II Hải Trình ThảmKhốc
'Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng,
Bắt trải qua bách-chiết thiên-ma.'
Nguyễn
Trãi (1418)
The
reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences,
endless natural calamities and brutal man-made obstacles.
(Photo:
B. McDougall)
Hình ảnh một chiếc thuyền nhỏ chở đầy người tị nạn bất kể cái chết ra đi tìm tự do đang lênh đênh trên mặt biển mêng mông vô tận tạo ra nhiều ấn tượng khó diễn tả từ can đảm phi thường đến lãng mạn huyền ảo. Cuộc hải trình của thuyền nhân Việt Nam thực sự là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm đậm mầu sắc siêu tưởng và đầy thiên tai kinh hãi cũng như thảm trạng nhân tạo. Mặc dầu không biết tương lai mịt mù sẽ đưa họ về đâu, thuyền nhân nhất quyết vượt khỏi vòng đai kiểm soát của chính quyền cộng sản Hà Nội bất kể các thử thách tàn khốc của biển cả. Phải chọn lựa giữa tự do và nô lệ ý thức hệ, thuyền nhân chỉ còn một cách để từ bỏ thiên đường cộng sản: vượt biên ra đi tìm tự do bất kể các hiểm nguy mất mạng.
Quyền tự do đi lại của nhân dân Việt
Nam bị luật di trú và hình sự của Hà Nội
thủ tiêu cho nên họ phải bí mật tổ chức 'đi
chui' tìm tự do bất kể các hiểm họa trên
cạn cũng như ngoài bể cả. Khi chính quyền
Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30-4-1975,
khoảng 130.000 người Việt may mắn thoát đi trước
khi quân đội Bắc Việt tiến chiếm Sài Gòn.
Trong số đó, ngoại trừ 25.000 người
được trực tiếp đưa thẳng đến
các các khu tạm trú của Hoa
Kỳ và một số quốc gia tự do, đa số
được di tản đến các tàu đang chờ
đợi đón tiếp tị nạn Việt Nam trước
ngày 1-5-1975; một dữ kiện đáng ghi nhận là hơn
30.000 đồng bào đã dùng ghe, thuyền, bè và ngay
cả tàu Hải Quân để ra đi.(1) Trong những ngày
sau đó, khoảng 3.000 người đã đến Tân
Gia Ba bằng thuyền, 700 người đến Pusan trên
hai chiếc tàu Nam Hàn, và 3.743 đồng bào khác được
tàu Clara Maersk của Ðan Mạch cứu và đưa đến
Hồng Kông. Trong khi một nhóm tị nạn bằng ghe khác
gồm 823 người được hai tàu Ðài Loan
vớt, khoảng 30.000 người Việt đã đến
vịnh Subic của Phi Luật Tân trên 26 chiến hạm
Hải Quân miền Nam.(2) Sự ra đi của người
Việt tị nạn tiếp tục trong nhiều năm
sau đó khi đảng Cộng Sản Việt Nam sử
dụng bạo lực để trả thù và Mát-xít hóa
miền Nam.
Tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên
Hiệp Quốc (CUTNLHQ) cho biết khoảng 378 người
đã đến được bến bờ tự do
từ tháng 5 đến tháng 12-1975; và số lượng
đó tăng lên đến 5.569 người vào năm 1976
và 17.126 người vào năm 1977.
Số thuyền nhân ra đi tiếp tục gia tăng
đến 87.164 người vào năm 1978 và đạt cao
điểm 201.189 người vào năm 1979. Giai đoạn
12 tháng từ giữa năm 1978 đến tháng 7-1979 cũng
là thời điểm của chiến dịch buôn lậu
lương dân của Hà Nội. Khi bị cả thế
giới cực lực lên án, Hà Nội đình chỉ
chiến dịch vượt biên 'bán chính thức' này vào
tháng 7-1979 - một vài ngày trước hội nghị
quốc tế về Tị Nạn Ðông Dương I.
Sau mốc thời gian đó, nỗ lực vượt
thoát của thuyền nhân vẫn không chấm dứt
bất kể hiểm họa mất mạng vì dông tố
hay hải tặc.
Ðến cuối thế kỷ 20, khoảng 1.6 đến 2
triệu đồng bào đã cố gắng trốn
khỏi CHXHCN Việt Nam,(3) và trên ba phần tư triệu
người hay 1% dân số Việt Nam vượt biên thành
công và được tái định cư tại
nhiều quốc gia khắp năm châu.(4) Chúng ta cũng
đừng bao giờ quên là ít nhất 10% đến 20%
tổng số người ra đi hay khoảng 80.000 đến
200.000 nạn nhân đã bỏ mình tại biển Ðông trên
đường tìm tự do.(5)
Khó Khăn Sơ Khởi
Trước khi đặt chân lên ghe, thuyền nhân
phải bí mật liên lạc với nhau để sắp
xếp cuộc vượt biên. Người có trách
nhiệm tổ chức chuyến đi phải bí mật
tậu cũng như tân trang ghe, mua máy mới, giấy
tờ giả để che mắt công an, và các dụng
cụ đi biển như hải bàn, bản đồ,
v.v. Ai ở Sài Gòn vào cuối thập niên 1970 đều
biết hải bàn cũng như giấy tờ lậu là các
món đồ chợ đen đắt giá lúc đó. Song
song, việc tìm kiếm thuyền trưởng cho các ghe vượt
biên cũng không phải dễ bởi vì đa số sĩ
quan hải quân của miền Nam còn nằm trong trại
cải tạo; một số nào đó trốn tránh
cải tạo thì cũng không dám công khai lộ diện
để người ngoài nhận biết, và một
số ít ra tù cải tạo lại được thương
gia Tàu Chợ Lớn mua chuộc vào mạng lưới buôn
lậu lương dân của Hà Nội (xin xem Chương
III).(6)
Ngay cả khi vấn đề nhân sự cũng như
trang bị tiếp liệu cho chuyến đi được
giải quyết thỏa đáng, thuyền nhân còn phải
kiếm bãi biển an toàn để đưa người
xuống ghe; thuyền nhân càng sống xa cửa biển bao
nhiêu, vấn đề này càng khó khăn bấy nhiêu.
Nhiều vụ vượt biên 'bể' khi bãi bị lộ,
và người ra đi phải bỏ tất cả để
chạy trốn sự lùng bắt của công an. Trong trường
hợp của ông Nguyễn Tấn Chung hiện đang
ở Toronto, ông phải nhảy rào và vượt qua bãi xương
rồng bằng chân không khi cuộc vượt biên
của nhóm ông bị lộ; sau này ông Chung phải dùng dao
nhỏ để cắt da lấy hàng trăm mũi gai xương
rồng ra khỏi lòng hai bàn chân. Trong một trường
hợp khác, anh Nguyễn Ðịnh Lâm đã bị công an
bắn chết tại Bến Tre vào ngày 4-4-1979 vì 'vượt
biên trái phép.'
Ðể bảo đảm sự an toàn của người
xuống ghe, ban tổ chức thường mua bãi (hối
lộ công an địa phương) hay sắp xếp
để đưa người ra đi theo từng nhóm
nhỏ. Khi tổ chức cuộc vượt biên trên ghe
số 27 đến trại Songkhla vào ngày 12-2-1980, ông
Nguyễn Tấn Phúc nguyên là lính người nhái đã
cho người xuống bốn ghe nhỏ tại làng Phong
Mỹ, Cao Lãnh vào ngày 25-1-1980. Sau đó bốn chiếc ghe
di chuyển nhiều ngày trên các con kênh lớn để
đến cửa biển Rạch Sõi; tại đây ông dùng
giấy tờ giả dân đi lấy cũi để qua
khỏi trạm kiểm soát của công an biên phòng và
đưa ghe ra biển. Sau nhiều lần bị cướp
Thái Lan bóc lột và hành hạ dã man, 27 người trên
ghe của ông Phúc đã được Tàu Akuna(7) của
một tổ chức gọi là Food For The Hungry International
cứu vớt trước khi bị sóng biển dìm
chết.
Vấn đề tổ chức vượt biên không
phải dễ cho nên ít ai ngạc nhiên khi thấy nhiều
người đã bị bắt giam. Nhiều người
khác bị mất cả gia tài vì bị lừa bởi các
tổ chức vượt biên giả cũng như công an
vốn thường nhận tiền hối lộ nhưng
dễ phản phúc đối với dân vượt biên
để trấn lột thêm vàng. Vào tháng 5-1987, Tàu Cap
Anamur với sự tài trợ của tổ chức Komitee
Cap Anamur và hội Y Sĩ Thế Giới cũng như
cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã
kịp thời cứu vớt một ghe vượt biên
đang bị tàu công an biên phòng rượt bắt.
Một thuyền nhân bị công an bắn chết và 170 người
may mắn còn lại đã được đưa vào
trại tị nạn Palawan ở Phi Luật Tân.
Trong trường hợp của ông Phan Văn Thiệu, ghe
của ông rời Cà Mau trong đêm 17-1-1979 đã bị công
an bắn ba lần nhưng may mắn không ai bị trúng
đạn. Sau khi bị hải tặc Thái Lan cướp vài
lần, ghe của ông Thiệu cuối cùng đến
được Kora Bahru, Mã Lai, vào ngày 22-4-1979. Trong vụ
khác xảy ra vào ngày 7-5-1983, một ghe rời khỏi
cầu chữ Y an toàn sau khi đón người dưới
sự che chở của công an phường 13, quận 5. Nhưng
khi vào khúc sông thuộc phường 14, nhóm công an địa
phương không được chia tiền hối lộ
đã xả đạn bắn vào ghe bất kể
tiếng kêu la thảm thiết của nạn nhân. Trên 100
người trong đó có rất nhiều trẻ em và
phụ nữ mất mạng; và vài ngày sau đó bọn công
an còn bắt gia đình nạn nhân phải đóng
tiền phí tổn mới được nhận tử thi
về chôn cất. Vụ giết người tập
thể tại cầu chữ Y này không phải vụ duy
nhất, nhiều ghe khác rời Cát Lái, Cà Mau, Cần Thơ,
Bà Rịa, Bến Tre, Long Xuyên, v.v., đã bị công an
bắn giết khi chúng không nhận được đủ
phần hối lộ hay có lệnh phải cấm đoán
người tị nạn ra đi, đặc biệt là
sau khi Hà Nội cam kết với cộng đồng
quốc tế là sẽ ngăn chận cơn sóng vượt
biên vào tháng 7-1979 tại Geneva. Chỉ riêng tại Cát Lái,
gần 400 nạn nhân trên tàu Thành Xương đã
bị công an hại chết trong ngày 22-7-1978. Một trong
số người còn sống sót là ông Vương Vũ
Văn hiện đang định cư ở New Jersey cho
biết là Hà Nội đã nhận ít nhất là $1
triệu Mỹ-kim để cấp giấy phép rời
bến cho tàu Thành Xương nhưng không biết tại
sao lại trở cờ vào giờ chót và giết hại
nhiều nạn nhân vô tội. Việc giết hại người
vượt biên còn xảy ra tại các vùng đảo xa xôi
như Trường Sa; theo tin từ chính phủ Phi Luật
Tân vào tháng 6-1979 thì bộ đội Hà Nội đóng
đô tại các quần đảo này đã xã súng
bắn vào một ghe tị nạn từ Nha Trang khiến
23 người bị mất mạng, 62 nạn nhân khác
chết đuối và
chỉ có 8 thuyền nhân may mắn sống sót.
Ðối với những người
vượt biên không có tiền để ra đi theo chương
trình chính thức hay bán chính thức của chính quyền
cộng sản thì khi bị bắt họ dễ trở thành
nạn nhân của các ông vua công an địa phương
bởi vì vào những năm đầu Hà Nội không có
một chế độ hình phạt rõ ràng đối
với dân vượt biên mặc dầu luôn luôn chủ
trương 'kiểm sát' tất cả các thành phần có
lý tưởng tự do hay xua đuổi họ ra khỏi
nước.(8) Thông thường những người vượt
biên bị công an bắt lại có thể bị kêu án
từ vài năm tù cho đến tử hình tùy theo
tiền hối lộ nhiều hay ít cũng như gốc
hay 'ô dù' tham ô có ảnh hưởng mạnh hay yếu.
Ðài Hà Nội thỉnh thoảng thông báo tên tuổi
của các nạn nhân bị chính quyền cộng sản
chọn lựa làm chiến lợi phẩm để
tế công luận thế giới vốn đang lên án chính
sách đàn áp ý thức hệ và chủ trương
tống xuất 'thành phần phản động' của
đảng CSVN. Vào ngày 28-10-1981, Nguyễn Toại Chí
bị nêu tên và tống tù chung thân trong khi các cộng
sự viên tổ chức vượt biên của ông bị
kêu án từ 18 tháng cho đến 25 năm. Trước
đó vào ngày 9-9-1981, tòa Long An phạt Võ Văn Lung, Võ Văn
Mậu và Châu Tá Nhành án tù lên đến 25 năm sau khi
vụ ra đi của họ bị bể.
Tử hình là án trạng nặng nhất đối
với dân vượt biên và thường được
chính quyền cộng sản dành cho thành phần 'ngụy
quân, ngụy quyền' nhằm một mặt để che
giấu chính sách xua đuổi nhân dân của đảng
và mặt khác để chứng minh với cộng đồng
quốc tế là Hà Nội thẳng tay trừng trị
thuyền nhân Việt Nam hầu giữ lời hứa ngăn
cản làn sóng vượt biên tại hội nghị
quốc tế về tị nạn Ðông Dương I. 'Ngụy
quân' Trần Minh Châu là một trong những nạn nhân
đầu tiên bị Hà Nội dùng làm vật tế
cộng đồng thế giới sau hội nghị
quốc tế I vào tháng 7-1979; ông đã bị kết án
tử hình vào ngày 6-8-1979 vì tội tổ chức vượt
biên không qua đường dây chính thức hay bán chính
thức của Hà Nội, tức là vượt biên không có
giấy phép nhà nước.
Một loại hình phạt nặng khác được
chính quyền cộng sản sử dụng đối
với người tị nạn là tịch thâu toàn
bộ tài sản của họ. Bất cứ khi nào công an
khu vực nghi ngờ một gia đình đã ra đi vượt
biên, nhà cửa cũng như tài sản của họ
sẽ bị niêm phong và sau đó bị 'trưng dụng.'
Dân vượt biên khó đòi lại gia sản bởi vì
Hà Nội xem họ là tội nhân mặc dầu chính sách
của đảng Cộng Sản là tống xuất các thành
phần có tư tưởng và lối sống tự do ra
khỏi nước.
Ngay cả khi dân vượt biên đã lên ghe và
nổ máy ra khơi, họ cũng chưa an tâm bởi vì
ghe còn có thể bị tàu công an biên phòng chặn bắt
và dẫn độ về lại Việt Nam. Vào tháng
5-1988, tàu Mary Kingstown đã kịp thời cứu một
ghe tị nạn chỉ vài phút trước khi ghe bị tàu
Công An Ðặc Khu Vũng Tàu Côn Ðảo đuổi bắt
kịp. Sau khi 81 thuyền nhân được đưa qua
tàu Mary Kingstown, nhóm công an biên phòng đã nhảy sang ghe
tị nạn để vơ vét và sau đó hoan hỉ kéo
chiếc ghe không người trở lại Việt Nam như
một chiến lợi phẩm. Trong nhiều trường
hợp, thuyền nhân bị tàu biên phòng chặn lại có
thể nộp mãi lộ thường là vàng lượng
cho công an để được tiếp tục cuộc
hải trình; trong những trường hợp khác, công an
biên phòng vẫn cứ bắt giữ dân vượt biên
sau khi đã vơ vét tài vật của họ. Ngoài ra còn
có nhiều vụ tàu Liên Sô đang công hành ngoài biển
Ðông đã chặn bắt ghe tị nạn và dẫn độ
về cho chính quyền cộng sản Việt Nam; giới
lãnh đạo Hà Nội mù quáng không nhận ra được
là hành động này của Mạc Tư Khoa trực
tiếp vi phạm trầm trọng công pháp quốc tế
cũng như gián tiếp công khai khinh thường khả
năng bảo vệ chủ quyền quốc gia của Hà
Nội.
Ðối với những
thuyền nhân may mắn vượt khỏi vòng đai
kiểm soát của công an biên phòng Việt Nam, hải trình
của họ vẫn còn phải đối đầu
với vô vàn tai ương thiên nhiên của biển
cả cũng như hoạn nạn nhân tạo đến
từ hải tặc dã man và chính sách bài tị nạn tàn
nhẫn. Số lượng thuyền nhân đã mất
mạng trên biển cả khó có thể được
ước đoán chính xác. Như đã bàn ở phần
trên, ít nhất 10% đến 20% tổng số người
ra đi hay khoảng 80.000 đến 200.000 nạn nhân đã
bỏ mình tại biển Ðông trên đường tìm
tự do; một vài tư liệu của cộng đồng
thuyền nhân thẩm định là số người
tị nạn Việt Nam chết vì tai ương thiên nhiên
hay bị hải tặc giết phải là vài trăm ngàn
lên đến cả triệu nạn nhân. Những linh
hồn vô danh này không những bị các biến chuyển
thời sự hiện tại quên lãng mà còn bị các
thế lực chính trị đen tối trong quá khứ bôi
nhọ là thành phần di dân kinh tế đê tiện
mặc dầu chính quyền Hà Nội cũng như chính
khách quốc tế tự biết việc đánh đổi
mạng sống vì miếng ăn đối với dân
tộc Việt Nam là chuyện hoang đường phi lý, và
đa số những người ra đi là dân khá giả
trong xã hội cho nên không có vấn đề vì thiếu
miếng cơm manh áo cho nên họ phải vượt biên.
Chương Hải Trình Thảm Khốc này có thêm
phần phụ trương phác họa lại vài trang trong
sổ tay của một cậu bé viết vào đầu năm
1980 tại trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan
với hy vọng sẽ soi sáng đoạn đường
kinh hoàng của thuyền nhân Việt Nam cũng như khát
vọng không phai mòn của những người tị
nạn may mắn sống sót đến được
bờ bến tự do.
Số
lượng thuyền nhân đến được các
quốc gia tự do
Thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc
Lưu Ý: Thống
kê của CUTNLHQ không bao gồm những thuyền nhân đã
mất mạng trên đường vượt biên (td: Vào
ngày 14-11-1979, báo People's Journal ở Phi Luật Tân tường
thuật là dân săn bắn địa phương tìm
thấy 60 xác người cùng vật dụng cá nhân và
một chiếc ghe tương tự như ghe tị
nạn Việt Nam tại một khu rừng hẻo lánh
cách thủ đô Manila khoảng 75 dặm về phía Nam.)
hay được cứu trên biển bởi các thương
thuyền và sau đó được chấp nhận cho
định cư mà không phải trải qua thời gian
chờ đợi ở trại tị nạn cũng như
một số nhỏ dân vượt biên từ năm 1996
(td: Vào ngày 21-6-1999, sau hai tuần lênh đênh trên biển
11 thanh thiếu niên Việt Nam gồm 7 gái và 4 trai tuổi
từ 14 đến 18 tuổi đã đến được
bờ biển Iba ở phía Bắc Phi Luật Tân trên
một chiếc ghe dài 17 thước.)
_________________
Chú thích:
1
Nhiều đồng bào vô tội đã hy sinh oan
uổng trong đợt tản cư vào mùa Xuân 1975. Vài
vụ tử thương được chứng kiến và
ghi lại rải rác trong một số sách và bài viết,
nhưng hiện nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu
để thẩm tính số nạn nhân đã mất
mạng trong giai đoạn đó.
2 Ða
số các tài liệu xác định là số dân tị
nạn Việt Nam ra đi trong mùa Xuân 1975 là khoảng
130.000 người, và con số này được báo chí
Việt ngữ cũng như ngoại ngữ lập
lại nhiều lần (điển hình là sách Calculated
Kindness: Refugees and America's Half-Open Door 1945-Present của Gil Loescher
và John A. Scanlan), nhưng một số tài liệu của phòng
Southeast Asian Archive thuộc Ðại Học California tại
Irvine cho thấy số đồng bào Việt Nam ra đi
trong giai đoạn này chỉ khoảng 125.000 người
trong tổng số 130.000 người ra đi từ Ðông Dương
trong giai đoạn đó (điển hình là tài liệu
Documenting the Southeast Asian Refugee Experience của Anne Frank).
Tuy nhiên, một dữ kiện mà chúng ta biết chính
xác là chỉ có một nửa số người này ra
đi với sự trợ giúp của chính quyền Hoa
Kỳ. Một nửa kia
hay 65.000 người đã phải tự kiếm cách ra
đi; và đa số sử dụng ghe, tàu bè và thương
thuyền cũng như các chiến hạm để vượt
thoát. Họ có lẽ là những thuyền nhân Việt Nam
đầu tiên tị nạn cộng sản.
3 'When
Saigon fell to North Vietnamese forces in 1975, more than 1.6 million South
Vietnamese fled their country.' ASIAAccess/countries/vietnam
(January 1999).
4 Cho
đến cuối thế kỷ 20, thống kê chính
thức của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc
cho biết là 796.310 thuyền nhân và 42.918 bộ nhân đã
may mắn đến được trại tị nạn
kể từ tháng 5-1975. Các
con số này không bao gồm những người được
cứu trên biển và đi định cư thẳng mà
không qua hệ thống trại tị nạn.
5 Nhiều
tính toán đã xác nhận số lượng đồng bào
mất mạng có thể lên đến 40%-70% tổng
số dân vượt biên. Vào
tháng 6-1978, Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách
Ðông Nam Châu Á và Thái Bình Dương của Hoa Kỳ là
Richard Holbroke đã tuyên bố:
người tị nạn 'ra đi trên những
chiếc ghe mỏng manh với ít tiếp liệu, và
sự tính toán cho thấy chỉ một nửa là đến
được bờ bên kia'
(refugees 'set out in rickety boats with few supplies, and estimates are
that only half make to another port.')
Giữa tháng 4 và 7-1979, dựa vào tin tình báo và các
cuộc phỏng vấn với dân tị nạn, Bộ Trưởng
Di Trú Úc là Michael MacKellar đã kết luận:
'Chúng ta thấy số lượng mất mạng
khoảng từ 100.000 đến 200.000 trong vòng bốn năm
vừa qua.' ('We are looking at a death rate of between 100,000 and 200,000
in the last four years.')
6
Nhiều cựu sĩ quan hải quân miền Nam đã
được thương gia Hoa kiều đưa ngay vào
Chợ Lớn để nằm chờ ngày ghe được
Hà Nội cho phép ra đi.
7 Khi
được vớt lên boong, chính những thuyền nhân
như ông Nguyễn Tấn Phúc đã nghi là tàu Akuna không
phải là tàu cứu người tị nạn bình thường.
Vào năm 1990 khi tham dự một cuộc biểu tình
tại thành phố Lepzig, Ðông Ðức, người
viết gặp một vị tị nạn trung niên và
được cho biết tàu Akuna này từng được
sử dụng để đưa người về
Việt Nam hoạt động chính trị.
8
Hà Nội chỉ đặt ra chế độ hình
phạt rõ ràng đối với dân vượt biên sau này
trong bộ luật hình sự (xin xem Chương 3 về
vấn đề cưỡng bách hồi hương).