III Phản Ứng của Thế Giới
'Một
vấn nạn nhân đạo mang tầm vóc lịch sử.'
Thông cáo đặc biệt
về Tị Nạn Ðông Dương tại Hội
Nghị Thượng Ðỉnh Tokyo.
‘A humanitarian problem of historical proportions.’
‘Special
statement of the Tokyo Summit on Indochinese refugees’ by Britain,
Canada, France, Italy, Japan,
United States and West Germany. June
1979

Nhiều lãnh tụ tôn giáo và xã hội như Mother
Theresa
đã lên tiếng kêu gọi thế giới cứu
trợ thuyền nhân Việt Nam.
Hải trình kinh hoàng của
thuyền nhân Việt Nam đã
đánh thức lương tâm và lòng trắc ẩn
của nhân loại. Trong những năm đầu của
làn sóng tị nạn, một chiến dịch cứu
trợ thuyền nhân vĩ đại hiếm có trong
lịch sử đã được thực hiện
bởi nhiều đoàn thể quốc tế cũng như
cộng đồng nhân dân tại nhiều quốc gia trên
toàn thế giới. Bên lề sự trợ giúp tích
cực này, thảm trạng thuyền nhân cũng làm
lộ ra được một khía cạnh xấu xa
nhất của đường lối chính trị thiên
quyền (power politics) vốn được các cường
quốc sử dụng để trốn tránh trách
nhiệm quốc tế. Trong khi cộng đồng nhân dân
toàn thế giới hết lòng giúp đỡ thuyền nhân
vì lòng nhân đạo chung của con người, chính sách
của các trung tâm quốc quyền đối với làn sóng
tị nạn Việt Nam không được minh bạch và
luôn luôn phản ảnh sự cấu xé lẫn nhau vì
quyền lợi riêng tư.
Nhà tù khổng lồ hay 'Vietnamese gulag' (1) và chính sách
diệt chủng (2) của Hà Nội đã khiến hàng
triệu người Việt tìm đường vượt
biên. Trong 8 tháng sau khi Sài Gòn thất thủ, 378 thuyền
nhân đã trốn thoát thành công. Vào năm 1976, số
thuyền nhân ra đi thành công tăng lên 5.569;
và vào tháng 7 của năm đó, lần đầu
tiên Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc kêu gọi
cộng đồng thế giới giúp đỡ tị
nạn Việt Nam. Một năm sau, số lượng
thuyền nhân vọt lên 17.126, và tiếp tục tăng
đến 87.164 vào năm 1978 và đạt cực điểm
201.189 vào năm 1979. Vào tháng 10-1979, Chủ bút của The
Age Michael Davie quả quyết: '.. thuyền nhân không
phải là một làn sóng tuyệt vọng khác của thành
phần mất đất sống mà là những nạn nhân
và là dấu hiệu báo trước một tình trạng
mất an ninh sâu rộng trong vùng.'(3)
Phản
ứng Ban Ðầu
của Cộng Ðồng Quốc Tế
Mặc dầu nhu cầu cứu trợ thuyền nhân
trở nên khẩn cấp, phản ứng của đa
số các chính phủ trên thế giới trước 1979
(4) có vẽ lãnh đạm bởi vì thiếu sự lãnh
đạo của Hoa Kỳ vốn thường thấy
trong các vụ khủng hoảng lớn. Báo The Wall Street
Journal mô tả tình trạng này như 'một vụ ô
nhục trong dinh thự của những người
lịch sự' ('a scandal in the house of decent men'). Chính sách
thờ ơ của Hoa Kỳ phản ảnh mặc cảm
Việt Nam hay chủ trương 'no more Vietnam' (không còn
Việt Nam nữa) sau ngày 30-4-1975. Hoa Thịnh Ðốn
chọn một chính sách phản ứng tùy nhu cầu mà không
có một chiến lược rõ ràng để đối
đầu với cuộc khủng hoảng tị nạn
Ðông Dương. Bộ Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ
sử dụng đặc quyền parole (ân xá) vốn dành
riêng cho các trường hợp khẩn cấp để
định cư thuyền nhân. Tuy nhiên khi số lượng
dân tị nạn gia tăng ngoài dự đoán, tân chính
quyền Carter cần phải tiếp tục sử dụng
đặc quyền ân xá mặc dầu trước đó
cựu chính quyền Ford đã hứa với Quốc
Hội là lần sử dụng đặc quyền này vào
tháng 5-1976 để thâu nhận dân tị nạn Lào là
lần chót. Tuy vậy, số lượng ân xá mới bao
gồm 7.000 người Việt và 8.000 người Lào
vừa được thông qua vào tháng 8-1977 đã không
thể đối đầu với trào lưu tị
nạn đang gia tăng; và vì vậy, vào ngày 25-1-1978,
đặc quyền ân xá lại được tái sử
dụng để thâu nhận thêm dân tị nạn Ðông Dương.
Tuy tình trạng khủng hoảng tị nạn ở
Ðông Nam Á ngày càng khẩn trương hơn, Hoa Kỳ
đã không có một chính sách rõ ràng để đối
đầu với vấn nạn vĩ đại này.
Thiếu sự lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn,
các chính quyền khác cũng trở nên lãnh đạm
đối với cuộc khủng hoảng tị nạn
Ðông Dương. Hoa Kỳ muốn quốc tế hóa
thảm trạng thuyền nhân để lôi kéo các
quốc gia khác vào cứu giúp cũng như định cư
tị nạn Ðông Dương; tuy nhiên vì tòa Bạch -c
tỏ vẻ thờ ơ và thiếu nhiệt tâm trong
việc đón nhận thuyền nhân, những chính
quyền khác cũng phản ứng tương tự.
Các chính phủ Tây phương đã không vội vã
nhảy vào trợ giúp một vấn nạn mà giới lãnh
đạo Âu Châu suy luận là vấn nạn của Hoa
Kỳ do hậu quả tác hại của chính sách phản
bội đồng minh Nam Việt Nam đưa đến.
Vì vậy cho đến đầu năm 1978, hiếm có
quốc gia nào trên thế giới thâu nhận dân tị
nạn Ðông Dương; và số thuyền nhân kẹt
tại các trại tị nạn trở thành vấn
nạn thặng dư cho các quốc gia tạm cư
vốn luôn luôn đòi hỏi 'mỗi người tị
nạn đều phải được định cư
trong một khoảng thời gian hữu lý'
('every single refugee would be resettled within a reasonable time.') (5)
Phản ứng lãnh đạm của chính giới
ngoại quốc trong những năm đầu của làn
sóng tị nạn dẫn đến hậu quả bất
lợi kể cả quyết định của các
quốc gia Ðông Nam Á dứt khoát không cho thuyền nhân
cập biên tạm cư và kéo dài thời gian tạm lưu
trước khi được định cư của
đồng bào tị nạn đang hiện diện ở
trại để tạo ra một tình trạng chán
nản với hy vọng sẽ gây được áp
lực giảm thiểu số người vượt biên.
(6)
Toàn thế giới cộng sản ngoại trừ
Trung quốc cực lực tố cáo là các quốc gia
tự do đã tạo ra yếu tố 'lôi kéo' (pull factor)
người Việt ra đi. Trước khi sụp đổ
vào năm 1991, chính quyền Sô Viết lý luận rằng
thảm cảnh thuyền nhân chính là tình trạng kế
tục của cuộc chiến Việt Nam. Bắc Kinh và
Hoa Thịnh Ðốn bị lên án là đã tạo ra làn sóng
tị nạn bởi vì không chịu chấp nhận
thực trạng của 'một nước Việt Nam
mới.' Trung quốc
bị nguyền rủa bởi vì đã cung cấp cho người
Việt gốc Hoa những tin tức thất thiệt, và
Hoa Kỳ bị nêu đích danh là đã lợi dụng tình
trạng này để bôi bẩn thanh danh của CHXHCN
Việt Nam trên chính trường quốc tế. Trong nhãn
quan của Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh đã cố
gắng mô tả làn sóng tị nạn như một
hậu quả của chính sách kỳ thị của Hà
Nội để cản trở nỗ lực xây dựng
đất nước của đảng Cộng Sản
Việt Nam; trong khi đó, Hoa Thịnh Ðốn lại
đưa chiến hạm đến Ðông Nam Á trên lý
thuyết để cứu giúp thuyền nhân nhưng
thực tế là để khuyến khích thêm nhiều người
vượt biên nhằm tạo ra không khí xáo trộn
mất an ninh trong vùng hầu bảo vệ ảnh hưởng
chiến lược của Hoa Kỳ. Chính quyền Liên Sô
quan niệm rằng phương pháp duy nhất để
giải quyết thảm trạng thuyền nhân là Bắc
Kinh và Hoa Thịnh Ðốn phải chấm dứt cuộc
chiến 'tuyên truyền' và các yếu tố 'lôi kéo' người
Việt ra đi.
Hoa Kỳ bác bỏ quan điểm của Liên Sô và xác
định sự vi phạm nhân quyền trầm trọng
của Hà Nội chính là lý do khiến hàng triệu người
phải tìm đường vượt biên. Tại hội
nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương
kỳ I vào ngày 21-7-1979, Phó Tổng Thống Walter Mondale
quả quyết: '(CHXHCN Việt Nam) đã không chịu
bảo đảm nhân quyền của dân. Các chính sách tàn
nhẫn và vô trách nhiệm đã khiến vô vàn công dân
phải bỏ tất cả những gì họ trân
trọng, liều mạng, và tẩu thoát vào một
thế giới xa lạ.' (7) Trong khi đó thì Trung quốc
lý luận rằng 'chính sách xâm lược và gây
chiến' của Hà Nội đã tạo ra làn sóng tị
nạn. Vào ngày 16-6-1979, một phát ngôn viên của Bộ
Ngoại Giao Trung Hoa Cộng Sản tuyên bố: 'Cuối cùng
như phân tích, vấn đề tị nạn Ðông Dương
xảy ra chỉ vì chính quyền Việt Nam tiến hành chính
sách xâm lược và gây chiến...
Chính sách này phá hoại nền kinh tế và bần cùng
hóa người dân. Kết quả là môt số lượng
lớn người ở Việt Nam phải trốn
khỏi đất nước.' (8)
Trong khi các cường quốc và chính quyền liên
hệ bận rộn bình luận về nguyên nhân tạo
ra thảm trạng tị nạn Ðông Dương và tố
cáo lẫn nhau vì bất lực không thể đưa ra
được một phương pháp giải quyết
cụ thể, các nỗ lực hữu hiệu để
cứu trợ thuyền nhân gặp hiểm nguy trên
biển Ðông cũng không được thực hiện. Vào
năm 1979, nhà ngoại giao Bruce Grant mô tả tình trạng
tai ương này như sau: (9)
'Câu chuyện thuyền nhân phơi bày bộ mặt nguyên
thủy của đường lối chính trị thiên
quyền (power politics). Trong khi những người thiện
ý tràn đầy hy vọng khi bàn luận về viễn
ảnh của 'một trật tự mới' hay 'một di
sản chung của nhân loại' trong phần tư cuối
của thế kỷ 20, thuyền nhân đã làm lộ ra
một khía cạnh khác - sự tàn nhẫn của cường
quốc, sự hung bạo của các tiểu quốc, lòng
tham lam quá độ và thành kiến của con người.
Ðôi lúc khi kể chuyện về thuyền nhân, hình như
toàn thể bán đảo Ðông Dương đã trở thành
khối xoáy thu hút tất cả sự tồi tệ
của nhân loại...
... Khả năng quẹt nước cá sấu
của các quốc gia dân chủ tân tiến đối
với vấn đề thuyền nhân, trong khi không làm gì
để giải quyết nguồn gốc của làn sóng
ra đi, thật đáng lưu tâm. Thuyền nhân thật
sự khiến chúng ta phải tự xét về bản thân
cũng như thực trạng của thế giới
của chúng ta.' (10)
Không giống như chủ trương lãnh đạm
của giới chánh khách vốn bị ảnh hưởng
bởi các tính toán chính trị, những người dân bình
thường cùng các tổ chức phi chính phủ trên toàn
thế giới đã sốt sắng và nhiệt tâm
vận động cứu giúp cũng như bảo trợ
thuyền nhân Việt Nam. Vào khoảng năm 1977, tàu Roland
của Nghị Hội Tôn Giáo và Hòa Bình (World Conference on
Religion and Peace [WCRP]) đã ra biển Ðông để cứu
trợ người tị nạn.
Mặc dầu nỗ lực này từng bị Cao
Ủy Tị Nạn LHQ phê bình là 'lòng bác ái đặt
sai chỗ' (misguided philanthropy), tàu Roland đã vớt
được khoảng 300 đồng bào trên biển.
(11) Tổ chức WCRP không phải là
tổ chức tôn giáo duy nhất đã tài trợ cho
tàu ra khơi cứu giúp thuyền nhân. Một tổ
chức khác là World Vision International có trụ sở ở
California từng gởi tàu Seasweep về Ðông Nam Á; vào tháng
7-1979, tàu Seasweep đã vớt được nhiều
thuyền nhân bị hải quân Mã Lai bắt bỏ lên ghe
và kéo ngược ra biển.
Tại Âu Châu, Triết gia Jean-Paul Sartre kêu gọi chính
quyền Pháp giúp đỡ dân tị nạn Việt Nam: 'Một
số họ không luôn thuộc phe ta, nhưng lúc này chúng
ta không nên lưu tâm đến quan điểm chính
trị của họ, mà là (nên lưu tâm đến)
việc cứu mạng họ. Ðây là một vấn đề
luân lý, một câu chất vấn luân lý giữa con người.'(12)
Thảm trạng thuyền nhân đem nhiều nhà đối
lập lâu năm gần lại với nhau hơn và giúp hòa
giải một số tư kiến khác biệt của
họ. Vào ngày 20-6-1979, Jean-Paul Sartre vui vẻ bắt tay
nhà đối lập chính trị lâu năm của ông, Văn
sĩ Raymond Aron. Nỗ lực trợ giúp thuyền nhân
Việt Nam của Jean-Paul Sartre được nhiều trí
thức Pháp ủng hộ, và đáng lưu ý là nhà
phản chiến tiếng tăm André Glucksmann. Sau này
Glucksmann đã viết trong sách The Discourse of War:
'Người tị nạn Việt Nam là hậu
quả của hai hệ luận xung đột thiên
chiến - cả hai đều từ Hegel - luận đề
cộng sản và luận đề chống cộng
sản. Cả hai đều dẫn đến một
hệ quả như nhau.'(13)
Hội Y Sĩ Thế Giới (Médecins du Monde) của
Pháp đã gởi tàu Ðảo Ánh Sáng (Ile de Lumière) đến
vịnh Thái Lan để cứu vớt thuyền nhân cũng
như trợ giúp y tế cho các trại tị nạn. Công
tác của Ile de Lumière được tiếp tục
với tàu Alcune II vào năm 1981, tàu Le Goela năm 1982, tàu
Jean Charcot năm 1985, và tàu Rose Schiaffino năm 1987. Ba Lê ra
lệnh cho một vài chiến hạm bảo vệ cho các
chiến dịch cứu trợ thuyền nhân của
hội Y Sĩ Quốc Tế khi cần thiết.
Phản ứng theo sức ép của dư luận, Ý
Ðại Lợi biệt phái hai chiến hạm và một tàu
tiếp tế đến biển Ðông vào giữa năm
1979 để cứu vớt và thâu nhận khoảng 1.000
thuyền nhân. Tại Tây Ðức, Ủy Ban Một
Chiếc Tàu cho Việt Nam (Ein Schiff fuer Vietnam) (14) được
thành lập vào tháng 7-1979 và gởi tàu Cap Anamur của nhà
hảo tâm Hans Voss đi trợ giúp dân tị nạn
Việt Nam trên các hải đảo Anambas của Nam Dương.
Nhân dân Ðức đóng góp hơn 21 triệu Ðức Mã cho
các chương trình nhân đạo của tàu Cap Anamur
tại Ðông Nam Á. Vào năm 1987, Ein Schiff fuer Vietnam vốn
đã cải danh thành Komitee Cap Anamur cộng tác với
hội Y Sĩ Thế Giới của Pháp và tài trợ cho
tàu Ile de Lumière II - Cap Anamur III tiếp
tục công tác thiện nguyện giúp đỡ thuyền
nhân; cộng đồng
Việt Nam đã đóng góp rất nhiều cho chiến
dịch này qua tổ chức Boat People S.O.S.
Vào năm 1988, hội Y Sĩ Thế Giới và Boat People
S.O.S. biệt phái tàu Mary Kingston đến vịnh Thái Lan
để cứu vớt thuyền nhân. Trải qua nhiều
năm dài, cộng đồng Việt Nam tại hải
ngoại đã không ngừng nghỉ trong nỗ lực thâu
thập tài vật cũng như sự ủng hộ
của chính khách địa phương để giúp
đỡ đồng bào tị nạn. Vô số sinh
hoạt đã được các đoàn thể thanh niên,
sinh viên, học sinh và các hội đoàn từ Bắc
Mỹ đến Âu Châu và Úc Châu tổ chức để
vận động tài chánh cũng như chữ ký cho các
bản thỉnh nguyện thư yêu cầu chính quyền
địa phương tiếp tục cứu trợ
thuyền nhân Việt Nam ở Ðông Nam Á.
Tại Bắc Mỹ, thảm trạng thuyền nhân đã
tạo ra nhiều chia rẽ trong mạng lưới
phản chiến trước đây. Không giống như
giới trí thức Pháp, thành phần cánh tả có vai
vế trong xã hội Hoa Kỳ như Noam Chomsky và Frances
Fitzgerald đã cố ý im hơi lặng tiếng về
vấn đề tị nạn Việt Nam. Như Triết
gia Pháp André Glucksmann diễn tả: 'Hôm nay chính quyền
cộng sản nhận chìm trẻ em. Hôm qua chúng ta
phản đối. Hôm nay chúng ta im lặng,' (15) ngoại trừ
ca sĩ Joan Baez và 83 nhà hoạt động vì hòa bình khác,
đa số thành phần trí thức phản chiến đã
lãnh đạm đối với thảm trạng
thuyền nhân cũng như tệ nạn vi phạm nhân
quyền trầm trọng của Hà Nội.
Vào tháng 5-1979, Joan Baez và 83 bằng hữu cho phổ
biến 'Open letter to the Socialist Republic of Vietnam'
('Minh thư cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam) để vạch trần chính sách tiêu
diệt quyền làm người của Hà Nội: 'Hàng ngàn
người Việt Nam trong đó có nhiều người
chỉ vì phổ biến tiếng nói lương tâm, đã
bị bắt, giam cầm và tra tấn trong tù cũng như
các trại cải tạo.. Chính quyền của các ông
tạo ra một ác mộng đau khổ che lấp sự
phát triển đã đạt được trong nhiều
lãnh vực của xã hội Việt Nam.' (16) Một bộ
phận phản chiến thiên tả khác đã vội vã lên
tiếng công kích nhóm Joan Baez và ngụy biện cho tội
ác của cộng sản Hà Nội. William Kunstler chụp mũ
Joan Baez là 'tình báo CIA' ('CIA
agent'); trong khi đó, Jane Fonda cho phổ biến thư phê bình
Baez: 'Lời thuyết phục như vậy chỉ
đưa bà vào hàng ngủ của
các thành phần hẹp hòi và tiêu cực của
đất nước chúng ta vốn tiếp tục tin
rằng chủ nghĩa cộng sản tệ hại hơn
cái chết.' (17)
Trong các năm đầu của làn sóng tị nạn
Việt Nam, một tổ chức đã tích cực đánh
thức lương tâm nhân dân Hoa Kỳ về thảm
trạng thuyền nhân là Ủy Ban Cứu Trợ Quốc
Tế (International Rescue Committee hay IRC). Ðối diện
với chính sách lãnh đạm của Hoa Thịnh Ðốn,
IRC dưới sự lãnh đạo của Chủ Tịch
Leo Cherne đã bảo trợ Ủy Ban Công Dân Ðặc Trách
Tị Nạn Ðông Dương (Citizens Commission on Indochinese
Refugees) vào cuối năm 1977 để vận động
chính quyền cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ giúp
đỡ và định cư dân tị nạn tại Ðông
Nam Á.
Sau chuyến công tác tìm hiểu sự thật ở Ðông
Nam Á vào đầu năm 1978, Ủy Ban Công Dân Ðặc Trách
Tị Nạn Ðông Dương vốn bao gồm nhiều thành
viên nổi tiếng trong các lãnh vực tôn giáo, xã hội
và kinh tế đã lên tiếng kêu gọi chính quyền
Hoa Kỳ thâu nhận thêm thuyền nhân; song song, họ cũng
đã thành công trong nỗ lực tiết giảm mối
lo sợ về phản ứng bất lợi của dư
luận. Hải trình thảm khốc của thuyền nhân
Việt Nam bắt đầu được giới
truyền thông quốc tế chú ý, và các chương trình
tường thuật đã giúp đánh thức lương
tâm cũng như lòng trắc ẩn của nhân loại.
Trong khi báo Times của Luân Ðôn đề cập về
sự kiện hàng ngàn dân tị nạn vô danh đã
mất mạng trên biển vằo đầu năm 1978, báo
New York Times tuyên bố là 'Nhiệm Vụ Việt Nam
của Chúng Ta Chưa Hoàn Tất' (Our Vietnam Duty Is Not Over') và
ủng hộ các đề nghị của Ủy Ban Công Dân
Ðặc Trách Tị Nạn Ðông Dương.
Các lãnh tụ dân sự gốc Châu Phi cũng đã bày
tỏ sự quan tâm của họ đối với
thảm trạng thuyền nhân. Vào ngày 19-3-1978, 89 lãnh
tụ thuộc các tổ chức quan trọng như National
Urban League, the National Association for the Advancement of Colored People,
v.v., đã cho phổ biến trên báo The New York Times lời
kêu gọi tòa Bạch -c cũng như Hạ Nghị
Viện thâu nhận 'anh
chị em Á Châu của chúng ta tại các trại tị
nạn' ('our Asian brothers and sisters in the refugee camps.')
Dưới áp lực của các
nỗ lực vận động này,
tòa Bạch -c quyết định duyệt xét toàn
bộ chính sách di trú. Vào tháng 3-1978, chính phủ Carter
đề nghị tu chính luật Di Trú và Công Dân
(Immigration and Nationality Act) để nhận thêm 50.000 người
tị nạn mỗi năm với ý định sẽ dùng
50% số lượng đó nhằm định cư dân
tị nạn Ðông Dương. (Vì trở ngại tài chánh,
phải đợi đến tháng 6-1978 thì số lượng
25.000 dân tị nạn Ðông Dương hưởng quy
chế ân xá này mới được chấp thuận.)
Phụ Chú:
1 Danh
từ này do báo Le Monde
của Pháp đặt rạ Tờ báo này từng ủng
hộ triệt để nỗ lực cưỡng
chiếm miền Nam của đảng Cộng Sản
Việt Nam.
2 Chính sách tống xuất dân Việt Nam
của Hà Nội đã được nhiều lãnh tụ
trên thế giới như Ngoại Trưởng Phi Luật
Tân là Carlos Romulo gọi là chính sách sát nhân tương
tự như chủ trương hoả thiêu dân Do Thái
của Hitler (Carlos Romulo characterized it as 'another form of inhumanity,
equal in scope and similarly heinous' to the holocaust) tại Hội
Nghị Ngoại Trưởng ASEAN vào tháng 2-1979. Ngoại
Trưởng Singapore là Sinnathamby Rajaratnam đã tuyên bố
rằng chính sách của Hà Nội là 'phương tiện
(sát nhân) của một thằng nghèo dùng biển cả
thay vì hỏa ló ('a poor man's alternative to the gas chambers is the
open sea').
3 '.. The boat people are not merely another desperate swarm of
'displaced persons,' but the victims and indicators of a profound regional
instabilitý Bruce Grant, The Boat People: An Age Investigation, Penguin Books,
Melbourne 1979.
4 Trước khi chiến dịch buôn dân tàn
nhẫn có kế hoạch do đảng Cộng Sản
Việt Nam trực tiếp chỉ đạo bị thế
giới vạch trần.
5 Theo Phó Thủ Tướng Mã Lai Mahathir
Mohamad.
6 Lý Quang Diệu lúc còn làm Thủ Tướng
của Singapore đã dùng thuyết 'lôi kéó để lý
luận rằng chính sách giúp đỡ thuyền nhân
Việt Nam là một chính sách tàn nhẫn bởi vì làm như
vậy sẽ khuyến khích hay lôi kéo thêm nhiều người
ra đị Ông ta vô tình hay cố ý quên rằng còn
một động cơ 'xua đuổí thuyền nhân
Việt Nam vượt biên: chính
sách ý thức hệ cộng sản đặt trên nền
tảng bạo lực dã man của Hà Nộị
Bất cứ giải pháp nào muốn giải
quyết bài toán tị nạn Việt Nam một cách có
hiệu quả cần phải quan tâm đến cả hai
yếu tố 'lôi kéó và
'xua đuổí
7 '(Socialist Vietnam) is failing to ensure the human rights of
its peoplẹ Its callous and irresponsible policies are compelling countless
citizens to forsake everything they treasure, to risk their lives, and to flee
into the unknown.'
8 'In the final analysis, the problem of Indochinese refugees
has risen solely as a result of the fact that the Vietnamese government is
pursuing a policy of aggression and war...
they press-ganged their young people into serving as cannon-folder and
bled the people whitẹ This has ruined the economy and made the people
destitutẹ Consequently, large numbers of Vietnamese inhabitants have had
to flee the countrý
9 Bruce Grant, The Boat People:
An 'Agé Investigation, Penguin Books, Miđlesex, England 1979, at
pp.195-197.
10 'The story of the boat
people exposes power politics in its most primitive form. While men and women of
goodwill hopefully discuss the prospect in the last quarter of the twentieth
century of a 'new world order' or a 'common heritage of mankind,' the boat
people have revealed another side - the
ruthless of major powers, the brutality of nation-states, the avarice and
prejudice of peoplẹ At times,
when telling the story of the boat people, it seemed that Indochina had become
the vortex of all that is wrong with mankind... The ability of governments of
the industrialized democracies to weep crocodile tears over the boat people,
while doing little about the root causes of the exodus, has been notablẹ
The boat people have indeed made us all look again at ourselves and at the state
of our world.'
11 Mã Lai không cho tàu chuyển thuyền nhân
xuống trại tị nạn cho đến khi có quốc
gia bảo đảm là họ sẽ được định
cư sớm.
12 'Some of them have not always been on our side, but for the
moment we are not interested in their politics, but in saving their lives.
It's a moral issue, a question of morality between human beings.'
13 'The Vietnamese refugees are
the fall-out of two lines of warlike discourse - Both stem from Hegel - the
communist thesis and the anti-communist thesis. They come to the same thing in the end.'
14 Trong vòng chín năm từ năm 1979 đến
năm 1988 qua năm chiếc tàu từ Cap Anamur I đến
Cap Anamur V, hơn 13,000 thuyền nhân đã được
chiến dịch nhân đạo Cap Anamur cứu vớt.
15 'Today the communist
authorities drown other babies. Yesterday
we protested. Today we are silent.'
16 'Thousands of innocent Vietnamese, many whose only crimes are
those of conscience, are being arrested, detained and tortured in prisons and
re-education camps.. Your government has created a painful nightmare that
overshadows significant progress achieved in many areas of Vietnam societý
17 'Such rhetoric only aligns
you with the narrow and negative elements in our country who continue to believe
that communism is worse than death.'
18 Nhat Tien, Duong Phuc, Vu Thanh Thuy, Pirates on the Gulf of
Siam, 2nd Edị, Boat People S.ỌS., San Diego 1981, at p. 93.
19 Father Joe Devlin 'shares in the grief, the pains, the
distress of a people who experienced the suđen and violent fall of the
entire free Vietnam of the South.'