II Hải Trình ThảmKhốc

Phụ Trương


(I) Ðồng bào tị nạn miền Bắc lợi dụng cơ hội xuất cảnh ra nước ngoài để trốn thoát.


(II) Bộ Nhân Việt Nam

(I) Ðồng bào tị nạn miền Bắc lợi dụng cơ hội xuất cảnh ra nước ngoài để trốn thoát.



The reality of the Vietnamese boat people’s journey is full of tragic experiences, endless natural calamities and brutal man-made obstacles. (Photo: B. McDougall)


            Ðồng bào tị nạn miền Bắc không chỉ vượt biển để đến Hồng Kông hay Macao, nhiều người đã biết lợi dụng cơ hội xuất cảnh ra nước ngoài để trốn thoát khỏi gông cùm kềm kẹp cộng sản. Trong một vụ đào tẩu lớn vào tháng 7-1996, 18 thành viên của phái đoàn thương mại Hà Nội tham dự đại hội Klondike Days với chủ đề 'Discover Vietnam Exhibition' (Triễn Lảm Khám Phá Việt Nam) tại thành phố Edmonton ở Alberta, Gia Nã Ðại, đã trốn thoát xin tị nạn. Cộng đồng người Việt Toronto yêu cầu người viết làm luật sư biện minh cho cô Mai Thị Thu Thủy, một trong 18 người đào thoát, trước Hội Ðồng Thẩm Ðịnh Tị Nạn Canada. Vào tháng 11-1997, cô Mai đã được cấp quy chế tị nạn. Thư của cô Mai Thị Thu Thủy và một đồng bào miền Bắc khác - Kiến Trúc Sư Nguyễn Ngọc Ðính - vốn trực tiếp đến Gia Nã Ðại để xin tị nạn được đăng vào vài trang tiếp theo đây.







(II)
Bộ Nhân Việt Nam

            Song song với 796.310 đồng bào đã rời Việt Nam bằng thuyền,  42.918 người khác đã thực hiện thành công các chuyến đi bộ vượt tuyến qua Lào hay Cam Bốt để tìm tự do tại Thái Lan.(53)  Cuộc vượt tuyến của bộ nhân Việt Nam cũng khủng khiếp không kém hải trình thảm khốc của thuyền nhân. Trong suốt đoạn đường băng rừng vượt núi, họ phải trải qua các chướng ngại vật hiểm nghèo của rừng thiên nước độc cũng như các bãi mìn dày dặc;  nhiều người đã bị các đoàn loạn quân Cam Bốt bắt giữ, tra tấn, cưỡng hiếp và giết hại. Vào tháng 6-1981, một cậu bé Việt Nam bị thương nặng đã cố gắng lết đến một trại tạm cư nằm trên đất Thái.  Cậu là người duy nhất may mắn sống sót; 11 bộ nhân khác trong đoàn đã bị bộ đội Khờ me đỏ giết sạch. Trường hợp của ông Trần Văn Phước là một thí dụ điển hình khác.  Vào tháng 2-1982 trên đường vượt tuyến đến Thái Lan, ông đã bị lính giải phóng Khmer Serei bắt giữ. Chúng dùng búa để đập đầu ông nhiều lần nhưng ông may mắn không chết.

            Khi bộ nhân Việt Nam đặt chân đến Thái Lan, thay vì được chính quyền địa phương thông báo cho Cao Ủy Tị Nạn LHQ ngay lập tức,  họ lại bị cầm tù trong những trại dọc biên giới trong một khoảng thời gian dài trước khi hồ sơ tị nạn của họ được duyệt xét. Vào ngày 20-3-1980, Bangkok thay đổi chính sách và ngăn cấm không cho bộ nhân Việt Nam được hưởng quy chế tị nạn vì sợ làn sóng bộ nhân gia tăng. Chính phủ Thái viện cớ Cam Bốt là đệ nhị quốc gia mà người tị nạn Việt Nam đến trước vì vậy cho nên họ phải xin tị nạn ở đó, có nghĩa là bên ngoài biên thùy Thái Lan. Chính sách này dẫn đến tình trạng giam cầm bộ nhân trong những trại biên giới nằm trên phần đất Cam Bốt trong vòng đai kiểm soát của quân Khờ me Serei  hay thành phần an ninh trại hung dữ có biệt hiệu Para (Paramilitary). Các địa danh như Camp Non Chan, Non Samet (hay Camp 007), Non Makmun (hay Camp 204) gợi lại vô số ấn tượng kinh hoàng cho rất nhiều bộ nhân Việt Nam. Trong các trại tạm cư này, đời sống của đồng bào tị nạn Việt Nam còn tệ hơn cả thú vật. Thực phẩm và nước ngọt được cung cấp rất giới hạn; trong khi đó thì tình hình an ninh trại hoàn toàn là số không, và mỗi lần bộ đội Hà Nội tấn công hay pháo kích thì dân tị nạn Việt Nam bị bọn Para lùa ra làm bia đỡ đạn.

            Về đêm, bộ nhân trở thành những mục tiêu tấn công của đủ thành phần từ bộ đội Khờ me đỏ, quân Khờ me Serei đến đám an ninh Para cùng lực lượng biên phòng Thái.  Chúng đi từng đoàn lục soát bắt phụ nữ Việt Nam để hãm hiếp, và sẳn sàng thủ tiêu bất cứ ai dám chống cự. Một số gia đình tị nạn còn giữ được quý kim phải mua chỗ ngủ trong chòi của dân Cam Bốt để trốn tránh đám quỷ dữ này. Vào ban ngày thì thanh niên tị nạn bị bắt đi đào chiến hào và dĩ nhiên là họ không được trả một đồng nào cho công việc này. Mạng sống của bộ nhân rất rẻ rúng trong các trại tạm cư, và họ chỉ tồn tại với hy vọng mỏng manh là Bangkok sẽ duyệt xét hồ sơ tị nạn  và thuyên chuyển họ về các trung tâm tị nạn như trại Tây Bắc 9 (Northwest 9).(54) Trại Tây Bắc 9 được Thái Lan tổ chức vào đầu năm 1980 như một tiền đồn chống lại các cuộc càn quét biên giới của quân đội Hà Nội. Trại này bắt đầu nhận tị nạn Việt Nam vào ngày 18-4-1980 với sự giúp đỡ của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Bộ nhân phải tạm trú tại trại Tây Bắc 9 từ vài tháng cho đến nhiều năm trước khi được thuyên chuyển đến Trung Tâm Panat Nikhom để được hưởng quy chế tị nạn.

            Trong lá thư sau đây, ông Trần Văn Phước vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa diễn tả lại kinh nghiệm tủi nhục của ông cũng như các bộ nhân khác ở Thái Lan:

'Tôi là một cựu quân nhân QLVNCH tên là Trần Văn Phước thuộc SÐ 18 BB.. Tôi vượt biên đường bộ vào tháng 5/82 khi đến biên giới Thái Lan và Kampuchia, tôi rất mừng là mình đã trốn thoát khỏi địa ngục CSVN. Nhưng cái mừng của tôi chưa kịp thốt ra khỏi cửa miệng thì ôi thôi thật là chua chát, chua chát đến nổi tôi không thể ngờ rằng vào thế kỷ thứ 20 này lại có những con người dã man hơn loài thú rừng xanh, thú của rừng xanh là những con vật không nói chi nhưng mà họ là loài người mà lương tâm của họ không có... đó là bọn Mên được mệnh danh là 'Kampuchia dân chủ kháng chiến quân Khờ Me.' Chúng bắt chúng tôi trói lại và xách búa đem tôi ra đập đầu, lúc đó tôi tưởng rằng mình đã chết nhưng cuối cùng chúng thấy nghĩa khí của người VN chết mà không hề van xin nên chúng đã ngưng tay. Cuối cùng chúng nhốt tôi lại.. chung với người tù Mên của chúng.. Bọn  tù Mên đánh tôi và sỉ nhục dân tộc VN.

Chúng cầm tù tôi đến ngày thứ 7 thì chuyển đến nhà tù mới. Ở đây tôi được gặp một số ít người VN. Như gia đình chị Nguyễn Thị Bê tất cả là 4 người, 2 đứa con gái và 1 đứa con trai nhỏ. Ôi có cảnh nào khổ hơn làm thân gái sống với những con người Mên lòng lang dạ thú! Chúng hành hạ đàn bà con gái có thể nói là mang thai với chúng, rất là dã man chưa từng thấy: hết đứa này rồi đứa khác vùi dập thân xác. Tôi nhìn thấy cảnh tượng đó mà đau lòng chỉ vì hai chữ tự do mà tất cả người Việt ly hương phải trả giá rất đắt, phải tủi nhục và phải căm hờn những quân khốn kiếp..

Ðối với thanh niên chúng tôi, chúng bắt đi lao động rất hãi hùng: 5 giờ sáng đến 12 trưa mới cho nghỉ, chúng cho chúng tôi ăn toàn là cháo với muối, xong phải tiếp tục làm nữa đến 6 giờ chiều mới được nghỉ. Nhưng điều mà chúng tôi lo lắng là chúng muốn thủ tiêu chúng tôi giờ nào cũng được.  

Chúng tôi ở đó một thời gian thì có Hồng Thập Tự Quốc Tế (ICRC) đến thăm và cho chúng tôi gạo, cá hộp, mỗi tuần đến thăm chỉ một lần.  Khi ICRC về thì bọn Mên lấy hết tất cả thực phẩm nên chúng tôi vẫn chịu đói như thường, chỉ ăn toàn là cháo nên không đủ no.. Khi đồng bào đến, thì vàng, quần áo, giầy dép đều bị chúng lấy tất cả. Ðã lấy còn đánh đập dã man và bóc lột sức người tận xương tủy..

Khi chúng tôi được chuyển vào trại tị nạn chánh thức là trại NW82 ngày 14/7/82 tôi nghĩ rằng mình đến trại 82 là thoát nạn. Nhưng không ngờ hãi hùng vẫn còn đè nén mọi người. Trại nằm cách biên giới Thái-Kampuchia một cây số, trại này có tất cả 30 tent (lều) toàn là tent dã chiến của quân đội.. Ðàn bà con gái ở đây vẫn bị bọn lính Thái Lan hãm hiếp rất là dã man. Nếu ai chống cự là chúng thủ tiêu liền. 

Ở đó có một người lính Thái tên John, những người VN gọi nó là cọp. Nó rất dữ, đánh người VN rất dã man.. Tôi xin kể những trận đòn mà tên cọp đánh người VN: Như vụ Liên Thị Kim Tụng, cô ta mua bánh bò nên bị tên cọp bắt được và nó đổ bánh bò xuống đất và bắt cô phải ăn, nếu không ăn thì chúng đánh nên bắt buộc chị phải ăn. Và vụ thứ hai là anh Thạch Can mua 2 bọc kẹo, chúng bắt được, đánh anh và bắt anh phải ăn kẹo không lột giấy cho hết 2 bọc. Vụ thứ ba là anh Hồng mua một gói thuốc Samit, tên cọp bắt được và bảo anh xé ra để vào một cái thao và đổ nước vào uống và ăn thuốc. Vụ thứ 4 là anh Sơn Hương mua một con lươn chúng bắt được, bắt anh phải ăn sống, nếu không thì chúng đánh, nên bắt buộc anh phải ăn..

Tên cọp bữa nào cao hứng muốn đánh người tị nạn thì nó đi một vòng coi lều nào có chỉ một cọng rác là nó kêu mỗi người 2 roi, đánh như thế có khi tới 200 hoặc 300 người.. 

Cảnh đánh đập ở trại NW82 hôm nào cũng diễn ra. Còn tệ nạn nữa là chúng bắt đàn bà con gái hãm hiếp hàng đêm.

Thư từ đến thì chúng kiểm duyệt, cắt ra xem có money order thì lấy tất cả, tiền mặt cũng vậy.. Chúng làm những vụ kiểm kê y hệt như cộng sản vậy, chúng lấy tất cả gần 10 lượng vàng và 600 dollars. Có một anh bị lấy 2 lượng rưỡi lên xin lại chút ít thì bị tên đại úy trưởng trại bắt đem nhốt chuồng cọp 6 ngày và còn hăm dọa nếu mà còn đến xin nữa thì chúng sẽ đuổi ra khỏi trại..

Ở trại tị nạn NW82 tất cả có 1800 người nhưng người Việt Nam thuần túy chỉ có 300, còn 1300 toàn là Kampuchia, 200 chà và...'

            Trong tập thể bộ nhân Việt Nam bị cầm tù dọc biên giới Thái Lan có nhiều thanh niên vốn là bộ đội nằm trong guồng máy quân sự của Hà Nội tại Cam Bốt. Một số anh em từng đào tẩu khỏi quân đội Hà Nội và một số là tù binh của Khờ me đỏ may mắn sống sót và sau đó được dùng để đổi gạo với Hồng Thập Tự Quốc Tế. Ða số các thanh niên này không muốn quay về với guồng máy đàn áp của Hà Nội cho nên xin tị nạn nhưng họ lại bị Bangkok đối xử như tù binh.  

            Vào cuối năm 1981, 400 thanh niên Việt Nam đào ngũ từ Cam Bốt đã bị giam cầm trong trại Sikhiu ở Nakhon Ratchasima. Tập thể này có 26 bộ đội từ miền Bắc, và số còn lại là thanh niên miền Nam. Họ phải đợi một thời gian rất dài (ít nhất là sau 2 năm 'nghỉ mát' do Bangkok quy định vào tháng 7-1981) thì mới được hy vọng được cấp quy chế tị nạn; nhưng chặng đường định cư của họ sau đó còn dài đăng đẳng bởi vì quá khứ liên hệ với bộ máy chiến tranh của Hà Nội.

            Trong khi chờ đợi được hưởng quy chế tị nạn, những thanh niên này bị bỏ tù như bọn tội nhân hình sự mặc dầu họ chỉ có tội duy nhất là không trốn được sự bố ráp 'nghĩa vụ quân sự' của Hà Nội. Ða số thanh niên Việt Nam không ai muốn trở thành bộ đội cộng sản và hình như không ai dại dột muốn đi Cam Bốt để trở thành những tên cướp ngày dễ mất mạng.(55) Họ đã dám hy sinh tất cả để đào tẩu hoặc từ chối không trở về phục vụ guồng máy xâm lược của Hà Nội với mục đích duy nhất là có được một đời sống tự do không bị ý thức hệ kềm kẹp.  Họ thực ra chỉ là những nạn nhân của hoàn cảnh như nhiều đồng bào tị nạn Việt Nam khác.

Số Lượng Bộ Nhân đến được vùng đất tự do
Thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc
Lưu Ý:  Thống kê của CUTNLHQ không bao gồm hàng ngàn bộ nhân đã bị thảo khấu giết hại hay mất mạng vì đạp phải mìn trên đường vượt biên.

1975-76

1977

1978

1979

1980

6.985

802

2.617

4.262

4.942

1981

1982

1983

1984

1985

4.133

162

1.789

91

1.921

1986

1987

1988

1989

1990

2.126

1.473

2.560

2.387

887

1991

1992

1993

1994

1995-99

1.270

2.292

2.219

0

0

________________

Chú thích:

53  Khoảng 265.000 đồng bào tị nạn, đa số là người Việt gốc Hoa, đã vượt biên giới để về Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1978 khi Bắc Kinh và Hà Nội chửi bới nhau rồi đi đến vụ đụng độ vũ lực vào ngày 17-2-1979. Họ được khuyến khích ra đi bởi cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội, vốn từng là hai nước anh em 'môi hở răng lạnh' (tĩnh từ của Hà Nội). Bắc Kinh đóng kịch lo lắng cho tình cảnh của họ bằng cách lên án chính sách kinh tế ý thức hệ (mà Trung Quốc từng triệt để thực hiện để tiêu diệt thành phần tư sản) và chào mừng họ hồi hương. Trong khi đó Hà Nội lại tạo mọi điều kiện cho họ ra đi bằng cách ra lệnh cho các chốt kiểm soát kéo dài đến biên giới Việt-Trung không gây khó khăn cho họ (ai ở Việt Nam trong giai đoạn này đều biết rằng nếu muốn di chuyển phải có giấy phép công an, và vì vậy tình trạng thả lỏng người Việt gốc Hoa tự do đi lại này là một chiến lược có tính toán của Hà Nội). Nhưng khi số người vượt biên giới qua Trung quốc gia tăng ồ ạt, Bắc Kinh hết dám chào mừng họ hồi hương và vội vã đóng cửa khẩu; Bắc Kinh bắt đầu đặt điều kiện là những người muốn di cư sang Trung Hoa Dân Quốc phải có giấy phép xuất cảnh của Việt Nam và hồ sơ nhập cảnh do tòa Ðại Sứ Bắc Kinh tại Hà Nội cấp. Nạn nhân thật sự của trò chơi chính trị này là hàng ngàn người Việt gốc Hoa; họ đã mất gia sản mà còn phải ngủ bờ ngủ bụi tại vùng rừng núi biên giới sau khi cửa khẩu đóng.
 

54  Trại Northwest 9 bị cháy vào tháng 7-1981. Vào năm 1982, trại Northwest 82 được dựng lên với các dải lều lính không xa chỗ củ của trại Northwest 9 để cung cấp nơi ăn ở cho bộ nhân Việt Nam.   

55   Trong thời gian chiếm đóng Cam Bốt, bộ đội Hà Nội với đồng lương chết đói thường xuyên cướp bóc hàng hóa của dân Miên.  Mỗi ngày vài ba anh bộ đội trẻ được giao nhiệm vụ đi 'xin xỏ' thức ăn  ngoài chợ. Họ họp thành nhóm 3, 4 người cầm súng ra chợ và thấy bất cứ vật gì cần thiết là  lập tức tịch thâu bỏ vào ba lô trong khi mở miệng nói câu Khờ me: 'Mẹ cho con cái này.'  Dưới gọng súng của họ, không người dân Miên nào dám mở miệng chống đối. 

Trở lại phần Mục Lục