II  Hải Trình ThảmKhốc

Ðồng Bào Tị Nạn Miền Bắc

 


The reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences, endless natural calamities and brutal man-made obstacles. (Photo: B. McDougall)

 

            Từ cuộc di tản khổng lồ vào Nam năm 1954 cho đến năm 1975, thỉnh thoảng một số đồng bào miền Bắc vượt thoát được gông cùm kềm kẹp của chính quyền cộng sản Hà Nội để xin tị nạn tại miền Nam. Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn vào tháng 4-1975 đánh dấu một bước ngoặt mới trong trào lưu tị nạn cộng sản tại miền Bắc: bán đảo Ðông Dương không còn một mảnh đất an toàn cho người Việt tìm tự do ẩn náo.(43) Sự can đảm phiêu lưu của dân tị nạn miền Nam trên những chiếc thuyền mỏng manh trên biển Ðông mở ra một hướng đi mới cho đồng bào miền Bắc mang hoài vọng tự do; họ nhanh chóng thay đổi hướng vượt tuyến để chuẩn bị băng bể đến Hồng Kông hay Macao.(44)

            Hải trình của đồng bào miền Bắc tương đối dễ dàng và ít tốt kém hơn khi so sánh với chi phí và các khó khăn nhân tạo cũng như thiên nhiên mà nỗ lực vượt biên ở miền Nam phải đương đầu.(45) Phương pháp tổ chức giữa hai miền có nhiều khác biệt lớn lao bởi vì, sau một thời gian dài bị chính quyền xã hội chủ nghĩa đàn áp và tước đoạt gia sản, đa số ghe thuyền miền Bắc không còn máy móc hay hải cụ đi biển; và vì vậy, đồng bào miền Bắc chỉ có cách là vượt tuyến qua Trung quốc rồi tìm cách sang Hồng Kông hay tổ chức ra đi trên những chiếc ghe cũ và nhờ vào sức gió thổi cánh buồm đến vùng đất tự do. Hải trình của đồng bào miền Bắc kéo dài khoảng 6 đến 8 tuần lễ và thường luôn luôn đi dọc theo bờ biển Trung quốc để đến Hồng Kông hau Macao; đây là những chuyến đi 'nhảy đảo' (island-hoping) bởi vì dân tị nạn trên ghe lúc nào cũng thấy được bờ và có thể cập bờ (thuộc lãnh thổ Trung quốc) bất cứ lúc nào để tránh giông tố hay mua thêm thực phẩm, dầu máy hoặc để sửa chữa ghe.  Vào những năm đầu của niên kỷ 1980, Bắc Kinh xung đột với Hà Nội cho nên có chính sách dễ dãi cho thuyền nhân; và nhờ vậy, đồng bào miền Bắc có thể cập bờ một cách tự do trên đường đến Hồng Kông hay Macao.(46)


Ðồng bào miền Bắc thường dùng thuyền buồm để ra đi xin tị nạn.
(Project Ngọc)

            Vào năm 1982, chính quyền thuộc địa Anh ở Hồng Kông, nơi mà đa số đồng bào miền Bắc xin tị nạn, đưa ra chính sách trại cấm. Sau ngày 2-7-1982, tất cả thuyền nhân đến Hồng Kông được yêu cầu đọc bản thông cáo của chính quyền như sau:

'Toàn thể cựu thường dân của Việt Nam xin vào Hồng Kông từ ngày 2-7-1982 sẽ bị giam giữ trong những trung tâm đặc biệt.
Nếu quý vị không rời khỏi Hồng Kông ngay bây giờ, quý vị sẽ bị dẫn độ về một trại cấm và giam giữ vĩnh viễn trong đó. Quý vị sẽ không được cho phép rời trại cấm trong suốt thời gian ở tại Hồng Kông.   Cơ hội để được định cư rất khó xảy ra.  Quý vị được tự do rời khỏi Hồng Kông ngay bây giờ, và nếu quý vị quyết định tiếp tục lên đường, quý vị sẽ được giúp đỡ.'(47)

            Các 'trung tâm đặc biệt' của Hồng Kông là những khu tạm cư 3 giường chồng với độ cao và rộng khoảng 2.6mx2mx1m được ngăn bằng khăn, màn vải hay ván. Bên trong hàng rào kẽm gai của trại cấm, phương tiện sinh sống như nhà bếp hay phòng vệ sinh rất giới hạn so với số lượng đồng bào bị giam cầm. Thỉnh thoảng người tị nạn cũng được mướn làm một vài việc vặt với mức lương bóc lột;  một ngày làm việc của họ được trả không quá $0,40 Mỹ-kim.

            Vào năm 1990, một thành viên của Cơ Quan Hành Pháp và Lập Pháp Hồng Hông (the Executive and Legislative Councils of Hong Kong) đưa ra nhận định là.(48) '.. nhiều người đến Hồng Kông xin tị nạn không trốn chạy sự đàn áp cho nên không phải là dân tị nạn theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc. Phần đông là người Việt thay vì là người Hoa.  Càng nhiều người đến từ miền Bắc Việt Nam và không có liên hệ gì với chính quyền miền Nam hay sự hiện diện của Hoa Kỳ trước đây.  Họ chỉ là những thành phần tị nạn kinh tế tìm kiếm một cuộc sống khá hơn..  vào năm 1988, số lượng người đến (Hồng Kông) gia tăng đáng kể.  Hơn 70% đến từ miền Bắc Việt Nam và quá 98% là dân Việt Nam.'(49) Nhận định này phản ảnh chính sách của chính quyền thuộc địa Anh ở Hồng Kông vốn xác quyết đồng bào miền Bắc toàn là dân tị nạn giả dối để tước đoạt quyền tị nạn cộng sản của họ.(50)

               Trường hợp của ông Nguyễn Mạnh Hùng, một thuyền nhân từ miền Bắc, phủ nhận chủ trương 'quơ đủa cả nắm' hời hợt này một cách dễ dàng. Lời khai của ông Hùng về sự đàn áp của chế độ cộng sản đã bị cho là thiếu xác thực và không đáng tin cho nên đơn xin được hưởng quy chế tị nạn của ông bị từ chối. Ông Hùng đã từng vào tù ra khám nhiều năm tại miền Bắc bởi vì chính quyền Hà Nội gép ông vào thành phần phản động do các tư tưởng thiên tự do của ông. Mặc dầu ông Hùng đã kể rõ ràng và rất chi tiết về những hành động dã man mà guồng máy cộng sản thi hành để áp chế ông cùng gia đình, đơn tị nạn của ông bị bác chỉ vì ông là một người Việt Nam đến từ miền Bắc. Với sự giúp đỡ của một số luật sư thiện nguyện, ông Hùng đã kháng cáo lên Tối Cao Pháp Ðình Hồng Kông để chứng minh tệ nạn bất công cũng như kỳ thị chủng tộc của chính sách thanh lọc tị nạn Việt Nam; nhưng trước khi tòa xử vụ kháng án, chính quyền địa phương đã khôn khéo can thiệp và cấp cho ông Hùng quy chế tị nạn nhằm tránh một vụ xì-căng-đang lớn.

            Trường hợp của ông Nguyễn Mạnh Hùng chứng minh hùng hồ là nhiều đơn xin tị nạn của đồng bào miền Bắc có thể bị bác bỏ một cách bất công mặc dầu họ có lý do tị nạn chánh đáng. Daniel Wolf, một luật sư Hoa Kỳ từng trợ giúp thuyền nhân Việt Nam tại Hồng Kông, có đưa ra ý kiến sau đây mà người viết chia xẻ một phần do kinh nghiệm thực tế thụ lý các hồ sơ kháng cáo tị nạn tại Ðông Nam Á:

'Có sự trùng hợp chóa mắt giữa các hồ sơ tị nạn bị từ chối. Ðiển hình là nếu một người tin vào các lời ghi chép trong chồng hồ sơ thì hầu như mọi người xin tị nạn, bất kể sự khả tín của lời khai về sự đàn áp,  đều nói rằng ông hay bà ta đã rời Việt nam để tìm một đời sống tốt hơn ở nước ngoài, và từ chối trở về bởi vì sợ bị trừng phạt vì lý do ra đi bất hợp pháp. Và khi được hỏi là họ có gì để nói thêm hay không, thì hầu như trong tất cả các trường hợp, người đứng đơn đều trả lời là 'không.'

...

Dựa theo thống kê của tôi qua hơn một trăm vụ cũng như các cuộc đàm thoại với những nhân viên làm việc trong lãnh vực này, sự thẩm định một cách bảo thủ của tôi cho thấy là khoảng 40% đến 60% người Việt trong trại cấm Hồng Kông, kể cả 30% đến 50% dân miền Bắc, đã rời bỏ Việt Nam để trốn chạy sự đàn áp và là người tị nạn theo đúng nghĩa của Công Ước 1951 và Hiệp Ðịnh Thư 1967 liên quan đến Tư Cách Tị Nạn.'(51)

            Trường hợp của đồng bào miền Bắc cho thấy tệ nạn kỳ thị chủng tộc có thể tàn phá lòng nhân đạo của con người và đặt dân tị nạn thực sự trong tình trạng nguy hiểm khi bị từ chối và cưỡng bách hồi hương.(52) Tiến trình thanh lọc tị nạn tuyệt đối không thể được xây dựng trên chính sách kỳ thị chủng tộc hời hợt bởi vì như vậy có thể tiêu hủy tất cả các cơ hội quý báu để minh định thành phần tị nạn thật sự cũng như tạo lỗ hổng cho những kẻ ra đi chỉ vì miếng cơm manh áo lợi dụng chính sách phân biệt tị nạn dựa trên màu da hay chủng tộc để được hưởng quy chế tị nạn một cách bất công.

________________

Chú thích:

43  Cam Bốt và Lào cũng rơi vào vòng đai kiểm soát của Cộng Sản.

44  Vào tháng 6-1979, một số nhân viên cảnh sát Macao bị tố cáo là đã cộng tác với Hà Nội trong kế hoạch buôn lậu hàng vận nhân.

45  Ðồng bào miền Bắc chỉ phải tốn khoảng từ $600 đến $700 Mỹ kim mỗi người để tổ chức ra đi trong khi đó thuyền nhân miền Nam phải chi từ $1.500 đến $5.000 Mỹ kim mỗi người. Ðộc giả cần lưu ý là số tiền $600 đến $700 Mỹ kim rất lớn đối với đồng bào miền Bắc vì lương hàng tháng của họ khoảng từ $25 đến $45 Mỹ kim mỗi người hay chỉ bằng một nữa lương của dân miền Nam.

46  Dĩ nhiên là cán bộ cộng sản Trung quốc cũng thường xuyên cho dân Tàu giả dạng thuyền nhân đi nhờ ghe Việt Nam để được hưởng quy chế tị nạn, và đồng bào miền Bắc khó mà có thể từ chối lời đề nghị của các 'mạnh thường quân.' Thực tế này không qua mắt nổi các giới chức có thẩm quyền; và một số ghe đã bị giam lâu ngày để điều tra bởi vì chính quyền Hồng Kông nghi người trên ghe là dân Tàu giả dạng thuyền nhân Việt Nam.

47  'All former residents of Vietnam seeking to enter Hong Kong since 2 July 1982 are detained in special centres. If you do not leave Hong Kong now, you will be taken to a closed centre and detained there indefinitely.  You will not be permitted to leave detention during the time you remain in Hong Kong. It is extremely unlikely that any opportunity for resettlement will be forthcoming. You are free to leave Hong Kong now, and if you choose to continue your journey, you will be given assistance to do so.'

48   Rita Fan, Hong Kong and the Vietnamese Boat People: A Hong Kong Perspective, International Journal of Refugee Law, Special Issue, September 1990, Oxford University Press, p. 144, at p.149.

49 '.. many asylum-seekers arriving in Hong Kong were not fleeing persecution and hence were not refugees by the United Nations definition. Many were ethnic Vietnamese rather than ethnic Chinese. Increasingly, they were from North Vietnam and had no association with the old southern regime or the US presence. They were simply economic migrants in search of a better lifeẨ  in 1988, the numbers arriving (in Hong Kong) began to raise sharply. Over 70% were from North Vietnam and over 98% were ethnic Vietnamese.'

50  Nhận định hời hợt này không phản ảnh chính xác các dữ kiện lịch sử và góp phần khơi lên ngọn lửa kỳ thị chủng tộc không cần thiết bởi vì cố tình hay vô ý quên đi là chính các kiện hàng Hoa kiều khổng lồ vào hai năm 1978 và 1979 do Hà Nội và đám gian thương quốc tế xuất cảng đã tạo ra cơn khủng hoảng dây chuyền tại Ðông Nam Á; chính những hàng-hải nhân Hoa kiều ra đi với sự giúp đỡ của đảng Cộng Sản Việt Nam - chứ không phải thuyền nhân Việt Nam trên những chiếc ghe mỏng manh - đã bị Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc và các chính quyền lân bang đánh giá là thành phần 'di dân kinh tế' hay 'di dân bất hợp pháp.' Trên phương diện pháp lý, không chính quyền nào có thể hay sẵn sàng cấp quy chế tị nạn cho các hàng-hải nhân Hoa kiều bởi vì họ ra đi trong sự bảo bọc của mạng lưới công an Hà Nội và qua đường dây tổ chức của đám thương cẩu Tàu ngoại quốc, tức là họ không thể bị nhà nước CHXHCN Việt Nam đàn áp theo định nghĩa tị nạn. Tuy vậy, cuối cùng họ vẫn được chính quyền lân bang đối xử thật nhân đạo nhờ thảm trạng kinh hãi trên biển cả của thuyền nhân Việt Nam đã đánh thức lương tâm nhân loại và làm chấn động lòng bác ái của các cộng đồng nhân dân thế giới.

Nhận định phiến diện kể trên bộc lộ chủ trương đánh rớt thuyền nhân, thay vì cẩn thận thẩm định hồ sơ tị nạn, cũng như sự cố tình phớt lờ qua các nguyên tắc giám định và bảo vệ dân tị nạn. Bất cứ ai hiểu sơ về luật pháp hay chính trị đều biết rằng người xin tị nạn không nhất thiết phải bám vào nguyên nhân chính trị và có thể sử dụng nhiều lý do khác điển hình như tôn giáo hay tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt. Công pháp quốc tế không có điều kiện pháp lý nào đòi hỏi đồng bào miền Bắc phải 'có liên hệ gì với chính quyền miền Nam hay sự hiện diện của Hoa Kỳ trước đây' mới được xin tị nạn, và vì vậy cho nên họ có thể vẫn được bảo vệ như dân tị nạn bởi vì Hà Nội tích cực kỳ thị và tìm đủ mọi cách để tiêu diệt các thành phần xã hội có tư tưởng và đường lối sinh hoạt tự do phi Mác-xít trên căn bản tôn giáo (Phật tử, Giáo dân, v.v.), tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội cá biệt (trí thức, thương nhân, v.v.) hay tư ý chính trị.

51  'There are also glaring similarities among the files of those who have been denied refugee status. For example, if one is to believe what is recorded in the files, nearly every asylum-seeker, regardless of the strength of the persecution claim, stated that he or she left Vietnam for 'a better living overseas,' and refused to return because of fear of 'being punished for illegal departures.' Moreover, when asked if they had any further points they wished to make, in nearly every case applicants are alleged to have answered 'nil.'

Based on my survey of more than a hundred cases and my discussions with those working in the field, my conservative estimate is that 40 to 60 per cent Vietnamese in Hong Kong's detention centres, including 30 to 50 per cent of northerners, have fled persecution in Vietnam and are refugees under the 1951 Convention and 1967 Protocol relating to the Status of Refugees.' Daniel Wolf, A Subtle Form of Inhumanity: Screening of the Boat People in Hong Kong, International Journal of Refugee Law, Special Issue, September 1990, Oxford University Press, p. 161, at p.166-167.

52  Trong cuộc phỏng vấn với người viết tại Lloyd Duong Attorneys Atrium, một cựu Ðại Úy công an CSVN cho biết cộng đồng thuyền nhân miền Bắc có một số công an, bộ đội Hà Nội trà trộn vào để quấy phá cho nên mới có cảnh một vào nhóm thanh niên vô ý thức đã tổ chức ăn mừng ngày 30-4-1975 trong khi cầu mong Hồng Kông cho hưởng quyền tị nạn chính trị. Nhiều vụ xung đột giữa một số thanh niên miền Bắc và đồng bào tị nạn miền Nam đã xảy ra trong ngày Quốc Hận 30-4 như ở trại Kaitak North vào năm 1982 đưa đến cảnh tàn sát lẫn nhau.  

Trở lại phần Mục Lục