tộc cho nên không nh́n những
di sản của đất nước một cách trân
trọng.
Tiếng Việt tuy không khó nhưng cũng không dễ. Nó có
khả năng chuyên chở mọi thông điệp, mọi
ư niệm, dù là văn hóa, nghệ thuật, chính trị, kinh
tế, triết học, khoa học, kỹ thuật. Nó có
thể và phải được coi là nhịp cầu
nối người Việt chúng ta với nhau, cho phép chúng
ta trao đổi với nhau, hiểu nhau, chỉ bảo cho
nhau, để quí trọng nhau và cùng nhau xây dựng một
tương lai Việt nam chung. Nếu tiếng Việt ta
chưa hoàn chỉnh th́ ta cần cải thiện và phong phú
nó - thêm vào một số âm, chấp nhận thêm một
số từ đa âm, chế ra một số tiếng
mới cho những ư niệm mới - rồi tiếp
tục phát huy nó. Ngôn ngữ là một cố gắng sáng
tạo không ngừng. Tiếng Pháp được coi là
một ngôn ngữ hoàn chỉnh và người Pháp cũng có
tiếng là dân tộc hoạt bát nhất thế giới,
nhưng họ luôn luôn mài dũa ngôn ngữ của họ.
Hồi làm tham vấn cho công ty xe hơi Renault của Pháp,
tôi được chứng kiến một biện pháp
bảo vệ ngôn ngữ rất gay gắt. Ông chủ
tịch tổng giám đốc Raymond Lévy, mặc dầu
đang điên đầu với t́nh trạng thua lỗ
trầm trọng, vẫn c̣n đủ tỉnh táo để
nhận xét rằng các văn kiện nội bộ không
được soạn thảo một cách lưu loát và sáng
sủa. Ông cho rằng đó là một trong những nguyên nhân
đưa đến thua lỗ. Ông ra một thông cáo cho
tất cả các cấp lănh dạo cho biết rằng
từ nay ông dành quyền trả lại người
gởi mà không nêu lư do tất cả những văn thư
không được soạn thảo bằng một
tiếng Pháp tuyệt đối hoàn chỉnh. Không phải
là ông không biết lo những vấn đề khác ông
cố gắng lắm, bằng cớ là xe hơi Renault
nổi tiếng là loại xe kém phẩm chất nhất,
sau năm năm dưới quyền lănh đạo của
ông đă trở thành những chiếc xe nổi tiếng là
tốt và bền bậc nhất châu Âu. Hăng Renault từ
một hăng xe hơi lỗ nặng nhất châu Âu trở
thành một hăng có lời, và gần đây đă sát nhập
hăng Nissan một thời lừng lẫy của Nhật.
Phần 1 Đất
nước và và Con người
Máu chảy ruột mềm
Người
Việt nam không thông minh hơn ai, có sáng dạ thực
nhưng là sáng dạ để bắt chước chứ
không phải để phát minh. Người Việt có tâm lư
tồi kém, không làm việc tập thể được.
Người Việt hiếu học nhưng hiếu
học để lấy bằng cấp chứ không
phải để lấy kiến thức. Người
Việt thiếu tự hào dân tộc và lại đố
ky, ghen ghét nhau. Người Việt tôn thờ bạo
lực và ác độc đối với nhau. Người
Việt không có óc phương pháp. Người Việt không
biết truyền thông, không biết đọc, không
biết viết, v.v...
Độc giả đọc tới đây có thể
bực bội và phẫn nộ như đang phải
đọc một cáo trạng đối với dân tộc
ḿnh, có thể tự hỏi phải chăng ḿnh đang
đọc một cuốn sách đáng lẽ phải có
tựa đề là Người Việt ṭi dở?.
Nhưng kể tội và bêu xấu người Việt
để làm ǵ, và để bêu xấu ai, khi chính tác
giả là người Việt và nhận ḿnh măi măi là
người Việt? Đó cũng là việc làm dễ dàng
quá v́ nếu muốn t́m những cái xấu của
người Việt th́ có khó ǵ đâu, tác giả chỉ
cần nhận xét chính ḿnh. Đó là việc tôi đă làm,
những nhược điểm của người
Việt một phần lớn, nếu không muốn nói là
tất cả, tôi có thể t́m thấy ở chính ḿnh.
Hơn nữa, những tật xấu và nhược
điểm đó không phải là của riêng dân tộc
Việt nam, mà dân tộc nào cũng có. Điều đáng
tiếc là ở người Việt chúng mạnh mẽ, rơ
rệt và áp đảo quá đáng. Chúng đè nặng lên
chúng ta, có thể nói là đè bẹp chúng ta, và giam giữ
chúng ta trong cảnh tang tóc, bần cùng, lạc hậu. Xét lại
ḿnh chính là để tiến lên. Phải nh́n vào chân dung
của ḿnh ngay cả nếu nó không được
đẹp. Nếu cuốn sách nhỏ này đă dành
nhiều trang để phân tích người Việt, th́
cũng v́ con người là vốn liếng quí báu nhất
của chúng ta. Nếu nó đă được viết ra th́
cũng v́ tác giả c̣n hy vọng. Hy vọng ấy chính là
con người Việt nam. Con người Việt nam, dù
mang nhiều khuyết tật nhưng nói chung vẫn là con
người có trí thông minh và có tâm hồn.
Vào khoảng năm 1980, tôi tới thăm một
người bạn trong một hẻm đường Cách
Mạng Tháng 8, đang ngồi hàn huyên trước hiên nhà,
tôi th́nh ĺnh được biết một câu chuyện.
Một câu chuyện tương tự như rất
nhiều câu chuyện khác mà tôi đă được
biết, nhưng nó đă ghi vào kư ức tôi v́ sự nhỏ
bé và tầm thường của nó. Chính v́ thế mà nó có
tính tiêu biểu cao.
Tiếng khóc nỉ non không biết từ bao giờ,
nhưng tôi chợt nghe được và chú ư khi bà cụ
rống lên nức nở: Mày đụ cho nó đă cái
lồn mày, rồi mày đẻ con mày để cho tao nuôi,
gạo đâu tao nuôi. Bà cụ gầy ốm, lem luốc, da
mặt nhăn nheo, mỗi vết nhăn như đánh
dấu một sự đau khổ. Bên cạnh bà cụ là
hai đứa cháu gái khoảng bốn tuổi và
mười tuổi rách rưới, xanh xao. Đứa
nhỏ xíu sụt sùi khóc, đứa lớn im lặng
ngơ ngác. Câu chuyện giữa chúng tôi bỗng nhiên trở
thành vô nghĩa hoàn toàn dù chúng tôi đang nói về quê hương
đất nước. Vợ bạn tôi nhận ra sự
im lặng khổ tâm của chúng tôi và chị lại
gần rồi kể cho chúng tôi nghe sự t́nh. Bà cụ này
hiền lành, chất phác, từ trước vẫn nghèo
lắm, tối ngày đi xin cơm thừa bán lại cho
người ta nuôi heo. Lúc khá nhất bà nuôi được một
con heo. Con gái bà lấy chồng làm lính Việt nam Cộng
Ḥa đạp xích-lô từ sau 30-4-1975, hiện đang
bệnh về nằm nhà mẹ. Người con gái theo
bạn hàng gồng gánh, khuân vác và giúp người ta bán
gạo lậu. Hồi đó buôn bán gạo là buôn lậu v́
nhà nước cấm. Lâu lâu chị mới về một
lần. Nghe nói gạo vừa mới bị bắt nên lâu
nay không có tiền đem về cho mẹ nuôi con. Dạo này
cơm thừa không c̣n nữa, bà cụ có một thùng
thuốc lá đem bán đầu con hẻm nhỏ đ̣ ra
hẻm lớn, nơi chúng tôi đang ngồi. Ngoài thuốc
lá bán lẻ từng điếu, bà cụ c̣n bán vài cái
kẹo, một ít vé số. Trên tủ thuốc lá là một
ngọn đèn dầu nhỏ để khách châm thuốc
hút. Dạo này phải ăn vào vốn, và bây giờ th́ gia
tài hết sạch. Tôi nh́n vào tủ thuốc và có thể
kiểm chứng điều đó. Thùng thuốc vốn
đă nhỏ lại rỗng tuếch, chỉ c̣n vài gói
thuốc lá nội hóa Đà Lạt nhợt nhạt v́
phơi nắng khá lâu rồi. Tôi thấy lạ là
trước một cảnh thương tâm như vậy
chị vợ bạn tôi có vẻ rất b́nh tĩnh.
Chị b́nh tĩnh v́ một lư do khác mà tôi hiểu ngay sau
đó. Một người đàn bà ăn mặc xuềnh
xoàng tiến lại gần, ngồi xuống bên cạnh cái
ghế thấp bên cạnh bà cụ, không biết nói ǵ
với bà cụ và đưa cho bà cụ một bao bằng
giấy. Tôi có thể hiểu dễ dàng đó là một bao
gạo, đủ để ba bà cháu ăn vài bữa.
Người đàn bà này cũng móc trong túi đưa cho bà
cụ một vài tờ giấy bạc. Th́ ra chị
bạn tôi yên trí là thế nào cùng có người tới giúp
bà cụ, chị hiểu rằng hàng xóm sẽ không bỏ
rơi ba bà cháu. Một lát nữa chị bạn tôi cũng
vào nhà trong rời trở ra tới chỗ bà cụ. Chị
quay lưng lại phía chúng tôi nhưng tôi cũng hiểu là
chị đưa tiền cho bà cụ. Nh́n cử chỉ
từ chối ngượng ngùng của bà cụ, tôi
hiểu là chị đă giúp cho bà cụ số tiền
đủ để tiếp tục bán thuốc lá.
Tiếng khóc nỉ non và lời than của bà cụ là
một thông điệp gởi đến hàng xóm: tôi
đang gặp hoạn nạn. Thông điệp ấy
đă đến nơi và đă được hồi âm.
Máu chảy ruột mềm.
Câu chuyện cũng có một happy end. Sau đó tôi
được biết người con gái cũng về
đem cho bà cụ ít tiền. Cuộc sống nghèo nàn
của ba bà cháu lại tiếp tục. Kề lại câu
chuyện trên đây, có lúc tôi đă định viết
tắt một chữ trong lời nói của bà cụ.
Nhưng rồi tôi thôi, tôi nghĩ câu nói ân t́nh đó nên
được nhắc lại một cách trung thực
như thế.
Những cảnh đùm bọc như thế, tôi đă
được thấy nhiều lần. Đủ
nhiều khiến tôi tin rằng người Việt nam ta
dù thiếu nhiều đức tính nhưng không thiếu
ḷng hảo tâm, íl nhất với những người quen
biết. Nhưng ḷng hảo tâm của người Việt
nam cũng c̣n có thể mở rộng cho cả những người
ḿnh không quen biết.
Tôi đă thấy tận mắt từ thời thơ
ấu. Nạn đói năm 1945 xảy ra vào lúc tôi chưa
đầy ba tuổi, nhưng những h́nh ảnh cực
mạnh đă in vào đầu tôi và c̣n theo tôi suốt
đời. Nhà tôi tuy không giàu có theo tiêu chuẩn b́nh
thường nhưng vào thời đó và ở vùng đó là
một gia đ́nh khá giả. Mẹ tôi tuy cũng phải
chân lấm tay bùn quanh năm nhưng gia đ́nh tôi có
ruộng, có vườn, có ao và dư gạo ăn. Quân
đội Nhật lúc bấy giờ dữ lắm, nhà nào
có gạo là bị tịch thu, cho người đói ăn
là một hành dộng có thể có hậu quả hiềm
nghèo. Mẹ tôi phải giấu gạo, nhưng đêm nào
cũng nấu cháo và dưới ánh đuốc bập bùng
hàng đoàn người nối đuôi nhau trước
cổng để được húp mỗi người
một gáo cháo. Có những người đói đến
nỗi kiệt sức mà chết. Ngay cổng vào nhà tôi có
một căn nhà mà người trong nhà gọi là nhà xác. H́nh
như đêm nào cũng có người chết v́ ngày nào
cũng thấy bó chiếu chôn người. Tôi có nhiều
anh và chị nuôi, một số là con cái của những
người đă chết đói. Không ai bắt mẹ tôi
phải làm cái việc tốn kém và nguy hiểm đó,
ngoại trừ t́nh người và t́nh đồng bào. Và
mẹ tôi cũng không phải là người duy nhất
trong vùng làm việc đó. Sau năm 1975, và sau khi đi
cải tạo về, tôi c̣n được biết một
câu chuyện về t́nh người đặc biệt trong
sáng khác. Và lần này câu chuyện cũng liên hệ trực
tiếp tới gia đ́nh tôi.
Mẹ tôi có một người em gái. D́ tôi góa chồng
năm 1946 khi chú tôi, một đảng viên Việt nam
Quốc Dân Đảng, bị Việt Minh thủ tiêu
để lại hai con trai sáu tuổi và hai tuổi. Lúc
đó d́ tôi c̣n rất trẻ, mới 25 tuổi.
Trước hiệp định Genève, d́ tôi có một quan
hệ t́nh ái. Một bé gái ra chào đời đúng lúc cha nó
vào Nam, gia đ́nh tôi lúc đó ở Hà Nội, rồi từ
Hà Nội di cư vào Nam, nên hoàn toàn không biết chuyện
này. Vào Nam, chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc với d́ tôi.
Cho đến năm 1979.
Trong vụ cải cách điền địa tại
Bắc Việt năm 1955, ông Bùi Tín nói con số nạn nhân
chỉ vào khoảng 20.000 người. Một số
đảng viên cộng sản khác mà tôi quen biết sau này,
và cũng thành thực không kém Bùi Tín, lại nói rằng
số nạn nhân có thể trên 100.000 người. Có
thể là 50.000 người chăng? Nhưng ai biết
được con số chính xác? Có một thống kê nào
đâu? Nhưng tôi biết rơ ràng là có ít nhất ba nạn
nhân không được kể là nạn nhân.
D́ tôi bị đem đấu tố là địa chủ
gian ác v́ có mười mẫu ruộng (tức ba héc-ta
rưỡi). Bà bị trói, bị đánh đập, bị
xỉ vả là con đĩ, là gian ác rồi bị
đuổi khỏi nhà, bà làm một cái lều bên
đường và đi xin ăn, nhưng ít ai dám cho.
Đứa con trai nhỏ chết đói xong th́ bà cũng
chết. Đứa con trai lớn, Nhuệ, em họ tôi, là
một thiếu niên ngô nghịch và táo bạo. Nó ăn
trộm, ăn cướp nuôi em gái nhỏ, lang bạt
tới Hải Pḥng th́ bị bắt rồi chết trong tù.
Đứa em gái nhỏ, lúc đó mới bốn tuổi, ḅ
lang thang sắp chết đói th́ gặp bà Năm.
Bà Năm quê ở Bến Tre. Vào đầu thập niên 1940
bà là một thiếu nữ trung lưu có nhan sắc. Khi tôi
gặp bà vào năm 1980, bà đă 60 tuổi nhưng những
nét đan thanh trên mặt bà cũng chứng tỏ rằng
hồi thanh xuân bà đẹp vô cùng. Nhan sắc của bà
lọt mắt một ông đốc phủ sứ, sau này
nổi tiếng là một nhân sĩ có đạo
đức lớn tại miền Nam, và ông ta nhất
định bắt bà làm vợ bé. Phẫn uất quá, bà
Năm trốn đi theo đảng cộng sản. Bà
được kết nạp vào đảng cộng
sản, lấy chồng đảng viên cộng sản
rồi ra Bắc tập kết năm 1954. Cả hai vợ
chồng làm việc tại cảng Hải Pḥng. Đầu
năm 1957, một tai nạn khủng khiếp xảy ra,
ông chồng bị chết ngay tức khác c̣n bà Năm
bị dây cáp cắt đứt một chân. Lúc đó họ
đă có hai con trai. Bà Năm ở bệnh viện ra th́
gặp em bé lang thang, bà bèn nhận nó làm con nuôi. Như
thế đă là tuyệt vời, nhưng điều
tuyệt vời hơn nữa là sau đó. Em tôi lúc đó c̣n
quá bé để có thể nói cha mẹ nó là ai, quê
hương nó ở đâu, nhưng bà Năm nhờ ḍ
hỏi biết nó có một thằng anh chết trong tù, và bà
chống nạng đi khắp các cơ quan điều tra.
Bà t́m về được tới làng của d́ tôi, hỏi
được tên bố mẹ và cả ngày sinh gần đúng.
Tuy bà có thể làm khai sinh cho nó là con bà nhưng bà đă làm
lại khai sinh chính xác cho nó. Nhờ là liệt sĩ có công
với cách mạng, bà đă che chở được cho
đứa con địa chủ gian ác này. Bà bảo vệ
nó như cọp cái giữ con, không ai có thể đụng
tới con gái bà.
Năm 1979, bà vào Nam và t́m được gia đ́nh tôi. Bà
thành người bạn của gia đ́nh tôi. Bà dẫn
đứa con gái nay đă có chồng vào nhận họ hàng
của nó. Bà hay đến dùng cơm, kể lại quá
khứ của ḿnh. Bà Năm rất tin tưởng vào
chủ nghĩa cộng sản như một chủ
nghĩa quảng đại và trong sáng.
Bà chống đối gay gắt chính quyền cộng
sản nhưng v́ một lư do khác hẳn với lư do
của những người chống cộng. Bà nói: Chúng nó
phản bội lư tưởng cộng sản. Mẹ tôi, dù
ghét cay ghét đắng cả đảng cộng sản
lẫn chủ nghĩa cộng sản, vẫn rất quí
trọng bà, hai bà có thể nói chuyện cả ngày mà không
biết chán. Bà Năm đặc biệt thích tôi, bà hay
bắt tôi ngoi nghe bà kể chuyện và bà c̣n đọc cho
tôi nghe một truyện dài bằng thơ lục bát mà bà làm
để kể đời ḿnh và tâm sự ḿnh.
Bà hay nói: Bây giờ bác nuôi con Hà như vậy là đă làm
tṛn bổn phận, bác đem trả lại cho gia đ́nh
cháu đấy?. Có lần tôi gắt lên với bà: Bác
đừng nói như thế, nó chẳng là con của ai khác
cả, nó chỉ là con của bác, của một ḿnh bác thôi!
Đôi mắt bà Năm ứa lệ. Từ lâu nay tôi không
c̣n được tin bà Năm nữa. Những ḍng trên
đây xin được tặng bà Năm để bày
tỏ ḷng kính mến và biết ơn sâu xa đối
với một người phụ nữ đă cho phép tôi,
trong bao nhiêu thất vọng, vẫn c̣n tự hào
được làm người Việt
Phần 2 Con
đường đă qua
Mấy ngàn năm lịch sử
Báo
chí trong nước hồi năm 1992 thuật lại
một cuộc thảo luận được coi là sôi
nổi và hào hứng nhất từ xưa đến nay.
Đó là cuộc tranh căi về lời nói đầu của
hiến pháp 1992, đúng ra là tranh căi về câu đầu
của lời nói đầu. Các đại biểu
quốc hội không đồng ư nên viết Trải qua
bốn ngàn năm lịch sử hay Trải qua mấy ngàn
năm lịch sử, hay Trải hơn bốn ngàn năm
lịch sử. Kết quả là ban lịch sử của
Trung ương Đảng cộng Sản Việt nam
quyết định chọn câu: Trải hơn bốn ngàn
năm lịch sử và các đại biểu quốc
hội đă vâng lời. Họ không bao giờ là
đại biểu. Họ chỉ là những người
được đảng chỉ định vào quốc
hội.
Cuộc tranh căi này đáng chú ư về sự hời hợt
của họ. Nó xoay quanh một con số, mà ai cũng
biết là không chính xác, về chiều dài của lịch
sử chứ không đi vào nội dung của lịch
sử. Lịch sử dĩ nhiên là rất quan trọng. Nó
là một kho kinh nghiệm và một nguồn suy tư. Nó cho
phép một dân tộc, hiểu theo nghĩa là sự sống
liên tục của những đời người ngắn
ngủi kế tiếp nhau và gắn bó với nhau trong
một số phận chung, nh́n lại ḿnh và hiểu ḿnh
để tiếp tục sống và tiến lên.
Quan tâm tới lịch sử đánh dấu sự h́nh thành
của ư niệm quốc gia. Hiểu như thế th́ tuy
đất nước Việt nam (hiểu theo nghĩa
đen là đất và nước) đă có từ hàng
chục triệu năm và những con người Việt
nam cũng đă có từ hàng chục ngàn năm và đă
dần dần sống thành xă hội có tổ chức
nhưng ư niệm về quốc gia Việt nam chỉ
mới xuất hiện rất gằn đây, vào
đầu thế kỷ thứ 13 khi Lê Văn Hưu
soạn ra bộ Đại Việt Sử Kư. Điều
này tự nó cũng đầy ư nghĩa. Nước
Việt đă thành lập xong rồi, ư thức quốc gia
của người Việt nam mới bắt đầu
xuất hiện. Sự kiện này nói lên đặc tính
của dân tộc Việt nam: ư niệm đi rất sau
thực tiễn, hành động đi trước ư
thức. Nhược điểm tổ tông truyền này
vẫn c̣n có thể nhận thấy rất rơ rệt ngay
trong thời đại chúng ta: cứ làm mà không cần suy
nghĩ về tinh thần và cái trở thành của việc
ḿnh đang làm. Chính v́ thế mà chúng ta luôn luôn thụ
động để cho thực tế xô đẩy
chứ không chủ động việc tổ chức
tương lai của ḿnh.
Quan tâm về lịch sử, nghĩa là ư niệm quốc
gia, đă tới chậm như vậy lại không
được coi trọng. Sử bị bỏ rơi trong
hơn hai thế kỷ, măi đến đời Lê Thánh
Tông, Ngô Sĩ Liên mới soạn lại lần thứ hai
bộ Đại Việt Sử Kư. Điều đáng
ngạc nhiên là nhà Trần đă không cảm thấy cần
chép lại chiến công hiển hách phá quân Nguyên của ḿnh.
Như thế phải hiểu rằng người Việt
nam không quan tâm lắm về đất nước của
ḿnh. Bản Hịch Tướng Sĩ của Trần
Hưng Đạo chỉ thúc dục các tướng
chịu ơn vua phải chiến đấu cho vua chứ
không nói đến dân tộc và đất nước. ư
thức quốc gia chỉ thể hiện một cách
mạnh mẽ rơ rệt trong bài B́nh Ngô Đại Cáo
của Nguyễn Trăi. V́ thế nếu coi B́nh Ngô Đại
Cáo là tuyên ngôn lập quốc cũng không phải là quá
đáng. Lúc đó đă là thế kỷ thứ 15.
Muốn có ích, nghĩa là muốn làm một nguồn kinh
nghiệm cho phép rút ra những bài học chung cho dân tộc,
lịch sử phải chính xác và đầy đủ.
Lịch sử là một tài liệu để làm việc.
Lịch sử không đầy đủ và không chính xác có
nghĩa là chúng ta làm việc trên một tài liệu vừa
thiếu vừa sai. Như thế làm sao có thể rút ra
những kết luận đúng đắn? Nhưng
lịch sử của ta rất sơ sài, lại rất
thiếu chính xác. Các nhà viết sử đều là
những bày tôi ăn cơm vua, mặc áo chúa phải
viết cho vừa ḷng chủ chứ không viết theo
sự thực. Bước vào thời đại mới,
chúng ta lại chỉ có những chính quyền thiển
cận coi lịch sử là dụng cụ tuyên truyền cho
chế độ. Lịch sử, kể cả lịch
sử cận đại của ta, không những thiếu
sót mà c̣n bị xuyên tạc. Đă thế, vô số lư
luận hồ đồ lại c̣n được tung ra
với mục đích giải thích lịch sử theo
chiều hướng có lợi cho một phe phái. Người
Việt nam, kể cả trí thức, vốn đă thiếu
óc phê b́nh, lại c̣n bị khủng bố bởi cả
một phong trào khai thác lịch sử.
Cuối cùng chúng ta không những không biết rơ lịch
sử của ḿnh, mà c̣n bị tiêm nhiễm những
nhận định rất lệch lạc. Chúng ta là
một dân tộc mất kư ức tập thể.
Điều đó có thể giải thích một phần
tại sao một dân tộc khá tốt bụng, khá sáng
dạ, khá siêng năng, có một địa lư khá thuận
lợi lại không vươn lên được và vẫn
quằn quại măi trong nghèo khó và lạc hậu.
Phần 2 Con
đường đă qua
con cháu tiên rồng
Người
Trung Hoa tự coi là con Trời, người Nhật tự
coi là con cháu của Mặt Trời, người Việt nam
ta tự coi ḿnh là con cháu Tiên Rồng. Dân tộc nào cũng
có tự ái riêng và đều muốn tự gán cho ḿnh
một ḍng dơi cao quí. Những huyền sử đó có
thể coi là ư thức cộng đồng đầu tiên.
Mỗi dân tộc cần có một niềm tự hào nào
đó để tự duy tŕ. Bài học đầu tiên mà ta
có thể rút ra từ huyền sử đó là muốn
trường tồn và tiến lên ta luôn luôn cần có thêm
những lư do mới để tự hào. Từ đó ta có
thể tự đặt cho ḿnh câu hỏi: Hiện nay ta có
lư do nào để tự hào không? Nếu có là ta đang
tiếp tục củng cố dân tộc, nếu không là ta
đang làm hao ṃn vốn cũ.
Niềm tự hào con cháu tiên rồng, hiểu theo nghĩa
một huyền thoại thống hợp gắn bó chúng ta
với nhau, có cái lợi là làm ta hănh diện muốn
tiếp tục làm người Việt, nhưng bù lại
nó có thể cho chúng ta cái cảm tưởng rằng chúng ta
là một giống ṇi thuần nhất và làm ta quên mất
thực sự ta là ai, và đó mới là điều quan
trọng. Cứ theo huyền sử th́ tổ nước ta
là Sùng Lăm, tức Lạc Long Quân, con cháu của vua Thần
Nông bên Tàu. Nước gốc của chúng ta là Xích Quỷ
bao gồm cả một vùng đất rộng lớn
của Trung Quốc, từ phía Nam sông Dương Tử và
một phần nhỏ hơn nhiều là miền Bắc
nước ta bây giờ. Sự tích kế tiếp là Sùng Lăm
lấy bà Âu Cơ đẻ ra một trăm con, sau đó
hai người chia tay nhau, mỗi người giữ
năm mươi con. Âu Cơ ở lại núi, c̣n Sùng Lăm
đem năm mươi con xuống vùng bể Nam Hải.
Sau đó Sùng Lăm phong cho người con trưởng lên làm
vua nước Văn Lang, tức là miền Bắc
nước ta. Nước Văn Lang sau này được
mở rộng thành nước Việt nam ngày nay.
Như vậy, cũng phải tương đối hóa
ḍng dơi con ṛng cháu tiên của chúng ta. Thực ra như
vậy, theo huyền sử của chính chúng ta, th́
người Hoa Nam mới là con rồng cháu tiên, c̣n chúng ta
chỉ là một hệ phái của con rồng cháu tiên
được lai giống với người địa
phương. Chúng ta ít con rồng cháu tiên hơn
người Trung Hoa ở phía Nam sông Dương Tử. Và
chúng ta lai con rồng cháu tiên chắc không nhiều, bởi
v́ giữa Hoa Nam và nước ta núi non hiểm trở,
người đi dân xuống miền Nam không có bao nhiêu.
Chính v́ thế mà dù bị hơn một ngàn năm Bắc
thuộc, chịu hoàn toàn ảnh hưởng của văn
hóa Trung Hoa mà chúng ta tiếp thu một cách nồng nhiệt
và say mê, chúng ta vẫn có tiếng nói riêng, nếp sống
riêng. Như Nguyễn Trăi nói: Lănh thổ có núi ngăn chia,
phong tục Bắc Nam khác nhau Có nhà dân tộc học c̣n
quả quyết người Việt nam thuộc chủng
tộc Mă Lai - ấn Độ. Như thế đủ
biết cái thành tố con rồng cháu tiên trong huyết
thống của chúng ta không có bao nhiêu.
Nhưng cái huyền sử con rồng cháu tiên không phải
là không có cơ sở thuần lư. Nó nói lên một nét dậm
trong quá tŕnh h́nh thành của nước ta, đó là cuộc
Nam Tiến đă khai sinh ra nước ta và vẫn c̣n
tiếp tục cho tới cuối thế kỷ 18.
Đất nước Việt nam được thành
lập ban đau do hậu quả của cuộc Nam Tiến
của người Trung Hoa và sau đó của chính
người Việt. Nước Trung Hoa h́nh thành tại
vùng đất giữa sông Hoàng Hà và sông Dương Tử,
rồi v́ người càng ngày càng đông, một phong trào di
dân t́m đất mới về phương Nam đă
xuất hiện. Chuyện Lạc Long Quân đem năm
mươi con xuống vùng bề Nam Hải có thể coi là
một đợt di dân, tương tự như Nguyễn
Hoàng đem dân vào miền Trung sau này.
Cuộc Nam Tiến của người Trung Hoa đến
Quảng Đông, Quảng Tây th́ khựng lại v́ gặp
bức tường núi dầy gần 100 cây số. Chỉ
có một số ít người vượt được
núi, hợp với thổ dân mà tạo ra nước Văn
Lang.
Người Việt nam ta có lẽ v́ chỉ coi huyền
sử như chuyện hoang đường hoàn toàn nên ít suy
nghĩ về quá tŕnh lập quốc của ḿnh. Không
thiếu ǵ trí thức lẫn lộn các giống Việt
ở miền Nam Trung Hoa, sống trong nhiều nước
nhỏ gọi là Bách Việt, với người Việt
nam. Triết gia Kim Định coi người Việt nam là
người Bách Việt, ông cho Nho Giáo là một phát minh
của người Việt chứ không phải của
người Tàu. Trong thập niên 1960, các trí thức và sinh
viên Việt nam mở một loạt lớp học dạy
miễn phí cho các học sinh trung học nghèo tại Sài G̣n.
Cố gắng đáng ca tụng này được biết
dưới danh hiệu Trung Tâm Bách Việt. Nhưng nếu
người Bách Việt không phải người Trung Hoa
th́ ai là người Trung Hoa? Chúng ta cũng có mang huyết
thống Bách Việt trong người, nhưng yếu
tố đó chỉ là một phần nhỏ thôi. ảnh
hưởng văn hóa và tư tưởng của Trung Hoa
lên nước ta quan trọng gấp bội yếu tố
huyết thống.
Nước Văn Lang được thành lập do pha
trộn của một số nhỏ người Hoa Nam
với một số đông người bản xứ, và
cả những sắc dân từ quần đảo Nam
Dương. Chúng ta có thể quả quyết là về nhân
chủng yếu tố địa phương đă
mạnh hơn bởi v́ sau cả ngàn năm dưới
sự thống trị của người phương
Bắc trong đó chữ Nho vừa được
độc quyền vừa được tôn vinh, người
Việt vẫn giữ được và không những
thế c̣n phát triển được và cải thiện
được ngôn ngữ riêng của ḿnh. Sau này, nhất
là từ thế kỷ 15 trở đi, khi nước
Văn Lang dần dần mở rộng về phía Nam, chúng
ta đă tiếp nhận nhiều yếu tố huyết
thống khác, kể cả một đợt di dân mới bằng
đường biền của người Trung Hoa vào
thẳng miền Nam Việt nam.
Nước Việt nam ta v́ vậy là một quốc gia
biến đỗi không ngừng do những đóng góp
đất đai và chủng tộc mới. Sự thay
đổi không ngừng đó, thể hiện ngay trong
quốc hiểu của ta: Văn Lang, âu tạc Nam Việt,
Giao Chỉ, An Nam, Tượng Quận, Giao Châu, Vạn Xuân,
Đại C̣ Việt, Đại Việt, Đại Ngu,
Việt nam, Đại Nam. Sự thay đổi đó
khiến chúng ta nhiều khi lẫn lộn tên nước
ḿnh. Sách Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện rơ ràng coi Nam
Hải là tên nước ta, mặc dầu đó chỉ là
tên của tỉnh Quảng Đông bên Trung Quốc vào
thời Bắc thuộc. Ngay cả tên Việt nam ngày nay
thực ra cũng rất mới. Vua Gia Long sau khi thống
nhất đất nước muốn đặt quốc
hiểu là Nam Việt nhưng v́ nhà Thanh không cho, sợ
lẫn lộn với nước Nam Việt của
Triệu Đà gom cả Quảng Đông và Quảng Tây, nên
đă chọn quốc hiệu là Việt nam. Nhưng sau
đó 18 năm, khi vua Gia Long chết, vua Minh Mạng lại
bỏ tên Việt nam và đổi thành Đại Nam. Khi
người Pháp đô hộ nước ta, hai tiếng
Việt nam cũng không xuất hiện trở lại,
nước ta bị chia làm Cochinchine, An nam, Tonkin.
Đảng cộng sản lúc mới thành lập cũng
không dùng chữ Việt nam, họ tự gọi là Đông
Dương Cộng Sản Đảng, An Nam Cộng
Sản Đảng. Việt nam Quốc Dân Đảng là
chính đảng đầu tiên sử dụng trở
lại hai tiếng Việt nam. Hai tiếng Việt nam
đă trở thành thiêng liêng khi 13 liệt sĩ Việt nam
Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài
tại Yên Bái ngày 17- 6-1930 hô to: Việt nam muôn năm!. Ngày
2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước
Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa, rồi ba năm sau
Bảo Đại cho ra đời Quốc Gia Việt nam.
Như thế tên Việt nam đă trở thành linh thiêng
từ 1930 và mới trở thành chính thức từ 1945
trở di.
Chúng ta không ư thức được sự năng
động trong quá tŕnh lập quốc của ḿnh nên đă
cố bắt chước nơi người Tàu một
quan niệm quốc gia cứng nhắc. Đất
nước Việt nam được coi như là
đất của một sắc tộc sắc tộc
Kinh. Văn hóa của ta là văn hóa của người
Kinh. Đạo đức của ta là đạo
đức của người Kinh, pháp luật của ta là
pháp luật của người Kinh. Lịch sử của
ta cũng chỉ là lịch sử của người Kinh.
Tất cả đều là của người Kinh, các
sắc tộc khác hoàn toàn bị bỏ qua.
Trong khi khái niệm người Kinh tự nó cũng rất
mơ hồ. Nó cũng chỉ là một sự ḥa trộn
của nhiều chủng tộc. Nó chỉ là tập
thể của những người chịu anh
hưởng văn hóa của Trung Hoa mà thôi, trong khi ảnh
hưởng của văn hóa Trung Hoa càng ngày càng yếu
đi trước ảnh hưởng của văn hóa
phương Tây.
Tại sao, những Phạm Hùng, Chế Bồng Nga lại
không được coi là các vị vua của Việt nam?
Tôi không phải là một nhà sử học và cũng không
phải là một nhà dân tộc học nên hoàn toàn không dám có
tham vọng đưa ra một luận thuyết mới
về nguồn gốc và sự h́nh thành của nước
ta. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh về hai đặc
điểm quan trọng nhất của dân tộc Việt
nam.
Đặc điểm thứ nhất là chúng ta không
phải là một quốc gia thuần nhất, mà là một
quốc gia đa nguyên về bản chất. V́ thế chúng
ta cần một ư thức quốc gia riêng: Quốc gia
Việt nam không thể được định nghĩa
như một chủng tộc mà cần được quan
niệm như là sự chấp nhận chia sẻ một
tương lai chung.
Đặc điểm thứ hai là dù có lịch sử
tương đối dài, chúng ta trên thực tế là
một quốc gia rất mới. Cả một nửa lănh
thổ, và một phần đáng kể dân chúng, chỉ
mới hội nhập từ bốn thế kỷ nay,
nhiều vùng chỉ từ một thế kỷ nay. Cho nên
chúng ta không thể thủ cựu, trái lại phải
năng động, liên tục thích nghi và đổi
mới bởi v́ sự nghiệp mở nước vẫn
chưa thế coi là đă xong hẳn.
Phần 2 Con
đường đă qua
Mở mắt và nhỏ lệ
Tôi
mở mắt và nghe ḿnh nhỏ lệ
Những trận giặc kéo dài qua nhiều năm
Nhân loại đau buồn kể lể
Thành phố bị chiếm tiêu điều
Làng mạc hắt hiu trong cơn điên cuồng lửa
đạn
Em là người hậu chiến hon hắt hủi bơ
vơ ngoài phố
Thương bằng hữu bỗng biến thành kẻ
tội tù.
Mai Trung Tính (40 bài thơ)
Không hiểu do cảm hứng nào mà Mai Trung Tính làm ra
những vần thơ tiên tri như thế. Mai Trung Tĩnh
tên thật là Nguyễn Thiệu Hùng, anh ruột của
Nguyễn Thiện Tường, bạn thân của tôi. Tôi
hay lui tới gia đ́nh Tường, nhất là những
sáng chủ nhật. Lúc đó ba của Hùng và Tường
mất có lẽ đă lâu lắm rồi, mẹ
Tường hay cho chúng tôi tiền để đi ăn
phở với nhau. Không biết bà cụ buôn bán ǵ nhưng
gia đ́nh tương dối khá giả, bà cụ coi tôi
gần như một đứa con của gia đ́nh.
Tường học đệ nhị với tôi ở lớp
B́nh Dân Giáo Dục. Thực ra Tường có đủ
điều kiện để đi học b́nh
thường như những người khác nhưng
cũng ghi tên học B́nh Dân Giáo Dục buổi tối
để học với tôi cho có bạn. Lúc đó, năm
1960, Hùng đă đậu xong tú tài đang học
Đại Học Văn Khoa, ngoài ra c̣n đi dạy
Việt văn ở cấp trung học để kiếm
thêm lợi tức cho gia đ́nh. Hùng thích Sartre, Gide và Camus,
tuần nào cũng bỏ tiền ra mua Paris Match v́ thích
nhưng bài b́nh luận chính trị của Raymond Cartier. Khi
viết câu: Em là người hậu chiến hồn
hắt hủi bơ vơ ngoài phố thương bằng
hữu bỗng biến thành kẻ tội tư, Hùng không
ngờ câu đó lại ứng nghiệm cho ḿnh tới hai
lần trong khoảng 15 năm. Tập thơ 40 bài thơ,
của Hùng làm chung với Lê Đức Vượng
(tức Vương Đức) được giải
thưởng Văn Học Toàn Quốc năm 1960. Mỗi
người hai mươi bài. Những câu thơ trên
lấy từ bài Lịch sử của Hùng. Tôi c̣n nhớ,
ngay ngày cuốn sách in xong, Hùng ân cần tặng tôi một
bản. Tôi thích bài Lịch sử và nhớ cho tới bây
giờ.
Tuy là giáo sư, nhưng như mọi người trong
lứa tuổi, như các anh em tôi, Hùng cũng thuộc
diện sĩ quan biệt phái. Ai cũng biết sĩ quan
biệt phái chỉ là một cụm từ rỗng
nghĩa, có mục đích để chính quyền Việt
nam Cộng Ḥa có thể gọi nhập ngũ trở
lại một số người bất cứ lúc nào.
Nhưng trên thực tế đó là những người
không có hay không c̣n, liên hệ ǵ tới quân đội.
Bằng cớ là ngay trước lúc sắp sụp
đổ, chính quyền Sài G̣n cũng không gọi họ
nhập ngũ. Tuy vậy cái nhăn sĩ quan biệt phái,
đă khiến Hùng bị bắt đi cải tạo
gần bảy năm. Tôi gặp lại Hùng mùa thu năm
1982 khi Hùng mới đi cải tạo về và tôi cũng
sắp đi Pháp. Bẵng đi tám năm, tôi không liên
lạc với Hùng, rồi không ngờ lại
được tin Hùng trong một trường hợp khác.
Phải nói là rất không ngờ. Sau khi đi cải
tạo về, tôi gặp một số trí thức trẻ
có ưu tư với đất nước và chúng tôi giao
du với nhau thành một nhóm chia sẻ lập
trường dân chủ. Gặp Hùng, tôi không rủ Hùng gia
nhập v́ lúc đó Hùng mới đi tù về c̣n đang
yếu mệt và tôi cũng sắp đi Pháp, vả lại
tôi biết Hùng không thích chính trị. Đoàn Viết
Hoạt ở tù ra năm 1988 th́ ít lâu sau đó bắt liên
lạc được với chúng tôi. Tôi biết Hoạt
có thành lập một nhóm bạn dự định cho
lưu hành tập tài liệu Diễn Dàn Tự Do nhưng
không biết rằng Hùng cũng có trong đó. Chỉ sau khi
nghe tin Hoạt và nhóm Diễn Dàn Tự Do, trong đó có Hùng,
bị bắt tôi mới biết và ngạc nhiên. Hùng bị
kết án năm năm, sau đó kháng án và được
giảm xuống bốn năm.
Cái nh́n lịch sử của nhà thơ rất chính xác.
Lịch sử nước ta là một lịch sử
đau thương. Đó là một chuỗi ngoại
thuộc và chiến tranh.
Cứ coi như nước chúng ta thực sự thành
lập với nhà Hồng Bàng với 18 đời vua.
Cứ tính trung b́nh mỗi vị chừng mười
lăm năm th́ nhà Hồng Bằng kéo dài được
non ba trăm năm th́ bị nhà Thục cướp ngôi
năm 258 trước công nguyên. Như thế th́ có nghĩa
là chúng ta có khoảng hai ngàn năm trăm năm lịch
sử. Thế nhưng cỗ sử của ta lại chép
rằng Kinh Dương Vương, ông nội của vua
Hùng Vương thứ nhất làm vua nước Xích
Quỷ từ năm 2879 trước tây lịch, như
thế là ta có tới gần năm ngàn năm lịch
sử. Như vậy có một khoảng trống trên hai
ngàn năm. Khoảng thời gian ấy là khoảng thời
gian cần thiết để một số người
từ Hoa Nam vượt vách núi dầy đặc trên
một trăm cây số. Giả thuyết hợp lư
nhất là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước
công nguyên một số người đă qua
được vách núi đến được giáp vùng
đồng bằng sông Ḥng để cùng với
người thổ dân lập ra nước Văn Lang.
Huyền sử con rồng cháu tiên có lẽ đă xuất
phát từ một lư do rất thực tiễn. Muốn
khuất phục những con người thô sơ, không ǵ
bằng dựa vào phép thần tiên, và những người
ít ỏi từ miền Bắc xuống đă tự
tạo cho ḿnh một nguồn gốc thần tiên
để thu phục người bản xứ.
Trong khoảng năm trăm năm đầu, đất
nước Văn Lang chắc là có rất ít người.
Bằng chứng là nhà Thục, ḍng họ đă diệt
họ Ḥng Bằng, không hề có một dấu vết nào
trong lịch sử Trung Hoa cả, đó chỉ là một
gia đ́nh nào đó đă từ Hoa Nam sang Bắc Việt và
qui tụ được một số gia nhân lập thành
một giang sơn riêng. Vậy mà nhà Thục đă diệt
được họ Hồng Bằng th́ đủ
biết tầm vóc của Văn Lang lúc đó không hơn
một bộ lạc là bao.
Dù nhỏ bé như vậy, mà trong năm trăm năm
đầu trước công nguyên, dân ta đă phải
chịu ba cuộc chiến tranh: nhà Thục diệt
Hồng Bằng, rồi nhà Triệu diệt nhà Thục,
rồi nhà Triệu bị nhà Hán bên Trung Hoa tiêu diệt và
nước ta bị sát nhập vào Trung Quốc.
Kế tiếp là hơn một ngàn năm Bắc thuộc.
Trong khoảng thời gian này cũng đă có vô số binh
biến đẫm máu. Hai Bà Trưng khởi nghĩa, làm
chủ đất nước và cầm cự
được ba năm, rồi cuộc khởi nghĩa
của Triệu Thị Chinh và Triệu Quốc Đạt.
Rồi vô số những loạn lạc đao binh khác, có
khi do chính các quan cai trị muốn xưng hùng xưng bá
đánh giết lẫn nhau, có khi do nhân dân nồi dậy
chống áp bức. Có lần dưới thời Tam
Quốc bên Trung Hoa, lúc nước ta đang dưới
sự đô hộ của nhà Ngô, dân Giao Châu nổi lên
giết được quan thái thú rồi đi thần
phục nhà Ngụy ở măi tận phương Bắc,
để rồi lại bị Đông Ngô đánh dẹp.
Trong thời gian năm trăm năm của thời
Bắc thuộc lần thứ hai, từ năm 43
đến nam 554, nước ta lúc nào cũng có binh
biến, và binh biến thường thường do các quan
cai trị Trung Hoa thấy Giao Châu có núi ngăn cách với
Trung Hoa muốn thành lập một quốc gia độc
lập. Cuối cùng Lư Bôn, một người gốc Trung
Hoa, làm chủ được đất nước,
lập ra nhà Tiền Lư, kéo dài được sáu mươi
năm. Nh́n vào giai đoạn này, ta có thể rút ra hai
kết luận: Một là ư thức về ḿnh như
một xă hội riêng biệt với phương Bắc
của ta đă do chính những quan đô hộ
người Trung Hoa đem đến. Hai là nước ta
đă được thai nghén trong binh lửa và đó
cũng là một điều không may.
Trong sáu mươi năm ngắn ngủi của nhà
Tiền Lư, nước ta đă phải đương
đầu với cuộc tái chiếm của Trung Hoa,
rồi cuộc nội chiến giữa Triệu Quang
Phục và Lư Phật Tử, cuối cùng lại rơi
vào Bắc thuộc một lần nữa.
Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba này
chiến tranh lại c̣n triền miên và dữ dội hơn
nữa. Chiến tranh với Lâm ấp (Chiêm Thành), cuộc
nổi dậy của Mai Thúc Loan, của Phùng Hưng,
rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi chiến tranh
với nước Nam Chiếu (ở khu vực Vân Nam, Trung
Quốc bây giờ), và dĩ nhiên, yếu tố
thường trực vẫn là những cuộc tranh giành
giữa các quan đô hộ.
Trong thời gian ấy xă hội Việt nam vẫn tiếp
tục h́nh thành, người mỗi ngày một đông, trí
tuệ mỗi ngày một mở mang, ư thức cộng
đồng càng ngày càng rơ rệt, ḱm kẹp của ách
thống trị càng ngày càng bất lực. Đến đầu
thế kỷ thứ 10, năm 906, một hiện
tượng lạ lùng xảy ra, hệ thống đô
hộ của người Trung Hoa tự nó sụp
đổ và dân Giao Châu tôn Khúc Thừa Dụ lên làm chủ.
Đất nước Việt nam coi như đă thực
sự h́nh thành. Người Trung Hoa định tái lập
nền thống trị nhưng không được
nữa, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán rồi xưng
vương, dân đất nước vào giai đoạn
độc lập chính thức.
Một ngàn năm Bắc thuộc thường
được coi như một giai đoạn đen
tối của nước ta, nhưng đó cũng là giai
đoạn đất nước ta thai nghén và h́nh thành
như một đất nước theo khuôn mẫu chính
trị Trung Hoa. Quá tŕnh h́nh thành của nước ta là
một chuỗi dài chinh chiến. Đứa trẻ
Việt nam v́ thế đă ra đời với một
cơ thể yếu.
Nhưng được độc lập rồi, loạn
lạc, chiến tranh không giảm mà c̣n tăng. Nhà Ngô
trị nước chẳng được bao lâu th́ rơi
vào loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh
thống nhất đất nước và thi hành một
chính sách trị nước cực kỳ tàn bạo, kéo dài
mười bốn năm. Lê Hoàn soán ngôi nhà Đinh lập
ra nhà Tiền Lê trị v́ ba mươi năm. Trong ṿng ba
mươi năm đó dân ta đă phải chịu
đựng một cuộc chiến tranh với nhà
Tống, một cuộc chiến tranh với Chiêm Thành và
nhiều cuộc chiến tranh b́nh định khác. Nhà
Tiền Lê chấm dứt với triều Lê Long
Đỉnh kéo dài năm năm, từ 1005 đến 1009.
Lê Long Đỉnh tuy chỉ làm vua trong một thời gian ngắn
ngủi nhưng đă để tên lại trong lịch
sử như là bạo chúa kinh khủng nhất của
nước ta. Sự thực hay chỉ là một bịa
đặt của nhà Lư để bào chữa cho việc
cướp ngôi nhà Tiền Lê? Thế kỷ đầu
của độc lập, đối với dân ta, c̣n
đau thương hơn cả thời Bắc thuộc.
Triều Lư vẫn được coi là một thời
thịnh trị của nước ta v́ đă lập ra
triều chính, kỷ cương, văn hóa, thi cử
như một quốc gia thực sự. Điều đó
đúng, những nếu nh́n kỹ hơn một chút th́
trong hơn hai thế kỷ dưới thời Lư dân ta
cũng không sung sướng là bao. Chiến tranh cũng
rất thường xuyên: đánh dẹp Nùng Trí Cao, đánh
dẹp các tù ương không thần phục, đánh Chiêm
Thành, Ai Lao, rồi lại đánh Chiêm Thành, rồi đem
quân đánh Tống, rồi kháng cự với quân xâm
lăng Tống và mất Cao Bằng, Lạng Sơn,
rời lại đánh Chiêm Thành, rồi giặc Thân Lợi,
giặc Phạm Du, cuộc nổi loạn của đám
tướng Phạm B́nh Di - Quách Bốc làm nhà vua phải
bỏ cả kinh dô mà chạy, cầu cứu họ
Trần rồi mất ngôi về tay nhà Trần.
Công lao lớn nhất của nhà Trần là đă phá
được quân Mông Cỗ trong ba cuộc chiến tranh
khóc liệt bậc nhất trong lịch sử nước
ta. Nhưng cũng không phải chỉ có thế. Anh em nhà
Trần có lúc c̣n đánh lẫn nhau, giặc giă ở trong
nước cũng không ít: giặc Mường, giặc
Đoan Thượng, giặc Nguyễn Nọn, giặc
Phạm Sư ổn, Dương Nhật Lệ, rồi
nhưng cuộc chiến tranh liên miên với Chiêm Thành, trong
đó quân Trần bại nhiều hơn thắng, kinh
đô Thăng Long bị tàn phá nhiều lần. rồi
đánh nhau với Ai Lao. Ngày nay nhiều người
vẫn coi nhà Trần là một thời thịnh trị,
gần như nhà Lư, v́ nhà Trần đều có công đánh
được quân Nguyên, nhưng xét ra có lẽ chưa
đời nào dân ta khổ bằng dưới thời nhà
Trần.
Nhà Trần mất, nhà Hồ lên, quân Minh sang đánh
chiếm nước ta. Lập tức Giản Định
Đế, Trùng Quang Đế nổi lên rồi bị
dẹp. Kế tiếp là cuộc kháng chiến mười
năm của Lê Lợi. Giành được độc
lập rồi, nhà Hậu Lê cũng phải đương
đầu với vô số cuộc nổi dậy, nhất
là cuộc nổi dậy của Trần Cao, kinh thành bị
tàn phá mấy lần. Nhà Lê mất, một cuộc nội
chiến phù Lê diệt Mạc bùng lên, kế tiếp là
Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi cuộc nồi dậy
của anh em Tây Sơn, cuộc chiến tranh với quân
Thanh và quân Xiêm, cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và
dư đảng phù Lê, cuộc nội chiến khốc
liệt giữa Tây Sơn và Nguyễn ánh.
Nhà Nguyễn thống nhất được đất
nước, làm vua được tám mươi năm th́
mất nước vào tay người Pháp, sau khi đă
phải đánh dẹp chật vật nhiều cuộc
nỗi dậy khác, nhất là cuộc ly khai của Lê
Văn Duyệt được Lê Văn Khôi tiếp nối.
Sau thế chiến II, chúng ta chiến tranh khốc liệt
cho tới năm 1975.
Trong suốt ḍng lịch sử của ta, dân ta
được bao nhiêu năm ḥa b́nh? Có lẽ chỉ
được khoảng một trăm năm mươi
năm yên ổn dưới thời Lư, gần một
thế kỷ dưới thời Trần, tám mươi
năm dưới thời Hậu Lê, xấp xỉ bảy
mươi năm (1672- 1739) tại miền Bắc trong
thời Trịnh Nguyễn phân tranh (dưới thời các
chúa Trịnh Tạc, Trịnh Cán, Trịnh Cương). Và
sáu mươi năm dưới thời Pháp thuộc,
nhưng lại là ḥa b́nh trong ngoại thuộc. Xét ra, trong
hai ngàn năm trăm năm lịch sử của ta, chúng ta
chỉ có được khoảng bốn trăm năm
vừa có độc lập vừa có ḥa b́nh tương
đối. Thế nhưng ngay cả khi có ḥa b́nh
tương đối, chúng ta cũng luôn luôn phải
chịu đựng những chế độ hà khắc.
Chúng ta rất ít có hoà b́nh và chưa bao giờ có tự do.
Gần đây, dưới chế độ cộng
sản, chúng ta cũng đă phải chịu một
cuộc chiến tranh biên giới ngắn nhưng dữ
dội với Trung Quốc, một cuộc chiến tranh
dai dẳng tại Cam-bốt, và một cuộc nội
chiến rất đặc biệt tuy không có tiếng bom
đạn nhưng cũng diễn ra một cách thảm
khốc trong ḷng người. Hàng trăm ngàn người
đă bị tù tội, hàng triệu người bị
cướp đoạt tài sản, bị phân biệt đối
xử, bị trù dập và cấm đoán. Hơn một
triệu người bỏ nước ra đi. Biết
bao nhiêu là đau thương và thù hận.
Cuộc hành tŕnh vội vă qua lịch sử này có mục
đích để chúng ta mở mắt và nhỏ lệ cho
thân phận của đất nước ḿnh. Chúng ta
chiến tranh nhau quá. Không có dân tộc nào trên mặt
đất này chịu nhiều chiến tranh như chúng ta.
Chiến tranh đă khiến chúng ta trở thành một dân
tộc không b́nh thường. Câu hỏi tại sao
nước ta có địa thế tốt, con người
cần mẫn và tinh khôn mà lại không vươn lên
được có lẽ đă có câu trả lời.
Chiến tranh đă đầy đọa chúng ta trong
suốt ḍng lịch sử để rồi trở thành
một bản năng của chúng ta. Những người
lănh đạo cộng sản lấy những quyết
định chiến tranh một cách thản nhiên dễ
sợ. Nhưng họ cũng không khác bao nhiêu so với
những người Việt nam khác, họ chỉ thể
hiện một chứng bệnh tâm thần tập thể
của chúng ta mà thôi.
Thử nh́n những cuộc tranh căi chính trị tại
hải ngoại. Chỉ v́ một ư kiến không hợp ư
ḿnh, người ta có thể công kích nhau một cách thậm
lệ, dữ dằn. Nếu có binh quyền trong tay
chắc chắn là người ta không ngần ngại tuyên
chiến.
Mộng ước của mọi người Việt nam
hôm nay là đổi hướng đi của lịch
sử và mở ra một kỷ nguyên của tiến bộ
và hạnh phúc. Đó là một cuộc đổi
đời rất lớn. Nhưng có cuộc đổi
đời nào không đ̣i hỏi một thay đổi
lớn về tâm lư? Nếu biết nhỏ lệ xót
thương cho số phận của đất
nước ta, biết dứt khoát tiêu diệt cái bản
năng chiến tranh trong con người của môi chúng ta,
biết lấy đối thoại, tương kính,
tương nhượng làm căn bản dựng
nước mới là chúng ta đă rút được bài học
lịch sử quí giá nhất và đă vượt
được trở ngại kinh khủng nhất.
Phần 2 Con
đường đă qua
ảo ảnh Lư Trần
Đối
với đại đa số người Việt,
thời đại Lư Trần là thời đại vinh quang
nhất của nước ta. Tôi đă được nghe
nhiều người nói và đọc nhiều bài viết
bày tỏ mong ước đưa đất nước
trở lại thời đại thịnh trị đó.
Nguyễn Hữu Thanh, người sáng lập ra
Đảng Duy Dân và tư tưởng Duy Dân, lấy tên là
Lư Đông A. Đông A có nghĩa là Trần, Lư Đông A có
nghĩa là Lư Trần. Sự tôn kính thời đại Lư
Trần có lư do của nó. Nhà Lư có công biến nước ta
thành một quốc gia thực sự có kỷ cương,
có tổ chức, có văn hóa. Nhà Trần có công đánh
bại quân Nguyên - một đạo quân bách chiến bách
thắng đă từng đánh bại cả thế
giới, trừ nhật bản. Chiến thắng quân nguyên
là một trang sử oai hùng mà người Việt nam có quyền
hănh diện. Tuy nhiên sự tôn thờ thời đại Lư
Trần mang ba ngộ nhận lớn.
Thứ nhất là coi thời đại Lư Trần là
một thời an b́nh. Điều này chỉ đúng một
phần. Nhà Lư trị v́ nước ta được hai
trăm mười sáu năm, nhưng nếu cộng
tất cả các năm mà lịch sử không chép có giặc
giă, chiến tranh th́ chỉ được khoảng
một năm năm mươi năm mà thôi. C̣n lại
là gần bảy mươi năm chinh chiến. Trong
lịch sử nước ta, tỷ lệ những năm
ḥa b́nh như vậy là rất cao, tuy nhiên so với tiêu
chuẩn của các nước khác, tỷ lệ đó
phải được coi là rất khiêm nhường. Nhà
Trần làm vua được một trăm bảy
mươi lăm năm th́ chỉ có được
khoảng chín mươi năm ḥa b́nh mà thôi. Gần như
một nửa thời gian là chiến tranh, loạn lạc.
Và chiến tranh rất khốc liệt. Trăi với một
nhận định phổ thông, cuộc chiến tranh
chống quân Nguyên không phải thảm khốc nhất. Ba
cuộc chiến tranh với quân Nguyên chỉ kéo dài tổng
cộng năm năm. Phần c̣n lại là nội chiến
hoặc chiến tranh với Chiêm Thành. Những cuộc
chiến tranh này thảm khốc không kém cuộc chiến
tranh kháng Nguyên và kéo dài hơn. Kinh đô không biết bao nhiêu
lần bị tàn phá. Dân chứng có lẽ c̣n cơ cực
hơn cả trong cuộc chiến tranh chống quân Nguyên v́
quân Chiêm Thành, khác với quân Nguyên, không chủ trương
tiêu diệt quân nhà Trần mà chỉ sang cướp bóc và
đốt phá.
Ngộ nhận thứ hai là dưới thời Lư Trần
nước ta đă lớn mạnh và văn minh lên.
Điều này không đúng. Nh́n kỹ th́ nước ta không
tiến bộ nhanh hơn so với thời Bắc
thuộc. Trong thời kỳ Bắc thuộc lần
thứ ba (604-909), nước ta đă tiến bộ
rất nhiều. Từ một xă hội bán khai, Việt nam
đă trở thành một xă hội có văn hóa. Nhiều
người Việt đă đậu những khoa thi
lớn của Trung Quốc. Xă hội Việt nam đă
trưởng thành, ư chí độc lập đă mạnh
tới độ hệ thống cai trị của Trung Hoa
tự nó tan ră. Trong khoảng thời gian năm trăm
năm độc lập, trong đó bốn trăm năm
là thời đại Lư Trần, nước ta đă
tụt hậu rất nhiều, rồi mất độc
lập. Sau khi Lê Lợi đuổi được quân Minh
và tái lập được chủ quyền, Nguyễn Trăi
đă kể tội quân Minh trong bài B́nh Ngô Đại Cáo
như sau: Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biền
ṃ châu [...]. Nay xây nhà mai đắp đập, chân tay nào
phục dịch cho vừa... Lời kể tội này cho
thấy trong khoảng thời gian đó Trung Hoa đă
vượt xa Việt nam rất nhiều. Họ đă
biết khai thác mỏ và luyện kim, đă biết
đặt vấn đề xây dựng công cộng.
Ngộ nhận thứ ba, cũng là ngộ nhận lớn
nhất và vẫn c̣n được nhắc đi nhắc
lại cho tới ngày nay, là thời Lư Trần đă lấy
Phật Giáo làm quốc giáo. Sự thực th́ chỉ có các
vua đầu của nhà Lư là đă tôn thờ đạo
Phật mà thôi, nhưng dù có tôn thờ Phật Giáo đi
nữa, Phật Giáo cũng không được lấy làm
căn bản cho chính trị. Khổng Giáo mới là căn
bản. Có thể nói chính nhà Lư đă biến Khổng Giáo
thành quốc giáo và mở đầu sự suy thoái của
Phật Giáo. Dưới thời Bắc thuộc, Khổng
Giáo là đạo lư của kẻ thống trị
phương Bắc, Phật Giáo là tôn giáo của quần
chúng Việt nam. Từ nhà Lư trở đi, Khổng Giáo
trở thành đạo lư dân tộc và dần dần
đẩy lui ảnh hưởng của Phật Giáo. Ngay
cả các vị vua đầu nhà Lư, dù có tôn kính Phật
Giáo, vẫn ra sức xây dựng Nho Giáo trước
hết. Họ lập đền thờ Khổng Tử và
Chu Công, xây dựng nền học vấn Nho Giáo, xây dựng
xă hội và đất nước theo khuôn mẫu Nho Giáo.
Các kỳ thi tuyển chọn nhân tài trị nước
chỉ đ̣i hỏi những kiến thức của Nho
Giáo mà thôi chứ hoàn toàn không đ̣i hoi một kiến
thức Phật Giáo nào. Phật Giáo chỉ được
coi như một tín ngưỡng cá nhân. Các nhà vua trị
nước theo khuôn mẫu Khổng Giáo, vị nào sùng
đạo Phật lắm th́ cũng chỉ giữ cho ḿnh.
Một số cao tăng Phật Giáo được dùng làm
quốc sư, nhưng chính họ cũng chi khuyên vua nên làm
thế nào để trị nước cho hay trong khuôn mẫu
Khổng Giáo mà thôi. Chính dưới thời Lư nước
ta đă xác nhận khuôn mẫu xă hội Khổng Giáo cho
suốt ḍng lịch sử sau này.
Đến đời nhà Trần th́ phật Giáo không
những bị loại hẳn khỏi chính trị mà c̣n
bị chèn ép. Cuối đời nhà Trần có việc ép
buộc một số lớn tăng sĩ Phật Giáo
bỏ tu hành. Khinh bỉ Phật Giáo dưới thời
Trần lớn đến độ các danh sĩ lớn
được mọi người kính trọng mạt sát
Phật Giáo một cách công khai. Trương Hán Siêu, một
đại thần được coi là tài giỏi, thanh
liêm, đức độ, c̣n cho dựng bia khích bác Phật
Giáo ngay tại cửa chùa, một điều mà ngày nay ngay
cả chế độ cộng sản dù coi tôn giáo là thù
địch cung không làm. Vậy mà vào thời Trần,
việc làm của Trương Hán Siêu được coi là
chính đáng, hay ít ra b́nh thường.
Nhà Trần lại nổi bật ở đặc
điểm loạn luân và tàn ác. Anh em, cô cháu cứ lấy
nhau một cách bừa băi. Không những thế, nhà Trần
c̣n ép buộc dân chúng phải lấy nhau trong cùng một
họ. Phong hóa nước ta chưa bao giờ đồi
trụy đến thế.
Nhận định như vậy không phải là để
phủ nhận thời đại Lư Trần. Thời
đại này đă đem lại cho chúng ta nhiều
tiến bộ. Hội nghị Diên Hồng đă là
bước tiến đáng kể theo hướng dân
chủ, tiếc thay không được nối tiếp.
Thời đại Lư Trần cũng đem lại cho chúng
ta một thời gian ḥa b́nh khá lâu, và biến nước ta
thành một quốc gia chính thức theo nghĩa đúng
của nó. Thời đại Lư Trần có nhiều
điểm khả quan nhưng chỉ là khả quan
tương đối so với lịch sử đau
khổ của chúng ta mà thôi. Không có lư do ǵ để nói
rằng đố là một thời đại hoàng kim
của nước ta.
Càng không có lư do để muốn đem đất
nước trở về thời đại Lư Trần.
Sự kiện lập trường này thỉnh thoảng
vẫn c̣n xuất hiện từ cửa miệng và ng̣i bút
của một số trí thức mà không gặp sự bác
bỏ gay gắt đáng lẽ phải có đủ tố
cáo sự non nớt về trí tuệ của chúng ta. Trong
thời đại chuyển biến dồn dập ngày nay,
nhất là khi thế giới đă bắt đầu
rời kỷ nguyên kỹ nghệ để tiến vào
kỷ nguyên trí tuệ, ngay cả những khuôn mẫu
tuyệt hảo cách đây vài chục năm cũng
phải bỏ đi để t́m đường lối
mới, huống chi một khuôn mẫu, tự nó chẳng
có ǵ sáng tạo và cũng chỉ thành công một cách vừa
phải cách đây tám thể kỷ. ảo ảnh Lư
Trần chứng tỏ chúng ta hủ lậu, bảo
thủ và mê muội một cách thực đau ḷng.
Phần 2 Con
đường đă qua
Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung
Trong
một thời gian cách nhau hơn một thế kỷ,
nước ta đă có hai trường hợp cướp
ngôi. Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400,
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê năm 1527. Hai
trường hợp khởi đầu trong một
kịch bản tương đối giống nhau: một
ḍng họ hư đốn làm cho đất nước suy
đồi, rồi một đại thần phế
bỏ vua, tự lập lên ngôi. Trong cả hai trường
hợp, vị vua cũ bị giết hại. Trong cả
hai trường hợp, các triều thần của ḍng vua
cũ được mời ở lại giúp vua mới.
Nhưng kết quả đă khác nhau, và sự phán xét
của lịch sử đă rất lạ lùng.
Hồ Quí Ly là một đại thần bất lực, bên
trong làm cho đất nước suy đồi, bên ngoài th́
không giữ được bờ cơi. Quân Chiêm Thành ra vào
cướp phá như chỗ không người, kinh đô mấy
lần bị rơi vào tay quân địch, Hồ Quí Ly
chỉ biết dắt vua bỏ chạy. Chẳng có công lao
ǵ với đất nước nhưng Hồ Quí Ly
cũng đă trấn áp được vua Trần rồi
cướp ngôi. Hồ Quí Ly cũng tỏ ra đặc
biệt bội bạc với đất nước
Việt nam đă cho ông ta tất cả, ông ta vẫn tự
coi là người Tàu dù tổ tiên đă lập nghiệp
tại Việt nam từ bốn đời. Cướp
được ngôi vua, Hồ Quí Ly, trước đó mang
họ Lê theo bố nuôi, đă lấy lại họ Hồ
theo họ cũ của ḿnh và đổi tên nước ta
từ Đại Việt thành Đại Ngu theo tên cố
quốc của ḿnh, rồi thi hành một chính sách
cướp bóc ra mặt đối với dân chúng. Nguyên
Trăi kể tội Hồ Quí Ly: Vừa qua nhà Hồ v́ chính
sách phiền hà làm cho ḷng người oán giận. Kết quả
là Hồ Quí Ly làm mất nước, nước ta lại
rơi vào ṿng Bắc thuộc sau gần năm trăm
năm độc lập. Tội của Hồ Quí Ly
đối với Việt nam thực là lớn. Thế
nhưng xem ra Hồ Quí Ly chỉ bị lên án vừa
phải thôi, không những thế c̣n được khen là
con người lỗi lạc, một trí tuệ siêu
việt và sáng tạo.
Mạc Đăng Dung, hơn một trăm năm sau, có
công giúp vua dẹp loạn rồi được tin dùng và
lợi dụng cơ hội để cướp ngôi.
Cũng như trường hợp Hồ Quí Ly, đám con
cháu của triều đ́nh cũ sang Tàu cầu cứu và
quân Tàu rục rịch đánh nước ta. Mạc
Đăng Dung tự trói ḿnh xin thần phục Trung
Quốc và giữ được nước. Nhà Mạc sau
đó không tỏ ra dấu hiệu hà khắc nào, không
gặp giặc giă nào đáng kể, dân t́nh không đến
nỗi khổ sở. Nhưng nhà Mạc đă gặp
cuộc chiến tranh qui mô để tái lập nhà Lê do
Nguyễn Kim, rồi Trịnh Kiểm và Trịnh Tùng lănh
đạo, rồi bị tiêu diệt sau sáu mươi
lăm năm. Mạc Đăng Dung đă bị tất
cả các sử gia và trí thức mạt sát thậm tệ.
Cách phán xét nhà Hồ và nhà Mạc cho tới nay ít làm ai
ngạc nhiên. Cũng cùng thoán nghịch mà sao người làm
mất nước lại không bị lên án gay gắt
bằng người không làm mất nước? Đối
với người lănh đạo quốc gia có tội nào
lớn hơn tội làm mất nước? Người ta
lên án Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung đă phản
bội vua và cướp ngôi. Điều này vào thời
đại đó và với khuôn mẫu đạo lư đó
là đúng. Nhưng ngày nay nh́n lại th́ sao? Nếu chúng ta
coi khuôn mẫu Khổng Giáo vẫn c̣n là tốt cho
đất nước và cần được duy tŕ th́
cả Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung đều
đáng lên án. Ngược lại nếu chúng ta coi khuôn
mẫu Khổng Giáo là khuôn mẫu cỗ hủ đáng
lẽ không được duy tŕ quá lâu như vậy, th́
hành động thoán nghịch của Hồ Quí Ly và Mạc
Đăng Dung phải được coi là đáng khen v́ nó
là một thách thức đối với khuôn mẫu
Khổng Giáo. C̣n nếu chúng ta không có ư kiến dứt khoát
th́ hành động thoán nghịch chẳng là công mà cũng
chẳng là tội. Nó chỉ là một biến cố chính
trị. Vậy th́ ngoại trừ đối với
một số người thủ cựu một cách mê
muội, cái tội thoán nghịch không nên đặt ra
nữa. Cái ǵ bắt một dân tộc phải tiếp
tục chịu đựng những ông vua tồi tệ
như cuối đời Trần hay cuối đời
Hậu Lê? Đạo lư nào bắt buộc như vậy
chỉ là một đạo lư tồi tệ. Xét công,
tội của Hồ Quí Ly và Mạc Đăng Dung phải
dựa vào những ǵ họ để lại sau đó.
Hồ Quí Ly không làm được ǵ cho đất
nước, chỉ làm khổ dân và rồi làm mất
nước. Người ta ca tụng Hồ Quí Ly là có
nhiều ư kiến sáng tạo: đổi lại hệ
thống giáo dục một cách thực dụng hơn,
đem toán học, địa lư và nông nghiệp vào giáo
dục, lập các trạm y tế ở khắp nơi.
Nhưng câu hỏi đặt ra là nếu quả thực
đó là những ư kiến mà Hồ Quí Ly cho là ích quốc
lợi dân th́ tại sao trong mấy chục năm làm thái
sư, có tất cả mọi quyền trong tay, kể
cả quyền giết vua mà Hồ Quí Ly đă sử
dụng một cách thường xuyên, Hồ Quí Ly không
đem áp dụng? Đó là một câu hỏi lớn mà
sẽ không bao giờ la t́m được câu trả lời
chính xác. Một trong những giải thích có thể là
Hồ Quí Ly cũng chẳng thực sự coi trọng
nhưng biện pháp canh tân sau đó Quí Ly cũng coi
trọng cái học từ chương như mọi
người thời đó, những biện pháp mà Quí Ly
đưa ra chỉ là để đánh đổ các giá trị
cũ để đào thải lớp nho sĩ thời
đó, được quí trọng v́ cái học từ
chương và trong đại đa số không ủng
hộ Quí Ly.
Người ta cũng ca tụng Quí Ly đă biết phát minh
ra tiền giấy. Có người c̣n nói Quí Ly dáng
được coi là thủy tổ của ngành ngân hàng!
Những điều này hoàn toàn sai và chứng tỏ
rằng những người nói như vậy chỉ phát
ngôn bừa băi chứ họ không biết ǵ về ngân hàng và
tiền tệ. Tiền giấy của Quí Ly không khác ǵ
tiền mă đă có từ lâu rồi để cúng tế
người chết mà thôi, nó hoàn toàn không có một giá
trị thanh toán nào cả. Hành động của Quí Ly
chỉ là một hành động của kẻ tham lam
muốn cướp hết vàng bạc trong nước cho
ḿnh và những đồng tiền giấy chỉ là
những chứng nhận đă nộp vàng để
được yên thân mà thôi.
Nếu quả thực những điều Quí Ly làm là
những biện pháp canh tân thực sự, th́ một trí
tuệ đủ khả năng nh́n ra những biện pháp
đó cũng phải ư thức được, ít nhất
một phần nào, những khó khăn của việc
thực hiện và đă không thi hành một cách vội vă,
cẩu thả như Quí Ly đă làm. Trên thực tế,
ngoại trừ việc cướp bóc vàng bạc, Quí Ly
chẳng làm được ǵ cả. Nhà Hồ cung chỉ
kéo dài được bảy năm. Người ta trách
Mạc Đăng Dung là làm nhục quốc thể, qú
lạy tướng Trung Hoa và cắt đất dâng cho Trung
Quốc. Việc qú lạy tướng Tàu là tồi
thực, nhưng đó là điều mà các vua Việt nam
ngày trước vẫn thường làm trước sứ
giả Trung Quốc, không phải riêng ǵ Mạc Đăng
Dung. Mạc Đăng Dung đă quỵ luỵ hơn các
vua khác v́ lúc đó ông ta không đứng trước một
sứ giả mà trước một đạo quân hùng
mạnh sắp tràn vào Việt nam xâm chiếm. Hành
động hèn nhát của Đăng Dung đă cứu
được đất nước khỏi chiến
tranh và ngoại thuộc. Hèn thực, nhưng cũng may thay
cho nước ta. Người ta lên án Mạc Đăng
Dung đă dâng đất cho Trung Hoa. Nhưng sự dâng
đất này chỉ là h́nh thức và không đáng kể.
Mạc Đăng Dung chỉ dâng năm động ở Cao
Bằng. Năm cái động đó có đáng ǵ đâu so
với ngay cả những đất đai mà nhà Lư,
được coi là oanh liệt, đă phải
nhượng cho Trung Quốc để cầu ḥa, sau
nhiều cố gắng chiến dấu. Vả lại,
người Trung Hoa chẳng bao giờ sang tiếp thu
năm cái hang núi này cả, cho nên trên thực tế, Mạc
Đăng Dung không làm mất một tấc đất nào.
Người ta coi Hồ Quí Ly hơn Mạc Đăng Dung,
ở chỗ Hồ Quư Ly đă dám đánh lại quân Tàu, dù
là đánh để rồi thua và mất nước.
Người ta sỉ vả Mạc Đăng Dung là đă
hèn nhát xin hàng tướng Tàu, dù nhờ đó mà Việt nam
tránh được chiến tranh và không mất
nước. Mà thực sự Hồ Quí Ly có đánh
được ǵ đâu, quân Minh đi đến đâu,
quân Hồ bỏ chạy đến đó, như ngày
trước quân Chiêm liến đến đâu, Hồ Quí Ly
chạy đến đó, chỉ trong vài tháng cả vua quan
bị bắt trói giải về Tàu.
Tại sao lại có việc trọng Hồ Quí Ly, khinh
Mạc Đăng Dung? Có hai lư do. Lư do thứ nhất là tinh
thần quốc gia chúng ta không cao. Ta không coi trọng
những ǵ có lợi cho đất nước mà chỉ
để ư xem cái ǵ là độc đáo trong một con
người; chúng ta vẫn suy luận như những cá
nhân chứ không phải như một dân tộc. Lư do
thứ hai là óc tôn thờ chiến tranh đă nói ở
một phần trước trong sách này. Đánh bao giờ
cũng có sức quyến rũ hơn ḥa, dù là đánh ngu
xuẩn như Hồ Quí Ly. Cho đến ngày nay, lập
trường trọng Hồ khinh Mạc vẫn c̣n ngự
trị, điều đó chứng tỏ trí tuệ tập
thẻ chúng ta vẫn c̣n mê muội, tâm lư của chúng ta
vẫn chưa được khai thông.
Phần 2 Con
đường đă qua
Người trong một nước?
Ông
Hồ Chí Minh để lại một câu nói nổi
tiếng, đă rất nhiều lần được
nhắc lại và phá vài kỷ lục về in ấn:
Nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là
một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn, nhưng chân
lư ấy không thể nào thay đổi, ông ấy không nói
thêm nhưng mọi người đều hiểu:
nước Việt nam phải thống nhất
dưới sự lănh đạo của Đảng
cộng Sản Việt nam. Đó là một câu nói bày tỏ
quyết tâm sắt đá áp đặt bằng mọi giá
chế độ cộng sản trên toàn cơi Việt nam.
ở vào thời điểm 1969, khi cuộc chiến Nam
Bắc đang diễn ra khốc liệt, đó là một
khẩu hiệu chiến tranh. Mọi người
đều đă hiểu như vậy và đúng là phải
hiểu như vậy.
Ngoài ra, câu nói Nước Việt nam là một chỉ có
thể là một quyết tâm chứ không phải là một
sự thực nếu nh́n vào lịch sử nước
Miền Nam Việt nam được mở ra cùng với
thế kỷ 17, khi Nguyễn Hoàng, c̣n gọi là chúa Tiên,
bắt đầu khai phá, một thời gian sau khi đem
dân vào Nam tránh họa Trịnh Kiểm. Con cháu Nguyễn Hoàng
thiết lập ra một đất nước riêng
biệt, đánh nhau với họ Trịnh để
giữ bờ cơi trong gần một thế kỷ, sau
đó Đàng Trong (tức miền Nam) và Đàng Ngoài
(tức miền Bắc) sống như hai quốc gia riêng
biệt và thù địch cho tới khi nhà Nguyễn bị
Tây Sơn tiêu diệt vào năm 1778. Kế đó anh em Tây
Sơn chia rẽ nhau và đất miền Nam của chúa
Nguyễn bị chia làm hai, phía Bắc thuộc Nguyễn
Huệ, phía Nam thuộc Nguyễn Nhạc và Nguyễn
Lữ. Ngay khi nhà Tây Sơn dựng lên, Nguyễn ánh khởi
binh khôi phục nhà Nguyễn, mấy lần chiếm
lại Gia Định rồi lại bị đánh bại.
Nhưng khi anh em Tây Sơn chia rẽ nhau, Nguyễn ánh đă
làm chủ được vùng đất từ Biên Ḥa
trở vào cho tới mũi Cà Mau. Cho tới trận
Đống Đa, năm 1789, nước ta thực sự
bị chia làm bốn nước. Miền Bắc của vua
Lê, từ Nghệ An cho tới Quang Nam của Nguyễn
Huệ, miền Nam Trung Phần của Nguyễn Nhạc,
và Nam Phần thuộc về Nguyễn ánh. Có lúc chúng ta có
tới ba hoàng đế: Chiêu Thống tức Lê Duy Kỳ,
Quang Trung tức Nguyễn Huệ và Thái Đức Hoàng
Đế tức Nguyễn Nhạc, và một vương:
Nguyễn ánh. Sau trận Đống Đa, Nguyễn
Huệ diệt nhà Lê, ta c̣n lại hai hoàng đế và
một vương. Đến năm 1802, Gia Long mới
thống nhất được sơn hà. Như thế có
nghĩa là một nửa của đất nước mới
bắt đầu được hội nhập dần
dần theo một tiến tŕnh bắt đầu từ
cách đây hơn bốn trăm năm và mới kết thúc
cách đây hai trăm năm. Trong khoảng thời gian
bốn thế kỷ qua, cùng với sự mở rộng
đất nước, chúng ta chia đôi trong hơn hai
thế kỷ, có lúc chia ba, có lúc chia bốn. Gia Long thống
nhất đất nước được sáu
mươi hai năm th́ Nam Phần bị Pháp chiếm làm
thuộc địa, rồi hai mươi năm sau đó
cả nước bị Pháp đô hộ và chia ra làm ba
Kỳ: miền Bắc, miền Trung và miền Nam với ba
chế độ chính trị khác nhau. Sau thế chiến
hai, nước Việt nam bị chia làm hai vùng quốc gia
và cộng sản, dưới hai chế độ khác nhau.
Từ năm 1954 đến năm 1975, hai vùng quốc gia và
cộng sản tập trung lại thành hai miền Nam
Bắc tiếp giáp nhau ở sông Bến Hải, vĩ
tuyến 17. Đất nước lại thống nhất
trở lại từ năm 1975.
Nói chung là từ ngày bắt đầu mở ra miền Nam,
cách đây trên bổn trăm năm, chúng ta có
được tám mươi năm thống nhất. Tám
mươi năm trong thời gian hơn bốn trăm
năm kể ra là quá ít, nhưng con số rất khiêm
nhường đó cũng đă bỏ qua đi những
chuyện các sứ quân nói lên hùng cứ một phương
như vẫn xảy ra thường xuyên dưới
triềư Nguyễn. Nó cũng không kể tới sự
kiện là ngay cả khi có thống nhất về mặt
hành chánh chúng ta cũng không có thống nhất trong dân
tộc. Dưới thời nhà Nguyễn, nhân dân bị chia
làm hai loại, giữa những người không có hay có
đạo Công giáo. Khoảng một trăm ngàn
người Công giáo đă bị sát hại ch́ v́ tín
ngưỡng của họ. Từ sau 1975, dân tộc
cũng bị chia làm hai loại người, những
người cộng sản rất thiểu số nhưng
lại chiếm tất cả mọi quyền hành và
những người không cộng sản chiếm
đại đa số nhưng lại chỉ có quyền
phục tùng.
Tóm lại, từ bốn thế kỷ qua, đất
nước Việt nam ít khi là một, c̣n dân tộc
Việt nam th́ chưa bao giờ là một cả. Không
những có chia cắt và chia rẽ, mà c̣n chia cắt
để tàn sát lẫn nhau, chia rẽ để chà
đạp và bách hại lăn nhau. Làm sao có thể ngạc
nhiên nếu chúng ta không vươn lên được?
Cái quá tŕnh chia cắt và chia rẽ đó khiến chúng ta nh́n
nhau không phải như người cùng một nước,
mà là những người quốc gia hay cộng sản,
người Bắc hay người Nam hay người Trung,
người Công Giáo hay người Phật tử,
người giàu hay người nghèo. Không những chia
rẽ nhau mà c̣n thù ghét nhau.
Năm 1946, khi người Pháp trở lại Nam Phần,
họ lập tức t́m được những
người cộng tác để lập ra Nam Kỳ
Cộng Ḥa Quốc! với chủ trương tách Nam
Phần thành một quốc gia riêng. Phong trào đầu tiên
mà chính quyền này phát động là bách hại những
người gốc miền Bắc không may có mặt
tại Sài g̣n. Kỹ thuật rất giản dị,
một người khả nghi bị chặn lại và
bị bắt phải nói ba tiếng Tân Sơn Nhất. Nếu
phát âm là Tâng Sưng Nhức th́ được coi là
người Nam, tức là người tốt; c̣n nếu
phát âm là Tân Sơn Nhất là bị nhận ra là Bắc
kỳ và bị ăn đ̣n. Điều đáng buồn là
đây không phải chỉ là một chủ trương
tồi tệ của một thiểu số manh
động, đa số những người tham dự
vào cái tṛ chơi đánh Bắc kỳ này là những
người rất b́nh thường. Tất cả
những nạn nhân đều không phải là những
người giàu có và thế lực, những người
này có đầy đủ mọi quan hệ cần
thiết để che chở cho họ, họ vẫn
sống yên ổn. Tất cả những nạn nhân
đều là những người cùng khổ bị đem
vào làm phu ở trong Nam. Năm 1945, sau khi tuyên bố thành
lập nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa và nam
được chính quyền, đảng cộng sản
đă tàn sát thẳng tay những phần tử Việt nam
Quốc Dân Đảng và Đại Việt, mà họ
thừa biết là rất yêu nước, v́ không chấp
nhận chủ nghĩa của họ.
Ông Hồ Chí Minh coi tất cả những người
cộng sản trên thế giới là anh em (ông từng
viết: Năm châu bốn bề là nhà, bốn phương
vô sản đều là anh em), nhưng ông lại coi
những đồng bào Việt nam của ông không chia
sẻ lư tưởng Mác-Lênin của ông là thù địch và
ông giết họ không gớm tay. Ngay cả những
người cộng sản Đệ Tứ, cũng tôn
sùng Mác và Lênin như ông nhưng không thuộc trường
phái Stalin, ông cũng thẳng tay tiêu diệt. Dĩ nhiên
để có lư cớ tàn sát họ, ông buộc cho họ
đủ thứ tội phản động, phản
quốc, Việt gian, v.v. Yêu nước trước
hết là phải yêu đồng bào. Ai muốn nói ông Hồ
Chí Minh tài giỏi, quyết tâm, can đảm là quyền
của họ, nhưng không ai có thể thuyết phục
tôi rằng ông là một người yêu nước.
Phải nghĩ thế nào về cuộc cải cách
ruộng đất tại miền Bắc năm 1955?
Những tài liệu và nhân chứng khác nhau ước
lượng số người bị giết từ 20.000
đến 100.000. Trong đại bộ phận họ không
phải là những người giàu - mà giàu có phải là
một tội đáng chết không? - họ chỉ là
những người có năm, mười mẫu
ruộng, tuy không đến nỗi cùng khổ như
những người bần cố nông khác nhưng cũng
là những người nghèo. Tôi đă gặp rất
nhiều người từng chứng kiến những
vụ đấu tố hồi đó, họ cho hay rằng
có những người dân quê rất b́nh thường đă
tham gia một cách man rợ vào những cuộc giết
người đó, không phải v́ bị ép buộc mà
với những con mắt rực lửa hận thù.
Nếu cải cách điền địa chỉ là do đă
tâm của đảng cộng sản và của các ông
Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết
Thắng th́ cũng đă là ghê gớm lắm rồi. Nhưng
thực tế c̣n đau ḷng gấp ngh́n lần. Nó chứng
tỏ rằng người Việt nam ác độc với
nhau, và do đó không đáng với tên gọi là một dân
tộc.
Ngay gần đây, vào năm 1992, tại trại cấm
Hồng Ông, nơi hàng chục ngàn người Việt nam
tị nạn bị nhốt vào các trại tù để
sắp sửa bị đuổi về cũng đă
xảy ra một trường hợp hổ nhục.
Những con người cùng xấu số và đều
khổ như nhau đó đă không thương nhau mà c̣n tàn
sát nhau giữa người ra đi từ miền Bắc
và người ra đi từ miền Nam.
Tôi may mắn được đi du học rồi lớn
lên và làm việc tại các nước phương Tây.
Điều tôi học hỏi được không phải
ở trong những cuốn sách mà ở trong những cái
nh́n. Người Mỹ nh́n nhau là người Mỹ,
rất ít khi họ để ư nhăn hiệu dân chủ hay
cộng ḥa, người ở bang New York hay người
ở bang Michigan. Người Pháp nh́n nhau như những
người Pháp trước khi là người ủng
hộ đảng Xă Hội hay đảng De Gaulle,
người Anh nh́n nhau như những người Anh
trước khi là những người lao động hay
bảo thủ. Họ là những dân tộc. Hơn hai ngàn
năm lịch sử dựng nước của ta không
đem ta lại gần nhau mà c̣n khiến ta thù địch
với nhau. Chúng ta phải nh́n lại ḿnh và nghĩ lại
ḿnh.
Dĩ nhiên chúng ta đều muốn nước Việt nam
thống nhất và dân tộc Việt nam ḥa hợp. Đó
là điều kiện bắt buộc. Hoặc là thế,
hoặc là chúng ta sẽ không có một tương lai nào
cả. Nhưng nước Việt nam là một, dân tộc
Việt nam là một là điều mà chúng ta phải xây
dựng ra chứ chưa sẵn có. Và để xây dựng
đất nước Việt nam đó chúng ta cần
một tinh thần mới. Đó là tinh thần chấp
nhận nhau, quí mến nhau, tôn trọng những dị
biệt của nhau để cùng nhau xây dựng một
tương lai chung.
Tinh thần đó là bắt buộc nhưng chưa
đủ, chúng ta cần ư thức được một
cách thật sâu đậm sự phân hóa và thù hận
trầm trọng của đất nước ta. Chúng ta
cần ư thức được rằng Ḥa Giải và Ḥa
Hợp Dàn Tộc là một vấn đề vô cùng nặng
nề và gai góc, cho nên cần được thực
hiện với tất cả quyết tâm, với tất
cả tâm hồn và với tất cả kiên nhẫn.
Khi nhóm Thông Luận để xướng ra lập
trường Ḥa Giải và Ḥa Hợp Dân Tộc, cái nh́n
của chúng tôi không phải chỉ hạn hẹp trong khuôn
khổ cuộc tranh chấp quốc gia - cộng sản, mà
là cái nh́n bao quát cho cả một ḍng lịch sử đau
thương của dân tộc này. Chúng tôi đă gặp
sự tiếp nhận nào? Chúng tôi đă gặp những
đả kích gay gắt và hằn học từ đủ
mọi phía. Người ta mạt sát chúng tôi là bọn
cơ hội chủ nghĩa, bọn đón gió trở
cờ, bọn phản bội. Nhưng phản bội cái
ǵ?
Cũng có những người phản bác rằng Dân
tộc Việt nam là một khối thống nhất, không
có ǵ để thù hằn nhau. Cường điệu hay vô
ư thức?
Ôn ḥa hơn, nhiều người đánh giá chúng tôi là ngây
thơ ấu trĩ, là thiếu căn bản dân tộc, là
mất gốc, là không thuộc lịch sử. Nhưng dân
tộc nào, gốc nào và lịch sử nào? Một số
người độ lượng hơn cho chúng tôi là
những người t́nh cảm và không tưởng.
Nhưng làm sao có thể đoạn tuyệt
được với cái quá khứ đau buồn đè
nặng từ nhiều thế kỷ và vượt lên trên
được cả một khối hận thù chồng
chất này nếu không có một tấm ḷng thực
lớn?
Để thắng những trở ngại quá lớn lao,
thái độ thực tiễn nhất là phải
ước mơ. Vấn đề thống nhất
đất nước - thống nhất không những về
mặt hành chánh mà cả trong ḷng người - và ḥa hợp
dân tộc chắc là không thể giải quyết xong ngay
trong sinh thời của tác giả và độc giả
cuốn sách này, nhưng nếu dồn mọi cố
gắng, chúng ta có thể giải quyết một phần
trong thời đại của chúng ta, và tạm xong sau vài
thế hệ kế tiếp.
Phần 2 Con
đường đă qua
Đem tâm t́nh viết lịch sử?
Lúc
sắp rời Việt nam đi du học tôi có
được nghe nói khá nhiều về một cuốn
sách mới xuất bản với một cái tên khá ngộ
nghĩnh Đem Tâm T́nh Viết Lịch Sử. H́nh như là
của Nguyễn Kiên Trung nếu tôi không nhớ sai.
Cuốn sách đó tôi không đọc một phần v́ không
có cơ hội, một phần cũng v́ cái tên ngộ
nghĩnh đó. Tại sao lại có thể lấy tâm t́nh mà
viết lịch sử? Lịch sử phải chính xác và
khách quan mới có thể dùng làm tài liệu để suy
nghĩ và làm việc. Đem tâm t́nh để đọc
lịch sử cũng đă là điều phải rất
thận trọng, c̣n đem tâm t́nh mà viết lịch sử
là điều hết sức nguy hiểm. Tâm t́nh nhất
định là chủ quan rồi. Nếu tâm t́nh của ḿnh
sai lệch th́ sao? Ḿnh có thể đầu độc
những tâm hồn trong trắng.
Nhưng Đem Tâm T́nh Viết Lịch Sử là một
truyền thơng của các xă hội thuộc văn hóa Trung
Hoa. Các quan viết sử nhục mạ và bôi bẩn
một số nhân vật làm cho họ bị đời sau
nguyền rủa đồng thời cũng tâng bốc, làm
đẹp và thánh hóa một số nhân vật khác
để làm gương mẫu cho các thế hệ sau.
Cách viết sử này chỉ nhắm một mục đích
chính trị ngắn hạn nhưng với thời gian nó
đă tạo ra một tâm lư tai hại là lấy
người xưa và việc xưa làm mẫu mực. Không
những tai hại mà c̣n nguy hiểm, bởi v́ qua các anh
hùng, một số giá trị bệnh hoạn
được lưu truyền và làm ô nhiễm trí tuệ.
Một thí dụ. C̣n ǵ trong trắng hơn tâm t́nh các em
bậc học sinh tiểu học? Vậy mà đa số
các em lại say mê Quang Trung Nguyễn Huệ, một con
người vô cùng hung bạo và hiếu sát. Trong đầu
họ, và trong đầu chính tôi vào lứa tuổi đó,
Nguyễn Huệ là tấm gương sáng. Đó cũng là
v́ đầu óc ngây thơ của tôi đă bị ảnh
hưởng của những bậc chú bác đem tâm t́nh viết
và đọc lịch sử. Nh́n vào lịch sử
để hiểu tâm lư và tập quán của dân tộc ḿnh,
để thấy cái mạnh cái yếu của nước
ḿnh, để biết cái ǵ có thể làm và cái ǵ không nên làm
th́ rất hay. Những bắt chước cả kỹ
thuật của người xưa là điều rất
khờ khạo. Tâm lư bắt chước người
xưa thực ra c̣n mạnh lắm. Vào cuối thập niên
80, một tổ chức chính trị lưu vong, Mặt
Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt
nam của ông Hoàng Cơ Minh, đă tung ra cả một
đợt học tập qui mô về Quang Trung Hoàng
Đế. Thôi th́ đức của vua Quang Trung, phép
trị nước của vua Quang Trung, mưu thuật Quang
Trung, v. v... Nguyễn Huệ trở thành một đề
tài học tập, một thứ cẩm nang hành
động. Sự tôn thờ thần tượng đă làm
cho chúng ta quên mất rằng thời đại của
chúng ta đă tiến bộ rất nhiều so với
thời xưa. Chúng ta có thê rút tỉa ra bài học chính
trị nào của một thời đại trong đó
vị hoàng dế muốn làm ǵ th́ làm, muốn giết ai th́
giết? Chúng ta có thể rút tỉa ra bài học văn hóa
nào ở thời đại chỉ có chiến tranh và chém
giết chứ không có máy in, và thiếu cả bút mực?
Chúng ta có thể bắt chước chiến thuật nào
nơi những người đi bộ đánh nhau
bằng gươm giáo?
Tâm lư tôn thờ Nguyễn Huệ thật là dễ sợ và
tôi đă có hai kinh nghiệm.
Lan thứ nhất trong một bữa ăn sinh nhật
của một cô bạn, tôi nói chuyện với một
cựu đại úy quân đội Việt nam Cộng Ḥa
đồng thời cũng là cựu giáo sư trung học.
Câu chuyện xoay sang Nguyễn Huệ v́ anh này lúc đó là
một cán bộ của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và
muốn chia sẻ với chúng tôi những điều anh
vừa học tập. Anh ta quả quyết rằng
nếu Nguyễn Huệ c̣n sống th́ Nguyễn ánh không
những không thống nhất được đất
nước mà c̣n toi mạng dưới tay Nguyễn
Huệ. Tôi đáp lại rằng điều đó không
chắc v́ đất Gia Đ́nh giàu có, dư khả năng
cung cấp lương thực, trong khi miền Bắc lúc
đó suy kiệt, vả lại Nguyễn ánh cũng là
một người đởm lược, lại c̣n
học được cách dùng binh của phương Tây do
một số tay đánh thuê mà ông ta chiêu mộ, về
vũ khí Nguyễn ánh chắc cũng hơn. Chỉ có
thế thôi mà cũng đủ làm bùng lên một cơn
thịnh nộ đến nỗi cô chủ nhà phải ra
xem. Anh ta tha tội cho tôi, nhưng ân cần nhắn
nhủ: Anh nên học lại sử Việt nam!.
Người cộng sản có lư do, và dụng ư để
tôn thờ Nguyễn Huệ, những một tổ chức
chống cộng lấy chiêu bài tự do dân chủ mà
cũng tôn vinh Nguyễn Huệ th́ quả là bắt
chước một cách ngờ nghệch.
Kinh nghiệm thứ hai đỡ gay cấn hơn,
nhưng lại nhiều ư nghĩa hơn. Nó xảy ra trong
một cuộc họp mặt của một nhóm trí
thức thượng lưu tại Paris. Đó là những
người cởi mở, nhă nhặn và có tiếng tốt
trong cộng đồng. Không biết ai tự nhiên
đề cập đến chiến dịch học
tập mưu thuật Quang Trung nói trên. Một bà, tác
giả của nhiều bài nghiên cứu có giá trị về
sử và, theo tôi biết, hoàn toàn không có cảm t́nh với
tổ chức Hoàng Cơ Minh, hỏi tôi nghĩ ǵ về
Nguyễn Huệ. Tôi đáp lại rằng Nguyễn
Huệ không thể bắt chước, ông ta hay ở chỗ
vơ nghệ hơn người, tính t́nh quả quyết và
tự tin; những cái đó hoặc ḿnh có hoặc ḿnh không
có chứ không thể bắt chước. C̣n về
kiến thức binh bị th́ nếu sống lại bây
giờ, tôi không chắc là ông ấy có được
một nửa những kiến thức của một
hạ sĩ quan. Sự bất đồng ư kiến
xuất hiện rơ rệt trên mặt bà nữ sĩ, và bà
quả quyết rằng nếu Nguyễn Huệ sống
lại và cầm quân ngay lúc này ông vẫn là một vị
tướng giỏi.
Cũng trong buổi gặp mặt của giới tao nhân
mặc khách đó, tôi lại đụng độ với
một người bạn về một nhân vật khác mà
cả hai chúng tôi đều ngường mộ: Nguyễn
Du. Buổi gặp mặt đó thực là vất vả cho
tôi.
Nguyễn Du th́ ai cũng phải nh́n nhận là một thiên
tài về thơ văn rồi. Vấn đề là tôi nghe
các bạn chê văn hóa thời nay và lên tiếng bênh
vực. Tôi biện luận rằng trong ṿng nửa thế
kỷ qua văn học và nghệ thuật Việt nam
đă tiến xa gấp nhiều lần con đường
đă đi được trong suốt thời gian trước
đó lừ thời lập quốc. Tôi nói rằng các tác
phẩm ngày nay có phẩm chất hơn ngày xưa nhiều
lắm, nhưng chỉ v́ nhiều tác giả quá, mà lại
không ai vượt lên được, nên không thấy
những hiện tượng như Nguyễn Du, Cao Bá Quát
trong thời đại của họ. Có lẽ nếu
dừng ở đấy th́ mọi người đều
nghe lọt tai, nhưng tôi lại dại dột viện
dẫn một thí dụ. Tôi nói nếu lấy một
người rất rành về tiếng Việt nhưng
chưa biết truyện Kiều rồi đưa cho anh ta
đọc truyện Kiều và một tập thơ
gồm những bài thơ đăng trên các báo chí ở khu
Bolsa, tôi bảo đảm họ sẽ thấy tập
thơ Bolsa hay hơn truyện Kiều. Tôi bị phản
đối dư dội, một chị hỏi tôi đă
uống rượu chưa mà phái ngôn bừa băi như
thế. H́nh như mọi người, trừ tôi,
đều đồng ư là cho tới nay vân chưa tác
phẩm nào qua mặt được truyện Kiều.
Cũng may là trong văn thơ không có việc biểu
quyết giá trị, nếu không th́ tôi đă thảm bại
rồi. Cái tâm lư tôn sùng và bắt chước người xưa
không phải chỉ giới hạn trong cách viết và
đọc sử. Nó đă lây lan ra văn học cũng
như mọi bộ môn khác.
Tôi rất sợ những người đem tâm t́nh
viết lịch sử v́ một cách chân t́nh họ có
thể bóp méo lịch sử, thần thánh hóa người
xưa và cũng có cái tập quán tai hại là lấy
người xưa làm khuôn mẫu. Chúng ta thần thánh hóa
người xưa v́ chúng ta không quí trong chính ḿnh: chúng ta
không tin ở chính ḿnh nên chúng ta đă không nhận ra được
nhưng hào kiệt ngay trong thời đại này, mặc
dầu họ khá dông đảo, v́ lư do giản dị là
họ có nhiều điểm giống ḿnh hoặc không
hơn ǵ ḿnh; mà đă không hơn ḿnh th́ nhất định
là phải tầm thường rồi.
Chúng ta chưa biết cách quản lư tổ tiên. Chủng ta
cần t́m ra cách nào khác để quí trọng người
xưa. Để vẫn yêu quí tổ tiên mà vẫn quí ḿnh.
Có quí ḿnh chúng ta mới có thể nh́n ra những con
người lỗi lạc ngay giữa chúng ta. Và chỉ có
những hào kiệt của thời nay mới giúp
được chúng ta. Trên đường chinh phục
tương lai, chúng ta cần nh́n về đằng
trước, chứ không thể chỉ nh́n đằng sau.
Cũng như khi lái xe, chúng ta không thể chỉ nh́n kính
chiếu hậu. Ôn cố tri tân (ôn lại chuyện xưa
để biết chuyện ngày nay) là một phương
pháp sai. Lấy những giải pháp ngày xưa cho những
vấn đề hôm nay c̣n vụng về hơn là áp
dụng những khuôn mẫu bên Tây bên Tàu cho nước ta.
Lầm thời đại nghiêm trọng hơn lầm không
gian.
Con đường
đă qua
Trở lại trường hợp Nguyễn
Huệ
Những
điều tôi vừa viết về Nguyễn Huệ
chắc đă làm một số độc giả nỗi
nóng. Một số vị có thể hỏi tại sao tôi
lại gây tranh căi vô ích về những vấn đề
văn hóa và lịch sử giữa lúc cần dồn
hết nghị lực cho cuộc vận động dân
chủ. Lư do là v́ tôi thấy những cuộc tranh căi này
không những không vô ích mà c̣n rất cần thiết.
Cuộc tranh đấu cho tự do và dân chủ đă
đi vào một giai đoạn mới. Sau nhiều tranh
luận, những người dân chủ Việt nam đă
đạt tới đồng thuận về một
lập trường tranh đấu. Đây là một khai
thông quan trọng và rất đáng mừng. Nhưng tại
sao có đồng thuận rồi mà cuộc vận
động dân chủ vẫn chưa khởi sắc,
đồng bào trong và ngoài nước vẫn chưa hưởng
ứng ở mức độ chờ đợi? Theo tôi,
đó là v́ chúng ta đụng phải một bức
tường tâm lư kiên cố do lịch sử và văn hóa
để lại. Không chọc thủng được
bức tường này chúng ta sẽ dẫm chân tại
chỗ, không giành được dân chủ, và ngay cả
nếu có giành được dân chủ cũng không thể
vươn lên bắt kịp các quốc gia tiên tiến. Mà
muốn chọc thủng bức tường tâm lư này th́
bắt buộc phải đặt lại một số
vấn đề văn hóa và lịch sử.
Tôi không vô ư thức đến độ không biết
rằng đụng tới lịch sử và văn hóa là
đụng tới phần thầm kín, thiêng liêng và cấm kỵ
của một dân tộc, do đó tất nhiên phải
chờ đợi những phản ứng giận dữ.
Chúng ta thua kém thế giới một cách bi đát và sự
tồn vong của đất nước đang bị
đe dọa. Khi mộng ước của rất
nhiều người hiện nay chỉ giản dị là
được rời Việt nam đi làm công dân một nước
khác, khi có những bà mẹ đặt đứa con ba
tuổi lên chiếc thuyền mỏng manh vượt biên
với hy vọng duy nhất là nó t́m được một
cuộc sống b́nh thường thôi tại một
phương trời xa lạ nào đó, là chúng ta đang
sống một thảm kịch quốc gia.
Nhưng giải thích thảm kịch đó bằng
những lư do cụ thể như bối cảnh thế
giới, sự mù quáng của vua quan nhà Nguyễn, chính sách
đen tối của thực dân Pháp, sự thô bạo
của đảng cộng sản, sự tồi dở
của các chính quyền quốc gia, những âm mưu
của người Mỹ, v.v. là những lập luận
mà chúng ta dễ chấp nhận. Ngược lại nói
rằng số phận hẩm hiu của chúng ta là hậu
quả của chính cái mà chúng ta trân trọng nhất:
hồn tính, giáo dục, di sản tinh thần của ông cha
để lại th́ chúng ta cảm thấy bị xúc
phạm.
Di sản tinh thần của một dân tộc thể
hiện rơ nhất qua các anh hùng. Các anh hùng dân tộc là
thuốc thử màu bộc lộ tâm lư của một dân
tộc. Qua cách chọn lựa và tôn vinh các anh hùng, các dân
tộc tiết lộ những giá trị mà ḿnh ôm ấp.
Nếu chúng ta thay đổi cách nhận định anh hùng
dân tộc th́ đồng thời chúng ta cũng thay
đổi các giá trị nền tảng của xă hội
ta, chúng ta sẽ thay đổi cách suy nghĩ và hành
động và do đó thay đổi số phận của
chúng ta.
Đối với đại đa số người
Việt, Nguyễn Huệ không phải chỉ là một anh
hùng mà c̣n là một thần tượng. Thi sĩ Vũ Hoàng
Chương, mà tôi rất ái mộ, đă ca tụng
Nguyễn Huệ và chiến thắng Đống Đa
bằng những vần thơ nồng nàn trong một bài
thơ rất dài mà tôi xin trích hầu độc giả hai
câu:
Muôn chiến công một chiến công dồn lại
Một tấm ḷng muôn vạn tấm ḷng mang.
Chúng ta đă được huấn luyện ngay từ
buổi đầu đời, từ ghế trường
tiểu học để sùng bái Nguyễn Huệ. Như
vậy Nguyễn Huệ vừa là thần tượng
vừa là mối t́nh đầu của trí tuệ Việt
nam, đụng tới ông là đụng tới cả
một tín ngưỡng và một đam mê.
ở đây xin mở một dấu ngoặc đơn
ngắn. Có một cái ǵ rất không ổn trong cách mà thanh
thiếu niên Việt nam được giáo dục
để đánh giá các anh hùng dân lộc. Nước ta có
nhiều anh hùng nhưng có ba vị có công lớn nhất: Lư
Công Uẩn mở ra đất nước có kỷ
cương, văn hiến; Trần Hưng Đạo
đánh đuổi quân Nguyên giúp chúng ta giữ
được bờ cơi tránh được sự dầy
đạp của quân Mông Cỗ hung bạo; Nguyễn Hoàng
mở ra miền Nam trù phú. Cả ba đều là nhưng
con người đức độ, đem phồn vinh cho
dân chúng. Thế mà chỉ có Trần Hưng Đạo
được nhắc tới thường xuyên, nhưng
cũng rất xa sau Nguyễn Huệ; Lư Công Uẩn th́
họa hiếm; c̣n Nguyễn Hoàng th́ không bao giờ.
Cần phải trở lại trường hợp
Nguyễn Huệ bởi v́ đó là một sai lầm đă
kéo dài quá lâu và đă gây quá nhiều tác hại. Tôi không
phải là sử gia, cũng không phải là một nhà nghiên
cứu mà là một người hoạt động chính
trị. Người hoạt động chính trị nói
những điều cần nói, có bổn phận phải
nói trung thực, dựa vào những sự kiện nghiêm túc
và lư luận một cách lương thiện. Nhưng
người hoạt động chính trị nếu không có
th́ giờ như trường hợp của tôi, không có
bổn phận phải ghi chú dữ kiện lấy từ
sách nào, chương nào, trang nào, v.v... Đó là công việc
của nhà nghiên cứu. Những dữ kiện mà tôi
dựa vào để bàn về Nguyễn Huệ là có
thực, các sử gia đều có. Trước hết là
một vài nhận định về chiến thắng
Đống Đa.
Nguyễn Huệ được tôn sùng nhờ trận
Đống Đa mùa Xuân Kỷ Dậu 1789. Những công
đức và thành tích khác của ông chỉ là phụ
họa, đôi khi thêm thắt và thêu dệt. Theo kư ức
tập thể của chúng ta trong trận này Nguyễn
Huệ đă chỉ trong một đêm phá tan hai mươi
vạn (hai trăm ngàn) quân Thanh, tránh cho chúng ta ách Bắc
thuộc. Thực ra các tài liệu của nhà Thanh cho
thấy một cách rất rơ rệt là vua Càn Long không có ư
định đánh chiếm nước ta. Không những
thế vua Càn Long c̣n cấm Tôn Sĩ Nghị giao chiến.
Nhà Thanh can thiệp v́ có sự cầu cứu của mẹ
vua Lê Chiêu Thống và đám quần thần nhà Lê, nhưng ư
đồ của họ chỉ là dọa để
Nguyễn Huệ thần phục Lê Chiêu Thống, và ngay
cả nếu Nguyễn Huệ cứng đầu không
chịu cũng chỉ giúp Lê Chiêu Thống có thanh thế mà
chiêu tập lực lượng để chia đất
với Nguyễn Huệ mà thôi. Dĩ nhiên nếu Việt
nam tự nguyện sát nhập vào Trung Quốc th́ nhà Thanh
sẽ rất hài ḷng nhưng họ không chấp nhận
trả một giá nào cả.
Con số hai chục vạn quân Thanh cũng rất sai
sự thực. Tôn Sĩ Nghị sang bằng
đường bộ, mà đường bộ th́ bị
vách núi dầy đặc ngăn cách không thể di
chuyển một số quân khổng lồ như vậy.
Trong những lần xâm chiếm qui mô Việt nam, quân Trung
Quốc đều chủ yếu xâm lăng bằng
đường thủy qua cửa Bạch Đằng hay
Nghệ An. Thành phố Hà Nội hồi đó có bao nhiêu dân
cư? Mười ngàn, mười lăm ngàn, hay hai
chục ngàn là cùng. Không cần hai trăm ngàn, chỉ
cần năm chục ngàn thôi th́ cũng đă là cả
một sự tràn ngập không c̣n chỗ đứng,
chưa nói tới việc quân Thanh kéo nhau đi chợ mua
bán như sử chép. Các tài liệu c̣n giữ lại
chỉ nói quân Thanh đóng đồn ở vài làng nhỏ
cạnh Hà Nội.
Niềm tự hào dân tộc của tôi bị thương
tổn lần đầu tiên vào khoảng năm 1958. Tôi
đọc báo về cuộc thuyết tŕnh của giáo
sư Tưởng Quân Chương, một chuyên gia
người Đài Loan về Việt nam, tại
Đại Học Văn Khoa Sài G̣n. Sự hiểu biết
rất non nớt của tôi lúc đó cũng đủ
để tôi ư thức rằng ông hơn hẳn nhiều
trí thức Việt nam ngay về chính lịch sử và
văn hóa Việt nam. Ông lập luận chắc chắn,
dẫn chứng tài liệu đầy đủ về
văn học Việt nam, từng tác phẩm, từng tác
giả. Đề cập đến trận Đống
Đa, Tưởng Quân Chương dẫn tài liệu
của Thanh triều, nói rằng Tôn Sĩ Nghị tổng
đốc Lưỡng Quảng đă đem sáu ngàn kỵ
binh sang Việt nam để phô trương thanh thế và
làm lễ thụ phong cho Lê Chiêu Thống nhưng đă
bị Nguyễn Huệ đánh bất ngờ, thua chạy
về và bị cách chức. Con số này theo tôi là hợp
lư. Tôn Sĩ Nghị từ Trung Quốc sang Việt nam trong
một hai tuần lễ th́ chắc chắn là sang bằng
ky binh rồi, mà ky binh th́ sáu ngàn đă là nhiều lắm
đối với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng
Tây, muốn hơn cũng không có. Nên nhớ là nhà Thanh lúc
đó yên b́nh đă mấy trăm năm nên không c̣n giữ
quân đội hùng hậu nữa. Tôi chưa thấy sử
gia Việt nam nào bác bỏ sự kiện của ông
Tưởng Quân Chương.
Một tài liệu do người Việt nam viết về
trận Đống Đa là cuốn Hoàng Lê Nhất
Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái, một cuốn sách khá
thuận cho Tây Sơn. Theo cuốn sách này th́ khi quân Thanh
đến, Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm bàn
với nhau rằng đánh quân Thanh không được v́
dân chúng Bắc Hà ủng hộ quân Thanh và ghét quân Tây Sơn,
họ sẽ chỉ chỗ, dẫn đường,
tiếp sức quân Thanh. (Đây cũng là một sự
kiện rất quan trọng chứng tỏ dân chúng không
ngưỡng mộ Nguyễn Huệ như một số
tác giả viết). Ngô Văn Sở quyết định
bỏ Thăng Long lui về giữ đèo Tam Diệp,
nhưng đô đốc Phan Văn Lân không chịu, đ̣i
Ngô Văn Sở cấp cho một ngàn quân (xin nhắc
lại là một ngàn quân) ra giáp chiến. Phan Văn Lân
đến bờ sông Như Nguyệt th́ gặp quân Thanh
đóng ở bên kia sông. Lúc đó tiết trời lạnh
giá nhưng Phan Văn Lân nhất định bắt quân
lội qua sông đánh quân Thanh. Quân Tây Sơn chết
đuối khá nhiều, số c̣n lại qua bên kia sông
lạnh cóng nên bị quân Thanh tiêu diệt, Phan Văn Lân
một ḿnh một ngựa chạy về. Thử hỏi nếu
quân Thanh đông tới mười ngàn người thôi
liệu Phan Văn Lân có dám liều lĩnh như vậy
không?
C̣n một nguồn tài liệu khác về trận
Đống Đa. Đó là những lá thư mà các giáo sĩ
có mặt tại đó gởi về cho bạn bè tại
Pháp. Những lá thư này được tập trung trong
một tài liệu có tên là Những lá thư kỳ lạ và
xúc tích của Sứ Bộ Truyền Giáo Viễn Đông
(Lettres curieuses ét édifiantes de la Mission apostolique en Extrême Orient)
c̣n lưu giữ tại Pháp. Đây là những lá thư
riêng, không phổ biến, do đó chúng không có mục
đích tuyên truyền. Các giáo sĩ nói thẳng là họ bênh
vực nhà Tây Sơn v́ lư do cả chúa Trịnh lẫn chúa
Nguyền đều cấm đạo trong khi Tây Sơn
không để ư đến tôn giáo. Một giáo sĩ mô
tả trận Ngọc Hồi (Đống Đa), trận
đánh gay go nhất và có thể nói là duy nhất trong
đêm hôm đó. Theo ông, quân Tây Sơn tiến vào bị quân
Thanh đánh bật ra, hàng ngũ rối loạn. Lúc đó
đích thân Nguyễn Huệ từ dưới xông lên, múa
gươm chém chết mấy chục quân Thanh, làm chúng
hoảng sợ bỏ chạy. Theo cách mô tả đó th́
trận Đống Đa không thể là lớn
được. Hoàng Lê Nhất Thống Chí cũng nói quân
Tây Sơn tiến sau hai mươi tấm mộc,
đằng sau mỗi tám là ba mươi người.
Như vậy tổng số quân Tây Sơn tham chiến
ở Ngọc Hồi là sáu trăm người. Hoàng Lê
Nhất Thống Chí c̣n nói thêm là khi nghe tin Ngọc Hồi có
biến, Tôn Sĩ Nghị sai một bộ tướng
đem hai chục ky binh đi giải cứu cùng với
một đám nghĩa quân của vua Lê. Những dữ
kiện này chứng tỏ trận Đống Đa
chỉ là một trận nhỏ.
Mặt khác, cũng không nên quên là quân Thanh bị bất
ngờ hoàn toàn nên rối loạn, lo chạy hơn là
đánh lại. Vả lại cũng chỉ có một
nửa quân Thanh sang sông vào Thăng Long, nửa kia vẫn
ở bên tả ngạn và bỏ chạy khi đám quân sang
sông bị đánh tan. Cần minh định một
điều để tránh tranh căi. Số quân Thanh chết
(chủ yếu là chết đuối khi xô lấn nhau sang
sông làm sập cầu nổi) có thể nhiều hơn
hẳn số quân từ Trung Quốc sang v́ rất nhiều
người Hoa sinh sống tại Việt nam lúc đó
cũng ỷ thế quân Thanh lộng hành tự coi như
lính của nhà Thanh, rồi hoảng sợ bỏ chạy
khi ky binh của Tôn Sĩ Nghị bị đánh tan. Kư
ức dân gian và các tài liệu đều nói đến
việc người ngựa chen nhau trên cầu. Cảnh này
phù hợp với những ǵ vừa nói: quân cưỡi
ngựa là quân Tôn Sĩ Nghị, đám chạy bộ là
bọn a dua. Chúng ta đều biết trước khi ra
Thăng Long đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ dừng
lại ở Tam Diệp để mộ quân. Các giáo sĩ
thuật cách mộ quân của Nguyễn Huệ: các
tướng của Quang Trung, tất cả đều mang
chức đô đốc, tới gần các làng,
cưỡi ngựa lên một g̣ cao nh́n vào làng theo số nóc
nhà mà ước lượng số quân mỗi làng phải
nộp ra lệ hễ thiếu một người là
họ tàn sát cả làng. Dân chúng hăi hùng đến nỗi
làng nào không đủ con trai phải bắt con gái giả
làm trai đem nộp cho Nguyễn Huệ. Những nông dân
tuyền chọn như vậy thực ra là những tù binh
chỉ có vai tṛ khuân vác, làm mộc đỡ tên và lấy
số đông áp đảo tinh thần quân Thanh mà thôi,
chủ lực của Quang Trung chỉ là số quân Tây
Sơn mà ông đem từ Phú Xuân ra. Đánh xong trận
Đống Đa, ông bỏ mặc số quân tân tuyển
này, họ phải xin ăn dọc đường t́m
về quê quán.
Nguyễn Huệ là con người như thế nào?
Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nguyễn Huệ là con
ông Hồ Phi Phúc, người gốc Nghệ An, nhưng
từ ba đời trước bị chúa Nguyễn bắt
vào lập nghiệp tại làng Tây Sơn, thuộc tỉnh
B́nh Định. Đến đời các con th́ đổi
ra họ Nguyễn để dễ tiến thân. Họ
Hồ dần dần trở nên khá giả, đến
đời Hồ Phi Phúc th́ lại mở ṣng bạc nên càng
giàu có. Nguyễn Huệ như vậy không phải xuất
thân là một nông dân áo vải như Việt nam Sử
lưọc viết. Về anh em Tây Sơn, cũng như
về trận Đống Đa, Trần Trọng Kim
dựa vào Hoàng Lê Nhất Thống Chí, nhưng lại thêm
bớt theo chiều hướng có lợi cho Nguyễn
Huệ. Tại sao? Chúng ta sẽ trả lời sau. Ba anh em
Nhạc, Lữ và Huệ lớn lên đi ăn
cướp. Khởi đầu Nguyễn Nhạc kết
nạp được một đám thủ hạ đi
cướp bóc trong vùng, sau khi thế lực đă mạnh
mới về lập đồn ở ngay làng ḿnh công khai
chống chúa Nguyễn. Có lẽ v́ họ hoành hành khá lâu
tại vùng Tây Sơn nên sau này, khi họ làm vua, người
ta vẫn gọi họ là nhà Tây Sơn. Ba anh em liên kết
với hai đám cướp biển người Trung Hoa là
Tập Đ́nh và Lư Tài và cũng chiêu mộ nhiều
người Thượng. Trong các thư từ gởi cho
nhau, các giáo sĩ thắc mắc không hiểu tại sao các
tướng của Tây Sơn, dù là tướng đánh
bộ đi nữa, đều xưng là đô dốc:
đô đốc Sở, đô đốc Long, đô
đốc Tuyết, đô đốc Lộc, đô
đốc Lân, v.v. Đó là v́ quân Tây Sơn do đám
cướp biển huấn luyện, và đối với
bọn cướp biển chức đô đốc là
một ước mơ.
Một sự kiện nổi bật mà các sử gia cố
t́nh làm ngơ là quân Tây Sơn chỉ thuần túy là giặc
cướp. Từ lúc dấy lên cho đến lúc tiêu
diệt cả họ Trịnh và họ Nguyễn trong hai
mươi năm trời, họ không đưa ra bất
cứ một chủ trương dựng nước nào;
không hề có một tờ hịch nào để hiệu
triệu quốc dân, hay ngay cả một tờ kể
tội họ Trịnh và họ Nguyễn. Họ chỉ
đánh phá và cướp bóc mà thôi, không nhân danh một chính
nghĩa nào. (ở miền Bắc, Nguyễn Hữu Cằu
khi nỗi loạn chống nhà Trịnh ít nhất c̣n
xưng là Bảo Dân Đại Tướng Quân).
Từ năm 1771, anh em Tây Sơn lập đồn
trại, bành trướng thêm lực lượng, đánh
chiếm Qui Nhơn rồi tiến lên mạn Bắc
đánh chúa Nguyễn. Lúc đó, dù mới mười tám
tuổi, Nguyễn Huệ đă bắt đồng đảng
và dân chúng gọi ḿnh là Đức ông Tám. Cái lối tự
xưng xấc xược này cũng là một đặc
tính của đám thảo khấu. Cơ nghiệp chúa Nguyễn
đă tan tác v́ Trương Phúc Loan chuyên quyền nên quân Tây
Sơn đánh đâu được đấy, hầu
như không có kháng cự. Họ Trịnh ở ngoài Bắc
lại nhân cơ hội vào chiếm Thuận Hóa. Quân
Nguyễn phía Nam bị Tây Sơn đánh lên, phía Bắc
bị quân Trịnh đánh xuống nên tan ră nhanh chóng. Chúa
Định Vương nhà Nguyễn phải bỏ chạy
vào Gia Định để Đông Cung Thế Tử ở
lại. Nguyễn Nhạc bắt được Đông Cung,
gả con gái cho, giả ḥa với chúa Nguyễn ở Gia
Định, nhưng lại ngấm ngầm liên kết
với họ Trịnh xin làm tiên phong đánh chúa Nguyễn.
Năm 1778 anh em Tây Sơn chiếm nốt Gia Đ́nh, tiêu
diệt chúa Nguyễn. Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng
đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Đ́nh
Vương ở Gia Đ́nh và Nguyễn Huệ làm Bắc
B́nh Vương giữ mặt Bắc. Nguyễn Huệ là
một tướng giỏi, nhiều công trận lại
giữ mặt Bắc pḥng họ Trịnh nên nắm
phần lớn quân Tây Sơn trong tay.
Năm 1786, nhân lúc nhà Trịnh tan tác v́ lính Tam Phủ làm
loạn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ ra đánh
chiếm Thuận Hóa, trước đây của chúa
Nguyễn nhưng mới bị họ Trịnh chiếm.
Nguyễn Huệ chiến thắng dễ dàng rồi theo
lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, một
tướng của họ Trịnh v́ bất măn mà bỏ
vào theo Tây Sơn, tiến ra Thăng Long diệt họ
Trịnh, dù không có lệnh của Nguyễn Nhạc. Lúc
đó họ Trịnh đă suy sụp toàn bộ nên
Nguyễn Huệ chiếm Tháng Long như vào chỗ không
người. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển
Tông gả con gái là công chúa Ngọc Hân và ở lại
Thăng Long gần hai tháng cho đến lúc Nguyễn
Nhạc từ trong Nam ra gọi về. Khi vua Lê Hiển Tông
chết, Nguyễn Huệ định không cho Lê Chiêu
Thống lên kế vị, thân thích nhà Lê phải nhờ
Ngọc Hân xin Nguyễn Huệ mới cho. Sau đó hai anh em
Nhạc và Huệ đột ngột về Nam giữa
đêm, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại
với dụng ư để dân Bắc Hà giết Chỉnh v́
tội đă đem quân Tây Sơn ra Bắc. Nhưng
Nguyễn Hữu Chỉnh chạy thoát vào Nghệ An ra
mắt Nguyễn Huệ. Tuy thất vọng v́ Nguyễn
Hữu Chỉnh không chết nhưng Nguyễn Huệ
vẫn cấp cho Chỉnh một số vàng và vũ khí
lấy được ở Thăng Long để
Chỉnh lập nghiệp lại Nghệ An. Nguyễn
Hữu Chỉnh tự tuyển quân chiếm giữ
Nghệ An.
Vua Lê Chiêu Thống lúc đó chỉ có vài quan văn và
khoảng mười lính hầu. Phe đảng họ
Trịnh lại trở về Thăng Long tái lập
nghiệp chúa. Lê Chiêu Thống không chịu cho họ
Trịnh áp bức nữa nên vời Nguyễn Hữu
Chỉnh ra. Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp
được dư đảng họ Trịnh và
được Lê Chiêu Thống phong tước Bằng
Trung Công nắm giữ binh quyền. Trong khi Nguyền
Hữu Chỉnh ra Bắc đánh dư đảng họ
Trịnh th́ Nguyễn Huệ lại đem quân vào Nam
đánh Nguyễn Nhạc. Nhạc phải khóc lóc năn
nỉ Huệ mới tha. Sau khi về Phú Xuân, Nguyễn
Huệ ra lệnh cho Vũ Văn Nhậm là phó tướng
của ḿnh và cũng là rể của Nguyễn Nhạc,
đem quân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Vũ Văn
Nhậm bắt được Chỉnh đem giết
đi. Vua Lê Chiêu Thống bỏ chạy lưu lạc
khắp nơi, chiêu tập lực lượng chống Tây
Sơn. Nguyễn Huệ ra Thăng Long bất ngờ,
Vũ Văn Nhậm đang ngủ trưa bị lôi ra chém.
Nguyễn Huệ đặt Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân
và Ngô Thời Nhiệm ở lại trấn giữ rồi
rút quân về Nam. Quần thần và tôn thất nhà Lê sang
Trung Hoa cầu cứu. Tôn Sĩ Nghị sang, Nguyễn
Huệ lên ngôi hoàng đế, tiến ra Thăng Long đánh
bại Tôn Sĩ Nghị. Nguyễn Huệ chỉ mới
làm vua được bốn năm, đang chuẩn bị
đánh Trung Hoa chiếm hai tỉnh Quảng Đông và
Quảng Tây th́ mất năm 1792. Mười năm sau nhà
Tây Sơn bị Nguyễn ánh tiêu diệt
Nguyền Huệ là một con người hung bạo
đánh tất cả mọi người, đó là một
sự thực. Nguyễn Huệ liên kết với hai tướng
cướp Tập Đ́nh và Lư Tài đánh chúa Nguyễn
rồi lại đánh Tập Đ́nh và Lư Tài, liên kết
với chúa Trịnh rồi đánh chúa Trịnh, dùng
Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bỏ Chỉnh cho dân
Bắc Hà giết. Nguyền Hữu Chỉnh không chết mà
lại phất lên được th́ sai Vũ Văn
Nhậm đem quân đánh giết Nguyễn Hữu
Chỉnh, tiện thể lấy luôn Bắc Hà. Rồi
lại giết Vũ Văn Nhậm. Đến cả
Nguyền Nhạc đối vơi Huệ vừa có
nghĩa vua tôi vừa có nghĩa anh em, Huệ cũng
đánh. Sau này ḥa với nhà Thanh, rồi lại kết
nạp bọn cướp biển đi đánh phá nhà Thanh
và c̣n định đem quân đánh nhà Thanh. Nguyễn
Huệ dùng bạo lực và sự tráo trở trong mọi
trường hợp đối với bất cứ ai có
khả năng trở thành một đối thủ.
Việc Huệ đánh Nhạc chỉ v́ hai anh em xích mích
với nhau chuyện phân chia kho tàng lấy được
ở Thăng Long là một hành động phản trắc
và vô đạo. Nguyễn Huệ cũng rất tàn ác, các
giáo sĩ thời đó dù bênh Tây Sơn cũng ghê sợ
về sự tàn ác của Nguyễn Huệ và gọi ông là
một thứ Attila mới trong những thư họ
viết cho nhau. Họ kể lại khá chi tiết những
việc làm dữ tợn của Nguyễn Huệ, mà khuôn
khổ cuốn sách không cho phép tôi nhắc lại hết.
Sau khi diệt nhà Trịnh và nói là một tấc đất
của nhà Lê cũng không lấy, Huệ vẫn chiếm Nghệ
An, vua Lê Chiêu Thống sai danh sĩ Trần Công Sán, mà
Nguyễn Huệ biết tiếng và phục tài, cùng với
hoàng thân Lê án, vừa là chú vừa là thày của công chúa
Ngọc Hân, mang quốc thư vào xin lại Nghệ An và cam
kết hàng năm nộp toàn bộ thuế của tỉnh
cho Nguyễn Huệ, nhưng Nguyễn Huệ đă không cho
c̣n hạ ngục và gông cổ cả phái đoàn rồi
đem ra biển nhận thuyền cho chết. Nhiều
người trách Nguyễn ánh nhỏ mọn quật mồ
Nguyễn Huệ sau khi đă giết con cháu, mà quên rằng
hành động thô bạo này chỉ là để báo thù một
hành động thô bạo trước đó: Nguyễn
Huệ đă tàn sát cả họ Nguyễn và đă đào
mả tổ tiên Nguyễn ánh đem vất đi. Một
lần trong một chuyến đánh phá Gia Định,
một tướng Tây Sơn bị phục binh giết
chết. Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nỗi
giận ra lệnh tàn sát tất cả dân chúng trong vùng,
bất luận già trẻ, lớn bé, trai gái. Cuộc tàn sát
đă kinh hoàng đến độ dân chúng các vùng phụ
cận sau đó không dám ăn tôm cá v́ sợ tôm cá ăn
thịt những xác chết trôi đầy sông.
Một thí dụ khác là trận Đống Đa. Sau khi
đă đánh tan quân Thanh và sợ quân Thanh quay lại
phản ứng, Nguyễn Huệ ra lệnh cho dân chúng
Thăng Long phải đắp xong trong ṿng ba ngày một
chiến lũy chung quanh để pḥng thủ. Các giáo
sĩ có mặt tại đó không thể nào tưởng
tượng dân chúng Thăng Long có thể làm
được điều đó. Nhưng họ đă làm
được, họ đă làm tới kiệt sức, v́
sợ bị Nguyền Huệ tàn sát, họ biết
Nguyền Huệ không hề do dự trước sự chém
giết. Tường xây lên xong các giáo sĩ kinh hoàng, họ
đặt tên cho Nguyễn Huệ là Attila mới từ
đó. Các tài liệu của các giáo sĩ, và nhiều nhân
chứng phương Tây có mặt tại Việt nam lúc
đó, về anh em Tây Sơn hiện vẫn c̣n lưu
giữ trong nhiều thư viện tại Pháp. Một
sử gia Việt nam, ông Tạ Chí Đại Trường,
đă sưu tập một số đáng kể trong
cuốn sách Lịch Sử Nội Chiến 1771-1802 của
ông. Đây là một cuốn sách nên đọc cho những
ai muốn t́m hiểu về nhà Tây Sơn.
Khả năng nh́n xa trông rộng của Nguyễn Huệ
cũng rất giới hạn. Nguyễn Huệ đem binh
đánh làm suy yếu Nguyễn Nhạc, rồi làm ngơ
để Nguyễn ánh tiêu diệt dần lực
lượng của Nhạc và Lữ ở trong Nam. Cứ
bỏ qua sự tàn nhẫn với hai người anh đi
th́ đây cũng là một tính toán chiến lược
rất chủ quan và phiêu lưu. Nguyễn ánh c̣n đang bành
trướng thế lực ở trong Nam th́ Nguyễn
Huệ đă nghĩ đến việc đánh Trung Hoa.
Thật là một ư đồ điên đại, chứng
tỏ Nguyễn Huệ không có một hiểu biết
chiến lược nào cả. Nếu Nguyễn Huệ c̣n
sống để mà gây chiến với nước Tàu th́
quả là đại hoạ cho nước ta. Cứ
giả thử vua Càn Long cho không Nguyễn Huệ hai
tỉnh Quảng Đông và Quảng Tày th́ ngày nay
nước ta cũng đă bị xóa bỏ rồi.
Cũng nên tương đối hóa tài dùng binh của
Nguyễn Huệ. Nhà Nguyễn và nhà Trịnh đánh nhau
cả thảy bảy lần trong gần nửa thế
kỷ, từ 1627 đến 1674, làm cho đất
nước, nhất là miền Bắc suy kiệt và dân chúng
chán ghét chiến tranh. Đây cũng là giai đoạn mà
đạo Công Giáo và tư tưởng Thiên Chúa Giáo, sau
một thế kỷ du nhập, đă phát triển
mạnh, làm lung lay tư tưởng Khổng Giáo, nền
tảng chính đáng của chế độ. Quần chúng
Việt nam không c̣n nh́n các vua chúa như những đại
diện của Trời mà họ phải phục tùng vô
điều kiện nữa. Cả hai họ Trịnh
Nguyễn đều suy thoái, việc binh bị bị
bỏ rơi, người dân vừa không phục, vừa
bớt sợ.
Chúa Nguyễn c̣n lo đánh dẹp, mở mang bờ coi nên
người dân bỏ vào miền đất hoang phía Nam
lập nghiệp tránh bị bắt lính rất nhiều.
Lực lượng của chúa Nguyễn vừa suy yếu
vừa bị trải rộng, dần dần mất
thực chất. Các băng đảng cướp lộng
hành khắp nơi. Đă thế, từ thời Vơ
Vương (1765) trở đi, Trương Phúc Loan lại
chuyên quyền làm cho triều đ́nh tan nát. Anh em Tây Sơn,
nhờ tập hợp được một sổ băng
đảng, nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn mà không
cần đánh một trận đáng kể nào.
Quân Tây Sơn đă thắng dễ dàng v́ thế lực
của chúa Nguyễn đă hoàn toàn tan ră chứ không phải
v́ lực lượng của họ mạnh. Năm 1778, lúc
Tây Sơn đă diệt chúa Nguyễn và chiếm Gia
Định, thế lực lên đến cao điểm làm
kinh động cả nước, toàn quyền Anh tại
ấn Độ cử một chuyên viên là Chapman sang quan sát
t́nh h́nh Việt nam. Chapman làm quen được với anh
em Tây Sơn và được đi thăm viếng quan sát
tỉ mỉ khắp nơi. Chapman báo cáo rằng thế
lực của quân Tây Sơn chẳng có ǵ đáng kể,
chỉ cần một đạo quân một trăm
người mà có kỷ luật cũng đủ
để đánh tan toàn bộ quân Tây Sơn một cách
nhanh chóng. Xin nhấn mạnh con số một trăm và
cũng xin nhấn mạnh rằng Chapman chỉ nói tới
kỷ luật chứ không hề nói tới nhu cầu
vũ khí tối tân. ở ngoài Bắc, hồi đó gọi
là đàng ngoài, t́nh thế c̣n bi đát hơn.
Đời sống cơ cực và cương
thường đảo lộn (họ Trịnh phế
lập và giết vua Lê một cách rất tùy tiện) nên
cả uy quyền chính trị lẫn uy quyền đạo
đức đều tan. Giặc giă nỗi lên khắp
nơi. Trịnh Sâm vừa tạm dẹp xong giặc th́
lại say mê tửu sắc, bỏ trưởng lập
thứ gây loạn ngay tại triều đ́nh. Điều
cần đặc biệt lưu ư là họ Trịnh lúc
đó không c̣n quân đội. Chỉ một đám lính Tam
Phủ, vài ngần tên không người chỉ huy, mà
muốn phá nhà ai, giết quan nào cũng được. Khi
chúng nổi loạn, Quận Huy Hoàng Tế Lư trên nguyên
tắc cầm mọi binh quyền, phải một ḿnh
cưỡi voi ra đánh nhau với chúng rồi bị
giết. Các tướng mỗi người trấn
giữ một phương, mỗi người chỉ có
vai chục gia nhân, rồi dựa vào đám gia nhân này mà
đi bắt lính. Có khi họ bắt được cả
ngần quân nhưng những quân đội ấy chỉ
là những nông dân tội nghiệp không biết chiến
đấu và cũng không muốn chiến đấu,
hễ gặp quân địch là ră hàng bỏ chạy có khi
c̣n đâm chết tướng để dễ chạy.
Sách Hoàng Lê Nhất Thong Chí mô tả khá rơ xă hội miền
Bắc lúc đó. Các sứ quân đă không có thực lực
mà c̣n hiềm khích với nhau và chẳng tuân lệnh ai. Dân
gian th́ hễ ai khỏe mạnh ăn cướp
được là đi ăn cướp, rất ghét quân
Tây Sơn nhưng gặp quan nhà Lê là bắt nộp cho Tây
Sơn để lănh thưởng. (Sau này cũng chính dân
chúng bát vua Cảnh Thịnh và các tướng Tây Sơn
nộp cho Nguyễn ánh). Nguyễn Hữu Chỉnh bị
anh em Tây Sơn bỏ rơi lên thuyền chạy về
Nghệ An với mấy chục gia nhân, đến nơi
không dám lên bộ. Vậy mà rời cũng đi bắt lính
và thành lập được một đạo quân.
Với cái quân đội ô hợp đó mà Nguyễn Hữu
Chỉnh vào được Thăng Long như chỗ không
người v́ các quân đội khác c̣n ô hợp hơn
nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh hoành hành ở miền
Bắc, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh,
quân Nguyễn Hữu Chỉnh chưa đánh đă tan. Trong
một bối cảnh như vậy, Nguyễn Huệ
trấn áp được thiên hạ nhờ có
được một đạo quân tinh nhuệ là
điều dễ hiểu. Lư do thành công của Nguyễn
Huệ là ông có một đạo quân thực sự trong khi
các đối thủ của ông không có. Những chiến
thắng như vậy không đ̣i hỏi một tài dùng binh
nào.
ở trong Nam có trận thủy chiến tại Cần
Giờ là đáng kề. Nguyễn Huệ chỉ huy gần
một trăm chiến thuyền, như vậy cũng là
vài ngần thủy quân, c̣n quân Nguyễn ánh không biết bao
nhiêu. Nguyễn Huệ cũng phá được quân Xiêm.
Trần Trọng Kim trong Việt nam Sử lược nói
rằng quân Xiêm đông tới hai vạn người.
Nếu đúng như vậy th́ quả là một
đạo quân rất lớn vào thời đó, nhưng quân
Xiêm vừa tới nước ta th́ đă ră hàng, đi
cướp bóc khắp nơi chàng c̣n đội ngũ ǵ
cả. Nếu có một đạo quân đàng hoàng th́
đánh tan chúng không khó.
Cả ba trận Cần Giờ, Mân Thít và Đống Đa
đều ở rất dưới tầm cỡ của
những trận đánh thời Trần Hưng Đạo
chống quân Nguyễn, Lê Lợi đánh đuổi quân
Minh. Tài dùng binh của Nguyễn Huệ là có thực
nhưng chưa được chứng minh ở tầm
cỡ của các danh tướng thời Trần Hưng
Đạo hay Lê Lợi.
Cần nhấn mạnh để đánh tan một
hiểu lầm đă kéo dài quá lâu và đă là nguyên nhân cho
nhiều giải thích lịch sử gượng ép: đó
là quân Tây Sơn không mạnh mà cũng không tổ chức
giỏi; họ đă thắng được các chính
quyền Trịnh và Nguyễn bởi v́ các chính quyền này
đă đi tới cuối tiến tŕnh phân ră. Nguyên nhân sâu
xa của tiến tŕnh phân ră này là cả hai chế
độ Trịnh Nguyễn đă không ư thức
được rằng nền tảng của xă hội
Việt nam đă thay đổi sau hơn hai thế kỷ
tiếp xúc với người phương Tây, và cứ
cố tiếp tục duy tŕ lối cai trị cũ trên
một xă hội đă đổi mới.
Nguyễn Huệ chỉ mới làm vua được
gần bốn năm th́ mất nên tài trị nước
của ông không thể bàn đến. Một việc
triều đ́nh của ông làm thường được
ca tụng là hay dùng chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm thời
đó đá phát triển lắm rồi. Chinh Phụ Ngâm và
Cung Oán đă ra đời trước đó và đă có
Nguyễn Du. Chính Nguyễn ánh cũng đă dùng chữ Nôm
trong một số văn thư. Cũng có người
nhắc đến dụ Khuyến Nông của Nguyễn
Huệ, nhưng đó chỉ là một dụ b́nh thường
lặp lại những ǵ các vị vua trước đó
đă nói. Một biện pháp làm khổ dân chúng rất
nhiều là dùng Tín Bài, một thứ thẻ căn
cước, để kiềm soát dân chúng, trong mục
đích bắt lính chuẩn bị đánh Trung Hoa. Biện
pháp này làm dân chúng bị tham quan ô lại sách nhiễu
đến nói nhiều người phải trốn vào
rừng sinh sống để tị nạn Tây Sơn.
Vả lại làm vua một nước đă kiệt
quệ v́ chiến tranh, vừa mới được
một hai năm yên b́nh đă lo chuyện đánh nhau
với một nước lớn gấp bội ḿnh là
điều mà một vị vua sáng suốt không thể làm.
Nhà Tây Sơn tuy chỉ kéo dài một thời gian ngắn
nhưng đă anh hưởng rất lớn lên lịch
sử nước ta và dịa lư chính trị trong vùng.
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đă chặn
đứng hẳn sự bành trướng của lănh
thổ Việt nam vào đất Cam-bốt. Năm 1771, khi
anh em Tây Sơn bắt đầu tấn công chúa Nguyễn
cũng là năm cuối cùng mà một phần đất
Cam-bốt được sát nhập vào Việt nam. Lúc
đó đất Cam-bốt gần như vô chủ, các chúa
Nguyễn dồn dập mở rộng lănh thổ, nhưng
cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đă làm họ sụp
đổ và cuộc Tây tiến của Việt nam chấm
dứt. Nếu không có anh em Tây Sơn chắc chắn
nước Cam-bốt không c̣n.
Việc thôi bành trướng về phía Tây Nam, tùy cách nh́n,
không nhất thiết là một sự thiệt tḥi cho chúng
ta. Nhưng anh em Tây Sơn đă làm một việc khác
rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đă
khiến chúng ta là chúng ta ngày nay: đó là phá tan và chấm
dứt hơn hai thế kỷ tiếp xúc và giao
thương đầy hứa hẹn với thế
giới bên ngoài, nhất là phương Tây.
Chúng ta bắt đầu tiếp xúc với phương Tây
từ đầu thế kỷ 16, các giao thương
tăng dần với thời gian. Đầu thế
kỷ 18 đă có những trung tâm thương mại
lớn. Ngoài Bắc có Hà Nội và Phố Hiến (thứ
nhất Kinh Kỳ, thứ nh́ Phổ Hiến). Trong Nam có
Hội An. Hội An có địa vị đặc biệt
quan trọng, đó là trái tim của mọi hoạt
động kinh tế của Đàng Trong. Quân Tây Sơn
đi đến đâu cướp phá và đem chết chóc
đến đó. Tệ hại nhất là việc
cướp phá Hội An. Các thương nhân bỏ chạy
trong kinh hoàng và mọi hoạt động kinh tế
sụp đổ. Miền Trung rơi vào nạn đói
chưa từng thấy, người chết vô kể, có
nơi mẹ ăn xác con. Khi quân Tây Sơn ra ngoài Bắc th́
Kinh Kỳ và Phố Hiến cũng tiêu tan. Cũng như
tại Hội An, doanh nhân nước ngoài bỏ chạy
trong kinh hoàng và không bao giờ trở lại Việt nam
nữa. Cánh cửa của chúng ta khép lại với thế
giới bên ngoài. Xă hội ta trở lại với bóng
tối của sự lạc hậu. Kinh nghiệm Việt
nam đă đen tối đến độ các
thương nhân không trở lại nữa ngay cả sau khi
nhà Tây Sơn đă đổ. Phần đông những
người phương Tây đến sau này chỉ là các
giáo sĩ.
Trần Trọng Kim là một học giả có công soạn
ra bộ sử công phu đầu tiên cho nước ta.
Đây là một đóng góp rất lớn cần
được ghi nhận một cách xứng đáng.
Trước ông lịch sử nước ta chỉ
được chép một cách sơ sài và không trung thực.
Điều khó tưởng tượng đối với
thế hệ trẻ ngày nay là cho tới thế chiến II
người Việt nam không học sử nước ḿnh.
Người học trường Pháp th́ học sử Pháp,
người học trường Nam th́ không học sử
nào cả. Tập Việt nam Sử lược ra
đời đầu thập niên 1930, thường
được sử dụng như một cuốn sách
để học quốc văn, đă có tác dụng
rất lớn. Nó đă giúp người Việt nam hiểu
quá khứ của ḿnh và tạo ra một ư thức quốc
gia dân tộc. Việt nam Sử lược sau này
được lấy làm cơ bản cho các sách giáo khoa
sử ở cấp trung và tiểu học. ư thức về
lịch sử của người Việt nam nói chung
vấn chưa vượt quá Việt nam Sử
lược.
Tuy nhiên, v́ không viết sách với mục đích giảng
dạy, ông Trần Trọng Kim đă không cảm thấy có
bổn phận phải tuyệt đối khách quan và,
đặc biệt là đối với nhân vật Nguyễn
Huệ, ông đă để nhiều tâm t́nh và thiên kiến
vào đó. Ông dựng đứng ra chuyện Nguyễn
Huệ ra Bắc phù Lê diệt Trịnh để ca
tụng Nguyễn Huệ dứt họ Trịnh, tôn vua Lê,
đem lại cương thường cho rơ ràng. ấy là
có sức mạnh mà biết làm việc nghĩa vậy
(sic). Thật là đổi trắng thay đen! Trong khi
khởi chiến th́ người ta thường hay
mượn một danh nghĩa, điều nay chẳng có
ǵ là lạ. Điều lạ là Nguyễn Huệ đă
ngang ngược không thèm mượn một danh nghĩa nào
cả. Nguyễn Huệ vâng lệnh Nguyễn Nhạc
tiến ra Bắc với mục đích chiếm Thuận
Hóa, rồi thấy dễ tiến luôn ra chiếm Thăng
Long, không nhân danh ǵ cả. Nguyễn Huệ vào Thăng Long
cướp kho tàng rồi rút về chỉ v́ chưa
nắm vững t́nh h́nh, mặc dầu cũng chiếm
đất Nghệ An. Việc phù Lê chỉ là câu nói ngoài
miệng sau khi diệt xong họ Trịnh và thấy t́nh
thế chưa chín muồi để chiếm miền
Bắc mà thôi. Nếu thực sự phù Lê th́ Nguyễn
Huệ đă không hống hách đ̣i quyết định việc
kể lập vua Lê và đă không cướp kho, lấy
đất như vậy.
Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con
số hai chục vạn quân Thanh, không có trong một sử
liệu nào, để thổi pḥng tầm vóc của
trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn Huệ
đại phá quân Thanh. (Trong hịch của Tôn Sĩ Nghị
có nói lới năm chục vạn, nhưng đó, theo Hoàng
Lê Nhất Thống Chí chỉ là tờ truyền đơn
mà mục đích là hù dọa làm mất tinh thần quân Tây
Sơn. Chính Nguyễn Huệ cũng biết đây chỉ
là chuyện hù dọa). ở một điểm Trần
Trọng Kim giấu cả sự kiện. Toàn bộ
việc thuật lại trận Đống Đa của
ông dựa theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Nhưng trong khi
Hoàng Lê Nhất Thống Chí chép rằng quân Nguyễn Huệ
đi sau các bức mộc bia, cứ ba mươi
người đàng sau một bức, tất cả là hai
mươi bức, th́ Trần Trọng Kim bỏ đi câu tất
cả là hai mươi bức , v́ như thế chứng
tỏ quân Tây Sơn chỉ có sáu trăm người, mâu
thuẫn với tầm vóc hai chục vạn quân Thanh mà ông
gán cho trận Đống Đa.
Ông Trần Trọng Kim cũng kể công Nguyễn Huệ
cứu nước khỏi tay quân Thanh. Thực ra chính
Nguyễn Huệ đă là nguyên nhân đưa tới
việc quân Thanh can thiệp. Vả lại ở
đoạn trên chúng ta đă thấy vào giai đoạn
đó nhà Thanh hoàn toàn không có ư định đánh chiếm
nước ta, chính v́ thế mà sau trận Đống
Đa họ đă bỏ nhà Lê mà ḥa với Nguyễn
Huệ. Ngược lại nếu Nguyễn Huệ c̣n
sống để mà gây chiến với nhà Thanh th́ rất
có thể nước ta đă tan hoang và mất về tay
quân Tàu.
Nhờ Việt nam Sử lược mà Nguyễn Huệ
được ca tụng như một đại anh hùng
làm vẻ vang cho dân tộc, nhưng thực ra Nguyễn
Huệ chẳng quan tâm ǵ đến thề diện
quốc gia. Đó là một ư niệm phức tạp
của giới văn học mà một người sinh ra
và lớn lên trong một môi trường đặc
biệt như Nguyễn Huệ không quan tâm. Ông chấp
nhận sang chầu vua Thanh, lạy phục xuống
đất và hôn chân vua Càn Long. Sợ nhà Thanh phản
trắc hăm hại, ông cho một người giả làm ḿnh
đi thay. Nhưng dù Nguyễn Huệ thật hay Nguyễn
Huệ giả th́ trên danh nghĩa vẫn là vua Việt nam
lạy và hôn chân vua Trung Hoa. Nguyễn Huệ cũng
thường làm những tờ bẩm gởi cho Phúc An
Khang (người thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng
đốc Lưỡng Quảng) trong đó ông tự
xưng là tiểu phiên. Trừ trường hợp Mạc
Đăng Dung, chưa có vua Việt nam nào hạ ḿnh
đến thế.
Thái độ bênh Nguyễn Huệ của ông Trần
Trọng Kim có nguyên nhân sâu xa. Gần hai thế kỷ phân
tranh đă tạo ra theo tị hiềm giữa miền Nam
và miền Bắc. Người miền Bắc vốn không
ưa chúa Nguyễn, vua Gia Long sau khi đắc thắng
lại trả thù báo oán, giết hại công thần
khiến sĩ phu Bắc Hà càng ghét hơn. Các vua nhà
Nguyễn không nể nang mà cũng chẳng đoái hoài ǵ
đến miền Bắc, họ chỉ dùng bạo
lực để thống trị mà thôi. Việc thi cử
làm sĩ phu Bắc Hà rất phân nộ. Bắc Hà tự hào
là đất văn học nhưng nhà Nguyễn chỉ cho
Bắc Hà một số cử nhân, tiến sĩ thấp
hơn miền Trung. Kể từ khi Pháp chiếm Việt
nam th́ không cứ ǵ sĩ phu Bắc Hà mà sĩ phu cả
nước trách nhà Nguyễn bất lực làm mất
nước, nhưng sĩ phu Bắc Hà th́ mạt sát nhà
Nguyễn ra mặt. Ông Trần Trọng Kim là một sĩ
phu Bắc Hà và sách của ông chủ yếu viết cho
sĩ phu Bắc Hà, trong đó tâm lư thù ghét nhà Nguyễn
rất mạnh. Nguyễn Huệ là kẻ thù của nhà
Nguyễn, vừa là hung thủ vừa là nạn nhân của
nhà Nguyễn. Kẻ thù của kẻ thù là bạn. Ca
tụng Nguyễn Huệ chỉ là một cách để
chống nhà Nguyễn. Sự thù ghét nhà Nguyễn của ông
Trần Trọng Kim rất rơ rệt.
Trong Việt nam Sử lược, ông mở đầu
chương nói về Tây Sơn bằng một cuộc
tranh luận công khai với nhà Nguyễn về nhà Tây
Sơn, ông thẳng thắn nói lư của nhà Nguyễn không
phải là lư của dân tộc. Ông Hoàng Xuân Hăn c̣n kể
rằng khi ông vâng mệnh vua Bảo Đại mời ông
Trần Trọng Kim vào gặp vua Bảo Đại
để lập chính phủ, ông Kim mới đầu
gạt phắt đi: Cái thằng Bảo Đại
gặp nó làm ǵ. Lúc đó vua Bảo Đại chưa thoái
vị. Trần Trọng Kim là một nhà nho, thường
thường đối xử rất khiêm cũng, phải
thù ghét lắm ông mới gọi vua bằng thằng.
Từ 1945 trở đi khi cuộc tương tranh
quốc-cộng nổ ra, Nguyễn Huệ lại
được thêm một đồng minh mới, mạnh
hơn nhiều lần ông Trần Trọng Kim: Đảng
cộng Sản Việt nam. Đảng cộng sản ca
tụng Nguyễn Huệ đủ điều (một
cuốn sách do chính quyền cộng sản xuất bản
để ca tụng Nguyễn Huệ có tựa đề
là Ḍng Gươm Nhân ái ) và đă dồn nỗ lực
đưa h́nh ảnh Nguyễn Huệ anh hùng áo vải vào
quần chúng v́ mục đích tuyên truyền. Tôn vinh
Nguyễn Huệ là phủ nhận nhà Nguyễn, mà vua
Bảo Đại của nhà Nguyễn lại đứng
đầu phe quốc gia cho nên tôn vinh Nguyễn Huệ
cũng là hạ nhục phe quốc gia. H́nh ảnh áo
vải cờ đào (cờ đào th́ có nhưng áo vải
th́ không) cũng rất thuận lợi cho cuộc cách
mạng vô sản. Nguyễn Huệ cũng tiêu biểu cho
những giá trị nền tảng của đảng
cộng sản: bạo lực và chiến tranh. Cả
Nguyễn Huệ lẫn đảng cộng sản
đều đă làm khổ dân chúng và làm đất nước
suy kiệt, sự chính đáng của cả hai chỉ
dựa trên nhưng chiến thắng quân sự. Các đô
đốc của Nguyễn Huệ cũng thuộc thành
phần cơ bản, nghĩa là cũng không thuộc
giới văn học như các cán bộ ṇng cốt
của đảng cộng sản. Nguyễn Huệ
cũng hành động như đảng cộng sản.
Cũng dựa vào một thiểu số có đội
ngũ để khống chế cả nước,
cũng thẳng tay tiêu diệt mọi phần tử có
thể trở thành đối thủ, cũng bất chấp
mọi đau khổ của dân chúng và những đổ
vở cho đất nước, cũng tráo trở và
lật lọng với cả đồng minh và đối
thủ. Chừng nào Nguyễn Huệ c̣n là thần
tượng của người Việt nam chừng đó
đảng cộng sản vẫn không thể bị
phủ nhận dứt khoát, dù có bị thù ghét đến
đâu đi nữa. H́nh ảnh Nguyễn Huệ đă
đóng góp rất nhiều cho thắng lợi của
đảng cộng sản và vẫn c̣n giúp đảng
cộng sản duy tŕ một chỗ đứng nào đó
trong ḷng người Việt nam. Sau 1975, các lănh tụ
lớn của đảng cộng sản đều
đến làng Tây Sơn trồng một cây để
tỏ ḷng tôn kính với Nguyễn Huệ mà họ coi
gần như một thánh tổ của đảng.
Tôn thất và triều thần nhà Nguyễn đă không
thể tranh căi về Nguyễn Huệ v́ nếu tranh căi
về Nguyễn Huệ th́ cũng phải bàn đến vua
Gia Long và những hành động không đẹp của
ông. Sau Bảo Đại ông Ngô Đ́nh Diệm cũng tránh
đề cập đến các vấn đề lịch
sử v́ thân thế của chính ông. Ông là bày tôi nhà Nguyễn
và thuộc ḍng dơi bày tôi nhà Nguyễn, và hơn nữa ông làm
quan dưới chế độ Pháp thuộc chứ không
tham gia đấu tranh giành độc lập. Ông không có thế
đứng mạnh để tranh căi về lịch sử
và có lẽ cũng chẳng hiểu biết ǵ về
lịch sử. Các tướng tá cầm quyền sau ông
Diệm đều là những người không có chỗ
đứng lịch sử vẻ vang v́ trong đại
bộ phận họ đă từng ở trong quân
đội Pháp. Vả lại họ hoàn toàn không quan tâm
đến văn hóa và lịch sử. Nói chung phe quốc
gia không nh́n thấy cả một chiến dịch tâm lư
chiến của phe cộng sản đằng sau việc
thổi phồng và tôn sùng Nguyễn Huệ.
C̣n các sử gia? Phải tiếc rằng họ đă có
đủ tài liệu, mà đôi khi họ cũng đưa
ra một cách lẻ tẻ, nhưng họ đă không có can
đảm đính chính một sai lầm lịch sử,
mặc dầu sai lầm này đă có tác dụng rất
độc hại trên số phận của dân tộc.
Người Việt chúng ta có một đặc tính là
bất cứ điều ǵ dù sai đến đâu mà
được chấp nhận trong một thời gian
cũng trở thành một chân lư khó lay chuyển. Không
những chấp nhận mà chúng ta c̣n khó chịu khi có
người đặt lại vấn đề. Chúng ta
cũng có tâm lư dĩ ḥa vi quí, hễ điều ǵ bất
luận đúng hay sai mà mọi người đă cho là
đúng th́ đừng nên căi nữa, chỉ gây bất ḥa vô
ích. Đôi khi sự gắn bó với thành kiến c̣n đi
đôi với thái độ bất dung, hằn học
đối với những người đề nghị
xét lại một thành kiến. Và như thế sự sai
lầm cứ tồn tại.
Tôi không phải là sử gia cũng không phải là nhà nghiên
cứu. Tôi là một người hoạt động chính
trị, và là một người hoạt động chính
trị rất thiếu th́ giờ, do đó tôi chỉ
đề cập đến những vấn đề có
liên hệ đến cuộc vận động dân chủ
hiện nay. Tôi đặt lại vấn đề
Nguyễn Huệ bởi v́ sự tôn sùng ông đă có ảnh
hưởng lớn trên số phận dân tộc và vẫn
c̣n đang ngăn cản một chuyển biến tư
tưởng cần thiết. Nguyễn Huệ tiêu biểu
cho nhưng giá trị mà chúng ta cần đánh đổ: vơ
biền, độc đoán, hung bạo, lật lọng và
trái ngược với những giá trị mà ta cần phát
huy: ḥa b́nh, bao dung, ḥa giải, lương thiện. Tôn sùng
Nguyễn Huệ là một tâm lư rất tai hại mà ta
cần chấm dứt. Hơn thế nửa, nhân vật
Nguyễn Huệ thực sự lại không phải như
vậy. Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Lê Chiêu Thống,
v.v... Đều là tổ tiên chúng ta cả. Chúng ta phải
chấp nhận họ như là quá khứ và cội
nguồn của chính chúng ta. Không ai lựa chọn tổ
tiên, phủ nhận tổ tiên là phủ nhận chính ḿnh,
nhưng bóp méo lịch sử là một chuyện khác.
Lịch sử vừa là tấm gương soi chân dung
của một dân tộc vừa là một kho kinh nghiệm
để học hỏi và quyết định những
chọn lựa cho tương lai. Bóp méo lịch sử chúng
ta sẽ không c̣n biết ḿnh là ai và sẽ phải làm
việc với những tài liệu sai. Không, tôi không có ư
định làm ngược lại điều mà ông Trần
Trọng Kim và đảng cộng sản đă làm, nghĩa
là đả phá Nguyễn Huệ v́ một dị ứng hay
một mục đích chính trị. Nguyễn Huệ như
thế nào chúng ta cứ chấp nhận ông như thế
Chúng ta có một nhân vật Nguyễn Huệ đă nổi
loạn, gây nhiều máu lửa và tang tóc, đă chiến
thắng các đối thủ, đă lên làm vua, rồi
chết sớm và con cháu bị tiêu diệt. Đó là sự
kiện. Nhưng thần tượng Nguyễn Huệ thiên
tài quân sự, anh minh sáng suốt và nhân nghĩa chỉ là
một sự xuyên tạc lịch sử có dụng ư.
Không nên nghĩ rằng các vấn đề văn hóa và
lịch sử không gắn bó mật thiết với
vận mệnh của một dân tộc. Qua Nguyễn
Huệ chúng ta đă dung túng một số giá trị độc
hại góp phần quan trọng tạo ra số phận bi
đát hiện nay của đất nước. Cách đây
năm ngh́n năm, sắc dân Phénicien đă là những
người tiến bộ nhất. Họ đă là
người đầu tiên chinh phục biển cả,
chế ngự cả vùng Địa Trung Hải và lập
ra cả một nền văn minh thương nghiệp.
Nhưng họ thờ thần Ham mon, thần chiến tranh
và bạo lực. Sự hung bạo đă khiến họ
tự hủy diệt và bị tiêu diệt sau đó. Tôi
đă thăm di tích Carthage. Chỉ c̣n lại những
bức tường đổ nát và những dấu vết
của những tập quán ghê rợn. Thay đổi
biểu tượng là thay đổi các giá trị nền
tảng của xă hội, là thay đổi cách ứng
xử, và cuối cùng thay đổi số phận của
một dân tộc. Đối với những quốc gia
đang bế tắc v́ đă là nạn nhân của những
giá trị độc hại đó cũng là một bắt
buộc.
Phần 2 Con
đường đă qua
Rước voi về dày mả tổ
Khi
đem tâm t́nh viết lịch sử mà tâm t́nh lại có
trộn lẫn đam mê th́ lịch sử không thể chính
xác. Nhưng hậu quả khác nhau tùy theo đam mê theo
hướng nào. Nếu đam mê theo chiều hướng
sùng ái như đói với Nguyễn Huệ th́ hậu
quả là ta đi vào con đường thủ cựu tôn
thờ quá khứ. Nếu ngược lại, đam mê theo
chiều hướng thù ghét ta có thể phạm vào một
bất công lớn đối với một người
đă nằm xuống không c̣n khả năng trả lời
nữa, và nhất là có thể tạo ra đỗ vỡ
lớn giữa những người c̣n sống. Giữa
một người đề cao Nguyễn Huệ và
một người đề cao Nguyễn ánh vẫn có
thể có sự cảm thông, nhưng một người
chống Nguyễn ánh và một người đề cao
Nguyễn ánh khó có thể đối thoại với nhau. Lê
Chiêu Thống và Nguyễn ánh là hai trường hợp
điển h́nh cho đam mê lịch sử theo chiều
hướng bài xích.
Lê Chiêu Thống bị mọi người mạt sát v́
đă cứu viện quân Thanh, cơng rắn cắn gà nhà và
không có ai bênh vực. Kư ức về ông măi măi hoen ố.
Nhưng Lê Chiêu Thống không đáng phải chịu bản
án lịch sử quá nặng nề đó. Khi Nguyễn
Huệ vừa diệt xong nhà Trịnh và cưới công
chúa Ngọc Hân th́ vua Hiển Tông nhà Lê lâm bệnh nặng
rồi từ trần không con nối dơi. Họ Lê thù họ
Trịnh áp bức ḿnh quá đáng nên quyết nhân cơ
hội này lập lại cơ đo thực sự. Họ
suy tôn con người lỗi lạc nhất của ḍng
họ Lê lúc đó là hoàng tôn Lê Duy Kỳ, một
người xét theo gia phả đáng lẽ không
được làm vua. Duy Kỳ lên ngôi đặt niên
hiểu là Chiêu Thống Hoàng Đế. Nội cái tên
cũng chứng tỏ cao vọng của ông. Nhưng Chiêu
Thống hoàn toàn không có vây cánh và của cải. các Cựu
thần mang tiếng là cựu thần nhà Lê nhưng
đều là của nhà Trịnh. Trong hơn hai thế
kỷ cầm quyền của nhà Trịnh, họ không
những không có liên hệ nào với nhà Lê mà c̣n bị
cấm tuyệt đối không được giao dịch
với nhà Lê. Lê Chiêu Thống hoàn toàn cô đơn. Ông
vừa cố hết sức thu thập được vài
bộ hạ th́ dư đảng họ Trịnh đă
nỗi lên đem Trịnh Bồng về lập lại
phủ chúa. Chiêu Thống bí mật vời Nguyễn Hữu
Chỉnh đem quân Nghệ An ra dẹp Trịnh Bồng.
Đây cũng là một quyết định rất can
đảm bởi v́ nếu âm mưu bại lộ, ông
chắc chắn sẽ bỏ mạng về tay phe
đảng Trịnh Bồng. Nhưng Nguyễn Hữu
Chỉnh vốn đă là thủ hạ của họ
Trịnh mà c̣n diệt nhà Trịnh th́ chắc chắn không
có lư do ǵ để pḥ Chiêu Thống. Nguyễn Hữu
Chỉnh lại chuyên quyền, và Lê Chiêu Thống đành
chịu. Lê Chiêu Thống chỉ lợi dụng thời
kỳ hỗn loạn, họ Trịnh bị ghét, Nguyễn
Hữu Chỉnh c̣n bị ghét hơn, để mua thời
gian, chiêu nạp thêm thủ trúc. Dự định chưa
đi đến đâu th́ Nguyễn Huệ đă sai Vũ
Văn Nhậm ra giết Nguyễn Hữu Chỉnh và
nắm quyền. Chiêu Thống cùng đám thủ hạ ít
ỏi bỏ kinh đô trốn vào dân gian, bôn ba kháp đây
đó lo việc khôi phục. Lê Chiêu Thống chỉ ở
Thăng Long được hơn một năm. Sách Hoàng Lê
Nhất Thống Chí nói khá tỉ mỉ về những
cố gắng và gian lao của Chiêu Thống trong giai
đoạn này, qua đó ta có thể thấy Lê Chiêu
Thống là một con người rất xông pha. Lúc Chiêu
Thống đương chật vật ở Thanh Hóa th́
một số cựu thần nhà Lê đem mẹ ông sang Tàu
cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh sang, Lê Chiêu Thống về
Thăng Long được mấy ngày th́ Nguyễn Huệ
đem quân đánh tan quân Thanh. Lê Chiêu Thống chạy
trốn sang Tàu. Quần thần theo ông sang Tàu lúc đó
cư xử khá liêm sỉ. Mặc dầu cô đơn
họ cũng dám đương đầu với nhà Thanh.
Có người chửi mắng quân Thanh, để rồi
tất cả bị án đầy đi khắp nơi, sang
Tây Vực, lên Măn Châu. Riêng Lê Chiêu Thống buồn phiền
mà chết. Lê Chiêu Thống tỏ ra là một người
yêu quê hương, trước khi chết dặn
người nhà sau này nhớ đem xác ông về chôn tại
cố quốc. Đó là một t́nh cảm mà trước
ông không một người Việt nam lưu vong ở Trung
Quốc nào bày tỏ. Sử chép sau khi Tây Sơn bị
diệt, gia nhân đào xác Lê Chiêu Thống lên để
đem về Việt nam theo lời dặn của ông th́
thấy cơ thể đă tan nhưng trái tim vẫn c̣n
tươi đỏ. Câu chuyện này chắc chắn là
bịa đặt, nhưng có thể giải thích rằng
gia nhân ông biết ông chết với tấm ḷng tức
tưởi nên tưởng tượng ra câu chuyện
đó.
Lê Chiêu Thống thực sự muốn cầu cứu nhà
Thanh hay là việc cầu cứu này hoàn toàn do đám tôn
thất nhà Lê chủ xướng lúc vắng mặt ông? Câu
hỏi này có lẽ không bao giờ sáng tỏ, nhưng khi
quân Thanh đă vào tới Thăng Long rồi th́ Lê Chiêu
Thống khó có chọn lựa nào khác là về Thăng Long.
Nếu ông không về chắc chắn Tôn Sĩ Nghị
sẽ bảo họ Lê t́m người khác và họ Lê
chắc chắn cũng không v́ Chiêu Thống mà bỏ cơ
hội ngần năm một thuở đó. Nhưng dù
muốn hay không Lê Chiêu Thống đă về và đă tŕnh
diện Tôn Sĩ Nghị th́ ông phải chịu trách
nhiệm như chính ông đă gọi quân Thanh vào. Tội
cầu viện quân Thanh nặng đến mức nào tùy
quan điểm của mỗi người. Điều quan
trọng là nên cố gắng t́m hiểu bối cảnh
thời đại đó. Miền Nam lúc đó chưa
hề hội nhập vào miền Bắc, nên người miền
Bắc coi miền Nam gần như một nước khác.
Có lẽ anh em Tây Sớn cũng coi như thế, nên
Nguyễn Nhạc đă xưng hoàng đế ở trung Nam
và dùng từ quư quốc để xưng hô với vua Lê.
Người miền Bắc coi Tây Sơn gần như
một đạo quân ngoại xâm, hơn nữa c̣n là
một dám quân cướp hung bạo, nên việc họ
đi cầu viện quân Thanh chống Tây Sơn là có
thể hiểu được. Đọc tập thư
từ của các giáo sĩ có mặt tại Bắc Hà lúc
đó, ta có thể thấy rằng đa số dân Bắc
Hà tán thành việc Chiêu Thống sang cầu viện nhà Thanh.
Các giáo sĩ này đều là những người ủng
hộ Tây Sơn cả. Giờ đây, sau hai trăm năm
lịch sử, biết bao máu và nước mắt đă
đổ ra trên đất nước này, ư thức
quốc gia của chúng ta đă rơ rệt hơn nhiều,
việc cầu viện ngoại bang có thể lên án một
cách không lưỡng lự, những có lẽ không nên đem
ư thức của thời nay mà xét người ngày xưa.
Vả lại chính Nguyễn Du mà chúng ta tôn vinh như
một trí tuệ siêu việt cũng đă cố chạy
theo Chiêu Thống mà không được. Về mặt
lập trường Nguyễn Du không khác Chiêu Thống.
Xét trong ba người giành nhau ngôi bá chủ ở thời
đó: Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long, th́ cả ba
đều là những người có ư chí mạnh, có can
đảm, có bản lănh. Nhưng Quang Trung và Gia Long
giống nhau ở chỗ họ đều là những con
người thủ đoạn và sắt máu. Chiêu Thống
là con người nhân hậu và t́nh cảm nhất. Trong cái
thời đại đao binh chém giết như thế,
ở vào lúc mà những bản năng tàn sát được
thả lỏng như thế, một con người
như Chiêu Thống kể ra cũng hiếm.
Độc giả đọc tới đây chắc
chắn phải tự hỏi: Tên Nguyễn Gia Kiểng này
điên chăng, hắn ăn cái giải ǵ mà bênh vực tên
việt gian Lê Chiêu Thống? Sao hắn ngu đến
thế, rồi đây tên tuổi hắn sẽ bị
gắn liền với Lê Chiêu Thống. Nhưng nếu làm
chính trị chỉ là tính toán thiệt hơn th́ cũng
buồn thực. Tôi chẳng có họ hàng ǵ với Lê Chiêu
Thống, tổ tiên tôi cũng chẳng có ai làm quan nhà Lê.
Nhưng tôi thấy cần phải sửa chữa lại
một bất công quá đáng kéo dài quá lâu với một
người đă chết. Lê Chiêu Thống là người
Việt nam, tôi cũng là người Việt nam. Hơn
nữa ông là một nhân vật lịch sử và tôi cần
nh́n rơ lịch sử của nước tôi. Quan hệ
giữa ông ta và tôi chỉ có thể. T́m trong lịch sử
Việt nam tôi khám phá ra rằng việc mạt sát Lê Chiêu
Thống chỉ mới gần đây thôi, đúng ra từ
1945 trở đi và có một mục đích chính trị
chứ không phải hoàn toàn vô tư. Sách Hoàng Lê Nhất
Thống Chí của ḍng họ Ngô rất gắn bó với
Tây Sơn cũng không hề lên án Lê Chiêu Thống, trái
lại c̣n bày tỏ sự cảm thương. Sau thế
chiến hai, đảng cộng sản Việt nam nắm
được thế chủ động. Trước
mặt họ là các đảng phái quốc gia Việt nam
Quốc Dân Đảng, Việt nam Cách Mạng Đảng
và Đại Việt được quân Tưởng
Giới Thạch ủng hộ. Nếu Lê Chiêu Thống
bị mọi người lên án v́ cầu viện quân Thanh
th́ chính nghĩa của các đảng phái quốc gia này
ở chỗ nào? Cho nên Lê Chiêu Thống phải bị
mạt sát. Sau này mạt sát Lê Chiêu Thống cũng vẫn
cần v́ nó đánh vào nhược điểm của phe
quốc gia là dựa vào người Pháp rồi
người Mỹ. Lê Chiêu Thống trở thành một chiêu
bài. Lịch sử được uốn nắn để
sử dụng cho mục đích chính trị. Các chính
phủ quốc gia kế tiếp nhau chỉ gồm
những người lănh đạo rất yếu về
căn bản dân tộc và cũng yếu về lư luận
chính trị nên đă không nh́n thấy cái bẫy Lê Chiêu
Thống quá lớn này. Đặc điểm của
những người cầm đầu phe quốc gia là
họ có khá nhiều học vị nhưng lại chỉ
có rất ít quan tâm về chính trị và càng ít quan tâm
đối với lịch sử Việt nam. Họ, hay
đúng hơn một vài trí thức có tŕnh độ trung
b́nh ủng hộ họ, chỉ biết phản pháo
bằng cách cũng lên án Lê Chiêu Thống nhưng buộc
tội đảng cộng sản bỏ tổ quốc,
đem Liên Xô, Trung Quốc và chủ nghĩa cộng sản
ngoại lai về đầy đọa quê hương
như Lê Chiêu Thống. Nhưng lập luận của phe
quốc gia hời hợt và giả tạo nên đă
thiếu hẳn sức thuyết phục. Kết quả là
hai bên thi nhau mạt sát Lê Chiêu Thống, và hơn nữa
lại cũng đồng ư với nhau rằng Lê Chiêu
Thống là con người nhu nhược và hèn nhát, một
điều hoàn toàn không đúng sự thực v́ Lê Chiêu
Thống là con người rất có đảm lược
và bản lănh, không ngại vào sinh ra tử. Lê Chiêu Thống
đă là nạn nhân của sự khôn ngoan của phe
cộng sản và sự nông cạn của những
người càm đầu phe quốc gia, một nạn
nhân đáng thương v́ con cháu nhà Lê không c̣n để bênh
vực ông, số rất ít cựu thần nhà Lê đă thành
cựu thần nhà Nguyễn. Nhưng bây giờ th́ cuộc
chiến đă xong rồi. Có lẽ nên để cho
người chết yên nghỉ th́ hơn.
Vả lại, nếu buộc tội Lê Chiêu Thống
rước quân Thanh vào, th́ tại sao người cộng
sản không ca tụng Ngô Đ́nh Diệm đă chết v́
không chịu cho Mỹ đổ bộ? Người
cộng sản nên ôn ḥa hơn với Lê Chiêu Thống khi
họ cũng dùng vũ khí và cố vấn Liên Xô, dùng
cả quân Trung Quốc trong cuộc chiến vừa qua.
Nhất là hiện nay họ cũng rất lễ
độ với Trung Quốc dù Trung Quốc vẫn
tiếp tục lấn chiếm. Đảng cộng
sản từ trước vẫn tự coi là có chính
nghĩa nhờ một lập luận quái đản: các
anh có tội đem quân nước ngoài vào để nó
giết người Việt, trong khi chúng tôi có chính nghĩa
v́ chúng tôi tự tay giết người Việt. Vậy mà
lập luận này đă có sức thuyết phục trong
nhiều thập niên. Điều này chứng tỏ
rằng một dân tộc hiểu sai lịch sử của
ḿnh cũng không khác một người mất trí và có
thể ch́m rất sâu trong sự mê muội.
Khi ông Hồ Chí Minh chết, ông là chủ tịch
nước Việt nam Dân Chủ Cộng Ḥa nhưng ông
chỉ mơ ước về bên kia thế giới
gặp cụ Marx, cụ Lênin. Khi Lê Chiêu Thống chết,
ông lưu lạc bơ vơ và bị non sông ruồng
bỏ nhưng ông lại mong được t́m về
đất cũ. Giữa hai tâm hồn ấy, kể ra
cũng có một sự khác biệt.
Về chiêu sâu, tôi nghĩ rằng khi một người
đă chết th́ không c̣n ǵ quan trọng nửa. Dù chết
đi trong tiếng khóc thương, hay trong tiếng
nguyền rủa hận thù th́ cũng thế thôi, cát
bụi vẫn là cát bụi. Nhưng c̣n một lư do nữa
khiến tôi thấy cần nhắc lại trường
hợp Lê Chiêu Thống, đó là để rút ra một bài
học có ích. Tại sao một con người xuất chúng
như Lê Chiêu Thống lại có thể làm việc đi cầu
cứu quân Thanh? Và tại sao một số đông
đảo dân chúng Bắc Hà lúc đó lại tán thành hành
động này? Đó là v́ tinh thần dân tộc của ta
đă rách nát sau những cuộc phân tranh triền miên.
Đó cũng là v́ các phe phái hận thù nhau đến
độ mất cả sự sáng suốt. Bài học mà ta
cần phải rút ra là sự liên đới dân tộc và
tinh thần trách nhiệm chỉ có thể xây dựng trong
ḥa b́nh mà thôi.
Một bài học khác là không nên dựa vào lư mà cũng
đừng dựa vào thế mạnh để bắt bí
nhau, đừng đẩy người đuối lư hay
kém thế vào những chọn lựa tuyệt vọng.
Từ năm 1945 cho đến năm 1975, người
cộng sản không những không muốn thỏa hiệp
với người quốc gia để t́m một
giải pháp chấp nhận được cho mọi
người, mà trái lại họ c̣n cố đẩy
người quốc gia vào chỗ càng ngày càng lệ
thuộc ngoại bang hơn, và họ vui mừng khi
thấy phe quốc gia dựa vào ngoại bang để
họ giành độc quyền chính nghĩa. Phe quốc gia
cũng có cùng một thái độ, tuy không có cùng một
mức độ thành công. Kết quả ra sao cho
đất nước, chúng ta đều đă thấy.
Bài học đó đang có chiều hướng lập
lại một lần nữa. Vấn đề cơ ban
hiện nay là dân chủ hóa. Đối lập dân chủ có
lư hoàn toàn khi đ̣i dân chủ da nguyên và đảng cộng
sản vô lư hoàn toàn khi phủ nhận dân chủ đa
nguyên. Nhưng hậu quả gần như tất nhiên
của việc áp dụng dân chủ đa nguyên là
đảng cộng sản sẽ mất chính quyền, cho
nên đảng cộng sản coi những đ̣i hỏi dân
chủ như một sự bắt bí. Ngược lại
họ có quyền, có sức mạnh và họ sử
dụng sức mạnh đó để đàn áp những
nguyện vọng dân chủ, dần dần họ bị cô
lập với dân chúng. Càng yếu đi họ càng phải
nhượng bộ ngoại bang, quy luỵ với Trung
Quốc dù Trung Quốc xâm lấn lănh thổ và lănh hải,
quy luỵ với các thế lực tài phiệt ngoại
quốc và nhượng cho họ những vùng đất có
tầm quan trọng kinh tế lớn nhất. Ch́a khóa
của giải pháp cho đất nước là phải
thỏa hiệp với nhau để t́m ra một giải
pháp vẫn thực hiện được dân chủ mà
không để dọa tương lai của bất cứ
ai. Trong t́nh h́nh đất nước hôm nay trái tim cần
hơn lư trí. Chúng ta cần những luật sư hơn
những biện lư.
Phần 2 Con
đường đă qua
Cơng rắn cắn gà nhà
Nếu
nỗi oan khiên kéo dài của Lê Chiêu Thống có thể
giải thích được th́ sự lên án Nguyễn ánh là
cơng rắn cắn gà nhà lại càng khó hiểu.
Nguyễn ánh bị nhiều người lên án là đă
rước quân Pháp vào Việt nam, để rồi
Việt nam bị Pháp đô hộ. Điều này hoàn toàn
sai. Nguyễn ánh chết năm 1820, trong khi người Pháp
chỉ bắt đầu xâm chiếm nước ta từ
năm 1858, nghĩa là 38 năm sau dưới triều
Tự Đức cháu nội ông. Hai vị vua nhà Nguyễn,
Minh Mạng và Tự Đức, xứng đáng bị lên
án nặng nề, nhưng không phải v́ họ đă
thỏa hiệp với Pháp mà v́ họ đă chống Pháp
một cách điên cuồng và mù quáng. Nguyễn ánh không
phải đă không làm những việc sai trái. Năm 1784, ông
đă gởi hoàng tử Cảnh theo giám mục Bá Đa
Lộc sang Pháp cầu viện Louis XVI. Hai bên kư kết
thỏa ước, theo đó Nguyễn ánh sau khi thành công
sẽ dành nhiều đặc quyền lớn cho
người Pháp và nhượng đứt đảo Côn
Lôn cho Pháp. Ông cũng đă cầu viện quân Xiêm sang
Việt nam giúp đánh quân Tây Sơn. Nhưng cả hai
việc làm đáng trách này đă không giúp được ǵ
cho ông. Thỏa ước kư với Louis XVI đă không
được thực hiện, c̣n đám quân Xiêm th́ đă
bị Nguyễn Huệ đánh tán nhanh chóng. Sau này Nguyễn
ánh thành công, khôi phục được nhà Nguyễn hoàn toàn
dựa vào cố gắng của chính ông. Nguyễn ánh có
sử dụng một số tay đánh thuê người
Pháp, nhưng đó chỉ là những cá nhân, điều này
rất b́nh thường thời đó. Anh em Tây Sơn
cũng đă sử dụng bọn cướp biển Lư
Tài và Tập Đ́nh; họ cũng cố tranh thủ
sự ủng hộ của người phương Tây mà
không được v́ người phương Tây chỉ
coi Tây Sơn là quân cướp.
Có người nói v́ Nguyễn ánh cầu viện mà
người Pháp mới biết tới Việt nam. Lời
buộc tội này lại càng ngây ngô hơn nữa.
Người châu Âu nói chung và người Pháp nói riêng đă
đến Việt nam từ đầu thế kỷ 16,
lúc tổ tiên Nguyễn ánh là Nguyễn Hoàng chưa ra
đời, rồi liên tục gia tăng sự hiện
diện. Họ đă thiết lập nhiều trung tâm
thương mại tại Hội An, Hà Nội và Hưng
Yên. Người châu Âu đến nước ta là lẽ
tự nhiên v́ lúc đó họ đă mạnh và đang bung ra
khám phá thế giới. Việc họ đến
nước ta, đem theo một văn hóa và một kỷ
thuật mới đáng lẽ phải là một may mắn
lớn cho nước ta, chỉ tiếc rằng chúng ta
đă không đủ sáng suốt để lợi dụng.
Nguyễn ánh có công lớn với đất nước.
Chính ông đa thống nhất được đất
nước. Không có ông không chừng ngày nay miền Nam và
miền Bắc vẫn c̣n là hai quốc gia riêng biệt. Phe
cộng sản mạt sát Nguyễn ánh là điều dễ
hiểu, nhưng điều ngạc nhiên là Nguyễn ánh
bị lên án một cách ḥ đồ như thế mà không
được minh oan một cách rơ rệt, trong khi tôn
thất nhà Nguyễn, ngày trước và ngay bây giờ, không
thiếu những người có kiến thức và tŕnh
độ cao. Đó là v́ một bên có lư do để ra
sức buộc tội Nguyễn ánh, c̣n một bên dù
muốn bênh Nguyễn ánh cũng không thể bào chữa cho
ông một cách thông suốt. Nếu muốn bào chữa cho
Nguyễn ánh th́ phải mổ xẻ sự nghiệp
của ông một cách khách quan nhưng điều này
lại khó làm. Muốn nói rơ về Nguyễn ánh th́ bắt
buộc phải nh́n nhận những sai phạm của ông
đối với đất nước - cầu viện
Pháp, cầu viện Xiêm, và cách đối xử thô bạo
của ông đối với con cháu Tây Sơn. Cũng
phải luận việc ông bội bạc và giết
hại các công thần. Điều này các vua nhà Nguyễn
không cho phép v́ họ không thể chấp nhận một phê
phán nào về ông tổ của họ. Sau này Ngô Đ́nh
Diệm, sau khi đă truất phế vị vua cuối cùng
của nhà Nguyễn, cũng không dại ǵ mà bênh vực ông
tổ nhà Nguyễn. Sau Ngô Đ́nh Diệm là chế
độ của các tướng tá, trong đó nhưng
vấn đề văn hóa, lịch sử không đặt
ra nữa. Nguyễn ánh bị buộc tội oan trong khi ông
là người có công lớn, và hơn thế nữa tổ
tiên ông c̣n có công rất lớn là đă khai phá ra một
nửa đất nước.
Nếu ai hỏi tôi ai là người có công nhất
đối với Việt nam, tôi sẽ lưỡng lự
giữa Lư Công Uẩn và Nguyễn Hoàng. Lư Công Uẩn có công
lập ra một quốc gia Việt nam thực sự, có
kỷ cương, có triều chính, có văn hóa và
đặt nền nếp cho Việt nam từ đó về
sau (nhưng đồng thời ông cũng vô t́nh làm một
điều tai hại là khẳng định vai tṛ của
Khổng Giáo như một văn hóa chính thức).
Nguyễn Hoàng có công mở ra một nửa đất
nước, và đó cũng là nửa nước trù phú
nhất. Lưỡng lự giữa hai người
nhưng nếu bắt buộc phải chọn một
người có lẽ tôi thiên về Nguyễn Hoàng.
Trước năm 1945, h́nh như không có chuyện buộc
tội Nguyễn ánh. Phan Chu Trinh, một người
chủ trương dân chủ và công khai bài xích triều
Nguyễn, khi xỉ vả vua Khải Định là hèn
đốn đă viết:
Ai về âm phủ hỏi Gia Long,
Khải Định thằng này phải cháu ông?
nghĩa là cũng nh́n nhận Nguyễn ánh là bậc anh hùng.
Sau năm 1945, nhà Nguyễn đă thoái vị, đảng
cộng sản đă nắm chính quyền tất nhiên không
c̣n muốn ḷng dân nhớ nhà Nguyễn nữa. Lời cáo
buộc Gia Long cơng rắn cần gà nhà bắt đầu
từ đấy. Khi cựu hoàng Bảo Đại trở
về thành lập chính quyền quốc gia, mạt sát và
hạ bệ Gia Long dĩ nhiên nằm trong chính sách tuyên
truyền của đảng cộng sản. Dưới
chế độ cộng sản bênh vực Gia Long, chưa
nói đến khen Gia Long, là phạm tội phản
động.
Vụ án Gia Long tuy không ồn ào bề ngoài nhưng trong
chiều sâu đă gây chia rẽ không nhỏ trong hàng ngũ
miền Nam trước năm 1975. Tôi đều có
nhiều dịp nhận ra điều đó. Một
lần tôi được chứng kiến một cuộc
căi vă ngắn nhưng rất dữ dội. Trong một câu
chuyện văn, không hiểu tại sao hai nhân vật lịch
sử Nguyễn Huệ và Nguyễn ánh lại
được đề cập tới. Một anh bạn
khen Nguyễn Huệ là anh hùng, chê Gia Long là tầm
thường, may nhờ Nguyễn Huệ mất sớm mà
thắng được. Một anh bạn khác phản
ứng một cách giận dữ: Nguyễn Huệ là
một tên tướng cướp gặp thời, Gia Long
mới có công thống nhất đất nước. Anh
kia cũng không chịu thua. Cả hai đi tới kết
luận là người trước mặt ḿnh không có tŕnh độ,
rồi họ chấm dứt cuộc thảo luận
với cùng một nét mặt khinh bỉ. Về sau tôi có
hỏi người nọ về người kia, cả hai
đều nói về nhau một cách nặng lời,
chắc chắn là không thể hợp tác với nhau
được nữa. Tại sao một giai đoạn
lịch sử hai trăm năm về trước lại
có thể chia rẽ chúng con người ngày hôm nay? Chúng ta
đặt quá nhiều đam mê và xúc động vào một
lịch sử rất không chính xác.
Thương nhau thương cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.
Có lẽ nhiều người đă giận các vua Minh
Mạng, Tự Đức mù quáng và ngoan cố làm mất
nước, ghét Bảo Đại hèn nhát trác táng, rồi
ghét luôn cả Gia Long. Nhưng cách vận dụng lịch
sử thiếu lương thiện nhất eâxn thuộc
về đảng cộng sản. Họ luôn luôn bóp méo
lịch sử cho những mục đích tuyên truyền.
Năm 1979 khi vừa cải tạo về tôi nghe
đứa cháu gái tôi học lịch sử: Năm... tên bán
nước Gia Long đem quân đánh Phú Xuân. Tôi giật ḿnh,
sách sử ǵ mà ngôn từ hạ cấp như vậy? Tôi
đ̣i xem cuốn sách và c̣n thấy cả tên cướp
nước Triệu Đà. Triệu Đà chết đă
hơn hai ngàn năm nay cũng bị vạ lây, bởi v́
lúc đó hai chế độ cộng sản Việt nam và
Trung Quốc đang xung đột. Để ư đến
cách dạy sử lúc đó, tôi phải phẫn nộ. H́nh
như Việt nam chỉ mới thực sự thành lập
từ khi có đảng cộng sản.
Những đề tài thi sử thường gặp lúc
đó là: Đảng cộng Sản Việt nam thành lập
ngày nào, năm nào? Quân Dội Nhân Dân Việt nam thành lập
ngày nào, năm nào? Bác Hồ ra đi t́m đường
cứu nước năm nào, ở đâu?. Và câu hỏi
quan trọng nhất: Ngày 2-9-1945 tại vườn hoa Ba
Đ́nh, trước khi đọc tuyên ngôn độc
lập, Bác Hồ đă nói ǵ? (Câu trả lời là Bác
Hồ đă nói: Tôi nói đồng bào có nghe rơ không?).
Sự sửa đổi lịch sử được
thể hiện trên thực tế. Tại Sài G̣n,
đường Nguyễn Hoàng được thay bằng
đường Trần Phú, theo tên một cấp lănh
đạo cộng sản đă chết. Chúa Hiền,
người có công khai mở miền Nam, nhường tên
đường cho Vơ Thị Sáu, một nữ cán bộ
khủng bố cộng sản. Đường Gia Long
dĩ nhiên không c̣n, nay là đường Lư Tự Trọng.
Vô số công thần lập quốc bị xóa tên
đường nhường chỗ cho nhưng cán bộ
cộng sản không tên không tuổi. Từ ngày 30-4-1975,
nước Việt nam không phải chỉ thay đổi
hiện tại và tương lai mà c̣n thay đổi cả
quá khứ.
Lịch sử là gia phả chung của đất
nước, là kư ức tập thể của dân tộc
xuyên tạc nó là xúc phạm đến trí tuệ của dân
tộc. Chưa nói rằng bôi nhọ một người
đă nằm xuống từ lâu rồi cho một mục
đích giai đoạn là một việc mà chỉ có
những kẻ thấp kém mới làm. Làm như thế
đang cộng sản cũng đă hạ giá chính cái lư
tưởng của họ. Nếu lư tưởng của
họ trong sáng, dự án chính trị của họ
đặc sắc th́ họ cần ǵ phải vận
dụng những thủ đoạn tồi tàn như vậy?
Nhưng một câu hỏi cũng đặt ra cho chúng ta?
Tại sao họ lại có thể làm như thế và
một phần nào đó đă thành công? Đó là v́ chúng ta
thiếu một sử quan đứng đắn. Lịch
sử của ta thiếu sót và thiếu chính xác, đó là
một điều đáng tiếc; nhưng điều c̣n
đáng tiếc hơn nữa là cách tiếp cận lịch
sử của chúng ta. Chúng ta không coi lịch sử như
một tài sản chung của dân tộc mà mọi
người phải trân trọng. Từ bao đời
rồi lịch sử vẫn chỉ được coi là
một diễn đàn để hạ nhục đối
phương và tâng bốc ḿnh lên. Tập quán đó dần
dần ăn rễ vào tâm lư mọi người, trong
tiềm thức chúng ta. Chúng ta không coi việc xuyên tạc
lịch sử là nghiêm trọng, chúng ta không coi lịch
sử là kư ức của những cố gắng dựng
nước, trái lại chúng ta coi lịch sử như là
sự nối tiếp nhau của những trận đánh
tàn phá đất nước. Chúng ta đọc lịch
sử một cách sơ sài và dựa vào lịch sử
để đưa ra những phê phán hồ đồ
nhưng chắc nịch. Các dân tộc khác có thể chia
rẽ v́ không đồng ư với nhau trên nhưng việc
cằn làm cho hôm nay và ngày mai; người Việt nam
lại c̣n có thể chia rẽ và hận thù nhau v́ những
chuyện đă hoàn toàn thuộc về quá khứ mà mọi
người chỉ biết một cách rất mơ
hồ.
Phần 2 Con
đường đă qua
Cho những người đă nằm xuống
Một
thảm kịch vẫn c̣n chia rẽ trầm trọng trong
người Việt nam với nhau là việc cấm
đạo. Con số nạn nhân thực sự là bao nhiêu
không ai biết. Một số nhà nghiên cứu đưa ra
ước lượng trên một trăm ngàn.
Họ đă bị giết không phải v́ đă phạm vào
một tội ác nào mà chỉ v́ đă theo một tín
ngưỡng không được triều đ́nh chấp
nhận, dù tín ngưỡng ấy không xúi giục họ làm
điều ǵ bạo ngược mà chỉ dạy họ
công b́nh, bác ái. Có khi sự sống và sự chết
được quyết định một cách giản dị:
ai chịu bước qua thánh giá để chứng tỏ
ḿnh đă phủ nhận tín ngưỡng Công Giáo th́
được sống, ai không chịu th́ bị dẫn
thẳng ra pháp trường. Và khoảng một trăm ngàn
người Công Giáo đă chịu chết để
giữ tín ngưỡng của ḿnh. Họ đă chết
một cách hiền lành không chống trả, chết trong
lời cầu nguyện. Việc bách hại người
Công Giáo đă là một vết nhơ khó tẩy xóa trong
lịch sử Việt nam. Đó là sự kiện chính nhà
nước Việt nam, chứ không phải một đoàn
quân xâm lược nào, đă tàn sát một số lớn
những người Việt nam hoàn toàn vô tội. Thảm
kịch c̣n lớn hơn nữa v́ nhà nước đó
biết họ vô tội nhưng vẫn giết họ.
Điều đáng ngạc nhiên là cho tới nay chưa có một
chính quyền Việt nam nào, nhân danh sự liên tục
của quốc gia, tổ chức một ngày để xin
lỗi những người Công Giáo về sự sai
lầm kinh khủng đó. Phải chăng là v́ các chính
quyền không ư thức được cuộc sống liên
tục của một quốc gia và do đó không cảm
thấy có trách nhiệm về những ǵ những
người cầm quyền trước ḿnh đă làm? Hay
v́ một hành động long trọng như vậy sẽ
không khỏi đặt ra những vấn đề
lớn cho một chính quyền tự ḿnh cũng cảm
thấy tay có nhúng chàm? Chính quyền cộng sản hiện
nay cũng đưa ra vô số biện pháp chèn ép các tôn
giáo. Tài liệu Quan điểm và cuộc sống của
Nguyễn Hộ, được phổ biến năm 1994,
c̣n tố giác chính đảng cộng sản Việt nam
đă tập trung những người theo đạo Cao
Đài tại Củ Chi, tàn sát họ và chôn tập thể.
Ông Nguyễn Hộ là tư lệnh phó quân đội
cộng sản khu vực Sài G̣n bao gồm Củ Chi hồi
năm 1946 lúc xảy ra vụ tàn sát này nên những
điều ông nói ra chỉ có thể đúng sự
thực. Một điều cũng rất đáng ngạc
nhiên là cho tới nay tập thể người Công Giáo
chưa bao giờ chính thức đ̣i các chính quyền Việt
nam phải giải oan, phục hồi danh dự và nhận
lỗi với những nạn nhân. Họ tự thấy
quá cô đơn, hay họ thấy không c̣n ràng buộc
lắm với đất nước này nên không thấy
cần phải đ̣i hỏi như vậy? Nhưng đó
là một việc phải làm và sẽ phải làm một
cách rất long trọng. Mọi người đều
hiểu như vậy, và v́ không muốn làm hay không thể
làm, nhiều người đă thoái thác bằng một thái
độ cực kỳ tệ hại là tiếp tục bào
chữa cho việc cấm đạo, tiếp tục bào
chữa cho việc tàn sát người Công Giáo, tiếp
tục bôi nhọ kư ức của những người
đă chết oan và tiếp tục gây chia rẽ trầm
trọng trong dân tộc. Thái độ thiếu lương
thiện này lại gây ra một số nạn nhân khác: có
những người nhẹ dạ đă thực sự
bị lường gạt v́ những luận diệu
dối trá ấy và thực sự ghét người Công Giáo.
Tôi đă từng được nghe nhắc lại không
biết bao nhiêu lần là đạo Công Giáo do thực dân
Pháp đem đến, trong khi sự thực là đạo
Công Giáo đă được các giáo sĩ Tây Ban Nha và Ḥa Lan
truyền sang nước ta từ sau thế kỷ 16 trong
khi người Pháp chỉ đến vào giữa thế
kỷ 19, nghĩa là ba thế kỷ sau. Hơn nữa,
tỷ lệ người Việt nam theo đạo Công Giáo
vào cuối thế kỷ 17 trước khi có việc
cấm đạo được ước lượng
là xấp xỉ 10%. Sự xâm lăng và thống trị
của người Pháp làm cho tỷ lệ người
Việt nam theo đạo Công Giáo giảm đi chứ không
tăng lên.
Năm 1989, khi vụ Phong Thánh cho 117 thánh tử đạo
tại Việt nam đang sôi nổi, ṭa báo Thông Luận
chúng tôi nhận được một thư độc
giả. Lá thư, bằng một giọng điệu
hằn học và miệt thị, kể lại việc quân
Pháp đánh thành phố Hải Dương, trong đó
chỉ có 15 người lính Pháp và cả trăm
người Công Giáo đi theo gánh gạo, vác đạn,
v.v... Không một lời về việc bách hại hàng
trăm ngàn người Công Giáo vô tội
Năm 1993, Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận mời
cụ Nguyễn Huy Bảo phát biểu trong một cuộc
họp về đề tài Dân Việt nam có thể có dân
chủ được không?. Đề tài đó không
phải là tất cả buổi họp. Mỗi sinh
hoạt của Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông Luận
gồm ba phần. Phần đầu về kiểm
điểm nội dung những số báo Thông Luận
từ kỳ họp trước đến nay; phần
thứ hai hoặc thảo luận về một đề
tài hoặc thảo luận về một vấn đề
chính trị có tính thời sự, phần thứ ba là sinh
hoạt thân hữu, trong đó các thân hữu tự do tŕnh
bày những ǵ ḿnh đă làm, những ǵ một thân hữu
khác đă làm, những ǵ ḿnh có ư định làm và t́m
người hợp tác. Các thân hữu có xuất bản sách
thường đem sách của ḿnh tới giới thiệu
và bán trong phần này. Bài thuyết tŕnh của cụ
Nguyễn Huy Bảo nằm trong phần thứ hai.
Cụ Bảo có đề cập tới chính sách thủ
cựu của các vua quan nhà Nguyễn, trong đó có việc
cấm đạo, như là những sai lầm đă
khiến Việt nam lỡ mất một cơ hội canh
tân với hậu quả tai hại. Chằng có ǵ là quá khích
và lố lăng trong bài thuyết tŕnh. Nhưng như
thế cũng đă đủ để ngay khi cụ
vừa dứt lời, một thanh niên vẫn thường
hay lui tới câu lạc bộ đùng đùng nỗi
giận đứng lên bất chấp cả chủ
tọa to tiếng mạt sát cụ Bảo bằng
những lời lẽ nặng nề, bất chấp
cả tinh thần trang trọng của buổi họp,
bất chấp cả sự kính trọng tối thiểu
mà lễ giáo Việt nam vẫn dành cho người lớn
tuổi (cụ Bảo lúc đó đă 85 tuổi). Những
công thức chế tạo sẵn đua nhau tuôn chảy:
Ông là một sản phẩm của thực dân Pháp, Bài
thuyết tŕnh của ông là của một con người
đă chối bỏ tổ tiên... , Ông lập lại
những luận điệu phản quốc, những
lập luận của bọn giáo sĩ cướp
nước, v.v... Tôi làm chủ tọa buổi họp hôm
đó và tôi đă phải quả quyết cắt lời anh
ta. Anh ta biết tôi và vẫn dành cho tôi một sự kính
trọng nào đó không biết sự kính trọng đó bây
giờ c̣n hay không v́ sau đó không thấy anh ấy lui
tới câu lạc bộ nữa. Tôi ôn tồn nói với anh
ta là không có ư kiến nào cấm nêu ra và không có đề tài
nào cấm bàn đến, anh ta đừng sợ sẽ
không được phát biểu hết ư kiến của
ḿnh, nhưng phải tôn trọng chủ tọa và cũng phải
tôn trọng tinh thần thảo luận của câu lạc
bộ là mọi trao đỏi phải có sự
tương kính. Rồi tôi lại trao lời cho anh nói
tiếp. Có lẽ tự thấy ḿnh đă quá lời, anh ta
xin lỗi v́ đă dùng lời lẽ quá nặng nhưng
giải thích: Xin quí vị thông cảm cho, v́ dân tộc tôi
đă đau khổ quá nhiều v́ bọn giáo sĩ tới
làm do thám cho thực dân cướp nước, v́ những
tên Việt gian bỏ đất nước đi theo
bọn giáo sĩ. Tôi phải tố cáo bọn giáo sĩ,
tố cáo mưu đồ cướp nước của
Vatican... . Lời xin lỗi đồng thời cũng là
một lời thóa mạ. Sau buổi họp, ra ngoài gặp
tôi, anh ta vẫn c̣n hậm hực: Tôi phải vạch
mặt lên này (cụ Bảo), hắn là một tên giáo
sĩ. Giáo sĩ đối với anh ta là một từ
ngữ rất nặng, tự nó đă có tính mạt sát
rồi. Tôi không giận anh ta, v́ cái tập quán thù ghét
thậm tệ người khác dựa trên những sự
kiện mà chỉ cần b́nh tĩnh một chút cũng
đủ thấy là rất sai là một đặc tính
của người Việt nam. Tôi vẫn có cảm t́nh
với anh ta. Xuất thân là một người lao
động vượt biên sang Pháp, ngoài việc làm ăn
anh ta c̣n dành rất nhiều th́ giờ để học
hỏi. Anh ta đọc rất nhiều sách và tỏ ra có
quan tâm với tương lai đất nước. Càng có
cảm t́nh với anh bao nhiêu tôi càng giận những
người trí thức thiếu lương thiện đă
đầu độc những tâm hồn nhẹ dạ. Anh
ta có kể cho tôi nghe một số sách mà tôi có đọc
qua.
Đó là những cuốn sách viết úp úp mở mở, gom
lọc tài liệu với dụng ư rơ rệt là tạo cho
độc giả một ngờ vực rằng việc
truyền bá đạo Công Giáo ở Việt nam nằm trong
âm mưu thôn tính Việt nam của Pháp. Tôi không thể nh́n
thấy một sự xứng đáng nào trong những
cố gắng đó. Chúng chỉ tố giác sự thấp
kém của các tác giả. Họ hận thù v́ thành kiến,
rồi chính hận thù làm cho tâm hồn họ bị vẩn
đục và trí tuệ họ bị mê muội. Với
thời giờ bỏ ra nghiên cứu như vậy, nếu
đừng để cho hận thù làm mù quáng đi, họ
đă thấy là không làm ǵ có một âm mưu thôn tính
Việt nam, chưa nói tới một âm mưu với
sự đồng lơa giữa Vatican và chính quyền Pháp. Mà
tại sao Vatican lại đồng loă với Pháp mà không
đồng lơa với ư, Ḅ Đào Nha hay Tây Ban Nha? Những
ai nghiên cứu phong trào thực dân trong ba thế kỷ 17,
18 và 19 đều biết rằng phong trào này chủ
yếu là do các công ty tư nhân đi t́m lợi nhuận.
Không làm ǵ có một ư chí chính trị của các nước
châu Âu nói chung và Pháp nói riêng để chiếm đóng các
nước châu á cả (trong một bài sau chúng ta sẽ bàn
kỹ hơn về vấn đề này). Chính quyền Pháp
đă bị đẩy tới chỗ phải can thiệp
vào Việt nam dưới áp lực của dân chúng sau khi
những đợt bách hại người Công Giáo gây ra xúc
động quá lớn.
Tôi càng không hiểu tại sao, trong lúc này và tại hải
ngoại, vẫn có những người cố gắng bôi
nhọ người Công Giáo bằng những tài liệu
xuyên tạc hạ cấp kiểu Tây Dương Gia Tô Bí
Lục. Đề làm ǵ? Đáng buồn nhất là một
số người lại c̣n gần liền sự phát
triển của Phật Giáo với sự bài xích Thiên Chúa
Giáo. Phật Giáo Việt nam không mạnh thêm, mà c̣n có thể
bị hoen ố đi v́ những Phật tử như
thế.
Lư do chính khiến cho vết thương cấm đạo
vẫn c̣n rưóm máu cho tới nay là v́ chúng ta vẫn
chưa t́m được cách đọc lịch sử.
Điều đau nhức nhất trong thảm kịch
cấm đạo là có những người Việt nam thực
sự yêu nước, thực sự dũng cảm đă
tham gia tích cực vào việc tàn sát và nhục mạ
những người Công Giáo vô tội. Tôi muốn nói
tới những phong trào Văn Thân và Cần Vương.
Chắc chắn là trong động cơ thúc đẫy
họ có ḷng yêu nước, nhưng sự cuồng tín tôn
thờ Nho Giáo của họ c̣n mạnh hơn. Họ đă
giết người Công Giáo bởi v́ họ thực sự
tin rằng người Công Giáo đă bỏ đạo lư
của ông cha, đi tôn thờ một tà đạo của
người phương Tây mà lúc đó họ gọi là
bọn quỷ trắng. Một người Việt nam
đă theo đạo Công Giáo th́ không c̣n là đồng bào của
họ nữa, mà chỉ c̣n là một tâm hồn đă
bị quỷ ám cần phải tiêu diệt. Các phong trào
Cần Vương và Văn Thân có lẽ đă chỉ
giết vài người lính Pháp, nhưng họ đă
giết hại hàng chục ngàn tinh mục và giáo dân Việt
nam. Họ mù quáng, thiển cận, có tội lớn mà không
có công nào. Họ chỉ cố gắng bảo vệ
một cái quá khứ hủ lậu cần phải vất
bỏ đi: Nhưng họ là những người có chí
khí, có can đảm. Họ nằm trong truyền thống
của đất nước và của ông cha, nên chúng ta
chỉ có thể buồn v́ sự mù quáng của họ,
chứ không thể ghét họ được. Do đó chúng
ta bối rối, rồi để có thể tôn vinh họ,
chúng ta biện hộ cho việc họ làm, đỗ
tội cho những người Công Giáo vô tội đă
nằm xuống.
Đó cũng là v́ ta không biết đọc lịch sử.
Đó cũng là v́ ta không t́m ra được cách nào
để yêu quí tổ tiên của ta. Đinh Tiên Hoàng, Lư Công
Uẩn, Trần Hưng Đạo, Mạc Đăng Dung,
Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Văn Thân
và Cần Vương, và cả những người Công
Giáo đă nằm xuống; những anh hùng lập quốc
cùng những người đă có tội, những
người can đảm cũng như những
người hèn nhát, tất cả đều là tổ tiên
của ta. Chúng ta không chối bỏ được gia
phả. Những người đă có tấm ḷng như
Văn Thân và Cằn Vương, chúng ta vẫn có thể quí
mến họ, nhưng khi họ nhảm nhí th́ phải nói
là họ nhảm nhí, chứ sao lại đổi trắng
thay đen? Đâu phải v́ chúng ta quí trọng những
người Cần Vương, Văn Thân mà nhất
định chúng ta phải quí trọng ngay cả những
sai quấy của họ và thù ghét những người Công
Giáo mà họ đă thù ghét? Nhất là họ thù ghét một
cách xằng bậy và hành động một cách càn dỡ?
Nguyễn Khắc Viện, một trí thức cộng
sản đă đóng góp nhiều nghiên cứu có giá trị,
đă viết về vụ phong Thánh như sau: Dầu sao
th́ chúng tôi cũng không thể chối bỏ các vị
tiền bối Văn Thân của chúng tôi. Ông ta cũng
đặt nghi vấn là có sự liên kết của
người Công Giáo với quân Pháp. Hai chữ dầu sao nói
lên bối rối của ông ta. Nhưng ông Nguyễn
Khắc Viện làm tôi thất vọng về sự tầm
thường của một trí thức như ông. Ai bắt
ông phải chối bỏ các vị Cần Vương và
Văn Thân? Tại sao lại phải chối bỏ? Có
phải v́ họ đă mù quáng giết người Công Giáo
mà chúng ta phải chối bỏ họ không? Có phải khi
ông cha ta làm điều ǵ sai th́ không c̣n là ông cha ta nữa
không? Nếu lư luận như vậy th́ phải coi
chừng chúng ta mất gia phả.
Một lần cho tất cả, phải khẳng
định sự vô tội của người Công Giáo.
Không làm ǵ có âm mưu nào trong việc truyền giáo tại
Việt nam. Những giáo sĩ tới Việt nam chỉ
để truyền đức tin Ki-tô mà thôi và các giáo dân
đă theo đạo cũng chỉ v́ đức tin Ki-tô.
Các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, rồi các vua nhà Nguyễn,
thủ phạm của cuộc cấm đạo
đẫm máu, ít ra cũng lương thiện hơn
những học giả biện bạch cho họ. Các
dụ cấm đạo chỉ buộc tội
người Công Giáo theo một là đạo mà thôi, không bao
giờ buộc thêm cho người Công Giáo một tội
nào khác cả. Việc cấm đạo đă bắt
đầu ở ngoài Bắc dưới chúa Trịnh Tráng
để rồi đạt tới cao diễm dưới
thời Trịnh Doanh; ở miền Nam ngay dưới
thời Nguyễn Hoàng, rồi tiếp tục qua mọi
đời chúa dù không gay gắt bằng. Đến khi nhà
Nguyễn thống nhất đất nước, việc
cấm đạo cũng chỉ ngừng lại ở
thời Gia Long. Minh Mạng lên ngôi là lập tức cấm
đạo, tiếp tục qua Thiệu Trị và
đạt cao điểm dưới thời Tự
Đức. Sau cùng chính vua Tự Đức cũng nhận
ra sự sai lầm của ḿnh và ra một dụ bỏ
việc cấm đạo, kêu gọi Văn Thân thôi bách
hại người Công Giáo với lời lẽ trầm
thống, chứng tỏ một sự hối hận
rất chân thành.
Có người viện dẫn một số tài liệu
của Bộ Hải Quân Pháp để chứng minh có
sự toa rập giữa các giáo sĩ và chính quyền Pháp.
Nhưng các giáo sĩ đă truyền giáo trong điều
kiện khó khăn tất nhiên phải có sự giao dịch
với các thế lực có ảnh hưởng tới Việt
nam lúc đó. Những người bị bách hại tất
nhiên phải t́m chỗ dựa. Điều này cũng
tự nhiên như ngày nay chúng ta vận động các chính
phủ dân chủ và các tổ chức nhân đạo bênh
vực cho những người dân chủ gặp khó
khăn tại Việt nam. Mặt khác, đừng quên là các
giáo sĩ cũng đă làm nhiều khuyến cáo và
đề nghị với chính các vua nhà Nguyễn để
hy vọng giúp Việt nam canh tân và mạnh lên, chỉ
tiếc là họ đă không được nghe v́ vua quan nhà
Nguyễn quá thủ cựu. Nhiều người Công Giáo
Việt nam, giáo sĩ cũng như giáo dân, mặc dầu bị
ruồng rẫy, tù tội, hạ nhục vẫn cố
hết sức t́m cách giúp các vua nhà Nguyễn cải tổ
để đưa đất nước đi lên dù chỉ
gặp sự dửng dưng của vua quan nhà Nguyễn.
Nếu những bài điều trần của Nguyễn
Trường Tộ lọt được tai vua quan nhà
Nguyễn th́ đất nước chúng ta đây không
như ngày nay.
Điều đáng ngạc nhiên chính là sự nhẫn
nại của người Công Giáo. Mặc dầu bị
bách hại đẫm máu họ đă không vùng lên chống
lại chính quyền, trong khi đó là một phản
ứng tự vệ rất b́nh thường. Nhà Nguyễn
phá kỷ lục về giặc giă: các tay anh chị nổi
lên khắp nơi tại miền Bắc, có khi để
chống sưu cao thuế nặng, có khi để đ̣i
lập lại nhà Lê, có khi chỉ v́ lư do giản dị là
quan quân quá yếu. Người Công Giáo ở miền
Bắc lúc đó rất đông đảo chiếm hơn
10% dân số, lại rất tập trung và rất gắn
bó. Nếu họ nổi loạn, nhờ người Pháp
huấn luỵện và giúp khí giới, họ đủ
khả năng đánh bại được quân nhà
Nguyễn lúc đó rất suy yếu về cả vật
chất lẫn tinh thần. Một viên thiếu úy với
bảy tên lính Pháp đă có thể nghênh ngang vào tính Ninh B́nh,
bắt tất cả tuần phủ, án sát trói lại,
tịch thu mấy chục khẩu đại bác, bắt
quân Việt nam hạ khí giới qú hai bên đường.
Người Công Giáo, nếu muốn, thừa sức
đánh bại thứ quân đội vô dụng đó.
Nhưng họ vẫn chịu đựng thà chết v́
đức tin chứ không nổi loạn. ở vào thời
buổi đó, đâu đâu cũng có nỗi loạn,
nhưng những người Công Giáo, có lư do nhất và có
khả năng nhất để nỗi loạn, lại
không nỗi loạn.
Cái ǵ đă khiến người Việt nam theo đạo
Công Giáo đông đảo như vậy? Đó chính là thông
điệp Ki-tô. Vào thời buổi nhiễu nhương,
con người chà đạp và chém giết lẫn nhau, c̣n
ǵ an ủi hơn là được nghe một thông
điệp ḥa b́nh, bác ái, là được nghe những
lời nhắn nhủ ai thương xót người
ấy là phúc thật, ai chịu khốn khổ v́ lẽ
phải ấy là phúc thật? Đạo Công Giáo đă
được sự hưởng ứng mạnh mẽ
của những người cùng khổ. Cũng như
Phật Giáo, và khác với Nho Giáo, đạo Công Giáo đă
đến với dân tộc Việt nam không phải qua giai
cấp thống trị, mà qua giai cấp bị chà
đạp. Dụ cấm đạo của vua Minh Mạng
nhận định các giáo sĩ đă lôi kéo bọn bần
dân mạt hạng.
Người Công Giáo nhẫn nại và chịu đựng
nhưng thừa sự dũng cảm. Họ sẵn sàng
chịu chết chứ không bỏ đức tin của
họ. Sự dũng cảm của họ nổi bật
vào một lúc mà sự nhút nhát là tâm lư chế ngự. Quan
quân cứ nghe vài tiếng súng là vất gươm súng mà
chạy. Chính những người Công Giáo tử
đạo đă cho tôi niềm tin vững chắc vào dân
tộc Việt nam: nếu có một lư tưởng trong
sáng, người Việt nam có thể rất dũng
cảm và chấp nhận những hy sinh rất to lớn.
Sau này, một chính quyền sáng suốt của đất
nước Việt nam dân chủ sẽ phải để
ra một ngày lễ phục hồi danh dự cho những
người Công Giáo đă tử đạo. Đó là
điều chúng ta cần làm để ḥa giải cộng
đồng Công Giáo với cộng đồng dân tộc,
để hàn gắn một vết thương rất
đau nhức, một trang sử bi đát của dân
tộc ta. Chúng ta cũng sẽ phải có những ngày
tưởng niệm cho những người đă chết
oan trong những cuộc chiến vừa qua, những
nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất
những người đă chết trong chiến dịch
Phượng Hoàng, hay đă bị bắt cóc ám sát, những
người đă bỏ ḿnh trên biển cả trong khi
chạy trốn chế độ cộng sản. Chúng ta
cần khép lại những vết thương đau,
những trang sử bi đát của dân tộc, để
có thể nh́n lại nhau là anh em ruột thịt và cùng
bắt tay nhau xây một tương lai Việt nam chung.
Phần 2 Con
đường đă qua
Chấp nhất kỷ chi kiến
Giai
đoạn Pháp đánh chiếm Việt nam là một giai
đoạn lịch sử có tài liệu khá đầy
đủ nhưng lại là giai đoạn khó học
nhất. Hồi c̣n là học sinh tôi rất chán học giai
đoạn này, dù khá mê sử. Lư do là v́ chán nản quá.
Chỉ thấy tháng này bị thua to ở chỗ này, tháng
tới bị đại bại ở chỗ khác. Năm
này mất tỉnh này, năm sau mất tỉnh khác. Và thua
một cách rất nhục nhă. Năm 1772, Francis Garnier
đem 170 lính tới Hà Nội, yết bảng băi bỏ
luật lệ nước ta, ban hành luật của riêng
ḿnh, các quan quân cũng không dám phản ứng. Đă thế
cũng chưa yên, Garnier c̣n bắt Nguyễn Tri
Phương đầu hàng vô điều kiện, phải
tự đến nộp ḿnh. Nguyễn Tri Phương không
chịu, Garnier đánh thành, chỉ trong chớp nhoáng là xong,
mấy ngàn quân Việt vất vũ khí mà chạy. Các
tướng Việt, người chết, người
bị bắt sống. Kế đó một thiếu úy Pháp
đem bảy người lính tới chiếm Ninh B́nh, quan
quân đem lọng ra đón xin hàng, các quan bị bắt
trói, quân đội phải qú xuống hạ khí giới.
Chỉ lúc đă trưởng thành tôi mới có đủ
kiên nhẫn và chịu đựng để đọc
lịch sử về giai đoạn này. Bây giờ đă
ngoài năm mươi tuổi, đă đọc đi
đọc lại nhiều lần, mà mỗi lần
đọc vẫn thấy nhục nhă quá chừng.
Tinh h́nh nguy ngập như vậy, nhưng các vua quan nhà
Nguyễn hoàn toàn không ư thức được. Họ hoàn
toàn không biết ǵ về thế giới bên ngoài cũng
như về t́nh h́nh bi đát của đất
nước. Bất lực và thờ ơ trước
cuộc xâm lăng từ bên ngoài bao nhiêu họ tỏ ra quan
tâm và hiệu lực bấy nhiêu trong việc cấm
đạo. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự
Đức rất ít khi ra khỏi thành phố Huế,
trừ một vài lần ngự giá đi săn.
Quân Pháp bắt đầu thực sự đánh chiếm
Việt nam từ năm 1858. Họ đánh chiếm Đà
Nẵng, sau đó vào chiếm miền Nam, rồi ra đánh
Bắc Việt, áp đặt nền đô hộ vào năm
1883.
Cuộc chinh phục đă kéo dài 25 năm. Thời gian
đó tương đối dài, không phải v́ do sức
kháng cự mạnh mẽ của Việt nam mà v́ sự do
dự của nước Pháp. Nếu quả thực có
quyết tâm muốn chiếm Việt nam, có lẽ
người Pháp không cần quá một năm. Sức kháng
cự của quân Việt nam không đáng kề. Cần
đính chính một quan điểm rất phổ biến
nhưng rất sai là nước Pháp, cũng như mọi
đế quốc thực dân châu Âu trong thế kỷ 19, có
âm mưu khuất phục và chiếm đóng Việt nam.
Sở dĩ chúng ta dễ nghĩ hoặc tin như vậy
là v́ chúng ta quen với lịch sử châu á trong đó
mọi chinh phục đều do các nhà nước khởi
xướng và thực hiện. Nhưng đó không phải
là t́nh trạng của châu Âu. Các nước châu Âu quả
nhiên đă tranh giành nhau chiếm đóng châu Mỹ v́ họ
coi đó là phần đất vô chủ mạnh ai nấy
chiếm. Nhưng chính sách của họ đối với
châu á lại khác. Việc chinh phục châu á chủ yếu
do các công ty tư phát động. Các công ty này chỉ có
đủ lực lượng để chiếm những
phần đất chưa có chủ quyền, như
tại ấn Độ, Mă Lai, Indonesia. Việc Tây Ban Nha
chiếm Phi-líp-pin là một ngoại lệ, nhưng
Phi-líp-pin là một quần đảo vô chủ vào lúc
đó. Các chính quyền châu Âu không có chính sách khuất
phục và chiếm đóng các nước đă có tổ
chức nhà nước. Cùng lắm họ chỉ can
thiệp để bảo vệ các hoạt động
thương mại hay truyền giáo, và ngay trung
trường hợp này họ cũng rất thận
trọng. Họ thường liên kết với nhau chứ
không ra tay một ḿnh. Nói chung họ nhắm t́m thị
trường và thường cố thỏa hiệp
để tránh chiến tranh và thiệt hại. Việc Pháp
đánh chiếm Việt nam là một ngoại lệ
lớn mà nguyên nhân là chính quyền nhà Nguyễn vừa quá
ngoan cố lại vừa quá yếu.
Lư do chính khiến người Pháp đánh chiếm Việt
nam là việc cấm đạo, lư do phụ là Pháp muốn
bành trướng thương mại tại Viễn
Đông. Cũng v́ lư do chính khiến người Pháp
chiếm Việt nam là do chính sách cấm đạo mà cho
tới nay nhiều người ghét đạo Công Giáo,
vẩn đỗ tội cho đạo Công Giáo đă làm
Việt nam mất nước. Đó là một luận
điệu rất ngây ngô. Cấm đạo là một chính
sách xằng bậy, tàn sát dă man người Công Giáo là
một tội ác đối với loài người. Nhà
Nguyễn làm bậy để mất nước là lỗi
tại nhà Nguyễn, sao lại buộc tội người
Công Giáo, chỉ là nạn nhân mà thôi? Nếu chúng ta không thích
người hàng xóm, xách súng sang giết họ rồi
bị đi tù th́ có thể đổ lỗi rằng v́
người hàng xóm mà ḿnh bị đi tù được
không?
Nối rằng lư do chính là cấm đạo cũng
chưa đúng. Phải nói rằng lư do chính là sự ngoan
cố quá đáng và sự tàn nhẫn quá đáng trong
việc cấm đạo th́ đúng hơn.
Vua Minh Mạng lên ngôi năm 1820, th́ năm 1825 ra dụ
cấm đạo Lúc này nước Pháp hoàn toàn vắng
mặt tại Việt Nam và c̣n đang khốn đốn
v́ xung đột nội bộ và những tàn phá do những
cuộc chiến thảm khốc của Napoléon I để
lại. Lư do cấm đạo trong dụ là đạo
Phương Tây là tà đạo, làm mê hoặc ḷng
người và hủy hoại phong tục. Cùng năm
ấy, một dụ cấm đạo khác gay gắt
hơn nữa được ban hành và kèm thêm biện pháp
treo giải thưởng cho những ai bắt
được giáo sĩ đem nộp. Chính biện pháp này
đă gây ra một phong trào bắt đạo và giết
đạo tại khắp nơi. Chia rẽ lương
giáo bắt đầu trầm trọng từ đó.
Hận thù trong dân tộc tăng cao. Bắt đạo và
giết đạo trở thành một phong trào dân gian, cho
nên sau các hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và Giấp
Tuất (1874), mặc dù triều đ́nh chấp nhận
không cấm đạo nữa nhưng các phong trào Văn
Thân vẫn đi đánh phá các làng Công Giáo. Vua Minh Mạng
tỏ ra rất ngây thơ khi sai một phái bộ sang Pháp
yêu cầu Pháp ngừng việc truyền giáo tại
Việt Nam. Làm sao chính quyền Pháp có thề thỏa măn yêu cầu
vô lư này?
Việc cấm đạo tiếp tục qua thời
Thiệu Trị rồi trở nên đặc biệt gay
gắt dưới thời Tự Đức. Vua Tự
Đức vừa lên ngôi năm 1848 là ra ngay một dụ
cấm đạo, và năm 1851 lại có thểm một
dụ cấm đạo khác khắc nghiệt hơn
nữa. Mải tới năm 1862, sau khi phải kư hiệp
ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh miền
Đông cho Pháp, triều đ́nh nhà Nguyễn mới chính
thức công nhận quyền giảng đạo và theo
đạo.
Tuy triều đ́nh chấp nhận ngoài mặt như
vậy nhưng việc cấm đạo vẫn tiếp
tục trên thực tế do các nhóm Văn Thân chủ
trương. Sau hiệp ước Giáp Tuất, vua Tự
Đức phải ra dụ truyền cho đảng Văn
Thân không được giết hại giáo dân nữa,
nhưng họ vẫn tiếp tục, bất chấp
cả lệnh vua. Việc cấm đạo đă tạo
ra một cuộc nội chiến giữa các toán quân Văn
Thân đánh phá các làng đạo và dân Công Giáo cố thủ
để tự vệ.
Từ khi vua Minh Mạng cấm đạo năm 1825
đến năm 1858, khi Pháp bắt đầu đánh
Việt nam, 33 năm đă trôi qua. Trong thời gian ấy
người Pháp, và cả người Tây Ban Nha, tuy rất
bất b́nh về việc cấm đạo vẫn c̣n do
dự không muốn gây chiến với Việt nam. Các tài
liệu của người Pháp về giai đoạn này
khá đầy đủ và cho thấy chính phủ Pháp đă
chịu rất nhiều áp lực của dư luận
Pháp, phẫn nộ trước việc cấm đạo
và đ̣i can thiệp.
Chính quyền Hoa Kỳ cũng đă đem một chiến
thuyền tới làm áp lực gay gắt đ̣i bỏ
dụ cấm đạo, nhưng rồi lại đi dù
không kết quả. Tuy vậy, năm 1856, chính phủ Pháp
chỉ cử chiến hạm Catinat đến đ̣i
bỏ dụ cấm đạo. Vua quan ta không chịu
tiếp. Tàu Catinat bắn phá Đà Nẵng cảnh cáo
rồi bỏ đi. Mấy tháng sau, họ lại quay
lại xin bỏ cấm đạo, quan quân nhà Nguyễn
đă không coi sự cảnh cáo trước đây là nghiêm
trọng c̣n lên mặt đ̣i Pháp phải xin lỗi. Họ
xin lỗi, nhà Nguyễn vẫn cứ tiếp tục
cấm đạo. Vào lúc đó, người Pháp nhận
thấy rằng không c̣n giải pháp nào khác: hoặc họ
phải để nhà Nguyễn tiếp tục tàn sát
người Công Giáo trước sự công phân ngày càng
lẽn cao của dư luận quần chúng Pháp, hoặc
họ phải dùng vơ lực thực sự. Việc dùng vơ
lực vừa dễ v́ nhà Nguyễn tuy hung bạo nhưng
lại không có lực lượng nào đáng kể lại
vừa phù hợp với quyền lợi thương
mại của Pháp nên cuối cùng Pháp đi đến
quyết định đánh Việt nam.
Năm 1858, Pháp liên kết với Tây Ban Nha đem chiến
thuyền bắn phá và đổ bộ đánh chiếm
Đà Nẵng rồi sau đó quay vào Nam đánh chiếm Nam
Kỳ. Năm 1860, t́nh h́nh đă nguy ngập lắm, Pháp
đang đánh Nam Kỳ mà vua Tự Đức vẫn
chỉ lo cấm đạo. Lại một dụ khác.
Lần này nhà Nguyễn ra lệnh phá tất cả các làng
Công Giáo, bắt giáo dân thích hai chữ tà đạo vào
mặt rồi phân phối đi các làng khác. Cứ năm
người không có đạo được cử canh
giữ một người có đạo. Thế rồi
năm 1862 triều đ́nh phải kư hiệp ước
nhường đứt ba tỉnh miền Đông và
đảo Côn Lôn cho Pháp, phải bỏ dụ cấm
đạo và bồi thường chiến tranh nặng
nề cho Pháp. Chẳng bao lâu sau, Pháp lấy nốt ba
tỉnh miền Tây Nam Phan. Sự mù quáng của vua quan nhà
Nguyễn đă làm mất đi miền trù phú nhất
của đất nước.
Dù đă bị thiệt hại nặng nề, vua quan nhà
Nguyễn vẫn chưa sáng mắt ra để nắm
lấy một hy vọng cuối cùng. Nước Pháp, sau
khi chiếm được Nam Kỳ, đă thỏa măn và có
ư ổn định t́nh thế ở đó. Năm 1872, có
vụ Francis Garnier ra Bắc lộng hành rồi bị quân
Cờ Đen giết chết, nhưng việc đó không
nằm trong chính sách can thiệp của chính phủ Pháp.
Nước Pháp muốn ḥa nên đă kư với triều
Nguyễn hiệp ước Giáp Tuất (1874), với
những điều khoản tương đối có
lợi cho Việt nam, trong đó có cả không điều
khoản giúp cho Việt nam 5 chiến hạm với
đầy đủ súng đạn và 1.000 khẩu súng. Pháp
c̣n cam kết gởi huấn luyện viên giúp Việt nam
đào tạo quân đội.
Chỉ cần sáng suốt một chút thôi triều
Nguyễn đă phải hiểu rằng ḿnh hoàn toàn không
đủ sức để chống lại với Pháp,
chọn lựa duy nhất là khai dụng triệt
để hiệp ước Giáp Tuất để gia
tăng sức mạnh, khi nào có sức mạnh rồi
mọi việc sẽ trở thành dễ dàng, kể cả
việc lấy lại Nam Kỳ. Nhưng triều đ́nh
Nguyễn lại phá hoại hiệp ước Giáp
Tuất, kiếm đủ cách để làm khó dễ.
Đến sứ thần Pháp xin yết kiến vua mấy
lần cũng không cho. Để rồi di đến
đâu? Chín năm sau (1883) phải kư hiệp ước
chấp nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lănh
thổ, và từ đó ngay việc lên ngôi của vua cũng
phải được Pháp cho phép và tấn phong.
Nước ta hoàn toàn mất chủ quyền. Ngôi vua
của nhà Nguyễn chỉ c̣n là hư vị.
Ai đọc những trang sử này mà không thấy giận
cho sự mù quáng kinh khủng của vua quan nhà Nguyễn? Vua
quan chỉ biết ngâm vịnh, kiến thức không ngoài
Tứ Thư, Ngũ Kinh, Nghiêu Thuấn, Xuân Thu, Tam Quốc.
Sử gia Trần Trọng Kim than: Việc mấy ngh́n
năm trước cứ đem làm gương cho thời
hiện tại rồi cứ nghễu nghện xưng ḿnh
là hơn người, cho thiên hạ là dă man? Biết bao
nhiêu người đă dâng sớ canh tân mà không
được nghe, thấy nước mất chắc
chắn mà không làm ǵ được. Ngày nay nhớ lại
quăng thời gian đó ta cũng không khỏi bùi ngùi cho
những Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn
Đức Hậu, Nguyễn Điều, Nguyễn
Hiệp, Lê Đ́nh, Phan Liêm, Bùi Viện. Có lẽ họ
chết không nhắm mắt được.
Nhưng có phải quả thực là vua quan nhà Nguyễn ngu
dốt, hèn nhát như nhiều người vẫn phê phán
hay không? Điều đáng buồn là không, các vua Minh
Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức không phải là
những hôn quân, bạo chúa. Trừ những sai lầm trong
cách giao tiếp với người Phương Tây,
những biện pháp khác của họ không phải là
dở. Mặc dầu gặp rất nhiều khó khăn,
văn học của ta chưa bao giờ thịnh bằng
thời Nguyễn. ở vào một thời đại khác,
các vị vua ấy, nhất là vua Tự Đức, có
thể đă là những bậc anh quân.
Nhà Nguyễn cũng không thiếu những bầy tôi có tài
lương đống: Nguyễn Tri Phương, Hoàng
Kế Viêm, Phạm Đăng Quế, Nguyễn Đ́nh
Giản, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản, Trần
Đ́nh Túc, v. v... ở một thời đại khác
chắc các vị này đă để tên trong lịch sử
như những con người lỗi lạc tận trung báo
quốc. Điều đă khiến các vua nhà Nguyễn và các
đại thần thất bại là họ không ư thức
được rằng thế giới đă thay
đổi và họ đang sống trong một khúc quanh
lịch sử lớn. Những cố gắng và hy sinh
của họ đều đă vô ích chỉ v́ không c̣n
hợp thời nữa. Lên án họ là mù quáng, thiển
cận th́ cũng đúng thôi, nhưng họ có phải là
nhưng con người thiển cận một cách bất
thường hay không?
Tôi nghĩ là không. Thiển cận và thiếu giác quan về
chuyển hóa và thời đại không phải là của
riêng họ, mà là một hằng số của chính trị
Việt nam. Chúng ta không có tư tưởng, và càng không có
tư tưởng chính trị. Và h́nh như chúng ta vẫn
chưa thức tỉnh để nhận ra điều đó.
Các vua quan nhà Nguyễn quả là không hiểu ǵ về
thời thế. Sức mạnh áp đảo của
người Pháp đă quá rơ rệt mà họ cứ ngoan
cố chống lại và đôi khi c̣n khiêu khích. Đi
từ thất bại này đến thết bại khác
phải chấp nhận ngày hôm nay những nhượng
bộ bốn lần lớn hơn nhưng ǵ mà dối
phương đ̣i hỏi ngày hôm qua mà họ vẫn không
mở mắt. Nước Tàu đă khốn khó, bị
đánh tả tơi mà triều đ́nh Nguyễn vẫn tôn
sùng và tin là có thể nhờ cậy được.
Giặc ngoài đáng sợ như vậy mà cứ quay
về đàn áp những người dân Công Giáo bên trong.
Sự thiển cận của họ thật là kinh
khủng, nhưng nó cũng khó so sánh được với
sự thiển cận của các lực lượng
chống cộng hải ngoại sau 1975.
Rơ ràng là sau năm 1975 không thể có giải pháp vơ trang
nữa nhưng tổ chức nào cũng chủ chiến,
cũng hô hào bạo lực. Sự mê muội của
triều đ́nh Nguyễn khi trông đợi vào nước
Trung Hoa đă suy kiệt có lẽ không lớn bằng
sự mê muội của chủ trương tái lập
chế độ Việt nam Cộng Ḥa đă chết
hẳn rồi, và đă chết một cách thực hổ
nhục. Thái độ châu chấu đá voi của
triều Nguyễn chống Pháp tới cùng xét ra không lố
bịch bằng thái độ của những người
đă thảm bại và thua chạy nhưng vẫn nhất
định đ̣i những người cộng sản
phải tỉnh ngộ quay về với chính nghĩa
quốc gia. Vua quan nhà Nguyễn tuy thủ cựu nhưng
cũng không ngược đăi những người
chủ trương canh tân bằng các lực lượng
chống cộng đối xử với những
người chủ trương dân chủ đa nguyên, ḥa
giải và ḥa hợp dân tộc, bất bạo động.
Nếu vấn đề đặt ra cho triều
Nguyễn lúc đó là canh tân, tôn trọng lự do tín
ngưỡng, tránh đụng độ với người
Pháp để tập trung mọi cố gắng mà tiến
lên và mạnh lên, th́ vấn đề của đối
lập Việt Nam sau 1975 là phải tận dụng sự
thức lỉnh của những người cộng
sản tiến bộ để ḥa giải với họ
và cùng họ h́nh thành một kết hợp dân chủ
mới. Cùng một vấn dề và cũng cùng một thái
độ cố chấp. Ngày nay có hơn ǵ ngày xưa
đâu. Chỉ khác ở chỗ các vua quan nhà Nguyễn c̣n có
thể hưởng sự giảm khinh v́ họ không
được nh́n thấy thế giới bên ngoài.
Chính quyền cộng sản có sáng suốt ǵ hơn vua quan
nhà Nguyễn không? Ngày hôm nay vấn đề là bảo
vệ chủ quyền dân tộc, đoàn kết dân tộc
để phát triển đất nước. Nhưng
họ đă làm ǵ? Họ đă cố bám lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin như nhà Nguyễn ngày xưa cố bám vào
Nho Giáo. Họ quy luỵ trước một Trung Quốc
đang bối rối như các vua nhà Nguyễn quỵ
lụy với Thiên Triều đang khốn khổ ngày
xưa. Họ bách hại những người dân chủ
như các vua Nguyễn ngày xưa cấm đạo. Và
họ cũng cấm đạo thực sự. Họ
đàn áp Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo. Họ
có khác ǵ nhà Nguyễn? Có khác chăng là ở chỗ các vua
Nguyễn không có đủ phương tiện, không có báo
chí, radio, truyền h́nh, không có các ṭa đại sứ ở
khắp nơi để thấy được sự thay
đổi của thế giới như họ.
Nhưng sự thiển cận không phải là tất
cả. C̣n một lư do khác khó chấp nhận hơn.
Nếu thực sự yêu nước, nếu suy nghĩ
một cách lương thiện về quyền lợi
của đất nước và chỉ quan tâm tới
quyền lợi của đất nước mà thôi, th́
đường đi về tương lai không có ǵ khó,
tất cả mọi vấn đề trở thành sáng
sủa. Nhưng một lần nữa, phải nh́n nhận
ràng đại đa số chúng ta bất chấp
đất nước. Ngay cả khi chúng ta nghĩ rằng
chúng ta yêu nước th́ thực ra chúng ta đang yêu một
cái ǵ khác. Chúng ta yêu chỗ đứng, quyền lợi hay
ḷng tự ái của chúng ta. Chúng ta yêu các thành kiến
của chúng ta mà chúng ta cho là ư kiến, chúng ta yêu sự
cố chấp của chúng ta mà chúng ta tạm coi là sự
kiên tŕ. Chúng ta yêu chính ḿnh và yêu sự mê muội của ḿnh.
Chấp nhất kỷ chi kiến giá họa ư tha nhân,
chỉ biết ư kiến ḿnh mà thôi, lúc nào cũng sẵn
sàng buộc tội người khác. Câu viết lạc lơng
của Nguyễn Trăi trong bài B́nh Ngô Đại Cáo vô t́nh nói
lên nhận định của ông về con người
Việt nam. Gần sáu thế kỷ đă trôi qua rồi mà
sao Nguyễn Trăi vẫn c̣n đương thời
đến thế.
Phần 2 Con
đường đă qua
Dắt d́u nhau vào đến Cà Mau
Tấm
áo nâu,
Dắt d́u nhau vào chốn rừng sâu,
Dắt d́u nhau vào tới Cà Mau.
Phạm Duy (T́nh Ca)
Đại đa số người Việt nam nh́n nhận
ông cha ḿnh đă tiêu diệt Chiêm Thành và lấn chiếm
Cam-bốt. Sự nh́n nhận này đi đôi với
một mặc cảm phạm tội. Tôi đă nghe
nhiều người than Ông cha ḿnh kể ra cũng ác
thực!. Tội ác của Việt nam đối với
Chiêm Thành được coi là ghê gớm gấp nhiều
lần đối với Cam-bốt v́ Cam- bốt chỉ
bị mất đất đai trong khi Chiêm Thành bị
tuyệt diệt. Tháng 4 năm 1975 một đồng
nghiệp, bàn về cuộc thảm bại của Việt
nam Cộng Ḥa và cuộc tháo chạy đẫm máu của
dân và quân miền Nam trên quốc lộ 7B tại miền
Trung, nói với tôi: Đó là vua Chàm báo thù người
Việt!. Vua Chàm theo ngôn ngữ của anh là tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu, bởi v́ ông Thiệu
người Phan Rang, trung tâm chính trị của nước
Chiêm Thành trước đây, nơi mà hiện nay vẫn c̣n
Tháp Chàm, một công tŕnh lớn của người Chiêm
Thành.
Năm 1989, tôi có được mời tham dự một
cuộc hội thảo quốc tế tại Paris về
vấn đề Cam-bốt. Theo chương tŕnh nghị
sự th́ mục đích của cuộc hội thảo là
vấn đề Việt nam chiếm đóng Cam-bốt và
những giải pháp cho cuộc khủng hoảng này. Tuy
vậy cuộc hội thảo đă mau chóng biến thành
một diễn đàn chống Việt nam, chống
nước Việt nam và người Việt nam, chứ
không phải chỉ chống chính quyền cộng sản
Việt nam. Việt nam được mô tả như
một dân tộc hiếu chiến và bành trướng,
đă tàn sát dân tộc Chiêm Thành, chiếm đất đai
của Cam-bốt và hiện đang âm mưu tiêu diệt
Cam-bốt và Lào. Hiện diện trong hội nghị có
đại diện các tổ chức đối lập
Cam-bốt và nhiều chuyên gia Pháp về Đông
Dương. Lúc đó cuộc chiếm đóng Cam-bốt
của quân Việt nam đă kéo dài hơn mười
năm. Các tổ chức đối lập Cam-bốt
dĩ nhiên giành nhau chức vô địch chống Việt
nam, nhưng các chuyên gia Pháp về Đông Dương
cũng không nói ǵ khác, họ đều cảnh tỉnh
người Cam-bốt hăy đoàn kết chống lại
nguy cơ thôn tính của Việt nam mà họ coi là
thường trực. Mặc dầu ngày hôm đó tôi
được mời thuyết tŕnh với tư cách
một chuyên viên kinh tế và đề tài của tôi là
nhận định về những khả năng phát
triển của Cam-bốt, tôi đă cảm thấy
phải lên tiếng bác bỏ những ngộ nhận quá
lớn về lịch sử cuộc nam tiến của
người Việt. Tôi đưa ra một số sự
kiện và yêu cầu các chuyên gia về Đông Dương
có mặt trong pḥng hội đóng góp. Dĩ nhiên buổi
hội thảo đă trở nên rất gay go, nhưng
điều làm tôi ngạc nhiên là các chuyên gia khẳng
định bản tính xâm lược của người
Việt đă chỉ có một hiểu biết rất
sơ sài về cuộc nam tiến của dân tộc ta.
Bản tính xâm lược hiếu chiến của
người Việt chỉ là một thành kiến chứ
không phải một nhận định nghiêm chỉnh
dựa trên tư liệu. Điều đáng nói là thành
kiến này đa số người Việt nam cũng chia
sẻ, v́ chúng ta đă chịu quá nhiều ảnh
hường của những luận điệu
được lập lại nhiều lần trong suốt
thời pháp thuộc.
Chúng ta cần nhận thức rơ cuộc nam tiến của
dân tộc ta v́ hai lư do: một là v́ đó là sự kiện
rất vĩ đại đối với chúng ta, hơn một
nửa lănh thổ của ta đă có được nhờ
cuộc nam tiến đó; hai là v́ chúng ta cần chấm
dứt một mặc cảm tội lôi không đúng.
Trước hết hăy nh́n lại trường hợp
của nước Chiêm Thành. Sự đụng độ
giữa nước Việt nam cổ xưa (với các
quốc hiệu Văn Lang, Giao Châu, rồi Đại
Việt) với Chiêm Thành đă diễn ra ngay từ lúc
Việt nam chưa thực sự thành một quốc gia
độc lập. Đó là sự đụng độ
giữa hai nền văn minh. Một bên là văn minh Nho Giáo
và nông nghiệp dưới ảnh hưởng Trung Hoa,
một bên là văn minh ấn Độ dựa trên hai giai
cấp tăng sĩ và chiến binh. Trong hơn một ngàn
năm Bắc thuộc, h́nh như lúc nào cũng có chiến
tranh giữa quận Giao Chỉ thuộc Trung Quốc và
nước Chiêm Thành. Từ khi Việt nam được
độc lập, trong các triều đại kế
tiếp nhau, Lư, Trần, Hậu Lê, Nguyễn, chiến tranh
Việt-Chiêm là một hằng số. Lịch sử các
triều đại Việt nam thường chỉ ghi
vắn tắt kiểu Năm..., quân Chiêm Thành sang quấy
phá, vua sai... Đi tiễu trừ, quân ta chiếm
được... .
Cũng có đôi khi sử ta ghi lư do là v́ Chiêm Thành bỏ
lệ triều cống. Nguyên nhân của những cuộc
chiến liên tiếp gần hai ngàn năm này do đâu?
Nếu dựa vào lịch sử Việt nam th́
thường thường là do Chiêm Thành gây hấn
trước. Mặc dầu vào các thời đại đó
đánh Chiêm Thành là một lẽ thường không cần
ǵ phải biện bạch, và do đó các sử gia không có lư
do ǵ để xuyên tạc nguyên do, nhưng không thể
lấy sử Việt nam làm sự thực tuyệt
đối. Nền văn minh ấn Độ hồi
đó lấy thần linh và chiến tranh làm nền
tảng, nước Chiêm Thành coi chiến tranh là lư
tưởng nên có thể họ gây chiến thường
hơn, nhưng đó chỉ là suy luận. Xung đột
Đại Việt - Chiêm Thành ngày nay đă thuộc hẳn
vào quá khứ, cả Đại Việt lẫn Chiêm Thành
đều đă là những nhân tố lịch sử
cấu tạo ra nước Việt Nam ngày nay.
Người Việt nam ngày nay không có lư đo ǵ để
bênh bên này hay bên kia cả. Tất cả đều đă
thuộc vào gia phả của chúng ta. Nhận định
chỉ có mục đích để hiểu.
Vấn đề là qua cả ngàn năm đụng
độ, Chiêm Thành và Đại Việt đă trở thành
hai quốc gia không thể sống chung, chỉ một
quốc gia có thể tồn tại và nước nào
yếu sẽ bị tiêu diệt. Đó đă có thể là
số phận của Đại Việt, nhưng đó
đă là số phận của Chiêm Thành. Cái lư một
mất một c̣n có lẽ mọi người đều
hiểu. Nhưng điều nghiêm trọng là nhiều
người, kể cả người Việt nam, cho
rằng người Việt có tội đă tàn sát và
diệt chủng người Chiêm Thành. Điều này trước
hết rất vô lư. Giả thử Đại Việt có
tiêu diệt Chiêm Thành thực đi nữa th́ một
người Việt nam hôm nay làm sao biết ḿnh có bao nhiêu
phần trăm gốc Việt, bao nhiêu phần trăm
gốc Chàm, hay bao nhiêu phần trăm gốc Hoa, gốc
Miên, v.v... Để biết ḿnh là tội phạm hay là
nạn nhân. Điều này cũng hoàn toàn không
được lịch sử chứng minh. Lịch sử
ta có ghi lại nhiều cuộc tàn sát đă man trong
nhiều lần chinh chiến qua nhiều thời
đại vào lúc nước Chiêm Thành hăy c̣n nhưng không
hề ghi chép một cuộc tàn sát sau cùng nào đưa
đến sự diệt chủng của người Chiêm
Thành.
Theo lư luận th́ cũng không thể có việc diệt
chủng. Cuộc chinh phục Chiêm Thành trở thành dồn
dập trong thế kỷ chót của nước này,
nghĩa là thế kỷ 17, dưới thời các chúa
Nguyễn. Các chúa Nguyễn đem được bao nhiêu dân
từ ngoài Bắc vào khai phá Đàng Trong? Chắc chắn là
không nhiều lắm, bởi v́ ở thời đại
ấy một con số khoảng một trăm ngàn
người nhất định đă phải tạo ra
một cuộc di dân rất qui mô được ghi chép
lại. Nhưng lịch sử lại không hề nói
tới một cuộc di dân lớn nào. Và từ thế
kỷ thứ 17 trở đi, hai họ Trịnh -
Nguyễn giao tranh với nhau, việc di dân vào Nam chắc
chắn là rất khó khăn nếu có những người
tiếp tục vào Nam th́ cũng chỉ là nhưng chuyến
đi lẻ tẻ. Dù ước lượng một cách
rộng răi tới đâu đi nữa th́ người
Việt từ Bắc vào khai phá đất Chiêm Thành từ
thế kỷ 17 về sau cũng không thể quá một
trăm ngàn người. Thực ra cuộc di dân đă
bắt đầu từ rất lâu trước Nguyễn
Hoàng. Dưới triều Lê Thánh Tông, người Việt
đă vào tới Nha Trang. Nhưng đây chỉ là nhưng
đợt di dân rất lẻ tẻ. Nếu chỉ
dựa vào người Việt di cư hoặc đă
định cư ở Đàng Trong th́ các chúa Nguyễn
nhất định không đương đầu
được với họ Trịnh. Chắc chắn
phải có sự ḥa nhập giữa người Việt di
dân và người Chàm tại chỗ. Sự ḥa nhập này
đă diễn ra một cách liên tục và âm thầm từ
thế kỷ 11, nó đă chỉ tăng vận tốc
dưới thời các chúa và vua họ Nguyễn. Một
sự kiện đă được ghi nhận trong
lịch sử là vua Minh Mạng đă từng bắt
tất cả người Chàm phải mặc quần áo
như người Việt và lấy họ Việt,
nhất là họ Nguyễn. Biện pháp thô bạo này ít
nhất chứng tỏ rằng không có sự tàn sát mà
chỉ có sự ḥa nhập, dù là ḥa nhập bằng
đồng hóa. Sự ḥa nhập này cũng có thể
nhận thấy ở ngay giọng nói của người
miền Trung. Sự ḥa nhập liên tục trên một qui mô
lớn đă khiến Đàng Trong của các chúa Nguyễn
có đủ người để vừa khai khẩn
miền Trung vừa khai phá miền Nam.
Trong sự ḥa nhập này, chắc chắn người Chàm
chiếm đa số, nhưng nó đă được coi
như một sự Việt hóa bởi v́ người
Việt, kẻ chiến thăng, chiếm tất cả
mọi vai tṛ lănh đạo và áp đặt văn hóa,
nếp sống của ḿnh. Dần dần trọng
lượng Việt tăng cao v́ hai lư do. Lư do đầu
tiên là điều mà một số nhà xă hội học
gọi là định luật của đất: mỗi
vùng đất tùy mức độ ph́ nhiêu và trong một
điều kiện sinh sống nào đó có mật
độ dân số riêng, dân số ít sẽ gia tăng mau
chóng để đạt tới mức đó rồi
khựng lại. Người di dân Việt nam và
người Việt gốc Chàm chiếm được
những vùng đất canh tác tốt nên sinh sản mau chóng
hơn người Chàm thuần túy bị dồn vào
rừng núi. Lư do thứ hai là sự Việt hóa càng ngày càng
toàn diện do sự áp đặt văn hóa và nếp
sống của kẻ chiến thắng.
Những người mà chúng ta gọi là người Chàm
hiện nay chỉ là một phần của dân Chiêm Thành,
gồm những người bất khuất không chịu
sự đồng hóa của người Việt đă di
tản vào miền rừng núi hiểm trở, và ở
đó họ cũng chịu định luật của
đất: thủy thổ đó, ở mức độ
văn minh đó chỉ có đất sống cho từng
đó người. Dân số của họ sút giảm
đi với thời gian.
Dầu sao th́ hiện nay cuộc tranh căi về sự
biến mất của nước Chiêm Thành cũng không c̣n
là một đề tài thời sự nữa. Vấn
đề đặt ra là đảm nhận sự ḥa
nhập đó, một sự hội nhập bất công
đối với người Chiêm Thành vào giai đoạn
đó, dù giải thích thế nào đi nữa chúng ta cần
t́m ra một thái độ đứng đắn trong khi
nh́n lại vấn đề Chiêm Thành. Những
người Chàm đă mất hay c̣n sống, đă hội
nhập hay chưa hội nhập phải được
coi là những con người thực sự của
đất nước Việt nam. Lịch sử
nước Chiêm Thành, cũng như lịch sử Văn
Lang, Giao Châu, Đại Việt phải được coi
là lịch sử của Việt. Nam. Phạm Hùng, Chế
Mân, Chế Bồng Nga phải được coi là các
vị vua của Việt nam ngày xưa. Văn hóa Chiêm Thành
cần được sưu tầm và ǵn giữ như là
tài sản của đất nước Việt nam.
Vấn đề Chiêm Thành ngày nay đă trở thành một
vấn đề hoàn toàn Việt nam. Người Việt
nam cần nh́n và đảm nhận lịch sử của
chính ḿnh một cách đúng đắn.
Đó cũng là một vấn đề hoàn toàn nằm
trong chính sách đối nội của chúng ta, không giống
như việc khai phá và hội nhập đất Chân
Lạp.
Phần 2 Con
đường đă qua
Cướp đất của ai?
Các
sử gia và các nhà b́nh luận vô t́nh hay cố ư đă làm cho
nhiều người, Việt nam cũng như ngoại
quốc, quên rằng miền Nam Việt nam đă
được mở ra chủ yếu do một cuộc di
dân ḥa b́nh để khai phá đất hoang chứ không
phải do một cuộc lấn chiếm bằng bạo
lực bờ cơi sẵn có của một nước
Cam-bốt hiền ḥa.
Trong thâm tâm, đa số người Việt nam nh́n
nhận như một sự thực không cần chứng
minh rằng Việt nam có lỗi với Cam-bốt.
Những vụ cáp dồn (tiếng Khmer có nghĩa là chém
đầu người Việt) dù có gây ra nhiều phẫn
nộ cũng không làm thay đổi được mặc
cảm này. Đây là một trường hợp
điển h́nh chứng tỏ phải coi chừng
những sự thực không cần chứng minh. Trái
với một cảm tưởng rất lan tràn,
Cam-bốt không phải là đất nước của
những con người hiền ḥa, nạn nhân của
những tham vọng bành trướng và thống trị
từ lân bang. Có thể nói đất nước
Cam-bốt đă ra đời bằng bạo lực, đă
trưởng thành trong bạo lực và đă suy tàn v́
bạo lực.
Được bồi đắp từ ḷng biển do phù
sa sông Cửu Long, vùng đất gồm nước
Cam-bốt và miền Nam Việt nam mới đầu
thuộc đế quốc Phù Nam với những sắc
dân đến từ biển, nhất là từ Indonesia và
từ ấn Độ qua ngả Miến Điện và
Thái Lan. Phù Nam đă mau chóng biến thành một đế
quốc hiếu chiến. Vào thế kỷ thứ 7,
người Khmer, một sắc dân theo văn minh ấn
Độ, từ miền Nam Lào tràn xuống tiêu diệt
đế quốc Phù Nam và dần dần khắc phục
các sắc dân địa phương, chiếm quyền bá
chủ trong vùng để lập ra đế quốc Khmer.
Đế quốc Khmer c̣n tỏ ra hiếu chiến và
bạo ngược hơn hẳn đế quốc Phù Nam.
Đế quốc Khmer đă chế ngự được
cả một vùng rộng lớn bao gồm cả Thái Lan,
một phần Miến Điện và cả miền Nam
Việt nam. Vào thế kỷ 12 đế quốc Khmer c̣n
bành trướng về phía Bắc, chiếm gần hết
đất Chiêm Thành, đến tận đèo Hải Vân
của Việt nam hiện nay. Nhưng lănh thổ thực
sự của nó tập trung ở vùng Angkor. Nhưng
đền đài Angkor không phải chỉ là dấu tích
của một nền văn minh mà trước hết là di
tích của sự tàn bạo. Những sử liệu ít
ỏi c̣n lại, mà đặc sắc nhất là kư ức
của Chu Tá Quan, một sứ giả của nhà Nguyễn
có mặt tại Cam-bốt, mô tả cảnh những
người nô lệ bị xiềng xích vào nhau để
xây đền đài dưới sự điều
động tàn bạo của các tăng sĩ và chiến
sĩ Khmer. Họ phải lao lực đến kiệt
sức và khi chết thi hài được lôi ra làm thức
ăn cho cầm thú. Từ thế kỷ 13 trở đi, người
Thái Lan bắt đầu tiến lên, sức mạnh
của họ đă dần dần bắt kịp và
vượt người Khmer. Họ giành được
độc lập rồi tiến đánh trả thù
người Khmer trong hàng thế kỷ đă bắt họ
làm nô lệ xây đèn đài cung điện. Họ đă
hủy diệt đế quốc Khmer, tàn phá Angkor Vát và
bắt người Khmer về làm nô lệ xây đền
đài cho họ. Nền văn minh Angkor cáo chung vào năm
1431 với sự phá hủy lần cuối cùng thủ đô
Angkor. Đế quốc Khmer xây dựng trên sự tàn
bạo đă sụp đổ trong sự tàn bạo.
Sự tàn phá và tàn sát của người Thái Lan đă
khủng khiếp đến độ tất cả
dấu tích đồ sộ của trung tâm Angkor bị ch́m
mất trong rừng sâu và không một nhân chứng nào
sống sót để nhớ lại sự hiện hữu
của nó. Phải đợi đến năm 1850, một
nhà khảo cứu Pháp mới t́nh cờ khám phá lại di
tích Angkor mà ngay những người Cam-bốt cách đó hai
trăm cây số không hề biết đến nữa.
Kể từ 1431 chung quanh Phnom Penh chỉ c̣n lại một
triều đại Chân Lạp yếu nhược với
ảnh hưởng không đáng kể trên những vùng
đất trước kia thuộc ảnh hưởng
của đế quốc Khmer. Cuộc nam tiến của người
Việt đă đến rất lâu sau khi vùng đất
miền Nam trở thành vô chủ. Những người
Việt đầu tiên khai phá miền Nam không phải là
những đạo quân viễn chinh mà phần lớn là
những người nông dân nghèo khổ, chạy trốn
cuộc chiến phân tranh Trịnh - Nguyễn. Từ năm
1623 trở đi, trong khoảng một thế kỷ
rưởi, Việt nam đă sát nhập nhiều vùng
đất mới ở phía Nam. Những những sát
nhập hành chánh này chỉ là sự hợp thức hóa
một thực tại; những phần đất ấy
từ lâu đă do người Việt sinh sống và khai
thác. Cuộc nam tiến của nước ta chủ
yếu là một sự bành trướng trong ḥa b́nh. Sự
mở mang lănh thổ Việt nam đă chấm dứt khi
anh em Tây Sơn nổi lên năm 1771 và Việt nam bắt
đầu lâm vào nội chiến. Vua Sihanouk, bằng thái
độ và bằng hành động của ông, lập
lại y hệt h́nh ảnh của những vị vua Chân
Lạp trong hai thế kỷ 17 và 18. Sihanouk trở mặt
như chong chóng và đổi đồng minh như thay áo,
ông được nhiều nhà b́nh luận chính trị
phương Tây coi là khôn ngoan và mưu lược, nhưng
tài trí của ông đă chỉ khiến nước
Cam-bốt phải chịu những tàn phá kinh khủng
nhất.
Các vị vua Chân Lạp, tổ tiên của Sihanouk, cũng
đă cư xử không khác ǵ ông. Một vị vua Chân
Lạp có thể ngày hôm nay cầu viện Việt nam
để tranh ngôi vua với một người anh em
họ, để rồi ngày mai lại cầu viện Thái
Lan chống lại Việt nam và ít lâu sau thần phục Việt
nam chống lại Thái Lan. Mỗi lần cầu viện
ngoại bang họ đầu dâng lễ vật hay dâng
đất. Việc dâng đất đối với
họ không có ǵ là quan trọng v́ trên thực tế đó là
những vùng đất mà họ đă mất chủ
quyền từ lâu. Việc dâng đất chỉ có
nghĩa là nh́n nhận một thực lại và cam kết
sẽ không quấy nhiễu. Một câu hỏi có thể
được đặt ra là tại sao người
Cam-bốt lại thù ghét Việt nam hơn Thái Lan, trong khi
Thái Lan đă xung đột nhiều hơn với
Cam-bốt, đă sát nhập nhiều đất của
Cam-bốt hơn, đă từng tàn sát người
Cam-bốt một cách dă man, và nhất là đă tiêu diệt
đế quốc Khmer?
Trước hết là sự xung đột giữa hai
nền văn minh ấn Độ và Trung Hoa. Người
Cam-bốt và người Thái Lan cùng chịu ảnh
hưởng của văn minh ấn Độ nên dù đă
có cả một quá khứ xung đột vô cùng đẫm
máu họ ván thấy gần gũi với nhau trong khi
người Việt nam, thuộc ảnh hưởng
văn minh Trung Hoa, đối với họ là những
kẻ lạ mặt. Nhưng trầm trọng hơn
nữa là chính sách chia để trị của chính
quyền thuộc địa Pháp. Người Pháp đă
tạo ra cái huyền thoại nước Việt nam tham
đất và đói đất để biến Việt
nam thành một de doạ và một đối tượng
thù ghét cho người Cam-bốt.
Trong chiều sâu c̣n một hằng số quan trọng
hơn mà ta cần nắm vững khi nhận định
về những tương quan giữa nước ta và Cam-
bốt: người Cam-bốt rất thực tiễn, họ
không đặt nặng những vấn đề văn
hóa và lịch sử mà hành động chủ yếu theo
những cái lợi trước mắt. Cho tới nay,
những người lănh đạo Cam-bốt luôn luôn ḥa
hoăn với các quốc gia có thể có ảnh hưởng
mạnh lên nước họ và sẵn sàng lấy thái
độ thù địch với những quốc gia mà họ
nghĩ là không có hay không c̣n khả năng để dọa
họ, nếu họ thấy là có lợi. Họ
thường có thái độ thù địch đối
với Việt nam v́ trong nhiều giai đoạn họ
nhận định Việt nam vừa không có lợi ǵ cho
họ lại vừa không làm ǵ được họ.
Cũng nên nh́n rô một đặc tính của người
Khmer: trong suốt ḍng lịch sử họ luôn luôn phải
chịu đựng những chế độ hung bạo
cho nên sự hung bạo đă ăn rễ trong dân gian;
người Cam-bốt rất dễ bị sách động
vào các cuộc thảm sát. Trong một quốc gia khác,
nhưng lănh tụ dù khát máu như Pol Pot cũng không thể
gây ra một cuộc thảm sát như thế giới
đă thấy tại Cam-bốt. Nh́n vào những ǵ
người Cam-bốt đă làm với nhau, ta sẽ
thấy rằng sự hung bạo của người
Cam-bốt không phải là bằng chứng của hận
thù, bởi v́ họ hung bạo ngay với đồng bào
họ. Do đó không nên coi những vụ thảm sát
người Việt tại Cam-bốt như là dấu
hiệu của một hận thù không thể vượt
qua được.
Một số đông chúng ta không hiểu rơ lịch sử
của chính nước ḿnh, nhất là cuộc nam tiến
của dân tộc Việt nam, và do đó vẫn c̣n bị
ảnh hưởng của luận điệu của chính
quyền thuộc địa Pháp, rồi cũng mang mặc
cảm tội lỗi đối với Cam-bốt. Chúng ta
đừng quên rằng, ngoại trừ một vài qui
định hành chánh dưới thời Pháp thuộc không
nhất thiết có lợi cho Việt nam, biên giới
giữa hai nước không hề thay đổi từ hơn
hai thế kỷ qua. Đó là một trong những biên
giới ổn định nhất thế giới.
Điều này đủ để bảo đảm cho
khả năng chung sống ḥa b́nh giữa hai nước.
Chúng ta cũng đừng quên rằng về phương
diện địa lư Cam-bốt cần Việt nam hơn là
Việt nam cần Cam-bốt. Trong tương lai, nếu
Cam-bốt gượng dậy được từ
thảm kịch hiện nay, họ sẽ không có chọn
lựa nào khác là hợp tác chặt chẽ với Việt nam,
và lúc đó họ sẽ hợp tác với chúng ta một
cách rất nồng nhiệt.
Điều quan trọng trong quan hệ với Cam-bốt là
chúng ta cần từ bỏ một mặc cảm tội
lỗi không đung để vạch ra một chính sách
sống chung trên căn bản tương kính, có lợi cho
cả đôi bên. Đối với cuộc nam tiến
mở nước của chúng ta, chúng ta cần ghi ân
trước hết những hy sinh của những tổ
tiên rất khiêm nhường của ta, những tấm áo
nâu dắt d́u nhau vào chốn rừng sâu và dắt d́u nhau vào
tới Cà Mau. Công mở nước là của họ chứ
không phải của các vua chúa và các danh tướng.
Phần 2 Con
đường đă qua
Dừng chân nghĩ lại
Nhân
nói về cuộc nam tiến, cũng cần nhận
định rằng lịch sử nước ta có cái ǵ
đó thực u uất. Trong suốt quá tŕnh mở
nước và dựng nước của ta h́nh như các
biến cố trọng đại lúc nào cũng khởi
đầu từ những sự không may. Những
người Lạc Việt đầu tiên đă từ
Trung Hoa xuống miền Nam để tránh sự hà
khắc, rồi hội nhập với người tại
chỗ để lập ra nước Việt. Cuối
thế kỷ 16, Nguyễn Hoàng v́ sợ bị bách hại,
đem dân vào Hoành Sơn, cùng với những người di
dân Việt đă theo nhau đến đó từ một hai
thế kỷ trước hội nhập với
người Chiêm Thành mà mở rộng miền Trung.
Cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn đă khiến một
số đông đảo chạy trốn về phía Nam,
tránh sưu cao thuế nặng và tránh cho con cái khỏi
bị bắt lính, rồi miền Nam dần dần thành
h́nh. Lúc nào cũng theo người Việt chạy trốn
một sự bất hạnh rồi vô t́nh đi thêm
một bước đường mở nước. Sau
năm 1975, chúng ta lại có một bạo quyền khác và v́
đă tựa lưng vào biển cả, đàn chim Việt
đă vượt trùng dương, tạo ra cộng
đồng người Việt hải ngoại, tỏa
sự hiện diện của Việt nam ra khắp thế
giới.
Tất cả những biến cố này đều là
những biến cố trọng đại và vô cùng ích
lợi. Chúng nói lên khả năng phi thường của
một dân tộc luôn luôn đủ khôn khéo để
biến họa thành phúc. Nhưng đồng thời chúng
cũng là một hổ nhục lớn cho những
người lănh đạo. Đến bao giờ chúng ta
mới có thể chủ động thay v́ chỉ phản
ứng trước một t́nh thế bắt buộc?
đến bao giờ chúng ta mới có thể có những
chuyển biến tốt do chủ ư, xuất phát từ
một dự tính lạc quan? Tất cả những câu
hỏi này chất vấn những người có chức
năng lănh đạo đất nước, nghĩa là
những người tri thức.
Đến đây, tôi đă mời độc giả cùng
làm một cuộc hành tŕnh khá dài qua lịch sử
nước ta, từ lúc lập quốc cho đến khi
đạt tới lănh thổ hiện nay. Cuộc hành tŕnh
này chỉ có mục đích giúp ta nh́n rơ hơn chúng ta là ai,
hay ít nhất đừng hiểu lầm chính ḿnh. Chúng ta
đă đi được một đoạn
đường khá dài, và vừa đến một trạm
xá thuận lợi để tạm dừng chân, ngồi
xuống và nghĩ về ḿnh.
Phần 2 Con
đường đă qua
Tám mươi năm Pháp thuộc
Người
Pháp khởi sự bắn phá Đà Nẵng năm 1858
rồi bỏ đi. Vài năm sau họ trở lại
với một ư chí chinh phục thực sự. Năm 1862
họ đánh chiếm ba tỉnh miền Tây, sau đó
chiếm hoàn toàn miền Nam rồi tiến ra Bắc.
Nếu tính từ cột mốc 1862 này đến khi Việt
nam tuyên bố độc lập năm 1945 th́ cuộc
đô hộ của người Pháp đă kéo dài 83 năm.
Tuy nhiên, chỉ từ năm 1884 trở đi sự
thống trị của người Pháp mới
được thiết lập trên toàn lănh thổ. Nếu
lấy cột mốc 1884 th́ cuộc đô hộ của
người Pháp kéo dài 61 năm. Thực ra hiệp
ước Patenôtre trên lư thuyết cũng không đặt
toàn bộ lănh thổ Việt nam dưới ách đô
hộ của người Pháp. Nó chia Việt nam làm ba
phần. Nam Phần là thuộc địa hẳn hoi
của Pháp, Bắc Phần vẫn là lănh thổ của
triều đ́nh Nguyễn nhưng đặt dưới
sự bảo hộ của Pháp. C̣n Trung Phần vẫn hoàn
toàn thuộc chủ quyền nhà Nguyễn. Nhưng
người Pháp đă nhanh chóng lấn chiếm thêm chủ
quyền Việt nam trước sự bất lực
của triều Nguyễn. Đến năm 1888, vua Thành
Thái lên ngôi kư thêm một hiệp ước nhượng
bộ nữa, đặt toàn lănh thổ Việt nam
dưới sự đô hộ của Pháp. Từ đó
người Pháp tha hồ phế lập các vua nhà
Nguyễn. Những sự kiện này mọi người
đọc qua lịch sử Việt nam đều
biết. Sự kiện cần được nhấn
mạnh là nói chung, trừ một số sĩ phu bất
khuất, người Việt nam đă hoan hô sự
thống trị của Pháp, hay ít nhất đă ưa chính
quyền thuộc địa Pháp hơn là triều đ́nh
nhà Nguyễn. Tại miền Bắc, các cô tôi kể
chuyện các bà có thai cố gắng đi vào Hà Nội
để để con v́ Hà Nội, không giống như các
tỉnh miền Bắc khác, được coi là thuộc
địa từ năm 1888 và những người ra sinh
ra tại Hà Nội được coi là thần dân Pháp
(sujet francais).
Tới đây có lẽ cũng nên mở một ngoặc
đơn để nhận xét một đặc tính
của người Pháp. Tại sao lại thần dân mà
không phải là công dân (citoyen francais)? Lại là một tṛ
chơi chữ và phân biệt tinh vi của người Pháp.
Người Pháp có biệt tài lấp lửng và mơ
hồ để bắt cá hai tay, vừa thủ lợi
vừa tránh né trách nhiệm khi cần. Năm 1948 lại
vịnh Hạ Long, Pháp thỏa thuận với Bảo
Đại để Việt nam được độc
lập, nhưng lại bắt buộc Việt nam ở trong
khối Liên Hiệp Pháp. B́nh thường ra đă
độc lập th́ phải có quyền gia nhập
hoặc không gia nhập một khối nào, nhưng chính
quyền Pháp đă ràng buộc hai vấn đề với
nhau. Pháp thừa nhận Việt nam độc lập,
nhưng độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp, có
nghĩa là nếu Quốc Gia Việt nam quyết
định rút ra khỏi khối Liên Hiệp Pháp th́ Pháp
cũng không c̣n nh́n nhận nền độc lập
của Việt nam nữa. Người Pháp chia rẽ nhau
trên một giải pháp cho Việt nam và họ chọn
một giải pháp nửa chừng và mâu thuẫn. Chưa
hết, người Pháp c̣n đẩy tṛ chơi chữ
đến một mức độ lố bịch, khôi hài.
Câu nh́n nhận Việt nam độc lập trong khối
Liên Hiệp Pháp chỉ được viết bằng
tiếng Việt chứ không được dịch ra
tiếng Pháp trong hiệp ước Hạ Long.
Người Pháp không có óc minh bạch của các dân tộc
Anglo-saxon. Phải nói ngay rằng trong tiếp xúc với
phương Tây ta đă không được tiếp xúc
với phần tinh hoa nhất của họ, đó là
điều đáng tiếc.
Tuy nhiên, mặc dầu những khổ nhục của t́nh
trạng ngoại thuộc tám mươi năm Pháp
thuộc đă đem lại cho đất nước ta
những tiến bộ rất trọng đại. Đó
là giai đoạn mà nước ta phát triển mau chóng
nhất. Người Pháp đă xây dựng ra nhiều thành
phố lớn, trong đó có hai cảng Hải Pḥng và Sài
g̣n, đă xây dựng phần lớn các trục lộ giao
thông lớn. Họ cùng đă đem văn hóa, nếp
sống, cách tổ chức và những giá trị
phương Tây vào đất nước ta. Có thể nói
Pháp đă c̣ng tay Việt nam và dẫn vào thời đại
mới. Đóng góp của người Pháp cho nước ta
không thể chối căi, ngay cả dưới mắt
một người Việt nam yêu nước. Năm 1936
khi chính phủ Mặt Trận B́nh Dân Pháp của thủ
tướng Lon Blum có ư định trở lại hiệp
ước 1884, nghĩa là trả lại miền Bắc và
miền Trung cho triều đ́nh Nguyễn họ đă
bị ngay những trí thức Việt nam tiến bộ
phản đối dữ dội. Các trí thức này không
phải không muốn độc lập, nhưng họ không
muốn lập lại sự cai trị của triều
đ́nh Huế. Không ai, kể cả vua Bảo Đại
và các cận thần, ngạc nhiên trước sư
phản đối này. Chúng ta đă bị ngoại thuộc
nhiều lần trong quá khứ, nhưng lần này là
một ngoại thuộc hoàn toàn khác. Từ trước
kẻ xâm lăng đến ṿ vét tài sản, tàn phá đất
nước và đẩy dân chúng vào cảnh cơ cực.
Làn này kẻ thống trị ngoại bang mở mang
đất nước, nâng cao mức sống và trí tuệ
của dân ta. ách đô hộ của người Pháp,
với sự du nhập của văn hóa và các giá trị
phương Tây c̣n có giá trị giải phóng của nó. Chính
từ giai đoạn này mà chúng ta hoàn toàn không c̣n lệ
thuộc Trung Quốc về mặt chính trị nữa và
cũng có luôn khả năng ra khỏi ảnh hưởng
của văn hóa Trung Hoa đá quá lỗi thời. Không
những bảo vệ Việt nam đối với Trung
Quốc, người Pháp c̣n đủ sức mạnh
để buộc Trung Quốc chấp nhận những
thỏa hiệp có lợi cho Việt nam, chẳng hạn
như hiệp ước về vịnh Bắc Phần.
Người Pháp c̣n cho Việt nam một cơ hội
mở rộng không gian sinh hoạt. Họ thành lập ra
Liên Hiệp Đông Dương gồm ba kỳ của
Việt nam, Lào và Cam-bốt. Hai nước Lào và Cam-bốt
vừa quá ít dân so với Việt nam, lại vừa ở
mức độ phát triển thấp hơn nên Đông
Dương thực ra là Việt nam. Chỉ trong vài thập
niên, phần lớn các công chức cao cấp tại hai
nước này đă là người Việt. Điều
nghịch lư là sau thế chiến II, khi người Pháp bằng
ḷng trả độc lập cho các nước Đông
Dương nhưng đ̣i duy tŕ Liên Bang Đông Dương
trong khối Liên Hiệp Pháp, chính phủ cách mạng
Việt nam, do ông Hồ Chí Minh cầm đầu, đă
phản đối dữ dội làm cho hội nghị
Đà Lạt năm 1946 thất bại. Dĩ nhiên, tại
Hội Nghị Đà Lạt, Pháp c̣n đưa nhiều
đ̣i hỏi bắt chẹt khác, thí dụ như đ̣i
tách Nam Kỳ ra riêng, nhưng điều đáng để
ư là chính phủ Hồ Chí Minh đă phản đối
dữ dội Liên Bang Đông Dương mà sau này họ
đ̣i lập lại. Điều này chứng tỏ
rằng những người làm chính trị của
Việt nam thiếu hẳn viễn kiến. Nhiều
người Việt nam ngày hôm nay vẫn c̣n tiếc cơ
hội đó. Nhưng tiếc hay không cũng là sự
đă rồi. Vấn đề là Liên Bang Đông
Dương không nên nhắc lại nữa. Nó chỉ gây
ngờ vực và lo âu cho hai nước Lào và Cam-bốt
đối với Việt nam mà thôi. Điều chúng ta
cần mưu t́m là một hợp tác b́nh đẳng trong
tinh thần tương kính với hai nước láng
giềng này. Một sự hợp tác như thế sẽ
có lợi cho cả ba dân tộc. Chính v́ sự thành công
của chính quyền thuộc địa Pháp mà thái
độ đối với nó đă gây chia rẽ trầm
trọng giữa người Việt nam. Có những
người cho chế độ thuộc địa Pháp là
hay và nên tiếp tục cũng có những người cho
rằng độc lập là cần thiết nhưng
cần phải tiếp tục hợp tác với
người Pháp để mở mang dân trí và dân sinh
trước đă, trong số những người này có
hai trí thức lỗi lạc nhất đầu thế
kỷ 20 là Phan Chu Trinh và Phạm Quỳnh. Sau cùng cũng có
những người cho rằng phải đánh
đuổi người Pháp để chấm dứt cái
nhục bị đô hộ và giành lại chủ quyền
ngay tức khắc. Các khuynh hướng này thay v́ thảo
luận b́nh tĩnh với nhau đă mạt sát và kết án
lẫn nhau. Người này gọi người kia là ngu
dốt, người kia gọi người này là phản
quốc bán nước.
Vấn đề thực là phức tạp. Điều
phức tạp hơn nữa là giữa những
người chủ trương giành độc lập ngay
tức khắc cũng không có đồng thuận Có
những người chỉ chủ trương giành
độc lập, nhưng cũng có những người
chủ trương đánh đuổi người Pháp
để thiết lập một chế độ
cộng sản. Và hai khuynh hướng này cũng sẵn
sàng tàn sát nhau.
Chúng ta đă không biết ra khỏi ách đô hộ của
người Pháp một cách tốt đẹp bởi v́
chúng ta đă thiếu hẳn một đồng thuận
dân tộc. Đồng thuận dân tộc không phải là
dễ, nó đ̣i hỏi một tư tưởng quốc
gia và nó cũng đ̣i hỏi những khuôn mặt uy tín
để có thể thuyết phục và qui tụ mọi
người trên những chọn lựa quan trọng.
Nhưng tư tưởng của chúng ta vốn đă rát
kém, nếu không muốn nói là không có ǵ. Tư tưởng
Khổng Giáo đă sụp đổ, nhưng thời gian
tiếp xúc với phương Tây vẫn c̣n quá ngắn nên
chưa xuất hiện được những nhà lư
luận mới. Phan Chu Trinh là một nhân vật đă có
thể góp phần tốt đẹp vàn cuộc chuyển
hóa tư tưởng trọng đại của
đất nước ta, nhưng tiếc thay ông đă qua
đời quá sớm, năm 1925, lúc mới vừa 52
tuổi
Phần 2 Con
đường đă qua
Một bài học lịch sử
Lư
do vẫn thường được viện dẫn
để giải thích tại sao chúng ta bị người
Pháp thôn tính là: v́ ta thiếu vũ khí và kỹ thuật tói
tân. Chúng ta có vẻ hài ḷng với giải thích đó,
nhưng khi sự thôn tính đó diên ra một cách quá dễ
dàng th́ vũ khí không giải thích tất cả. Vũ khí
ngay cả thêm kỹ thuật tổ chức quân
đội, cũng không thể giải thích thất bại
quá hổ nhục của ta.
Để đánh thành Hà Nội do Nguyễn Tri Phương
có chuẩn bị trước để pḥng vệ,
người Pháp đă chỉ cần 170 quân và họ hạ
thành Hà Nội trong nháy mắt, bắt sống Nguyễn Tri
Phương. Lần thứ hai, họ đem một số
quân đông gấp ba, gần 500 người, nhưng
lần này Hoàng Diệu không kháng cự mà tự tử
để quân Pháp chiếm thành. Để chiếm Hải
Dương, quân Pháp đă chỉ cần 15 người lính
bắn vài phát súng là xong. Quân nhà Nguyễn đă không kháng
cự chứ không phải đă thua trận. Tại Ninh
B́nh chúng ta c̣n nhục nhă hơn nhiều. Một viên
thiếu úy dẫn bảy tên lính tới thành. Tổng
đốc Nguyễn Đức Tuân và toàn bộ quân sĩ
Việt nam phải hạ khí giới, qú xuống hai bên
đường đầu hàng.
Trước đó, Jean Dupuis, một lái buôn với vài tên
lính đánh thuê do y tuyển dụng đă có thể làm
mưa làm gió mỗi lần đưa tàu buôn ra Bắc. Các
quan lại Việt nam tại Hà Nội mỗi khi thấy
tàu Dupuis tới gần phải chạy trước, sợ
y bắt và nọc ra đánh.
Nếu bảo rằng ta thua v́ không có vũ khí th́ tại
sao vài ngàn quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc lại
hai lần đánh bại quân Pháp một cách dễ dàng, chém
đầu viên chỉ huy Pháp? Mà Lưu Vĩnh Phúc có đánh
lén đâu. Trong lần Henri Rivière ra Hà Nội, cũng là
lần Pháp đem lực lượng hùng hậu nhất,
trên 500 người, Lưu Vĩnh Phúc đem quân đến
sát Hà Nội, đóng doanh trại, gởi chiến thư
gọi Rivière ra đánh. Cách đối địch này
chẳng có ǵ là độc đáo. Henri Rivière đem quân ra.
Quân Cờ Đen xông tới tàn sát quân Pháp, chém Henri Rivière,
đem bêu đầu. Năm đó là năm 1872.
Trước đó, đầu thế kỷ 19, giữa lúc
Pháp hùng mạnh nhất về quân sự, với hoàng
đế Napoléon I làm bá chủ cả châu Âu, th́ những
người nô lệ da đen trên đảo Haiti nổi
dậy thành lập một quốc gia độc lập
thách thức đế quốc Pháp. Napoléon I đă cử
một hạm đội hùng hậu gồm 86 chiến
thuyền và 34.000 lính thủy dưới sự chỉ huy
của đô đốc Leclerc, em rể Napoléon I, sang chinh
phạt. Dưới quyền đô đốc Leclerc là 13
trung tướng và 27 thiếu tướng. Đạo quân
hùng hậu và tinh nhuệ này c̣n mang theo một đàn chó
trận được tập luỵện để
săn người da đen. Chúng sử dụng những
biện pháp cực kỳ tàn bạo, treo cổ, nhận
nước cho chết, thả tù nhân cho chó ăn thịt,
v.v... Nhưng những người da đen đơn
sơ đă chống trả, họ đă đánh tan
đạo quân này trong thời gian không đầy hai
năm, buộc quân Pháp phải đầu hàng. Lúc đó
tổng số người da đen tại Haiti chưa
tới nửa triệu người.
Thành tích này thật nổi bật so với Việt nam. Lúc
đó chúng ta đă có khoảng xấp xỉ mười
triệu dân, đă có một lịch sử dài với nhau
quá khứ chống ngoại xâm và mở mang bờ cơi
rất oanh liệt. Quân Pháp sang chiếm nước ta
cũng chỉ vài ngàn người với phương
tiện thô sơ, mỗi lần ra Bắc họ chỉ
đem vài trăm lính dưới sự chỉ huy của
những sĩ quan trung cấp.
Vũ khí kỹ thuật tổ chức, ngay cả số
đông cũng không phải là tất cả. Chúng ta thua, và
thua rất nhục nhă, chỉ v́ tinh thần dân tộc
của chúng ta không c̣n. Mỗi lần quân Pháp ra đánh
Bắc Hà, dân chúng kéo nhau đi xem quân Tây và quân Nam đánh
nhau như những người bàng quan. Các vua nhà Nguyễn
đă chỉ coi miền Bắc và miền Nam như
những vùng đất xa xôi. Các chính sách hà khắc,
giết hại công thần, cấm đạo đă làm tan
vỡ hoàn toàn đồng thuận dân tộc. Nước
Việt nam vào giai đoạn đó chỉ c̣n là một
hư cấu và v́ thế nó đă mất hết sức
tự vệ.
Từ đó đến nay chúng ta có xây dựng cho ḷng yêu
nước mạnh hay không? Một cách ngược
đời, giai đoạn Pháp thuộc đă làm tăng
trưởng tinh thần quốc gia và ḷng yêu nước.
Ba yếu tố đă đóng góp vào sự tăng
trưởng này. Một là sự hổ nhục v́ bị
đô hộ bởi một số ít thực dân, thuộc
một chủng tộc khác và đến từ
phương xa, đă gây ra một phản ứng liên
đới giữa những người cùng chung ṇi
giống và văn hóa. Hai là do tiếp xúc với
phương Tây, chúng ta đă tiếp thu được ư
thức quốc gia, một ư thức trước đó
chúng ta chỉ có một cách mơ hồ và người
phương Tây cũng chỉ khám phá trước chúng ta
không bao lâu; tôi sẽ c̣n trở lại vấn đề này
trong những trang sắp tới. Ba là thời Pháp thuộc
đă đem lại phồn vinh, và do đó một sinh
lực mới cho cộng đồng dân tộc.
Sức mạnh mới đó đă khiến dân ta quật
khởi vùng lên giành chủ quyền. Đảng cộng
sản đă vận động được ḷng yêu
nước đó để dựa vào chiêu bài giải phóng
dân tộc mà tranh đấu cho chủ nghĩa cộng
sản và họ cũng đă giáng một đ̣n chí tử
vào ḷng yêu nước vừa mới có được
một sức mạnh. Lần đầu tiên ở
nước ta xuất hiện một lực lượng
không kêu gọi đoàn kết dân tộc mà kêu gọi
hận thù giữa dân tộc. Tiếng gọi đấu
tranh giai cấp về thực chất là một tiếng
gọi nội chiến, một tiếng gọi giải
thể quốc gia, thay thế tinh thần quốc gia
bằng tinh thần giai cấp. Sau đó chính sách toàn
trị của họ đă biến đất nước
thành của riêng một đảng - như ngày
trước nó là của riêng một ḍng vua - và trục
xuất đại khối dân tộc khỏi định
mệnh đất nước. Đă thế, đảng
cầm quyền lại c̣n áp dụng vô số biện pháp
phân loại dân chúng và phân biệt đối xử.
Những đỗ vỡ và thất vọng kéo dài quá lâu
đă làm sụp đổ ḷng yêu nước của
người Việt.
Ngày trước, chính sự suy sụp của tinh thần
dân tộc đă khiến chúng ta thua một cách hỗ
nhục dưới tay người Pháp chứ không phải
v́ người Pháp mạnh. Ngày nay cũng chính sự suy
sụp tinh thần dân tộc đă khiến chung la không
tự giải phóng được khỏi tay đảng
cộng sản chứ không phải v́ chế độ
cộng sản mạnh. Có những lúc mà những bài
học lịch sử thật đáng suy ngẫm.
Phần 2 Con
đường đă qua
Soi lại chân dung, ba nét đậm của
đất nước
Cuốn
sách này dĩ nhiên không thể có tham vọng lố bịch
là viết lại lịch sử. Nó đă mời
độc giả theo ḍng lịch sử mà nghĩ lại
một số nhân vật và sự kiện với một
dụng ư khác.
Cách mà một dân tộc đánh giá các triều đại và
các nhân vật lịch sử nói lên rất nhiều về
tâm lư của dân tộc đó. Chính qua cách chọn lựa và
tôn vinh các anh hùng mà mỗi dân tộc bộc lộ hon tính
của ḿnh.
Một mặt, việc luận công và tội trong lịch
sử tùy thuộc ở các giá trị mà mỗi dân tộc
đề cao hơn là ở những sự kiện đă
thực sự xảy ra, và v́ thế có thể thay
đối với thời gian. Một thí dụ là hoàng
đế Napoléon I của nước Pháp. Napoléon là một
thiên tài về quân sự, đă đánh bại và chế
ngự gian hết châu Âu. Ông cũng là một nhân vật hào
hoa phong nhă, có sức truyền cảm khó b́ và không những
chỉ đem vinh quang quân sự cho nước Pháp, ông c̣n
làm ra luật pháp, đặt ra những định chế
quan trọng mà nước Pháp tới nay vẫn c̣n ǵn
giữ và tự hào. Thời đại của ông cũng
để lại những công tŕnh lớn, vĩ
đại cả về tầm vóc lẫn mỹ thuật.
Có một dạo người Pháp tôn sùng ông như một
thần tượng, nhưng ngày nay, nếu
được hỏi, ít có người Pháp nào c̣n bày
tỏ sự ái mộ với Napoléon. Không phải v́ Napoléon
đă thay đổi mà v́ tâm lư và cách nh́n lịch sử
của người Pháp đă thay đổi.
Mặt khác, những nhận định và đánh giá rơ ràng
là sai lầm mà lại kéo dài quá lâu cũng tố giác sự
hời hợi và sự thiếu óc phê phán của một dân
tộc.
Đặt lại một số vấn đề lịch
sử như vậy cũng là chất vấn tâm lư tập
thể của một dân tộc và rà soát lại các giá
trị nền tảng, các giá trị đă góp phần
quyết định tạo ra số phận của dân
tộc đó. Các nhà tư tưởng hiện nay
đều đồng ư trên một điểm: tâm lư và các
giá trị là tất cả đối với một dân
tộc; địa lư, tài nguyên thiên nhiên và ngay cả bối
cảnh quốc tế chỉ là thứ yếu. Các dân
tộc như Mỹ, Đức, Nhật, dù ở hoàn
cảnh nào, dù có bị tàn phá đến đâu cũng
vẫn nhanh chóng phục hồi và vươn lên trong khi
nhiều dân tộc khác dù được thiên nhiên và hoàn
cảnh ưu đăi tới đâu cũng vẫn thua kém.
Một dân tộc v́ thế chỉ thay đổi
được số phận của ḿnh nếu thay đổi
tâm lư và các giá trị, nghĩa là thay đổi văn hóa,
thay đổi cách suy nghĩ, hành động và ứng
xử.
Cuộc hành tŕnh qua lịch sử mà cuốn sách này mời
độc giả cùng đi đă không thoải mái. Tôi
hiểu là những phân tích không khoan nhượng đă làm
phiền ḷng không ít độc giả. Những ǵ mà chúng ta
đă biết hoặc đă tin là một phần của
chính chúng ta, và dĩ nhiên chúng ta cảm thấy như
bị xúc phạm và bị đả thương khi có
người bác bỏ. Tôi mong các độc giả đó
hiểu cho rằng chính tôi đă rất đau nhức khi
phải xét lại những ǵ mà chính ḿnh trong một
thời gian dài đă cho là đúng và lấy làm nền
tảng cho nhiều lư luận khác. Nhất là khi tôi phải
làm việc đó tự ḿnh và một ḿnh, trong một
cuộc xung đột với chính ḿnh.
Nhưng đó là việc phải làm. Chúng ta phải nhận
định lại lịch sử để nhận
diện lại chính chúng ta và thay đổi số phận
của chúng ta. Hoàn cảnh bi đát của chúng ta hiện
nay không cho phép chúng ta thỏa mân. Khi chúng ta nh́n lịch
sử của ḿnh một cách khác cũng là lúc chúng ta nghĩ
về ḿnh một cách khác, để từ đó chấp
nhận một cách ứng xử khác và tiến tới
một tương lai khác.
Cuộc hành tŕnh này đă dẫn chúng ta tới lịch
sử hiện đại, nghĩa là phản lịch sử
c̣n đang diễn ra mà chúng ta c̣n có thể tác động.
Phần lịch sử này chúng ta sẽ phải đề
cập một cách khác. Nhưng tới đây chúng ta đă
có thể rút ra một vài nhận định quan trọng.
Một là đất nước ta đă h́nh thành như
một phần của Trung Quốc, rồi do hoàn cảnh
địa lư mà tách rời ra, nhưng chỉ tách rời
về mặt hành chánh chứ không tách rời về mặt
văn hóa. Như vậy ảnh hưởng của văn
hóa Trung Hoa trên chúng ta rất lớn, ngay cả khi chúng ta
không ư thức được. Không phải là một sự
ngẫu nhiên mà các vua quan nhà Nguyễn vẫn cố bám vào
Trung Quốc giữa lúc chính Trung Quốc cũng đang
rất khốn đốn. Cũng không phải là một
ngẫu nhiên mà sau khi đă bị Pháp đô hộ và đă
chịu ảnh hưởng nặng nề của Pháp,
Việt nam Quốc Dân Đảng mà những người
chủ xướng đều có Tây học, vẫn chủ
trương rập khuôn Trung Hoa Quốc Dân Đảng.
Cũng không phải là một ngẫu nhiên mà đảng
cộng sản Việt nam luôn lếch thếch chạy theo
Đảng cộng sản Trung Quốc, dù có lúc hai bên
đă thù ghét nhau thậm tệ. Cho dù thương nhau hay
ghét nhau, cùng một văn hóa th́ vẫn cùng một cách hành
động. Chúng ta c̣n muốn tiếp tục đi theo và
đi sau người Trung Hoa nữa không, hay chúng ta đă
nh́n thấy những khuôn mẫu khác và những lộ tŕnh
khác tốt đẹp hơn? Nếu không muốn theo mô h́nh
Trung Quốc nữa th́ chúng ta cần một cố gắng
cởi trói, vượt thoát và khai thông rất trọng
đại.
Hai là trong quá tŕnh lịch sử chúng ta đă bị
ngoại thuộc nhiều hon là độc lập, chúng ta
đă chịu đựng quá nhiều chiến tranh và
chỉ được hưởng quá ít hoà b́nh, đă
bị chia cắt nhiều hơn thống nhất. Đó là
một lịch sử rất chật vật và v́ thế
chúng ta là một dân tộc bị chấn thương
nặng. Cách suy nghĩ và hành động của chúng ta
chắc chắn là không b́nh thường. Do đó cần
rất dè dặt trong các phân tích và các dự đoán chính
trị. Có những sự kiện đáng lẽ phải
xảy ra lại không xảy ra và cũng có những
biến cố đáng lẽ không thể có lại vẫn
có. Trong nhưng trường hợp như thế, một
nhận định b́nh thường, nghĩa là không kể
đến t́nh trạng bất b́nh thường của dân
tộc ta, rất dễ khiến chúng ta lư luận
gượng ép, khen chê một cách sai lạc và gây khó khăn
thêm cho sự t́m kiếm một giải pháp đúng
đắn. Trong hoàn cảnh phức tạp và khủng
hoảng tinh thần này, chúng ta cần rất nhiều b́nh
tĩnh và sáng suốt.
Sau cùng, tuy chúng ta có một lịch sử dài nhưng
lại là một quốc gia mới h́nh thành xong. Chúng ta
đă không ngừng đón nhận nhiều đóng góp
về đất đai và chủng tộc. Cấu tạo
địa lư và nhân văn của chúng ta mới chỉ rơ
rệt từ nửa sau thế kỷ 18. Từ đó
đến nay lại là giai đoạn đầy rẫy
những thảm kịch nội chiến, ngoại xâm,
ngoại thuộc, chia cắt, xung đột ư thức
hệ, v. v... Chúng ta là một quốc gia chưa ổn
vững, cần được cũng cố, xây dựng
và ǵn giữ với tất cả thận trọng,
nhất là vào giữa lúc mà ư niệm quốc gia đang
bị công phá khắp nơi trên thế giới. Nguy cơ
tan ră có thực. Trong khi dù muốn hay không chúng ta vẫn
cần có một quốc gia để làm không gian liên
đới cho cố gắng xây dựng một tương
lai chung. V́ nhiều lư do, mà lư do giản dị nhất là
không ai muốn ḥa nhập với một dân tộc nghèo khó
như chúng ta.
Phần 2 Con
đường đă qua
Một chuyển tiếp tự nhiên
Một
cuộc hành tŕnh dù vội vă đến đâu qua lịch
sử Việt nam cũng không thể bỏ qua đảng
cộng sản. Tác động của nó vào lịch sử
Việt nam đă vô cùng to lớn.
Đó là phong trào Việt nam lần đầu tiên tôn vinh
đế quốc Nga (dưới mỹ từ Liên Bang Xô
viết). Sự thần phục này nghịch lư về
nhiều mặt. Nga là nước không những ở
rất xa nước ta, chưa hề có một quan hệ
nào với nước ta, mà lại là nước do điều
kiện địa lư rất ít giao thiệp với thế
giới bên ngoài. Nga có tŕnh độ phát triển thấp
hơn hẳn các nước phương Tây. Văn hóa Nga dù
không tồi cũng không sánh được với văn
hóa phương Tây.
Chọn lựa đồng minh và quan thày kỳ lạ này
đến từ một chọn lựa độc đáo
khác: Đảng cộng sản Việt nam cũng là phong
trào nổi dậy đầu tiên không lấy quốc gia làm
đối tượng phục vụ, hơn thế
nữa mục đích sau cùng của nó c̣n là giải thể
quốc gia Việt nam (cũng như mọi quốc gia
khác) để hội nhập vào một thế giới vô
sản. Chủ nghĩa đă mạnh hơn các quan tâm
về địa lư, lịch sử và văn hóa.
Điểm này cần được nhận định
đúng đắn để rút một suy tư về
đất nước.. Chính v́ khó có thể tin rằng
một phong trào không nhắm phục vụ mà c̣n nhắm
giải thể Việt nam mà lại được
người Việt nam ủng hộ nên ngay cả một
số những người chống cộng vẫn cố
biện bạch rằng phong trào cộng sản là một
phong trào yêu nước.
Nhưng sự thực không phải như thế. Sự
lấn cấn sở dĩ có là v́ chúng ta không phân biệt
hai khái niệm khác nhau: người cộng sản và
đảng cộng sản. Có và có nhiều người
cộng sản yêu nước, nhưng Đảng cộng
sản không phải là một đảng yêu nước.
Đảng cộng sản thành lập lúc ban đầu
dưới danh xưng là Đảng Cộng Sản
Đông Dương với vai tṛ phân bộ của phong trào
cộng sản quốc tế. Nó nổi dậy lần
đầu với tên gọi Xô Viết Nghệ Tĩnh và lá
cờ đỏ mang khẩu hiệu Vạn Tuế Sô Nga.
Cuộc nổi dậy này hoàn toàn chỉ do những
động cơ giai cấp, dưới khẩu hiệu
trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận
rễ nó chỉ nhắm tàn sát những người bị
coi là kẻ thù của giai cấp vô sản. Trên thực
tế đây không phải là một cuộc nổi dậy
v́ Việt nam. Chiêu bài dân tộc chỉ được dùng
tới sau đó, do một chọn lựa chiến
lược mà Stalin áp đặt lên đệ tam quốc
tế: chiến lược xây dựng chủ nghĩa xă
hội trong từng quốc gia. Những người
cộng sản Việt nam đầu tiên không phải
đă hân hoan đón nhận mệnh lệnh này. Họ
đă chỉ tuân hành nó một cách miễn cưỡng.
Điều đă thôi thúc những người cộng
sản trung kiên, đă khiến họ có thể hy sinh tính
mạng và đă đem lại sức mạnh cho
đảng cộng sản, vẫn là lư tưởng
quốc tế vô sản.
Đảng cộng sản cũng khiến Việt nam
một thời được cả thế giới
biết đến và nẻ phục như một dân
tộc anh hùng bất khuất đă chống trả
một cách thắng lợi với hai cường quốc
lớn Mỹ và Pháp. Nó cũng là phong trào lần đầu
tiên đánh bại Hoa Kỳ. Mỗi người Việt
nam, kể cả những người chống cộng và
đă thực sự đứng trong hàng ngũ đối
địch với đảng cộng sản, sẽ
lầm nếu phủ nhận những chiến công này.
Phủ nhận chúng cũng như người Ai Cập
phủ nhận các kim tự tháp hay như người Trung
Hoa phủ nhận Vạn Lư Trường Thành. Đó là
những công tŕnh được xây dựng trên mồ hôi,
nước mắt và xương máu của các dân tộc
nhưng đồng thời cũng là những di sản
của họ. Ngược lại, những người
cộng sản cũng nên tương đối hóa
những chiến thắng đó. Cùng lắm chúng chỉ
khiến chúng ta xuất hiện như là một dân tộc
giỏi chiến tranh trong một thế giới ngày càng tôn
vinh những giá trị khác và trong đó chỗ đứng
và sự vinh nhục của các dân tộc được quyết
định bởi những thành tựu về văn hóa,
khoa học, kỹ thuật, thương mại. Hơn
nữa chúng ta đă phải trả giá quá đắt cho
những chiến thắng này. Chúng ta đă kiệt quệ
hoàn toàn và c̣n thù ghét lẫn nhau, để rồi bế
tắc trong sự thua kém.
Đảng cộng sản đă làm chết bốn
triệu người qua ba mươi năm chiến tranh
(con số sẽ cần được khảo sát một
cách chính xác) nhưng đă nắm được chính
quyền và thống nhất đất nước. Họ
đă thất bại khi cầm quyền. Cần nói rơ
về sự thất bại này để tránh ngộ
nhận chủ quan: chế độ cộng sản, sau
những đập phá lúc ban đầu do bản chất
cách mạng của nó, đă làm nhiều cố gắng xây
dựng đúng. Nó đă nâng cao phần nào cuộc sống
của người dân mặc dầu dân số Việt nam
tiếp tục tăng nhanh. Nó cũng đă thúc đẩy
nhiều công tŕnh nghiên cứu có ích, và nó cũng dành cho
người dân một chỗ đứng và một
phẩm giá lớn hơn hắn các chế độ quân
chủ tại Việt nam trước đó Nếu chúng ta
không tự giới hạn trong cuộc tương tranh
quốc- cộng mà cố gắng nh́n cả chiều dài
của lịch sử th́ chế độ cộng sản
phải được coi là chế độ hay nhất
mà chúng ta đă có từ trước đến nay trong
những chế độ đă cai trị toàn bộ
Việt nam (không kể chế độ Việt nam
Cộng Ḥa, một công thức canh tân được
đề ra để đối đầu với công
thức cộng sản, nhưng đă thất bại sau 27
năm tồn tại và chưa bao giờ kiểm soát
được toàn bộ lănh thổ và dân số Việt
nam).
Đảng cộng sản không thất bại so với
các triều đại đă cai trị Việt nam
trước họ. Nhưng họ đă thất bại so
với thế giới. Các vua chúa Việt nam trước
đây tuy không bằng họ ngày nay, nhưng lại hơn
các lân bang lúc đó và v́ thế Việt nam đă đứng
vững được và bành trướng được.
Đảng cộng sản hơn các vua chúa ngày xưa
nhưng lại thua kém các chính quyền khác trên thế
giới ngày nay nên Việt nam tụt hậu. Trong khi các
quốc gia khác tiến rất xa so với quá khứ
của họ, Việt nam dưới chế độ
cộng sản chỉ tiến khá xa so với quá khứ
của ḿnh mà thôi. Đó là tất cả vấn đề.
Tội chính của Đảng cộng Sản Việt nam
là tội làm mất th́ giờ của đất
nước, mà trong thời đại này th́ giờ là
tất cả, mất th́ giờ nhiều quá có thể
mất nước luôn. Việt nam trong thập niên 1960 và
trong nửa đầu thập niên 1970 đă
được cả thế giới biết đến và
nề phục v́ đă làm một việc phi thường
là dám chống lại quốc gia hùng mạnh nhất
thế giới. Việt nam bước vào thế kỷ 21
cũng đang được cả thế giới
biết đến, nhưng không nề phục chút nào, v́
đang làm một việc cũng rất phi thường
khác là tiếp tục theo đuổi một chủ
nghĩa ngây ngô đă sụp đổ. Nhưng làm sao có
thể ôm lấy một cái ǵ đă đỏ nát tung tóe?
Chế độ cộng sản Việt nam hiện nay
chẳng phải là cộng sản. Nó chỉ là một pha
trộn quái dị của nhiều thành tổ cộng
sản, tư bản, phát-xít, quân phiệt và mafia. Trong
chiều dài của lịch sử, đảng cộng
sản đă có một thành tích quan trọng. Họ đă
thống nhất đất nước. Đó là một
thành tích lớn dù nhiều người, trong đó có tôi, tin
rằng chúng ta có thể thống nhất đất
nước một cách ít tốn kém và đỗ vỡ
hơn.
Họ đă chấm dứt vĩnh viễn được
cuộc tranh căi, không c̣n lư do nữa nhưng vẫn không
chịu chấm dứt hẳn, xem tôn giáo nào đáng
được coi là quốc giáo. Họ đă dứt khoát
khẳng định Việt nam là một nhà nước thế
quyền. Trong thế giới ngày nay, loại trừ
được ảnh hưởng của các tôn giáo trong
sinh hoạt chính trị là một may mắn lớn. Tuy nhiên
nhiều người, trong đó có tôi, tin rằng chúng ta
vẫn có thể làm được việc này bằng
một cố gắng văn hóa, chính trị đứng
đan mà không phải dùng tới những biện pháp thô
bạo. Vấn đề nên làm là đưa các tôn giáo ra
khỏi chính trị, đảng cộng sản đă làm
điều ngược lại là đem chính trị vào tôn
giáo. Điều mà đảng cộng sản cố
gắng làm - nhưng không làm được - là tiêu diệt
các tôn giáo. Họ cũng đă thay đổi một cách
quan trọng tập tính người Việt. Đạo
đức truyền thống đă bị phá sản hoàn
toàn. Biết bao nhiêu người, kể cả những
người cộng sản ngoan cố, đă than phiền
sự băng hoại của đạo đức. Con
người trở thành vị kỷ, lưu manh, thô lỗ.
Nhưng cuộc chuyển hóa tư tưởng này không hoàn
toàn tiêu cực. Trên ít nhất hai điểm nó rất tích
cực.
- Một là nó đă tiêu diệt được óc tôn sùng
bằng cấp, một căn bệnh tâm thần rất
tai hại của người Việt. Không phải
đảng cộng sản nhận thức được
sự tai hại của tâm lư trọng bằng cấp và
dụng tâm đánh đổ nó. Trái lại chính v́ họ quá
trọng bằng cấp mà đă cấp phát bừa băi cho
các đảng viên những học vị to lớn, với
kết quả là khiến các bằng cấp trở thành
những mảnh giấy lộn không hơn không kém. T́nh
trạng này đưa đến hậu quả tốt mà
họ không ngờ là con người từ đây sẽ
chỉ được đánh giá theo khả năng. Từ
đây người Việt nam sẽ phải học
để biết, để có khả năng chứ không
học để giành lấy một bằng cấp không
c̣n chứng minh ǵ nữa. Nói một cách khác, từ đây
người ta sẽ phải có thực học thay v́
chỉ cần học vị. Đây là một cuộc cách
mạng văn hóa rất lớn, mà vô t́nh đảng
cộng sản đă làm được.
Hai là nó đă phần nào biến dân tộc Việt nam
từ một dân tộc từ chương, công chức và
làm công thành một dân tộc buôn bán và kinh doanh. Ngay lúc đi
tù về tôi đă chứng kiến cuộc chuyển hóa
vĩ đại này. H́nh như nhà nào cũng buôn bán một
cái ǵ. Một tủ kem, một thùng thuốc lá, một
quảy tạp hóa tí hon, một quán cà-phê đột
xuất v.v. Cũng có những người suốt ngày tháng
loay hoay chạy mối bán thuốc tây, hàng vải,
đủ thứ. Từ ngàn xưa chúng ta coi thường
và bài xích thương mại và do đó đă nghèo khó,
lạc hậu và thua kém. Chế độ cộng sản
vô t́nh - hoàn toàn vô t́nh v́ chủ nghĩa của họ không
những bài xích mà c̣n thù ghét thương mại - đă
chữa được cho người Việt nam chứng
bệnh tâm lư tổ tông truyện này. Trái với một
số người, tôi không quá lo ngại về sự
băng hoại đạo đức hiện nay. Thật
ra chúng ta đ̣i hỏi ǵ ở con người? Chúng ta mong
muốn những con người có khả năng, chăm
chỉ, lương thiện và nhă nhặn. Tất cả
những đức tính đó một sinh hoạt kinh tế
thị trường đúng nghĩa, nhất là hoạt
động buôn bán, sẽ đem lại. Trong một sinh
hoạt kinh tế thị trường thực sự, không
có khả năng, lười biếng, gian trá th́ mất
việc; có khả năng, lương thiện, chăm
chỉ th́ lên chức, lên lương. Buôn bán mà gian trá, thô
lỗ th́ mất khách và phá sản. Kinh tế thị
trường tự do cũng có cái lô-gích và cái đạo
đức của nó. Phần lớn những thói hư tật
xấu đều có thể khắc phục
được trong ṿng một thế hệ nếu chúng ta
mau chóng có được một nhà nước dân chủ
pháp trị đúng đắn, tin tưởng vào kinh tế
thị trường và khai thác triệt để mọi
ưu điểm của nó.
Một thành quả cũng rất vô t́nh nhưng vô cùng
vĩ đại của chế độ cộng sản
là đă tạo ra cộng đồng người Việt
hải ngoại. Lúc đi du học trong thập niên 1960, tôi
nỡ ngàng khám phá ra là Việt nam không có cộng
đồng hải ngoại như các dân tộc cùng tầm
vóc khác. Đó là một thiệt hại rất lớn.
Cộng đồng hải ngoại là những đầu
cầu thương mại, văn hóa, khoa học và kỹ
thuật rất quí báu nhưng, điều c̣n nhiều
lần quí báu hơn, nó cũng là con mắt của một
dân tộc để nh́n và hiểu thế giới. Một
dân tộc không có cộng đồng hải ngoại không
khác ǵ một người mù. Không có cộng đồng
hải ngoại th́ không có ǵ đáng ngạc nhiên nếu
chúng ta thiển cận, mù quáng, hẹp ḥi, bất dung,
cố chấp, và sau cùng lạc hậu. Tất cả các
quốc gia mới vươn lên gần đây đều
đă nhờ sự đóng góp tích cực của một
cộng đồng hải ngoại hùng mạnh.
Đảng cộng sản đă không chủ đích thành
lập một cộng đồng người Việt
hải ngoại v́ nh́n thấy vai tṛ của nó. Họ không
có một viễn kiến quốc gia nào. Chính sự bạo
ngược của họ đă làm cho hàng triệu
người phải liều chết vượt biền ra
đi, và họ c̣n cấm cản một cách đă man
lần sóng vượt biên. Sau cùng chính họ cũng
đứng ra tổ chức vượt biên, nhưng
chỉ để làm tiền và trục xuất
người Việt gốc Hoa theo một quan niệm dân
tộc hẹp ḥi. Họ đă làm mất đi một tài
nguyên nhân lực quan trọng của đất
nước, đương thời cũng khiến cộng
đồng người Việt hải ngoại không có
được tiềm năng đóng góp mà đáng lẽ
số lượng của nó phải đem lại bởi
v́ phần lởn người Hoa khi c̣n ở Việt nam là
những người Việt gốc Hoa nhưng khi ra
nước ngoài chỉ c̣n là những người Mỹ,
người Pháp, người úc gốc Hoa. Tuy vậy,
kết quả vẫn c̣n đó, một cộng đồng
người Việt hải ngoại gần ba triệu
người, trong đó phân nửa sinh ra tại hải
ngoại đă thành h́nh. Và đây là một trong những
sự kiện lịch sử vĩ đại nhất
từ ngày lập quốc
Một lời sau cùng trước khi sang phần khác: chúng
ta sẽ rất lầm nếu căm thù đảng
cộng sản và chế độ cộng sản. Chế
độ cộng sản là một giai đoạn
chuyển tiếp lô-gích từ chế độ quân chủ
Khổng Giáo sang một chế độ dân chủ.
Chủ nghĩa cộng sản, dù được văn
bản hóa tại châu Âu, chỉ là một cải tiến
của Khổng Giáo. Về bản chất, cộng sản
và Khổng Giáo chỉ là một; ư thức hệ cộng
sản đă cải tiến Khổng Giáo bằng cách
đem vào, ở một mức độ thấp, một
số ư niệm mới: luật pháp và nhân quyền, cùng
với một kỹ thuật tổ chức hiệu
lực hơn. Đó là điều sẽ được
tŕnh bày trong phần sau.
ở đây tôi chỉ xin đưa ra hai nhận
định. Một là, lư do chính khiến đảng
cộng sản đă được hưởng ứng và
đă thành công là v́ chủ nghĩa cộng sản rất
phù hợp với văn hóa Khổng Mạnh mà chúng ta đă
thấm nhuần và trân trọng trong suốt ḍng lịch
sử. Chúng ta đă phải đi qua đoạn
đường cộng sản bởi v́ đó là một
giai đoạn chuyển tiếp tự nhiên trừ khi chúng
ta làm một bước nhảy vọt về văn hóa và
tâm lư, nhưng bước nhảy vọt này đă không có.
Hai là, chế độ cộng sản, nh́n như một
giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ
quân chủ tuyệt đối đặt nền tảng
trên Khổng Giáo sang một chế độ dân chủ,
đă kéo dài bởi v́ chúng ta chịu ảnh hưởng
của Khổng Giáo một cách quá nặng nề. Chúng ta
đă phải đi qua đoạn đường cộng
sản v́, do thiếu kém tư tưởng, chúng ta đă
không dám hoặc không muốn vứt bỏ một cách
dứt khoát và nhanh chóng Khổng Giáo để quả
quyết chọn lựa dân chủ. Không thiếu những
người vừa chống cộng kịch liệt
vừa đề cao Khổng Giáo như một đạo
lư cao đẹp chỉ cần cải tiến để
thích nghi với thời đại mới mà không ư thức được
rằng chủ nghĩa cộng sản chính là một
cải tiến lớn của Khổng Giáo. Không phải là
một sự t́nh cờ mà phong trào cộng sản đă
thành công ở cả ba nước theo Khổng Giáo: Trung
Quốc, Cao Ly và Việt nam (trái với một nhận
định hời hợt, Nhật Bản không phải là
một nước Khổng Giáo). Cũng không phải là
một sự t́nh cờ mà ba trong bốn nước
cộng sản c̣n lại là những những nước
thuộc văn hóa Khổng Giáo. Cộng sản không
phải là một tai họa từ trên trời rơi
xuống, nó tự chính chúng ta mà ra. Đó là một di
sản của lịch sử mà chúng ta phải nh́n nhận
và quản lư đúng đắn để thoát khỏi.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Bốn ngàn năm văn hiến
Trước
khi vào Nam nhà tôi ở ngay dốc Cổ Ngư. Tiếp theo
dốc Cổ Ngư là đường Cỏ Ngư
nối liền đê Yên Phụ và vườn Bắch
Thảo. Cỗ Ngư là một con đường
đặc biệt nhất Hà Nội, nó nằm giữa hai
hồ: hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Khoảng gần
giữa đường Cồ Ngư c̣n có một con
đường khác nối đường Cỗ Ngư
với một ḥn đảo nhỏ trên Hồ Tây, và trên ḥn
đảo này có chùa Trấn Quốc xây lại từ
thời nhà Lư nhưng đă có từ thời Tiền Lư vào
thế kỷ 6. Chính quyền cộng sản không có tinh
thần tôn trọng các địa danh nên sau này họ
đổi tên đường Cổ Ngư thành
đường Thanh Niên cho có vẻ cách mạng và hiện
đại. Có người bạn ở Hà Nội nói
với tôi đây là sáng kiến của chính ông Hồ Chí
Minh.
Dù chỉ sống ở đó có hơn một năm thôi
nhưng đường Cỗ Ngư đă rất quen
thuộc đối với tôi, tôi hay chạy tung tăng
trên con đường đó và quen từng xe bánh tôm.
Nhiều bà bán bánh tôm quen biết tên tôi và thỉnh thoảng
gọi tôi lại cho một miềng bánh tôm, một
phần tư của một cái bánh tṛn và dẹp,
đường kính chừng 8 cm. Cử chỉ giản
dị nhưng âu yếm.
Chùa Trấn Quốc yên tĩnh và thâm nghiêm đến
độ tôi quen thuộc đường Cổ Ngư
đến thế mà cũng sợ không dám vào, chỉ có hai
lần vào chùa Trấn Quốc cùng với người
lớn. Chùa không lớn lắm nhưng sạch sẽ và đẹp,
hồi đó tôi chưa ư thức được giá trị
lịch sử của sự kiện chùa đă có từ
mười mấy thế kỷ.
Bên kia vườn Bắch Thảo, đi bộ một quăng
đường không xa là tới Chùa Một Cột. Chùa
nhỏ xíu, ở chính giữa một hồ sen cũng
nhỏ xíu. Như tên gọi của nó, chùa nằm trên
một cột lớn, chung quanh cột tua tủa những
xà cong vươn lên như những cánh tay đỡ chùa.
Chùa Một Cột cũng có từ thời nhà Lư, vào
khoảng thế kỷ thứ 11 hay thế kỷ thứ
12, một chi tiết mà tôi chưa bao giờ cố gắng
để nhớ.
Trường tiểu học của tôi nằm ở chùa Kim
Liên, cũng nằm trên dê Yên Phụ, chiếm hết
một mỏm đất khá rộng ph́nh ra trên Hồ Tây,
kế ngay bên làng hoa Yên Phụ. Làng Yên Phụ là làng
đẹp nhất mà tôi đă thấy. Cả làng sống
bằng nghề trồng hoa và nuôi cá vàng. Hàng năm vào
dịp Tết có hội ngay sân chùa, dân làng thi đua
triền lăm hoa và cá. Thú nhất là những cuộc chọi
gà trong hội này. Những con gà chọi oai vệ màu xám tro,
màu đen nhánh, màu đỏ lửa với những cái
cỗ vừa dài vừa to, trần trụi và đỏ
rực một cách ngạo nghễ. Tôi mê gà chọi từ
hồi đó. Có dạo lớp tôi học ở ngay trong
chính ṭa của chùa, kế bên bàn thờ với một
tượng Phật ngồi rất lớn. Về sau
lớp tôi chuyển sang một trong những lớp nằm
trong hai dẫy nhà trước chùa đối diện nhau
bên này và bên kia sân chùa, nhường chỗ cho lớp
mẫu giáo. Lư do có lẽ là các thầy sợ chúng tôi,
lớp nh́, đă khá lớn nên hay phá phách, các em bé mẫu
giáo ngoan ngoăn hơn. Chùa Kim Liên khá lớn, nhưng không c̣n
sư săi nên được dùng làm trường tiểu
học. Lúc đó chùa là đ́nh, nghĩa là nơi hội
họp của dân làng, hơn là chùa. Chùa Kim Liên là chùa thân quen
với tôi nhất nhưng cũng là chùa mà tôi chưa
gặp trong một tài liệu nào. H́nh như chùa không lâu
đời bằng chùa Trấn Quốc nhưng cũng là
một ngôi chùa rất cổ nếu căn cứ vào mái và
các kèo cột.
Kiến thức về kiến trúc của tôi không phải
là thấp mà là số không, nhưng đại khái tôi
thấy chùa nào cũng giống nhau, cũng mái cong, ngói nâu,
cột gỗ, sân gạch, nền cao hơn sân vài bậc
gạch. Hai người bạn tôi đều là kiến
trúc sư và đều có nghiên cứu nhiều về
kỹ thuật kiến trúc của các chùa Việt nam có hai
nhận định khác hẳn nhau. Một anh th́ nói đó
là một kỹ thuật rất tinh vi và một tŕnh
độ nghệ thuật rất cao. Một anh, trái
lại, chê các chùa Việt nam là không đa dạng, không
mấy thay đổi từ đời này qua đời
khác và tố giác sự thiếu sáng kiến của
người Việt; anh này cũng nói là kiến trúc các chùa
mang nhiều sai phạm về kỹ thuật. Tuy nhiên có hai
điểm mà cả hai người đấu nh́n
nhận: một là các chùa Việt nam là một trong những
di sản phong phú và đáng tự hào của nước ta,
hai là các di tích lịch sử của Việt nam quá ít về
số lượng và thua kém hẳn các di tích lịch sử
tại các nước châu á khác. So với châu Âu, cả hai
đều nh́n nhận chúng ta thua kém rất xa.
Dĩ nhiên chúng ta c̣n nhiều di tích lịch sử quí báu
khác. Thành Cỗ Loa, đền Hùng, đền vua Đinh,
chùa Phổ Minh, chùa Hương Tích, chùa Non Nước, tháp
Chàm (tôi không hiểu tại sao một số người
không coi tháp Chàm là một di tích lịch sử của
người Việt), cổ thành Quảng Trị, chùa Linh
Mụ, cổ thành Huế, Tháp Mười, v.v... Để
chỉ kể một vài di tích trong nhiều di tích. Nhưng
phải nói là so với ḍng lịch sử trên hai ngàn năm
th́ như thế vẫn là quá ít, và nói chung không độc
đáo. Bốn ngàn năm văn hiến của chúng ta không
để lại bao nhiêu chứng liệu vật chất.
Năm 1986, tôi có dịp nói chuyện với tinh mục
Lương Kim Định. Tôi biết đến ông
lằn đầu tiên năm 1968 khi một người
bạn đưa cho đọc một số tác phẩm
của ông về triết lư Việt Nho và An Vi. Tôi không
đọc hết một cuốn sách nào của ông cả,
bởi v́ đọc tới gần nửa cuốn th́ có
cảm tưởng đă nắm được ư cho nên
phần sau chỉ đọc lướt và đọc chéo.
Nhân một dịp tôi sang Mỹ mùa thu 1987, Kim Định,
v́ có đọc một số bài báo của tôi, tỏ ư
muốn gặp tôi để thảo luận. Lúc đó ông
đă nổi tiếng là một triết gia lớn của
Việt nam, nhất là tại hải ngoại. Ông rất
đẹp lăo, gương mặt sáng láng, thái độ ung
dung, ngôn từ sáng sủa, mạch lạc và c̣n rất tráng
kiện ở tuổi 70. Chúng tôi thảo luận khá lâu
về Nho Giáo mà Kim Định khẳng định là
của người Việt chứ không phải của
người Trung Hoa và không được triển khai
đúng đắn chứ thực ra là một triết lư
rất hoàn hảo cần được dùng làm nền
tảng xây dựng đất nước sau này. Chúng tôi
đi đến một thỏa thuận là không
đồng ư với nhau.
Cuối câu chuyện, sang đến phần triết lư An
Vi của ông mà Lương Kim Định coi là một thông
điệp của trống đồng, tôi nói với Kim
Định là cách tiếp cận văn hóa Việt nam
của ông rất phiêu lưu bởi v́ các di tích lịch
sử và văn hóa của chúng ta quá ít ỏi để có
thể là một thông điệp sáng sủa và chắc
chắn. Chúng ta phải suy diễn rất nhiều mà suy
diễn th́ lúc nào cũng chủ quan và dễ sai lầm. Kim
Định giảng giải cho tôi về những ư
nghĩa của trống đồng mà ông cho là rơ rệt và
đầy đủ. Thấy tôi có vẻ không tin
tưởng lắm, Kim Định hỏi lại: Thế
th́ cậu đề nghị cách tiếp cận nào?. Tôi
đáp là phải tiếp cận bằng con người
Việt nam, bởi v́ nền văn minh Việt nam là
một nền văn minh không có di tích vật chất.
Tất cả ở trong con người, quá khứ tồn
đọng trong con người và tương lai cũng
chỉ là con người. nền văn minh Việt nam
chắc chắn là có và đáng kể dù các di tích của ta
không vĩ đại và phong phú bằng các nước láng
giềng Trung Hoa, Thái Lan, Miến Điện, Cam-bốt và
Lào. V́ thế cách tiếp cận dúng để t́m hiểu
Việt nam là tâm lư học và xă hội học chứ không
phải là khảo cổ học. Sự kiện chúng ta có
những con người có thể mau chóng hấp thụ
những kiến thức phức tạp và khó khăn
nhất, có thể thích nghi ít nhất một cách
tương đối với những thay đổi
bối cảnh đột ngột nhất, có thể
sống qua những thảm kịch ghê gớm nhất là
bằng chứng của một nền văn minh
đặc sắc. Tuy nhiên khối người tinh nhuệ
đó đă chỉ đi từ tai họa này đến
thảm kịch khác như vậy rơ ràng là họ phải có
một tật nguyền tập thể nào đó. Con
người Việt nam là cả một bí mật chưa
được khám phá, nhưng điều chắc chắn
là nó mang một tiềm năng rất lớn chưa phát
huy được v́ một số bế tắc tâm lư. Khai
thông được bế tắc này chúng ta sẽ giải
tỏa một nguồn năng lượng vô cùng lớn và
sẽ vươn lên rất mănh liệt.
Lương Kim Định cũng phân vẫn trước
cách tiếp cận của tôi như tôi nghi hoặc
trước cách tiếp cận của ông. Không phải
chỉ có một mà có nhiều cách t́m hiểu nước
Việt. Và tất cả đều có mặt đúng và có
mặt yếu. Cái khó của chúng ta là phải làm một
việc mà từ trước chúng ta đă không cố
gắng để làm, nghĩa là t́m hiểu chúng ta là ai.
Từ đó tôi không c̣n cơ hội để gặp
lại Kim Định. Tôi thường hỏi thăm
về ông và vài năm sau được biết ông đau
nặng, cho nên khi được tin ông qua đời, tôi
không ngạc nhiên. H́nh ảnh c̣n lại trong tôi về Kim
Định là một con người rất độc
đáo. Ông được đào tạo theo giáo dục
phương Tây, nhưng lại dùng nn kiến thức
đó làm dụng cụ để t́m về nguồn
gốc dân tộc, khám phá cái hay của dân tộc, đi
đến niềm tự hào - theo tôi quá chủ quan về
dân tộc và đề xướng một đường
lối phát triển thuần túy Việt nam - mà tôi cho là
gượng ép. Là một linh mục công giáo nhưng ông
lại gần gũi với triết lư á Đông hơn là
triết lư Thiên Chúa Giáo. Đức tin công giáo của ông h́nh
như chỉ rất tương đối. Dù không đánh
giá cao lắm những công tŕnh nghiên cứu của Kim
Định, nhất là về điểm mà đa số
thán phục ông, nghĩa là Nho Giáo, tôi vẫn dành cho ông
một sự cảm mến đối với một
người đă tận tụy với văn hóa dân
tộc.
Trong lần gặp gỡ duy nhất ấy, chúng tôi khác ư
với nhau nhiều nhưng chúng tôi đồng ư là lịch
sử của chúng ta quá sơ sài và thiếu sót, di sản
văn học của chúng ta không có bao nhiêu.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Một phép mầu, một may mắn và một bài
học
Nếu
có một thành tích đặc biệt xuất sắc, có
thể coi như một phép mầu của dân tộc ta th́
đó là văn học. Xin nhấn mạnh cụm từ
của dân tộc ta.
Độc giả đă đọc qua những trang
trước của cuốn sách này chắc không nghĩ là
tôi tự hào dân tộc thái quá, nhiều vị v́ thế có
thể hỏi ta có ǵ xuất sắc về văn học?
Quả nhiên ta có rất ít lư do để tự hào. Về
múa chúng ta quả thật là kém. Ta thua hẳn hai dân tộc
láng giềng tầm vóc nhỏ hơn là Lào và Cam-bốt, và
có thể nói là thua xa mọi nước khác. Trong bộ môn
này chúng ta đội sổ trong số các dân tộc có
lịch sử tương đối dài. Điêu khắc và
hội họa cũng chỉ mới khởi sắc
gần đây, vào đầu thế kỷ thứ 20, do
người Pháp đem đến. Trước đây ta có
rất ít tranh và không có bức tranh nào có giá trị. Ta
cũng có nhiều chạm trỗ trên kèo cột,
giường tủ với mục đích bằng trí
nhưng có thể nói những chạm trỗ này hoàn toàn
không có một giá trị nghệ thuật nào. Các
tượng tạc và đúc của ta cũng thế,
chỉ là những biểu tượng gợi ư chứ
không thể coi là những tác phẩm nghệ thuật, các
tác giả là những người khéo tay chứ không
phải là những nghệ sĩ. Rất khó phân biệt
một công tŕnh nghệ thuật của ta thuộc thế
kỷ thứ 10 hay thuộc thế kỷ 19 bởi v́ không
có tiến bộ. Tất cả chỉ dừng lại
ở sự khéo tay tự nhiên của con người.
Học giả Trần Quang Hải, kế nghiệp cha là
học giả Trần Văn Khê, đă dày công biên khảo,
thu thập gia tài âm nhạc của chúng ta qua các thời
đại. Phạm Duy, người nhạc sĩ thiên tài
với ḷng yêu nước thiết tha, đă cố gắng
vượt bực để vừa kư âm hóa vừa phong phú
hóa cổ nhạc Việt nam. Tất cả những cố
gắng đó đưa tới một bảng tổng
kết đáng buồn: âm nhạc của ta cũng rất
nghèo nàn. Nhu cầu nghệ thuật và sáng tạo hầu như
hoàn toàn thiếu vắng ở dân tộc ta. Văn hóa
nghệ thuật của ta chỉ là văn hóa nghê thuật
nghỉ ngơi, nhàn dư chứ không phải là văn hóa
nghệ thuật nhức nhối và khai phá. Không ǵ đáng
ngạc nhiên nếu chúng ta không có tác phẩm đáng giá.
Nói tới văn hóa Việt nam thực ra chỉ là nói
đến thơ văn. Và thơ văn của chúng ta
chỉ xuất hiện từ thời nhà Lư, nghĩa là
từ thế kỷ 11 trở đi Trước đó chúng
ta có rất ít dấu tích thơ văn Việt nam. Có
thể là do hoàn cảnh lịch sử, những thơ
văn của người Việt đă có trước
thế kỷ 11nhưng đă bị thất lạc.
Nhưng cứ nh́n vào thành tích thơ văn của bốn
thế kỷ Lư Trần, ta có thể khẳng định
là thơ văn Việt nam trước đó nếu có
cũng không. Đáng kể, cả về phẩm lẫn
lượng. Bốn trăm năm độc lập,
dưới hai triều đại mà chúng ta cho là huy hoàng
nhất trong lịch sử, chắc chắn thơ văn
Việt nam đă làm một bước nhảy vọt
vĩ đại so với thời gian trước. Vậy
nh́n vào thơ văn.
Lư Trần ta có thể h́nh dung được thơ văn
trước đó. Những công tŕnh khảo cứu đă
tổng kết được khoảng hơn sáu trăm
bài thơ và văn đủ loại trong bốn thế
kỷ. Cứ coi là một số đă bị thất
lạc và cộng thêm một ngàn bài nữa để
đưa con số này lên một ngàn sáu trăm th́, nói chung,
chúng ta cũng chỉ sáng tác được mỗi năm
bốn bài. Các bài lại thường thường rất
ngắn, có khi chỉ vài câu thôi. Trung b́nh mỗi bài chưa
tới một trăm chữ. Như vậy, ngay cả
nếu ước lượng một cách rất rộng
răi th́ trung b́nh trong bốn thế kỷ cực thịnh
đó cả nước đă chỉ sáng tác
được mỗi ngày một chữ? Có một sự
kiện cần lưu ư là sau khi tiêu diệt được
nhà Hồ (năm 1407), hoàng đế Trung Quốc là Minh
Thành Tố đă ra lệnh cho quân Minh thu thập rồi
tiêu hủy hay chở về Trung Quốc các tác phẩm
bằng chữ Nho của Việt nam. Lệnh này đă không
được thi hành nghiêm túc (tại sao? phải chăng
là các quan nhà Minh thấy chẳng có ǵ đáng kẻ?) nên Minh
Thành Tồ phải ra một lệnh thứ hai quở trách
quan tướng nhà Minh và đ̣i phải thi hành triệt
đề. Nhà Minh đă cướp mất của chúng ta
những ǵ không ai biết rơ. Trong Việt nam Sử
lược, Trần Trọng Kim dựa vào các pho sử có
trước nói rằng quân Minh đă lấy của chúng ta
24 bộ sách. Thực tế có thể là hơn. Nhưng
dựa vào những ǵ c̣n lại ta có thể kết luận
là cũng không có ǵ đáng tiếc lắm, ít nhất về
phẩm. Chúng ta hay nói tới các tác phầm của Chu
Văn An, nhưng dựa vào những ǵ c̣n sót lại
của Chu Văn An th́ cũng có thể kết luận
rằng các tác phẩm của ông cũng không có giá trị
đặc biệt nào.
Thơ văn Việt nam thực ra chỉ khởi sắc
dưới thời Hậu Lê với các tác giả
Nguyễn Trăi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, và chỉ
phát triển mạnh từ thế kỷ 18 trở đi
để đạt tới cao điểm vào thế
kỷ 19 dưới triều Nguyễn, với các tác
giả lớn như Lê Quư Đôn, Nguyễn Gia Thiều,
Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương,
Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Huy
Tự, Phan Huy Chú, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh,
Dương Khuê... Sự khởi sắc đột ngột
này có một nguyên nhân quan trọng, đó là thắng lợi
của chữ Nôm trên chữ Hán.
Điều cần lưu ư là trong mười lăm
thế kỷ đầu của công nguyên, ngay cả trong
bốn thế kỷ Lư - Trần, các chính quyền, các vua
chúa Việt nam và các sĩ phu Việt nam chỉ lo quảng
bá tiếng Trung Quốc chứ không lo phát triển ngôn
ngữ Việt nam. Không những không phát triển mà c̣n
miệt thị (nôm na là cha mách qué). Điều khó
tưởng tượng là các chính quyền và thành phần
khoa bảng Việt nam đă say mê thực hiện một
chính sách Hán hóa đất nước ḿnh. Nếu văn hóa
nước ta c̣n, và do đó đất nước ta c̣n, là
v́ họ đă thất bại? Công lao giữ nước
như vậy không phải do các vua chúa, các anh hùng, các công
hầu khanh tướng, cũng không do giới sĩ phu mà
hoàn toàn do những người nông dân Việt nam.
Điều mầu nhiệm là mặc dầu bị chà
đạp và miệt thị, không những bởi ngoại
nhân mà c̣n do chính thành phần được coi là ưu tú
của ḿnh, xă hội Việt nam vẫn giữ
được tiếng nói riêng của ḿnh, để
rồi dần dần tiếng Việt toàn thắng trên
đất Việt. Người nông dân Việt nam đă
giữ được ngôn ngữ của ḿnh và khuất
phục được giơi sĩ phu? Sau đó
người Việt đă dựa vào chữ Hán để
chế ra chữ Nôm mà tạo ra chữ viết riêng của
ḿnh, âm thầm tu bổ nó, dần dần biến nó thành
một ngôn ngữ có giá trị văn chương.
Văn thơ chữ Nôm bắt đầu xuất hiện
chính thức với bài Văn Tế Cá Sấu của
Nguyễn Thuyên cuối đời nhà Trần, vùng lên
mạnh mẽ vượt qua chữ Hán dưới
thời Lê Trung Hưng (Trịnh-Nguyễn) để
chiếm ngữ toàn bộ sân khấu văn chương
dưới triều Nguyễn, chỉ để lại cho
chữ Hán vai tṛ ngôn ngữ biên khảo. Sự thịnh hành
của chữ Nôm đă giúp cho trí tuệ Việt nam phát
triển, đă nâng cao tŕnh độ sĩ phu Việt nam và
làm xuất hiện những tác phẩm dài, thơ văn
cũng như biên khảo, bằng chữ Nôm và bằng
cả chữ Hán. Cần lưu ư là trong suốt thời
độc tôn của chữ Hán chúng ta đă chỉ có
những tác phẩm vụn vặt.
Từ đó cho tới thế kỷ 20, tổng kết
văn thơ Việt nam, ngoại trừ bài B́nh Ngô
Đại Cáo, tất cả những tác phẩm lớn
của chúng ta đều bằng chữ Nôm. Không có chữ
Nôm th́ chúng ta đă không thể có những tác phẩm
để tự hào: Chinh Phụ Ngâm, truyện Kiều, Hoa
Tiên, Nhị Độ Mai và những bài thơ bài phú bất
hủ của Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê,
Nguyễn Khuyến. Văn học của ta đă chỉ có
giá trị sáng tạo từ khi chuyển sang chữ Nôm.
May mắn làm sao mà văn Nôm, tức văn Việt nam,
nở rộ lên trong thế kỷ 19. Thử tưởng
tượng cái ǵ sẽ xảy ra vào cuối thế kỷ
19, khi người Pháp áp đặt ách đô hộ lên
nước ta và đem tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính
thức, nếu lúc đó ta vẫn chưa có một văn
học Việt nam riêng mà vẫn hoàn toàn dựa vào chữ
Nho? Chúng ta sẽ không thể có Nam Phong Tạp Chí, Tự
Lực Văn Đoàn với những tiếp nối
của chúng. Chúng ta sẽ ở vào cùng một t́nh trạng
bi đát như Lào và Cam-bốt hiện nay.
Các dân tộc châu Âu mặc dầu bị đế quốc
La Mă đô hộ và áp đặt tiếng La Tinh cũng
đă xây dựng được ngôn ngữ riêng của
họ để dần dần thay thế tiếng La Tinh.
Họ là những dân tộc tinh anh. Chúng ta cũng như
họ. Nhưng dân tộc ta đă thắng một cuộc
đấu tranh cam go hơn nhiều bởi v́ chính những
thành phần ưu tú của đất nước ta đă
đóng góp phồ biến chữ Hán và ngăn chặn
sự phát triển của tiếng Việt.
Các dân tộc châu Âu đă chỉ đạt tới nền
văn hóa huy hoàng của họ sau khi họ tự giải
thoát khỏi tiếng La Tinh để dựa trên ngôn
ngữ của riêng ḿnh. Cũng tương tự,
người Việt đă chỉ đạt tới
một nền văn học có giá trị từ khi dựa
trên tiếng Việt. Đó là một bài học cần
được ghi nhớ. Ngôn ngữ là dụng cụ
của tư tưởng và tiến bộ, và mỗi con
người chỉ phát huy được cao độ
khả năng suy nghĩ và diễn tả của ḿnh qua
tiếng mẹ đẻ. Một giáo sư ngữ học
người Pháp, người Mỹ dù bỏ cả
cuộc đời để học hỏi và trau dồi
tiếng Việt cũng không thể viết nổi
những câu thơ của Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Trịnh
Công Sơn. Ngược lại, một người
Việt nam dù học tiếng Pháp từ lúc mới chào
đời và đậu thạc sĩ văn phạm
như Phạm Duy Khiêm cũng không thể đạt
tới tŕnh độ của những nhà văn lớn
của Pháp. Vẫn c̣n lại một cái ǵ đó, một
phần trăm hay một phần ngàn thôi nhưng quyết
định tất cả, và phân biệt một tác phẩm
kiệt xuất với một tác phẩm khá.
Xây dựng, mài dũa, hoàn thiện không ngừng tiếng
Việt là nhiệm vụ trên hết mọi nhiệm
vụ. Đó là dụng cụ không có không được
của chúng ta để vươn lên. Cho tới nay sự
quí trọng tiếng Việt của chúng ta c̣n ở rất
xa mức độ cần có. Hàng chục thế kỷ
khinh miệt tiếng mẹ đẻ vẫn c̣n để
lại trong chúng ta những tàn dư tồi tệ. Khi
viết một tài liệu bằng tiếng Việt, chúng ta
(chúng tạ ở đây xin hiểu là đa số) cảm
thấy không cần lo âu ǵ cả, viết sao cũng
được; trái lại, khi viết bằng tiếng
Pháp, tiếng Anh, ta tra tự điển xem có đúng chính
tả không, đắn đo không biết nên dùng chữ này
hay chữ khác, hỏi ư kiến bạn bè, v.v... Chúng ta
rất vô lễ với tiếng Việt. Không thiếu
những nhà b́nh luận viết không có bố cục và không
ra câu cú. Câu văn dài ḷng tḥng, chấm phẩy tùy tiện,
mệnh để chính và phụ hỗn độn, chữ
dùng không chính xác và viết sai chính tả. Có cả những
bài thơ mang những lỗi ngữ vựng rất thông
thường.
Chúng ta đừng quên ngôn ngữ không phải chỉ là
dụng cụ phát biểu ư kiến mà c̣n là cấu trúc
của tư tưởng. Chúng ta suy nghĩ bằng ngôn
ngữ trước khi diễn tả bằng ngôn ngữ.
Vợ chồng ông hàng xóm của tôi người Trung Hoa;
họ ở bên Pháp đă hơn hai mươi năm mà
vẫn không nói được tiếng Pháp. Mỗi lần
có người Pháp đến hỏi họ đều
phải cầu cứu chúng tôi. Chỉ sau này khi các con đă
lớn và học khá họ mới không cần vợ chúng
tôi nữa. Ông bà ấy nói bằng tiếng Việt
để chúng tôi thông ngôn sang tiếng Pháp. Nhưng họ
không phải là những người Việt gốc Hoa, mà
là những người Miên gốc Hoa. Họ sinh ra và
lớn lên tại Phnom Penh. Năm 1976 họ chạy
trốn Pol Pot sang Việt nam và rời Việt nam sang Pháp
hai năm sau. Thời gian hai năm đó đủ
để họ nói được tiếng Việt và
nhớ măi tới hai mươi năm sau mặc dầu
không hề cố gắng học tiếng Việt. Trái
lại, từ khi tới Pháp họ đă theo học
nhiều lớp tiếng Pháp nhưng sau hai mươi
năm sống trên đất Pháp vẫn không nói
được. Đó là v́ cấu trúc của tiếng Pháp
quá khác với cấu trúc của tiếng Tàu, trong khi
tiếng Việt và tiếng Tàu khá gần nhau.
Vẫn c̣n nhiều người nghĩ rằng trong thế
giới toàn cầu hóa ngày nay, khi tiếng Anh đă trở
thành ngôn ngữ quốc tế, chúng ta cần hoàn thiện
tiếng Anh trước đă, tiếng Việt tàm tạm
đủ dùng thôi cũng được. Như thế là
quên rằng chúng ta suy nghĩ bằng tiếng mẹ
đẻ, nếu chúng ta không nắm thật vững
tiếng mẹ đẻ th́ chúng ta sẽ suy nghĩ kém, trí
óc sẽ không thể phát triển tới mức tối
đa được. Chúng ta sẽ thiếu một cái ǵ
đó, cái một phần trăm hay một phần ngàn
quyết định tất cả và phân biệt cái hơn
hẳn với cái b́nh thường. Và chúng ta sẽ vĩnh
viễn thua kém.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Kinh nghiệm Cao Ly
Chúng
ta đều biết nước Cao Ly là nước nào. Tuy
nhiên ngay việc gọi tên nó cũng làm nhiều
người phân vân: Triều Tiên hay Hàn Quốc? Quốc
hiệu của nước này đă thay đổi
nhiều lần trong lịch sử và ngay bây giờ cũng
không đồng nhất. Từ sau thế chiến II trên
bán đảo Cao Ly có hai nước được thành
lập và xung đột với nhau, Cộng Ḥa Dân Chủ
Nhân Dân Triều Tiên tại miền Bắc và Đại Hàn
Dân Quốc tại miền Nam. Như vậy miền
Bắc tự gọi là Triều Tiên trong khi miền Nam là
Đại Hàn. Tuy vậy khi giao thiệp với các
nước Tây Phương họ lại dịch giống
nhau và đều dùng chữ Cao Ly (Korea, Corée). Miền Bắc
là Cộng Ḥa Dân Chủ Nhân Dân Cao Ly (Democratic Peoples Repubhc of
Korea, République Démocratique ét Populaire de Corée), miền Nam là
Cộng Ḥa Cao Ly (Republic of Korea, République de Corée). Vậy khi
cần nói đến cả hai miền của đất
nước này la có thể tạm dùng chữ Cao Ly, một
danh xưng mà ngôn ngữ Việt nam ít dùng, v́ thường
sử dụng thẳng quốc hiệu chính thức
của hai chế độ, nghĩa là Triều Tiên hay
Đại Hàn.
Triều Tiên là quốc hiệu được Trung Quốc
nh́n nhận từ năm 1391; Cao Ly là tên gọi của
nước này trong năm thế kỷ trước đó;
trong khi Hàn là tên một con sông ở chính giữa
nước, và cũng là tên của một dân tộc đă
sinh sống tại miền Nam bán đảo Cao Ly và là
nguồn gốc của đa số dân Cao Ly. Một ngày nào
đó, nếu nước này được thống
nhất có rất nhiều triển vọng họ sẽ
sử dụng tên Cao Ly. Vả lại những danh xưng
Triều Tiên, Đại Hàn ngay từ bây giờ đă không
có công dụng quốc tế.
Cao Ly có một lịch sử b́nh thường hơn
nước ta. Đất nước này đă thành h́nh do
sự sát nhập và thống nhất nhiều vương
quốc nhỏ trên bán đảo. Kể từ thế
kỷ 13 lănh thổ của họ không thay đổi
nữa, gồm toàn bộ bán đảo, ngăn cách với
Trung Quốc bởi con sông áp Lục.
Nhiều người Việt nam không am hiểu lịch
sử Cao Ly, và do tự ái dân tộc, thường cho
rằng trước đây không lâu nước ta c̣n
tiến bộ và hùng mạnh hơn Cao Ly, sự thua kém
của ta chỉ là gần đây mà thôi. Sự thực
rất khác. Dân tộc Cao Ly từ lâu đă tiến bộ
hơn ta nhiều về mọi mặt. Họ đă
được độc lập trong suốt ḍng lịch
sử. Đôi khi v́ suy yếu hơn nước Trung Hoa
họ đă phải nhận vai tṛ chư hầu nhưng vẫn
giữ được nền tự chủ, ít ra là tự
trị, trái với Việt nam bị sát nhập làm một
phần của Trung Quốc trong hơn một ngàn năm.
Di sản của một ngàn năm nô lệ này vẫn c̣n
để lại trong hồn tính và tư tưởng
của chúng ta nhưng tật nguyền mà người Cao
Ly, v́ là một dân tộc độc lập không có. Họ
có tinh thần dân tộc cao hơn ta, có óc sáng tạo hơn
ta và đă tiến triển rất sớm. Những tranh
vẽ c̣n lại trong các ngôi mộ từ thế kỷ 4
chứng tỏ một tŕnh độ nghệ thuật
rất cao, không thua ǵ người Trung Hoa. Cũng tại
các ngôi mộ này ta thấy các dấu tích về quần áo,
kiến trúc, công nghiệp, giải trí và binh bị rất
đáng ngạc nhiên về sự tinh vi. Nếu ngày nay
nước Cao Ly, ít nhất phần phía Nam được
gọi là Đại Hàn Dân Quốc, tiến bộ mau chóng
cũng nhờ họ được thừa hưởng
một di sản văn hóa rất phong phú và đặc
sắc.
Điều đặc sắc nhất là họ đă có
một ngôn ngữ Cao Ly riêng, đă để lại
nhưng bài thơ có giá trị triết lư, văn học
ngay từ thế kỷ thứ 6. Ngôn ngữ này
được sáng chế ra bằng cách sử dụng
những bộ chữ của người Trung Hoa, gần
giống như chúng ta đă dựa vào chữ Hán để
chế ra chữ Nôm, nhưng sớm hơn. Ngay từ
thế kỷ thứ 7, người Cao Ly đă biết
kỹ thuật in sách. Cho tới nay, theo một số nhà
nghiên cứu, bản in xưa nhất thế giới là
bản in một cuốn sách của người Cao Ly. Ngay
từ thế kỷ 7, người Cao Ly đă quan tâm
học hỏi các môn toán thiên văn, y học. Năm 717
họ đă lập ra các học vị tiến sĩ Toán,
tiến sĩ Y khoa, tiến sĩ Thiên văn. Trước
đó, năm 692 họ đă có những tiến sĩ
Luật. Nếu nh́n lại lịch sử của ta th́
phải thấy ta thua họ xa lắm và từ lâu rồi.
Cho đến đầu thế kỷ 20 ta vẫn chỉ
có những cử nhân tiến sĩ về văn
chương mà thôi.
Kinh nghiệm Cao Ly mà tôi muốn nói tôi ở đây là kinh
nghiệm về ngôn ngữ. Người Cao Ly rất
hiếu học và cầu tiến. Từ thế kỷ
thứ 10 họ say sưa học hỏi văn hóa Trung Hoa,
treo giải thưởng cho những ai t́m được
sách của Trung Hoa, rồi sao chép và phổ biến trong
giới ưu tú. Lúc đó nước Trung Hoa lại may
mắn gặp những thời kỳ thịnh trị qua
suốt các triều đại Đường, Tống,
Nguyễn, Minh. Văn học, triết lư và chính trị
của Trung Hoa đều rất thịnh trong các triều
đại này. Trí thức Cao Ly say mê học hỏi rồi
dần dần bỏ quên cả ngôn ngữ gốc của
ḿnh. Chữ Hán với thời gian chiếm vai tṛ của
ngôn ngữ chính thức, át hẳn tiếng Cao Ly. Hậu
quả của việc tôn sùng tiếng Trung Hoa là dần
dần Cao Ly thua kém Trong Hoa và suy thoái đi, bởi v́
chữ Hán chỉ phổ biến trong giới thượng
lưu mà thôi. Quần chúng Cao Ly vẫn chỉ sử
dụng tiếng Cao Ly bản xứ. V́ ngôn ngữ này không
được phát triển, tŕnh độ văn hóa
của quần chúng không vươn lên được.
Sau hơn bốn thế kỷ bỏ rơi ngôn ngữ
của chính ḿnh để chạy theo một ngôn ngữ và
một văn hóa nước ngoài, người Cao Ly đă
nhận ra sự sút kém của ḿnh. Đầu thế
kỷ 15 họ quay trở lại phát triển tiếng Cao
Ly và lần này họ làm một phát minh độc đáo:
một tiếng Cao Ly mới xuất hiện với
một mẫu tự riêng, gom 26 chữ cái, mỗi chữ
cái diễn tả một âm riêng giống như các ngôn
ngữ phương Tây, nhưng các mẫu tự dĩ nhiên
là khác với các mẫu tự la tinh ABC v́ lúc đó Cao Ly
chưa biết tới châu Âu.
Cuộc cách mạng văn hóa này đă gặp nhiều chống
đối của giới sĩ phu sính chữ Hán, nhưng
nhờ quyết tâm của chính quyền nó đă thành công và
nước Cao Ly vươn lên mạnh mẽ. Cho tới
nay, đây vẫn là ngôn ngữ chính thức của
nước Cao Ly và đă được phong phú hóa rất
nhiều để trở thành một ngôn ngữ
đầy đủ khả năng để chuyên chở
mọi kiến thức văn học, khoa học kỹ
thuật.
Vào đầu năm 1998, một bài báo của một thân
hữu được đăng trên tờ Cánh én tại
Đức và Thông Luận đă phê phán một bài báo khác
của tôi. Tác giả phê phán tôi cực đoan trong cách
nhận định văn hóa và lịch sử dân tộc và
đưa ra nhận định là h́nh như những
người hoạt động chính trị Việt nam
đều có chung nhau một điểm là hay chọn
lựa thái độ cực đoan. Đề cập
tới hai khuôn mặt chính trị Việt nam hồi
đầu thế kỷ, tác giả nhận định
Phan Bội Châu đă cực đoan trong thái đơ thân
Nhật, một chọn lựa mà nếu thành công vào lúc
đó sẽ là một thảm kịch cho dân tộc
Việt nam; Phan Chu Trinh đă quá khích trong cố gắng
cỗ vơ dùng chữ quốc ngữ thay chữ Nho với
hậu quả là người Việt nam đă mất mát
rất lớn v́ bị đoạn tuyệt với văn
hóa Trung Hoa, văn hóa gốc của ḿnh. Tác giả viện
dẫn trường hợp Cao Ly để nói rằng
người Cao Ly, cũng như người Nhật,
đă tiến mạnh nhờ tiếp tục sử
dụng tiếng Hán. Tôi chia sẻ với bạn đó
nhận định về Phan Bội Châu nhưng không
thể đồng ư về trường hợp Phan Chu Trinh
và chữ quốc ngữ, nhất là về thí dụ Cao Ly.
Cao Ly đă sùng ái chữ Hán trong ṿng bốn thế kỷ
nhưng vẫn có ngôn ngữ riêng của họ và từ
năm thế kỷ gần đây ngôn ngữ riêng là ngôn
ngữ chính thức chứ không phải chữ Hán. Họ
tiến nhờ ngôn ngữ riêng chứ không phải nhờ
chữ Hán mà họ chỉ sử dụng như một
ngoại ngữ. Theo chỗ tôi biết, trong tiếng Cao Ly
hiện nay chỉ có khoảng hai ngàn chữ có gốc
chữ Hán mà thôi, nghĩa là rất ít so với sự
hiện diện của chữ Hán trong tiếng Việt. Các
chữ Hán vay mượn này cũng đă được
Cao Ly hóa, nghĩa là viết bằng mẫu tự Cao Ly,
chẳng khác ǵ ta viết chữ gốc Hán như ân nhân
bằng mẫu tự la tinh. Sử dụng ngôn ngữ của
riêng ḿnh là một bắt buộc đối với mọi
dân tộc muốn trường tồn. Suy nghĩ và
diễn tả là hai hành động cơ bản nhất của
loài người. Chúng ta suy nghĩ và diễn tả bằng
một ngôn ngữ, và chúng ta chỉ thoải mái và chỉ
thành công tối đa trong ngôn ngữ của chính ḿnh.
Sử dụng một ngoại ngữ chúng ta sẽ bị
giới hạn trong cả suy nghĩ lẫn diễn
đạt, chúng ta sẽ thua kém. Đó mới chỉ là nói
về giới trí thức. Đối với cộng
đồng dân tộc việc sử dụng ngoại
ngữ thay v́ quốc ngữ c̣n nguy hiểm gấp bội.
Quần chúng chỉ có thể dùng ngôn ngữ của ḿnh
chứ không thể thấu hiểu một ngoại
ngữ. Bỏ rơi quốc ngữ là bỏ rơi
đại bộ phận dân tộc và chấp nhận
vĩnh viên số phận nhược tiểu, trừ
trường hợp dám thẳng thắn xóa bỏ văn
hóa của ḿnh để chấp nhận một văn hóa
mới. Nhưng cố gắng xóa bỏ văn hóa của
chính ḿnh này sẽ đ̣i hỏi nhiều thế kỷ và
tới nay chưa dân tộc nào làm được.
Nước Việt nam của chúng ta đă thử
nghiệm trong mười thế kỷ Bắc thuộc và
hơn bốn thế kỷ độc lập sau đó
nhưng đă không thành công.
Đất nước ta đang mở ra với thế
giới vào giữa lúc mà tiếng Anh đang thời
thượng. Chẳng bao lâu một cuộc thảo
luận lớn sẽ diễn ra: nên đầu tư tích
cực vào tiếng Anh để hội nhập mau chóng vào
sinh hoạt thế giới hay nên dồn một cố
gắng vĩ đại vào việc phát triển tiếng
và cải tiến tiếng Việt? Nhiều người lư
luận rằng với tiếng Anh chúng ta sẽ hiểu
được cả thế giới và ngược
lại cũng được cả thế giới hiểu.
Tiếng Việt có rất nhiều trở ngại:
tiếng đơn âm, khó kết hợp và biến hóa
để tạo ra những từ mới, diễn tả
những ư niệm mới; dấu phức lạp, khó dùng
trong truyền thông và tin học; hơn nữa lại không
được thế giới biết đến,
đằng nào cũng vẫn phải dùng tiếng Anh trong
các giao dịch quốc tế.
Mặc dầu tất cả những trở ngại
rất lớn và có thực đó, lập trường
của tôi rất rơ rệt: phải dùng tiếng Việt và
phải đầu tư vào tiếng Việt. Lập
trường của tôi không xuất phát từ một tinh
thần quốc gia mà từ một nhận định
thực tiễn: người Việt chỉ thành công qua
tiếng Việt mà thôi. Chúng ta sẽ không có hy vọng nào
để cả nước thông thạo tiếng Anh, mà có
thông thạo đi nữa th́ cũng không bao giờ thông
thạo được bằng người Anh hay
người Mỹ. Chúng ta sẽ học tiếng Anh,
nhưng đó sẽ chỉ là ngôn ngữ giao dịch
với bên ngoài. Tiếng Việt sẽ vẫn là ngôn
ngữ để học hỏi, để suy nghĩ,
để giáo dục, huấn luỵện, đào tạo
và trao đổi giữa chúng ta. Đó là chọn lựa duy
nhất của chúng ta. Chúng ta đă có kinh nghiệm chữ
Hán và chữ Nôm. Chúng ta đă chỉ thực sự tiến
bộ khi chữ Nôm trưởng thành. Dân tộc Cao Ly
cũng đă có một kinh nghiệm tương tự
về ngôn ngữ của họ sau khi đă sùng ái chữ
Hán. Các dân tộc châu Âu cũng đă chỉ vươn lên
nhờ biết sáng tạo và cải tiến tiếng
mẹ đẻ của họ để thay thế cho
tiếng La Tinh.
Chúng ta cũng có một kinh nghiệm ngược lại
đầy ư nghĩa. Tỉnh Québec của Canada gom
đại đa số là người gốc Pháp, và họ
có đủ điều kiện để phát triển
tiếng Pháp, nhưng họ không phải là một phần
của nước Pháp cho nên mặc dầu có phương
tiện dồi dào và có ư chí mạnh mẽ giữ ǵn
tiếng Phấp, họ đă không sáng tác được ǵ
đáng kể bằng tiếng Pháp. Nước Việt nam
ta với điều kiện địa lư và nhân văn có
triển vọng để trở thành một nước
lớn và giàu mạnh, nhưng triển vọng đó
sẽ chỉ được thực hiện với
tiếng Việt. Vậy chúng ta chỉ có một chọn
lựa: xây dựng, cải tiến và phong phú hóa tiếng
Việt.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Đoạn Trường Tân Thanh
Khi
Thúc Sinh từ biệt Thuư Kiều để về quê sau
một thời gian say sưa ân ái, Nguyễn Du tả
cảnh chia tay bằng hai câu thơ bất hủ:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đă nhuộm màu quan san.
Kẻ ra đi, người c̣n bịn rịn nắm áo
giữ lại, đến lúc biệt ly mới ngỡ ngàng
nhận ra là mùa thu đă đến từ lúc nào không hay, lá
vàng đă phủ đầy lối đi. Th́ ra đôi uyên
ương đă quá say sưa đến quên cả thời
gian.
Nhưng vần thơ trác tuyệt như vậy
đầy rẫy trong truyện Kiều. Thiên tài của
Nguyễn Du là đă vừa viết truyện vừa sáng tác
ra ngôn ngữ để viết. Và những sáng lạo ngôn
ngữ của ông quả là tuyệt vời. Nhưng
cụm từ của ông đă trở thành những thành
tố quan trọng của tiếng Việt. Sắc
đẹp nghiêng nước nghiêng thành, rạch đôi
sơn hà, hàng thần lơ láo, đội trời
đạp đất, tài tử giai nhân, sở khanh, v.v...
Kiến thức về văn học của tôi không có bao
nhiêu, nhưng tôi cũng đă đọc khá nhiều tác
giả lớn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và
nhiều truyện Tàu. Tôi chưa hề thấy một nhà
văn nào sáng tạo ra ngôn ngữ nhiều như Nguyễn
Du.
Những về một khía cạnh khác, truyện Kiều
lại đem đến cho tôi một tâm sự chua chát.
Đoạn Trường Tân Thanh là tên của một
tiểu thuyết vô danh của một tác giả vô danh bên
Trung Quốc, Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du đă giữ nguyên
tên tác phẩm và, theo một số nhà nghiên cứu văn
học, cũng giữ nguyên cả cốt truyện, kể
cả những chi tiết ngớ ngẩn như hồn ma
Đạm Tiên, Từ Hải chết đứng, Thuư
Kiều chết đi sống lại và gặp văi Giác
Duyên... Ông cũng giữ nguyên cái triết lư tài mệnh
tương đố bi quan và rẻ tiền. Nói chung,
Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng
của chính ḿnh mà chỉ ḥa nhịp theo cảm hứng
của một tác giả tầm thường của Trung
Quốc và đi theo mạch tư tưởng rất
tầm thường của người này. Nguyễn Du là
khuôn mặt văn học lớn nhất và cao nhất
của nước ta cho tới ngày nay, cho nên nhưng
thiếu sót của ông càng đáng tủi hổ cho chúng ta
hơn là nơi những tác giả khác. H́nh như không có câu
thơ nào trong Cung Oán Ngâm Khúc mà lại không có một
điển tích văn hóa hay lịch sử Trung Hoa và
quyết nhiên không có một qui chiếu Việt nam nào
cả. Chinh Phụ Ngâm là tác phẩm hoàn toàn của
người Việt nam, bản chữ Nho của
Đặng Trần Côn cũng như bản chữ Nôm
của Đoàn Thị Điểm, nhưng đó lại là
một truyện Tàu, bối cảnh và các nhân vật
của nó đều là Trung Hoa. Tâm hồn của
người chiến sĩ lên đường
được diễn tả qua hai câu thơ:
Săn lâu lan rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Nhưng sự Phục Ba là sự ǵ? Đó là việc
tướng nhà Hán Mă Viện, có tước Phục Ba
Tướng Quân, đem quân đánh bại Hai Bà Trưng,
dẹp cuộc khởi nghĩa giành độc lập
đầu tiên của Việt nam, và đặt ách đô
hộ một ngàn năm trên nước ta. Một sự
kiện như vậy mà lại gây hứng khởi trong ḷng
hai danh sĩ xuất sắc bậc nhất của
nước ta đủ chứng tỏ cảm hứng
của sĩ phu Việt nam vào thời đó đều
chỉ hoàn toàn là vay mượn.
Trong thế kỷ 19 thơ văn Việt nam đă làm
một bước nhảy vọt vĩ đại cả
về phẩm lẫn lượng. Bước nhảy
vọt này đă được tiếp nối và tăng
cường trong thế kỷ 20 với sự bành
trướng của chữ quốc ngữ, thơ mới
và tiểu thuyết theo kiểu phương Tây. Cũng
trong thế kỷ 20 mà chúng ta bắt đầu làm quen
với văn nghị luận và biên khảo. Nhưng chúng
ta vẫn chưa có một tác phẩm nào lớn, có tầm
vóc quốc tế. Cảm hứng vụn vặt, đam mê
chốc lát - di sản của một nền văn hóa nhàn
dư - đă chỉ đẻ ra những tác phẩm
nhỏ, hoặc họa hiếm lắm là trung b́nh như
trường hợp truyện Kiều. Chúng ta thiếu óc
sáng tạo và thiếu sự dài hơi. Tại sao?
Không phải chúng ta thiếu tài năng. Nguyễn Du, Đoàn
Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,
v.v... đều đáng được coi là những thiên
tài của ngôn ngữ.
Không phải chúng ta thiếu đề tài và chất
liệu. Mười lăm thế kỷ đấu tranh
với thiên nhiên để khai mở đồng bằng
sông Ḥng, đấu tranh với ngoại bang, vua quan và sĩ
phu để giữ ǵn căn cước. Cả một
cuộc nam tiến vĩ đại kéo dài bảy thế
kỷ trong đó những tấm áo nâu đă dắt d́u nhau
vào tới Cà Mau. Hơn một trăm năm Trịnh -
Nguyễn phân tranh, ba mươi năm tranh hùng Nguyễn ánh
- Tây Sơn; cuộc xâm lăng của người Pháp và
gần một thế kỷ Pháp thuộc mang theo một
cuộc đụng độ dữ dội chưa
từng có giữa hai thế giới và hai nền văn hóa
khác hẳn nhau. Thế rồi cuộc chiến đấu
giành độc lập, cuộc can thiệp của Hoa
Kỳ, cuộc chiến tranh Nam - Bắc kéo dài hai
mươi năm, nhưng cuộc di tản lịch sử
đem người Bắc vào Nam và đem người
Việt trải rộng ra khắp thế giới, v. v...
Biết bao đổi thay bị hùng tráng lệ, biết bao
đau khổ, mừng vui, t́nh nghĩa, phản trắc. Tất
cả những đảo lộn dồn dập đó,
nhất là trong hơn bốn thế kỷ gần đây,
đă có thể cũng cấp đề tài cho những tác
phẩm tầm cỡ lớn hơn Chiến Tranh và Ḥa B́nh,
Anh em Karamazov, Les Hommes de Bonne Volonté, Les Thibault, Gon withthe Wind,
Grapes of Wrath, A Farewell to Arms... Chúng ta không sáng tác
được v́ chúng ta thiếu tầm nh́n và cách nh́n
để thấy được cái vĩ đại ngay
chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng.
Sự thiếu tư tưởng của chúng ta là quá rơ
rệt. Chúng ta không có một đóng góp nào cho tư
tưởng thế giới đă đành nhưng chúng ta
cũng không nhận thức được về chính ḿnh.
Việc du nhập một cách cuồng tín chủ nghĩa
cộng sản vào Việt nam, cũng như sự kéo dài
dai dẳng của nó, và của lập trường
chống cộng, tố giác một cách phũ phàng sự
yếu kém về tư tưởng của chúng ta. Hiện
tượng Kim Dung trong thập niên 1960 và đầu
thập niên 1970 mới thực là kỳ quái? Truyện
kiếm hiệp của Kừn Dung chỉ có giá trị
tương đương với một bộ truyện
giải trí nhi đồng, một bộ truyện bằng
tranh hay một phim hoạt họa. Nó không dựa trên
một sự thực nào, không có một giá trị văn
học nào mà cũng không chuyên chở một tư
tưởng nào, hay một nhăn quan nào về cuộc
sống và thế giới. Nó chỉ có cái khác với các
bộ sách kiếm hiệp cổ điền ở chỗ
nó tương đối hóa tất cả, pha trộn
thiện ác, chính tà. H́nh như nó cũng có tham vọng qua các
nhân vật và phe phái phản ảnh phần nào thế tranh
hùng trên thế giới. Nhưng nó tŕnh bày một cách ngây ngô
hời hợt. Và nhất là nó hoàn toàn không có giá trị
văn học. Vậy mà cả miền Nam say mê, ngay cả
các trí thức được coi là lớn cũng bỏ
công nghiên cứu và bàn luận. Tôi cũng có đọc
một số truyện nổi tiếng nhất của Kim
Dung với mục đích phân tích tâm lư của trí thức
miền Nam lúc đó. Thể thực là tôi rất thất
vọng, thất vọng về truyện Kim Dung th́ ít v́
dầu sao nó cũng có giá trị giải trí, nhưng
thất vọng lớn về sự thấp kém bi đát
của trí thức miền Nam lúc đó. Thiếu tư
tưởng và cảm hứng th́ dĩ nhiên ta không thể
sáng tạo mà phải đi vay mượn của
nước ngoài. Nhưng có những bộ môn nghệ
thuật trong đó chúng ta bắt buộc phải sáng
tạo, phải có cảm hứng của chính ḿnh, dựa
trên những chất liệu quanh ḿnh, chẳng hạn
như hội họa, điêu khắc và, ở một mức
độ bớt gay gắt hơn, ca múa. Chúng ta yếu
trong những bộ môn này là lẽ dĩ nhiên. Điều
đáng buồn là, ngoại trừ thơ văn, những
sáng tạo ít ỏi của chúng ta cho đến dầu
thế kỷ 20 này, dù là hội họa, kiến trúc, âm
nhạc, múa, v.v... dều không do những phần tử
sĩ phu mà do dân gian.
Điều cũng đáng buồn là hầu hết
những người lỗi lạc nhất của chúng ta,
những Nguyễn Trăi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quư Đôn,
Nguyễn Du, Cao Bá Quát, v. v... Đều nhờ đă
từng đi sứ hay xuất ngoại và học hỏi
được ở nước ngoài. Như thế
phải nói ngay rằng nền giáo dục của chúng ta
không đào tạo ra được nhân tài. Cái ǵ đă giam
hăm trí tuệ Việt nam, không cho nó vượt thoát, sáng
tạo và bay bổng?
Giải thích đầu tiên là do lịch sử nước
ta, mà chúng ta đă cùng nhau lược qua trong cuốn sách
này. Chúng ta không phải là một dân tộc tự do. Trong
hai ngàn năm sau công nguyên, nghĩa là gần như trọn
chiều dài lịch sử đích thực của chúng ta,
chúng ta đă bị ngoại thuộc hơn một ngàn
năm, chúng ta đă phải chịu đựng những
cuộc chiến thảm khốc trong phần lớn
thời gian c̣n lại; ưu tư phải dành cho sự
sống c̣n thay v́ cho suy nghĩ và sáng tạo. Các chế
độ tự chủ của ta chẳng qua cũng
chỉ là những bạo quyền bản xứ. Chúng ta
không có tự do. Và một con người không có tự do
th́ cũng không thể có óc sáng tạo.
Giải thích thứ hai là do địa lư. Nước ta
được dựng lên từ châu thổ sông Hồng.
Các công tŕnh thủy lợi, đắp đê ngăn
nước, đào kênh dẫn nước là chuyện sinh
tử của xă hội. Chúng ta cần những chế
độ bạo ngược áp đặt những hy sinh
tàn nhẫn để chống cự với thiên nhiên cho sự
sống sót của tập thể. Đó là số phận nô
lệ chung trong quá tŕnh h́nh thành của mọi dân tộc
sống quanh những con sông lớn, với lưu
lượng thay đổi đột ngột. Sau hàng ngàn
năm bị chà đạp và hành hạ như thế, chúng
ta hấp thụ bản chất nô lệ cộng thêm
với cuộc sống nông dân cơ cực phải vật
lộn với đất để lấy từ
đất ra miềng ăn cho từng ngày. Kết quả
là chúng không biết nh́n xa và sáng tạo. Cái địa lư
đă nuôi ta cũng đồng thời để lại
cho chúng ta những t́ vết. Vậy th́ để
vươn lên chúng ta phải thắng được di sản
lịch sử và địa lư đó. Các tiến bộ
kỹ thuật đă giải tỏa chúng ta khỏi ách nô
lệ của đê điều. C̣n lại là di sản tâm
lư do quá khứ để lại. Chúng ta cần một
quyết tâm sống như những con người tự
do và xây dựng đất nước trên tự do, bởi
v́ chỉ có những con người tự do mới có
khả năng sáng tạo.
Lịch sử và địa lư không giải thích tất
cả. C̣n những yếu tố khác mà chúng ta có lẽ
đă chấp nhận do hoàn cảnh lịch sử và
địa lư, nhưng với thời gian chúng đă đóng
một vai tṛ c̣n quan trọng hơn.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Thua kém và nguyên nhân
Cuối
thế kỷ 19 chúng ta bị người Pháp đánh
bại và khuất phục một cách dễ dàng. Thất
bại này đầy hổ nhục v́ nước Pháp lúc
đó cũng đang chao đảo mạnh. Năm 1872 là
năm quân Pháp đánh hạ Thăng Long, nghĩa là chỉ
hai năm sau khi Pháp đại bại trước quân
Đức, hoàng đế Napoléon III, cháu của Napoléon I,
thua trận, bị bắt sống và đế quốc
thứ hai của Pháp sụp đổ. Nhưng đạo
quân viễn chinh của Pháp cũng không có bao nhiêu. Cả hai
lần hạ thành Thăng Long họ đều chỉ
cần vài trăm quân.
Cuối thế kỷ 20, khi nhiều quốc gia châu á khác
cũng ở một tốc độ phát triển
tương đương với chúng ta trong thế
kỷ trước đă tiến lên mạnh mẽ, sự
thua kém của chúng ta so với phương Tây vẫn
tiếp tục trầm trọng thêm. Lợi tức b́nh quân
trên mỗi đầu người của ta vào năm 2000
được ước lượng là 300 USD, nghĩa là
chỉ xấp xỉ bằng 1/100 của Hoa Kỳ,
Nhật và các nước Tây Âu mà thôi. Tóm lại trong hơn
một thế kỷ đổi mới tuy chúng ta đă
tiến triển khá nhiều, nhưng các nước tiên
tiến c̣n tiến bộ nhanh hơn và khoảng cách
giữa họ và chúng ta không hẹp lại mà c̣n rộng ra,
trong khi nhiều nước cũng chậm tiến như
chúng ta trước đây đă vươn lên mạnh
mẽ.
Tại sao có sự thua kém đó?
Cần phải gạt đi ngay những câu trả lời
quanh co: chúng ta không may mắn, chúng ta bị chiến tranh
nhiều quá, các lănh tụ của chúng ta tồi tàn quá, v.
v... Đó không phải là những câu trả lời thực
sự. Thế tại sao chúng ta lại gặp toàn những
xui xẻo, tại sao lại chiến tranh nhiều quá,
tại sao lại chỉ có những người lănh
đạo tồi? Định mệnh nào khiến chúng ta
cứ, như Nguyễn Du nói, t́m toàn những ngả
đoạn trường mà đi?
Khi một quốc gia thua kém mặc dù những điều
kiện địa lư không đến nỗi quá bất
lợi th́ chỉ có thể có hai giải thích, một là con
người tồi, hai là văn hóa tồi mà thôi. Nhưng
có thực là có hai giải thích không hay chỉ có một?
Tất cả các nhà bác học về nhân chủng, y khoa, tâm
lư đều đă đồng ư với nhau về một
kết luận: chỉ có một giống người trên
thế giới này mà thôi và mọi dân tộc đều có
những khả năng như nhau hay ít ra gần như
nhau. Chỉ có những phần tử cực đoan và kỳ
thị, thường thường vô học, mới
phủ nhận kết luận này. Với thời gian càng
ngày nó càng được xác nhận. Có thể vẫn có
những người hồ nghi về sự b́nh
đẳng khả năng trí tuệ thực sự
giữa những con người, coi đó là một xác
quyết có tính cách triết học và nguyên tắc hơn là
một sự kiện khoa học và khách quan nhưng cho
tới nay họ chưa đưa ra được
một lập luận giá trị nào. Nhưng ngay cả
nếu chúng ta chấp nhận để tạm không bàn căi
về sự hồ nghi đó th́ vấn đề vẫn
không đặt ra đối với người Việt
nam. Người Việt nam qua tiếp xúc với văn hóa,
khoa học và kỹ thuật phương Tây đă chứng
tỏ khả năng hấp thụ nhanh chóng bất cứ
một kiến thức nào. Hơn hai triệu người
Việt hải ngoại, sau một thời gian thích nghi
rất ngắn ngủi, đă đạt được
một mức sống và một tŕnh độ gần tương
đương với dân tộc các nước tiếp
cư. Con người Việt nam không tồi.
Nguyên nhân của sự thua kém bi đát hiện nay như
vậy chỉ là v́ văn hóa của chúng ta quá tồi mà
thôi. Vậy chúng ta phải thay đổi văn hóa nếu
muốn vươn lên.
Mà văn hóa là ǵ? Đó lại là cả một câu hỏi
phức lạp có thể tranh căi vô cùng tận. Nhưng trong
sự suy nghĩ để đi t́m tiến bộ chung,
chúng ta có thể tạm chấp nhận một định
nghĩa thu hẹp: văn hóa của một dân tộc là
toàn bộ những nhận thức và những giá trị
đă tạo ra cho dân tộc đó một cách suy nghĩ và
hành động, một cách tiếp cận và ứng xử
với môi trường chung quanh.
Đến đây cần nhấn mạnh, và nhấn
thực mạnh, một điều. Đó là nếu quan sát
kỹ chúng ta sẽ thấy tất cả mọi giá
trị, tốt cũng như xấu, đều hiện
diện trong mọi nền văn minh, hay cũng như
dở. Điều khác biệt là tầm quan trọng
tương đối của các giá trị trong mỗi
nền văn hóa. Các nền văn hóa khác nhau không phải
v́ chúng chứa dựng những giá trị khác nhau mà v́ chúng
dành cho các giá trị những trọng lượng khác nhau.
Và sự khác biệt này có thể đưa đến
những hậu quả cực kỳ lớn. Con sên cũng
chuyển động, con ngựa cũng chuyển
động, nhưng hai con vật này không chuyển
động với cùng một vận tốc. Như
vậy, trong cuộc thảo luận về văn hóa, chúng
ta đừng nên mất th́ giờ để biện
luận Khổng Giáo cũng có cái này, Công Giáo cũng có cái
kia, Phật Giáo cũng có cái nọ, v.v... Khi chúng ta nói
cần thay đổi văn hóa (hay cần làm một
cuộc cách mạnh văn hóa) là chúng ta muốn nói cần
thay đổi trọng lượng tương đối
của các giá trị dựa trên kinh nghiệm của
những dân tộc tiến bộ chứ không phải là
cần nhập cảng giá trị này, loại bỏ giá
trị kia. Không phải là một t́nh cờ mà Việt nam và
Trung Quốc có thân phận gần giống nhau. Cả hai
nước đều chịu những thảm kịch
lớn, đều vướng mắc với một
chủ nghĩa đă bị đào thải, đều thua
kém bi đát trong khi những người dân của cả
hai nước lập nghiệp tại nước ngoài
đều khá thành công. Cũng không phải là một sự
t́nh cờ mà Đảng cộng Sản Việt nam luôn luôn
lẽo đẽo chạy theo Đảng cộng sản
Trung Quốc như các vua chúa nhà Nguyễn lẽo
đẽo chạy theo triều Thanh. Cùng một văn hóa
đưa tới cùng một cách suy nghĩ và hành
động, và cuối cùng đưa tới những
chọn lựa giống nhau. Việt nam cùng một văn
hóa với Trung Quốc, nghĩa là cùng đề cao một
số giá trị và cùng xem thường một số giá
trị khác, bởi v́ đă bị lệ thuộc Trung
Quốc trong hơn một ngàn năm và đă cố
gắng rập khuôn theo Trung Quốc trong gian một ngàn
năm sau đó.
Ngày nay, trước hoàn cảnh bi đát của đất
nước, nhiều người đă thao thức
đặt vấn đề làm thế nào để
đưa đất nước đi lên. Đại
đa số những phát biểu này thuộc hai loại.
Loại thứ nhất phân tích những sai lầm hoặc
tố giác những đă tâm trong quá khứ đă đưa
đến t́nh trạng hiện nay.
Loại thứ hai quay lưng lại với quá khứ và
hướng về tương lai, gồm những
đề nghị về kế hoạch và kinh tế,
đôi khi dựa trên những thống kê được
sưu tập khá công phu.
Tôi cho cả hai cách tiếp cận này đều không
đúng. Nếu vẫn giữ nguyên một văn hóa cũ
th́ dù không làm sai lầm này người ta cũng sẽ làm
sai lầm khác. C̣n các kế hoạch kinh tế tài chánh th́
tôi hoàn toàn dị ứng. Không phải v́ ta thực hiện
kế hoạch kinh tế này thay v́ kế hoạch kinh
tế khác mà đất nước ta sẽ khá hơn.
Những chuyên gia nghĩ như vậy không hiểu ǵ
về kinh tế và tạo ra cho người khác những
ảo tưởng sai lầm. Họ không đóng góp mà c̣n
đánh lạc hướng những suy tư khỏi nguyên
nhân chính của mọi đau khổ của chúng ta hiện
nay.
Chúng ta đă như ngày nay bởi v́ chúng ta đă có một
văn hóa tồi tệ. Chúng ta chỉ vươn lên
được nếu ư thức được rằng
văn hóa của ta tồi, cần phải thay thế
bằng một văn hóa khác. Ngay cả nếu chỉ
giới hạn trong phát triển kinh tế mà thôi th́ cũng
cần ư thức rằng phát triển kinh tế chủ
yếu vẫn chỉ là một vấn đề tâm lư và
văn hóa.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Khổng Giáo và Khổng Tử
Đọc
xong những ḍng trước độc giả đă có
thể đoán là tôi sắp đặt vấn đề Nho
Giáo. Văn hóa truyền thống của ta là văn hóa Nho
Giáo. Nói rằng văn hóa của ta cần được
xét lại có nghĩa là chúng ta phải nhận định
lại Nho Giáo.
Nhiều độc giả có Tây học, nhất là
những độc giả trẻ, có thể sẽ
phản ứng: tại sao lại cần đặt
vấn đề Nho Giáo? Văn hóa của chúng ta ngày nay
đâu c̣n là văn hóa Nho Giáo nữa, người Việt
nam đă thôi học chữ nho và tư tưởng Nho Giáo
từ gần một thế kỷ nay rồi. Tôi có
biết Tứ Thư, Ngũ Kinh là ǵ đâu? v. v... Xin các
bạn b́nh tĩnh. Văn hóa của chúng ta vẫn là văn
hóa Nho Giáo. Từ giă một nền văn hóa không dễ
đâu; nó đ̣i hỏi một cố gắng tàn bạo
đối với chính ḿnh, điều mà cho tới nay chúng
ta vẫn từ chối không làm. Kiến thức của
chúng ta có thể đă đổi mới rất nhiều
nhưng văn hóa không phải chỉ là kiến thức. Và
văn hóa của chúng ta chưa thay đổi bao nhiêu.
Một nếp sống mà chúng ta đă theo trong mấy ngàn
năm không dề ǵ chúng ta có thể đoạn tuyệt
trong ṿng một thế kỷ, nhất là trong suốt
thế kỷ đó chúng ta lại rất ít đặt
vấn đề triết lư và tâm lư. Chúng ta vẫn giữ
hồn tính cũ và nói chung chỉ tiếp thu những
hiểu biết mới một cách thực dụng,
để sử dụng chúng với tâm lư có sẵn
nghĩa là tâm lư Nho Giáo. Đó là nói về những người
có học thức, c̣n đối với đại đa
số quần chúng th́ lâm lư Nho Giáo lại c̣n tồn tại
mạnh hơn.
Văn hoá và tâm lư chủ yếu nằm trong nếp
sống, và một nếp sống có cách lưu truyền
riêng của nó, qua sinh hoạt gia đ́nh, qua hành
động, cử chỉ, thái độ và những cái nh́n
của cha mẹ và người chung quanh, qua những
gương anh hùng, liệt sĩ, vĩ nhân mà chúng ta
tiếp thu tại học đường, qua những
chuyện quyền bà kể cho cháu, cô giáo kể cho học
tṛ ở ngay đầu đời. Văn hóa là toàn bộ
những ư niệm và giá trị mà chúng ta đă
được giáo dục để coi là đúng và do
đó quyết định cách suy nghĩ, hành động và
ứng xử của chúng ta. Kiến thức chỉ là
bề mặt của văn hóa, là những dụng cụ
để thể hiện một văn hóa. Văn hóa không
đến với chúng ta bằng lư trí để chúng ta có
thể biện luận, chọn lọc và phản bác. Nó
đến một cách kín đáo và vô t́nh; nó nằm trong vô
thức của chúng ta, nó xâm nhập tâm hồn chúng ta,
trở thành bản năng của chúng ta. Nó khống
chế và chỉ huy chúng ta mà chúng ta không ư thức
được nên càng khó cưỡng lại. Nó là một
phần của chính chúng ta nên chúng ta chỉ có thể xét
lại nó nếu dám ra khỏi ḿnh để chống
lại chính ḿnh. Do đó văn hóa và tâm lư có sức sống
cực kỳ dai dẳng. Chúng ta vẫn tiếp tục
được đào tạo theo Nho Giáo ngay cả nếu
chúng ta không ư thức được như vậy. Nho Giáo
vẫn c̣n hiện diện rất mạnh mẽ trong xă
hội Việt nam và trong con người Việt nam.
Bởi vậy chúng ta phải t́m hiểu nó để
biết chúng ta là ai.
Nho Giáo thường được gọi là Khổng Giáo.
Mặc dầu cách gọi này không đúng nhưng với
thời gian nó đă thành chính thức. Từ khi có trao
đổi giữa phương Đông và phương Tây
th́ danh xưng Khổng Giáo đă thay thế hẳn danh
xưng Nho Giáo, v́ người phương Tây chỉ
biết đến danh xưng Khổng Giáo (Confucianism) mà
thôi. Trước khi bàn về Khổng Giáo cần
đặt ra ngoài ṿng trách nhiệm một nhân vật: ông
Khổng Khâu. Ông này thường được gọi
một cách tôn kính là Không Phu Tử hay Khổng Tử.
Người á Đông, nhất là người Trung Quốc
và người Việt nam, gọi ông là Đức
Khổng, coi ông như một vị thánh, thánh tổ
của một tôn giáo.
Không thiếu những tác phẩm nói đến Đạo
Khổng.
Khổng Khâu sinh năm 551 trước Tây lịch và mất
năm 479 trước Tây lịch, nghĩa là ngay chính
giữa một thời đại dài 500 năm (722-221
trước Tây lịch) mà lịch sử gọi là thời
Xuân Thu Chiến Quốc. Lúc đó Trung Quốc đă có
gần bốn ngàn năm lịch sử rồi. Theo sử
Trung Quốc th́ vị vua đầu tiên là Phục Hi (4480-43
65 trước Tây lịch) đă đặt ra tám quẻ bói
toán để ḍ ư trời đất, quỉ thần. Niên
đại có thể không được chính xác, nhưng
sự kiện này chứng tỏ rằng ngay từ một
thời đại rất xa xưa, khi hầu như
cả nhân loại c̣n rất bán khai th́ xă hội Trung
Quốc đă tiến hóa đến mức những băn
khoăn siêu h́nh đă xuất hiện. Từ quá tŕnh
lịch sử rất dài đó đă h́nh thành một sinh
hoạt văn hóa và chính trị có nền nếp: Nho Giáo.
Thời đại của Khổng Tử là thời Xuân Thu
Chiến Quốc, cũng là thời nhà Chu, một triều
đại kéo dài hơn 900 năm, từ thế kỷ 12
đến thế kỷ 3 trước Tây lịch. Nửa
đầu nhà Chu rất ổn định, nhưng từ
nửa sau thế lực của chính quyền trung
ương suy yếu đi, đến độ phải
dời đô về phương Đông để tránh
giặc. Các nước chư hầu không c̣n thần
phục trung ương nữa, mặc sức tranh giành và
thôn tính lẫn nhau. Khổng Tử sinh sống trong nửa
sau này. Lúc đó Nho Giáo đă thành h́nh từ rất lâu
rồi.
Nho Giáo là một hệ thống giáo dục và đào tạo
những người phục vụ cho các vua chúa, vua nhà Chu
cũng như các vua chư hầu. Chữ Nho trong tiếng
Trung Quốc gồm một chữ Nhân, có nghĩa là
người, bên cạnh một chữ Nhu có nghĩa là
cần thiết. Như vậy nho có nghĩa là người
cần thiết để giúp các vua chúa trị
nước. Cần hiểu rơ như vậy để
đừng ngộ nhận coi Nho Giáo là một triết lư.
Nho Giáo chỉ là sự giảng dạy những đức
tính và kiến thức phải có để được
chọn ra làm quan; nói theo ngôn ngữ ngày nay, đó là một
chương tŕnh đào tạo công chức. Không phải ai
theo học đạo Nho cũng đều được
làm quan.
Vào thời nhà Chu và trước đó, những
người được chọn để ra làm quan
được gọi là sĩ và được
đặt dưới quyền quản lư của một quan
tư đồ; họ được huấn luỵện sáu nghề:
lễ (các nghi thức), nhạc, xạ (vơ và ban cung),
ngự (điều khiền xe, ngựa), thư (ghi chép tài
liệu) và sổ (bói toán). Nếu lấy h́nh ảnh
thời nay th́ sĩ là những học viên của một
trường quốc gia hành chính.
Xă hội Trung Quốc từ ngày lập quốc đến
rất lâu sau khi Khổng Tử ra đời và mất
đi, cần nhấn mạnh là rất lâu sau khi Khổng
Tử mất, được chia làm ba giai cấp
vương hầu, quân tử và tiểu nhân. Sự phân chia
này thuần túy dựa vào chỗ đứng trong xă hội
chứ không mang một nội dung đạo đức
nào. Vương hầu là những quí tộc giàu có, có
đất đai và nông nô. Tiều nhân, c̣n gọi là dân, là
nhưng nông nô bần cùng sống dưới sự
thống trị của giai cấp quí tộc, dĩ nhiên
giai cấp tiểu nhân chiếm tuyệt đại đa
số trong xă hội. Quân tử là giai cấp trung gian giúp
giai cấp quí tộc thống trị giai cấp tiểu
nhân.
Phần lớn nhân sinh quan của Khổng Khâu
được ghi chép lại trong sách Luận Ngữ.
Khổng Khâu làm công việc đào tạo ra các quân tử,
ông vạch ra một người quân tử kiểu
mẫu. Thường thường những lời giáo
huấn của Khổng Khâu có hai vế: Người quân
tử th́... c̣n kẻ tiểu nhân th́... . Khổng Tử
không tiết kiệm lời đề cao người quân
tử và cũng không tiếc lời mạt sát đám
tiểu nhân. Ông đứng hẳn về phía các vua chúa.
Trong lịch sử Trung Hoa và thế giới chưa có ai có
thái độ khinh bỉ đối với quần chúng
bằng ông. Điều rất đáng ngạc nhiên là
tuyệt đại đa số những người bàn
luận về Khổng Giáo không hiểu ư nghĩa của
những từ ngữ quân tử và tiểu nhân ở vào
thời đại của Khổng Khâu (và rất lâu sau khi
ông đă qua đời) nên họ thường hay coi sĩ
và quân tử là những giá trị tinh thần, biểu
tượng của một nhân cách, một đạo
đức và họ hay đồng hóa sĩ và quân tử
với sự cao thượng. Thực ra nho chỉ là
những người học để ra làm quan, sĩ là
những nho được tuyền chọn để
được huấn luỵện thành quan, quân tử là
một giai cấp, giai cấp của kẻ sĩ, nhưng
kẻ làm tay sai cho các vua chúa để thống trị
quần chúng. C̣n tiểu nhân chỉ có nghĩa là quần
chúng mà thôi. Có thể với thời gian ư nghĩa của
những danh từ tiểu nhân, quân tử đă biến
đổi, nhưng ở vào thời đại của
Khổng Khâu và rất lâu sau khi ông đă qua đời
đó chỉ là những thành phần xă hội.
Giai cấp quân tử, hay sĩ, do đâu mà có? Đó có
thể là những người trong giai cấp tiểu nhân
may mắn được các vua chúa tin dùng, nâng đỡ
rồi nhờ chức vụ mà đạt tới sự
hiểu biết hơn quần chúng. Đó cũng có thể
là những quí tộc sa sút, hay những người thua
trận được kẻ chiến thắng dùng làm tay
chân.
Khổng Tử là một sĩ. Ông là con của một
vị quan nhỏ nước Lỗ tên là Thúc Lương
Ngột. Năm 19 tuổi ông được bổ
nhiệm vào chức vụ một quan thu thuế, rồi
sau đó được cử trông coi đàn súc vật dùng
vào việc cúng tế. Vào thời đại đó, cúng
tế trời đất quỉ thần là một việc
quan trọng hàng đầu. Theo sử sách th́ Khổng
Tử say mê việc cúng tế ngay từ hồi c̣n thơ
ấu cho nên thạo việc cúng tế rất sớm; ngay
khi ông c̣n trẻ đă có những gia đ́nh gởi con theo
ông học nghề cúng. Như vậy nghề chính của
Khổng Tử là nghè thầy cúng. Hai nghề thu thuế và
thày cúng đă có ảnh hưởng quyết định lên
cá tính của ông. Trong suốt cuộc đời, Khổng
Khâu rất trọng sự chính xác và các nghi thức, ông tin
vào những sự huyền bí mà không bao giờ thắc
mắc. Rất xuất sắc trong cúng tế, Khổng Khâu
được vua nước Lỗ gởi về kinh
đô nhà Chu để học hỏi thêm về lễ nghi.
Nhờ cuộc du học đó mà ông rất được
kính trọng khi trở về nước Lỗ. Cần
nhấn mạnh là vào thời đó cúng là việc quan
trọng nhất. Các triều đ́nh có hai loại quan,
loại quan Chúc lo việc cúng tế và loại quan Sử lo
việc lo việc thường ngày; nhưng quan Chúc cao
hơn quan Sử v́ cúng tế được coi là cao
nhất. Tuy vậy, vua nước Lỗ vẫn không tin
dùng ông. Măi tới năm 51 tuổi, một tuổi rất
cao vào thời đó, Khổng Tử mới được
bổ nhiệm vào chức Trung Đô Tể và sau đó
thăng dần tới chức tướng quốc,
chức vụ đứng đầu các quan. Theo sách sử
th́ ông trị nước rất nghiêm minh và đă đem
lại ổn định và phồn thịnh cho
nước Lỗ. Nhưng chỉ một năm sau khi
nhận chức tướng quốc, ông từ chức v́
một lư do rất nhỏ mọn: vua nước Lỗ
đă không chia phần thịt cho ông trong buổi tế
Giao. Từ đó ông bắt đầu một cuộc hành
tŕnh vất vả dài 11 năm qua nhiều nước
để xin làm quan, nhưng ông không được vua nào
dùng cả. Khi ông chán nản trở về nước
Lỗ th́ đă 68 tuổi, ông bỏ mộng làm quan và
tập trung cố gắng để viết sách.
Trong việc biên soạn sách, Khổng Khâu hoàn toàn không sáng
tác ǵ cả mà chỉ ghi chép những ǵ đă có sẵn. Ông
nói: Ta chỉ thuật lại mà không sáng tác, ta tin và thích
những ǵ của đời xưa (thuật nhi bất
tác, tín nhi hiếu cổ). Đó không phải là một câu
nói khiêm tốn như ta có thể nghĩ mà là cả một
tín chỉ của Khổng Khâu. Ông coi những triết lư và
hiểu biết của người xưa là đầy
đủ và hoàn chỉnh, đời sau cứ thế mà
theo không được sửa đổi, thêm bớt ǵ
cả.
Khổng Khâu chép lại năm cuốn sách được
gọi là Ngũ Kinh, Kinh Dịch (bói toán), Kinh Thư (văn
từ của các vua quan), Kinh Thi (các bài thơ và các bài hát),
Kinh Lễ (các nghi thức về cúng tế và hội
họp trong triều đ́nh) và Kinh Nhạc. Ngoài ra Khổng
Khâu c̣n soạn ra bộ sách Xuân Thu, cũng được
gọi là kinh, chủ yếu kể chuyện về các vua
chúa nước Lỗ. Các cuốn kinh này đều đă
bị thất lạc. Đến khi nhà Hán trọng nho
học mới cho t́m lại nhưng không được bao
nhiêu. Các đệ tử hậu bối của Khổng
Tử thêm bớt vào rất nhiều, tạo thành năm
cuốn sách gọi là Ngũ Kinh: Kinh Dịch, Kinh Thư,
Kinh Lễ, Kinh Thi và Kinh Xuân Thu. Riêng Kinh Nhạc chỉ c̣n
lại một chương được cho vào Kinh
Lễ.
Các nho sĩ đời sau c̣n viết ra bốn cuốn sách
khác là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và
Mạnh Tử. Bốn cuốn sách này, được
gọi chung là Tứ Thư Đại Học (do
người học tṛ của Khổng Tử là Tăng
Tử viết) và Trung Dung (do người học tṛ của
Tăng Tử là Khổng Cấp viết) thật ra chỉ
là một số chương đă có trong Kinh, Luận
Ngữ (do Tăng Tử và các môn đệ soạn) ghi chép
lại những lời dạy của Khổng Tử;
Mạnh Tử là cuốn sách do Mạnh Tử, tên thật
là Mạnh Kha, sinh ra hơn một trăm năm sau ngày
Khổng Tử mất, và các môn đệ của ông, chép
lại những lời nói của Mạnh Tử.
Tứ Thư và Ngũ Kinh được coi như
những cuốn sách căn bản của Nho Giáo, trong
đó Luận Ngữ quan trọng hơn cả. Khổng
Giáo, hay đúng hơn là Nho Giáo, đă được
nhiều đóng góp của nhiều nho sĩ qua nhiều
thời đại. Trong nhưng nho sĩ này, người
nổi tiếng nhất là Mạnh Tử; tên Mạnh
Tử được ghép liền với Khổng Tử,
Khổng Giáo v́ thế c̣n được gọi là
đạo Khổng Mạnh. Sau Mạnh Tử khoảng
nửa thế kỷ c̣n một nho sĩ rất xuất
sắc khác là Tuân Tử. Tuân Tử vừa có khả năng
lư luận xuất chúng lại vừa có óc phê phán, ông bài bác
tinh thần thủ cựu của những người
đi trước đả phá sự mê tín vào thần linh,
đề cao vai tṛ của giáo dục. Tuân Tử rất
phóng khoáng, đi rất sâu vào tâm lư con người và phân
tích khá cặn kẽ về sự hiểu biết. Ông là
một triết gia thực sự và lẽ ra đă phải
mở đường cho Nho Giáo đổi mới và
tiến lên. Tiếc rằng ông bị cả một
khối nho sĩ đông đảo chê bai, các vua chúa dĩ
nhiên cũng không chấp nhận sự phóng khoáng của ông
nên Tuân Tử không được coi là thánh hiền và tư
tưởng của ông không được đề cao.
Sau thời Đông Chu Liệt Quốc, những đóng góp
quan trọng nhất cho Nho Giáo là của Đồng
Trọng Thư và Dương Hùng dưới thời nhà Hán
(202-220 trước Tây lịch); Vương Thông vào thời
nhà Tùy (581-618), Hàn Dũ vào thời nhà Đường
(618-906); Vương An Thạch, Chu Đôn Di, Trương
Tái, Tŕnh Hạo, Chu Di vào thời nhà Tống (960- 1280);
Vương Dương Minh đời nhà Minh (1368- 1648).
Những đóng góp đó đă khiến các học giả
bối rối khi bàn về Nho Giáo và thường
đặt câu hỏi Nho Giáo nào? Hán Nho, Đường Nho,
Tống Nho hay Minh Nho?. Tuy nhiên, các thay đổi này chỉ
là những thay đổi về cách diễn đạt và
áp dụng mà không thay đổi bản chất và tinh
thần của Nho Giáo. Nho Giáo vẫn là một hệ
thống ư thức tôn trọng chế độ quân chủ
cực quyền, bảo thủ và bất dung. Đối
với Nho Giáo, Khổng Tử không sáng tác ǵ cả. Đóng
góp của ông không đáng kể so với Mạnh Tử và
cũng kém hẳn các danh nho sau này. Ông đă chỉ chép
lại các sách cũ và hơn nữa các sách của ông
đều đă thất lạc. Như vậy khi phê phán
tư tưởng Khổng Giáo, dù để bênh vực hay
lên án, dù để khen hay chê, cần phải tách rời nó
khỏi nhân vật Khổng Khâu. Về mặt tư
tưởng, nên nhấn mạnh là về mặt tư
tưởng, ông là một người vô can.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Sự nghiệp và nhân cách của Khổng Tử
Khổng
Tử tuy không có đóng góp quan trọng nào về mặt
tư tưởng nhưng lại có ảnh hưởng
lớn trên sự phát triển của Nho Giáo, v́ thế mà
người ta đă gọi Nho Giáo là Khổng Giáo. Một
cách gián tiếp Khổng Tử đă góp phần quyết
định làm cho tư tưởng Nho Giáo bế tắc và
không đổi mới được với thời gian.
Đến lượt nó, Nho Giáo đă khiến các xă
hội á Đông thuộc văn hóa Trung Hoa dẫm chân
tại chỗ trong hơn hai ngàn năm.
Tôi có viết một bài báo phê phán Khổng Giáo và đă
nhận được một số phản ứng, tán
thành có mà phản đối cũng có. Các vị phản
đối thường trách tôi một điều là
đem ư thức thời nay để phê phán người
xưa, nghĩa là đặt lầm bối cảnh.
Thực ra chính các vị này làm lẫn lớn về thời
gian, họ đem bối cảnh tâm lư và xă hội của
thế kỷ 19 để bàn luận về Khổng
Tử.
Dù vai tṛ thực sự của ông thế nào, Khổng
Tử đă được coi là vị thánh, một vị
thầy của muôn đời (vạn thế sư
biểu); cung cách của ông và những lời ông nói
được lấy làm mẫu mực lập thân cho
nhiều dân tộc á Đông, trong đó có Việt nam, nên
chúng ta cần hiểu ông. Trước hết là đóng góp
của ông đối với Nho Giáo. Đóng góp này rất
lớn, Khổng Tử là người đầu tiên ghi
chép lại một cách công phu và toàn bộ những kiến
thức của Nho Giáo. Nhờ ông mà người đương
thời có được một cái nh́n tổng quát về
Nho Giáo và có thể học hỏi Nho Giáo một cách dễ
dàng hơn hẳn lúc trước. Tuy vậy ông không đóng
góp ǵ cho tư tưởng Nho Giáo, đồng hóa ông với
Nho Giáo cũng sai lầm như coi một giáo sư toán có
công biên soạn một số sách giáo khoa toán là một nhà
toán học.
Tại sao Khổng Tử lại được tôn vinh
như một vị thánh? Không phải đợi
đến khi Hán Cao Tổ (tức Lưu Bang) sang
nước Lỗ lễ mộ Khổng Tử, hay Hán
Vũ Đế đưa Nho Giáo lên làm quốc giáo
Khổng Tử mới được tôn vinh. Trước
đó đă có vơ số sĩ tử sùng bái Khổng Tử.
Phải h́nh dung bối cảnh thời đó mới
hiểu được sự sùng bái Khổng Tử và
đóng góp to lớn cho xă hội của ông.
Khổng Tử lưu lạc khắp nơi, không
được vua chúa nào dùng phải quay về cố
hương là nước Lỗ để mở
trường dạy học. Nhờ uy tín Khổng Tử
đă mở được trường tư đầu
tiên tại Trung Quốc và đó là biến cố vô cùng quan
trọng. Trước đó việc đào tạo kẻ
sĩ là của triều đ́nh và chỉ có những
người được chọn làm sĩ mới
được huấn luỵện để ra làm quan mà
thôi, nhưng làm thế nào để có thể trở thành
sĩ nếu không phải đă sẵn là con quan như chính
Khổng Tử? Đám tiểu nhân, hay quần chúng, không có
phương tiện nào để tiến thân cả
trừ ra những cơ hội cực kỳ may mắn
được các vua chúa đoái hoài tới. Chính nhờ
Khổng Tử mà quần chúng có được một
phương tiện để thăng tiến qua giáo
dục. Đây là một cuộc cách mạng văn hóa
lớn, thay đổi hẳn tương quan xă hội, tạo
ra một quan hệ lưu thông giữa hai giai cấp quân
tử và tiểu nhân. ở vào thời đại của
Khổng Tử, số phận đám tiểu nhân chỉ là
sự đầy đọa mà thôi. Khổng Tử đă
tạo ra gần ba ngàn môn đồ, giúp họ ra khỏi
sự đầy đọa đó, họ mang ơn ông và
thờ ông là lẽ tự nhiên. Đến lượt
họ cũng mở trường dạy học và cũng
truyền bá sự tôn thờ sư tổ của ḿnh, v́
thế mà Khổng Tử trở thành sư tổ của mọi
nho sĩ. Cũng cần nhạn định rằng
chỉ sau khi Khổng Tử mở trường nho và
sĩ mới đồng nhất. Trước ông nho là
những người học, sĩ là những nho
được chọn để được huấn
luỵện. Từ Khổng Tử trở đi ai
muốn học cũng được và cũng có thể
được bổ nhiệm ra làm quan. Khổng Tử
đă sát nhập được hai thành phần nho và sĩ
và, cần nhắc lại một lần nữa công lao to
lớn này của Khổng Tử, ông cũng đă giảm
bớt sự ngăn cách khe khắt giữa hai giai cấp
quân tử và tiểu nhân. Sự nghiệp lớn nhất
của Khổng Tử như vậy là về mặt xă
hội. Ông đă góp phần quan trọng trong thay
đổi sinh hoạt chính trị Trung Quốc.
Nhưng phải nói, đây là một đóng góp rất vô
t́nh, Khổng Tử không hề muốn xóa bỏ sự
ngăn cách giữa hai giai cấp quân tử và tiểu nhân.
Trong nhưng lời giáo huấn học tṛ, ông phân biệt
rơ quân tử và tiểu nhân, như cái đúng và cái sai,
như ánh sáng và bóng tối, sự cao thượng và sự
hèn hạ, cái đẹp và cái xấu. Tiểu nhân
dưới mắt Khổng Tử là hạng người
không đáng được bất cứ một quan tâm nào,
hay bất cứ một sự nể nang nào. Ông từng
nói: H́nh phạt không được dùng cho quan lớn,
lễ nghi không được dùng đối với đám
thứ dân (h́nh bất thướng đại phu, lễ
bất há thứ dân). Khổng Tử đă đóng góp khai
phóng quần chúng khi tạo ra trường tư, nhưng
đó là điều hoàn toàn ngoài ư muốn của ông.
Một cách tương tự ta cũng có thể so sánh công
trạng vô t́nh của Khổng Tử với một số
sự kiện tích cực mà đảng cộng sản vô
t́nh tạo ra. Họ khắc nghiệt quá khiến hàng
triệu người bỏ trốn ra nước ngoài,
nhờ đó mà Việt nam có một cộng đồng
hải ngoại đáng kể từ sau ngày 30-4-1975. Đây
là một sự kiện rất quan trọng và rất có
lợi cho Việt nam, nhưng không phải do đảng
cộng sản chủ ư tạo ra, trái lại họ đă
hết sức cấm cản mà không được.
Đảng cộng sản cực lực bài xích và cấm
đoán thương mại, nhưng những khó khăn mà
chính sách của họ tạo ra sau ngày 30-4-1975 đă
buộc mọi người phải xoay sở để
sống, kết quả là hầu hết mọi gia đ́nh
Việt nam đều phải buôn bán một cái ǵ đó.
Người Việt nam v́ thế đă bỏ
được phần nào tâm lư làm công ăn lương và
chuyển sang tâm lư buôn bán kinh doanh. Đây cũng là một
chuyển biến tâm lư rất đáng mừng nhưng không
do chủ ư.
Khổng Tử xuất thân là một quan lại thu thuế
và một thày cúng. Cả hai nghề này đều tập
cho ông thói quen câu nệ thủ tục và h́nh thức.
Nhất là nghề cúng tế mà không những chỉ hành
nghề Khổng Tử c̣n say mê từ hồi thơ
ấu. Suốt đời Khổng Tử không thay
đổi từ cách ăn, cách mặc, cách đi
đứng, cách cư xử, lúc nào ông cũng câu nệ và
qui ước. Sách Luận Ngữ mô tả khá rơ rệt
về ông: đồ ăn phải nấu thật chín, món
ăn phải đúng mùa, phân lượng rau và thịt không
thay đổi, chỉ có rượu là ông uống không
đo lường, dù không khi nào say, đi dự tiệc th́
kính cẩn đứng lên khi đồ ăn
được đem ra, nhưng khi nhận quà tặng
của bằng hữu th́ chỉ nghiêng ḿnh chào nếu là quà
để dùng cho cúng tế; về y phục th́ từ
chối một số màu sắc, quần áo mùa đông và mùa
hè có kiểu riêng, lễ phục th́ cánh tay mặt phải
dài hơn cánh tay trái, quần áo ngủ phải dài hơn
quần áo ban ngày nửa thước; nằm nghiêng, không nói
lúc nằm, không ngồi trên một chiếc chiếu
trải không ngay ngắn, ngồi trên xe th́ ngồi thẳng
không nh́n về đàng sau; không nói nhanh và không dùng ngón tay
để chỉ một vật ǵ. Trong triều đ́nh
cung cách của Khổng Tử thay đổi tùy
người. Đối với các quan cấp dưới
th́ cứng cỏi, đối với các quan cấp cao th́
uyển chuyển. Khi đưa khách vào yết kiến th́ tỏ
thái độ bối rối, rồi chắp tay và quay sang
khách sau đó dang tay mà giới thiệu với vua. Sau
buổi yết kiến khi khách ra về th́ hô lên: Khách không
quay lại nữa. Khi đi sứ gặp vua nước
khác th́ tỏ vẻ ân cần, kinh sợ. Tóm lại,
tất cả đều theo một nghi thức
được qui định một cách rất chi
tiết từ trước. Đó là chân dung của một
con người cực kỳ qui ước, hoàn toàn không tùy
cơ ứng biến và không sáng tạo.
Khổng Tử được coi là một người
cố đức lớn. Chữ đức vào thời
đại đó phải được hiểu là làm
đúng nghi lễ chứ không phải là có ḷng tốt. Không
thấy có sách nào ghi chép Khổng Tử giúp đỡ
người nghèo khổ hay gặp khó khăn, hoạn
nạn. Tuy vậy ông dạy học tṛ nên cư xử trung
thực, giữ tín nghĩa với bằng hữu, phải
phụng dương cha mẹ, giúp người già sống
yên ổn, yêu trẻ thơ. Tất cả những
đức tính đó đều đáng quí cả nhưng
cũng chỉ là những đức tính thông thường
đă được nh́n nhận từ lâu. Khổng Tử
đă sống và truyền bá một cuộc sống
lương thiện theo tiêu chuẩn lúc đó, ông là một
người đứng đắn nhưng bảo rằng
ông có đức lớn th́ không đúng. Ông không có ḷng
thương bao la với cả nhân loại, hay ước
vọng cứu đời, cứu người như
Phật Thích Ca, Giê-su Ki-tô, Gandhi hay Mẹ Teresa. Hay như
hàng ngàn hàng triệu người khác qua các thời
đại lặn lội vào chốn sỏi đá, rừng
sâu đem sự giúp đỡ và niềm an ủi tới
cho những người xấu số. Hay như bao
người trên khắp thế giới trong thời nay
chịu giam cầm tù tội để tranh đấu cho
quyền làm người. Khổng Tử là một nhà giáo
đứng đắn và có tài, thế thôi. V́ ông đă có
công giáo dục nhiều đệ tử, giúp họ ra
khỏi số phận hầm hiu nên họ biết ơn và
tôn kính ông. V́ chủ nghĩa thủ cựu và tôn quân của
ông có lợi cho các chế dộ quân chủ mà các vua chúa
về sau đă tôn ông lên làm thánh để làm mẫu
mực cho mọi người, nhưng đó chỉ là v́
một mục đích chính trị.
Khổng Tử có thực sự là một người có
ḷng nhân đạo không? Chắc chắn là không. Ông mạt
sát những người thứ dân khốn khổ một
cách thô bạo. Kẻ tiểu nhân đối với ông
chỉ là đối tượng để khinh bỉ và
chà đạp mặc dầu họ không có tội ǵ ngoài
tội đă không may sinh ra vào giai cấp cùng khổ.
Nhiều người biện hộ cho Khổng Tử, nói
rằng quân tử và tiểu nhân là những giá trị
đạo đức. Nói như vậy là đem bối
cảnh thế kỷ 19 để áp đặt vào thời
đại Xuân Thu Chiến Quốc của Khổng Tử
và hoàn toàn sai: Như đă nói, vào giai đoạn đó quân
tử và tiểu nhân chỉ là hai thành phần xă hội phân
chia theo tương quan quyền lực và kinh tế mà thôi.
Chính bản thân Khổng Tử không coi quân tử và tiểu
nhân là những tiêu chuẩn đạo đức ông
từng nói trong Luận Ngữ. Người quân tử mà có
đạo th́ yêu người, đứa tiểu nhân mà có
đạo th́ dễ sai (quân tử học đạo tác ái
nhân, tiểu nhân học đạo tạc đi sử
giả) hoặc quân tử có dũng mà không có nghiă th́ làm
loạn, tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa th́ đi
ăn trộm (quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi
loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi
đạo). Sau này chính nhờ những giáo huấn của
Khổng Tử mà quân tử được coi là
đồng nghĩa với sự cao thượng và
tiểu nhân được coi là đồng nghĩa
với sự hèn hạ. Đó chẳng qua chỉ là sự
xấc xược miệt thị những người
yếu kém, cũng như sau này người cộng sản
thóa mạ những người không đồng chính
kiến với họ là phản động, phản
quốc, v.v... Điều khác giữa cộng sản và Khổng
Giáo là đảng cộng sản đă miệt thị
những đối thủ tranh giành quyền lực
với họ, trong khi Khổng Tử và các nho sĩ đă
miệt thị những người cùng khổ không hề
và cũng không dám chống lại họ. Đó chỉ là
một sự tàn nhẫn thuần túy.
C̣n một điểm khác chưa thấy học giả nào
đặt ra khi bàn về ḷng nhân của Khổng Tử.
Ông là một chuyên viên cao cấp về cúng tế và rất
say mê cúng tế, sử chép rằng hễ chỗ nào có
tế lễ là đi xem rất chăm chú. Chắc chắn
là chính ông cũng cử hành nhiều buổi tang lễ cho
các vua chúa và các nhà quyền quí. Vào thời đó có tục
chôn sống người trong các đám tang quí tộc
để đưa đi hầu hạ người
chết trong thế giới bên kia. Măi đến đời
Tần Thủy Hoàng (thống nhất và làm hoàng đế
Trung Hoa năm 221 đến năm 210 trước Tây
lịch) tục lệ dă man ấy mới bị cấm.
Chắc chắn là Khổng Tử đă chứng kiến
nhiều vụ chôn sống người và chính ông đă
cử hành nhiều buổi lễ như vậy nhưng
Khổng Tử không những không xúc động mà c̣n cho
rằng nghi lễ của người xưa để
lại là hoàn toàn đúng không có ǵ cần sửa
đổi. Về điểm này Tần Thủy Hoàng c̣n nhân
đạo hơn ông.
Tài trí của Khổng Tử ra sao? ông có vẻ khá tự tin
về học vấn của ḿnh, ông từng nói: Bảo ta
là thánh th́ ta không dám, nhưng ta làm việc thánh không biết
chán, dạy người không biết mỏi (nhược
thánh dù nhân tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất
yếm, hối nhân bất quyền), hoặc ta không
phải sinh ra đă biết, nhờ thích việc ngày
xưa, có học mà được. Khổng Tử c̣n tin
tưởng hơn về tài trị nước của
ḿnh, ông nói: Vua nào mà dùng ta th́ chỉ một năm đă khá,
ba năm là thành công . Sự tự tin này đă không
được thực tế xác nhận. Khổng Tử
làm quan lớn tại nước Lỗ trong sáu năm,
từ chức Trung Đô Tể lên đến Đại
Tư Khấu rồi sau này Nhiếp Tướng Sự
nhưng không thấy nước Lỗ giàu mạnh
được bao nhiêu. Ông làm Nhiếp Chính Sự
(tướng quốc) được một năm th́
từ quan và đi lưu lạc. Lư do khiến ông từ
quan là v́ vua nước Lỗ không chia phần thịt cho
ông trong lễ Giao. Lư do này thực là nhỏ mọn và làm cho
các nho sĩ đời sau rất phiền ḷng. Chỉ v́
miếng thịt mà bỏ chức tướng quốc th́
c̣n thể thống ǵ, c̣n ǵ là chí lớn trị quốc, b́nh
thiên hạ nữa. V́ vậy họ cố t́nh biện
luận rằng đó chỉ là cái cớ, lư do thực
sự khiến Khổng Tử bỏ đi là v́ Khổng
Tử thấy vua không c̣n biết giữ lễ nghĩa
nữa. Nhưng đó chỉ là những giả thuyết
được đưa ra để biện hộ cho cái
đức của Khổng Tử chứ không dựa vào
căn cứ nào. Người ta chỉ kể
được những chuyện vua nước Lỗ say
mê xem đám vũ nữ nước Te sang múa hát, bỏ
việc ba ngày không nghị triều, nhưng Khổng
Tử đă từng làm quan cho nước Lỗ sáu năm
rồi, sao đến bây giờ mới bỏ đi.
Vả lại, theo Luận Ngữ th́ chính Khổng Tử
cũng rất say mê đàn hát. Sang nước Tề
học đàn ba tháng, không biết đến miếng
thịt (văn thiều tam nguyệt bất tri nhục
vị). Lập luận cho rằng Khổng Tử từ
quan bỏ đi v́ vua nước Lỗ say mê vũ nữ
càng không đúng v́ sau khi bỏ Lỗ sang Vệ, Khổng
Tử lại bị lai tiếng về một vụ
nữ sắc. Theo sách chép th́ vua nước Vệ có
người vợ là Nam Tử, rất đẹp và
cũng rất dâm đăng. Khổng Tử muốn được
làm quan nước Vệ nên phải vào yết kiến nàng
này và c̣n đi theo xe du ngoạn, v́ thế đă bị
dư luận lúc đó chê cười. Khổng Tử
cũng không trọng nguyên tắc như người ta
vẫn đề cao ông, bởi v́ trên bước
đường bôn ba t́m chủ, có lúc ông định đi
theo pḥ một phản thần là Phất Bật. Bị
học tṛ là Tử Lộ chất vấn, ông biện
bạch rằng người trong sạch th́ dẫu có vào
chỗ đen tối cũng vẫn trong sạch. Thật
là ngụy biện.
Tại sao Khổng Tử lưu lạc khắp nơi trên
mười năm trời xin làm quan mà không vua chúa nào dùng?
Đó là v́ ông hoàn toàn lỗi thời. Lúc đó nhà Chu đă
mạt vận lắm rồi, chẳng c̣n uy tín nào nữa.
Các chư hầu dù muốn hay không cũng phải tự
quyết và trong thực tế mọi vua chư hầu
đều mơ ước làm minh chủ, nhưng
Khổng Tử đi đâu cũng đề cao nhà Chu. Ông
nói: Việc lễ nhạc và chinh phạt phải do Thiên
Tử (tức nhà Chu) khởi xướng, các vua chư
hầu mà đặt lễ nhạc và chinh phạt là vô
đạo (Thiên hạ hữu đạo tắc lễ
nhạc chinh phạt tự Thiên Tử xuất; thiên hạ
vô đạo tắc lễ nhạc chinh phạt tự
chư hầu xuất). Muốn đi pḥ người ta mà
lại bài bác người ta như vậy th́ ai dùng?
Khổng Tử cũng chủ trương tập trung
mọi quyền lực vào tay vua, truất bỏ quyền
tham gia chính trị của các đại thần (Thiên
hạ hữu đạo, tắc chính bất tại
đại thần). Một nhăn quan chính trị như
vậy không những đă rất hủ lậu và thiển
cận mà c̣n làm các quan đại thần bất b́nh. Không
có ǵ đáng ngạc nhiên khi họ khuyên các vua đừng
nên dùng Khổng Tử. Vả lại nếu kiến
thức và tài dạy học của ông được
mọi người đương thời nh́n nhận th́
ngược lại thành tích trị nước của ông
chưa được bảo đảm. Với một
lập trường tôn Chu tuyệt đối như
vậy tại sao Khổng Tử không đến thẳng
kinh đô nhà Chu không xa nước Lỗ bao nhiêu xin việc
mà lại cứ dai dẳng xin pḥ các chư hầu không c̣n
phục nhà Chu nữa? Lư do là v́ triều đ́nh nhà Chu lúc
đó rất nghèo. Nhưng Khổng Tử vừa bỏ rơi
nhà Chu và chạy theo các chư hầu lại vừa đ̣i
họ phục tùng nhà Chu!
Khổng Tử cũng vô lư như người giữa mùa
hè chính ḿnh cũng cởi trần nhưng lại hô hào
mọi người nên mặc đồ thật ấm.
Khổng Tử có tâm hồn nghĩa hiệp không? Câu
hỏi này h́nh như chưa ai đặt ra, và đó
cũng là một sự kiện đáng lưu ư. Ông thấy
nước nào thịnh th́ t́m đến xin làm quan, thấy
nước nào khó khăn th́ bỏ đi, ông không phải là
người để đương đầu với
thử thách và vượt qua trở ngại. Quan niệm
lập thân của ông chỉ giản dị là cầu an và
cầu vinh. Ông nói: Nước lâm nguy th́ không nên vào,
nước bị loạn th́ không nên ở, lúc thiên hạ
có đạo lư th́ ta xuất hiện, lúc không có th́ ta lên
ở ẩn (nguy bằng bất nhập, loạn bằng
bất cư, thiên hạ hữu đạo tác kiến,
thiên hạ vô đạo tắc ẩn). Khổng Tử
xứng đáng được tôn làm ông tổ của
tị nạn kinh tế. Cái triết lư ở ẩn, tránh
khó khăn và gian nguy của ông, về bản chất là
một thái độ thấp hèn, đă trở thành một
thứ đạo lư cho nho sĩ về sau. Tại
nước ta vào cuối thế ky 19 đầu thế
kỷ 20 có ông Nguyễn Khuyến đáng được coi
là tiêu biểu cho cái đạo lư tồi tàn này. Nguyễn
Khuyến là nho sĩ danh giá nhất thời đó, ông
đậu đầu cả ba kỳ thi hương, thi
hội và thi đ́nh nên được gọi là Tam Nguyên.
Lúc đó ta mất nước về tay người Pháp,
Nguyễn Khuyến làm ǵ? Ông rút về ở ẩn
để ngâm vịnh, thỉnh thoảng cũng làm vài bài
thơ châm biếm vua quan và xă hội thời Pháp thuộc.
Với một thái độ trốn tránh trách nhiệm
như vậy, Nguyễn Khuyến vẫn được ca
tụng như một nhà nho đầy tiết tháo.
Chỗ đúng của Khổng Tử trong tư
tưởng cần được nhận định
như thế nào?
Xă hội Trung Quốc cho đến đời Khổng
Tử đă tiến hóa rất nhiều cả về
mặt kỹ thuật lẫn tư tưởng.
Đến đời Xuân Thu th́ các vấn đề xă
hội đă trở nên rất phức tạp, chế
độ tập quyền sơ sài vẫn có từ
trước đến đời nhà Chu không c̣n hợp
thời nữa. Tổ chức chính trị Trung Quốc lúc
đó đă đến lúc cần phải xét lại.
Một khuynh hướng tản quyền tự nhiên
dần dần xuất hiện, và bởi v́ nhà Chu không
cải tiến ǵ cả để phù hợp với t́nh
thế mới nên dần dần mất quyền lực và
ảnh hưởng. Chỉ có hai con đường,
một là chấp nhận sự tản quyền đó và
t́m ra một giải pháp mới để phối hợp
các chư hầu; hai là tổ chức lại bộ máy cai trị
trung ương để nó có đủ sức mạnh
đè bẹp các chư hầu và cai trị một
đất nước đă trở thành rộng lớn,
đông dân hơn và phức tạp hơn. Khổng Tử
đă hoàn toàn không nh́n thấy điều đó, ông chủ
trương phục hồi lại quyền hành nhà Chu
với y nguyên lề thói cũ. Cho nên ông hoàn toàn lạc
điệu và lỗi thời. Nhận thức chính trị
của ông thực là kém cỏi.
Về mặt tư tưởng, các tiến bộ tích
lũy từ hơn bốn ngàn năm đă lên tới cao
điểm. Thời Xuân Thu Chiến Quốc là thời
cực thịnh tư tưởng Trung Quốc. Ngay sau khi
Khổng Tử qua đời, đoạn cuối của
thời Xuân Thu Chiến Quốc đă xuất hiện
cả một phong trào khai phá tư tưởng rộng
khắp, với tầm vóc lớn hơn nhiều lần
giai đoạn hoàng kim của tư tưởng Hy Lạp.
Các nhà tư tưởng xuất hiện sau Khổng Tử
như Tuân Tử, Mặc Tử, Hàn Phi, Công Tôn Long, v,v...
Đă vượt rất xa Khổng Tử.
Tư tưởng Trung Hoa cho đến thời Xuân Thu
Chiến Quốc vẫn chỉ là Nho Giáo. Chính sự
trưởng thành của Nho Giáo đă làm nở rộ
tư tưởng của thời Đông Chu Liệt
Quốc. Tư tưởng, nhất là tư tưởng
chính trị Trung Quốc trải qua một thời kỳ
xét lại lộng lẫy và đầy hứa hẹn.
Tiếc rằng nó đă khựng lại sau đó v́ trong hai
chiều hướng chuyển biến chính trị, đẩy
mạnh tản quyền hoặc tăng cường
sức mạnh tập trung, khuynh hướng thứ hai
đă thắng. Nho Giáo được phục hồi và
Trung Quốc đă dẫm chân tại chỗ từ đó.
Khổng Tử kém xa, rất xa, các nhà tư tưởng sau
ông, nhưng phải nh́n nhận rằng ông đă có đóng
góp quan trọng cho giai đoạn cực thịnh của
tư tưởng Trung Hoa vào cuối thời Xuân Thu
Chiến Quốc. Nhờ trường tư của ông, ông
đă đào tạo ra hàng ngàn sĩ tử và đến
lượt họ đă đào tạo ra vô số sĩ
tử khác. Các nhà trí thức lỗi lạc sau này dù
vượt xa Khổng Tử và bài bác Khổng Tử cũng
đều là những hậu bối tinh thần của
Khổng Tử. Một lần nữa ta nh́n thấy vai tṛ
khai phóng của giáo dục. C̣n về sau, việc phục hồi
Nho Giáo cũng như việc tôn thờ Khổng Tử làm
thánh nhân mâu mực muôn đời hoàn toàn không do trách
nhiệm của Khổng Tử. Đó chỉ là do ư
đồ của các chế độ quân quyền dùng Nho
Giáo và Khổng Tử để cũng cố nền
tảng của họ. Ông chỉ là nạn nhân của
một khai thác chính trị.
Khổng Tử là một nhà giáo có tài và một nhà biên
soạn sách có tài. Ông nghèo về t́nh cảm, kém về tư
tưởng và nhận thức xă hội. Toàn bộ quan
điểm chính trị và triết học của ông
đều lỗi thời ngay cả vào lúc đó Nhưng
ông nghĩ như thế và phát biểu như thế, đó
là quyền của ông, ông không thể tiên đoán
được những lạm dụng về sau.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Di sản Xuân Thu Chiến Quốc
Có
thể nói lịch sử của nước ta thực
sự bắt đầu vào thời Xuân Thu Chiến
Quốc.
Giai đoạn này tương ứng với thời các vua
Hùng mở nước. Theo huyền sử th́ nguồn
gốc của chúng ta cũng bắt đầu từ vua
Thần Nông bên Trung Quốc. Huyền sử chỉ có
một mức độ chính xác rất tương
đối nhưng ít nhất nó nói lên một sự
kiện, đó là người Việt nam và người
Trung Hoa có cùng một cội nguồn. Chắc chắn là
cũng đă có những người tiền sử sinh
sống trên đất nước ta từ trước và
đă ḥa nhập với người di dân từ
phương Bắc xuống vào giai đoạn này, họ
đông đảo hơn nhưng thành tố phương
Bắc là chế ngự. Ngày nay hầu hết các họ
của chúng ta cũng là những họ Trung Quốc. Như
vậy giai đoạn từ Xuân Thu Chiến Quốc
trở về trước có thể coi là lịch sử
chung của cả hai dân tộc trước khi hai quốc
gia riêng biệt được h́nh thành. Nhưng chúng ta
cũng chỉ mới được độc lập
không được bao lâu th́ lại bị sát nhập vào
Trung Quốc trong hơn một ngàn năm. Hơn nữa,
một quốc gia không phải chỉ là lănh thổ và con
người mà c̣n là một nền văn hóa, mà văn hóa
của ta th́ chủ yếu là văn hóa Khổng Mạnh
đă được tổng hợp trong giai đoạn
này.
Nếu thời Xuân Thu Chiến Quốc kết thúc một
cách khác đi, nghĩa là nó không kết thúc với một
chế độ quân chủ chuyên chính tập trung, và
với Khổng Giáo được lấy làm quốc giáo
độc tôn, th́ số phận và lịch sử của
nước ta đă khác hẳn.
Tư tưởng Trung Quốc h́nh thành một cách thực
nghiệm với thời gian, đến thời Xuân Thu
Chiến Quốc nó đạt tới một mức
độ trưởng thành vừa đ̣i hỏi một
cố gắng hệ thống hóa vừa cho phép những
khai phá lớn khác. Nền văn minh Trung Quốc lúc đó
như một cây đă đủ lớn và đến lúc
trổ hoa. Cả một phong trào tư tưởng rộ
lên như hoa nở mùa xuân. Các sách c̣n lưu giữ
được, nhất là bộ truyện Đông Chu
Liệt Quốc, mô tả một không khí tưng bừng
khai phá tư tưởng. Có những nhà hào phú nuôi cả trăm,
ngàn thực khách chỉ để biện luận t́m ra chân
lư về vũ trụ, xă hội và con người. Cũng
có hàng trăm, hàng ngàn biện sĩ đi khắp các
nước chư hầu đề nghị với các vua
chúa các lư thuyết trị nước.
Khí thế của phong trào tư tưởng này thật là
mạnh mẽ và nhưng thành lựu của nó lại càng
lớn hơn. Có thể nói tất cả những triết
lư và học thuyết của Trưng Quốc đều
xuất hiện trong giai đoạn này. Và cũng có thể
nói là mọi khái niệm triết lư và chính trị
đều đă được đề cập tới
và đẩy khá xa. Ngày nay nói tới tư tưởng
thời Xuân Thu Chiến Quốc người ta
thường hay nhắc tới Lăo Tử, Mặc Tử,
Tuân Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi, Công Tôn Long, v.v... nhưng
thực ra các triết gia và lư thuyết gia này không phải
là đơn độc, họ chỉ là những phát ngôn
viên c̣n được nhớ lại của các
trường phái tư tưởng. Thời đó chưa
có sự tranh giành tác quyền về tư tưởng.
Trường phái Lăo Tử chẳng hạn đă đưa
ra cả một triết thuyết về vũ trụ mà
ngay cả trong thời đại khoa học ngày nay
người ta cũng không thể đánh giá là ngây ngô. Có
thể coi những khai phá của Mặc Tử trong
thuyết kiêm ái như là những viên đá đầu tiên
cho một chủ nghĩa dân chủ xă hội nhân bản.
Mặc Tử, Tuân Tử và Hàn Phi khởi xướng ra
chủ trương nhà nước pháp trị. Kiêm ái và pháp
trị nếu được phối hợp và phát
triển chắc chắn dẫn tới dân chủ. Công Tôn
Long đi rất xa về lô-gích trừu tượng, phân
tích rất sâu về nguyên ủy và hậu quả (trứng
có lông) về sự vật và cách nh́n sự vật
(ngựa trắng không phải là ngựa).
Nhưng cả một rừng hoa đó cuối cùng đă
không kết trái, hay đều kết trái nhưng trái đă
không chín được để sinh ra những hạt
giống cho sự sống tiếp tục. Tại sao?
Câu trả lời đầu tiên là, trái với văn minh
phương Tây, thời Xuân Thu Chiến Quốc đă có
những tiến bộ về tư tưởng mà không có
tiến bộ về khoa học thuần túy. Họ đă
có những Socrate nhưng không có được những
Archimède. Triết lư không có sự chuyên chở của khoa
học kỹ thuật th́ không bay bổng lên
được và không ăn rễ được vào xă
hội.
Giải thích như vậy cũng tạm ổn, nhưng
chính sự thiếu vắng khoa học thuần túy cũng
cần được giải thích.
Trung Quốc được thành lập trên lưu vực
của hai con sông lớn, sông Hoàng Hà và sông Dương
Tử. Cả hai con sông này đều là những ḍng sông
dũng mănh đem phù sa và sự sung túc lại cho cái nôi
đầu tiên của Trung Quốc, nhưng đồng
thời cũng là một đe dọa kinh niên cho sự
tồn vong của con người. Tới mùa lũ ḍng sông
có thể tràn bờ biến ruộng đồng thành
biển cả, cuốn đi của cải và sinh mạng.
Trong điều kiện như thế, ưu tiên
thường trực nếu không muốn nói duy nhất
của tập thể là chống lại nước. Các
vị vua đầu tiên của Trung Hoa đều là
những người có công trị thủy. Vua Thuần
nhường ngôi cho vua Vũ v́ ông Vũ có công đắp
đê ngăn nước lụt.
Mọi xă hội h́nh thành bên cạnh nhưng ḍng sông lớn
với lưu lượng thay đổi đột
ngột đều cần những vị vua có uy quyền
tuyệt đối để áp đặt những cố
gắng tập thể ghê gớm. Không phải là một
sự t́nh cờ mà tất cả các chế độ
được xây dựng bên cạnh những con sông
lớn đều là những xă hội cực kỳ chuyên
chế, dù là ở Trung Hoa, Việt nam, Cam-bốt, ấn
Độ, Ethiopia, hay Ai Cập... nền tảng của các
xă hội cổ xưa này là một khế ước
bạo quyền bất thành văn nhưng rất rơ
rệt giữa người chủ tể và dân chúng.
Người chủ tể phải áp đặt những
đ̣i hỏi thật dă man, đôi khi hy sinh cả một
phần dân chúng, để đắp và bảo vệ
đê điều, nhưng ngược lại chính nhờ
những hy sinh kinh khủng đó mà cộng đồng
tồn tại được thay v́ bị nước
cuốn đi. Các nạn nhân có thể nguyền rủa
bạo chúa, nhưng con cháu họ lại mang ơn bạo
chúa v́ đă bảo đảm cho họ mùa màng và cuộc
sống. Dần dần sự tàn bạo được
chấp nhận như một định luật. Khổng
Tử thừa hưởng di sản tinh thần của
hệ thống xă hội đặt trên khế ước
bạo quyền đó. Điều đặc biệt
nơi ông là thay v́ nh́n khế ước bạo quân đó
như một cái tệ cần thiết ông lại thấy
nó toàn thiện, toàn mỹ. Khổng Giáo chủ yếu là
cố gắng để chính đáng hóa bạo quyền và
nâng sự chấp nhận kiếp sống nô lệ lên hàng
một đạo đức tuyệt đối.
Khổng Tử sống trong một giai đoạn
chuyển tiếp quan trọng. Với thời gian uy
quyền của bạo chúa bị suy giảm vě hai lư do,
một lŕ đê điều tương đối
đă ổn vững, công tác chủ yếu chỉ c̣n là giữ
ǵn và tu bổ, vai tṛ của bạo chúa không c̣n cần
thiết như trước nữa; hai là xă hội ngày càng
phát triển, mức sống cao hơn, dân số đông
hơn, các nhu cầu mới xuất hiện, nhiều
tiểu chủ địa phương xuất hiện và
trở thành mạnh. Tới một mức độ chín muồi
nào đó nhận thức về xă hội và cách tổ
chức xă hội cần được xét lại. Đó
là hiện tượng đă xảy ra dưới triều
đại nhà Chu. Các sử gia vẫn thường nhận
định là nhà Chu suy v́ để mất uy quyền thiên
tử, thực ra là v́ xă hội đă tiến hóa và đ̣i
hỏi một hệ thống chính trị khác.
Nhà Chu không c̣n uy quyền trấn áp các chư hầu nữa
th́ tất nhiên các chư hầu cạnh tranh và cấu xé
lẫn nhau. ư hệ độc tôn quân quyền không c̣n
hợp thời nữa th́ tất nhiên xuất hiện
những suy tư mới.
Thời Đông Chu Liệt Quốc chính là khúc quanh lịch
sử vĩ đại đó. Nhưng tập quán chính
trị chuyên chính đă kéo dài gần bốn ngàn năm và
đă ăn rễ vào tâm lư con người nên các tham
vọng chuyên chế dĩ nhiên c̣n rất mạnh và c̣n có
chỗ dựa tâm lư mạnh. Phải có một phép mầu
ghê gớm các xă hội thiết lập bên các ḍng sông
lớn mới lột xác và biến đổi
được. Nhưng phép mầu đó đă không xảy
ra tại Trung Quốc cũng như nó đă không xảy ra
tại mọi nước khác. Người dân đă
được điều kiện hóa để chấp
nhận sự tàn bạo và như thế khi một chế
độ tàn bạo cáo chung nó chỉ nhường chỗ
cho một chế độ tàn bạo khác thích nghi hơn
với thời đại mới. Giữa hai chuyền
hướng bắt buộc phải có cho chế độ
nhà Chu, một là chấm dứt khế ước bạo
quyền, chính thức hóa sự tản quyền và nới
rộng tự do cho dân chúng, hai là, ngược lại,
tăng cường tới cực điểm bạo
lực của trung ương để khuất phục
các chư hầu và đập tan mọi ư đồ
chống đối; cuối cùng Trung Quốc đă theo con
đường thứ hai. Nhà Chu đă chấm dứt
nhường chỗ cho nhà Tần với một bộ máy
cai trị lớn hơn và mạnh hơn. Từ nhà Tần
trở đi, một hệ thống chính trị khác,
hệ thống quân chủ tập quyền và tuyệt
đối dựa trên bạo lực không cần thiết
đă ra đời thay thế cho hệ thống chính
trị quân chủ dựa trên bạo lực cần
thiết trước đó.
ở đây cũng cần mở một dấu ngoặc
để nói về một sự kiện rất đáng
chú ư. Sở dĩ, trong các chư hầu, nhà Tần đă
mạnh lên để tiêu diệt các chư hầu khác và gom
thâu thiên hạ là v́ đă áp dụng lư thuyết của Hàn
Phi, chủ trương xiết chặt về chính trị
nhưng cởi mở về kinh tế. Cái gọi là kinh
tế thị trường theo định hướng xă
hội chủ nghĩa ngày nay cũng không khác ǵ về
nội dung, nó chỉ là một sự áp dụng lại
một lư thuyết đă được đưa ra cách
đây 22 thế kỷ. Nhà Tần đă chỉ tồn
tại được vài chục năm bởi v́ chính sách
độc tài chính trị cởi mở kinh tế đă mau
chóng tích lũy mâu thuẫn và đă sụp đổ.
Đây là một bài học, lịch sử h́nh như
đang diễn lại.
Nhà Hán sau khi đă tiêu diệt nhà Tần đă xiết
lại luôn về kinh tế, đem Khổng Giáo làm quốc
giáo độc tôn, cấm đoán mọi ư đồ xét
lại. Từ đó chế độ chính trị Trung
Quốc không c̣n thay đổi nữa và Trung Quốc
dẫm chân tại chó hơn hai mươi thế kỷ.
Các xă hội nông nghiệp h́nh thành bên các ḍng sông lớn
đều mang một tật nguyền chung của các
nền văn minh phù sa là tư tưởng và sáng kiến
bị thui chột. Phải hàng ngàn năm mới
đắp xong những con đê lớn với những
chịu đựng ghê gớm. Cuộc sống đầy
đọa và gắn chặt với đất đó đă
nhồi nặn ra những con người chỉ quanh
năm vất vả với đất để kiếm
miếng ăn, dần dần sự thủ cựu và
thiển cận biến thành một bản chất, không
biết nghĩ và không dám nghĩ.
Chúng ta là một dân tộc như thế. Cả lịch
sử lập quốc của ta đă chỉ là lịch
sử con đê sông Hồng Hà. Ta hệ lụy với ḍng
sông hơn mọi dân tộc khác, đến nỗi gọi
quốc gia là nước. Quốc gia của ta chỉ quanh
quẩn là đất nước, núi sông, sơn hà. Chúng ta
c̣n tật nguyền hơn mọi dân tộc phù sa khác. Trí
tuệ của ta thui chột một cách thê thảm.
Người Trung Quốc c̣n biết xét lại và
đổi mới, dù chỉ là một cách vụn vặt,
Khổng Giáo của họ qua các triều đại Hán,
Đường, Tống, Nguyễn, Minh, Thanh; người
Việt nam chúng ta th́ hoàn toàn không. Người Trung Quốc
c̣n biết dùng lịch phương Tây ngay từ
đời nhà Minh; ta th́ tới cuối thế kỷ 19
vẫn bám chặt lịch cũ thay đổi đă
chỉ đến do sự áp dặt của người
Pháp khi ta đă mất chủ quyền. Ta có một bờ
biển dài và đẹp, mở thênh thang ra một
đại dương hiền ḥa nhưng ta vẫn chỉ
sống đời này qua đời khác với đất
như một dân tộc lục địa.
Đối với các dân tộc khác, tự do, dân chủ
(hay nhân quyền cũng thế v́ đó chỉ là những
gốc nh́n khác nhau của cùng một sự kiện là con
người được quí trọng, được
phát huy hết khả năng của ḿnh, được có
ư kiến và sáng kiến) là một phương thức
tổ chức xă hội; đối với chúng ta nó c̣n là
một liều thuốc trị bệnh tê liệt trí năo.
Chúng ta là một bệnh nhân mà tự do là liều thuốc
chữa. Chúng ta phải uống thuốc tự do nếu
muốn lành bệnh để tranh đua với thế
giới.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Đạo lư thánh hiền
Những
người bênh vực Khổng Giáo thường gắn
liền Khổng Giáo với đạo đức. Bài bác
Khổng Giáo bị coi là bài bác đạo đức,
nghĩa là vô đạo. Trong một cuộc bút chiến
với Phạm Quỳnh, ông Phan Kế Bính, một trí
thức xuất chúng và cũng có Tây học, đă có công
đóng góp nhiều cho văn hóa Việt nam và có tên
đường ở Sài G̣n và Hà Nội, đă viết
một câu chắc nịch: Đạo lư là đạo lư
Khổng Mạnh Như vậy phải chăng các dân
tộc không biết tới Khổng Mạnh là những dân
tộc không có đạo đức?
Khổng Giáo đề cao một số giá trị mà con
người phải cố gắng để đạt
được. Nhưng nếu ta hỏi các nhà nghiên
cứu Khổng Giáo những giá trị đó là ǵ th́ các
vị này sẽ rất bối rối. Có vị bảo là
trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cũng có vị
bảo đó là nhân, trí, dũng, văn, có vị lại thêm
trực (ngay thẳng), tri (hiểu biết), đạo,
cung, kinh, dung (dễ chấp nhận người khác).
Đọc Luận Ngữ và sách của các danh nho khác c̣n
phải thêm: đạt, mẫn, tôn, trọng, thuận.
Như vậy đủ thấy đạo lư Khổng Giáo
dù đă xuất hiện và ngự trị từ cả hàng
ngh́n năm vẫn c̣n rất mập mờ.
Các giá trị thường được nhắc tơi là
trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Các giá trị này
đă được cải thiện dần dần
với thời gian và đi vào quần chúng. Lúc ban
đầu chúng chỉ là những giá trị dành cho
người quân tử, tức người làm quan hay
học để làm quan, và có ư nghĩa đặc biệt
của chúng.
Luân lư Khổng Giáo thường được tóm gọn
trong tam cương, ngũ thường. Tam cương là
ba bổn phận của kẻ sĩ: trung với vua,
hiếu với cha mẹ, thủy chung với vợ. Tam
cương không được rơ ràng lắm. Cũng có
những học giả coi tam cương là quân, sư,
phụ nghĩa là bổn phận đối với vua,
với thầy và với cha. Ngũ thường th́ vẫn
được coi là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Khổng
Giáo về sau được bồ túc bởi một
loạt giá trị dành cho phụ nữ, đó là tam ṭng,
tứ đức.
Tam ṭng là ba sự phục tùng mà người đàn bà
phải tuân thủ: lúc c̣n con gái th́ phải phục tùng cha,
lấy chồng th́ phải phục tùng chồng, chồng
chết th́ phải phục tùng con (tại gia ṭng phụ,
xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử). Tứ đức
là bốn đức tính người đàn bà phải rèn
luỵện, đó là công (khéo tay), dung (nhan sắc), ngôn
(ăn nói) và hạnh (hạnh kiểm). Thêm vào đó lại
có một giá trị đặc biệt cho người
đàn bà: chữ trinh.
Nếu hiểu hiếu là kính trọng và tận tụy
với cha mẹ, nhân là yêu thương người, lễ
là kính trọng người khác trong mọi giao dịch, tín
là giữ lời hứa và tôn trọng mọi cam kết,
trí là cố gắng để đạt tới sự
hiểu biết rộng th́ dĩ nhiên đó là những giá
trị của mọi xă hội và mọi nền văn minh
chứ không phải của riêng Khổng Giáo. Nếu
muốn nói tới các giá trị của Khổng Giáo th́
phải nói tới các giá trị chỉ có trong Khổng Giáo
hay được đặc biệt nhấn mạnh và
đề cao trong Khổng Giáo mà thôi.
Nhưng trước khi bàn về nội dung của
Khổng Giáo ta phải nhận định một
điểm rất quan trọng, đó là Khổng Giáo
dứt khoát không phải là một đạo lư. Ngôn ngữ
Việt nam và Trung Quốc thường hay lẫn lộn
về khái niệm nên có thể nhưng điều sau
đây không được sự nhất trí của
nhiều độc giả, nhưng vấn đề là có
thực. Triết học phân biệt đạo lư hay
đạo đức (éthique, ethic) và luân lư (morale, moral). Đạo
lư là nhưng giá trị có căn bản triết học,
được phân tích rơ ràng, được biện
luận đến nơi đến chốn và sau cùng
được chấp nhận như là kết quả
của một cố gắng suy tư. Luân lư, trái lại,
chỉ là những điều được áp đặt
và trở thành thói quen và qui luật trong một xă hội.
Không thể coi việc người Do Thái cấm ăn
thịt heo hay thịt những con vật mà móng chân sẻ
ra, cấm ăn cá không có vẩy là một đạo lư
được. Đó chỉ là một luân lư, nghĩa là
một qui luật được luân chuyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác mà thôi.
Khổng Tử và các môn đệ không hề phân tích,
biện luận mà chỉ phán ra các mệnh lệnh mà thôi,
nên Khổng Giáo không phải là một đạo lư mà
chỉ là một luân lư mà thôi. Về nội dung các giá
trị Khổng Giáo th́ sao?
Trước hết, hệ thống giá trị áp
đặt cho phụ nữ rất mọi rợ và vô nhân
đạo. Nó hạ giá người phụ nữ xuống
hàng một nô lệ và một vật dụng. Trí tuệ và
nhân cách của người đàn bà không được
kể đến. Công, dung, ngôn, hạnh là ǵ? Công chỉ là
tài thêu thùa, may mặc, nấu bếp, nghĩa là tài hầu
hạ, phục dịch. Dung không phải là sắc đẹp
mà là cấm không được làm đẹp v́ như
thế là ḷe loẹt, lẳng lơ. Ngôn là ăn nối
phải e dè, càng nói ít càng tốt. C̣n Hạnh chỉ là
sự chăm chỉ phục tùng, phục tùng cha mẹ,
rồi phục tùng chồng, rồi phục tùng cả con
trai ḿnh. ấy là chưa kể trong gia đ́nh c̣n phải
phục tùng cả chú bác, anh chị. Nếu là một
người con gái út trong gia đ́nh nghèo th́ địa
vị của một phụ nữ chẳng c̣n ǵ. Rồi
lại có cái chữ trinh cực kỳ đểu cáng.
Một người phụ nữ đă có quan hệ t́nh
dục với ai bị coi là mất thân, có t́ vết,
mất hết giá trị. Không phải chỉ có phụ
nữ b́nh thường mà ngay cả các công chúa cũng không
thoát khỏi sự khống chế tàn tệ của
chữ trinh. ở Việt nam có chuyện Chử
Đồng Tử. Anh chàng này nghèo khổ, không có nỗi cái
khố, một hôm một cô công chúa vô t́nh quay màn tắm ngay
chỗ anh ta trần truồng nằm chui dưới cát.
Đến khi dội nước th́ lộ ra anh ta. Cô công
chúa chỉ lỡ nh́n thấy anh ta trần truồng mà coi
như bị mất trinh, đành phải cưới anh ta
làm chồng cho phải đạo? Văn học Trung
Quốc cũng không thiếu những câu chuyện các cô gái
v́ vô t́nh đụng chạm phải một người
đàn ông mà phải coi như đă mất trinh, đành
phải lấy người đó làm chồng. Chữ trinh
là một sáng tạo dă man của đàn ông để nô
lệ hóa phụ nữ và coi phụ nữ như một
đồ chơi độc quyền của họ. Ngày nay
chúng ta đều đồng ư rằng quan niệm của
Khổng Giáo về người phụ nữ là rất
lạc hậu. Nhưng chúng ta đă thực sự vất
bỏ nó chưa? Tôi chưa chắc, quán tính của chúng ta
vẫn c̣n nặng lắm. Cái tâm lư chồng chúa vợ tôi
vẫn c̣n hiện diện rất mạnh, ngay trong cả
các gia đ́nh trí thức sinh sống tại các nước
tân tiến phương Tây. Người vợ dù là bác
sĩ, kỹ sư, giáo sư đại học vẫn là
nạn nhân của một sự phân công quái gở là lo
chuyện bếp núc, phục dịch trong gia đ́nh trong khi
đức ông chồng ung dung hưởng thụ.
Người chồng Việt nam là một trong những
người chồng thô bỉ nhất thế giới.
Tôi có lần nói chuyện với một học giả, giáo
sư đại học. Ông ta lo lắng v́ con gái đă
lớn và học chung với nhiều bạn trai. Mối lo
của ông ta là con gái sẽ giao du với bạn trai. Tôi nói
giao du là chuyện dĩ nhiên chẳng có ǵ đáng sợ, ông
ấy trả lời rằng trai gái bây giờ nó tự do
lắm, nó cứ bắt tay nhau một cách tự nhiên, có khi
c̣n hôn nhau khi gặp gỡ hoặc chia tay. Tôi hỏi th́
đă sao?. Và ông ta nỗi đóa: Nó hôn má, rồi có ngày nó
sẽ hôn môi, rồi nó sẽ làm t́nh!. Đối với ông
ta h́nh như nếu con gái ông ta có bồ và hôn môi một
chàng trai nào, nhất là lại làm t́nh th́ không khác ǵ trời
sập. Nhưng ngược lại, nếu đứa con
trai ông ta cũng làm những điều ấy th́ lại
rất b́nh thường. Đó là một trí thức uyên bác đă
sống tại Pháp gần 40 năm.
Chữ trung và chữ hiếu được định
nghĩa từ đời nhà Tống một cách rơ rệt
như thế này: Vua bảo phải chết mà không chịu
chết là bất trung, cha bảo phải chết mà không
chết là bất hiếu (quân xử thần tử,
thần bất tử bất trung, phụ xử tử
vong, tử bất vong bất hiếu). Trong Luận
Ngữ, Khổng Tử định nghĩa chữ hiếu
như sau: cha c̣n sống th́ phải theo ư cha, cha mất th́
theo việc cha làm, ba năm không được sửa
đổi những ǵ cha đặt ra (phụ tại quan
kỳ chí, phụ một quan kỳ hành, tam niên vô cải
ư phụ chi đạo), cha mẹ có lầm lỗi can
gián không được cũng không được làm trái
ư, đau ḷng cũng không được giận (sự
phụ mẫu cố gián, kiến chí bất ṭng, hữu
kính bất vi, lao nhi bất oán); cha mẹ c̣n sống th́
không được đi xa (phụ mẫu tại, bất
viễn du). Cũng cần lưu ư là chữ hiếu
của Khổng Giáo chủ yếu là hiếu với cha mà
thôi, người mẹ rất ít được đề
cập tới. Sự kính mến người mẹ ở
trong các xă hội thuộc văn hóa Trung Hoa có thể
được nh́n như là một phản ứng dân gian
trước sự tàn nhẫn của Khổng Giáo
đối với phụ nữ. Chữ hiếu của
Khổng Tử không những bệnh hoạn mà c̣n bất
lương. Khổng Tử bàn luận với Diệp Công
về sự ngay thẳng (trực cũng là một giá
trị của Khổng Giáo). Diệp Công nói rằng
người ngay thẳng nếu cha ḿnh đi ăn trộm
cũng phải tố giác, Khổng Tử phản đối
nói rằng đạo làm con th́ dù cha có đi ăn trộm
cũng phải bênh, như thế mới là trực. Đó
là những lời vàng ngọc của đức thánh
Khổng?
Về sau các nho sĩ cũng không làm cho trung và hiếu lành
mạnh hơn, trái lại chỉ thêm vào những
điều xằng bậy, thí dụ như, hiếu
được định nghĩa phải có con trai. Có ba
tội bất hiếu, tội nặng nhất là không có con
trai (bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại),
trung được định nghĩa chỉ
được thờ một chủ mà thôi.
Về chữ nhân, Khổng Tử định nghĩa
một cách rất lăng nhăng. Nhan Hồi hỏi ông
về nhân, Khổng Tử đáp đó là các đức tính
cung (kính cẩn), khoan (khoan dung), mẫn (thông minh), huệ
(may mắn). Như vậy th́ nhân không phải là một giá
trị riêng mà chỉ là tổng hợp năm giá trị
khác của Khổng Giáo. Việc coi mẫn và huệ là
những thành tố của nhân cũng đáng ngạc nhiên.
Khi Phần Tŕ hỏi th́ ông đáp nhân có nghĩa là yêu
người; đây là lần duy nhất mà Khổng Tử
định nghĩa khái niệm nhân một cách gần
đúng. Khi Trọng Cung hỏi th́ ông đáp nhân là ra
khỏi cửa phải như gặp thượng khách, sai
dân th́ phải uy nghi như tế lễ lớn, ḿnh không
muốn điều ǵ th́ đừng làm cho người khác
(xuất môn như kiến đại tân, sử dân như
thừa đại tế, kỷ sở bất dục
vật thi ư nhân); ở đây nhân chỉ giản dị
là sự đúng đắn. Trong Luận Ngữ, Khổng
Tử c̣n đưa ra một định nghĩa khác
về nhân: người trí th́ thích nước, người
nhân th́ thích núi, người trí th́ động c̣n
người nhân th́ tĩnh (trí giả nhạo thủy, nhân giả
nhạo sơn, trí giả động, nhân giả tĩnh).
Định nghĩa quái đản này tuy vậy cũng nói
lên nhân sinh quan của Khổng Tử, ông không có lư
tưởng giúp đời, nhân của ông là tĩnh,
nghĩa là bất động, chứ không phải xông pha
vào khó khăn để giúp người. Điều này phù hợp
với đạo lập thân mà ông đă dạy
người quân tử: nước nguy th́ không nên
đến, nước loạn th́ không nên ở, xă hội
lành mạnh th́ ra làm quan, xă hội không lành mạnh th́ rút
về ở ẩn. Như vậy chữ nhân của
Khổng Tử dứt khoát không phải là chữ nhân mà
chúng ta thường hiểu. Khổng Tử
được tôn thờ nên đời sau đă cố t́nh
đem cái ḷng tốt của ḿnh mà hiểu những
điều ông nói Khổng Tử đặc biệt
bối rối khi nói về nhân v́ cá nhân ông không có ḷng nhân
đạo, ông mạt sát thậm tệ những
người dân cùng khổ và chắc chắn là ông đă
từng chủ tŕ nhiều buổi lễ chôn sống
những người vô tội trong những đám tang
của những gia đ́nh quí tộc.
Nhân nói về chữ nhân cũng nên dừng lại giây lát
để bàn về một chủ nghĩa chính trị có
tên là nhân trị của Khổng Giáo. Đại đa
số những người bàn về nhân trị
thường cho đó là một chủ nghĩa nhân bản,
lấy sự quí trọng con người làm căn bản.
Điều này hoàn toàn sai. ư niệm nhân được
định nghĩa một cách mơ hồ như
đoạn trên không thể là nền tảng cho một
thể chế chính trị nào. Chữ nhân trong nhân trị
chỉ có nghĩa là cá nhân mà thôi, nhân trị v́ vậy có
nghĩa là để cho một người cai trị
một cách tùy tiện, đối ngược lại
với pháp trị có nghĩa là cai trị theo luật pháp.
Nhân trị chỉ giản dị là độc tài cá nhân
tuyệt đối; mà về bản chất th́ mọi
chế độ độc tài tuyệt đối
đều dă man vô nhân đạo cả nên thuyết nhân
trị cũng phải được xếp vào loại
chủ thuyết dă man. Phan Chu Trinh đă phân tích khá rơ ràng
về điểm này. Chữ Hán, nhất là khi đọc
theo lối Việt, có nhiều chữ cùng âm mà khác nghĩa
cho nên có những trường hợp ngộ nghĩnh là
người Việt hiểu sai hẳn. Tôi từng
được nghe rất nhiều người viện
dẫn câu quân tử hợp quan, tiểu nhân hợp
đảng để từ chối tham gia vào các tổ
chức chính trị. Đối với họ tổ
chức chính trị là đảng và như vậy những
người quân tử cao thượng như họ không
thèm gia nhập, đạo lư Khổng Mạnh đă dạy
như vậy. Thực là oan cho Không Mạnh quá. Chữ
đảng ở câu này không có nghĩa là đảng chính
trị mà có nghĩa là xóm làng. Quân tử hợp quan,
tiểu nhân hợp đảng có nghĩa là người có
danh phận (quân tử) th́ có thể kết hợp với
nhau (hợp quần) c̣n dân chúng (tiểu nhân) th́ chỉ
sống chung với nhau trong xóm, nghĩa là không giao du và
kết hợp rộng răi.
Chữ lễ, của Khổng Giáo cũng là một sự
hiểu lầm. Đọc Kinh Lễ và Luận Ngữ th́
rất rơ ràng là lễ chỉ là nghi thức và h́nh thức
mà thôi, thí dụ như tế trời th́ phải mặc áo
nào, gặp vua th́ qú như thế nào, lạy bao nhiêu
lạy, lúc tiếp chỉ của vua th́ phải có cũng
cách nào, gặp quan lớn phải có thái độ nào,
gặp quan nhỏ th́ ra sao, v.v... Khổng Tử khi
đưa khách vào gặp vua th́ giang tay cúi đầu
giới thiệu, rồi cung kính đứng đợi,
đến lúc khách quay ra th́ hô lên khách không quay lại
nữa. Đó là lễ của Khổng Giáo, nó không có
nghĩa là sự đối xử lịch sự, bặt
thiệp trong xă hội đối với mọi
người.
Về lễ chính Khổng Tử đă nói một câu kinh
khủng: lễ không kể đến bọn thứ dân
(lễ bất há thứ dân).
Về lễ phép, phải nối rằng người á
Đông rất vô lễ, nhất là những dân tộc
chịu ảnh hưởng Khổng Giáo. Người
phương Tây đi qua mặt một ai đều xin
lỗi, nhận của ai món đồ nào đều cám
ơn, gặp nhau chúc tụng nhau ngày vui, đi th́
nhường bước cho phụ nữ... Ngay cả
giữa các đối thủ với nhau, họ cũng
tỏ ra trang nhă. Wellington đánh bại Napoléon I, nhưng
khi Napoléon bị cầm tù và chết trên đảo Sainte
Hélène ông cũng tới đó nghiêng ḿnh kính cẩn.
Ngược lại, các tướng Trung Hoa ra trận th́
chửi nhau, bắt được địch th́
đối xử tàn tệ. Quan Vân Trường
được coi là bậc thánh, nhưng khi Lưu Bị
giới thiệu đứa con nuôi là Lưu Phong th́ hỏi
Lưu Bị ngay trước mặt Lưu Phong: Anh đă
có con rồi, nuôi giống con tổ ṿ này làm ǵ?; bắt
được tướng địch là Vu Cấm th́ nói:
Tao giết mày cũng như giết giống chó ngựa
thôi. Tập quán á Đông đối với kẻ trên,
kẻ thắng th́ khúm núm, đối với kẻ
dưới, kẻ bại th́ thô lỗ. Đó không phải
là lễ hiểu theo nghĩa đúng và đẹp của
nó.
Gần đây có phong trào kêu gọi tái lập phương
châm tiên học lề hậu học văn. Những
người chủ trương như vậy hoặc có
dụng ư thống trị hoặc không hiểu ư nghĩa
thực sự của tôn chỉ này. Tiên học lễ
hậu học văn chỉ có nghĩa là trước
hết học nghi thức và h́nh thức, học lạy,
học qú và cúi đầu, nói chung là cúng tế, rồi sau
đó mới học tới kiến thức. Tiên học
lễ hậu học văn chỉ có nghĩa là
trước học cúng rồi sau mới học chữ.
Cũng phải hiểu rằng, lễ và nhạc trong
Khổng Giáo là những dụng cụ thống trị,
mục đích của chúng là lấy nghi thức và âm thanh
để trấn áp tinh thần và khuất phục.
Nhiều độc giả tới đây sẽ phê phán tôi
là dựa vào kinh sách để lên án Khổng Giáo, trong khi
Khổng Giáo được thể hiện một cách khác
trong cuộc sống. Các vị có lư, luân lư Khổng Giáo trong
đời sống hang ngày không đến nỗi như
vậy.
Tại sao? Đó là v́ Khổng Giáo là một hệ thống
giá trị khe khất, máy móc và vô nhân đạo
được các vua chúa đem áp đặt vào cuộc
sống. Người dân đành phải chấp nhận và
v́ không thể chấp nhận nguyên vẹn nó, người
dân đă phản ứng lại bằng cách thay đổi
nội dung của nó để bớt đi phần nào
sự khe khắt. Do đó mà Khổng Giáo đă phần nào
được nhân bản hóa. Chữ trung th́ họ không đổi
được, nhưng chữ hiếu đă
được hiểu là sự quí trọng và săn sóc cha
mẹ. Lễ được hiểu là cách đối
xử đẹp đẽ giữa người và
người, nhân cũng mang màu sắc của t́nh
thương.
Nhà văn Bá Dương của Trung Quốc, trong một
loạt bài tạp văn được tập trung trong
một cuốn sách nhan đề Người Trung Quốc
Xấu Xí (Sửu lậu đích Trung Quốc nhân), gọi
văn hóa Khổng Giáo là một hũ tương
đặc sệt. Tôi thấy cách gọi này không đúng
hẳn. Tương chỉ làm bởi một chất chính
là đậu, ngâm vào muối để cho ră ra và phân hóa lâu
ngày mà thành. Khổng Giáo có đủ thứ, nào là kinh
sợ quỉ thần, tuyệt đối phục tùng nhà
vua, rồi lại đến cách ăn ở giữa
vợ chồng, cha con, thầy tṛ, cách học hỏi, tu
thân, v.v... Vật chất cũng có, tinh thần cũng có,
siêu h́nh cũng có, luân lư cũng có mà chính trị cũng có.
Nói chung là đủ thứ được pha trộn
lộn xộn lâu ngày với nhau, thâm nhập vào nhau và
biến chất lẫn nhau. Phải coi đó là một
hũ mắm thập cẩm, thịt có, cá có, tôm có, mà rau
cũng có. Mỗi người nếm nói một cách riêng,
người th́ bảo là thịt, người th́ nói là cá,
người lại nói là tôm. Ai cũng đúng cả mà
cũng chẳng ai đúng cả. Cho nên có người nói
Nho Giáo là hệ thống chính trị, có người nói
đó là một triết lư và cũng có người coi nó là
đạo lư. Điều quan trọng đối với
chúng ta là những tập tính mà Khổng Giáo đă tạo ra
trong nếp sống dân gian.
Trước hết là óc thủ cựu. Tôn chỉ thuật
nhi bất tác, chỉ lập lại mà không sáng tạo,
đă được các vua chúa áp đặt như một
mệnh lệnh tuyệt đối. Với thời gian nó
thành một đạo lư và làm tê liệt cả trí năo các dân
tộc theo văn hóa Trung Hoa, nhất là Trung Quốc và
Việt nam. Chúng ta không những không t́m cái mới mà c̣n thù
ghét cái mới.
Thứ hai là óc bất dung, độc quyền lẽ
phải. Các vua chúa áp đặt địa vị
độc tôn của Khổng Giáo, rồi dùng bọn nô nho
mạt sát mọi tư tưởng khác biệt nhân danh
chính nghĩa vệ đạo. Dần dần chúng ta bỏ
mất cả khả năng đối thoại. Chúng ta
không thể thảo luận với nhau một cách b́nh
tĩnh và tương kính, hễ khác ư kiến là phải
dùng những lời lẽ hận thù, hằn học, là
thấy cần phải tiêu diệt nhau. Chúng ta coi tranh
luận có nghĩa là hạ bệ người trước
mặt, làm cho hắn mất uy tín và bị lên án nếu
được. Tôi có thể làm chứng về tinh thần
vệ đạo, này bằng kinh nghiệm cá nhân. Tôi có
viết một số bài báo tŕnh bày một số ư kiến
cá nhân và đă nhận được một loạt bài
phản bác. Có những bài rất cay nghiệt, nhưng các
tác giả không phản bác được ǵ cả v́ họ
chỉ tập trung cố gắng để khiến
độc giả ghét tôi thay v́ tranh luận ư kiến!
Thứ ba là sự sùng bái người xưa một cách
bệnh hoạn, hậu quả tổng hợp của
sự sùng bái quỉ thần và chữ hiếu
được đẩy quá xa. Yêu quí người xưa
là một t́nh cảm tốt v́ đó là cội nguồn
của ta. Tổ tiên đă khổ sở và vất vả
để lại cho chúng ta một di sản, di sản
đó dù nhiều hay ít chúng ta cũng là người thừa
kế và thụ hưởng. Nếu không có di sản đó
th́ ngày nay chúng ta vẫn c̣n ăn lông ở lỗ. Nhưng
cái bệnh hoạn là ở chỗ ta tin người xưa
là đúng và lấy họ làm mẫu mực. Chúng ta không dám
tin rằng thế giới càng ngày càng tiến, chúng ta
hiểu biết nhiều và thông minh hơn cha ông, cũng
như con cháu chúng ta sẽ thông minh và hiểu biết
hơn chúng ta.
Thứ tư là lô-gích bạo lực. Nhiều người
sẽ phản đối và viện dần vô số câu nói
rất ḥa b́nh và khoan dung. Nhưng quả thực phải
nói nền tảng của xă hội Khổng Giáo là bạo
lực. Vua không bao giờ có lỗi th́ làm sao mà thay thế
những hôn quân, bạo chúa? Đạo lư Khổng Mạnh
không cho phép chống lại vua, cho nên chỉ có nhưng
kẻ bất chấp đạo lư nổi loạn giết
vua mới thay đổi được t́nh thế. Kẻ
ấy nếu thua th́ bị coi là giặc, là phản, là vô
đạo, nhưng nếu may mắn thắng
được th́ các nho sĩ sẽ qú xuống thần
phục và giải thích là mệnh trời đă đổi.
Mọi thay đổi chính quyền đều phải
diễn ra qua bạo lực và đổ vỡ chứ không
thể diễn ra một cách ḥa b́nh. Đảng cộng
sản Việt nam khi chủ trương chống diễn
biến ḥa b́nh đă chỉ lập lại một tâm lư
bạo lực đă sẵn có trong văn hóa Khổng Giáo.
Dĩ nhiên thương tật nặng nề nhất trong
tâm lư Trung Quốc và Việt nam vẫn là tâm lư tôi đ̣i, nhẫn
nhục trước độc tài chuyên chế. Như
đă nói, chúng ta thừa hưởng tâm lư đó từ
nền văn hóa phù sa. Khổng Tử chịu ảnh
hưởng nặng nề của tâm lư đó, đưa nó
lên hàng một đạo lư. Đến lượt
Khổng Tử cũng được tôn lên hàng thánh nhân và
một mẫu mực. Mấy chục thế kỷ chuyên
chế của quân quyền về mặt chính trị và
của Khổng Giáo về mặt tư tưởng đă
biến tâm lư chấp nhận bạo quyền thành một bản
năng; ta có thể là nạn nhân của một chế
độ chuyên chính và chống lại chuyên chính ấy,
nhưng nếu thành công ta sẽ áp đặt một
thứ chuyên chính khác. Ta chưa dứt khoát được
tư tưởng bởi v́, do di sản Khổng Giáo, ta
vẫn c̣n mang mầm độc tài chuyên chính ngay trong ḷng
ḿnh.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Việt Nho
Tôi
không dùng hai chữ Việt Nho cùng một nghĩa với
linh mục Kim Định. Theo linh mục Kim Định th́
đạo Nho nguyên là đạo của người
Việt, người Trung Quốc chỉ đă học
được của người Việt do đó coi
đạo Nho là đạo của người Trung
Quốc là một sai lầm. Có nhiều lư do khiến tôi
không chia sẻ quan điểm đó. ở đây tôi dùng
chữ Việt Nho để chỉ Khổng Giáo tại
Việt nam, nghĩa là Khổng Giáo du nhập từ bên Trung
Quốc sang, được tiếp thu và thể hiện
tại Việt nam. Những ai đă bối rối khi
đặt vấn đề Nho nào, Hán Nho, Đường
Nho, Tống Nho, Minh Nho hay Thanh Nho sẽ c̣n phải bối
rối nữa v́ c̣n có thêm Việt Nho, cũng khác các thứ
Nho kia. Khác với Khổng Giáo Trung Quốc, Khổng Giáo
Việt nam không xuất hiện một cách tự nhiên và
dần dần chín muồi với thời gian. Nó đă
được hệ thống cai trị đem đến
và áp đặt như một dụng cụ cai trị.
Triệu Đà chiếm được nước Âu Lạc
của Thục An Dương Vương, sát nhập vào
với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây mà lập
ra nước Nam Việt vào cuối đời nhà Tàn,
đầu đời nhà Hán và đem Khổng Giáo, tức
là hệ thống cai trị của hai tỉnh Quảng
Đông và Quảng Tây, vào Việt nam. Sau khi nhà Triệu
bị diệt th́ Việt nam trở thành một phần
đất chiếm đóng của Trung Quốc. Không hề
thấy sử sách ghi lại một cố gắng khai
mở nào về mặt văn hóa. Như thế phải
hiểu rằng Khổng Giáo trong những thế kỷ
đầu sau khi được du nhập vào Việt nam
chỉ thuần túy là văn hóa của kẻ chiếm
đóng và cùng lắm là của một số những
người có danh phận hợp tác với chính quyền
mà thôi. Phải măi tới thời Tam Quốc, thế kỷ
thứ 3 sau Tây lịch mới có Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp
mở mang việc học. Trước đó, thời
Đông Hán, sách sử có ghi ba người là Lư Tiến, Lư
Cầm và Trương Trọng đậu khoa hiếu liêm,
nhưng rất có thể là họ đậu từ bên Tàu
rồi được cử sang làm quan hoặc chính họ
là con quan cai trị người Tàu. Nói chung, dân bản
xứ không được huấn luỵện Khổng
Giáo.
Như vậy phải nhận diện hai yếu tố:
Một là trong bốn thế kỷ đầu của
Bắc thuộc người Trung Hoa không có ư định
giáo dục để đồng hóa người Việt
thành người Trung Hoa, họ sang Việt nam để
thống trị và khai thác mà thôi, và Khổng Giáo chỉ
thể hiện qua bộ máy thống trị. Hai là khi
Khổng Giáo bắt đầu được phổ
biến tại Việt nam th́ cái hào quang của mùa xuân
tư tưởng Xuân Thu Chiến Quốc đă qua rồi.
Khổng Giáo đă thành Hán Nho, tức là thứ Nho Giáo đă
xuống cấp, đă bị tước bỏ hết
mọi tinh hoa của các Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi...
Để chỉ c̣n là một thứ Nho Giáo thui chột.
Cả hai yếu tố đều quan trọng khi nhận
định về Nho Giáo ở Việt nam.
Chính sách ngu dân của người Trung Quốc rất rơ
rệt. Trong hơn một ngàn năm đô hộ không có
dấu tích lăng miếu nào của Khổng Giáo cả.
Măi tới đời nhà Lư khi nước ta đă
độc lập, các vua Việt nam mới bắt
đầu xây Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử
và 72 môn đệ của Khổng Tử. Nho học mới
bắt đầu thực sự phát triển từ đó
đến khi nhà Minh diệt được nhà Hồ, vua
Minh Thành Tổ ra lệnh cho các quan cai trị phải
tịch thu và tiêu hủy tất cả những cuốn sách
bằng chữ Nho của người Việt nam. ít lâu sau
h́nh như thấy lệnh này không được thi hành
triệt để, Minh Thành Tổ lại xuống chỉ
nhắc lại một lần nữa. Nhà Minh tịch thu
sách chữ Nho mà không tịch thu sách chữ Nôm v́ họ
nghĩ rằng Nho Giáo là tinh hoa của họ, họ sợ
người Việt học chữ Nho sẽ trở nên hùng
mạnh và thành mối nguy cho họ. Sử nước ta
hay có thói quen cho rằng người Trung Quốc cố
gắng đồng hóa để sát nhập Việt nam,
nhưng xét theo những việc họ làm th́ chỉ
thấy họ muốn thống trị Việt nam
để vơ vét mà thôi chứ không muốn người
Việt nam trở thành giống như người Tàu.
Sự bành trướng của Trung Quốc có chỗ
nghịch lư là chính người Trung Quốc h́nh như không
muốn bành trướng, họ xây Vạn Lư Trường
Thành để ngăn chặn các sắc dân phía Bắc.
Những mở mang đất đai quan trọng của
Trung Quốc như sát nhập nước Kim, Mông Cỗ và
Măn Châu đều do chính những sắc dân này chinh phục
được và sát phạt Trung Quốc rồi v́ dân
số ít mà bị đồng hóa. Có lẽ nước ta c̣n
đến ngày nay là v́ chúng ta chưa hề thắng và
thống trị Trung Quốc.
Tóm lại, Nho Giáo Việt nam là thứ Nho Giáo cấp
thấp được người Việt nam tiếp thu
một cách muộn màng và sùng bái mà không có đóng góp nào.
Cố gắng Hán hóa Việt nam quan trọng nhất đă
diễn ra dưới hai triều đại Lư, Trần
rồi tiếp tục dưới mọi triều
đại kế tiếp. Trí thức Việt nam
thường hay lên án âm mưu đồng hóa của Trung
Quốc, nhưng nếu họ b́nh tĩnh mà nh́n vào lịch
sử nước ta họ sẽ thấy cố gắng
đồng hóa trước hết đến từ các vua
chúa Việt nam. Cũng may là cố gắng này không thành công,
những người Việt nam cũng chịu ảnh
hưởng nặng nề của Khổng Giáo dưới
dạng sơ đẳng và cằn cỗi nhất. Chính v́
vậy mà văn hóa của Việt nam thấp kém và bất
dung hơn Trung Quốc.
Nho Giáo đă chỉ phát triển sau một thời gian
rất dài trong đó Phạt Giáo được tự do
bành trướng. Nhờ ảnh hưởng của
Phật Giáo mà mới đầu Nho Giáo dưới thời
Lư có phần nhân bản hơn Trung Quốc. Chỉ từ
thời Hậu Lê trở đi khi Phật Giáo đă suy
vị, Việt nam mới theo hẳn một hệ
thống chính trị Nho Giáo khác nghiệt.
Một số tác giả hay nói tới một đặc
tính của văn hóa Việt nam là tam giáo đồng nguyên,
ư nói sự sống chung hài ḥa giữa Phật Giáo, Nho Giáo và
Lăo Giáo. Nhưng tam giáo đồng nguyên là một cụm
từ của Trung Quốc rất vô nghĩa và cũng
rất sai trong bối cảnh Việt nam. Phật Giáo
đă phát triển trước Nho Giáo rất lâu, Nho Giáo phát
triển được không bao lâu th́ quay ra hạ bệ
Phật Giáo ngay, không làm ǵ có sự chung sống hài ḥa. C̣n
ảnh hưởng của đạo Lăo tại Việt nam
th́ không đáng kể, người Việt h́nh như không
hiểu ǵ về triết lư Lăo Tử, chỉ tiếp thu
một vài yếu tố hời hợt và mau chóng hội
nhập chúng vào những mê tín đồng bóng.
Một yếu tố quan trọng khác của văn hóa
Việt nam là đặc tính văn hóa phù sa rất mănh
liệt. Huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ
để ra trăm con, một nửa theo mẹ lên núi,
một nửa theo cha xuống biển là ở thời Xuân
Thu Chiến Quốc. Tại sao lại xuống biển? Có
lẽ phải hiểu là xuống vùng đồng bằng
sông Hồng, lúc đó c̣n ngập nước sông vào mùa
lũ, như vậy là lúc đó con đê sông Hồng
chưa có và mới chỉ được đắp lên sau
đó. Đê sông Hồng chỉ bắt đầu đáp
lên sớm nhất là dưới thời nhà Triệu và
được các quan cai trị người Tàu đốc
thúc xây dựng tiếp. Hiện tượng này có tầm
quan trọng đặc biệt. Người Trung Quốc
đă phải mất ba bốn ngàn năm để ồn
định việc đê điều trên hai con sông Hoàng Hà
và Dương Tử. Chúng ta có lẽ là nền văn minh
phù sa muộn nhất. Tổ tiên ta vốn đă ít
người mà lại phải thực hiện trong
khoảng thời gian một ngàn năm công việc mà các dân
tộc khác đă thực hiện trong ba, bốn ngàn năm,
sự tàn bạo mà họ phải chịu đựng
đă gấp ba bốn lần. Mọi xă hội phù sa
đều chật vật và hệ lụy nặng nề
với nước và đất, nhưng tổ tiên ta
chắc chắn đă khổ cực với nước và
đất hơn nhiều, họ đă phải trả
những giá vô cùng đắt cho việc h́nh thành
đồng bằng sông Hồng, đến nỗi
nước và đất là tất cả đối
với họ.
Quốc gia nào thành lập trên lưu vực của
những con sông lớn cũng đều mang nặng
dấu ấn của nền văn minh phù sa: cần cù,
nhẫn nại, nhưng thủ cựu, thiếu sáng kiến
và thiếu óc mạo hiểm. Chúng ta c̣n mang nặng
đặc tính văn minh phù sa hơn những xă hội
khác, những ưu và khuyết điểm đó c̣n
hiện diện mạnh mẽ hơn trong tâm lư và văn hóa
của chúng ta.
Một nét đậm khác là chúng ta là một dân tộ
bị nô lệ quá lâu. Chúng ta nô lệ người Trung
Quốc hơn mười thế kỷ. Các chế
độ độc lập sau đó cũng đă rập
khuôn theo guồng máy thống trị của người Trung
Quốc. Việt nam tuy có độc lập nhưng thân
phận của người trong nước không thay
đổi là bao. Niềm an ủi duy nhất, và không
phải không có tầm quan trọng, là được
thấy các vua quan cũng giống ḿnh và nói cùng ngôn ngữ
với ḿnh. Một cách trớ trêu có lẽ thời Pháp
thuộc lại là thời dân ta được tự do suy
nghĩ và phát biểu nhất, ngoại trừ một
khoảng thời gian ngắn ngủi tại miền Nam
Việt nam. Lịch sử chật vật đó đă
để lại những dấu ấn rất đậm
trong văn hóa, trong cách suy nghĩ và hành động của
chúng ta. Bản chất nô lệ vẫn chưa rời
hẳn chúng ta. Nói ra như vậy có thể làm phiền ḷng
một số độc giả, chính tôi cũng rất
phiền ḷng, nhưng di sản của ta thế nào th́ ta
phải nhận thế ấy. Ta cần biết ḿnh là ai
để biết ḿnh có thể làm ǵ và phải làm ǵ.
Vả lại ta không nên quan niệm đất nước
chỉ là lịch sử và địa lư. Đất
nước trước hết là một dự án
tương lai chung. Nếu từ những di sản không
mấy thuận lợi này mà ta xây dựng được
đất nước đáng tự hào th́ cuộc sống
của chúng ta lại càng có ư nghĩa.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Mặt thật của ai?
Ông
Bùi Tín sinh ra trong một gia đ́nh Nho Giáo truyền
thống. Thân sinh ông là Bùi Bằng Đoàn, làm thượng
thư (bộ trưởng) trong triều đ́nh Huế.
Cách mạng tháng 8 bùng ra lúc cậu Bùi Đường
ấm, sau này đổi tên là Bùi Tín, mới vừa 19
tuổi. Ông Bùi Bằng Đoàn, nổi tiếng thanh liêm và
học giỏi, trở thành chủ tịch quốc hội
đầu tiên của chế độ Việt nam Dân
Chủ Cộng Ḥa, một chức vụ hữu danh vô
thực. Ông Bùi Bằng Đoàn chỉ ở đó
để đem lại cho chính phủ Hồ Chí Minh
một bộ mặt tri thức và đoàn kết dân
tộc. Ông Bùi Bằng Đoàn tham gia chính quyền Việt
Minh v́ sợ hơn là v́ nhiệt t́nh. Ông Phạm Quỳnh,
thủ tướng Nam Triều, đă bị giết,
như nhiều quan chức triều đ́nh Huế khác.
Nhưng nếu ông Bùi Bằng Đoàn chỉ theo Việt
Minh v́ sợ th́ cậu ấm Bùi Tín lại theo v́ lư tưởng.
Cậu hăng say theo cách mạng mùa thu, đi bộ
đội, tham dự nhiều trận đánh, từng
bị thương và sau cùng được sử dụng
ngay trong sở trưởng của cậu, nghề
viết báo. Bùi Tín trở thành đại tá phó tổng biên
tập tờ Nhân Dân, cơ quan trung ương của
đảng cộng sản Việt nam. Chức vụ này
rất lớn, bởi v́ tuyên truyền là công tác trọng
yếu hàng đầu của chính quyền cộng sản.
Tờ Nhân Dân quan trọng hơn nhiều so với một
bộ, nó được tổ chức như một chính
phủ trong một chính phủ, với tất cả các ban
tương ứng với các bộ: ban quốc pḥng, ban
quốc tế, ban nông nghiệp, ban công nghiệp, ban văn
hóa, xă hội, v. v... Vị thế của Bùi Tín cao hơn
một thứ trưởng, vai tṛ của ông đặc
biệt quan trọng. Bùi Tín là thành viên của phái đoàn
cộng sản trong hội nghị bốn bên tại Tân
Sơn Nhất. Do một sự t́nh cờ Bùi Tín cũng là
người đại diện cho phe cộng sản
nhận sự đầu hàng của tướng
Dương Văn Minh sáng ngày 30-4- 1975.
Nhưng năm 1990, trong một chuyến công du sang Pháp Bùi
Tín lấy quyết định xin tị nạn chính
trị. Từ đó Bùi Tín đă viết rất nhiều bài
báo, trả lời nhiều cuộc phỏng vấn, tố
giác chế độ cộng sản và vận động
cho dân chủ đa nguyên. Bùi Tín cũng viết một
số sách thuật lại những ǵ mà ông đă thấy
trong một cương vị đặc biệt thuận
lợi để quan sát chế độ cộng sản
từ bên trong.
Trong cuốn Mặt Thật, cuốn sách gây sôi nổi
nhất của ông, Bùi Tín mô tả chiến dịch cải
cách ruộng đất được chính phủ Hồ
Chí Minh phát động năm 1955, trong đó hàng ngàn, hàng
vạn người bị giết oan.
Bùi Tín kể:
Các cố vấn Trung Quốc ngồi ưỡn bụng
ra, để chân lên bàn uống rượu Mao Dài, vừa
nhổ nước bọt ồn ào, vừa dạy dỗ
các học tṛ dễ bảo Trường Chinh (tổng bí
thư đảng cộng sản), Hoàng Quốc Việt
(ủy viên bộ chính trị, sau đó là chủ tịch
Mặt Trận Tổ Quốc), v v. Về cải cách
điền địa. Họ ra lệnh giết bà
Nguyễn Thị Năm, người đă từng ủng
hộ Việt Minh từ năm 1937, đă từng che
chở và nuôi dưỡng chính các ông Trường Chinh, Hoàng
Quốc Việt và có con đang làm chính ủy trung đoàn.
Ông Hồ Chí Minh được tin la lên là không thể
giết một phụ nữ, một ân nhân cách mạng,
một người mẹ của một anh hùng quân
đội. Nhưng các cố vấn Trung Quốc bảo là
đă quá trễ, mọi việc đă chuẩn bị xong.
Ông Hồ Chí Minh im mồm, và bà Năm bị bắn.
Phong cách của ông Ho Chí Minh là thế. C̣n các ông
Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt th́ không biết
phải gọi là hạng người ǵ. Ông Phạm Văn
Đồng thấy các bộ trưởng, thứ
trưởng của ḿnh bị vu oan, bị thanh trừng,
bị bỏ tù, không dám lên tiếng bênh vực Sau khi nghỉ
hưu dù đă ngoài tám mươi tuổi, ông c̣n cố bám
lấy hư vị cố vấn để giữ lợi
lộc. Ông Lê Đức Thọ là một con người nham
hiểm, dùng đủ mọi thủ đoạn nhơ
bẩn và độc ác để triệt hạ các
đồng chí cũ của ông. Ông Lê Duẩn là một
thứ ếch ngồi đáy giếng, vừa thiển
cận, vừa lỗ măng, vừa tự cao tự
đại.
Các ông tướng Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Lê Đức
Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, v.v... đều thiếu
văn hóa, nông cạn và cực đoan Riêng ông Nguyễn Chí
Thanh th́ c̣n hèn nhát, lúc bị mật thám Pháp bắt đă khai
nhiều bí mật gây thiệt hại nặng cho
đảng rồi đổ tội cho người
đồng chí cùng bị bắt với ḿnh là Đặng
Xuân Thiều làm ông này bị trù dập hơn ba mươi
năm cho đến lúc về hưu.
C̣n ông Đỗ Mười? ông là thợ sửa khóa,
nhận thức chính trị sơ sài và lại mắc
bệnh tâm thần, ban đêm leo lên cây bàng ngồi ngất
ngư.
Ng̣i bút Bùi Tín mô tả các lănh tụ cộng sản một
cách tàn nhẫn. Tàn nhẫn v́ Bùi Tín chỉ kể lại mà
không phê phán. Tay nghề bốn mươi năm cầm bút
của Bùi Tín là ở chỗ đó. Mặt Thật là
một cuốn sách hay, một tài liệu lịch sử
thành công về diễn đạt và có giá trị văn
học. Một cuốn sách cằn đọc. Tôn Thất
Thiện trong một lá thư cho tôi nói rằng đọc
xong ông phải kinh phục (kinh không có dấu sắc) tác
giả.
Nhưng nếu như vậy th́ phải đặt ra
một số câu hỏi. Tại sao những con
người như vậy lại có thể khuất
phục được cả một dân tộc? Tại sao
hàng ngàn, hàng vạn trí thức lỗi lạc đă phục
tùng họ một cách ngoan ngoăn, và c̣n hết lời tâng
bốc họ, làm biết bao nhiêu người khác
tưởng họ là những thần tượng và
chạy theo họ? Chính Bùi Tín, tác giả cuốn Mặt
Thật, trong bao nhiêu năm làm đại tá - nhà văn - nhà
báo cũng đă tô son điểm phấn một cách
đắc lực cho cái chế độ mà ngày nay ông
muốn lột trần bộ mặt thật. Không lẽ
trong cả mấy chục năm trường những trí
thức xuất sắc như thế lại không nhận
ra thực chất tồi tệ của những
người lănh đạo cộng sản? Tại sao
họ đă tự lừa dối lương tâm ḿnh và
đóng góp lường gạt cả một dân tộc?
Người trí thức cộng sản không thể trả
lời được những câu hỏi gay gắt đó,
nhưng họ có thể hỏi ngược lại
những người chất vấn họ những câu
hỏi không kém nhức nhối. Bởi v́ đa số - dù
không phải là tất cả những trí thức không
cộng sản cũng đă phục tùng những công
cụ chẳng ra ǵ của ngoại bang. Những trí
thức quốc gia cũng đă đem hết tâm huyết
hô hào biết bao nhiêu thanh niên bỏ ḿnh cho một lư
tưởng dân chủ không hề làm bận tâm ông Diệm,
ông Nhu, hay cho một chính nghĩa quốc gia không hề có
trong đầu óc các ông Big Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn
Văn Thiệu. Nhiều trí thức khác đă tự
đặt ḿnh ra ngoài lề lịch sử, tự cắt
bỏ khỏi số phận đất nước,
đào nhiệm và cầu an.
Cuối cùng đất nước như ngày hôm nay, sau
tất cả những ǵ đă xảy ra. Vai tṛ của
người trí thức Việt nam - cộng sản và không
cộng sản - thật là bẽ bàng. Công b́nh mà nói cũng
có những trí thức Việt nam không làm tay sai cho một bè
lũ hay một chế độ gian trá nào mà vẫn
phấn đấu, vẫn cố hiện diện trong
cuộc vận hành của lịch sử. Nhưng họ
đă thất bại. Trí thức Việt nam đă thất
bại hoàn toàn. Đỗ lỗi cho nhau, luận tội
nhau chỉ là để xem ai tồi hơn ai, có ích lợi
ǵ? Hơn nữa, lên án và kết tội nhau c̣n sai v́ nói chung
trí thức Việt nam lương thiện, yêu nước
và cũng đă hy sinh nhiều. Có một cái ǵ đó
vượt khỏi lô-gích b́nh thường mà ta cần
nhận diện để đừng buộc tội
lẫn nhau một cách bất công và vô ích. Có lẽ chúng ta
phải t́m giải thích cho sự phá sản này trong lư
lịch và trong gia phả của người trí thức
Việt nam chúng ta.
Trí thức Việt nam ngày nay là hậu thân của giai
cấp sĩ phu ngày trước. Mối liên hệ
phụ-tử vẫn c̣n rất thắm thiết. Kẻ
sĩ vẫn c̣n là mẫu mực của rất nhiều
trí thức Việt nam. Ngày nay người ta vẫn c̣n
tự hào là có tư cách của kẻ sĩ, người ta
vẫn c̣n khen nhau là có thái độ của kẻ sĩ.
Nhưng kẻ sĩ là ǵ nếu không phải là một
mẫu người tồi hèn, vong thân?
Chúng ta vẫn c̣n là kẻ sĩ, và v́ thế vẫn c̣n mang
cái tật nguyền này của kẻ sĩ. Vấn
đề là như thế. Người ta có thể hấp
thụ mau chóng những kiến thức và những kỹ
thuật mới, nhưng từ bỏ một tập quán và
một tâm tính đă được nhào nặn qua nhiều
thế hệ, đă ăn rễ vào con người và
đă biến thành một bản năng, là một
điều khó gấp nhiều lần. Hăy thử lấy
một thí dụ về trọng lượng của
tập quán.
- Tại sao người Nhật lại lái xe bên tay trái?
Họ có bị người Anh đô hộ bao giờ
đâu? Lư do chỉ giản dị là các hiệp sĩ
Nhật quen đi bên trái các hành lang để có thể nhanh
chóng rút gươm bằng tay mặt!
Nho Giáo không tạo ra kẻ sĩ để làm một con
người tự do, dễ chịu trách nhiệm
trước xă hội và để lănh đạo xă hội
mà chỉ tạo ra kẻ sĩ để làm dụng
cụ cho một guồng máy và làm thủ hạ cho các vua
chúa. Trong suốt ḍng lịch sử, kẻ sĩ Trung Hoa và
Việt nam đều chỉ biết sống với
số phận tôi tớ. Sĩ là một nghề, nghề
đi học và nghề làm quan. Trước sau là nghề
qú. Qú trước mặt thày để học với
ước vọng thành đạt để
được qú trước các vua chúa. Nếu qú là thái
độ của kẻ sĩ th́ chờ đợi là
triết lư của kẻ sĩ. Thời gian trưởng
thành của kẻ si được gọi là thời
chưa gặp (lúc vị ngộ hối tàng nói bong tất),
gặp một chủ để thờ. Kẻ sĩ không
khởi xướng ra một sự nghiệp nào mà chỉ
chờ đợi để được làm bày tôi cho
một minh chủ nên hậu quả tất nhiên là kẻ
sĩ phải chấp nhận luật chơi sẵn có
của kẻ đă làm nên sự nghiệp, đem trí
tuệ của ḿnh minh họa cho ư của chủ. Và
luật chơi của chủ rất khắc nghiệt. Các
vua chúa muốn dùng họ th́ dùng, muốn cách chức
đuổi đi, muốn căng nọc ra đánh,
muốn thiến họ như thiến heo thiến gà,
muốn giết họ th́ giết, muốn giết cả
nhà họ cũng được, kẻ sĩ cam chịu
hết. Thân phận kẻ sĩ chẳng có ǵ vinh, đó
chỉ là thân phận của một tôi tớ, một
dụng cụ thuộc quyền sử dụng và vứt
bỏ tuỳ tiện của các vua chúa. Cái bản chất
dụng cụ và tôi tớ ấy ngay cả những kẻ
sĩ lỗi lạc nhất cũng không trút bỏ
được. Điều kinh ngạc là trong hàng chục
thế kỷ kẻ sĩ đă có thể chấp nhận
một khuôn mẫu đầy đọa và hạ nhục
ḿnh như thế, để rồi cuối cùng sự
phục tùng vô điều kiện trở thành một
bản năng và một giá trị. Khổng Minh tài ba
như thế mà gặp thời nhiễu nhương
cũng chỉ biết ngồi trong lều cỏ
để chờ một minh chúa.
Nguyễn Trăi là một kẻ sĩ siêu việt cả
về văn lẫn vơ, lại có cả chí khí hơn
người, Lê Lợi là một phú nông cục mịch.
Tại sao lại Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần?
Tấn thảm kịch c̣n lớn hơn ở chỗ Lê
Lợi không có đủ trí tuệ để viết ra câu
đó, chính Nguyễn Trăi đă sáng tác ra câu đó.
Cao Bá Quát là một kẻ sĩ ưu việt và ngang
ngược, dám nổi loạn chống lại nhà
Nguyễn. Nhưng Cao Bá Quát không lănh dạo cuộc nổi
dậy mà chỉ pḥ Lê Duy Cự. Giả thử cuộc
nổi dậy thành công th́ cũng chỉ để
đưa đến kết quả Lê Duy Cự vi quân, Cao
Bá Quát vi thần . Ngay cả khi kẻ sĩ chống
lại một ông chủ th́ cũng chỉ để hy
vọng được pḥ một ông chủ khác, họ
không sinh ra để làm chủ. Cao Bá Quát thất bại, bị
chặt đầu và tru di tam tộc. Nguyễn Trăi thành
công, để cũng chỉ được cái vinh dự
qú gối trước Lê Lợi, rồi cũng bị
chặt đầu và tru di tam tộc.
Trong lịch sử Trung Hoa, những kẻ làm nên nghiệp
đế vương, dù là Lưu Bang, Hạng Vơ, Lư Thế
Dân, Triệu Khuông Dận, Thành Cát Tư Hăn, Chu Nguyễn
Chương đều không phải là kẻ sĩ. Họ
là hào phú, là các tay anh chị, hay vốn thuộc ḍng dơi bá
vương. (Tào Tháo là một ngoại lệ, nhưng Tào
Tháo bị kẻ sĩ chối bỏ và lên án là gian
thần).
Trong lịch sử Việt nam, những kẻ giành
được ngôi vua, dù là Lư Công Uẩn, Trần Thủ
Độ, Lê Lợi, Mạc Đăng Dung, Trịnh
Kiểm, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn
Huệ, Nguyễn ánh đều là quí tộc, vơ
tướng hay các tay anh chị chứ không phải là
kẻ sĩ. (Hồ Quí Ly là một ngoại lệ,
nhưng Hồ Quí Ly hành động như vậy v́ tự
coi ḿnh là người Hoa hơn là người Việt nên
coi thường nề nếp Việt nam; chiếm
được ngôi vua, Hồ Quí Ly đă lập tức
đổi tên nước là Đại Ngu theo tên cố
quốc của ḿnh).
Một thực tế thê thảm như vậy chứng
tỏ khuôn mẫu Khổng Nho đă tha hóa kẻ sĩ
tới mức nào. Một thực tế bi thảm khác là
tất cả những tiến bộ về tư
tưởng của Trung Hoa đă chỉ có trước khi
Khổng Giáo được đưa lên hàng một
quốc giáo. Hơn hai ngàn năm ngự trị của khuôn
mẫu Khổng Giáo đă làm tê liệt hẳn óc sáng
tạo. Các hậu quả vẫn c̣n thấy
được: nhiều nước châu á, nhờ không
chịu ảnh hưởng Khổng Giáo một cách quá
nặng nề, ngày nay đă rất phát triển, những
người châu á vẫn hầu như vắng mặt trong
các giải Nobel, họ vẫn thua xa người
phương Tây về óc sáng tạo trong mọi địa
hạt.
Trong xă hội Khổng Nho, kẻ sĩ không hội nhập
vào xă hội. Lúc hàn vi kẻ sĩ sống qua ngày,
đợi cơ hội làm quan. Lúc được làm quan
kẻ sĩ trở thành nhưng tay sai không điều
kiện cho các vua chúa để thống trị quần
chúng. Kẻ sĩ được vua chúa xếp hàng
đầu trên nông, công, thương, nhưng thực ra
kẻ sĩ bị loại khỏi xă hội. Một
điều rất đáng chú ư là trong xă hội ta ngày
xưa kẻ sĩ hoàn toàn vắng mặt trong các chức
quyền địa phương xuất phát từ dân gian
như chánh tổng và lư trưởng, những chức
vụ đă có thể là những bàn đạp để
tiến lên quyền lực quốc gia. Kẻ sĩ không có
hậu thuẫn quần chúng v́ sống ngoài lề xă
hội. Kẻ sĩ cũng không có tài sản v́ không
biết và cũng không muốn kinh doanh buôn bán, không những
thế kẻ sĩ c̣n được giáo dục và
nhồi nặn để khinh thường và thù ghét
hoạt động kinh doanh, buôn bán. Phi thương bất
phú, kẻ sĩ không có độc lập về kinh tế
cho nên cũng không có thể có tự chủ về chính
trị. Tại sao lại Nguyễn Trăi vi thần? Bởi
v́ không muốn vi hành cũng không được. Nguyễn
Trăi không có thủ túc và cũng không có tài sản để
phất cờ khởi nghĩa. Kẻ sĩ trong khuôn
mẫu Khổng Nho là mẫu người lệ thuộc
vào vua chúa và cuối cùng chịu ơn vua chúa. Quyền
lực quốc gia chỉ truyền tay giữa một bên là
các vua chúa và một bên là đám anh hùng áo vải, không
người không chịu ơn vua chúa và do đó dám thách
thức vua chúa.
T́nh trạng vong thân kéo dài từ đời này sang
đời khác đă khiến kẻ sĩ mất hẳn
ḷng tự tin. Tuy bề ngoài có khi kẻ sĩ huênh hoang có
giang sơn th́ sĩ đă có tên, từ Chu Hán vốn sĩ
này là quí (Nguyễn Công Trứ), nhưng trong thâm tâm kẻ
sĩ không tin ở ḿnh và cũng không tin ở cả giai
cấp sĩ của ḿnh; do đó kẻ sĩ không những
không dám có ư định dựng nghiệp mà c̣n không sẵn
sàng giúp một kẻ sĩ khác dựng nghiệp. Kẻ
sĩ phải làm bầy tôi, nếu từ chối số
phận tôi tớ và dám mơ ước làm vua, kẻ sĩ
đă vi phạm đạo lư của giai cấp ḿnh và
bị lên án là gian thần, thoán nghịch, phản tặc.
Nguyễn Hữu Chỉnh coi thường vua Lê chúa
Trịnh bất lực và muốn nắm quyền th́ đă
sao, mà người ta lên án ông là gian hùng và hả hê khi ông
bị bốn ngựa xé xác? Có sử gia nào đủ khách
quan để nhận định rằng chính hành
động vào Nam liên kết với Tây Sơn của
Chỉnh đă mở đầu cho tiến tŕnh thống
nhất đất nước?
Luân lư Nho Giáo bắt người có học không
được làm chủ mà chỉ được làm tôi
cho một ông chủ nào đó, và tệ hơn nữa
phải làm tôi suốt đời cho một chủ bởi
v́ tôi trung không thờ hai chúa. Kẻ sĩ trong quan niệm
Nho Giáo là một kẻ nô lệ chứ không phải là
một con người tự do. Do bản năng và
địa vị xă hội, kẻ sĩ không dám và không
thể, và do đó khiếp phục những kẻ dám và có
thể. Bài B́nh Ngô Đại Cáo hùng tráng v́ Nguyễn Trăi
viết cho Lê Lợi chứ không viết cho ḿnh, v́ lúc
viết Nguyễn Trải đă tự đặt ḿnh vào
địa vị của Lê Lợi, tưởng
tượng ḿnh là vua (Trẫm đây, núi Lam Sơn dấy
nghĩa..., một mảnh nhung y dựng nên nghiệp
lớn...). Toi nói nhiều về kẻ sĩ như vậy
bởi v́ cái tâm lư kẻ sĩ vẫn c̣n hiện diện
rất mạnh trong tiềm thức của chúng ta. Di
sản nặng nề nhất là triết lư ở ẩn,
tránh hiểm nguy và chờ thời. Tâm lư này ngự trị
trong đầu óc hầu hết mọi trí thức Việt
nam. Nó cũng ngự trị ngay cả trong đầu óc
những người có ư chí nhất dám hoạt động
chính trị. ở các vị này nó thể hiện qua lối
làm chính trị nhân sĩ. Nhưng người trí thức
tự cho là ḿnh có một giá trị nào đó - có khi chỉ
là do một sự tự đánh giá ḿnh rất chủ quan -
thường không chịu tham gia tạo dựng ra một
lực lượng chính trị nào và cũng không lên
tiếng bênh vực một lập trường nào, ngay
cả khi họ thấy là đúng. Họ chỉ muốn là
những nhân sĩ đứng ngoài các tổ chức và các
cuộc tranh căi gay go để vừa khỏi tốn công
sức vừa khỏi bị cháy. Họ tin rằng một
khi họ đă là nhân sĩ th́ dù ai nắm được
chính quyền cũng vẫn cần họ. Đó là một
tính toán mà họ cho là sáng suốt và quả thực là
một chọn lựa sáng suốt khi người ta
chỉ có tham vọng làm công cụ. Chính cái thái độ
nhân sĩ này, hậu thân của tâm lư kẻ sĩ ngày
xưa đă khiến các tổ chức đối lập
dân chủ hiện nay không được hưởng
ứng và không mạnh lên được trong một giai
đoạn đầy thử thách như giai đoạn
chúng ta đang sống.
Một di sản khác là sự thiếu quyết tâm. Trí
thức Việt nam có nhiều người không thiếu ư
kiến nhưng cái quán tính không dám và không thể thừa
hưởng từ tâm lư kẻ sĩ do hàng ngàn năm
uốn nắn này vẫn c̣n quá manh khiến họ do dự
bất quyết, sẵn sàng thỏa hiệp và
nhượng bộ trước những giải pháp thô
bạo trái ngược với nguyện ước của
ḿnh, rồi sau cùng đánh mất chính ḿnh. Nhiều trí
thức c̣n thực sự ngưỡng mộ những tay
anh chị bởi v́ họ ngưỡng mộ cái liều,
cái bạo mà họ không có được. Họ bị
hớp hồn trước những người có bản
năng mạnh và dám làm, bởi v́ đó là một phần
của chính họ mà họ đă mất đi và vẫn
tiếc.
Mẫu người kẻ sĩ không phải chỉ c̣n
tồn tại mà c̣n đang có cơ được hồi
sinh. Các chế độ độc tài tại châu á, trong
đó có Trung Quốc và Việt nam, đang dụng tâm
thiết lập một thứ Khổng Giáo Mới làm
chỗ dựa cho các chế độ độc tài ngày
nay, như Khổng Giáo Cũ đă từng làm nền
tảng cho các chế độ quân chủ chuyên chế ngày
xưa. Một âm mưu tha hóa trí thức mới đang
xuất hiện. Và lần này kẻ sĩ có một cái tên
gọi mới: chuyên viên. Ngay trong lúc này đang có nhiều
trí thức Việt nam chủ trương hăy thôi làm chính
trị, tạm chấp nhận chế độ này,
hợp tác với nó trên các mặt chuyên môn. Họ hy
vọng sẽ dần dần dân chủ hóa được
chế độ. Nhưng nếu kẻ sĩ ngày
trước trong hơn hai ngàn năm không thay đổi
được chế độ quân chủ th́ trí thức
chuyên viên ngày nay dù có bản lĩnh hơn và có bối
cảnh thuận lợi hơn cũng không thể thay
đổi được chế độ độc tài
này trong một hai thể hệ, nếu họ chỉ là
những chuyên viên.
Hăy coi chừng lịch sử lập lại. Tại sao
chủ nghĩa cộng sản bị phủ nhận
tại Tây Âu, nơi đă khai sinh ra nó, mà lại thành công
tại Trung Hoa, Việt nam và Triều Tiên? Tại sao,
ngoại trừ ḥn đảo Cuba nhỏ bé, chế
độ cộng sản chỉ tồn tại
được trên ba nước này? Lư do chính là v́ chủ
nghĩa cộng sản đă xuất hiện hồi
đầu thế kỷ này như là một thứ
Khổng Giáo Mới. Có ǵ khác giữa Khổng Giáo và chủ
nghĩa Mác Lênin? Cũng đặt nền tảng trên
bạo lực, cũng độc tài toàn trị, cũng
giáo điều, cũng độc tôn, cũng nhân trị
nghĩa là cai trị một cách tùy tiện bất chấp
luật pháp, cũng bưng bít, cũng cấm đoán tư
tưởng, cũng bài xích các tôn giáo, cũng triệt
hạ kinh doanh, cùng đề cao sự nghèo khó để
cai trị bằng sự nghèo khổ. Cả hai đều
là những hệ thống nửa tôn giáo, nửa chính
trị. Cả hai đều đưa đến bế
tắc và cả hai đều có cùng một biện hộ
sau khi đă thất bại: không phải lư thuyết sai mà
là áp dụng sai. Chỉ cần lấy Marx và Anghen
đạt vào địa vị của Khổng Tử và
Mạnh Tử, lấy các cuốn Tư Bản Luận,
Lênin Toàn Tập thay cho Tứ Thư và Ngũ Kinh, lấy
Trung ương Đảng thay cho Triều Đ́nh, đem
các đảng viên thay cho đám quân tử là đâu lại
vào đó. Khổng Giáo đă dọn đường cho các
chế độ cộng sản. Chỉ có điểm
mới là chủ nghĩa cộng sản tâng bốc
quần chúng vô sản mà Khổng Giáo mạt sát, dù chỉ
là một sự tâng bốc giả dối. Nếu
trước đây Khổng Giáo đă dọn
đường cho các chế độ cộng sản th́
ngày nay những tồn đọng của tư
tưởng Khổng Giáo đang giúp các chế độ
này kéo dài.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Giết hại công thần
Có
một sự kiện gần như một định
luật trong lịch sử Việt nam là những
người dựng nên đế nghiệp thường
hay giết hại công thần sau khi đă thành công. Tại
sao? Câu trả lời gần như tự động là
những người đó gian xảo, bội bạc. Xét
cho cùng th́ câu trả lời này không đúng.
Những người đă có khả năng qui tụ nhân
tài, khiến họ tận tụy và nằm gai nếm
mật, vào sinh ra tử với ḿnh tất nhiên phải có
những đức tính đặc biệt. Họ phải
là những người có khả năng thu hút, chinh
phục ḷng tin và sự trung thành bằng cách chứng
tỏ tài năng và đức độ. Trừ một vài
ngoại lệ rất họa hiếm, họ phải là
những người khá tốt và thủy chung. Ngày nay
một người tham gia một tổ chức chính
trị chỉ kết bạn với lănh tụ mà thôi,
nếu thất vọng có thể bỏ ra đi, nhưng
ngày xưa th́ khác hẳn. Lănh tụ không những phải là
người lănh đạo mà c̣n là minh chủ, một chúa
công có quyền trên tính mạng của thuộc hạ. Các
nhân tài ngày xưa v́ vậy chọn chúa rất thận
trọng, họ hỏi han về minh chủ, tới
yết kiến minh chủ, quan sát từng thái độ,
cử chỉ, lời ăn tiếng nói, có khi xem
tướng rồi mới quyết định v́ đó là
quyết định vô cùng quan trọng đối với
họ. Họ khó có thể lầm được. Muốn
được họ thờ thường phải là
người có đức lớn. Trong vô số những
người phất cờ khởi nghĩa chỉ có
một người thành công th́ người đó phải
là người có bản lănh phi thường, mà bản lănh
lớn nhất là qui tụ, điều động, chinh
phục ḷng tin. Khó mà có thể giả dối
được bởi v́ không thể đánh lừa một
số người đông đảo trong suốt một
thời gian dài tranh đấu cam go.
Vậy mà ông vua nào thành công dựng được
nghiệp đế cũng giết hại công thần
cả. Như thế việc giết hại công thần
phải có một giải thích khác hơn là sự bội
bạc. Giải thích đó là sự giết hại công
thần là cần thiết trong lô-gích Khổng Giáo.
Khổng Giáo coi quyền của vua là quyền thiêng liêng
của trời cho. Quần thần phải phục tùng vô
điều kiện, có chết cũng không được
thắc mắc. Đă là quyền thiêng liêng th́ trời ban
cho ai, người đó được. Đă là kẻ
sĩ, nghĩa là đă từ bỏ mọi ư định
làm chủ để chỉ nuôi giấc mộng làm tôi cho
một minh chủ, th́ dĩ nhiên phải tự coi là ḿnh
không có mệnh trời đó rồi. Hạnh phúc của
kẻ sĩ chỉ là được vào chốn cũng
đ́nh, thấy mặt long nhan, được chút chức
vị và hầu hạ một người được
trời trao thiên mệnh. Nhưng những kẻ sĩ giúp
một anh hùng lập nghiệp đế th́ lại khác.
Họ đă được gặp một người
dựng nghiệp, nghĩa là c̣n có mệnh trời hơn
hẳn những ông vua khác. Họ đă chia cơm sẻ áo,
chen vai sát cánh với kẻ anh hùng đó. Họ đă
chứng kiến những sự lo âu, hốt hoảng,
những sai lầm và nhát sợ của người anh hùng
đó. Họ đă chứng kiến tận mắt và
đầy đủ một cuộc lập nghiệp
đế vương và đă khám phá ra rằng cuộc
dựng nghiệp này chẳng có ǵ là thần thánh cả.
Họ không c̣n là nhưng kẻ sĩ chân chính nữa.
Những công thần đă giúp vua dựng nghiệp cũng
phải là những người rất đởm
lược, họ dễ nhận ra là ông vua anh hùng nhất
cũng không khác họ bao nhiêu. Họ đă nh́n thấy bí
quyết dựng nghiệp, họ đă nhận ra sự
tương đói của thuyết thiên mệnh và biết
đâu họ đă thấy chính họ cũng có thể làm
vua. V́ thế họ phải chết.
Kẻ đế vương thực ra cũng không có
chọn lựa. Tất cả căn bản quyền
lực của ông ta dựa trên sự chính đáng của
thiên mệnh, ông ta không thể dung túng những kẻ không
c̣n tin tưởng tuyệt đối ở sự
huyền bí đó nữa và lại có khả năng ngang
tầm với ông ta. Đó không phải chỉ là mối
nguy mất ngôi vua mà c̣n là mói nguy mất mạng và tuyệt
giống bởi v́ trong hệ thống quân chủ chuyên
chế, thiên mệnh đă được trao cho ông ta
rồi th́ chỉ có cái chết mới có thể
tước đoạt, và nhổ cỏ th́ phải nhỏ
tận gốc. Những công thần có khả năng
để dọa ngôi báu hay làm mất đi tính thiêng liêng
của nó v́ vậy phải bị tiêu diệt.
Nhưng những công thần trung thành tuyệt đối
cũng không thể dung túng được, bởi v́ họ
để dọa trật tự của chế độ
quân chủ tuyệt đối trong đó quần thần
không hơn những con vật trước mặt nhà vua,
vua muốn nọc ra đánh, muốn thiến tùy ư.
Những khai quốc công thần không c̣n là những kẻ
sĩ chân chính nữa v́ họ đă quá quen với vua,
đối xử với họ như vậy không khỏi
mang tiếng tệ bạc, mà không đối xử như
vậy th́ không c̣n kỷ cương triều đ́nh.
Họ là những cái gai phải nhổ để trật
tự vua tôi được trở lại b́nh thường.
Mối liên hệ vua tôi, cốt cán của tư
tưởng chính trị Khổng Giáo, đưa tới hai
hậu quả.
Một là, kẻ sĩ, tinh hoa của xă hội, mất
hết nhân cách, xă hội v́ thế lẫn quẩn trong
sự thui chột và hèn kém.
Hai là, các cuộc khủng hoảng xă hội rất khó có
lối thoát. Kẻ sĩ chân chính không phải là
người khởi nghiệp. Triết lư của họ là
lúc khó khăn th́ lánh mặt. Chỉ có một số rất
ít có chí khí để tham gia tranh đấu trong thời ly
loạn mà thôi. Những kẻ này phải chọn minh
chủ thật kỹ. Trước hết minh chủ
phải là người có chân mạng đế
vương, nếu không th́ theo ông ta chỉ uổng
mạng mà thôi, sau đó minh chủ lại phải là
người thật trung hậu, nếu không th́ khi thành công
mạng ḿnh cũng toi mạng về tay ông ta. Lịch
sử Trung Quốc không thiếu những chuyện
những người giúp chủ dựng nghiệp, lúc thành
công th́ vội vă cao bay xa chạy. Kết quả là ít ai
nhập cuộc, những loạn lạc thường kéo
dài rất lâu, những kẻ có gan dạ dấn thân đă
rất ít mà trong số này, những người t́m
được minh chủ lại càng khó. Và những
người dám đứng lên khởi xướng th́
lại không thể kết hợp được với
nhau, bởi v́ không ai dám nhường ngôi minh chủ cho
người khác, nhường ngôi minh chủ là
nhường tất cả chứ không có thoả hiệp
nào. Với thời gian chọn đúng chúa mà thờ trở
thành một lo âu làm tê liệt những kẻ sĩ hiếm
hoi có ư định cứu đời. Trong đa số
trường hợp đưa họ trở lại sự
thụ động cố hữu.
Ngày nay triết lư thiên mệnh của Khổng Giáo đă
đi vào quá khứ, ít ai c̣n tin có nhưng kẻ có thiên
mạng đế vương nữa. Nhưng cái tâm lư
chọn minh chủ vẫn c̣n tồn tại, và bởi v́ nó
là một tâm lư, nó nấp kín trong thâm sâu của chúng ta, nó chi
phối hành động của chúng ta một cách bí mật
đến nỗi chính chúng ta không thấy. Hai câu chuyện
sau đây chứng tỏ cái tâm lư mà ta tưởng như
đă hoàn toàn biến mất thực ra vẫn c̣n lảng
vảng đâu đây. Tôi kể ra chỉ để
độc giả thấy rằng đoạn tuyệt
với một văn hóa là một điều rất khó.
Cách đây không lâu, một lănh tụ của một tổ
chức chính trị có lúc gây được tiếng vang
đă có nhă ư đến thăm tôi. Tôi hỏi anh lư do nào có
thể khiến một người tham gia tổ chức
của anh. Anh đắn đo rồi trả lời
bởi v́ người ta ngưỡng mộ một lănh
tụ như anh. Đó là một thanh niên hoàn toàn
được đào tạo tại một nước tân
tiến.
Tôi cũng biết hai người khoa bảng khác
được đào tạo tại phương Tây. Không
những chỉ có bằng cấp lớn mà họ c̣n
thực sự có khả năng và bản lănh lớn, tôi
rất ngưỡng mộ họ. Câu chuyện của
họ lại có liên quan tới chính tôi. Chúng tôi đă sát cánh
cùng nhau tranh đấu cho dân chủ trong một thời
gian. Có cố gắng dài hơi nào mà không có lúc đem
tới sự mệt mỏi và nghi hoặc? Một hôm tôi
được họ mời đi ăn tối cùng
với một người lạ mặt mà sau này tôi
được biết là một nhà tướng số
nổi tiếng. Chúng tôi nói chuyện vui vẻ, nhà
tướng số kia đặt nhiều câu hỏi về
tôi. ít lâu sau cả hai bạn tôi tuyên bố ngưng hoạt
động. Măi về sau tôi mới hiểu là tất
cả do bữa cơm tối đó. Họ đă nhờ
nhà tướng số kia cho biết về tôi và kết
luận của vị này là tôi không có tướng của một
minh chủ.
Tôi rất buồn v́ mất hai bạn đồng hành
hiếm có, nhưng tôi rất kính trọng họ, họ là
những trí thức hiếm hoi c̣n có ư định dấn
thân, và thực sự đă vất vả với tôi trong
một thời gian. Tôi chỉ giận cái tâm lư kẻ sĩ
của Khổng Giáo không chịu cút hẳn khỏi tâm
hồn người Việt. Tôi cũng không giận ông thày
tướng kia v́ thực ra ông ta nói đúng: thời này làm
ǵ c̣n minh chủ, chỉ có những kẻ khùng mới nuôi
mộng làm minh chủ mà thôi. Tôi chỉ muốn góp phần
nhỏ bé của ḿnh cho thắng lợi dân chủ mà thôi.
Vậy mà cũng gian truân.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Anh không biết ǵ về cộng sản
Chương
Mặt Thật Của Ai? mà quí vị vừa đọc
phần lớn lấy từ một bài báo cùng để
tựa mà tôi đă gởi đăng báo Ngày Nay (Houston, Hoa
Kỳ). Bài báo này đă gây cho tôi khá nhiều vấn
đề. Trước hết là ngay trong nội bộ nhóm
Thông Luận. Mới đầu tôi định đăng
báo Thông Luận, tôi không ngờ gặp phải những
phản ứng rất mạnh của những
người bạn mà tôi đưa đọc
trước. Họ sợ một bài báo như thế
sẽ đem lại cho nhóm Thông Luận nhưng thù ghét
mới. Thấy rằng nếu đăng báo Thông Luận
có thể sẽ gây sứt mẻ đáng tiếc, tôi
gởi đăng báo Ngày nay, rồi lại gặp một
vấn đề khác. Một anh bạn đọc xong,
nỗi giận nói rằng một bài đặc sắc
như vậy sao không đăng báo ḿnh mà lại đem
đăng báo khác. Bài đăng trên báo Ngày Nay cũng làm tôi
vất vả.
Một loạt bài phản bác dữ dội được
tung ra ngay sau đó. Một vị ở Houston, mà sau này tôi
được biết là có kiến thức khoa học, cho
rằng bài đó là một xúc phạm lớn đối
với tổ tiên; Nguyễn Gia Kiểng là tác giả bài
đó th́ là chính phạm, nhưng báo Ngày Nay đă đăng
bài đó th́ cũng là ṭng phạm. (chính phạm và
đồng phạm là những tiếng được dùng
trong bài). Nếu có quyền, chắc chắn các vị này
đă lôi cổ tôi ra ṭa và tặng cho vài cuốn lịch
rồi. Cả tác giả bài đả kích này lẫn tờ
báo đăng nó đều đang nỗ lực tranh
đấu lên án cộng sản chuyên chính giáo điều,
chà đạp tự do ngôn luận và báo chí.
Một nhân sĩ nhân đọc bài báo của tôi trên Ngày Nay,
cảm hứng viết một bài góp ư, với tựa
để là Nghe Qú , đóng góp thêm một số ư kiến
cá nhân đồng thời phê phán một số nhân vật.
Thế là tôi lại lănh một bài đánh khác, mà lần này
đánh oan v́ những ư kiến làm tác giả bài đánh này
nỗi giận không phải là của tôi mà là của vị
nhân sĩ kia. Quá giận, tác giả lôi cả thân thế tôi
ra phê phán và kết luận tôi là hạng người vô liêm
sỉ. Cũng may lúc đó tôi có chút thời giờ rảnh
rỗi nên đă gởi nguyên văn bài của ḿnh cho tác
giả. Ông này tỏ ra rất đứng đắn v́ sau
đó, khi đă biết có sự hiểu lầm, ông
viết cho tôi một lá thư ngắn với lời
lẽ thân thiện và cho đăng một bài cải chính
trên ngay tờ báo đă đăng bài đánh tôi. Đó là
lần duy nhất tôi thấy một người đánh
oan một người khác đă giải oan cho người
đó. B́nh thường thôi đánh cũng là phúc lắm
rồi.
Một lần chúng tôi gặp một sự cố trong
một buổi họp Câu Lạc Bộ Thân Hữu Thông
Luận. B́nh thường th́ những buổi họp
của Câu Lạc bộ là sự gặp gỡ thân
thiện của những người có cảm t́nh với
nhau dù cùng hay không cùng chính kiến. Khi thành lập, chính tôi
đề nghị đặt tên là Câu Lạc Bộ
Độc Giả Thông Luận nhưng đề nghị
của tôi bị phản bác, một vị đă đề
nghị thay Độc Giả bằng Thân Hữu với
lập luận rằng ai muốn là độc giả
chẳng được, nhưng muốn gặp nhau
thảo luận th́ phải có tinh thần thân hữu, thân
hữu không có nghĩa là đồng ư mà chỉ là thái
độ thân thiện, tương kính. Tôi vẫn thấy
hai chữ Thân Hữu có vẻ giới hạn quá. Biểu
quyết, và tôi thua. Kết quả là Câu Lạc Bộ Thân
Hữu Thông Luận ra đời với mục đích là
lâu lâu gặp nhau một lần để thảo luận
trong tinh thần không có ư kiến nào cấm nêu ra, không có
đề tài nào cấm bàn đến.
Trớ trêu thay hôm xảy ra vụ lộn xộn đó,
thuyết tŕnh viên lại chính là người đề
nghị thay độc giả bằng thân hữu. Việc
ông được chọn để dẫn nhập
buổi gặp gỡ đó đă được quyết
định từ mấy tháng trước, nhưng trong
khoảng thời gian đó ông trở thành tổng thư kư
của một tổ chức mới, tuy vừa thành lập
nhưng có sức mạnh v́ chỉ là mặt ngoài của
một tổ chức đă có từ lâu và có rất
nhiều phương tiện. Chức vụ mới đó
đă khiến ông không c̣n thân hữu với chúng tôi nữa
và ông đem đến cả một lực lượng
hùng hậu. Buổi họp biến thành một ṭa án nhân dân
xử nhóm Thông Luận. Lực lượng này nhao nhao lên,
bất chấp chủ tọa, muốn nói là nói, nói ǵ
cũng được v́ họ sẵn sàng ẩu
đả và h́nh như chỉ đợi cơ hội
để ẩu đả. Chúng tôi cố nhịn nhục
cho qua. Rồi buổi họp cũng xong, nhưng một
thanh niên xấn lại phía tôi, chỉ tay vào mặt tôi mà
nói: Anh là đồ ngây thơ ấu trĩ, anh không hiểu
ǵ về cộng sản cả.
Tôi biết lúc đó không phải là lúc để thảo
luận với anh ta. Tôi cũng không giận anh ta, từ
đầu buổi họp tôi nhận xét anh ta là một
trong những người ôn ḥa nhất của lực
lượng này. Dáng dấp anh ta cũng khá trí thức,
đôi mắt thông minh và hiền lành. Vả lại anh ta
cũng khá khoan dung đối với chúng tôi: chúng tôi
chỉ ngây thơ ấu trĩ và không biết ǵ về
cộng sản chứ không phải là những tên phản
bội, những tay sai cộng sản như các bạn anh
ta nói sang sảng trong suốt buổi họp. Anh ta trạc
độ ba mươi tuổi.
à, nếu tôi có thể ngây thơ ấu trĩ
được th́ diễm phúc biết bao nhiêu? Tiếc quá,
lúc đó tôi đă gần năm mươi tuổi rồi
mà chưa làm được ǵ ra hồn, cuộc
đời cũng chẳng có ǵ vui, đă nhiều thất
vọng và mất mát. Muốn ngây thơ cũng không
được nữa.
Không biết ǵ về cộng sản? Tôi biết không
nhiều nhưng cũng biết chút đỉnh. Lớn lên
ở vùng quê do cộng sản kiềm soát, cha bỏ
trốn, chú bác bị giết, mẹ dắt ra hầu ṭa án
nhân dân từ thời năm tuổi. Lớn lên chống
cộng từ thời sinh viên, chống cộng trong hàng
ngũ Việt nam Cộng Ḥa, đi tù cộng sản, làm
viên chức cộng sản, làm dân cộng sản, sống
ngoài ṿng pháp luật dưới chế độ cộng
sản, rồi ra hải ngoại chống cộng sản.
Có thể nói tôi là một trong những người có cơ
hội quan sát cộng sản dưới mọi gốc
nh́n và cọ sát với cộng sản trên nhiều
cương vị. Anh thanh niên kia chắc có thân nhân bị đi
tù cải tạo, gia đ́nh có thể đă bị tịch
thu tài sản và đă gian lao t́m cách vượt biên, như
thế là đủ để anh ấy nghĩ ḿnh biết
rơ cộng sản đủ tư cách để coi
những người không coi cộng sản như quỉ
ma, thể dữ là không biết ǵ về cộng sản.
Thái độ của anh ta không làm tôi ngạc nhiên chút nào,
bởi đó là thái độ tự nhiên của con
người trong văn hóa Khổng Mạnh, một văn
hóa được lưu truyền qua cuộc sống,
từ đời này qua đời khác trải mấy ngh́n
năm, mà người ta tiếp thu một cách tự nhiên
và vô t́nh. Văn hóa Khổng Mạnh là thứ văn hóa xác
quyết, bất cần chứng minh. Ông Khổng Khâu, ông
Mạnh Kha và tất cả các danh nho qua các thời
đại chỉ khẳng định một cách chắc
nịch thôi chứ có bao giờ cần chứng minh cái ǵ
đâu. Ông Khổng Khâu nói người có hiếu th́ cha
chết ba năm không được thay đổi nếp
sống gia đ́nh do cha để lại, người ngay
thẳng th́ cha có đi ăn trộm cũng phải bao che,
nhưng ông không hề bận tâm giải thích tại sao. Các
ông thánh hiền kế tiếp nói rằng đă là đàn bà
đức hạnh th́ phải phục ṭng cả cha,
lẫn chồng, lẫn con cũng có cần biện
luận ǵ đâu. Văn hóa của chúng ta là cái. Văn hóa
trong đó ḿnh cứ ném bừa chân lư của ḿnh vào mặt
người khác mà không cần suy nghĩ xem đó có
phải là những chân lư thực không.
Văn hóa Khổng Mạnh là văn hóa phủ nhận
kiến thức. Người ta không cần nghiên cứu,
t́m hiểu, miễn là cứ thấy phải đạo là
có thể tự tin và tự hào được rồi.
Tất cả các cuốn Tứ Thư, Ngũ Kinh nếu
gộp chung lại tất cả và in thành một cuốn
sách th́ cũng chỉ vài trăm trang thôi, nghĩa là chỉ
bằng một nửa cuốn sách mà các vị đang
cầm trong tay thôi. Một người b́nh thường có
thể học một tuần lễ là xong, thế mà các
sĩ tử cứ nhai đi nhai lại trong mấy ngàn năm
th́ hỏi kiến thức có cái ǵ đáng kể? Ông
Phần Khôi là một nhà nho xuất chúng, ông đi học
chữ quốc ngữ tới tŕnh độ tiểu
học và quả quyết là đă học hỏi
được nhiều hơn hẳn so với thời
kỳ học chữ nho. Với thời gian, cả một
xă hội học thói quen nói và làm mà không cần một
kiến thức nào cả. Thái độ này tạo ra
một niềm tin thầm kín rằng mọi người
như nhau, chẳng ai biết ǵ hơn ai. Người ta có
thể nói với bất cứ ai anh không biết ǵ
cả, bởi v́ thực ra trong tiềm thức
người ta đang nói về chính ḿnh.
Không những không trọng kiến thức, mà người
ta c̣n bài bác việc mở mang kiến thức, bởi v́
văn hóa Khổng Mạnh chống lại điều
mới, nghĩa là chống lại sự t́m hiểu.
Khổng Tử nói: Bỏ công ra học điều lạ
chỉ có hại (Công hồ dị đoan, tư hại
đă dĩ). Những lời vàng ngọc đó trải
đời này qua đời khác tạo ra tâm lư coi
điều khác lạ là xấu là dở, là sai. Trong ngôn
ngữ Trung Quốc mà ta du nhập, chữ dị, nghĩa
là khác, đồng nghĩa với xằng bậy. Dị
đoan theo nghĩa chiết tự của nó chỉ có
nghĩa là điều lạ thôi, nhưng tập quán và
thời gian đă biến nó thành nhảm nhí. Lập dị,
quái dị, dị nghị, dị hợm đều mang
nghĩa xấu cả. Về điểm này đôi khi tôi
thấy vui ḷng là người Việt nam c̣n giữ
được chữ khác với nghĩa khách quan. Không
những bài bác điều mới, văn hóa Khổng
Mạnh c̣n hung bạo với điều mới. Khổng
Tử lên làm tướng quốc nước Lỗ th́
lập tức giết thiếu chính Măo. Chẳng thấy
ông Măo có tội cụ thể nào ngoài tội có tài biện
luận và lung lạc người khác. Những ai lên án
đảng cộng sản đàn áp những người
phát biểu ư kiến ngược lại với
đảng nên suy nghĩ lại chuyện này. Nho sĩ theo
gương bậc vạn thế sư biểư này
đă để xướng lên cả một bổn
phận đạo đức: vệ đạo. Vệ
đạo là chủ trương bảo vệ toàn bộ
các giá trị Khổng Giáo bằng cách đánh phá gay gắt
và tiêu diệt bằng bạo lực những kẻ dám
đi ra ngoài khuôn mẫu có sẵn. Khổng Khâu và các môn
đệ, hậu bối của ông, cũng khuyến khích
sự t́m ṭi, khảo cứu nhưng với điều
kiện là đó chỉ là những t́m ṭi phải
đạo, với mục đích minh họa những ư
đă có sẵn, tương tự như đảng
cộng sản kêu gọi sáng tạo với điều
kiện là sáng tạo trong đường lối do
đảng vạch ra, trong khuôn khổ chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái chủ
trương vệ đạo đó đă làm thui chột
cả trí tuệ á Đông và đă dẫn ra pháp
trường vô số những người có trí tuệ,
đáng lẽ đă có thể cống hiến những đóng
góp quí báu. Tôi không thù ghét những người đă
đả kích tôi một cách gay gắt, đ̣i lên án, đ̣i
phải có thái độ, đ̣i hành hung (kể cả
đả thương thực sự) bởi v́ đó
chỉ là di sản văn hóa của cái tâm lư vệ
đạo đă mọc rễ vào tâm hồn chúng ta ngay
cả khi chúng ta không ư thức được. Viết
một cuốn sách hay về dân chủ không khó bằng không
nổi giận khi có người phát biểu ngược ư
minh v́ một đằng là kiến thức, một
đằng là tâm lư. Kiến thức dễ tiếp thu và
cũng dễ thay đổi; tâm lư, trái lại, là cái mà chúng
ta không ư thức được và do đó không cảnh giác.
Những phản ứng giận dữ đối với
một số bài viết về văn hóa và lịch sử
của tôi c̣n xuất phát từ một di sản khác
của Khổng Giáo, đó là tâm lư tôn sùng người
xưa. Quí trọng tổ tiên là một t́nh cảm tự
nhiên và cũng là một phần của trí thông minh của
loài người. Nó cho phép loài người nối dài
cuộc sống trí tuệ của ḿnh tới một
thời xa xưa, hiểu được cuộc hành tŕnh
đă dẫn tới ngày hôm nay, và cũng ư thức
được những điều nên làm cho tương
lai. Ḷng quí trọng người xưa biến cuộc
sống thành liên tục và vĩnh cửu, sinh và tử
chỉ là nhưng chốc lát trong cuộc sống liên
tục và không ngừng biến đồi của loài
người. Quan sát việc làm của người xưa
ta rút ra được những kinh nghiệm để xây
dựng ngày mai, ta học được những cái
đúng của họ, va ta rút nhiều kinh nghiệm quí báu
hơn ở những sai lầm của họ. Nhưng
sự tôn sùng người xưa của Khổng Giáo không
phải như vậy. Nó là một sự tôn sùng bệnh
hoạn, coi người xưa là hơn ngày nay, coi
người xưa là hoàn toàn đúng, chúng ta chỉ cằn
lập lại là đủ. Khổng Tử chủ
trương cứ học người xưa là biết
việc ngày nay (ôn cố tri tân). Nhan Uyên hỏi ông về
việc trị nước, Khổng Tử trả lời:
Cứ theo lịch nhà Hạ, đội mũ nhà Chu, dùng
nhạc của vua Thuấn, Các nho sĩ sau này c̣n đề
cao hơn nữa cái tinh thần sùng bái và bắt
chước tổ tiên đó, và người
được đề cao làm mẫu mực hơn
cả lại chính là Khổng Tử. Ngay cả những câu
nói rất tầm thường, và tầm bậy, của
ông như cha con phải giấu tội cho nhau, nước
loạn th́ chớ ở lại cũng được
đưa lên hàng đạo lư. Chính Khổng Tử khi nói những
câu này cũng không thể ngờ rằng có ngày chúng sẽ
được coi là nhưng khuôn vàng thước ngọc.
Ông thủ cựu và kêu gọi thủ cựu, nhưng
đó chỉ là những ư kiến thôi, chính các triều
đại về sau mới biến nhưng ư kiến
của ông thành chân lư bất di bất dịch. Cá nhân
Khổng Tử nhiều lần dạy đệ tử
không nên pḥ những vua chúa bất nghĩa, nhưng chính ông
cũng hai lần định làm gia nhân cho những kẻ
phản bội. Như vậy Khổng Tử tuy thủ
cựu nhưng không cứng chác như người ta
tưởng. Như đă nói, khi phê phán Khổng Giáo, ta không
nên qui trách hết cho Khổng Tử.
Mặc Tử, nhà tư tưởng vĩ đại
nhất của Trung Quốc, đă nhiều lần lên án tâm
lư rập khuôn theo người trước. Nếu Mặc
Tử, thay v́ Khổng Tử, được lấy làm
mẫu mực th́ Trung Quốc đă không thua kém như ngày
nay. Mặc Tử có lư: nếu tất cả mọi thế
hệ đều lấy những thế hệ
trước làm mẫu mực th́ xă hội vẫn c̣n
như thời Phục Hy, Thần Nông, nghĩa là vẫn c̣n
ăn lông ở lỗ.
Tinh thần tôn sùng và rập khuôn theo người xưa h́nh
như vẫn c̣n nặng làm trong tâm lư trí thức Việt
nam. Một người bạn của tôi có hai bằng
cấp khoa học rất cao tại Mỹ và Pháp, có lần
giảng cho tôi về sự cao siêu huyền bí và tính khoa
học của khoa tử vi. Tôi hỏi anh ta tại sao anh
không thấy cái nhảm nhí của tử vi, chỉ có
năm yếu tố thôi: giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh,
năm sinh, nam, nữ mà suy ra tới 108 sao, nghĩa là
chỉ có năm phương tŕnh bậc nhất mà có
tới 108 ẩn số th́ hoặc là hệ thống
phương tŕnh đó không có giải đáp chính xác,
hoặc là thực ra chỉ có năm ẩn số mà thôi,
103 ẩn số c̣n lại tự động suy ra từ
năm ẩn số chính, nghĩa là vất đi cũng
được. Vậy th́ khoa tử vi sai ngay từ
đầu, nó chỉ là một bài toán ngây ngô do sự
kiện trí tuệ chưa được mở mang mà có.
Anh ta cự lại: Tử vi không phải là toán?. Tôi c̣n
biết nói ǵ đây? Toán có là ǵ đâu, ngoại trừ là
một cách lư luận đúng? Nếu bảo có những cái
không cần đúng th́ c̣n ǵ để bàn? Tức quá, tôi
bảo anh ta thử lấy số tử vi của tôi xem
sao. Anh ta bèn bấm đốt ngón tay và quả nhiên tôi
thấy chỉ có năm sao, tôi không nhớ sao nào, là
phải căn cứ vào năm dữ kiện ban
đầu mà thôi, những sao khác cứ tự nhiên theo
năm sao này mà định vị trí, nhưng anh ta vẫn
không chịu thua, anh ta kết luận là tôi không hiểu
được cái kiến thức cao siêu của
người xưa. Tŕnh độ toán học của anh ta
cao hơn tôi nhiều, nhưng anh ta không thấy
được cái sai lầm rành rành ra đó v́ anh ta đă
sẵn có định kiến là người xưa có lư
rồi.
Một anh bạn khác cũng tốt nghiệp kỹ sư
tại Mỹ và trước đó nổi tiếng là
học sinh tú tài xuất sắc nhất của
trường Chu Văn An, lận đận t́m cách
vượt biên sau năm 1975. Chúng tôi gặp nhau sau khi đi
tù cải tạo về và cùng có ư định là trốn
khỏi Việt nam. Mỗi lần tính chuyện
vượt biên anh đều xem bói dịch. Anh ta giải
thích với tôi là bói dịch rất đúng bởi v́ nó do
Chu Văn Vương chế ra. Tôi nói Chu Văn Vương
là tổ nhà Chu, sống vào thế kỷ 12 trước Tây
lịch, lúc loài người c̣n rất man rợ, có ǵ là
thông thái, chẳng qua đó là niềm tin ngây thơ vào
quỉ thần của mọi dân tộc bán khai. Anh ta
tiếc cho tôi không hiểu được cái huyền bí
của Kinh Dịch, bởi v́ thời đó con người
c̣n trong sáng và c̣n giao cảm được với thần
linh. Điều nghịch lư là đă mấy lần anh
ấy ra đi sau khi trúng một quẻ tốt và lần
nào cũng bỏ của chạy lấy người
hoặc bị công an bắt trói phải chuộc mạng
nhưng anh ấy vẫn tiếp tục tin Kinh Dịch.
Cả hai anh bạn tôi trên đây lúc b́nh thường
đều là những người rất sáng suốt và
chính xác, nhưng mỗi khi gặp quyết định khó
khăn với một xác suất rủi ro lớn họ
lại quay về với những tín ngưỡng cỗ
lậu bởi v́ sự tôn sùng cổ nhân được
truyền từ đời này qua đời khác vẫn c̣n
mai phục trong trí óc họ. Đó là chuyện xa, nhưng
c̣n chuyện gần hơn? Tôi được đọc
không biết bao nhiêu tuyên cáo buộc tội lẫn nhau
giữa các phe phái trong các đảng Đại Việt và
Việt nam Quốc Dân Đảng. Phe nọ lên án phe kia là
phản bội đường lối của các cố
đảng trưởng, phe nào cũng tự hào là
tuyệt đối trung thành với đường
lối của các ngài. Sự theo đúng đường
lối do người đi trước vạch ra h́nh
như được coi là một tiêu chuẩn để
quyết định ai đúng ai sai, ai chính ai tà. Cái tiêu
chuẩn kỳ cục này có lẽ chỉ có ở Trung
Quốc và Việt nam. Hai dân tộc này coi sự kiện
không làm đúng như người xưa là xúc phạm
đến người xưa. Trong các nước cộng
sản, Trung Quốc và Việt nam cũng là hai nước
chống xét lại một cách gay gắt nhất. Đó là
di sản của tinh thần bất tác, vô cải mà
Khổng Giáo đề cao. Nên nhớ rằng Khổng
Tử coi như bổn phận của người con có
hiếu là không sửa đổi ǵ hết nền nếp
của cha trong ṿng ít nhất ba năm sau khi cha đă
mất, nghĩa là nếu măi măi không sửa đổi ǵ
th́ c̣n hiếu hơn.
Trong thế giới thay đổi dồn dập này, mà
sức mạnh, chỗ đứng và sự vinh nhục
của các dân tộc được quyết định
bởi ư kiến và sáng kiến, bởi vận tốc
của đổi mới, nếu có một tâm lư mà chúng ta
phải khẩn cấp từ bỏ th́ đó chính là tâm lư
thủ cựu.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Ưu đạo bất ưu bần?
Như
tôi đă tŕnh bày, khi phê phán Khổng Giáo không nên đồng
hóa nó với ông Khổng Khâu, càng không nên đổ hết
trách nhiệm cho ông. Ông không chí thánh chí nhân như ông Trần
Trọng Kim viết trong cuốn Nho Giáo, những cũng là
người tốt, ông mở trường tư
đầu tiên và tạo ra một cơ hội tiến thân
quan trọng cho tàng lớp thứ dân. Thế cũng là
một người có công lớn với đời
rồi. Ông dạy học tṛ nhiều điều về
luân lư thực tiễn. Xét theo bối cảnh thời
đại của ông, trong những điều ông nói có
những điều khá đúng, những điều hơi
sai và những điều rất sai. Đó là lẽ tự
nhiên, không có học giả, triết gia nào chỉ phát
biểu những điều hoàn toàn đúng. Socrate, Platon,
Aristote cũng vậy thôi, họ có những ư kiến
thật sáng nhưng cũng có những nhận định
sai lầm, thiếu sót. Bổn phận của những
người đi sau là giữ lại, bổ túc và khai
triển những đóng góp đúng, bỏ đi những
sai lầm và, dĩ nhiên, không ngừng thêm vào những khám
phá mới.
Văn hóa Khổng Giáo trở thành độc hại không
phải v́ nó sai ngay từ đầu mà v́ nó đă không
biết đổi mới. Nó đă khai thác triệt
để hai tính xấu của Khổng Tử là tinh
thần thủ cựu, bài bác điều mới lạ, và
tinh thần bất dung (thí dụ như việc giết
thiếu chính Măo chỉ v́ ông Măo có tài biện luận và
không đồng ư với Khổng Tử). Không những
thế nó c̣n bóp méo tư tưởng của chính Khổng
Tử.
Một thí dụ của sự xuyên tạc đó là tinh
thần an bần lạc đạo, nghĩa là cam phận
nghèo mà vui với đạo đức. Tinh thần này theo
các nho sĩ lấy từ một câu trong Luận Ngữ.
người quân tử chỉ lo giữ đạo lư
chứ không lo nghèo (quân tử ưu đạo bất
ưu bần). Nhưng Khổng Tử nào đâu có ư
định nói như thế. Ông nói nguyên văn như
thế này: Người quân tử mưu t́m học
đạo chứ không mưu t́m miếng ăn. Làm
ruộng có khi mất mùa cũng đói, c̣n học
đạo th́ có lộc. Người quân tử chỉ
cần lo học cho giỏi chứ đừng sợ nghèo
(Quân tử mưu đạo bất mưu thực. Canh dă,
nỗi tại kỳ trung hĩ. Học dă, lộc tại
kỳ trung hĩ. Quân Tử ưu đạo bất ưu
bần). Đó chỉ là một lời khuyên thực
dụng mà thôi, có nghĩa là cứ lo học đi rồi
sẽ được làm quan và sẽ có ăn. Nên nhớ
rằng mục đích của việc học đạo
chỉ là để được làm quan. ư Khổng
Tử qua câu nói này hoàn toàn không phải là sự chấp
nhận nghèo khổ miễn là sống hợp đạo
đức. (Cần hiểu chữ đạo của
Khổng Tử đồng nghĩa với nghề,
nghĩa là học thi, thư, lễ, nhạc cho thạo
để ra làm quan chứ không phải là đạo
đức như ta hiểu). Chính Khổng Tử cũng
rất ham phú quí, ông từng nói phú quí mà cầu
được th́ dù phải làm kẻ cầm roi đánh xe
ngựa ta cũng nhận (phú quí nhi khả cầu dă, tuy
chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi). Khổng Tử
lương thiện nhưng không phải v́ thế mà ông
đề cao sự nghèo khổ. Ông đă đi khắp
nơi cầu được làm quan, có lúc sẵn sàng làm gia
nhân cho những kẻ giàu có phản trắc. Nhân sinh quan
của ông rất thực dụng: cầu ích lợi cho ḿnh
và sống lương thiện. Đó là một nhân sinh quan
rất khiêm tốn về mặt đạo đức.
Từ đời nhà Hán, luân lư của Khổng Giáo bị
bóp méo đi để biến thành một thứ luân lư nông
nghiệp lạc hậu. Lưu Bang, tức Hán Cao Tổ,
sau khi diệt được Tần và Sở, thống
nhất thiên hạ, nhận định rằng mối nguy
cho ḍng họ ḿnh là những kẻ giàu có và gan dạ. Ông bèn
xóa bỏ thương nghiệp và chỉ giữ lại
nông nghiệp. Việc phân chia xă hội ra bốn giai
cấp sĩ, nông, công, thương bắt đầu
từ đó. Nếu chỉ xét về mục đích duy tŕ
quyền hành th́ nhà Hán hoàn toàn có lư. Nghe nông chân lấm
lấy bùn, được mùa th́ no, mất mùa th́ đói,
không thể nào giàu lớn được, gia tài chỉ là
ruộng đất, có bao nhiêu triều đ́nh thấy rơ
hết. Vả lại, người nông dân ở yên một
chỗ, kiến thức hạn hẹp mà đởm
lược cũng không có bao nhiêu. Trái lại, người
buôn bán giao du nhiều, hiểu biết rộng răi, lại
quen đương đầu với rủi ro thành ra gan
dạ (có gan làm giàu). Nghề buôn bán lại dẽ phát
đạt, có thể đưa tới những tài sản
rất lớn, kín đáo và dễ di chuyển. Những
thương nhân giàu có này lại không làm quan ăn lộc
vua và do đó không mang ơn vua như lớp nho sĩ,
họ có thể là những đe dọa lớn cho các vua
chúa. Chính v́ thế mà nhà Hán dẹp bỏ thương
nghiệp, và khi thương nghiệp đă bị xóa
bỏ, sự trao đổi hàng hóa không c̣n nữa th́ công
nghiệp chỉ c̣n là một nghề phụ của
nghề nông, làm ra những nhu yếu phẩm cho xóm làng mà
thôi. Dưới đời nhà Hán, thương nhân không những
bị trù dập thô bạo mà c̣n bị miệt thị
như những kẻ xấu xa, đáng khinh bỉ.
Các triều đại về sau có lúc nới lỏng cho
thương nghiệp đôi chút nhưng rời lại
xiết lại ngay. Triều đại nào cũng coi
thương nghiệp là mối nguy và đều ra sức
trù dập và miệt thị. Cuối cùng với thời
gian một giá trị mới đă được thêm vào
Khổng Giáo, đó là tâm lư khinh bỉ nghe buôn bán. Phải
công b́nh mà nói, tâm lư này hoàn toàn không có trong đầu óc
Khổng Tử. Cả Khổng Tử lẫn các môn
đệ của ông đầu không bao giờ bài xích
thương nghiệp, cũng như Marx không bao giờ
tưởng tượng có việc kiểm duyệt báo chí
hay những chiến dịch tẩy năo, những trại tù
cải tạo tư tưởng của các chế
độ cộng sản sau này.
Thương nghiệp là động cơ tiến hóa
của mọi xă hội. Nó vừa là sự chấp
nhận rủi ro cho đổi mới vừa là sự giao
lưu của người, của kiến thức, ư
kiến và sáng kiến. Nó cũng là sự giàu có.
Thương nghiệp đối với xă hội cũng
như máu đối với cơ thề, nó là yếu
tố tối cần thiết cho mọi sinh hoạt khác, dù
là nông nghiệp, cộng nghiệp hay văn hóa xă hội. Có
thương nghiệp mới có tiến bộ. Không có
thương nghiệp th́ xă hội tê liệt và dẫm chân
tại chỗ, kể cả về vật chất lấn
tinh thần, là lẽ tự nhiên. Trong những yếu
tố độc hại của Khổng Giáo, yếu
tố độc hại nhất trên hẳn mọi yếu
tố khác chính là sự thù ghét thương nghiệp, mà
về việc này th́ Khổng Tử hoàn toàn vô can. Nó là
một phát minh của Hán Nho và được duy tŕ v́
cần thiết cho sự ồn vững của các chế
độ quân chủ chuyên chế. Không phải là một
sự t́nh cờ mà các tiến bộ lớn của nhân
loại đă phát sinh từ các thị trấn buôn bán và
tư tưởng dân chủ cũng như các chế
độ dân chủ đầu tiên đă nảy sinh từ
đó. Cũng không phải là một sự t́nh cờ mà Hoa
Kỳ, một quốc gia tạp chủng, khởi hành
từ số không những có mẫu số chung là business,
đá mau chóng trở thành siêu cường số một
của thế giới.
Như đă nói, Việt nam vừa h́nh thành th́ đă
tiếp thu Khổng Giáo từ đời nhà Hán, nghĩa là
khi Khổng học đă bị tồi tệ hóa do sự
thêm vào nhiều yếu tố độc hại, trong đó
độc hại nhất là tâm lư thù ghét thương
nghiệp. Suốt ḍng lịch sử, chúng ta đă chỉ
biết có tâm lư này, không như người Trung Hoa ít ra
đă có một thời Xuân Thu Chiến Quốc trong đó
cả một rừng hoa tư tưởng nở rộ và
thương nghiệp phát triển mạnh. Chính v́ thế
mà văn hóa của ta thấp kém hơn văn hóa Trung
Quốc. Chính v́ thế mà chúng ta dở về buôn bán hơn
tất cả mọi quốc gia có cùng một chiều dài
lịch sử.
Như một người mù ḷa quen với bóng tối,
Việt nam cũng như Trung Quốc, nhưng hơn
cả trung Quốc, đă thích nghi với sự nghèo
khổ và t́m an ủi ngay trong sự nghèo khổ. An bần
lạc đạo là một triết lư và một thứ
thuốc an thần ru ngủ trí tuệ ta. Đáng lẽ
chỉ nên coi sự nghèo khổ là một t́nh trạng
đáng buồn cần chấm dứt, chúng ta coi nó như
một sự vinh quang. Đáng lẽ chỉ nên coi
người nghèo là những người không may cần
được giúp đỡ, ta lại coi họ là
những người trong sạch đáng tôn vinh. Tâm lư này
lại là tâm lư của kẻ sĩ, nghĩa là thành phần
tinh nhuệ nhất, hiểu biết nhất.
Nếu thù ghét thương mại là di sản độc
hại nhất của Khổng Giáo th́ nó cũng là di
sản nặng nề nhất của người Việt,
ngay trong lúc này.
Thế hệ của tôi, những người vào
đại học trong thập niên 1960, hoàn toàn bị tâm lư
trọng sĩ khinh thương chế ngự. Ước
mơ của chúng tôi chỉ là đậu cử nhân,
tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư để
được làm giáo sư giám đốc. Cha mẹ chúng
tôi cũng chúc tụng và mơ ước cho chúng tôi
tương lai đó. Tâm lư của chúng tôi hoàn toàn là tâm lư
kẻ sĩ, nghĩa là tâm lư làm quan hoặc làm công ăn
lương, dù chúng tôi chẳng hề học Tứ Thư,
Ngũ Kinh bao giờ. Cái tâm lư đó, chúng tôi đă tiếp
thu từ sinh hoạt gia đ́nh và xă hội. Và chúng tôi
cũng đă được giáo dục ngay tại
trường học theo tâm lư đó. Nhưng mẫu
người mà chúng tôi được khuyến khích dề
noi gương chỉ là những danh tướng, danh
thần, những nhà nho liêm chính, những nhà thơ, nhà
văn, hoàn toàn không có một doanh nhân nào. Ngay cả
những danh nhân ngoại quốc chúng tôi biết
đến cũng chỉ là những ông vua, ông
tướng, hay các nhà bác học, các nhà chính trị và các nhà
văn lớn chứ hoàn toàn không có một doanh nhân nào. Doanh
nhân là một giống người không ra ǵ. Chúng tôi đă
lớn lên với một hệ thống giá trị như
thế. Chúng tôi được đào tạo để làm
những con người sống ngoài lề xă hội hay,
nếu may mắn hơn, sống trên xă hội chứ không
hội nhập và sống trong xă hội. ở vào thế
hệ của tôi, và một phần nào đó ngay bây giờ
tại Việt nam, học hết tú tài là đă thuộc
thành phần tinh nhuệ của xă hội. Tôi may mắn
thuộc vào thành phần tinh nhuệ nhất của thành
phần tinh nhuệ đó. Bạn bè quen biết của tôi
có vài trăm người được đi du học
tại châu Âu, Hoa Kỳ, úc, New Zealand và Nhật. Tất
cả đều thông minh tuấn tú, tất cả
đều đă thành công theo tiêu chuẩn Việt nam,
nghĩa là ngày nay chúng tôi đều có văn pḥng luật
sư, pḥng mạch bác sĩ, nha sĩ, làm giáo sư hay
kỹ sư, với một cuộc sống tương
đối thoải mái, nhưng doanh nhân th́ chỉ có
một vài người. Một số kỹ sư, chuyên
viên nay đă ngoài năm mươi tuổi, lương quá
cao so với yêu cầu của xí nghiệp đang ḥi
hộp lo âu bị cho nghỉ việc, có những
người đă mất việc. Nếu khối sinh
lực và trí tuệ đó được dồn vào kinh
doanh th́ đất nước đă khá hơn biết bao
nhiêu, và ngay cả cuộc sống của mỗi chúng tôi
cũng khá hơn nhiều. Hơn nữa nghề làm công, hay
nghề cá nhân, đă không cho chúng tôi những cơ hội
để tiếp xúc và học hỏi, cũng không
đặt chúng tôi trước những trách nhiệm quan
trọng; kết quả là giờ đây, vào giai đoạn
gần chót của sự nghiệp, chúng tôi không những
chỉ b́nh thường về vật chất mà c̣n kém
cỏi cả trong tầm vóc và sự hiểu biết.
Thế hệ chúng tôi đă thừa hưởng một
hệ thống giá trị độc hại và đă
truyền lại nọc độc cho thế hệ sau. Tôi
chưa nhận thấy một chuyển biến tâm lư
đáng kể nào trong giới trẻ Việt nam. Phần
lớn các con cháu của các bạn tôi đều
hướng về những ngành học thuần túy kư
thuật, và khi họ có học về doanh thương th́
cũng chỉ với tâm lư công nhân mà thôi. Tôi tiếp xúc
với nhiều thanh niên và lúc nào cũng hỏi họ
dự định thế nào cho tương lai, họ
sẽ làm ǵ ở tuổi bốn mươi. Cho tới nay
những câu trả lời của họ cũng không khác bao
nhiêu so với thế hệ chúng tôi. Việt nam vẫn c̣n
chờ đợi một chuyển biến tâm lư lớn, dù
đă trải qua nhiều xáo trộn khốc liệt.
Đó là tôi chỉ gặp một thành phần thanh niên may
mắn có cơ hội để tiếp xúc với thế
giới tiến bộ bên ngoài, những người
lớn lên tại hải ngoại, hoặc những thành
phần ưu tú được gởi ra nước ngoài
làm nghiên cứu sinh hay thực tập sinh. Những thanh niên
ở Việt nam sang c̣n cho tôi hay tâm lư của thanh niên trong
nước c̣n tŕ trệ hơn họ về mặt kinh
doanh. T́nh trạng này cho thấy ảnh hưởng của
một nền văn hóa dai dẳng tới mức nào.
Chúng ta vẫn c̣n là những đứa con tinh thần
của Khổng Giáo Việt nam một thứ Khổng Giáo
đặc biệt tăm tối. Cái văn hóa Khổng Giáo
đó đă làm thui chột cả một dân tộc. Nó
khiến chúng ta dị ứng thương nghiệp đă
đành, nhưng nó cũng gây ra một mặc cảm
thấp kém ngay cả trong một số hiếm hoi dám kinh
doanh buôn bán. Một người Việt nam hănh diện
với một đứa con tốt nghiệp đại
học và lănh lương vừa đủ sống hơn
là một đứa con bán phở với lợi tức
gấp bốn, năm lần. Một thương gia giàu có
cũng thích gả con gái cho một tiến sĩ hơn là
một thương gia trẻ, và cũng rất hài ḷng
nếu tất cả các con ḿnh trở thành bác sĩ, kỹ
sư và bỏ nghề buôn. Họ không thể trở thành
những thương gia lớn được bởi v́
họ không hănh diện về nghề nghiệp của họ,
và họ không hănh diện về nghề nghiệp của
họ v́ thành phần xă hội của họ bị khinh
khi. Ngôn ngữ Việt nam không thiếu những danh từ
thóa mạ đối với người buôn bán: tên lái buôn,
bọn con buôn, bọn hàng tôm hàng cá, v.v:.. Sự khinh bị
này đưa tới một hậu quả thực sự
là những người buôn bán nhỏ bị co cụm
lại thành những nhóm cô lập, hờn giận với
phần c̣n lại của xă hội, rồi cũng mất
đi sự tự trọng và cư xử một cách
rất thô lỗ trái ngược với tinh thần
phải có của thương nghiệp. Kết quả là
cả nghề buôn bán lẫn việc buôn bán đều không
vươn lên được.
Văn hóa Khổng Giáo Việt nam tạo ra những thành
kiến rất sai lầm và bất công đối với
các thương gia. Sau khi đậu xong tú tài I tôi
được một thương gia giàu có mướn
dạy kèm cô con gái vừa lên đệ tứ, tức
lớp 9 bây giờ. Những thành kiến sai lầm đă
khiến tôi h́nh dung ông ta là một con người vô học
chỉ sống v́ đồng tiền, và chắc là giả
dối và gian lận. Tôi khám phá ra ḿnh ngu dốt. Hai ông bà
vất vả suốt ngày, họ chỉ về nhà vào
khoảng 9, 10 giờ tối. Họ bặt thiệp,
hiền lành và rất hiểu biết. Tôi nhận ra bà
ấy thông minh hơn hẳn các bà mẹ Việt nam khác và
ông ấy có kiến thức cao hơn và rộng hơn
hẳn những giáo sư của tôi. Ông bà ấy h́nh như
chưa học hết bậc trung học, nhưng họ
đă đạt tới tŕnh độ hiểu biết cao
nhờ học hỏi trong cuộc sóng, bằng sự giao
tiếp trong xă hội và bằng suy tư cá nhân. Cuộc
gặp gỡ kéo dài hơn một năm này đă là một
may mắn lớn cho tôi. Tôi được một số
tiền thù lao khá lớn, đủ sống cho ḿnh mà c̣n giúp
đỡ được cả gia đ́nh; nhưng tôi c̣n
được cả một sự tỉnh ngộ.
Sau khi đi du học về, tôi làm tại Ngân Hàng Việt
nam Thương Tín rồi sang Bộ Kinh Tế và lại có
dịp gặp gỡ nhiều doanh nhân khác. Ngay khi về
Việt nam tôi đă được nghe nhiều huyền
thoại về các doanh nhân người Hoa, những Lư Long
Thân, Huỳnh Trù, Trần Thành, Trương Đông
Lương, v.v... Họ được mô tả là
những người giàu sụ, có biệt tài làm ra tiền
mặc dầu dốt nát tới độ kư tên ḿnh c̣n run
tay. Sự hiểu ngầm ở đàng sau là họ giàu có
nhờ khôn vạt, láu cá, mánh mung.
Điều đáng để ư là thành kiến không tốt
đối với các doanh nhân gốc Hoa này không phải
chỉ có trong dân chúng và báo chí, mà c̣n hiện diện ngay
cả trong giới chuyên viên tài chánh, đáng lẽ ra
phải được giác ngộ về kinh doanh. Hoàn
cảnh đă cho tôi cơ hội gặp gỡ với
những người này, và tôi nhận ra họ là nhưng
con người rất thông minh và ngay thẳng. Không
những thế, họ c̣n có kiến thức rộng răi
về những vấn đề chính trị, văn hóa và
xă hội. Trong buổi lễ khánh thanh một nhà máy cán
sắt mới của công ty Vicasa, Lư Long Thân, chủ
tịch công ty, sắp xếp để tôi ngồi ngay bên
cạnh ông, buổi tiệc đă kéo dài hơn
thường lệ v́ sau cà phê Lư Long Thân c̣n tṛ chuyện
với tôi hơn hai giờ nữa. Lư Long Thân không cần ǵ
tôi cả, ông ấy chỉ nói chuyện v́ gặp
người hợp ư mà thôi. Ông ấy kể cho tôi những
cuộc gặp gỡ và nhưng câu chuyện giữa ông
ấy với các cấp lănh đạo Việt nam Cộng
Ḥa và đặc biệt là buổi gặp gỡ một
tuần trước đó với đại sứ Mỹ
Graham Martin. Lư Long Thân hiểu biết nguy cơ đối
với Việt nam Cộng Ḥa hơn là các cấp lănh
đạo Việt nam mà tôi thường gặp. Nếu
Nguyễn Văn Thiệu thực sự dùng Lư Long Thân làm
cố vấn như nhiều lời đồn đại
th́ có thể Việt nam Cộng Ḥa đă may mắn hơn.
Tâm lư bài bác thương nghiệp và tôn vinh sự thanh
bạch tạo ra cho người Việt nam một quan
hệ bệnh hoạn và tội lỗi đối với
tiền bạc. Chúng ta đều biết quyền lực
của đồng tiền, câu tục ngữ có tiền mua
tiên cũng được không phải mới có. Hai
chữ nói lái đầu tiên là tiền đâu cũng không
mới. Chúng ta đều cần tiền và muốn có
tiền nhưng chúng ta không đám công khai kiếm tiền,
chúng ta được giáo dục để coi kiếm
tiền như là một sự vẩn đục và chúng ta
cố làm ra vẻ khinh thường sự giàu có và hănh
diện với cảnh thanh bần. Chúng ta muốn mà không
dám, chúng ta ao ước và giấu giếm như một
tiểu thư con nhà gia giáo bề ngoài đề cao
tiết hạnh dù trong pḥng vắng nhiều đêm cũng
trằn trọc mơ ước những giây phút hoan
lạc của một cô gái phá lệ. Cả một xă
hội sống trong sự giả dối. Tâm lư này tạo
ra cả một truyền thống tham nhũng. Thành
phần tinh nhuệ đua nhau đi làm quan thay v́ làm giàu.
Mặt khác, các ông quan thời xưa và các quan chức nhà
nước ngày nay không thể sống với đồng
lương chật hẹp cho nên phải dựa vào quà cáp,
hay phải nhắm mắt để các bà vợ ăn
tiền thay ḿnh để giữ được một
mức sống đàng hoàng. (H́nh như ngày nay đă
tiến bộ hơn, các quan chức thẳng thắn
đ̣i tiền hối lộ chứ không cần qua một
trung gian nào cả). Chống tham nhũng ở Việt nam
rất khó v́ chúng ta có cả một văn hóa tham nhũng do
truyền thống để lại.
Văn hóa thanh bần của Khổng Giáo cũng đă
đem lại cho chúng ta những tai họa về chính
trị. Ông Hồ Chí Minh và ông Ngô Đ́nh Diệm đều
được kính trọng v́ họ tỏ ra là những
người thanh liêm. Họ không có vợ, và điều
đó h́nh như kéo theo hệ luận là họ trong
sạch, thanh liêm. Họ được tín nhiệm về
đức chứ không phải v́ tài và thực sự
cả hai đều không có khả năng, cả hai
đều thiếu bản lĩnh, đều không nh́n
thấy những vấn đề và những giải pháp
cho đất nước, nhưng họ đă
được văn hóa và tâm lư Việt nam đặt vào
vị trí quyết định vận mệnh của
đất nước trong một giai đoạn trọng
đại. Ông Hồ Chí Minh được tôn sùng hơn
ông Ngô Đ́nh Diệm v́ đóng kịch khéo hơn, ông
xuất hiện như một nhà nho khổ hạnh,
sống suốt đời và tất cả cho dân tộc,
trong khi thực ra ông là một người ham thụ
hưởng hơn hắn mức trung b́nh. Cả hai ông, dù
đă được ngoại bang nâng đỡ hay
đặt để, cũng đă là sản phầm
của văn hóa Khổng Giáo. Hai ông không chiếm
độc quyền sân khấu chính trị Việt nam
nhưng là những nhân vật tiêu biểu nhất.
Những người lănh đạo chính trị khác, khi
không hoàn toàn do ngoại bang chọn lựa, cũng giành
được địa vị v́ những lư do thuần
túy thuộc đức . Họ được tiếng là
những người, hoặc thanh liêm, hoặc can
trường, hoặc có công v́ đă vào tù ra khám, chứ hoàn
toàn không phải v́ họ được nh́n nhận là có
khả năng làm cho đất nước giàu có hơn.
Kết quả: bốn triệu người chết và
một GDP 300 đô la mỗi năm cho mỗi đầu
người.
Văn hóa Khổng Giáo c̣n để lại cho chúng ta
một di sản khác là sự vô lễ quá đáng. Mới
đây tôi được đọc trên một tờ báo
trong nước một bài của nhà văn Trần
Mạnh Hảo đả kích một nhà văn khác vừa
được giải thưởng văn học.
Trước đây tôi đă được biết
đến Trần Mạnh Hảo qua tác phẩm Ly Thân và có
cảm t́nh với ông. Sau này tôi lại được nghe
những dư luận không tốt về tư cách của
ông từ những người mà tôi kính trọng về
kiến thức và nhân cách. Tôi vẫn c̣n phân vân và bài báo
của Trần Mạnh Hảo một phần nào đă
giải tỏa cho tôi sự phân vân đó. Trần Mạnh
Hảo đả kích đoạn của tác phẩm
thuật lại chuyện vua Hàm Nghi bị Pháp bắt.
Trần Mạnh Hảo hoàn toàn không dựa vào một tài
liệu nào cả, nhưng cảm thấy có thể
thẳng thắn bác bỏ chuyện của tác giả kia.
Tại sao? Chỉ giản dị là tại cách xưng hô.
Tác phẩm kia thuật lại những lời đối
đáp của viên công sứ Pháp gọi vua Hàm Nghi là ngài, là
nhà vua, v.v... Như thế là đủ để Trần
Mạnh Hảo quả quyết là tác giả đó đă
bịa đặt trắng trợn bởi v́ có khi nào
một người chiến thắng lại nói với
một tù nhân với lời lẽ cung kính như vậy.
Trần Mạnh Hảo không hiểu rằng đó là cách
đối xử rất tự nhiên và rất b́nh
thường của người phương Tây, bởi v́
Trần Mạnh Hảo thuộc văn hóa Việt-Trung,
trong đó sự lỗ măng là một thông lệ. Những
ai đọc truyện Tàu và truyện đă sử Việt
nam đều đă quá quen với ngôn ngữ xỉ vả
và thóa mạ kẻ thù, nhất là kẻ thù sa cơ thất
thế (trong các truyện Tàu tôi chỉ thấy thời Tam
Quốc có Tào Tháo và Tôn Quyền là đôi khi đối
đáp nhă nhặn với người chiến bại).
Một chi tiết khác trong bài của Trần Mạnh
Hảo là lời lẽ của nó rất gay gắt. Đó
cũng là đặc tính chung của phần lớn
những bài tranh luận giữa người Việt nam
thuộc mọi thế hệ. H́nh như chúng ta cảm
thấy có bồn phận phải nổi giận khi không
đáng.
Nhưng sự lỗ măng không phải là một nét
đặc trưng của riêng văn hóa Khổng Mạnh,
mà là của mọi nền văn hóa trong đó thương
mại thiếu vắng. Thương mại khiến
người ta gặp gỡ nhiều, tiếp xúc rộng
và trở thành lịch sự. Thương mại cũng
bắt buộc người ta t́m lời lẽ trang nhă
để thuyết phục khách hàng. Thương mại
cũng bắt buộc người ta t́m hiểu khách hàng,
đặt ḿnh vào địa vị khách hàng để
cố khám phá khách hàng muốn ǵ và sau đó để chinh
phục cảm t́nh của khách, để khách mua hàng hóa hay
dịch vụ cần dùng nơi ḿnh thay v́ nơi một nhà
cũng cấp khác. Những người có chút kinh
nghiệm về thương mại đều hiểu
rằng muốn như thế th́ chỉ có một cách là
phải rất lương thiện, rất lễ
độ và quí mến khách hàng một cách thực sự.
Cảm t́nh và khả tín là hai vốn quí nhất của
một doanh nhân. Thiếu hai đức tính đó th́ tốt
hơn hết là đừng đi vào thương
nghiệp, cùng lắm chỉ thành công nhỏ và tạm
bợ mà thôi. Chính v́ thế mà các dân tộc buôn bán cũng là
những dân tộc khả ái nhất.
Đọc một số bài phê phán văn hóa Khổng Giáo
của tôi một số thân hữu thường bày tỏ
sự lo ngại là nếu không c̣n Khổng Giáo liệu chúng
ta có mất luôn các lễ giáo cỗ truyền của ḿnh
không? Xin các bạn yên tâm. Trước hết, chỉ 10 các
bạn không bỏ được sớm thôi, từ giă
một nền văn hóa khó lắm. Sau đó, chúng ta sẽ
lễ độ hơn chứ không mất lễ
độ đâu. Một cách không chủ ư nhưng có
thực, văn hóa Khổng Giáo, v́ loại bỏ
thương mại, đă khiến con người trở
nên vô lễ. Có những thân hữu khác lại biện
luận rằng không nên bài xích Khổng Giáo v́ chính nhờ
Khổng Giáo mà Việt nam và Trung Quốc đă
được ổn định trong hơn hai ngàn năm.
Nhưng ổn định nào? ổn định trong
sự dậm chân tại chỗ, trong sự nghèo khổ,
ḱm kẹp và thua kém, có phải là một ổn định
đáng mong muốn không? Chúng ta đă là chúng ta ngày hôm nay
chính v́ chúng ta đă là nạn nhân của sự ổn
định đó. Mà thực ra có ổn định ǵ
đâu. Lịch sử Trung Hoa và Việt nam, nhất là
Việt nam trong hai mươi thế kỷ Khổng Giáo cho
đến thế kỷ 19 đă đấm máu hơn
lịch sử của mọi dân tộc khác, với đàn
áp thường trực và nỗi loạn triền miên, khi
không có chiến tranh với ngoại bang. Các bạn thử
đọc lại thật kỹ lịch sử
nước ta xem trước khi người Pháp
đến, chúng ta có bao nhiêu năm chiến tranh? Các bạn
sẽ khám phá ra con số thật kinh khủng và các bạn
cũng sẽ thấy rằng con số những năm
chiến đấu chống ngoại xâm chỉ chiếm
một tỷ lệ không đáng kể. Văn hóa Khổng
Giáo do tính bất dung và vô nhân đạo của nó
đặt xă hội trong t́nh thế thù địch
thường trực. Cái mà chúng ta gọi là sự ổn
định thực ra chỉ là sự tŕ trệ.
Truyền thống nào cũng có sức mạnh quán tính
của nó.
Truyền thống càng dài quán lực càng cao. Không có ǵ
đáng ngạc nhiên nếu khi phải từ giă một
tập quán chúng ta cảm thấy một mất mát lớn,
bởi v́ các lập quán nằm trong vô thức của chúng
ta và gắn bó với cơ thể của chúng ta. Sự
nghèo khổ không phải chỉ là một t́nh trang mà là
cả một hệ thống có cả đạo
đức, triết lư, sự thỏa măn và niềm hănh
diện của nó. Thoát ra khỏi sự nghèo khổ không
phải là dễ bởi v́ chính những người nghèo
cảm thấy nếp sống của họ là đúng
đắn, không có ǵ phải thay đổi. Cũng
thế, những lập quán tệ hại đến
đâu vẫn có cái tiện nghi gớm ghiếc, nhưng có
thực, của chúng. Những người chống
đối hủ tục bó chân phụ nữ của Trung
Hoa không ai khác hơn là chính các phụ nữ Trung Hoa.
Nhưng người lúc ban đầu phản đối
mạnh nhất chiếc áo dài duyên đáng hiện nay
của phụ nữ Việt nam không ai khác hơn là chính các
phụ nữ Việt nam. Cũng những phụ nữ
Việt nam và Trung Hoa khả kính đă bảo vệ một
cách nồng nhiệt nhất tam ṭng, tứ đức - và
chữ, trinh gớm ghiếc - đă đầy đọa
họ trong hàng chục thế kỷ.
Đọc lịch sử Việt nam, có một trang mà chúng
ta không thể đọc mà không nhỏ lệ. Lần
đầu tiên trong lịch sử nước ta đă có
hàng chục ngàn người dân rất b́nh thường,
chọn lựa đi tới trước đao phủ thay
v́ từ bỏ ḷng tin của ḿnh. Đó là những
người Công Giáo dầu tiên của Việt nam, nạn
nhân của chính sách cấm đạo dưới triều
Nguyễn. Dù chia sẻ hay không tin tín ngưỡng của
họ, mọi người Việt nam đều có thể
hănh diện về sự dũng cảm đó. Đối
đầu với họ, những người
hưởng ứng chính sách cấm đạo và xả thân
đi đánh các họ đạo là ai? Đó là những
người Văn Thân, Cần Vương, những
người cũng đáng quí nhất của dân tộc,
nghĩ rằng ḿnh đang hy sinh bảo vệ đất
nước của cha ông chống lại một cuộc
xâm lăng mới và một tà thuyết mới. Nếu chúng
ta, thay v́ là một xă hội nông nghiệp khép kín, là một
dân tộc có truyền thống thương mại và trao
đổi th́ phản ứng của chúng ta chắc
chắn sẽ không như thế.
Điều mà chúng ta đang cần là một sự
mạnh bạo đoạn tuyệt với một tâm lư
lỗi thời và dám đổi mới, dám từ bỏ
đường xưa lối cũ, dám muốn đi
tới những chân trời mới, t́m những thành công thật
lớn. Các bạn có thể hỏi tôi, nói lung bung như
vậy có ích lợi ǵ không, có đề nghị cụ
thể ǵ không? Có một đề nghị nhỏ rất
dễ làm, mà nếu các bạn cùng làm tôi bảo đảm
là chỉ trong ṿng một thế hệ đất
nước sẽ rất khá. Đề nghị đó
như thế này: khi một đứa trẻ ra chào
đời các bạn hăy hôn và chúc nó: Con sẽ là doanh nhân,
con nhé?.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Tổ quốc của kẻ sĩ
Có
một điều đáng để ta ngạc nhiên và suy
nghĩ là tại sao một nước lớn như Trung
Quốc lại thường bị đánh bại rất
dễ dàng? Các nước thời Xuân Thu Chiến Quốc
phải xây tường ngăn chặn các sắc tộc
phương Bắc thay v́ chinh phục họ. Tần
Thủy Hoàng binh hùng tướng mạnh như thế,
gồm thâu cả lục quốc mà sau khi thống nhất
Trung Quốc cũng không làm ǵ hơn là tiếp tục xây
Vạn Lư Trường Thành ngăn chặn thay v́ tiến
công. Như thế th́ cái sức mạnh đó cũng
đáng đặt một dấu hỏi lớn.
Người Mông Cổ ở thế kỷ 12 chắc không
tới một triệu dân mà đánh chiếm
được Trung Quốc. Trước đó nhà Tống
cũng đă bị nước Kim nhỏ bé ở phía
Đông Bắc khuất phục. Người Mông Cổ chiếm
Trung Quốc lập ra nhà Nguyễn mà không gặp chống
đối. Nhà Nguyễn sụp đổ sau hơn một
thế kỷ thống trị Trung Quốc không phải do
một cuộc kháng chiến quốc gia nào mà chỉ v́ quan
lại Mông Cổ về sau tham tàn dồn dân chúng tới
t́nh trạng không chống lại cũng chết đói.
Giặc giă nổi lên khắp nơi, Chu Nguyên Chương,
sáng tổ nhà Minh, là thủ lănh một trong những nhóm
nổi dậy đó. Chu Nguyên Chương giành được
ngôi bá chủ phần lớn là v́ ông ta không chống quân
Nguyên, trái lại ông ta để cho các nhóm khác đánh nhau
với quân Nguyên cho đến khi kiệt quệ rồi
đột kích tiêu diệt họ. Chu Nguyên Chương không
có mục đích đánh đuổi quân Nguyên giành lại
độc lập cho Trung Quốc mà chỉ lo lập
nghiệp đế cho ḿnh, ông không đặt vấn
đề dân tộc. Dưới mắt ông ta, quân Nguyên hay
các nhóm khác đều là những đối thủ như
nhau. Thắng lợi của Chu Nguyên Chương. không
phải là thắng lợi của một cuộc chiến
tranh giải phóng, mà chỉ là thắng lợi của
một thủ lănh tham vọng nhất và khôn lỏi
nhất trong một thời mà Trung Quốc phân lán.
Người Trung Quốc chống lại triều Nguyên
một cách bất đắc dĩ v́ bị ức hiếp
quá chứ không phải v́ tinh thần dân tộc.
Ba thế kỷ sau, Trung Quốc, dưới triều Minh
lại bị nước Măn Châu nhỏ bế thôn tính, và
lần này mọi nhóm chống đối đầu bị
tiêu diệt. Cuộc nổi loạn lớn nhất do Hồng
Tú Toàn lănh đạo đă bị chính những nho sĩ
Trung Quốc phục vụ nhà Thanh đánh bại. Nhà Thanh
đă chỉ sụp đổ trước sức công phá
của phương Tây và trước trào lưu dân chủ.
Xét trong ḍng lịch sử th́ tinh thần dân tộc của
người Trung Quốc rất yếu, nếu không muốn
nói là không có. Kẻ nào mạnh nhất trong số những
cường hào lănh chúa kẻ đó làm chủ Trung Quốc,
bất luận ông ta là người Hoa hay không.
Năm 1778, khi nước Anh đă chinh phục
được ấn Độ, toàn quyền Anh tại
ấn cử một cộng sự viên là Chapman sang
điều nghiên về t́nh h́nh Việt nam. Lúc đó anh em
Tây Sơn đă diệt được chúa Nguyễn, thanh
thế kinh động cả nước. Tám năm sau Tây
Sơn diệt Trịnh dễ như trở bàn tay. Chapman
đi tham quan khắp nơi và được anh em Tây
Sơn tiếp đón ân cần nên có dịp nh́n thấy rơ
lực lượng của các phe, đặc biệt là phe
Tây Sơn mạnh nhất lúc đó. Chapman phúc tŕnh cho toàn
quyền Anh tại ấn Độ như sau: quân
đội của Nguyễn Nhạc không đáng kể, giá
trị quân sự rất kém. Tôi có thể nói chắc
chắn là độ một trăm người có kỷ
luật sẽ đánh bại toàn bộ quân lực của
ông ta
Cái ǵ đă khiến Chapman đánh giá lực lượng Tây
Sơn thấp quá như vậy. Không phải chỉ là
sự tin tưởng vào vũ khí công hiệu hơn,
vả lại Chapman chỉ nói tới kỷ luật.
Những người nô lệ da đen nổi lên tại
Hai ti đă đánh tan cả một quân lực hùng hậu
của Napoléon I quân đội Anh tinh nhuệ như vậy
mà cũng đă bị tiêu diệt toàn bộ một lữ
đoàn trước một số bộ lạc Nam Phi
chỉ trong một trận đánh. Vũ khí không quyết
định tất cả như ta có thể nghĩ. Sự
yếu kém của một quân đội chủ yếu là v́
nó thiếu lư do để chiến đấu, và v́ thế
thiếu tổ chức và gắn bó.
Một thế kỷ sau, người Pháp đỗ bộ
vào Việt nam và cũng đánh bại quân Việt nam
dễ dàng. Tại miền Nam, Phan Thanh Giản tự
vẫn thay v́ chống lại, để quân Pháp chiếm ba
tỉnh miền Tây không tốn một viên dạn. Phan Thanh
Giản đă tuân tiết th́ chắc chắn không phải
là người thiếu dũng cảm, ông đă chỉ
thấy t́nh h́nh tuyệt vọng mà thôi. Tại miền
Bắc, vài trăm quân Pháp đă có thể hai lần đánh
bại quân Việt nam trong chớp mắt. Cả Nguyễn
Tri Phương lẫn Hoàng Diệu đều là những
tướng có thừa dũng cảm nhưng họ không
làm ǵ được bởi v́ quân đội nhà Nguyễn
tuy đông nhưng không có sức mạnh. Để
chiếm các tỉnh miền Bắc có khi Pháp chỉ cần
mười người lính bắn vài phát súng thị uy là
tổng đốc bỏ chạy hoặc tự trối ra
hàng. Nếu bảo rằng đó là do vũ khí tối tân
th́ tại sao vài ngàn quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh
Phúc lại đánh bại được quân Pháp?
Lư do thực sự là v́ chúng ta thiếu tinh thần quốc
gia dân tộc.
Và một khi đă thiếu tinh thần quốc gia dân
tộc th́ sức mạnh của quân đội chỉ
dựa trên quyết tâm và bản lănh của người
thủ lănh. Khi chúng ta có những thủ lănh giỏi như
dưới thời Lư, Trần hay trong cuộc khơi
nghĩa của Lê Lợi th́ ta có sức mạnh, khi ta không
có tướng giỏi th́ quân đội ta không có giá
trị. Các triều đại Trung Hoa và Việt nam có thể
suy sụp rất nhanh chóng v́ một ông vua dở bởi v́
vua là tất cả. ư niệm quốc gia dân tộc không có,
do đó không có một sức mạnh quốc gia
độc lập với nhà vua. Cái lô-gích về sức
mạnh tại Trung Quốc và Việt nam rất giản
dị: một người, nhờ bản lănh hay
địa vị, qui tụ quanh ḿnh một đội
ngũ nhỏ, rồi dùng đội ngũ đó
để khống chế dân chúng, bắt dân chúng phải
phục tùng ḿnh và chiến đấu cho ḿnh chứ không
dựa trên một ư chí chung. Chính v́ thế mọi lực
lượng có thể thay đổi rất mau chóng tùy theo
người thủ lĩnh.
Trong một bài báo tôi có phát biểu rằng ư niệm
quốc gia dân tộc rất mới đối với chúng
ta, các cụm từ yêu nước hay ái quốc hoàn toàn
không có trong ngôn ngữ Việt nam trước thế
kỷ 20. Nhận định này đă bị một số
người phản đối, họ quả quyết
sẽ t́m được bằng cớ ngược
lại. Gần bốn năm đă trôi qua vẫn chưa ai
t́m được. Có thể sau này có vị sẽ t́m
thấy trong một tài liệu nào đó, nhưng một thí
dụ hiếm hoi cũng sẽ không phản bác
được nhận xét của tôi là tinh thần quốc
gia của chúng ta chỉ mới xuất hiện trong
thế kỷ này. Các quân tướng và sĩ tử của
ta trước đây chỉ biết có vua chứ không
biết tới nước.
Tại sao tôi dám quả quyết như vậy mặc dù
chưa đọc hết các tài liệu và tác phẩm
Việt nam? Đó là v́ khái niệm nước như là
một thực thể khác với vua, của chung mọi
người và mọi người có bổn phận
phục vụ và bảo vệ, chưa có. Mà nước
đă không có th́ làm ǵ có chuyện yêu nước. Văn hóa
Khổng Giáo, độc tôn trên đất nước ta cho
tới thế kỷ 20, không nh́n nhận sự hiện
hữu của quốc gia. Đó là một điều
chắc chắn.
Khi Khổng Tử dạy các sĩ tử nước nguy
th́ đừng tới, nước loạn th́ đừng
ở, nước có đạo th́ ra ra làm quan, nước
vô đạo th́ ta ở ẩn rơ ràng ông không nh́n nhận
bất cứ một bổn phận nào đối với
nước cả, ông chỉ coi nước là của
một chủ, kẻ sĩ thấy phục vụ ông
chủ đó có lợi th́ làm không có lợi th́ thôi. Cái
triết lư ở ẩn mà Khổng Tử nhắc đi
nhắc lại rất nhiều lần trong Luận Ngữ
và sau này đă trở thành cả một đạo sống
của nho sĩ, là ǵ nếu không phải là sự phủ
nhận quốc gia và sự khước từ mọi
nhiệm vụ đối với cộng đồng? Thái
độ của kẻ sĩ rất rơ rệt: chỉ
mưu lợi cho ḿnh và sống trung thành với nghề
sĩ, nghĩa là nghề đi học và làm quan của ḿnh.
Phải nói rằng các nho sĩ rất có đạo lư
nghề nghiệp. Họ trung thành tuyệt đối
với người chủ đă dùng họ và dù
được làm quan hay thất nghiệp họ vẫn
hănh diện với nghề của ḿnh và tôn trọng
những giá trị của nó. Những nhà nho không có tổ
quốc, họ chỉ biết tới các tổ nghề,
nghĩa là các thánh hiền của họ, và người
chủ tuyển dụng họ, nghĩa là nhà vua.
Quốc gia là một ư niệm trừu tượng cần
được nuôi dưỡng bởi những
người có văn hóa, nhưng trong xă hội Khổng
Giáo những người có văn hóa duy nhất là các nho
sĩ lại không nh́n nhận quốc gia, như thế th́
không thể có quốc gia theo ư nghĩa một thực
thể riêng biệt được. Trong xă hội Khổng
Giáo, nước chỉ là vùng đất thuộc quyền
sở hữu của nhà vua mà thôi, những con người
sống trên vùng đất đó chỉ là những nô
lệ của vua, vua muốn cắt đất nhường
dân cho ai tùy ư. Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lư
Thường Kiệt mà chúng ta coi là một bài thơ yêu
nước cũng chỉ nhắc lại quan niệm
đó: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (núi sông
nước Nam là của vua nước Nam).
Cái gương Khổng Tử đi hết nước này
sang nước khác để xin làm quan (có lúc ông
định vượt biển sang pḥ vua Cao Ly) đă
chứng minh rơ ràng kẻ sĩ không có tổ quốc.
Vả lại cho đến khi người phương Tây
sang chinh phục vấn đề quốc tịch không
hề đặt ra; ai sống ở đâu th́ là dân của
ông vua nơi đó, có thể làm quan cho ông vua đó, nhưng
nếu đi nước khác cũng có thể làm quan và
tuyệt đối trung thành với một ông vua khác, ngay
cả nếu phải cầm quân đi đánh nước
cũ. Ngũ Tử Tư đời chiến quốc
bị trách là rước voi về dày mả tổ bởi
v́ tổ tiên ông và chính ông đă làm quan nước Sở mà
sau này ông lại dẫn quân Ngô về dày xéo lăng miếu
nước Sở. Sẽ không ai trách ông nếu
trước đó tổ tiên ông và chính ông chỉ là
thường dân nước Sở. Trong lịch sử Trung
Hoa, không thiếu những người nước này sang
làm tướng quốc nước khác. Trong lịch sử
Việt nam, Đàng Trong (miền Nam) và Đàng Ngoài (miền
Bắc) được coi là hai nước riêng biệt,
Nguyễn Nhạc và vua Lê Hiển Tông khi đối đáp
với nhau gọi lănh thổ của nhau là quí quốc
một cách rất tự nhiên.
Khi quân Thanh sang Việt nam năm 1789, để rồi
bị Nguyễn Huệ đánh bại, dân Bắc Hà
thấy gần gũi với quân Thanh hơn là quân Tây
Sờn và cầu mong cho quân Thanh thắng. Dĩ nhiên
cuộc chung đụng trong hàng ngàn năm phải làm
nảy sinh ra một t́nh cảm cộng đồng,
nhưng nó chỉ là t́nh cảm của những
người cùng chung và cùng chịu một số phận
(bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn), nó c̣n ở rất
dưới điều mà ta có thể gọi là tinh thần
quốc gia dân tộc hay ḷng yêu nước. Điều
đó dễ hiểu, kẻ sĩ, những kẻ c̣n
được hưởng một vinh quang nào đó
của chế độ chính trị, đă không có tổ
quốc th́ người dân, những người nô lệ,
lại càng không có lư do ǵ để có tổ quốc.
Nước là vua, mà vua là cái gông cùm. Không có tội nhân nào yêu
gông cùm cả. Những kẻ không có ǵ th́ cũng không có
bổn phận nào. Khi người Mông Cổ, Măn Thanh và
những nước phương Tây xâm chiếm Trung
Quốc, họ đă không đụng độ với nhân
dân Trung Quốc, mà chỉ đụng độ với
cấc vua nhà Tống, nhà Minh, nhà Thanh. Khi người Pháp
sang chinh phục Việt nam, họ đă không đụng
độ với dân tộc Việt nam mà chỉ
đụng độ với các vua nhà Nguyễn. Chính v́
thế mà họ đă thắng lợi dễ dàng. ư niệm
quốc gia dân tộc đă ra đời một cách
chậm chạp tại phương Tây cùng với sự
tăng trưởng của tự do và sự h́nh thành
của xă hội dân sự. Người dân có tự do
hơn và làm chủ cuộc sóng của ḿnh hơn nên đă
bắt đầu cảm thấy ḿnh có một chỗ
đứng nào đó trong xă hội, rồi dần dần
cảm thấy gắn bó và có bổn phận với
cộng đồng trong đó ḿnh đang sống. Càng có
chỗ đứng họ càng đ̣i hỏi một chỗ
đứng lớn hơn. ư niệm quốc gia dân tộc
nảy sinh như thế và ngày một mạnh, càng mạnh
nó càng đẩy lùi quyền lực của các vua chúa. Sau
vài thế kỷ thai nghén, sự thành lập một
nước cộng ḥa tại Ḥa Lan, sự h́nh thành của
Hoa Kỳ và cuộc cách mạng Pháp đă chính thức khai
sinh ư niệm quốc gia. Đó là ư niệm đất
nước của mọi người thay v́ là của
một ḍng họ. Người dân làm chủ đất
nước và v́ thế yêu nước và có bổn phận
với đất nước. ư niệm quốc gia dân
tộc ra đời với cao vọng tận dụng tinh
thần trách nhiệm, sinh lực, ư kiến và sáng kiến
của mọi người. Niềm tin nền tảng
của nó là những con người tự do mạnh
hơn và cống hiến nhiều hơn là những con
người nô lệ, xă hội của những con
người tự do mạnh hơn là một tập
thể nô lệ. Một guồng máy nhà nước mới
ra đời và có sức mạnh hơn hẳn bởi v́
được sự hỗ trợ của moi người.
Khi đi chinh phục thế giới, sức mạnh chính
của các nước phương Tây là bộ máy nhà
nước hiện đại chứ không phải là vũ
khí hiện đại.
Như thế phải hiểu rằng ư niệm quốc gia
dân tộc liên hệ mật thiết với dân chủ và
tự do. Không có dân chủ và tự do th́ không thể có
quốc gia, hay cùng lắm chỉ có quốc gia ở
dạng ḅ sát thấp kém. Tại Việt nam, một cách
nghịch lư, tinh thần quốc gia đă xuất hiện
dưới thời Pháp thuộc do ba yếu tố:
1. Người Pháp giáo dục trí thức Việt nam theo
văn hóa của họ, trong đó tinh thần quốc gia
là một thành tố quan trọng;
2. Vai tṛ của vua nhà Nguyễn trở thành mờ nhạt,
họ không c̣n là chủ đất nước nữa,
đất nước trở thành một tài sản chung
của mọi người Việt đang bị
người nước ngoài chiếm đoạt; và
3. Chính sách phân biệt đói xử xấc xược
của người Pháp khiến người Việt nam ư
thức được rằng ḿnh là một khối dân
tộc cùng một tổ tiên và cùng chia sẻ một sự
tủi nhục. Cùng với thế kỷ 20 bắt
đầu xuất hiện một số trí thức
được gọi là các nhà ái quốc. Trong tuyệt
đại đa số, nếu không muốn nói là lất
cả các nhà ái quốc này đều kêu gọi canh tân,
bỏ cũ theo mới.
Trong một bài báo (Một cách nh́n cuộc chiến, Thông
Luận số 82, tháng 05/95), tôi có viết rằng ḷng yêu
nước của người Việt nam có thể
chỉ là một ngộ nhận. Nhiều vị đă xúc
động và lên tiếng phản đối. Tôi hiểu
t́nh cảm của các vị đó và tôi rất kính trọng
t́nh cảm đó, tôi không mong ǵ hơn là ḿnh đă nhận
định sai. Nhưng quả là chúng ta đă ngộ
nhận.
Chúng ta ngộ nhận khi nói rằng ư thức quốc gia
dân tộc đă có từ lâu trong khi thực ra nó chỉ là
một khái niệm mới xuất hiện từ thế
kỷ 20, nghĩa là c̣n rất non trẻ so với chiều
dài lịch sử của ta. Chúng ta ngộ nhận khi
nghĩ rằng ḷng yêu nước của người
Việt rất cao trong khi thực ra nó rất thấp. Chính
v́ nó thấp mà khi người Pháp xâm chiếm nước
ta đă chỉ có một thiểu số trí thức thực
sự dấn thân đấu tranh v́ nước c̣n
đại đa số vẫn đứng ngoài cuộc, và
thái độ đứng ngoài cuộc đó của
những Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Dương
Khuê, Tản Dà, Trần Tế Xương, v.v... hoàn toàn không
khiến họ bị chê trách. Chính v́ nó thấp mà một
số nhỏ người Pháp đă có thể cai trị
được cả khối người Việt, dùng
chính người Việt để thống trị
người Việt. Đặc biệt là trong giai
đoạn thế chiến II, một nắm nhỏ
người Pháp đă thua trận và đă mất
nước vẫn thống trị được Việt
nam một cách tàn bạo.
Tôi t́nh cờ sinh ra trong một gia đ́nh Việt nam
Quốc Dân Đảng. Giáo dục gia đ́nh đă
khiến tôi thù ghét và khinh bỉ một cách thậm tệ
những người hợp tác với Pháp; tôi coi họ là
đồ hèn hạ, lưu manh. Lớn lên, tôi
được tiếp xúc với nhiều người
như thế, tôi nhận ra họ là những người
cũng lương thiện và tử tế như những
người đấu tranh cách mạng, chỉ có một
điều là họ không có ư thức dân tộc đủ
mạnh để chấp nhận chịu gian khổ hay hy
sinh quyền lợi. Càng trưởng thành tôi càng thấy
không nên trách họ bởi v́ dù đă hấp thụ
nhiều kiến thức mới của phương Tây,
về mặt tâm tính họ vẫn thuộc hệ văn
hóa Khổng Giáo, một văn hóa vô tổ quốc.
Cũng chính v́ ḷng yêu nước của người
Việt nam không mạnh mà đảng cộng sản đă
thắng lợi. Về bản chất, phong trào cộng
sản không những vô tổ quốc mà c̣n chống tổ
quốc, nó là một phong trào thế giới, nhắm
thăng tiến giai cấp vô sản trên toàn thế
giới. Nếu không quá lạm dụng bạo lực
chủ nghĩa cộng sản có thể là một chủ
nghĩa cao quí, dù chỉ là một ảo tưởng,
nhưng phong trào cộng sản không phải là một phong
trào yêu nước. Khẩu hiệu của nó là
người vô sản không có tổ quốc. Tiếng
gọi đấu tranh giai cấp, trong khuôn khổ của
một nước, là một lời kêu gọi nội
chiến. Phong trào xô Viết Nghệ Tĩnh, cái nôi của
đảng cộng sản Việt nam, nổi lên với
lời tung hô: vạn tuế Sô Nga và tiếng thét: trí phú
địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ
hoàn toàn không phải là một phong trào dân tộc. Nhưng
người cầm đầu đảng cộng sản
và những đảng viên trung kiên nhất không phải là
những người yêu nước mà chỉ là những
người cộng sản Có thể đa số những
người theo đảng cộng sản đă theo v́ ḷng
yêu nước, nhưng khi nhận định bản
chất của một tổ chức ta nên xét theo chủ trương,
đường lối của nó và lư tưởng của
những người cầm đầu nó chứ không nên
dựa trên những người đi theo.
Hoàn cảnh đất nước sau ngày 30-4- 1975 đă
khiến tôi có dịp tiếp xúc với vô số
người cộng sản thuộc đủ mọi
cấp bậc và tôi đă có thể kiểm chứng
một điều: trong hàng ngũ cộng sản, một
người có thể nói một cách quả quyết
rằng quốc gia chỉ là một ư niệm vớ
vẩn lạc hậu cần vất bỏ mà vẫn không
hề bị trở ngại trong việc thăng tiến,
trái lại nếu anh ta dám nói chủ nghĩa cộng
sản chỉ là một chủ nghĩa tồi tệ chắc
chắn anh ta sẽ lâm nguy, có thể mất mạng luôn.
Bằng cớ rằng đảng cộng sản không
phải là một tổ chức yêu nước cũng có
thể t́m thấy trong các chính sách liên tục của
họ. Suốt 30 năm chiến tranh, tôi chưa bao giờ
ghi nhận một quan tâm thực sự nào của họ
trước những đỗ vỡ kinh khủng về
tinh thần, vật chất và nhân mạng cho đất
nước. Họ có thể tiêu diệt thẳng tay
những người Việt nam, yêu nước hay không,
không đồng quan điểm với họ, có khi họ
sẵn sàng tiêu diệt cả một số thành phần dân
tộc. Trong cuộc cải cách ruộng đất
1955-1956, họ chủ trương tiêu diệt toàn bộ
giai cấp địa chủ. (Chính sách này, v́ nhưng
hậu quả tai hại của nó, sau đó được
coi là một sai lầm nhưng không bị coi là một
tội, những người cầm đầu và phát
động nó chỉ bị kiểm điểm).
Sự thù ghét lẫn nhau và ác độc đối với
nhau của người Việt nam là điều không ai có
thể chối căi, nhưng để cố bào chữa cho
ḷng yêu nước nói chung của người Việt,
lại có một nhận định giảm khinh: chúng ta
yêu nước, nhưng không yêu nhau. Như vậy yêu
nước là ǵ? Đất nước là lănh thổ, là
lịch sử, là con người và là một dự án
tương lai chung. Trong các yếu tố đó, con
người có tầm quan trọng vượt hẳn.
Đất nước, lịch sử đều là của
người, dự án tương lai cũng là của
người. Nếu đồng hóa nước Việt
với người Việt th́ cũng không sai (và trên
thực tế đă có những học giả đồng
hóa quốc gia và dân tộc). Mà người Việt không
phải là một ư niệm trừu tượng mà là
từng người và mọi người. Không yêu nhau là
không yêu nước. Chấm.
Nếu mức độ quốc gia quá cao để ta có
thể nhận định một cách rơ rệt th́ hăy
lấy thí dụ khuôn khổ gia d́nh. Ta có thể coi một
người là yêu gia đ́nh được không, khi
người đó lúc nào cũng sẵn sàng đốt nhà,
đập phá, ẩu đả và sát hại mọi anh
chị em không vừa ư ḿnh? Nếu anh ta tự nghĩ anh ta
là người yêu gia đ́nh th́ anh ta chỉ là người
điên. Và nếu có ai coi anh ta là người yêu gia đ́nh
th́ người đó cũng nên ghé thăm một bác sĩ
tâm thần.
Nếu phải nhận định một cách thực
vắn tắt đại hội VIII của Dâng Cộng
Sản Việt nam, tháng 6- 1996, th́ ta có thể nói đó là
một đại hội chống tổ quốc.
Đảng cộng sản, sau nhiều thất bại thê
thảm, nhất là khi khối cộng sản tan vỡ,
đă đổi mới về kinh tế thị
trường và đời sống một phần dân chúng
đă được cải thiện; sinh hoạt
đất nước bắt đầu khởi sắc,
nhưng vị trí độc tôn và độc quyền
của họ bị lung lay. Họ bèn lấy quyết
định chặn đứng đà phát triển
để cũng cố lại quyền lực của
họ mặc dầu biết rơ làm như vậy
đất nước sẽ bị thiệt hại
nặng. Đại hội VIII là biến cố trong đó
một đảng cầm quyền cố t́nh lấy
quyết định có hại cho đất nước v́
quyền lợi của riêng ḿnh. Tuy vậy cũng không nên
quá khe khắt đối với những người lănh
đạo cộng sản. Thực ra họ cũng không
khác với đa số người Việt.
Yêu nước tại Việt nam là một ngoại lệ
chứ không phải là một thông lệ. Chúng ta là một
dân tộc được nhào nặn trong suốt ḍng
lịch sử bằng văn hóa Khổng Giáo, một
văn hóa vô tổ quốc, ḷng yêu nước của ta
yếu kém là lẽ dĩ nhiên. Chúng ta chớ nên nghĩ
rằng ḿnh đă ra khỏi văn hóa Khổng Giáo. Chúng ta
vẫn c̣n chịu ảnh hưởng Khổng Giáo một
cách nặng nề lắm, ngay cả khi chúng ta không ư thức
được và không nh́n nhận như vậy. Cứ
lấy thí dụ triết lư ở ẩn, xem ra rất xa
lạ đối với trí thức ngày nay. Có thể
một người khoa bảng thời nay sẽ phản
đối: tôi có biết triết lư ở ẩn là cái quái
ǵ đau, anh chỉ nói lẩm cẩm, nhưng chính anh ta
đang theo triết lư ở ẩn và, tuy không nói ra, rất
tán thành triết lư đó.
Ông Hoàng Xuân Hăn là một thí dụ rất điển h́nh.
Ông có kiến thức uyên bác trên rất nhiều lănh vực
và có đạo đức cá nhân rất cao. Ông theo đúng
triết lư Khổng Giáo nước loạn không ở,
nước nhiễu nhương th́ ở ẩn. Mặc
dầu là một nhân vật rất có uy tín và đă có
thể đóng góp thay đổi số phận đất
nước, ông đă chọn bỏ nước ra đi vào
giữa lúc đất nước đang chuyển
động lớn. Ông sang Pháp ở ẩn cho tới lúc qua
đời. Ông Hăn là một người sáng suốt và lương
thiện, ông hiểu rơ hậu quả của chọn
lựa này. Trong một bài phỏng vấn mà tôi
được đọc trên tờ báo Bulledingue (một
tờ báo tiếng Pháp, nay đă đ́nh bản, rất có
giá trị của một nhóm trí thức Việt nam tại
pháp từng ủng hộ đảng cộng sản), ông
trả lời về tương lai của cộng
đồng người Việt hải ngoại như sau:
Tôi sợ rằng rồi cũng như người
Việt tại Trung Quốc, thế hệ đầu tha
thiết với đất nước, thế hệ sau
không c̣n nói thạo tiếng Việt nữa và thế hệ
thứ ba quên là ḿnh có gốc Việt. Ông Hoàng Xuân Hăn dư
biết về lâu về dài ra đi là từ bỏ
đất nước, nhưng vẫn ra đi bởi v́
ở ẩn là cả một đạo lư cao thượng
đối với người Việt nam và ông Hăn dù đă
du học phương Tây và đậu những bằng
cấp cao nhất vẫn là người Việt nam. Khi ông
Hăn qua đời, trí thức Việt nam trong nước
cũng như ngoài nước đồng loạt lên
tiếng ca ngợi ông như một người mẫu
mực, không thấy ai bày tỏ sự phiền ḷng
rằng một người lỗi lạc như ông
đáng lẽ phải có một chọn lựa tích cực
hơn đối với đất nước. Thế
hệ trước đă ca tụng Nguyễn Khuyến,
thế hệ sau ca tụng Hoàng Xuân Hăn. Những Nguyễn
Khuyến của thế hệ trước đă rất
đông đảo, những Hoàng Xuân Hăn của thế
hệ sau c̣n đông đảo hơn, ngay cả về
tỷ lệ. Xem ra, dù đă kinh qua nhiều biến cố
trọng đại, tâm lư người Việt ván chưa
thay đổi bao nhiêu, tránh gian nguy và ở ẩn vẫn
c̣n là một nhân sinh quan rất phải đạo.
Người Việt nam vẫn c̣n chưa mất gốc,
họ vẫn c̣n là những người Việt nam chân
chính, nghĩa là không yêu nước, hoặc chỉ yêu
nước một cách không tốn kém. Đọc tới
đây xin độc giả đừng nghĩ rằng tôi
có một dụng ư mỉa mai nào. Tôi thực sự quí
trọng những người như Nguyễn Khuyến và
Hoàng Xuân Hăn. Họ cao thượng thực sự, nhưng
họ là sản phẩm của một nền văn hóa cam
chịu và ẩn dật, họ đă sống phù hợp
với nền văn hóa đó và họ là những mẫu
người cao quí của nền văn hóa đó.
Tôi quen biết, hoặc được biết, khá
nhiều trí thức Việt nam trong nước. Tất
cả đều đồng ư chế độ hiện
nay là tồi dở và độc hại, tất cả
đều mong nó chấm dứt càng sớm càng hay, nhưng
chỉ một số rất nhỏ chấp nhận
rủi ro đứng lên đ̣i dân chủ, tuyệt
đại đa số c̣n lại chỉ lo sống và
tồn tại. Và để tồn tại họ phải
chấp nhận thỏa hiệp với chế dộ,
hợp tác với nó, và như thế giúp nó tiếp tục
tồn tại, điều mà họ hoàn toàn không muốn. Mà
những đặc ân mà họ được hưởng
có lo lớn ǵ cho cam, chúng chỉ là những chức phó vụ
trưởng, ủy viên hội đồng nhân dân tỉnh,
v.v..., với lương và phụ cấp không quá 200
đô-la mỗi tháng. Hay một cửa hàng nhỏ của
vợ con, hay khả năng được xuất bản
vài tập truyện ngắn vô hại, hay được
vẽ và bán vài bức tranh kiếm sống, được
xuất ngoại vài năm một lần. Hoặc chỉ
giản dị là cuốn sỗ lương hưu hai
chục đô-la mỗi tháng. Hoặc giản dị hơn
nữa là khỏi bị phiền hà. Tất cả đều
hiểu những ân huệ đó chẳng có ǵ đáng
kể, tất cả đều tin rằng nếu chế
độ này chấm dứt th́ không những đất
nước sẽ khá hơn nhiều mà chính bản thân
họ cũng khá hơn hẳn. Nhưng họ không chấp
nhận một hy sinh, dù là tạm thời và nhỏ bé, nào
cả bởi v́ ḷng yêu nước, nghĩa là sự gắn
bó và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng
dân tộc, của họ không đủ mạnh. Mỗi
người có cách riêng để luồn lách và tồn
tại. Tất cả đều khôn, không ai chịu
dại cả. Kết quả tổng hợp là đất
nước vẫn tiếp tục quằn quại trong
độc tài và lạc hậu. Một dân tộc gồm
toàn những người khôn là một dân tộc rất
đần độn. Chỉ có thể coi là yêu
nước những người sẵn sàng chấp
nhận một sự dại dột nào đó cho
đất nước.
Trong cuộc xung đột dài và đẫm máu vừa qua,
yêu nước đă là một khẩu hiệu
được mọi phe phái sử dụng để giành
giật hậu thuẫn. Hô măi hoặc nghe măi, khẩu
hiệu đó trở thành một sự khủng bố tinh
thần rồi chúng ta đă ghi nhận nó trong tiềm
thức như một ngôn ngữ bắt buộc. Nhưng
chúng ta cường điệu và dối trá, chúng ta đeo
mặt nạ và sử dụng ngôn ngữ của
lưỡi gỗ với nhau, khi xưng ḿnh là người
yêu nước. Và chúng ta sai lầm lớn khi nghĩ
rằng đa số người Việt nam yêu
nước. Chỉ cần b́nh tĩnh quan sát sự thờ
ơ bao trùm chung quanh chúng ta để nhận
được một cải chính dứt khoát.
Người Việt nam rất khó yêu nước. Trong ṿng
hơn hai ngàn năm chúng ta được nhào nặn
bởi văn hóa Khổng Giáo, một văn hóa vong thân,
vị ky và phủ nhận đất nước. Từ
gần một nửa thế kỷ nay chúng ta bị áp
đặt văn hóa cộng sản không khác với
Khổng Giáo bao nhiêu về bản chất. Cả hai
đều là những văn hóa kỳ thị, đặt
nền tảng trên một giai cấp chứ không phải
trên tinh thần dân tộc. Một kẻ sĩ Việt nam
ngày xưa gắn bó với một kẻ sĩ Trung Hoa
hơn là một thứ dân Việt nam. Một bần
cố nông Việt nam gần đây được nhoi
sọ để coi mọi người vô sản thế
giới là anh em và coi người tư sản Việt nam
là kẻ thù.
Đă thế, người ta c̣n nhân danh tổ quốc
để phạm tội ác, để hạ sát hàng ngàn
hàng vạn nạn nhân vô tội. Những nạn nhân bị
ghép tội phản quốc trong đại đa số
lại chính là những người yêu nước hiếm
hoi. Người ta c̣n cưỡng đoạt tổ
quốc và cố gắng ḥa tan nó trong một chủ
nghĩa (yêu nước là yêu chủ nghĩa xă hội).
Không có ǵ đáng ngạc nhiên nếu đa số
người Việt chọn lựa đứng ngoài
mọi hệ lụy với đất nước.
Quốc gia chỉ mạnh nếu là đất nước
của những con người tự do, tận dụng
được hết sinh lực, thi thố
được mọi tài năng, phát huy được
mọi ư kiến và sáng kiến của ḿnh. Nhưng quốc
gia cũng không thể mạnh nếu không có ḷng yêu
nước, cũng như một gia đ́nh không thể có
hạnh phúc nếu không có t́nh yêu.
Thuận vợ thuận chồng tát biền Đông cũng
cạn không ai ngờ vực mănh lực ghê gớm của
t́nh yêu, chúng ta cần ư thức rằng ḷng yêu nước
cũng có mănh lực tương tự trong việc xây
dựng một tương lai chung cho dân tộc. Chúng ta
rất cần một sức bật của ḷng yêu
nước. Nhưng chúng ta cũng cần ư thức
rằng ḷng yêu nước của chúng ta rất non yếu
và tật nguyền cần được điều
trị và gây dựng, chứ không phải một vốn
đă sẵn dồi dào để sử dụng và lạm
dụng. Ḷng yêu nước ấy, những người dân
chủ phải xây dựng ra chứ không thể mong chờ
ǵ ở chế độ độc tài này. Mọi chế
độ chuyên chế, dù là chế độ quân chủ
ngày xưa hay chế độ độc tài cộng
sản ngày nay, đều có chung một chủ trương
là tiêu diệt mọi ư thức cộng đồng và
mọi liên hệ gắn bó trong xă hội để có
thể thống trị một đám đông cô đơn.
Họ không cần người dân yêu nước, họ
chỉ cần người dân khuất phục. Họ không
cần người dân yêu họ, họ chỉ cần
người dân đừng yêu nhau. ư niệm quốc gia dân
tộc do dân chủ mà có, chỉ có dân chủ mới có
thể giúp ta gây dựng và phát huy nó. Cuộc đấu
tranh cho dân chủ cũng là cuộc đấu tranh nhằm
đem lại cho người Việt lư do để yêu
nước.
Những người dân chủ phải khẳng
định dự án xây dựng một nhà nước khiêm
tốn phục vụ thay v́ khống chế xă hội dân
sự, đặt ḿnh dưới người dân thay v́ trên
người dân, một nhà nước tối thiểu
để nhường không gian tối đa cho sinh
lực, ư kiến và sáng kiến của công dân. Và họ
cũng cần khẳng định: người dân không có
bổn phận phải yêu nước; chính nhà nước
và thành phần ưu tú của đất nước,
nghĩa là thành phần trí thức, phải làm cho
đất nước trở thành đáng yêu. Đất
nước không được hạch hỏi
người dân đă làm ǵ cho ḿnh, trái lại phải
tự hỏi ḿnh đă có ích lợi ǵ cho người dân. -
Có lẽ chính vào lúc ḷng yêu nước không c̣n là một
cưỡng bách nữa mà chúng ta sẽ có được
ḷng yêu nước thực sự, hay ít ra nhận diện
được những người thực sự yêu
nước, và nhờ đó có thể kết nghĩa
với nhau để cùng nhau đưa đất
nước ra khỏi bế tắc.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Một chân dung tráng lệ của kẻ sĩ
Nói
tới Khổng Giáo th́ phải nói ngay tới kẻ sĩ.
Mục đích duy nhất của Khổng Giáo là đào
tạo ra kẻ sĩ. Kẻ sĩ được coi là
một lư tưởng mà mọi người phải
hướng tới.
Bức chân dung kẻ sĩ, như một mẫu
người vong thân và vị kỷ, được mô
tả trong những trang trước phải chăng là quá
đáng? Nhiều người, trong đó có cả những
thân hữu quí mến của tôi, đă hơn một
lần phát biểu rằng nhận định của tôi
về kẻ sĩ qua các bài báo đă được
đăng là sai lệch. Vậy th́ tôi xin nhường
lời cho một kẻ sĩ chân chính viết về chính
kẻ sĩ. Đó là Nguyễn Công Trứ qua bài Kẻ
Sĩ của ông. Kẻ sĩ không thể có một
đại diện nào hoàn hảo hơn Nguyễn Công Trứ.
Ông trải qua tất cả tiến tŕnh học tập,
sống và hành động của một kẻ sĩ lư
tưởng. Ông cũng là một mẫu mực thành công
của kẻ sĩ. Cả văn nghiệp lẫn vơ
nghiệp của ông ít ai b́ kịp, ông cũng rất
dũng cảm và thanh liêm. Điều làm người ta quí
mến ông hơn nữa là ông lại phóng khoáng và
đầy nghệ sĩ tính. Ông là một trong những
kẻ sĩ lỗi lạc nhất và đáng kính phục
nhất trong lịch sử Việt nam.
Nguyễn Công Trứ trải qua một thời thanh niên
lận đận, ông đậu Giải Nguyễn (thủ
khoa kỳ thi hương) năm đă 43 tuổi. Sự
muộn màng này không phải do ông không thành công trong các bài thi
mà v́ quan trường thấy giỏi quá sợ ông thành kiêu
căng nên đánh rớt ông để tập cho ông tính
khiêm nhường. Nguyễn Công Trứ mất hơn hai
mươi năm cường tráng nhất của
đời minh v́ chữ khiêm của kẻ sĩ ông theo
đúng phương châm vững ḷng tin, chăm học, kiên
tŕ, cải thiện tŕnh độ nho học (độc
tín, háo học, thủ tử, thiện đạo) trong lúc
chưa gặp thời. Sau đó ông thi đậu rồi
làm quan và làm tướng một cách thật xuất
sắc, thăng lên những chức vụ rất cao,
đánh Nam dẹp Bắc lập những chiến công
thật lẫy lừng. Ông cũng đă đem dân đi
dinh điền lập ra nhiều huyện trù phú tại tỉnh
Thái B́nh. Nguyễn Công Trứ rất hài ḷng về sự
nghiệp của ḿnh, ông tự thuật như sau:
Khi thủ khoa, khi tham tán, khi tổng đốc Đông
Gồm thao lược đă nên tay ngất ngưởng
Lúc b́nh Tây cờ đại tướng...
Hoạn lộ của ông khá nhiều gian truân. Có lúc ông
bị gièm là có ư làm phản, có lúc ông bị cách chức
tuột xuống làm lính, nhưng Nguyễn Công Trứ
vẫn kiên tŕ bày tỏ tài năng và ḷng trung nghĩa và
rồi lại vươn lên. Ông về hưu sau ba
mươi năm hoạt động mănh liệt. Nhưng
mặc dầu công việc dồn dập ông vẫn
để lại một văn nghiệp to lớn về
cả phẩm lẫn lượng.
Tác giả đă đặc sắc như vậy, bài Kẻ
Sĩ cũng đặc sắc không kém. Nó tóm gọn
một cách đẹp đẽ tất cả nhân sinh quan
của kẻ sĩ. Nó lại được viết
bằng một thể văn đặc biệt, thể
hát nói. Đó là loại thơ được sáng tác trong lúc
hát cô đầu, lúc kẻ sĩ phóng khoáng nhất. Cái ǵ quá
đẹp th́ khó đúng, có thể bức chân dung kẻ
sĩ của Nguyễn Công Trứ không trung thực v́ đă
được lộng lẫy hóa quá đáng. Kẻ sĩ
mà Nguyễn Công Trứ mô tả là kẻ sĩ tráng lệ
nhất. Tôi có hỏi một số học giả và được
biết là Trung Quốc không có bài thơ hay bài văn nào mô
tả kẻ sĩ đẹp đẽ và hùng tráng hơn
bài Kẻ Sĩ sau đây của Nguyễn Công Trứ, mà tôi
chép lại nguyên văn và đánh số từng câu
để chú giải.
1. Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
2. Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên
3. Có giang sơn th́ sĩ đă có tên
4. Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quí
5. Miền hương đảng đă khen rằng
hiếu nghị
6. Đạo lập thân phải giữ lấy cương
thường
7. Khí hạo nhiên chí đại, chí cương
8. So chính khí đă đầy trong trời đất
9. Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
10. Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn
11. Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang Văn
12. Phù thế giáo một vài câu thanh nghị
13. Cầm chính đạo để tịch tà, cự bí
14. Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên
15. Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
16. Đem quách cả sở tồn làm sở dụng
17. Trong lăng miếu ra tài lương đống
18. Ngoài biên thùy rạch mũi Can Tương
19. Làm sao cho bách thế lưu phương
20. Trước là sĩ sau là khanh tướng
2 1. Kinh luân khởi tâm thượng binh giáp tàng hung trung
22. Vũ trụ chi gian giai phận sự
23. Nam nhi đáo thử thị hào hùng
2 4. Nhà nưóc yên mà sĩ được thung dung
25. Bấy giờ sĩ sẽ t́m ông Hoàng Thạch
26. Dăm ba chú tiểu đồng lếch thếch
27. Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
28. Nào xe, nào ngựa, nào địch, nào đờn
29. Đồ thích chí chất đầy trong một túi
30. Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi tới
31. Nhắm cuộc đời mà ngẫm kẻ trọc
thanh
32. Này này, sĩ mới hoàn danh.
Bài thơ này dùng khá nhiều chữ Hán nên có lẽ một
số độc giả cần vài giải thích.
Hai câu (1) và (2) nói rằng trong năm tước quan (công,
hầu, bá, tử, nam), kẻ sĩ đều có mặt và
trong bốn giai cấp xă hội (sĩ, nông, công,
thương), kẻ sĩ đứng đầu. Thật
là hănh diện được làm kẻ sĩ.
Trong câu (4), Chu và Hán là hai triều đại lớn của
Trung Quốc gần sát nhau, từ thế kỷ 12
trước Tây lịch tới thế kỷ 3 sau Tây
lịch.
Hai câu (5) và (6): ở xóm làng (lưỡng đảng),
kẻ sĩ đă được tôn kính là người có
lư luận (hiếu nghị) nên phải sống đúng tam
cương (quân, sư, phụ hay bổn phận
đối với vua, với cha mẹ và với thầy
dạy học) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín).
Hai câu (7) và (8): Bản chất của kẻ sĩ (khí
hạo nhiên) rất lớn và rất vững (chí
đại, chí cương), tinh thần (chính khí) của
kẻ sĩ đầy trời đất.
Hai câu (9) và (10): Khi chưa gặp (lúc vị ngộ)
được minh chúa th́ ở yên (hối tàng) trong lều
cỏ (bồng tất) nghèo nàn, cứ thanh thản mà vui
chơi bằng cách câu cá trên sông Vị (điếu Vị)
hay trồng trọt trên đất Sằn (canh Sẵn).
Đầu đời nhà Chu, Khương Tử Nha ngồi
câu cá trên sông Vị đợi minh chúa tới năm đă
ngoài 80 tuổi mới được Chu Văn Vương
đem xe đến đón về làm quan. Trước đó
một nhân vật huyền bí khác của Trung Quốc, làm
ruộng ở đất Sằn cho đến khi
được minh chúa tới đón. Tất cả
những hoạt động câu cá, trồng trọt này không
có mục đích sản xuất (Chương Tử Nha câu
cá bằng lưỡi câu thẳng) mà chỉ có mục
đích chờ thời mà thôi.
Hai câu (11) và (12): Dù chưa gặp được các minh chúa
như vua Thang, vua Văn đem xe có quấn cỏ vào bánh
(bờ luân) cho êm tới đón về, vẫn giữ
đạo nho bằng cách nói lên những lời đúng
(thanh nghị).
Ba câu (13), (14) và (15): Giữ vững chính đạo, tức
Khổng Giáo, để tiêu diệt những tà thuyết
(tịch tà), chống lại những khó khăn của
cuộc sống (cự bi). Quyết tâm quay ngược
lại sóng dữ (hồi cuồng lan) ngăn nước
của cả trăm con sông.
Năm câu từ (16) đến (20): Khi đă
được ra làm quan (kẻ sĩ được làm
quan cũng sung sướng như rồng gặp mây) th́
đem lết cả tài ḿnh có (sở tồn) ra sử
dụng. Trong triều đ́nh (lăng miếu là mộ các
vua, thường chôn ở ngay triều đ́nh, kẻ sĩ
coi là một diễm phúc được nh́n mộ các vua
trước) th́ trổ tài làm quan (tài lương
đống), ngoài trận mạc biên thùy th́ vung gươm
báu (Can và Tương là một cặp vợ chồng
thời xưa ở Trung Quốc làm nghề luỵện
kiếm và đă hy sinh v́ kiếm báu). Làm thế nào
để cả trăm thế hệ về sau biết
đến tiếng thơm (bách thế lưu phương)
mới hay. Trước là làm đẹp h́nh ảnh kẻ
sĩ, sau là làm quan lớn (khanh tướng).
Ba câu (21), (22) và (23) tóm lược thế nào là một
người trai anh hùng: phải có kiến thức trị
nước (kinh luân) ở sẵn trong đầu (tâm
trương) và phải chứa sẵn tài cầm binh ở
trong bụng (binh giáp tàng hung trung). Khắp nơi
đều là phạm vi hoạt động (vũ trụ
chi gian giai phận sự). Làm trai như thế mới
đúng là anh hùng hào kiệt. Những câu cuối nói rằng
khi đă làm tṛn phận sự th́ kẻ sĩ lại rút
về ở ẩn ngao du danh lam thắng cảnh,
hưởng thể đàn hát và không màng đến xă
hội nữa. Như thế là kẻ sĩ hoàn tất
một cuộc đời đẹp (hoàn danh).
Chúng ta thấy ǵ qua cái chân dung lẫm liệt của
kẻ sĩ này? Trước hết nó bộc lộ
một thái độ thuần phục văn hóa tuyệt
đối với Trung Quốc. Mọi điển tích,
mọi địa danh, triều đại đều là
của Trung Quốc cả. ư niệm quốc gia dân tộc
hoàn toàn vắng mặt, tổ quốc của kẻ sĩ
là Trung Quốc, đúng ra là Khổng Giáo Trung Quốc.
Sau đó là tâm lư tôi tớ. Kẻ sĩ chỉ chờ
để được làm tôi tớ cho một ông
chủ, chứ hoàn toàn không có ư chí xây dựng một sự
nghiệp của riêng ḿnh trong mọi hoàn cảnh. Không
được một minh chúa dùng làm tôi tớ kẻ sĩ
sẵn sàng để phí uổng đời ḿnh. Cả
đời kẻ sĩ chỉ sống với giác mộng
được làm tôi tớ. Đúng là một thái
độ vong thân tuyệt đối.
Suốt cuộc đời hoặc không may th́ ở ẩn
cam chịu cuộc sống nghèo nàn trong lều cỏ,
hoặc may th́ làm bầy tôi cho một ông vua, sau đó vui
chơi. Hoàn toàn không thấy có một trách nhiệm nào
đối với cộng đồng cả. Cuộc
sống hoàn toàn vị kỷ.
Và dĩ nhiên chỉ có người con trai mới đáng
kể, phụ nữ không thể là kẻ sĩ v́ thế
không đáng đếm xỉa tới.
Tôi đă đề cập đến Nguyễn Trăi và
lần này lại đề cập tới Nguyễn Công
Trứ. Tôi hoàn toàn không dám mai mỉa hai vị tiền
bối này. Tôi rất kính trọng họ, bởi v́ họ
là tinh hoa của lịch sử Việt nam, là những
người đă có công lớn với đất
nước và cũng là những người mà chúng ta có
thể tự hào. Điều cần lên án là cái văn hóa
Khổng Giáo tồi tệ đă tha hóa cả những con
người lỗi lạc như thế. Riêng đối
với Nguyễn Trăi, ông đă có công lớn giành lại
độc lập cho Việt nam từ tay quân Minh, ông
cũng là tác giả B́nh Ngô Đại Cáo, áng văn nghị
luận chính trị đầu tiên của Việt nam
đồng thời cũng là một bản tuyên ngôn
độc lập hùng tráng, nhưng ông đă chết
tức tưởi và cả họ bị giết hại.
Thủ phạm là ai nếu không phải là chế
độ quân quyền dựa trên Khổng Giáo, là cái giá
trị tam cương độc hại của Khổng
Giáo?
Nguyễn Trăi, Nguyễn Công Trứ và vô số kẻ sĩ
lỗi lạc khác nếu thi thố được hết
tài năng và sáng kiến của ḿnh th́ c̣n vĩ đại
gấp trăm lần và c̣n cống hiến cho đất
nước những thành quả to lớn gấp trăm
lần. Nhưng họ là kẻ sĩ và đă phải
chấp nhận cuộc sống vong thân của kẻ
sĩ.
Tâm lư kẻ sĩ vẫn c̣n hiện diện mạnh
lắm trong chúng ta. Không thiếu những người
rất đáng quí trọng hiện nay ao ước
được sống như kẻ sĩ hay hănh diện
đă sống như kẻ sĩ. Nguyễn Xuân Tụ,
người bạn quí mến của tôi, lấy tên là Hà
Sĩ Phu, có thể có nghĩa là sĩ phu Bắc Hà, cũng
có nghĩa của một câu hỏi c̣n ai là kẻ sĩ ngày
nay hay thế nào là sĩ phu do sự thiếu chính xác
của tiếng Trung Quốc và tiếng Việt. Ông Tụ
trân trọng kẻ sĩ lắm, cũng như nhà văn
Hoàng Tiến, người đă viết kháng thư trách
chính quyền cộng sản đối xử tệ
bạc với trí thức mà ông coi là những kẻ sĩ
của thời nay. Tôi th́ chỉ thấy kẻ sĩ là
một bóng ma tiều tụy và vong thân cần phải
tống cổ một cách tức khắc và không nề nang
ra khỏi trí tuệ và tâm hồn của chúng ta, nếu
chúng ta muốn một tầm vóc khác cho đời ḿnh và
một tương lai khác cho đất nước.
Phần 3 V́ đâu nên
nỗi?
Chuyện cổ tích
Tới
đây có lẽ một số độc giả đă
cảm thấy mệt mỏi và chán nản với
những biện luận về lịch sử và tư
tưởng, nhiều vị chắc đă muốn gấp
cuốn sách này lại và cất đi. Vậy để quí
vị giải khuây chốc lát và lấy lại can
đảm để đọc tiếp, tôi xin kể
một vài câu chuyện cồ tích. Những câu chuyện này
đều ngắn v́ tôi chỉ biết một cách sơ
sài. Chuyện thứ nhất là Phù Đổng Thiên
Vương, c̣n gọi là Thánh Gióng, có lẽ v́ Gióng là tên nôm
của làng Phù Đổng chăng? Điều này có thể
kiểm chứng khá dễ dàng nhưng tôi vẫn không có th́
giờ để làm. Hiện nay hàng năm, tại làng Phù
Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Vĩnh Phú vẫn có
ngày hội lớn về sự tích Thánh Gióng. Tục truyền
rằng vào đời vua Hùng Vương thứ 6,
nước ta, thời bấy giờ gọi là Văn Lang,
bị giặc Ân đánh phá (không tài liệu sử nào cho
biết giặc Ân là giặc nào), vua cho đi rao truyền
trong nước t́m người tài ra đánh giặc. Lúc
đó tại làng Phù Đổng, có một đứa bé
đă ba tuổi mà vẫn chưa biết nói, chỉ
nằm một chỗ, nghe tiếng loa truyền bỗng
nhiên ngồi dậy, vươn ḿnh thành một thanh niên cao
một trượng, rồi theo sứ giả về
cầu vua, xin đúc một cây rồi sắt và một con
ngựa sắt. Được cấp roi, ngựa, chàng
thanh niên liền nhảy lên yên. Ngựa sắt bỗng nhiên
cử động được. Chàng thanh niên phi ngựa
ra trận đánh tan quân giặc. Đến núi Sóc Sơn
th́ giặc tan hết và chàng thanh niên cũng về trời
mất tích. Dân chúng tưởng nhớ tôn làm Phù
Đổng Thiên Vương, hoặc Thánh Gióng. Đây là
chuyện cổ tích mà lúc c̣n nhỏ tôi thích nhất bởi
v́ nó vừa là chuyện của một đứa bé,
vừa là chuyện kiếm hiệp và cũng vừa là
chuyện thần thoại.
Chuyện thứ hai là chuyện Chử Đồng Tử.
Vào đời vua Hùng Vương 16, Chử Đồng
Tử là một thiếu niên mồ côi mẹ sống
với cha bằng nghề bắt cá trên sông. Hai cha con nghèo
đến độ chỉ có một cái khố phải
chia nhau mà mặc. Các bạn trẻ có lẽ không biết
cái khố là ǵ. Tôi tuy không già lắm nhưng hồi c̣n
trẻ ở nhà quê cũng đă được nh́n
thấy những người mặc khố (ngôn ngữ
nông thôn gọi là đóng khố thay v́ mặc khố). Nó
gần giống như một quần xi-líp, nghĩa là
rất ít vải, tác dụng duy nhất của nó chỉ là
để che hậu môn và bộ phận sinh dục.
Một hôm, giữa lúc cha đang đóng khố, Chử
Đồng Tử đang trần truồng bên bờ sông
th́ một công chúa được lính hầu kiệu
tới. Chử Đồng Tử hốt hoảng không
biết trốn đâu bèn chui đại xuống băi cát,
lấy cát phủ lên ḿnh. Không biết anh ta thở cách nào nhưng
anh ta tự chôn khá kín, công chúa cũng như lính đều
không thấy. Sự t́nh cờ đă khiến công chúa
chọn ngay chỗ anh ta vùi ḿnh để quây pḥng tắm.
Công chúa cứ thoải mái múc nước gội lên ḿnh, cho
đến lúc giật ḿnh nhận ra một chàng trai
cường tráng lơa thể ngay dưới chân ḿnh bởi
v́ trong lúc xối nước cô đă làm trôi di lớp cát
phủ trên thân Chử Đồng Tử. Thế là một
đôi trai gái trần truồng gặp nhau trong một pḥng
kín. Công chúa như thế đă bị coi như mất trinh
tiết với Chử Đồng Tử, nhà vua chỉ c̣n
cách cho hai người kết hôn, và Chử Đồng
Tử trở thành pḥ mă. Câu chuyện này rất vui, bởi
v́ nó vừa là một chuyện t́nh vừa là một câu
chuyện của sự may mắn, một chàng trai đánh
cá nghèo khổ t́nh cờ lấy được công chúa.
Chuyện thứ ba là chuyện Lưu B́nh - Dương
Lễ. Đây vừa là một câu chuyện về t́nh
bạn, vừa là câu chuyện lập thân. Không biết câu
chuyện xẩy ra ở bên Tàu hay tại nước ta
nhưng h́nh như người Việt nam nào cũng
biết.
Lưu B́nh và Dương Lễ là đôi bạn thân
thiết. Sau một kỳ thi Dương Lễ đỗ,
được ra làm quan và sống phú quí, trong khi Lưu B́nh
thi rớt. Lưu B́nh đến thăm bạn và bị
Dương Lễ sai lính cầm roi đánh đuổi
một cách khinh bỉ. Tức quá, Lưu B́nh về nhà
quyết chí học cho đậu để rửa
nhục. Đang lúc túng thiếu th́ bỗng nhiên Lưu B́nh
gặp được một cô gái xinh đẹp và có tài
sản, bằng ḷng lấy Lưu B́nh và nuôi Lưu B́nh
ăn học. Hạnh phúc làm con người trở thành
thông minh và chuyên cần, khóa sau Lưu B́nh đỗ cao và
trở thành quyền quí. Lúc đó Lưu B́nh mới mời
Dương Lễ tới nhà ḿnh để chứng
kiến sự giàu sang của ḿnh, với dụng ư làm cho
Dương Lễ phải xấu hổ v́ sự bội
bạc ngày xưa. Nhưng cuộc gặp gỡ này chỉ
là dịp để Lưu B́nh khám phá ra rằng vợ ḿnh
thực ra là một t́ thiếp của Dương Lễ,
được gởi tới để giúp Lưu B́nh
ăn học. Dương Lễ đă giúp bạn một
cách khôn ngoan, vừa làm nhục bạn để kích thích ư
chí, vừa giúp phương tiện để bạn
học thành công. Câu chuyện này đẹp và có giá trị
giáo dục nên tôi được nghe kể khá nhiều
lần và lần nào cũng thích thú lắng nghe dù đă
thuộc ḷng.
Chuyện thứ tư là một chuyện đă sử.
Đó là câu chuyện Thị Lộ, c̣n gọi là chuyện
rắn báo thù và liên hệ đến cái chết bi thảm
của Nguyễn Trăi, một khai quốc công thần có công
pḥ Lê Lợi đánh đuổi quân Minh giành độc
lập cho nước ta và cũng là nhà tư tưởng
chính trị lớn của nước ta. Sau khi giúp vua
lấy lại được đất nước,
Nguyễn Trăi được phong đứng đầu
trăm quan, rời sau đó cáo quan về quê.
Khi về hưu, Nguyễn Trăi ra lệnh cho gia nhân dọn
sạch khu vườn bấy lâu bị bỏ hoang nên
đầy bụi rậm và cỏ đại. Đêm
trước ngày khởi sự, Nguyễn Trăi nằm mơ
thấy một con rắn biết nói tới xin ông hoăn
lại việc dọn vườn v́ nó mới sinh con
nhỏ nên chưa thể đi ngay chỗ khác
được. Cho là chuyện mộng mị vớ
vẩn, Nguyễn Trăi không để ư tới và cũng
chẳng nói với ai. Ngày hôm sau gia nhân dọn vườn
và tŕnh với ông đă thấy một ổ rắn, họ
đă giết được bày rắn con nhưng rắn
mẹ chạy thoát, họ chỉ chặt được
một khúc đuôi. Tối hôm đó Nguyễn Trăi đang nằm
đọc sách th́ một giọt máu từ nóc nhà nhỏ
xuống ngay cuốn sách thấm ba trang. Đó là máu của
con rắn mẹ đă leo lên nóc nhà.
ít lâu sau Nguyễn Trăi gặp Thị Lộ, một cô gái
trẻ vừa xinh đẹp vừa giỏi thơ văn,
ông bèn lấy làm thiếp và rất chiều chuộng.
Một hôm, vua Lê (đây là Lê Thái Tông, con của Lê Lợi
tức Lê Thái Tổ) du hành qua đấy bèn ghé thăm
Nguyễn Trăi và ngủ đêm tại nhà ông. Thấy Thị
Lộ xinh đẹp, vua bèn bảo Nguyễn Trăi để
Thị Lộ ngủ với ḿnh. Đêm hôm đó, không
biết vua say sưa hoan lạc với Thị Lộ
thế nào mà chết, Nguyễn Trăi bị buộc tội
giết vua và bị giết cùng với cả họ hàng ba
đời. Lúc đó người ta mới hiểu Thị
Lộ chính là hồn ma của rắn mẹ hiện h́nh làm
gái để báo thù Nguyễn Trăi, và giọt máu thấm ba
trang giấy là điềm báo trước Nguyễn Trăi
sẽ bị tru di tam tộc.
Câu chuyện này tuy thương tâm, nhưng có sức
hấp dẫn đặc biệt. Nó ly kỳ và ma quái,
hơn nữa nó lại là chuyện về rắn, con
vật vừa kinh dị vừa quyến rũ.
Bây giờ, các bạn đă được giải khuây
rồi tôi xin thưa một điều. Đó là những
câu chuyện bề ngoài rất vô hại, và đôi khi c̣n có
tính giáo dục, cũng có thể chuyên chở những giá
trị rất độc hại. Càng độc hại
hơn nửa khi chúng là những câu chuyện bà kể cho
cháu, v́ chúng ta tiếp thu một cách ngây thơ, vô t́nh và không
cảnh giác. Những câu chuyện như thế tiếp thu
ở tuổi thơ ngây đă là những dấu ấn
đầu tiên trong trí tuệ và khiến chúng ta chấp
nhận một cách thụ động, không bàn căi những
giá trị thực ra có tác dụng quan trọng đối
với xă hội và con người.
Cả bốn câu chuyện này không vô tư như chúng ta
tưởng, chúng đều có tác dụng truyền bá
những giá trị cũng cố cho một trật tự
có sẵn: quyền lực tuyệt đối của vua,
lư tưởng nô dịch của kẻ sĩ, và thân
phận thấp kém của phụ nữ.
Phù Đổng là một vị thần chứ không phải
là một con người. Sinh ra được ba năm mà
vẫn nằm im, rồi vươn vai một cái mà cao
đến một trượng, rồi cưỡi
ngựa sắt, một ḿnh đánh tan giặc, rồi lên
núi về trời. Một vị thần như vậy mà
cũng pḥ vua th́ chắc chắn vua phải là trời, và
đă là trời th́ dĩ nhiên quyền lực của vua
phải tuyệt đối. Chuyện Thánh Gióng là một
câu chuyện bịa đặt, có thể dựa trên
một sự kiện có thực nhưng rất khác, trong
mục đích đặt nền tảng cho chế
độ quân chủ chuyên chế. Ngày nay trong nước
đang có một khuynh hướng khai thác chuyện Thánh
Gióng cho một mục đích chính trị đúng
đắn, lấy gương Thánh Gióng cao thượng sau
khi dẹp xong giặc đă bỏ đi để nhắc
nhở đảng cộng sản và phê phán thái độ
ĺ lợm khư khư giữa lấy quyền lực
của họ. Tôi rất ngờ vực tác dụng của
cuộc vận động này. Ví những chiến công
của đảng cộng sản với Thánh Gióng là nh́n
nhận rằng những cuộc chiến mà đáng
cộng sản khởi xướng và điều
động có chính nghĩa và có ích cho dân tộc.
Điều này không hiển nhiên, nhưng không phải là
điều tôi muốn bàn. Điều tôi muốn bàn là
sự thiếu sức thuyết phục của lập
luận. Tại sao lại phải bỏ ra đi sau khi
đă lập công? Tại sao không ở lại tiếp
tục giúp nước? Thực ra chúng ta không có quyền
đ̣i đảng cộng sản phải ra đi chúng ta chỉ
đ̣i họ ra đi khi không c̣n được nhân dân
chấp nhận nữa. Chỉ có cuộc bầu cử
tự do mới cho thấy nhân dân c̣n muốn họ ở
lại hay không.
Tại sao một công chúa, chỉ v́ vô t́nh nh́n thấy
một thanh niên khỏa thân mà lại có thể bị coi là
mất tiết hạnh? Một công chúa mà c̣n như vậy
th́ một cô gái con nhà thứ dân ra sao? Số phận
người phụ nữ sao mà rẻ rúng thế! Câu
chuyện Chử Đồng Tử không vô tư, nó có
mục đích cũng cố sự thống trị của
nam giới trên nữ giới, đồng thời nó
cũng có mục đích tôn vinh quân quyền. Lấy công chúa
được coi là diễm phúc lớn nhất của
đời người. Bất luận công chúa tuổi tác
nhan sắc, đức hạnh ra sao. Trẻ em Việt nam
bị đầu độc nặng đến nỗi
không có đứa nào đặt câu hỏi thế Chử
Đông Tử có bằng ḷng lấy công chúa không?. Câu
chuyện không phải chỉ có mục đích giải trí,
nó c̣n có dụng ư giáo dục.
Người vợ của Lưu B́nh sau này sẽ tiếp
tục là vợ Lưu B́nh hay sẽ về với chồng
cũ là Dương Lễ. ở với Lưu B́nh th́
sẽ không c̣n được quí trọng v́ đă qua tay
Dương Lễ, nghĩa là đă ô uế rồi, mà
về với Dương Lễ cũng không xong bởi v́
cũng đă chung sống với Lưu B́nh. Thân phận t́
thiếp lầm lũi là lối thoát hợp đạo lư
duy nhất cho cô. ở cương vị t́ thiếp, cô có
thể bị trao đổi một cách rất phải
đạo như một vật dùng. Cái chữ trinh mà
đàn ông bắt đàn bà phải tôn trọng như tính
mạng chính họ lại chà đạp lên một cách
thản nhiên. Nhưng chuyện Lưu B́nh - Dương
Lễ không phải là chuyện trai gái mà là chuyện quan
trường. Nó cho thấy mộng đời duy nhất
của thanh niên là thi đỗ để làm quan. Không làm
quan th́ không là ǵ cả, c̣n hễ làm quan th́ có tất cả,
nhà cao cửa rộng, thê thiếp đầy đàn. Cái lư
tưởng mà đứa trẻ được nhồi
sọ ngay lúc ra chào đời là cố học để
làm quan, là trong sách có gái đẹp. Sách thánh hiền thật
là cao quí!
Câu chuyện Lưu B́nh - Dương Lễ c̣n chứa
đựng cả một quan niệm về công quyền,
đó là quan niệm chức quyền thay v́ chức trách.
Chức vụ là một địa vị cho phép thụ
hưởng chứ không phải là một trách nhiệm.
Lưu B́nh cũng như Dương Lê chỉ mới
đậu xong và ra làm quan đă lập tức trở thành
giàu sang, phú quí. Đằng sau câu chuyện có mục đích
giáo dục đó là cả một văn hóa tham nhũng. C̣n
chuyện Thị Lộ? Câu chuyện này chắc chắn là
một sự bịa đặt của triều đ́nh nhà
Lê để dùng sự huyền bí chạy tội ác man
rợ tàn sát cả ba họ một khai quốc công
thần. Nhưng nó cũng có tác dụng b́nh thường
hóa bản chất thô bạo của văn hóa Khổng Giáo.
Thị Lộ là phụ nữ và đă là phụ nữ th́
nhân phẩm của bà không đáng kể. Bà là thiếp
của Nguyễn Trăi, nhưng vua muốn thỏa măn
nhục dục bà cũng phải tuân theo. Cái chữ
tiết trinh được đề cao như đạo
lư tuyệt đối của phụ nữ cũng phải
dừng lại trước đ̣i hỏi của nhà vua:
ở đây người đàn bà c̣n bị ví với
rắn độc. Thật là tàn nhẫn, người
phụ nữ Việt nam không những chỉ bị chà
đạp, khinh bỉ mà c̣n bị thù ghét.
C̣n Nguyễn Trăi? Vị đệ nhất công thần này
từng nằm gai nếm mật cạnh Lê Lợi, bố
của Lê Thái Tông, cũng phải nộp người yêu
của ḿnh cho một thằng bé bằng tuổi con ḿnh hành
lạc ngay tại nhà ḿnh, không chừng c̣n phải lạy
tạ ơn mưa móc và dọn giường chiếu cho
nó. Và khi không may vua v́ quá đê mê mà chết th́ bị kết
tội và bị giết cả ba họ. Vua là trời,
quần thần không là ǵ cả. Một ông quan, nghĩa là
một kẻ sĩ may mắn thành đạt, dù tài
giỏi tới đâu đi nữa, dù chức phẩm cao
tới đâu đi nữa cũng không hơn ǵ một con
vật trước mặt vua, vua muốn nọc ra đánh
vài chục trượng, muốn thiến, muốn giết
bỏ tùy ư. Và muốn giết sạch cả cha mẹ, anh
em, con cháu cũng được luôn. Vậy mà làm quan
vẫn là giấc mơ của kẻ sĩ! Những
đứa trẻ được nuôi dưỡng bằng
những câu chuyện như thế làm sao lớn lên giữ
được phẩm cách, làm sao tránh khỏi tâm lư vong
thân?
Văn hóa của một dân tộc là toàn bộ những giá
trị đă được chấp nhận và tạo ra
cách suy nghĩ, hành động và ứng xử của dân
tộc đó. Khi nhận định về văn hóa cá nhân
của ḿnh, chúng ta thường mắc phải một sai
lầm rất ḷn là đồng hóa văn hóa với
kiến thức, trong khi kiến thức chỉ là một
phần không quan trọng của văn hóa. Chúng ta có thể
có những kiến thức rất sâu sắc về y
học, điện tử, động nhiệt học,
kế toán và cả triết lư nữa, nhưng văn hóa
của chúng ta, nghĩa là cách sống, suy nghĩ, hành
động và ứng xử của chúng ta vẫn theo
một hệ thống giá trị có sẵn nào đó.
Và văn hóa có cách lưu truyền của nó. Một số
giá trị ban đầu, nảy sinh do một bối
cảnh xă hội đặc thù hay được kẻ
cầm quyền áp đặt tạo ra một nếp sinh
hoạt xă hội. Đến lượt nó, nếp sinh
hoạt đó, với những thể hiện vật
chất và tâm tính, điều kiện hóa con người,
để rồi con người truyền lại cho nhau qua
các thế hệ. Chúng ta tiếp thu một văn hóa lúc
mới chào đời khi trí tuệ c̣n non nớt chưa có
khả năng tự vệ, chúng ta chấp nhận
những giá trị của văn hóa đó như những
sự hiền nhiên không cần bàn căi, bởi v́ những giá
trị đó không đến với chúng ta bằng lư luận.
Chúng đến với chúng ta qua kiến trúc của làng xă,
phố phường, bề rộng của những con
đường, h́nh dạng của căn nhà, kích
thước của cái cửa sổ. Chúng đến
với chúng ta qua sinh hoạt gia đ́nh và bằng hữu.
Chúng cũng đến với chúng ta qua những câu
chuyện bà kể cho cháu, cô giáo kể cho học tṛ. Nói
chung, chúng thường đến một cách gián tiếp và
giấu mặt khiến chúng ta chấp nhận một cách
vô t́nh, chứ không đến một cách trực tiếp và
lộ diện để chúng ta có thể nhận
định và chọn lựa. Chính v́ thế mà một
số người Việt nam có thể không hề nh́n
thấy một lần trong đời cuốn Luận
Ngữ và không biết ǵ về sử Trung Hoa mà vẫn
thuộc văn hóa Khổng Giáo và vẫn là sản phẩm
tinh thằn của Đông Chu Liệt Quốc. Một cách
tương tự một người châu Âu dù chưa
từng nghe nói tới Socrate, Plalon và chưa đọc
một chuyện thần thoại Hy Lạp nào, vẫn
bị ảnh hưởng nặng nề của văn hóa
Hy Lạp và vẫn là đứa con tinh thần của
Ulysse. Rất có thể là có những bạn đọc
trẻ không hề biết tới một chuyện nào trong
cả bốn câu chuyện cồ tích mà tôi vừa kề,
nhưng không nhiều th́ ít, và nhiều chứ không ít, các
bạn vẫn chịu ảnh hưởng của những
giá trị mà chúng chuyên chở, bởi v́ các giá tŕ ấy
đă được môi trường sinh sống và
những người đă tiếp thu chúng trước
truyền lại cho các bạn. Tôi thường
được nghe nhiều vị phân vân nếu bỏ
văn hóa truyền thống th́ chúng ta c̣n lại ǵ, chúng ta
có mất mát lớn hay không. Xin quí vị yên ḷng, quí vị
dù muốn cũng không bỏ được đâu. Chính
tôi, một người phê phán gay gắt Khổng Giáo, tôi
ván là một sản phẩm của Khổng Giáo. Một
văn hóa cố sức sóng dai dẳng khó tưởng
tượng nỗi của nó. Nếu thay đổi
một nền ván hóa là việc dễ dàng th́ bộ mặt
thế giới đă khác hẳn, đă không có những
quốc gia có lợi tức b́nh quân trên mỗi đầu
người lớn gấp một trăm lần nhiều
quốc gia khác.
Văn hóa quyết định tổ chức xă hội, và
tổ chức xă hội quyết định chỗ
đứng và sự hơn kém của các dân tộc. Chế
độ cộng sản không phải là một sự
ngẫu nhiên của lịch sử. Nó thành công và tồn
tại được mà không gặp sự chống
trả đáng lẽ phải có bởi v́ nó chỉ là
sự kết tinh của nhưng giá trị nền tảng
của xă hội ta.
Tôi sinh sống bằng nghề kỹ sư cố vấn.
Nghề nghiệp của tôi thường cho tôi cơ
hội để thậm định giá trị của các
hệ thống quản trị bằng tin học. Kinh
nghiệm cho thấy chỉ có hai nguyên nhân đưa
tới một hệ thống tin học dở: một là
máy (hardware) dở, hai là các chương tŕnh (software)
được đặt vào máy dở. Cũng thế, khi
một quốc gia lạc hậu và thua kém th́ chỉ có hai
giả thuyết: một là con người tồi, hai là
văn hóa tồi.
Nhưng con người của ta không tồi, chúng ta khá
thông minh và chúng ta cũng rất chăm làm. Vậy th́ cái ǵ
khiến chúng ta không vươn lên được nếu
không phải là v́ văn hóa của ta độc hại?
Muốn vươn lên chúng ta phải thay đổi văn
hóa, nghĩa là các giá trị nền tảng. Nhưng đây
lại là một việc rất gian lao v́, xin nhắc
lại một lần nữa, văn hóa có sức sống
rất dai dẳng. Nếu quả quyết và dứt khoát
th́ cũng chưa chắc ǵ sau 50 năm nữa chúng ta
đă thay đổi được. Nếu lại c̣n
lưỡng lự tiếc nuối th́ không biết
đến bao giờ. Thế kỷ 20 đối với
chúng ta đă là một thế kỷ của canh tân, nhưng
chúng ta chưa đi đến đâu trên lộ tŕnh canh
tân, bởi v́ chúng ta tuy đă thấy được sự
lạc hậu của các giá trị cũ nhưng lại
không muốn chấp nhận những giá trí mới. Cái
gốc của chúng ta dở nhưng chúng ta lại sợ
mất gốc. Chúng ta như người ra đi nhưng
không biết đi đâu, cho nên chúng ta không thể đi xa.
Thế giới đang nhỏ lại và các dân tộc
đang đến gần nhau.
Không có những giá trị phương Đông và những
giá trị phương Tây, chỉ có nhưng giá trị
tốt và nhưng giá trị có hại. Những giá trị
tốt là ḥa b́nh, tự do, dân chủ, b́nh đẳng, nhân
quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại,
hợp lác, lợi nhuận, liên đới và môi
trường. Những giá trị đó đă tạo ra
sức mạnh của các nước phương Tây. Chúng
không phải là những giá trị của phương Tây mà
là những giá trị phổ cập của loài người,
có sẵn trong mọi dân tộc và mọi nền văn
minh, nhưng chỉ gần đây mới có một số
ít dân tộc triệt để phát huy chúng và trở thành
giàu mạnh hơn hẳn phần c̣n lại của thế
giới.
Đến đây tôi xin khẩn khoản thưa với
độc giả đôi lời tha thiết. Tất cả
người Việt chúng ta, dù ở trong hay ngoài
nước, dù ở lứa tuổi nào vẫn c̣n bị
nhiễm độc rất nặng nề v́ nền văn
hóa Khổng Mạnh được du nhập vào
nước ta với cái nội dung c̣n tồi tệ hơn
nguyên bản của nó tại Trung Quốc. Xin chớ
vội nghĩ rằng tư tưởng của chúng ta
đă hoàn toàn đổi mới. Cái di sản văn hóa hai
ngàn năm đó vẫn khống chế chúng ta. Chúng ta
phải ư thức điều đó th́ mới có hy vọng
rũ bỏ được nó để bay bỏng và
tiến xa. Một bệnh nhân không biết ḿnh mắc
bệnh th́ không thể chữa bệnh.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Mười triệu năm đánh đu 1
Tôi
không phải là một nhà khảo cổ hay một nhà nhân
chủng học. Kiến thức của tôi về nguồn
gốc con người chỉ rất sơ sài. Một vài
hiểu biết của tôi về vấn đề này có
được do một sự t́nh cờ. Tôi có hai con
nhỏ và hàng năm vào mùa hè chọn đi nghỉ tại
thị xă Menton trên bờ biển Địa Trung Hải
miền Nam nước Pháp, giáp ranh với nước ư.
Thị xă Menton này là một thành phố rất dễ
thương, nóng suốt mùa hè, rất ít khi có mưa. Trong
suốt sáu mùa hè liên tiếp, tôi chưa bao giờ bị
một trận mưa nào trong lúc nghỉ hè, có nghĩa là
được tắm biển mỗi ngày. Đó là một
điều rất quan trọng. Ngày hè ngắn ngủi,
mất ngày nào là uổng ngày đó. Menton lại có một
vũng biển rất tốt, kín gió và hầu như không
có sóng, các con tôi có thể bơi lội an toàn Hai dứa
rất thích Menton và hàng năm cứ đến gần tháng
bảy là chúng nô nức rạo rực chờ đợi
đi Menton. Menton là một thành phố dành cho trẻ con và
người già. Thanh niên rất ít đến đây v́ không
nhộn nhịp như các bờ biển khác, Saint Tropez,
Saint Maxime, Nice, Cannes chẳng hạn. Nhưng cái duyên
của Menton cũng là ở chỗ đó. Thành phố yên
tĩnh, khang trang và lịch duyệt. Dân ở đây
phần lớn là người giàu có đă về hưu,
họ lịch sự và ḥa nhă.
Nhưng Menton c̣n có một đặc điểm khác mà tôi
rất thích. Menton có nhiều lịch sử. Chung quanh Menton
có nhiều hang động mang vết tích con người
từ vài chục ngàn năm (tại nước ta những
dấu vết về sự sống của con người
không quá mười ngàn năm). Đi về hướng
Bắc một chút có Vallée des Merveilles trong đó
người ta c̣n thấy những vách đá có chạm
trổ những tranh vẽ thô sơ của con người
cách đây cả chục ngàn năm. Mỗi lằn
đứng trước những chạm trồ tôi
đều có một xúc cảm lớn, tưởng
chừng như những con người đó c̣n đâu
đây ngay gần sát với ḿnh.
ở Menton người ta cũng đào được
một hài cốt một người đă chết cách
đây trên mười ngàn năm nhưng c̣n nguyên vẹn.
Đây quả là một kỳ quan. Xác người này
rất đẹp. Đó là một người đàn ông
cao độ 1,80 mét, một chiều cao phi thường vào
thời đại đó, khi chiều cao trung b́nh của con
người chỉ vào khoảng 1,40 mét. Không biết
hồi đó kỹ thuật ướp xác đă cao
đến mức nào, hay chỉ do một sự t́nh
cờ, nhưng xác c̣n nguyên vẹn, c̣n nguyên cả da
thịt dù đă khô lại. Xác nằm cong queo, h́nh như là
do cách bố trí chôn cất thời đại đó,
đầu đội mũ làm bằng những vỏ óc
nhỏ xiên thành từng chuỗi, cái mũ cũng c̣n nguyên
vẹn. Xác này được đặt ngay chính giữa
viện bảo tàng tiền sử, một kiêu hănh của
thành phố Menton.
Trong viện bảo tàng này có rất nhiều dụng
cụ và di tích từ vài trăm ngàn năm, và nhiều
cảnh sinh hoạt được các nhà khảo cổ
dựng lại giúp ích cho những người
thường như tôi hiểu người xưa đă
sống như thế nào. Trên tường lại có cả
những bản chỉ dẫn tóm lược về
diễn biến của trái đất kể từ ngày khai
thiên lập địa. Đặc sắc hơn, có một
pḥng chiếu phim tân kỳ với đủ mọi loại
phim tài liệu có tính giáo dục. Khách vào thăm viện
bảo tàng chỉ cần bấm một cái nút vào bên
cạnh tên một phim là sau đó được b́nh
thản ngồi xem những phim tài liệu về nguồn
gốc con người. Năm nào tới Menton tôi cũng vào
thăm viện bảo tàng trên dưới mười
lần và say sưa xem những phim ảnh đó. Có
những phim đă xem mấy chục lần vẫn chưa
biết chán.
Qua những phim ảnh đó và những dấu tích của
viện bảo tàng tôi được biết là khoảng
mười lăm triệu năm trước đă
xuất hiện các loài khỉ lớn, thủy to của
loài người. Nhưng sau đó, trong mười
triệu năm người ta không c̣n t́m thấy một
vết tích nào về sự sống của các loài khỉ
này cả. Cái ǵ đă xảy ra? Có thể chẳng có ǵ là đặc
biệt cả các loài khỉ vẫn sống và tiếp
tục tiến hóa những người ta đă không t́m ra
vết tích. Cũng cần phải nói là các dấu tích
chấm phá được rất rời rạc, sự
mất dấu tích có thể chỉ là t́nh cờ. Nhưng
từ năm triệu năm gần đây, người ta lại
t́m thấy dấu tích của một số loài khỉ
lớn, và lần này với một thay đổi nhỏ:
bàn tay của một loài trong các loại đă nhân đă dài
ra, bốn ngón tay trước nhô ra đằng trước
trong khi ngón tay cái thụt về phía sau. Tại sao? Không có ai
có thể giải thích một cách rơ ràng. Rất có thể
là, do điều kiện sinh sống, có những loài
khỉ đă t́m được lá cây và trái cây ngay sát
mặt đất và tiếp tục ḅ đi kiếm ăn,
nhưng cũng có những loài khỉ đă phải đu
cây thường xuyên, và kết quả của mười
triệu năm đánh đu đó là h́nh dạng bàn tay thay
đổi. Sự thay đổi t́nh cờ và nhỏ bé này
đă có hậu quả vô cùng lớn là tạo ra giống
người và thế giới con người. Do sự
sắp xếp bàn tay mới mà lần này khi bàn tay nắm
lại, ngón tay cái trở thành đối diện với
bốn ngón kia tạo ra một sức nắm chắc và
mạnh hơn hẳn so với một bàn tay mà cả
năm ngón đều ở gần cùng một mức.
Sức nắm này tạo ra một khả năng mới:
con người có thể dùng đụng cụ và dần
dần biết dùng dụng cụ, rồi với thời
gian biết t́m cách cải tiến dụng cụ. Sự suy
nghĩ bắt đầu, từ đó khối óc mở
mang ra. Hơn nữa, có lẽ cũng do mười
triệu năm đánh đu mà con người thẳng ra,
dần dần biết đứng, biết đi. Hai bàn tay
được giải tỏa, không cần phải dùng cho
việc di chuyền nữa, để dùng hoàn toàn vào
việc sử đụng dụng cụ. Trí óc lại càng
mở mang. Và sau đó, cách đáy khoảng hai triệu
rưỡi năm, giống người thực sự
xuất hiện. Các nhà bác học về khảo cổ
ước lượng con người xuất hiện cách
đây khoảng ba triệu hay hai triệu rưỡi
năm tại châu Phi, vào lúc đă biết chế tạo
những dụng cụ đầu tiên bằng đá,
rồi từ châu Phi mà tỏa ra châu Âu và châu á.
Giả thuyết về nguồn gốc con người này
- dầu sao cũng chỉ là một giả thuyết dù nó
được tất cả mọi nhà bác học chấp
nhận - nhắn nhủ chúng ta, tất cả loài
người, cần có một thái độ khiêm tốn.
Chỉ nhờ một biến đổi rất chi
tiết và rất vô t́nh của cấu trúc bàn tay mà có loài
người văn minh. Nếu không, có lẽ chúng ta vẫn
chỉ là loài khỉ lom khom hái lá mà ăn trong rừng núi.
Nếu không, chúng ta cũng đă chẳng có các tín
ngưỡng, thượng đế, máy điện
tử, xe hơi, máy bay, những tư tưởng lớn
và Intemet. Đồng thời nó cũng cho ta một nhận
định: một biến cố rất nhỏ bé và t́nh
cờ lúc ban đầu có thể có khả năng với
thời gian dán tới những thay đổi thật
vĩ đại.
Như chúng ta sẽ thấy trong những trang sau, lịch
sử của sự phát triển của những nền
văn minh rất huy hoàng cũng khởi đầu
bằng những sự kiện rất t́nh cờ.
Đoạn này là một dẫn nhập có mục đích
chuẩn bị tinh thần cho một cuộc thảo
luận chi tiết về hiện tượng phát
triển, đặc biệt là phát triển kinh tế,
ở nhưng trang sau. Nhưng ngay bây giờ ta có thể làm
một con tính nhẩm. Loài người xuất hiện cách
đây ba triệu năm, nền văn minh công nghiệp
mới xuất hiện từ khoảng 300 năm nay
tại một vài nước. Như vậy nếu đem
so sánh cả quá tŕnh tiến triển ba triệu năm
của loài người với một năm th́ hiện
tượng phát triển chỉ mới bắt đầu
vào hỏi 23 giờ 59 phút ngày 31tháng 12, phút cuối cùng
của năm.
Phát triển như vậy là một hiện tượng
rất mới và cũng chỉ giới hạn trong một
sổ quốc gia nhỏ do một vài yếu tố mà dân
tộc Việt nam, cũng như mọi dân tộc c̣n
lạc hậu và đang ao ước phát triển, cần
nh́n rơ để chụp bắt.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Mười triệu năm đánh đu 2
Ngày
nay khi nói loài người từ giống khỉ mà ra chúng ta
không c̣n xúc phạm tới tín ngưỡng nào cả. Sự
kiện này đă được chứng minh rơ ràng tới
mức không ai có thể phủ nhận. Các tôn giáo tin ở
một thượng đế tạo ra trời
đất và con người, hay tin ở một ṿng luân
hồi huyền bí, không c̣n phản bác lập luận loài
người từ giống khỉ mà ra nữa mà chỉ
cố thuyết phục để các tín đồ hiểu
kinh sách một cách tượng trưng thay v́ một cách
từ chương. Dầu sao đi nữa th́ chính sự
tiến hóa từ loài khỉ lên loài người cũng là
một phép màu mở cửa cho mọi suy luận.
Một cách thực tiễn chúng ta có thể coi thủy
tổ của loài người là con khỉ đầu tiên
(đúng hơn phải gọi là cụ khỉ đầu
tiên) nghĩ ra việc đập hai ḥn đá vào nhau
để đẽo thành dụng cụ. Cử
động này đă khai sinh ra loài người bởi v́
chính vào giây phút đó con khỉ đó biến thành
người và dần dần giúp những con khỉ chung
quanh thành nhưng con người đầu tiên.
Từ đó loài người đă bước nhiều
bước tiến vĩ đại, đă biết dùng
lửa, biết chăn nuôi, trồng trọt, đắp
đê ngăn nước, chế tạo vật dụng
bằng kim loại, khám phá ra bánh xe, thuyền bè, đặc
biệt là biết phát minh và sử dụng ngôn ngữ
để trao đổi. Những khám phá đó đă
cải thiện một cách trọng đại đời
sống con người và đă giúp cho tổ chức
của xă hội con người dần dần h́nh thành.
Nhưng đó không phải là những tiến bộ có
chủ ư. Đó chỉ là một sự gặp gơ t́nh
cờ giữa một trí tuệ sơ sinh và cuộc
sống hằng ngày. Một hiện tượng tự
nhiên - lửa cháy do sấm sét, những trái cây tṛn lăn
trên mặt đất, những thân cây nổi trên sông, v.v...
rồi một lúc nào đó một ánh sáng vụt lóe lên trong
đầu óc đơn sơ, con người biết
lặp lại điều ḿnh đă thấy nhiều
lần và đem ứng dụng cho cuộc sống.
Đó là giai đoạn mà trí tuệ mộc mạc chưa
ư thức được sự hiện hữu của chính
ḿnh. Những tiến bộ, v́ là sự gặp gỡ t́nh
cờ và mầu nhiệm của rất nhiều yếu
tố, đă chỉ đến một cách vô cùng chậm
chạp. Thí dụ, từ ngày mà vị thủy tổ
của loài người xuất hiện, loài người
đă phải chờ đợi gần hai triệu năm
mới t́m ra lửa. Nhờ biết dùng lửa để
sưởi ấm loài người mới dám rời bỏ
châu Phi nóng ấm để lấn tràn qua châu á và châu Âu. Con
người đă săn thú và lượm trái cây ăn ngay
từ khi chưa thành con người nhưng phải
đợi măi đến cách đây khoảng 20.000 năm
mới bắt đầu biết chăn nuôi và trồng
trọt. Ta có thể coi giai đoạn đầu tiên
của loài người như là một bóng đêm mênh mông và
dày đặc, con người sờ soạng tiến
tới có khi rơi vào vực thẳm, có khi đụng
đầu vào đá, nhiều khi di giật lùi. Phải sau
ba triệu năm người bộ hành mỏng manh
nhưng ngoan cố đó mới may mắn t́m
được vùng có ánh sáng. Đó thực sự là một
phép mầu không ai giải thích nỗi. Nếu bảo đó
là mầu nhiệm của tạo hóa th́ cũng không phải
là không có lư do. Giai đoạn đầu tiên này thực ra
đă kéo dài quá 99% lịch sử loài người. Chỉnh
nhờ chăn nuôi và trồng trọt mà xă hội loài
người đă thay đổi lớn về mặt
tổ chức và các tiến bộ đă đến với
một nhịp độ hơn hẳn. Lần này trí
tuệ ư thức được ḿnh, con người suy
nghĩ và biết ḿnh suy nghĩ, con người động
năo t́m cách chinh phục thiên nhiên, cải thiện đời
sống của ḿnh và cải thiện liên hệ giữa các
thành phần trong xă hội một cách có chủ ư. Trong giai
đoạn thứ hai này, loài người đă phát minh ra
các mô h́nh tổ chức xă hội và cũng đă
đặt những viên đá đầu tiên cho hầu
hết các bộ môn của kiến thức: triết
học, chính trị học, vật lư, toán, cỏ khí, y khoa,
kinh tế, luật pháp, v.v...
Những xă hội xuất hiện đầu tiên lẽ
dĩ nhiên đều là những xă hội nông nghiệp
với những đặc tính khác nhau theo môi trường
thiên nhiên. Tuy nhiên với thời gian hai kiểu mẫu xă
hội chính đă trở thành áp đảo.
Kiểu mẫu thứ nhất là một xă hội tản
canh dành một trọng lượng đáng kể cho
chăn nuôi và ngư nghiệp, và trong đó việc
trồng trọt không tập trung vào một loại cây
lương thực. Các xă hội này, h́nh thành tại châu Âu,
đă rất chật vật lúc ban đầu, nghĩa là
trong gần hết ḍng lịch sử kể từ ngày thành
h́nh. Dân số không tăng trưởng mạnh v́ luôn luôn
thiếu thực phẩm. (Châu Âu đă chỉ tạm
giải quyết được nạn đói từ
thế kỷ 17 nhờ cây ngô đem từ châu Mỹ
về) chính sự sống c̣n cũng là một công tŕnh
phấn đấu thường ngày để cải
thiện kỹ thuật nuôi trồng và trao đổi các
hàng hóa giữa các cụm sản xuất nhỏ và đa
dạng. Các xă hội đa dạng này không khuyến khích
sự ra đời của những cơ cấu quyền
lực lớn, trái lại thuận lợi cho tự do cá
nhân và sự tồn tại của những cộng
đồng nhỏ trong đó bạo lực và sự
khống chế không phải là nét đậm nhất, bởi
v́ bạo lực chủ yếu là sản phẩm của
sự bất lực trong việc điều hành đúng
đắn một tập thể lớn. Sau buổi
đầu chật vật, chính mô h́nh này đă vươn
lên chinh phục và chế ngự toàn thế giới và thúc
đẫy thế giới đi những bước
thực nhanh chóng.
Kiểu mấu thứ hai là các xă hội phù sa tại châu á
và Trung Đông, thành lập trên lưu vực những con
sông lớn, nặng về trồng ngũ cốc. Các xă
hội này sống nhờ ḍng sông và lệ thuộc ḍng sông.
Ḍng sông trước hết đem lại hoa màu - lúa gạo
và tôm cá - dồi dào. Chính nhờ thế mà các xă hội phù sa
đă mau chóng đạt tới mức độ tạm
đủ về thực phẩm và vượt hẳn các
xă hội thuộc kiểu mẫu thứ nhất về mọi
mặt. Ngày nay không thiếu những người Trung
Đông nhắc lại rằng khi thành phố Babylone
rực ánh sáng với những lâu đài nguy nga th́ toàn châu Âu
vẫn c̣n ch́m đắm trong sự man mọi. Cũng không
thiếu người châu á nhắc lại rằng
người Trung Hoa đă biết xem thiên văn và làm ra
lịch từ rất lâu trước khi người châu Âu
khám phá chữ viết.
Nhưng nếu ḍng sông đem lại hoa màu và sự
sống th́ nó cũng thường xuyên để dọa
cuốn đi cả hoa màu lẫn cuộc sống. Con
người phải thường xuyên đắp đê
ngăn nước lũ; công tŕnh này đ̣i hỏi những
cố gắng rất to lớn của toàn thể xă
hội, nếu cần nó đ̣i hỏi hy sinh cả một
phần của cộng đồng để cuộc
sống có thể tiếp tục với phần c̣n
lại. Các xă hội phù sa cần một bạo quyền
để áp đặt những hy sinh rất phi
thường. Dần dần nền tảng của các xă
hội này chính là một khế ước bạo
quyền, trong đó một bạo chúa có nhiệm vụ áp
đặt những hy sinh mà quần chúng phải phục
tùng một cách không bàn căi. Đó là cái giá phải trả
để xă hội có thể tiếp tục. Bạo
quyền được chính đáng hóa. Những
người bị hy sinh có thể nguyền rủa bạo
chúa nhưng con cháu họ sẽ cảm ơn bạo chúa.
Dần dần chính những người bị hy sinh
cũng không c̣n nguyền rủa bạo chúa nữa, họ
chấp nhận cái chết như một định
mệnh. Bạo quân được b́nh thường hóa.
Cũng tương tự như ḍng nước, các bạo
quân một mặt bảo đảm sự tồn tại
của các xă hội phù sa, một mặt tiêu diệt tự
do và sáng kiến và trói buộc chúng tại chỗ. Các xă
hội phù sa tiến rất mau chóng đến một
mức độ văn minh khá cao, rồi đứng
lại ở đó. Chúng gần như trưởng thành
ngay sau khi thành h́nh rồi không tiến hóa nữa.
Trước khi thảo luận thêm về hai kiểu
mẫu xă hội chính này, xin mở một dấu ngoặc
để nói về một vài kiều mẫu xă hội
khác. Trên bờ Địa Trung Hải, tại thành phố
Tyr và vùng phụ cận thuộc nước Lebanon hiện
nay, một sắc dân đă t́m ra một nếp sống
độc đáo ngay từ hơn sáu ngàn năm về
trước: đó là nền văn minh hàng hải và
thương mại. Trái với cuộc sống trên trái
đất, nếp sống này đ̣i hỏi một sự
can đảm rất lớn, có thể là quá lớn
đối với những con người c̣n chưa
nắm được hết những bí mật của
thiên nhiên. Giữa trời nước và sóng gió, con
người chỉ c̣n trông cậy vào sự khôn ngoan và
liều lĩnh của chính ḿnh. Sắc dân Phénicien này đă
là nhưng con người đầu tiên dám chinh phục
biển cả. Để h́nh dung sự dũng cảm
của họ nên nhận định cách ứng xử
của người á Đông, nhất là Việt nam, trong
nhiều ngàn năm đă đứng bên bờ biển nh́n
Thái B́nh Dương với con mắt kính sợ. Nhưng
người Phénicien không phải chỉ phát minh ra ngành hàng
hải, họ c̣n phát minh ra cả sự buôn bán, yếu
tố cốt lơi của giàn mạnh. Chính nhờ sự khôn
ngoan và liều lĩnh của kẻ đi biển và buôn bán
mà sắc dân Phénicien ít ỏi đă mau chóng chế ngự
được cả vùng Địa Trung Hải. Nhưng
có lẽ v́ những cố gắng đă quá lớn
đối với họ mà người Phénicien đă
gục ngă. Họ đă dám chinh phục biển cả
nhưng sự liều lĩnh trong bất trắc và bao la
đă khiến họ thờ nhiều thần linh, trong
đó có thần Baal-Hammon, vị thần độc hại
nhất đă đưa họ tới tiêu diệt. Mỗi
gia đ́nh phải đem chặt đầu để cúng
cho Hammon đứa con trai đầu tiên vừa đủ
12 tuổi để đền đáp lại những
chiến thắng và ân huệ của Hammon. Những hy sinh
gớm ghiếc cho thần Hammon dần dần khiến
họ thiếu chiến sĩ trong khi niềm tin ở
thần Hammon lại thường thôi thúc họ gây
chiến. Cuối cùng họ bị người La Mă tiêu
diệt sau khi đă hấp thụ được những
kiến thức hàng hải của họ.
Trên các cao nguyên hoang vu tại miền Bắc châu á, Mông
Cổ và Tân Cương, đă h́nh thành những xă hội du
mục dựa trên bộ tộc, bạo lực và
đẳng cấp. Các xă hội này đă phát triển khá
mạnh dưới thời Trung Cỗ nhưng ngày nay
kiều mẫu xă hội này kể như đă bị tiêu
diệt. Có thể nói khẩu súng mà người
phương Tây chế tạo ra đă ban chết nền
văn minh cao nguyên này. Khẩu súng của người
phương Tây và nhất là những con vi trùng mà họ
đem tới cũng đă tiêu diệt những nền
văn minh gần giống như nền văn minh này
tại châu Mỹ, từ thế kỷ 16.
Ngoại trừ năm nước da trắng ở phía
Bắc, lục địa châu Phi, cái nôi của nhân
loại, đă lạc vào một lối đi hoàn toàn khác,
đó là phủ nhận mọi t́nh cảm có thể có
giữa người với người. Các bộ lạc
hoàn toàn được xây dựng trên huyết thống.
Chế độ nô lệ ra đời cùng với trí thông
minh và khiến trí thông minh không phát triển được.
Ngoài quan hệ huyết thống, liên hệ giữa các cá
nhân và các bộ lạc hoàn toàn dựa trên sức mạnh.
Những nô lệ bị đánh đập, giết bỏ,
mua bán, và sau này xuất nhập cảng như thể
vật và đồ vật. Lục địa châu Phi
hoặc không có khái niệm về giống người
hoặc không cho khái niệm này một tầm quan trọng
nào. Chính v́ thế mà châu Phi đă dừng lại ở
sự dă man. Nếu cố dịp tôi sẽ c̣n trở
lại vấn đề châu Phi trong phần sau của
cuốn sách này. Nhưng ở đây ta có thể tạm rút
ra một quan sát: các xă hội dành cho cá nhân sự kính
trọng lớn nhất cũng là những xă hội dễ
tiến lên nhất. Châu Phi đă khinh miệt con
người một cách tuyệt đối nên châu Phi
cũng lạc hậu một cách tuyệt đối.
Trước khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài,
khó có thể nói lục địa châu Phi Da Đen có một
nền văn minh.
Trở lại với hai kiểu mẫu xă hội chính, ta
có thể nói trong gần như cùng một thời
điểm, hai nền văn minh Đông và Tây đă
đạt tới cao điểm tương
đương, châu Âu với Hy Lạp, châu á với Trung
Quốc của thời Xuân Thu. Cùng một tŕnh độ
nhưng hai hướng đi khác nhau. Phương Tây đă
ṃ mẫm theo hướng tự do, mạo hiểm và sáng
kiến trong khi phương Đông lạc vào ngơ cụt
của tự măn và thủ cựu. Nền văn minh Hy
Lạp là một điểm khởi hành trong khi nền
văn minh Thương Chu là một điểm tận cùng.
Sau gần hai ngàn năm, từ thế kỷ 15 trở
đi, tuy tương quan lực lượng không thay
đổi nhưng phương Tây t́m thấy hướng
đi đến nền văn minh hiện đại trong
khi phương Đông vẫn chỉ nh́n thấy chỗ
ngồi cũ. Phương Tây bắt đầu chuyển
động và bỏ xa phương Đông.
Tôi xin lỗi đă làm mất th́ giờ của độc
giả qua một tóm lược thô vụng về lịch
sử loài người, một điều mà một
lần nữa tôi xin nhắc lại là tôi không có kiến
thức nào đáng nói. Mục đích của phần trên
chỉ là để độc giả ghi nhận hai
điều.
Một là, cho đến một ngày rất gần đây,
nghĩa là trong hầu như tất cả lịch sử
của thể giới, tất cả mọi tiến
bộ đều đă đến một cách rất t́nh
cờ. Do một sự t́nh cờ mà bàn tay một vài
giống khỉ đầu tiên đă biến đổi, do
một sự t́nh cờ mà một con khỉ đầu tiên
đă đẽo đá thành dụng cụ; do t́nh cờ mà
có lửa, có các nghề chăn nuôi, trồng trọt, có
thuyền bè. Cũng do sự t́nh cờ của điều
kiện thiên nhiên mà các xă hội phù sa đă chọn sự
bất động trong khi các xă hội châu Âu đă
được xô đẩy tới hướng đi
của tự do và tiến bộ. Chúng ta có thể lấy
làm tiếc cho nguồn gốc của chúng ta nhưng không có
lư do ǵ để phải hổ thẹn. Mặt khác cũng
không có lư do ǵ để cảm thấy có bổn phận
phải gắn bó với truyền thống. Truyền
thống chỉ là kết quả t́nh cờ của
những sờ soạng trong bóng đêm dày đặc.
Người phương Tây cũng sờ soạng trong bóng
đêm như chúng ta; họ chỉ đă may mắn mà t́m
được lối thoái ra ánh sáng. Chính từ lúc này, khi
mọi dân tộc đă có thể nh́n ra con đường
phải đi, sự vinh nhục mới đặt ra. Cái
vinh là ở chỗ nh́n thấy, cái nhục là ở chỗ
không nh́n thấy hay nh́n thấy mà không dám đi vào. Các dân
tộc thông minh là các dân tộc biết mau chóng nh́n ra và
bước lên lối đi của tiến bộ. Các dân
tộc đần độn là các dân tộc tự bịt
mắt để ngoan cố trong bế tắc. Hai là,
những hơn kém giữa phương Tây và phần c̣n
lại của thế giới chỉ là một hiện
tượng rất gần đây thôi, khoảng ba, bốn
trăm năm vừa qua. Ba trăm năm trong ba triệu năm
chỉ là một vài giây trong một ngày. Nếu có đôi khi
chúng ta cảm thấy tủi nhục th́ chúng ta cũng nên
tự an ủi rằng đó chỉ là một hiện
tượng nhất thời và có thể chấm dứt
rất mau chóng. Nhật Bản đă cho chúng ta một
bằng cớ.
Tôi xin phép được nhấn mạnh: kinh nghiệm
sống, học hỏi và làm việc với người
phương Tây đă cho tôi tin chắc chắn là con
người phương Tây không hơn con người
phương Đông. Sở dĩ các nước
phương Tây phát triển và giàu mạnh hơn các
nước khác là v́ xă hội của họ được
xây đựng trên những giá trị đúng mà họ t́nh
cờ được đẩy tới gần và sau đó
nhờ cố gắng mà đạt tới. Họ đă t́m
ra lối đi ra khỏi sự nghèo khó và dẫn tới
sự phồn vinh, tại sao chúng ta không nhanh chóng chọn
lựa lối đi đó?
Cần chấm dứt một kịch bản đă lặp
lại quá nhiều lần và trở thành nhàm chán:
phương Tây đi trước, phương Đông
chạy theo sau và làm những cố gắng phi
thường để bắt kịp. Đến khi
phương Đông tưởng sắp qua mặt
được phương Tây th́ phương Tây lại
t́m ra một khám phá mới, lao vút về phía trước và
bỏ phương Đông lại đàng sau. Cứ như
thế mà tiếp diễn. Lần duy nhất mà
phương Đông tưởng rằng ḿnh đă đi
trước phương Tây là khi một số nước
phương Đông đi theo chủ nghĩa cộng
sản, tưởng rằng ḿnh đă t́m ra cách tổ
chức xă hội tương lai của nhân loại
để rồi vỡ mộng nhận ra rằng đó
chỉ là một ảo tưởng đẫm máu. Lư do
của sự thua kém dai dẳng này là một khác biệt
về văn hóa. Văn hóa phương Tây tôn trọng cá
nhân và do đó phát triển được tối đa ư
kiến và sáng kiến, trong khi các văn hóa phương
Đông đều coi thường con người và làm thui
chột trí tuệ. Điều mà phương Đông
phải học hỏi trước hết của
phương Tây lại là điều họ cố phủ
nhận: chủ nghĩa cá nhân tự do.
Vả lại mọi thái độ thủ cựu xét cho
cùng đều ngây ngô. Tiến bộ là ǵ nếu không
phải là sự từ bỏ không ngừng nếp sống
cũ và khám phá không ngừng những nẻo
đường mới? Nếu những người
tiền sử cùng khư khư giữ nguyên văn hóa
của họ chắc chắn ngày nay loài người vẫn
chỉ là những bộ lạc ăn thịt lẫn nhau.
Nhân nói chuyện ăn thịt người, cách đây không
lâu lắm, vào cuối tháng 11- 1998, tôi được xem một
phim tài liệu về một ḥn đảo trong quần
đảo Nam Dương (Indonesia). Trên đảo có
một số bộ lạc làm nhà trên cây và ăn thịt
người. Ngày nay họ đă khá tiến bộ, đă
biết mặc quần áo của các tổ chức từ
thiện cấp cho nhưng vẫn c̣n giao chiến giữa
các bộ lạc và ăn thịt tù binh. Viên lănh chúa bộ
lạc giải thích việc ăn thịt tù binh là chính
đáng, bởi v́ nó thể hiện ư chí tiêu diệt tội
ác và các tù binh là biểu tượng của tội ác. Viên
lănh chúa này chắc chắn coi việc ăn thịt
người là một văn hóa cần phải ǵn giữ.
Cũng như các dân tộc thuộc văn minh Trung Hoa coi
cái ách tam ṭng quàng lên đầu phụ nữ là một
truyền thống tốt đẹp.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Cái tuổi dại khờ
Tuổi
hai mươí tuổi của không ngờ
Tuổi hai mươi tuổi của dại khờ
Nguyễn Chí Thiện
Trong thập niên 1960, tại châu Âu, và nhất là lại Pháp,
nở rộ lên một phong trào nghiên cứu phát triển
kinh tế. Có cả một trường đại học
chỉ chuyên giảng dạy về phát triển kinh tế,
như thể phát triển kinh tế phải
được coi là một khoa học riêng. Trường
này tên là Institut detudes de Développement Economique ét Social (IEDE hay
Viện Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế và Xă Hội).
Nhiều bạn tôi đă tốt nghiệp tại
trường này. Nhưng dù học trường này hay không
th́ mọi người đều bị lôi cuốn vào các
cuộc tranh luận về phát triển kinh tế. Thời
trang lúc đó là cố gắng động năo để t́m
ra nhưng kế hoạch và mô thức kinh tế có khả
năng phát triển một nước lạc hậu. Các
mô thức được đặc biệt quí trọng,
nhất là nếu chúng lại được tŕnh bày
bằng những phương tŕnh toán học phức
tạp với những dấu hiệu dẫy số, vi
phân, tích phân, luỹ thừa, v.v... Vô số các mô thức
đă được phát minh ra trong các quán cà phê Paris bởi
những ứng cử viên giải Nobel kinh tế không qua
bất cứ một kinh nghiệm thực tiễn nào. Kinh
nghiệm lúc đó gần như bị phủ nhận, v́
một lư do rất hùng hồn là người ta coi những
ǵ học hỏi được trong các nước tư
bản là không thể áp dụng cho các nước chưa
mở mang. Hầu hết các nước châu Phi và châu
Mỹ La Tinh đă là những nạn nhân đau đớn
của những lư thuyết thành h́nh trong giai đoạn này.
Đặc biệt nước Algeria đă tiêu hao hết
cả tài nguyên về dầu khí cho hai lư thuyết thời
thượng của giai đoạn đó: thuyết lệ
thuộc và thuyết các kỹ nghệ kỹ nghệ hóa.
Như mọi thanh niên có chút tâm huyết, tôi cũng đă
tốn nhiều th́ giờ và công sức cho những lư
thuyết đó, để rồi nhận ra sự
trống rỗng của chúng và sự khờ khạo
của chính ḿnh. Than ôi, cái tuổi đại khờ!
Những mô thức phát triển kinh tế có thể rất
khác nhau về góc nh́n, về lư luận, về các thông
số và phương tŕnh, nhưng chúng đều có
một đặc điểm chung: chúng đều sai.
Lư do đầu tiên là không thể có công thức giải
quyết được sự nghèo khổ. Vấn
đề chỉ giản dị như vậy thôi sao? Làm
sao có thể coi những sự kiện thực tế
như là những thông số của toán học? Mô thức
toán học nào hội nhập được những
đức tính như chuyên cần hay lười biếng,
thực thà hay gian dối, trách nhiệm hay phá hoại? Và c̣n
vấn đề tham nhũng? Dĩ nhiên các lư thuyết gia
về phát triển không giải đáp được
những câu hỏi đó và tác phẩm của họ nói
chung, thay v́ là những lư thuyết về phát triển phần
lớn chỉ là những phân tích hiện tượng không
phát triển, kèm theo những cáo trạng gay gắt đói
với các nước tư bản phát triển và các công ty
đa quốc gia bị coi như là nguyên nhân của sự
nghèo khổ tại các nước chưa phát triển. Lư
thuyết thực dân mới được ra đời
trong giai đoạn này. Nó có thể tóm tắt như sau: các
nước tư bản sau khi đă thấy chính sách
chiếm đóng và thống trị không áp dụng được
nữa bèn chuyển qua ư đồ thống trị kinh
tế, dùng viện trợ và các công ty đa quốc gia làm
vũ khí. Tinh thần chủ đạo của nó là các
nước tư bản và phát triển có dụng ư ác
độc muốn giữ các nước chưa mở mang
trong t́nh trạng lạc hậu để có thể
tiếp tục thống trị. Các lư thuyết gia cố
quên đi là sự nghèo khổ đă có từ muôn kiếp
trước và chính nhờ tiếp xúc với các
nước phát triển mà các nước lạc hậu
đă bớt lạc hậu.
Lư do thứ hai, trầm trọng hơn nhiều, là họ
đă nhầm đối tượng nghiên cứu.
Điều cần phân tích và nhận định là hiện
tượng phát triển chứ không phải là hiện
tượng không phát triển, bởi v́ không phát triển là
t́nh trạng chung của cả thế giới từ
hồi khai thiên lập địa đến giờ, có ǵ
là lạ đâu. Phát triển trên qui mô quốc gia là một
hiện tượng rất mới và cũng chỉ
giới hạn ở một số rất ít quốc gia mà
thôi. Nó xuất hiện tại nước Ḥa Lan nhỏ xíu
khoảng hơn 400 năm về trước, rồi non
một thế kỷ sau đó tại Anh và Hoa Kỳ, các
nước Tây Âu khác đă chỉ biết đến
hiện tượng phát triển sau đó. Nhiều cụ
già người Pháp vẫn c̣n nhớ rất rơ những ngày
đói lạnh. Các thống kê cho thấy cho đến
cuối thế kỷ trước, quá phân nửa trẻ em
các nước Tây Âu chết trước tuổi dậy
th́. Các nước tiến bộ nhất cũng chỉ
mới thực sự khắc phục được
sự đói khổ khoảng chừng một thế
kỷ nay thôi, trong khi đối với ba phần tư
của nhân loại đói khổ vẫn c̣n là người
đồng hành cổ hưu. Điều lạ chính là hiện
tượng phát triển. Tại sao một số quốc
gia bỗng dưng trở thành giàu có và phồn vinh,
vượt hẳn phần c̣n lại của thế
giới? Đó mới là câu hỏi đáng đặt ra và cần
phải trả lời.
Các lư thuyết gia về phát triển khi tập trung phân tích
hiện tượng không phát triển không những chỉ
làm đối tượng mà c̣n sai về phương pháp:
có rất nhiều lư do để không phát triển, nhưng
chỉ có rất ít lư do để có phát triển, cũng
như có muôn vàn cách để giải sai một bài toán
nhưng thường th́ chỉ có một cách để
giải đúng, và chính cách đó mới cần khám phá.
Điều rất đáng ngạc nhiên, và phải
được coi là một may mắn lớn, là ở
tất cả mọi nơi hiện tượng phát
triển luôn luôn có cùng một giải thích. Cuộc phiêu du
trí tuệ của thập niên 1960 đă sản xuất ra vô
số lư thuyết về phát triển mà tôi xin tóm
lược sau đây một vài mẫu hàng chính và đă có
hậu quả đáng kể c̣n sót lại trong trí nhớ
để độc giả tiêu khiển.
Lư thuyết lệ thuộc (théorie de la dépendance), theo đó
các nước tư bản tiên tiến chỉ chuyển
giao cho các nước chưa mở mang những kỹ
thuật sơ đẳng, thuộc khâu dưới. Các
trung tâm nghiên cứu vẫn nằm tại mẫu quốc,
các kỹ thuật hiện đại nhất cũng
chỉ được áp dụng tại mẫu quốc,
các chi nhánh tại các nước lạc hậu chỉ làm
công việc ít giá trị thặng dư như chùi bóng,
lắp rắp, đóng thùng, v v.. Hậu quả là họ
bị kiềm giữ trong thế lệ thuộc
thường trực. Đây là cả một phương
thức phân công lao động quốc tế trong đó các
quốc gia chưa mở mang hy sinh thị trường tiêu
thụ của chính ḿnh để chỉ được
trao những công tác thấp kém. Lư thuyết này quên hẳn
rằng các công ty đa quốc gia không có tổ quốc mà
chỉ có lợi nhuận. Một công ty Mỹ sẽ
quyết định đầu tư tại Bombay thay v́
Detroit nếu đầu tư tại Bom bay đem lại một
lợi nhuận 1% cao hơn mà cũng không rủi ro hơn.
Họ thiết lập những nhà máy tân tiến ở
một nước không phải v́ đó là nước
họ hay nước có cùng chủng tộc và văn hóa
với họ mà chỉ v́ ở đó có nhân công giỏi và
giá rẻ, thuế nhẹ và xă hội ổn vững, nói
chung là có lợi nhuận cao và rủi ro thấp. Các lư
thuyết gia cũng quên rằng điều mà các
nước thiếu mở mang cần học nhất không
phải là kỹ thuật mà là tâm lư, tổ chức và
phương pháp làm việc, những điều mà chính
sự tiếp xúc với các công ty lớn có thể đem
lại. Lư thuyết ngây ngô này sở dĩ rất thời
thượng trong thập niên 1960 v́ nó chống tư
bản, đặc biệt là chống Mỹ, và do đó phù
hợp với tâm lư khuynh tả của đa số trí
thức lúc đó.
Lư thuyết các kỹ nghệ kỹ nghệ hóa (théorie des
industries industrialisantes), theo đó các đầu tư không có
tác dụng kích thích phát triển như nhau. Cùng một
khoản tiền đầu tư vào hai ngành khác nhau sẽ
có hậu quả khác nhau trên sinh hoạt kinh tế. Có
những ngành trong khi phát triển cũng kích thích sự phát
triển của nhiều ngành khác, nói khác đi chúng có tác
dụng kỹ nghệ hóa. Ngược lại cũng có
những đầu tư không có, hoặc chỉ có rất
ít, tác dụng thúc đẩy đối với các hoạt
động kinh tế khác. Do đó, theo lư thuyết này, các
nước thiếu mở mang nên tập trung cố
gắng vào những kỹ nghệ có tác đụng kỹ
nghệ hóa mạnh. Đây là một thí dụ điển
h́nh của một quan sát dúng dẫn tới một kết
luận sai, tương tự như thấy người
đeo kính đọc sách rồi kết luận đeo kính
có lợi cho sự đọc sách. Lư thuyết này có ít
nhất hai sai lầm. Sai lầm thứ nhất là nó quên
rằng người đầu tư, dù là người
bản xứ hay người ngoại quốc, phải
đầu tư để có lợi nhuận chứ không
đầu tư v́ nhà máy lập ra có tác dụng kỹ
nghệ hoá. Đó là công việc của nhà nước.
Nhưng nhà nước cũng phải đầu tư làm
sao cho có lợi nhuận, nếu không sẽ phải tài
trợ bằng ngân sách và như thế vừa phải
đánh thuế nặng hơn đối với các
hoạt động khác vừa phải giảm bớt
những chi tiêu tối cần thiết như giáo dục và
sức khỏe. Sai lầm thứ hai, ngớ ngẩn
hơn nhiều và rất tai hại, là cho rằng kỹ
nghệ nặng mới là kỹ nghệ kỹ nghệ hóa,
trong khi thực tế trái~ ngược hẳn, kỳ
nghệ tiêu dùng thúc dẩy kỹ nghệ nặng chứ
không phải kỹ nghệ nặng thúc đẩy kỹ
nghệ nhẹ. Nhu cầu sản xuất vật dụng
bằng sắt thép đẻ ra nhu cầu có nhà máy luyện
kim, chứ không phải kỹ nghệ luyện kim
đẻ ra nhu cầu sản xuất vật dụng bằng
sắt thép. Lư thuyết này là một phó sản của lư
thuyết lệ thuộc.
Lư thuyết về sự trật khớp (théorie de la
désarticulation), theo đó các công ly nước ngoài gây xáo
trộn trong các xă hội truyền thống v́ nó tạo ra
một lớp người mới, làm việc cho các công ty
nước ngoài, hưởng mức lương cao hơn,
có nếp sống khác, văn hóa cao và cách suy nghĩ khác,
hậu quả là làm mất đi sự đồng bộ
trong xă hội, mặt khác chúng cũng làm gia tăng hố
phân cách giàu nghèo và gây căng thẳng trong xă hội. Đây
cũng là một lư thuyết cực kỳ ngớ ngẩn
bởi v́ phúc lợi lớn nhất của sự tiếp
xúc với các nước tân tiến chính là bẻ găy cái
sự đồng bộ đă là nguyên nhân của sự
lạc hậu và đem lại một văn hóa mới,
một cách suy nghĩ mới, một cách làm việc
mới. Chác chắn là có sự xáo trộn, nhưng đây
là một xáo trộn phải có và có ích. Vấn đề là
phải quản lư sự xáo trộn đó, làm sao cho cách suy
nghĩ và làm việc mới được phổ biến
nhanh chóng để xă hội thay da đổi thịt,
chứ không phải là để ngăn chặn.
Lư thuyết về các mô h́nh hướng nội và hưóng
ngoại (modèles endogènes ét modèles exogènes), theo đó có hai công
thức chính để phát triển, một là cố
gắng sản xuất ra những hàng hóa để thay
thế hàng nhập cảng (substitutions des importations) theo mô
h́nh hướng nội, hai là dồn hết sức
để xuất cảng thật nhiều theo mô h́nh
hướng ngoại. Rất ít nhà lư thuyết nào
đặt vấn đề lợi nhuận (sản
xuất hàng thay thế hàng nhập cảng có tốn kém
hơn nhập cảng hay không? xuất cảng lời hay
lỗ? v.v...). Khi có đặt ra vấn đề lợi
nhuận th́ các lư thuyết gia lại hoàn toàn đồng ư
là phải chịu lỗ trong giai đoạn đầu,
nhưng không nói giai đoạn đầu có thể kéo dài
bao lâu và một nước nghèo khổ có thể tiếp
tục chịu đựng măi sự thua lỗ này mà không
sụp đổ hay không. Lư thuyết này quả là sản
phẩm của các lư thuyết gia cố t́m khoái lạc trong
việc xây dựng ra những lư thuyết phù phiếm
rồi cố gượng ép chúng vào thực tại. Cứ
như là một nhà nước không mất trí có thể nhân
danh chủ trương hướng nội để
cấm cản một hoạt động xuất nhập
cảng đang phồn thịnh, hay ngược lại
nhân danh mô h́nh hướng ngoại để trù dập
một sinh hoạt nội địa cần thiết
Điều lạ lùng nhưng có thật là lư thuyết này
đă được đem thử nghiệm. Lư do là
chiến tranh lạnh giữa hai khối tư bản và
cộng sản đă đưa rất nhiều phần
tử vô học lên cầm quyền. Nói chung tất cả
nhưng lư thuyết này đều có cùng ba đặc tính:
hoàn toàn không kể đến vai tṛ của thị
trường, coi phát triển kinh tế chủ yếu là
một vấn đề kỹ thuật có thể giải quyết
được bằng một kế hoạch, và
đề cao vai tṛ quyết định gần như duy
nhất của chính quyền. Các trở ngại về tâm
lư và văn hóa chỉ được đề cập
đến một cách qua loa, có lệ. Những lư thuyết
này đă cổ vơ cho các chế độ độc tài duy
ư chí và đưa tới sự phá sản của
đại đa số các nước cộng sản châu
Phi và châu Mỹ La Tinh.
Điều đáng ngạc nhiên của giai đoạn này
là các nước châu á không cộng sản đă không bị
ảnh hưởng của những lư luận này, nhất
là đă không bị ảnh hưởng tai hại của lư
thuyết lệ thuộc. Họ đă nồng nhiệt
tranh thủ đầu tư quốc tế và đă bắt
chước một cách giản dị cách làm việc
của các nước đă phát triển. Họ cũng
cố gắng xuất cảng thật nhiều nhưng
không phải là v́ họ chọn mô h́nh phát triển
hướng ngoại mà chỉ v́ xuất cảng có lời
và họ cũng cần ngoại tệ để nhập
cảng nguyên liệu và trang thiết bị. Họ sản
xuất tất cả những ǵ có lợi dù là để
xuất cảng hay để tiêu thụ trong thị
trường nội dịa. Nhờ thế họ đă
không bị phá sản trong thập niên 1970 như các
nước chậm tiến khác, không những thế
họ c̣n tiến lên cho đến mùa hè 1997, khi lâm vào
khủng hoảng v́ tham nhũng chồng chất, vay nợ
bừa băi và đầu cơ điên đại vào nhà
đất.
Ngày nay trường IEDES không c̣n nữa, môn phát triển kinh
tế cũng không c̣n được giảng dạy
như một bộ môn riêng nữa. Người ta trở
lại với những nhận định mà các nhà nghiên
cứu đứng đắn đă nói từ rất lâu:
phát triển không phải là một vấn đề kinh
tế mà là một vấn đề văn hóa xă hội.
V́ đâu đă có phát triển?
Rất may là sự quan sát các nước đă cất cánh
bay bỗng từ lạc hậu tới phồn vinh cho phép
chúng ta rút ra những kết luận rất rơ rệt, rơ
rệt đến nỗi phải ngạc nhiên là tại sao
người ta đă không nhận ra ngay lập tức. Tôi
sẽ mời độc giả cùng quan sát những kinh
nghiệm phát triển đầu tiên và những
nước mới phát triển gần đây. ở đây
xin hăy tạm nói một cách cô đọng, các độc
giả c̣n phân vân sẽ nh́n rơ hơn khi đọc tiếp
những trang sau.
Phát triển đă nảy sinh tại một số quốc
gia khi, do một sự tinh cờ của hoàn cảnh
lịch sử, bộ máy chính quyền trở thành vắng
mặt hay gần như vắng mặt, quần chúng
được một không gian tự do hơn hẳn và v́
thế đă tổ chức cuộc sống cộng
đồng trên căn bản đồng thuận và
tương kính. Hoặc v́ không muốn hoặc v́ không
được phép, họ đă không t́m kiếm uy quyền
để khống chế lẫn nhau mà chỉ thi đua
nhau làm giàu trong một luật chơi công b́nh.
Nhận xét này đúng với Ḥa Lan, cái nôi phát triển
của nhân loại, đúng với nước Anh, càng
đúng với nước Mỹ và cũng đúng cả
với nước Nhật, nếu ta nh́n lịch sử
nước Nhật một cách đúng đắn. Phát
triển đă đến sau khi xă hội trở thành
tự do và dân chủ. Ngày nay chúng ta có thể liệt kê
những yếu tố cần thiết cho phát triển:
- một chế độ tự do, dân chủ và đa
nguyên;
- một nhà nước nhẹ nhường không gian
tối đa cho xă hội dân sự, cho ư kiến và sáng
kiến cá nhân,
- một sinh hoạt kinh tế thị trường bảo
đảm cạnh tranh công bằng;
- một xă hội tinh động và b́nh đẳng, không
bị trói buộc bởi những thành kiến, không bị
ngăn cách bởi những giai cấp hay những
đại gia đ́nh;
- một tâm lư tôn vinh kinh doanh và buôn bán;
- một tinh thần quốc gia (hay cộng đồng)
mạnh;
- một xă hội trong đó thông tin được tự
do, các kinh nghiệm và kiến thức được
truyền bá nhanh chóng và dễ dàng.
Tất cả đều là những yếu tố vô h́nh.
Tư bản và nguyên liệu chỉ là những yếu
tố phụ.
Nói chung, phát triển là một vấn đề tâm lư và
văn hóa. Có những tâm lư kích thích phát triển và cũng có
những tâm lư ngăn cản phát triển. Có những
nền văn hóa có lợi cho phát triển và cũng có
những nền văn hóa cấm cản sự phát
triển. Chính v́ thế mà một nước không phát
triển không giống như một nước giàu
mạnh trước khi phát triển. Có những quốc gia
phát triển nhanh, có nhưng quốc gia phát triển
chậm và cũng có những quốc gia không thể phát
triển nếu không tháo gỡ được một số
tắc nghẽn tâm lư. Chính v́ thế mà phát triển đă
chỉ xuất hiện tại một số ít quốc gia
mà thôi. Phát triển rất dễ mà lại rất khó.
Rất dễ v́ không đ̣i hỏi một lư thuyết
phức tạp hay một kế hoạch cao siêu nào cả.
Rất khó v́ đ̣i hỏi một tâm lư và một văn hóa
mới. Mà thay đổi tâm lư và văn hóa là điều khó
nhất. Có ai nhận là tâm lư của ḿnh tồi đâu? Và có
dân tộc nào nhận văn hóa của ḿnh là kém dâu, trừ
ra là một dân tộc đă rất tiến hóa? Chính v́ khó
thay đổi tâm lư và văn hóa mà có những dân tộc
rất phồn vinh và những dân tộc vô cùng cơ
cực, mặc dù mọi nhà bác học đều
đồng ư rằng mọi con người thuộc
mọi chủng tộc đều có những khả
năng ngang nhau v́ đều có một khối óc nặng
trung b́nh 1.600 gam.
Chúng ta khó có thể từ bỏ một văn hóa bởi v́
nó là một phần của chính chúng ta. Vậy th́ cái ǵ có
thể giúp chúng ta thay đổi văn hóa? Chúng ta cần
một hiến pháp qui định rơ là trên đất
nước Việt nam không có ư kiến nào cấm nêu ra và
cũng không có đề tài nào cấm bàn đến,
nhờ thế chúng ta mở tung cửa cho những phê phán
các giá trị truyền thống và làm cho chúng mất đi
tính thiêng liêng không thể bàn căi. Chúng ta cũng cần
một chính sách cổ vơ cho tự do dưới mọi h́nh
thức: tự do suy nghĩ và phát biểu, tự do
chọn lựa lối sống, kể cả tự do
cơ thề, bởi v́ chính nhờ thay đổi cách
sống mà ta có thể thay đổi cách cách suy nghĩ.
Nhờ thay đổi cách sống và cách suy nghĩ mà ta có
thể làm quen với nhưng giá trị mới và dần
dần thấy chúng chấp nhận được. Tôi
thường được nghe hai quan điểm, mỗi
lần nghe là mỗi lần đầu nhói.
Một lập luận cho rằng văn hóa của chúng ta
rất cao siêu. Nếu quả thật văn hóa của ta
cao siêu như thế th́ tại sao chúng ta lại thua kém thê
thảm như ngày nay và tại sao ngay cả nhưng công
tŕnh nghiên cứu văn hóa phương Đông có giá trị
nhất cũng là do người phương Tây? Và nếu
quả thật văn hóa của chúng ta cao siêu như
thế th́ tại sao nó lại không có một sức thu hút
nào đối với tuổi trẻ, tại sao thanh
thiếu niên Việt nam hải ngoại lớn lên lại
thành Mỹ con, Pháp con, Đức con trong một thời
gian kỷ lục? Càng khư khư ôm lấy một văn
hóa độc hại, chúng ta càng ngụp lặn trong sự
thấp kém.
Lập luận thứ hai, mà tôi thường
được nghe từ miệng những người có
học vị cao về kinh tế (và v́ thế khiến tôi
vững tin rằng phát triển kinh tế không thể phó
thác cho cấc kinh tế gia, cũng như chiến tranh
không thể phó thác cho các tướng lănh), là chúng ta cần
phát triển trước đă rồi hăy nói đến dân
chủ và tự do. Vấn đề là chúng ta không thể
có phát triển nếu không có dân chủ và tự do. Nhưng
đây lại là một điều không nằm trong
chương tŕnh huấn luyện của các nhà kinh tế
thuần túy. Nếu trong cuộc thảo luận về phát
triển các nhà kinh tế khiêm tốn hơn một chút và
các nhà tư tưởng tích cực hơn một chút
nữa th́ may mắn biết bao!
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
và ánh sáng bừng lên
(Hành
hương về cội nguồn của phát triển và
phồn vinh)
Vượt lên lên mọi đam mê chính trị, thảm
kịch của chúng ta ngày nay là một sự tụt
hậu đầy hổ nhục cho mọi người
Việt nam dù thuộc quá khứ nào hay theo khuynh
hướng nào. Mọi cuộc đấu tranh chính trị
đều là vô nghĩa nếu không nhắm mục đích
sau cùng là đưa đất nước tiến lên và
cũng vô nghĩa nếu không biết con đường
nào sẽ đưa đất nước đi lên.
Điều chúng ta cần nhắc lại một lần
nữa là hiện nay, trên thềm thế kỷ 21và thiên niên
kỷ thứ ba, phát triển là một hiện
tượng rất mới và chỉ giới hạn trong
một số rất ít quốc gia, nhờ một số
điều kiện rất đặc biệt mà ta cần
quan sát.
Tôi xin mời độc giả làm một cuộc du
lịch thăm viếng một số nước, nơi
hiện tượng phát triển đă xuất hiện
trước tiên và một cách ngoạn mục. Đây là
một cuộc thăm viếng có hướng dẫn,
rất nhanh chóng và có chủ đích. Chúng ra sẽ chỉ
quan sát nhưng ǵ giúp chúng ta trả lời câu hỏi
tại sao họ đă phát triển?. Cuộc tham quan này tuy
vội vă nhưng vẫn thật thà, không giấu giếm.
Những ǵ không được quan sát sẽ không phản
bác kết luận mà chúng ta sẽ rút ra. Đây là một
cuộc hành hương về cội nguồn của
hiện tượng phát triển để t́m hiểu.
Chúng ta sẽ thành công nếu vào một lúc nào đó ánh sáng
bỗng dưng bừng lên và chúng ta vui mừng thốt lên:
Hiểu rồi, th́ ra thế!.
Hiện tượng phát triển trên qui mô quốc gia đă
xuất hiện hầu như cùng một lúc tại châu Âu
và Hoa Kỳ. Châu âu đi trước một chút và phát
triển nhanh chóng hơn trong giai đoạn đầu. Nói
là châu Âu nhưng thực ra, nếu muốn chính xác hơn,
phải nói là Ḥa Lan và Anh, các nước khác đă chỉ
bị, hay được, lôi kéo theo. Một cách vắn
tắt, có thể nói thế kỷ 17 đă là thế kỷ
Ḥa Lan, thế kỷ 18 là thế kỷ Anh, từ thế
kỷ 19 Hoa Kỳ lên ngôi bá chủ hoàn cầu. Cũng
từ nửa sau thế kỷ 19, Nhật Bản
vươn lên mạnh mẽ dù chưa bao giờ đạt
tới sức mạnh của Hoa Kỳ. Viết tới
đây tôi sợ bị một số học giả chê là
quá sơ sài, v́ thực ra hiện tượng phát triển
vốn đă có từ trước với các thành phố
buôn bán. Venice (ư) ngay từ thế kỷ 12 đă đạt
tới một sức mạnh kinh tế, chính trị và
cả về quân sự rất huy hoàng. Antwerpen (Bỉ)
từ thế kỷ 15 đă trở thành trung tâm
thương mại số một của thế giới.
Nhiều thị trấn khác trong vùng biển Baltic băng
giá, một Địa Trung Hải của Bắc Âu, cũng
đă trở nên rất phồn thịnh trong cùng một
thời điểm. Nhưng tất cả những thành
tựu ngoạn mục này, ngay cả trường hợp
Venice, chỉ là những ốc đảo phồn vinh cô
lập. Điều tôi muốn nhận định ở
đây là hiện tượng phát triển lên qui mô quốc
gia. Sẽ là một sự lố bịch, có thể nói là
một sự xúc phạm đối với trí tuệ,
nếu muốn tóm tắt lịch sử phát triển
của Ḥa Lan, Anh, Hoa Kỳ và Nhật Bản trong một
vài trang giấy. Mục đích ở đây là t́m ra cái ǵ
đă làm nảy sinh ra phát triển và sau đó đă duy tŕ
được đà phát triển. Xin nói ra ngay rằng
kết luận sẽ chẳng có ǵ thực sự
độc đáo. Điều quan trọng là sau đó chúng
ta thực sự tin. Và niềm tin là tất cả, nó
sẽ tránh cho chúng ta những hoang mang, bối rối và
lạc lối trong những biện luận mông lung. Chúng ta
đang rất cần niềm tin đó.
Bây giờ, xin mời độc giả khởi hành.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Ḥa Lan: cái ǵ đă xảy ra?
Cho
tới giữa thế kỷ 16, quyền lực tại
châu Âu tập trung về phía Nam, với Tây Ban Nha làm bá
chủ. Đế quốc của Charles Quint, trong đó Tây
Ban Nha vượt trội nhất, bao phủ gần
hết châu Âu và cả miền đất rộng lớn
vừa khám phá ra, nghĩa là châu Mỹ. Nhưng đột
nhiên vào giữa thế kỷ 16, năm 1568, châu Âu rung
động v́ cuộc nổi dậy tại Ḥa Lan. Càng
ngạc nhiên hơn nữa v́ đất nước nhỏ
bé này đă kháng cự thắng lợi trước sức
mạnh của quân lực Tây Ban Nha hùng hậu trong hơn
bốn mươi năm, trong một cuộc chiến
được mệnh danh là chiến tranh cho tự do,
buộc Tây Ban Nha phải ngừng chiến, chấp
nhận thực tế của sự ly khai và sau đó kư
thỏa ước Den Haag chính thức nh́n nhận
Nước Cộng Ḥa Ḥa Lan. Từ đó Ḥa Lan, với
không đầy mười triệu dân, tiếp tục
tiến lên mạnh mẽ, trở thành siêu cường
số một của thế giới trong thế kỷ 17.
Cái ǵ đă xảy ra?
Montesquieu (1681-1755), thủy tổ của lư thuyết tam
quyền phân lập và lư thuyết những bất lợi
tiên khởi, nhận định rằng người
Bắc Âu đă bị thiên nhiên ngược đăi nên
phải phấn đấu để tiến lên, và
để tiến lên cần tự do, trong khi các dân tộc
Nam Âu v́ được thiên nhiên ưu đăi nên không cần
phấn đấu và do đó dể chấp nhận
cuộc sống nô lệ.
Max Weber (1864- 1920), dựa vào thành tựu của Ḥa Lan, và
của Anh và Mỹ sau đó, cho rằng phát triển là do
ảnh hưởng của đạo Tin Lành năng
động và cởi mở hơn đạo Công Giáo.
Đi xa hơn nữa, Weber cho rằng chủ nghĩa tư
bản là một sản phẩm của đạo Tin Lành.
Karl Marx, thiên tài trong nghệ thuật lấy ư kiến
của người khác làm khám phá của ḿnh bằng cách nói
ngược lại, cho rằng chính chủ nghĩa tư
bản đă khai sinh ra đạo Tin Lành. Quanh quẫn
vẫn chỉ là một ư: có một liên hệ mật
thiết giữa một tôn giáo (Tin Lành) và phát triển.
Phải nghĩ ǵ về những giải thích này?
Dĩ nhiên dân tộc nào cũng chịu ảnh hưởng
nặng nề của điều kiện địa lư,
nhưng lư thuyết những khó khăn tiên khởi rất
khó đứng vững. Nếu bảo rằng nhờ
bị thiên nhiên ngược đăi mà nhiều dân tộc
đă phải phấn đấu, rồi nhờ đó
tiến lên th́ rất khó giải thích tại sao nước
Mỹ, với tài nguyên bao la và điều kiện sinh
sống dễ dăi, đă vươn lên mạnh mẽ?
Ngược lại, một số dân tộc khác như
Mali, Ethiopia, Bangladesh lạc hậu cùng cực và bị coi
là tuyệt vọng chính v́ thiếu tài nguyên thiên nhiên. Các
giải thích của những nhà nghiên cứu về
điều kiện thiên nhiên thường rất mâu
thuẫn. Có khi cùng một sự kiện được
sử dụng cho hai giải thích hoàn toàn trái ngược
nhau: có lúc họ nói rằng nước Anh đă trở
thành hùng mạnh nhờ than đá và sắt, có khi họ
lại lư luận rằng nước Nhật đă phát
triển v́ người Nhật bắt buộc phải
sản xuất nhiều để xuất cảng lấy
ngoại tệ mua nguyên liệu và nhiên liệu. Lư thuyết
những khó khăn tiên khởi độc đáo ở
chỗ nó vừa ngược đời vừa hùng
hồn, nhưng không đúng. Tài nguyên thiên nhiên chắc
chắn là có ảnh hưởng, và dĩ nhiên về lâu
về dài có ảnh hưởng tốt, nhưng không
thể giải thích tất cả.
Khí hậu cũng thường được viện
dẫn như một lư do giải thích sự phát triển,
dựa vào nhận xét chung là các nước khí hậu
lạnh thường phát triển hơn các nước
nhiệt đới. Nhưng Nga và Mông Cổ (chưa nói dân
Esquimo?) cùng có khí hậu rất lạnh mà tại sao không
phát triển
C̣n lư do tôn giáo? Chắc chắn là các dân tộc theo một
tín ngưỡng tiêu cực coi cuộc đời không
đáng sống và không đáng cải thiện, như
ấn Độ và Tây Tạng, sẽ rất khó ra khỏi
cảnh nghèo khổ nếu không thay đổi tâm lư, v́
một lư do dễ hiểu là họ không coi nghèo khổ là
một tai họa. Nhưng bảo rằng đó là do
ảnh hưởng của đạo Tin Lành th́ phải
trả lời thế nào về sự trỗi dậy
ngoạn mục của Nhặt Bản?
Chắc chắn phải có một lư do căn bản hơn
trong khi nhưng lư do khác như tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,
tôn giáo chỉ là những biểu hiện ngoài mặt.
Từ thế kỷ 15, trung tâm quyền lực tại châu
Âu dời về miền Nam, các vùng phía Bắc chung quanh Ḥa
Lan ít được quan tâm tới. Đó lại là vùng
đất thấp, śnh lấy và giá lạnh, cảnh trí
chẳng có ǵ là hùng vĩ, thành quách lâu đài cũng khó xây
dựng. Các vùng này ở trong một t́nh trạng
đặc biệt: một mặt họ nằm
dưới quyền lực của các triều đ́nh
lớn và không thể lập ra một chính quyền
mạnh của ḿnh mà không sợ búa ŕu, mặt khác v́
gần như bị bỏ quên nên họ phải tự
tổ chức sinh hoạt riêng của ḿnh. Công thức duy
nhất và bắt buộc là cố gắng ùm ra đồng
thuận để sống yên với nhau, tránh mọi xung
đột có thể lôi kéo sự can thiệp của
triều đ́nh Tây Ban Nha. Một xă hội tự do dân
chủ dần dần thành h́nh với một chính quyền
rất giản dị, người cai trị Ḥa Lan không
phải là một ông vua, cũng không phải là một lănh
chúa mà chỉ được gọi là một đại
thường trú v́ ông cư ngụ và làm việc ở ṭa
nhà được dựng ra để giải quyết các
vấn đề hành chính tối cần thiết.
Nhưng người Ḥa Lan cũng không thể có vinh quang
được làm vương, làm tướng, họ
chỉ c̣n một lư tưởng là làm giàu. Một thanh niên
Ḥa Lan lớn lên không thể nuôi mộng ǵ khác hơn là kinh
doanh buôn bán thành công.
Một xă hội mới dàn dàn thành h́nh. Chính cái xă hội
tự do dân chủ này, với một guồng máy chính
quyền thật nhẹ và thu hẹp nhường không gian
tối đa cho cá nhân, và trong đó mọi cá nhân theo
đuổi lư tưởng làm giàu, đă thúc đẩy sáng
kiến và cố gắng và tạo nên sự phồn vinh
của Ḥa Lan. Vào năm 1551, khi hoàng đế Charles Quint
phong cho ḍng họ Bourguignon 12 quận đất thấp
phía Bắc (gồm Ḥa Lan và Bỉ ngày nay), vùng đất
này đóng thuế cho triều đ́nh Tây Ban Nha một
số tiền gấp bảy lần lợi nhuận quan
trọng đem về từ toàn châu Mỹ. Ḥa Lan đă
phồn vinh hơn hẳn Tây Ban Nha. Mười bảy
năm sau, họ nổi dậy tuyên bố rũ bỏ ách
thống trị của mẫu quốc. Sức mạnh kinh
tế và quyết tâm sống tự do đă khiến họ
đẫy lùi được đạo binh hùng hậu
của Tây Ban Nha.
Trái với nhận xét của Max Wteber, không phải
đạo Tin Lành đă tạo ra sự phồn vinh của
vùng đất thấp bao gồm Ḥa Lan và Bỉ, bởi v́
phần lớn của cải vẫn nằm trong tay
những nhà kinh doanh theo đạo Công Giáo. ở một
khía cạnh nào đó, có thể nói người Công Giáo c̣n
năng động hơn cả người Tin Lành trong
giai đoạn đầu. Nhưng dần dần do sự
bách hại đạo Tin Lành tại Pháp, ư, Tây Ban Nha,
những người Tin Lành đă di cư tới Bỉ và
nhất là Ḥa Lan để tị nạn. Họ là một
đóng góp quan trọng cho sự phồn vinh của Ḥa Lan,
nhưng họ không phải là yếu tố quyết
định nhất. Đóng góp quyết định
nhất là những nghệ nhân, thợ khéo, thương gia
di cư tới Ḥa Lan để tránh những chính quyền
độc tài khắc nghiệt. Không khí tự do dân chủ
tại Ḥa Lan đă giúp họ làm giàu cho ḿnh và cho quê
hương mới. Descartes (1596-1650), nhà toán học và tư
tưởng lớn bậc nhất của nước Pháp
vào thời đại của ông, năm nào cũng phải
tới Ḥa Lan sống vài tháng để lấy hứng sáng
tác trong không khí tự do, dù ông là người Công Giáo.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Anh: một dân tộc bán tiệm
Nước
Anh, từ sau khi vua John Lack Land (Jean Sans Terre) kư Đại
Hiến Chương (Magna Carta) năm 1215 nh́n nhận
những quyền tự do lớn cho giới quí tộc,
đă không c̣n là một nền quân chủ tuyệt
đối trung ương tập quyền nữa. Sự
áp bức vẫn c̣n nhưng là những áp bức của các
lănh chúa địa phương không đủ mạnh,
phải dựa vào dân chúng, do đó cần người dân
và phải tương đối nể nang người
dân. Đặc điểm của Đại Hiến
Chương là nó định chế hóa đối thoại
chính trị, buộc nhà vua phải tham khảo với
một nghị viên. Nó cũng nh́n nhận cả quyền
nổi loạn chống bạo quyền. Cuộc cách mạng
của Oliver Cromwell (1599-1658), năm 1649 giáng một đ̣n
chí tử vào cả quyền lực lẫn danh giá của
triều đ́nh London (vua Charles I bị hành quyết và
một thể chế cộng ḥa ngắn ngủi
được thành lập). Năm 1688, sau một cuộc
cách mạng ngắn, các nguyên tắc tự do dân chủ
được chính thức ban hành, mở đầu
một giai đoạn phát triển huy hoàng. Sự hiện
diện của chính quyền từ đó trở nên giới
hạn và ngay cả các giá trị cũng thay đổi. Làm
quan tướng trong triều đ́nh không vinh quang hơn là
làm những phú nông, phú thương. Phải nói ngay rằng
những thay đổi ngoạn mục này có rễ từ
rất lâu đời. Thói quen sinh sống trong bối
cảnh phóng khoáng đă đem lại cho người Anh,
kể cả quí tộc, một tâm lư rất khác so với
lục địa châu Âu. Họ không khinh thường
những hoạt động sản xuất (có cả
một huân tước được mang danh hiệu huân
tước củ cải v́ trở thành giàu có nhờ
sản xuất và cỗ vơ cho củ cải
đường). Cuộc sống hải đảo đă
đem lại cho họ một tâm lư đặc biệt,
phiêu lưu mạo hiểm nhưng lại không màng những
đanh giá phù phiếm của quyền lực. Vả
lại, cũng tương tự như trường
hợp Ḥa Lan, họ vừa được các đế
quốc hùng mạnh ở lục địa bỏ quên,
vừa không thể xưng hùng xưng bá để tránh búa
ŕu. Sau này vào thế kỷ 18 trở đi khi họ đă
tự nhận ra ḿnh đă quá mạnh và đi chinh phục
thế giới là một chuyện khác.
Nét đặc thù của nước Anh từ trước
thế kỷ 17, khi hiện tượng phát triển
bắt đầu xuất hiện một cách rơ rệt, là
một không khí cởi mở, phóng khoáng và tự do.
Nước Anh đă là nước dân chủ đầu
tiên trên thế giới, trước rất lâu so với các
nước khác. Tại sao? Đó là câu hỏi rất
phức tạp mà một cuốn sách vài trăm trang cũng
không thể trả lời một cách đầy
đủ, nhưng lư do chủ yếu có lẽ là
địa lư. Đối với chúng ta ngày nay, Anh là một
đảo nhỏ về diện tích, nhưng cho tới
thế kỷ 16 đó là một lănh thổ bao la đối
với khoảng 3 hay 4 triệu dân. Cuộc sống tản
mác trên một lănh thồ ph́ nhiêu đồng đều
đó không cho phép ra đời một chính quyền trung ương
mạnh. Cuộc sống hải đảo biệt lập
cũng không làm nảy sinh ra những tham vọng quyền
lực điên cuồng. Thêm vào đó, những con người
sống với biển cả và dám thách thức biển
cả cũng không dễ chấp nhận cuộc sống
phục tùng tuyệt đối của những kẻ nô
lệ.
Cuộc sống thủy thủ cũng đă đem lại
cho họ tập quán yêu thích buôn bán. Napoléon I có lần
nhận định một cách không mấy nể nang
rằng người Anh là một dân tộc bán tiệm (ùn
peuple de boutiquiers). Ông đă lầm, người Anh không
chỉ bán tiệm, họ là những thương gia có viễn
kiến rất sớm. Ngay từ thế kỷ 15, họ
đă thành lập nhiều công ty buôn bán có tầm vóc
lớn. Một trong những công ty đó mang một tên
đầy ư nghĩa Đồng Đội Của
Những Nhà Mạo Hiểm Thương Mại Luân Đôn
(Fellowship of the Merchant Adventurers of London). Cần ghi nhận
mạo hiểm nhưng cũng cần ghi nhận
đồng đội.
Người Anh có một đặc điểm là rất
thích những kết hợp ngoài chính quyền, những
kết hợp của những người cùng theo
đuổi một mục đích và cùng chấp nhận
một luật chơi. Chính họ đă phát minh ra các Club,
mà hầu hết mọi ngôn ngữ khác đem dùng và chúng ta
phiên âm là Câu Lạc bộ. Xă hội dân sự tại Anh
xuất hiện rất sớm và phát triển rất nhanh,
rất mạnh. Cho đến nay, tham gia các hội đoàn
và Câu Lạc bộ vẫn là một nét đặc thù
của người Anh. Tất cả những yếu
tố đó đều là đặc tính của một sinh
hoạt dân chủ. Người Anh gieo hạt giống dân
chủ một cách vô t́nh, rất lâu trước khi họ
có tư tưởng dân chủ. Và họ cũng đều
có tư tưởng dân chủ rất sớm. Vài dẫn
chứng: Một nhà tư tưởng, Dudley North, viết
năm 1691: Ḥa b́nh, cố gắng và tự do, chứ không
bất cứ một lư do nào khác, đem lại
thương mại và giàu có và vai tṛ của luật pháp là
đảm bảo ḥa b́nh, công lư và khuyến khích các công
nghệ bằng cách tôn vinh chúng. Vài năm sau, năm 1699,
Charles Davenant (1656-1714), dân biểu Anh, viết: Tự do và
phồn vinh đi cùng với nhau tay trong tay?
Lư do nào đă khiến một dân tộc vài triệu dân trên
một ḥn đảo vào thế kỷ 16 trở thành bá
chủ hoàn cầu hai thế kỷ sau đó? Câu trả
lời ở đây rất là hiển nhiên: một chế
độ tự do dân chủ, nhà nước nhẹ,
một xă hội dân sự năng động và ḷng yêu thích
thương mại. Nhưng điều cần
được đặc biệt chú ư ở đây là
bối cảnh tự do đă xuất hiện rất lâu
trước khi sự giàu có ló dạng. Những hạt
giống của tự do dân chủ đâm mộng, thành cây,
rồi trổ hoa kết trái. Trái cây ở đây là sức
mạnh và sự phồn vinh.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Hoa Kỳ:
đất nước của
những con người tự do và dũng cảm
Châu
Mỹ đă được khám phá ra từ năm 1492 và
hầu như ngay sau đó các chính quyền Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha ra công khai phá và khai thác. Sự khai thác này
đă rất thành công, nếu ta không nghĩ đến chính
sách diệt chủng của những đoàn conquistadors
đầu tiên. Châu Mỹ được coi như một
kho của vô tận. Ngày nay nếu được hỏi
về nước Peru, đa số chúng ta sẽ chỉ
biết mang máng rằng đó là một nước ở
Nam Mỹ, có một ông tổng thống người
Nhật tên là Fujinori ǵ đó, không lớn lắm, không giàu
lắm và khá lộn xộn. Hơi giản lược
nhưng mà đúng. Vậy mà cho tới thế kỷ 19, Peru
đồng nghĩa với thiên đường hạ
giới. Trong tiếng Pháp, thành ngữ trouver le Pérou (t́m
thấy nước Peru) vẫn được coi là
đồng nghĩa với may mắn và đạt
ước mơ.
Sự khai thác châu Mỹ tiến tiến mạnh ngay sau khám
phá của Columbus, nhưng chỉ giới hạn ở vùng
châu Mỹ La Tinh thuộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Vùng
đất phía Bắc thuộc Hoa Kỳ và Canada hiện nay
vẫn bị bỏ hoang. Anh và Pháp cạnh tranh nhau khai phá
vùng đất này nhưng cả hai nước đều
gặp nhiều vấn đề nội bộ, và lại
c̣n bận chống nhau nữa, nên không đặc biệt
chú ư đến châu Mỹ. Việc di dân và khẩn hoang vùng
đất này không nằm trong một chính sách quốc gia
nào mà do sáng kiến của những công ty tư nhân.
Từng đoàn người lẻ tẻ trên những con
tàu mong manh kéo nhau tới đó. Trong tuyệt đại
bộ phận họ là những người bị phân
biệt đối xử nên phải ra đi chứ không
phải v́ Pháp hay Anh thiếu đất. Nước Pháp vào
thế kỷ 16 tuy là nước đông dân hạng nh́
thế giới (sau Trung Quốc nhưng trước ấn
Độ) nhưng chỉ có khoảng 20 triệu dân mà thôi.
Nước Anh lúc đó không có tới 4 triệu dân.
Những người ra đi đều là thành phần
nghèo khổ và bị hắt hủi, phần lớn là
người Anh; nước Pháp trong suốt tiến tŕnh di
dân chỉ gởi qua Québec sáu ngàn người và một
số ít hơn tới Louisiana.
Cho tới ngày 9 tháng 6 năm 1620, khi con tàu Maynower cập
bến, với một trăm người di dân, trên cả
lănh thổ Hoa Kỳ bao la chỉ có khoảng hai ngàn
người da trắng. Những người di dân tới
đây không sống dưới một chính quyền nào,
họ ít quá để triều đ́nh Anh chú ư, những
người chủ bỏ tiền cho họ vượt
đại dương th́ ở quá xa và cũng chỉ quan
tâm lấy lại vốn cộng thêm lời của số
tiền đầu tư bỏ ra, c̣n lại th́ để
mặc họ muốn làm ǵ th́ làm. Khoảng 40 người
trên tàu Mayflower rủ nhau đi lập nghiệp tại
Provincetown, trong bang Massachussetts. Đến nơi họ
thảo chung với nhau một kết ước sống
chung, Kết Tóc Mayflower (The Mayflower Compact). Không biết
họ có ư thức được không, nhưng những con
người thô sơ và mỏng manh đó (phân nửa đă
chết trong mùa đông giá lạnh đầu tiên) đă làm
một trong những hành động sáng tạo vĩ
đại nhất trong lịch sử loài người.
Đó là tuyên ngôn thành lập một xă hội tự do, dân
chủ và pháp trị:
[ ] Chúng tôi thỏa thuận thành lập với nhau một
tập thể.
[ ] Mỗi khi thấy cần thiết cho phúc lợi chung,
chúng tôi sẽ làm ra và ban hành các luậ t lệ đúng
đắn và đồng đề u cho tất cả, và
chúng tôi sẽ tuân phục nhưng luật lệ đó .
Tinh thần Mayflower đă mau chóng trở thành tinh thần
nền tảng của xă hội Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có
một đặc điểm nổi bật: đó là
quốc gia ngay từ lúc thai nghén đă không hề biết một
chế độ nào khác ngoài tự do và dân chủ. Đó
quả là đất nước của những con
người tự do (land of the frees). Năm 1776, khi tuyên
bố độc lập, dù đă tiến bộ rất
nhiều, họ mới chỉ có hai triệu rưỡi
dân nghèo đói, tŕnh độ văn hóa thấp, phần
lớn không biết đọc biết viết và hơn
nữa rất xa lạ với nhau. Dân chủ và tự do
đă dần dần đem đến sự gắn bó, ư
thức quốc gia, sáng kiến và sức mạnh. Tân
quốc gia Hoa Kỳ đă lôi cuốn những người
yêu chuộng tự do dân chủ tại châu Âu. Ḷng tin vào
tương lai đă cho họ một tỷ lệ sinh
đẻ cao. Một thế kỷ sau, năm 1890, họ là
quốc gia tiến bộ nhất và hùng mạnh nhất
thế giới với 63 triệu dân. Bước vào
thế kỷ 2 1và thiên niên kỷ thứ ba, họ là siêu
cường độc nhất của thế giới
với gần 300 triệu dân. Thế kỷ 21 sẽ c̣n là
thế kỷ Hoa Kỳ, sự hơn hẳn sẽ c̣n gia
tăng lên chứ không giảm đi trong nhiều thập
niên. Trường hợp Hoa Kỳ chứng tỏ tự do
và dân chủ không đ̣i hỏi một tŕnh độ
văn hóa hay kinh tế nào, trái lại c̣n là lư do thúc
đẩy phát triển kinh tế và văn hóa.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Nhật Bản: tự do trá h́nh và dân chủ
giấu mặt
Người
Việt nam sùng bái sự học một cách quá đáng và
lệch lạc nên bất cứ một điều ǵ, dù
sai tới đâu, mà đă được nhồi sọ
ở trường học cùng trở thành một chân lư
rất khó lay chuyển. Một trong những sai lầm
lớn mà hầu như mọi người Việt nam,
bất luận có bằng cấp nào, cũng tin một cách
chắc nịch là nhờ vua Minh Trị sáng suốt
biết canh tân kịp thời mà nước Nhật đă
trở thành tân tiến và hùng mạnh. Tôi đă gặp không
biết bao nhiêu trí thức tiếc rằng các vua Minh
Mạng, Tự Đức đă không được như
Minh Trị, nếu không Việt nam chắc đă không thua
Nhật Bản. Sự thực Minh Trị không hơn ǵ
Tự Đức, và nước Nhật đă không tiến
lên nhờ Minh Trị. Không những thế, c̣n có thể nói
chính Minh Trị đă bẻ găy, hay đúng hơn đă là
dụng cụ để giúp đám quân phiệt bẻ găy
đà tiến hài ḥa của Nhật Bản về
tương lai. Cuối lộ tŕnh Minh Trị là một
cuộc chiến tự hủy, hai trái bom nguyên tử và
một phần quan trọng của lănh thổ bị
mất. Minh Trị lên ngôi năm 1867, lúc mới 14 tuổi.
Phải mê tín dị đoan mới có thể tin một cậu
bé bằng ấy tuổi và được nuôi nấng trong
hoàng cũng có thể có cả một dự án canh tân
đất nước. Thực ra Minh Trị lên ngôi vào
đúng lúc quyền bính nước Nhật rối loạn
hoàn toàn, các sứ quân liên kết với nhau lật
đổ và chấm dứt chế độ chúa công
(shogun) được thiết lập từ thế kỷ
12 theo một mô h́nh tương đương như vua Lê
chúa Trịnh tại nước ta. Lúc đó nước
Nhật đă tiếp xúc với phương Tây từ
hơn ba thế kỷ, từ năm 1543, nghĩa là cùng
một lúc với Việt nam.
Vào thời điểm Minh Trị lên ngôi, nước
Nhật đă thay đổi rất nhiều rồi, khác
hẳn với Việt nam. Câu chuyện sau đây đủ
nói lên mức độ phát triển của nước
Nhật trước khi người phương Tây
đến. Một người Bồ Đào Nha, tên là Pinto,
đến nước Nhật vào khoảng cuối thế
kỷ 16 đem theo một cây súng. Ông ta khoe hiệu lực
của cây súng hơn hẳn những thanh kiếm của
các hiệp sĩ Nhật, rồi cho mượn. Vài tháng
sau, khi ông ta ra đi, người Nhật đă chế ra
được 500 khẩu súng giống hệt như
vậy. Hai năm sau trên toàn nước Nhật có tới
300.000 khẩu súng Pinto. Kỹ năng của người
Nhật đă tiến tới một tŕnh độ rất
cao ngay từ thế kỷ 16.
Các tài liệu của nước ta, cũng như phần
lớn các tài liệu phiến diện của phương
Tây mà ta sao dịch lại, đánh dấu sự mở
cửa của Nhật về phương Tây từ năm
1853 (tức mười bốn năm trước khi Minh
Trị lên ngôi) khi phó đề đốc (comodore) Perry
chỉ huy một đoàn chiến hạm Mỹ tiến vào
cảng Đông Kinh đưa tối hậu thư buộc
Nhật mở cửa khẩu cho tàu bè phương Tây, và
Nhật nhượng bộ. Thực ra, một cách không
chính thức, Nhật đă mở cửa cho phương
Tây và đă tiếp thu rất nhiều kỹ thuật và
phương pháp phương Tây từ ba thế kỷ
trước rồi. Người Nhật đă quen với
phương Tây và đă đủ tiến hóa để hiểu
sức mạnh của phương Tây. Họ nhượng
bộ v́ hiểu biết chứ không phải v́ nhát sợ.
Họ đă quen sử dụng lịch phương Tây
từ lâu, cho nên năm 1873 họ bỏ hẳn lịch Tàu
để chỉ dùng lịch Tây. Họ cũng đă
mở những trường học về y khoa và khoa
học cơ bản từ thập niên 1720, nổi
tiếng nhất là Trường Ḥa Lan (người
Nhật quả nhiên biết chọn thày?). Năm 1744,
họ xây một đài quan sát thiên văn với hai kính
viễn vọng lớn. Từ năm 1810, họ tổ
chức cả một cơ quan chuyên môn dịch sách khoa
học kỹ thuật phương Tây. Ngày 7 tháng 1năm
1870, đúng ba năm sau khi Minh Trị lên ngôi, bức
điện tín đầu tiên được đánh đi
từ Tokyo.
Nước Nhật đă rất tiến bộ khi
người phương Tây đến. Chính nhờ
tiến bộ mà họ đă nhận thức
được sự hơn hẳn của phương Tây
và đă hấp thụ rất mau chóng các kỹ thuật
phương Tây. Tại sao? Đó là nhờ một sự
kiện ngoài chủ đích của mọi người. Xă
hội Nhật do các lănh chúa thống trị dựa trên giai
cấp hiệp sĩ. Các lănh chúa và các hiệp sĩ cực
kỳ kiêu căng không thèm ḥa trộn với dân chúng mà
để mặc quần chúng tự tổ chức lấy
cuộc sống của ḿnh, miễn là nộp đủ
thuế. Trong t́nh trạng ấy, quần chúng Nhật tuy
ở sát nhưng thực ra lại sống rất xa giai
cấp thống trị. Họ không thể tổ chức
thành chính quyền nếu không muốn lănh búa ŕu và họ
phải t́m cách sinh sống với nhau trong đồng
thuận để tránh những can thiệp của bọn
hiệp sĩ. Một cách tiệm tiến và thầm
lặng, một sinh hoạt tự do đă h́nh thành giữa
quần chúng với nhau, dưới sự giám sát từ xa
của các lănh chúa. Đó là lư do khiến xă hội Nhật
đă phát triển, rồi chính sự phát triển này đă
tạo ra áp lực buộc giới cầm quyền
Nhật nhượng bộ dần dần.
ở đây, Nhật cũng không phải là một
ngoại lệ. Nhật cũng đă phát triển nhờ
tự do dân chủ, dù là tự do trá h́nh, dân chủ giấu
mặt. Không hiểu được điều này là không
hiểu phép mầu Nhật Bản, một phép mầu
đă bắt đầu từ trước khi người
phương Tây tới và đă gia tăng vận tóc sau
đó. Minh Trị sau khi lên ngôi đă chỉ là một
biểu tượng giúp cho đám quân phiệt tiêu diệt
dần tự do dân chủ và đưa Nhật Bản
đến bế tắc. Những năm cuối của
triều đại Minh Trị c̣n là những năm đen
tối cho nước Nhật: bành trướng quân sự,
chiếm Đài Loan và Cao Ly, đàn áp đẫm máu ở
trong nước. Khi Minh Trị chết, năm 1912, chế độ
Nhật trở thành một chế độ độc tài
quân phiệt thuần túy với hậu quả mà chúng ta
đă thấy. Sau thế chiến II, Nhật bại trận,
phải đầu hàng không điều kiện, chấp
nhận một hiến pháp tự do do Hoa Kỳ áp
đặt và giám sát, và nước Nhật lại
vươn lên.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Những xă hội phồn vinh khác
Đến
đây chúng ta đă xong một cuộc hành tŕnh qua những
kinh nghiệm phát triển. Chúng ta đă dừng chân ngắn
ngủi tại các chặng đường Ḥa Lan, Anh,
Mỹ và Nhật. Cuộc hành tŕnh vội vă này đă không
cho phép chúng ta dừng lại ở một số phép
mầu tại một số quốc gia khác.
Như Thụy Sĩ, quốc gia nhỏ bé và bị quên lăng
trong nhiều thế kỷ, không có bờ biển, không tài
nguyên thiên nhiên, lại thêm núi non trùng điệp, vậy mà
đă trở thành quốc gia giàu có nhất thế giới.
Trong nhiều thế kỷ Thụy Sĩ đă là vùng
đất không nước nào ḍm ngó, nó đă thành
đất dung thân của người Đức,
người Pháp, người ư muốn xa lánh bạo
lực và sự bất dung. Người Thụy Sĩ
đă xây dựng với nhau một xă hội tự do dân
chủ theo phương châm dĩ ḥa vi quí. Và họ đă
t́m được hạnh phúc. Đặc điểm
của Thụy Sĩ mà mọi người đấu
biết là có một chế độ dân chủ đi xa
nhất trong mọi chế độ dân chủ: dân chủ
trực tiếp ở một số địa
phương. Hay như trường hợp của các
nước Bắc Âu, Đan Mạch và Thụy Điển
(cho tới gần đây Thụy Điển là nước
có lợi tức b́nh quân trên mồi đầu người
cao nhất châu Âu). Các quốc gia xa xôi băng giá và ít
người này cũng ở trong thế chẳng ai
để ư đến họ và họ cũng chẳng dám
vênh váo thách thức với ai. Họ tổ chức với
nhau một xă hội đồng thuận và khiêm nhường,
tôn trọng tự do và sáng kiến của mỗi
người. Và họ đă là những quốc gia phát
triển đầu tiên; như phần đầu bài này
đă nói, vùng biển Baltic đă phát triển rất
sớm.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Cùng một hiện tượng
Điều
ngạc nhiên và lư thể là dưới nhưng bề ngoài
có vẻ rất khác nhau cùng một hiện tượng
đă được lặp lại.
Hiện tượng diễn ra như sau: một cộng
đồng quốc gia vào một lúc nào đó, do một t́nh
cờ địa lư hay lịch sử, rơi vào một hoàn
cảnh đặc biệt, quyền lực khống
chế không quan tâm tới họ và để mặc họ
sống với nhau. Một tổ chức xă hội mới
đă dần dần h́nh thành với bốn đặc tính:
một là v́ không có chọn lựa nào khác họ đă
tổ chức với nhau một chính quyền tối
thiểu, thậm chí không chính thức, và sinh sống
với nhau theo qui luật tự nhiên của thị
trường; hai là do không thể có tham vọng quyền
lực, mọi người tập trung cố gắng làm
giàu; ba là do chính quyền không can thiệp vào đời
sống hàng ngày, người dân được
hưởng một mức độ tự do lớn, do
đó phát huy tối đa sáng kiến; bốn là
thương mại được ưa chuộng và tôn
vinh. Yếu tố thứ tư thực ra chỉ là một
hậu quả của yếu tố thứ hai và nhất là
thứ ba. Đă chủ tâm làm giàu và lại được
tự do phát huy sáng kiến th́ chắc chắn con
người trở thành mạo hiểm, thích trao
đổi và buôn bán. Chính quyền nhẹ, tự do và dân
chủ, kinh tế thị trường, ham mê làm giàu,
trọng thương mại và cởi mở với
thế giới bên ngoài là những yếu tố đem
tới sự giàu có. Những yếu tố đó là nguyên
nhân thực sự của phát triển, cho dù chúng xuất
phát trong hoàn cảnh nào. Chúng ta có thể coi đó là một
định luật đúng trong mọi trường
họp. Ngay cả các thị trấn thương mại
đă phát triển sớm nhất cũng không phải là
ngoại lệ. Kiến thức của tôi rất nhiều
giới hạn, nhưng nhưng kinh nghiệm phát triển
mà tôi có dịp nghiên cứu, và tôi có cảm tưởng
không bỏ sót trường hợp quan trọng nào, cho tôi
một nhận xét là trong chiều sâu mọi phát triển
trên phạm vi quốc gia đều có cùng một nguyên nhân,
dù bề ngoài chúng có thể bộc lộ dưới
một lư do đặc biệt: tôn giáo, khí hậu, tài nguyên
thiên nhiên, v.v... Điều đáng lưu ư là thực ra
nhiều chế độ độc tài hoặc thiếu
dân chủ cũng đă nhận ra điều này. Đó là
lư do khiến họ cho phép lập ra những khu chế
xuất, vùng kinh tế đặc biệt, v.v... mà
đặc tính là ở đó tự do được
thả lỏng, các thủ tục được giảm
nhẹ, sự hiện diện của chính quyền bớt
lộ liễu. Các vùng này đều đă thành công và
khiến nhiều kinh tế gia coi chúng như một
giải pháp. Nhưng đây chỉ là một biện pháp
nửa chừng. Nếu các khu chế xuất có lợi,
tại sao không mở rộng cho cả nước?
Nét đậm nhất cần ghi nhớ sau những ḍng này
là, một mặt, xă hội tự do dân chủ kích thích
cố gắng và cho phép con người phát huy tối đa
khả năng của ḿnh, và mặt khác, tự do dân
chủ không đ̣i hỏi một điều kiện nào, nó
phù hợp với mọi xă hội và mọi tŕnh
độ. Các dân tộc vươn lên đầu tiên đă
t́nh cờ đạt tới tự do và dân chủ trong
trường hợp đặc biệt. Ngày nay, đă
hiểu được phúc lợi của tự do và dân
chủ, chúng ta có thể cố ư tạo dựng tự do và
dân chủ để vươn lên.
Kết luận trên đây có phải là hiển nhiên quá
đến độ nhạt nhẽo không? Nếu
được như vậy th́ c̣n ǵ hơn, nhưng
điều đáng buồn là không. Tôi đă quá nhiều
lần được nghe từ miệng nhưng vị
khoa bảng cao, kể cả những vị tự coi và
được coi là những chuyên viên kinh tế, kể
cả một số người hoạt động chính
trị dưới danh nghĩa dân chủ, nói tới
một tŕnh độ dân trí tối thiểu để có
dân chủ, hay tự do quá trớn, dân chủ quá trớn,
hay dân chủ tự do có nguy cơ dẫn tới vô trật
tự và hỗn loạn v.v... Những lúc đó tôi chua chát
nhớ tới lời nói của một ông thầy tôi: Có
bằng cấp chưa phải là có kiến thức và
thực học.
Trước khi chấm dứt bài này, tôi thấy cần
thêm hai chú thích. Một là, những ḍng trên có thể
khiến độc giả nghĩ tôi phản bác Max Weber.
Sự thực là không, Weber là một trong những nhà lư
luận về kinh tế và xă hội mà tôi ngưỡng
mộ nhất. Những đóng góp của ông thật là to
lớn. Nếu nh́n mặt trăng thay v́ chỉ nh́n ngón tay
chỉ mặt trăng th́ ta thấy Weber nói đúng.
Đạo Tin Lành chỉ là ngón tay mà thôi, điều mà Weber
thực sự khám phá ra cho chúng ta là tầm quan trọng
quyết định của văn hóa. Chính v́ thế mà các
quốc gia tự do dân chủ như nhau đă có những
nhịp độ phát triển khác nhau v́ văn hóa khác nhau.
Phát triển, kể cả phát triển kinh tế, chủ yếu
là do tâm lư con người, mà tâm lư con người là sản
phẩm của văn hóa. ở thời đại mà Weber nghiên
cứu, thời đại của các thế kỷ 16, 17 và
18, tôn giáo là yếu tố áp đảo của văn hóa.
Văn hóa Tin Lành cởi mở, phóng khoảng, lấy
đối thoại làm căn bản thay cho giáo
điều, khuôn phép. Đó là một văn hóa tự do.
Đạo Tin Lành đă đem lại phồn vinh (không ai có
thể chối căi là các dân tộc theo đạo Tin Lành
tiến bộ hơn hẳn các dân tộc theo các tôn giáo
khác) v́ nó chuyên chở văn hóa tự do và đối
thoại. Nhưng chúng ta cũng có thể đạt
tới một văn hóa tự do, lấy chính tự do, dân
chủ và đa nguyên làm những giá trị căn bản,
mà không cần cỗ xe Tin Lành. Hai là, nhưng biện
luận trên đây có một chỗ yếu là đă gán ghép
tự do và dân chủ, trong khi các kinh nghiệm chỉ
chứng tỏ tự do đă đóng vai tṛ quyết
định. Các nước phát triển đầu tiên
đă bắt đầu phát triển ngay từ khi chưa
hẳn có dân chủ, nếu hiểu dân chủ là thể
chế chính trị trong đó những người cầm
quyền được dân chúng tự do bầu ra trong
một nhiệm kỳ giới hạn nhất định.
Trong một phần khác tôi sẽ trở lại vai tṛ
của dân chủ. ở đây chỉ xin nói một cách
vắn tắt: quả thực tự do mới cần
thiết và mới là cứu cánh, nhưng dân chủ là
yếu tố cần thiết để đảm bảo
tự do, để đà phát triển có thể tiếp
tục thay v́ bị găy đổ giữa đường.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Những thí dụ phản bác?
Tự
do, dân chủ đi trước và tạo ra phát triển
kinh tế chưa phải là một niềm tin phổ
cập. Cho tới nay vẫn có một số khá đông
người cho rằng phát triển kinh tế tạo ra dân
chủ, với hệ luận là các dân tộc đang chịu
ách độc tài hăy cứ tạm gác những đ̣i
hỏi về tự do dân chủ để tập trung
cố gắng phát triển kinh tế, sau đó chính phát
triển kinh tế sẽ mang lại tự do dân chủ.
Đây là một lư luận rất tiện nghi cho các chế
độ độc tài như Việt nam; không có ǵ
ngạc nhiên nếu họ sử dụng nó. Điều
đáng tiếc là nhiều người khao khát tự do dân
chủ cũng hoài nghi và không thể phản bác luận
điệu kinh tế đi trước chính trị
một cách thực dứt khoát.
Những phân vân về tương quan giữa dân chủ và
phát triển có ít nhất ba nguyên nhân.
Một là, trên thực tế phát triển kinh tế cũng
thúc đẩy dân chủ và tự do v́ thế mà chúng ta
dễ lẫn lộn hậu quả với nguyên nhân. Hai là
do chính hiệu lực nhanh chóng của tự do dân chủ:
nó lập tức đưa đến tiến bộ
về mặt kinh tế, do đó một số
người không nhận ra cái ǵ trước cái ǵ sau. Ba là,
v́ nhiều lư do, trong đó lư do quan trọng nhất là
sự kháng cự của những người lănh
đạo không chịu từ bỏ lập tức
những đặc quyền đặc lợi, dân chủ
và tự do không tới toàn bộ cùng một lúc mà
thường tới từng đợt một,
dưới sức ép của thực tại xă hội theo
từng mức độ phát triển người quan sát
thiếu chăm chú khó thấy được rằng
ở mỗi giai đoạn một mức độ dân
chủ tự do lớn hơn đă cho phép một mức
độ phát triển lớn hơn. Trong cuộc kháng
cự lồng lộn để cố giữ nguyên quyền
lực của họ, các chế độ độc tài
dùng đủ mọi lập luận, nhiều khi dựa
vào những giải thích gian trá của chính hiện
tượng phát triển tại các quốc gia đang dân
chủ hóa. Những kinh nghiệm thường
được viện dẫn để phản bác
những đ̣i hỏi dân chủ và nhân quyền là
trường hợp của những nước
được mệnh danh là các con rồng châu á như
Đài Loan, Nam Hàn, Mă Lai, Thái Lan, Singapore, Indonesia và Brunei, và
đói khi ngay cả Hồng Kông. Các chế độ độc
tài châu á, nhất là Việt nam, thường căn cứ
vào đó để nói rằng có thể phát triển mà không
cần dân chủ và chính phát triển kinh tế sẽ
đem lại dân chủ. Sự thực như thế nào?
Chúng ta lại thử làm một ṿng khảo sát.
Cần loại bỏ ngay trường hợp Hồng Kông.
Đó là một nhượng địa của nước
Anh cho tới ngày 30-6-1997. Một toàn quyền người
Anh đại diện cho nước Anh, giao toàn bộ
việc quản lư đời sóng hàng ngày cho một
guồng máy hành chính người Hồng Kông. Vị toàn
quyền không ở đó để áp đặt một ách
thống trị, vai tṛ của ông là đảm bảo các
quyền tự do theo quan niệm của nước Anh.
Trong những năm cuối cùng trước khi trao trả
Hồng Kông cho Bắc Kinh, toàn quyền Chris Patten c̣n
xuất hiện như một người luật sư
của tự do, dân chủ và nhân quyền tại châu á. Ông
bị nhiều chế độ châu á đả kích như
một nhân vật giáo điều nhân quyền.
Dưới sự giám sát và bảo vệ của
nước Anh, Hồng Kông là một mẫu mực thành
công của khuôn mẫu dân chủ tư bản phương
Tây. Hồng Kông không những không chứng minh rằng có
thể phát triển mà không cần dân chủ, trái lại nó
c̣n là bằng chứng đầu tiên tại châu á về
phép mầu dân chủ tư bản.
Cũng phải loại bỏ trường hợp của
Brunei trong cuộc thảo luận về tương quan
giữa dân chủ và phát triển. Đúng là vương
quốc nhỏ bé này không có dân chủ, chế độ
của nó là một chế độ quân chủ tuyệt
đối mặc dầu vậy nó vẫn có một
mức sống rất cao. Những trước hết
Brunei chỉ giàu chứ không phát triển. Brunei là một
quốc gia giàu có lạc hậu. Hăy cứ nh́n trong những
phim tài liệu những rác rưởi trôi lềnh bềnh
và ngập ngụa dưới chân những làng cất trên
cọc cao bên mé sông, mé biển. Brunei cũng không phải là
một quốc gia mà chỉ là một giếng dầu.
260.000 dân sống trên một diện tích nhỏ xíu chưa
đầy 6.000 km2, trong đó quá ba phần tư là rừng
hoang. Brunei không muốn độc lập mà đă bị
nước Anh bắt phải độc lập và đă
tự an ủi bằng cách xây một hoàng cung tốn kém 350
triệu USD, tốn kém này nếu đem chia cho dân số th́
mỗi người phải đóng góp 1500 USD. Muốn h́nh
dung sự hoang phí này phải tưởng tượng
nước Mỹ bỏ ra 350 tỷ USD để xây ṭa
Bạch ốc. Sự giàu có của Brunei không do con
người làm ra mà đă phun từ ḷng đất lên. Con
người ở đây không cần làm ǵ cả, cũng
không phải đóng một loại thuế nào, mà
được chu cấp tất cả một cách dồi
dào. Chắc chắn họ có thể chấp nhận bỏ
qua dân chủ và tự do với giá này. Nhưng thực ra là
họ cũng không mất ǵ cả. Họ sống quá sung
túc và không cần tranh đấu đ̣i hỏi bất
cứ ǵ, do đó không có ư định chống lại nhà
vua, và ngược lại nhà vua cũng không cần kiểm
soát họ. Nhà vua cũng không cần cấm đoán họ đi
đâu v́ đi đâu họ cũng không sung túc như ở
chính nước họ. Cũng không có một quốc gia nào
ngăn cản những du khách Brunei tới nước
họ để tiêu xài. Kết quả là do sự sung túc
cực kỳ người Brunei có tất cả mọi
quyền tự do, trừ quyền tự do trai gái hôn nhau
ngoài đường do phong tục Hồi Giáo. Brunei vẫn
thiếu mở mang.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Singapore: một thị trưởng xuất
sắc
Singapore
cũng là một trường hợp rất hi hữu. Nó
là một thành phố thương cảng hơn là một
quốc gia và cũng không phải là một thành phố
lớn, với một diện tích 639 km2 và một dân
số chưa đầy ba triệu. Nhưng Singapore không
phải là một ngoại lệ đối với qui
luật tự do dân chủ tạo ra phát triển.
Được thành lập từ đầu thế kỷ
19 bởi một người Anh, bắt đầu từ
một làng đánh cá với khoảng một trăm
người, Singapore chưa hề biết tới một
tổ chức xă hội nào khác hơn là khuôn mẫu tự
do dân chủ phương Tây. Singapore được hoàn toàn
tự trị dưới sự giám sát của người
Anh tương tự như Hồng Kông từ 1959 và
trở thành một nước độc lập từ
1965. Chính quyền nằm trong tay một quốc hội
xuất phát từ bầu cử tự do và quốc hội
chỉ định một thủ tướng. Chắc
chắn Singapore không phải là một chế độ dân
chủ gương mẫu. Đảng Nhân Dân Hành
Đồng, cầm quyền từ ngày độc lập,
đă sử dụng những biện pháp không mấy
lương thiện để tiếp tục nắm chính
quyền, chẳng hạn như trợ cấp cho những
khu nào bầu cho đảng cầm quyền. Nhưng các đảng
đối lập không bị cấm, người
đối lập không bị bỏ tù, báo chí không là
độc quyền của nhà nước. Đảng
cầm quyền dùng các biện pháp bất chính để
thắng cử nhưng không cấm đối lập
ứng cử và không gian lận kết quả các cuộc
bầu cử. Singapore cũng là một nước có
luật lệ khá khe khắt, nhưng với một
diện tích quá nhỏ và một mật độ dân số
5.000 người trên một cây số vuông, đó có lẽ
là cái giá phải trả để giữ ǵn trật tự
an ninh. Vả lại luật pháp tuy khe khắt nhưng
lại được áp dụng một cách đứng
đán cho tất cả mọi người. Và dẫu sao
nhu cầu dân chủ cũng không đặt ra cho một
thành phố nhỏ như Singapore một cách gay gắt
như đối với một quốc gia lớn. Dân
chủ chủ yếu là phương thức sinh hoạt
cho một nước có tầm vóc đáng kể, phải
đương đầu với những chọn lựa
lớn và phải cai trị một dân số đông
đảo với nhưng điều kiện sinh hoạt,
những ưu tư và nguyện ước khác nhau. Singapore
không có nhưng vấn nạn đó. Chức năng của
nó rất ro rệt v́ con người ở đây không có
mục đích nào khác hơn là làm giàu; điều mà họ
mong muốn là được tự do sinh sống và làm
ăn, và họ đă đạt được. Nhu cầu
dân chủ chỉ là thứ yếu.
Trong những năm gần đây, cựu thủ
tướng Lư Quang Diệu, người đă có công
dẫn dắt Singapore trong hơn ba mươi năm trên
con đường đi tới phồn vinh, đă lên
tiếng nhiều lần đề cao những giá trị
châu á với một giọng điệu bài bác chung chung các
giá trị của phương Tây. V́ tự do, dân chủ và
nhân quyền được coi là những giá trị
của phương Tây nên những phát biểu của
họ Lư được hiểu là không thuận cho tự
do, dân chủ và nhân quyền. Nhà cầm quyền cộng
sản Việt nam đă lập tức tôn ông Lư làm bậc
thầy (trên thực tế họ đă mời ông làm
cố vấn, để rồi có lúc bị ông mắng là
không chịu cải tổ kịp thời).
Nhưng đối với Singapore, chúng ta không nên quên hai
sự kiện rất cơ bản:
Một là, dù Singapore có phồn vinh đến đâu đi nữa
nó cũng chỉ là một thành phố trung b́nh và dù ông Lư
Quang Diệu có thành công đến đâu đi nữa ông
cũng chỉ có kinh nghiệm của một viên thị
trưởng. Ông có thể lấy kinh nghiệm của ḿnh
để làm cố vấn cho một thành phố
thương cảng như Sài G̣n, Đà Nẵng, Hải Pḥng
nhưng ông không thể dạy bảo một quốc gia
với những vấn đề mà ông chưa bao giờ
biết tới.
Hai là, có một cái ǵ rất khôi hài trong những giá trị
của châu á, mà Lư Quang Diệu đề cao khi đă về
hưu. Hơn tất cả mọi quốc gia và hơn
cả Hồng Kông, Singapore là nước châu á bị Tây
phương hóa nặng nhất. Mọi người
Singapore đều thạo tiếng Anh và đa số không
viết thạo tiếng Tàu. Tập tính của người
Singapore là tập tính buôn bán, tôn giáo của Singapore là của
cải vật chất, cái Khổng Giáo mà ông Lư đề
cao chỉ là một thứ Khổng Giáo đô-la. Trong
suốt cuộc đời hoạt động của ông,
Lư Quang Diệu đă dồn mọi có gắng để
bắt chước phương Tây tối đa. Chỉ
đến khi về già, ông mới bày tỏ một sự
lưu luyến muộn màng với nguồn gốc Trung Hoa
của ông. Đó chẳng qua là tâm lư lá rụng về
cội thông thường của con người.
Người ta có thể hiểu ông nhưng không thể
lấy những lời nói của ông làm tiền mặt.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Mă Lai: dân chủ ngay từ khi thành lập
Mă
Lai cũng không khác Singapore bao nhiêu về quan hệ với
phương Tây. Đó cũng là một quốc gia hoàn toàn
do người phương Tây thành lập ra, lănh thổ
chỉ mới tạm ổn định từ năm 1963:
Lịch sử của quốc gia này, với một
diện tích 330.000 km2 (đúng bằng Việt nam) nhưng
chỉ có khoảng 20 triệu dân, chỉ thực sự
bắt đầu từ thế kỷ 16. Trước
đó, trong những thế kỷ đầu của công
nguyên bán đảo Mă Lai chỉ là một vùng rừng núi
hoang vu với một số rất nhỏ thổ dân, và là
trạm dừng chân của các đoàn thuyền buôn từ
phương Bắc, phần lớn từ ấn
Độ, tới Sumatra. Những người Bumiputra,
tự coi là chủ nhân của đất Mă Lai, chỉ
bắt đầu đến từ Sumatra từ thế
kỷ thứ VIII. Dấu vết chính trị đầu
tiên được ghi nhận là một vương
quốc nhỏ được thành lập ở phía Nam bán
đảo đầu thế kỷ 15. Khi một số
người Bồ Đào Nha đến chinh phục
mỏm Malacca năm 1511, họ chỉ gặp một
sự kháng cự rất yếu ớt của những
bộ lạc rất lẻ tẻ. Người Bồ
Đào Nha đă đóng góp làm cho sinh hoạt thương
mại phát triển mau chóng. Hơn một thế kỷ
sau, năm 1641, Mă Lai lại được may mắn khác:
người Ḥa Lan, một dân tộc rất sáng lạo và
giàu óc kinh doanh, hất cẳng người Bồ Đào Nha
và chiếm lấy Mă Lai. Sự thịnh vượng
lại càng gia tăng dưới sự cai trị của
người Ḥa Lan, nhưng nó cũng bắt đầu cám
dỗ một đế quốc mới vừa qua mặt
Ḥa Lan về sức mạnh: nước Anh. Năm 1795 Ḥa
Lan phải nhường bán đảo Mă Lai và vùng Bắc
Borneo cho Anh để rút về cố thủ quần
đảo Indonesia
Sự khác biệt rất lớn giữa hai đế
quốc thực dân lớn nhất trong, thế kỷ 19,
Anh và Pháp, là ở chỗ người Pháp cố gắng phá
vỡ mọi giềng mối quốc gia có sẵn
để dễ thống trị, trong khi người Anh
cố thành lập ra những quốc gia ngay cả ở
những nơi không có quốc gia để có những
đối tác kinh doanh. Trong suốt một thế kỷ
họ đă tạo dựng ra nước Mă Lai bằng cách
kết hợp những cộng đồng rất khác khau
trên bán đảo. Họ thành lập ra Liên Bang Mă Lai năm
1891, mở rộng dần dần lănh thổ và quyền
tự quản của người địa phương,
rồi trả độc lập cho Mă Lai năm 1957, sau khi
đă kư kết một hiệp ước quân sự.
Cũng chính người Anh năm 1963 đă sáp nhập vùng
đất phía Bắc đảo Borneo vào Liên Bang Mă Lai.
Sự nhắc lại vắn tắt lịch sử Mă Lai
này cho thấy nó hoàn toàn được tạo dựng lên
do người phương Tây, cho nên tinh thần nền
tảng của nó không thể khác phương Tây, nghĩa
là tự do và dân chủ. Quốc gia tân lập này gồm 55%
người Bumiputra nói tiếng Mă Lai (tiếng nói chung
của nhiều sắc dân thuộc quần đảo
Indonesia nơi họ xuất phát), hơn 30% người
gốc Trung Hoa và non 10% người gốc ấn
Độ. Người Trung Hoa tuy ít hơn về dân số
nhưng lại hơn hẳn người Bumiputra về
kiến thức và tài sản. Với một cấu tạo
nhân chủng như vậy, Mă Lai không thể tồn tại
dưới một chế độ độc tài. Nó
đă tồn tại được nhờ một thỏa
thuận: người Hoa nhường nhịn người
Bumiputra, và người Bumiputra chấp nhận người
Hoa. Cũng cần lưu ư một đặc điểm
của người Hoa ở Mă Lai: họ là những
người thích buôn bán làm giàu hơn là thích quyền
lực chính trị. Trong thời gian thế chiến II,
hầu như đă chỉ có một nhóm nhỏ cộng
sản gốc Hoa kháng chiến chống lại quân
chiếm đóng Nhật. Tháng 8-1945 khi Nhật đầu
hàng, họ đă nắm được chính quyền
tại Mă Lai nhưng đă hạ khí giới khi
người Anh trở lại v́ tự thấy không
đủ sức mạnh và hậu thuẫn quần chúng
để chống lại. Người Anh v́ thế đă
lấy lại được quyền lực một cách
không tốn kém và tiếp tục tạo dựng ra Liên Bang
Mă Lai. Về sau này, khi Đảng cộng Sản Mă Lai phát
động kháng chiến trở lại, họ cũng
chỉ qui tụ được, ở lúc mạnh nhất,
không đầy bảy ngàn người, chu yếu là
người Hoa, và dần dần tàn lụi đi. Tập
tính hiếu ḥa, chăm làm giàu và không ham quyền lực
của người gốc Hoa là bí quyết của sự
phát triển của Mă Lai sau này, đồng thời cũng
là lư do khiến cho Mă Lai tiếp tục đứng
vững.
Gần đây, những lời tuyên truyền chống các
giá trị phương Tây, hàm ư chống dân chủ và nhân
quyền, của thủ tướng Mahathir Bin Mohamad đă
làm những người dân chủ Việt nam khó chịu và
chính quyền cộng sản Việt nam khoái chí, nhưng ta
cần phải hiểu ràng đó chỉ là những lời
tuyên bố dùng cho nhu cầu tiêu thụ nội địa
mà thôi. Sự thực không phải như vậy. Mă Lai ngay
từ ngày thành lập đă được hưởng
không khí tự do dưới sự giám sát của
người Anh. Từ khi có độc lập nó là một
nước dân chủ (chế độ chính trị
của Mă Lai là quân chủ lập hiến nhưng rất ít
ai biết đến vua Mă Lai). Nền dân chủ đó không
hoàn chỉnh do điều kiện dân trí, nhưng có tất
cả mọi yếu tố cốt lơi của dân chủ:
tự do ngôn luận, tự do kết hợp, tự do
bầu cử và ứng cử. Các chính đảng
được hoạt động tự do, các cuộc
bầu cử diễn ra một cách đúng hạn kỳ và
lương thiện từ ngày độc lập. Mă Lai hoàn
toàn không phải là một chế độ độc tài.
Luật pháp Mă Lai có nhiều khe khắt nhưng do một
quốc hội dân cử biểu quyết ra. Những
diễn văn bảo thủ của Mahathir chỉ có
mục đích tuyển cử: toàn bộ giới lănh
đạo Mă Lai, kể cả Mahathir, đều thuộc
giai cấp trưởng giả thành thị Tây phương
hóa 100%, nên luôn luôn lo sợ bị một đảng
bảo thủ mị dân nổi lên đánh bại. Mahathir
bài xích phương Tây chỉ để tỏ ra ḿnh
vẫn là Mă Lai, vẫn truyền thống và không mất
gốc.
Mă Lai hoàn toàn không phải là bằng chứng cho rằng
một quốc gia có thể phát triển mà không cần
tự do dân chủ. Ngược lại, hoàn toàn
ngược lại, đó là bằng chứng rằng dân
chủ và tự do đă có khả năng biến một
quốc gia tân lập, với dân trí thấp và chủng
tộc phức tạp thành một trong những quốc gia
giàu mạnh nhất vùng Đông Nam á.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Đại Hàn Dân Quốc:
sự thành công của những chế
độ độc tài sáng suốt?
Một
ngộ nhận khác của người Việt nam là trường
hợp Nam Cao Ly (tên chính thức là Đại Hàn Dân
Quốc). Quốc gia nhỏ bé này, với diện tích 98.500
km2, chưa bằng một phần ba Việt nam, và dân
số 47 triệu, trong ṿng ba thập niên đă vươn
lên từ địa vị một nước nghèo và
bị chiến tranh tàn phá thành cường quốc kinh
tế thứ 11 của thế giới. Trong ṿng hơn ba
mươi năm, từ 1960 đến 1993, Nam Cao Ly
được các tướng lănh cai trị cho nên
dưới mắt thế giới đó là một
nước độc tài quân phiệt. Thành công ngoạn
mục của Nam Cao Ly v́ thế đă được
nhiều tập đoàn độc tài, đặc biệt
là chính quyền cộng sản Việt nam, lấy làm
bằng cớ là một chế độ độc tài
sáng suốt có khả năng phát triển kinh tế hiệu
lực hơn là một chế độ dân chủ. Sự
thực như thế nào?
Các tướng lănh thay nhau lên làm tổng thống Nam Cao Ly
chắc chắn không phải là những người yêu
chuộng dân chủ và nhân quyền. Pak Chung Hee (Phác Chính Hy)
đă bắt cóc và định thủ tiêu lănh tụ
đối lập Kim Dae Jung (Kim Đại Trung), tướng
Chun Doo Hwan (Toàn Đầu Hoán) đă tàn sát hàng trăm sinh
viên tại Kwangju. Họ là những tay vơ biền, và chính
t́nh trạng căng thẳng do sự hiện diện
của một chính quyền quân phiệt hung dữ tại
Bắc Hàn đă dưa họ lên cầm quyền. Nhưng
vấn đề là họ không áp đặt
được chế độ độc tài Nam Cao Ly
vẫn là một nước dân chủ, với đầy
đủ nhưng yếu tố cơ bản của
một chế độ dân chủ: tự do ngôn luận,
tự do kết hợp, tự do bầu cử và ứng
cử. Trên thực tế, những cuộc bầu cử
tại Nam Cao Ly đă rất sôi nỗi với nhưng
kết quả rất khít khao. Syng Man Rhee (Lư Thừa Văn)
bị lật đổ năm 1960 bởi những cuộc
xuống đường rầm rộ phản đối
bầu cử gian lận. Tướng Pak Chung Hee chỉ
hơn đối thủ Djang Myon không đầy 1% trong
cuộc bầu cử tổng thống năm 1963. Do thành
công ngoạn mục về kinh tế, ông đắc cử
vẻ vang năm 1967 (87%), nhưng bốn năm sau đó,
năm 1971, chỉ thắng khít khao đối thủ Kim Dae
Jung (54% / 46%). Một giai đoạn sôi động diễn
ra sau đó khi Pak Chung Hee, dựa vào hậu thuẫn mà
quần chúng dành cho ông ta, sửa đổi hiến pháp
để tiếp tục nắm chính quyền. Dù bản
hiến pháp mới đă được dân chúng Nam Cao Ly
ủng hộ mạnh mẽ (73 % qua trưng cầu dân ư),
trí thức và sinh viên đă tỏ ra sáng suốt và dũng
cảm, họ nh́n thấy một âm mưu thiết lập
chế độ độc tài mị dân và đă chống
đối mănh liệt. Chun Doo Hwan, cầm quyền sau khi
Pak Chung Hee bị ám sát, đắc cử với 90% số
phiếu của một Đại Hội Quốc Dân
Thống Nhất Đất Nước năm 1982 đă
chống trả hung bạo những tranh đấu của
sinh viên trí thức, nhưng càng ngày cuộc đấu tranh
càng được quần chúng hiểu và ủng hộ
đưa tới những cuộc biểu t́nh khổng
lồ. Chun Doo Hwan phải nhượng bộ và chấp
nhận rút lui, tướng Roh Tae Woo (Lư Thái Ngu) chấp
nhận trở lại cách bầu tổng thống theo
phổ thông đầu phiếu và chỉ thắng cử
với 36% trong cuộc bầu cử năm 1987 nhờ
sự chia rẽ của đối lập dân chủ mà
tổng số phiếu của hai ứng cử viên, Kim Dae
Jung và Kim Yong Sam, cộng lại là 55%. Lực lượng
dân chủ ngày càng mạnh lên, buộc đảng cầm
quyền phải làm một thỏa hiệp kỳ lạ
với đảng của cựu ứng cử viên
tổng thống Kim Yong Sam (Kim Đồng Tam) theo đó hai
đảng hợp nhất, với Kim Yong Sam làm chủ
tịch và là ứng cử viên tổng thống. Năm 1992,
Kim Yong Sam đắc cử tổng thống trong một
cuộc bầu cử lương thiện. Cuối năm
1997 Kim Dae Jung đánh bại ứng cử viên đảng
cầm quyền và đắc cử tổng thống.
Các cuộc bầu cử quốc hội cũng diễn ra
một cách đều đặn và lương thiện
từ 1963, trong đó đảng cầm quyền chưa
bao giờ được đa số tuyệt đối.
Như vậy, Nam Cao Ly đă là một nước dân
chủ từ thập niên 1960. Cho tới đầu
thập niên 1990 đó chưa phải là một nền dân
chủ hoàn hảo, nhưng vẫn là một nền dân
chủ thực sự, một lần nữa nếu
hiểu dân chủ là một chế độ bảo
đảm tự do ngôn luận, tự do hội họp,
tự do kết hợp, tự do bầu cử và ứng
cử. Điều khác với Mă Lai là tại Nam Cao Ly các
tướng lănh cầm quyền đă chủ trương
áp đặt chế độ độc tài và trí thức
Nam Cao Ly đă phải tranh đấu cam go để
đánh bại họ và bảo vệ dân chủ. Thật là
sai khi nói rằng Nam Cao Ly đă phát triển mạnh mẽ
trong hơn ba mươi năm dưới chế
độ độc tài quân phiệt. Càng bất
lương khi lấy trường hợp Nam Cao Ly
để lập luận rằng có thể phát triển mà
không cần có dân chủ. Không, Nam Cao Ly đă chỉ bắt
đầu phát triển sau khi loại bỏ chế
độ độc tài Syng Man Rhee, và từ đó đă
tiến lên nhờ dân chủ và tự do. Sự thực là
Nam Cao Ly đă vươn lên nhờ trí thức của nó đă
sáng suốt và dũng cảm để bảo vệ dân
chủ và do đó duy tŕ được đà phát triển.
Không những không phải là một ngoại lệ,
trường hợp Nam Cao Ly c̣n chứng tỏ phải dân
chủ hóa mới có thể phát triển và dân chủ
phải đi trước phát triển. Cũng đừng
nên quên rằng điều nổi bật nhất và đáng
chú ư nhất là Cao Ly đă bị chia cắt làm hai, miền
Bắc (Cộng Ḥa Nhân Dân Triều Tiên) theo chế
độ độc tài cộng sản trong khi miền Nam
(Đại Hàn Dân Quốc) theo chế độ dân chủ
tư bản, miền Nam tư bản đă trở thành
một cường quốc trong khi miền Bắc suy
sụp và đói nặng.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Thái Lan: măi đến 1992
Thái
Lan chỉ được biết tới như một con
rồng hay con cọp tương lai trong vài năm
trước cuộc khủng hoảng tài chánh châu á khởi
đầu từ tháng 7-1997 tại chính Bangkok. Thái Lan không
phải là một mẫu mực thành công về kinh tế
và v́ thế về cơ bản không chứng minh
điều ǵ rơ rệt. Điều đáng nói là Thái Lan
đă phải thành công hơn.
Quốc gia này may mắn nhất Đông Nam á, có lịch
sử khá lâu đời và không bị ngoại thuộc,
ngoại trừ thời gian ngắn ngủi bị Nhật
chiếm đóng nhưng không gây đỗ vở. Thái Lan
đă kháng cự một cách rất h́nh thức trong ṿng vài
giờ rồi đầu hàng và sau đó cũng chỉ
bị Nhật chiếm đóng một cách h́nh thức cho
đến khi Nhật đầu hàng. Thái Lan cũng may
mắn có một h́nh thức dân chủ thật sớm, ngay
từ 1932 khi một cuộc đảo chánh buộc vua Thái
chấp nhận chế độ quân chủ lập
hiến, nhường thực quyền cho một chính
phủ xuất phát từ một quốc hội do dân
bầu.
Với sự chuyển hóa mau chóng và b́nh ổn lâu dài như
vậy đáng lẽ Thái Lan phải là nước phát
triển bậc nhất châu á, nhất là Thái Lan có
đất rộng, vị trí khá thuận lợi và tài nguyên
khá phong phú. Nhưng sự thực đă không diễn ra
như vậy, v́ có bề ngoài nhưng cũng c̣n có bề
trong. Mà bề trong là ǵ?
Đó là các tập đoàn tướng lănh đă thay nhau
cầm quyền dưới một chế độ dân
chủ trong h́nh thức nhưng độc tài quân phiệt
trong nội dung. Lịch sử cận đại của
Thái Lan có thể tóm tắt như thế này: khi một nhóm
tướng lănh cảm thấy đủ sức mạnh,
họ đảo chính lật đổ đám tướng
lănh đang cầm quyền và nhóm tướng lănh bị
hất cẳng quay ra làm thương mại hoặc
cạo đầu đi tu chờ cơ hội trở
lại cầm quyền. Nhưng cuộc đảo chánh không
đổ máu kế tiếp nhau trước sự dửng
dưng thụ động của quần chúng. T́nh
trạng này đă chỉ thật sự chấm dứt
tháng 9- 1992, khi lập đoàn quân phiệt phải
nhượng bộ, sau khi đă đàn áp đẫm máu mà
không dẹp được, những cuộc xuống
đường rầm rộ đ̣i dân chủ. Chế
độ độc tài quân phiệt Thái Lan đă kéo dài
suốt sáu mươi năm bởi v́ nó dựa trên một
liên minh rất vững chắc giữa quân phiệt, tài
phiệt và nhà vua, nghĩa là một liên minh vừa có
bạo lực, vừa có tiền lại vừa có tính chính
đáng do lịch sử và truyền thống. Chưa
kể là nó c̣n có một đồng minh gián tiếp là
Phật Giáo Tiểu Thừa, một tôn giáo nhân nhục và
thụ động.
Nếu trường hợp Thái Lan có chứng minh
điều ǵ th́ đó là dân chủ không do phát triển kinh
tế mang lại. Trong suốt thời gian sáu mươi
năm, mặc dù mức độ tăng trưởng
không cao nhưng sinh hoạt kinh tế xă hội cũng
đă thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, cuộc
đấu tranh giành dân chủ đă chỉ do sinh viên
chủ động, mà sinh viên th́ không thuộc một thành
phần kinh tế nào, c̣n gia đ́nh họ th́ hầu
hết thuộc thành phần quân phiệt hoặc tài
phiệt, nghĩa là những thành phần được
ưu đăi và đáng lẽ phải gắn bó với
chế độ. Người ta không ghi nhận một
cuộc đấu tranh có động cơ kinh tế nào
trong suốt thời gian này. Các sinh viên đă chỉ
xuống đường v́ những lư tưởng tự
do, dân chủ, nhân duyên do ảnh hưởng của văn
hóa và truyền thông. Mọi cuộc biểu t́nh của sinh
viên đều bị đàn áp thẳng tay, mỗi lần
vài chục sinh viên thiệt mạng, trong khi những
cuộc đảo chánh quân sự rất ít khi có
người chết hay bị thương.
Mùa Xuân 1992, sau một cuộc bầu cử gian dối,
lực lượng sinh viên xuống đường đă
mạnh gấp bội nhưng lần trước, không
phải v́ cơ cấu kinh tế đă thay đổi mà v́
sự sụp đổ của bức tường Bá Linh
và khối cộng sản đă đẩy thế giới
vào kỷ nguyên dân chủ. Khí thế đấu tranh cho dân
chủ đạt một cường độ chưa
từng có, trong khi tập đoàn quân phiệt Thái vừa
lung lay như mọi tập đoàn độc tài trên
thế giới, vừa mất lư cớ cầm quyền để
chống nguy cơ cộng sản. Chế độ quân
phiệt Thái cáo chung. Về mặt kinh tế, Thái Lan đă
chỉ phát triển chậm chạp cho tới giữa thập
niên 1960, sau đó Thái Lan, nhờ vị trí hậu cần cho
đoàn quân Hoa Kỳ tại Việt nam, đă nhận
được một khoản viện trợ lớn và
kinh tế đă có phần khởi sắc, tuy vậy Thái
Lan cũng vẫn c̣n thua xa nước láng giềng Mă Lai.
Phải chờ đợi đến sau 1992 khi chế
độ quân phiệt chấm dứt, kinh tế Thái Lan
mới thực sự cất cánh. Từ đó trở
đi người ta mới bắt đầu nói tới
Thái Lan như con rồng mới. Cuộc khủng hoảng
tài chánh ập tới, đưa Thái Lan trở lại
với một tham vọng khiêm nhường hơn. Mùa hè
1998, đúng một năm sau cuộc khủng hoảng, tôi
có dịp trở lại thăm viếng Thái Lan và nhận
xét một cách rất khác với nhiều người. Tôi
thấy đó là một quốc gia dân chủ, với sinh
hoạt kinh tế đang được lành mạnh hóa và
một tâm lư kinh doanh rất rơ rệt. Trái với nhiều
người, tôi lạc quan cho Thái Lan sau này hơn là
trước mùa hè 1997.
Điều cần chú ư là Thái Lan đă phát triển mạnh
sau khi dân chủ hóa, và từ đó không c̣n những xung
đột đẫm máu như trước nữa.
Trường hợp Thái Lan như vậy cũng không
phải là một ngoại lệ của qui luật dân
chủ đi trước và kéo theo phát triển. Hơn
nữa nó c̣n bẻ găy một lư cớ quen thuộc của
các tập đoàn độc tài là dân chủ đưa
tới hỗn loạn. Chính dân chủ đă tránh cho Thái Lan
một thảm kịch. Thử tưởng tượng
cái ǵ sẽ xảy ra vào mùa hè năm 1997, khi một cách
rất đột ngột kinh tế gần như sụp
đổ hoàn toàn, nếu chế độ vẫn là
độc tài quân phiệt? Chắc chắn sẽ có
bạo loạn và đổ máu lớn.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Philíppin: sự bịp bợm của Marcos
Cho
đến năm 152 1, khi Magellan, một nhà mạo hiểm
người Tây Ban Nha đặt chân đến, Phi-líp-pin là
một quan đảo không tên không tuổi với hơn
7.000 đảo và hàng trăm bộ lạc nhỏ. Quốc
gia tân lập này đă hoàn toàn do người Tây Ban Nha tạo
dựng ra, tên của nó cũng được đặt
theo tên vị vua Tây Ban Nha đương thời. Như
thế Phi-líp-pin đă được Tây phương hóa
ngay từ thời thành lập. Trước đó không
hề có một dấu tích đáng kể nào của nền
văn minh châu á, dù là Phật Giáo, Khổng Giáo, Hồi Giáo
hay ấn Độ Giáo. Hiện nay tôn giáo chính của
Phi-líp-pin là Công Giáo, do người Tây Ban Nha mang tới,
với trên 60% dân chúng. Tuy là một quốc gia rất
mới, nhưng nhờ ảnh hưởng của văn
hóa phương Tây, Phi-líp-pin lại là một trong những
dân tộc có tinh thần quốc gia đầu tiên tại
châu á, trong khi Việt nam và Trung Quốc chỉ có tinh
thần trung quân. Các phong trào đ̣i độc lập đă
xuất hiện ngay từ thế kỷ 18 và
được nuôi dưỡng bởi những tư
tưởng của các nhà văn.
Năm 1896, một phong trào dân tộc được
ủng hộ rộng răi đă tuyên bố độc
lập. Hai năm sau Tây Ban Nha bối rối phải
nhượng bộ trước áp lực của Hoa Kỳ
sau khi bị đại bại trong một cuộc hải
chiến và đă chấp nhận bán lại toàn bộ
quần đảo Phi-líp-pin cho Hoa Kỳ với giá
tượng trưng 20 triệu USD. Hoa Kỳ không có
truyền thống thực dân và cũng không cần
đất đai mà chỉ t́m kiếm các đầu
cầu thương mại, nên đă lập tức
chuẩn bị trả độc lập cho quốc gia tân
lập này. Tuy vậy một nửa thế kỷ tiếp
xúc với Hoa Kỳ vẫn không lay chuyển
được ba thế kỷ rưỡi do Tây Ban Nha nhào
nặn. Nền văn minh phương Tây mà Phi-líp-pin
tiếp nhận vẫn là nền văn minh Tây Ban Nha
với những nhược điểm của nó:
thiếu tinh thần trách nhiệm và đối thoại,
tập tính giáo điều và ưa bạo lực. Có
thể nói Phi-líp-pin đă tiếp thu văn hóa phương
Tây ở dạng kém nhất. Tuy chỉ có một chế
độ dân chủ xô bồ, Phi-líp-pin vẫn tiếp
tục phát triển một cách tương đối
khả quan cần nhấn mạnh tĩnh từ
tương đối - từ ngày được
độc lập, năm 1946. T́nh h́nh Phi-líp-pin đă
xấu đi từ 1965 khi Ferdinand Marcos, với sự hỗ
trợ của giai cấp giàu có, đă đắc cử
tổng thống. Marcos đă khéo dùng mọi thủ
đoạn mị dân như tô vẽ thành tích chống
Nhật trong thế chiến II, tạo cho ḿnh h́nh ảnh
một anh hùng vơ nghệ cao cường, dũng
lược hơn người, có vợ từng là hoa
hậu, để thu hút quần chúng. Để kéo dài vô
hạn định thời gian tại chức thay v́ hai
nhiệm kỳ bốn năm như hiến pháp qui
định, Marcos ban hành lệnh giới nghiêm năm 1971,
rồi quân luật năm 1972. Những năm cuối trào
của Marcos đă là những năm cực kỳ đen
tối cho Phi-líp-pin: loạn quân Hồi Giáo, loạn quân cộng
sản, cướp bóc, đàn áp, thủ tiêu và biểu t́nh
bạo động v.v... trong một bối cảnh tham
nhũng cực kỳ trắng trợn; kinh tế Phi-líp-pin
hoàn toàn suy sụp và nợ nước ngoài chồng
chất. Hoa Kỳ và các định chế tiền tệ
quốc tế thấy không c̣n tiếp tục ủng
hộ Marcos được nữa, các áp lực càng ngày càng
tăng cao đ̣i Marcos từ chức, giới giàu có cũng
cảm thấy quyền lợi của họ không c̣n đi
đôi với chế độ Marcos nữa. Giọt
nước làm tràn ly là cuộc ám sát lănh tụ đối
lập Benigno Aquino trên cửa chiếc máy bay đưa ông
từ Mỹ về nước. Chống đối bùng lên
dữ đội, buộc Marcos phải chấp nhận
bầu cử lại quốc hội năm 1984 đúng
hạn kỳ hiến định. Đối lập dân
chủ tuy không giành được đa số nhưng
đă thắng lớn tại Manilla. Đây là tiếng chuông
báo hiểu ngày tàn của chế độ Marcos v́
trước đó, những cuộc đầu phiếu và
trưng cầu dân ư luôn luôn đem lại cho ông ta gần
như toàn bộ số ghế trong quốc hội và
những đa số 80%, 90%. Lúng túng trước áp lực
trong nước cũng như ngoài nước, Marcos
chơi bạo tổ chức bầu cử tổng
thống năm 1986 trước hạn định một
năm. Tính toán của Marcos là buộc đối lập
phải tranh cử vào lúc chưa kịp chuẩn bị.
Marcos đă có lư v́ quả nhiên ông ta đă thắng bà quả
phụ Cory Aquino trên 500.000 phiếu. Nhưng đối
lập dân chủ đă dựa vào hậu thuẫn của
trí thức và hỗ trợ quốc tế, nhất là
của Hoa Kỳ, đă tự tuyên bố bừa là
thắng cử và phủ nhận kết quả của
cuộc bầu cử mà họ cho là gian lận, dù sau này các
tài liệu chứng tỏ Marcos đă thực sự
thắng cử. Quân đội và giới tài phiệt
bỏ rơi Marcos, ông ta đào thoát khỏi Phi-líp-pin và
chết trong cảnh lưu vong.
Từ đó dân chủ được tái lập, sinh
hoạt chính trị và kinh tế dần dần trở
lại b́nh thường, ḥa b́nh cũng dần dần
được văn ḥi. Từ đó Phi-líp-pin tiến
những bước đều đặn và chắc
chắn trên đường phát triển với một
mức độ tăng trưởng rất khả quan,
và may mắn hơn, không bị tác động nặng
nề của cuộc khủng hoảng châu á mùa hè 1997.
Nhiều nhà b́nh luận bắt đầu nói tới
một phép mầu Phi-líp-pin. Những điều không may cho
người Phi-líp-pin là họ đă không biết rút kinh
nghiệm của bài học Marcos và vẫn duy tŕ chế
độ tổng thống, một chế độ
rất dễ đưa đến lạm quyền trong
những nền dân chủ non trẻ. Sau hai nhiệm kỳ
tổng thống b́nh thường, năm 1998 một tài
tử kịch ảnh là Joseph Estrada đắc cử
tổng thống và lợi dụng chức quyền
để tham nhũng và ăn chơi trác táng, gây nhiều
thiệt hại lớn về vật chất cũng
như tinh thần cho Phi-líp-pin. Tuy nhiên dân chủ đă
được thiết lập và người dân Phi-líp-pin
nhiều lắm cũng chỉ phải chịu đựng
viên tổng thống tồi này trong một nhiệm kỳ.
Nhưng ǵ đă xảy ra tại Phi-líp-pin chứng tỏ
rơ rệt hai điểm:
Một là, trái ngược hẳn với luận
điểm của Marcos, dân chủ đă không đem
lại hỗn loạn, nó đem lại ḥa b́nh và trật
tự. Trái lại, chính chế độ độc tài
đă đem đến hỗn loạn và suưt nữa
đẩy Phi-líp-pin xuống vực thẳm.
Hai là, dân chủ đă đem lại phát triển và một
lần nữa dân chủ đă đi trước phát
triển.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Inđonesia: sự ra đời vội vă của
một nước lớn
Nước
đuy nhất có thể coi là độc tài trong khối
ASEAN cho tới gần đây là Indonesia. Nhưng Indonesia
cũng là nước lạc hậu nhất trong sáu
nước thành viên kỳ cựu của khối ASEAN,
với lợi tức b́nh quân trên mỗi đầu
người là 800 USD mỗi năm. Cần lưu ư là con
số bi đát này dầu sao cũng cao gấp ba lần
lợi tức của người Việt nam.
Một nước độc tài quân phiệt rồi
bị nghèo khó lạc hậu th́ có ǵ đáng nói? Indonesia cùng
lắm chỉ chứng minh một chế độ
độc tài quân phiệt không đến nỗi tai hại
bằng một chế độ cộng sản như
tại Việt nam. Nếu có ǵ cần ghi chú, nhưng ngoài
khuôn khổ của cuộc thảo luận ngắn này mà
mục đích là t́m ra tương quan giữa dân chủ và
phát triển, th́ đó là thực ra chế độ quân
phiệt tại Indonesia không đến nỗi độc
tài như người ta tưởng.
Ngay trong thời gian bị Ḥa Lan đô hộ, các
đảng phái chính trị vẫn được phép thành
lập và hoạt động nhưng họ quá yếu
để có thể để dọa guồng máy cai
trị của Ḥa Lan. Sau thế chiến II, dưới
chế độ Sukamo, các chính đảng c̣n gặp
thời cơ thuận tiện hơn, đặc biệt
đảng cộng sản phát triển mạnh nhất.
Vào năm 1965, trước khi âm mưu đảo chánh
thất bại và bị tiêu diệt, đảng cộng
sản Indonesia đă có tới ba triệu đảng viên và
hai mươi triệu đoàn viên. Từ năm 1965 trở
đi quân đội khống chế chính trường Indonesia
nhưng cũng không cấm đoán các đảng
đối lập; báo chí vẫn c̣n được
hưởng một mực độ độc lập
tương đối.
Nhưng khó khăn của Indonesia thực ra là những khó
khăn của một quốc gia đang thành lập
một cách vội vă, dựa trên bạo lực và bất
chấp đồng thuận. Cho tới khi người Ḥa
Lan đến, vào thế kỷ 16, Indonesia hoàn toàn không có
đặc tính nào của một quốc gia, mà là cả
một thế giới phức tạp với khoảng
17.000 ḥn đảo lớn nhỏ, trải rộng 5.000 km
từ Đông sang Tây và 2.000 km từ Bắc xuống: Nam,
với hàng trăm sắc dân và thổ ngữ. Vô số
vương quốc không tên không tuổi được
thành lập rồi bị tiêu diệt. Một cuộc
kiểm kê không đầy đủ năm 1939 cho thấy
trên quần đảo Indonesia c̣n có 269 vương quốc
hoàn toàn độc lập với nhau. ánh sáng leo lét của
văn minh đă chỉ dừng lại tại hai ḥn
đảo Sumatra và Java; càng về phía Đông sự bán khai
càng gia tăng. Mặc dầu đă tiến bộ khá
nhiều nhờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài,
phần lớn các bộ lạc trên các đảo phía
Đông vẫn c̣n ở trong t́nh trạng tiền sử,
một số vẫn c̣n ăn thịt người,
chiến tranh giữa các bộ lạc không cần một
lư do nào cả v́ là một tập quán. Việc thành lập
nước Indonesia với lănh thổ hiện nay trên
thực tế chỉ là trao cho đảo Java trách nhiệm
khai hóa các đảo miền Đông: Borneo, Irian Jaya, Sulawesi,
v.v..., một trách nhiệm hoàn toàn vượt quá khả
năng của đảo Java nghèo nàn và lạc hậu. Hoa
Kỳ đă phản đối việc thành lập này và
đều có lư. Đáng lẽ đă phải đặt các
đảo này dưới quyền sở hữu của
Liên Hiệp Quốc và sau đó Liên Hiệp Quốc ủy
nhiệm cho các quốc gia tiên tiến và giàu mạnh khai phá.
Với sự thành lập duy ư chí như vậy, đảo
Java không có cách ǵ để giữ sự gắn bó giữa
các đảo ngoại trừ quân lực, cho nên việc
quân đội nắm chính quyền có thể coi như cái
giá mà Indonesia đă phải trả cho tham vọng thành
lập nhanh chóng một nước lớn. Điều
đáng lưu ư là quân đội Indonesia do người Ḥa
Lan thành lập ra và chịu ảnh hưởng của tinh
thần Ḥa Lan, một tinh thần không quân phiệt chút nào,
do đó quân đội Indonesia rất hợp hiến,
họ không trực tiếp nắm chính quyền mà luôn
đứng sau một chính quyền dân sự. Quân
đội cũng tôn trọng chính quyền dân sự
đó, chỉ can thiệp trong những trường
hợp đặc biệt nghiêm trọng. Hậu quả là
vẫn có một mức độ tự do dân chủ
tương đối và quân đội một phần nào
đó c̣n xuất hiện như một bảo đảm
cho dân chủ trước những tham vọng chuyên chính
của đảng cộng sản và của các lực
lượng Hồi Giáo sau đó.
Nếu muốn nhận diện tương quan giữa dân
chủ và phát triển th́ có lẽ nên nh́n vào sự thay
đổi nhanh chóng của đảo Java, trung tâm quyền
lực của Indonesia. Nhờ một sinh hoạt ít
nhiều dân chủ, ḥn đảo bán khai này đă tới
một mức độ phát triển khả quan, cao hơn
cả Trung Quốc, một nước đi trước
họ cả ngàn năm với tài nguyên và nhân lực hơn
hẳn. Nếu không mang gánh nặng khai phá các đảo
phía Đông chắc chắn đảo Java c̣n mở mang
hơn nhiều. Indonesia, mặc dầu khởi hành rất
sau Trung Quốc với những điều kiện khó
khăn hơn nhiều, đă phát triển hơn Trung
Quốc v́ đă mở cửa tiếp nhận các giá
trị tự do và dân chủ trong khi Trung Quốc đă
chỉ chọn một thứ chế độ Khổng
Giáo hiện đại hóa, nghĩa là cộng sản.
Tháng 5-1998, chế độ độc tài quân phiệt
Suharto sụp đổ sau gần một năm chao
đảo v́ cuộc khủng hoảng tài chính châu á.
Một năm sau, một cuộc tổng tuyển cử
đă đem lại thắng lợi cho các lực
lượng đối lập dân chủ. Cuộc
chuyển hóa về dân chủ của Indonesia sẽ không
dễ đàng bởi v́ t́nh h́nh Indonesia quá phức tạp và
v́ chính các lực lượng dân chủ cũng chưa
đủ trưởng thành. Nhưng dù gặp khó khăn thế
nào đi nữa, Indonesia cùng đă khá hơn trước và
chắc chắn sẽ vươn lên, trừ trường
hợp các thế lực quân phiệt một lần
nữa phản công bẻ găy tiến tŕnh dân chủ hóa.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Đài Loan: từ một chiến khu tới
một quốc gia
Trường
hợp duy nhất tại châu á có vẻ như chứng minh
rằng có thể phát triển mà không cần dân chủ là
Đài Loan. Càn nhấn mạnh là có vẻ v́ đó chỉ là
một cái nh́n phiến diện. Quả thực từ
năm 1949, khi đám tàn quân của Tưởng Giới
Thạch chạy ra đảo Đài Loan và thiết lập
tại đó một quốc gia ly khai với Hoa Lục,
Đài Loan đă chỉ có nhưng chính quyền xuất phát
từ Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Hai cha con Tưởng
Giới Thạch và Tưởng Kinh Quốc kế tiếp
nhau làm tổng thống trong gần bốn mươi
năm cho tới năm 1988. Quân luật được thi
hành cho tới 1987. Mặc dầu vậy, kinh tế Đài
Loan vẫn tiếp tục phát triển một cách mạnh
mẽ và hiện nay Đài Loan đă trở thành một
nước dân chủ với một sức sống
gần tương đương với Tây Âu, với
một nền kinh tế lành mạnh hơn hẳn:
thất nghiệp hầu như không có, dự trữ
ngoại tệ tính trên mỗi đầu người cao
hơn hẳn mọi quốc gia trên thế giới.
Trường hợp Đài Loan đă được
một số người viện dẫn để
bảo vệ lập trường cho rằng có thể
bỏ qua dân chủ, tập trung mọi sức lực xây
dựng kinh tế rồi phát triển kinh tế sẽ
đem đến dân chủ. Sự thực như thế
nào?
Đảo Đài Loan cho tới thế kỷ thứ VIII
gần như hoang vu, với một số ít thổ dân
gốc Mă Lai (điều này cho thấy các sắc dân
gốc Mă Lai từ ngàn xưa đă trải rộng
khắp Đông á). Dần dần người di dân từ
hai tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến đă khiến
người gốc Hoa trở thành đa số, nhưng
những người gốc Hoa này coi họ là người
Đài Loan hơn là người Trung Hoa. Từ cuối
thế kỷ 15 đảo này đă bị người Tây
Ban Nha, rồi Ḥa lan chiếm đóng và khai thác. Giữa
thế kỷ 17, sau những đợt di dân lớn từ
Hoa Lục, Đài Loan trở thành một vương
quốc độc lập, rồi bị nhà Thanh chinh
phục và sáp nhập thành một tỉnh của Trung
Quốc. Năm 1895, nhà Thanh thua trận phải
nhường đảo này cho Nhật. Lưu Vĩnh Phúc,
viên chủ tướng tài ba của quân Cờ Đen
từng tận lực giúp Việt nam chống Pháp, đă
cùng với tổng đốc Đài Loan Dương Tinh
Tùng tuyên bố thành lập nước Cộng Ḥa Đài
Loan. Nước cộng ḥa đầu tiên lại châu á này
đă bị quân Nhật đánh bật khỏi Đài
Bắc trong ṿng một tuần lễ, dù Lưu Vĩnh Phúc
vẫn c̣n kháng cự tại miền Nam gần mười
năm nữa. Sau thế chiến II, Đài Loan, với
khoảng 10 triệu dân, được trao trả lại
cho Trung Quốc. Bước ngoặt lớn của Đài
Loan xảy ra năm 1949 khi Tưởng Giới Thạch
bỏ lục địa đem gần hai triệu
người gồm gia đ́nh, đảng viên và quân
đội Quốc Dân Đảng sang đây. Trong những
thập niên đầu Đài Loan không phải là một
quốc gia mà là một chiến khu. Lực lượng
Quốc Dân Đảng di tản sang đây tự coi là
một chính phủ Hoa Lục di tản, với đầy
đủ quốc hội, chính phủ và quân đội;
họ ván tiếp tục tự nhận là chính quyền của
toàn thể Trung Quốc và chỉ coi Đài Loan là một
tỉnh. Qui chế chiến khu là một thực tế.
Chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra tại eo biển,
cạnh các ḥn đảo Kim Môn, Mă Tổ, Trần Thành: Bên
ngoài th́ Hạm đội 7 của Mỹ túc trực.
Cần hiểu rơ t́nh trạng này khi nhận định
về vấn đề dân chủ tại Đài Loan. Dân
chủ là một phương thức sinh hoạt quốc
gia cho phép đạt tới một đồng thụân
được chấp nhận giữa các khuynh
hướng khác nhau dù không thỏa măn mọi người.
Nhưng tại Đài Loan vấn đề đồng
thuận không đặt ra. Những người Quốc
Dân Đảng sang đây hoàn toàn đồng ư với nhau
trên hầu như tất cả và rất đoàn kết
trong một mục tiêu chung là chống lại Hoa Lục,
dưới sự lănh đạo của Tưởng
Giới Thạch mà họ coi là một lănh tụ anh minh.
Vấn đề dân chủ thực sự chỉ
đặt ra vài thập niên sau đó, khi những
người bản địa Đài Loan đă tiến lên
về kinh tế và văn hóa, và đ̣i hỏi tổ
chức Đài Loan như một quốc gia. Trong những
thập niên đầu, đoàn người di tản
từ Hoa Lục sang hơn hẳn dân bản địa
về mọi mặt. Họ là tập hợp tinh nhuệ
nhất của Trung Quốc, đồng thời họ
cũng mang theo những tài sản rất lớn. Có thể
nói vào năm 1949 đại bộ phận chất xám và
tư bản Trung Quốc đă tản cư qua Đài Loan
làm sinh hoạt kinh tế và mức sống Đài Loan gia
tăng mau chóng, cải thiện một cách ngoạn mục
mức sống của những người bản địa
Đài Loan. Đối lập với Quốc Dân
Đảng trên đảo Đài Loan cũng không có v́ các
thành phần cộng sản đă bị tiêu diệt hoàn toàn
một năm trước cuộc di tản, vào năm 1948,
khi các cuộc bạo động xuống đường
bị đàn áp trong một biển máu, với hơn
mười ngàn người bị hành quyết trong vài ngày,
phần đông là đảng viên cộng sản.
Sự sáng suốt của chính quyền Quốc Dân
Đảng là đă hiểu ngay rằng họ sẽ
phải biến Đài Loan thành một quốc gia thật
sự. Họ đă nỗ lực nâng cao mức sống và
tŕnh độ văn hóa người địa phương,
mà đại đa số có gốc Trung Hoa, để
hội nhập người địa phương vào sinh
hoạt chính trị. Mức sống và tŕnh độ
văn hóa càng tiến triển họ càng nới rộng
tự do và dân chủ, và luôn luôn đi trước yêu
cầu. Trường hợp Đài Loan về thực
chất là một cố gắng xây dựng một quốc
gia và một chế độ dân chủ từ một
chiến khu. Điều mà thế giới đang chứng
kiến là sự ra đời của một quốc gia
thật sự tại Đài Loan.
Thất bại mau chóng của Quốc Dân Đảng
tại Hoa Lục cũng như hào quang của chế
độ cộng sản và lănh tụ Mao Trạch Đông
sau đó đă khiến dư luận thế giới
miệt thị tập đoàn Tưởng Giới
Thạch như một tập đoàn bất lực và tham
nhũng, nhưng ngày nay chúng ta đă có bước lùi
cần thiết để nh́n lại lịch sử
cận đại Trung Quốc. Tưởng Giới
Thạch và bộ tham mưu của ông không tồi dở
như người ta tưởng. Chính di sản Trung
Quốc do nhà Thanh để lại mới là tồi tàn.
Kinh tế lụn bại, đất nước phân tán
dưới những sứ quân tham tàn và xâu xé nhau.
Tưởng Giới Thạch đă phải có bản lănh
lắm mới thống nhất được Trung
Quốc, nhưng ông đă thất bại trước Mao
Trạch Đông v́ thử thách mà chính quyền của ông
tự đặt cho ḿnh quá lớn: đó là xây dựng
một Trung Quốc theo mô h́nh dân chủ phương Tây,
điều mà người Trung Quốc không hiểu và do
đó không chia sẻ. Cuộc tương tranh quốc -
cộng tại Trung Quốc cũng như tại Việt
nam chủ yếu là một cuộc xung đột giữa
hai mô h́nh xă hội được đề nghị
để thay thế ư thức hệ Nho Giáo đă lỗi
thời và sụp đổ. Một bên là mô h́nh dân chủ
kiểu phương Tây và một bên là mô h́nh cộng
sản. Về bản chất, chủ nghĩa cộng
sản là một thứ Khổng Giáo cải tiến khá
gần gũi với xă hội Nho Giáo: cũng đặt
nền tảng trên một chủ nghĩa nửa chính
trị nửa tôn giáo, cũng giáo điều độc
tôn, cũng tập trung tuyệt đối, cũng
khống chế tư tưởng, cũng bóp nghẹt xă
hội dân sự và đè bẹp cá nhân, cũng cấm
đoán thương mại và sự giàu có, nhưng quan tâm
tới quần chúng hơn và có tổ chức tinh vi hơn.
Chính v́ thế mà chủ nghĩa cộng sản dễ
hiểu đối với người dân các nước
thuộc văn hóa Khổng Giáo và đă được
ủng hộ. Ngược lại mô h́nh dân chủ
phương Tây đ̣i hỏi một đoạn tuyệt
văn hóa quá lớn nên đă không được
hưởng ứng. Tưởng Giới Thạch đă
thua v́ xă hội Trung Hoa sau hơn hai ngàn năm Nho Giáo
chưa chín muồi cho thay đổi, chứ không phải
v́ ông ta kém Mao Trạch Đông. Giờ này chắc không c̣n ai
ngờ vực là nếu Tưởng Giới Thạch
thắng, thay v́ Mao Trạch Đông, th́ Trung Quốc đă
khá hơn rất nhiều so với hiện nay.
Không thực hiện được cuộc canh tân theo mô
h́nh phương Tây trên đất nước Trung Quốc
bao la và phân ră, phe Quốc Dân Đảng đă thực
hiện nó trên khuôn khổ hạn hẹp của Đài Loan
và họ đă thành công. Điều cần chú ư là tại
Đài Loan chính quyền Quốc Dân Đảng đă luôn
luôn chủ động, nới rộng tự do một
bước trước khi những thay đổi về
kinh tế xă hội đ̣i hỏi. Chính v́ vậy mà Đài
Loan đă ổn vững và liên tục tiến lên. Ngay
từ 1969, chính quyền Quốc Dân Đảng đă
tổ chức những cuộc bầu cử bổ túc các
dân biểu địa phương vào quốc hội, các
quyền tự do phát biểu và hội họp đă
được thừa nhận. Năm 1986, các chính
đảng được phép thành lập và tranh cử.
Năm 1987, quân luật được băi bỏ hẳn.
Từ 1991 mọi đạo luật của thời kỳ
quân luật đều được băi bỏ, Đài Loan
trở thành một nước dân chủ thật sự, và
cũng là nước dân chủ nhất châu á, ngoại
trừ Nhật Bản. Đa số những cấp lănh
đạo tối cao của Đài Loan hiện nay là
người địa phương. Sự thành công của
Quốc Dân Đảng chính là ở chỗ họ đă
biết thăng tiến người địa
phương và sau đó tự hội nhập vào với
người địa phương. Trong cuộc bầu
cử quốc hội hoàn toàn tự do và lương
thiện năm 1998 họ đă thắng lớn. Họ
đă thất bại trong cuộc bầu cử tổng
thống năm 2000 v́ chia rẽ chứ không phải v́ không
được cử tri tín nhiệm.
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế châu á bắt
đầu từ mùa hè 1997, Đài Loan đă là nước
ít bị thiệt hại nhất, bởi v́ nó là quốc gia
dân chủ và lành mạnh nhất trong những nước
vừa vươn lên.
Không, Đài Loan không phải là một ngoại lệ
của qui luật dân chủ đi trước và tạo ra
phát triển. Đó chỉ là quốc gia ra đời trong
một trường hợp đặc biệt.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Châu Mỹ La Tinh: một thế kỷ rưỡi
trong bóng đêm
Ṿng
du lịch vội vă một số nước châu á trên
đây đă chứng minh, nếu cần phải lặp
lại một lần nữa, là dân chủ, tự do và nhân
quyền không hề đưa đến hỗn loạn mà
trái lại c̣n đem tới ḥa b́nh và ổn vững, không
hề cản trở mà c̣n tạo ra và thúc đẩy phát
triển kinh tế. V́ vấn đề chủ yếu
của chúng ta là nhận diện liên hệ mật thiết
giữa dân chủ và phát triển nên có lẽ chúng ta sẽ
c̣n thiếu sót nếu không nh́n qua, dù chỉ là một cách
sơ lược các nước châu Mỹ La Tinh.
Các quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên này đă được
độc lập từ đầu thế kỷ 19,
nghĩa là gần hai thế kỷ nay, nhưng trong hơn
một thế kỷ rưỡi đă quằn quại
trong nghèo khó và bạo loạn. V́ sao? Đó là v́ ngay từ
khi được độc lập, họ đă phải
chịu dựng những chế độ độc tài
với những người hùng oai phong lẫm liệt, tài
ba xuất sắc, ngự trị trong hàng mấy chục
năm. Người hùng nào cuối cùng cũng đă có công
lớn là làm cho đất nước kiệt quệ và
phân ră. Các nước châu Mỹ La Tinh đă chỉ
vươn lên bắt đầu từ thập niên 1980 khi
dứt khoát chuyển hóa về dân chủ. Một lần
nữa qui luật dân chủ đi trước và tạo ra
phát triển được ứng nghiệm.
Một ngoại lệ: nước Chile. Nhưng đây
không phải là ngoại lệ của qui luật dân chủ
đi trước và tạo ra phát triển mà lại là
ngoại lệ của châu Mỹ La Tinh. Chile đă là
nước châu Mỹ La Tinh duy nhất chọn con
đường dân chủ rất sớm. Và, trùng hợp
làm sao, Chile cũng là nước phát triển hơn hẳn
mọi nước châu Mỹ La Tinh khác. Trong cuộc
lược duyệt này chúng ta đă bỏ qua bốn
nước châu á: Miến Điện, Lào, Kampuchea và
Việt nam. Có ǵ cần nhận định về
trường hợp bốn nước này? Có, và có hai
điều mà không ai có thể chối căi: một là cả
bốn nước này đều đă phải chịu
đựng từ lâu các chế độ độc tài
đồng thời cả bốn đều là những
nước nghèo khó và tụt hậu nhất trong vùng; hai là,
cả bốn nước đều đa đạt
được một số tiến bộ trong nhưng
năm gần đây sau khi đă chấp nhận nới
rộng một phần nào tự do.
Chú thích thêm về trường hợp Chile
Vào lúc tôi đang viết những ḍng này, thế giới
đang sôi nổi v́ cựu tổng thống Chile Augusto
Pinochet bị giữ lại tại Anh và có thể bị
dẫn độ sang Tây Ban Nha để bị xét xử
về tội ác đối với loài người. Các
thủ tục kéo dài và sau cùng Pinochet được phép
về nước v́ đă già yếu.
Chế độ Pinochet khiến người ta dễ
đồng hóa Chile với chế độ độc tài.
Thực ra Pinochet chỉ là một ngoặc đơn
ngắn trong lịch sử Chile. Chile đă có một
chế độ dân chủ lưỡng đảng ngay
từ năm 1823. Sau đó thỉnh thoảng vẫn có
những người hùng thiết lập những chế
độ độc tài nhưng dân chủ vẩn
được mau chóng văn hồi. Chile cũng là một
nước có hiến pháp ổn định. Hiến pháp
năm 1823 được áp dụng tới 1925, và sau 1925
một hiến pháp dân chủ khác được ban hành và
kéo dài tới 1973. Năm 1969, một người cộng
sản, ông Salvađor Allenđe, đắc cử tổng
thống một cách khó khăn. Bản tính cực đoan và
nóng nảy, Salvador Allende đă muốn mau chóng biến Chile
thành một nước cộng sản và tỏ ra chống
Mỹ kịch liệt. Trong một thời gian ngắn,
kinh tế Chile hoàn toàn suy sụp, các công ty ngoại quốc
rút ra hoặc chuẩn bị rút ra. Bất măn tăng cao, dân
chúng xuống đường biểu t́nh phản
đối liên tục. Allende c̣n làm một phiêu lưu nguy
hiểm khác là thành lập các đoàn vơ trang riêng của ḿnh.
Cơ quan ĺnh báo Mỹ, CIA, một mặt ráo riết thúc
đẩy chính phủ Mỹ và các công ty Mỹ tẩy chay
Chile, mặt khác xúi giục quân đội và các đảng
cánh hữu lật đổ Allende. Năm 1973, quốc
hội Chile, định chế đă chung quyết bầu
ra Allende sau khi cuộc bầu cử tổng thống qua phổ
thông đầu phiếu không đem lại kết quả
ngă ngũ biểu quyết coi Allende không c̣n là tổng
thống hợp pháp nữa. Quân đội, dưới
quyền tướng Pinochet, coi quyết định này
như một lệnh truất phế và tiến đánh
dinh tổng thống, Allende bị giết chết. Về
mặt thuần túy pháp lư, cuộc đảo chánh của
Pinochet không phải hoàn toàn phi pháp. Pinochet chỉ trở
thành bất hợp pháp sau khi ông ta nắm được
chính quyền, giải tán quốc hội và thi hành chính sách
khủng bố. Pinochet đă lănh đạo Chile với bàn
tay sắt, đàn áp thô bạo các phần tử cộng
sản và thân cộng, thủ tiêu hơn 3.000 người.
Nhưng chính Pinochet cũng chuẩn bị để văn
hồi dần dần dân chủ. Năm 1988, sau một
cuộc trưng cầu dân ư trong đó ông thất bại,
Pinochet nhường quyền cho một chính quyền dân
sự, nhưng vẫn giữ quân đội và đă chỉ
chấp nhận từ bỏ quân đội sau khi đă
đ̣i được làm thượng nghị sĩ
suốt đời để hưởng qui chế
bất khả xâm phạm.
Chế độ độc tài của Pinochet kéo dài
tổng cộng 17 năm, tuy nhiên trong mười năm
về sau các đảng không cộng sản vẫn
được tự do hoạt động. Trong lịch
sử gần hai trăm năm của nền dân chủ
Chile khoảng thời gian độc tài của Pinochet
tương đối ngắn. Việc Pinochet bị dư
luận thế giới và đa số nhân dân Chile lên án là
bằng chứng rằng nhân loại đă văn minh
hơn. Nếu cứu cánh có thể biện minh cho
phương tiện th́ chắc chắn Pinochet không thể
bị lên án. Ông ta đă sử dụng những biện pháp
bạo ngược nhưng đă đạt
được cứu cánh tốt đẹp là ngăn
chặn âm mưu thiết lập một chế dộ
chuyên chính, ổn định được xă hội, phát
triển được đất nước và sau cùng xây
dựng được dân chủ. Nhưng ngày nay dân
chủ đă đủ trưởng thành để kết
án cả những kẻ đă phục vụ nó bằng
nhưng biện pháp thô bạo. Những tập đoàn
độc tài không bằng Pinochet, nghĩa là không những
đă thô bạo mà c̣n làm cho đất nước kiệt
quệ đi, càng đáng bị lên án một cách quả quyết
hơn.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Những lập luận phản bác?
Các
chế độ độc tài không phải chỉ đă
viện dẫn những thí dụ cụ thể để
lập luận rằng dân chủ không có lợi cho cố
gắng phát triển. Họ cũng đă điều
động những học giả, kể cả những
học giả có tên tuổi, để xây dựng cả
một học thuyết. Trong hầu hết mọi
trường hợp uy tín của các học giả này chính
là nhờ họ đă được các chế độ
độc tài đề cao. Tuy vậy, cũng có những
học giả vô tư, thực sự tin rằng dân
chủ mâu thuẫn với phát triển. Trong một
phần sau tôi sẽ tŕnh bày lư do tại sao những
người rất uyên thâm và xuất sắc cũng có
thể sai lầm lớn trên những vấn đề thực
ra khá giản dị.
Lư thuyết về mâu thuẫn giữa dân chủ và phát
triển có lúc đă rất thời thượng,
đến nỗi phần đông các học giả bênh
vực dân chủ cũng chỉ dám biện hộ rằng
dân chủ không có hại ǵ cho phát triển. Tôi xin tóm tắt
sau đây toàn bộ những lập luận của phe
chủ trương dân chủ không có lợi cho phát
triển. Công việc này đă làm mất khá nhiều
thời giờ, nhưng đó là việc phải làm
để giải quyết một lần cho tất cả
những lấn cấn về quan hệ giữa dân chủ
và phát triển. Nói một cách tổng quát, phe phản bác dân
chủ đưa ra ba lập luận cùng với những
nghiên cứu thống kê về các nước đang phát
triển.
Lập luận thứ nhất là các chính quyền dân
chủ, v́ lệ thuộc vào lá phiếu của cử tri,
không dám thực hiện chính sách thắt lưng buộc
bụng để áp đặt tiết kiệm dùng cho
đầu tư. Làm như thế họ sẽ bị
cử tri trừng phạt trong lần bầu cử
tới. Các chính quyền dân chủ v́ vậy bắt
buộc phải, một mặt, dành một phần lớn
ngân sách cho các vấn đề xă hội thay v́ tập trung
tài nguyên cho phát triển và, mặt khác, nâng đỡ các
kỹ nghệ tiêu dùng thay v́ đặt ưu tiên vào
những kỹ nghệ nền tảng cho phát triển
(đây là một điệp khúc của lư thuyết
những kỳ nghệ kỳ nghệ hóa).
Lập luận thứ hai là thế giới cạnh tranh gay
gắt hiện nay (hiện nay ở đây có nghĩa là các
thập niên 1960 và 1970 và những năm đầu của
thập niên 1980) khác xa bối cảnh của các thế
kỷ trước khi những quốc gia Tây Âu đầu
tiên đă vươn lên. Phát triển ngày càng trở nên
phức tạp. Nhà nước do đó sẽ phải can
thiệp một cách thường xuyên và tích cực
để chỉ huy cố gắng phát triển. V́ vậy
nhà nước cần phải nắm thật nhiều
quyền lực, nếu cần phải độc tài.
Nhiều học giả c̣n bổ túc thêm bằng một
lập luận khác: giai đoạn độc tài chỉ là
một giai đoạn chuyển tiếp có mục đích
tạp trung mọi cố gắng xây dựng quốc gia và
phát triển kinh tế, sau đó dân chủ sẽ đến
một cách tự nhiên. Các vị này không nói rơ giai
đoạn quá độ này có thể kéo dài bao lâu, cũng
như h́nh thức dân chủ nào sẽ đến sau đó
và đến như thế nào.
Lập luận thứ ba là một lập luận thuần
túy chính trị. Nó có thể tóm lược như sau: các
nước chưa mở mang cũng là những
nước mà các định chế chính trị (luật
pháp, chính phủ, quốc hội, các ṭa án, v v.) c̣n mới và
yếu; một chế độ dân chủ trong bối
cảnh này sẽ đặt các định chế chính
trị dưới áp lực quá mạnh của các đ̣i
hỏi mâu thuẫn từ xă hội dân sự (tôn giáo,
địa phương, nghiệp đoàn, hội đoàn)
Do đó các nước chưa mở mang cần một
chính quyền thật mạnh, nghĩa là độc tài,
để bảo đảm sự ổn vững cần
thiết cho phát triển.
Các tác phẩm và bài viết của trường phái
chống dân chủ nhân danh phát triển rất dồi dào
về số lượng trong suốt ba thập niên 1960,
1970 và 1980. Thuần túy lư thuyết cũng có, phối
hợp lư luận với quan sát cụ thể cũng có. Khó
có thể thống kê được số tấn giấy
đă được dùng cho việc in ấn, nhưng
tất cả đều chỉ xoay quanh ba lập luận
trên đây.
Song song với cuộc tranh luận lư thuyết, nhiều
học giả đă thực hiện những công tŕnh
khảo sát rất công phu trên nhiều quốc gia. Robert March
công bố năm 1979 một thống kê về phát triển
trên 98 nước trong thời gian 15 năm, từ 1955
đến 1970. Dirk Berg Schlosser công bố năm 1984 một
công tŕnh khảo cứu về các nước châu Phi; Dwight
Kinh khảo sát sáu nước châu á trong thập niên 1970;
Yousseff Cohen khảo sát một số nước châu Mỹ
La Tinh trong cùng thời kỳ; G. William Dick khảo sát các
kết quả thống kê của 72 quốc gia trong thời
gian từ 1959 đến 1968. Đó là chỉ kể một
vài trong số rất nhiều công tŕnh khảo sát qui mô. Các
nghiên cứu về từng quốc gia một th́ không
thể đếm nổi bởi v́ các chế độ
độc tài tuy chủ trương thắl lưng
buộc bụng đối với quần chúng dưới
quyền cai trị của họ, nhưng lại rất
rộng răi đối với những công tŕnh nghiên cứu
có tác dụng đề cao họ. Bên cạnh những nghiên
cứu theo đơn đặt hàng, hoặc theo mệnh
lệnh, cũng có những nhà nghiên cứu đứng
đắn thực sự muốn t́m ra trong kinh nghiệm
cụ thể một liên hệ giữa dân chủ và phát
triển.
Một trong những khảo sát cụ thể (case study) hay
được viện dẫn nhất để chứng
minh dân chủ không có lợi cho phát triển, hay nói một
cách khác độc tài có lợi cho phát triển, là khảo
sát so sánh giữa ấn Độ và Trung Quốc, hai
quốc gia đông dân nhất thế giới và đă
chọn hai con đường khác hẳn nhau từ một
nửa thế kỷ nay. ấn Độ đa trở
thành một nước dân chủ từ 1947 trong khi,
ngược lại, Trung Quốc đă chọn chế
độ cộng sản chuyên chính từ 1949. Theo mọi
khảo sát nước Trung Hoa độc tài đă thắng
nước ấn Độ dân chủ trên tất cả
mọi địa hạt kinh té, dù là công nghiệp hay nông
nghiệp, chứng minh một cách hùng ḥn sự hơn
hẳn về mặt kinh tế của một chế
độ độc tài so với một chế độ
dân chủ.
Tất cả những lư luận và khảo sát cụ
thể đó đă cho phép một số người dơng
dạc khẳng định: dân chủ hay phát triển
giữa hai cái đó phải chọn một.
Tới đây, chúng ta có thể bắt đầu khảo
sát các lư luận phản bác dân chủ. Trước hết
là một vài nhận xét tổng quát:
- Các lập luận này đều dựa trên một
định để được coi là một sự
thực hiển nhiên không cần chứng minh là sự can
thiệp mạnh của các chính quyền vào sinh hoạt kinh
tế là một điều phải làm và nên làm. Sự
hiền nhiên này hiện nay không c̣n hiển nhiên chút nào. Cùng
lắm vai tṛ của nhà nước trong hoạt
động kinh tế là một đề tài thảo
luận; đối với đa số các nhà nghiên cứu
nhà nước càng ít can thiệp càng hay.
Các lập luận này nh́n phát triển kinh tế như
một vấn đề thuần túy kỹ thuật, có
thể giải quyết bằng những chương tŕnh
và kế hoạch. Các yếu tố tâm lư và văn hóa hoàn
toàn vắng mặt. Tệ nạn tham nhũng cũng không
được kể đến. Các học giả không coi
tham nhũng là yếu tố quan trọng, hoặc coi nó là
một tệ nạn nẩy nở và tác hại như nhau
trong mọi chế độ chính trị. Ngày nay cách nh́n này
đă bị bác bỏ. Kinh nghiệm đă đưa các nhà
quan sát đến một đồng thuận: phát triển
không phải là một vấn đề kỹ thuật mà
chủ yếu là một vấn đề tâm lư và văn
hóa. Mặt khác cũng không c̣n ai phủ nhận quan hệ
giữa chế độ chính trị và mức độ
tham nhũng. Các lập luận này đầu coi là phát
triển đồng nghĩa với phát triển công
nghiệp. Dịch vụ và thương mại hầu
như không đóng vai tṛ nào hay chỉ có vai tṛ rất
thứ yếu. Quan điểm này ngày nay đă trở thành
hoàn toàn lạc hậu, sau khi đă bị thực tế
phản bác một cách phũ phàng.
Chính v́ dựa trên những tiền đề đă bị
bác bỏ mà ngày nay các lập luận này không c̣n
được nhắc tới nữa và các lư thuyết gia
một thời vang bóng bênh vực chúng cũng đă ch́m vào
quên lăng. Tuy vậy một lần cho tất cả, chúng ta
hăy phân tích những lư luận này, bởi v́ điều
đáng tiếc là trí thức Việt nam chúng ta đầu
tư rất ít vào tư tưởng, do đó những
điều có thể rất cũ vẫn c̣n là mới
với nhiều người Việt, kể cả một
số chuyên gia kinh tế.
Lập luận thứ nhất (các chính quyền dân chủ
thường phải đặt quá nặng các vấn
đề nhân sinh và hy sinh những đầu tư cơ
bản có tác dụng đẩy mạnh phát triển)
chắc chắn phải khiến độc giả có
cảm giác ngờ ngợ như đă gặp ở đâu
rồi. Quả đúng như vậy, đằng sau
lập luận này là lư thuyết về các kỹ nghệ
kỹ nghệ hóa đă làm phá sản nhiều quốc gia,
thí dụ như Algeria. Trong một dịp trước chúng
ta đă đề cập đến lư thuyết này.
Nếu quả thực các chính quyền dân chủ
đầu tư nhiều cho sức khỏe và giáo dục,
chú trọng thỏa măn những đ̣i hỏi cấp bách
của dân chúng và đặt trọng tâm vào các kỹ
nghệ tiêu dùng th́ hay biết bao. Sau bao nhiêu năm bị
lôi cuốn vào những lư luận cao siêu về phát
triển, các quốc gia đă khám phá ra rằng đầu
tư vào giáo dục và sức khỏe là đầu tư có
hiệu năng kinh tế cao nhất. Tiêu thụ, và
đặc biệt là tiêu thụ trong thị trường
nội địa, cũng đă được nh́n
nhận như yếu tố cốt lơi của hoạt
động kinh tế. Đầu tư vào kỹ nghệ
tiêu dùng, trước hết là những kỹ nghệ
sản xuất nhu yếu phẩm, cũng là đầu
tư có tác dụng kích thích kinh tế lớn nhất.
Ngược lại, đầu tư vào những kỹ
nghệ nặng sản xuất hàng trăm ngàn tấn thép
mà các kỹ nghệ tiêu dùng chưa đ̣i hỏi chỉ là
phí phạm. Cũng thế, xây dựng những hạ
tầng cơ sở chưa thực sự cần thiết
cũng là một phí phạm khác, phí phạm trong phí tổn
xây dựng, phí phạm liên tục trong phí tổn bảo
tŕ, rồi cuối cùng cũng vẫn hư hỏng v́ không
được sư dụng. Nền tảng của kinh
tế thị trường mà ngày nay không c̣n nước nào
chối căi vẫn là... thị trường. Phải
sản xuất những ǵ thị trường chờ
đợi. Có thể tiên liệu những nhu cầu
của thị trường cho năm năm hay mười
năm sáp tới, hay xa hơn nữa nếu có thể,
nhưng không thể bắt thị trường phải
tiêu thụ nhưng sản phẩm mà nó không cần, nếu
không muốn bị đánh thức khỏi giấc mơ
duy ư chí một cách tàn nhẫn.
Trên thực tế, điều đáng tiếc là các chế
độ dân chủ đă không hành động như các lư
thuyết gia phê phán. Trong phần lớn các nước dân
chủ, giới chủ nhân thường hay dựa vào
nhưng kẽ hở của luật pháp và thể yếu
của giới công nhân, nhất là tại những
nước có tỷ lệ thất nghiệp cao, để
giữ lương bổng ở mức độ
thấp. Họ chèn ép công nhân trong mục đích đạt
tới tỷ lệ lợi nhuận cao nhất với hy
vọng tái đầu tư vào việc bành trướng xí
nghiệp mà không ư thức được sự cần
thiết phải gia tăng sức mua của quần chúng.
Đây là một cái nh́n thiển cận mà nhà nước
cần điều chỉnh v́ lợi ích của giai cấp
công nhân và v́ chính lợi ích của giai cấp chủ nhân.
Trong nhiều trường hợp, như tại ấn
Độ, lớp người giàu có c̣n sử dụng tài
sản tích lũy được cho những xa hoa phi
sản xuất. Tóm lại đầu tư vào y tế, giáo
dục và nâng cao mức tiêu thụ của quần chúng không
những không tai hại mà c̣n là điều nên làm và phải
làm. Một trong những khám phá quan trọng nhất của
hai thập niên cuối của thế kỷ 20 là không
những phát triển có thể mà hơn thế nữa c̣n
phải đi song song với cải thiện dân sinh.
Lập luận thứ hai (về sự cần thiết
phải gia tăng mức độ can thiệp của nhà
nước v́ bối cảnh cạnh tranh ngày càng mạnh
và hoạt động kinh tế ngày càng phức tạp, và
do đó cần một nhà nước mạnh, nghĩa là
một nhà nước độc tài) chưa bao giờ là
một lập luận nghiêm chỉnh. Nó luôn luôn chỉ là
một xác quyết suông dựa trên dẫn chứng là
sự thành công của các nước cộng sản.
Từ khi các chế độ cộng sản sụp
đổ, và thế giới nh́n rơ những thành tựu to
lớn của các chế đô cộng sản đều
chỉ là bịp bợm, lập luận này đă mất
hết nội dung.
Dĩ nhiên trong một nước chưa phát triển nhà
nước bắt buộc phải trọng tài một cách
khó khăn giữa những đ̣i hỏi mâu thuẫn, và
chính đáng như nhau, với một ngân sách hạn
hẹp, đặc biệt là trong kế hoạch xây
dựng cơ sở hạ tầng (đường sá,
hải cảng, phi trường, hệ thống viễn
thông, v.v...) và như thế cần phải mạnh.
Nhưng thế nào là một nhà nước mạnh? Nhà
nước mạnh không có nghĩa là nhà nước
độc tài, có nhiều công an và nhà tù. Ngược
lại. Sức mạnh của nhà nước, hiểu theo
nghĩa sức mạnh để phát triển đất
nước, chủ yếu dựa trên hậu thuẫn
của dân chúng. Sức mạnh này các nhà nước
độc tài không có, chúng dùng bạo lực để
thống trị dân chúng và gặp sự chống
đối của dân chúng. Sự chống đối có
thể thụ động, không có tổ chức nhưng
tổng kết lại cũng vẫn đủ sức
để làm hỏng mọi kế hoạch của nhà
nước. Trong thực tế, trong những quốc gia có
tầm vóc lớn, các kế hoạch của những
tập đoàn thống trị mù quáng tự coi ḿnh
đủ thông minh để suy nghĩ thay cho hàng chục
triệu người, và xấc xược áp đặt sự
suy nghĩ đó lên mọi người, chỉ có thể là
ngớ ngẩn. Các chính quyền độc tài có thể
thừa sức để bỏ tù những người
đ̣i dân chủ, họ cũng có thể thừa sức
để ngăn chặn sự h́nh thành của những
tổ chức đối lập, nhưng không bao giờ
đủ phương tiện để kiểm soát
mọi hành động của mọi người và
cuối cùng không bao giờ quản trị được
xă hội một cách đúng nghĩa, ngay cả về trật
tự an ninh. (Tới đây tôi xin phép độc giả
mở một ngoặc đơn về sự chống
đối thụ động của dân chúng. Vợ tôi làm
việc cho một hội từ thiện, hội Măng
Non. Hội này mở những lớp dạy tiếng
Việt tại Paris và dùng học phí thu được, cùng
với sự đóng góp của các hội viên, để
xây trường học tại những vùng nghèo khổ
ở Việt nam. Hội cũng cấp nhiều học
bổng mỗi năm và khuyến khích thân hữu nhận
làm con nuôi một số học sinh mồ côi. Trong các hồ
sơ xin học bỗng hay xin được nhận làm
con nuôi, có rất nhiều học sinh có cha mẹ bị
điện giật chết. Tôi t́m hiểu và
được biết nguyên nhân: đó là công tŕnh
đường dẫn điện cao thế 500 KVA
Bắc-Nam mà ông thủ tướng Vơ Văn Kiệt
chủ trương và đôn đốc. Công tŕnh này là
một trong những kế hoạch lớn nhất của
nhà nước Việt nam trong thập niên 1990 và là cả một
kỳ quan của sự ngu dốt mà chỉ có một
chế độ rất độc đoán mới áp
đặt được. Tại sao lại dẫn
điện từ Bắc vào Nam? Miền Bắc không
thực sự thừa điện mà chỉ tạm
thời thừa điện v́ chưa phát triển. Tải
điện đi cả ngàn cây số cũng phải
chịu những mất mát to lớn trên đường
dẫn. Đây là một kế hoạch duy ư chí nhằm
đặt miền Nam trong thế lệ thuộc miền
Bắc về năng lượng để dễ kiểm
soát. Công tŕnh này mới đầu dự trù tốn kém 500
triệu đô la, sau điều chỉnh lại ở
mức độ 800 triệu đô la, nhưng vẫn không
đủ. Sau không điều chỉnh nữa mà cứ làm
tới, theo tâm lư lỡ phóng lao th́ phải theo lao. Nó đă
là một phí phạm lớn nhưng nó c̣n tạo ra vô
số thảm kịch về nhân mạng. Dân chúng ùa nhau
cắt dây điện để bán làm đồng vụn.
Tôi đọc trên báo trong nước có lần trong ṿng
một tuần lễ đường dây bị cắt trên
hai ngàn đoạn. Số người đi cắt dây
bị điện giật chết không biết bao nhiêu mà
kể. Một số khác, có lẽ cũng đông
đảo không kém, bị điện giật chết v́
đụng phải dây điện rớt xuống
đường).
Về lập luận thứ hai này cũng nên lưu ư
một lư do mà các lư thuyết gia bênh vực nó đưa ra:
cần một nhà nước độc tài bởi v́ t́nh
thế mới đ̣i hỏi như thế, bối cảnh
thế giới hiện nay khác với bối cảnh
thế giới trong các thế kỷ 17, 18 và 19 khi các
quốc gia phát triển đầu tiên xuất hiện.
Một cách gián tiếp họ nh́n nhận Hoa Kỳ và các
nước Tây Âu đă phát triển nhờ có tự do và dân
chủ, một điều mà họ không nh́n nhận khi
tranh căi về chính các nước này. Rơ ràng là một cách
tranh căi không lương thiện.
Lập luận thứ ba (về nhu cầu cằn có ổn
định xă hội để phát triển và do đó
cần một chế độ độc tài) th́ đúng
là ăn ngang nói ngược, đổi trắng thay
đen. Đồng ư, và đồng ư một trăm
phần trăm, là phải có ổn định xă hội
để phát triển, nhưng các chế độ
độc tài có đảm bảo ổn định xă
hội không? Hoàn toàn không? Chế độ độc tài cho
phép người cầm quyền thay đổi luật pháp
và lấy các quyết định một cách rất tùy
tiện. Nay cho phép, mai cấm đoán. Đó là chưa
kể người cầm quyền không cần tôn trọng
những luật pháp mà ḿnh ban hành, khi không giải thích chúng
một cách tùy tiện. Trong một bối cảnh bấp
bênh không tiên liệu được như vậy, ai có
thể yên trí để làm những dự án đầu
tư? (Phương châm của người kinh doanh tại
Việt nam hiện nay là ba không: không làm lớn, không làm
lộ và không làm lâu) Ngược lại, trong một
nước dân chủ, hiến pháp và luật pháp là kết
quả của những tranh căi sâu rộng trong đó
mọi ư kiến đầu được tŕnh bày
trước khi được biểu quyết một cách
lương thiện cho nên phản ánh mọi nguyện
vọng và do đó khó thay đổi. Luật chơi v́
vậy rơ ràng và mọi người có thể tiên liệu
được tương lai. Sự gian trá của lập
luận này là đồng hóa ổn định xă hội
với sự kéo dài của các chính quyền, hai điều
không những khác nhau mà c̣n mâu thuẫn với nhau. ổn
định thực sự là luật pháp được tôn
trọng và không thay đổi một cách bất ngờ,
điều mà chỉ có những chế độ dân
chủ pháp trị mới bảo đảm
được.
Một điều rất cũ, quá cũ, nhưng cũng
cần được nhắc lại v́ quá quan trọng:
các chế độ độc tài để ra tham
nhũng. Độc quyền đưa đến lạm
quyền và lạm quyền đưa đến tham
nhũng, đó là một qui luật bắt buộc. Tham
nhũng là ǵ nếu không phải là lợi dụng công
quyền cho lợi ích cá nhân? Càng nhiều quyền th́ càng
dễ tham nhũng. Cho nên các chế độ độc
tài dù quyết tâm chống tham nhũng đến đâu
đi nữa cũng bất lực, tham nhũng chỉ
tăng lên chứ không giảm đi như ta đă thấy
trong trường hợp Việt nam. Muốn giảm tham
nhũng th́ trước hết phải giảm quyền
lực nhà nước, muốn chống tham nhũng th́
trước hết phải tôn trọng quyền tự do
tố giác và phải tách bộ máy tư pháp khỏi sự
kiểm soát của chính quyền, tóm lại phải có dân
chủ. Có thể nói tham nhũng là 90% trở ngại
của phát triển. Bất cứ một lư thuyết phát
triển nào không kể đến sự tác hại của
tham nhũng đều chỉ là lư thuyết suông.
C̣n những khảo sát cụ thể?
Một cách vắn tắt, chúng đều vô giá trị.
Nguyên nhân đầu tiên là chính sự mơ hồ của việc
phân loại các nước dân chủ và độc tài.
Phần lớn các khảo sát này đầu được
thực hiện trước thập niên 1980. Cho tới
thập niên 1980, các nước kém mở mang thay đổi
chế độ thường xuyên, một chế
độ quân phiệt bế tắc phải nhường
chỗ cho một chế độ dân cử, rồi sau
đó một đại tá lại đảo chính tái
lập chế độ độc tài. Có thể thành tích
của một nước được coi là dân chủ
thực ra chỉ là di sản của một chế
độ độc tài, và ngược lại.
Sau đó là sự ngắn ngủi của thời gian
khảo sát. Thời gian này thường chỉ là năm hay
mười năm, trong khi mức dộ phát triển là
thành quả của cả một quá tŕnh dài.
Cuối cùng là sự thiếu chính xác của chính nhưng
số liệu. Nếu các chế độ dân chủ
thường khá lương thiện trong những số
liệu th́ ngược lại trong các chế độ
độc tài các số liệu rất đáng ngờ
vực. Độc giả muốn ư thức
được điều này hăy thử t́m đọc các
tài liệu của Bắc Triều Tiên, của Việt nam,
hay các chế độ độc tài châu Phi để có
một khái niệm. Cái ǵ cũng đẹp, cũng
tốt, cũng vượt chỉ tiêu. Khổ một
nỗi là các nhà nghiên cứu, ngay cả các chuyên viên của
những định chế rất nghiêm chỉnh như
Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc
Tế, cũng bắt buộc phải sử dụng
những thống kê chính thức v́ không có dữ kiện nào
khác.
Nhưng điều lư thú nhất là nếu những
khảo sát đầu tiên đưa tới những
kết luận có lợi cho các chế độ
độc tài th́ càng về sau các nhà nghiên cứu, sau khi
đă vật lộn với những số liệu mà chính
họ cũng phải nh́n nhận là không chính xác, càng
kết luận là dân chủ không có hại ǵ cho phát
triển, trong nhiều trường hợp họ c̣n
thấy dân chủ có tác dụng tốt cho phát triển.
Chấm, và chấm hết.
Sau cùng, nên nghĩ thế nào về sự so sánh giữa
Trung Quốc và ấn Độ?
Mới thoạt nh́n sự so sánh này có giá trị: cả hai
nước đều là những quốc gia lớn,
tầm vóc của chúng cho phép đại cương hóa các
quan sát; hai quốc gia đă chọn lựa một cách
quả quyết hai hướng đi khác nhau, ấn
Độ chọn dân chủ trong khi Trung Quốc đi theo
chế độ độc tài cộng sản; thời
gian quan sát cũng khá dài, gần một nửa thế
kỷ. Tuy nhiên giá trị của sự so sánh chỉ
dừng lại ở đó. Chúng ta cũng gặp phải
sự sai lệch của những dữ kiện. Nếu
các số liệu của ấn Độ có thể coi là
tương đối khả tín th́ ngược lại
những số liệu của Trung Quốc rất khó tin.
Chẳng hạn như nông nghiệp của Trung Quốc
được ghi nhận là đă tăng trưởng
trung b́nh 3, 1% môi năm từ 1950 đến 1980 trong khi nông
nghiệp của ấn Độ chỉ tăng
trưởng 2,3% mỗi năm. Sự thực mà mọi
người đấu nh́n nhận là trong thời gian này,
qua các giai đoạn bước nhảy vọt rồi
cách mạng văn hóa, nông nghiệp của Trung Quốc suy
sụp hoàn toàn, làm gần 50 triệu người chết
đói. Cung trong thời gian đó không ai phủ nhận
rằng ấn Độ đă tiến từ địa
vị một nước thiếu đói quanh năm
tới t́nh trạng tự túc về lương thực và
thực phầm. Những số liệu như vậy
khiến sự so sánh không đứng đắn chút nào.
Nhưng đó không phải là lư do chính khiến ta phản
bác sự so sánh. Lư do chính là một người quan sát
đứng đắn không thể nghĩ đến
việc so sánh ấn Độ và Trung Quốc. Lịch
sử và văn hóa của hai nước quá khác nhau. Nếu
căn cứ vào việc Trung Quốc theo chế độ
độc tài đă phát triển nhanh hơn ấn
Độ theo chế độ dân chủ để
rồi kết luận dân chủ không có lợi cho phát
triển bằng độc tài th́ cũng ngây ngô như
thấy con ḅ lớn hơn con chó rồi kết luận là
những con vật có sừng lớn hơn những con
vật không có sừng. ấn Độ cho tới khi
người phương Tây đến không phải là
một quốc gia mà là cả một thế giới
hỗn tạp với những tập quán và triết lư
hủ lậu; xă hội phân hóa thành vô số đẳng
cấp kỳ thị lẫn nhau; các triết lư không t́m cách
cải thiện cuộc sống mà coi cuộc đời
như một bể khổ vô phương cứu chữa;
con người t́m hạnh phúc trong những suy tư siêu
h́nh, t́m khoái lạc trong việc nằm trên bàn đinh
nhọn hoặc thỏi sáo cho rắn hổ múa. Trái lại
Trung Quốc là một xă hội thực tiễn, đề
cao cố gắng để giải quyết những nhu
cầu vật chất. Trước đây không ai nghĩ
tới việc so sánh ấn Độ với Trung Quốc,
nếu ngày nay người ta so sánh hai nước th́
cũng v́ ấn Độ đă tiến lên, và tiến lên
nhờ dân chủ.
Tôi không phản bác những khảo cứu so sánh, với
điều kiện là phải so sánh những cái có thể
so sánh. Muốn so sánh hiệu năng kinh tế của dân chủ
và độc tài th́ phải so sánh t́nh trạng của cùng
một nước trước và sau khi thay đổi
từ một chế độc độc tài sang một
chế độ dân chủ, hay sang một chế
độ tuy chưa phải là dân chủ nhưng với
một mức độ tự do lớn hơn. Hoặc
ngược lại từ một chế độ dân
chủ, hay tương đối cởi mở, sang
một chế độ độc tài. Như thế
phải so sánh Đại Hàn Dân Quốc trước và sau Lư
Thừa Văn, Phi-líp-pin trước và sau khi chế độ
Marcos bị lật đổ, Thái Lan trước và sau
năm 1992, từng nước châu Mỹ La Tinh hay từng
nước Đông Âu trước và sau cuộc chuyển
hóa về dân chủ. Hoặc cũng có thể so sánh các
chế độ khác nhau của cùng một dân tộc
như hai miền Nam và Bắc Việt nam trước
năm 1975, Nam và Bắc Cao Ly, Đài Loan và Hoa Lục.
Nhưng so sánh này không cho phép bất cứ ngờ vực
nào: dân chủ hơn hẳn độc tài về mặt
kinh tế.
Nhưng cuộc thảo luận này có thể khiến cây
che khuất rừng. Kinh tế không phải là tất
cả. Hạnh phúc của một dân tộc không phải
chỉ là lợi tức trung b́nh trên mỗi đầu
người, càng không phải là tỷ lệ tăng
trưởng 5 hay 10% mỗi năm. C̣n nhưng điều
cao hơn, và cao hơn nhiều. Đó là phẩm giá, là
quyền được nói và làm điều minh muốn, là
quyền được sống mà không sợ bị
bắt giam vô cớ, được phát triển khả
năng của ḿnh mà không cần đút lót, và
được tham dự vào những quyết định
quan trọng cho cộng đồng. Những điều
này chỉ có một chế độ dân chủ có thể
đem lại. Các tập đoàn độc tài viện lư
cớ phát triển kinh tế để hy sinh tự do.
Lập trường này tự nó đă khó chấp nhận,
điều c̣n khó chấp nhận hơn là v́ chà đạp
tự do và làm thui chột óc sáng tạo họ cũng
ngăn chặn luôn cả phát triển kinh tế. Ho
biện luận là cần hy sinh hôm nay cho ngày mai nhưng
thực ra họ hy sinh hôm nay chỉ để hủy
hoại ngày mai.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Những định luật cho một xă hội
phát triển?
Cái
đầu quả nhiên nhanh hơn đôi chân và hơn
cả máy bay phản lực. Qua một vài chục trang
giấy, chúng ta đă du hành ngược thời gian, lên
đến thời tiền sử rời lại xuôi ḍng
về đến hiện tại, sau khi đă thăm
viếng những cái nôi đầu tiên của phát triển
tại châu Âu và Hoa Kỳ, rồi các nước vừa phát
triển tại châu á và châu Mỹ La Tinh.
Chúng ta đă nhận định và cũng đă khảo sát
cả những lập luận trái ngược. Đến
đây chúng ta có thể rút ra những kết luận.
Nếu chúng ta tự so sánh với một nhà khoa học rút
ra những định luật sau khi đă quan sát các thí nghiệm,
chúng ta cũng có thể rút ra một số định
luật cho một xă hội muốn phát triển hay
muốn tiếp tục phát triển. Dĩ nhiên, với thái
độ khiêm tốn phải có, bởi v́ các định
luật trong khoa học nhân văn không chính xác như
những định luật trong khoa học vật lư, chúng
luôn luôn đ̣i hỏi một ứng dụng sáng tạo phù
hợp với môi trường.
Định luật 1: Tất cả mọi thành tố
cơ bản của phát triển đều vô h́nh, nằm
trong con người và xă hội. Phát triển chủ
yếu là một vấn đề tâm lư và văn hóa.
Định luật 2: Dân chủ là nguyên nhân tạo ra phát
triển và cũng là môi trường của phát triển.
Mức độ dân chủ quyết định giới
hạn tối đa của phát triển. Dân chủ càng cao
khả năng phát triển càng cao. Không có dân chủ quá
đáng.
Định luật 3: Phát triển đ̣i hỏi một
đồng thuận dân tộc trong một dự án
tương lai chung, phù hợp với quyền lợi
của mỗi cá nhân. Hiến pháp và luật pháp thể
hiện đồng thuận xây dựng một tương
lai chung đó và v́ thế được ổn vững và
được coi như nền tảng duy nhất của
tổ chức xă hội.
Định luật 4: Phát triển đ̣i hỏi kinh tế
phải được tự do vận hành theo qui luật
tự nhiên của thị trường thay v́ bị g̣ bó
trong một kế hoạch. Chính quyền phải tránh can
thiệp và đặt ra nhưng cưỡng chế mâu
thuẫn với qui luật của thị trường.
Định luật 5: Các thủ tục hành chánh phải
được giảm tới mức tối thiểu
cần thiết. Chính quyền tốt nhất là chính
quyền nhẹ nhất, nhường không gian tối
đa cho xă hội dân sự, cá nhân, ư kiến và sáng
kiến.
Định luật 6: Phát triển lành mạnh đ̣i
hỏi hủy bỏ mọi đặc quyền
đặc lợi, mọi thế lực ngoài qui
định luật pháp, mọi thành kiến và giáo
điều, mọi phân biệt và ngăn cách.
Định luật 7: Tự do là tâm hồn, động
cơ và sức mạnh của xă hội. Trong một xă
hội muốn phát triển mạnh không thể có nhưng
ư kiến cấm nêu ra và cũng không thể có đề tài
cấm bàn đến.
Định luật 8: Bạo lực phải bị
tuyệt đối lên án và hoàn toàn xóa bỏ như một
phương thức ứng xử. Mọi mâu thuẫn trong
xă hội phải được giải quyết qua
đối thoại và thỏa hiệp.
Định luật 9: Vận tốc phát triển tỷ
lệ thuận với chỗ đứng dành cho
thương mại. Thương mại càng
được ưa thích và quí trọng, xă hội phát
triển càng nhanh chóng: Thương mại phải
được coi là động cơ của mọi
tiến bộ khoa học, kỹ thuật, văn hóa, đạo
đức.
Định luật 10: Mọi luật và qui định
phải phù hợp với tŕnh độ hiểu biết
của dân chúng và liên lục thích nghi với bối cảnh
xă hội, nhưng luôn luôn phải giản dị, dễ
hiểu, dễ tuân thủ cho mọi người và
được áp dụng triệt để.
Mười định luật trên đây thực ra là
những định luật căn bản. Chúng ta đă
bỏ qua những yếu tố khác tuy rất quan trọng
nhưng tự nhiên sẽ được khám phá ra khi
những định luật căn bản đă
được thỏa măn, như sức khỏe, giáo
dục, truyền thông, hạn chế dân số, bảo
vệ môi trường, v.v...
Sự liệt kê giản lược này dĩ nhiên cần
một số ghi chú bổ túc:
Định luật 1 là một khám phá mới. Cho tới
một ngày khá gần đây các nhà nghiên cứu, khi giải
thích hiện tượng phát triển, đều
đề cao vai tṛ của những yếu tố vật
chất như tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa
lư. Max Weber là một trong những nhà tư tưởng
hiếm hoi đề cao vai tṛ của tâm lư và văn hóa,
nhưng ông lại tập trung lư luận vào châu Âu và dành cho
đạo Tin Lành một vai tṛ chủ yếu. Tư
tưởng của ông v́ vậy khó có tiếng vọng
nơi các xă hội không theo Thiên Chúa Giáo. Chỉ cho tới
một ngày rất gần đây, nhờ sự quan sát
của các nhà ngoại giao, các chuyên viên trong các chương
tŕnh hợp tác phát triển và các phái viên của các tổ
chức thiện nguyện, người ta mới ư thức
được rằng sự tụt hậu và tŕ trệ
là do một cấu trúc tâm lư không thích hợp. Một
quốc gia không thể phát triển nếu quyền lực
thay v́ được coi là một trách nhiệm lại được
nh́n như một phần thưởng, nếu danh giá trong
xă hội là làm quan thay v́ kinh doanh, nếu tâm lư quần chúng
là một người làm quan cả họ phải được
nhờ, nếu sự giàu có bị thù ghét, nếu hoạt
động kinh tế được nh́n như một
cuộc chơi với tổng sổ là số không,
người này giàu tất nhiên kẻ khác phải nghèo, v́
thế kinh doanh đồng nghĩa với bóc lột.
Muốn phát triển một xă hội, phải từ
bỏ tâm lư cũ đă tạo ra sự lạc hậu và
đề cao những giá trị tiến bộ: ḥa b́nh,
tự do, dân chủ, nhân quyền, nhà nước pháp
trị, đối thoại, hợp tác và lợi nhuận.
Cần nhấn mạnh giá trị lợi nhuận.
Định luật 2 là kết luận căn bản
nhất rút ra từ sự quan sát các nước đă phát
triển đầu tiên và các nước mới phát
triển gần đây sau cuộc du lịch tham quan của
chúng ta trong nhưng bài trước. Điều đặc biệt
cần ghi nhận là định luật này không có một
ngoại lệ nào nếu ta nh́n trong chiều sâu thay v́
một cách phiến diện. Định luật 3 gần
như là một hệ luận của định luật
2, nhưng nhấn mạnh tầm quan trọng của
khả năng động viên quần chúng. Đồng
thuận là điều kiện để ḷng yêu
nước có thể đóng được vai tṛ kết
hợp và thôi thúc của nó. Định luật này giải
thích tại sao các chế độ phát-xít quân phiệt
tại Đức, ư và Nhật trước thế
chiến II đă đạt được những
tiến bộ đáng kể trước khi sụp
đổ trong máu lửa. Đó là v́ do hoàn cảnh lịch
sử, các dân tộc này đă có một đồng
thuận lớn và đă được động viên
trong một cố gắng chung, dù chỉ là đồng thuận
mê muội trên một ư đồ bá quyền nước
lớn. Sau đó chính v́ không có dân chủ mà các nước
này tích lũy mâu thuẫn và bị đẩy vào chiến tranh
tự hủy. ở đây cũng cần hiểu rơ
những định nghĩa khác nhau của ổn
định. ổn định có lợi và cần thiết
cho phát triển là ổn định trong sinh hoạt xă
hội, nghĩa là hiến pháp và luật pháp, không bị
thay đổi tùy tiện theo ư muốn của người
cầm quyền. Đó hoàn toàn không phải là sự ổn
định được hiểu như là sự không thay
đổi người cầm quyền. Từ sau thế
chiến II, Nhật và ư là hai quốc gia thay đổi chính
phủ rất thường xuyên, trung b́nh một chính
phủ chỉ kéo dài xấp xỉ một năm, mà vẫn
phát triển mạnh bởi v́ luật chơi, nghĩa là
hiến pháp và luật pháp không thay đổi. Trái lại,
các nước độc tài, với những chính quyền
kéo dài nhiều thập niên, lại rất tụt hậu. Tại
sao? Bởi v́, như đă được tŕnh bày trong bài
trước nhưng nhắc lại một lần nửa
tưởng không phải là vô ích, chế độ
độc tài cho phép người cầm quyền thay
đổi luật chơi một cách tùy tiện, tạo ra
xáo trộn và bất ổn thường trực cho sinh
hoạt của xă hội.
Định luật 4 cũng hiển nhiên như
định luật 2, nhưng có lúc đă bị che
khuất bởi những tŕnh bày dối trá. Các chế
độ phát-xít Đức, ư và Nhật trước tác
chiến II và nhất là các chế độ cộng
sản, bằng những giấu giếm và thống kê
bịp bợm, đă làm cho nhiều người
tưởng là có thể phát triển bằng những
kế hoạch duy ư chí, bất chấp các qui luật
của thị trường. Sự sụp đổ
của phong trào cộng sản đă chỉ là sự tái
lập lại một chân lư vốn đă có từ lâu.
Định luật 5 tập hợp hai nhận thức
cơ bản: một là chính ư kiến và sáng kiến,
chứ không phải nguyên nhân nào khác, làm cho kinh tế
tăng trưởng, mà muốn ư kiến và sáng kiến
nảy nở th́ xă hội dân sự và các cá nhân phải
được giải phóng khỏi mọi g̣ bó; hai là các
thủ tục rườm rà vừa ngăn cản sáng
kiến vừa đề ra tham nhũng, bệnh ung thư
của hoạt động kinh tế. Tham nhũng là ǵ
nếu không phải là sự lạm dụng công quyền
cho lợi ích cá nhân? Muốn tránh tham nhũng th́
trước hết phải giới hạn vai tṛ của
chính quyền. Cũng phải nhận xét rằng thủ
tục đẻ ra thủ tục bởi v́ nó tạo ra những
công chức sống nhờ thủ tục và cố gắng
tạo ra thêm càng nhiều thủ tục càng tốt
để cũng cố địa vị. Mặt khác, chính
quyền ôm đồm quá nhiều sẽ không làm tṛn
được những nhiệm vụ tối cần
thiết của một chính quyền, nghĩa là bảo
vệ trật tự an ninh, trọng tài đúng đắn
những mâu thuẫn và tranh tụng trong xă hội, thi hành
đúng đắn luật pháp, ǵn giữ liên đới xă
hội, quản lư đúng đắn tiền tệ.
Một xă hội được cai trị quá nhiều
cũng là một xă hội không được cai trị
đầy đủ.
Định luật 6 nói lên sự cần thiết của
một đoạn tuyệt văn hóa và tâm lư. Mỗi
quốc gia có những lư do khác nhau để bị tŕ
trệ. Lư do có thể là những đặc quyền dành
cho một giai cấp, một tập đoàn hay một
số gia đ́nh, thành phần được ưu đăi
này dựa vào địa vị áp đảo của ḿnh
để kiềm giữ thành phần c̣n lại của xă
hội trong sự nghèo khổ ngơ hầu giữ nguyên vai tṛ
thống trị của ḿnh. Hay là một số
người và nghề được tôn vinh quá đáng,
ngược lại một loại người và nghề
bị khinh bị và loại trừ, xă hội bị chia
cắt thành những tập thể mâu thuẫn với nhau,
phá hoại lẫn nhau và triệt tiêu lẫn nhau; sự
lưu thông bị tắc nghẽn, xă hội ở trong
một t́nh trạng nội chiến thường trực.
Một thí dụ trong các xă hội theo văn hóa Khổng
Giáo là lâm lư trọng văn khinh nghề, một tâm lư từ
chối sự giàu mạnh. Một thí dụ khác, cũng
trong các xă hội này, là tâm lư trọng nam khinh nữ, chà
đạp và loại trừ khỏi hoạt động xă
hội một nửa tài nguyên nhân lực.
Đoạn tuyệt văn hóa rất khó, như chúng ta
đă nhận xét trong nhiều trang trước, nhưng
đó là điều kiện tiên quyết để có
thể phát triển. Nhiều người chất vấn:
xă hội ta đặt nền tảng trên những giá
trị Khổng Giáo, nếu bỏ đi chúng ta c̣n lại
ǵ? Phải trả lời dứt khoát: chẳng thà không có ǵ
c̣n hơn là có thuốc độc. Người phá rừng
hoang làm đất canh tác không thể tự hỏi: khu
đất này chỉ có cây hoang nếu phá hết th́ c̣n
lại ǵ? Trước hết phải đốn hết
cây dại trước khi làm đất và trồng cây
ăn trái.
Đ́nh luật 7 nói lên một niềm tin rất nền
tảng: tự do có khả năng sửa chữa những
khuyết tật của chính nó. Nếu trong nhất
thời tự do quá trớn có thể để ra những
hậu quả xấu th́ sau đó chính cái tự do quá
trớn đó sẽ xóa bỏ những hậu quả
xấu này. Đây là niềm tin vào trí tuệ của con người.
Định luật này cũng là một đồng minh
của định luật 6. Tự do phát biểu tuyệt
đối là vũ khí tiêu diệt mọi thành kiến
lệch lạc, mọi ngăn cách, mọi đặc
quyền đặc lơi. Đó cũng là vù khí hiệu
lực nhất để chống tham nhũng. Tại sao
nước Mỹ đă vươn lên từ một vùng
đất hoang thành siêu cường số một của
thế giới. Một trong nhưng lư do là hiến pháp
Mỹ không những khẳng định tự do phát
biểu mà c̣n cấm quốc hội biểu quyết
bất cứ một đạo luật nào giới hạn
tự do phát biểu, dù với đa số nào. Đễ
có thể có một đoạn tuyệt văn hóa và tâm lư
như định luật 6 đ̣i hỏi chúng ta không
thể chỉ chấp nhận tự do, mà c̣n phải coi
tự do như một quốc giáo và khuyến khích tự
do dưới mọi h́nh thức như tự do suy
nghĩ, phát biểu, chọn lựa, thụ hưởng,
kể cả tự do cơ thể. Tự do cơ thể
đặc biệt quan trọng bởi v́ khi cơ thể
đă được giải phóng th́ rất nhiều thành
kiến cũng tiêu tan và cách suy nghĩ sẽ thay
đổi. Các trí thức canh tân của ta đầu
thế kỷ 20 đă rất đúng khi họ kêu gọi
cắt tóc ngắn, động tác giản dị này đă
có ảnh hưởng tâm lư quyết định.
Đ́nh luật 8 là tuyên cáo của một xă hội nhân
bản và một nền văn minh mới. Bạo lực
phải bị lên án ngay trong ư niệm chứ không phải
chỉ trong thực tế. Dù không dùng bạo lực
thực sự đi nữa th́ khả năng sử
dụng bạo lực hay ư nghĩ bạo lực cũng
làm cho con người có thể thù ghét nhau v́ bất
đồng ư kiến hay mâu thuẫn quyền lợi.
Loại trừ hẳn bạo lực ngay trong ư niệm
sẽ khiến mọi người không c̣n chọn lựa
nào khác ngoài đối thoại tương kính để
đi đến thỏa hiệp và như thế không
những bảo đảm ḥa b́nh trong xă hội mà c̣n
đem lại ḥa b́nh trong tâm hồn mọi người.
Định luật 9 cần được đặc
biệt chú ư v́ nó là sự thực đă bị các quyền
lực chính trị cố t́nh xuyên tạc và che đậy.
Thương mại luôn là động cơ của mọi
tiến bộ. Xă hội Hy Lạp nguyên thủy coi
thương mại là hoạt động cao quí nhất,
họ đặt giai cấp kỹ sư và thợ thủ
công dưới giai cấp thương nhân. Dù là một phân
biệt giai cấp không chính đáng, quan niệm này cũng
bày tỏ một sự đánh giá có căn bản:
thương nhân là những con người có bản lănh
nhất, giao thiệp nhiều, hiểu biết rộng,
nhiều sáng kiến và dám chấp nhận rủi ro.
Người á Đông từ lâu cũng đă nhận
định phi thương bất phú (không làm thương
mại th́ không thể giàu có). Từ chối thương
mại như vậy chính là từ chối sự giàu
mạnh. Các chế độ độc tài toàn trị
đều sợ thương nhân v́ thế chà đạp
thương nhân để triệt tiêu một mối
để dọa cho quyền lực của chúng. Một
mặt chúng dùng bạo lực đàn áp, mặt khác chúng dùng
độc quyền ngôn luận để phỉ báng
thương nhân như là hạng người gian trá tham
lam. Với thời gian chúng đă thành công tạo ra một
thành kiến thù ghét đối với hoạt động
kinh doanh làm giàu. Nho Giáo từ đời nhà Hán bắt
đầu bài xích và cấm đoán thương mại. Các
chế độ cộng sản trong thế kỷ 20
cũng có cùng một chọn lựa. Các xă hội Khổng
Giáo ngày xưa và cộng sản gần đây tŕ trệ là
v́ thế. Nguyên nhân sâu xa của chính sách bài bác thương
mại là một triết lư chính trị: ưu tư ǵn
giữ chính quyền được đặt trên sự
giàu mạnh của xă hội. Các chế độ
độc tài toàn trị không cần quốc gia giàu
mạnh, trái lại chúng cần dân chúng nghèo khó và ngu dốt
để có thể tiếp tục thống trị.
Thương mại đ̣i hỏi và làm phát triển
nhiều đức tính tốt. Người làm
thương mại phải hiểu nhu cầu của xă
hội và v́ thế phải cố gắng t́m hiểu xă
hội. Người làm thương mại sống
bằng chữ tín nên phải thực thà, nếu không
muốn bị tẩy chay và phá sản. Người làm
thương mại cần khách hàng nên phải thực
sự quí trọng người khác v́ không có sự giả
dối nào có thể kéo dài. Người làm thương
mại phải tỏ ra dễ mến để tranh
thủ khách hàng cho nên ngôn ngữ và thái độ phải
trang nhă. ở một chương trước chúng ta đă
nói rằng chính v́ thương mại không phát triển mà
con người trong các xă hội Khổng Giáo thường
rất thô lỗ.
Thực tế cho thấy các tiến bộ đầu tiên,
kể cả dân chủ, đă xuất hiện tại các
trung tâm thương mại. Các thí dụ phát triển
đầu tiên tại Ḥa Lan, Anh và Mỹ cũng đă
chứng tỏ vai tṛ quyết định của
thương mại.
Định luật 10 và một nhận định
thực tiễn. Xă hội phát triển chỉ có thể là
xă hội dân chủ pháp trị. Nhưng muốn luật
pháp được tôn trọng, trước hết
luật pháp phải được mọi người
thấu hiểu. Không thể lấy một đạo
luật, dù hay tới đâu, của một nước
đă phát triển và có hoạt động kinh tế
phức tạp để áp đặt vào một
nước mà đa số dân chúng chưa đọc thông
viết thạo và hoạt động kinh tế chủ
yếu là trao đổi trực tiếp hay buôn bán lặt
vặt, hay sản xuất trên qui mô gia đ́nh. Luật pháp
phải phù hợp với tŕnh độ hiểu biết
trung b́nh của xă hội.
Luật pháp không hoàn chỉnh nhưng áp dụng
được c̣n hơn luật pháp hoàn chỉnh những
người dân không hiểu nổi và do đó không thể
tuân thủ. Luật pháp phải được xây dựng
một cách liên tục và trưởng thành cùng với
sự phát triển của quốc gia. Nhưng ở đây
phải đặc biệt cảnh giác trước một
sự gian trá khác. Đó là giới hạn tự do và dân
chủ viện cớ dân trí chưa cao. Ngược
lại, và ngược hẳn lại, chính trong hoàn cảnh
dân trí chưa cao và hoạt động kinh tế chưa
phức tạp, luật pháp phải ít g̣ bó hơn, ít
giới hạn hơn. Sự gian trá của các chế
độ độc tài đập vào mắt mọi
người: chúng nhằm đàn áp trước hết
những người có tŕnh độ cao, chúng dồn
những cố gắng rất tốn kém để
kiểm soát tư tưởng, trong khi để mặc cho
các tệ đoan xă hội hoành hành. Các xă hội độc
tài khắc nghiệt thường rất hỗn loạn và
vô kỷ luật: trộm cướp, măi dâm, buôn lậu,
phóng uế, phá hủy môi trường, đánh cá bằng
chất nỗ v.v... hầu như không bị kiểm soát v́
lư do dễ hiểu là các tệ nạn này không đe dọa
tập đoàn cầm quyền.
Mười định luật về phát triển trên
đây có thể tóm gọn trong bốn chữ: dân chủ
đa nguyên. Trong một xă hội dân chủ đa nguyên
tất nhiên mọi người phải được tôn
trọng, được tự do kết hợp, bầu
cử và ứng cử. Chính quyền như thế sẽ
xuất phát từ dân chúng và được dân chúng ủng
hộ. Trong một xă hội dân chủ đa nguyên tất
nhiên mọi ư kiến, dù mới mẻ và có vẻ
ngược đời đến đâu cũng vẫn
được quyền phát biểu. Tinh thần đa
nguyên, nghĩa là tinh thần tôn trọng mọi khác
biệt, có hệ luận tự nhiên là người ta không
được dùng bạo lực để tiêu diệt
người khác ư kiến và quyền lợi với ḿnh, mà
phải t́m cách sống chung qua đối thoại và
thỏa hiệp. Đă không tiêu diệt và đàn áp lẫn
nhau th́ cố gắng tự nhiên là t́m đồng thuận.
Đă tôn trọng mọi người, dù thuộc thành
phần xă hội nào và khuynh hướng nào, th́ tất nhiên
không thể có những đặc quyền đặc
lợi, thành kiến và ngăn cách; hay nếu có cũng
sẽ bị xóa bỏ với thời gian. Sau cùng, một
xă hội dân chủ đa nguyên, sau khi các thành kiến và
đặc quyền đă được hủy bỏ,
chắc chắn sẽ khám phá ra vai tṛ chủ đạo
của thương mại v́ đó là một sự
thực hiền nhiên, mọi người đều có
thể thấy một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Tới đây có lẽ cũng nên có một nhận
định tổng hợp và đúc kết về hiện
tượng phát triển kinh tế: tăng trưởng
kinh tế, nguyên nhân của phát triển, xảy ra khi xă
hội hội đủ ba yếu tố: (1) nhiều
người lạc quan và muốn kinh doanh, (2) họ có
thể kinh doanh và (3) họ có phương tiện
để kinh doanh.
Để lạc quan và muốn kinh doanh, họ cần
một bối cảnh tâm lư thuận lợi: hoạt
động kinh doanh được xă hội quí trọng, ư
kiến và sáng kiến được đề cao, sự
chấp nhận rủi ro được đề cao và
dĩ nhiên ḷng tin trong kinh doanh sẽ thành công.
Để có thể kinh doanh, doanh nhân cần trật tự
an ninh, cần được tự do hoạt động
và được luật pháp bảo vệ và luật pháp
không thay đổi một cách tùy tiện. Họ cũng
không thể bị trói buộc bởi quá nhiều qui định,
không bị g̣ bó trong một kế hoạch quốc gia
cứng nhắc, và nhất là không bị sách nhiễu
bởi tệ tham nhũng, một căn bệnh trầm
kha của mọi chế độ độc tài.
Phương tiện kinh doanh không phải chỉ là vốn.
Trước hết là một nguồn nhân lực có
phẩm chất, hạ tầng cơ sở và các
phương tiện giao thông và truyền thông tốt,
một hệ thống ngân hàng đắc lực khi cần
vốn luân chuyển. Vốn đầu tư chỉ là
một trong những phương tiện và cũng không
phải là phương tiện quan trọng nhất. Tư
bản có trí khôn và lô-gích riêng của nó, ở đâu kinh
doanh có lợi vốn sẽ tự nó t́m đến. Yếu
tố quan trọng nhất vẫn là những con
người cần mẫn và có kỹ năng.
Cả ba yếu tố nền tảng trên đây cho tăng
trưởng kinh tế, và phát triển kinh tế sau đó,
một lần nữa nhắc nhở chúng ta một chân lư:
phát triển hay tŕ trệ chủ yếu là một vấn
đề tâm lư và văn hóa.
Chúng ta cần thay đổi văn hóa, nghĩa là thay
đổi xă hội và con người để có thể
phát triển.
Một lời trước khi chấm dứt. Những qui
luật phát triển trên đây có thể làm cho một
số độc giả phân vân: phải chăng chúng ta
tiến tới một xă hội do đồng tiền
ngự trị? Sự phân vân càng day dứt đối
với tâm hồn á Đông, và nhất là Việt nam, từ
ngàn xưa đă coi sự thanh bản như một giá
trị cao quí. Nhưng thực ra một xă hội phát
triển và tự do không phải chỉ đem lại
sự giàu có; nó c̣n đem lại phẩm giá cho con
người, đem lại sự sáng tạo trong mọi
địa hạt. Tôi không biết một triết gia
phương Tây nào đó đă nói: Đồng tiền là
một đầy tớ tốt nhưng là một chủ
nhân xấu. Câu nói này được rất nhiều
người coi là cao siêu nhưng thực ra nó chỉ là
một nhận xét của một người thiếu
hiểu biết. Đông tiền chắc chắn không
phải là ông chủ tốt bởi v́ nó không có lương
tâm và t́nh cảm, nhưng nó cũng không thể là một
đầy tớ. Nó quá mạnh và kiêu hănh. Nếu bị coi
là một đầy tớ, nó sẽ phản ứng
thẳng tay và làm chúng ta đau đớn. Đồng
tiền, hay đúng hơn tài sản, khi đă đạt
tới một tầm vóc nào đó, có cuộc sống riêng
của nó và cũng có lô-gích riêng của nó; chúng ta phải
thảo luận và thỏa hiệp với nó chứ không
thể coi nó như một vật dụng. Nó cần
được đối xử như một
người bạn và một người đồng
đội chứ không phải một chủ nhân hay
một đầy tớ. Nó không thống trị mà cũng
không khuất phục. Vả lại, ngay cả sự
thống trị của đồng tiền, dù không phải
là lư tưởng, cũng vẫn dễ chịu hơn là
sự chuyên chế của đức hạnh. Đồng
tiền là tiện nghi, là tự do và là điều ai
cũng có thể hiểu và chấp nhận, trong khi
đức hạnh thường chủ quan và thay
đổi theo người, hay lớp người, có
quyền quyết định cái ǵ là đức hạnh,
cái ǵ là trái với đức hạnh. Đức hạnh
có thể là một nhà tù vô h́nh nhưng rất nghiệt ngă.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Kinh bang tế thế
Ngày
nay, khi bàn về t́nh h́nh đất nước,
người ta sẽ rất may mắn nếu
được coi là một chuyên viên kinh tế. Tâm lư
quần chúng, kể cả đa số trí thức, dành cho
các nhà kinh tế một sự nể trọng đặc biệt,
như thể là chỉ có họ mới thực sự có
thẩm quyền để nói về tương lai
đất nước. Thái độ này xuất phát từ
ư thức càng ngày càng mạnh rằng vấn đề
cơ bản của chúng ta là phát triển kinh tế ư
thức này rất đúng, chỉ có kết luận rút ra
từ đó, nghĩa là đề cao những người
được coi là kinh tế gia, mới sai. Hỏi các nhà
kinh tế làm thế nào để phát triển đất
nước cũng giống như hỏi một ông hàng
thịt cách nuôi heo. Họ không biết.
Cái ǵ làm cho kinh tế phát triển? Đó là nhờ một
kỹ sư phát minh ra một cái máy mới nào đó hay
một phương thức sản xuất nào đó làm cho
số lượng sản phẩm tăng lên với cùng
một vốn đầu tư và cùng một số công nhân.
Đó là nhờ một nhà kinh doanh sau nhiều quan sát và suy
nghĩ đă nh́n ra một yêu cầu mới của thị
trường rồi tạo ra một cơ sở kinh doanh,
tuyển dụng một số nhân công mới, vừa
kiếm được một tài sản cho ḿnh, vừa
giải quyết sinh kế cho nhiều gia đ́nh, vừa kích
thích một số hoạt động kinh tế khác. Đó
là nhờ một nhà kinh doanh kư được một
hợp đồng xuất cảng với nước
ngoài. Đó là nhờ một doanh nhân hợp tác với
một nhà sáng chế lập ra một số cơ sở
sản xuất một sản phẩm mới, thỏa măn
một cách tốt đẹp hơn nhu cầu của
người tiêu thụ, v.v... Tất cả những
yếu tố đó thường chẳng có mấy liên
hệ với môn kinh tế học. Độc giả có
thể phản bác rằng những thí dụ trên chỉ là
những trường hợp cá nhân, lẻ tẻ trong khi
chúng ta đang nói về kinh tế trên qui mô quốc gia. Xin
thưa rằng kinh tế quốc gia không ǵ khác hơn là
tổng số những trường hợp cụ thể
đó. Sáng kiến, sản phẩm mới, kỹ thuật
mới, phương pháp mới, thị trường
mới, và tính mạo hiểm kinh doanh làm cho kinh tế phát
triển.
Tuyệt đai đa số nhưng chuyên viên kinh tế làm
việc trên những vấn đề rất giới
hạn: những biến thiên trong số lượng tiêu
thụ của loại sản phẩm; nhưng biến
thiên về giá và số lượng sản xuất của
một nguyên liệu; những chuyển biến của
một ngành đặc biệt và những nguyên nhân tạo
ra các chuyển biến đó; những thay đổi trong
cách tiêu xài của quần chúng; trọng lượng
tương đối của dầu khí trong giá thành
cửa một loại mặt hàng; trọng lượng
tương đối của các thành phần xă hội
trong tổng sản lượng quốc gia; biến thiên
của mức lương trung b́nh trong một thời gian
nào đó của một khu vực nào đó; sự phân
phối lợi tức giữa các thành phần xă hội,
v.v... Tất cả những công việc này đ̣i hỏi
một sự hiểu biết lường tận về
đối tượng nghiên cứu, những quan sát
rất chi tiết và đôi khi những dụng cụ toán
học khá phức tạp, đặc biệt là về môn
thống kê. Tuy vậy chúng ta thường chỉ coi là kinh
tế gia những người hiểu biết, hoặc
tỏ ra hiểu biết, về hoạt động kinh
tế tổng hợp của cả quốc gia như
tổng sản lượng quốc gia, khối
lượng tiền tệ lưu hành, tỷ lệ lạm
phát, thất nghiệp, tương quan giữa các khu
vực cấp một, cấp hai, cấp ba, giữa các
ngành hoạt động v.v...., nói một cách khác về môn
kinh tế chính trị (economics hay économie politique), trong khi những
hiểu biết này vừa ít lại vừa dễ.
Kinh nghiệm của tôi tuy chẳng bao nhiêu nhưng cũng
đủ để cho phép tôi khẳng định về
môn kinh tế chính trị nó rất dễ. Một
người b́nh thường với tŕnh độ tú tài,
hơn một chút nữa càng hay, nếu tự tin và
quyết tâm có thể nắm vững những kiến
thức cơ bản của môn kinh tế chính trị trong
ṿng một năm, dĩ nhiên với điều kiện là
có được sách tốt hoặc thầy tốt.
Một số độc giả đọc đến
đây có thể giẫy nẩy lên: Tên này xấc xược
dốt nát nên nói bậy. Lời phê phán này lại càng có
cơ sở bởi v́ kinh nghiệm đă cho thấy không
thiếu những người rất thông minh, có học
vị rất cao, đă từng bỏ ra nhiều năm
nghiên cứu và đă giữ những chức vụ rất
quan trọng vẫn có thể tuyên bố những
điều rất sai về kinh tế. Nếu môn kinh
tế chính trị chỉ giản dị và dễ dàng
như vậy th́ tại sao những người rất
giỏi lại có thể có những nhận định
rất sai?
Quả thực chính tôi cũng đă chứng kiến
nhiều trường hợp như vậy. Một thí
dụ, tôi đă hai lần được nghe hai vị
tiến sĩ kinh tế, một tại Pháp và một
tại Mỹ, nói rằng tham nhũng cũng là một
yếu tố kích thích cần thiết cho phát triển kinh
tế. Vị tiến sĩ tại Mỹ th́ tôi không rơ
lắm nhưng vị ở Paris th́ tôi biết khá rơ, có
học vị thực sự và đang giữ một
chức vụ quan trọng trong một cơ quan nghiên
cứu rất lớn và đầy uy tín. Về phía các nhân
vật quốc tế tôi cũng đă từng
được nghe những vị có uy tín và chức
quyền rất cao phát biểu những điều rất
sai, sai một cách lố lăng. Mà không phải do tôi,
một cách chủ quan coi những phát biểu này là sai,
nhiều chuyên gia rất có thẩm quyền khác đă
chứng tỏ sự sai lạc của chúng một cách rơ
rệt như hai cộng với hai là bốn.
Tại sao những người rất giỏi lại có
thể nghĩ và nói những điều rất sai như
vậy? Theo tôi có ba nguyên nhân chính. Một là những
kiến thức cơ bản thường rất tẻ
nhạt hay ít quyến rũ bởi thế nhiều
người thông minh coi chúng là thiên nhiên, rời không
chịu đầu tư thời giờ nắm cho thật
vững, mà có nắm thật vững th́ những kiến
thức đó mới nhập tâm và trở thành phản
xạ trong lư luận. Không phải ai học thức các định
lư đều có thể giải được những bài
toán, chỉ có những người đă nhập tâm
những định lư đó mới sử dụng chúng
một cách tự nhiên. Nhiều người học kinh
tế vội vă tiến ngay vào những chủ để
sôi động, có thể gây được sự chú ư và
thán phục. Đó là thói thường của những
người nghĩ ḿnh giỏi, khiến họ đôi khi
hụt hẫng. Điều tai hại là do địa
vị của họ, những điều họ nói dễ
được tin, gây ra thành kiến sai cho nhiều
người khác. Cuối cùng một vấn đề
đáng lẽ giản dị trở thành phức tạp.
Không thiếu ǵ những người học vơ không
đủ kiên nhẫn chịu mất th́ giờ để
tập đứng tấn, luyện hô hấp và di
chuyển, mà muốn học ngay những bài quyền, những
thế đánh ngoạn mục. Không thiếu những nhà
văn, nhà thơ không chịu mất th́ giờ t́m hiểu
ngữ pháp và ngữ vựng mà đă vội vă sáng tác và
xuất bản tác phẩm.
Hai là mọi lư luận kinh tế đều phải
dựa trên những sự kiện thực tế, mà
những sự kiện này thường đ̣i hỏi
rất nhiều th́ giờ để t́m kiếm và c̣n
đ̣i hỏi một th́ giờ lớn hơn nữa
để thấu hiểu, cho nên những người thông
minh nhất cũng rất dễ tưởng rằng ḿnh
đă thấu hiểu, rồi đưa ra những kết
luận vội vă và sai lạc.
Ba là bản tính con người, dù thuộc chủng tộc
hay văn hóa nào, thường rất ít khi mất th́
giờ để kiểm điểm những kiến
thức và niềm tin của ḿnh để t́m xem có ǵ mâu
thuẫn không, cho nên một con người rất thông thái
vẫn có thể cùng một lúc tin ở những sự
kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Thái độ ba
phải này h́nh như đặc biệt trầm trọng
nơi người á Đông nói chung và người Việt
nam nói riêng. Một thí dụ là quan điểm tam giáo
đồng nguyên của chúng ta, ván thường
được viện dẫn để chứng minh và
tự hào, rằng người Việt nam rất bao dung và
đă tổng hợp được một cách đẹp
đẽ ba ḍng tư tưởng Khổng, Phật, Lăo.
Thế nào là đồng nguyên? Nếu hiểu là cùng
nguồn gốc địa lư th́ chắc chắn sai v́
Phật Giáo xuất phát từ ấn Độ trong khi Lăo
Giáo và Khổng Giáo xuất phát từ Trung Hoa. Nếu
hiểu là cùng một thái độ th́ cũng sai v́ chọn
lựa cơ bản của Khổng Giáo chỉ thực
tiễn là làm quan lại, chọn lựa của Lăo Giáo là
không t́m kiếm bất cứ ǵ, trong khi chọn lựa
Phật Giáo là t́m giải thoát cá nhân cho những đau
khổ của cuộc sống. Người ta có thể
kính trọng cả ba nhưng không thể nghĩ rằng có
thể theo cả ba cùng một lúc và càng không thể coi chúng
là đồng nguyên được. Một thí dụ
động trời khác là chủ trương kinh tế
thị trường theo định hướng Mác-Lênin.
Làm sao có thể mâu thuẫn đến như thế
được, chủ nghĩa Mác Lênin là ǵ nếu không
phải là sự phủ nhận một cách thù ghét thị
trường? Nếu mỗi người chúng ta thỉnh
thoảng bỏ thời giờ kiểm điểm
những hiểu biết của ḿnh và cố gắng t́m ra
nhưng mâu thuẫn giữa những hiểu biết đó
th́ hay biết bao. Đến đây, tôi đă nói mông lung
lắm rồi, xin đi vào một số vấn đề
cụ thể.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Huyền thoại kế hoạch
Vấn
đề đầu tiên là kế hoạch kinh tế. Tôi
vẫn thường được hỏi: Các anh có kế
hoạch ǵ để phát triển kinh tế. Người
Việt nam chúng ta, miền Nam cũng như miền
Bắc, cộng sản cũng như chống cộng,
rất coi trọng kế hoạch. Chính quyền miền
Nam ngày trước có cả một Bộ Kế Hoạch.
Chính quyền miền Bắc ngày trước (và Việt nam
ngày nay) có một phó thủ tướng đặc trách
kế hoạch đứng đầu ngành kinh tế,
chỉ gần đây kế hoạch mới hơi
xuống giá, chỉ c̣n lại một Bộ Kế
hoạch và Đầu tư mà thôi. Phải nói thẳng tôi
rất dị ứng với kế hoạch. Lư do là v́ tôi
tin tưởng vào kinh tế thị trường, mà kinh
tế thị trường là ǵ nếu không phải là
để cho thị trường quyết định giá
cả cũng như số lượng của từng
sản phẩm? Làm sao có thể vừa tin ở kinh tế
thị trường - nghĩa là để cho tư nhân theo
quan sát thị trường tự quyết định làm
ǵ, làm tới đâu, và với giá nào - lại vừa
quyết định là trong năm năm tới phải
sản xuất bao nhiêu quần áo, bao nhiêu xe gắn máy? Cùng
lắm chúng ta chỉ có thể tiên liệu để
biết sẽ phải thích nghi như thế nào. Cùng
lắm nhà nước chỉ có thể có những kế
hoạch xây dựng hạ tầng cơ sở. Giữa hai
điều, kế hoạch và kinh tế thị
trường, phải chọn một. Các nước tư
bản phát triển không có bộ kế hoạch.
Nước Pháp cho tới đầu thập niên 1980
vẫn c̣n Cao ủy Kế hoạch, giờ đây không
thấy ai nói đến nữa, Cao ủy Kế hoạch
vẫn c̣n, nhưng vai tṛ chủ yếu của nó là phân
phối những cơ sở vật chất mà nó
đứng tên làm chủ quản, trước khi biến
mất. Người cộng sản, trước đây, có
lẽ ít mâu thuẫn hơn người không cộng
sản ở điểm này v́ họ phủ nhận tự
do kinh doanh và tin, hay ít nhất tuyên bố là tin, ở kế
hoạch. Nhưng giờ đây khi họ cũng đă tin,
và có lẽ là tin thực, ở kinh tế thị
trường th́ họ cũng phải chọn lựa.
Một mâu thuẫn khổng lồ khác của chính quyền
cộng sản là, một mặt tin rằng kế
hoạch là cốt lơi của kinh tế và kinh tế rất
phức tạp, một mặt lại chỉ đặt
vào địa vị lănh đạo kế hoạch và kinh
tế những người hoàn toàn không có một khả
năng chuyên môn nào về kinh tế và cũng chưa hề
quen biết với những vấn đề kinh tế.
Chẳng hạn như nhà thơ Tố Hưu
được đưa lên làm phó thủ tướng
đặc trách kế hoạch kinh tế, rồi
đến ông Vơ Văn Kiệt, một vị tướng
công an suốt cuộc đời hoại động
chỉ lo tổ chức tuyên truyền, bắt cóc, ám sát. Sau
ông Kiệt là ông Phan Văn Khải, một người,
theo những người từng học và làm việc
với ông, tuy có được gởi sang du học Liên xô
vài năm nhưng v́ vốn tiếng văn hóa và ngoại
ngữ quá yếu nên chẳng học được ǵ và
phần lớn sự nghiệp là làm phụ tá ngoan ngoăn cho
ông Kiệt. Những nhà kinh tế thực sự phải có
can đảm nói thẳng, mỗi khi được
hỏi, là chúng ta không thể có kế hoạch kinh tế
nếu chúng ta thực sự chọn kinh tế thị
trường, nghĩa là nếu chúng ta thông minh.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Laissez-faire?
Nhưng
chúng ta có cần một chính sách kinh tế không? Tôi lại
có thể bị coi là khiêu khích nếu trả lời
thực ra cũng không cần lắm. Nhưng quả
thực là như thế. Những biện pháp mà chúng ta
thường gọi là kinh tế như đào tạo chuyên
môn, gởi sinh viên ra nước ngoài thực tập,
khuyến khích hay hạn chế tín dụng, mở mang
đường giao thông, xây dựng thương cảng,
nhà kho, v.v... thực ra phải xuất phát từ nhu cầu
thị trường và một phần lớn cũng
phải do tư nhân làm chứ không do nhà nước tự
ư quyết định và thực hiện một ḿnh. Trong
một sinh hoạt kinh tế thị trường, thông
thường nhà nước chỉ có thể nghiên cứu,
tiên liệu và thông tin cho doanh nhân để họ có thể
quyết định đúng. Nhưng những điều
này các công ty tư cũng có thể làm được, và
thường nên để họ làm v́ họ làm đúng
hơn.
Một khi đă chấp nhận kinh tế thị
trường, nhà nước chỉ c̣n rất ít việc
phải làm v́ mọi chọn lựa đều giản
dị và rơ rệt, hầu như bắt buộc: phải
khuyến khích sản xuất, nội thương,
ngoại thương; phải giản dị hóa công
việc của doanh nhân, phải có thông tin kinh tế chính
xác và kịp thời; phải cố gắng trải
đều hoạt động kinh tế trên khắp lănh
thổ thay v́ tập trung vào một số địa
phương, v.v... Chẳng cần ǵ một chính sách kinh
tế, tất cả những việc đó đều
hiển nhiên phải làm và phải làm tối đa. Làm
thế nào là một chuyện khác, nhưng không c̣n là
những vấn đề kinh tế nữa. Nếu có
một bí quyết th́ đó chỉ là bí quyết mà ai
cũng biết, đó là phải đối thoại
thường xuyên và đầy đủ với doanh nhân,
để biết những yêu cầu và khó khăn của
họ. Và nhà nước càng làm ít chừng nào càng tốt
chừng ấy. Adam Smith từng được coi, có
lẽ hơi oan, là sáng tổ của trường phái
cứ để họ làm (laissez-faire), nghĩa là cứ
để các tác nhân kinh tế tự t́m lấy cách làm
việc rồi đâu sẽ có đó, sẽ có một bàn
tay vô h́nh an bài tất cả một cách tốt đẹp.
Không nên hiểu Smith một cách quá khích, cứ để
họ làm không có nghĩa là cứ để nó chết hay
cứ để mặc chúng nó tàn sát nhau. Đó chỉ là
một cách để nói rằng các tác viên kinh tế qua
cọ sát và trao đổi thường ngày, mỗi
người theo đuổi mục đích lợi nhuận
riêng của ḿnh, dần dần sẽ đi đến
một thăng bằng trong đó mọi người
đều có phần và đều đóng góp cho phát
triển của xă hội; nhà nước nên giới
hạn ở mức tối thiểu những can thiệp
của ḿnh, nhất là không nên áp đặt những kế
hoạch và mục tiêu. Như thế không có nghĩa là vai
tṛ của nhà nước không quan trọng. Trái lại nhà
nước có vai tṛ rất quan trọng trong việc
quyết định thăng bằng đó sẽ như
thế nào. Sẽ là một thăng bằng rừng rú trong
đó kẻ mạnh đề bẹp kẻ yếu hay là
một thăng bằng văn minh và nhân bản. Sẽ là
một thăng bằng ở mức độ thấp hay
cao. Nhưng đây không phải là một vấn đề
thuần túy kinh tế, mà là một vấn đề văn
hóa và chính trị.
Vai tṛ chính của nhà nước là vai tṛ của một
trọng tài, bảo đảm pháp luật, trật tự
và an ninh, diệt trừ tham nhũng và tạo những quan
hệ ngoại giao tốt đẹp đồng thời
thông tin chính xác về sinh hoạt kinh tế thế giới
để giúp doanh nhân t́m thị trường và tránh
những sai lầm tai hại. Muốn giúp doanh nhân t́m
thị trường xuất cảng th́ phải bổ
nhiệm ở các ṭa đại sứ những tùy viên
thương mại có khả năng nhất, nhưng đó
không phải là một vấn đề kinh tế mà
chỉ là vấn đề làm việc đứng
đắn, không tham nhũng, không phe đảng.
Kinh tế phát triển là do những tiến bộ về
khoa học và kỹ thuật làm gia tăng năng suất,
nhưng gia tăng năng suất là một vấn
đề của các chuyên viên trong các xí nghiệp.
Kinh tế cũng phát triển nhờ t́m được các
thị trường mới hoặc cải thiện các
thị trường có sẵn, trong cũng như ngoài
nước. Nhưng trong một nền kinh tế thị
trường cố gắng này là của các công ty chứ
không phải của nhà nước. Vai tṛ của nhà nước
trong hoạt động kinh tế là tạo điều
kiện để doanh nhân hoạt động dễ dàng và
bảo đảm cạnh tranh công bằng. Chỉ có
thể. Chấm, và chấm hết.
Những điều mà chúng ta thường coi là nằm
trong một chính sách kinh tế thường thường là
những việc chớ nên làm, thí dụ như nâng
đỡ một ngành này, hạn chế một ngành khác,
cho nhập cảng một loại hàng này, cấm nhập
cảng một mặt hàng khác hay đánh thuế nặng
một số mặt hàng. Nhưng can thiệp đó làm
lệch lạc đi qui luật thị trường và
tạo ra những hậu quả tai hại gấp
nhiều lần lợi ích trước mắt mà
thường người ta chỉ khám phá ra sau khi đă quá
trễ. Tại sao? Bởi v́ không ai có thể nắm
vững được hết những liên hệ đan
xen chằng chịt của một thị trường
với hàng chục triệu đối tác, mọi tính toán
đề chỉ có thể là giản đơn và do đó đều
sai. Việc khuyến khích phát triển các vùng nghèo khó
thực ra cũng không nằm trong một chính sách kinh
tế. Giải pháp cũng rất hiển nhiên: mở mang
đường giao thông và viễn thông và tản quyền
tối đa để doanh nhân có thể giải quyết
mọi vấn đề thủ tục và hành chánh ngay
tại chỗ. Lúc đó không cần khuyến khích doanh nhân
cũng sẽ t́m đến những vùng nhà đất
rẻ, nhân lực rẻ và dồi dào, thị trường
chưa được cũng ứng đúng mức.
Nhưng nếu kế hoạch không nên có, chính sách cũng
không cần thiết th́ vẫn c̣n lại vấn đề
quản lư kinh tế. ở đây vấn đề cũng
khá giản dị và trong lô gích thị trường các
giải pháp cũng khá hiển nhiên. Vai tṛ quản lư kinh
tế của nhà nước thực ra không có ǵ phức
tạp.
Trước hết cần có luật lệ kinh doanh
đúng đắn và giản dị. Đây có lẽ là
điều khó nhất về mặt chuyên môn. Cần
đối thoại thường trực với doanh nhân và
các nghiệp đoàn để hiểu biết các vấn
đề đặt ra cho các xí nghiệp và các ngành
nghề; cần hiểu biết luật lệ và thông
tục thương mại quốc tế. Luật pháp
một mặt phải thích nghi thường trực
với thực tế nhưng mặt khác cũng không
được thay đổi quá đột ngột,
đặt doanh nhân trước những bất ngờ
bối rối. Luật cũng phải được
mọi người thấu hiểu và hiểu như nhau.
Xét cho cùng th́ cách để làm luật hay nhất vẫn là
thảo luận tự do. Đó cũng là cách để mọi
người biết đến luật và hiểu luật.
Vấn đề sau đó là áp dụng luật pháp một
cách công minh, điều này cần những luật sư và
những thẩm phán có khả năng và một bô máy tư
pháp không tham nhũng, nhưng đây không phải là một
vấn đề kinh tế, mà là một vấn đề
chính trị và đào tạo.
Vấn đề quan trọng thực sự là quản lư
tiền tệ, nhưng ở đây kinh nghiệm đă
chứng tỏ rằng giải pháp cũng khá hiển nhiên,
chỉ cần áp dụng đúng đắn:
- Không nên áp đặt một hối suất cố
định cho đồng tiền, trái lại nên thả
nỗi hối suất để nó thích nghi hàng ngày với
thực tế, và như thế tránh được
những đầu cơ trên hối suất;
Kiểm soát lăi suất căn bản (lăi suất chiết
khấu) để giữ cho lạm phát đừng quá cao
và cũng đừng quá thấp, đâu đó ở mức
từ 3 tới 5 % đối với một nước
như Việt nam. T́m ra một tỷ lệ lạm phát
thích hợp là một điều rất khó, chỉ có
thể làm được sau một thời gian ḍ dẫm,
một khi đă t́m được rồi canh chừng nó,
nếu mức lạm phát lên cao hơn mức thích hợp
th́ tăng lăi suất chiết khấu, nếu mức
lạm phát xuống dưới mức thích hợp th́
giảm lăi suất chiết khấu.
Quản lư tiền tệ không phức tạp nhưng
phải ḍ dẫm một cách thận trọng. Trên thực
tế khuynh hướng chung của thế giới là không
trao quyền phát hành tiền và quản lư lăi suất cho nhà
nước mà trao cho một ngân hàng trung ương với
một thống đốc và một hội đồng
quản trị do chính phủ bổ nhiệm nhưng
hoạt động độc lập, hay gần như
độc lập, với chính quyền. Như vậy trách
nhiệm quản lư kinh tế của nhà nước
thực ra càng ngày càng nhẹ đi. Vấn đề khó
khăn nhất, và cũng hoàn toàn thuộc quyền của
chính quyền, là quyết định mức thuế cho
từng khoản lợi tức (lương bổng, lăi xí
nghiệp, lời chứng khoán, v.v...) và cho từng ngành,
từng mặt hàng. ở đây cũng có một
trường phái đ̣i giản dị hóa thuế bằng
cách đánh một thuế suất gộp cho tất cả
(flat tax). Có thể đây chỉ là một sự giản
dị hóa quá đáng và không thực tiễn nhưng ít
nhất nó cũng chứng tỏ có một chiều
hướng giảm thiểu vai tṛ quản lư kinh tế
của nhà nước. Chính sách thuế tùy thuộc
trước hết ở triết lư chính trị. Thuế
là phương tiện để nhà nước thực
hiện những nhiệm vụ cơ bản của ḿnh:
bảo vệ lănh thổ, an ninh quốc gia, công lư, giáo
dục, y tế, và nhất là liên đới xă hội.
Mức thuế cao th́ doanh nhân sẽ chán nản, không
phấn khởi đầu tư nữa và hoạt
động kinh tế sẽ suy giảm kéo theo sự suy
giảm của tổng sản lượng quốc gia và
mức sống. Ngược lại, thuế không
đủ (thế nào là đủ là một vấn
đề khác) th́ nhà nước sẽ không làm tṛn
được nhiệm vụ của ḿnh, nhất là
nhiệm vụ cứu trợ và liên đới, xă hội
sẽ căng thẳng và hỗn loạn, trật tự
trị an không được bảo đảm, giáo dục
và đào tạo sẽ xuống cấp với hậu
quả sau cùng là chính hoạt động kinh tế cũng
sẽ suy sụp. ở đây cũng thế, không có
một lư thuyết nào cả, phải ḍ dẫm và rút kinh
nghiệm mà thôi và chỉ có thể thay đổi một
cách rất chậm chạp và thận trọng. Vấn
đề xem ra có vẻ phức tạp, nhưng thực ra
không phức tạp v́ việc tăng hay giảm thuế
thường thường chỉ ở mức độ
một hay một nửa phần trăm.
Tóm lại, quản lư kinh tế là trách nhiệm thực
sự và cần thiết của nhà nước, nhưng
không phải là khó. Có thể nói một nhà nước
chỉ bảo đảm được luật pháp,
trật tự an ninh và nhất là không tham nhũng cũng
đă rất tốt rồi.
Tuy nhiên có một vấn đề quan trọng liên quan
đến triết lư chính trị là có nên tách rời trách
nhiệm liên đới.xă hội và hoạt động
của các xí nghiệp hay không. Nói một cách khác, có nên buộc
các xí nghiệp phải trực tiếp đảm nhiệm
một phần công tác liên đới xă hội như qui
định một số ngày huấn luyện nhất
định trong năm, tôn trọng một số ngày
nghỉ lớn (như năm hay sáu tuần lễ tại
châu Âu), trả lương những ngày nghỉ bệnh,
chịu một số ràng buộc trong việc sa thải
v.v... hay không?
Mọi xă hội văn minh đều phải đặc
biệt quan tâm đến liên đới xă hội. Xă
hội văn minh không thể từ chối cho
người què một cặp nạng. Không một ưu
tư phát triển nào có thể biện minh cho sự bỏ
rơi những người nghèo khó, thương tật.
Giúp đỡ những người yếu đuối
hoặc thiếu may mắn để họ vươn lên
đóng góp cho sự phận vinh chung, không những chỉ
là một phản xạ nhân bản mà c̣n là một hành
động thông minh của cộng đồng quốc gia.
Dĩ nhiên là các xí nghiệp phải tham gia vào công tác liên
đới xă hội, nhưng tham gia như thế nào và
đến một mức độ nào tùy thuộc ở
triết lư chính trị. Quan niệm của tôi là phải
tách rời hai nhiệm vụ. Liên đới xă hội là
trách nhiệm của nhà nước, bỏn phận của
các công ty là sản xuất thực nhiều và t́m lợi
nhuận tối đa; không nên bắt các xí nghiệp
phải đảm nhận một nhiệm vụ không
nằm trong chức năng tự nhiên của nó.
Điều này có nghĩa là các qui định về trách
nhiệm của các công ty phải thực sự là tối
thiểu, phần c̣n lại là thỏa thuận giữa xí
nghiệp và công nhân theo từng trường hợp. Nhà
nước chỉ bảo đảm sự thực
hiện đứng đắn của hợp đồng.
Liên đới xă hội sẽ do nhà nước thực
hiện với sự hợp tác của các tổ chức
thiện nguyện thuộc xă hội dân sự. Và nhà
nước đảm nhiệm chức năng liên
đới xă hội của ḿnh qua thuế. Nếu thấy
cần tăng thêm các trợ cấp xă hội, nhà
nước sẽ tăng thuế, ngược lại,
nếu thấy nhu cầu bớt căng thẳng nhà
nước có thể giảm thuế. Và nhà nước
sẽ phải có những sáng kiến để
động viên xă hội dân sự đóng góp và tham gia vào
các công tác liên đới xă hội.
Tới đây, để chấm dứt với huyên
thoại về sự phức tạp và cao siêu của kinh
tế, xin thêm vài ghi chú về lạm phát và thất
nghiệp: Các vấn đề quản lư kinh tế có
thể rất nhức nhối nhưng đều giản
dị về mặt lư thuyết. Riêng hai vấn đề
lạm phát và thất nghiệp thường hay gây một
số ngộ nhận, các ngộ nhận này lại
thường được các nhà kinh tế khuếch
đại ra trong mục đích làm cho ḿnh có vẻ thông thái
hơn. Hậu quả là quần chúng hoang mang và nghĩ
rằng đó là những vấn đề rất phức
tạp.
Khẩu hiệu thông thường là chống lạm phát,
nhưng chống lạm phát không có nghĩa là đem tỷ
lệ lạm phát xuống số không. ở một mức
độ thấp, lạm phát không những có lợi mà c̣n
cần thiết. Thí dụ, một mặt, nhiều khi
cần giảm lương công nhân trong một số ngành
nghề đang suy thoái không c̣n khả năng sử dụng
số lượng nhân công mà chúng đang sử dụng
nữa để thúc đẩy các công nhân tự cố
gắng di chuyển sang những hoạt động khác
đang phát triển, có như thế sinh hoạt kinh tế
mới năng động và không ngừng thích nghi với
tiến hóa, có như thế kinh tế mới lành mạnh.
Nhưng, mặt khác, các xí nghiệp không thể cắt
giảm lương mà không gây bất măn và xáo trộn.
Giải pháp, cần thiết v́ lư do tâm lư, là vẫn tăng
lương mà thực sự là giảm. ở một
mức lạm phát 5%, xí nghiệp (và cả nhà nước)
có thể tăng lương cho công nhân (hay công chức) 2 %.
Thực tế là lương đă giảm 3% và công nhân
thấy rơ điều đó, nhưng sẽ không phản
ứng giận dữ.
Khẩu hiệu thông thường cũng là toàn dụng,
nghĩa là mọi người đều có công ăn
việc làm, nhưng một tỷ lệ thất nghiệp
quá thấp không cần phải ở số không, cũng làm
cho các hoạt động kinh tế mất đi sự co
giăn, và đưa tới bế tắc v́ một mặt
cản trở sự phát triển của các ngành cần
công nhân, một mặt đưa tới tăng
lương và lạm phát, chưa kể là c̣n không kích thích
sự học hỏi và cầu tiến. Vả lại
một tỷ lệ thất nghiệp thấp, ở
mức 4% hay 5%, hoàn toàn có thể quản lư được
trong một quốc gia đă dự trù các biện pháp liên
đới xă hội. Vậy phải nói một cách bộc trực
là quốc gia nào cũng cần duy tŕ một mức lạm
phát vừa đúng và một tỷ lệ thất nghiệp
thích nghi.Vấn dề khó là làm thế nào để
định ra tỷ lệ lạm phát vừa đúng và
tỷ lệ thất nghiệp thích nghi. Đây cũng không
phải là một vấn đề lư thuyết mà chỉ là
kết quả của một sự quan sát trong một
thời gian dài. Hai tỷ lệ này thay đổi theo
từng quốc gia, và trong mỗi quốc gia theo từng
thời kỳ. Sau khi đă t́m ra các tỷ lệ này,
đụng cụ chính để giữ lạm phát và
thất nghiệp ở đó là lăi suất cơ bản.
Một cách giản dị, trừ khi có những biến
cố đặc biệt, khi lăi suất cơ bản
được hạ thấp th́ tín dụng và đầu
tư sẽ gia tăng, kéo theo sự tăng trưởng
của sản lượng quốc gia và số công ăn
việc làm, nghĩa là sẽ làm giảm tỷ lệ
thất nghiệp, nhưng đương thời cũng
làm gia tăng tỷ lệ lạm phát. Ngược lại,
khi lăi suất cơ bản tăng lên th́ tín dụng và
đầu tư sẽ giảm, lạm phát sẽ giảm
nhưng hoạt động kinh tế cũng giảm và
thất nghiệp sẽ tăng. Nhà nước, hoặc
ngân hàng trung ương, phải hết sức thận
trọng trong việc giảm lăi suất mặc dầu nó
có tác dụng kích thích các hoạt động kinh tế v́
kinh nghiệm ở mọi nước cho thấy chống
lạm phát là một việc rất tốn kém, tốn kém
gấp bội lợi ích có được vào lúc hạ lăi
suất để kích thích tăng trưởng.
Cần lưu ư một sự kiện mà chính quyền
tại các nước phát triển nào cũng biết
nhưng không nh́n nhận: tỷ lệ lạm phát thay
đổi chậm hơn so với tỷ lệ thất
nghiệp. Do đó các ngân hàng trung ương thường
quan sát tỷ lệ thất nghiệp để có thể
hành động nhanh chóng. Khi cảm thấy tỷ lệ
thất nghiệp xuống quá thấp so với tỷ
lệ thất nghiệp tối ưu họ gia tăng lăi
suất để nâng số người thất nghiệp
lên. Dĩ nhiên mục đích tốt là để trả
lại cho kinh tế mức độ co giăn cần
thiết và tránh lạm phát, nhưng thực tế là họ
đă căn cứ vào tỷ lệ thất nghiệp
để canh chừng lạm phát và cố t́nh gia tăng
mức độ thất nghiệp khi thấy nó xuống
quá thấp. Điều này họ làm và phải làm nhưng
không bao giờ dám công khai nh́n nhận v́ đối với
công chúng nó quá phũ phàng. Họ biện bạch loanh quanh.
Hậu quả là cuộc thảo luận về kinh tế
càng trở thành khó hiểu. Nhưng cuộc tranh căi về
kinh tế trong các nước dân chủ thường hay
rất sôi nổi v́ chúng đụng chạm tới túi
tiền của mọi người, và do đó
được chăm chú theo dơi, chúng cũng rác rối v́
phải dung ḥa những quyền lợi mâu thuẫn,
nhưng không phải v́ chúng thực sự cao siêu và phức
tạp.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Quốc gia, dân tộc
Trên
những khái niệm rất cơ bản về chính
trị hầu như chúng ta không có cùng một ngôn ngữ.
Thảo luận chính trị là điều khá mới
đối với người Việt, nếu thêm vào
đó chúng ta lại không đồng ư trên những khái
niệm như quốc gia, dân tộc, nhà nước, v.v...
th́ cuộc thảo luận lại càng khó khăn.
Điều này thực ra không đáng ngạc nhiên lắm v́
ít nhất hai ly do.
Lư do đầu tiên là do chính sự phức tạp của
những khái niệm chính trị cơ bản, đó là
những phát minh rất phức tạp của trí tuệ mà
cho tới nay vẫn chưa có đồng thuận dứt
khoát.
Lư do thứ hai là do cách tiếp cận của người
Việt nam (đúng ra là của người Trung Hoa mà
người Việt bắt chước) đối
với các khái niệm chính trị đến từ
phương Tây. Cách tiếp cận này là lấy một
từ ngữ được coi là tương
đương của ngôn ngữ Trung Hoa để
dịch một từ ngữ của phương Tây, trong
khi những từ ngữ tương đương đó
có thể chẳng tương đương chút nào v́
chứa đựng hai khái niệm khác nhau, có khi c̣n
ngược hẳn với nhau. Cách tiếp cận này
đưa đến ngộ nhận cả trong các cuộc
thảo luận lẫn trong cách suy nghĩ.
Một vài thí dụ:
Càng ngày tôi càng được đọc nhiều bài
của các vị rất uyên thâm, trong đó từ ngữ
dân tộc được kèm theo trong ngoặc đơn
chữ nation. Các vị này muốn nhấn mạnh dân
tộc có nghĩa là nation trong tiếng Pháp và tiếng Anh.
Khi viết dân tộc (nation), chắc chắn tác giả
rất tin tưởng về sự hiểu biết
của ḿnh và sợ người đọc không hiểu.
Tuy nhiên cũng những vị này, có khi trong cùng một bài,
lại dịch peuple, hay people, cũng là dân tộc, trong khi
trong tiếng Pháp peuple và nation là hai khái niệm khác nhau. Tôi
cũng đă từng gặp nhiều vị dịch từ
kép nation-state (hay état-nation) là quốc gia dân tộc. Tôi
tưởng tượng ra sự bối rối của
những độc giả có đôi chút kiến thức
chính trị. Cụm từ quốc gia dân tộc trong
tiếng Việt từ trước đến nay vẫn
chỉ là cách viết tắt của quốc gia và dân
tộc. Tranh đấu v́ quốc gia dân tộc có nghĩa
là tranh đấu cho quốc gia và dân tộc. Mỗi ngôn
ngữ có những đặc tính riêng, một trong những
đặc tính của tiếng Việt là hay tiết
kiệm chữ và. Chúng ta hay nói anh em họ hàng thay v́ anh em
và họ hàng. Tinh thần quốc gia dân tộc có nghĩa là
tinh thần quốc gia và dân tộc. Từ kép nation-state (hay
état-nation) có một ư nghĩa hoàn toàn khác. Chúng ta sẽ c̣n
trở lại trong đoạn sau. Ngộ nghĩnh hơn nữa,
nhiều vị c̣n chiết tự những danh từ chính
trị theo chữ Hán. Chẳng hạn như nhiều
vị giải thích danh từ pháp luật bằng cách
giải nghĩa pháp là ǵ, luật là ǵ, v.v... trong khi khái
niệm pháp luật của phương Tây và của Trung
Hoa rất khác nhau, và tác giả đang nói về luật
pháp theo nghĩa thông dụng đối với mọi
người hôm nay, nghĩa là theo quan niệm phương
Tây, do đó không thể chiết tự theo chữ Hán.
Chúng ta đă không quen với lư luận chính trị mà
lại hiểu khác nhau những khái niệm cơ bản
th́ làm sao hiểu được nhau? Như vậy chúng ta
cần đồng ư với nhau trên ư nghĩa của
một số từ ngữ trước khi muốn đồng
ư với nhau về lập trường. Có thể sau khi
đă đồng ư với nhau về từ ngữ, chúng ta
sẽ khám phá ra rằng chúng ta không có ǵ khác biệt.
Tôi sắp liều lĩnh đề nghị một số
định nghĩa cho một số từ ngữ cần
thiết cho các cuộc thảo luận chính trị.
Liều lĩnh, bởi v́ quốc gia, dân tộc, nhà
nước, chủ quyền, v.v... là những ư niệm tuy
thường gặp nhưng lại rất phức
tạp. Đă có hàng trăm cuốn sách trong đó có
nhưng cuốn dầy cả ngàn trang đề cập
tới những khái niệm này mà vẫn chưa sáng tỏ.
Những đề nghị sau đây chỉ có thể là
sơ sài. Tôi cũng tự giới hạn trong cái nh́n
của một người dân chủ, nhưng điều
này có lẽ cũng không thực sự là một giới
hạn nếu ta hiểu rằng cái nh́n dân chủ là cái nh́n
chung của cả thế giới hiện nay. Độc
giả sẽ lưu ư là tôi dùng nhiều qui chiếu
bằng tiếng Pháp hơn là tiếng Anh. Lư do là các dân
tộc Anh và Mỹ nặng đầu óc thực nghiệm,
không mất th́ giờ để định nghĩa
những ư niệm phức tạp về mặt lư
thuyết. Họ cũng không có yêu cầu, bởi v́ gần
như họ không có tranh luận chính trị thực
sự. Họ đă chấp nhận ngay từ đầu
chủ nghĩa cá nhân tự do, với cái hệ luận
tất yếu của nó là dân chủ thị trường,
và không bao giờ phải đặt lại những
vấn đề triết lư chính trị và chủ nghĩa.
Đó là những dân tộc may mắn, nhưng cũng v́
thế mà tư tưởng chính trị của họ không
phong phú bằng Pháp, đất nước của các
cuộc cách mạng và xung đột ư thức hệ.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Quốc gia
Trước
hết là quốc gia, danh từ Việt nam để
dịch chữ nation, cả trong tiếng Pháp lẫn
tiếng Anh. Quốc gia là một khái niệm rất
trừu tượng được phát minh ra trong cuộc
cách mạng Pháp để bao gồm một lănh thổ,
một chính quyền, một di sản văn hóa trong đó
thông thường ngôn ngữ là chính, một lịch sử
và một tập thể nhưng con người chấp
nhận lịch sử đó và di sản văn hóa đó,
chịu sự chi phối của chính quyền đó và cùng
xây dựng với nhau một lương lai chung.
Điều khó hiểu trong định nghĩa này là
phần lớn các thành tố của quốc gia lại
không chắc chắn. Quốc gia Hoa Kỳ chẳng hạn
đă ra đời vào lúc hầu như chưa có lịch
sử với nhiều di sản văn hóa khác nhau. Lănh
thổ có thể bị chiếm đóng, chính quyền có
thể bị lưu vong hoặc tạm thời tan ră, ngôn
ngữ có thể không phải chỉ có một, v v. mà
quốc gia vẫn có hoặc vẫn c̣n. Ngoại trừ dân
tộc và ư định chia sẻ một tương lai
chung h́nh như không có thành tố nào tuyệt đối phải
có, mặc dầu nếu có cũng có thể làm rơ hơn
sự hiện hữu của quốc gia. Một thành
tố mạnh, thí dụ như di sản văn hóa, có
thể bù lại cho sự yếu kém, hoặc ngay cả
vắng mặt, của một hay nhiều thành tố khác
Người ta có thể định nghĩa một
quốc gia b́nh thường nhưng lại gập bối
rối lớn trong những trường hợp
đặc biệt. Quốc gia trước hết là
một khái niệm tinh thần và t́nh cảm, trong đó nguyện
ước chia sẻ một tương lai chung có tầm
quan trọng quyết định. Một quốc gia trong
đó mọi người không theo đuổi một
dự án tương lai chung, v́ có nội chiến hay v́
quốc gia bị đặt dưới quyền
định đoạt tùy tiện của một số
người trong khi đa số dân chúng không có tiếng nói
trong những quyết định lớn, không c̣n là một
quốc gia đúng nghĩa. Đồng nghĩa với
quốc gia là nước, đất nước, non sông hay
tổ quốc được dùng tùy trường hợp.
Nước được dùng khi ta muốn nhấn
mạnh đến yếu tố địa lư. Về
nước có nghĩa là về lănh thổ Việt nam.
Nước cũng được dùng khi muốn
đề cập đến quốc gia một cách giản
dị. Tương đương với nước trong
tiếng Pháp là pays, trong tiếng Anh là country. Đất
nước được dùng để chỉ quốc
gia một cách t́nh cảm. Non sông càng t́nh cảm hơn v́ bé
nhỏ và gần gũi hơn, cũng như sơn hà, sông
núi.
Tổ quốc cũng t́nh cảm như đất
nước, non sông, nhưng nhấn mạnh hơn về
lịch sử và di sản văn hóa. Chính v́ nó gợi
lại lịch sử và tổ tiên, mà tổ quốc có tính
thiêng liêng hơn, và do đó cũng xa cách hơn đất
nước. Tổ quốc, do đó, chỉ nên dùng trong
những trường hợp đặc biệt trang
trọng. (Dùng tổ quốc để đạt tên cho
một tổ chức chính trị, nhất là một tổ
chức bù nh́n như Mặt Trận Tổ Quốc, là
một sự thô bỉ).
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Nhà nước
Đi
kèm với quốc gia là nhà nước, danh từ của
tiếng Việt tương đương với từ
état của tiếng Pháp hay state của tiếng Anh. Chắc
không khỏi có những độc giả xua tay phản
bác: Tầm bậy, quốc là nước, gia là nhà, quốc
gia là nhà nước. Xin chớ nóng nảy, chúng ta đang
nói tiếng Việt, và không phải tiếng Việt nào
cũng phải rập khuôn theo chữ Hán. Máy bay trực
thăng không đồng nghĩa với máy bay lên thẳng
v́ có những máy bay lên thẳng không phải là trực
thăng. Trực thăng là loại máy bay lên thẳng và có
quạt trên nóc. Người Việt nam ta hiểu khá rơ
thế nào là nhà nước. Đó là toàn bộ guồng máy
chính quyền: lập pháp, tư pháp và hành pháp. Nói một
cách giản dị đó là quốc hội, các ṭa án, chính
phủ và các cơ quan thuộc quyền điều
khiền của chính phủ.
Nếu định nghĩa vật chất của nhà
nước khá giản dị th́ ư nghĩa và vai tṛ của
nó lại rất phức tạp. Georges Burdeau, một trong
những học giả nổi tiếng của nước
Pháp về các định chế chính trị, từng nói
rằng nhà nước là phát minh phức tạp nhất
của loài người từ ngày khai thiên lập
địa. Nhận định này không phải là quá
đáng. Đặc tính nổi bật của nhà
nước là nhà nước là thực thể duy nhất
trong quốc gia có quyền áp đặt một
cưỡng chế thân xác trên con người. Nhưng
đây là một đặc tính chứ không phải là
một định nghĩa. Nhà nước (état, State)
đảm nhiệm vai tṛ đại diện toàn quyền
và đuy nhất cho quốc gia. Thế giới chỉ
biết đến quốc gia qua nhà nước.
Đối với quốc tế, nhà nước là quốc
gia. Chính v́ thế mà một số nước đă tự
giới thiệu ḿnh là état hay state. Trước đây chúng
ta đă có Quốc Gia Việt nam, được dịch ra
là état du Vietnam, hay State of Việt nam. Hiện nay có état dIsrael
hay State of Israel, sắp tới có état Palestinien hay Palestinian
State, có thể dịch là Quốc Gia Do Thái, Quốc Gia
Palestine, nhưng thực ra là Nhà Nước Do Thái, Nhà
Nước Palestine. Lư do khiến các quốc gia này hay
xưng ḿnh là état hay State thay v́ nation là v́ ư niệm nation
vừa phức tạp vừa t́nh cảm mà lại
thiếu sự xác nhận rơ rệt và mạnh mẽ là có
một guồng máy chính quyền tự chủ.
Nếu sau hiệp ước Hạ Long năm 1948, ông
Bảo Đại thay v́ dùng cụm từ Quốc Gia
Việt nam đă dùng cụm từ Nhà Nước Việt
nam để dịch cụm từ état du Vietnam mà ông đă
thỏa thuận với nước Pháp th́ chúng ta đă
tránh được sự lấn cấn này.
Một chức năng khác của nhà nước là có toàn
quyền, theo luật định, trên khắp lănh thổ.
Một quốc gia chỉ có thể có một nhà
nước. Trong trường hợp của các
nước theo thề chế liên bằng phải hiểu
rằng quyền hành của các chính quyền tiểu bang là
quyền được chính quyền liên bang chuyền
nhượng. Nhà nước Hoa Kỳ là chính quyền liên
bang. Trong trường hợp nước Mỹ, chúng ta
lại gặp một sự lẫn lộn do lịch
sử để lại là các bang cũng được
gọi là state, nhưng đó không phải là những nhà
nước cũng không phải là những quốc gia.
Người Đức chỉ gọi các bang là các lander
(vùng).
Một danh từ khác đáng lẽ đă có thể dùng
để thay thế cho nhà nước là chính quyền.
Trong tiếng Việt, thói quen cho đến nay là chính
quyền thường được dùng để chỉ
bộ máy hành pháp, đôi khi bao gồm cả các ṭa án.
Thực ra chính quyền và nhà nước chỉ là một.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Nhà nước- quốc gia
Sự
lẫn lộn giữa nhà nước và quốc gia, do cách
chuyển ngữ état, hay state, thành quốc gia đă
khiến nhiều tác giả bối rối trước
cụm từ état-nation (hay nation-state). Bối rối là v́
état đă dịch là quốc gia nếu nation cũng là
quốc gia th́ không lẽ cụm từ nation- state là
quốc gia - quốc gia hay sao? Đề tháo gỡ bối
rối này, các vị dịch nation là dân tộc, như
vậy cụm từ nation-stale sẽ là quốc gia dân
tộc. Thế là xong? Nhưng thực ra đây chỉ là
tránh ngă xe đạp để rồi bị rớt máy bay
v́ cụm từ quốc gia dân tộc hoàn toàn chẳng có
một liên hệ nào với nation-state. Nếu nh́n vào
nội dung và t́m cách diễn tả nội dung thay v́ chỉ
t́m cách giải quyết vấn đề thuật ngữ
chúng ta sẽ thoải mái hơn nhiều.
Nation- state (état-nation) có nghĩa ǵ? Đây là một cụm
từ chỉ mới xuất hiện trong ngôn ngữ chính
trị gần đây mà thôi, từ khi khuynh hướng toàn
cầu hóa xuất hiện đ̣i xét lại quyền
hạn của các nhà nước để đi
đến một thế giới đồng điều
hơn, với một luật pháp quốc tế và trong
đó một số quyền hành của các nhà nước
được chuyển giao cho các định chế cao
hơn, hoặc quốc tế như Liên Hiệp Quốc,
hoặc khu vực kiểu Liên Hiệp Châu Âu. Trong chiều
sâu đây là một sự xét lại khái niệm quốc gia
với nhận định rằng quốc gia không phải
là đơn vị cao nhất đối với một con
người, mà phải được đặt
dưới một số định chế quốc
tế. Khuynh hướng này gặp phản ứng của
một số quốc gia muốn giữ tối đa bản
thể và quyền tự quyết. Cụm từ nation-state,
hay état-nation, trong đó state, hay état, là danh từ và nation
đóng vai tṛ tính từ, xuất hiện để chỉ
các nhà nước muốn giữ nguyên ư nghĩa quốc gia
của ḿnh. Nói một cách khác, đó là những nhà
nước độc lập, nhưng nhà nước
giữ tối đa chủ quyền. Như vậy
dịch cụm từ nation-state, hay Etat-nation, không có ǵ khó.
Ta có thể dịch là nhà nước độc lập, nhà
nước tự chủ, nhà nước toàn quyền, hoặc
nhà nước - quốc gia, ba cụm từ này hoàn toàn
đồng nghĩa. Nhưng dứt khoát không phải là
quốc gia dân tộc. Nhưng nhà nước đầu
tiên ra đời đă là những nhà nước-quốc
gia. Nhưng từ nửa sau thế kỷ 19 trở đi
đă bùng ra một cuộc tranh căi sôi nỗi về các ư
niệm quốc gia và nhà nước. Karl Marx tỏ ra
đặc biệt tích cực trong cuộc tranh luận này.
Một trong những sai lầm cơ bản của chủ
nghĩa cộng sản là đă không đánh giá đúng vai
tṛ của các nhà nước-quốc gia. Sự tập trung
quyền lực trên toàn thế giới không những là
điều không thể thực hiện được mà
c̣n là điều không nên thực hiện v́ nặng nề
và trói buộc. Ngay cả những nước lớn
cũng c̣n phải tản quyền thành nhưng địa
phương tự quản với một chính quyền
trung ương làm công tác điều hợp. Thế
giới đại đồng trong lương lai sẽ là
thế giới của sự phối hợp giữa
những quốc gia chung sống và hợp tác với nhau,
cùng chia sẻ với nhau một số giá trị phổ
cập và cùng chấp nhận một số qui ước
chung chứ không phải thế giới trong đó các
quốc gia bị xóa bỏ. Sự ra đời của
những nhà nước- quốc gia thay thế cho những
nhà nước quân chủ đă là là một biến cố
trọng đại thúc đẫy tiến bộ. Các nhà
nước-quốc gia đầu tiên đă h́nh thành tại
phương Tây và đă đem lại cho các dân tộc
phương Tây một sức mạnh hơn hẳn.
ư niệm quốc gia, như một thực thể của
chúng thay v́ của một người hay một nhóm
người, đă động viên được sinh
lực và sáng kiến của mọi người và đă
khai sinh ra tổ chức nhà nước hiện đại.
Khi đi chinh phục thế giới vào thế kỷ 18 và
19, sức mạnh chính của người phương Tây
không phải là vũ khí và kỹ thuật hiện
đại mà là tổ chức nhà nước hiện
đại phục vụ cho một quốc gia
được quan niệm như là không gian liên đới
của một tập thể người có nhiều
điểm chung và cùng xây dựng một tương lai
chung. Quan niệm này khiến quốc gia vừa có ích
vừa cần thiết, nó cũng đem lại cho nhà
nước sự chính đáng và, do đó, sức mạnh.
Một chú thích. Cũng như tất cả mọi ư
niệm mới, ư niệm quốc gia đă không tránh
khỏi những tật bệnh trong quá tŕnh h́nh thành và
trưởng thành; mà tật bệnh độc hại
nhất là chủ nghĩa quốc gia (nationalisme), coi
quốc gia như là cứu cánh duy nhất và không gian trách
nhiệm duy nhất. Chủ nghĩa quốc gia đồng
hóa sự thù ghét các dân tộc khác với sự quí mến
dân tộc ḿnh. Nó lẫn lộn tinh thần bài ngoại
với ḷng yêu nước, nó là một quan niệm hẹp
hồi về dân tộc. Nhưng tật bệnh này ngày càng
được nhận diện và điều trị, và
một khi đă được điều trị xong, ư
niệm quốc gia sẽ lấy lại được ư
nghĩa thực sự của nó, sẽ đẹp hơn,
mạnh hơn chứ không yếu đi.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Dân tộc
C̣n
dân tộc? Cho đến nay mọi người Việt nam
có kiến thức Tây học đều đă đồng ư
dân tộc tương đương với từ peuple
của tiếng Pháp và people của tiếng Anh. Dân luôn luôn
phải là người và chỉ có thể là người.
Chưa thấy ai đặt lại cách dịch này. Vấn
đề là một số học giả cũng dùng
tiếng dân tộc để dịch chữ nation. Cách
dịch này chắc chắn là sai v́ trong tiếng Pháp nation và
peuple là hai ư niệm rất khác nhau về mặt lư
thuyết (trong tiếng Anh, sự khác biệt giữa people
và nation không rơ rệt bằng). Chúng ta đều hiểu
dân tộc là tiếng dùng để chỉ toàn bộ
những con người của một quốc gia, nghĩa
là những người chấp nhận đảm
nhiệm cùng nhau một di sản và chia sẻ với nhau
một tương lai chung. Mặc dầu sự hiện
diện của chữ tộc, dân tộc không mang một
nội dung huyết thống chủng tộc nào. Trong
những yếu tố cấu tạo của quốc gia
(lănh thổ, nhà nước, lịch sử, di sản
văn hóa, dân tộc và dự án tương lai chung) chắc
chắn dân tộc là yếu tố hữu h́nh quan trọng
nhất (cũng như dự án tương lai là yếu
tố vô h́nh quan trọng nhất), nhưng không phải là
tất cả. Đồng hóa dân tộc với quốc gia
có thể là gần đúng về mặt sinh hoạt
thường ngày nhưng rất sai về mặt lư
thuyết như ta sẽ trở lại trong phần sau, khi
đề cập đến chủ quyền.
Cần lưu ư là dân tộc, cũng như peuple, không
phải chỉ là những công dân hiện có, mà c̣n có ư
nghĩa vượt thời gian, ngược về quá
khứ và nối dài về tương lai, để
chỉ chung những con người đă, đang và sẽ
thuộc về quốc gia. Khi ta nói đến cuộc Nam
tiến của dân tộc Việt nam th́ dân tộc là
để chỉ chung một khối người từ
thế kỷ 12 đến thế kỷ 18.
Một danh từ tương đương với dân
tộc là nhân dân. Cho đến nay nhân dân vẫn
được dùng để chỉ dân tộc trong
trường hợp ta muốn nhấn mạnh tới
những người đang sống. Đôi khi nhân dân
cũng được dùng kèm với một địa danh
để chỉ tập thể những người dân
trong một vùng. Chẳng hạn như nhân dân Thái B́nh.
Đây có thể coi là một sự phong phú của tiếng
Việt, nhưng về nội dung dân tộc và nhân dân không
khác nhau.
Dân và dân chúng dùng để chỉ mọi người hay
toàn bộ những con người sống dưới
sự quản lư của một nhà nước. Quần
chúng chỉ có nghĩa giản dị là khối đông
người, thường được dùng để
đối lại với một thiểu số chọn
lọc.
Cần lưu ư một sự cẩu thả của chế
độ cộng sản Việt nam là họ dùng cả
danh từ dân tộc để chỉ các sắc tộc,
như dân tộc Kinh dân tộc Tày, dân tộc Dao , v.v...
để rồi đi đến nhận xét lúng túng dân
tộc Việt nam gồm nhiều dân tộc , trong khi trong
nhiều trường hợp họ lại quả quyết
dân tộc Việt nam là một. Sự cẩu thả c̣n
để ra một quái thai về ngôn ngữ: người
dân tộc, được dùng để chỉ những
người thuộc một trong những sắc tộc ít
người.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Chủ quyền
C̣n
chủ quyền (souveraineté)? Như đă nói, khái niệm
quốc gia (nation), dù đă hiện hữu bàng bạc
từ lâu do sự sống chung của những con
người trên cùng một lănh thổ và chia sẻ cùng
một số phận, chỉ được chính thức
phát minh ra trong cách mạng Pháp 1789 v́ nhu cầu trả
lời câu hỏi chủ quyền, tức quyền cao
nhất và bao trùm, thuộc về ai một khi chế
độ quân chủ đă bị lật đổ?
Trước đó Jean-Jacques Rousseau, thủy tổ đích
thực của chủ nghĩa cộng sản, chủ
trương rằng chủ quyền thuộc về dân
tộc, hay nhân dân. Mới thoạt nghe, lập
trường này có vẻ hợp lư nhưng đem ra thực
hiện người ta nhận ra là nó đưa đến
những hậu quả nguy hiểm.
Nếu nhân dân làm chủ th́ hệ luận tất nhiên là
phải làm thế nào để nhân dân trực tiếp
cầm quyền. Nếu khối nhân dân quá đông th́ nhân dân
sẽ chỉ định ra, bằng cách này hay cách khác,
những đại biểu thay mặt cho ḿnh, nhưng theo
triết lư nhân dân làm chủ mỗi đại biểu này
phải hoàn toàn làm việc theo mệnh lệnh của
người dân trong đơn vị đă chỉ
định ḿnh và có thể bị thay đổi bất
cứ lúc nào. Nhiều nhà tư tưởng trong cách
mạng Pháp đă nh́n thấy mối nguy của triết lư
chính trị này. Trước hết là quần chúng không
đủ tŕnh độ để quyết định
những vấn đề khó khăn và phức tạp, kế
đó là cơ quan quyền lực sẽ xung đột và
lê liệt v́ những đ̣i hỏi ích kỷ của
địa phương, sau cùng và nguy hiểm nhất là
nếu có một đảng mị dân hay khủng bố,
hay vừa mị dân vừa khủng bố, nào đó
khống chế được quần chúng th́ họ
sẽ nhân danh nhân dân nắm tất cả quyền hành,
biến các đại biểu thành những con tin, và
đưa đến độc tài toàn trị;
người dân sẽ mất tất cả mọi
quyền, có thể kể cả quyền sống. Từ
đó nẩy ra một cuộc tranh căi, và tranh đấu,
sôi nổi giữa một phe quá khích chủ trương
chủ quyền dân tộc (souveraineté populaire) và một phe
ôn ḥa chủ trương chủ quyền quốc gia
(souveraineté nationale). Hậu duệ của phe chủ
trương chủ quyền nhân dân không ai khác hơn là các
đảng cộng sản và phát-xít, trong khi hậu duệ
của phe chủ trương chủ quyền quốc gia
là các chế độ dân chủ. Theo quan điểm
của trường phái dân chủ th́ nhân dân không làm
chủ, chủ quyền thuộc về một cái ǵ đó
cao hơn cả nhân dân, bao gồm cả lănh thổ,
lịch sử, di sản văn hóa, chính quyền, dân
tộc và dự án tương lai chung. Điều này có
nghĩa là ngay cả nếu tất cả mọi người
đồng ư, họ vẫn không có toàn quyền trên
đất nước. Khối toàn dân này vẫn phải
tôn trọng một số nguyên tắc. Các cử tri ở
mỗi đơn vị không bầu ra đại biểu
của đơn vị ḿnh, mà chỉ được trao
trách nhiệm chọn lựa một trong những đại
biểu cho quốc gia. Một khi đă được
bầu, người đại biểu là của quốc
gia, không nhận mệnh lệnh của cử tri trong
đơn vị mà được hoàn toàn hành động
theo sự suy nghĩ của ḿnh, các cử tri trong
đơn vị không có quyền băi nhiệm đại
biểu trong suốt nhiệm kỳ. Những nhà tư
tưởng dân chủ cho rằng phương thức này,
một mặt, bảo đảm cho công việc chung
được quản lư một cách thông minh và, mặt
khác, tránh được nguy cơ chủ quyền bị
một đảng chiếm đoạt. Trên thực
tế, người đại biểu muốn
được đơn vị ḿnh tiếp tục tín
nhiệm cũng phải lắng nghe và thỏa măn nguyện
vọng của các cử tri, người dân vẫn làm
chủ, nhưng một cách tương đổi và gián
tiếp. Triết lư chủ quyền quốc gia c̣n một
hệ luận khác, tuy lư thuyết nhưng rất quan
trọng, là nhà nước (chính phủ và quốc hội)
tuy xuất phát từ một đa số vẫn không thể
tự coi là có thể hoàn toàn định đoạt
một cách tùy tiện. Do đó các thiểu số vẫn
phải được tôn trọng.
Ngược lại, đối với phe cộng sản,
quốc gia chỉ là một phát minh của giai cấp
tư sản nhằm chiếm đoạt quyền làm
chủ của quần chúng vô sân cho liên minh tư sản-trí
thức.
Một lần nữa, cần nhác lại quốc gia là
một ư niệm trừu tượng được phe dân
chủ phát minh để giải quyết bài toán dân
chủ. Đến đây, xin lưu ư bốn điều:
Một là khái niệm quốc gia đă nảy sinh cùng
với khái niệm dân chủ, hồi sau một chút th́
đúng hơn. Trong một bài báo tôi đă viết như
vậy và đă bị nhiều phản bác, nhưng quả
thực là như thế. Các vương quốc
trước đây, kể cả Việt nam, không phải
là những quốc gia thực sự, lănh thổ không rơ
rệt, người dân không chia sẻ một dự án
tương lai chung nào cả mà chỉ chịu đựng
ách thống trị được áp đặt bằng
bạo lực. Các vương quốc đó có thể là
bước đầu để xây dựng một
quốc gia chứ chưa phải là những quốc gia.
Hai là cần lưu ư sự hụt hẫng của thói quen
chiết tự. Cho đến nay chúng ta vẫn hiểu dân
chủ một cách giản dị là dân làm chủ. Cũng
đúng thôi, nhưng không đúng hẳn. Về lư thuyết,
các chế độ dân chủ đă ra đời do sự
phủ nhận chủ quyền dân tộc để thay
thế bằng chủ quyền quốc gia, nói một cách
khác, theo triết lư dân chủ th́ dân không làm chủ, quốc
gia mới là chủ; dân là thành phần chủ yếu
của quốc gia, thay mặt quốc gia để
chọn lựa phương thức tổ chức xă
hội và chỉ định những người cầm
quyền, nhưng không phải là quốc gia. Quốc gia là
một sáng tạo của trí tuệ cao hơn dân tộc.
Quốc gia là một khái niệm tinh thần và t́nh cảm.
Ba là cuộc tranh luận giữa hai trường phái
chủ quyền dân tộc (cộng sản và phát-xít) và
chủ quyền quốc gia (dân chủ) hiện nay tuy đă
ngă ngũ trên thế giới (với sự toàn thắng
của phe dân chủ) mà vẫn c̣n dai dẳng ở Việt
nam. Chúng ta có thể lưu ư sự phủ nhận khái
niệm quốc gia của mọi chế độ
cộng sản, kể cả chế độ cộng
sản Việt nam. Họ chỉ sử dụng từ
ngữ dân tộc, hay nhân dân, hay quốc dân, trong ngôn ngữ
chính trị: Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền
Nam, kinh tế quốc dân, quân đội nhân dân, công an nhân
dân, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân. Từ
quốc gia mới chỉ được dùng gần đây
và chỉ có nghĩa địa lư, tương
đương với toàn lănh thổ, như giải bóng
đá quốc gia. Những người dân chủ cần
lưu ư điểm này trong cuộc vận động
tư tưởng hiện nay. Lấn cấn từ ngữ
có thể đưa đến bối rối trong lư
luận. Đảng cộng sản đă thống trị
trong một nửa thế kỷ tại miền Bắc và
một phần tư thế kỷ trên cả nước,
di sản ngôn ngữ của họ chắc chắn là
đáng kẻ, điều quan trọng là phải biết
ḿnh đang nói về cái ǵ.
Bốn là chế độ cộng sản Việt nam c̣n
đóng góp thêm cho sự hỗn loạn ngôn ngữ bằng
khẩu hiệu dân làm chủ, đảng lănh đạo,
nhà nước quản lư. Thực ra, trong các chế
độ cộng sản, nhà nước thực sự
chính là bộ máy đảng. Nhà nước này đứng
trên quốc gia và đứng ngoài pháp luật mà nó ban hành,
trong khi nhà nước chính thức chỉ là công cụ
của bộ máy đảng. Tách rời đảng và nhà
nước là thay đổi hẳn bản chất của
chế độ. Chính v́ thế mà chủ trương tách
rời đảng và nhà nước có lúc được
nêu ra đă mau chóng bị bóp nghẹt.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Quốc gia, nhà nước và dân chủ
Như
định nghĩa trên đây th́ quốc gia là trên hết.
Nhà nước tuy là đại diện toàn quyền
nhưng cũng chỉ là công cụ của quốc gia
với sứ mệnh phục vụ quốc gia. Như
vậy dứt khoát nhà nước phải ở trong và
ở dưới quốc gia. Nhưng đây chỉ là lư
luận trọng tinh thần dân chủ. Trên thực té tùy
ở bản chất của nhà nước mà nó cao hơn
hay thấp hơn quốc gia.
Trong các chế độ quân chủ chuyên chính trước
đây, chỉ có chính quyền của vua và những
thần dân sống trên đất của vua chứ không có
quốc gia đúng nghĩa. Nhà nước là tất cả
và tất cả nhà nước qui vào vua.
Trong các chế độ độc tài, nhà nước
định đoạt một cách tùy tiện. Nhà
nước ban hành luật lệ nhưng lại không
bị ràng buộc bởi chính các luật lệ đó. Vai
tṛ của người dân hoặc bị phủ nhận
(như trong các chế độ độc tài quân
phiệt), hoặc bị thoán đoạt (như trong các
chế độ cộng sản). Không làm ǵ có sự chia
sẻ tự nguyện một tương lai chung, chỉ
có một ước vọng chung là tự do và dân chủ,
nhưng đó là một dự án tương lai chung bị
cấm đoán. Nhà nước khống chế và ở trên
quốc gia. Quốc gia, nếu có, cũng chỉ ở t́nh
trạng thoi thóp.
Điều cần lưu ư là ngay trong các chế độ
được coi là dân chủ chân chính như nước
Pháp, tương quan giữa nhà nước và quốc gia
cũng chưa rơ rệt. Các nhà tư tưởng chính trị
Pháp vẫn c̣n đang đồng ư trên một điểm
quan trọng, và trầm trọng, là vấn đề
của nước Pháp vẫn c̣n là giảm nhẹ nhà
nước xuống cho ngang hàng với quốc gia (réduction
de l état à la Nation). Nhà nước Pháp vẫn chưa thực
sự dân chủ, bởi v́ nó vẫn c̣n quá nặng, quá
lớn, quá tập trung và bởi v́ quyền hành của
tổng thống Pháp vẫn c̣n quá áp đảo. Chế
độ tổng thống cộng với nhà nước tập
trung đưa đến một chế độ có
thể gọi là quân chủ cộng ḥa, trong đó nhà
nước ở trên quốc gia và áp đảo quốc
gia. Kết luận này của các nhà tư tưởng Pháp
thực đáng suy ngẫm.
Dân chủ thực sự chỉ đến khi nhà
nước ở trong và ở dưới quốc gia
với sứ mạng phục vụ quốc gia, có vai tṛ
tạo điều kiện lư tưởng nhất
để mọi người chia sẻ, hưởng
ứng và cùng nhau xây dựng một tương lai chung. Nó phải
nhẹ, phải tản quyền, phải kính trọng
mọi người và liên tục mưu t́m đồng
thuận của mọi người. Nói một cách khác, nó
phải đa nguyên. Dân chủ thực sự là dân chủ
đa nguyên. Đó là chế độ tương lai
của loài người tiến bộ.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Đất nước ta
Tất
cả phần trên chỉ là một sự ghi chép với
đôi chút chủ quan, chẳng hạn như sự
nhấn mạnh trên tầm quan trọng của một
dự án tương lai chung trong định nghĩa
quốc gia. Mong các vị học giả châm chước cho
về một sự tóm lược quá đáng trên những
khái niệm tư chúng vốn đă rất tế nhị mà
lại c̣n bị ngôn ngữ chính trị thông thường
làm mờ tối thêm. Sau lời cáo lỗi thành thực
đó, tôi cũng xin được có một ư kiến cá
nhân về đất nước ḿnh.
Sự phát minh ra khái niệm quốc gia (và nhà nước
hiện đại dựa trên đồng thuận dân
tộc mà nó đi kèm) đă là phát minh trọng đại
nhất từ xưa đến nay của loài
người. Nó đă được quan niệm như là
một không gian liên đới của một cố
gắng chung. Nó đă tạo ra sức mạnh của các
nước phương Tây. Nhưng ngày nay các quốc gia
tiên tiến đă đạt đến một mức
độ phát triển ở đó sự cần thiết
của quốc gia không c̣n là tuyệt đối nữa.
Họ đang xét lại ư niệm quốc gia trong ư
định đi một bước tiến xa hơn
nửa.
Những khái niệm quốc gia đă rất cần
thiết và có ích cho một giai đoạn phát triển.
Thảm kịch của chúng ta là chúng ta c̣n đang ở
một giai đoạn phát triển rất cần quốc
gia, nhưng chúng ta chưa h́nh thành nổi một quốc
gia vào lúc ư niệm này đă sắp sửa bị
vượt qua. Như vậy chúng ta vừa phải xây
dựng một quốc gia vừa phải đúng hẹn
với trào lưu tiến bộ của thế giới.
Công việc đă khó lại càng khó hơn v́ phải nói
người Việt chúng ta có rất ít suy tư về
quốc gia và dân tộc. Chúng ta có lẽ là dân tộc duy
nhất trên thế giới này gọi quốc gia là
nước. Đối với chúng ta, quốc gia ván
chỉ giản dị là nước, là đất nước,
là sông núi, quanh quẩn vẫn là đất và nước,
những yếu tố hoàn toàn vật chất và địa
lư. Điều này tố giác rơ rệt sự thiếu
vắng của một tư tưởng chính trị và
một suy tư về quốc gia. Do đó tinh thần dân
tộc và ḷng yêu nước của chúng ta dĩ nhiên là
rất yếu. Chính v́ ḷng yêu nước của chúng ta quá
yếu mà chúng ta vần chưa h́nh thành được
một lực lượng dân tộc dân chủ có tầm
vóc để chấp nhận thách đố của một
đảng cầm quyền đă đưa đất
nước từ đỗ vỡ này đến thảm
kịch khác. Đừng chạy trốn sự thực, có
hiểu được bệnh của ḿnh mới có hy
vọng lành bệnh.
Người Việt nam chúng ta rất cần một
quốc gia, như là một không gian liên đới của
một cố gắng chung, để nhờ đó cùng nhau
vươn lên tới một cuộc sống phồn vinh và
đáng tự hào. Và trong thế kỷ 21, với nhân
quyền và dân chủ được coi như những giá
trị cơ bản và phổ cập, sẽ chỉ
tồn tại được những quốc gia không
những được định nghĩa như một
không gian liên đới, một t́nh cảm và một
lương lai chung, mà c̣n phải thành công trong việc
đem lại phúc lợi và niềm tự hào cho
người dân. Nói một cách khác, những quốc gia
thực sự dân chủ, đa nguyên và được
quản lư một cách thông minh. Các quốc gia khác sẽ tan
vỡ.
Hiện nay chúng ta chỉ có một chế đô độc
tài, quản lư đất nước một cách tồi
dở, với một dự án tương lai mà nhà
nước áp đặt nhưng bị toàn dân khước
từ là xây dựng chủ nghĩa xă hội. Sự
tồn vong của đất nước ta đang bị
đe dọa nặng nề, không phải v́ một
ngoại bang nào ḍm ngó xâm chiếm mà v́ bị tụt hậu
nhục nhă giữa trào lưu tiến bộ mănh liệt
của thế giới và v́, hơn thế nữa,
dưới mắt người dân, quốc gia là một
gánh nặng chứ không phải một chỗ dựa.
Chúng ta phải có dân chủ và phải có dân chủ thật
mau chóng; đấu tranh cho dân chủ là tên gọi mới
của cuộc đấu tranh giữ nước. Chúng ta
phải tiến và phải tiến nhanh, nghĩa là phải
vượt lên trên mọi hận thù, chia rẽ và ngờ
vực để động viên được mọi
khối óc, mọi trái tim và mọi bàn tay Việt nam trong
một cố gắng chung; ḥa giải và ḥa hợp dân
tộc là tiếng kêu cứu khẩn cấp của tổ
quốc lâm nguy.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Vài vấn đề về dân chủ
Trong
những trang trước, khi bàn về phát triển cũng
như về những khái niệm quốc gia, dân tộc,
chúng ta đă đề cập tới dân chủ. Dân tộc
ta đă là nạn nhân của sự thiếu vắng dân
chủ nhưng lại chưa thực sự ư thức
được sự cần thiết của nó.
Điều đáng ngạc nhiên là ít ai ngạc nhiên về
sự nghịch lư này, kể cả đa số trí
thức. Cần nhấn mạnh trạng từ thực
sự v́ quả nhiên đại đa số người Việt,
nếu không muốn nói là tất cả, muốn có dân
chủ, nhưng đó chỉ là một ư muốn bàng
bạc thôi. Nếu đem dân chủ cho không th́ chúng ta vui
vẻ chấp nhận, nhưng nếu phải trả
một giá nào đó th́ rất ít người sẵn sàng, dù
cái giá đó vào thời điểm này chỉ rất
vừa phải. Chúng ta chưa có dân chủ v́ chúng ta chưa
thực sự tin tưởng vào sự cần thiết
của nó. Chúng ta chưa thấy nó quan trọng cho
đời sống của chính chúng ta. Nếu chúng ta
thực sự muôn dân chủ chúng ta sẽ có dân chủ. Khi
ngồi viết những ḍng này, vào cuối năm 2000, tôi
phải nh́n nhận một điều: chế độ
cộng sản hiện nay dưới con mắt của
một quan sát viên quốc tế khách quan không phải là
một chế độ hung bạo. Độc tài, ngoan
cố, ĺ lợm, gian trá th́ đúng, nhưng đàn áp
đối lập dân chủ một cách hung bạo th́ không.
Từ tháng Giêng 1996 đến nay, họ đă chỉ
bắt giam một trí thức đối lập, Nguyễn
Thanh Giang trong vňng hai tháng, quản chế vŕ sách
nhiễu bốn người, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc,
Tiêu Dao Bảo Cự và Mai Thái Lĩnh, và cắt điện
thoại của khoảng hai mươi người. Theo tiêu
chuẩn quốc tế đó không phải là một chính
sách đàn áp dă man. Sự dă man đă có trước đây:
chỉ v́ phát biểu lập trường của ḿnh mà
Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn
Đ́nh Huy, Lê Công Minh, Đinh Thế Vinh, Tuệ Sỹ, Lê
Mạnh Thái và hàng trăm người khác đă bị
xử những bản án rất nặng nề, chung thân,
hai mươi năm tù, v.v... Nhiều người dân
chủ khác như Phạm Quang Cảnh, Trần Thanh
Đ́nh, v.v... đă bị xử tử Nhưng ngày nay
sự hung bạo đă giảm rất nhiều. Chế
độ cộng sản đă nhượng bộ
trước dư luận thế giới hay họ đă
chỉ nhận ra là phong trào dân chủ không nguy hiểm?
Đó c̣n là một câu hỏi, nhưng thực tế là
hiện nay phong trào dân chủ yếu v́ nó thực sự
yếu chứ không phải v́ bị đàn áp thẳng tay,
và nó yếu v́ ư thức dân chủ của chúng ta không
mạnh.
ư thức về dân chủ của người Việt nam
yếu kém là một điều không thể chói căi. Tôi
rủ một trí thức rất có tŕnh độ và
thiện chí tham gia vận động dân chủ và được
trả lời là anh không thích chính trị, anh chỉ dồn
hết cố gắng để tranh đấu cho nhân
quyền. Trong cách suy nghĩ của anh, tranh đấu cho
nhân quyền là điều trong sạch, gần như
một công tác từ thiện, trong khi đấu tranh cho dân
chủ là làm chính trị với tất cả những
phức tạp và xấu xa như thủ đoạn, ḷng
tham, v.v... Một trí thức từ trong nước ra nói
với tôi rằng người trong nước (ư anh ta
muốn nói trí thức trong nước) chỉ quan tâm
tới những vấn đề cụ thể như công
ăn việc làm thôi, c̣n dân chủ th́ ít ai nghĩ tới v́
không thực tiễn.
Vậy vấn đề dầu tiên cần được
đặt ra là dân chủ là ǵ? Tôi xin đưa một
định nghĩa ngắn gọn, hiểu được
cho mọi người và cũng được mọi
người chấp nhận, dù các học giả uyên thâm có
thể nghi là chưa đầy đủ: dân chủ là một
cách tổ chức xă hội, nói khác đi một chế
độ chính trị, trong đó các quyền tự do ngôn
luận và báo chí, tự do thành lập và gia nhập các tổ
chức, tự do bầu cử và ứng cử
được tôn trọng.
Tất cả tự do này, và nhiều quyền tự do khác
nữa, được qui định rô ràng trong bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân Quyền năm 1948 (và
được Liên Hiệp Quốc đưa vào hiến
chương). Như vậy bản Tuyên Ngôn Quốc Tế
nhân Quyền cũng là bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Dân
Chủ. Phân biệt nhân quyền và dân chủ là sai. Nhân
quyền và dân chủ chỉ là hai cách nh́n của cùng
một vấn đề. Nhân quyền là dân chủ
dưới gốc nh́n cá nhân, dân chủ là nhân quyền
dưới gốc nh́n quốc gia.
Đă là một cách tổ chức th́ về phương
diện triết lư dân chủ chỉ là một phương
tiện chứ không phải là cứu cánh. Cứu cánh là làm
thế nào để con người ngày một tự do
hơn và sung túc hơn. Nói một cách huỵch toẹt th́
cứu cánh là vừa có tự do vừa có tiền. Nếu
có một phương thức nào khác cho phép đạt
tới một mức độ tự do lớn hơn và
một mức sống sung măn lớn hơn th́ ta không
bắt buộc phải chọn dân chủ. Nhưng dân chủ
là kết quả của kinh nghiệm nhiều ngàn năm ḍ
dẫm của loài người. Churchill đă nói một câu
châm biếm bất hủ rằng dân chủ là chế
độ chính trị dở nhất, trừ khi ta so sánh nó
với mọi chế độ chính trị đă
được biết tới. Cho tới nay dân chủ
đă là chế độ chính trị duy nhất đem
lại tự do và hạnh phúc, vậy th́ cũng là một
chọn lựa bắt buộc giữa nhưng chế
độ chính trị đă được thử
nghiệm. Một điều bắt buộc phải có mà
ta chưa có cũng phải được coi như
một mục đích giai đoạn trước khi nh́n xa
hơn. ở thời điểm này chúng ta có quyền
tiếp tục suy nghĩ về những phương
thức khác hay hơn dân chủ để làm cho thế
giới giàu đẹp và tự do hơn nhưng chúng ta
không thể chấp nhận thái độ từ
khước dân chủ, nhất là để ngoan cố duy
tŕ một chế độ đă được thử
nghiệm và đă thất bại.
Nhận định dân chủ chỉ là một
phương tiện, hay một mục tiêu giai đoạn,
là cần thiết cho chính cố gắng xây dựng dân
chủ. Nếu ta coi tự do (và cái hệ quả đă
được chứng minh của nó là phồn vinh)
mới là cứu cánh th́ chính quyền trước hết
phải là một chính quyền tối thiểu đă. Chính
quyền dân chủ, nghĩa là chính quyền tốt, cũng
không bằng không có chính quyền nếu không thực sự
cần thiết. Một chính quyền dù xuất phát từ
những cuộc bầu cử tự do và lương
thiện nhưng nếu can thiệp vào tất cả
mọi địa hạt, qui định quá nhiều và
đảm nhiệm quá nhiều sinh hoạt cũng là
một chính quyền kềnh càng gây trở ngại cho
người dân. ư thức rơ ràng rằng tự do mới là
cứu cánh chúng ta sẽ hiểu rằng chính quyền
tốt nhất là chính quyền nhẹ nhất và nguyên
tắc tiên quyết của một nhà nước là
những ǵ người dân có thể làm được nhà
nước sẽ không làm.
Cũng cần ư thức rằng nền tảng của
tự do là sự hiểu biết, quyền tự do
cần bản nhất là quyền được thông tin
đầy đủ. Tự do thực sự là tự do
trong sự hiểu biết chứ không phải tự do
trong sự u mê. Trong thánh kinh Thiên Chúa Giáo, thượng
đế đă tạo ra Adam và Eva, hai người nhởn
nhơ trong vườn địa đàng trong sự ngu
dốt, họ chỉ thành những con người tự
do sau khi Eva rủ chồng ăn trái cây hiểu biết.
Thượng đế đă chỉ tạo ra hai
động vật, Eva đă tạo ra loài người.
Chúng ta đă nói, nhưng cần nhắc lại v́ tầm
quan trọng của nó, đặc tính đầu tiên
của dân chủ là cho tới nay nó đă là thể chế
duy nhất đem lại tự do và sung túc. Sự thực
hiển nhiên này thực ra mới chỉ hoàn toàn sáng tỏ
trước mắt mọi người từ hơn
một thập niên nay sau khi phong trào cộng sản thế
giới sụp đổ. Trước đó những thành
quả ngoạn mục của các chế độ phát-xít
Nhật, Đức, ư, rồi các chế độ cộng
sản, nhất là Liên Xô, có lúc đă làm một só khá đông
người tin rằng một chế dộ độc tài
thông minh có thể đem lại một nhịp độ
phát triển nhanh hơn. Thực ra những thành tích
ngoạn mục của các chế độ độc tài,
phát-xít và cộng sản, ngay cả khi có thực, cũng
chỉ là những bịp bợm nếu được
đồng hóa với phát triển kinh tế. Về
bản chất đó là sự gia tăng của đầu
ra (output) hậu quả của sự gia tăng của
đầu vào (input). Cố gắng lớn hơn đă
đưa tới kết quả lớn hơn chư không
phải bộ máy đă hiệu lực hơn. Trong hầu
như mọi trường hợp, cố gắng quá
lớn về nhân lực và tài nguyên c̣n đưa tới
sự kiệt quệ sau đó. Tần Thủy Hoàng đă
xây được Vạn lư Trường Thành, các vua Ai
Cập đă xây được những kim tự tháp
chỉ nhờ áp đặt những hy sinh tàn bạo;
chế độ Liên xô sau này đă bắn được
nhiều vệ tinh vào không gian và chế ra hàng ngàn
đầu đạn nguyên tử nhờ những
đầu tư quá sức chịu đựng của Liên
Xô. Tất cả những thành quả ấy đă
được xây dựng trên máu và nước mắt và
đă làm kiệt quệ tiềm năng quốc gia. Các
chế độ bạo ngược chà đạp lên
tự do đă đành nhưng cũng không đem lại
phát triển. Phát triển là gia tăng đầu ra ở
một tỷ lệ lớn hơn so với gia tăng
của đầu vào, nghĩa là không những gia tăng
đầu tư mà c̣n gia tăng năng suất nhờ
một cách làm việc hay hơn.
Đặc tính quan trọng thứ hai của dân chủ là
hầu như mọi suy tư lớn về dân chủ
đă xuất hiện như một sự phản bác
đối với chế độ đương hành. Platon,
nhà tư tưởng dân chủ đầu tiên, thực ra
đă lư luận về dân chủ để phản bác
chế độ dân chủ sơ khai được h́nh
thành một cách ngẫu nhiên tại Hy Lạp. Ông
định nghĩa dân chủ như sau: Dân chủ
đến sau khi những người nghèo lật
đổ những người giàu, tàn sát một số,
lưu đầy một số và giữ lại một
số khác. Đó là chính quyền của người nghèo.
Với một nhận định khinh bỉ như
vậy dĩ nhiên Platon đề nghị một chế
độ khác mà ông cho là lư tưởng hơn, đó là
chế độ cộng ḥa đặt dưới sự
lănh đạo của những hiền triết. Tuy
phản bác dân chủ như nó xuất hiện vào thời
điểm của ông, nhưng thực ra Platon đă
đóng góp nhiều ư kiến quí báu cho dân chủ sau này. Các
nhà tư tưởng dân chủ tại La Mă và tại châu Âu
sau này cũng đă lên tiếng để phản bác các
chế độ đương thời của họ.
Những người đấu tranh cho dân chủ ở
mọi nước hiện nay cũng không khác. Như
vậy một nét đặc thù cần được ghi
nhận của dân chủ là nó có sự năng động
riêng của nó. Do bản chất phản bác của nó, dân
chủ luôn luôn nhận ra và sửa đồi những sai
lầm của chính nó. Nhờ khả năng tự phê phán
và điều chỉnh đó, một mặt ta không lo các xă
hội dân chủ sẽ thỏa măn và dừng lại ở
một lúc nào đó, nghĩa là sẽ không có sự chấm
dứt của lịch sử như Francis Fukuyama tiên
đoán, và mặt khác cũng không cần lo sợ sẽ có
dân chủ quá độ.
Đặc tính quan trọng thứ ba của dân chủ là
những cuộc tranh luận về dân chủ tự chúng
đă rất có lợi cho xă hội. Thảo luận về
dân chủ là thảo luận về công việc quốc gia,
nhờ đó, một mặt, người dân hiểu
được việc nước và cảm thấy
gắn bó với đất nước, mặt khác, họ
cũng qua đó mà hấp thụ được nhiều
kiến thức mà họ khó có thể có một cách khác. Tôi
xin dẫn chứng một kinh nghiệm mà cá nhân ḿnh đă
sống. Nhóm Thông Luận chúng tôi mặc dầu đại
bộ phận là thành phần được gọi (hay
bị gọi) là trí thức khoa bảng nhưng phần
lớn là kỹ sư. Chúng tôi chỉ có rất ít chuyên viên
về luật. Về luật hiến pháp chúng tôi lại
càng thiếu. Năm 1995, để chuẩn bị cho
việc tu chỉnh Dân Chính Trị dân Chủ Đa Nguyên
1996, chúng tôi quyết định thảo luận và biểu
quyết một cách dân chủ việc đề nghị
một định chế chính trị cho Việt nam
trước các đại hội thành viên. Nhiều
người cho đây là một quyết định
liều lĩnh và phiêu lưu v́ anh em phần đông có
rất ít kiến thức về các định chế chính
trị và có thể biểu quyết không đúng. Chúng tôi
đă có rất nhiều cuộc thảo luận sôi nổi
và chính nhờ những cuộc thảo luận này mà
kiến thức chính trị trung b́nh của tổ chức
cao hẳn lên. Phải hơn một năm sau chúng tôi
mới đi đến đồng thuận nhưng sau
đó tôi nhận xét là sự hiểu biết của
nhiều bạn tôi về các định chế chính
trị c̣n hơn cả một số vị mà trước
đó chúng tôi coi là chuyên viên về hiến pháp. Tôi khám phá
một cách thích thú một điều không ngờ là phúc
lợi của dân chủ càng lớn khi quần chúng
thiếu hiểu biết về chính trị. Chính khía
cạnh mà nhiều người coi là tiêu cực của dân
chủ, nghĩa là những cuộc thảo luận triền
miền do sự thiếu hiểu biết, lại là khía
cạnh tích cực nhất, bởi v́ sau đó là một
bước nhảy vọt của sự hiểu biết,
và sự hiểu biết là nền tảng của tiến
bộ.
Đặc tính thứ tư của dân chủ, đă
được đề cập tới trong một
chương trước nhưng vẫn cần nhắc
lại, là nó là điều kiện không có không
được để có thể nói tới quốc gia
hay ḷng yêu nước mọt cách đúng đắn. Khi
đất nước đă bị chiếm đoạt làm
của riêng dưới quyền định đoạt tùy
tiện của một người hay một nhóm
người th́ dân chúng không c̣n lư do ǵ để phải lo
âu cho đất nước cả. Lư do thật giản
dị: đất nước đă là của riêng anh th́ anh
cứ lo liệu lấy một ḿnh, tôi đă không có quyền
th́ cũng chẳng có bổn phận. Chưa kể là
nếu anh chà đạp tôi th́ tôi c̣n phá cho bơ ghét, không phá
công khai được th́ tôi cũng phá ngầm.
Các chế độ độc tài như vậy hủy
diệt ư thức quốc gia và ḷng yêu nước. Di
sản độc hại nhất của các chế
độ cộng sản chính là sự phá hoại này.
Một thí dụ: ai cũng biết nước Nga ngày nay
đang bị khủng hoảng tài chính rất nặng và
hầu như không có lối thoát. Tuy nhiên rất ít
người biết rằng đó là một cuộc
khủng hoảng tài chính rất kỳ cục: nước
Nga thiếu tiền trong khi vẫn xuất siêu (xuất
cảng nhiều hơn nhập cảng) một cách liên
tục và ở một mức độ rất cao. Trên
nguyên tắc t́nh trạng đó phải đưa tới một
sự dồi dào ngoại tệ, nhưng ngược
lại ngân quỹ nhà nước Nga lại thiếu
ngoại tệ một cách cực kỳ bi đát, ngân sách
trống rỗng đến nỗi không trả
được cả lương công chức. Đó là v́
người Nga hoàn toàn không c̣n tinh thần trách nhiệm
đối với quốc gia, họ coi trốn thuế và
gian lận thuế như một môn thể thao lành
mạnh. Những người có tiền th́ cất giấu
trong nhà hoặc tại các ngân hàng ngoại quốc.
Nước Nga rộng lớn mênh mông như vậy
nhưng cũng là một trong những nước mà môi
trường bị hủy hoại trầm trọng
nhất bởi v́ người Nga thiếu tinh thần
quốc gia và do đó hành xử một cách vô trách nhiệm.
Các chế dộ độc tài c̣n tạo ra một mối
nguy khác là để chúng thường khơi dậy tinh
thần dân tộc hẹp ḥi, nghĩa là sự thù ghét
người khác để thay thế cho ḷng yêu
nước, nghĩa là sự yêu mến và gắn bó với
dân tộc và đất nước ḿnh. Tinh thần dân
tộc hẹp ḥi này ngăn cản những hợp tác lành
mạnh giữa các quốc gia và là mối đe dọa cho
ḥa b́nh.
Sau cùng, cần lưu ư đặc biệt là các chế
độ cộng sản đă phản bội chính lư
tưởng cộng sản. Trong cuộc thảo luận
sôi nỗi về dân chủ ở thế kỷ 19, vấn
đề trọng tâm là làm thế nào để thực
hiện dân chủ. Những lư thuyết gia cộng sản tiên
khởi, kể cả Karl Marx khi ông chưa bị lăo hóa,
không hề đặt lại nguyên tắc cơ bản
của dân chủ (tự do ngôn luận, tự do thành
lập và gia nhập các tổ chức, tự do bầu
cử và ứng cử). Họ chỉ cố gắng t́m
một phương thức để bảo đảm
dân chủ thực sự, nghĩa là dân chủ cho những
người nghèo khổ, chiếm đại đa số
lúc đó. Lư luận của họ là những người
nghèo và thiếu kiến thức sẽ không có khả
năng, cả tinh thần lẫn vật chất,
để sử dụng các quyền tự do mà họ
được hưởng trên lư thuyết và như
thế chính quyền cuối cùng vẫn ở trong tay
một thiểu số giàu có. Từ đó họ chủ
trương tập thể hóa các phương tiện
sản xuất và phủ nhận quyền tư hữu
để bảo đảm sự b́nh đẳng thực
sự về chính trị. Về cơ bản những ư
kiến của họ nhằm cải tiến chứ không
phủ nhận dân chủ. Trong hai hướng để tăng
cường dân chủ, một hướng là nâng cao các
quyền tự do chính trị và một hướng thứ
hai là mở rộng dân chủ cho thật nhiều
người, họ đă đặt trọng tâm vào
hướng thứ hai và coi nhẹ hướng thứ
nhất. Họ vấp vào hai sai lầm cơ bản,
một về chính trị và một về kinh tế.
Về chính trị, họ không nhận thức
được rằng dân chủ là một chế
độ mới và sẽ c̣n thay đổi không những
về h́nh thức mà c̣n cả về nội dung quyền
lực chính trị, họ đă quá nóng vội. Về kinh
tế, họ nh́n hoạt động kinh tế như
một tṛ chơi với tổng số cố định người
này được người kia phải thua; họ không
nghĩ là mọi người đều có thể cùng
tiến lên sự sung túc; họ không thể tưởng
tượng một xă hội trung đó những
người thất nghiệp cũng sẽ có xe hơi.
Họ lầm, nhưng dứt khoát họ không phủ
nhận dân chủ. Trong đầu óc họ không có
độc quyền báo chí của nhà nước, không có
những cuộc bầu cử bịp bợm, với
kết quả định sẵn, không có những nhà tù
chính trị, không có việc cấm đoán các hội
đoàn. Các chế độ cộng sản sau này thực
ra chỉ là một sự thoán đoạt, sau khi đă
phản bội, những tư tưởng của các nhà lư
thuyết cộng sản đầu tiên. Bây giờ hăy bàn
về một số lấn cấn của người
Việt nam chung quanh vấn đề dân chủ.
Dân chủ sẽ đưa tói hỗn loạn! Lập
luận này được đảng cộng sản
đưa ra như một sự thực hiển nhiên không
cần chứng minh và được một số
người chấp nhận một cách thụ
động. Nhưng nó chỉ là một lập luận
lỗ măng, bất chấp cả lư luận lẫn thực
tại đất nước. Hiện nay nước ta
đang hỗn loạn và - hơn thể nữa - đang
rất hỗn loạn. Trộm cướp hoành hành như
chỗ không người. Buôn lậu có kho nhà nước,
tàu chiến, xe tăng. Móc ngoặc, tham nhũng, hối
mại quyền thế trở thành một nếp sống.
Cây rừng, bờ biển, danh lam thắng cảnh, ngay
cả di tích lịch sử bị phá hủy một cách vô
tội vạ. Chưa kể loạn sứ quân, bắt
người tùy hứng, giam giữ, tra tấn. Ngoại
trừ chính sách khủng bố chính trị, Việt nam
đang ở trong một t́nh trạng gần như vô chính
phủ.
Kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng
sản Việt nam và những trao đổi với
những người đă trưởng thành và làm việc
trong các chế độ độc tài khác cho tôi một
kết luận rất rơ rệt: không cứ ǵ Việt nam
mà mọi chế độ cộng sản, nói chung mọi
chế độ độc tài, đều rất hỗn
loạn. Một người có thể vượt đèn
đỏ, đánh vợ con, đả thương
trầm trọng đồng nghiệp, gây mất mát
nặng nề cho cơ quan ḿnh, phóng uế bừa băi, v.v...
mà chỉ bị cảnh cáo, hay phạt qua loa. Các chế
độ độc tài dung túng sự vô kỷ luật và
vô trách nhiệm để bù lại sự thiếu tự
do, họ chỉ thù ghét những phát biểu đứng
đắn của trí tuệ, chứ không thù ghét những
tệ đoan xă hội.
Dân chủ không đưa tới hỗn loạn, trái
lại nó đem lại luật chơi rơ ràng minh bạch,
nó bảo đảm công lư và luật pháp, nó đem lại
tinh thần trách nhiệm v́ nó cho phép mọi người có
chỗ đứng và tiếng nói trong việc nước.
Nó đem lại trật tự trong đầu óc con
người và trong xă hội.
Dân chủ không có lợi cho phát triển kinh tế! Một
xác quyết nông cạn phát xuất từ ngộ nhận
về bản chất của dân chủ do sự nhận
diện hời hợt hoặc gian trá về những lúng
túng của một số quốc gia trong giai đoạn
chuyển tiếp về dân chủ. Dân chủ không phải
là chiếc đũa thần giải quyết mọi
vấn đề và đem lại phồn vinh. Dân chủ
không thay thế cho những chính sách và nhưng con
người. Dân chủ là một phương thức sinh
hoạt cho phép đặt vấn đề một cách
đứng đắn t́m giải pháp một cách
đứng đắn và chọn lựa một cách đúng
đắn những người trách nhiệm. Tự nó, dân
chủ không giải quyết một vấn đề nào
cả, nhưng không có dân chủ th́ không có vấn
đề nào có thể giải quyết được
một cách đứng đắn. Chính v́ thế mà mức
độ dân chủ quyết định giới hạn
cho phát triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng.
Chính v́ thế mà các nước giàu mạnh đều là các
nước dân chủ trong khi các nước độc tài
đều chậm liến. Khuyết tật của thái
độ thực tiễn cho rằng nên gác lại nhưng
đ̣i hỏi chính trị để tập trung cố
gắng vào vấn đề phát triển kinh tế rồi
chính phát triển kinh tế sẽ đem lại dân chủ
chính là ở chỏ nó không thực tiễn: chấp
nhận độc tài để hy vọng phát triển kinh
tế người la sẽ chỉ có độc tài mà không
có phát triển. Dân chủ không đem cơm áo và hạnh
phúc để phát không. Dân chủ không bố thí. Nó tạo
ra những con người tự do và trách nhiệm, làm
chủ đời ḿnh, phát huy được khả
năng và sáng kiến của ḿnh để xây dựng
đời ḿnh và đất nước ḿnh. Chính v́ thế
mà dân chủ đă giải tỏa được sinh
lực quốc gia và đem đến sự phồn vinh.
Chính v́ thế mà dân chủ mới đẹp.
Dân chủ là một xa xỉ phẩm đối với các
nước thiếu mở mang! Quả là một thái
độ miệt thị và kỳ thị chủng tộc.
ở miệng những người thuộc các quốc gia
thiếu mở mang, nó c̣n là một sự mạ lị chính
ḿnh một cách ngu ngốc. Dân chủ không phải là một
xa xỉ phẩm đối với bất cứ một
dân tộc nào. Khi các dân tộc phương Tây bắt
đầu dân chủ hóa, họ ở một mức
độ kinh tế, xă hội và dân trí c̣n kém xa chúng ta ngày
hôm nay. Riêng người Mỹ chưa hề biết
một chế độ nào khác hơn là dân chủ, họ
bắt đầu dân chủ từ những con
người đến từ nhiều nguồn gốc và
phong tục, thiếu thốn tất cả, kể cả
văn hóa và đồng thuận. Nhờ có dân chủ
họ đă tạo ra quốc gia hùng mạnh nhất trái
đất. Những dân chủ có thể là một xa xỉ
phẩm, và trên thực tế dân chủ đă từng là xa
xỉ phẩm trong nhiều trường hợp. Dân
chủ bịp bợm quả nhiên là một tṛ chơi vô
cùng tốn kém và là một gánh nặng. Trái lại dân
chủ thành thực là một dụng cụ quí giá.
Những người cầm quyền cho rằng dân chủ
là một xa xỉ phẩm thực ra chỉ có ư
định dàn dựng một thứ dân chủ bịp
bợm.
Dân chủ thành thực không nhất thiết là dân chủ
hoàn chỉnh, mức độ hoàn chỉnh của một
nền dân chủ tăng lên với thời gian, cùng với
mức độ phát triển và dân trí; nhưng một
nền dân chủ thành thực vần có nhưng thành tố
tối thiểu của nó: tự do ngôn luận, đa
đảng và bầu cử tự do. Kinh nghiệm cá nhân
qua những trao đổi đă cho tôi một nhận
định là tất cả những người lo âu
một cách lương thiện rằng dân chủ có
thể là một xa xỉ phẩm khi dân trí c̣n thấp
đều làm một sai lầm chung: họ trừu
tượng hóa dân chủ. Nếu thay v́ dặt câu hỏi:
Việt nam có thể có dân chủ không?, họ đặt
những câu hỏi cụ thể như có nên có tự do
ngôn luận không, có nên có bầu cử, tự do lập hôi
không, v.v... họ sẽ không c̣n băn khoăn.
Cũng không nên cuồng tín và quá khích. Phải thực
tế mà nh́n nhân dân chủ sẽ không thể đem lại
tất cả mọi phúc lợi của nó trong một t́nh
trạng dân trí chưa mở mang. Nhưng điều
cần phải ư thức một cách rất rơ rệt là dù
trong hoàn cảnh nào dân chủ cũng hơn xa độc
tài.
Dân chủ tự nhiên sẽ tới! Nếu dễ dàng
như vậy th́ tại sao mặc dầu mọi
nước dân chủ đều giàu mạnh nhưng chỉ
có một số ít dân tộc có được dân chủ?
Dân chủ là một điều quí giá cho nên nó không tự
nhiên mà mọc lên như cỏ đại mà phải tranh
đấu để có. Các nước dân chủ
phương Tây, mà đa số người Việt nam
mơ ước, đă phải tranh đấu cam go
lắm mới có được dân chủ như ngày nay và
họ vẫn c̣n rất cảnh giác bảo vệ nền
dân chủ đă tranh thủ được. ở đâu và
bao giờ cũng thế, khuynh hướng chuyên quyền
độc đoán luôn luôn là một cám dỗ mạnh.
Nếu chúng ta không phấn đấu mà chỉ ngồi
chờ để có dân chủ th́ chắc chắn chúng ta
sẽ chỉ có cái ngược lại của dân chủ.
Cũng chớ nên lạc quan mà nghĩ rằng dân chủ
sẽ tới nhờ áp lực của đà tiến chung
của thế giới. Nhưng áp lực này có thể
đem đến dân chủ nhưng cũng có thể làm
sụp đổ chính quốc gia. Vấn đề là chúng
ta có đủ th́ giờ không, đất nước ta có
thể tồn tại được cho đến khi có
dân chủ hay không? Như đă nói ở một phần
trước của cuốn sách này, ư niệm quốc gia dân
tộc đang bị công phá một cách gay gắt. Sẽ
chỉ c̣n lại trong thế kỷ 21 những quốc gia
được xây đựng trên một đồng
thuận nghĩa là những quốc gia có dân chủ. Các
quốc gia khác sẽ tan vỡ trong hỗn loạn. Với
đà tiến hóa dồn dập hiện nay sự tan vỡ
có thể là rất nhanh chóng. Chần chừ măi trong cố
gắng xây dựng dân chủ chúng ta có thể sẽ không
c̣n quốc gia trước khi đạt tới dân chủ.
Không cần phải là một nhà thông thái mới thấy
được nguy cơ này, chỉ cần một chút quan
sát và suy nghĩ lương thiện. Có cần một
kết luận cho cuộc mạn đàm chung quanh vấn
đề dân chủ này không? Có lẽ không, nhưng thay vào
đó là một nhận định về sự khó khăn
của cuộc thảo luận về dân chủ, và về
chính trị nói chung. Khó ở chỗ người Việt
nam h́nh như có một bản năng tự tin ghê gớm
về lư luận chính trị. Nhiều người, kẻ
cả nhưng trí thức có tầm vóc, có thể tin
chắc như đinh đóng cột vào những lập
trường không được xây dựng trên một
cơ sở hiểu biết đúng đắn nào, và ở
mỗi giai đoạn lại có thể tin chắc như
đinh đóng cột vào những lập trường khác
nhau. Những xác quyết cứ tự nhiên mọc ra, lúc nào
cũng tuyệt đối, và không cần được
xây dựng trên một vốn hiểu biết nào.
Người Việt nam chúng ta, kể cả trí thức,
thật rất vô lễ đối với kiến
thức.
Một vị đàn anh của tôi, tốt nghiệp cùng
trường nhưng trước nhiều năm, cách
đây ba mươi năm thuyết phục tôi tham gia
một phong trào trung lập của anh. Anh quả quyết
chỉ có con đường đó là cứu văn được
đất nước, anh cũng quả quyết phải
đấu tranh rất cam go chứ không thể khoanh tay
chờ đợi. Lập trường của anh không
dựa trên một hiểu biết đặc sắc nào. Có
lẽ anh chỉ t́nh cờ đọc được
một cuốn sách hay một vài bài báo và nghĩ rằng
đó là những kiến thức không ai có. Những tôi không
thảo luận được với anh v́ anh quá quả
quyết trong những ư kiến của ḿnh. Sau đó tôi
về Việt nam, c̣n anh, người đă thuyết
phục tôi phải dấn thân tranh đấu cam go, vẫn
ở lại Pháp. Hơn ba mươi năm sau tôi gặp
lại anh và lần này cũng không thảo luận
được với anh v́ anh lại tin tưởng
chắc nịch vào một chân lư mới là cách làm chính
trị hay nhất là đừng làm chính trị? Anh nói bằng
tiếng Pháp: La meilleure politique, cest pas de politique du tout? . Anh
coi những hoạt động của tôi chỉ có hại
v́ các anh càng đ̣i dân chủ đảng cộng sản
càng chống dân chủ, cứ để mặc họ,
họ sẽ tự động dân chủ hóa.
Cái nghiệp hoạt động chính trị nhiều khi
cũng éo le. Biết tôi có chút ít hoạt động,
nhiều người thường hay muốn gặp tôi
để tŕnh bày những con đường cứu
nước mà họ đă khám phá ra. Có người vẽ
ra những ṿng tṛn, có người vẽ ra những h́nh tam
giác, có người giảng giải cho tôi về lẽ
tuần hoàn của trời đất, có người nói
chỉ có triết lư đạo Phật mới là nền
tảng vững chắc xây dựng đất nước,
cũng có người quả quyết rằng đạo
Cao Đài là con đường bắt buộc của
Việt nam. Những người này đều giống
nhau ở một điểm là họ cho những
điều họ nghĩ là hoàn toàn đúng và do đó không
thể nghe một lập luận nào khác.
Một người mệt mỏi chỉ có thể nói
chứ không thể nghe, v́ nghe đ̣i hỏi sức khỏe
và sự tỉnh táo. Có lẽ chúng ta là một dân tộc
đă quá mệt mỏi sau nhiều đỗ vỡ và
mất mát. Và chính sự mệt mỏi này đă là lư do
đầu tiên khiến chúng ta khó thảo luận với
nhau về các vấn đề chính trị mà đặc
điểm chung là bề mặt có vẻ như rất
đơn giản trong khi trong chiều sâu chúng rất
phức tạp.
Lư do thứ hai gây khó khăn, và đôi khi hỗn loạn,
cho các cuộc thảo luận chính trị là chúng ta không ư
thức được rằng muốn lư luận chính
trị một cách đúng đắn cần qua một giai
đoạn nhập môn nghiêm túc. Đó là giai đoạn
nhập tâm những khái niệm căn bản của chính
trị, quốc gia, dân tộc, nhà nước, chủ
quyền, nhân quyền, tự do, dân chủ, văn hóa, phát
triển, v.v... Và nhất là t́m ra mối liên hệ giữa
các khái niệm đó. Cố gắng nhập môn này rất
khó và đ̣i hỏi rất nhiều th́ giờ, nhưng là
một sự bất buộc nếu không người ta
sẽ rất dễ quên ḿnh đang nói về cái ǵ, rồi
sẽ nhảy loạn xạ từ khái niệm này sang khái
niệm khác, từ đầu Ngô sang ḿnh Sở, sẽ mâu
thuẫn với những ǵ ḿnh mới nghĩ tuần
trước và những ǵ ḿnh có thể nói ngày mai. Tôi đă
từng được nghe nhiều bài thuyết tŕnh và
đọc nhiều bài tham luận trong đo tác giả mâu
thuẫn với chính ḿnh trong ṿng vài phút phát biểu hay trong
một trang giấy. Những khái niệm chính trị có
vẻ giản đơn nhưng thực ra chúng rất
phức tạp.
Những người muốn tham gia vào cuộc thảo
luận chính trị, và nhất là vào cuộc vận
động dân chủ, có lẽ nên quan sát các tu sĩ. Không
phải các vị đại đức, thượng
tọa, linh mục, mục sư đều có tŕnh
độ hiểu biết cao, nhiều vị chỉ có
những kiến thức rất sơ sài. Nhưng tại
sao nói chung họ vẫn sống và phát biểu
được đúng tín ngượng của tôn giáo
họ? Đó là v́ họ đă trải qua cố gắng
nhập môn. Mười điều giáo lệnh, tứ
điều đế, v.v... có ǵ là phức tạp đâu,
thế mà họ ván tụng kinh, gơ mơ, lằn tràng hạt
hàng ngày. Nhờ đó họ nhập tâm. Các khái niệm chính
trị c̣n phức tạp hơn nhiều, nhưng nếu
mọi người phát biểu về chính trị dành
được một phần thời giờ mà các nhà tu
dành cho việc tụng niệm để nhập tâm chúng
th́ cuộc thảo luận về dân chủ chắc
chắn sẽ được nâng cấp. Và tương lai
đất nước cũng sẽ khá hơn.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Đi xa hơn dân chủ
V́
chỉ là một phương tiện để xây dựng
tự do và hạnh phúc, dân chủ cần được
thích nghi với tiến hóa của xă hội. Cuộc
thảo luận để cải thiện dân chủ và
đi xa hơn mức độ dân chủ tối thiểu
(tự do ngôn luận và báo chí, tự do thành lập và gia
nhập các tổ chức, tự do bầu cử và ứng
cử) luôn luôn phải tiếp tục.
Một hướng t́m kiếm là giới hạn ở
mức thực sự cần thiết tầm vóc và vai tṛ
của nhà nước để nhường không gian
tối đa cho cá nhân và xă hội dân sự. Thế nào là
mức thực sự cằn thiết đang là trọng
tâm của cuộc tranh luận chính trị tại hầu
hết các quốc gia. Hướng thứ hai là mở
rộng sự thụ hưởng tự do và dân chủ cho
thật đông người, nói cách khác là đem các
quyền tự do có trên nguyên tắc vào thực tại.
Đằng sau những cuộc thảo luận quanh khái
niệm dân chủ, đang h́nh thành một khái niệm dân
chủ mới, một thứ hậu dân chủ là dân
chủ đa nguyên.
Khái niệm dân chủ đa nguyên sau một thời gian
ngắn bị phản bác đă mau chóng được
người Việt nam chấp nhận. Đó là
điều đáng mừng, nhưng h́nh như sự
chấp nhận này chưa đi đôi với nhận
thức rằng dân chủ đa nguyên không phải chỉ
là một thuật ngữ mới mà là một ư niệm
mới, một bước tiến mới của dân
chủ. Phần đông vẫn chỉ hiểu đa nguyên
là đa đảng, do đó dân chủ đa nguyên chủ
yếu là một khẩu hiệu để chống
độc tài, để phản bác dân chủ tập trung
của đảng cộng sản. Về điểm này
tôi phải nh́n nhận là đảng cộng sản tỏ
ra hiểu biết hơn nhiều người chống
cộng. Họ phân biệt đa nguyên và đa đảng
khi họ đưa ra cương lĩnh chống đa
nguyên, đa đảng.
Mặc dầu thảo luận về tương lai
của dân chủ là một khuynh hướng thời
thượng, cho tới nay trong các tác phẩm chính trị
nổi tiếng trên thế giới chưa có một
định nghĩa rơ rệt cho dân chủ đa nguyên. Nhóm
Thông Luận đă đưa ra một định nghĩa
rơ rệt với năm đặc tính của dân chủ
đa nguyên. Từ khi định nghĩa này
được đưa ra năm 1992, qua các thảo
luận trực tiếp với các nhà nghiên cứu chính
trị cũng như qua những tác phẩm mới, chúng
tôi đă chỉ nhận được nhưng bổ túc
chứ chưa gặp một phản bác nào.
Định nghĩa đó như sau:
[ ] Dân chủ đa nguyên là dân chủ nhưng không phải
dân chủ nào cũng là dân chủ đa nguyên.
Dân chủ đa nguyên là một hệ thống chính trị
mới với những đặc tính bắt buộc
của nó. Ta có thể nhấn mạnh năm đặc
tính: Một là, dân chủ đa nguyên nh́n nhận và tôn
trọng chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho
mọi người thuộc mọi thành phần xă hội,
mọi tín ngưỡng và mọi khuynh hướng chính
trị. Dân chủ đa nguyên lên án mọi phân biệt
đối xử, nó chống đối quyết liệt
chế độ độc đảng. Một cách cụ
thể bản hiến pháp của một thể chế dân
chủ đa nguyên không thể chứa dựng bất
cứ một qui chiếu nào về một chính đảng
một chủ nghĩa hay một tôn giáo.
Hai là, ngoài nguyên tắc phân quyền phải có trong mọi
nền dân chủ xứng đáng với tên gọi của
nó, dân chủ đa nguyên đ̣i hỏi tản quyền
để tôn trọng sự khác biệt giữa các
địa phương. Một chính quyền dù xuất phát
từ bầu cử tự do đi nữa cũng không
phải là dân chủ đa nguyên nếu phần lớn
quyền hành tập trung trong tay chính quyền trung ưong.
Trong một thể chế dân chủ đa nguyên các chính
quyền địa phương, do nhân dân địa
phương bầu ra, phải có những quyền luật
định rộng răi để tổ chức cuộc
sống phù hợp với hoàn cảnh riêng của mỗi
vùng. Mỗi vùng phải có diện tích và dân số ở
mức độ thoả đáng để có thể là
những thực thể đủ tầm vóc để
tự quản được và phát triển
được. Như thế một số nguyên nhân xung
đột sẽ tự nhiên được giải
tỏa. Các sắc tộc ít người sẽ có
được tiếng nói đáng kể tại các
địa phương mà họ tập trung đông
đảo. Các chính đảng không có được đa
số trong các cuộc bầu cử toàn quốc vẫn có
thể nắm được chính quyền tại
những địa phương nơi họ
được tín nhiệm. Dân chủ đa nguyên làm
nhẹ đi mối căng thẳng chính quyền -
đối lập và bẻ găy mối xung khắc
được làm vua thua làm giặc. Tản quyền
dưa tới hệ luận là chính quyền trung ương
không cai trị trực tiếp mà chỉ đảm
nhiệm các sứ mạng quóc pḥng, ngoại giao, tiền
tệ và phối họp giữa các địa
phương. Một vai tṛ khác của chính quyền trung
ương là thực hiện các công tŕnh cơ sở
hạ tầng trên qui mô cả nước và trợ giúp các
chương tŕnh địa phương đáng khuyến
khích.
Ba là, dân chủ đa nguyên đặt nền tảng trên xă
hội dân sự. Bên cạnh các chính đảng, các
cộng đồng sắc tộc, địa phưong và
tôn giáo, các hiệp hội công dân tổ chức theo ngành
nghề quyền lợi, nhân sinh quan, sở nguyện,
ưu tư, v.v... Được hoạt động
độc lập với chính quyền, được nh́n
nhận một chỗ đứng trọng yếu,
được có tiếng nói và ảnh hưởng trong
sinh hoạt cũng như trong sự tiến hóa của xă
hội. Nhà nước tự coi ḿnh là có sứ mạng
phục vụ xă hội dân sự chứ không khống chế
xă hội dân sự, không định đoạt sinh
hoạt thường ngày thay cho xă hội dân sự. Về
mặt kinh tế điều này có nghĩa là nền kinh
tế quốc gia phải dặt nền tảng trên các xí
nghiệp tư, khu vực quốc doanh phải
được giói hạn ở mức tối thiểu và
nếu không có th́ càng hay. Vai tṛ nền tảng của các
hiệp hội công dân đa dạng là một bảo
đảm chắc chắn cho sự chuyển hóa
thường trực, tự nhiên và liên tục của xă hội,
tránh những xáo trộn đột ngột và đầy
đổ vỡ của các cuộc cách mạng.
Bốn là, dân chủ đa nguyên kính trọng các thiểu
số và luôn luôn mưu t́m thỏa hiệp. Trong một
thể chế dân chủ đa nguyên, nguyên tắc thiểu
số phục tùng đa sổ không được sử
dụng một cách tự động và máy móc mà chỉ
được dùng tới sau khi đă tận dụng
mọi cố gắng để t́m đồng thuận.
Dân chủ đa nguyên chống lại mọi h́nh thức
chuyên chính, kể cả chuyên chính của đa số. B́nh
thường trong một thể chế dân chủ sự
chính đáng của một chính quyền dựa trên kết
quả của cuộc bầu cử cuối cùng, nhưng
trong dân chủ đa nguyên sự chính đáng của một
chính quyền c̣n nằm cả trong sự thành khẩn t́m
đồng thuận trong mọi quyết định quan
trọng.
Năm là, dân chủ đa nguyên trong bản chất của
nó tôn trọng mọi thành phần dân tộc và không thể
để một thành phần này bóc lột và chà
đạp một thành phần khác. V́ thế dân chủ
đa nguyên coi rất trọng công bằng xă hội và không
thể đi đôi với cái thựng được
gọi là tư bản rừng rú
Trong một thể chế dân chủ đa nguyên, nhà
nước không c̣n là người chỉ huy tuyệt
đối. Vai tṛ của nhà nước chỉ là
đảm nhiệm ba chức năng: trọng tài trong các
quan hệ giữa các thành tố của xă hội, chế
tài những vi phạm, và ḥa giải những đ̣i hỏi
mâu thuẫn của các thành phần dân tộc. Nhà
nước ḥa giải thay v́ nhà nước chỉ huy là nét
đậm của dân chủ đa nguyên. Nó phân biệt
hẳn dân chủ đa nguyên với các chế độ
chuyên chính, nhưng nó cũng khiến dân chủ đa nguyên
khác với nhiều chế độ dân chủ trong đó
chính quyền vẫn c̣n tham vọng định đoạt
thay cho xă hội dân sự. [... ] (Trích Thử Thách và Hy
Vọng - Dự án Chính trị Dân Chủ Đa Nguyên 1996,
Thông Luận, Paris 1996, trang 17-19).
Tầm quan trọng của xă hội dân sự đă
được Alexis de Tocqueville nhấn mạnh rất
sớm ngay từ đầu thế kỷ 19, mặc dù ông
chưa đạt tới khái niệm đa nguyên. Ông đă
cảnh giác rằng đặc tính cốt lơi của các
chế độ độc tài là đè bẹp xă hội
dân sự. Ông nhận định ràng các chế dộ
độc tài không cần người dân thương yêu
họ mà chỉ cần người dân dừng
thương yêu nhau và đừng kết hợp với nhau
để cho chúng để khống chế một xă
hội phân ră. Nâng cao tầm quan trọng của xă hội
dân sự lên hàng một thành tố nền tảng của
sinh hoạt quốc gia có hệ luận tự nhiên là chính
quyền phải triệt thoái về mức độ
tối thiểu cần thiết để nhường
không gian tự do tối đa cho các công dân. Đó cũng là
điều mà các nhà tư tưởng thuộc
trường phái tự do đă đề nghị từ
lâu. Nhiều nhà tư tưởng khác cũng đă báo
động về nguy cơ của một sự chuyên chính
của đa số. Dĩ nhiên cũng không thể quên
ưu tư của các nhà tư tưởng thuộc khuynh
hướng xă hội là ngăn cản sự khống chế
của người giàu trên người nghèo. Phong trào
cộng sản thế giới đă sụp đổ
nhưng vấn đề mà nó đặt ra vẫn c̣n
rất thời sự trước sự bành trướng
của các công ty lớn ảnh hưởng một cách quan
trọng trên cuộc sống của rất nhiều
người, đôi khi trên cả một số quốc gia.
Các công ty đa quốc gia đă có từ lâu và cũng đă
ảnh hưởng trên chính sách của các nước
nhược tiểu từ lâu, nhưng sự bện rất
mới và cần được cảnh giác là gần
đây ngày càng xuất hiện những công ty quá lớn.
Một số công ty có trị giá tích sản tương
đương với tổng sản lượng của
cả khối ASEAN. Các công ty đa quốc gia lớn là
những trung tâm quyền lực khổng lồ mới
trong đó lănh đạo hoàn toàn không bị chi phối
bởi những nguyên tắc dân chủ. Một giải pháp
kỹ thuật vẫn cần được t́m ra cho
vấn nạn này trừ khi, như niềm tin của
nhiều người, một mặt chính phát triển kinh
tế sẽ khiến các công ty cần công nhân hơn là công
nhân cần xí nghiệp, mặt khác các sinh hoạt văn
hóa, nghệ thuật, thẻ thao sẽ tiến lên, giảm
bớt trọng lượng của sinh hoạt kinh tế.
Một trường phái tư tưởng mới cũng
đang xuất hiện với niềm tin vào một
chủ nghĩa dân chủ chứng khoán, theo đó các công ty,
v́ nhận vốn từ quần chúng qua thị
trường chứng khoán và lệ thuộc quần chúng
trong việc bán hàng và dịch vụ sản xuất ra,
sẽ dần dần bị kiểm soát bởi quần
chúng, nghĩa là cũng sẽ dân chủ hóa. Tuy giải pháp
chưa t́m ra nhưng nguyên tắc đă rơ rệt: mọi
người phải có chỗ đứng và tiếng nói
ngang nhau độc lập với trọng lượng kinh
tế.
Dân chủ đa nguyên là tổng hợp chính trị ở
giai đoạn này của nhiều đột phá trong kho
tàng suy tư của nhân loại.
Chúng ta chưa có dân chủ mà đă nghĩ đến dân
chủ đa nguyên có phải là quá sớm và quá không
tưởng không? Đúng, nếu ta nghĩ rằng một
học sinh trung học chỉ nên nghĩ tới bằng tú
tài chứ không cần nghĩ tới đại học. Có
nhiều triển vọng cô hay cậu học sinh thực
tiễn này sẽ không đi xa trên đường học
vấn.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Các giá trị châu á?
Có
một lần tôi được coi một hoạt
cảnh tức cười trong một phim hài hước.
Một nhà mô phạm đang thao thao bất tuyệt
giảng giải giá trị thiêng liêng của gia đ́nh
trước một cử tọa trẻ. Ông đang hùng
hồn thuyết phục đám thanh niên về những
tệ hại của quan hệ t́nh dục ngoài khuôn khổ
vợ chồng th́ một bất ngờ xảy
đến. Một chàng trai, với tất cả bộ
dạng của một người đồng tính luỵến
ái, từ ngoài xông vô nắm lấy ông đánh ghen. Th́ ra ông
không những ngoại t́nh mà c̣n ngoại t́nh với
người cùng phái. Bài giảng dĩ nhiên chấm dứt
ở đây.
Cuộc khủng hoảng kinh tế châu á bắt
đầu từ mùa hè 1997 cũng đă cắt ngang
cuộc tranh luận đang sôi nổi về các giá trị
châu á một cách tương tự. Nó lố bịch hóa
những người đang rêu rao là các quốc gia Đông
á đă phát triển mạnh nhờ các giá trị châu á, và
như thế người châu á không cần những giá
trị phương Tây như dân chủ và nhân quyền.
Nhưng kết thúc một cuộc tranh căi v́ một bên tranh
luận bị quê là một kết thúc không ổn.
Người tranh luận bị cụt hứng nhưng
chắc ǵ nhưng điều họ nói đă sai? Như
thể cuộc tranh luận về các giá trị châu á có
thể sẽ c̣n được phát động lại
trong tương lai, trong một hoàn cảnh khác và với
mục mục đích khác Do đó chúng ta cũng cần xem
thực chất của cuộc tranh căi này là cái ǵ.
Điểm thứ nhất là cuộc tranh căi về các giá
trị châu á đă được tung ra hồi đầu
thập niên 1990, hầu như cùng một lúc tại Singapore
và Malaysia. Đây là một điều nghịch lư bởi v́
Singapore và Malaysia chính là hai nước có ít tư cách
nhất để phát biểu nhân danh văn hóa và truyền
thống châu á.
Singapore là một thương cảng hơn là một
quốc gia, do người phương Tây thành lập cách
đây hai thế kỷ, bắt đầu từ một
làng đánh cá nhỏ với vài chục ngư dân. Nó đă
được tạo ra và cai trị hoàn toàn theo khuôn
mẫu phương Tây. Dân chúng Singapore, ba triệu
người hiện nay, chu yếu là những người
Hoa đă chạy trốn hệ thống chính trị và
văn hóa châu á tại quê hương cũ.
Malaysia cho tới cuối thế kỷ 14 chỉ là một
bán đảo hoang vu và là trạm dừng chân cho các
thuyền buôn qua lại giữa ấn Độ và Sumatra.
Dữ kiện lịch sử đầu tiên là cuộc
thăm viếng của một sứ giả Trung Quốc
dưới triều Minh năm 1405. Lúc đó Malaysia chỉ
có vài vương quốc nhỏ hoàn toàn cô lập với phần
c̣n lại của châu á. cho tói khi được tuyên bố
là thuộc địa của Anh, đặt dưới
quyền quản trị của công ty British North Borneo
Company, vào năm 1881, Malaysia không có ǵ giống với
một quốc gia cả. Malaysia không có lịch sử và
cũng không có một văn hóa riêng, chưa nói tới
văn hóa châu á. Như Singapore, Malaysia được thành
lập và cai trị hoàn toàn theo khuôn mâu phương Tây.
Cũng giống như Singapore, người Malaysia rất
hài ḷng với chính quyền thuộc địa Anh và không
đ̣i độc lập họ đă chỉ
được độc lập sau một quyết
định của nước Anh. Hệ thống chính
trị của họ không khác bao nhiêu di sản mà
người Anh để lại.
Tóm lại, các giá trị châu á đă được
đề cao bởi hai nước không hề thể
hiện chúng.
Điểm nghịch lư thứ hai là cả Lee Khan Yew (Lư
Quang Diệu) của Singapore lẫn Mahathir Muhamad của
Malaysia, hai người hô hào tích cực nhất cho những
giá trị châu A, đều là những người đă
rất Tây phương hóa. Cả hai đều đă
đóng vai tṛ then chốt trong việc Tây phương hóa
sinh hoạt của đất nước họ. Lư Quang
Diệu chỉ bắt đầu nói tới các giá trị
Khổng Giáo sau khi ông từ chức thủ tướng.
Việc ông nhấn mạnh tới truyền thống tôn
trọng các bậc trưởng thượng của
người châu á có thể được nh́n như
một phản ứng tự vệ dể cố kéo dài
ảnh hưởng trên chính trường. Lư Quang Diệu tỏ
ra khó chịu trong qui chế hai bên của ông: ông đi kháp
nơi, ban phát những lời khuyên cho mọi người
trên mọi vấn đề. Các lập luận về các
giá trị châu á của ông có vẻ đă thành công cho cá nhân
ông v́ ít ra chúng đă làm ông nổi bật.. Mahathir thuộc
một thiểu số trong sắc tộc Mă Lai
được giáo dục theo văn hóa Anh. Nếp sống
của ông hoàn toàn là nếp sống của người Anh.
Các con ông cũng thế, con gái út ông có chồng người
Pháp. Mahathir rất sợ bị coi như là một
người Mă Lai mất gốc. V́ thế những lời
tuyên bố của ông về các giá trị châu á cũng
chỉ nhằm một mục đích sửa đổi
h́nh ảnh của ông, để ông có vẻ Mă Lai và Hồi
Giáo hơn là sự thực. Từ một năm nay vụ
án Anwar Ibrahim đă gây rất nhiều tiếng vang. Dư
luận thế giới coi Anwar như một chính khách
tiến bộ và hiện đại, nạn nhân của
Mahathir, một người cầm quyền thủ cựu.
Thực ra Anwar từng là một người Hồi Giáo
toàn nguyên và quá khích trong giai đoạn đầu của
sự nghiệp chính trị. Ông ngưỡng mộ Khomeini
và phấn khởi v́ cuộc cách mạng Hồi Giáo tại
Iran đến nỗi ông từng hành hương sang Teheran
để bày tỏ sự cảm phục đối
với Khomeini. Mahathir đă chỉ chọn Anwar làm
người thừa kế chính thức của ḿnh
để tranh thủ cử tri Hồi Giáo Mă Lai cho ông. Chính
v́ thế mà ông đă rất giận dữ và thù ghét Anwar khi
Anwar muốn tỏ ra hiện đại hơn ông..
Tóm lại, hai nhân vật đề cao các giá trị châu á
nhất cũng là những người không chấp
nhận chúng cho chính ḿnh. Cuộc tranh căi đă thiếu
thực thà ngay từ đầu.
Điểm thứ ba mà tôi muốn lưu ư độc
giả là các giá trị châu á chỉ là một diễn
văn chứ hoàn toàn không phải là một chủ
thuyết. Không hề có một luận cương hay
một cẩm nang nào cả. Tất cả chỉ là
những bài viết ngắn và những cuộc phỏng
vấn bằng tiếng Anh được đăng trên
nhật báo The Intemational Herald Tribune và tập san Foreign
Affairs. Trong số những người chủ xướng
và hô hào cho các giá trị châu á, người ta không thấy
một triết gia, một nhà tư tưởng hay một
nhà văn lớn nào, người ta chỉ thấy
những công chức thuộc hai chính quyền Singapore và
Malaysia. Cuộc vận động cho các giá trị châu á
giống như một chiến dịch tuyên truyền
hơn là một cuộc thảo luận trí tuệ.
Một đặc điểm khác là những ồn ào
về các giá trị châu á đă chỉ giới hạn trong
khuôn khổ ASEAN. Các quốc gia châu á khác đă không tham gia
cuộc ḥa tấu này. Không có khuôn mặt chính trị
hoặc trí thức lớn nào của Nhật tỏ ra quan
tâm. ấn Độ, Pakistan và Bangladesh hoàn toàn không biết
tới. Nam Cao Ly và Đài Loan gạt bỏ thẳng thừng
các luận điệu về các giá trị châu á và quả
quyết chọn lựa con đường dân chủ hóa.
Ngay trong khối ASEAN, Indonesia, Thái Lan và Phi-líp-pin tỏ ra
dửng dưng. Chỉ có Hà Nội, Bắc Kinh và Rangoon
tỏ ra hưởng ứng. Báo chí và quan chức Việt
nam thỉnh thoảng ca tụng nhưng quan điểm
đứng đắn của Lư Quang Diệu và Mahathir, dù
không đề cập đến cụm từ giá trị
châu á. Cũng nên lưu ư rằng trong mọi phát biểu
về các giá trị châu á của họ, cả Lư Quang
Diệu lẫn Mahathir cùng những cộng sự viên
của hai ông đều không bao giờ đề cập
đến ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Đối
với họ, h́nh như châu á chỉ là Đông á. Nhưng
những giá trị châu á được nêu ra là ǵ?
Lư Quang Diệu và Mahathir lại xung khắc một cách tràm
trọng về nội dung của chúng. Đối với
họ Lư, các giá trị châu á chỉ có thể là các giá
trị Khổng Giáo trong khi đối với Mahathir chúng
lại chủ yếu là các giá trị Hồi Giáo. Hai nhân
vật này tuy ghét nhau nhưng h́nh như cũng đồng
ư với nhau rằng người châu á quan tâm đến xă
hội, cố gắng, giáo dục, tiết kiệm, phát
triển và ổn định hơn là tới cá nhân,
tiện nghi, tiêu thụ, nhân quyền và dân chủ; ngoài ra
người châu á kính trọng tổ tiên, người
lớn tuổi và chính quyền. Dân chủ và nhân quyền có
vẻ như là hai đối tượng đánh phá quan
trọng nhất của những diễn văn về các
giá trị châu á. Nhưng ở đây các quan chức Singapore
và Malaysia lại tỏ ra bối rối. Thông thường
họ phản bác dân chủ và nhân quyền như những
giá trị của phương Tây, nhưng cũng có khi
họ lại nói đó là những giá trị phổ cập
chỉ cần thích nghi với hoàn cảnh châu á.
Lư Quang Diệu hô hào một cách rất hăng say cho kinh
tế thị trường và sự minh bạch
(transparency), hai cột trụ của dân chủ. Có những
lúc ông nói rằng dân chủ và nhân quyền cũng quan
trọng đấy nhưng không quan trọng bằng
kỷ luật và sản xuất. Người kế vị
ông, đương kim thủ tướng Singapore Goh Chok
Tong c̣n đi xa hơn, đối với ông: Các quyền
kinh tế và xă hội cũng quan trọng không kém các
quyền dân sự và chính trị . Không kém nhưng cũng
không hơn. ở một dịp khác ông Goh Chok Tong c̣n tuyên
bố mạnh dạn hơn: Chúng tôi tin tưởng ở
dân chủ, nhưng dưới một h́nh thức
đảm bảo được kỷ luật và
đồng thuận. Bà Chan Hăng Chen, cựu giám
đốc Viện Nghiên Cứu Đông Nam á và đại
sứ Singapore tại Liên Hiệp Quốc, tuyên bố trong
một cuộc phỏng vấn trên The Intemationa Herald Tribule:
Dân chủ và nhân quyền là những giá trị phổ
cập nhưng những điều kiện để
thể hiện chúng tại châu á có phần khác. C̣n Mahathir?
Trong một dịp, ông đă chỉ xin thêm thời gian:
Đừng đ̣i hỏi chúng tôi phải thay đổi
ngay tức khắc. Chúng tôi sẽ thay đổi, nhưng
chúng tôi sẽ không thay đổi nhanh như người ta
đ̣i chúng tôi. Có lẽ ít ai đ̣i Mahathir phải thay
đổi ngay tức khắc v́ thực ra Malaysia, hơn
cả Singapore, đă là nước dân chủ hóa sớm
nhất trong khối ASEAN. Chính nhưng lời tuyên bố
mâu thuẫn này đă khiến Bắc Kinh, Hà Nội và
Rangoon, những chế độ thực sự chống
dân chủ và nhân quyền, không ủng hộ nhiệt t́nh
những phát biểu về các giá trị châu á của
Singapore và Malaysia.
Hiển nhiên là cộng đồng, kỷ luật, cố
gắng, giáo dục, và ngay cả gia đ́nh, không phải là
những giá trị đặc biệt của châu á.
Người phương Tây cũng quí trọng những giá
trị này, có khi c̣n hơn. Lấy một thí dụ: liên
đới xă hội là yếu tố cốt lơi của xă
hội, như thế tinh thần liên đới trên nguyên
tắc phải rất cao trong các xă hội châu á v́ tại
đó cộng đồng được coi là một giá
trị nền tảng, nhưng sự thực là liên
đới mạnh hơn hẳn ở phương Tây so
với châu á. Trong những nước châu á, khi một
người bị sa thải hay gặp tai nạn đó
chỉ là chuyện cá nhân của người đó, không có
an sinh xă hội, không có trợ giúp của nhà nước,
hoàn cảnh bi đát của người đó không là quan
tâm của bất cứ ai.
Hiển nhiên, về cơ bản, những cái gọi là giá
trị châu á không có nội dung nào đặc biệt.
Nhưng sự gay gắt đă thay thế cho lư luận.
Phương Tây được mô tả là đang suy thoái v́
dựa trên những giá trị bệnh hoạn, châu á sẽ
qua mặt phương Tây v́ xă hội châu á được
xây dựng trên những giá trị lành mạnh. Kế đó
là cáo trạng. Người phương Tây đă tỏ ra
xấc xược và bá quyền khi mưu toan áp đặt
những giá trị của họ lên toàn thế giới,
nhưng sự ngạo mạn này không thể tiếp
tục được nữa v́ t́nh thế đă thay
đổi và tương lai sẽ thuộc về châu á
v.v.. cả những người hô hào các giá trị châu á,
Kishore Mahbubani, đại sứ Singapore tại Liên Hiệp
Quốc, là người quá khích nhất. Ông hô hào: Bạn
trẻ ơi, hăy quay về phương Đông? , ông
quả quyết:! Địa Trung Hải là biển của
quá khứ, Đại Tây Dương là đại
dương của hiện tại, Thái B́nh Dương là
đại dương của tương lai. Những
người khác tỏ ra ôn ḥa hơn nhưng tất cả
đều cùng một luận điêu chống phương
Tây và cũng đều cùng một giọng điều
đắc tháng.Thái độ đác thắng này dĩ nhiên
là lố lăng v́, trừ trường hợp của
Nhật và hai thành phố Singapore và Hồng Kông, tất
cả các quốc gia châu á vẫn c̣n thua xa các nước
dân chủ phương Tây. Malaysia chẳng hạn, chỉ
có một sản lượng trên mỗi đầu
người tương đương với 20% mức
độ của Hoa Kỳ và các nước Tây Âu.
Nhưng tại sao cuộc tranh luận về các giá trị
châu á đă ồn ào như vậy? Chúng ta sẽ sai lầm
nếu gạt phăng đi với thái độ khinh
thường. Có ít nhất hai lư do đă khiến cuộc
tranh luận về các giá trị châu á gây sôi nổi trên báo
chí.
Lư do thứ nhất là châu á đang đ̣i hỏi một
chỗ đứng xứng đáng hơn. Hơn hai
thập niên tập trung đều đặn ở một
tỷ lệ cao đă gia tăng rất nhiều trọng
lượng của châu á. Từ 4% năm 1960, tổng
sản lượng của các nước châu á đă lên
mức 25% tổng sản lượng của thế
giới vào năm 1992 khi cuộc tranh căi về các giá
trị châu á vừa bắt đầu. Châu á cũng
đạt tới 25 % trọng lượng của
ngoại thương trên thế giới vào năm 1994 và
cũng giữ trong tay một phần ba trữ kim của
thế giới. Năm 1990, châu á đă mua của các
nước phương Tây một số lượng hàng
hóa và dịch vụ trị giá 650 tỷ USD, gấp đôi
con sổ của con số năm 1980, nhưng chỉ
xấp xỉ bằng một nửa con số hiện nay.
Châu á đă trở thành một thị trường hấp
dẫn cho các nước phương Tây và trọng
lượng của nó sẽ càng ngày càng tăng lên. Rơ ràng là
châu á xứng đáng được trọng nể hơn.
Quan hệ giữa châu á và phương Tây phải thay
đổi để phù hợp với tương quan
lực lượng mới. Các nước phương Tây
đều hiểu như vậy. Đó là lư do khiến
họ đă chú ư đặc biệt đến những
diễn văn về giá trị châu á. Mặt khác cũng v́
sức mạnh thực sự của diễn văn về
các giá trị châu á là sự thành công về mặt kinh
tế của các nước châu á mà nó đă yếu hẳn
đi sau cuộc khủng hoảng tài chính bắt
đầu hồi tháng 7-1997.
Lư do thứ hai là những phát biểu về các giá trị
châu á thực ra chỉ là một phần của một
cuộc tranh luận quan trọng và to lớn hơn
nhiều đang diễn ra tại châu á và sẽ có ảnh
hưởng lớn trên tương lai của thế
giới. Các quốc gia châu á đang ở trong một khúc
quanh lịch sư đặc biệt quan trọng. Tăng
trưởng kinh tế đă cải thiện một cách
đáng kể đời sống con người nhưng
đồng thời cũng mang đến những đ̣i
hỏi thay đổi chính trị mạnh mẽ theo
chiều hướng gia tăng tự do, dân chủ và nhân
quyền. Cuộc chuyển hóa đe dọa nền tảng
chính đáng của nhiều người cầm quyền và
buộc họ đi t́m một biện minh văn hóa và
tư tưởng cho quyền lực của họ. Trong
bối cảnh ấy, so với ảo tưởng
đấm máu của ư thức hệ cộng sản
trước đây, các giá trị châu á là một phản
ứng khá hiền lành, một chủ thuyết ít
độc hại hơn hẳn.
Thực sự có những giá trị châu á không và những
giá trị nào? Các nước châu á được thành
lập một cách riêng biệt và chỉ có một sự
hiểu biết lẫn nhau rất sơ sài. Nhiều
quốc gia châu á đă do người phương Tây
lập ra và phần lớn các biên giới quốc gia
đều hoặc do người phương Tây quyết
định hoặc chịu ảnh hưởng của
họ. Nếu chỉ muốn nói một cách sơ sài th́ ta
có thể nói. Đông á chịu ảnh hưởng Trung Hoa
và, ở những mức độ khác nhau, mang nhưng
đặc tínhcủa văn hóa Khổng Giáo; Tây á là một
sự đan xen giữa văn hóa ấn Độ Giáo và
văn hóa Hồi Giáo, trong khi ở phía Nam, Indonesia à Malaysia
là những quốc gia Hồi Giáo. Nhưng ngay cả cách mô
tả sô sài đó cùng không đúng, Thái Lan và Miến
Điện là hai nước Phật Giáo, trong khi Phi-líp-pin
lại là một nước đa số Công Giáo. Và cũng
không nên quên từ thế kỷ 20 văn hóa và các
phương pháp làm việc của phương Tây cũng
đă mọc rễ khắp nơi.
Mặt khác cũng không hề có một t́nh cảm liên
đởi nào giữa các quốc gia châu á. Người
Nhật cho rằng họ là một dân tộc riêng biệt,
thông minh và hùng mạnh hơn mọi dân tộc khác.
Người Thái cũng nghĩ rằng họ là một dân
tộc tinh nhuệ hơn hẳn, đă giữ
được độc lập trước cuộc chinh
phục của phương Tây. Quan hệ đáng kể
nhất của Miến Điện với thế giới
bên ngoài nói chung và châu á nói riêng trong lịch sử dài hơn
một ngàn năm của họ là những cuộc
chiến tranh với Thái Lan, mà những thù hận vẫn
chưa chấm dứt hằn. C̣n người Trung Hoa th́ dù
đă trải qua nhiều thăng trầm và tủi hổ
họ vẫn chưa bỏ hẳn được mặc
cảm tự tôn của thời xa xưa khi họ tự
coi là trung tâm của thế giới trong khi các dân tộc
láng giềng chỉ là những thiểu số man rợ.
Coi châu á như một thực thể tự nó đă là
điều vô lư. Chỉ có những người thiếu
hiểu biết mới có thể nói tới một văn
hóa hay một triết lư phương Đông.
Tuy nhiên, nếu chúng ta cố hết sức để
nhận ra nhưng nét giống nhau trong nếp sống và suy
nghĩ của các dân tộc châu á th́ chúng ta cũng có
thể t́m thấy một số điểm. Những
điểm này, phải nói ngay, không phải chỉ có ở
châu á mà hiện diện ở mọi xă hội ngoài
phương Tây và ở cả phương Tây trước
đây vài thế kỷ, dù có lẽ ở một mức
độ thấp hơn. Đó là:
Cơ cấu đại gia đ́nh liên hệ cá nhân
trước hết với người cùng một ḍng máu.
Tâm lư này có thể nhận thấy trong hầu hết các
nước châu á với những hậu quả quan
trọng về cả kinh tế lẫn chính trị. Các công
ty lớn ở Nhật, Hồng Kông, Nam Cao Ly
được điều hành như những vương
quốc gia đ́nh. Các nhà độc tài trước hết
dựa trên gia đ́nh, dành cho con cái, họ hàng những
đặc quyền lớn. Các bà nội trợ thay
chồng, con trai và con gái kế vị cha mẹ làm lănh
tụ các chính đảng hay làm tổng thống tại
Phi-líp-pin, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, ấn Độ,
Miến Điện và Bắc Cao Ly.
Quan niệm quyền lực chính trị như là sự
tưởng thưởng cho địa vị và thành tích
trong quá khứ hơn là một trách nhiệm đ̣i hỏi
khả năng và tầm nh́n. Chức quyền thay v́
chức trách. Do đó người lănh đạo quốc
gia không cần phải thành công mà chỉ cần sống
xứng đáng với địa vị của ḿnh. Sự
chống đối lại chính quyền bị xem như
chống lại trật tự xă hội và như một
thái độ không phải đạo. Chừng nào
người cầm đầu quốc gia chưa mắc
phải những tội ác tày trời th́ không có lư do ǵ chính
đáng để đ̣i thay thế ông ta hay bà ta. Tâm lư này
giải thích sự kiện một đảng hay một
lănh tụ có thể cầm quyền liên tục trong
nhiều thập niên. Dĩ nhiên tâm lư người châu á
đă thay đổi nhiều, nhưng một thắng lợi
như của Bill Clinton trước George Bush năm 1992
vẫn c̣n là điều không thể có tại châu á. Sự
lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị. Về
điểm này phải nói rằng sự phân biệt
giữa tôn giáo và chính trị, giữa Thiên Chúa và Ceasar,
quả là một đặc tính của tư tưởng
phương Tây. Tại các nước châu á, Thượng
Đế và Vua liên hệ rất mật thiết với
nhau, khi không phải là một. Tại Trung Quốc,
dưới ảnh hưởng Khổng Giáo, vua là
thượng đế; tại các nước Hồi Giáo
như Pakistan và Bangladesh, thượng đế là vua, c̣n
tại ấn Độ và hai nước theo Phật Giáo là
Thái Lan và Miến Điện, thượng đế
chỉ là phụ tá ngoan ngoăn của vua. Người ta có
thể nghĩ rằng sở dĩ chủ nghĩa cộng
sản đă thành công và đứng vững tại Đông
á hơn là lại Tây Âu, nơi nó được phát minh ra,
là v́ chính nó cũng là một hệ thống nửa tôn giáo
nửa chính trị như Khổng Giáo trước đây.
Về điểm này cũng thế, đă có nhiều thay
đổi, nhưng chưa thay đổi hẳn.
Cả ba yếu tố trên đây xét cho cùng đều là
những trở ngại cho phát triển và tiến bộ.
Cần nhận xét là những quốc gia từ bỏ chúng sớm
nhất cũng là những quốc gia phát triển nhất.
Khối ASEAN trước cuộc khủng hoảng kinh
tế được các ông 1ư Quang Diệu và Mahathir coi,
đúng hơn là lạm coi, như là thành tŕ của cái mà các
ông ấy gọi là các giá tri châu á. Nhưng t́nh thế đă
thay đổi.
Ngày nay cả năm nước sáng lập và có trọng
lượng nhất trong khối đều đă là
những nước dân chủ. Khi Việt nam xin gia
nhập ASEAN, ban lănh đạo cộng sản hy vọng
t́m được ở ASEAN một chỗ dựa cho
chế độ độc tài; từ nay và sắp
tới, trong những cuộc gặp gỡ thường xuyên
của khối, họ sẽ chỉ gặp những nhà
lănh đạo dân chủ thôi thúc họ cải tổ nhanh
hơn. Từ nay, trong không khí mới của ASEAN,
độc tài không c̣n ǵ là oai hùng nữa mà chỉ là lố
bịch, thiếu văn minh, mất vệ sinh.
Ngày nay, nếu có một giá trị châu á mới nhưng
đích thực, th́ đó là khát vọng của mọi
người châu á muốn được sung túc hơn và
được kính trọng hơn. Khát vọng này đang
thôi thúc mọi dân tộc châu á. Họ đă ư thức
được tiềm năng chưa được khai
thác của họ, họ cảm thấy hổ nhục v́
nghèo khổ và thiếu tự do, họ tin rằng họ có
thể, và phải, rút ngắn khoảng cách với các dân
tộc phương Tây. Họ không quan tâm ǵ đến
những cái gọi là giá trị châu á, họ chỉ quan tâm đến
những giá trị làm cho cuộc sống của họ
đáng sống và đáng tự hào hơn. Ngay cả
một cô hầu bàn tại Sài G̣n hay một anh tài xế xe
tuk-tuk tại Bangkok cũng đă hiểu rằng phát
triển và phồn vinh phải đi đôi với dân
chủ và nhân quyền.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Thập nhị sứ quân
Đinh
Bộ Lĩnh, tức vua Đinh Tiên Hoàng, được
coi là một trong những đại anh hùng của
nước ta v́ đă có công dẹp mười hai sứ
quân và qui đất nước về một mối.
Sự nghiệp của ông gây ấn tượng mạnh
đến độ ngày nay khi tiếng Việt đă phát
triển nhiều rồi chúng ta vẫn c̣n nhắc tới
giai đoạn trước nhà Đinh bằng cụm
từ thập nhị sứ quân thay v́ mười hai
sứ quân. Hơn thế nữa, thập nhị sứ quan
đă trở thành một thành ngữ để chỉ nguy
cơ đất nước bị tan ră thành nhiều
mảnh. Nó như một tai họa ám ảnh chúng ta.
Mỗi dân tộc thường có những nhân vật có
sức thu hút đặc biệt, ngôn ngữ phương
Tây ngày nay nói là họ có charisma. Sức thu hút~ đó có tác
dụng làm cho nhân vật được đề cao
hơn công lao thực sự của ḿnh, và đem lại cho
những hành động của vị ấy một
dấu ấn tâm lư sâu đậm.
Huyền thoại của Đinh Bộ Lĩnh là đă
tỏ ra anh hùng và độc đáo ngay từ thời
thơ ấu. Ông mồ côi cha từ nhỏ, ở với
chú và chăn trâu cho chú, ông bắt những đứa
trẻ chăn trâu khác tôn ḿnh làm minh chủ, bắt chúng làm
kiểu rước ḿnh như vua, tổ chức chúng thành
quân đội lấy lau làm cờ rồi đi đánh nhau
với trẻ con các làng khác. Có lần thắng trận, ông
giết trâu của chú khao quân. Nếu chỉ có thế th́
Đinh Bộ Lĩnh chỉ là một đứa trẻ
ngỗ nghịch và vô giáo dục, nhưng sau này Đinh
Bộ Lĩnh diệt các sứ quân, gom thâu đất
nước và lên làm vua nên những hành động ngang
ngược của ông thời thơ ấu
được coi là biểu hiểu của chí lớn.
Đinh Bộ Lĩnh trở thành thần tượng
của thiếu nhi Việt nam. Tội nghiệp cho
thiếu nhi Việt nam, một mặt người ta
dạy chúng ngưỡng mộ Đinh Bộ Lĩnh
nhưng, mặt khác nếu chúng thực sự làm nhưng
ǵ Đinh Bộ Lĩnh đă làm (ăn hiếp bè bạn,
lập đảng đánh nhau, phá tài sản) th́ chác
chắn chúng sẽ bị ăn đ̣n, mà ăn đ̣n không
oan chút nào v́ thực ra đó chỉ là hành động
của một đứa trẻ hư hỏng.
Một lần nữa chúng ta thấy rơ sự nghèo nàn
về tư tưởng của người Việt. Chúng
ta không suy luận và phê phán mà chỉ biết tâng bốc
kẻ thắng. Hễ kẻ nào đă thành công và trở
thành chúa tể th́ những hành động của kẻ
đó, dù xằng bậy đến đâu cũng
được bào chữa và đánh bóng để
đưa lên làm mẫu mực cho thời đại và cho
đời sau. Chúng ta viết sử một cách không
đứng đắn và chúng ta cũng đọc sử
một cách không đứng đắn.
Bài hát Hoa Lư mà các thầy cô tôi dạy tôi ở
trường tiểu học bắt đầu bằng câu:
Ta cùng nhau đi thăm nơi hùng xưa... và kết thúc
bằng câu ca tụng Đinh Bộ Lĩnh là đấng
anh hùng v́ nước quên ḿnh. Thực ra Đinh Bộ
Lĩnh chẳng bao giờ quên ḿnh cả. Trái lại ông luôn
luôn chỉ biết có ḿnh thôi. Ông bất chấp tất
cả, ông chỉ biết tham vọng quyền lực và
thể vui của riêng ḿnh. Lúc nhỏ ông ở với chú,
lập băng đảng đánh lộn và phá tài sản
của chú. Lớn lên ông đi làm giặc rất sớm v́
theo sử chép ông theo sứ quân Trần Lăm, được
Trần Lăm tin dùng và gả con gái cho, rồi lên thay Trần
Lăm làm sứ quân khi Trần Lăm chết, sau đó rời
bản doanh từ Thái B́nh về Hoa Lư. Vậy mà năm
951, mới 26 tuổi, ông đă lừng lẫy ở Hoa
Lư đến nỗi hai ông vua nhà Ngô (Ngô Xương
Ngập và Ngô Xương Văn, con Ngô Quyền) phải
thân chinh đi đánh mà không được. Đúng là
một tay anh chị, lúc bé th́ du côn, lớn lên đi làm
giặc. Và việc làm giặc chống nhà Ngô này là hoàn toàn
vô đạo v́ anh em nhà Ngô rất chính đáng, cha họ là
Ngô Quyền có công đánh bại quân xâm lược Nam Hán,
chính thức xác nhận nền độc lập dân
tộc, hai anh em Ngô Xương Ngập và Ngô Xương
Văn đều là những người nhân nghĩa.
Nhưng Đinh Bộ Lĩnh táo bạo và đánh trận
giỏi. Nhờ vậy ông đă diệt được
mọi sứ quân và cả nhà Ngô, gom thâu lănh thổ
nước ta rồi lên ngôi hoàng đế. Sử sách ca
tụng Đinh Bộ Lĩnh có công dẹp loạn sứ
quân mà quên rằng chính ông cũng gây ra loạn sứ quân.
Nhiều người cho rằng việc xưng đế
của Đinh Bộ Lĩnh, tức vua Đinh Tiên Hoàng,
tương đương với một tuyên ngôn
độc lập. Trên thực tế nước ta đă
dần dần h́nh thành trong hơn mười thế
kỷ Bắc thuộc. Nhờ những đóng góp về
dân số và văn hóa từ phương Bắc và những
cố gắng khai mở của các quan cai trị nặng
t́nh với quê hương mói như Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp,
một xă hội văn minh mới đă dần dần h́nh
thành tại đồng bằng sông Hồng. Vách núi hiểm
trở ngăn cách đă khiến sự đi lại
giữa Giao Châu và Trung Quốc c̣n khó khăn hơn
đường biển. Xă hội Giao Châu ngày càng phát
triển và ngày càng khác với xă hội Trung Quốc. Giao
Châu là một xă hội Phật Giáo trong khi Trung Quốc là
một xă hội Khổng Giáo. Sự thống trị
của Trung Quốc yếu dần đi, để rồi
tới một lúc không c̣n duy tŕ được nữa.
Năm 906, guồng máy cai trị của Trung Quốc
tại Giao Châu tự nó sụp đổ. Trung Quốc
loạn lạc, quan cai trị bỏ về nước,
người Giao Châu tôn một hào kiệt bản xứ là
Khúc Thừa Dụ lên thay, chấm dứt thời kỳ
Bắc thuộc và mở đầu kỷ nguyên tự
chủ.
Cần lưu ư là nền độc lập của
nước ta đă đến một cách tự nhiên
như là sự chín muồi của tiến tŕnh h́nh thành
của một xă hội mới chứ không phải do ư chí
muốn độc lập và chống lại Trung Quốc.
Ba đời họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và
Khúc Thừa Mỹ) và cả Dương Đ́nh Nghệ sau
đó, dù tự lập nên và chống với quân xâm lăng
phương Bắc vẫn chỉ xưng là tiết
độ sứ, một chức quan do Trung Quốc lập
ra để cai trị Giao Châu. ư thức quốc gia của
chúng ta tiến chậm hơn thực tại xă hội,
địa lư và nhân văn. Ngô Quyền sau khi thắng
được quân Nam Hán đă xưng vương, chính
thức xác nhận nền độc lập. Hành
động có ư nghĩa lịch sử trọng đại
này h́nh như đă không được ghi nhận một
cách phấn khởi, nên ngay sau khi Ngô Quyền qua đời
hào kiệt khắp nơi đă thi nhau xưng hùng xưng bá.
Sự triệt thoái của Trung Quốc đă tạo ra
một khoảng trống quyền lực tại Giao Châu
cho các thủ lănh địa phương. Đinh Bộ
Lĩnh là một trong những thủ lănh này. Việc ông
nổi loạn chỉ là do tham vọng cá nhân chứ không
phải là để chống lại một chính quyền bất
chính. Đinh Bộ Lĩnh đă thắng được
không phải v́ có chính nghĩa, trái lại ông đă chống
lại một chính quyền rất có chính nghĩa, mà
chỉ v́ ông đánh trận giỏi. Việc ông xưng
đế cũng chỉ nằm trong một tiến tŕnh
độc lập tự nhiên sau họ Khúc, họ
Dương và họ Ngô mà thôi. Nhưng nếu Đinh
Bộ Lĩnh là một tướng giỏi th́ Đinh Tiên
Hoàng lại chỉ là một ông vua tồi và bạo
ngược. Ông không làm được điều ǵ ích
quốc lợi dân trong mười ba năm cầm
quyền (967-980). Ông bày ra nhưng tṛ gớm ghiếc:
lập vạc dầu để luộc người,
dựng cột đồng nung đỏ để
nướng người, nuôi hỗ báo để xé xác
phạm nhân, chặt chân tay, cắt tai, mũi, v.v... Ông
cũng hoang dâm vô dộ, bỏ con trưởng lập con
thứ một cách bất công để đến nỗi
các con ông giết nhau. Cuối cùng ông bị phản thần
giết chết giữa lúc đang say rượu nằm
ngủ. Đinh Tiên Hoàng là người đầu tiên
đem sự hung bạo vào chính trị nước ta,
trước đó xă hội ta là một xă hội Phật
Giáo lấy sự hiền ḥa làm nền tảng. Ông cũng
là người khởi xướng ra một cách ứng
xử chính trị mới, đó là dùng nội chiến
để tiêu diệt lẫn nhau thay v́ giải quyết
những quan hệ quyền lực qua thỏa hiệp và
hợp tác. Nước Việt nam vừa tự chủ, như
một đưa trẻ sơ sinh, đă bị tiêm
những độc tố kinh khủng.
Đinh Tiên Hoàng, một cách vô t́nh, cũng c̣n khai sinh ra
một chủ trương chính trị khác tại Việt
nam, đó là quan điểm nhà nước tập trung và
toàn quyền. Việc ông gom thâu các sứ quân khác đă
được tôn vinh triệt để, đă khiến
sự tập trung mọi quyền lực quốc gia
về một mối trở thành một lẽ dĩ nhiên
trong tâm lư tập thể của chúng ta, và đă khai sinh ra
cả một phản xạ tập trung mà các diễn
biến lịch sử sau này tăng cường thêm.
Họ Trịnh đă coi việc cất quân đánh họ
Nguyễn ở phương Nam là giải pháp duy nhất.
Nguyễn Huệ cất quân diệt họ Trịnh và
đánh cả ông anh là Nguyễn Nhạc. Hồ Chí Minh và
đảng cộng sản quyết tâm đánh gục
chế độ Việt nam Cộng Ḥa ở miền Nam
cho dù sông có thể cạn, núi có thể ṃn, nhiều thành
phố có thể bị tiêu diệt. Gần đây khi nhóm
Thông Luận đưa ra chủ trương tản
quyền và địa phương tự quân (không nên
sợ những từ ngữ, đó quả thực là
một chủ trương gần giống với một
chế độ liên bang) th́ ngay trong nội bộ đă có
những tiếng nói rất thành thực bày tỏ mối
lo đất nước bị đưa vào t́nh trạng
thập nhị sứ quân, nghĩa là tan ră.
Nhưng có những hiển nhiên không đúng chút nào nếu
ta quan sát và suy luận một cách b́nh tĩnh.
Trung Quốc từ lúc h́nh thành đă tiến những
bước vĩ đại cả về kỹ thuật
lẫn tư tưởng cho đến thời Đông Chu
Liệt Quốc dưới chế độ phong kiến
tản quyền, và đă dẫm chân tại chỗ trong
hơn hai ngàn năm sau, từ nhà Tần trở đi,
dưới chế độ quân chủ tập trung. Hoa
Kỳ đă chỉ biết có chế độ liên bang và
đă trở thành cường quốc hùng mạnh nhất thế
giới chỉ sau một trăm năm lập quốc.
Cộng Ḥa Liên Bang Đức đă hơn hẳn các
nước châu Âu khác. Liên Bang Xô viết đă thất
bại nhưng nó chỉ là một liên bang giả hiệu,
mọi quyền hành, kế cả quyền sinh sát tuỳ
tiện, tập trung vào một điện Kremlin.
Nước Pháp tập trung đang vùng vẫy từ
nhiều thập niên để tản quyền. Chế
độ tản quyền hơn hẳn chế độ
tập quyền. Không phải là một ngẫu nhiên mà nó
đang là phương thức mọi quốc gia
hướng tới.. Điều cần được
đặc biệt lưu ư là nó cũng là giải pháp cho
những quốc gia tụt hậu và thiếu dân chủ.
Trước hết nó là một đảm bảo cho dân
chủ. Các vùng tự quản dĩ nhiên không thể có
chế độ độc tài v́ thẩm quyền của
chính quyền địa phương chỉ là điều
hành các vấn đề kinh tế, văn hóa, xă hội
trong khuôn khó của luật pháp quốc gia. Ngược
lại, chính quyền trung ương cũng không thể
độc tài v́ phần lớn sinh hoạt quốc gia nam
trong tay các chính quyền vùng hay tiểu bằng. Trung
ương và địa phương kiểm soát lẫn
nhau với kết quả sau cùng là mọi bên đều
phải khiêm tốn và chừng mực. Một chính
quyền địa phương tồi dở không thể
cấm đoán bầu cử tự do và cũng không thể
gian lận bầu cử mà không bị chính quyền trung
ương chế tài tức khắc. Ngược lại,
một chính quyền trung ương không được
nhân dân tín nhiệm cũng chắc chắn bị thay
thế v́ không thể khống chế được dân
chúng, dân chúng tùy thuộc các chính quyền vùng nhiều
hơn chính quyền trung ương. Sinh hoạt chính
trị chỉ có thể là dân chủ. Hơn nữa mọi
âm mưu đảo chính đều vô vọng. Một viên
tưởng nếu điên rồ đảo chính và lật
dỗ được chính quyền trung ương sẽ
bị bó tay sau đó trước các chính quyền
địa phương tự trị và sẽ may mắn
lắm nếu t́m được máy bay để kịp
thời tẩu thoát. Tản quyền đem dân chủ
tới mọi nơi và mọi người qua các cuộc
tranh luận và tranh cử địa phương. Trong
một nước chưa có truyền thống dân chủ,
một chính quyền tập trung ngay cả có thiện chí
cũng có thể chỉ thực hiện được dân
chủ đối với một thiểu số trí
thức ở thủ đó.
Tản quyền có lợi cho mọi sinh hoạt,
đặc biệt là những sinh hoạt kinh tế. Nó
tránh được những đường dây hành chánh dài
và phức tạp, tiết kiệm được th́
giờ và phí tổn; nó kích thích văn hóa và báo chí
địa phương, nó cho phép mỗi địa
phương chọn lựa phương thức sinh hoạt
phù hợp nhất với đặc tính và điều
kiện của ḿnh, đồng thời lấy những
quyết định nhanh chóng. Các vùng nghèo khó sẽ có được
một chính quyền riêng dành tất cả ưu tư cho
vùng thay v́ phải chờ đợi, và thường
thường bị quên lăng, ở một chính quyền trung
ương bận rộn với những vấn
đề dồn dập của những vùng đă phát
triển và hoạt động mạnh, như chúng ta đă
thấy hiện nay chính quyền Việt nam dành hết th́
giờ giải quyết những vấn đề của
Sài g̣n và Hà nội. Không ai báo động một cách thành tâm
và chính xác những khó khăn của một vùng bằng
chính quyền vùng. Một chính quyền địa
phương tự quản vừa có khả năng tự
giải quyết một số khó khăn, vừa có khả
năng động viên cử tri vùng làm áp lực buộc
chính quyền trung ương phải quan tâm đến
những khó khăn ngoài tầm tay của chính quyền vùng.
Tản quyền đóng góp một cách quyết định
vào sự ổn vững của quốc gia. Nó khoanh vùng
nhiều vấn đề và tránh cho quốc gia nhiều
khủng hoảng đáng lẽ chỉ xảy ra trong
một vùng, đối với chính quyền vùng. Hơn
nữa, nó c̣n giúp cho quốc gia có thể thực hiện những
cải tổ lớn mà không rơi vào hỗn loạn.
Tôi sinh sống nhiều năm tại Pháp để
nhận xét điều đó. Nước Pháp có một tổ
chức giáo dục mà mọi người đều
nhận định là lỗi thời và cần cải
tổ, nhưng hễ chính phủ nào cải tổ giáo
dục là sẽ bị đánh đổ nhanh chóng, lư do là v́
cải tổ nào cũng đụng chạm tới
quyền lợi của một loại người và
bị chống đối. Người ta có thể
đồng ư trên 90% nhưng biện pháp cải tổ
nhưng bất măn với 10% c̣n lại và như thế là
đủ để xuống đường phản
đối. Điều nhức nhối là đ̣i hỏi
của số 10% không đồng ư lại thay đổi
tùy thành phần; sửa đổi để vừa ư thành
phần này th́ lại gây phẫn nộ thêm cho nhiều thành
phần khác. Nguyên nhân là chính quyền Pháp tập trung,
hệ thống giáo dục áp dụng cho cả nước,
cho nên mọi kế hoạch cải tổ đều
bị phải được cả nước chấp
nhận trong khi các vùng và các thành phần xă hội có
những quyền lợi khác nhau. Vấn đề cải
tổ giáo dục vẫn c̣n nguyên vẹn dù đă làm găy
đỗ sự nghiệp của nhiều vị thủ
tướng (kể cả đương kim tông thống
Jacques Chirac lúc ông c̣n là thủ tướng, may mà sau một
thời gian ông gượng dậy được). Chúng ta
hăy tưởng tượng t́nh h́nh sẽ ra sao nếu
nước Pháp là một nước tản quyền thay v́
tập trung? Vấn đề cải tổ giáo dục
sẽ thuộc quyền của các chính quyền địa
phương thay v́ thuộc chính quyền trung ương và
sẽ thực hiện tại từng địa
phương, ở những thời điểm khác nhau,
thay v́ cùng một lúc trên cả nước. Các phản
đối cải tổ nếu có, cũng sẽ chỉ
ở mức độ địa phương và chính
quyền địa phương sẽ được
sự hỗ trợ của đại đa số dư
luận trong nước (v́ 90% những biện pháp cải
tổ là đúng và những người ngoài vùng sẽ
chỉ nh́n thấy sự đúng đắn của kế
hoạch cải tổ chứ không bị đụng
chạm về quyền lợi), các phản đối
sẽ giảm hẳn đi cường độ. Tóm
lại, cùng lắm sẽ chỉ có xung đột nhỏ
ở cấp địa phương mà thôi, cuộc cải
tổ sẽ thực hiện được, sẽ
được lấy làm mẫu mực cho các vùng khác.
Nhưng thực ra có tất cả mọi triển vọng
là sẽ không có xung đột nào cả, bởi v́ nguyên nhân
đưa tới nhu cầu cải tổ lớn chính là v́
hệ thống giáo dục tập trung quá kềnh càng (Pháp
có tới hơn một triệu công chức riêng trong ngành
giáo dục) nên khó cải tổ, do đó nhiều
điều đáng lẽ phải sửa đổi đă
không được sửa đổi, dần dần tích
lũy lại thành quá lớn và đ̣i hỏi một
cải tổ sâu rộng. Tương tự như vấn
đề giáo dục, nước Pháp c̣n ba cuộc cải
tổ lớn nữa cần phải làm là nông nghiệp,
hệ thống an sinh xă hội và hệ thống vận
chuyển công cộng. Ba vấn đề cùng một lư do
hiện hữu: tập trung, và cùng một lư do bế
tắc: tập trung. Trong một nước tản
quyền, phần lớn những vấn đề kinh
tế, xă hội đặt ra ở từng địa phương
và ở những thời điểm khác nhau. Mỗi
địa phương là một thí điểm cho một
sáng kiến giải quyết và là một kinh nghiệm cho
các địa phương khác. Tổ chức tản
quyền như vậy giúp quốc gia tiến tới trong
sự ổn vững. Một ưu điểm vô cùng quan
trọng khác của tản quyền là nó làm giảm bớt
xung đột đảng phái, bảo đảm ḥa
hợp dân tộc và văn minh hóa sinh hoạt chính trị.
Một chính đảng có thể cầm quyền ở
cấp trung ương nhưng lại là đối lập
trong nhiều vùng. Ngược lại các đảng
đối lập có thể cầm quyền ở một
sổ địa phương. Xung khắc chính quyền -
đối lập sẽ bớt hẳn sự gay gắt.
Trong hoàn cảnh hiện nay của Việt nam, tản
quyền giúp chúng ta chấm dứt tâm lư tồi tệ
được làm vua (và lộng hành), thua làm giặc (và phá
hoại)!. Đó là một giải đáp cho yêu cầu ḥa
giải và ḥa hợp dân tộc.
Tản quyền c̣n một đóng góp quan trọng khác,
đó là bảo đảm một chính quyên trung ương
tài giỏi, v́ tất nhiên đa số những
người cầm quyền ở cấp trung ương
đều đă trải qua giai đoạn đầu
của sự nghiệp chính trị trong các chính quyền
vùng và khả năng đă được kiểm
chứng.
Tản quyền cũng là một trong những thành tố
căn bản của dân chủ đa nguyên, nó cho phép các
khuynh hướng chính trị, các sắc tộc và tôn giáo
thiều số có được một trọng
lượng đáng kể tại những vùng mà họ
hiện diện đông đảo, do đó nó làm dịu
bớt những tâm trạng bất măn và những ư
đồ ly khai.
Tóm lại, tản quyền có tất cả mọi phúc
lợi. Nhưng muốn tản quyền có nội dung và lác
dụng mong muốn của nó, tản quyền phải
hội đủ hai điều kiện: một là mỗi
vùng phải có khả năng tồn tại và phát triển
được, hai là tản quyền không khuyến khích
những ư đồ ly khai.
- Điều kiện thứ nhất đ̣i hỏi mỗi
vùng phải có diện tích, dân số, tài nguyên hay
điều kiện n địa lư tương đối
đủ. Nước ta hiện có gần 80 triệu dân
(hy vọng là dân số rồi sẽ ấn định
ở mức 100 triệu), chúng ta có thể chia làm từ
mười đến mười lăm vùng (và tại sao
không mười hai?), mỗi vùng với dân số từ
năm tới mười triệu người. Để
tránh những phiền toái về hộ tịch, mỗi vùng
sẽ là sự kết hợp của một số
tỉnh hiện nay. Các vùng sẽ có một nghị
viện, một chính quyền dân cử và một guồng
máy hành chánh riêng. ở đơn vị tỉnh, ta có
thể h́nh dung một hội đồng tỉnh do dân
bầu ra và một tỉnh trưởng xuất phát từ
hội đồng tỉnh, trong khi guồng máy hành chánh văn
là một bộ phân của guồng máy hành chánh vùng.
Điều kiện thứ hai đ̣i hỏi giới
hạn rơ ràng thẩm quyền của chính quyền vùng. Các
vùng dĩ nhiên không được quyền có quân
đội số cảnh sát vùng cũng phải nằm trong
một tỷ lệ nào đó so với số cảnh sát
trung ương có mặt trong vùng, thí dụ 1- 1; luật
pháp của vùng không được mâu thuẫn với
luật pháp trung ương. Các vùng không có tiền tệ
riêng, không được có đại diện ngoại
giao, không được quyền kư hiệp ước
với nước ngoài, không được làm chủ các
công ty có mục đích kinh doanh, không được tổ
chức nhưng cuộc trưng cầu dân ư có nội dung
chính trị. Các vùng cũng không được kư kết các
hiệp ước với nhau. Với tất cả
những giới hạn trên đây chúng ta không cần lo
ngại một âm mưu ly khai nào; ngược lại,
những giới hạn này không hề làm suy giảm
thẩm quyền văn hóa, kinh tế và xă hội nào
của vùng.
Hiện nay đất nước ta tuy thống nhất
về mặt hành chánh nhưng vẫn c̣n rất chia rẽ
trong ḷng người, chia rẽ v́ quá khứ chính trị,
chia rè về tôn giáo, sắc tộc, v.v... nhưng nặng
nề nhất là chia rè Bắc- Nam. Với sự phân vùng và
tản quyền như trên, mối chia rẽ Bắc- Nam
sẽ không c̣n nữa, bởi v́ sẽ không c̣n miền
Bắc, miền Nam mà sè chỉ c̣n vùng này và vùng nọ. Các
sắc tộc ít người sẽ có trọng lượng
lớn lại các vùng thượng du miền Bắc và cao
nguyên miền Trung, đồng bào gốc Khmer sẽ có
tiếng nói đáng kể ở miền Tây Nam phần. Các
tín đ̣ Cao Đài, Ḥa Hảo sẽ có một chỗ
đứng quan trọng ở các tỉnh Tây Ninh và Long Xuyên.
Tinh thần địa phương là bước
đầu của tinh thần quốc gia dân tộc nếu
được phép phát huy một cách tự nhiên. Khi các
địa phương được phát triển tự
nhiên, họ sẽ không c̣n cảm thấy muốn ly khai
nữa. Vả lại, đà tiến hóa của thế
giới hiện nay là kết hợp chứ không phải ly
khai. Các nước châu Âu đang kết hợp thành Liên
Hiệp Châu Âu, các nước Bắc Mỹ và Nam Mỹ cùng
đang cố gắng kết hợp thành khối. Cộng
đồng nào, địa phương nào cũng muốn
được hội nhập trong một thực thể
lớn hon. Trừ khi nhà nước là xiềng xích, bạo
ngược, khống chế và bóc lột, không ai muốn
ly khai.. Chúng ta nên sợ độc tài, bạo ngược
chứ không nên sơ tản quyền. ám ảnh thập
nhị sứ quân không c̣n lư do tồn lại.
Trong một cuộc thảo luận có người bạn
đă chất vấn tôi: Ḷng người đă phân hóa
như thế này, anh c̣n đ̣i tản quyền để
chia cắt lănh thổ, anh muốn đỗ dầu vào
lửa hay sao?. Tôi đă trả lời: Không. Tản
quyền không làm đất nước tan vỡ, trái
lại nó khiến cho đất nước
được quản trị một cách hợp lư hơn
và thông minh hơn, nó cũng góp phần ḥa giải
người Việt với đất nước ḿnh v́ nó
xoa dịu những bực bội. Tản quyền không
phải là đỗ dầu vào lửa mà là đem
nước chữa cháy.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
Phản xạ tổng thống
Trong
một cuộc nói chuyện cách đây không lâu, một nhân
vật từ trong nước ra có lúc đă nỗi sùng
cự lại tôi: Thế anh muốn ǵ? Anh đ̣i làm
tổng thống hay sao?. ư vị này là trách tôi đ̣i thay
đổi quá nhiều. Dầu sao ở miệng của
một người cộng sản hai tiếng tổng
thống cũng là lạ v́ chức vụ tổng thống
không hề có trong các chế độ cộng sản. Tôi
cũng nhớ vào giai đoạn mở cửa của ông Nguyễn
Văn Linh trong đó trí thức trong nước
được phép thi đua phê phán chế độ,
Dương Thu Hương đă có một bài tham luận
đặc sắc; theo một bài tường thuật,
một vị cao niên nào đó đă tán thành đến
độ nói với Dương Thu Hương: Sau này tôi
sẽ bầu cho cô làm tổng thống. Đối với
nhiều người Việt nam, kể cả người
cộng sản, có lẽ tương lai của Việt nam
sau này đương nhiên là chế độ tổng
thống. Tuy nhiên chế độ tổng thống là
một chế độ rất dở. Cho đến nay
trong lịch sử thế giới đă chỉ có một
trường hợp chế độ tổng thống
tương đối thành công là Hoa Kỳ. Tất cả
các quốc gia theo chế độ tổng thống đă
thất bại. Trong đại đa số, nó đưa
đến độc tài, trong những trường
hợp c̣n lại, nó đưa đến một xung
đột bế tắc giữa tổng thống và
quốc hội, đặt quốc gia trong t́nh trạng
căng thẳng thường trực
Những khuyết tật của chế độ tổng
thống không khó nhận diện. Nhưng trước
hết phải hiểu thế nào là chế độ
tổng thống. Nước Đức cũng có tổng
thống, nhiều quốc gia theo chế độ
đại nghị cũng có tổng thống, nhưng các
nước này không áp dụng chế độ tổng
thống v́ tổng thống chỉ có vai tṛ nghi lễ;
quyền hành ở trong tay một thủ tướng do
quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm
trước quốc hội. V́ thủ tướng
đồng thời cũng là lănh tụ của đảng
cầm quyền, hay liên hiệp các đảng cầm
quyền, nên cũng có thể bị thay thế bất
cứ lúc nào do quyết định của đảng ḿnh
hay của liên hiệp đă đưa ḿnh lên làm thủ
tướng. Trong các chế độ này tổng thống
không cầm quyền nên cũng không bị thay thế trong
một nhiệm kỳ nhất định. Chế
độ tổng thống là chế độ trong đó
tổng thống do dân chúng trực tiếp bầu ra theo
phổ thông đầu phiếu, đứng đầu
chính phủ và cầm quyền thực sự.
Có một số chế độ tổng thống không b́nh
thường trong đó tổng thống nắm quyền
nhưng lại không được quốc dân trực
tiếp bầu ra theo phổ thông đầu phiếu mà do
một định chế đặc biệt. Đó là
trường hợp của Nam Cao Ly dưới thời
Toàn Đầu Hoán, đó cũng là trường hợp
của Indonesia từ thời Suharto. Những chế
độ này thường là sản phẩm của một
t́nh trạng bất b́nh thường, nhằm che giấu
thực chất của một chế độ độc
tài cá nhân nên không thể được coi là những
chế độ dân chủ. Nam Cao Ly đă băi bỏ
chế độ này và Indonesia chẳng bao lâu nữa
cũng sẽ chuyển hướng về một chế
độ hợp lư hơn.
Trước hết chúng ta hăy khảo sát một loại
chế độ xuất hiện từ vài thập niên nay,
được gọi là chế độ bán tổng
thống. Khởi đầu từ Pháp, mô h́nh này sau đó
lan ra một số quốc gia Đông Âu, Nga và Nam Cao Ly.
Một số quốc gia châu Phi có lẽ do ảnh
hưởng của Pháp cũng theo chế độ này.
Trong các chế độ này tổng thống cũng do
phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra,
nhưng lại phải chia sẻ quyền hành pháp với
một thủ tướng.
Nếu chúng ta có thể hiểu khá dễ dàng một
chế độ tổng thống hay một chế
độ đại nghị th́ lại rất khó nhận
diện các quan hệ quyền lực trong một chế
độ bán tổng thống. Tất cả tùy thuộc
ở sự phân chia quyền lực giữa tổng
thống và thủ tướng. Nếu thủ tướng
không chịu trách nhiệm trước quốc hội mà
chỉ do tổng thống bổ nhiệm và chịu trách
nhiệm trước tổng thống th́ trên thực
tế ông (hay bà) chỉ là một phụ tá của tổng
thống, một thứ bộ trưởng thứ
nhất, và lúc đó chế độ bán tổng thổng
chẳng khác ǵ một chế độ tổng thống
thuần túy bao nhiêu. Đó là trường hợp của
chế độ Việt nam Cộng Ḥa tại miền Nam
Việt nam trước đây. Ngược lại, nếu
thủ tướng xuất phát từ quốc hội và
chịu trách nhiệm trước quốc hội th́ vai tṛ
của thủ tướng lại có thể quan trọng
hơn cả vai tṛ tổng thống, ít nhất trong chính
sách đói nội. Giữa hai thái cực đó là vô số
công thức trung gian. Chế độ hiện nay lại
Nga có thể coi là chế độ ba phần tư
tổng thống, chế độ tại Nam Cao Ly là hai
phần ba tổng thống. Điều cần lưu ư là
trong bất cứ trường hợp nào trọng
lượng của tổng thống cũng rất
lớn, v́ lư do là ông có sự chính đáng của phổ
thông đầu phiếu trực tiếp. Ông là người
duy nhất trong quốc gia được toàn dân bầu ra.
Lư do ra đời của các chế độ bán tổng
thống (hăy tạm gọi như thê) là một sự quân
b́nh giữa hai ưu tư bảo đảm dân chủ và
ngăn ngừa bất ổn chính trị. Người ta
muốn một tổng thống vững chắc do dân chúng
bầu ra với một nhiệm kỳ rơ rệt, nhưng
lại sợ nếu để ông (hay bà) nắm trọn
hành pháp th́ sẽ dẫn tới độc tài hoặc xung
đột bế tác với quốc hội. Đây là thái
độ mà ta có thể gọi là bắt cá hai tay. Kinh
nghiệm của các chế độ bán tổng thống
đă có thể cho phép chúng ta hai nhận định.
Một là, về mặt thực tế, hậu quả
đă khác với nhưng ǵ những người khởi xướng
ra nó tưởng tượng. Các chế độ ba
phần tư tổng thống! như tại Nga vẫn
giữ hầu như nguyên vẹn nhưng bất lợi
của một chế độ tổng thống, trong khi
các chế độ thực sự bán tổng thống
như tại Pháp đưa đến t́nh trạng
ngược đời là nhân vật nhiều quyền
lực nhất, nghĩa là tổng thống, lại có
thể thuộc phe đối lập với tất cả
những bất tiện của nó: hai vị nguyên thủ
hành pháp cùng đi dự một hội nghị, những
lời qua tiếng lại không ngừng trên đỉnh cao
của quốc gia làm người dân mất đi sự
nể trọng và tin tưởng vào nhà nước,
để dọa khủng hoảng thường trực,
v.v... Cũng nên nhấn mạnh một tính toán sai lầm
của những người khai sinh ra chế độ bán
tổng thống là việc tổng thống và thủ
tướng thuộc hai đảng chống đối
nhau không phải là một ngoại lệ mà đă mau chóng
trở thành một thông lệ trong các chế độ bán
tổng thống thực sự, như đă thấy
tại Ba Lan và Pháp. Cử tri hay có thái độ công b́nh,
đă bầu cho tổng thống thuộc phe này th́ bầu
cho một đa số trong quốc hội, và do đó
thủ tướng, thuộc phe kia. Các nhà làm hiến pháp
đă bắt cá hai tay th́ có ǵ ngạc nhiên nếu dân chúng
cùng bắt cá hai tay? Điều đáng ngạc nhiên chính là
người ta đă ngạc nhiên khi t́nh trạng này xảy
ra.
Chính trị quả thực chỉ là một khoa học
thực nghiệm.
Hai là các chế độ bán tổng thống đă là
hậu quả của một sai lầm về nhận
thức chính trị. Lư do để bầu ra một
tổng thống theo phổ thông đầu phiếu là
để bảo đảm một mức độ ổn
vững chính trị nào đó, tránh t́nh trạng chính phủ
bị thay đổi liên tục bởi một quốc
hội trong đó không có một đa số rơ rệt,
mỗi lần các đảng phái thay đổi
đồng minh là một thủ tướng và một chính
phủ mới. Nhưng thực ra sự kiện một
quốc hội gồm hai đảng lớn hay bị phân
chia thành nhiều đảng nhỏ không phải là một
hậu quả của chế độ đại nghị
mà chỉ là hậu quả của thể thức
đầu phiếu.
Nói chung, có hai thể thức đầu phiếu chính:
Thể thức thứ nhất là bầu đơn đanh
và một ṿng, trong đó cử tri ở mỗi đơn
vị bầu cử bầu một dân biểu và chỉ
bầu một lần, người nào được
số phiếu cao nhất th́ đắc cử. Với
lối bầu dă man này, một đảng có thể
chỉ được 20% số phiếu của cử tri
toàn quốc mà vẫn nắm được hai phần ba
số dân biểu trong quốc hội nếu các ứng
cử viên của họ về hạng nhất, thí dụ như
với 20%, trong hai phần ba số đơn vị
bầu cử trong khi các ứng cử viên khác chỉ
được 12 % hay 15 %. Lối bầu cử này loại
bỏ các đảng nhỏ và nâng đỡ các
đảng lớn. Nó đặt các đảng nhỏ
trước một chọn lựa: hoặc kết hợp
lại với nhau thành một đang lớn, hoặc
bị gạt ra ngoài lề; nó dần dần đưa
tới chế độ lưỡng đảng
Thể thức thứ hai là bầu theo tỷ lệ. Theo
lối đầu phiếu này, cử tri toàn quốc, hay
trong mỗi vùng lớn, sẽ bầu cho các liên danh do các
chính đảng đưa ra. Sau cuộc bầu cử,
mỗi liên danh sẽ được một sổ dân
biểu theo tỷ lệ, thí dụ một liên danh
được 25 % số phiếu th́ được 25 %
tổng số dân biểu, hay hơn một chút bởi v́
thường thường người ta hay qui định
một tỷ lệ lối thiểu của số
phiếu đạt được, thí dụ 5%, để
được chia ghế; các chính đảng không được
5% tổng số phiếu của cử tri không
được chia phần, số ghế dân biểu
đáng lẽ về phần họ được đem
chia cho các đảng vượt được tỷ
lệ 5%. Lối bầu phiếu này rất dân chủ v́ nó
cho phép mọi khuynh hướng chính trị có chút tầm
vóc được hiện diện trong quốc hội, và
do đó được tham dự thảo luận về
các chọn lựa lớn của nhà nước.
Ngược lại, nó thường đưa đến
t́hh trạng khó khăn là quốc hội bị chia vụn
thành nhiều đảng nhỏ, không đảng nào
nắm được đa số và do đó thủ
tướng có thể bị thay đổi thường
xuyên nếu do quốc hội chỉ định và chịu
trách nhiệm trước quốc hội, như trong các
chế độ đại nghị. Như vậy nếu
muốn tránh t́nh trạng bất ổn do một quốc
hội bị chia vụn th́ người ta chỉ cần
chấp nhận lối đầu phiếu đơn danh
và một ṿng là xong, không cần phải phát minh ra một
chế độ bán tổng thống, hai phần ba
tổng thống hay ba phần tư tổng thống. Tóm
lại, cả lư do khiến các chế độ gọi là
bán tổng thống được phát minh ra lẫn
những hậu quả mà người ta dự đoán chúng
sẽ đem lại đều là những sai lầm. Sai
lầm về phân tích chính trị hoặc sai lầm về
tiên liệu phản ứng của cử tri. Nói như
thế không có nghĩa là tôi đề nghị gạt
bỏ chế độ bán tổng thống một cách
không thương tiếc. ít nhất nó cũng sửa
chữa được phần nào những xơ cứng
của chế độ tổng thống. Nó có thể là
một giải pháp trấn an cho chúng ta sau này nếu do lo âu
và lương tự - không đúng nhưng khó trút bỏ -
chúng ta chưa dám chọn lựa dứt khoát chế
độ đại nghị. Bây giờ trở về
với chế độ tổng thống. Những bất
lợi và nguy cơ của chế độ tổng
thống không khó nh́n thấy.
Trước hết, nó dành quá nhiều quyền cho một
người không thể bị thay đổi trong một
thời gian dài, ít nhất cũng bốn năm. Tỏng
thống có thể dùng quyền lực này mà bất chấp
cả quốc hội. Nếu trong thời gian này tổng
thống làm toàn sai lầm, hoặc vi phạm luật pháp
th́ sao? Hậu quả là đất nước bị lâm vào
t́nh trạng bệnh hoạn vô phương cứu chữa
trong suốt nhiệm kỳ, hoặc sẽ phải
trải qua một cuộc khủng hoảng lớn
trước khi hạ bệ được tổng
thống. Điều mà người ta nghĩ là một
ưu điểm của ché độ tổng thống -
sự kiện nguyên thủ hành pháp không thể bị thay
đổi trong một nhiệm kỳ - thực ra là
một mối nguy. Chế độ tổng thống
cũng chờ đợi quá nhiều đức tính và
khả năng ở một người trong khi không ai có
thể hoàn hảo, hơn nữa ai cũng có thể bị
sút giảm sức khỏe và khả năng một cách
bất ngờ.
Nhưng c̣n một hậu quả nghiêm trọng hơn là
chế độ có thể trở thành độc tài. Tâm lư
tại các nước thiếu mở mang là hay bầu
lại cho người cầm quyền trừ khi ông ta quá
tồi dở. Một tổng thống mị dân có thể
mê hoặc cử tri để trở thành một thứ
thần tượng rồi không những tái đắc
cử mà c̣n đem cả tay chân và thủ hạ vào quốc
hội, sửa đổi hiến pháp, ban hành t́nh trạng
khẩn cấp, v.v... Để kéo dài thời gian cầm
quyền. Đó là t́nh trạng đă xảy ra ở hầu
hết các nước mới được độc
lập. Đó đă là trường hợp của mọi
nước châu Mỹ La Tinh, trừ Chile, trong một
thế kỷ rưỡi từ giữa thế kỷ 19
đến cuối thế kỷ 20.
Và nếu tổng thống xung đột với quốc
hội? Nhà nước sẽ chỉ được
quản lư theo lối xử lư thường vụ; luật
quốc hội biểu quyết tổng thống không ban
hành, các đề nghị của tổng thống quốc
hội không chấp nhận. Đất nước sẽ
dẫm chân tại chỗ trong khi bối cảnh quốc
gia và quốc tế thay dỗi. Guồng máy nhà nước
cũng có thể bị ngừng trệ v́ ngân sách không
được biểu quyết hoặc tháo khoán. Cách
bầu cử tổng thống qua phổ thông đầu
phiếu tự nó đă không đứng đắn.
Cuộc bầu cử một người trên một
nước lớn đ̣i hỏi những chi phí rất quan
trọng cho ứng cử viên, do đó chỉ có những
người rất giàu hoặc được sự
hỗ trợ của những thế lực tài phiệt
lớn mới có thể tranh cử. Như vậy bằng
cách này hay cách khác quyền lănh đạo chính trị sẽ
luôn luôn thuộc về người giàu có chứ không
phải thuộc về người thực sự có trí
tuệ và khả năng.
Lối bầu cử tổng thống là bầu cho một
người trước khi bầu cho một dự án chính
trị. Tổng thống có thể được bầu
v́ những lư do không liên hệ ǵ với khả năng chính
trị: con cháu một vĩ nhân, đẹp trai, ăn
ảnh, vợ đẹp, nói chuyện duyên đáng, v.v...
làm mất sự nghiêm trang của sinh hoạt quốc gia.
Cử tri có thể bầu cho một ứng cử viên
như thế, nhưng sau đó lại nhàm chán với sinh
hoạt chính trị. Lô-gích của một cuộc bầu
cử tổng thống là được ăn cả ngă
về không cho nên các cuộc bầu cử tổng thống
thường rất gay gắt và gây chia rẽ trầm
trọng, nhất là trong một quốc gia đang bị
đặt trước những chọn lựa khó khăn.
Mỗi cuộc thay đổi tổng thống đều
tương tự như một cuộc cách mạng
với những người rất vui mừng và những
người rất tức giận.
Hậu quả của chế độ tổng thống
cũng là làm tan vỡ các đảng phái chính trị. T́nh
trạng này có hai lư do. Một là v́ sự được hay
thua dựa trên một người nên nhu cầu là có
được một ê-kíp quảng cáo chính trị tốt
chứ không phải một bộ tham mưu chính trị
giỏi, vấn đề là làm thế nào để
đánh bóng được ứng cử viên của ḿnh
để giành được chức tổng thống
trước khi cần những nhà chiến lược
lớn. Hai là v́ chức vụ tổng thống là tất
cả cho nên những nhân vật lớn trong cùng một
đang không thể thỏa hiệp với nhau. Hai nhân
vật ngang tam cỡ với nhau không thể thỏa
hiệp để người có hy vọng hơn ra
ứng cử, bởi v́ không có sự qua lại, phải
nhượng bộ tất cả hoặc không
nhượng bộ ǵ hết. Các quốc gia theo chế
độ tổng thống v́ vậy thường không
thể có các chính đảng lớn như tại các
quốc gia theo chế độ đại nghị. Sự
kiện thiếu vắng các chính đảng lớn là một
bất lợi trầm trọng cho quốc gia. Các chính
đảng lớn vừa là ḷ đào tạo ra các nhà lănh
đạo vừa là nơi mỏ xẻ và trao đổi
những ư kiến về những chọn lựa quan
trọng đặt ra cho đất nước. Hơn
nữa, các nước theo chế độ tổng
thống không phải chỉ thiếu chính đảng
lớn mà c̣n thiếu chính đảng đúng nghĩa. V́
tất cả quyền hành tập trung vào tổng thống
nên vị tổng thống nào cũng lôi kéo được
sự hùa theo của một số đông đảo
những phần tử cơ hội chủ nghĩa và
vụ lợi: Tỏng thống luôn luôn có một
đảng rất lớn nhưng thường không có
phẩm chất, bởi v́ phần lớn là những
phần tử xu nịnh.
Tôi sống tại Pháp và đă theo dơi năm cuộc bầu
cử tổng thống. Mỗi cuộc bầu cử là
mỗi lần dân Pháp bị chia làm hai phe. Kết quả
vừa được công bố th́ lập tức hàng
trăm ngh́n người xuống đường
đốt pháo bông, bóp kèn, nhảy múa và gào hét On a gagné? (Ta
đă thắng!) trong khi những người thuộc phe
thua th́ ḷng đau như cắt. Mỗi lần bầu
cử tổng thống là mỗi lần nội bộ các
đảng lớn khủng hoảng trầm trọng. Trong
đảng xă hội, tổng thống Mitterrand và nhân vật
uy tín thứ hai là Michel Rocard trở thành những kẻ thù,
không phải chỉ suốt đời mà cả sau khi ông
Mitlerrand đă chết. Đảng Xă Hội hầu như
tan ră sau lần bầu cử tổng thống thứ hai.
Bên cánh hữu th́ Tập Hợp Cộng Ḥa, đảng
lớn nhất cũng tan ră dần sau cuộc bầu
cử tổng thống. Đôi bạn ba mươi năm
Chirac và Balladur đă trở thành những đối thủ
không thể nh́n mặt nhau, sau khi cả hai đều ra
ứng cử tổng thống dù thuộc cùng một
đảng. Nguyên nhân lúc nào cũng giống nhau:
người ta không thể thỏa hiệp, bởi v́
chức vụ tổng thống là tất cả. Hậu
quả tai hại như vậy dù Pháp mới chỉ là
một nước theo chế độ bán tổng
thống, trong đó hiến pháp dành cho thủ tướng
toàn quyền trong các vấn đề kinh tế xă hội.
Bây giờ, hăy nh́n ngay vào trường hợp Hoa Kỳ,
quốc gia duy nhất mà chế độ tổng thống
có thể coi là thành công. Sự thành công này có một giải
thích: Hoa Kỳ không giống bất cứ một quốc
gia nào khác trên thế giới.
Quốc gia này đă được thành lập sau khi xă
hội dân sự đă trở thành mạnh mẽ, từ
đó xă hội dân sự luôn luôn nắm vai tṛ chủ
động, nhà nước Hoa Kỳ luôn luôn là một nhà
nước nhẹ tới mức tối thiểu. Trong tác
phẩm để đời của ông về Nền Dân
Chủ Mỹ (De la Démocratie en Amérique) viết năm 1830,
Alexis de Tocqueville kể lại rằng ông t́m gặp một
thị trưởng một thành phố khá lớn tại
Mỹ và thấy một người rất tầm
thường đang loay hoay sửa mái nhà, qua câu chuyện
ông thấy vị thị trưởng chỉ có một
tŕnh độ hiểu biết rất giới hạn.
Tocqueville nhận ra là tại Mỹ những người
thông minh và tài giỏi đều lao vào kinh doanh làm giàu,
chỉ những người trung b́nh mới tham gia vào chính
quyền. Chính quyền v́ vậy luôn luôn trọng nể xă
hội dân sự và tự cho ḿnh sứ mạng là phục
vụ xă hội dân sự và tạo điều kiện
để xă hội dân sự có thể hoạt động
lành mạnh. Nền tảng của nước Mỹ là xă
hội dân sự. Không những thế Hoa Kỳ lại theo
chế độ liên bang tản quyền tối đa, vai
tṛ của nhà nước trung ương lại càng bị
giảm thiểu. Trong phần thảo luận về dân
chủ, chúng ta đă nói tự do mới là cứu cánh
của chính trị, ưu tư đầu tiên phải là
giảm thiểu vai tṛ của chính quyền để
nhường chỗ tối đa cho cá nhân và xă hội dân
sự. Hoa Kỳ là bằng chứng rằng một chính
quyền dở mà nhẹ vẫn hơn một chính
quyền tốt nhưng kềnh càng. Một nét đặc
thù khác của nước Mỹ là ngay từ ngày lập
quốc nó đă có một đồng thuận rất
mạnh trên một triết lư chính trị, triết lư chính
trị đó là chủ nghĩa cá nhân tự do. V́ vậy mà
Hoa Kỳ không có những cuộc tranh luận chính trị
lớn. Các issues của những cuộc bầu cử
chỉ là những vấn đề nhỏ: có nên hạn
chế quyền phá thai không, có cho phép cầu nguyện trong
trường học không, ủng hộ hay không ủng
hộ án tử h́nh, hay cùng lắm là tăng hay giảm 0,5 %
thuế, v.v... Trường hợp Hoa Kỳ v́ vậy không
thể nới rộng cho các quốc gia đang bị
đặt trước những chọn lựa quan
trọng. Các nước khác bắt chước chế
độ tổng thống của Hoa Kỳ đă chỉ
tiến dần về độc tài và bế tắc.
Tuy vậy, chế độ tổng thống cũng đă
gây những khó khăn đáng kể cho Hoa Kỳ, một
tổng thống kém cỏi như Harding đă có thể
tiếp tục trong sự sai lầm, góp phần quyết
định đưa cả Hoa Kỳ và thế giới vào
cuộc khủng hoảng bị đát 1929. Chính cuộc
khủng hoảng này đă giúp cho các đảng phát-xít lên
cầm quyền tại ư và Đức, đưa
đền thế chiến; nó cũng đă cũng cấp
lập luận cho chế độ cộng sản Liên xô
và nhiều chế độ độc tài khác để
bài bác dân chủ. Một thí dụ gần đây hơn là
vụ tai tiếng của Bill Clinton và Monica Lewinski, gây chia
rẽ và bối rối vô ích cho nước Mỹ trong
hơn một năm trời. Nếu Clinton chỉ là
một thủ tướng, ông đă có thể từ
chức một cách êm thấm. Hoa Kỳ đă thành công
với chế độ tổng thống nhờ một xă
hội dân sự mạnh, tổ chức liên bang, chính
quyền nhẹ và đồng thuận cao, nhưng chắc
chắn Hoa Kỳ sẽ thành công hơn nhiều nếu theo
chế độ đại nghị.
Cần lưu ư là vào lúc lập quốc, chính quyền liên
bang Hoa Kỳ chỉ có một nhiệm vụ chính là
đảm bảo quốc pḥng. Dần dần với vai
tṛ ngày càng lớn trên thế giới và với các vấn
đề ngày càng phức lạp chính quyền liên bang
đă trở thành một chính quyền thực sự, nhưng
đồng thời chế độ Hoa Kỳ cũng chuyển
biến từ từ tới gần một chế
độ đại nghị.
Tại Pháp, do sự phá sản của lối đầu
phiếu theo tỷ lệ được đổ lỗi
oan cho chế độ đại nghị và do uy tín áp
đảo của tướng De Gaulle, chế độ
bán tổng thống đă được thành lập,
nhưng càng ngày càng có những tiếng nói có thẩm
quyền cất lên đ̣i chuyển hóa về chế
độ đại nghị. Maurice Druon, cựu bộ
trưởng của De Gaulle và viện sĩ Viện Hàn Lâm
Pháp, đánh giá chế độ tổng thống là một
sai lầm vĩ đại của De Gaulle.
Thực ra chế độ tổng thống là ǵ? Nó là
một cải tiến của chế độ quân chủ
tuyệt đối theo hai hướng: một là vua
được bầu là do phổ thông đầu phiếu
thay v́ lên ngôi theo cha truyền con nối và được
gọi là tổng thống; hai là quyền hạn của
tổng thống được qui định theo hiến
pháp. Tóm lại, chế độ tổng thống là
một bước tiến do dự từ chế
độ quân chủ sang dân chủ. Nói khác đi, nó
phản ánh một lấn cấn tiếc nuối
đối với những chế độ mệnh danh là
độc tài sáng suốt. Nguyễn Ngọc Huy đă bày
tỏ tâm lư này trong cuốn Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh
Tồn. Ông giải thích rằng trước đây
đảng Đại Việt chọn chế độ
độc tài và theo lănh tụ chế v́ vào lúc đảng
Đại Việt được thành lập các chế
độ độc tài đang thịnh hành; sau đó v́ các
chế độ độc tài không c̣n được nh́n
nhận, đảng Đại Việt đă chuyên sang
chế độ tổng thống v́ nghĩ rằng
chế độ này giữ được những ưu
điểm của chế độ độc tài dù
vẫn dân chủ. Ngày nay thực tế đă chứng minh
rơ ràng rằng không làm ǵ có những ưu điểm
của chế độ độc tài cả, các chế
độ độc tài sáng suốt chỉ là một
huyền thoại, mọi chế độc tài đều
tồi tệ. Chỉ c̣n một chọn lựa dứt
khoát là dân chủ. Chế độ dân chủ nhất là
chế độ đại nghị, trong đó quyền
hành thuộc về một thủ tướng do quốc
hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước
quốc hội.
Trong chế độ đại nghị, người dân
bầu một cách đúng đắn hơn hẳn, họ
bầu cho một dự án chính trị thay v́ cho một
người, và họ cũng bầu cho hàng trăm dân
biểu cùng một lúc. Cử tri mỗi đơn vị có
phương tiện để tiếp xúc và t́m hiểu các
ứng cử viên để có thể bầu với sự
hiểu biết. Rủi ro sai lầm giảm đi, và sai
lầm nếu có cũng không trầm trọng v́ họ
chỉ bầu một trong số bốn, năm trăm dân
biểu. Vị thủ tướng có thể bị
quốc hội thay đổi bất cứ lúc nào và
phải luôn luận chứng tỏ khả năng của
ḿnh trước một hội đồng giám khảo có
bản lănh. Do đó thủ tướng vừa phải có
thực tài vừa phải hết sức thận trọng.
Sự thay đối thủ tướng, nếu cần,
cũng không gây ra khủng hoảng lớn. Các chính
đảng cũng hoạt động nghiêm túc và hài ḥa hơn,
hai nhân vật ngang tầm cỡ trong cùng một
đảng cũng có thể dễ dàng thoả hiệp
với nhau hơn, để một người làm lănh
tụ và trở thành thủ tướng nếu
đảng thắng cử, bởi v́ chức thủ
tướng không phải là tất cả, thủ
tướng chỉ là người thứ nhất trong số
những người ngang nhau trong một chính phủ.
Chế độ thủ tướng chắc chắn
hơn hẳn chế độ tổng thống, với
điều kiện là nó vừa bảo đảm
được một mức độ ổn vững
tương đối vừa bảo đảm
được tiếng nói của mọi khuynh
hướng trong các cuộc tranh luận trên những
vấn đề lớn của đất nước.
Đó là một bài toán có lời giải. Chúng ta đă
biết là lối đầu phiếu đơn danh và
một ṿng đưa tới một quốc hội với
hai đảng lớn. Mặt khác chúng ta cũng biết
rằng lối đầu phiếu theo tỷ lệ
đảm bảo tiếng nói trong quốc hội cho
mọi khuynh hướng.
Như vậy giải pháp tói ưu là một thề chế
đại nghị tản quyền với một quốc
hội trong đó 90% dân biểu được bầu theo
thể thức đơn danh và một ṿng, và 10% c̣n lại
được bầu theo tỷ lệ. Số 90% bầu
theo thề thực đơn danh bảo đảm sự
hiện diện của một đa số trong quốc
hội và do đó sự ổn vựng của chính
quyền, trong khi số 10% bầu theo tỷ lệ có hai
mục đích, một là bảo đảm cho mọi khuynh
hướng được có tiếng nói, hai là cho phép
những người lănh đạo các chính đảng
khỏi phải lo tranh cử tại các địa
phương và tập trung cố gắng vào những
vấn đề quốc gia. Giải pháp này đă
được dưa ra trong Dự án chính trị dân
chủ đa nguyên 1996 của nhóm Thông Luận. Gần
đây, Guy Carcassonne, chuyên gia có uy tín về các định
chế chính trị lại Pháp, phản ánh những trao
đổi của các chuyên gia lớn trên thế giới
về hiến pháp, cũng đi tới cùng một
đề nghị.
Người Việt nam chúng ta sở dĩ coi chế
độ tổng thống là tự nhiên v́ đó là chế
độ không cộng sản duy nhất mà đại
đa số chúng ta biết tới. ở miền Nam
Việt nam trước đây đă chỉ có chế
độ tổng thống. Sau này hai cộng đồng
người Việt hải ngoại lớn nhất là
tại Mỹ và Pháp, cả hai nước này đều
theo chế độ tổng thống. Từ đó chúng ta
tiêm nhiễm một thứ phản xạ tổng
thống. Nhưng có những phản xạ rất có
hại, cũng như có những thành kiến cần
phải từ bỏ.
Phần 4 Vài trang bị
cho tương lai
chuyện của các luật sư
Nước
ta chỉ mới tạm gọi là giành được
độc lập từ sau thế chiến II, mà đă có
khá nhiều hiến pháp. Phe cộng sản có bốn
hiến pháp: hiến pháp 1946, hiến pháp 1959, hiến pháp
1980 và hiến pháp 1992. Phe quốc gia dù chỉ tồn
tại chưa đầy 30 năm cũng đă có hai
bản hiến pháp 1956 và 1967. Đó là chưa kể
những bản tuyên ngôn, hiến ước, hiến
chương được dùng như những hiến pháp
tạm thời. Nếu so với nhau quốc gia khác như
Mỹ chỉ có một hiến pháp từ thời lập
quốc, Đức và Nhật chỉ có một hiến pháp
từ 1945, hoặc Anh chẳng có một hiến pháp thành
văn nào th́ chúng ta quả là giữ một kỷ lục
về số lượng hiến pháp. Thể thực, tôi
không biết có một dân tộc nào trên thế giới có
một lượng hiến pháp bằng nước ta trong
cùng một giai đoạn không. Tôi chắc là không. Tuy
vậy số lượng hiến pháp không hề chứng
tỏ người Việt nam chúng ta trăn trở về
hiến pháp, luôn luôn dằn vặt suy nghĩ t́m cách thay
đổi cho phù hợp hơn, trái lại nó c̣n chứng
tỏ người Việt nam không có một quan
điểm đúng đắn về hiến pháp.
Đặc tính chung của tất cả mọi bản
hiến pháp đă có là chúng đều đă được
soạn thảo một cách vội vă và kín đáo,
được thông qua hầu như không tranh căi và
được ban hành trước sự dửng dưng
của dân chúng. Đảng cộng sản hiển nhiên là
coi hiến pháp là của người cầm quyền.
Hiến pháp là văn kiện tổ chức nhà nước,
mà nhà nước theo triết học Mác-Lênin chỉ
giản dị là công cụ đàn áp của kẻ thống
ưị. Lời nói đầu của hiến pháp 1992
gồm 530 chữ trong đó có 53 chữ, nghĩa là đúng
10%, được dành cho hơn bốn ngàn năm lịch sử
của Việt nam, phần c̣n lại chỉ nói về
đảng cộng sản. Chưa đủ, lời nói
đầu, phần long trọng nhất của hiến
pháp, c̣n qui chiếu về cương ĺnh chính trị
của đại hội lần thứ sáu của
đảng cộng sản, một văn kiện chỉ
có giá trị giai đoạn ngay cả với đảng
cộng sản. Bản chất của hiến pháp như
là một công cụ đàn áp được thể
hiện rơ ràng qua nhưng điều đầy tính hăm
dọa, thí dụ như điều 13.
Thế c̣n những người Việt nam nói chung? Phần
đông chúng ta cũng có một quan niệm rất sai
lầm về hiến pháp. H́nh như đối với chúng
ta hiến pháp chỉ là một văn kiện tổ
chức chính quyền có tính chuyên môn và thuộc thẩm
quyền của các luật sư. Ngược lại,
phần lớn các luật sư cũng tự coi là có
thẩm quyền để nói về hiến pháp hơn
người khác, mà không hiểu tại sao..
Trí thức trung niên và cao niên của ta thừa hưởng
văn hóa Pháp, từ đó, một cách phiến diện, coi
hiến pháp nằm trong phạm vi luật học, một
lẫn lộn mà chính các học giả Pháp cũng đă
nh́n nhận. Thực ra hiến pháp tuy là luật căn
bản của quốc gia và là cội nguồn của
luật pháp nhưng không nằm trong phạm vi luật
học mà thuộc phạm vi văn hóa, chính trị và xă
hội. Một luật sư dù có khả năng biện
hộ tài t́nh những vụ kiện cáo nhà đất và ly
dị vẫn có thể không có tư cách ǵ để bàn
về hiến pháp. Luật phải qui chiếu vào hiến
pháp nhưng hiến pháp không thuộc phạm vi của
luật học. Các chuyên gia về hiến pháp của Pháp
cũng đă nhận ra sự mập mờ của cụm
từ droit constitutionnel được dịch sang tiếng
việt là luật hiếnpháp và càng ngày càng dùng cụm
từ định chế chính trị (institutions politiques)
nhiều hơn. Cụm từ này tuy đúng nghĩa hơn
nhiều, nhưng cùng chưa đúng hẳn.
Vậy th́ hiến pháp là ǵ?
Nó đúng là văn kiện qui định những
định chế chính trị, nhưng đồng
thời nó cũng đặt nguyên tắc, nếu không qui
định một cách rơ rệt, cho tương quan
giữa các thành tố của xă hội, cũng như cho
nhiều định chế văn hóa, xă hội khác cần
thiết cho sự sống và tiến hóa của cộng
đồng quốc gia. Như vậy, muốn nói tới
hiến pháp, trước hết phải có một quan
niệm về quốc gia đă. Trong một bài
trước chúng ta nhận định quốc gia như không
gian liên đới của một dân tộc để cho
phép họ sống chung và xây dựng với nhau một
tương lai chung. Như vậy hiến pháp phải là
một thỏa ước về một hiện tại và
một tương lai. Trong hiện tại chúng ta đang
thừa hưởng di sản nào, đang có những
vấn đề nào và phải tổ chức cộng
đồng quốc gia như thế nào cho phù hợp? Chúng
ta đang đứng trước những nguy cơ nào và
phải tổ chức như thể nào để ngăn
ngừa? Và với tất cả khả năng và tiềm
năng của chúng ta, chúng ta muốn một tương lai
như thế nào và phải tổ chức cố gắng chung
như thế nào để đạt tới? Tất
cả những câu hỏi đó hiến pháp phải trả
lời và những người có thẩm quyền
để đề nghị những câu trả lời là
những người đă trải qua nhiều trăn
trở và suy tư về đất nước và có
đủ sự hiểu biết để có thể
đưa ra những kết luận. Đó là những nhà
chính trị, những nhà xă hội học, nhưng nhà tư
tưởng với những đóng góp của các chuyên gia
mọi ngành, trong đó luật học chỉ là một.
V́ là một qui ước sống chung và làm việc chung,
hiến pháp phải có sức thuyết phục, nghĩa là
vừa phải hợp lư vừa phải hợp t́nh
để được mọi người, ngay cả
những người không đồng ư, nh́n nhận tính
chính đáng, lương thiện và thành khẩn. Nó cũng
phải có khả năng động viên và thôi thúc, nghĩa
là cũng phải có giá trị của một lời kêu
gọi.
Hiến pháp có thực sự cần thiết không?
Câu hỏi có vẻ khiêu khích nhưng câu trả lời là
không. Vai tṛ của nó là phát biểu một đồng
thuận sống chung và theo đuổi những mục
đích chung, nếu đồng thuận đă rơ ràng th́
hiến pháp không cần thiết, quốc gia có thể sinh
hoạt chỉ bằng những đạo luật
đặc biệt. Nước Anh không có hiến pháp mà
vẫn là một quốc gia rất phồn vinh. Không
cần thiết trên nguyên tắc nhưng hiến pháp có
lợi về mặt thực tiễn bởi v́ nó vạch
ra một tinh thần chỉ đạo cho các đạo
luật. Trong trường hợp Việt nam, giữa lúc
ḷng người hoang mang và phân tán, chúng ta cần một
hiến pháp để làm một căn bản đồng
thuận, nhưng với điều kiện là hiến pháp
đó thực sự là kết quả của một cố
gắng t́m đồng thuận dân tộc.
Hiến pháp có cần ổn vững không?
Câu trả lời là chắc chắn cần. Thay đổi
hiến pháp là thay đổi luật chơi cơ bản
nhất của xă hội, có thể gây xáo trộn trong sinh
hoạt quốc gia và làm đổ vỡ nhiều dự
án. Kinh nghiệm đă cho thấy một hiến pháp dân
chủ ổn vững là điều kiện không có không
được cho phát triển, bởi v́ có như thế
người dân mới yên tâm làm những dự định
cho tương lai. Cần nhấn mạnh cụm từ
hiến pháp dân chủ ổn vững bởi v́ nếu
hiến pháp chỉ là sự áp đặt của kẻ
thắng, nhất là lại chứa đựng những qui
định khiêu khích th́, ngược lại, càng kéo dài bao
lâu nó càng gây tác hại và làm rạn nứt dân tộc
bấy nhiêu. Sự ổn vững của hiến pháp
rất cần thiết, cho nên ưu tư lớn nhất
của người soạn thảo hiến pháp phải là
làm thế nào để nếu một lực lượng
khác lên cầm quyền họ cũng không có lư do để
đổi hiến pháp. Việc một lực lượng
chính trị cầm quyền áp đặt hiến pháp theo ư
ḿnh vừa là một thái độ xấc xược
vừa chứng tỏ sự thấp kém của những
người không có tham vọng để lại dấu ấn
lâu dài. Quan sát các quốc gia trên thế giới, chúng ta có
thể thấy là hầu như có một định
luật là các nước càng ít thay đổi hiến pháp
th́ càng phát triển, càng nhiều hiến pháp bao nhiêu th́ càng
tŕ trệ bấy nhiêu. Sự phồn vinh tỷ lệ
nghịch với số lượng hiến pháp
được ban hành.
Nhưng ổn vững không có nghĩa là bất
động. Hiến pháp phải đáp ứng những yêu
cầu lớn của giai đoạn và do đó cũng
phải có khả năng thích nghi với thời
đại. Không nên tu chỉnh hiến pháp một cách tùy
tiện, nhưng ngược lại cũng không nên khóa
chặt cánh cửa đối với những tu chỉnh
cần thiết, và càng không nên đưa vào hiến pháp
những ǵ chỉ có giá trị nhất thời và v́ thế
có thể qui định bằng một đạo luật
thường. Một trường hợp điển h́nh
là hiến pháp Bồ Đào Nha (Portugal) ban hành năm 1976. Vào
lúc đó Portugal vừa trải qua ba mươi năm
dưới chế đô độc tài Salazar, quan tâm chính
của các nhà lập pháp Portugal là làm thế nào ngăn
chặn mọi khả năng trở lại của
một chế độ độc tài. Họ đă
chọn chế độ đại nghị, đó là
một chọn lựa đúng. Họ cũng chọn cách
bầu cử quốc hội theo lối bầu tỷ
lệ. Quả nhiên lối bầu theo tỷ lệ là
thể thức bầu cử dân chủ và đa nguyên
nhất. Nhưng họ đă làm một sai lầm lớn
do nhiệt t́nh quá đáng là ghi ngay vào hiến pháp một
điều khoản cấm thay đổi cách đầu
phiếu này (và dĩ nhiên cả điều khoản cấm
thay đổi). Ngày nay chính giới Portugal nhận ra sự
bất lợi của lối bầu cử theo tỷ
lệ nhưng không thay đổi được.
Nước Portugal v́ vậy luôn luôn bị đặt
trước nguy cơ là không có nổi một đa số
gắn bó trong quốc hội, và do đó một chính
phủ đủ vững mạnh, để lấy
những quyết định quan trọng.
Hiến pháp có phải là đặc biệt cho một
quốc gia không?
Câu trả lời là vừa có vừa không.
Có, bởi v́ mỗi dân tộc có một di sản văn hóa
riêng với những cái hay và những cái dở và một
lịch sử riêng với những yếu tố tích
cực và những yếu tố tiêu cực. Do đó
mỗi dân tộc có những vấn đề trọng
đại riêng phải giải quyết. Hiến pháp
phản ánh đặc thù dân tộc. Không, bởi v́ quốc
gia nào cũng phải hội nhập vào đà tiến chung
của thế giới và v́ thế không thể phủ
nhận luật pháp quốc tế và các giá trị phổ
cập của loài người. Nhiều quốc gia đă
long trọng xác nhận bản tuyên ngôn quốc tế nhân
quyền và các công ước đính kèm như là thành
phần của hiến pháp của ḿnh. Đó là một
chọn lựa rất đúng đắn.
Chúng ta có cần một hiến pháp mới cho Việt nam
không? Câu trả lời không hiển nhiên như nhiều
người có thể nghĩ. Cho tới nay có một
sự kiện khá ngộ nghĩnh. Phần lớn các thành
phần đối lập, kể cả các tổ chức
chống cộng hải ngoại từng chủ
trương kháng chiến vơ trang, đều lên tiếng
đ̣i bỏ điều 4 (điều qui định
đảng cộng sản là lực lượng lănh
đạo xă hội và nhà nước). Chỉ có thể
thôi sao? Thế c̣n điều 9, điều 13, điều
30, điều 45, v.v...? Và c̣n danh xưng Cộng Ḥa Xă
Hội Chủ Nghĩa Việt nam? Và lời nói đầu
dành 90% để nói về công đức của
đảng cộng sản? Chỉ đ̣i bỏ
điều 4 là một thái độ quá khiêm tốn, ngay
cả cho một giai đoạn chuyển tiếp về
dân chủ v́ c̣n rất nhiều điều khoản khác
cũng quá khích không kém và nếu được duy tŕ
sẽ có thể bẻ găy tiến tŕnh dân chủ hóa. Thí
dụ như điêu 45 qui định quân đội
phải bảo vệ chủ nghĩa xă hội. Quí vị
trong một chính phủ chuyển tiếp (giả thử
như sẽ có) phải coi chừng, quí vị có thể
bị quân đội đảo chính một cách rất
hợp hiến? Sự kiện điệp khúc bỏ
điều 4 được lặp đi lặp lại
trong các nghị quyết, kháng thư, tuyên ngôn... chứng
tỏ phần lớn các tổ chức không quan tâm
đến hiến pháp và không đọc hiến pháp,
như đại đa số người Việt nam
từ trước đến nay.
Để chuyển hóa về dân chủ th́ ngay giai
đoạn chuyển tiếp, không phải chỉ một
điều 4, mà c̣n nhiều điều khác cần
được vô hiệu hóa. Công việc sẽ quá phức
tạp v́ phải rà soát lại toàn bộ hiến pháp? Không
hẳn như vậy, chúng ta có thể chỉ cần
một nghị quyết, do quốc hội đương
hành biểu quyết hoặc do một trưng cầu dân ư,
tuyên bố vô hiểu hóa mọi qui chiếu của hiến
pháp về bất cứ một tổ chức, một
chủ nghĩa hay một nhân vật nào. Tất cả
vấn đề là thiện chí, nếu thực sự có ư
chí dân chủ hóa th́ không có vấn đề nào không giải
quyết được
Rồi sau đó? Chúng ta có thể đồng ư soạn
thảo lại một bản hiến pháp mới hoặc
sửa đổi hiến pháp hiện thời. Nhưng dù
chọn giải pháp tu chính đi nữa th́ cũng phải
thay lời nói đầu, sửa đổi các điều
khoản nói về đảng cộng sản, chủ
nghĩa Mác-Lênin, Mặt Trận Tổ Quốc, Đoàn thanh
Niên Cộng sản, và nhiều điều khoản về
tổ chức nhà nước, v.v... Nói khác đi, dù là tu
chính đi nữa, trên thực tế vẫn là một
hiến pháp hoàn toàn mới về nội dung. Chúng ta sẽ
cho hiến pháp này nội dung nào?
Như đă nói, hiến pháp phải đáp ứng những
đ̣i hỏi trọng đại của hiện tại và
cũng phải phù hợp với xă hội tương lai
mà chúng ta muốn đạt tới. Trong hiện tại
(hiện tại có nghĩa là khi chế độ dân
chủ chính thức được thành lập), ba ưu
tư chính của chúng ta là bảo đảm một
bối cảnh chính trị ổn vững, ngăn chặn
sự trở lại của một chế độ
độc tài dưới bất cứ h́nh thức nào và
thực hiện ḥa giải dân tộc. Trong tương lai,
chúng ta muốn một nước Việt nam hội
nhập vào đà tiến chung của thế giới,
một nước Việt nam phát triển nhanh để
bắt kịp sự chậm trễ so với các
nước khác, một nước Việt nam ngày càng
thống nhất trong ḷng người, một nước
Việt nam tản quyền để cho phép mỗi vùng
được quản lư một cách phù hợp với
điều kiện riêng của ḿnh và phất huy
được tối đa các ưu điểm của
ḿnh. Chúng ta cũng muốn một xă hội đa nguyên trong
đó mọi sắc tộc và mọi tín ngưỡng
được thỏa măn những khát vọng chính đáng.
Nếu nhưng mục tiêu trên được chấp
nhận th́ một cách thực tế hiến pháp
tương lai có thể gồm:
1. Môt lời nói đầu, được coi là có giá
trị pháp lư cao nhất, trong đó các mục tiêu trên
được nêu ra, với ít nhất những khẳng
định sau đây:
- Việt nam coi bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
và mọi công ước liên hệ, cùng với những tu
chính sau này của chúng, là thành phần tạo thành và
khăng khít của hiến pháp Việt nam (khẳng
định này nhắm mục đích cho phép Việt nam
đi cùng nhịp với tiến bộ của thế
giới).
- Trong nước Việt nam không có những ư kiến
cấm nêu ra và cũng không cố những đề tài
cấm bàn đến (khẳng định này lấy
tự do và sáng kiến làm sức mạnh dựng
nước).
- Xă hội Việt nam được xây dựng trên tinh
thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc (ḥa giải và ḥa
hợp không những là nhu cầu cấp bách của
đất nước hiện nay mà c̣n là một triết
lư chính trị mới trên thế giới).
2. Các điều khoản về quyền lợi và nghĩa
vụ công dân. Các điều khoản này không cần đi
vào chi tiết v́ những quyền công dân phần lớn
đă nằm trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân
Quyền và các công ước liên hệ, mặt khác nên theo
tinh thần thực nghiệm, nghĩa là bổ túc dần
dần hiến pháp, biến hiến pháp thành một suy
tư thường trực trong quốc gia.
3. Các điều khoản về tổ chức nhà
nước, trong đó qui định:
- Lănh thổ Việt nam thống nhất trong sự kết
hợp các vùng. Chính quyền trung ương giữ
độc quyền về quốc pḥng, ngoại giao và
tiền tệ. Mỗi vùng được có chính quyền
riêng do dân chúng bầu ra. Các chính quyền vùng không
được có quân đội và tiền tệ riêng, không
được kư kết những hiệp ước
với nước ngoài và với các vùng khác, không
được làm chủ các cơ sở có mục đích
kinh doanh. Chi tiết về biên giới các vùng và cách tổ
chức chính quyền vùng sẽ do một đạo
luật riêng do quốc hội biểu quyết.
- Chính quyền trung ương gồm một quốc
hội trong đó không dưới 80% đại biểu
được bầu theo thể thức đơn danh và
một ṿng, phần c̣n lại bầu theo tỷ lệ,
một thượng viện mà vai tṛ chính là đại diên
cho các vùng, trong đó mỗi vùng có một số
thượng nghị sĩ bằng nhau; một tổng
thống, hay chủ tịch nước, do quốc hội
và thượng viện bầu ra với vai tṛ chủ tŕ
những nghi lễ và bảo đảm sự liên lục,
ổn vững và đoàn kết quốc gia; một chính
phủ gồm một thủ tướng do quốc
hội bầu ra và những bộ trưởng do thủ
tướng chỉ định; và một ṭa án tối cao
có quyền phán quyết tính hợp hiến của các
đạo luật do quốc hội biểu quyết và các
nghị định của chính phủ, trọng tài các tranh
tụng giữa những cơ quan quyền lực, xét
xử các cấp lănh đạo cấp cao, và xét lại các
phán quyết của các ṭa án trung ương cũng như
địa phương.
Mỗi vùng sẽ có một nghị viện riêng và một
chính quyền vùng do nghị viên vùng bầu ra và chịu trách
nhiệm trước nghị viện vùng.
- Các chính đảng được nh́n nhận là có vai tṛ
quan trọng trong sinh hoạt quốc gia và được
tài trợ theo luật pháp.
4. Một số điều khoản đặc biệt có
mục đích nhấn mạnh mục tiêu dài hạn
của quốc gia để thu hút sự chú ư của dân
chúng, thí dụ như qui định chức năng của
Việt nam là một nước thương mại, công
nghiệp và du lịch; Việt nam vận động
mọi cố gắng để chung sống trong tinh
thần hữu nghị và hợp tác với các quốc gia khác,
đóng góp cũng cố ḥa b́nh trong vùng và trên thế
giới; trách nhiệm đặc biệt trọng
đại của mọi công dân Việt nam là ǵn giữ và
không ngừng cải thiện môi trường sinh sống,
không khí, cây rừng, bờ biển, lănh hải và thềm
lục địa.
Hiến pháp chỉ dừng lại ở những nguyên
tắc và tinh thần chỉ đạo; những chi
tiết cụ thể, có thể rất quan trọng,
như việc qui định các đơn vị bầu
cử, tổ chức chính quyền địa
phương, số lượng và thể thức chỉ
định các thẫm phán ṭa án tối cao, số
lượng và thể thức bầu cử các
thượng nghị sĩ, v.v... do các đạo luật
đặc biệt.
Về mặt kỹ thuật, hiến pháp chỉ có một
bó buộc chính la đừng có mâu thuẫn giữa các
điều khoản. Điều này các luật gia có
thể đóng góp nhưng thực ra chỉ đ̣i hỏi
ở người soạn thảo một khả năng
lô-gích vừa phải.
Một lời sau cùng về hiến pháp: hiến pháp là
hợp đồng về một dự án sống chung và
xây dựng một tương lai chung; dự án ấy có
thể đ̣i hỏi nhiều suy tư trong nhiều năm
của rất nhiều người, nhưng một khi
chúng ta đă biết ḿnh muốn ǵ, cho ḿnh và cho con cháu,
việc soạn thảo thành văn bản có thể
chỉ đ̣i hỏi vài ngày.
Phần 5 Vươn
ḿnh lớn dậy
Một thoáng suy tư về châu Phi
Cuốn
sách này đă đi tới phần kết luận, và
phần kết luận chắc phải tập trung vào
Việt nam v́ đây là cuốn sách của một
người Việt nam viết cho những người
Việt nam. Tuy vậy, trước khi thực sự nói
chuyện đất nước tôi vẫn thấy cần
ṿng qua một lục địa khá xa lạ đối
với người Việt: châu Phi, bởi v́ trên một
vấn đề rất quan trọng chúng ta lại khá
gần với họ. Dĩ nhiên ĺnh trạng của chúng ta
không đến nôi bi đát như các nước châu Phi,
nhưng đôi khi cũng cần nh́n những thái cực
để hiểu rơ bản chất của một vấn
đề.
Đối với tôi châu Phi trước hết là phần
châu Phi Da Đen ở miền Nam sa mạc Sahara và không
kể nước Nam Phi ở cực Nam. Năm
nước Bắc Phi (Algéria, Morocco, Tunisia, Libya và Ai Cập)
là những nước da trắng, Nam Phi cũng là một
nước do người da trắng thành lập và do
thiểu số da trắng cai trị trong hàng thế
kỷ. Sáu quốc gia này tuy cũng thuộc châu Phi nhưng
có những vấn đề của mọi quốc gia b́nh
thường. Họ không giống phần c̣n lại,
phần ở giữa, gồm gần bốn mươi
quốc gia toàn người da đen, với gần 80% dân
số châu Phi và với cùng một thảm kịch.
Châu Phi này đối với tôi có một sức thu hút
đặc biệt. ánh sáng của trí tuệ lần
đầu tiên vụt hiện tại đó, tạo nên
giống người, rồi tiếp tục soi sáng dẫn
dắt con người tiến lên trong hơn một
triệu năm. Sau đó loài người tỏa rộng ra
châu Âu và châu á. Nhưng sau đó h́nh như ánh sáng cũng ra
đi và bóng đêm trở lại với vùng đất này.
Châu Phi Da Đen không tiến hóa thêm nữa.
Một cảm giác kỳ lạ khác là mặc dù đă
bỏ ra một số th́ giờ để t́m hiểu,
hơn thế nữa c̣n may mắn có nhiều bạn đă
làm việc nhiều năm tại châu Phi và cũng có
nhiều đồng nghiệp da đen, để có
thể học hỏi nơi họ, tôi vẫn không sao nh́n
thấy được sự khác biệt giữa các nước
châu Phi Da Đen với nhau. Các nước này đối
với tôi vẫn chỉ là một khối lạc hậu,
có quá khứ nhưng không có lịch sử và chưa chắc
chắn có một tương lai đáng gọi là một
tương lai. Ngày nay vùng châu Phi này là một thảm
kịch không chỉ riêng cho người da đen mà cho
cả nhân loại. Hiện tại đă đen tối,
lương lai lại c̣n đen tối hơn. Đất
đai đang khô cằn đi, nạn nhân măn ngày càng
trầm trọng, bệnh AIDS gia tăng kinh khủng,
chết đói quanh năm, chiến tranh bộ lạc
thường ngày, đôi khi với những cuộc
diệt chủng khó tưởng tượng. Tất
cả mọi chương tŕnh phát triển châu Phi Da Đen
với sự tài trợ và yểm trợ của các
định chế quốc tế cho tới nay đều
đă thất bại.
Lư do chính, nếu không muốn nói là duy nhất, khiến
mọi cố gắng đưa châu Phi ra khỏi bế
tắc đều thất bại là các chính quyền
đều rất yếu. Chúng chỉ có h́nh thức mà không
có nội dung. Một đám loạn quân ô hợp chừng
vài ngàn người, có khi chỉ cần vài trăm
người, cũng có thể đánh gục một chính
quyền hợp pháp. Một đại úy, có khi một trung
sĩ, cũng có thể đảo chính lật đổ
chính quyền để tự xưng là tổng thống,
kiêm đại tướng tổng tư lệnh tối
cao quân lực, để rồi sau đó ít lâu cũng
bị lật đổ. Các chính quyền trong đại
đa số chỉ là những chính quyền giả
tưởng, không đủ sức mạnh để
tự vệ, chưa nói để đôn đốc những
cố gắng phát triển. Gần đây các phe
đảng h́nh như đă khám phá ra sự thực
hiển nhiên này và nội chiến trở thànhmột
phương thức gọn nhẹ nhất để giải
quyết tranh chấp quyền lực. Vào lúc này, cuối
năm 2000, hiện có khoảng mười cuộc nội
chiến đủ tầm vóc để được
dư luận thế giới biết đến.
Trong suốt ba thập niên 1960, 1970 và 1980 độc tài
đă được coi là giải pháp để giải
quyết vấn đề yếu kém của các chính
quyền. Nhưng các chế độ độc tài đă
không đem lại nhưng nhà nước mạnh mà chỉ
đem đến tham nhũng và nghèo khổ, có khi c̣n làm tan
vỡ nhiều quốc gia như Somalia, Ethiopia, Liberia, Sierra
Leone, Suđan v v. Từ thập niên 1990, dân chủ
được dùng làm thuốc chữa. Kết quả tuy
có khá hơn nhưng cũng không mấy khả quan. Nhưng
tại sao các chính quyền châu Phi lại đều
yếu? Lư do là v́ chúng không phải là những nhà nước
- quốc gia, nghĩa là những nhà nước
được xây dựng trên một lănh thổ thực
sự và một dân tộc thực sự.
Cho tới nay giải thích thông thường nhất và h́nh
như được mọi người chấp nhận
là các biên giới quốc gia tại châu Phi đều
giả tạo, do các chính quyền thực dân châu Âu vạch
ra một cách tùy tiện, dựa trên những vùng chiếm
đóng của các nước châu Âu trước đây
chứ không phân ánh một thực tế chủng tộc và
văn hóa nào cả. Có những sắc tộc bị
ngăn cách và phân tán trong nhiều quốc gia, ngược
lại phần lớn các quốc gia đều bao gồm
những sắc tộc thù địch với nhau. Giải
thích này có lư. Các biên giới tùy tiện này chắc chắn
không đóng góp tạo ra sự ổn định. Tuy nhiên
có những điều có lư mà không đúng, và đây là
một trường hợp.
Nếu những bất ổn tại châu Phi là do các biên
giới do các chính quyền thực dân vạch ra th́ phải
trả lời thế nào hai câu hỏi sau đây:
- Tại sao Tổ Chức Đoàn Kết Châu Phi (OUA-
organisation de lunité Africaine hay AUO -african Unity Organization) đă
nhanh chóng thỏa thuận coi những biên giới này là chính
thức và phải được tôn trọng? Cần
lưu ư là quyết định này đă là quyết
định đầu tiên của các nước châu Phi và
đă được đồng thanh biểu quyết.
Tại sao cho tới nay chưa hề có những tranh
chấp biên giới?
Thực ra cũng đă có một tranh chấp biên giới
nhỏ giữa Libya và Chad, nhưng nguyên nhân chỉ là v́ hai
nước chiếm đóng trước đây, Pháp và ư,
chưa qui định biên giới rơ ràng. Ngạc nhiên
hơn nữa là khi một quốc gia tan ră không c̣n chính
quyền, như trường hợp Somalia, cũng không có
nước nào lấn chiếm lănh thổ.
Như vậy phải kết luận rằng biên giới
giả tạo không phải là nguyên nhân đưa
đến sự yếu kém của các chính quyền châu Phi
Da Đen.
Vậy nguyên nhân thực sự là ǵ? Đó là một nguyên
nhân nội tại của châu Phi Da Đen và hiện
diện trong mọi nước. Nói một cách vắn
tắt, các guồng máy nhà nước tại châu Phi
đều yếu v́ chúng là những nhà nước không có
quốc gia. Châu Phi Da Đen chỉ có những nhà
nước chứ không có quốc gia nào.
Các quốc gia này đều giả tạo v́ đều
không dựa trên một nền lảng dân tộc, lịch
sử và văn hóa nào cả. Người Mỹ đă mau
chóng tự thành lập được một quốc gia
từ số không những người châu Phi lại không
làm được với sự trợ giúp của thé
giới, bởi v́ họ không có ư thức dân tộc,
nghĩa là không có nguyện ước sống chung với
nhau và xây dựng với nhau một tương lai chung.
Họ không nh́n nhau như đồng bào mà như những
kẻ thù, hay cùng lắm như những người xa
lạ. Đó là hậu quả của đợt săn
bắt và buôn bán nô lệ đă diễn ra một cách man
rợ trong ba thế kỷ 17, 18 và 19. Nhưng trước
khi đi xa hơn chúng ta hăy ghi nhận một sự
hiển nhiên nhưng nhiều người lại dễ
quên: những quốc gia trong đó người dân không
chấp nhận lẫn nhau sẽ không có một
tương lai nào.
Trong một bộ phim về lịch sử những
người da đen tại Hoa Kỳ, một người
nô lệ sau khi bị đánh đập tàn nhẫn, than
thở: Tôi đang vào rừng đón khúc cây để làm
một cái trống th́ chúng ập đến bắt tôi
đi rồi chúng đưa tôi tới đây làm nô lệ.
Cha mẹ tôi, anh em tôi ở đâu bây giờ?. Thật là xúc
động. Trong trí tưởng tượng tập
thẻ của thế giới, việc săn bắt và buôn
bán nô lệ đă xảy ra tương tự như
thế, nghĩa là những người da đen châu Phi
bị bắt cóc, dồn xuống tàu và chở qua châu
Mỹ. Nhưng theo các tài liệu khảo cứu nghiêm túc,
sự thực đă không xảy ra như thế. Những
người bị đưa sang Mỹ làm nô lệ cũng
không phải là những người xấu số nhất,
trái lại họ đă rất may mắn so với
nhiều đồng bào họ. _
Không phải các toán thực dân da trắng đă lùng bắt
người da đen. Cũng không phải người da
trắng đă chỉ huy các toán quân da đen đi săn
bắt nô lệ. Người phương Tây đă chỉ
mua nô lệ của các trung tâm cũng cấp nô lệ.
Việc truy lùng và săn bắt nô lệ hoàn toàn do các
tổ chức da đen tại châu Phi thực hiện. Có
thể buộc tội người phương Tây đă có
trách nhiệm tạo ra một thị trường tiêu
thụ, nhưng cũng phải nh́n nhận ngược
lại rằng việc xuất cảng nô lệ đă có
từ thế kỷ thứ 10 tại châu Phi. Người
da trắng đă chỉ t́m thấy một thị
trường xuất cảng nô lệ vào giữa lúc mà
sự phát triển của nông nghiệp Hoa Kỳ đ̣i
hỏi nhiều nhân lực mới. Tục buôn bán nô lệ
không biết đă có từ thời nào tại châu Phi.
Cố lẽ nó đă có ngay từ khi người châu Phi Da
Đen bắt đầu sống có tổ chức. Xă
hội châu Phi đă ra đời trong sự thiếu
vắng hoàn toàn một ư thức về loài người
như là một chủng tộc với cấu tạo
cơ thề, những khả năng và những nhu cầu
như nhau và do đó cần kính trọng lẫn nhau.
Tuyệt đối không có sự thương yêu giữa
người và người, ngoại trừ liên hệ
bộ tộc và huyết thống. Đây là lư do giải thích
tại sao châu Phi đă dừng lại ở tŕnh độ
bán khai.
Mức độ phát triển của một xă hội tùy
thuộc một cách mật thiết ở mức
độ quí trọng con người của xă hội
đó. Châu Phi đă hoàn toàn không có sự quí trọng con
người. Các bộ lạc và các gia đ́nh có thể
lực đă săn bắt nô lệ phục dịch cho ḿnh
và đem buôn bán hoặc giết bỏ như một
vật dụng từ một thời rất xa xưa.
Đến thế kỷ thứ 10 bắt đầu có
dịch vụ xuất cảng nô lệ sang các nước
A Rập, đặc biệt là Ai Cập. Việc buôn bán nô
lệ giữa khối A Rập và châu Phi vẫn tiếp
tục trong thời gian có làn sóng buôn bán sang châu Mỹ. Theo
ước lượng của một số nhà nghiên
cứu th́ số lượng nô lệ bị bán qua châu
Mỹ trong hơn hai thế kỷ, khoảng mười
triệu người, cũng tương đương
với số lượng nô lệ bị bán sang khối A
Rập trong chín thế kỷ.
Việc buôn bán nô lệ sang châu Mỹ đă làm cho phong trào
săn bắt nô lệ gia tăng hẳn lên cả về
qui mô lẫn mức độ tàn bạo. Các tổ chức
nhà nước đầu tiên ra đời tại châu Phi
đă là những nhà nước sản xuất nô lệ
(một cụm từ thông dụng thời đó). Các
thủ đô của những nhà nước sản
xuất nô lệ được thành lập tại các vùng
bờ biển, đó vừa là những trung tâm tập trung
nô lệ cuối cùng trước khi xuống tàu vừa là
nơi tập trung những hàng hóa được chở
tới để trao đổi. Khi nguồn nhân lực
vùng bờ biển suy giảm, một số vệ tinh
được thành lập trong đất liền
để săn bắt sâu hơn trong lục địa.
Các nhà nước nô lệ v́ vậy c̣n có những chư
hầu trong lục địa thi đua làm công tác săn
bắt nô lệ và bán lại cho thủ đô. Sau đó c̣n
có một số bộ lạc khác v́ muốn sống yên
ổn cũng phải đi lùng bắt nô lệ để
nộp cho các trung tâm lớn hơn. Nhiều khi các bộ
lạc giao chiến với nhau để vừa tự
vệ vừa bắt tù binh làm nô lệ.
Nói chung, trong suốt ba thế kỷ 17, 18 và 19, cả châu
Phi tan tác v́ một phong trào săn lùng nô lệ rộng
khắp và điên cuồng. Số nô lệ tới
được bờ biển để xuống tàu
chỉ là một tỷ lệ tương đối
nhỏ so với số người bị thiệt
mạng v́ bị giết trong lúc bị truy lùng hay chết
v́ kiệt sức trên đường áp tải ra bờ
biển. Mặc dầu vậy, vào năm 1815, khi
nước Anh cấm các nước thuộc ảnh
hưởng của ḿnh buôn bán nô lệ họ đă
phải bồi thường thiệt hại cho số
lượng 800.000 nô lệ tồn kho Con số này tự nó
nói lên qui mô và mức độ man rợ của phong trào
buôn bán nô lệ.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 tại
Anh, nước buôn bán nô lệ nhiều nhất, đă có
những tiếng nói phản đối. Năm 1807 quốc
hội Anh biểu quyết một đạo luật
cấm mọi hoạt động buôn bán nô lệ. Tích
cực trong việc buôn bán nô lệ trước đó bao
nhiêu, nước Anh sau đó tận ĺnh trong cố gắng
bài trừ việc buôn bán nô lệ bấy nhiêu. Họ
gặp sự chống đói của Tây Ban Nha và sự
chần chừ của Pháp. Tuy vậy vào năm 1815, nhờ
sức mạnh áp đảo, họ cũng đă áp
đặt được một hiệp ước
quốc tế cấm buôn bán nô lệ. Từ đó các tàu
chiến của Anh ráo riết truy kích các tàu buôn nô lệ
trên biển cả. Việc buôn bán nô lệ sau đó tuy
vẫn c̣n tiếp tục một cách lén lút nhưng đă
giảm hẳn đi. Trong nửa sau thế kỷ 19,
mặc dầu việc buôn bán nô lệ sang châu Mỹ đă
coi như chấm đứt, việc săn bắt nô
lệ tại châu Phi không giảm đi mà chỉ tăng
thêm về mức độ dă man. Số cầu về nô
lệ giảm đi càng khiến các nhà nước sản
xuất nô lệ trở nên tàn ác hơn. Những nô lệ
yếu đuổi bị tàn sát thẳng tay để
chỉ giữ lại những nô lệ khỏe mạnh và
được giá.
Năm 1885, khi các cường quốc châu Âu họp tại
Berlin và quyết định chia nhau cai trị trực
tiếp châu Phi, tệ xuất cảng nô lệ mới
chấm dứt. Tới nay lương tâm nhân loại
vẫn c̣n xúc động v́ phong trào buôn bán nô lệ,
nhưng ngoài một số nhà nghiên cứu ít ai t́m hiểu
thực chất của nó. Tập quán buôn bán nô lệ đă
là một truyền thống lâu đời của
người châu Phi. Nhưng, như mọi tập quán, nó
đă được thời gian b́nh thường hóa.
Người châu Phi, kể cả những nạn nhân,
đều dần dần sống quen với nó, và châu Phi Da
Đen cũng đă ổn định ở một mức
độ văn minh và phát triển tối đa mà một
xă hội không có ư thức về con người có thể
đạt tới. Sự giao dịch với khối A
Rập đă biến việc buôn bán nô lẽ gia tăng và
trở thành một hoạt động ngoại
thương từ thế kỷ thứ 10, nhưng dần
dần với thời gian nó cũng đă thành một
điều mà người châu Phi cam chịu như một
định mệnh. Trái lại, chính đợt săn lùng
qui mô và man rợ diễn ra từ thế kỷ 17, khi
người châu Âu bắt đầu buôn nô lệ sang châu
Mỹ, đă vượt quá mọi sức chịu
đựng và làm châu Phi hoàn toàn tan nát. Sau đó sự cai
trị của người châu Âu đă dần dần khai
hóa cho người châu Phi Da Đen khiến họ ư thức
được sự tàn bạo mà họ đă là nạn
nhân, rồi căm thù những thủ phạm. Nhưng các
thủ phạm lại không ai khác hơn là những
người đang cầm quyền, hay các bộ lạc
lân cận. Đó là lư do khiến các nhà nước mới
thành lập không thể mạnh v́ chúng không được
xây dựng trên một nguyện ước sống chung và
xây dựng một tương lai chung.
Di sản của cuộc buôn bán nô lệ để lại
vẫn c̣n rất nặng nề. Hơn một nửa
thế kỷ dưới trật tự áp đặt
của người châu Âu đă phần nào hàn gắn
những đỗ vỡ, nhưng gần một nửa
thế kỷ độc lập đă chỉ mở
lại những vết thương khi các bộ lạc da
đen phải trực diện với nhau. Cần ư
thức rằng khi các nước châu Âu quyết
định chia nhau cai trị châu Phi th́ tại lục
địa này chỉ có những nhà nước sản
xuất nô lệ. Những kháng cự ít ỏi mà họ
gặp đă chỉ là những kháng cự của các nhà
nước này. Châu Phi lúc đó đă hoàn toàn tan ră và
kiệt quệ, những con người duy nhất có chút
khôn ngoan đều là những kẻ săn nô lệ.
Để cai trị, người châu Âu đă phải dùng
lại chính những người này. Sau đó đến
khi các nước châu Âu rút ra họ cũng trao lại chính
quyền cho con cháu của những trùm săn bắt và buôn
bán nô lệ, những kẻ mà với ngôn ngữ ngày nay ta
có thể gọi là tội phạm đối với nhân
loại. Các chính quyền châu Phi v́ vậy không có căn
bản chính đáng nào. Tập đoàn cầm quyền luôn
luôn phải dựa trên một sắc tộc trong khi các sắc
tộc khác nh́n sắc tộc cầm quyền, và nh́n nhau,
như những kẻ thù không thề đội trời
chung.
Trong bốn thập niên được độc lập,
châu Phi đă thiếu hẳn một tư tưởng chính
trị làm nền tảng để lạo dựng ra
những quốc gia. Cũng có một vài cố gắng
lẻ tẻ, như Leopold Sedar Senghor, cựu tổng
thống Senegal và thành viên Hàn Lâm Viện Pháp, đưa ra
thuyết Négritude, nhưng chỉ là những biểu văn
hời hợt. Châu Phi vẫn c̣n thiếu một phân tích
lương thiện về chính ḿnh, điều mà các trí
thức và các chính khách châu Phi không thể làm, do chính xuất
thân của họ. Diễn văn thông thường của
các chính trị gia châu Phi cho tới nay văn chỉ là
đỗ tội cho người phương Tây đă
bắt và bán người châu Phi làm nô lệ, rồi sau
đó chiếm đóng và vơ vét tài nguyên của châu Phi. Cáo
trạng này không phải là sai, nhưng rất thiếu sót
và chắc chắn không đủ để đoàn kết
người châu Phi trong một căm thù chung đối
với người phương Tây. Nguyên nhân của
thảm kịch chính là văn hóa (hay sự thiếu
vắng văn hóa?) của châu Phi. Hận thù lớn
nhất vẫn là hận thù giữa người châu Phi
với nhau, mà chỉ có một cố gắng ḥa giải
tích cực và bền bỉ trong hàng thế kỷ mới có
thể xóa bỏ được. Nhưng cho tới nay
chưa có chính quyền châu Phi nào đủ sáng suốt
đê nh́n thấy sự cần thiết của cố
gắng ḥa giải này.
Những phần tử tinh hoa của châu Phi Da Đen mà tôi
đă tiếp xúc - và tôi đă may mắn gặp
được khá nhiều người như vậy,
những trí thức lỗi lạc, những người đă
cầm quyền, những người đang cầm
quyền và cả những người đang cố
gắng để giành vị trí lănh đạo trong
nhiều nước châu Phi - đều không nhận
thức được nhu cầu ḥa giải dân tộc hay,
rộng hơn, ḥa giải giữa người châu Phi Da
Đen với nhau. Họ thừa hưởng một di sản
lịch sử và họ coi đó là một sự kiện
b́nh thường. Họ cho rằng người châu Phi không
có ǵ để thù hận nhau v́ không ai có trách nhiệm
cả, thay v́ nghĩ rằng mọi người
đều có trách nhiệm. Họ không hiểu rằng
nếu không trút bỏ được di sản lịch
sử đó th́ các nước châu Phi sẽ không có một
tương lai nào cả. Tôi không phải là một nhà nghiên
cứu để có thể bỏ th́ giờ t́m hiểu
những vấn đề tại lục địa
rất xa xôi này. Tôi đă chỉ chú ư đến châu Phi sau
khi qua một vài hiểu biết đầu tiên tôi nhận
ra là có những vấn đề của châu Phi rất
đáng để người Việt nam chúng ta suy nghi và
rút ra những kết luận cho ḿnh.
Trước hết là về chính thảm kịch buôn bán nô
lệ. Yêu cầu nhân lực nô lệ của châu Mỹ
đă tạo ra thảm kịch săn lùng man rợ trong
hơn hai thế kỷ bởi v́ nó đă gặp môi
trường thuận lợi tại châu Phi. Thị
trường tiêu thụ nô lệ châu Mỹ đă không
tạo ra mà chỉ biến một tệ nạn có sẵn
thành một tai họa khủng khiếp. Trí thức và các
nhà chính trị châu Phi, con cháu những trùm săn bắt nô
lệ phải nhận phần trách nhiệm trước
hết, phải sám hối và phải nỗ lực hàn
gắn những vết thương mà ông cha họ đă
gây ra. Thiếu thành tâm ăn năn và hàn gắn này châu Phi
sẽ không có tương lai.
Cũng tương tự, khi chủ nghĩa cộng
sản, một chủ nghĩa đặt nền tảng
trên căm thù (căm thù giai cấp) được du
nhập vào Việt nam nó đă t́m thấy một mảnh
đất mầu mỡ: một đại đa số
nghèo khó bị chà đạp từ cả ngàn năm,
những hận thù chồng chất do chiến tranh
Trịnh Nguyễn, nội chiến Nguyễn ánh - Tây
Sơn, chính sách cấm đạo, rồi cuộc chiếm
đóng của người Pháp với những
người theo Pháp và những người chống Pháp
v.v... Chủ nghĩa cộng sản v́ thế đă thành
công tại Việt nam v́ đất nước ta đă chín
muồi để chờ đợi một tiếng
gọi thù hận. Không nên đỗ lỗi cho Pháp, cho
Mỹ, cho Lênin, Stalin hay Mao. Cũng không nên đỗ
lỗi cho Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ,
Bảo Đại hay Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn
Thiệu. Họ chỉ là những sản phẩm của
một di sản lịch sử đầu buồn và
một đất nước bệnh hoạn. Không có
họ th́ cũng sẽ có những con người khác làm
những điều họ đă làm. Thiếu một cái
nh́n vượt thoát, chúng ta sẽ không thể hiểu
thực trạng của ḿnh và nh́n ra lối thoát.
Sau đó là t́nh trạng bi đát hiện nay và tương
lai bế tắc của chấu Phi. Hơn một thế
kỷ sau, vết thương của việc săn
bắt và buôn bán nô lệ vẫn như c̣n nguyên vẹn.
Những trí thức châu Phi, mà tôi đă gặp, đều
hằn học với các sắc tộc khác trong
nước họ mà không hề ư thức rằng các
sắc tộc khác cũng có những lư do tương
tự để hằn học với họ, và chính
sự hận thù giữa các sắc tộc đă là lư do
khiến châu Phi bế tắc. Những xung đột
đẫm máu bao giờ cũng để lại những
hậu quả rất dai đáng, lưu truyền qua các
thế hệ. Hận thù không tự nó tan biến với
thời gian. Nó vẫn c̣n đó và làm tê liệt châu Phi. Ngay
cả với một cố gắng hàn gắn thành thực
và kiên tŕ th́ xă hội cũng chỉ có thể tạm lành
bệnh sau một thời gian rất dài. Châu Phi vẫn c̣n
rất bi đát và bế tác v́ di sản của những
hận thù do một thảm kịch cách đây hơn
một thế kỷ. Một ḿnh thời gian không
đủ, c̣n cần một cố gắng hàn gắn
thật quả quyết.
Chúng ta cũng thế, chúng ta đă trải qua hơn ba
thế kỷ chia cắt, nôi chiến, xung đột và
ngoại thuộc, kết thúc bởi một cuộc
chiến tranh ư thức hệ kéo dài ba thập niên với
hàng triệu người thiệt mạng và sau đó là vô
số biện pháp phân biệt đối xử. Chúng ta
cũng bị thương tích rất nặng. Mỗi
lần nghe những người khẳng định dân
tộc Việt nam là một khối thuần nhất, không
hận thù nhau và không cằn ḥa giải, tôi lại sững
sờ v́ sự vô tư của họ. Cũng như các
nước châu Phi, chúng ta đă đỗ vỡ và tổn
hại rất nặng trong thể xác và trong tâm hồn. Ḥa
giải dân tộc cũng là chuyện dời sông lấp biển
đối với chúng ta, nhưng nếu không thực
hiện được ḥa giải và ḥa hợp dân tộc
th́ những la sẽ chỉ là một dân tộc bại
liệt, và dù dưới chế độ nào đi nữa
cũng chỉ có một tương lai thua kém. Trước
mắt, nếu không ḥa giải được với nhau,
nếu mỗi người vẫn khư khư giữ
lấy cái lư riêng của ńnh, chúng ta sẽ vẫn c̣n
tiếp tục chia rẽ người Nam - người
Bắc, Phật Giáo - Công Giáo, Quốc Gia - Cộng Sản
và tiếp tục quằn quại dưới chế
độ độc tài đảng trị.
Cuối cùng là một tật nguyền chung của
người châu Phi Da Đen và chúng ta: thiếu hẳn
phản xạ ḥa giải. Trong hàng triệu năm
người châu Phi Da Đen chỉ biết một
phương thức để giải quyết các mâu
thuẫn, đó là tiêu diệt đối phương
hoặc bị đối phương tiêu diệt, do đó
vấn đề ḥa giải không bao giờ đặt ra v́
không có đối tượng. Tôi đă hỏi rất
nhiều trí thức châu Phi Da Đen và đều nhận
được một câu trả lời: không những ư
niệm ḥa giải không có trong đầu óc người
châu Phi mà ngay cả từ ngữ ḥa giải cũng không có
trong bất cứ một thổ ngữ nào. Chúng ta không
đến nỗi như vậy, nhưng tật nguyền
của chúng ta cũng rất trầm trọng. Kề
từ đời nhà Trần, nghĩa là từ gần tám
thế kỷ nay, nhổ cỏ tận gốc, tiêu diệt
toàn bộ, tru di tam tộc vẫn là những biện pháp
được người cầm quyền sử dụng
để thay thế cho ḥa giải, để khỏi
phải ḥa giải. Xét cho cùng đó cũng là một cách
để giải quyết nhu cầu ḥa giải. Dần
dần với thời gian, cách ứng xử hung bạo
đó đă ăn rễ vào tâm lư tập thể và làm cho ư
niệm ḥa giải trở thành xa lạ và bất b́nh
thường đối với người Việt.
Khi nhóm Thông Luận, sau này là Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên, đưa ra chủ trương ḥa giải và ḥa
hợp dân tộc, chúng tôi đă bị đă kích gay gắt
từ mọi phía. Chính quyền cộng sản cho đó là
một âm mưu để đánh phá chính quyền cách
mạng bằng cách đưa ra một nhu cầu giả
tạo (v́ dân tộc Việt nam là một khối thuần
nhất dưới sự lănh đạo của
đảng cộng sản). Các lực lượng
chống cộng coi đó chỉ là toan tính chính trị
đen tối trong ư đồ bắt tay hợp tác với
chế độ cộng sản v́ tham vọng cá nhân (v́ dân
tộc Việt nam là một khối thuần nhất
chống lại bạo quyền cộng sản). Rất ít
người nh́n thấy đó là đoạn tuyệt tâm lư
để thoát ra khỏi cái ṿng lẩn quẩn của
hận thù và chia rẽ, được làm vua thua làm
giặc đang giam hăm chúng ta trong sự thua kém bi đát. Ḥa
giải và ḥa hợp dân tộc có thể là một chiến
lược, trong chừng mực nó công phá tinh thần
bất dung, óc độc quyền lẽ phải và tham
vọng độc quyền chính trị, nhưng nó
trước hết là một triết lư chính trị
mới cho đất nước.
Tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc cũng
vượt lên trên những quan tâm nhất thời. Nó
nhắm tháo gỡ tất cả mọi hận thù và
hiềm tỵ có thể có giữa người Kinh và
người Thượng, người Nam và người
Bắc, người Công Giáo và người Phật Giáo,
người quốc gia cũ và người cộng
sản cũ, người hải ngoại và người
trong nước, người thành thị và người
thôn quê, người giàu và người nghèo, những
người đă chịu nhiều mất mát và những
người được hoàn cảnh ưu đăi, nói
chung là mọi nguyên nhân chia rẽ do điều kiện
địa lư, di sản lịch sử và các thành kiến
để lại. Để thay thế tâm lư
đưọc-thua bằng tâm lư cùng thắng. Để
quan niệm quốc gia không phải như một chiến
trường mà như một không gian liên đới cho
những cố gắng mưu t́m những thành công riêng cho
mỗi người trong khuôn khổ một thành công chung cho
tất cà.
Một lời trước khi chấm dứt. Tôi đă
bỏ qua nước Nam Phi v́ nó không giống những
nước châu Phi Da Đen khác. Tuy nhiên cũng có một
điều đáng suy nghĩ về quốc gia này. Tại
đây thiểu số da trắng trước khi đầu
hàng đă áp dụng chính sách phân cách (Apartheid). Họ lùa
những người da đen vào những khu tự trị
riêng biệt. Đó là một chiến lược
để biến những người da đen thành
những người ngoại quốc, để biến
một vấn đề đối nội thành một
vấn đề đối ngoại. Ngày nay cũng có
những người Việt nam nói rằng dân tộc
Việt nam rất thuần nhất, không hận thù nhau và
không có nhu cầu ḥa giải, chỉ có một thiểu
số cộng sản phản bội và chống lại dân
tộc (hay chỉ có một thiểu số phản
động chống lại tổ quốc xă hội
chủ nghĩa) cần phải loại bỏ. Cùng một
ngôn ngữ, ngôn ngữ Apartheid, muốn biến những
người trong nước thành những người
ngoại quốc để khỏi phải ḥa giải. Ngôn
ngữ này đă bị vất bỏ tại Nam Phi. Nó
cũng sẽ phải bị vất bỏ tại Việt
nam.
Phần 5 Vươn
ḿnh lớn dậy
Tổ quốc ăn năn
Cuốn
sách này đă tự giới hạn ở mức độ
thảo luận ư kiến. Tuy vậy trong khi tŕnh bày và phân
tích các vấn đề, tác giả cũng đă gợi ư
một số giải pháp.
Chúng ta có rất nhiều điều phải làm, nên làm, có
thể làm và nếu làm được sẽ mở ra cho
đất nước những vận hội rất
lớn. Mặt khác chúng ta cũng có những điều nên
thôi làm ngay lập tức, và nếu chấm dứt
được th́ cũng đă là cả một phúc lớn
cho mọi người. Nhưng mọi ư kiến sẽ
chỉ là những ư kiến để thảo luận, và
mọi đề nghị cũng sẽ chỉ là những
đề nghị để đó, chừng nào chúng ta
chưa thay thế được chế độ
độc tài này bằng một chế độ dân
chủ. Và muốn thay đổi được chế
độ cực kỳ ngoan cố này chúng ta cần
một điều mà chúng ta chưa có và cũng chưa có
dấu hiệu nào là sẽ có trong một tương lai
nh́n thấy được: đó là một sức bật
mới của ḷng yêu nước.
Tinh thần quốc gia dân tộc của chúng ta hiện nay
đă xuống rất thấp.
Hiện t́nh của chúng ta là một đảng cầm
quyền đă cai trị đất nước một cách
thô bạo trong một nửa thế kỷ, đă thất
bại trên tất cả mọi phương diện và
trong tất cả mọi địa hạt, đă gây vô
số tội ác mà không hề gặp một chống
đối qui mô nào. Phải nh́n nhận rằng trên thế
giới này khó t́m ra một dân tộc bạc nhược
như vậy. Mà có phải con người Việt nam
bạc nhược đâu. Cũng những con người
ấy khi được tổ chức và chỉ huy đă
đánh bại quân Tống, quân Nguyễn, quân Thanh, đă
từng chiến thắng vẻ vang tại Điện Biên
Phủ, đă từng tàn sát lẫn nhau một cách rất
dũng cảm tại B́nh Long, Quảng Trị. Khả
năng chiến đấu của người Việt nam
không ai chối căi. Cũng những con người ấy
đă dám chất nhau trên những chiếc thuyền ọp
ẹp vượt biển cả t́m cuộc sóng mới.
Chúng ta không chống lại không phải v́ chúng ta thiếu
can đảm mà v́ chúng ta đă ră hàng. Sự ră hàng đó cho
người Việt nam một cảm giác bất lực và
làm tê liệt mọi ư chí tranh đấu. Dầu vậy,
họ không cố gắng để tái lập lại hàng
ngũ v́ họ đă mất niềm tin và hy vọng.
Bạn tôi, một trí thức dân chủ có uy tín ở trong
nước từng làm thế giới xúc động khi anh
bị bắt giam, nói với tôi là các con anh tốt
nghiệp đại học một cách rất xuất
sắc nhưng hoàn toàn không biết ǵ về t́nh h́nh
Việt nam, chúng không cần biết tên ông tổng bí thư
đảng cộng sản, cũng chẳng cần
biết ai đang làm thủ tướng, bộ trưởng,
v.v... Chúng sống tại Việt nam, nhưng sống ngoài
lề mọi biến chuyền. Tôi có khá nhiều bạn
trong và ngoài nước cùng theo đuổi lư tưởng
dân chủ. Con cái họ nói chung cũng đều như
thế cả. T́nh trạng của họ nói chung là bi
đát. Họ chỉ là một thiểu số rất
nhỏ, cô đơn ngay trong gia đ́nh. Một giải
thích thường được đưa ra là
người Việt nam đă quá chán chế độ
cộng sản và không muốn nghĩ đến nữa.
Nhưng giải thích này không ổn v́ người Việt
nam cũng không cần biết những ai đang
đấu tranh cho dân chủ. Họ không cần biết ǵ
hết. Thực ra họ chán ngán tất cả những ǵ
liên quan đến chuyện nước non.
Dĩ nhiên đối với dân tộc nào th́ dấn thân
chính trị cũng chỉ là sự kiện của một
thiểu số. Nhưng khi thiểu số đó không
tới một phần trăm thay v́ ở mức năm,
mười phần trăm th́ phải nói là không c̣n tinh
thần dân tộc. Số người Việt ở
hải ngoại trên hai triệu người với gần
nửa triệu người có tŕnh độ đại
học và một tổng số thu nhập cao hơn
tổng sản lượng trong nước. Chỉ
cần 10% của khối người này mà biết tranh đấu
thông minh để động viên những ước
vọng dân chủ trong nước cũng đủ
để đánh bại đảng cộng sản.
Nhưng thực tế nếu cộng hết những
phần tử thực sự dấn thân trong mọi
đoàn thề đấu tranh cho dân chủ và nhân quần
chúng ta cùng chưa có được hai ngàn, nghĩa là
một phần ngàn. Trong khi đó th́ những Thanh Hải Vô
Thượng Sư, Lương Si Hằng, Lương Minh
Đáng, có thể có hàng chục ngàn, hay hàng trăm ngàn
đệ tử. Người Việt có thể
hưởng ứng nồng nhiệt những tổ
chức nhảm nhí nhưng chỉ dành cho quê hương
đất nước một quan tâm nhỏ.
Hàng năm có hàng trăm ngàn người Việt từ
nước ngoài về thăm quê hương. Từ 1975
đến nay đă có nhiều triệu chuyến đi
về. Chỉ cần một phần trăm những
người đi về vừa thăm nhà vừa vận
động dân chủ thôi, dù là trong khuôn khổ của
một tổ chức hay chỉ ở mức đơ cá nhân,
t́nh h́nh Việt nam cũng đă khác. Nhưng tất cả
đă về nước mà không mang theo một thông
điệp tự do, dân chủ hay nhân quyền nào.
Nếu chỉ cần 10% của cộng đồng
người Việt hải ngoại cũng đủ
để đánh bại đảng cộng sản th́
một tỷ lệ nhỏ hơn của những
người trong nước cũng đủ để
buộc đảng cộng sản phải nhượng
bộ. Trong ĺnh trạng hiện nay của nó, chế
độ cộng sản không dám bắn vào đám biểu
t́nh mà cũng không dám bắt giam hàng loạt. Nhưng
một người quen tôi nói rằng khi đề cập
tới chuyện đất nước th́ người
trong nước không muốn nghe. Và anh ta có lư. Tôi đă
từng nhờ một số thanh niên, vừa tốt
nghiệp đại học và may mắn t́m được
một chỗ thực tập khá dài hạn tại Việt
nam quan sát, làm quen và t́m hiểu tuổi trẻ trong
nước. Tất cả cho lôi một câu trả lời
giống nhau: họ không gặp ai quan tâm tới chính
trị cả, tuổi trẻ trong nước chỉ có
một mục đích là kiếm tiền và ăn chơi.
Không phải v́ lư do an ninh, Việt nam đă thay đổi
khá nhiều so với mười năm về
trước; việc bàn chuyện chính trị, ngay cả
đă kích đích danh và thậm tệ những lănh tụ
cộng sản cũng không c̣n là một nguy hiểm
nữa, chính quyền chỉ đàn áp những tiếng nói
có uy tín và nhưng dự định kết hợp thành
tổ chức thôi. Người Việt không muốn nói và
không muốn nghe chuyện đất nước chỉ v́
không muốn chứ không phải v́ không dám.
Cũng không phải v́ không có vấn đề. Ai cũng có
vấn đề cả. Người ta thù ghét sự tham
nhũng và những đặc quyền đặc lợi.
Người ta chán ngấy những báo và đài của
đảng quanh năm nói lấy được, những
ông lănh đạo đảng và nhà nước lúc nào
cũng huênh hoang là được sự hưởng
ứng nồng nhiệt của toàn dân. Người ta
tức đến lộn ruột khi nh́n những phần
tử quyền theo mánh mung phô trương sự giàu có.
Người ta chịu đựng hàng ngày, hàng giờ
sự bực bội của quan liêu bàn giấy, trộm
cướp, măi dâm, bụi bặm, hôi thói, kẹt xe.
Người ta c̣n có thể căm thù v́ chính sách phân biệt
đối xử đối với ḿnh hay đối
với con cái ḿnh tại trường học, sở làm.
Người ta khổ v́ nghèo túng. Và trong thâm tâm người
ta đều biết tất cả là hậu quả
của chế độ và chỉ có thể chấm
dứt cùng với chế độ. Nhưng người
ta không phản ứng bởi v́ trong vô thức người
ta đă lấy quyết định gạt bỏ
đất nước ra khỏi đời ḿnh. Dân
chủ, tự do cho không th́ lấy chứ nhổ một
sợi lông chân cho đất nước cũng không làm.
Mỗi người chỉ lo giải quyết những
vấn đề cá nhân của ḿnh bằng những
giải pháp cá nhân. Chúng ta không c̣n suy nghĩ chung, phản
xạ tập thể và tinh thần quốc gia dân tộc.
Đa số người Việt đă quay lưng lại
với đất nước. Vấn đề cấp
bách hiện nay là ḥa giải người Việt nam với
đất nước Việt nam.
Cuối năm 1982, vài ngày trước khi xuất ngoại
đi Pháp, tôi rủ một người bạn đi
uống cà phê. Buổi chia tay nào cũng buồn. Chúng tôi nói
chuyện trời đất loanh quanh chỉ để
ngồi với nhau. Rồi có một lúc không hiểu v́ lư do
ǵ tôi nói đến hai tiếng yêu nước. Bạn tôi,
một nhà tư tưởng lớn, nói một cách vừa
mỉa mai vừa chua xót:
- Hai tiếng yêu nước bây giờ đă trở thành
tục tĩu!
Sau câu nói đó cả hai chúng tôi đều im lặng,
mỗi người theo một mạch suy nghĩ.
Bạn tôi nói đúng. Vào thời điểm đó, và ngay
cả sau đó, hai tiếng yêu nước thật là thô
bỉ. Mỗi lần chúng xuất hiện ở đâu,
chúng đều có tác dụng nhảm nhí hóa, nhiều khi làm
ngược hẳn ư nghĩa của khái niệm mà chúng
đi kèm. Trí Thức Yêu Nước là hội của
những người có học thức nhưng đă
chấp nhận từ bỏ tư duy của chính ḿnh
để nói vuốt đuôi theo lập trường
của đảng, nghĩa là những người không c̣n
là trí thức. Công Giáo Yêu Nước, Phật Giáo Yêu
Nước, là tổ chức của những người
ủng hộ chính sách đàn áp và bôi nhọ tôn giáo, nói cách
khác là những người đă phản bội tôn giáo
của ḿnh. Hai tiếng yêu nước sau cùng đă nhảm
nhí đến độ chính đảng cộng sản
cũng không c̣n đủ trơ trẽn để dùng
nữa.
Phải khách quan mà nh́n nhận rằng đảng cộng
sản đă hủy diệt ḷng yêu nước một cách
rất có hệ thống. Họ nổi lên lúc đầu
như một phong trào vô tổ quốc, lấy giai cấp
vô sản trên toàn thế giới làm đối tượng
phục vụ, kêu gọi hận thù giai cấp và tiêu
diệt lẫn nhau giữa người Việt. Sau đó,
t́nh cờ (?) trùng hợp với lúc Stalin đưa ra
chủ thuyết xây dựng chủ nghĩa xă hội trong
từng quốc gia họ mới quay lại sử dụng
chiêu bài dân tộc, nhưng lại nhân danh tổ quốc
để tàn sát những người không chấp nhận
chủ nghĩa của họ. Tổ quốc trở thành
đao phủ. Những người địa chủ và
tư sản không những bị ruồng bỏ mà c̣n
bị coi là thù địch và bị tàn sát. rồi cũng
nhân danh tổ quốc họ phát động cuộc
chiến thôn tính miền Nam làm hàng triệu người
chết và đất nước kiệt quệ. Tổ
quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết
chóc.
Toàn thắng rồi, tổ quốc xă hội chủ
nghĩa quên phắt cam kết thực hiện ḥa giải
và ḥa hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ
nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh
tư sản, tống cỗ con cái ngụy quân, ngụy
quyền ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh
tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm
dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện,
công an phường. Biết dân chúng không c̣n chịu
đựng được nữa và muốn bỏ
nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ
chức vượt biên bán chính thức để lấy
tiền chuộc mạng của những người
muốn chạy trốn nanh vuốt của ḿnh. Tổ
quốc hành động như bọn giặc cướp.
Đến khi bị dư luận thế giới lên án
dữ dội v́ hành động bỉ ổi này, tổ
quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính
thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tồ
quốc đểu cáng và lật lọng.
Đối với những người ra đi, tổ
quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng
cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những
trại tập trung trước khi t́m được một
quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ văng
cần quên đi. Đối với những người
ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy
lần để cướp giật, tổ quốc sách
nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng
được, nói đen cũng xong, cấm rồi
lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn
bắt hay tha tùy ư, người dân phải chịu
đựng hết. V́ tổ quốc có súng.
Tổ quốc của phe quốc gia chắc chắn không
hiểm độc bằng tổ quốc xă hội chủ
nghĩa, nhưng cũng không kém phần nhảm nhí. Từ
ngày thành lập năm 1948 (trên một chiến hạm Pháp),
chế độ quốc gia chưa bao giờ coi ḷng yêu
nước có một giá trị ǵ. Chính quyền luôn luôn
nằm trong tay những người hoặc không có một
ư thức nào về quốc gia dân tộc, hoặc đă
từng làm việc cho chính quyền thuộc địa
Pháp, thường thường là cả hai. Ḷng yêu
nước và ư thức dân tộc hoàn toàn vắng mặt
trong những tiêu chuẩn được dùng để
chọn lựa nhân sự, ngay cả ở những cấp
cao nhất. Không những không được trọng
nể, những người yêu nước c̣n bị
ngờ vực và chèn ép. Mẫu người tốt của
các chính quyền quốc gia là mẫu người không
thắc mắc và quan tâm ǵ đến chính trị. Chính
nghĩa quốc gia chỉ đơn thuần là chống
cộng. Quân đội được tổ chức
như một quân đội chuyên nghiệp, nhưng
lại không chuyên nghiệp đúng nghĩa bởi v́
phần lớn các tướng lĩnh chỉ là những
trung úy, đại úy trong quân đội Pháp và lên lon do bè
cánh chứ không phải v́ khả năng. Chiến tranh tâm
lư chủ yếu là tổ chức những buổi văn
nghệ giải trí cho quân đội. Trong bài diễn
văn cuối cùng để từ chức của ông, sau
tám năm cầm quyền trong đó ông đă làm nản ḷng
mọi người và cuối cùng thất bại thê
thảm trước cuộc tổng tấn công của quân
cộng sản, ông tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu qui trách Mỹ bằng một lập luận
độc đáo: Trước đây người Mỹ
bỏ ra trên 20 tỷ đô la môi năm, nay họ chỉ
cấp cho tôi chưa đầy một tỷ th́ tôi chỉ
đánh được hai tuần. Trong thâm tâm chắc
chắn ông đang nghĩ ông đánh giặc cho
người Mỹ. Công bằng mà nói, do chính sự lỏng
lẻo và xô bồ của nó, chế độ miền Nam
cũng đă cho phép một số người có khả
năng và thiện chí lên đến được
những cấp bậc khá cao (cũng như họ đă
để cho cán bộ cộng sản lọt vào chức
cố vấn tổng thống hoặc lên đến
cấp tướng), nhưng con số những
người này quá ít ỏi và cũng chưa ai trong bọn
họ có được vai tṛ quyết định. Tổ
quốc của phe quốc gia vẫn chỉ là những ông
bà lớn bảnh bao thỏa măn, là những giấy phép nhập
cảng, là những trương mục ngân hàng. Đó
cũng là những đợt bắt quân dịch, nhưng
thương phế binh đi ăn xin ngoài đường
nếu thấp cổ bé miệng, hay đi cắm dùi
chiếm đất nếu láo bạo hơn và có băng
đảng. Là những người mẹ, người
vợ xanh xao thiếu đói chầu chực để lănh
tiền tử tuất của chồng con.
Tôi đă có mặt tại Việt nam trong hai năm cuối
của cuộc chiến. Trước khi về nước
tôi đă biết là tương lai miền Nam rất
hiểm nghèo, mười phần thua chỉ có một
phần thắng; nhưng chỉ vài ngày sau đó tôi
hiểu ngay là chế độ Việt nam Cộng Ḥa
chắc chắn sẽ sụp đổ. Chính nghĩa
quốc gia đă mất hết nội dung. Đa số
quần chúng vẫn ghét và sợ cộng sản, nhưng
không c̣n ai nghĩ đến đất nước. Các anh
em họ của tôi ở Hố Nai đều là lính
kiểng lính ma. Họ vui mừng v́ gia đ́nh đă
chạy được tiền mua một chỗ lính
văn pḥng xa trận mạc. Một người em họ
tôi là hạ sĩ quan không quân, hắn khoe rằng vào không
quân như hắn là trước ngực đeo một
chữ thọ, sau lưng đeo một chữ nhàn. Hố
Nai là vùng của người di cư từ miền Bắc
vào đó là những người chống cộng kịch
liệt nhất và gan dạ nhất. Các bà mẹ chạy
tiền mua chỗ lính kiểng cho con cũng chính là
những bà vợ trước năm 1955 đă cùng với
chồng lăn xả vào cận chiến với quân
cộng sản để bảo vệ các làng tề công
giáo.
Một bạn học cũ của tôi là thiếu lá
tiểu đoàn phó Dù. Câu đầu tiên han hỏi tôi là: Sao
mày ngu thế, thua đến nơi rồi c̣n đâm
đầu về làm ǵ nữa?. Tuy vậy hắn và
đơn vị của hắn vẫn chiến đấu
dũng cảm cho tới giờ phút chót. Hắn chiến
đấu không phải v́ ḷng tin mà v́ danh dự cá nhân.
Nhiều người khác đă đặt cho tôi câu hỏi
tương tự và khi tôi trả lời là đă biết
trước miền Nam rất có thể sẽ thua nhưng
vẫn về th́ họ rất ngạc nhiên. Họ không
thể tưởng tượng được là có
thể có một người v́ đất nước mà
liều lĩnh đến thế. Nếu được
đề nghị đi làm tùy viên quân sự ở
nước ngoài th́ chắc chắn không tướng tá nào
từ chối. ư chí chiến đấu của miền Nam
vào lúc đó đă hoàn toàn sụp đổ.
Tổ quốc của phe cộng sản là một tổ
quốc gian ác, trong khi tổ quốc của các chính
quyền quốc gia là một tổ quốc tầm phào.
Mặc dầu vậy, hai cái tổ quốc đó đă làm
chết gần bốn triệu người trong một
cuộc chiến kéo dài gần ba mươi năm. Trong
số những người nằm xuống ở cả
hai bên đă có những con người thực sự
dũng cảm và thực sự yêu nước, nhiều
người đă bị kết tội phản quốc và
bị hạ sát.
Một số độc giả đọc tới đây
có thể giận dữ v́ tác giả đă ăn nói một
cách hàm hồ. Quí vị có thể cho là tôi đă xúc phạm
khi lẫn lộn các nhà nước, hay các chính quyền,
với tổ quốc. Các chính quyền chỉ là những
tập đoàn nhất thời, có thể tàn ác và thô bỉ,
nhưng tổ quốc là vĩnh cửu, cao cả, thiêng
liêng, bất khả xâm phạm. Nhưng thưa quí vị,
ở bất cứ lúc nào chính quyền tuy không phải là tổ
quốc cũng là người đại diện chính
thức của tổ quốc. Người dân có thể
cảm nhận về tổ quốc thế nào tuỳ ư,
nhưng họ chỉ tiếp xúc thực sự với
tổ quốc qua các chính quyền. Nếu trong một
thời gian rất dài mà tổ quốc chỉ có những
người đại diện gian ác và thô bỉ th́
phải nói rằng chính tổ quốc có vấn đề.
Sự chán nản kéo dài quá lâu với các chính quyền
chắc chắn sẽ biến thành sự chán nản
đối với chính đất nước. Nếu
phần nỗi của lư trí không cho phép ta nh́n nhận
sự thực đó, th́ tiềm thức và trái tim của
chúng ta cũng đă nghĩ như vậy và đôi chân
của chúng ta đă làm như vậy, hoặc muốn làm
như vậy Không phải ai bỏ nước ra đi
từ 1975 cũng là ra đi để chuẩn bị cho
ngày trở lại, trái lại đại đa số
đă ra đi để vĩnh viễn t́m cho ḿnh và cho con
cháu một quê hương mới và một quốc tịch
mới. Mộng ước của rất nhiều
người Việt nam trong nước ngày nay cũng
chỉ giản dị là được rời khỏi Việt
nam và làm công dân một nước khác. Có nhưng bạn tôi
nói một cách rất quả quyết rằng trong bất
cứ trường hợp nào và bất kể trong thời
gian bao lâu cũng phải phân biệt tổ quốc với
người cầm quyền; tổ quốc là vô h́nh, là cao
cả, thiêng liêng, bất khả xâm phạm, chúng ta chỉ
có bổn phận phải phụng thờ chứ không bao
giờ có quyền oán trách. Như thế phải chăng
chỉ có người dân có bổn phận với tổ
quốc chứ tổ quốc không hề có một trách
nhiệm nào đối với người dân? Trong một
trang trước trước tôi đă nhắc đến
chuyện người Phénicien ở thời tiền sử
có tục lệ giết con tế thần Hammon, nhưng ít
ra họ cũng được quyền mong đợi
Hammon sẽ đem lại cho họ chiến thắng và
sự thịnh vượng. Cái tổ quốc hoàn toàn vô
trách nhiệm này c̣n cay nghiệt hơn cả Hammon. Như
thế th́ tổ quốc có lợi ǵ cho đời ta và ta
có lư do ǵ, ngoài một sự u mê, để gắn bó
với tổ quốc? Tốt hơn hết là ta
đừng có tổ quốc, hay đi t́m một tổ
quốc khác. Đó chính là điều nhiều người
đă làm, hoặc đang muốn làm mà không nói ra. Có cộng
đồng di dân nào mất căn cước dân tộc
nhanh chóng cho bằng cộng đồng người
Việt tị nạn? Trong vài thập niên nữa sẽ
rất khó gặp được một người
Việt c̣n viết và đọc được tiếng Việt
tại Mỹ và tại Pháp.
Khái niệm về tổ quốc và ḷng yêu nước
của chúng ta rất đặc biệt, khác với
hầu hết các dân tộc tiên tiến. Tổ quốc
của họ gần gũi và cụ thể hơn tổ
quốc của chúng ta. Sự kiện này có một giải
thích: quốc gia và ḷng yêu nước là những ư niệm
rất mới đối với chúng ta. Đây cũng là
một điểm có thể gây tranh luận rát gay gắt.
Chúng ta có một lịch sử dựng nước khá dài,
ít ra cũng trên hai ngàn năm, và chúng ta đă độc
lập từ mười thế kỷ nay. Lịch sử
ta cũng không thiếu những chiến công mở
nước và dựng nước oai hùng. Vậy th́ quả
là một nghịch lư khi nói rằng chúng ta chỉ mới
biết đến quốc gia và ḷng yêu nước gần
đây thôi.
Nhưng có những điều có vẻ nghịch lư mà
vẫn đúng, nếu nh́n một cách khác.
Thực ra ḷng yêu nước mới chỉ xuất
hiện ở nước ta từ đầu thế
kỷ 20 này thôi. Trước đó trong ngôn ngữ ta không
hề có hai tiếng yêu nước hay ái quốc, chúng ta
chỉ biết có vua và khái niệm trung quân (trung thành với
vua). Ḷng yêu nước khi xuất hiện đă có vẻ
rất ngộ nghĩnh đối với dân ta. Những
người đầu tiên bày tỏ quan tâm với
đất nước và dân tộc được gọi
là những nhà ái quốc. Các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, Lương Ngọc Quyến v.v... là những nhà ái
quốc. Ông Hồ Chí Minh lấy tên là Nguyễn ái Quốc.
Nếu ai cũng yêu nước cả th́ làm ǵ có những
người nổi bật như những nhà ái quốc?
Yêu nước vào đầu thế kỷ này như
vậy phải là một điều lạ và một
ngoại lệ.
Chúng ta được nhào nặn bởi văn hóa Khổng
Giáo và, như đă nói ở một phần trước,
văn hóa Khổng Giáo không có tổ quốc. Nước
chỉ là một tài sản riêng của nhà vua, những
người dân trong nước chỉ là những nô lệ
của vua. Những người nô lệ không có bất
cứ một quyền lợi nào và do đó cũng không có
bất cứ một trách nhiệm nào. Họ chỉ
phục tùng bạo lực mà thôi. Họ đă
được đạo đức Khổng Giáo nhồi
sọ trong hàng ngàn năm là phải biết ơn vua, tôn
thờ vua và tuyệt đối phục tùng vua, và họ
đă chấp nhận như một định mệnh.
Nhưng nếu có kẻ nào khác giết vua và lên cầm
quyền, họ cũng sẽ phục tùng vua mới như
vậy. Họ không có tiếng nói và do đó cũng không có ư
thức ǵ về đất nước. Vũ trụ
của họ chỉ là gia đ́nh. Nước non xa xôi ngh́n
dặm. Làng nước là thế giới bên ngoài.
Đất nước chỉ là đất và nước.
Họ quyến luyến với mảnh đất chứa
đựng hài cốt tổ tiên họ, như một t́nh
cảm tự nhiên ràng buộc con người với môi
trường quen thuộc. T́nh cảm này tuy là một thành
tố thực sự của ḷng yêu nước nhưng
không thể đồng hóa với ḷng yêu nước,
một gắn bó tự nguyện và trách nhiệm
đối với cộng đồng quốc gia. Ông cha
chúng ta không chờ đợi một phúc lợi nào từ
một chính quyền hoàn toàn không phải của họ; trái
lại họ phải đóng sưu thuế, phải đi
lính và cũng có thể bị giết oan. Nhà nước
chỉ là gánh nặng mà số phận nô lệ bắt
họ phải chịu đựng, họ không có quyền
đ̣i hỏi ǵ ở nhà nước. Cái ư niệm tổ
quốc cao cả, thiêng liêng, không trách nhiệm và không
thể trách cứ không ǵ khác hơn là di sản của tâm
lư nô lệ. T́nh trạng này không phải là đặc thù
của Việt nam mà là của chung của các xă hội
Khổng Giáo.
Chúng ta chỉ mới khám phá ra ư thức quốc gia và ḷng
yêu nước của chúng ta gần đây thôi. Điều
không may cho chúng ta là ngay khi ư niệm quốc gia vừa
xuất hiện, nó đă bị lấn át bởi ư thức
hệ cộng sản, một ư thức hệ quốc
tế chủ trương xóa bỏ không gian quốc gia
để tiến thảng tới xây dựng một
thế giơi đại đồng. Điều không may
khác là, cũng như mọi ư niệm chính trị phương
Tây được du nhập vào nước ta, ư niệm
quốc gia và dân tộc đă chỉ được
tiếp thu một cách hời hợt, qua lăng kính
Khổng Giáo truyền thống, do đó ư niệm quốc
gia vừa mới ra đời đă bị thiêng liêng hóa,
rồi trở thành xa cách với người dân, một món
nợ (nợ nưóc) hơn là một phúc lợi, một
gánh nạng hơn là một may mắn. Tổ quốc thay
thế cho thiên tử và cũng dễ sợ như thiên
tử.
Sau đó nhưng cuộc chiến đẫm máu, những
đọa đầy, đổ vỡ và thất vọng
đă bóp nghẹt ḷng yêu nước sơ sinh. Sự
thiếu vắng của ḷng yêu nước, và cái hệ
luận tự nhiên của nó là tinh thần trách nhiệm
đối với đất nước, đă là nguyên nhân
chính của khổ đâu gần đây và bế tắc
hiện nay. Tôi biết hai kư giả Pháp khá nổi tiếng.
Họ không phải là những nhà văn nhà báo lớn
nhất của nước Pháp, nhưng tŕnh độ
nhận thức của họ cao hơn hầu hết các
chính trị gia Việt nam. Đặc điểm chung
của họ là rất tha thiết đối với
đất nước và con người Việt nam, do
đó họ hiểu biết đất nước
Việt nam hơn hẳn các chuyên gia về Việt nam khác.
Một người là Pierre d Harcourt. Tôi đă gặp và thảo
luận với Pierre d Harcourt suốt một ngày năm 1966.
Lúc đó tôi c̣n là một sinh viên trong khi ông đă là một
kư giả nổi tiếng. Sau đó tôi gặp lại ông ta
trong vài cuộc thảo luận về Việt nam nhưng
chỉ đủ th́ giờ để chào hỏi. Tôi không
thể nói là thân với d Harcourt, nhưng tôi vẫn theo dơi
và biết những việc ông làm. Ông viết nhiều bài
báo bênh vực Việt nam Cộng Ḥa thời chiến tranh,
ông cũng từng tranh luận nhiều trên các đài phát
thanh, truyền h́nh và tại các buổi mít tinh. Lần nào
ông cũng tỏ ra sắc bén, lấn áp đối
phương với những lập luận chính xác và
đầy đủ dư kiện. Phải hiểu
rằng ở vào thập niên 1960 và đầu thập niên
1970, khi chủ nghĩa cộng sản đang lên
đến đỉnh cao của sự ngưỡng
mộ và Đảng cộng Sản Việt nam
được coi như lương tâm của thế
giới, chọn lựa ủng hộ miền Nam, với
những bê bối của các tướng lănh
được rêu rao và khuếch đại hằng ngày, là
một chọn lựa rất can đảm của một
người có lư tưởng. Sau năm 1975 Pierre d Harcoun có
viết một cuốn sách với một tít đầy ư
nghĩa Vietnam, quas-tu-fail de tes fils? (Việt nam, Ngươi
Đă Làm Ǵ Với Các Con Của Ngươi trong đó ông
chất vấn đất nước Việt nam về
những ngược đăi mà người dân Việt nam
đă phải chịu đựng. Ông đánh giá cao con
người Việt nam và cho rằng đất
nước Việt nam đă phí phạm tài nguyên rất
lớn nằm trong con người Việt nam v́ đối
xử tệ bạc đối với con dân của ḿnh. Dù
chống cộng kịch liệt, Pierre d Harcourt đă không
đổ lỗi riêng cho đảng cộng sản mà trách
cứ cả đất nước Việt nam. Ông là
một người phương Tây, và người
phương Tây không coi tồ quốc là cao cả tuyệt
đối đến nỗi không thể bị chất ván
Sau năm 1975 Pierre d Harcourt vẫn tiếp tục bênh
vực chế độ Việt nam Cộng Ḥa và công kích
chế độ cộng sản. Ông cũng đă hoạt
động nhiều dề bênh vực những
người tị nạn, kể cả đóng góp nhằm
xây dựng một lực lượng đối lập
hải ngoại. Không may, ông đă chỉ gặp phải
những người không tốt, rồi đi đến
kết luận là người Việt nam không thực sự
yêu nước. Tuổi già và sự thất vọng
cuối cùng đă khiến ông bỏ cuộc.
Michel Tauriac th́ tôi quen rất thân. Ông đă phỏng vấn
tôi nhiều lần trên các đài truyền h́nh và phát thanh
Pháp, rồi chúng tôi trở thành thân quen và gọi nhau
bầng tu, toi (mày, tao) mặc dầu ông lớn hơn tôi
gần hai mươi tuổi. Tauriac viết vô số bài và
phóng sự về Việt nam, ông cũng là tác giả
của nhiều cuốn tiểu thuyết với các nhân
vật chính là người Việt. Tauriac hoạt
động chính trị khá tích cực, đă từng
giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành
truyền thông, và cũng làm cố vấn cho Jacques Chirac
về các vấn đề Việt nam khi Chirac c̣n là chủ
tịch đảng RPR (Tập Hợp Cộng Ḥa) và
thủ tướng Pháp.
Tauriac quả thật là hết ḷng với Việt nam, ông
làm tất cả những ǵ có thể làm cho Việt nam và
h́nh như không bao giờ biết chán nản là ǵ. Trong tháng
8-1999, khi Nguyễn Mạnh Hùng, giáo sư tại
trường đại học George Mason mà Tauriac từng
quen biết và đă từng thăm viếng tại
Washington DC, ghé Paris để tham dự một hội
thảo quốc tế, Tauriac đă mời Nguyễn
Mạnh Hùng và tôi dùng cơm tối. Trong câu chuyện, có lúc
ông buột miệng than: chế độ cộng sản
Việt nam chẳng mạnh ǵ, vấn đề là
người Việt nam không có ư chí tranh đấu ǵ
cả, người ta có cảm tưởng đó là
một đàn cừu. Phải thân t́nh làm Tauriac mới dám
tự cho phép nói câu đó v́ b́nh thường ông là
người rất nhă nhặn. Th́ ra ông cũng thất
vọng. Cả Nguyễn Mạnh Hùng và tôi đều
ngượng, nhưng đó là một sự thực mà chúng
tôi không thể phản đối. ư chí tranh đấu
của chúng ta c̣n kém cả các dân tộc châu Phi, chưa nói
châu Mỹ La Tinh. ở bất cứ một nước nào
khác, chắc chắn một chế độ như
chế dộ cộng sản Việt nam không thể yên
ổn như thế. Tôi chỉ biết giải thích cho
Tauriac rằng người Việt nam không hèn nhát, vấn
đề là họ đă quá thất vọng với
đất nước Việt nam và đă mất đi ḷng
yêu nước. Một lần nữa tôi nghĩ rằng
cần ḥa giải người Việt với đất
nước ḿnh.
Một người có lư do nào để yêu nước?
Người ta có thể yêu nước v́ quyền lợi.
Đất nước là trật tự an ninh, là công lư, là
công ăn việc làm, là an sinh xă hội, là sự bảo
vệ khi di chuyển trên thế giới. Nhưng tổ
quốc Việt nam lại chỉ là một de dọa và
một gánh nặng. Người dân có thể bị bắt
giam, quản chế, tịch thu tài sản một cách tùy
tiện. Họ phải đóng thuế, đút lót, hối
lộ cho quan chức nhà nước mà không được
chờ đợi ở nhà nước một quyền
lợi nào cả, ngay cả quyền phát biểu ư kiến
của ḿnh. Người ta có thể yêu nước v́
một niềm hănh diện. Người Mỹ hănh diện
v́ là công dân của siêu cường số một thế
giới. Người Pháp, người Anh, người
Đức và mọi người Tây Âu hănh diện v́ sự
giàu có và những đóng góp to lớn về văn hóa,
nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật của
nước họ cho nhân loại. Người Việt nam
chỉ có thể tủi hổ v́ sự thua kém bi đát trên
mọi phương diện của đất nước
ḿnh. Thỉnh thoảng cũng có những người
chưa giác ngộ cố gắng để tự hào
rằng chúng ta đă đánh thắng Pháp, thắng Mỹ,
v.v... Nhưng niềm tự hào đó chỉ có tác dụng
khiến cho chúng ta trở thành quê kệch trong một
thế giới văn minh ghê tởm tất cả những
ǵ liên quan tới bạo lực; hơn nữa nó c̣n xoáy vào
một vết thương trên cơ thể dân tộc mà
chúng ta cần quên đi.
Người ta cũng có thể yêu đất nước
v́ lư do giản dị là đó là đất nước
của ḿnh, như một người có thể yêu
đứa con của ḿnh không phải v́ nó tài giỏi, thông
minh hay giàu có, mà chỉ v́ nó là con ḿnh. Nhưng đất
nước Việt nam cũng không c̣n là của
người Việt nam. Nó đă bị chiếm
đoạt làm của riêng của đảng cộng
sản. Những công dân nào dám nói đất nước
phải như thế này, thế kia mới khá có thể
bị bỏ tù nếu những điều họ nói không
giống như đảng muốn họ nói. Mà
đảng cộng sản cũng không phải là của
hai triệu đảng viên cộng sản. Những
đảng viên, ngay cả các đảng viên cao cấp,
cũng không tự do hơn người khác, có khi c̣n bị
trói buộc hơn, càng cao cấp lại càng phải
phục tùng đảng hơn trong lời nói và hành
động. Đảng là một cái ǵ đó rất vô h́nh
v́ không là ai cả, nhưng lại rất cụ thể
như công an, ṭa án và nhà tù. Đất nước không c̣n là
của ai cả, dù cộng sản hay không cộng sản. Vậy
th́ ai có lư do để yêu nước? Người ta
cũng có thể yêu nước v́ được đào
tạo bởi một văn hóa yêu nước. Nhưng
trong cả hàng ngàn năm chúng ta đă chỉ
được đào tạo bởi văn hóa Khổng
Giáo, một thứ văn hóa vô tổ quốc, dạy
người dân thờ chủ chứ không yêu nước.
Thực ra đó cũng không phải là một văn hóa
đúng nghĩa mà chỉ là sự nhồi sọ có mục
đích huấn luyện những kẻ nô lệ phục
tùng chủ nhân một cách không thắc mắc. Người
Việt nam không có lư do ǵ để yêu nước cho
tới thế kỷ 20. Và sau đó họ được
nhồi sọ là phải yêu nước vô điều
kiện. Ngôn ngữ của tổ Quốc Việt nam
đối với người dân là mày phải yêu tao và
phục tùng tao tuyệt đối, c̣n tao không có bất
cứ bổn phận nào đối với mày cả.
Tổ quốc xấc xược và thô bạo. Không có ǵ
ngạc nhiên nếu người Việt nam không yêu
nước, ngay cả khi họ không dám thú nhận là không
yêu nước. Không có ǵ ngạc nhiên khi rất nhiều
người sẵn sàng từ bỏ tất cả
để ra đi chạy trốn nanh vuốt của
tổ quốc. Nhiều người, trong đó có chính tác
giả cuốn sách này, đă từng dự đoán sự
sụp đổ của chế độ cộng sản.
Những dự đoán này đều đúng cả nhưng
đă không xảy ra. Chúng ta dự đoán rằng
đảng cộng sản sẽ mất hết chỗ
dựa quần chúng, lư tưởng cộng sản trở
thành lố bịch, khó khăn chồng chất, áp lực
thế giới và trong nước lên đến mức
ngột ngạt, nội bộ đảng và nhà
nước phân hóa, v.v... Tất cả những dự
đoán này đều đúng cả, nhưng chế
độ vẫn không sụp đổ v́ lư do giản
dị là nó không gặp một sự chống đối
đáng kể nào cả. Ngay cả khi nó có ngă gục trên
chính quyền đi nữa, và trên thực tế có thể
coi là nó đă ngă gục trên chính quyền, th́ vẫn cần
một sức mạnh nào đó để kéo cái thi thể
đó đi chỗ khác.
Nhưng sức mạnh này chúng ta lại không có. Sai lầm
khổng lồ của nhiều tổ chức chống
cộng là đă chỉ dồn cố gắng để cô
lập và tảy chay chế độ, trước đây
chủ trương không gởi tiền giúp đỡ thân
nhân, không du lịch Việt Cộng, không đầu tư
vào Việt nam, sau đó vận động để Hoa
Kỳ đừng bỏ cấm vận, đừng thiết
lập quan hê ngoại giao, đừng hợp tác
thương mại, đừng cho chế độ
cộng sản hưởng qui chế quan hệ
thương mại b́nh thường, v.v..~ Mục tiêu
của những cố gắng này là nhằm làm dân chúng
căm thù chế độ và làm chế độ gặp
thêm khó khăn. Nhưng dân chúng đă căm thù chế
độ vô cùng rồi và chế độ cũng đă
chao đảo lắm rồi, nói cách khác mục tiêu đă
đạt được từ lâu rồi. Cái thiếu là
một kết hợp trên ư chí đổi đời và
kết hợp này chỉ có một ḷng yêu nước
thực sự mới có thể mang lại.
Nhiều người không nh́n thấy rằng ch́a khóa
của lối thoát là ḷng yêu nước. Nếu thực
sự yêu nước th́ người ta đều thấy
ngay sự cần thiết của một tập hợp dân
tộc mới và đă làm tất cả cố gắng và hy
sinh để tập hợp này ra đời, người
ta đă thực tâm đi t́m kiếm những người
có tâm huyết và khả năng để kết nghĩa,
đă hăng hái tham gia các tổ chức đấu tranh,
đă sẵn sàng hy sinh tư kiến và ḷng tự ái
để tổ chức được bèn vững và phát triển,
đă mong mỏi sát nhập tổ chức của ḿnh
với các tổ chức khác để h́nh thành một
tổ chức lớn hơn. Người ta cũng sẽ
rất phẫn nộ với nhưng phần tử
bịp bợm, gian trá, phá hoại, v.v... Và một mặt
trận dân chủ có tầm vóc đă h́nh thành từ lâu
rồi. Nhưng thực tế đă trái hẳn. Tôi đă
chứng kiến hnhiều tổ chức, chính trị
cũng như cộng đồng, được xây
dựng bằng rất nhiều công sức mà rồi tan
vỡ chỉ v́ những xích mích cá nhân rất nhỏ
mọn. Tôi cũng đă chứng kiến những tổ
chức thiếu cả về lư luận, nhân sự lẫn
phương tiện nhưng không hề có ư định sát
nhập vào một tổ chức nào lớn hơn
để rồi tàn lụi dần đi. Và hàng ngày tôi
vẫn thấy những khuôn mặt mà mọi người
đều biết là hời hợt, cải lương,
giả dối hay những tổ chức đă lộ rơ
chân tướng là thiếu lương thiện vần tiếp
tục hiện diện mà không bị lên án. Khi người
ta không cần phân biệt phải trái, đúng sai, tốt
xấu là người ta thực sự không quan tâm.
Đất nước sẽ đi về đâu?
Chúng ta thấy rơ là đất nước sẽ không ra
khỏi được t́nh trạng bế tắc hiện
nay, trừ trường hợp đảng cộng sản
dám lấy một quyết định thực táo bạo là
tự ư chuyển hóa thực sự về dân chủ.
Nhưng không có dấu hiệu ǵ là họ có đủ
dũng cảm đê lấy quyết định này, trái
lại chỉ có những dấu hiệu ngược
lại. Mặt khác, sự thay đổi đơn
phương này không phải là không có nhưng rủi ro.
Một chính sách cởi mở không chuẩn bị hoặc
không lương thiện rất có thể sẽ chỉ làm
bùng nổ những căm thù đă quá lớn và quá chồng
chất, đưa đất nước vào t́nh trạng
hỗn loạn. Để thay đổi, đảng
cộng sản cần một đồng minh khách quan:
một lực lượng dân chủ có hậu thuẫn
quần chúng và thực sự muốn dân chủ hóa
đất nước trong ḥa b́nh và trong tinh thần ḥa
giải dân tộc. Nhưng lực lượng này chưa
h́nh thành được v́ một mặt người
Việt nam không c̣n đủ ư chí để kết hợp,
và mặt khác, do một sự mù quáng khó tưởng tượng,
chế độ cộng sản đang dồn mọi
cố gắng để ngăn cản sự h́nh thành
của mọi đối lập ôn ḥa. Chúng ta bế
tắc
Như thế, với t́nh trạng này, chế độ
sẽ ngày một yếu đi, tiếp tục ruỗng nát
thêm từ bên trong, trong khi xă hội càng ngày càng phân hóa và suy
sụp, cho tới một lúc mà chính quyền trở nên
rỗng tuếch và không kiểm soát được t́nh
thế nữa v́ không c̣n phương tiện để cai
trị bằng bạo lực. Bất ổn và bạo
loạn sẽ xảy ra khắp nơi, nhiều vùng sẽ
không c̣n an ninh, trật tự và luật pháp. Lúc đó
tất cả có thể xảy ra.
Đừng nên để lịch sử lặp lại
một lần nữa. Chúng ta đă có một kinh nghiệm
bi đát. Năm 1533, người giáo sĩ Thiên Chúa Giáo
đầu tiên tới Việt nam giảng đạo.
Từ đó giao thiệp với phương Tây ngày càng gia
tăng, và tư tưởng phương Tây cũng
đến cùng với hàng hóa. Tới cuối thế kỷ
17 đă có khoảng 10% dân chúng theo đạo Công Giáo,
ảnh hưởng của tư tưởng Thiên Chúa Giáo
nói riêng và tư tưởng phương Tây nói chung đă
khá phổ biến trong dân chúng. Khổng Giáo, nền
tảng của chế độ quân quyền, đă lung lay
không c̣n đảm bảo được sự chính
đáng của chế độ nữa. Tuy vậy, cả
họ Nguyễn ở Đàng Trong lẫn họ Trịnh
ở Đàng Ngoài đầu không ư thức được
sự chuyển hóa không thể đảo ngược
được của xă hội mà họ đang cai
trị. càng chao đảo họ càng đàn áp, càng đàn áp
họ càng làm cho xă hội tan nát thêm và chế độ
của họ yếu thêm v́ mất cả ḷng dân lẫn
sự chính đáng. Cả hai chế độ Trịnh
Nguyễn đều mất dần nội dung và thực
lực. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí mô tả một xă
hội miền Bắc tan ră: chính quyền chỉ c̣n là cái
vỏ rỗng, thiếu cả ngân khố lẫn quân
đội. Quan triều đ́nh ra đường bị
dân chặn lại trấn lột ngay giữa kinh thành, dân
chúng ai có sức khỏe th́ đi ăn cướp. ở
Đàng Trong, họ Nguyễn cũng không khá hơn, trộm
cướp c̣n nhiều hơn và có tổ chức hơn
theo những ghi chép của các giáo sĩ và thương nhân
phương Tây. Và cả trong Nam cũng như ngoài Bắc
không có một lực lượng canh tân đứng
đắn nào ra đời. Thế rồi triều
Nguyễn sụp đổ v́ Trương Phúc Loan chuyên
quyền và triều Trịnh sụp đổ v́ loạn
kiêu binh của đám lính Tam Phủ. Nhưng Trương
Phúc Loan cũng như bọn lính Tam Phủ chỉ là
những giọt nước cuối cùng làm tràn một b́nh
đă đầy, hay một cơn gió nhẹ làm rụng
một chiếc lá đă khô. Tất cả chỉ là
biến cố ngẫu nhiên nhưng tất yếu của
một quá tŕnh phân ră. Không có Trương Phúc Loan này th́
cũng sẽ có một Trương Phúc Loan khác, không có kiêu
binh Tam Phủ th́ cũng có kiêu binh khác, v́ lư do căn bản
là chính quyền đă mất căn bản chính đáng và
quá yếu. Trong t́nh huống đó tất cả đều
có thể xảy ra, dù không có ǵ có thể dự báo
được
Trong sự thiếu vắng của một lực
lượng chính trị đúng đắn, sự suy
yếu của cả hai chế độ Trịnh,
Nguyễn cuối cùng đă chỉ để lại
một khoảng trống quyền lực và một xă
hội tan ră. Đảng cướp Tây Sơn, một
đảng cướp thuần túy, không có bất cứ
một dự án chính trị nào, đă cướp
được chính quyền nhờ mưu lược và
gan dạ. Họ đă cai trị đất nước
một cách tàn bạo, để rồi cũng bị tiêu
diệt một cách tàn bạo sau một cuộc nội
chiến đẫm máu. Chúng ta biết những ǵ đă
xảy ra sau đó: nước Việt nam kiệt quệ
và đă thất bại dễ dàng trong cuộc xâm lăng
của một đạo quân Pháp ít ỏi.
Ngày nay hơn hai thế kỷ sau, chúng ta đang
đứng trước một t́nh trạng tương
tự. Các tiếp xúc dồn dập với thế giới
bên ngoài và các phương tiện truyền thông ngày càng
hiện đại đă khiến khát vọng tự do dân
chủ lên cao; chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng
của chế độ cộng sản hiện nay cũng
như Khổng Giáo đă là nền tảng của chế
độ quân quyền ngày xưa, bị lố bịch hóa.
Chính quyền không chịu đổi mới kịp đ̣i
hỏi của t́nh thế và ngày càng phân hóa thêm. Cũng
giống hơn hai thế kỷ trước, chúng ta không có
một lực lượng xứng đáng làm một
giải pháp thay thế. Chúng ta đang tiến tới
một sự hỗn loạn tương tự, để
rồi khi chính quyền đă quá yếu, một lấy anh
chị nào đó nhờ táo bạo và khôn lanh, hay
được hậu thuẫn của ngoại bang, sẽ
nắm được chính quyền và làm đất nước
đă tan nát lại càng tan nát thêm. Và cũng rất có
thể nhiều người sẽ ca tụng tay anh chị
đó và dùng đủ mọi lư luận để bênh
vực, như nhiều người đă từng ca
lụng Nguyễn Huệ.
Nhưng thảm kịch đă xảy ra hơn hai thế
kỷ trước và thảm kịch có thể sẽ
xảy ra sắp tới có thể chỉ giống nhau
tới đó thôi chứ không thể giống nhau ở giai
đoạn tiếp theo. Xă hội Việt nam ngày nay đă
quá phức tạp và con người Việt nam ngày nay
cũng quá khôn ngoan để một người hay một
băng đảng dù mưu mô đến đều có
thể gom thu về một mối mà không cần một
dự án chính trị đúng đắn. Nước
Việt nam có thể bị ră nát thành nhiều mảnh,
dưới sự kiểm soát của nhiều thế
lực với những quyền lợi khác nhau và những
chỗ dựa khác nhau, như chúng ta đă chứng kiến
tại một số nước châu Phi. Lúc đó, trong
một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, với ư
niệm quốc gia dân tộc ngày càng bị tương
đối hóa, sẽ chẳng có bao nhiêu người c̣n
đủ tha thiết và quyết tâm để thống
nhất lại đất nước. Vả lại có
muốn cũng không được v́ thống nhất là
một điều rất khó thực hiện. Tôi có thể
quả quyết điều này theo kinh nghiệm cá nhân:
việc thống nhất các lực lượng rất thân
hữu với nhau và có tất cả mọi lư do để
kết hợp với nhau cũng đă quá khó rồi?
Việt nam có thể bị xóa bỏ như một quốc
gia không? Nhiều người quả quyết là không, và tôi
cũng tin như vậy. Nhưng điều đó chưa
chắc đă đáng mừng. C̣n có một điều quan
trọng hơn sự tồn vong của quốc gia
Việt nam, đó là cái trở thành của khối 80
triệu người Việt. Sự hấp hối của
một quốc gia kéo dài rất lâu, hàng thế kỷ. Trong
trường hợp một dân tộc đông đảo có
lịch sử sống chung lâu đời, có một văn
hóa khá đồng nhất và nhất là một ngôn ngữ
chung như Việt nam, cơn hấp hối đó có
thể kéo dài vô tận. Không chết được
nhưng cũng không sống. Và khối người
Việt nam sẽ ra sao? Sẽ chỉ có một số
rất nhỏ t́m được quê hương mới
tại những quốc gia dân chủ văn minh, trong
số rất nhỏ này cũng sẽ chỉ có một
số rất nhỏ hội nhập được thực
sự vào xá hội mới, số c̣n lại sẽ chỉ
là những công dân hạng thứ. Nhưng đó là những
người may mắn. Đại bộ phận
người Việt sẽ sống làm lũi, bơ vơ
ngay trên đất nước ḿnh dưới cái nh́n
vừa thương hại vừa khinh khi của thế
giới.
Nhất định chúng ta phải giữ lấy
đất nước Việt nam, ít nhất v́ chính
quyền lợi của chúng ta. Thế giới tương
lai sẽ không phải là thế giới của những con
người vô tổ quốc, đó sẽ là thế
giới của những quốc gia thân hữu. Quốc gia
là một bảo đảm và một không gian tương
trợ cần thiết cho cố gắng chung và thành công
chung. Quốc gia là môi trường tự nhiên cho mỗi
người để phát triển, như khu rừng
cần cho con cọp để vùng vẫy. Và quốc gia
cũng là một t́nh yêu để sống có hạnh phúc
như cái hôn của mẹ cần cho một đứa
trẻ để lớn lên.
Muốn giữ vững đất nước phải làm
lại đất nước. Và muốn làm lại
đất nước chúng ta không thể thiếu ḷng yêu
nước và tinh thần trách nhiệm. Đó là ch́a khóa
của vấn đề. Nhưng làm thế nào đễ
phục hồi lại ḷng yêu nước?
Trước hết mỗi người Việt nam phải
ăn năn và sám hồi. An~năn v́ chúng ta, mỗi
người chúng ta, đă ngây thơ coi tổ quốc
như là vô tận, không thể hao ṃn và đă không quan tâm làm
cho tổ quốc ngày một vững mạnh hơn và
đáng yêu hơn. Hay v́ chúng ta đă khờ khạo nghĩ
rằng ḿnh có thể tự giải quyết các vấn
đề cá nhân của ḿnh bằng những giải pháp cá
nhân như luồn lách, móc ngoặc, hối lộ, bỏ
nước ra đi, v.v... mà không ư thức rằng phải
có một giải pháp chung cho thảm kịch chung của 80
triệu người cùng một lịch sử, văn hóa
và cùng một số phận. Hay v́ chúng ta sẽ không
đủ thông minh để thấy cần kết hợp
với nhau, chung sức chung ḷng để cùng làm lại
đất nước. Mỗi người chống
cộng với tư cách cá nhân, tranh đấu một ḿnh
hay hài ḷng với những tổ chức bỏ túi. Chúng ta
đă tự cho ḿnh vai tṛ quá cao bởi v́ trí tuệ chúng ta
quá thấp.
Hay v́ chúng ta đă khiếp nhược, đă không dám
chống lại sự tồi dở và sự bạo
ngược, đă cúi đầu, đă giả câm giả
điếc để được yên thân.
Hay v́, một cách giản dị, chúng ta đá sai lầm
lớn khi nghĩ rằng đất nước không
cần thiết lắm cho đời ḿnh.
Sau đó, chính tổ quốc phải nhận lỗi về
những đầy đọa đă gây ra cho các con ḿnh, và
tự sửa đổi. Tổ quốc phải rời
bỏ bàn thờ thiêng liêng, tối cao và vô trách nhiệm
để thân thiện đến với mọi
người. Tổ quốc phải lột xác để
trở thành một tổ quốc khác, một tổ
quốc hiền ḥa thay v́ dữ tợn, một tổ
quốc có trái tim thay v́ có nanh vuốt, một tổ
quốc khuyến khích thay v́ cấm đoán, một tổ
quốc đáng yêu thay v́ đáng sợ, một tổ
quốc che chở thay v́ đe dọa. Tổ quốc
phải là một tổ quốc trách nhiệm, cụ
thể như một dự án tương lai chung và gần
gũi như một người bạn, một tổ
quốc biết hối hận và ăn năn. Tôi biết
chuyện một gia đ́nh đầu khổ, người
cha nghiện ngập, cờ bạc, hung bạo, gia đ́nh
là một địa ngục. Một ngày kia đứa con
đă lớn lên và quyết định bỏ đi.
Người cha bừng tỉnh, không ngăn con mà chỉ im
lặng nh́n con sắp xếp hành lư. Khi đứa con đă
ra đến cửa, ông rầu rầu xin lỗi nó và chúc
nó may mắn. ít lâu sau đứa con lại trở về.
Tổ quốc ăn năn th́ tổ quốc sẽ hồi
sinh, sẽ đẹp và mạnh. Và mỗi người
sẽ đều được phúc lợi. Cọp
lại có rừng để vùng vẫy, đứa trẻ
lại có mẹ để hôn.
Phần 5 Vươn
ḿnh lớn dậy
Gởi vào giấc mộng, nhắn ra cuộc
đời
Hồn
ai có đi về trên khói sóng
Và giờ đây thông cảm với hồn ta
Th́ lắng tai nghe mấy lời ca
Gở vào giấc mộng, nhắn ra cuộc đời.
Vũ Hoàng Chương
Xin cảm ơn các độc giả đă chiếu cố
đến cuốn sách này. Nếu bạn đă đọc
đến đây th́ hẳn bạn phải là một
người khá đặc biệt, một người
không cần đọc cuốn sách này để t́m
những kiến thức và ư kiến. Bạn đă
đọc hết cuốn sách v́ đă t́m thấy ở
đây một phần tư duy của chính ḿnh.
Vậy xin kết thúc cuốn sách bằng một lời phi
lộ. Một lời riêng nhưng cũng là chung.
Tôi ra đời vào giữa thế chiến II, lúc
đất nước c̣n đang bị ngoại thuộc
và, hơn thế nữa, bị ngoại thuộc một
cách ô nhục nhất. Một nắm nhỏ người
Pháp, đă thua trận và mất nước, vẫn c̣n duy
tŕ được một ách thống trị khắc
nghiệt trên cả nước. Họ đă chỉ bị
quân Nhật lật đổ chứ không phải bị
người Việt nam đứng lên đánh bại.
Đă có nhiều người Việt nam đứng lên,
nhưng trước mặt họ lại có một số
người Việt nam đông đảo hơn nhiều
tiếp tay giúp người Pháp duy tŕ ách thống trị
trên dân tộc ḿnh. Điều này măi măi là một vết
thương đầu cho tôi bởi v́ nó không cho phép tôi
tự hào về dân tộc ḿnh.
Từ đó đến nay đất nước không
ngừng thua kém hơn so với thế giới, trong khi
chúng ta đă phải trả những cái giá rất khủng
khiếp. Nhưng thất vọng liên tục chồng
chất đă làm đại đa số người
Việt mất ḷng tin vào đất nước, không c̣n
nghĩ tới nước nữa. Chúng ta không c̣n dự
định chung, do đó chúng ta ră hàng và bất lực. Và
đất nước trôi giạt về một
tương lai đầy bất trắc.
Khi tôi ngồi viết những ḍng này, t́nh h́nh đất
nước cũng tương tự như khi tôi ra chào
đời. Một nhóm người rất nhỏ, theo
đuổi một chủ nghĩa đă hoàn toàn phá sản,
lấy làm quan thầy và mẫu mực một chế
độ đă sụp đổ, vẫn tiếp tục
duy tŕ được ách thống trị thô bạo và
chặn đường tiến của dân tộc về
tương lai mà không gặp một chống đối
đáng kể nào. Tôi vẫn không thể hănh diện là
người Việt. Tôi đă có dịp sống và làm
việc trong ḷng chế độ cộng sản, đă
trao đổi thân mật và hiện nay vẫn
thường xuyên được tiếp xúc với
nhiều người của chế độ, có khi ở
những cấp bậc khá cao. Tất cả đầu
đồng ư rằng chế độ này phải dân
chủ hóa, nó không thể và không được quyền
tiếp tục như hiện nay. Nhưng chế
độ vẫn c̣n đó, và tiếp tục cai trị
một cách thô bạo. Cũng như trong thời thế
chiến II, mọi người đều muốn dân
chủ nhưng chỉ có một số ít đứng lên,
trước mặt họ là một số đông
đảo gấp bội cố luồn lách để
sống yên và, để sống yên, phải hợp tác
với chế độ và giúp chế độ tiếp
tục tồn tại. Sau hơn một nửa thế kỷ
thăng trầm và đổ vở, thảm kịch
của Việt nam vẫn thế. Đó là thảm kịch
của ư chí và niềm tin.
Tôi đă là một đứa trẻ may mắn. Cả làng
tôi, và có lẽ cả huyện tôi, đă chỉ có một
ḿnh tôi được đi học đến nơi
đến chốn, được đi du học sớm,
được quan sát thế giới và cũng
được một địa vị tương
đối khá trên cả quê ḿnh lẫn quê người. Dù
đă trải qua nhiều khổ đau và mất mát, tôi
vẫn là người rất được số phận
ưu đăi so với đồng bào tôi. Có thể nói ngày
nay tôi là một trong những người Việt ít ỏi
không cần đất nước, nếu chỉ cầu
mong một cuộc sống thoải mái cho ḿnh. Những ḷng
không thể yên. Vẫn c̣n cái tâm sự bẽ bằng
của một đứa con nhà nghèo đi làm con nuôi nhà giàu
bỏ rơi anh em. Vẫn có sự hổ nhục âm
thầm như khi đạp ga cho xe chạy nhanh, làm như
không nh́n thấy gia đ́nh người quen hư xe bên
đường giữa một đêm mưa gió. Và một
niềm ân hận rằng ḿnh đă không phát huy
được hết khả năng của ḿnh, đă
không làm được tất cả những ǵ ḿnh
muốn làm và có thể làm v́ không ở trong môi trường
tự nhiên của ḿnh; cuộc đời ḿnh nhỏ
lại và thấp xuống.
Điều làm tôi dằn vặt nhất hiện nay là h́nh
như đại đa số người Việt không nh́n
thấy một mối nguy lớn cho đất
nước. Chúng ta đều đồng ư ràng t́nh h́nh
hiện nay rất tệ hại cho đất nước
và phải chấm dứt. Nhưng h́nh như chúng ta chỉ
nghĩ rằng nếu t́nh h́nh này cứ tiếp tục th́
đất nước sẽ tŕ trệ, sẽ chậm
tiến và bị thua kém thế giới mà thôi. Chúng ta
chưa ư thức rằng t́nh h́nh này có thể đưa
đất nước đến chỗ giải thể.
Thế giới đă đi vào một kỷ nguyên mới,
trong đó ư thức quốc gia dân tộc bị xét lại
một cách triệt đẻ. Những quốc gia không
được hiểu như một dự án tương
lai chung, một t́nh cảm và một không gian tương
trợ cho cố gắng vươn lên của mọi
người sẽ không c̣n lư do tồn tại và sẽ không
thể tồn tại. Những quốc gia như thế
sẽ giải thể trong ḷng người, rồi giải
thể thực sự. Chúng ta đă chứng kiến
nhiều quốc gia tự tan vỡ mà không bị ngoại
xâm. Chúng ta cũng đă thấy nhiều quốc gia rất
dân chủ và phồn vinh mà vẫn bị chao đảo v́
những chủ trương ly khai chỉ v́ người
dân không c̣n nh́n thấy công dụng thực sự của
quốc gia nữa. Sẽ c̣n nhiều quốc gia khác bị
tan vỡ, và những quốc gia tan vỡ đầu tiên
sẽ là những quốc gia mà biên giới được
coi là hàng rào ngăn cản những giá trị phổ
cập của loài người, mà chủ quyền dân
tộc được hiểu như quyền tự do
lộng hành của một tập đoàn cầm quyền.
Chúng ta đang là một quốc gia như thế và chúng ta
đang đứng trước một t́nh trạng
khẩn cấp.
Một dằn vặt khác của tôi là h́nh như đa
số người Việt không nh́n thấy sự cần
thiết của đất nước cho chính đời
ḿnh. Chúng ta mơ ước, hoặc hài ḷng với một
cuộc sống trung b́nh tại hải ngoại. Chúng ta
thoả măn khi t́m được một việc làm vừa
đủ sống và không bị công an hạch sách ở
trong nước. Những khổ đau và chịu
đựng quá lớn và quá lâu đă làm cho chúng ta mất
tham vọng và nhỏ lại. Chúng ta định cư trong
sự nhỏ bé tinh thần và vật chất. Chúng ta đă
mất đi sự cao cả trong trí tuệ và tâm hồn.
Chúng ta không thấy rằng một quốc gia lành mạnh
sẽ là một không gian phát triển cho phép đời ta
vươn tới một tầm vóc lớn hơn, dù chúng
ta sống ở trong nước hay ở nước ngoài.
Tôi đă sống lâu năm tại Pháp, trong tuổi sinh viên
và trong tuổi hành nghề. Cuộc sống tại Pháp
đă cho phép tôi nh́n thấy một vài điều.
Nước Pháp có 60 triệu dân và có hơn nửa triệu
xí nghiệp hoạt động một cách lành mạnh.
Nước Pháp có khoảng một triệu cấp lănh
đạo, trong đó ít nhất một trăm ngàn cấp
lănh đạo rất quan trọng. Trong khi tôi đang
viết những ḍng này th́ tổng sản lượng
quốc gia của Pháp bằng 60 lần Việt nam, lợi
tức của mỗi người Pháp bằng 80 lần
mỗi người Việt. Pháp không phải là một
mẫu mực tại Tây Âu. Ho thua kém nhiều nước
châu Âu khác. Tổ chức chính quyền của họ
tập trong và kềnh càng. Các hoạt động phân
phối một cách không đồng đều trên lănh
thổ. Tâm lư người Pháp cũng không lành mạnh.
Nước Pháp gần như bị chia đôi, một
nửa dân Pháp năng động và sáng tạo trong khi
nửa kia vô trách nhiệm và trông đợi ở bao
cấp. Nhưng nếu chúng ta bằng được
nước Pháp? Đất nước chúng ta sẽ là
một môi trường bao la cho biết bao tham vọng chính
đáng, sẽ là đất dụng vơ cho biết bao tài
năng, sẽ là biết bao trách nhiệm vẻ vang cho
biết bao nhiêu người. Chúng ta sẽ thiếu rất
nhiều người cho rất nhiều công việc quan
trọng và đầy say mê. Mọi người,
trước hết là những người có kiến
thức, sẽ đều có nhưng trách nhiệm đáng
tự hào, sẽ không ai phải lo âu không có được
một chỗ đứng xứng đáng. Và chúng ta sẽ
không c̣n phải hổ thẹn trước mặt
người ngoại quốc.
Chúng ta sẽ hănh diện mà gọi tên đất
nước ḿnh.
Và tại sao chúng ta lại không thể bằng nước
Pháp? Tôi học với họ và làm việc với họ,
tôi rất ngưỡng mộ người Pháp, nhưng tôi
cũng không thấy họ hơn người Việt nam,
hay có hơn cũng không bao nhiêu. Con người Việt nam
có chất liệu tốt, chúng ta khá thông minh, hiếu
học, rất chăm làm và cũng giỏi chịu
đựng. Chúng ta có thể bắt đầu ngay bằng
cái sở trường của chúng ta là chịu học và
chăm làm. Dĩ nhiên về lâu về dài như thế
chưa đủ; chỗ đứng sau cùng của một
dân tộc vắn được quyết định
bởi óc sáng tạo và tinh thần mạo hiểm, hai
đặc tính mà chúng ta rất thiếu và cần phát minh
ra; nhưng trong t́nh trạng thua kém bi đát hiện nay,
hiếu học, chăm làm và chịu đựng cũng là
khá đủ để vươn lên. Rồi trong quá tŕnh
vươn lên chúng ta sẽ phát triển óc sáng tạo và tinh
thần mạo hiểm. Rất nhiều dân tộc chậm
tiến không có nổi tiềm năng con người
của chúng ta. Về lâu về dài chúng ta cũng không
phải là không có thể mạnh. Chúng ta là một quốc
gia bờ biển, biển mở rộng lănh thổ
của chúng ta, mở cửa đất nước chúng ta
ra thế giới và đem thế giới đến
với chúng ta. Chúng ta lại có một vị trí tuyệt
vời, nằm ngay giữa trung tâm của một vùng
đầy hứa hẹn và ngay sát nhiều trục giao
thông quan trọng. Chúng ta có thể phát triển rất
mạnh và, hơn thế nữa, c̣n có thể hưởng
thụ được cả sự phát triển của các
nước khác, bởi v́ trong một châu á phồn vinh sau
này, chúng ta là bờ biển Thái B́nh Dương của
cả Thái Lan, Kampuchea, Lào và Việt Nam. Điều mà chúng
ta thiếu chỉ là ư chí và tham vọng.
Hiện nay chúng ta đang đứng trước một
ngă ba đường đặc biệt. Một ngả là
sự giải thể quốc gia và cơn hấp hối
rất dài, trong đó người Việt sẽ lầm
lũi, bơ vơ, bị thế giới khinh
thường và hắt hủi. Một ngả khác là một
nước Việt nam phồn vinh đem lại hạnh
phúc và tự hào cho mọi người. Chúng ta chỉ có hai
lối đi: một bên là đường hầm đen
tối và lầy lội dẫn tới cái chết, một
bên là đại lộ thênh thang dẫn tới vinh quang.
Đại lộ vinh quang, hơn nữa, cũng là
đại lộ an toàn. Dân tộc ta đă phải trả
giá quá đắt cho hận thù và chia rẽ, cho óc
độc quyền lẽ phải, cho sự cuồng tín và
tôn thờ bạo lực. Chúng ta đă hiểu bằng máu
và nước mắt và đă chấp nhận trong da
thịt những giá trị giản dị nhưng mầu
nhiệm như ḥa b́nh, tự do, dân chủ và bao dung.
Chế độ độc tài này sẽ là chế
độ độc tài cuối cùng tại Việt nam,
với điều kiện là chúng ta vẫn c̣n là một
quốc gia sau cuộc thử thách này. Rũ bỏ
được nó, chúng ta sẽ vĩnh viễn đi vào
một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, dân
chủ, kỷ nguyên của những cố gắng chung và
của thành công chung. Con đường tiến tới
tương lai của chúng ta như vậy sẽ không quanh
co. Mặt khác, trong khi các nước châu á khác, v́ chưa
trải qua những kinh nghiệm đắt giá của chúng
ta, c̣n lưỡng tự giữa truyền thống và
tiến bộ, chúng ta sẽ chấp nhận một cách
quả quyết và nhiệt t́nh những giá trị phổ
cập của loài người tiến bộ, sẽ
lấy tự do làm động lực để tiến
tới, và chúng ta chắc chắn sẽ mau chóng bắt
kịp được sự chậm trễ.
Sự chọn lựa là hiển nhiên. Tất cả vấn
đề là chúng ta có c̣n đủ lạc quan và tin
tưởng để chọn con đường thênh
thang, và thực ra dễ dàng, dẫn tới vinh quang không,
hay sẽ để cho sự mệt mỏi và tuyệt
vọng xô đẩy vào con đường chông gai và
tăm tối dẫn đến sự tiêu vong?
Chính v́ thế mà, hơn lúc nào hết, đất
nước đang cần những con người hiếm
hoi c̣n giữ được niềm tin và ḷng yêu
nước, như một cơ thể suy nhược
cố tập trung sức lực c̣n lại. Những
người này phải ư thức được rằng
họ là một sắc tộc thiểu sổ phải dựa
vào nhau để sống và vươn lên. Giữa họ
phải có tinh thần kết nghĩa, phải chưa
gặp đă là anh em, chưa quen đă là chí hữu.
Phải kết hợp nhanh chóng, mạnh dạn, nhiệt
t́nh.
Họ phải hănh diện v́ sứ mạng trọng
đại và cao cả của ḿnh. Đổi lại ḍng
lịch sử, đổi số phận của cả
một dân tộc đông đảo gần một trăm
triệu người không phải là một cơ hội mà
đời người nào cũng có thể có.
Họ phải nhận diện đúng những trở
ngại trước mắt. Trở ngại lớn
nhất không phải là sự ngoan cố của chế
độ cộng sản mà là sự mệt mỏi và tâm lư
bỏ cuộc của người Việt. Thắng
được sự thụ động của quần
chúng, tạo được một sức bật mới
của ḷng yêu nước và của ư chí làm lại
đất nước th́ sự ngoan cố của chế
độ cộng sản sẽ tan biến mau chóng. Chế
độ này thiếu cả sức mạnh lẫn
quyết tâm, nó xấc xược chỉ v́ chúng ta nhu
nhược.
Họ sẽ phục hồi thế giá cho hoạt
động chính trị và cho những người
đấu tranh v́ đất nước bằng thái
độ và hành động. Họ sẽ không mất th́
giờ cho những hành động mị dân nhằm giành
giật cảm t́nh của một quần chúng cần
được thức tỉnh thay v́ mơn trớn. Họ
sẽ đốt đuốc đi t́m nhau. Họ sẽ
nhận diện nhau như những tinh hoa của
đất nước và như ư chí c̣n lại của dân
tộc. Họ sẽ kính trọng nhau và truyền sự
kính trọng đó cho quần chúng, gây lại niềm tin cho
quần chúng và tranh thủ sự hưởng ứng
của quần chúng.
Nếu trong cái rủi cũng có cái may th́ trong cái khó cũng
có cái dễ. Cái khó là với t́nh trạng quần chúng
hiện nay chúng ta không thể hy vọng h́nh thành nhanh chóng
được một kết hợp lớn. Cái dễ là
trong t́nh trạng phân ră hiện nay chúng ta không cần
một lực lượng lớn mà vẫn có thể là
lực lượng áp đảo nhất, và thành công.
Trước hết hăy tự giới hạ trong thành
phần tinh nhuệ, nghĩa là thành phần có đạo
đức, lư tưởng, quyết tâm, có tŕnh độ
hiểu biết tạm đủ, và có khả năng
hội nhập trong một đội ngũ. Một ngàn
người như thế có thể là một lực
lượng đủ để hành động. H́nh thành
được một tập hợp như vậy là chúng
ta đă có thể báo tin mừng cho dân tộc về sự
ra đời của hy vọng, bởi v́ sau đó mọi
việc đều dễ và t́nh h́nh đất nước
có thể thay đổi rất nhanh chóng.
Chúng ta có cả một kho tàng nhân sự chưa
được khai thác.
Nhưng người muốn đổi đời không
thiếu trong nước cũng như ngoài nước,
trong cũng như ngoài bộ máy nhà nước, kể
cả đa số đảng viên cộng sản.
Điều chúng ta thiếu là một tụ điểm cho
những khát vọng. Một tập hợp của
khoảng một ngàn người có trí tuệ và trái tim
đủ để làm tụ điểm đó. Khó khăn
là tạo ra tập hợp này. Nhưng đó là mục tiêu
trong tầm tay.
Chúng ta không khởi hành từ số không. Chúng ta đă
sẵn có một số người. Chúng ta có khát vọng
thay đổi của tám mươi triệu người.
Chúng ta cũng có cả một kho tàng những người
muốn làm một cái ǵ cho đất nước nhưng
c̣n cảm thấy bất lực v́ cô đơn và đang
chờ đợi một kết hợp dân chủ đáng
tin cậy.
Nhưng hành trang quan trọng nhất của chúng ta vẫn
là một niềm tin và hănh diện âm thầm nhưng mănh
liệt ở trong ḷng. Chúng ta đang phấn đấu
để cứu đất nước do ông cha để
lại và để chuyền nhượng lại một
đất nước đẹp hơn và đáng tự
hào hơn. Đó là một cuộc đấu tranh cao cả
v́ nó không nhằm tiêu diệt hay hạ nhục một ai, mà
nhàm giải thoát và thăng hoa mọi người. Đó là
một cuộc đấu tranh chính nghĩa. Ḷng dân hôm nay là
của ta, chúng ta thực hiện di chúc dựng nước
của người xưa với t́nh yêu nồng nàn dành cho
các thế hệ mai sau. Chúng ta có đồng bào, tổ tiên
và con cháu. Chúng ta có hiện tại, ngh́n trước và ngh́n
sau.
Vậy th́ chúng ta hăy nắm tay nhau cùng phấn đấu và
cùng mơ ước một tương lai Việt nam chung.
Ngay hôm nay và bây giờ.
Paris, ngày 8 tháng 11 năm 2000
Một
số nhận định về Tỏ QUốC ĂN
NĂN và tác giả
Tổ
quốc ăn năn là một tác phẩm chính luận
rất khác với những ǵ chúng ta thường
đọc. Mục dịch của nó là đề nghị
một kế sách cho việc phát triển đất
nước khi thật sự bước vào kỷ nguyên dân
chủ đa nguyên. Nhưng không phảí chỉ có thế.
Tác giả quyển sách đă trải qua kinh nghiệm
của một nhà hoạt động, và dựa trên kinh
nghiệm bản thân để nhận ra những khó
khăn của một hành tnnh dân chủ và phát triển cho
đất nước. Tác giả đă làm một việc
rất mới đối với một luận văn
chính trị: đó là duyệt lại đi sản của
lích sử và văn hóa của dân tộc mà ông xem là những
trở ngại chính cho một hành tŕnh về tương
lai phồn vinh cho đất nước.
Di sản của lịch sử và văn hóa là những
nguyên lai của sự kiện tại sao dân tộc chúng ta
lại lạc hậu bần cùng như ngày nay. Duyệt
lại di sản văn hóa của dân tộc là một
việc lớn, và khó. Tác giả đă làm một việc
như thế trong suốt ba phần đầu của
sách. Một cống hiến xuất sắc nữa là tác
giả đă đưa ra một chương tŕnh kiến
tạo lái đất nước để thật sự
tiền về kỷnguyên dân chủ đa nguyên, phồn
vinh và phát triển.
Bàng bạc sau những trang viết là một tấm ḷng
nhân ái và tấm ḷng lo trước của một công dân yêu
tổ quốc thắm thiết.
Đoàn Xuân Kiên
(chuyên viên ngữ học, nhà b́nh luận, Lon don)
Được đọc góp ư và sửa chữa Tổ
quốc ăn năn là một niềm vui lớn cho tôi.
Độc giả có thể đồng ư hay không
đồng với tác giả, nhưng Tổ quốc ăn
năn là cuốn sách chính luận độc đáo nhất
do một người Việtnam viết ra trong thế
kỷ 20. Nó cũng là một cuốn sách có thể dùng làm
chuyên cho thể văn chính luận tiếng Việt và,
một phần nào cho tiếng Việt nói chung. Rất ít khi
tiếng Việt được sử dụng một cách
chính xác và truyền cảm bằng trong cuốn sách này, nó
làm cho người ta yêu tiếng Việt và tự hào về
tiếng Việt. Chắc chắn nhiều độc
giả sẽ đồng ư với tôi
Nguyễn Văn Huy
(chuyên viên dân tộc học, nhà văn, nhà báo)
Nguyễn Gia Kiểng không thích đi đường ṃn.
Hắn luôn khai phá. Luôn đặt ngược những
sự việc đă tưởng mặc nhiên là thế,
không cần bàn căi nữa. Chuyện hắn thích chọc
ngoáy những cái đă định h́nh, và chuyện về
những vấn đề mà hắn đă nêu ra và sẽ c̣n
nêu ra, là chuyện thường ngày, chuyện
đương nhiên, không thể khác. Chấp nhận hay
không chấp nhận lập luận của Kiểng là
việc của mỗi người đọc hắn, tùy
thuộc nhăn quan, và cả tính t́nh, của người
đó.
Cái mà Kiểng muốn là sự tranh căi, chứ không phải
những tràng vỗ tay. Hăy để cho hắn có cái mà
hắn muốn. Tôi không thích tranh luận về những
đề tài Kiểng nêu ra. Phần lớn chúng nằm
ngoài thời biểu của tôi. Một số nằm ngoài
tầm hiểu biết của tôi.
Điêu tôi ghi nhận ở những ǵ tôi đọc
được của Kiểng là cái mới, cái độc
đáo của văn phong mang dấu ấn không trộn
lẫn được của Nguyễn Gia Kiểng.
Hắn đưa vào tiếng Việt những cách nói
mới, có vẻ phương Tây đấy, mà lại
rất Việt. Sẽ có nhưng người nghiên cứu
ngữ ngôn đánh giá công lao của hắn, và biết
đâu đấy, rồi đây họ lại chẳng trân
trọng cho hắn hẳn một ṿng nguyệt quế.
Vũ Thư Hiên
(nhà văn, tác giả Đêm Giữa Ban Ngày, Pháp)
Một lằn nữa, kẻ hèn Nguyễn Gia Kiểng lại
làm một chuyện chẳng hèn chú tnào: một quyển sách
dày 600 trang và buộc tất cả chúng ta phải xét
lại toàn bộ những định kiến về
lịch sử, văn hóa và con người Việt nam. Chúng
ta đă được hé thấy một phần suy
nghĩ táo bạo của tác giả qua mấy bài đă
được công bố trên báo lấy từ cuốn sách
ra: bài về kẻ sĩ, bài về Quang Trung, v.v... Không ít
người bực tức v́ những niềm tin sắt
đá được nuôi dưỡng từ nhỏ, từ
trong gia đ́nh ra ngoài xă hội đến vào học
đường, bỗng một sớm một chiều
bị lung lay tận gốc rễ. Nhưng ở trong
đời, chính những biến cố lớn, những
vụ động đất mới để làm cho ta
thức tỉnh. Đồng ư hay không là một chuyện,
nhưng có điều thực là sống mà tỉnh thức
th́ rất nên, nên lắm nữa là khác.
Nguyễn Ngọc Bích
(học giả, nhà báo, Hoa Kỳ)
Nguyễn Gia Kiểng thuộc hàng ngũ chuyên viên trẻ
phải bỏ nước ra đi sau năm 1975. Sáng
kiến, lối suy luận độc đáo, can
đảm trí thức và ḷng yêu nước đă tạo cho
ông một thế đứng đặc biệt trong
cộng đồng người Việt hải ngoại.
Các bài viết của ông từng gây ra tranh luận sôi
nổi và tạo cho ông lắm kẻ thù nhưng cũng
đem lại cho ông nhiều người mến mộ.
Nếu cứ nh́n vào việc trước mà tính đến
chuyện sau, người ta có thể đoán rằng
cuốn Tổ quốc ăn năn sẽ gây ra nhiều
tranh luận và kích thích được những suy nghĩ
hữu ích. Trong thư viết cho bạn bè, ông tâm sự
rằng nếu tôi nói lên được mười
điều mà trong đó có chín điều sai, một
điều đúng th́ cũng là một đóng góp rồi? Lập
luận đó làm tôi giật ḿnh. Một người nhún
nhường quá đáng hoặc đang bị lửa
đốt tâm can mới thốt ra như vậy.
Người làm chính trị mà như vậy, nhỡ
người ta bảo rằng anh này sai nhiều hơn
đúng th́ sao?
Nguyễn Mạnh Hùng
(giáo sư đại học George Mason, Virginia,
chủ tịch Indochina Institute, Hoa Kỳ)
Nguyễn Gia Kiểng là một trí thức dám thẳng
thắn và can đảm nói lên những điều ḿnh nghĩ,
minh tin là đúng, cho dù có làm phật ḷng người khác.
Đó là điểm son của Nguyễn Gia Kiểng. Khác
với đa số người khác, chỉ nói cho phải
đạo với đám đông.
Đinh Quang Anh Thái
(kư giả, cựu tù nhân chính trị, Hoa Kỳ)
Ông Nguyễn Gia Kiểng là một người vốn có ư
kiến độc đáo về các vấn đề
đất nước. Và cách tŕnh bày của ông
thường làm người khác ư kiến dễ bất
măn. Nhưng - tôi nghĩ - chủ ư của ông Kiểng là
bằng cách đó mới tạo ra tranh luận để
các vấn đề được đào sâu. Tổ
quốc ăn năn, chỉ đọc cái đầu
để của cuốn sách đă muốn tranh luận
rồi, huống chi đọc hết hơn 600 trang
cuốn sách đa sự của ông.
Trần B́nh Nam
(nhà hoại động và b́nh luận chính trị, Hoa
Kỳ)
Nguyễn Gia Kiểng nh́n về tương lai mà không
để ư đến quá khứ. Th quan về phân tách m à
xao lăng tổng hóp. Phê phán nhiều mà ít khi khen ngợi. H́nh
như chỉ muốn đi t́m đối thủ mà ít khi
kết nghĩa bạn bè. Tuy nhiên điều kỳ lạ
là mới gặp anh lần đầu mà tôi đă có cảm
tưởng như đă quen biết từ nhiều
kiếp trước. Anh phê phán nhiều v́ dân tộc chúng ta
đang giẫy chết trên xảo ngữ ngọt ngào. Anh
chỉ phân tách v́ chúng ta đầy ắp những tổng
hợp vô giá ttị. Anh dũng mănh tiến vào tương
lai v́ đă gói ghém trong tâm thức quá khứ đsu
thương của dân tộc Tôi coi Nguyễn Gia Kiểng
là một đồng chí rất tốt trong cuộc
đấu tranh cho tương lai Việt nam.
Đào Tăng Đức
(luật sư Hiệp Hội Dân Chủ Pháp Tŕ,
tác giả Việt nam Dân Chủ Tranh Dấu Luận, úc)
Nếu giá trị của nghị luận chính trí là thúc
đẩy người đọc h́nh thành một nhận
định, có một thái độ và từ đó (nếu
có thể) làm một hành động chính trị, th́
Nguyễn Gia Kiểng là người thành công nhất ở
hải ngoại và trong một giới hạn nào đó,
cả ở trong nước. Tại sao những bài
viết của Nguyễn Gia Kiểng có sức hấp
dẫn người đọc? Tôi cho là ông Nguyễn Gia
Kiểng nắm được cả hai yếu tố
nội dung và h́nh thức khiến một bài nghị
luận phải được chú ư. ấy là ư
tưởng và nghệ thuật diễn đạt ư
tưởng.
Nhờ có đầu óc cấp tiến, một kỹ
thuật phân tích thuận lư và một cách lư luận thông
minh, Nguyễn Gia Kiểng gây hứng khởi cho rất
nhiều suy nghĩ về tương lai Việt nam. Gía
trị các bài viết của Nguyễn Gia Kiểng c̣n
đọc nhân lên nhiều lần nhờ lối hành
vẫn trong sáng.
Bằng một thái độ tranh luận thẳng
thắn, lương thiện và triệt để,
Nguyễn Gia Kiểng đă tạo được sự
chú ư của dư luận qua nhiều cuộc tranh căi sôi
nổi trong nhiều tầng lớp người Víệt
hải ngoại. Cũng chính những đức tính ấy
đă góp phần tạo nên sắc thái độc đáo
của riêng một Nguyễn Gia Kiểng trên diễn đàn
dân chủ hiện nay.
Sơn Dương
(kư giả, úc)
Tôi muốn có nhiều Nguyễn Gia Kiểng hon nữa,
nhưng đồng thời muốn những Nguyễn Gia
Kiểng série 2 này, ngoài thái độ khiêu khích về
mặt tư tưởng, th́ lại rất khiêm tốn
về mặt hành văn, rất thận trọng trong
sự lựa chọn từ ngữ để tránh gây trong
độc giả cảm tưởng rằng tác giả
khinh miệt ḿnh, cho ḿnh là number ten trong khi tác giả là number
one về mặt trí tuệ, kiến thức và lo cho phúc
lợi chung.
Tôn Thất Thiện
giáo sư, nhà nghiên cứu và b́nh luận chính trị, Canada
Lập trường của Nguyễn Gia Kiểng là chỉ
nên đưa ra nhưng ư kiến mới, hoặc khác;
nếu ḿnh nói ra mười điều mới trong đó
có tới chín điều sai và chỉ có một điều
đúng th́ ḿnh vẫn c̣n đóng góp được một
cái ǵ đó, c̣n hơn là viết mựí điều đúng
cả mười nhưng đều là những
điều đă biết rồi. Tôi cho đó là một thái
độ khiêm tốn, tơn trọng th́ giờ của
người đọc.
Nguyễn Hữu Chung
chuyên gia, nhà b́nh luận chính trị, Canada