I Nguyên Nhân Ly Hương
'Thà
chết ngoài biển còn hơn sống với cộng
sản.'
Câu
nói mà nhiều đồng bào ở Việt Nam thường
thì thầm với
nhau sau năm 1975.

Nguyên nhân chính đưa đến cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do mang tầm vóc lịch sử của nhân dân Việt Nam là chính sách công an trị của Hà Nội dã man tiêu diệt sự tự do cũng như tất cả các phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản.
Huyền thoại lịch sử minh định dân tộc Việt Nam là con cháu của Hùng Hiền Vương Lạc Long Quân và Hoàng Hậu Âu Cơ vốn thai sinh được 100 vương tử. 'Sau khi chia 15 bộ cho 15 con trai đầu lòng để giữ quyền trị dân ở các trọng trấn, vua Hùng Hiền Vương một hôm nói với Âu Cơ rằng: Ta vốn là con cháu thủy thần, nàng thuộc nòi tiên, nước lửa khắc nhau không thể kết hợp lâu dài được. Vậy xin chia tay để giữ lấy dòng giống. Nàng nên đem 50 con lên núi, ta đem con xuống bể.'[1] Quốc Mẫu Âu Cơ theo ý ngài và hướng dẫn 50 hoàng tử lên khai khẩn vùng rừng núi nước Việt. Hùng Hiền Vương đưa 50 hoàng tử còn lại di chuyển về hướng biển Ðông để dựng vương nghiệp Văn Lang nhằm 'giữ lấy dòng giống;' và nền tảng lịch sử thượng cổ của Việt Nam thay đổi hoàn toàn từ ân điển khai tạo đó. Năm ngàn năm sau, để tránh cơn hồng nạn ý thức hệ ngoại lai, gần một triệu người Việt vượt biển Ðông thành công và sau đó định cư khắp nơi trên thế giới; nền tảng lịch sử hiện đại của Việt Nam chuyển hóa hoàn toàn từ minh điểm khai phóng đó.
Thuyền nhân [2] là người Việt tị nạn (i) trốn chạy sự đàn áp và chính sách tiêu diệt lối sống cũng như tư tưởng phi-cộng-sản của chính quyền Hà Nội, và (ii) bất kể cái chết đã dùng thuyền, bè, ghe, tàu, xuồng, phao, v.v., để vượt biên sau ngày 30-4-1975. Từ khi chính quyền cộng sản Hà Nội áp đặt guồng máy kiểm soát trên toàn miền Nam, trong khoảng 2 triệu người Việt cố gắng vượt thoát khỏi gộng kềm công an trị, gần 800.000 thuyền nhân đến được bến bờ tự do. Trong thành phần thất bại có một số người 'đi chui' đã bị lừa và cuối cùng bị giam cầm, xử phạt, v.v., một số khác bị công an khu vực hay biên phòng bắn chết trong lúc cố gắng trốn bố ráp, và rất nhiều người bị hải tặc cướp của, hãm hiếp, giết hại, hoặc bị gió to sóng lớn của biển Ðông Hải hay vịnh Thái Lan chôn vùi dưới lòng bể.
Vấn đề tị nạn không phải là một vấn đề mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc đối đầu triền miên với sự tàn nhẫn của chiến tranh - đặc biệt là chiến tranh ý thức hệ. Trước khi chính quyền Sài Gòn đầu hàng vào tháng 4-1975 trong sự bàng hoàng của nhiều người, Việt Nam có khoảng 10 triệu nạn nhân chiến tranh nhưng không ai 'vượt biên' hay trốn chạy khỏi nước. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống quy hương cho nên không ưa thích thảm cảnh xa xứ với bất cứ lý do nào.
'Con người có Tổ, có Tông,
Cái cây có cội, con sông có nguồn.'
'Nhà quê có họ, có hàng
Có làng, có xóm, nhỡ nhàng có nhau.'
Quê cha xứ tổ là biểu tượng cội nguồn của gia tộc, là nơi mà mồ mả cha ông an định và cần được chăm sóc thường xuyên. Những người phải xa nhà vì nghề nghiệp hay các lý do khác là kẻ bất hạnh và kém may mắn; vì thế cho nên việc ly hương là việc chẳng đặng đừng mà không ai mong muốn. Ngay trong giai đoạn thuộc Pháp, việc đi phu vào Nam hay sang Nam Vang để kiếm sống bị đánh giá như một đại nạn trong đời; và nhiều sách báo cũng như ca dao từng than thở về nỗi khổ cực xa nhà này. 'Nam Vang lên dễ khó về; Trai theo bạn biển, gái về tào kê.'
Làn sóng tị nạn Việt Nam trước năm 1975 chỉ xoay quanh trong biên thùy quốc gia bởi vì người dân lúc đó còn có một khoảng trời tự do trong vòng đai bảo vệ của chính quyền Sài Gòn để tạm cư chờ ngày trở về nguyên quán sau khi quân đội cộng sản rút lui hoặc bị đánh bật khỏi vùng chiếm đóng. Sự sụp đổ bất ngờ của chính thể miền Nam vào tháng 4-1975 dẫn đến các thay đổi cơ bản trong xã hội kể cả hướng đi của làn sóng tị nạn Việt Nam. Bán đảo Ðông Dương không còn vùng đất tự do nào cho những người tị nạn cộng sản; và vì vậy cho nên họ không có sự lựa chọn nào ngoài định hướng vượt biên.
Sau khi khống chế toàn miền Nam, guồng máy công an trị của Hà Nội thẳng tay tiêu diệt mọi vết tích và mầm móng tự do. Tất cả các thành phần phi cộng sản bị nghi kỵ và đối xử như kẻ thù; hàng triệu người từ thành phần trí thức, thương nhân, dân tộc thiểu số, quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hòa và gia đình của họ, v.v., trở thành tù nhân triền kiếp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Hàng trăm ngàn người bị khép vào 'thành phần phản động' và bị giam cầm trong các trại tù khổng lồ được mệnh danh là trại cải tạo. Nền kinh tế thị trường của miền Nam bị xáo trộn, giới hạn rồi tiêu hủy bởi những vụ đánh tư sản, các trạm công an truy xét cấm giao dịch và một số chiến dịch đổi tiền, v.v., nhằm hợp pháp hóa vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trong âm mưu cưỡng chiếm tài sản nhân dân. Chủ trương đảng trị của Hà Nội dựa trên lý lịch ba đời hệ thống hóa sự kỳ thị của chính quyền đối với nhân dân, đặc biệt là gia đình 'ngụy quân, ngụy quyền,' 'tư sản mại bản,' 'tư sản dân tộc,' hay 'trí thức tiểu tư sản;' song song, tất cả những ai không dính dáng hay liên hệ đến vòng đai đảng quyền đều bị xem là thành phần không đáng tin cậy và bị kỳ thị trực tiếp hay gián tiếp. Ðối với những ai không còn chịu đựng nổi sự đàn áp của guồng máy công an trị để phải đi đến sự chọn lựa giữa đời sống nô lệ ý thức hệ và nỗ lực tìm tự do trong cái chết, họ quyết định vượt biên hay ly hương để trốn khỏi 'thiên đường cộng sản' mặc dầu phải đánh đổi cả mạng sống.
Bị bắt
buộc xa quê nhà là niềm bất hạnh, nhưng bị
đàn áp xua đuổi ra khỏi quốc gia là một
thảm trạng khó có thể tưởng tượng
nổi. Có nhiều động lực phức tạp liên
quan đến các lãnh vực quốc trị từ kinh
tế, chính trị đến xã hội, tôn giáo đã
đóng góp vào quyết định vượt biên, nhưng
nguyên nhân chính đưa đến cuộc ly hương
khổng lồ của người Việt trong một
phần tư cuối của thế kỷ 20 là sự
đàn áp và chính sách tiêu diệt sự tự do, lối
sống cũng như tư tưởng phi-cộng-sản
của chính quyền Hà Nội.
Sự nhất quyết ra đi của thuyền nhân
bất chấp cái chết chứng minh tinh thần phản
kháng không chỉ chính sách chủ nghĩa xã hội mà còn
luôn cả sự dã man của guồng máy bạo lực mà
Hà Nội xử dụng để kềm chế nhân dân
Việt Nam.
Chính
sách trục xuất nhân dân ra khỏi quốc gia của Hà
Nội
Sau ngày 30-4-1975, khi đối diện các kết quả thê thảm do chính sách ý thức hệ của Hà Nội đem đến, một vài nhân vật ngoại quốc thiên tả lý luận hời hợt rằng mặc dầu không có tự do nhưng người Việt được vui sống hòa bình trong một quốc gia thống nhất sau năm 1975. Sự thật hoàn toàn trái ngược với lập luận phiến diện đó bởi vì Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nhà tù khủng khiếp - nơi mà thành tựu duy nhất của Hà Nội là sự tàn phá tài nguyên quốc gia và di sản tác hại của chủ trương tiêu diệt tự do, tư tưởng cũng như lối sống phi-cộng-sản. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoàn toàn không có cảnh 'vui sống hòa bình' bởi vì người dân luôn luôn sợ hải quá khứ, lo âu cho tương lai và nghi kỵ mọi người chung quanh. Nhân dân Việt Nam thực sự là nạn nhân của chế độ cộng sản vốn không cho họ hưởng bất cứ quyền tự do gì ngoại trừ quyền quy phục và hy sinh cho các cuộc viễn chinh ý thức hệ. Tất cả các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp bất bạo động, v.v., đều bị Hà Nội tước đoạt. Những ý tưởng chính trị phi-cộng-sản bị cấm đoán, và bất cứ ai lên tiếng kêu gọi tự do dân chủ hóa guồng máy quốc trị sẽ bị tống giam trong các nhà tù cải tạo khổng lồ.
Nhà ngoại giao Úc Bruce Grant và một nhóm ký giả đã kết luận sau khi nghiên cứu về du trình lịch sử của thuyền nhân vào cuối năm 1979:[3] 'Trong nhóm người Việt Nam, nguyên nhân ly hương vì duyên cớ chính trị rất rõ ràng .. Tuổi của người tị nạn từ miền Nam .. đa số dưới 35. Có rất nhiều phụ nữ và trẻ em. Một số thanh niên bảo rằng họ ly hương để tránh khỏi bị bắt đi bộ đội. Một số người bảo rằng họ là nạn nhân của sự đàn áp và áp bức chính trị; những người khác bảo rằng họ sợ sự ngược đãi tương tự. Sự sợ hãi những gì có thể xảy ra là một động lực mạnh đôi khi dẫn đến một vài hoàn cảnh quái dị.. Cảm giác xa cách với tân chính quyền cộng sản và cảm giác liên hệ gần gũi với chính quyền cũ xảy ra rất thường, và nhiều lần bị lẫn lộn với động lực kinh tế: niềm tin là đời sống của họ và con cháu rất ảm đạm. Sự sợ hãi phải 'đi cải tạo' hay phải 'đi kinh tế mới' cũng rất minh bạch.'[4] Trong một bản tường trình vào tháng 3-1979, văn phòng Phối Trí Viên Tác Vụ Tị Nạn Hoa Kỳ xác định rằng[5] 'đại đa số (thuyền nhân) đến bây giờ ra đi không phải do liên hệ trực tiếp với Hoa Kỳ, nhưng bởi vì họ muốn trốn chạy khỏi sự tàn phá của chiến tranh triền miên cũng như sự đàn áp và ngược đãi đến từ nỗ lực thay đổi xã hội..' của tân chính quyền cộng sản.[6]
Dĩ nhiên là để bào chữa cho chính sách áp chế ý thức hệ tàn nhẫn, Hà Nội phải miệt thị thuyền nhân là những kẻ phản động không chịu đựng nổi các khó khăn kinh tế. Thay vì chấp nhận trách nhiệm bảo vệ và phát triển sự phúc lợi và công quyền của nhân dân, chính quyền cộng sản lại chọn lựa phương pháp phỉ báng thuyền nhân để ngụy biện cho guồng máy công an trị. Vào năm 1979 trong lúc trào lưu vượt biên lên cao nhất, bản tin Anh ngữ Vietnam Courier của Hà Nội trình làng một bài viết có đoạn hạ nhục khối người Việt tị nạn hải ngoại như sau:[7]
'Ðại
đa số rời Việt Nam vì lý do kinh tế, không
thể chịu đựng sự thiếu thốn và
thất bại trong việc tìm kiếm một nghề
nghiệp thích hợp..
Một
số là cựu tội phạm chiến tranh, hay là thành viên
của hệ thống phản cách mạng cảm thấy
sắp bị phát hiện. Về trường hợp
của thành phần trí thức, một vài nguyên nhân
tồn tại hỗn hợp tùy mức độ. (Nhưng)
Tất cả đều phải đối đầu
với sự giảm sút tiêu chuẩn đời sống
đáng kể.. Sự khó khăn (mà họ) cảm
nhận để thích hợp với các giới hạn
của một xã hội cách mạng.'[8]
Hà Nội còn vu khống là một số đồng bào ra đi vì sự khuyến khích của 'các động lực đế quốc và phản cách mạng' ở Bắc Kinh và Hoa Thịnh Ðốn.[9] Một thời Hà Nội từng tố cáo là Bắc Kinh đem bỏ 100.000 công dân Trung Hoa trong hải phận Việt Nam để họ giả làm người tị nạn. Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch quả quyết rằng: 'Nhiều thuyền nhân tại các nước thuộc ASEAN sự thật đến từ Ðại Lục. Khoảng hơn 100.000. Họ (Bắc Kinh) rất khôn ngoan. Chúng tôi đã chận bắt một số tàu từ Ðại Lục di chuyển về hướng Ðông Nam Á.. nhiều người không nhận ra được việc này bởi vì người Hoa từ Ðại Lục giống như (những người Hoa) từ Việt Nam.'[10] Trong một lá thư gởi cho 'bằng hữu Tây phương,' giới trí thức của Hà Nội đã phỉ báng các thuyền nhân trốn khỏi chế độ xã hội chủ nghĩa; lá thư đó vô ý làm lộ ra sự thật là 'sự lạm quyền, lỗi lầm, vụng về thỉnh thoảng' xảy ra nhưng ngụy biện là các tệ nạn như vậy là 'những thay đổi cần thiết.'
Mặc dầu bề ngoài thì chính quyền CHXHCNVN cố gắng núp sau các lý luận mang ác ý phỉ báng kể trên nhưng trong những cuộc họp mặt riêng với các phái đoàn quốc tế, quan chức Hà Nội hé lộ một chính sách thực tế hoàn toàn có tính cách chiến lược để đối đầu với nhân dân miền Nam: chính sách tống xuất khoảng hai đến ba triệu dân ra khỏi biên thùy quốc gia để đảng Cộng Sản có thể dễ dàng thực hiện các chương trình ý thức hệ nhằm Mát-xít hóa toàn quốc.
Vào
tháng 12-1978, một nhà ngoại giao của Hà Nội
thố lộ là đồng bào miền Nam đã quen
thuộc với đời sống tự do chính trị và
kinh tế; và sau năm 1975, chính quyền cộng sản không
thể thay đổi đường lối suy tư
của họ và vì vậy cho nên mong là họ bỏ nước
ra đi để tân chính phủ có thể bình định
tình hình chính trị tại miền Nam.[11] Vào tháng 6-1979,
Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch phát
biểu là đa số dân tị nạn 'vốn người
ở miền Nam, đặc biệt ra đi từ thành
phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Vào năm 1975, chúng tôi (đảng
Cộng Sản Việt Nam) ngăn cấm không cho họ ra
đi. Chúng tôi bị phương
Tây chỉ trích. Chúng tôi đã nghĩ lại. Chúng tôi
quyết định cho họ quyền tự do ra đi. Bây
giờ (phương Tây) lại nói là chúng tôi xuất
cảng dân tị nạn...'[12]
Trong hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương vào tháng 7-1979, Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền đã cho phái đoàn Thụy Ðiển biết dự đoán của Hà Nội là khoảng 3 triệu người có thể phải rời khỏi guồng máy xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vào tháng 8-1979, trong cuộc phỏng vấn với ký giả của United Press International, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch phỏng định số người phải ra đi 'tùy theo tình hình chính trị' tương tự như lượng định của Phan Hiền.[13] Cũng vào tháng đó trong buổi nói chuyện với Daniel K. Akaka, một thành viên thuộc phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Dân Biểu Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm Hà Nội 2 ngày, Nguyễn Cơ Thạch cho biết là khoảng 2 triệu người Việt có thể phải gia nhập làn sóng vượt biên. Trước thực trạng là khoảng 1.6 đến 2 triệu người đã cố gắng vượt thoát sự đàn áp của cộng sản, khoảng 800.000 thuyền nhân đến được bến bờ tự do, từ 80.000 đến 200.000 nạn nhân mất mạng trên đường vượt biên, và hơn 1 triệu thân nhân được khối người tị nạn hải ngoại bảo lãnh cùng số đồng bào ra đi theo diện ODP, chính sách trục xuất khoảng 2 đến 3 triệu người Việt bao gồm nhiều thành phần ra khỏi nước của Hà Nội hình như đã đạt được. [14]
Bộ Trưởng Ngoại Giao Phi Luật Tân là Carlos Romulo đã so sánh chính sách trục xuất nhân dân của đảng Cộng Sản Việt Nam tương tự như chính sách cô lập hóa và hoả thiêu dân Do Thái của Ðức Quốc Xã.[15] Bộ Trưởng Ngoại Giao Tân Gia Ba Sinnathamby Rajaratnam phát biểu rằng kế hoạch buôn người bất nhân của Hà Nội là 'phương pháp của một thằng nghèo sử dụng biển cả thay vì tù ga (để giết người).'[16] Nếu sự ra đi của thuyền nhân chỉ vì 'lý do kinh tế' như Hà Nội miệt thị, bất cứ ai cũng có thể kết luận một cách an toàn là những người tị nạn sau khi định cư sẽ chỉ chú trọng đến vấn đề sinh kế và nhanh chóng quên đi tình hình chính trị tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn trái ngược với lối suy đoán dựa theo lập luận của Hà Nội bởi vì thuyền nhân (i) tiếp tục trình bày với cộng đồng thế giới nỗi ưu tư của họ đối với tệ nạn vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, và (ii) trung thành bảo vệ cũng như thường xuyên minh dương lá cờ vàng trong các cuộc hội họp như một biểu tượng cho khát vọng tự do của họ.[17]
Bên ngoài vòng đai kiểm soát của chính quyền cộng sản Việt Nam không có một nơi nào là đất lành cho các phái đoàn của Hà Nội hoạt động. Cộng đồng thuyền nhân tích cực tổ chức nhiều cuộc biểu tình triền miên để lên án chính sách áp chế của đảng CSVN. Ðiển hình là khi 65 quốc gia nhóm họp tại Geneva vào ngày 20-7-1979 để tìm một giải pháp cho đại nạn thuyền nhân, cộng đồng tị nạn Việt Nam đã tạo được một tiếng vang trong cuộc biểu dương chính nghĩa quốc gia khiến phái đoàn Hà Nội do Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền dẫn đầu trở nên lúng túng. Một biểu ngữ do hai thanh niên Việt Nam dương cao bằng tiếng Pháp xác định 'TOUT LE PEUPLE VIETNAMIEN CONTRE LA CLIQUE DE HANOI' (Toàn thể nhân dân Việt Nam chống lại bè lũ Hà Nội). Phái đoàn cộng sản tức tối phải yêu cầu cảnh sát địa phương năn nỉ những người tị nạn đang biểu tình đừng trưng biểu ngữ đó lên và đe dọa là sẽ không tham dự hội nghị quốc tế nếu phải đi vào hội trường khi tấm biểu ngữ này được dương cao trước hàng trăm ống kính quốc tế. Mười bảy năm sau, một vụ phản đối tương tự cũng đã xảy ra ở Gia Nã Ðại khi cộng đồng tị nạn Việt Nam dựng tượng 'Bà mẹ và đứa con tị nạn' tại thủ đô Ottawa vào ngày 22-8-1996 để 'tưởng niệm những đồng bào đã mất mạng trên đường đi tìm tự do.' Sứ quán Hà Nội yêu cầu chính quyền bản xứ ra lệnh cấm cản việc dựng tượng và đe dọa là nó sẽ tạo ra ảnh hưởng xấu cho quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, nhưng Ottawa từ chối bởi vì là Gia Nã Ðại là một đất nước dân chủ cho nên quyền tự do ngôn luận của công dân phải được bảo vệ tuyệt đối.
Trên toàn thế giới, bất cứ nơi nào lá cờ vàng tự do hiện hữu,[18] tất cả các hoạt động thiên Hà Nội đều bị giới hạn hay phản đối. Một trường hợp điển hình liên quan đến sự thành công của cộng đồng tị nạn Việt Nam trong nỗ lực kêu gọi sự quan tâm của thế giới đối với âm mưu của Hà Nội dự định hành quyết hai vị lãnh tụ Phật giáo quan trọng là Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Thượng Tọa Trí Siêu bởi vì quan điểm phi Mác-xít của họ. Chính quyền cộng sản Việt Nam phải chịu thua sự phản đối đồng loạt của cộng đồng quốc tế và giảm bản án của hai thầy từ tử hình xuống tù chung thân để rồi cuối cùng phóng thích hai thầy vào năm 1998.
Trong một trường hợp cụ thể khác, vào giữa tháng 1-1999, một tiểu thương gia tên Trần Văn Trường treo cờ cộng sản và hình Hồ Chí Minh trong tiệm thuê phim Hitek của hắn tại khu Little Saigon ở Quận Cam, California. Theo tài liệu do một cộng sự viên của Trường - ông Hoàng Ngọc Sơn - cung cấp, ông chủ Hitek được lãnh sự quán của Hà Nội ở San Franscio hứa cho nửa triệu Mỹ kim để làm việc này.[19] Khi cộng đồng Việt Nam yêu cầu hắn tháo gỡ các biểu tượng phỉ bán chính nghĩa quốc gia, Trần Văn Trường vốn từng tự xưng là thượng đế không những từ chối mà còn thách thức phản ứng của cộng đồng. Chủ trương khiêu khích thiên Hà Nội của Trường dẫn đến các cuộc biểu tình hàng ngày trong khu vực tiệm thuê phim của hắn. Chiến dịch xuống đường chống Trần Văn Trường treo cờ cộng sản và hình Hồ đôi khi thu hút sự hưởng ứng của vài chục ngàn đồng bào tị nạn với một đặc điểm là thành phần thanh niên chiếm tỷ lệ rất cao trong đoàn người biểu tình. Bất cứ ai quan sát phản ứng của cộng đồng tị nạn Việt Nam đối với hiện tượng Trần Văn Trường thiên Hà Nội đều phải ngạc nhiên khi thấy cứ 4 đồng bào tại khu Little Saigon thì có một người đã xin nghỉ làm hay gác việc nhà để trực tiếp tham dự cuộc biểu tình, và những người không thể tham dự hay ở xa đã gọi vào các đài truyền thông Việt ngữ để bày tỏ quan điểm quốc gia cũng như phản đối hành động thân cộng của chủ tiệm HiTek.[20]
Vào ngày 26-1-1999, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã chỉ trích nỗ lực dập tắt hiện tượng Trần Văn Trường thiên cộng sản của cộng đồng người Việt hải ngoại. Hà Nội tự dưng lại quan tâm đến vấn đề nhân quyền khi lên án hành động của cộng đồng tị nạn Việt Nam như 'một sự vi phạm nhân quyền thô bạo':[21]
'Phản ứng hung bạo của những kẻ cực đoan đối với Trần Văn Trường là một sự vi phạm nhân quyền thô bạo.. Các phản ứng vi phạm nhân quyền của người Việt hải ngoại tuyệt đối không mang lại lợi ích gì cho tiến trình phát triển quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Hành vi này cần phải được tố cáo và bác bỏ bởi hai nước và cộng đồng thế giới.'
Hai ngày trước đó, sứ quán Hà Nội tại Hoa Thịnh Ðốn ra thông cáo 'quan tâm sâu sắc và cực lực phản đối những hành động bạo lực chống lại ông Trần Văn Trường và đòi rằng, quyền bày tỏ lòng tin cũng như cuộc sống của ông Trần Văn Trường phải được bảo vệ'[22] bởi luật pháp Hoa Kỳ. Bản thông báo đó cố ý tránh đề cập đến một sự thật khó chối bỏ: chính quyền cộng sản Việt Nam là một trong những chính thể vi phạm nhân quyền hàng đầu trên thế giới, và Hà Nội thẳng tay đàn áp bất cứ ai dám dương cao ngọn cờ vàng tự do để sử dụng quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Vào năm 1992, một thanh niên tên Phạm Văn Quang đã hiên ngang trưng lá cờ vàng tại Sài Gòn trước nhiều ống kính quốc tế để kêu gọi thế giới lưu tâm đến chính sách áp chế của Hà Nội; anh đã bị công an bắt tại chỗ, đánh đập tàn nhẫn và sau đó bị kết án 15 năm tù bởi vì anh dám xử dụng quyền tự do ngôn luận trong một guồng máy chính trị không tôn trọng nhân quyền.
Song song với các cuộc biểu tình triền miên, cộng đồng thuyền nhân cũng rất tích cực trong nỗ lực chuyển về Việt Nam tin tức chính xác về sự sụp đổ của các chế độ Mát-xít Ðông Âu. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang đầu tư vào sự ngu dốt cũng như lý tưởng huyền hoặc nhằm có thể tiếp tục nắm giữ vai trò độc quyền chính trị, nhưng sự hiểu biết cũng như ý thức thực tiễn sẽ khai phóng dân tộc và đem lại những thay đổi căn bản cho quốc gia. Dựa trên quan niệm chiến lược này, cộng đồng tị nạn hải ngoại đã tiến hành chiến dịch chuyển tin về Việt Nam qua hệ thống bưu chính cũng như điện thư; hàng chục ngàn mẫu tin về cao trào tự do dân chủ trên toàn thế giới đã được gởi đến các địa chỉ cá nhân cũng như công sở của chính quyền Hà Nội nhằm công khai hóa nhiều sự thật vốn bị chế độ bưng bít vì nhu cầu độc tồn. Hệ thống mạng lưới điện toán hoàn vũ Internet cũng được cộng đồng thuyền nhân khai thác triệt để nhằm minh danh nguyên nhân ly hương của khối người tị nạn Việt Nam cũng như tích cực tranh đấu cho nhân quyền của đồng bào tại quê hương. Nỗ lực tích cực của thuyền nhân nhằm lên án các vi phạm nhân quyền của Hà Nội và sự thành công rực rỡ của họ tại các quốc gia dân chủ sau này phản ảnh khát vọng tự do của họ vốn là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc vạn hải lý tầm tự do vĩ đại của người Việt trong phần tư cuối của thế kỷ 20.
Thuyền nhân (i) tiếp tục trình bày với cộng đồng thế giới nỗi ưu tư của họ đối với tệ nạn vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, và (ii) trung thành bảo vệ cũng như thường xuyên minh dương lá cờ vàng trong các cuộc hội họp như một biểu tượng cho khát vọng tự do của họ.

Cuộc
biểu tình chống treo cờ CSVN và ảnh HCM
Nguyên Nhân Ly Hương của Thuyền Nhân Việt Nam
Thuyền nhân âm thầm lên ghe ra khơi trong đêm tối mịt mù như tương lai của họ để trốn khỏi vòng đai kiểm soát ý thức hệ tàn bạo đến từ chính sách đàn áp xã hội, kinh tế và chính trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nguyên nhân chính đưa đến cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do[23] mang tầm vóc lịch sử của nhân dân Việt Nam là chính sách công an trị của Hà Nội dã man tiêu diệt sự tự do cũng như tất cả các phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản.[24] Trào lưu vượt biên hàng loạt toàn quốc vì bị đàn áp hay lo sợ bất an[25] phản ảnh ý muốn phủ nhận không chỉ chính sách đàn áp ý thức hệ của Hà Nội mà còn luôn cả phương pháp cực đoan tàn nhẫn do đảng CSVN sử dụng để đối phó nhân dân Việt Nam.
Ðịnh nghĩa 'người tị nạn' được xác định qua hai văn kiện Công Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1951 (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) và Hiệp Ðịnh Thư liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1967 (1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees) như sau:
Người tị nạn '.. mang mối lo sợ có căn cứ là sẽ bị đàn áp vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị, đang ở ngoài quốc gia nguyên quán và không thể hoặc, vì mối lo sợ kể trên, không muốn chấp nhận sự bảo vệ của quốc gia đó, hay là một người, không có quốc tịch và đang ở ngoài đất nước định cư lúc trước, không thể hoặc, vì mối lo sợ kể trên, không muốn trở về đó..'[26]
Ðịnh nghĩa này đưa ra bốn yếu tố cần phải thẩm định về tư cách tị nạn của người thỉnh cầu sự bảo vệ của cộng đồng quốc tế: (1) người thỉnh cầu phải ở ngoài biên thùy quốc gia nguyên quán, và (2) không thể hoặc không muốn trở về cũng như không thể hoặc không chấp nhận sự bảo vệ của chính quyền nguyên quán (3) bởi vì mối lo sợ bị đàn áp có căn cứ, và (4) sự đàn áp đó dựa trên 'lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị.' Vì vậy nguyên nhân ly hương tầm an có thể vì 'lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay vì tư ý chính trị' cho nên không phải thuyền nhân vượt biên nào cũng phải là dân tị nạn chính trị như nhiều quan sát viên hiểu lầm. Ðồng bào trốn thoát khỏi chế độ công an trị có thể là vì sách lược ý thức hệ hay chính trị của Hà Nội đàn áp dã man các sinh hoạt tôn giáo hay lý tưởng phi cộng sản của họ, ngược đãi họ vì chủ trương kỳ thị lý lịch quá khứ hay chủng tộc, v.v.[27]
Một số thuyền nhân thường trả lời rằng 'Ðời sống khổ quá' khi được người ngoại quốc hỏi về lý do rời khỏi CHXHCNVN. Người đặt câu hỏi có thể hiểu lầm rằng câu trả lời chỉ chứa đựng yếu tố kinh tế nhưng thực chất là bao gồm nhiều khía cạnh rất phức tạp đến từ hậu quả tác hại của chính sách đàn áp tôn giáo, chèn ép và quấy nhiễu kinh tế, khống chế ý thức hệ, cô lập hóa và ngược đãi nạn nhân thiên tự do, v.v., của chế độ độc tài chuyên chế Hà Nội. 'Ðời sống khổ quá' bởi vì đảng Cộng Sản Việt Nam tích cực kỳ thị và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt các thành phần xã hội có tư tưởng và đường lối sinh hoạt tự do phi Mác-xít dựa trên căn bản 'tôn giáo (Phật tử, Giáo dân, v.v.), chủng tộc (Hoa kiều, dân thiểu số, v.v.), quốc tịch, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt (trí thức, thương nhân, v.v.) hay tư ý chính trị (gia đình ngụy quân và ngụy quyền, thành phần tranh đấu cho tự do dân chủ, v.v.).'[28] Chính Bộ Trưởng Ngoại Giao của Hà Nội là Nguyễn Cơ Thạch còn phải xác nhận bản chất chính trị của cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do của thuyền nhân trong buổi nói chuyện với ký giả thuộc tổ chức United Press International vào tháng 8-1989; Nguyễn Cơ Thạch tiết lộ là, theo dự đoán của Hà Nội, khoảng 3 triệu người Việt Nam có thể trốn chạy khỏi CHXHCNVN 'tùy theo tình hình chính trị' ('depending on the political situation.')[29]
Một trong các lãnh vực minh định nguyên nhân ly hương của thuyền nhân rõ ràng nhất là lãnh vực văn hóa của cộng đồng người Việt hải ngoại. Trước khi cuộc Vạn Hải Lý Tầm Tự Do vĩ đại xảy ra, văn chương hải ngoại có xu hướng xoay quanh các chủ đề hoài hương và mặc cảm tủi hổ trong tự do. Quá khứ trở nên quan trọng, và đời sống tị nạn bị đồng hóa với chuỗi ngày lưu đày tràn đầy niềm hối hận và lo lắng cho thân nhân còn bị kẹt lại sau bức tường sắt cộng sản. Sự hiện diện của thuyền nhân tại đệ tam quốc gia thay đổi hoàn toàn nền tảng văn chương hải ngoại. Thực tại và tương lai bắt đầu trở thành định hướng sáng tác cho nhiều tác giả. Hậu quả di hại của chính sách cộng sản hóa tàn nhẫn tại Việt Nam được trình bày với các kinh nghiệm thực tế sống động. Văn chương hải ngoại chuyển hướng để đưa ra viễn ảnh lạc quan về tương lai thịnh vượng trong một xã hội tự do bình đẳng do công lý minh trị song song với niềm cảm kích sâu xa đối với lòng nhân đạo của nhân dân đệ tam quốc gia. Văn chương phản kháng chịu ảnh hưởng của thuyền nhân được bảo bọc bởi viễn ảnh lạc quan về tương lai đã thay thế văn chương tủi hận của quá khứ để hoàn thành trọng trách minh bạch hóa thực trạng thảm khốc tại CHXHCNVN cũng như cảm tạ xã hội mới đã cung cấp cho người Việt tị nạn nơi nương thân an toàn và tự do.
Chính nỗ lực quyết tâm vạch trần chánh sách đàn áp ý thức hệ cộng sản của cộng đồng tị nạn Việt Nam hải ngoại đã giúp thay đổi quan điểm của nhiều thành phần phản chiến trước đây. Ðiển hình là vào tháng 5-1979, Joan Baez và 83 bằng hữu đã cho phổ biến 'Open letter to the Socialist Republic of Vietnam' (Minh thư cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) để lên án chủ trương tiêu diệt quyền làm người của chính quyền Hà Nội: 'Hàng ngàn người Việt Nam trong đó có nhiều người chỉ vì phổ biến tiếng nói lương tâm, đã bị bắt, giam cầm và tra tấn trong tù cũng như các trại cải tạo.. Chính quyền của các ông tạo ra một ác mộng đau khổ che lấp sự phát triển đã đạt được trong nhiều lãnh vực của xã hội Việt Nam.'[30]
Lịch sử nhân loại chắc chắn sẽ tiếp tục ghi nhận thêm nhiều ấn tích tuyệt mỹ của thuyền nhân Việt Nam - những người đã dám bất kể cái chết để ra đi trốn chạy sự đàn áp của cộng sản nhằm tìm kiếm tự do dân chủ. Nhiều nạn nhân bất hạnh đã bị cướp của, cưỡng hiếp, bắt cóc, giết chóc và chết mất xác trên biển Ðông; những người khác may mắn hơn đến được bến bờ tự do của đệ tam quốc gia. Thảm kịch tị nạn Việt Nam chỉ có thể chấm dứt nơi đâu tự do và dân chủ minh trị.
_________________
1 Phạm Văn Sơn,
Việt-Sử Tân Biên: Thượng cổ và Trung cổ,
Quyển 1, Saigon 1954, t.85-88.
2. Danh từ 'thuyền nhân' được dịch từ danh từ Anh ngữ 'the boat people' vốn xuất hiện tiên trên tờ báo New York Times bởi ngòi bút của ký giả Henry Kammtrong các bài tường thuật về người Việt Nam tị nạn cộng sản sau năm 1975. Mặc dầu thế giới cũng có nhiều thành phần tị nạn dùng ghe, thuyền, v.v., để vượt biển tìm tự do và họ cũng từng được gọi là 'the boat people,' nhưng dần dần danh từ 'the boat people' trở thành đặc ngữ dành riêng cho dân Việt Nam tị nạn cộng sản trong một phần tư cuối thế kỷ 20 bởi vì du trình đầy thử thách của họ đã ghi khắc lại nhiều ấn tích vĩ đại đầy màu sắc huyền thoại trong lịch sử nhân loại.
3. Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books, Middlesex, England 1979, at p.99.
4.
‘Among
the Vietnamese, a strong political motivation to leave their homeland was often
clear.. Age of the boat
refugees from the south ranged widely, but most were under thirty-five. There
were many women and children. Some young men said they left to avoid
conscription. Some people said they were victims of politically inspired
harassment and persecution; others said they feared such treatment. Fear of what
might happen was a potent factor, sometimes taking grotesque forms.. A feeling
of alienation from the new communist administration and identity with the old
regime was common, often mixed with an economic motivation: a conviction that
their livelihood was bleak for themselves and for their children.
Fear of ‘re-education’ or of being sent to a ‘new economic zone’
were also pervasive.’
5. ‘World Refugee Assessment 1979,’ Office of the U.S. Coordinator for Refugee Affairs, 14 March 1979.
6. 6. (The) ‘overwhelming majority (of the boat people) arriving now are leaving not because of past direct ties with the United States, but because they wish to escape the ravages of continuing armed conflict as well as persecution and maltreatment stemming from the general restructuring of society..’ (imposed by the new communist regime).
7. Cũng chính khối người Việt tị nạn bị đàn áp và phỉ bán này đã thành công vượt bực tại hải ngoại cho nên sau đó chính quyền Hà Nội lại ve vảng kêu gọi họ trở về giúp đảng tái xây dựng đất nước.
8.
‘The great majority have left Vietnam
for economic reasons, unable to bear the privations and having failed to find
occupations to their liking..
Some
are former war criminals, or are members of counter-revolutionary networks who
feel they are about to be discovered.
In the case of the intellectuals, there are various factors which combine in varying degrees. All having experienced a serious drop in their standard of living.. The difficulty (they) feel to adapt (themselves) to the constraints of a revolutionary society.’
9. Liên Sô đã nhanh chóng xướng họa với Hà Nội trong nổ lực bôi bẩn nguyên nhân ly hương của thuyền nhân Việt Nam. Ðài Moscow từng mô tả thuyền nhân như 'thành phần phản động suy bại và tội đồ' ('subversive degenerates and criminals').
10. ‘Many of the boat people in ASEAN countries were actually from China. More than 100,000. They (Beijing) are very clever. We have arrested some of ships from China going to Southeast Asia.. many people do not realize this because the Chinese from China are the same as from Vietnam.’
11. Document No. 2-22 entitled ‘Vietnam’s Refugee Machine,’ Department of State, Washington, D.C. (July 20, 1979). Chính sách bình định tình hình chính trị của đảng CSVN còn bao gồm kế hoạch thuyên chuyển 10 triệu nhân dân miền Bắc vào Nam nhằm phân tán tư tưởng thiên tự do của 25 triệu đồng bào từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Song song, Hà Nội còn đuổi 1.4 triệu dân miền Nam về quê hay đi kinh tế mới trong năm 1976; 700.000 dân cựu thủ đô miền Nam, trong đó có rất nhiều gia đình 'ngụy quân, ngụy quyền,' đã phải từ giã Sài Gòn để ra đi.
12. Most refugees ‘are from the south, from Ho Chi Minh City in particular. In 1975, we forbade them to go out. We were criticized by the west. We thought it over. We decided to give them the freedom to go. Now (the west) say we are exporting refugees. So now we say that they must ask to go. And we will allow them to go (under the ODP).’ Asiaweek, 15June1979.
13. UPI report. Quoted in Barry Wain’s ‘The Refused: The Agony of the Indochina Refugees,’ Simon and Schuster, New York, 1981, at p.231.
14. Ðảng Cộng Sản Cuba nhanh chóng cóp nhặt và áp dụng chính sách tống xuất lương dân ra khỏi quốc gia của Hà Nội. Vào tháng 5-1980, Castro mở hải cảng Mariel để tống xuất 'thành phần phản động' ra khỏi nước; trong vòng 72 giờ, 125.000 người vội vã từ bỏ thiên đàn cộng sản. Ðảng Cộng Sản Cuba đã không quên cho 25.000 tội nhân hình sự trà trộn vào số người này với hy vọng chúng có thể gây thêm tội ác trên đất Mỹ nhằm phá nát cộng đồng tị nạn ở Miami, Florida.
15. ‘Another form of inhumanity, equal in scope and similarly heinous’ to the holocaust.'
16. ‘A poor man’s alternative to the gas chambers is the open sea.’
17. Một cuộc thăm dò dư luận của cơ quan Institute for Asian Studies vào năm 1988 về những động cơ khiến dân tị nạn Việt Nam phải rời bỏ quê hương ('Motives for Migration from Homeland') cho thấy 55% đồng bào ra đi vì hoàn cảnh chính trị ('Political situation'), 2% vì sợ bị giết hại ('Afraid of being killed'), 6% vì nạn đói ('Famine'), 20% vì muốn định cư ở phương Tây ('Resettlement in West'), và 17% vì các lý do khác. Cited in Jeremy Hein, From Vietnam, Laos, and Cambodia: A Refugee Experience in the United States, Twayne Publishers, New York 1995, at p.37.
18. Vào tháng 11-1998, 23 năm sau khi Sài Gòn bị quân chính quy Hà Nội chiếm, cộng đồng người Việt hải ngoại đã tổ chức nhiều cuộc diễn hành lớn khắp nơi trên thế giởi để kỷ niệm 50 năm ngày khai sinh lá quốc kỳ Việt Nam tự do.
19. Ông Hoàng Ngọc Sơn vốn là một cộng sự viên của Trần Trường đã tiết lộ bí mật này trong tài liệu dài 22 trang được công bố với báo giới trong đó có tờ Los Angeles Times và sở cảnh sát thành phố Westminter.
20. Người viết có mặt tại hiện trường trong những ngày cao điểm để tham gia chiến dịch 'Hạ cờ địch, Dựng cờ quốc gia.' Sự quyết tâm của tất cả đồng bào trong nỗ lực dập tắt hiện tượng thiên Hà Nội cũng như sự đoàn kết hợp nhất của hai tổ chức người Việt tại Nam California đã góp phần rất lớn trong việc vinh danh chính nghĩa quốc gia của cộng đồng tị nạn Việt Nam.
21. Báo Nhân Dân, 27-1-1999.
22. Báo Nhân Dân, 25-1-1999.
23. Vượt hàng ngàn cây số đường biển đi tìm tự do.
24. Chính sách của Hà Nội cũng đã đưa đến tình trạng ly hương của dân tộc Lào và Cam Bốt.
25. Nhân dân Việt Nam luôn luôn cảm thấy bất an và lo sợ đủ điều trong xã hội công an trị của Hà Nội. Chính đảng Cộng Sản cũng nhận thức được sự kiện này cho nên đang cố gắng tạo cảm giác an toàn cho Việt kiều để thu hút họ trở về viếng thăm gia đình nhằm giúp cho Hà Nội thâu thêm ngoại tệ; khi nào không khí an toàn cá nhân này bị suy sút thì số lượng người 'thăm quê hương' cũng giảm đi. Tình trạng phản ứng hỗ tương này giúp minh xác lý do ra đi của thuyền nhân Việt Nam: đa số ly hương do bị Hà Nội trực tiếp hay gián tiếp đàn áp bằng thể xác hay tinh thần đến mức không thể tồn tại trong niềm lo sợ bất an triền miên.
Vì nỗi niềm nhớ nhà và nhu cầu trợ giúp thân nhân, một thiểu số chấp nhận viếng thăm quê hương tạm thời với điều kiện là chính quyền phải bảo đảm sẽ không đàn áp họ như đã làm trong quá khứ, nhưng họ không bao giờ tính chuyện hồi hương vĩnh viễn. Và đa số đồng bào hải ngoại chỉ chịu trở về sinh sống tại Việt Nam trong điều kiện duy nhất là sự an ninh và tự do của họ cũng như gia đình không bị chính quyền xâm phạm, tức là Việt Nam phải được tự do và dân chủ hóa.
26. A refugee is anyone who ‘.. owing to a well-founded fear of being persecuted for reasons of race, religion, nationality, membership of a particular social group or political opinion, is outside the country of his nationality and is unable or, owing to such fear, is unwilling to avail himself to the protection of that country, or who, not having a nationality and being outside the country of his former habitual residence is unable or, owing to such fear, is unwilling to return to it..’ UNHCR, Collection of International Instruments Concerning Refugees (1979), p.10 & p.40, Article 1A(2) of the 1951 UN Convention relating to the Status of Refugees, as amended by Article 1(2) of the 1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees.
27. Do đó cộng đồng người Việt hải ngoại bao gồm không những thành phần tị nạn chính trị mà còn cả dân tị nạn vì lý do tôn giáo, vì lý do chủng tộc, vì lý do thuộc thành phần mà đảng CSVN chủ trương tiêu diệt như giáo dân, phật tử, thương gia hay trí thức. Ðiển hình là tại miền Bắc trước năm 1975, đảng CSVN triệt để đàn áp bất cứ gia đình nào có thân nhân vượt tuyến vào Nam (tương tự như chính sách đối với gia đình 'ngụy quân, ngụy quyền' miền Nam được thực hiện sau năm 1975); trừ một vài trường hợp bị lợi dụng cho mục đích tuyên truyền, con cháu của các gia đình này không bao giờ được phép vào đại học hay gia nhập đảng cũng như đừng bao giờ mong được thăng tiến trong công sở. Dựa vào công pháp quốc tế, các đồng bào này chắc chắn phải được hưởng quy chế tị nạn mặc dầu họ không phải là thành phần hoạt động chính trị. (Người viết đã biện minh thành công cho nhiều trường hợp tương tự liên quan đến lãnh tụ tôn giáo, thành phần bị kỳ thị lý lịch [con ngụy quân] hay bọn 'phản cách mạng' [cán bộ đào tẩu], v.v., trước Hội Ðồng Thẩm Xét Tị Nạn Gia Nã Ðại).
28.
'Người tị nạn' là người '.. mang mối lo
sợ có căn cứ là sẽ bị đàn áp vì lý do
chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, tư cách thành
viên trong một tổ chức xã hội cá biệt hay tư
ý chính trị..' (1951 UN Convention
relating to the Status of Refugees, 1967 UN Protocol relating to the Status of
Refugees).
29. UPI report, Supra.
30. ‘Thousands of innocent Vietnamese, many whose only crimes are those of conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and re-education camps.. Your government has created a painful nightmare that overshadows significant progress achieved in many areas of Vietnam society.’