III Phản Ứng của Thế Giới

Kế Hoạch Buôn Dân của Hà Nội

 

Một kiện hàng người do đảng CSVN xuất cảng.

           Chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam sau 1975, như đã bàn trong Chương I về nguyên nhân ly hương của thuyền nhân, là trục xuất khoảng 2 đến 3 triệu người Việt bao gồm nhiều thành phần ra khỏi nước để tân chính phủ có thể bình định tình hình chính trị tại miền Nam. Vào tháng 7-1979 tại Hội Nghị Quốc Tế về Tị Nạn Ðông Dương I ở Geneva, Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền của Hà Nội tiết lộ cho phái đoàn Thụy Ðiển biết là khoảng 3 triệu đồng bào miền Nam vốn đã quen thuộc với đời sống tự do chính trị và kinh tế có thể phải rời khỏi guồng máy xã hội chủ nghĩa; lượng định này đã được Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch tái xác nhận trong cuộc phỏng vấn với ký giả thuộc United Press International (số người phải ra đi 'tùy theo tình hình chính trị' có thể lên đến 3 triệu )[20] và trong buổi nói chuyện với Daniel K. Akaka, một thành viên trong phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Nghị Sĩ Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm Hà Nội hai ngày vào tháng 8-1979.

            Trong khi tiến hành chính sách bất nhân kể trên, ngoài chiến thuật giảm bớt nỗ lực kiểm soát hải phận quốc gia và tung tin thất thiệt để khuyến khích các thành phần 'phản cách mạng' ra đi (điển hình là tin đồn 'ra tới hải phận quốc tế là gặp tàu Mỹ vớt' bởi vì Ðệ Thất Hạm Ðội của Hoa Kỳ tích cực giám sát biển Ðông nhằm cứu giúp thuyền nhân trong khi trên thực tế chiến hạm Mỹ thường xuyên trốn tránh ghe tị nạn vì Hoa Thịnh Ðốn lúc đó rất thờ ơ đối với vấn đề tị nạn Ðông Dương do chủ trương 'No More Viet Nam' [21] sau năm 1975, v.v.), đảng Cộng Sản cũng bắt đầu nhận thức được là chế độ có thể gom góp được nhiều 'của chìm' của thành phần trung lưu và thượng lưu Việt Nam bằng cách tổ chức và bảo đảm những đường dây vượt biên an toàn cho họ. Bị chói mắt bởi số lượng tài sản khổng lồ của đồng bào miền Nam sau hai đợt đánh tư sản, giới lãnh đạo Hà Nội vội vã ra lệnh cho công an Bộ Nội Vụ bắt liên lạc với đám gian thương quốc tế để sắp xếp đưa ra biển các kiện hàng người Việt lẫn Hoa kiều hầu có thể vơ vét thêm nhiều 'của chìm.'

            Kế hoạch mại dân của Hà Nội dành ưu tiên cho người Việt gốc Hoa; [22] và dân Việt chính gốc phải trả giá đắt hơn nếu muốn tham gia đường dây vượt biên an toàn. Kế hoạch buôn người được thực hiện trong giai đoạn nhiều chính quyền lân bang trở nên cởi mở hơn trong chính sách đối xử với dân tị nạn Việt Nam. Vào khoảng tháng 3-1978, các quốc gia Ðông Nam Á như Mã Lai, Thái Lan, v.v., công khai tuyên bố là vì lý do nhân đạo cho nên sẵn sàng chấp nhận cho những người ra đi tìm tự do được tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định cư tại đệ tam quốc gia; một trong các yếu tố đưa đến chủ trương cởi mở này là sự phẩn nộ của cộng đồng nhân dân thế giới đối với thảm trạng hải tặc hành hạ và sát hại thuyền nhân.

            Hai năm 1978 và 1979 đã mục kích không những tội ác tàn bạo của hải tặc đối với dân tị nạn mà còn cả chiến dịch buôn dân Việt và Hoa kiều độc nhất vô nhị do đảng Cộng Sản Việt Nam trực tiếp chỉ đạo.[23] Vào tháng 6-1979, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Singapore là Sinnathamby Rajaratnam đã tố cáo Hà Nội sử dụng lá bài 'người Việt gốc Hoa' bởi vì CHXHCNVN 'biết là hầu như tất cả các quốc gia thuộc ASEAN có những khó khăn tế nhị đối với cộng đồng thiểu số Hoa kiều địa phương. Số lượng tị nạn Hoa kiều khổng lồ xâm nhập vào các quốc gia này chỉ có thể phóng đại các kích động chủng tộc và, nếu cung lượng này tiếp tục tuôn trào lâu dài, sẽ đưa đến chiến tranh chủng tộc vốn có thể tàn phá các xã hội này nhanh chóng và hiệu quả hơn bất cứ đội quân Việt Nam xâm lược nào. Trong khoảng khắc sự thịnh vượng, ổn định và đoàn kết của ASEAN sẽ tiêu tan vào lớp khí mỏng và điều kiện sống sẽ xuống cấp ngang hàng các tiêu chuẩn đang hiện hữu tại Ðông Dương ngày nay.'[24]

            Công an chìm thuộc Bộ Nội Vụ đóng đô tại Hà Nội đã tích cực tổ chức các kiện hàng đầy người toàn quốc để đưa ra biển trong hai năm 1978 và 1979. Chúng sử dụng một số thường dân làm cò mồi để bắt mối với Hoa kiều cũng như người Việt chính gốc giàu có cho chiến dịch buôn bán lương dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Người Việt tham gia chương trình buôn dân của Hà Nội bị đòi hỏi trả giá cao hơn Hoa kiều (có thể lên đến 50% cao hơn giá bình thường) mới đi được bởi vì phải qua nhiều cửa ngỏ hơn cũng như phải làm hồ sơ giả danh gia đình gốc Tàu. Một số trung tâm buôn người quan trọng của đảng Cộng Sản Việt Nam nằm ở Long Thành, Ðà Nẵng, Hải Phòng, Rạch Giá, Trà Vinh và Vĩnh Long. Vào thời điểm bận rộn nhất của chiến dịch buôn dân, công an Hà Nội đã thẳng tay đàn áp và ngăn chận các nỗ lực vượt biên 'chui'  để bảo vệ ngai vị độc tài của đảng trong việc thâu thập vàng cũng như quý kim từ những người có ý định ra đi.[25]

            Trước khi đảng Cộng Sản Việt Nam hợp tác với mạng lưới Hoa kiều bất lương ở nước ngoài để 'buôn lậu khổ cảnh con người' ('traffic in human misery')[26] vào giữa năm 1978, hầu hết thuyền nhân đến được bờ bến tự do đều có thể xin tị nạn tạm thời trong khi chờ đợi được định cư tại một quốc gia thứ ba mà ít gặp sự chống đối của các cộng đồng địa phương.[27] Nhiều dân làng tại các quốc gia láng diềng đã vui vẻ giúp đỡ ghe tị nạn Việt Nam; họ cung cấp thực phẩm cũng như hướng dẫn thuyền nhân cách liên lạc với chính quyền địa phương để xin được đưa đến các trại tị nạn. Sự niềm nở này biến mất khi Hà Nội tiến hành kế hoạch buôn dân để thâu vàng và quý kim. Lá bài hàng-vận nhân (ship people) của đảng Cộng Sản Việt Nam xuất hiện vào giữa năm 1978 khiến thảm trạng thuyền nhân thêm phức tạp.

            Hậu quả tác hại của hiện tượng hàng-vận nhân do Hà Nội sáng tạo là phản ứng chống đối để tự vệ của các cộng đồng nhân dân và chính quyền lân bang; họ bắt đầu đối xử với thuyền nhân bằng thái độ thù nghịch. Dân tị nạn đến từ Việt Nam [28] - trong đó có khoảng 1/4 là người Việt gốc Hoa -  không còn được niềm nở trợ giúp như trước bởi vì người địa phương bắt đầu lo sợ ảnh hưởng của làn sóng Hoa kiều vốn đã hoặc đang kiểm soát các động cơ kinh tế tại đất nước họ.  Thảm trạng thuyền nhân trở nên thê thảm hơn tại một vài vùng, đặc biệt là ở Mã Lai, khi người tị nạn bị dân địa phương ném đá cũng như dùng cây đánh đập tàn nhẫn. Tuy vậy thay vì giảm đi, làn sóng thuyền nhân lại vẫn tiếp tục gia tăng bất kể cái chết trên biển cả, sự tàn bạo của hải tặc cũng như chính sách ngược đãi của các quốc gia láng diềng.  Trong bài chúc tết năm 1979, Thủ Tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã yêu cầu các lãnh tụ trên thế giới nên tích cực phản đối chính sách trục xuất lương dân bất nhân của Hà Nội:

            'Ðợt sóng thuyền nhân và hàng-vận nhân gần đây là kết quả của các hành động tính toán lạnh lùng, dựa trên vàng, và nhiều năm sau khi nhiệt độ chiến tranh đã nguội. Một điềm xấu sẽ xảy ra nếu lãnh tụ thế giới cũng như giới lãnh đạo cầm bút không phổ biến sự tức giận của họ đối với phương pháp xua đuổi gay gắc thành phần công dân vô thừa nhận, nhiều nạn nhân nữa sẽ bị tống xuất trên các thuyền hay tàu đầy ắp.'[29]  

Phụ Chú:

20   UPI report.  Quoted in Barry Wain's 'The Refused:  The Agony of the Indochina Refugees,' Simon and Schuster, New York, 1981, at p.231.

21  Tổng Thống Carter chỉ ra lệnh cho Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ tìm kiếm và cứu vớt thuyền nhân đang gặp hoạn nạn trên biển sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I vào tháng 7-1979 trong nỗ lực quốc tế hóa cuộc khủng hoảng tị nạn Ðông Dương nhằm lôi kéo các quốc gia khác tham gia vào chương trình cứu trợ tị nạn tại Ðông Nam Ạ Trong khoảng thời gian 4 năm từ tháng 5-1975 cho đến tháng 8-1979, hải quân Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á tránh né công tác nhân đạo nàỵ

22   Chủ trương ưu tiên cho Hoa kiều này phản ảnh một phần sự xung đột chính trị giữa Hà Nội và Bắc Kinh vào thời điểm đọ Dĩ nhiên là Hà Nội cũng lo ngại về một đội quân thứ năm trong cộng đồng người Việt gốc Hoa, nhưng mối lợi 'của chìm' khổng lồ chính là lý do đã đưa đến kế hoạch buôn lậu lương dân bất nhân của đảng Cộng Sản Việt Nam. Suốt hai năm 1978 và 1979, chương trình 'hiến của để đí của Hà Nội được tổ chức âm thầm nhưng quy mô và tỏa rộng toàn quốc.

23  Tưởng cũng cần ghi lại ở đây là chính sách buôn người của Hà Nội khi phổ biến xuống địa phương đã không được thực hiện thuần nhất. Hầu như đa số các thuyền được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép cho ra khơi đều phải chở nhiều người hơn số lượng cho phép bởi vì các ông vua con địa phương muốn 'ăn vá thêm. Một vài đảng viên cao cấp như Tỉnh Ủy đã mang cả bao bố vàng lá để vượt biên cùng gia đình sau các đợt ăn chận trung ương nàỵ

24  The communists in Hanoi 'picked on' Chinese Vietnamese 'because they know that almost all ASEAN countries have delicate problems with their Chinese minorities.  The massive unloading of Chinese refugees onto these countries can only exacerbate racial sensitivities and, if the flow is sustained long enough, lead to racial warfare which could tear these societies apart quicker and far more effectively than any invading Vietnamese armỵ  In no time ASEAN prosperity, stability and cohesion would vanish into thin air and conditions of life would soon be on par with those now prevailing in Indochiná

25   Theo lời khoe của Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch với phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Nghị Sĩ Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm CHXHCN Việt Nam vào tháng 8-1979 thì chỉ trong vòng 7 tháng đầu năm 1979 (vốn là cao điểm của chiến dịch buôn người) Hà Nội đã truy tố ít nhất là 4.000 vụ vượt biên trái phép, tức là khoảng vài chục ngàn 'dân đi chuí đã bị cầm tù nếu chúng ta chỉ khiêm tốn phỏng tính là đa số các vụ vượt biên bí mật do đồng bào tự tổ chức khó kéo theo quá vài chục ngườị

26   Câu nói này do Ðệ Nhất Thư Ký của Hồng Kông là Sir Jack Cater phát biểu ('those who traffic in human miserý).

27   Trước chiến dịch buôn dân của Hà Nội vào giữa năm 1978, Mã Lai và Thái Lan thỉnh thoảng xua đuổi ghe tị nạn ra hải phận quốc tế, nhưng luôn luôn cho thuyền nhân Việt Nam cập bến nếu ghe của họ gặp trục trặc; và đa số ghe tị nạn rất mỏng manh và củ kỷ cho nên thường bi hư hại sau vài ngày trên biển. Chính sách tạm cư này phản ảnh lònh nhân đạo của nhân dân địa phương bởi vì vào giai đoạn niên kỷ 1970, không một quốc gia Ðông Nam Á nào ký kết vào Công Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1951 (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) và Hiệp Ðịnh Thư liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1967 (1967 UN Protocol relating to the Status of Refugees).  (Chính phủ Phi Luật Tân đồng ý ký vào hai văn kiện này vào tháng 7-1981, và nhờ vậy chính sách sau này của Manila đối với thuyền nhân Việt Nam tương đối đỡ khắc nghiệt hơn.)

28  Bruce B. Dunning, Vietnamese in America: The Adaptation of the 1975-1979 Arrivals, in Refugees As Immigrants, Edị by David W. Haines, Rowman & Littlefield Publishers, Inc., New Jersey 1989, at p.60.  Furthermore, most Sino-Vietnamese or ship people left in larger crafts and old foreign-registered ships operated by overseas Chinese racketeers under contract with Hanoi between miđ1978 and late 1979.

29  'The latest exodus of 'boat peoplé and 'ship peoplé is the result of acts of cold calculation, measured in gold, and long after the heat of battle has cooled. What is ominous is that unless world leaders and leader-writers register their outrage at this cynical disposal of unwanted citizens, many more victims will be sent off on packed boats or ships.'

Trở lại phần Mục Lục