II  Hải Trình ThảmKhốc

Thảm Trạng Nhân Tạo: Hải Tặc Dã Man

 


The reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences, endless natural calamities and brutal man-made obstacles. (Photo: B. McDougall)


../photos/Rescue from Khra .13.jpg (22586 bytes) ../photos/Rescue from Khra .15.jpg (26361 bytes)
Chỉ khoảng 3 thập niên trước những phụ nữ này đã phải bỏ nước ra đi vì chế độ CSVN kỳ thị đàn áp. Họ bị hải tặc bắt cóc và đày đọa trên đảo Khra: These Vietnamese women had hidden from the pirates in caves on Khra Island for fear of being raped. They had been forced to stand in knee deep sea water for days, during which sea crabs ate away much of the flesh of their feet and legs.

            Một trong các kinh nghiệm khủng khiếp suốt hải trình kinh hoàng của thuyền nhân Việt Nam là thảm trạng hải tặc. Tình trạng lộng hành của hải khấu trong vùng Ðông Hải hay vịnh Thái Lan không mới lạ bởi vì ngay từ thế kỷ 16, các nhà thám hiểm Anh quốc từng báo cáo về hoạt động của chúng từ vận chuyển hàng lậu, thuốc phiện đến cướp bóc thương thuyền. Tuy nhiên, tệ nạn hải tặc trong vùng Ðông Nam Á chỉ bắt đầu được cộng đồng quốc tế lưu ý sau khi thảm trạng thuyền nhân Việt Nam được giới truyền thông toàn thế giới tường thuật vào cuối thập niên 1970. 

            Một số thống kê xác định là số lượng ghe tị nạn bị hải khấu tấn công lên đến 70%-80%, nghĩa là cứ 5 ghe vượt biên thì 4 chiếc đã bị cướp. Một vài con số về tệ nạn hải tặc được Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc lưu giữ từ năm 1980 tuy thiếu chính xác (những nạn nhân bị hải tặc giết không còn sống để được 'thống kê') nhưng cũng có thể phác họa một hình ảnh khủng khiếp về sự tàn ác của hải tặc đối với thuyền nhân; chỉ trong vòng 3 năm từ 1980 đến 1983, 2.283 phụ nữ bị hãm hiếp, 592 vụ bắt cóc và 1.376 nạn nhân bị hải tặc giết.(17) Như đã phân tích ở phần trên, thống kê về tệ nạn hải khấu khó có thể bao gồm tất cả các sự kiện cướp bóc trên biển mà người tị nạn Việt Nam là nạn nhân bởi vì có ghe xấu số đã bị hải tặc giết sạch trong mục đích phi tang chứng tích cho nên không còn người sống sót để tường thuật lại số phận bi thảm của họ.

            Ða số hải khấu là dân đánh cá Thái Lan và Mã Lai mang ý nghĩ là thuyền nhân Việt Nam đem theo nhiều vàng cũng như tài vật đắt giá. Bọn cướp biển dùng dao búa và thỉnh thoảng cả súng để tấn công người tị nạn không vũ khí trong tay. Chúng thường đi từng nhóm hai hoặc ba thuyền lớn để bảo đảm sự thành công của vụ cướp ghe hoặc để giảm thiểu xác suất thất bại nếu gặp sự chống đối của thuyền nhân.


Ghe tị nạn bị hải tặc Thái tấn công.

            Sự phản kháng của người tị nạn Việt Nam ít khi xảy ra bởi vì thuyền nhân thường không mang theo vũ khí, và đa số suy nghĩ là tài vật không quan trọng bằng mạng sống cho nên họ sẵn sàng mất số quý kim đem theo để bảo toàn bản thân. Mặc dầu việc thu mua súng đạn ở Việt Nam không khó lắm nhưng phần đông người vượt biên tránh mang theo vũ khí để không bị công an khép tội 'phản động' trong trường hợp chuyến đi bị 'bể.' Song song, thuyền nhân ít khi chống đối hải tặc do quan niệm quý kim là tài vật tạm thời có thể kiếm lại sau này nếu còn sống trong khi đó mạng sống mang tính cách trường cữu nếu mất đi thì mất tất cả. Tuy vậy, hải trình lịch sử của thuyền nhân vẫn có nhiều vụ phản kháng cá nhân rất hào hùng nhưng gặp thất bại và dẫn đến cái chết của một số dân tị nạn. Trong vài trường hợp khác, nhiều ghe tị nạn đã biết sử dụng sức mạnh thanh niên, trái sáng và thỉnh thoảng cả súng trường, lựu đạn để đe dọa hải tặc khiến chúng phải rút lui.

            Trong một vụ phản kháng nổi tiếng toàn thế giới, 19 thuyền nhân bao gồm Bác sĩ Dương Chi Lăng, Trần Xuân Vinh, Lê Quang Phương, Hứa Thiện Hùng, Âu Diêu, Khuất Há Chảy, Ðoàn Văn Khuyên, Trịnh Duy Phước, Hồ Minh Tâm, Châu Chí Cường, Huỳnh Công Danh, Nguyễn Anh Lợi, Trần Khắc Ðức, Huỳnh Quốc Tuấn, Quan Chí Cường, Huỳnh Trưng Thuần, Trần Chánh Thành, Lê Văn Uyên và Dương Hán Minh đã đánh chiếm luôn thuyền hải tặc Thái Lan sau khi chúng tấn công họ, hãm hiếp phụ nữ rồi đâm chìm ghe tị nạn. Câu chuyện không dừng ở đó mà còn dẫn đến các khúc quanh trớ trêu khi các nạn nhân thông báo cho cảnh sát Thái Lan về hành động cướp bóc dã man của bọn hải tặc trên thuyền Lakha 12, họ đã bị bắt và khép vào tội sát nhân. Nhiều cơ quan quốc tế lên tiếng phản đối việc cầm tù họ, đặc biệt là từ giới truyền thông Pháp, Hội Tương Trợ Tị Nạn Á Châu và tổ chức Y Sĩ Phi Biên Giới. Sau một năm trời vận động, Bangkok chấp thuận phóng thích nhóm người tị nạn anh hùng này vào tháng 12-1981. Một thuyền nhân trong nhóm, ông Lê Văn Uyên, sắp mất mạng vì bệnh đau ruột nếu ông không được thả đúng lúc và đưa vào bệnh viện để điều trị ngay lập tức.

            Sự dã man của hải tặc thật khó tưởng tượng, và hành động tàn bạo của chúng đối với thuyền nhân Việt Nam ít khi nghe đến trong suốt thế kỷ 20. Bọn cướp biển tìm đủ mọi cách để tước đoạt vàng bạc của người tị nạn; chúng xét họ nhiều lần để tìm kiếm các vật tùy thân có giá trị.  Bọn hải tặc sẵn sàng chặt đứt ngón tay của nạn nhân để lấy nhẫn hay nhổ răng bọc vàng để lấy quý kim.(18)  Bất cứ sự chống đối nào của nạn nhân cũng đem đến cái chết của họ; sự kiện bọn cướp biển cắt cổ hay đập đầu nạn nhân rồi quăng thây xuống biển xảy ra rất thường xuyên. Tàn nhẫn hơn nữa là một số hải tặc hung bạo sẵn sàng giết sạch mọi người trên ghe để phi tang; chúng dùng thuyền lớn để đâm vào ghe tị nạn mỏng manh nhằm dìm chết tất cả các nạn nhân.

            Một bản tường trình của CUTNLHQ có ghi lại vụ cướp biển đã xảy ra vào tháng 12-1985 khiến 50 thuyền nhân bị mất mạng trong tay hải tặc Mã Lai: '80 thuyền nhân đa số từ khu vực thành phố HCM trốn khỏi nước cộng sản vào ngày 12-12 với hy vọng sẽ đến Mã Lai. Sau bốn ngày trên biển, họ bị một thuyền đánh cá chặn lại và vui vẻ hứa giúp đưa họ đến Mã Lai. Hai người đàn ông, một phụ nữ và ba trẻ em được mời sang thuyền đánh cá sau đó chúng kéo chiếc ghe Việt Nam theo. Năm giờ sau một thuyền đánh cá thứ hai đến chở khoảng 20 hải tặc mang súng dao và cây sắt nhảy sang ghe Việt Nam và bắt đầu xét thuyền nhân để cướp vàng và quý vật. Tất cả đàn ông trên 17 tuổi bị ném xuống biển, ngay cả hai thanh niên được mời sang thuyền đánh cá trước đó. Ða số đã bị chết đuối bởi vì họ không thể bơi. Các phụ nữ bị hãm hiếp. Sau khi bọn hải tặc bỏ đi, một người đàn ông còn sống nhờ bám vào một thùng dầu leo trở lại ghe với 28 phụ nữ và trẻ em rồi giúp họ giăng cánh buồm.'(19)

            Hải tặc thường hoạt động trong vòng đai 18 ngàn dặm vuông bao quanh tỉnh Songkhla nằm phía nam Thái Lan. Bangkok chỉ có hai tàu biên phòng tuần hành khu vực này cho nên đoạn biển rộng lớn này trở thành một vùng phi pháp. Trong tháng 9-1981, tàu Cap Anamur đã ngăn cản kịp thời một vụ cướp ghe tị nạn của 5 thuyền hải tặc Thái Lan.  Chiếc ghe Việt Nam chở 95 người rời Cà Mau được khoảng 100 cây số thì bị hỏng máy. Sau khi lênh đênh 2 ngày trên biển, ghe tị nạn bị bọn Thái khấu tấn công; chúng bắt 33 trẻ em và 22 phụ nữ sang thuyền đánh cá rồi kéo ghe tị nạn về một hướng vô định. Bọn hải tặc đang lục xét các nạn nhận để tước đoạt quý kim thì tàu Cap Anamur xuất hiện và giải thoát ghe tị nạn. Chính quyền địa phương đã được thông báo về vụ cướp này nhưng không có chuyện gì xảy ra đối với bọn hải khấu.

            Vào ngày 30-4-1981, ủy ban Chống Hải Tặc ra đời  ở Geneva bao gồm nhiều tổ chức nhân đạo phi chính phủ như Terres des Hommes, Médecins Sans Frontierès, Médecins du Monde, Écoles Sans Frontierès, Protection de l'Enfant Réfugié, Sentinelles, Bateau Ile de Lumière, v.v. Sau năm tháng làm việc, ủy ban gởi một con tàu ra khơi để ngăn chận hải khấu và cứu vớt thuyền nhân Việt Nam.

            Trong phạm vi công quyền, chủ trương của Kuala Lumpur và Bangkok là ngăn chận làn sóng thuyền nhân hơn là các hành động tàn bạo của hải tặc; vì vậy cho nên nhiều quan sát viên đã nghi ngờ là Mã Lai và Thái Lan có chính sách sử dụng bọn cướp biển như một vũ khí bán chính thức để xua đuổi người tị nạn khỏi vùng duyên hải. Nhằm bảo vệ thuyền nhân Việt Nam, CUTNLHQ đã cung cấp cho Thái Lan một tàu biên phòng (mua giá $160 ngàn Mỹ kim từ Tân Gia Ba) vào tháng 5-1980 và khuyến khích Bangkok nên tích cực kiểm soát vùng biển phía Nam.  Vào năm 1981, Thái Lan được Hoa Kỳ viện trợ $2 triệu Mỹ-kim để tiến hành chương trình chống hải tặc; số tiền này được sử dụng để mua 2 máy bay thám thính và sửa 1 tàu tuần hành. Vào khoảng tháng 6, Thái Lan đe dọa là sẽ ngưng hẳn chương trình này khi yêu cầu xin thêm $1.3 triệu Mỹ-kim bị cắt xuống còn $600 ngàn Mỹ-kim; sau đó, Bangkok miễn cưỡng chấp nhận một ngân khoản $3.6 triệu Mỹ-kim hàng năm do CUTNLHQ đề nghị với sự đóng góp của 12 quốc gia nhằm tiếp tục chương trình chống hải tặc.

            Với nguồn tài trợ mới, đội đặc nhiệm bài trừ hải tặc được tổ chức và trang bị 3 tàu tuần hành, 3 ghe tị nạn 'giả mồi' và 2 máy bay thám thính. Mặc dầu trên lý thuyết, tổ đặc nhiệm chống cướp biển của Bangkok hiện diện như một thực thể có khả năng tiến hành nhiều chiến vụ quan trọng; trong thực tế, tổ chức đó hình như chỉ hoạt động hời hợt. Một trường hợp thương tâm đã xảy ra đối với một ghe tị nạn vào tháng 11-1982. Trong khi thuyền nhân trên chiếc ghe xấu số đang bị 4 thuyền đánh cá Thái Lan chận cướp, một máy bay thám thính xuất hiện và xua đuổi đám hải tặc. Nhưng sau đó chiếc máy bay biến mất thay vì bảo vệ nhóm thuyền nhân cho đến khi họ được cứu vớt; khi không còn ai ngăn cản chúng, bọn cướp biển trở lại hiện trường để tiếp tục hành hạ nhóm nạn nhân Việt Nam và bắt đi 12 phụ nữ.

            Thái Lan từ chối không chấp nhận bất cứ sự giúp đỡ trực tiếp nào của các quốc gia khác trong chiến dịch bài trừ tệ nạn hải tặc. Bangkok viện cớ là hải quân Hoàng Gia Thái có khả năng giải quyết hải nạn này nếu được tài trợ dồi dào - càng nhiều tiền càng tốt! Hồ sơ lưu trữ liên quan đến lãnh vực này cho thấy là, trong khi đang thực hiện chiến dịch chống hải khấu, chính quyền Thái tiếp tục hăm dọa đóng cửa tất cả các trại tị nạn để ngăn cản làn sóng thuyền nhân.  Bangkok tuyên bố là sẽ đối xử với dân tị nạn Việt Nam đến Thái Lan sau ngày 15-8-1981 như những kẻ nhập cảnh bất hợp pháp và sẽ đóng cửa các trại tạm trú vào năm 1982. Công dân Thái bị cấm không được giúp đỡ thuyền nhân trong tình trạng hiểm nghèo trên biển, và  họ bị hăm dọa với các hình phạt chế tài nếu vi phạm. Chính sách ngăn ngừa làn sóng tị nạn Việt Nam của Bangkok khiến các quan sát viên khách quan không ngạc nhiên khi thấy tệ nạn hải khấu gia tăng vượt bực sau mỗi thông báo chống thuyền nhân của chính quyền Thái.

            Trong 5 năm đầu của chiến dịch bài trừ hải tặc, đội đặc nhiệm Thái Lan chỉ bắt được 30 tên cướp biển. Với sự giúp đỡ của nhóm bài trừ hải khấu Hoa Kỳ và các cố vấn của CUTNLHQ, đội đặc nhiệm Thái Lan hoạt động hiệu quả hơn vào năm 1986 và bắt thêm được 50 tên cướp biển; 21 trong số 50 tên phạm nhân bị kết án từ 3 năm tù đến tử hình.(20)  Thống kê chính thức cho thấy số lượng thuyền nhân bị cướp giảm từ 70%-80% trong năm 1980 xuống còn 44% trong năm 1986 và 30% trong năm 1987.

            Mặc dầu tệ nạn hải tặc tấn công thuyền nhân Việt Nam vẫn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1990, nhưng vào năm 1988 đội đặc nhiệm bài trừ hải khấu hình như không còn hoạt động tích cực bởi vì chính quyền Thái dồn nỗ lực thực hiện chính sách đẩy lui, thay vì ngăn chận, làn sóng tị nạn Việt Nam. Nỗ lực thám tính 52 hòn đảo ngoài khơi - một số đảo này từng được hải tặc dùng để giam giữ thuyền nhân - bị cắt giảm. Nỗ lực chống hải tặc của CUTNLHQ và Hoa Kỳ cũng giảm thiểu vì hình như các chính quyền và tổ chức quốc tế không còn quan tâm đến việc bảo vệ thuyền nhân Việt Nam. Một nhân viên cứu trợ đã cho đại diện Ủy Ban Luật Sư Vị Nhân Quyền có văn phòng tại Hoa Kỳ biết.21) 'Thật là buồn cười khi bàn về chuyện bài trừ hải tặc khi chính quyền Thái đang làm tất cả những gì họ có thể làm được để ngăn chận ghe tị nạn đến (đất Thái). Chương trình bài trừ hải khấu hoạt động một cách lượm thượm, ở phía Ðông và Nam.  Và nỗ lực quốc tế thám thính dọc miền duyên hải và các đảo hoàn toàn không có.'(22)

            Vào năm 1988, hải quân Thái Lan tiếp tục nhận nhiều triệu Mỹ-kim để bảo vệ thuyền nhân nhưng, theo một số báo cáo, đã được Bangkok sử dụng trong chính sách đẩy lui làn sóng tị nạn Việt Nam.(23) Vào ngày 27-6-1988, tàu biên phòng Thái đã kéo 3 ghe tị nạn với 61 người trên đó ra hải phận quốc tế; sau đó bọn lính trên tàu xả đạn bắn vào ghe.  Hai thanh niên may mắn sống sót nhưng lại bị bắt giam rồi chuyển giao cho Hà Nội sau đó trong chiến dịch cưỡng bách hồi hương. Trong một vụ khác, chính hải quân Hoàng Gia Thái đã đưa các thuyền nhân xấu số vào nanh vuốt cướp biển. Vào ngày 11-5-1988, 79 người tị nạn sống sót đến được Mã Lai cho hay là họ bị hải quân Thái bỏ lên ghe và kéo ra biển.  Các tàu đánh cá Thái đã chờ đợi sẵn và, sau khi tàu biên phòng khuất bóng, ập vào cướp cũng như hãm hiếp phụ nữ trên ghe.

            Ủy Ban Luật Sư Vị Nhân Quyền đã điều tra chương trình bài trừ hải tặc của Thái Lan vào năm 1988 và sau đó đưa ra các ý kiến xây dựng sau đây với hy vọng có thể giải quyết một số tệ nạn được thành viên Ủy Ban bạch hóa.(24)

'a)  Chính quyền Thái nên cho nhân viên chống cướp biển và bảo vệ (tị nạn) của CUTNLHQ và Hoa Kỳ phỏng vấn người tị nạn ngay lập tức sau khi họ đặt chân lên đất Thái hay các hòn đảo và chia xẻ tin tức liên quan đến hải khấu. Việc gặp gỡ người tị nạn sớm có thể giúp cho nỗ lực truy tố hải tặc được dễ dàng hơn.

b)  Nhân viên tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ nên thường xuyên thám thính miền duyên hải Thái Lan, và hệ thống hóa mạng lưới thâu thập tin tức. Việc thám sát các hòn đảo ngoài khơi nên được tiến hành và nhân viên bổn xứ với khả năng đa ngôn ngữ nên được sử dụng..'(25)

            Bởi vì chính quyền Thái Lan do dự trong nỗ lực kiểm soát vùng duyên hải nhưng lại tích cực thực hiện chính sách cưỡng bức hồi hương, sự tàn bạo của hải tặc trong các vụ cướp bóc giết hại thuyền nhân Việt Nam gia tăng với một tốc độ khủng khiếp. Bọn hải khấu dã man đã không nương tay đối với thuyền nhân và sẵn sàng giết sạch các nạn nhân trên ghe nhằm phi tang tất cả chứng tích. Số lượng ghe tị nạn bị cướp may mắn sống sót gia tăng trong khi số lượng cướp biển bị bắt lại rất ít; tuy vậy, một sự kiện đáng ghi nhớ là trong đám phạm nhân bị giam cầm có một số lính hải quân Thái Lan(26) - vốn mang trọng trách giữ gìn an ninh biên phòng - đã bị các thuyền nhân tố cáo với chứng cớ hùng hồ là những tên hải tặc mặc quân phục hoàng gia.

______________________

Chú thích:

17  Theo bài nói chuyện của Michel Moussalli, Giám Ðốc Bảo Vệ Cuộc của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tại Ðại Hội các Tổ Chức Thương Hải (Assembly of Maritime Organizations) ở Luân Ðôn vào ngày 8-11-1983.

18  Chồng của bà Lương B. Châu bị hải tặc Thái chặt ngón tay để lấy chiếc nhẫn vàng và sau đó giết chết vào tháng 10-1978. Sau khi cướp sạch quý kim, bọn hải tặc đã hãm hiếp phụ nữ rồi dùng thuyền của chúng để đâm vào mạng ghe. May mắn là các người tị nạn còn sống sót đã giữ cho ghe số  KG-0729 tiếp tục nổi, và cuối cùng họ dạt được đến đảo Bidong, Mã Lai.

19  'The 80 Vietnamese, mostly from Ho Chi Minh City region, fled their communist country Dec. 12 (1985) in the hope of reaching Malaysia. After sailing for four days, they were stopped by a fishing boat with an apparently friendly crew who offered to help them get to Malaysia. Two men, one woman and three children were invited to come on board the fishing boat which then took the Vietnamese craft in tow. Five hours later a second fishing boat arrived which about 20 pirates armed with knives and iron bars, boarded the Vietnamese boat and began searching the people for gold and valuables. All men above the age of 17 were thrown into the water, even the two who had been invited aboard the 'friendly' ship. Most of them drowned because they could not swim. The women were raped. After the pirates left, a man who had managed to keep floating by holding on to a jerycan joined the 28 women and children aboard and helped them to put up a sail again.'  '50 Vietnamese boat people killed by pirates, UN aide says,' Boston Globe, December 26, 1985.

20  Một hải tặc tên Mesa Sukchan bị tòa tỉnh Songkhla kết án tử hình vào năm 1986 về tội cướp biển, cưỡng hiếp và giết thuyền nhân Việt Nam.  Ba cộng tác viên của hắn bị kết án tù từ 15 đến 22 năm. Theo 'Court gives death sentence for piracy,' Bangkok World, 13 December 1986.

21  Refuge Denied, Lawyers Committee for Human Rights, 1989, New York, at p.85.

22  'It is ludicrous to talk about anti-piracy when the Thai government is doing all it can to prevent boats from coming.  Anti-piracy is in shambles, in the east and the south.  And international coverage of the coast and the islands is non-existent.'

23   '50 Boat People Apprehended,' Bangkok Post, February 28, 1988.

24  Refuge Denied, Supra, at pp.6-7.

25  'a) The Thai government should grant full access to the UNHCR and U.S. Embassy anti-piracy and protection officers to interview refugees immediately upon arrival in Thailand or the islands and coordinate and share information on piracy.  Immediate access will facilitate the prosecution of offenders.

b) U.S. Embassy personnel should on a regular basis monitor Thailand's border and coastlines, and develop a system of reliable information contacts.  Routine searches of the islands should be conducted and indigenous employees with multi-lingual capabilities need to be used..'

26  Vào tháng 5-1978, một ghe tị nạn gồm 30 thuyền nhân Việt Nam đã bị tàu tuần cảnh Thái Lan chận cướp. Bọn lính Thái tước đoạt vàng, hảm hiếp phụ nữ rồi bắn vào ghe ra lệnh cho thuyền nhân phải rời hải phận Thái. Sau đó không lâu, ghe trôi dạt đến Songkhla, và đồng bào trên ghe đã tố cáo hành động cướp của hiếp người này nhưng chính quyền Bangkok tỏ vẻ không tích cực điều tra vụ án. Trong một vụ khác, 6 cảnh sát Thái đã bị bắt vào ngày 17-6-1979 về tội tấn công cướp của, hiếm dâm thuyền nhân gần làng Nakhon Si Thammarat nhưng sau đó chúng được phóng thích vì 'thiếu bằng chứng.'  

Trở lại phần Mục Lục