II  Hải Trình ThảmKhốc

Thảm Kịch Hải Tặc Bắt Cóc Nô Lệ Hóa Thuyền Nhân

 


The reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences, endless natural calamities and brutal man-made obstacles. (Photo: B. McDougall)

 

../photos/Rescue from Khra .13.jpg (22586 bytes) ../photos/Rescue from Khra .15.jpg (26361 bytes)
Chỉ khoảng 3 thập niên trước những phụ nữ này đã phải bỏ nước ra đi vì chế độ CSVN kỳ thị đàn áp. Họ bị hải tặc bắt cóc và đày đọa trên đảo Khra: These Vietnamese women had hidden from the pirates in caves on Khra Island for fear of being raped. They had been forced to stand in knee deep sea water for days, during which sea crabs ate away much of the flesh of their feet and legs.


         Thiệt hại vật chất không có nghĩa gì khi so sánh với bi kịch mất người thân trên biển cả mà nhiều gia đình thuyền nhân phải chịu đựng trong đau khổ. Hải tặc không chỉ trấn lột quý kim mà còn hãm hiếp và bắt cóc phụ nữ cũng như thanh nữ Việt Nam. Con bị cưỡng dâm trước mặt cha mẹ; vợ bị xâm phạm tiết hạnh trước mặt chồng; nhưng cơn ác mộng khủng khiếp nhất cho bậc cha mẹ hay khổ phu xảy ra khi con hay vợ bị hải khấu bắt đi mất tích. Từ giây phút đó trở đi, những người sống sót bị tủi nhục cả đời bởi vì mặc cảm không thể bảo vệ được người thân. Họ luôn tự hỏi tại sao họ đã nhẫn tâm đem vợ con ra biển để đối đầu với các hiểm nghèo của bể cả và nhận lãnh một kết cuộc thật thê thảm. Họ cảm thấy hối hận cả đời còn lại bởi vì họ còn sống mà số phận hẩm hiu của vợ con kém may mắn thì không biết ra sao.

            Chỉ trong 6 tháng đầu của năm 1981, 701 vụ hải tặc tấn công ghe tị nạn đã xảy ra và 145 thanh nữ Việt Nam đã bị cướp biển bắt đi. Một cô gái may mắn sống sót sau cơn ác mộng kinh hoàng là Nguyễn Phương Thúy, 15 tuổi. Cô Thúy và em cô, Trân, cùng 66 người khác vượt biên vào ngày 19-5-1981 trên một chiếc ghe dài khoảng 10 mét. Hai ngày sau, họ bị hải tặc Thái Lan tấn công dã man. Sau khi trấn lột sạch vàng và quý kim của nạn nhân, chúng bắt Thúy và một cô gái đi theo rồi dùng tàu đánh cá đâm chìm chiếc ghe tị nạn mỏng manh; tất cả các nạn nhân còn trên ghe kể cả bé Trâm đều bị chết đuối. Trong suốt 3 tháng rưỡi sau đó, Thúy và cô gái bị bắt chung đã trở thành nô lệ tình dục của bọn hải tặc.  Họ bị hãm hiếp mỗi ngày và bị mua đi bán lại giữa các tàu đánh cá ít nhất là 14 lần. Tàu đánh cá thứ 15 đã tống khứ họ xuống một bãi hoang  và sau đó họ bị lính Thái giam giữ vì tội nhập cảnh bất hợp pháp. Trong tù, Thúy gặp một cô gái khác tên Nguyễn T. Lan, 25 tuổi, cũng từng bị hải tặc cầm tù như nô lệ tình dục trên một hòn đảo ngoài khơi nhiều ngày. Sau khi được phép nhập trại tị nạn Songkhla, Thúy đã viết thư về cho mẹ và các cô để khẩn cầu họ đừng bao giờ vượt biên bằng ghe bởi vì kinh nghiệm bản thân của cô quá hãi hùng. Một sự kiện hơi trớ trêu là chính quyền Thái Lan - trên lý thuyết đang tiến hành chiến dịch bài trừ hải tặc -  qua ban quản trị trại đã cấm không cho cô Thúy kể lại kinh nghiệm đau thương của cô cho các ký giả ngoại quốc.

       Danh sách của nạn nhân bị hải tặc bắt cóc rất dài và khó có thể được hoàn tất đầy đủ bởi vì nhiều gia đình đã bị cướp biển giết sạch nhằm phi tang bằng cớ tội lỗi cho nên lịch sử mất đi chứng nhân. Ðinh Ngọc Lệ Thủy, sinh ngày 22-2-1967, bị hải khấu Thái bắt ngày 8-12-1986 trước mặt thân mẫu; mẹ cô hiện đang sống tại thành phố Garden Grove, California. Dư Tuyết Mỹ, sinh ngày 20-1-1962, đã bị bắt cóc ngày 13-1-1982. Nguyễn Thị Diễm, sinh ngày 25-12-1966, bị cướp biển cưỡng ép lên tàu đánh cá của chúng và đưa đi mất tích vào ngày 16-2-1984. Phạm Thị Khuê Lương, sinh ngày 1-1-1967, và Phạm Thị Yến Ly, sinh ngày 26-10-1968, rời Rạch Giá ngày 24-5-1988 và sau đó bị hải tặc Thái bắt cóc ngày 27-5-1988. Trong trường hợp của Tăng Bích Hằng, gia đình cô hứa thưởng $10 ngàn Mỹ-kim cho bất cứ ai có thể cung cấp tin tức về hiện trạng của cô.

            Chúng ta không thể biết được bao nhiêu phụ nữ và thanh nữ Việt Nam đã bị hải tặc bắt cóc, nhưng chúng ta có thể chắc chắn là số lượng nạn nhân bị cướp đi thật khủng khiếp. Trong số nạn nhân bị mất tích trên đường tìm tự do có Tăng Bích Hằng, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Phạm Ngọc Bích Thủy, Võ Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Phạm Thị Ngọc Bích, Phạm Thị Ngọc Hạnh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Diệp Mỹ Linh, Nguyễn Thị Hiền, Hoàng Thị Kim Chi and Hoàng Thị Kim Dung,  Quách Lê Nương, Lê Thị Kim Hồng, Huỳnh Kim Phụng, Ðinh Thị Như, Nguyễn Thị Ðắc Tâm, Nhữ Thị Thiên Kim, Vũ Thị Thanh Thảo, Nguyễn Thanh Thủy, Ðặng Thị Quỳnh Hoa, Ðặng Thị Quỳnh Như, Tiến Xuân Mai, Nguyễn Thị Cẩm Hồng, Bửu Nghị Liêu, Ðỗ Hoàng Dung, Vũ Xuân Phụng, Nguyễn Diễm Hương, Võ Thị Tuyết, Bảo Trân, Tạ Thị Kim Hoàn,  Trần Mỹ Hằng, Lệ Nguyễn Trúc Mai, Phạm Thị Sương Liễu, Phạm Thị Trúc Ly, Phạm Thị Ngọc Luyện, Châu Yến Linh, Trần Bích Thủy, Trần Thị Mỹ, Ngô Thị Liễu, Tống Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Kiều Dung, Nguyễn Thị Kiều Phương, v.v.

            Ða số các nạn nhân bị hải tặc giết sau một thời gian bị giam cầm như nô lệ tình dục nhằm tiêu hủy tất cả các chứng cớ tội lỗi. Trong một số trường hợp, vài phụ nữ đã bị bán vào các động mãi dâm Thái Lan. Cô Nguyễn Thị Trương bị hải tặc Thái bắt cóc, hảm hiếp và cuối cùng tống xuất vào đường dây mãi dâm ở phía Nam Thái Lan. Vào tháng 9-1979, cô Trương trở thành nô lệ tình dục của Heavenly Pleasure Massage Club và bị bắt buộc phục vụ du khách Tân Gia Ba, Nhật Bản tại các khách sạn như Rado Hotel hay Seiko Hotel.(27)


Rất nhiều ghe tị nạn đã không đến được bờ tự do. Ít nhất là từ 80.000 đến 200.000 thuyền nhân đã mất mạng trên biển.

            Trong một trường hợp khác, cô Nguyễn Ánh Tuyết cùng chị là Nguyễn Thị Nam rời Nha Trang vào ngày 8-12-1979. Khi ghe bị hết dầu máy phải lênh đênh trên biển nhiều ngày, tình trạng thiếu nước ngọt dẫn đến cái chết của 12 trẻ em. Vào ngày 21-12-1979, họ bị hai tàu đánh cá Thái Lan tấn công. Cô Nguyễn Thị Nam bị đám cướp đập đầu và quăng thây xuống biển. Sau khi tước đoạt hết tài vật và quý kim, bọn hải khấu kéo chiếc ghe tị nạn đến giam lỏng tại đảo Khra và bắt đi ba cô gái xấu số trong đó có Nguyễn Ánh Tuyết. Một trong ba cô gái có tên là Lan đã bị giữ trên tàu thứ nhất và số mạng của cô ấy đến hôm này vẫn không ai biết ra sao.  Nguyễn Ánh Tuyết, 17 tuổi, và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ Kiều, 17 tuổi, đã bị hải khấu trên tàu thứ hai giam giữ trong một khách sạn ở Songkhla. Khi một tên hải tặc định hãm hiếp cô, Nguyễn Ánh Tuyết cự tuyệt và khóc la lớn.  May mắn cho Tuyết là tiếng khóc thét của cô thu hút được sự chú ý của du khách ngoại quốc trú ngụ cùng khách sạn, và họ đã can thiệp kịp thời để giải thoát cô. Qua lời khai của hai cô Tuyết và Kiều, cảnh sát Thái bắt được bọn cướp biển sau đó. Trong khi lấy khẩu cung, bọn hải tặc thú thật với cảnh sát là chúng dự định bán hai cô vào một ổ mãi dâm ở Songkhla.

            Các thuyền nhân khác còn sống sót trên ghe của cô Nguyễn Ánh Tuyết bị giam giữ như nô lệ trên một hòn đảo hoang không người sinh sống ở phía đông nam Thái Lan có tên là đảo Khra (Koh Khra hay Freckle Island) cách vùng Phak Phanang khoảng 43 miles hay 69 cây số. Khra là một địa ngục trần gian cho những thuyền nhân bị hải tặc tấn công rồi dẫn độ về đó để giam cầm sau khi phá hỏng ghe của họ. Các người tị nạn thiếu may mắn đó không còn cách nào trốn khỏi hòn đảo nô lệ; họ bị cô lập hoàn toàn và dần dần lệ thuộc vào bọn cướp biển để có thực phẩm và nước uống.

            Khi một ghe tị nạn Việt Nam bị kéo về đảo Khra, hình như tất cả hải khấu trong vùng đều biết về sự hiện diện của nhóm thuyền nhân bất hạnh do tin của tàu bắt cóc truyền đi qua làn sóng vô tuyến. Các ngày sau đó, một vài tàu đánh cá ghé qua đảo để hành hạ nhóm người vượt biên Việt Nam xấu số; bọn cướp biển đánh đập thanh niên và hãm hiếp phụ nữ kể cả trẻ em - có những bé gái chỉ mới 11 hay 12 tuổi. Thanh nữ Việt Nam trên đảo cố gắng ẩn núp trong các bụi rậm hay hang hốc mỗi khi hình dáng khủng khiếp của tàu đánh cá Thái xuất hiện trên chân trời. Những hành động ghê tởm tàn ác của bọn cướp biển đã khiến họ khiếp đảm cho nên họ phải trốn tránh trước khi chúng đặt chân lên đảo. Nhiều cô gái núp trong các hang ổ ngặp đầy nước mặn; chân của họ bị cua biển cắn nát nhưng họ phải cắn răng chịu đựng vì khiếp sợ sự hung bạo gướm guốc của hải tặc. Mỗi khi bọn cướp biển lên đảo, chúng trở thành những con thú săn người. Chúng lục soát hang hốc, bụi rậm và tra tấn những người tị nạn lộ diện một cách tàn nhẫn  để tìm dấu tích của các cô gái. Vòng tròn khủng bố tái diễn và các thuyền nhân bất hạnh lại phải chịu đựng những hành động tàn ác của bọn hải tặc mỗi khi chúng đặt chân lên đảo.

            May mắn cho một số người tị nạn bị giam giữ trên Khra là đoàn cứu trợ nạn nhân hải tặc của CUTNLHQ thỉnh thoảng thám thính vùng đảo hoang phía đông nam Thái Lan sau khi phác giác bi kịch thuyền nhân bị hải tặc giam cầm và nô lệ hóa. Các nạn nhân được đưa vào trại tị nạn Songkhla để điều trị; nhiều cô gái phải được thuyên chuyển đến bệnh viện Thái ngay lập tức bởi vì chỉ có dụng cụ y khoa tân tiến và thuốc men đầy đủ mới có thể cứu sống được họ. Một số thiếu nữ phát bịnh tâm thần do kinh nghiệm kinh hoàng mà họ đã trải qua trên các hoang đảo; dù cố gắng hết sức, họ vẫn không thể quên đi được những hình ảnh hãi hùng trong cơ ác mộng ghê tởm vừa xảy ra.(28)

            Vào năm 1980, một thống kê nhỏ do nhóm thuyền nhân trong trại Songkhla thực hiện đưa ra những con số đau lòng sau đây:(29)

1980                                                        Tháng 5          Tháng 6         

Ghe nhập trại                                              41                      36      

Ghe bị hải tặc cướp                                     36  (88%)          35  (97%) 

Ghe bị dẫn độ     đến Koh Khra                   5  (12%)             1  (3%)           

Số phụ nữ nhập trại                                      384                    440     

Số phụ nữ mới nhập trại bị hải tặc hãm hiếp   92  (24%)          55 (13%)        

Nạn nhân bị giết hay mất tích trên biển
(có chứng nhân/người biết đến)        
              70                         3         


            Ðịa ngục trần gian Khra được ghi lại tương đối tỉ mỉ với nhiều chi tiết thương tâm.(30) Trong trường hợp của bà Nguyễn Thị Thưởng, gia đình bà rời Việt Nam trên chiếc ghe số SS0640 IA vào ngày 1-12-1979. Ghe của bà đã bị hải tặc chận cướp, và sau đó toàn thể 107 người tị nạn bị đẫn độ về đảo Khra. Khi còn cách bãi biển một đoạn xa, tất cả thanh niên Việt Nam bị đạp xuống nước khiến 7 người bị chết đuối vì không lội nổi vào bờ. Suốt 8 ngày bị giam giữ như nô lệ trên Khra, phụ nữ bị hãm hiếp và đàn ông bị đánh đập tàn nhẫn. Trong ngày thứ 3, một chiếc tàu mang số POLICE#513 đến đậu cách bãi biển vài chục thước nhưng không có phản ứng gì khi nghe lời kêu gào cầu cứu khẩn thiết của nhóm thuyền nhân bất hạnh. Bọn hải tặc trở lại vào những ngày sau đó và vòng tròn khủng bố lại tái diễn. Ðến ngày thứ 8, các nạn nhân được tàu CUTNLHQ phát hiện và đưa về trại tị nạn Songkhla.

            Với nguồn tài trợ dồi dào của cộng đồng thế giới và sự giúp đỡ của CUTNLHQ, Bangkok đã cho dựng một trạm thám thính ngay trên đảo Khra vào năm 1981 để cứu trợ nạn nhân hải tặc.  Chỉ trong vòng 12 tháng, 1.250 thuyền nhân đã được giải thoát khỏi địa ngục Khra; 160 nạn nhân vô tội đã mất mạng trong khi chờ đợi được giúp đỡ. Một bản tường trình của CUTNLHQ thuật lại bi kịch kinh hoàng trên đảo như sau:

'Một phụ nữ bị phỏng rất nặng khi bọn hải tặc đốt phía đồi nơi cô ta đang lẫn tránh để bắt cô ta phải ra. Một cô khác trốn nhiều ngày trong một hang có nước lên tận eo bụng cho đến khi cua biển cắn nát gần hết da thịt chân của cô. Một bé gái đã qua đời sau khi bị (bọn hải tặc liên tục) hãm hiếp và được chôn với một tấm bia tạm bợ ở bìa rừng thưa thớt.'(31)

            Ðảo Khra không phải chỉ là một địa ngục duy nhất cho thuyền nhân Việt Nam. Tình hình trong trại tạm trú Kuku trên đảo Jemaja của Nam Dương là một cơn ác mộng hãi hùng khác cho người tị nạn. Tại Kuku, thuyền nhân bị giam giữ trong những lều quân đội trước khi được thanh lọc và cho phép di chuyển đến các trung tâm khác như trại tị nạn Palau Galang. Lợi dụng tình trạng bấp bênh của người tị nạn, về đêm lính Nam Dương thường xuyên bắt cóc và hãm hiếp phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn 1989-1990.(32) Theo lời kể của cô Nguyễn Thị Thủy - một thiếu nữ từng bị giam giữ trong trại Kuku hiện đang sống ở Toronto, Canada - các nạn nhân và gia đình của họ không dám chống đối vì lo sợ cho tính mạng. Bi kịch ghê tởm này chỉ bị phanh phui sau khi chú của một cô gái bị lính Nam Dương đánh chết vì dám chống đối lại chúng để bảo vệ cháu mình; cái chết thương tâm của thuyền nhân can đảm này đưa đến nhiều phản ứng bất lợi cho Jakarta trên chính trường quốc tế khiến chính quyền Nam Dương phải điều tra và ra lệnh truy tố các hành động đê tiện của đám lính canh gác Kuku.(33)

            Khra và Jemaja chắc chắn không phải là hoang đảo duy nhất có thuyền nhân bị hải tặc giam cầm, giết chóc cũng như đối xử thấp kém hơn nô lệ. Bao nhiêu hoang đảo khác nữa trong vùng vịnh Thái Lan đã trở thành địa ngục cho người tị nạn Việt Nam? Các chính quyền địa phương hoàn toàn không lưu tâm đến nỗ lực lâu dài cứu giúp thuyền nhân bị đày đọa tại các hoang đảo mặc dầu thỉnh thoảng toán đặc nhiệm bài trừ hải tặc Thái Lan có ghé 52 hoang đảo mà họ tình nghi là có đồng bào tị nạn Việt Nam bị cướp biển giam giữ (nhưng bao nhiêu tàu tuần tra như tàu số POLICE#513 kể trên có đến và đã nghe tiếng vang lạy của nạn nhân nhưng không chịu giúp mà cũng không thông báo cho CUTNLHQ). Chính sách của các chính quyền địa phương chú trọng vào nỗ lực ngăn cản làn sóng tị nạn Việt Nam hơn là nỗ lực bài trừ hải khấu; và vì vậy cho nên, một số quan sát viên quốc tế suy luận rằng tàu hải tặc và các thành phần tội ác có thể đã được chính quyền địa phương bao che để trở thành những con tốt ngăn cản thuyền nhân đến được bến bờ tự do.

___________________

Chú thích:

27  Bangkok Post, 9 Septembe
r 1979.

28  Bệnh tâm thần không chỉ ảnh hưởng thuyền nhân trên đảo Khra mà còn cả những nạn nhân đã trải qua một cuộc hải trình kinh hoàng. Ðiển hình là vào cuối năm 1979 tại đảo Bidong của Mã Lai, khoảng 28 thuyền nhân mang bệnh tâm thần trầm trọng nhưng trại không có điều kiện để giúp đỡ họ (đa số là phụ nữ từng bị hải tặc hãm hiếp).

29   Ibid., at p.56.

30  Một vài vụ được ghi lại trong tài liệu Pirates on the Gulf of Siam, 2nd Edi., của Nhat Tien, Duong Phuc, Vu Thanh Thuy, Boat People S.O.S. Committee, San Diego 1981.

31  'One woman was severely burned when the pirates set fire to the hillside where she was hiding in an attempt to flush her out.  Another cowed for days in a cave, waist-deep in water, until crabs had torn the skin and much of the flesh away from her legs.  A young girl who died after being gang raped is buried under a simple slab at the edge of a clearing.'  Quoted in Barry Wain, The Refused:  The Agony of the Indochina Refugees, supra, at p. 71.

32  Một trại tị nạn khác kinh hoàng không kém trại Kuku  là trại NW82 của Thái Lan vốn giam giữ bộ nhân Việt Nam.

33  Phỏng vấn cô Nguyễn Thị Thủy vào ngày 30-11-1998 tại Lloyd Duong Attorneys Atrium ở Toronto, Gia Nã Ðại. Cô Thủy được Ottawa bảo trợ cho định cư vì lý do nhân đạo vào ngày 20-10-1992;  quyết định này là phản ảnh hậu quả nghiêm trọng của vụ Kuku.  Cô Thủy còn cho biết là giá để cho một thuyền nhân được đậu thanh lọc tại Nam Dương là $2.000 Mỹ kim, và họ được thông báo về hối phí này trước khi hồ sơ xin tị nạn của họ được xét hầu có thể kịp thời chạy tiền lo lót.  

Trở lại phần Mục Lục