II Hải Trình ThảmKhốc
Ghe Kém An Toàn, Tài Công Thiếu Kinh Nghiệm và Hoạn Nạn Trên Biển Cả
The
reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences,
endless natural calamities and brutal man-made obstacles.
(Photo:
B. McDougall)
Ðể đến được một quốc gia tự do nằm ngoài bán đảo Ðông Dương, thuyền nhân phải vượt qua biển Ðông Hải hay vịnh Thái Lan vốn không phải là vùng bể an toàn cho những tay đi biển tài tử hay bất đắc dĩ như đa số dân tị nạn Việt Nam. Khí hậu đại dương tại hai khu này tương đối khắc nghiệt với nhiều cơn giông bão cuộn gió lên đến trên hàng trăm cây số một giờ và có thể đánh đắm tất cả tàu bè mỏng manh trên mặt bể. Trong mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 9, gió từ xích đạo thổi vào Việt Nam theo hướng Tây Nam và đe dọa toàn bộ vịnh Thái Lan với các cơn giông tố đi liền với mưa rào bất thường trên biển. Từ tháng 10 trở đi, gió Ðông Bắc thổi mạnh vào vịnh Bắc phần và vì bị rặng núi Trường Sơn chặn lại cho nên gây ra nhiều cơn mưa ở vùng Quảng Trị-Thừa Thiên cũng như bão tố tại Ðông Hải có sức gió lên đến 160 km/giờ; bão tố trên biển lại thường kèm theo mưa mùa dữ dội có khả năng đánh chìm các ghe thuyền tị nạn không may mắn bị kẹt giữa đường di chuyển của trung tâm bão có tốc độ từ 20 km đến 40 km/giờ.(9)
Tai ương thiên nhiên chờ đón thuyền nhân Việt Nam không chỉ dừng lại với khí hậu khắc nghiệt mà còn tạo ra những chướng ngại vật ngầm dưới mặt nước khiến nhiều đồng bào tị nạn mất mạng. Các đảo và cồn san hô nằm dọc theo phía Tây và Tây Nam của Phi Luật Tân trở thành một hàng rào nguy hiểm trải dài nhiều cây số cản trở hải trình tầm tự do của dân Việt Nam. Nhiều ghe đâm vào cồn san hô bị hư hại không sửa chữa được khiến thuyền nhân phải bỏ ghe mà lội lên bờ; và trong khi chờ đợi cứu vớt, họ phải cố gắng tìm cách bắt cá và nghêu sò để sống nhưng đa số không tồn tại được lâu vì thiếu nước uống. Vào tháng 9-1978, 50 đồng bào tị nạn trong đó có cô Trần H. Huệ bị kẹt trên một hòn đảo san hô khoảng 5 tháng với kết cục thê thảm là, ngoại trừ cô Huệ, các nạn nhân khác đã mất mạng vì đói khát.
Trong nhiều trường hợp vượt biên, thuyền nhân ra biển trên những chiếc ghe không an toàn lại thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng và do tài công ít kinh nghiệm hải hành lèo láy(10) bất kể các hiểm nguy của đại dương. Hải cụ của dân vượt biên thường là một bản đồ của khu vực Ðông Nam Á và một địa bàn - hải bàn là một dụng cụ đắt tiền trên thị trường chợ đen và người tìm mua dễ bị công an chìm theo dõi. Bản đồ địa dư của khu vực luôn luôn chứa đựng nhiều sai biệt với hải đồ cũng như không ghi rõ các chướng ngại vật ngầm trên biển; và địa bàn thường trở nên thiếu chính xác khi ghe bắt đầu ra khỏi cửa biển. Dĩ nhiên là đa số ghe vượt biên không bao giờ trang bị phao cấp cứu cho nên, khi ghe bị đắm, toàn bộ thuyền nhân chết đuối nếu không được cứu vớt kịp thời.
Ða số thuyền tị nạn không những thiếu hải cụ mà còn là những chiếc ghe không an toàn cho nên thường bị phá sau khi hoàn thành trọng trách đưa người vượt biển. Rất nhiều ghe thuộc loại đầu tà được chế tạo cho mục đích di chuyển trên sông ngòi nhưng lại được thuyền nhân đưa ra biển để đối đầu với tử thần bể cả. Một số ghe khác rất nhỏ - khoảng 3 thước bề ngang và 10 thước bề dài - được sử dụng đi đánh cá hay lấy cũi trong những vùng biển gần bờ cũng được thuyền nhân dùng để chuyên chở một số lượng lớn người tị nạn vượt đại dương tìm tự do. Trong vài trường hợp hy hữu, ngay cả xuồng chèo bằng tay cũng được một số gia đình miền biển lèo láy đến được các trại tị nạn.
Một thực trạng thường xảy ra trong hải trình thảm khốc của thuyền nhân Việt Nam là sự chuyên chở quá trọng lượng của các ghe tị nạn; và vì ghe không bao giờ có đủ chỗ cho tất cả mọi người cho nên đàn ông thường phải ngồi trên nóc thuyền hay bất cứ nơi nào họ có thể kiếm được, và đàn bà cũng như trẻ em thường ngồi co cẳng dưới hầm ghe. Bệnh say sóng đưa đến ói mửa cùng mùi dầu xanh cộng với tiếng la khóc và mùi nước tiểu của trẻ thơ trong cái khung cảnh lờ mờ của hầm tàu tạo ra một không khí thểu nảo chỉ có trong các nhà quàn xác.
Các chiếc ghe mỏng manh của thuyền nhân
Việt Nam từng được gán cho danh hiệu 'những
cái hòm nổi'(11) ra đại dương với
lượng thực phẩm và nước ngọt dự
trữ rất giới hạn. Nước ngọt dĩ nhiên
không bao giờ đủ cho tất cả mọi
người trên ghe, và thực phẩm (thường là
gạo và mì khô) chỉ đủ nếu ghe không gặp
hoạn nạn trên biển. Một khi thực phẩm và
nước ngọt dự trữ không còn, thuyền nhân
chỉ hy vọng thấy được đất
liền hay dàn khoang ngoại quốc(12) hoặc
được cứu vớt kịp thời. Trong
trường hợp của ông Phan Văn Thiệu
đến Kora Bahru ngày 22-4-1979, gia đình của ông
bị hải quân Mã Lai bắt xuống ghe lại vào ngày
11-5 và sau đó ghe bị kéo ngược ra hải phận
quốc tế. Trong năm ngày lênh đênh vô định
trên biển, họ phải uống nước tiểu
để tránh cơn khát sau khi hết nước ngọt.
Trẻ em bắt đầu chết dần, và số còn
lại cùng người lớn trên ghe có thể chết
hết nếu họ không được tàu Sibonga cứu
kịp thời. Thuyền trưởng Healey Martin đã
diễn tả lại thảm cảnh tuyệt vọng trên
ghe của ông Phan Văn Thiện như sau.(13)
'Phụ nữ và trẻ em trên chiếc ghe với bề
dài 20 thước và bề ngang 3 thước kêu gào
được giúp đỡ; không khí trên ghe, vốn
được chia ra thành 2 tầng để tận
dụng hết trọng lượng của nó, thật
khủng khiếp.. Tình trạng bệnh tật, thiếu
thực phẩm và nước ngọt kéo dài cộng
với điều kiện ghê tởm mà họ phải
chung đụng rác rến cũng như nước
tiểu đã làm suy nhược và đẩy họ vào tình
trạng sức khỏe rất yếu kém. Nếu chỉ
cho họ trữ thực thì chẳng khác nào bỏ
nhiều người cho tử thần.'(14)
Ðối với một số thuyền nhân, tình
trạng thiếu dầu máy cũng là một trong nhiều
khó khăn nan giải; trước sau gì trữ
lượng dầu dùng chạy máy cũng phải cạn
nếu ghe không đến được bờ bến
tự do đúng theo dự tính của tài công lúc khởi
hành. Lênh đênh trên mặt đại dương mịt
mù không lối thoát tương tự như đang
chờ đợi tử thần đến với sự tàn
phá của sóng gió thiên nhiên. Một vấn nạn khác liên
quan trực tiếp đến máy ghe vốn thường là
máy cũ được tân trang vài tuần trước ngày
ra khơi cho nên dễ bị trục trặc bất thình lình
trên biển. Sự kiện ghe bị 'trời trồng'
phải dậm chân tại chỗ vì máy hư không sửa
được và thuyền nhân chỉ còn cách chắp
nối bao vải để làm buồm hầu tiếp
tục chuyến hải trình không phải là hiếm;
và nếu không đến được đất
liền an toàn trong một thời gian ngắn thì
người tị nạn khó tồn tại lâu dài trên ghe.
Chiếc thuyền dài 7 thước của anh Phan Công
Trang, 18 tuổi, rời Ba Xuyên vào ngày 12-4-1983 và
được dự tính là sẽ đến Thái Lan hay Mã
Lai trong vòng đôi ba ngày. Gần hai tuần trên biển,
ghe của anh Phan cũng chưa đến được
bờ tự do. Tất cả thực phẩm, nước
ngọt cũng như dầu máy đều hết sạch.
Vào ngày thứ 13, chiếc ghe bị sóng đánh tan thành
những mảng lớn. Anh Phan may mắn bám vào
được một thùng nhựa rỗng và trôi lênh
đênh khoảng hai ngày trước khi được
một tàu thương mại của Na Uy cứu
đưa về Manila, Phi Luật Tân.
Anh Phan Công Trang may mắn đã không phải ăn thịt người vì lý do sinh tồn. Vào tháng 4-1982, 11 người vượt biên từ Nha Trang bị lạc hướng phải trôi dạt trên biển gần hai tháng. Tình trạng thiếu thực phẩm và nước ngọt khiến 6 người mất mạng. Số người còn lại trên ghe phải ăn thịt đồng loại để sống cho đến khi được tàu biên phòng Hồng Kông cứu vào tháng 6-1982. Chuyến vượt biên của ông Trần T. Bá còn khủng khiếp hơn nữa. Trong một lá thư viết cho thân nhân, ông Trần cho hay là ghe của ông rời bến Bạch Ðằng vào ngày 1-10-1978 với 178 người. Bốn ngày sau chiếc ghe đâm vào một cồn san hô không ra được;(15) và một tuần sau đó, tất cả trữ thực trên ghe cạn hết. Em của ông Trần tên Thành chết vào ngày 3-11. Trước khi được tàu Ðài Loan cứu khỏi cồn san hô vào ngày 18-11, một số người trên cồn đã phải ăn thịt đồng loại; ông Trần xác quyết là ông đã không phạm vào những hành động tuyệt vọng đó nhờ vào ý chí của ông.(16)

Ghe tị nạn bị sóng dập gần bờ biển Mã Lai.
(Ảnh: UNHCR's K. Gaugler)
Thực trạng hãi hùng đến
từ tai ương thiên nhiên, chướng ngại
vật ngầm của biển cả, trữ thực
giới hạn và trở ngại máy móc đã dẫn
đến nhiều kết cục thương tâm cho
thuyền nhân Việt Nam. Các hậu quả thê thảm này
là những di sản tác hại ít nhiều do thiên nhiên chi
phối cho nên khó tránh được, nhưng một
yếu tố tổ chức quan trọng khác đáng
lẽ phải được chú ý kỹ lưỡng vì
ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh
thuyền nhân lại thường ít được lưu
tâm đúng mức đó là kỹ năng hàng hải
của tài công. Nhiều người được giao trách
nhiệm lèo láy ghe tị nạn vượt đại dương
chưa hề đặt chân lên thuyền ra khơi, và dĩ
nhiên là họ không bao giờ có kinh nghiệm làm tài công
trong quá khứ. Nhu cầu bí mật kiếm tài công
giỏi của nhóm tổ chức vượt biên và nhu
cầu ra đi tàn ẩn trong một số cá nhân
thiếu khả năng tài chánh đôi lúc gặp nhau
ở những điểm khó hiểu. Sự sợ hãi cơ
chế đàn áp cộng sản đã khiến nhiều người
tự xưng từng là sĩ quan hải quân Việt Nam
Cộng Hòa với hy vọng sẽ được - và
một số người đã được - móc
nối vào các tổ chức vượt biên; họ
sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm tài công mặc
dầu biết là mình có ít, hoặc chưa từng có,
kinh nghiệm hàng hải. Hành
động thiếu thành thật này đặt sinh
mệnh của thuyền nhân trên ghe vào vị trí nguy
hiểm cận tử không cần thiết, nhưng cũng
may mắn là sự kiện tài công 'dỏm' xảy ra tương
đối ít.
_______________________________
Chú thích:
9
Bảo tố từ Ðông Hải thổi vào Việt
Nam đã gây ra nhiều thiệt hại trầm trọng
trong quá khứ. Vào năm 1904, hai nhịp cầu Trường
Tiền đã bị gió cuốn mất; và vào năm 1955,
250 cây cột điện ở Hà Nội bị bão đánh
gẫy.
10
Ngoại trừ một số ít sĩ quan hải quân
Việt Nam Cộng Hòa và tài công chuyên nghiệp được
huấn luyện kỹ lưỡng, đa số các tay lái
ghe khác không biết cả những kỹ thuật hay ám
hiệu liên lạc quốc tế căn bản nhất
cần thiết cho một cuộc hải hành liên quốc
gia, và dĩ nhiên là khả năng ngoại ngữ của
họ rất yếu kém.
11
Danh từ 'những cái hòm nổi' ('floating coffins')
được Bộ Trưởng Ngoại Giao Singapore là
Rajaratnam sử dụng tại Hội Nghị Bộ Trưởng
Ngoại Giao ASEAN vào tháng 6-1979 để mô tả tình
trạng bi thảm của các ghe thuyền tị nạn
Việt Nam.
12
Các trục dầu khoang ngoài biển của các công
ty như Exxon ở phía nam Thái Lan hay đông bắc Mã Lai
đã giúp đỡ rất nhiều ghe tị nạn và
cứu giúp hàng ngàn thuyền nhân lạc trên biển.
13 Quoted
in Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books, Middlesex,
England 1979, at p. 68.
14 'Women
and children on the twenty metres long by three metres wide boat were screaming
for help; the smell on the boat, which was tier-decked for maximum capacity, was
terrible. The weather had been fresh south-westerly for the previous
four-eight hours. Prolonged
sickness, lack of food and water and the horrible way the people were crowded
together in their own dirt and urine had reduced them to a very weak physical
condition. Merely to give them stores would have been to condemn a large number
of people to death.'
15
Các đảo san hô, đặc biệt là trong
hải phận Phi Luật Tân, đã trở thành những
chướng ngại vật giết người cho ghe
tị nạn Việt Nam. Trong
trường hợp của Trần H. Huệ, ghe của cô
rời Cần Thơ vào tháng 9-1978 với 50 thuyền nhân.
Ghe của cô đã bị mắc cạn trên một đảo
san hô gần Palawan. Sau 5 tháng bị kẹt trên đảo,
thực phẩm cạn lại không có nước ngọt,
49 thuyền nhân qua đời và cô Huệ là người
duy nhất may mắn được cứu sống.