III Phản Ứng của Thế Giới
Các
Kiện Hàng Người
Khổng Lồ Rỉ Sét

Vào tháng 12-1978, tàu Huey Fong cập
bến Hồng Kông
với một kiện hàng gồm 3.318 người do đảng
CSVN xuất cảng.
(Hong Kong Government Information Services)
Vào ngày 24-8-1978, chiếc tàu cũ tên Southern Cross
được bao thuê từ Singapore để đi Bangkok
chuyên chở một kiện hàng muối. Sau khi rời
khỏi hải phận Singapore, tàu Southern Cross chuyển hướng
về thành phố Hồ Chí Minh và đã được
chính quyền cộng sản tại đây đón tiếp
nồng hậu. Thay vì nhận một kiện hàng muối,
tàu Southern Cross thâu thập 1.250 hành khách; và để
được phép ra đi, mỗi hàng-vận nhân
phải trả từ 6 đến 8 lượng vàng cho Hà
Nội và từ 1 đến 2 lượng vàng cho nhóm
tổ chức.[31] Tàu buôn người Southern Cross sau đó
rời Việt Nam với lá cờ cỏ sao vàng treo
lủng lẳng phía trước mũi và được
ca nô phi tiêu của hải quan hướng dẫn ra
hải phận quốc tế.
Trước khi ra biển, thuyền trưởng Southern
Cross đã đánh điện kêu gọi được giúp
đỡ bởi vì tàu vừa mới vớt được
hàng trăm thuyền nhân ngoài hải phận quốc
tế. Kuala Lumpur nghi ngờ thiện chí của lời
khẩn cầu này cho nên cấm tàu Southern Cross vào hải
cảng Mã Lai. Singapore cũng phản ứng tương
tự cho nên cuối cùng tàu Southern Cross phải bỏ
kiện hàng người xuống hoang đảo Pengibu
của Nam Dương vào ngày 21-9-1978. Cao Ủy Tị
Nạn Liên Hiệp Quốc đã can thiệp và vận
động với Jakarta để cho các hàng-vận nhân này
được tạm trú tại vùng đảo Bintan phía
Nam Singapore trong khi chờ đợi cơ hội định
cư.
Sự thành công của tàu Southern Cross khiến giới lãnh
đạo Hà Nội hồ hởi và tiếp tục làm
việc với Tay Kheng Hong để tổ chức thêm
một đợt buôn người khác vài tuần sau đó.
Vào ngày 15-10-1978, tàu Golden Hill vốn đã phục vụ
trên 30 năm được tậu với giá 125.000
Mỹ-kim ở Singapore để đưa về Hồng Kông
phá bỏ hầu lấy sắt phế thải. Tàu Golden
Hill sau đó được đổi tên thành Hai Hong và
vừa rời Singapore lại chuyển hướng về Vũng
Tàu để đón một kiện hàng khoảng 1.200 người.
Lần này gian thương Tay Kheng Hong đã bị đảng
Cộng Sản Việt Nam lường gạt; tàu Hai Hong
bị bắt buộc phải nhận thêm 1.300 hàng-vận
nhân miễn phí. Tay Kheng Hong không có cách chọn lựa nào
khác hơn là cay đắng chấp thuận yêu cầu
tối hậu của Hà Nội bởi vì nếu không thì
tàu Hai Hong khó có thể rời khỏi hải phận
Việt Nam, và mối lợi đầu cơ của
hắn sẽ tiêu tan.
Vào ngày 24-10-1978, chiếc tàu phế thải Hai Hong chở
một kiện hàng người bao gồm 2.449 hàng-vận
nhân kể cả gia đình của Tăng Tạ Sơn,
cộng tác viên đắc lực của Tay Kheng Hong
tại thành phố Hồ Chí Minh. Bão Rita vốn đang tàn
phá biển Nam Hải lúc đó đã khiến tàu Hai Hong
phải đổi hướng đi Hồng Kông để
tiến về Nam Dương. Jakarta e ngại một
kiện hàng người khổng lồ khác của Hà
Nội sẽ bị trút xuống lãnh địa Nam Dương
cho nên ra lệnh cho tàu Hai Hong phải rời hải
phận quốc gia. Tàu Hai Hong trực chỉ Mã Lai nhưng
vẫn không được phép đổ người. Sau
đó thủy thủ đoàn dự định rời
hải cảng Klang để đi Singapore nhưng tình
trạng củ kỹ bệ rạc khiến tàu không
rời khỏi hải phận Mã Lai nổi.
Trong suốt giai đoạn này, kết quả điều
tra tàu Southern Cross, Hai Hong và một số tàu khác của các
chính phủ quan tâm từ Kuala Lumpur, Jakarta đến
Canberra, Washington cho biết đảng Cộng Sản
Việt Nam đang tổ chức buôn lậu lương dân
để kiếm vàng và quý kim; và kế hoạch buôn người
tàn nhẫn này đe dọa đẩy toàn chương trình
cứu trợ và định cư thuyền nhân vào tình
trạng hiểm nghèo. Trong quá khứ, thuyền nhân là
những người tị nạn đi tìm tự do trên
những chiếc ghe nhỏ và họ đã được
nhân dân và chính quyền láng diềng đón tiếp, giúp
đỡ cũng như cho tạm trú trong khi chờ đợi
được đi định cư. Trong chiến
dịch buôn người của Hà Nội trên các chiếc
tàu khổng lồ như Southern Cross và Hai Hong, vấn đề
tư cách tị nạn bắt đầu được bàn
luận và phân tích kỷ lưỡng hơn bởi các nhân
vật chịu trách nhiệm về chính sách quốc gia,
kể cả nhân viên Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc. Làm sao mà các hàng-vận nhân có thể được
xem là dân tị nạn chính thống khi họ rời
Việt Nam một cách đường đường chính
chính với sự giúp đỡ và che chở của chính
quyền Hà Nội? Tiêu chuẩn 'bị đàn áp'
(persecuted) vốn là tiêu chuẩn duy nhất để
được cấp quy chế tị nạn theo công pháp
quốc tế khó mà có thể áp dụng cho nhóm hàng-vận
nhân từng được công an Bộ Nội Vụ
tiếp đón, bảo vệ và đưa lên các chiếc
tàu khổng lồ như Southern Cross và Hai Hong để ra
đi một cách an toàn.
Chính phủ Úc lên tiếng là các chuyến buôn người
của Hà Nội trên những chiếc tàu sắt to
lớn phải thất bại bởi vì nếu không thì khó
có thể ngăn chận bàn tay mại dân bất nhân
của đảng Cộng Sản Việt Nam.[32] Bộ Trưởng
Di Trú và Nhân Chủng Michael MacKellar tuyên bố: 'Chúng ta
hiện có nhiều dấu hiệu đầu tiên là
những cá nhân không có lương tâm đang gắng
sức kiếm lời từ tình trạng tị nạn
Ðông Dương hiện nay.. Úc
đã đóng vai trò quan trọng trong việc thâu nhận
nhiều ngàn dân tị nạn chân thật, nhưng tôi
muốn báo trước rõ ràng là chúng tôi sẽ không
chấp nhận các vụ liên quan đến âm mưu
đen tối nhằm trốn tránh khó khăn.' [33]
Nam Dương, Mã Lai và các quốc gia Ðông Nam Á khác
đồng chia xẻ quan điểm của Úc về
kế hoạch buôn dân của Hà Nội.
Trong các ngày đầu của vấn nạn Hai Hong, Cao
Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc dự định
phân loại hàng-vận nhân trên chiếc tàu phế
thải này là dân nhập biên bất hợp pháp. Tuy nhiên khi sức khỏe của các nạn
nhân này xuống dốc trầm trọng vì điều
kiện sinh sống bất lợi trên con tàu rỉ sét, lòng
nhân đạo và sự xúc động nhất thời
đã thay thế lý trí và khiến Cao Ủy Tị Nạn
LHQ phải ra thông báo công nhận hàng-vận nhân trên tàu
Hai Hong là dân tị nạn.
Vấn nạn Hai Hong chấm dứt vào tháng 11-1978 nhưng
kế hoạch buôn dân của Hà Nội vẫn tiếp
tục bởi vì đảng Cộng Sản Việt Nam không
thể bỏ qua một mối lợi khổng lồ thâu
thập được từ khổ cảnh thuyền nhân,
đặc biệt là khi cộng đồng quốc tế
chưa có phản ứng hiệu quả. Ða số các
kiện hàng người của Hà Nội chứa
khoảng vài trăm lương dân trở lại,
nhưng cũng có khoảng nửa chục kiện hàng
chứa hàng ngàn người được công an Bộ
Nội Vụ phê chuẩn cho ra khơi trên những
chiếc tàu rỉ sét và đã làm chấn động các
chính quyền lân bang. Vào tháng 12-1978, tàu Huey Fong cập
cảng Hồng Kông với một kiện hàng gồm 3.318
người.[34] Ba ngày sau, tàu Tung An chở 2.318 hàng-vận
nhân đến Phi Luật Tân.[35] Hai tháng sau đó,
Hồng Kông phải đối đầu với 2.651 hành
khách của Hà Nội đi trên tàu Skyluck vốn trước
đó đã bỏ 600 người tại vùng đảo
Palawan của Phi Luật Tân.[36] Vào ngày 26-5-1979, tàu Sen On cũng
được biết đến dưới danh hiệu
Kina Maru rồi Seng Cheong đã ủi vào đảo Lantau
của Hồng Kông với 1.433 hàng-vận nhân.
Sự liên kết giữa đảng Cộng Sản
Việt Nam và bè lũ gian thương quốc tế để
buôn lậu lương dân chỉ chấm dứt khi
cộng đồng thế giới cực lực phản
đối kế hoạch buôn người tàn nhẫn này,
và đám thương cẩu ở nước ngoài bị
chính quyền địa phương đe dọa bắt
phải chấm dứt công việc hợp tác mại dân
với Hà Nội hoặc bị giam cầm và truy tố hình
sự cũng như chế tài. Hsu Wen-hsin, thuyền trưởng
của tàu Huey Fong, 6 phụ tá của hắn và 4 thương
gia liên hệ đã bị Hồng Kông đưa ra tòa
về tội buôn lậu sau khi tàu được cho
cập bến vào ngày 19-1-1979;[37]Hsu và các phụ tá cũng
như một thương nhân đã bị kết án hơn
50 năm tù sau đó. Ðối với nhóm tổ chức tàu
Skyluck, chính quyền Hồng Kông truy tố Thuyền trưởng
Hsiao Hung-ping và 4 phụ tá về tội gian mưu vào tháng
2-1979. Thủy thủ đoàn của tàu Sen On cũng
phải chịu một số phận tương tự; 4
người trong ban tổ chức đã bị kết án
về tội giúp đỡ ngoại dân nhập cư trái
phép. Tại Phi Luật Tân, chủ tàu Tung An đã bị
phạt về tội vi phạm luật di trú. Trong khi đó,
Mã Lai dùng luật An Ninh Quốc Nội năm 1960 để
bắt giữ mà không cần phải truy tố Serigar,
thuyền trưởng tàu Hai Hong, và đầu đàn nhóm
tổ chức là Tay Kheng Hong và Lee Sam. Singapore bỏ tù Allan
Ross và Chong Chai Kok bởi vì vai trò của họ trong vụ
tàu Southern Cross và Hai Hong. Chính quyền Singapore cũng
hủy bỏ giấp phép hành nghề của Thuyền trưởng
Sven Olof vì Olof đã tích cực nhúng tay vào vụ tàu
Southern Cross.
Các quốc gia quan tâm đã nhanh chóng chia xẻ tin tức
tình báo liên quan đến bè lủ gian thương có liên
hệ với Hà Nội để tiêu diệt dự tính
buôn người trong trứng nước.[38] Tất cả
các chủ tàu cũng như thương cẩu trù định
làm ăn với đảng Cộng Sản Việt Nam thường
xuyên được cơ quan an ninh địa phương
thăm hỏi cũng như khuyến cáo về hậu
quả nghiêm trọng của vấn đề. Singapore
đã đập tan một mạng lưới quốc
tế chuẩn bị làm ăn với Hà Nội bao gồm
4 thương nhân địa phương, 2 công dân Ðài
Loan và một thương nhân Nam Dương gốc Hoa; nhóm
người này dự định dùng tàu Tonan Maru để
thâu nhận một kiện hàng người với 'sự
đồng lõa của giới cầm quyền Việt Nam'
('complicity of Vietnamese authorities').
Một dự tính buôn người khác xảy ra vào
tháng 2-1979 liên quan đến tàu Lucky Dragon bị phá
hỏng bởi vì Hồng Kông đã kịp thời phân
phối tin tình báo cho nhiều chính quyền lân bang một
cách hiệu quả. Báo South China Morning Post từng tường
thuật lời của John Slimming, Giám Ðốc Nha Thông Tin
Hồng Kông: 'Có nhiều lý do để nghi là chiếc tàu
này có thể đang chuẩn bị vào hải phận
Việt Nam để thâu nhận hành khách trả cước
phí.'[39]
Vụ tàu Sea View chứa đựng nhiều tình
tiết lý thú hơn bởi vì khi Hồng Kông - lúc đó
còn là thuộc địa Anh - nhận được tin tình
báo cho hay là tàu này đang thả neo dừng lại cách sông
Sài Gòn khoảng 16 hải lý vào tháng 6-1979, Luân Ðôn
lập tức triệu Lê Kỳ Giai, đại diện
sứ quán Hà Nội, lên Bộ Ngoại Giao để
phản đối hành động buôn người tàn
nhẫn này. Giai phủ nhận vai trò của đảng
Cộng Sản Việt Nam trong vấn đề mại dân,
nhưng lời lên án chính thức này của chính
quyền Anh đã có hiệu quả ngay lập tức. Vào
ngày 13-7-1979, tàu Sea View phải rời hải phận
Việt Nam mà không nhận được kiện hàng người
của Hà Nội.
Nhờ vào sự hợp tác nhanh chóng và hiệu
quả của các chính quyền quan tâm cho nên đảng
Cộng Sản Việt Nam đã thất bại trong âm mưu
tầm lợi lâu dài trên sự tủi nhục của nhân
dân. Song song với nỗ lực tích cực truy tố cũng
như chế tài bè lũ gian thương bốc vác các
kiện hàng người của đảng Cộng Sản
Việt Nam, cộng đồng thế giới đã thành
công trong việc sử dụng áp lực ngoại giao để
ngăn chận kế hoạch buôn lậu lương dân
của Hà Nội.

Hàng-vận nhân chui rúc trên
những chiếc tàu rỉ sét
do bọn thương cẩu quốc tế và đảng
CSVN tổ chức lèo láy.
Phụ Chú:
30 Tin tình báo cung
cấp hình của một nhân vật bí mật gọi là
ông Lý ('Mr. Leé) được Hà Nội sử dụng
để liên lạc với đám thương cẩu qu
ốc tế nhằm tổ
chức các kiện hàng ngườị Ông Lý nói
được tiếng Việt, tiếng Quan Thoại, Phúc
Kiến và một ít tiếng Quảng Ðông.
31 Một lượng vàng cân nặng
khoảng 1.21 ounces. Vào giai đoạn 1979 và 1980, giá vàng
vọt từ $275 Mỹ-kim/ounce lên đến $850 Mỹ-kim/ouncẹ
32 Tại Úc, một nhóm hổn tạp gồm
có phe tả, phe bảo thủ cực hữu và thành
phần kỳ thị chủng tộc đã chống
lại việc định cư thuyền nhân. Họ
miệt thị dân tị nạn Việt Nam là phần
tử lười biếng và tổ chức họp báo
để phản đối chính sách nhân đạo
của chính phụ Nhưng chỉ một niên kỷ sau
đó, chính những thuyền nhân này đã tạo
được nhiều tiếng vang hiển vinh cũng như
ảnh hưởng mạnh mẽ chánh trường Úc. Ghe
tị nạn đầu tiên cập bến Úc là chiếc
KG 4435 do anh Lâm Bình, 25 tuổi, điều khiển rời
Kiên Giang với 4 thanh niên khác.
33 'We now have the first
indications that unscrupulous people are attempting to profiteer in the present
Indochinese refugee situation.. Australia
has played a major part in accepting many thousands of genuine refugees, but I
give strong warning that we shall not accept cases involving subterfugé
34 Cảnh sát Hồng Kông tìm được
3.273 lượng vàng trị giá HK $6,5 triệu trên tàu Huey
Fong. Ðảng CSVN đã
nhận tiền mãi lộ trị giá ít nhất từ 4
đến 5 lần số lượng vàng này hay khoảng
12.000 đến 15.000 lượng vàng trước khi cho phép
tàu Huey Fong rời hải cảng Việt Nam.
35 Theo lời
khai của một nhân chứng Việt Nam trước tòa
Phi Luật Tân thì ít nhất là 240 người đã
mất mạng trong khi chen lấn nhau lên tàu Tung An vào tháng
11-1978.
36 Sau khi rời Việt Nam vào ngày 24-1-1979, tàu
Skyluck đã chuyển vàng sang tàu United Faith ngoài hải
phận quốc tế trước khi nhập cảng
Hồng Kông vào ngày 7-2-1979. Số lượng vàng này
đã được tàu United Faith âm thầm chuyển vào
thị trường buôn lậu của Hồng Kông.
37 Chính quyền Hồng Kông tu chính Luật Thương
Hải (the Merchant Shipping Bill), Luật Di Trú (the Immigration
Bill) và một số luật khác để tăng hình
phạt tù (lên đến 4 năm) và tài chế (từ
$40.000 lên đến $1 triệu) để đối đầu
với thành phần thương cẩu cộng tác với
Hà Nội để chuyên chở các kiện hàng ngườị
Bọn buôn người được Hồng Kông
đánh giá nguy hiểm không kém đám buôn lậu
thuốc phiện.
38 Vào tháng 2-1979, Hồng Kông tổ chức nhóm
đặc nhiệm về tàu tị nạn Refugee Ship Unit
hoạt động bí mật dưới sự chủ huy
của Tim Frawley để theo dõi hành vi của công an
Bộ Nội Vụ Việt Nam và đám thương
cẩu Hoa kiều ngoại quốc nhằm ngăn chận
các kiện hàng người của Hà Nộị
39 'There are reasons to suspect that this ship may be planning a rendezvous in Vietnamese waters to pick up fare-paying passengers.' South China Morning Post, 2 March 1979.