III Phản Ứng của Thế Giới
Hậu Quả Di Hại của Kế Hoạch Buôn Lậu
Lương dân

Vào tháng 12-1978, tàu Huey Fong cập
bến Hồng Kông
với một kiện hàng gồm 3.318 người do đảng
CSVN xuất cảng.
(Hong Kong Government Information Services)
Chiến lược buôn lậu lương dân
của Hà Nội đã gây ra nhiều ảnh hưởng
tác hại cho chương trình cứu trợ và định
cư thuyền nhân bắt đầu với sự
phản đối của các chính quyền quan tâm rồi
dự định 'bắn khi trông thấy' (shoot on sight)
của Mã Lai đối với dân tị nạn Việt
Nam vào tháng 6-1979.[40] Vào
những năm đầu của làn sóng thuyền nhân, như
đã trình bày trong các phần trước, chính quyền
Kuala Lumpur đối xử tương đối nhân đạo
với người Việt vượt biên tìm tự do. Dân
Mã Lai cũng tận tình giúp đỡ thuyền nhân
bằng cách cung cấp thực phẩm và nơi tạm trú
trong khi chờ đợi quyết định của cơ
quan hữu trách địa phương.
Trước khi Hà Nội tiến hành kế hoạch
mại dân vào giữa năm 1978, chính quyền Mã Lai ít khi
xua đuổi thuyền nhân; và ngay cả khi ghe tị
nạn còn tốt được hướng dẫn đến
quốc gia khác, các người trên ghe thường
được tiếp tế thêm gạo, nước
ngọt cũng như nhu yếu liệu và dầu máy
cần thiết. Vào tháng 3-1978, Bộ Trưởng Nội
Vụ Tan Sri Ghazali tường trình trước Quốc
Hội rằng chính phủ Mã Lai tiếp tục đón
nhận thuyền nhân vì lý do nhân đạo mặc
dầu không công nhận tư cách tị nạn của
họ. Theo ông ta thì chỉ có những người
trốn tránh một cuộc chiến đang diễn ra
mới có thể được xem là dân tị nạn;[41]
và CHXHCN Việt Nam lúc đó không còn chiến tranh. Nhờ
vào chính sách nhân đạo của Mã Lai mà hàng chục ngàn
thuyền nhân đã được cho phép tạm trú trong
khi chờ đợi cơ hội định cư tại
đệ tam quốc gia.
Vào cuối năm 1978 khi trực diện với kế
hoạch buôn lậu lương dân của Hà Nội, chính
quyền Kuala Lumpur lập tức thay đổi chính sách vì
lo ngại phải đối đầu với một
cuộc đổ bộ của Hoa kiều do đảng
Cộng Sản Việt Nam bảo trợ.
Kiện hàng người Việt gốc Hoa do tàu Hai
Hong đưa đến hải phận Mã Lai vào tháng
11-1978 đã khiến nhiều lãnh tụ chính trị lo âu.
Tại Quốc Hội, các ý kiến chỉ trích chủ trương
nhân đạo của chính quyền - đặc biệt là
từ đảng đối lập Partai Islam - bùng nổ
mạnh vì có thêm yếu tố mới. Thay vì lo đối
đầu với số lượng ghe mỏng manh của
thuyền nhân Việt Nam cập bờ Mã Lai một cách
rời rạc, giới lãnh đạo quốc gia bắt
đầu lo lắng trước cuộc đổ bộ
của Hoa kiều trên những chiếc tàu khổng lồ
do Hà Nội và đám gian thương quốc tế
tổ chức.
Chính quyền Kuala Lumpur cuối cùng đã đi đến
quyết định ngăn cấm tất cả ghe
thuyền từ Việt Nam cập bến và ra lệnh cho
lực lượng biên phòng kéo dân tị nạn ra
hải phận quốc tế. Chính sách xua đuổi này
đã khiến nhiều thuyền nhân áp dụng phương
pháp đục lủng ghe rồi lội vào bờ với
hy vọng đặt chính quyền Mã Lai trong cảnh 'chẳng
đặng đừng' phải chấp nhận cho họ
được tạm lưu. Chiến thuật
'nhảy bãi' liều lĩnh của những thuyền
nhân tuyệt vọng đã dẫn đến nhiều cái
chết đầy thương tâm của trẻ em,
phụ nữ và quý cụ cao niên yếu sức cũng như
thanh niên không biết bơi. Vào các tháng đầu khi chính
sách mới được thi hành, vài ngàn 'dân nhảy bãi'
(beach people) đã được cho phép lưu trú trong khi
chờ đợi cơ hội tái định cư. Tuy nhiên
trong các tháng sau đó, Kuala Lumpur đe dọa chấm
dứt chương trình tạm lưu dân tị nạn
Việt Nam và sẽ tiến hành việc tống khứ
76.000 thuyền nhân hiện đang trú ngụ trên đất
Mã Lai.
Vào ngày 15-1-1979, Thủ Tướng Hussein Onn tuyên bố là
Mã Lai chấm dứt chính sách nhân đạo và lập
tức thực hiện chính sách be bờ để ngăn
chận làn sóng thuyền nhân. Vào tháng 2 năm đó, ông
ta phát biểu: 'Chúng tôi đã thông báo cho Liên Hiệp
Quốc và các quốc gia khác về vấn đề này
bởi vì chúng tôi không còn đủ chỗ trong các
trại trên đảo của chúng tôi..
vì thế chúng tôi phải xua đuổi họ đi
nơi khác nếu họ muốn cập bờ.'[42] Giữa
tháng 2 và tháng 6-1979, khoảng 50% hay hơn 5.000 dân nhảy
bãi Việt Nam đã bị lính Mã Lai dùng súng ép lên ghe và
kéo ra hải phận quốc tế.
Một lực lượng đặc biệt, the VII
(Vietnamese Illegal Immigrants), được Kuala Lumpur tổ
chức để tìm cách ngăn cản ghe tị nạn xâm
nhập hải phận quốc gia cũng như giải
quyết số thuyền nhân đang còn kẹt tại các
trại tạm lưu. Dân đánh cá Mã Lai được
yêu cầu sơn một vòng tròn có chữ P chính giữa
trên mui tàu để phân biệt với ghe của
thuyền nhân.
Vào ngày 31-3-1979, tàu tuần tiểu Rrenchong kéo ghe tị
nạn MH-3012 ra hải phận quốc tế. Vận
tốc nhanh của tàu tuần tiểu đã làm ghe tị
nạn lật và dẫn đến cái chết của 115
nạn nhân vô tội. Một bản điều tra của
Liên Hiệp Quốc tường trình: 'Ghe Việt Nam ở
trong một tình trạng tệ hại, máy bơm nước
bị hư và máy ghe không chạy. Nước ngọt không
có (trên ghe).. một em bé
được sinh trên ghe trong lúc đó..
Sĩ quan hải quân (Mã Lai) từng lên ghe đều
biết tất cả các dữ kiện này.'
Trong khoảng thời gian ba tháng từ tháng 3 đến tháng
5-1979, Kuala Lumpur đã dùng bạo lực để xua đuổi
hơn 26.000 thuyền nhân trên 186 ghe.[43]
Vào tháng 6-1979, Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri
Ghazali Shafie tuyên bố rằng khoảng 40.000 thuyền nhân
trên 267 ghe tị nạn đã bị Mã Lai tống xuất
ra hải phận quốc tế và cho biết là Kuala Lumpur
thành lập 100 điểm kiểm soát trên biển cũng
như bổ xung thêm tàu chiến và biệt phái 2.000 quân vào
nổ lực ngăn chặn làn sóng tị nạn Việt
nam. May mắn cho các thuyền nhân bất hạnh bị Mã
Lai xua đuổi là Nam Dương vẫn tiếp tục
cho ghe của họ cập bờ, nếu không thì nhân
loại phải chứng kiến một cuộc sát nhân
tập thể rùng rợn trên biển.
Dân Mã Lai cũng đã góp phần trong nỗ lực ngăn
cản làn sóng thuyền nhân khi Kuala Lumpur thay đổi chính
sách. Ðiển hình là tại Kuala Trengganu vào ngày 22-11-1978, dân
địa phương cực đoan đã đẩy
một ghe tị nạn ra khỏi bờ khiến ghe bị
lật và gần 200 thuyền nhân trong đó có nhiều
phụ nữ và trẻ em bị chết đuối. Mã Lai
không phải chỉ là quốc gia duy nhất tiến hành
chính sách ngăn chận làn sóng tị nạn; Thái Lan, Nam
Dương và Singapore đã dàn lực lượng hải
quân để đề phòng tàu chở các kiện hàng người
Hoa của Hà Nội xâm nhập hải phận quốc gia,
và dĩ nhiên là ghe tị nạn Việt Nam cũng bị
xua đuổi khi đến gần hải giới của
các nước này.
Sự hiện diện của Hoa kiều trên các tàu
sắt do Hà Nội bảo trợ bị dư luận
tại nhiều quốc gia Ðông Nam Á lên án, nhưng
hiếm nơi nào có tinh thần bài Hoa rõ ràng cũng như
mạnh mẽ bằng ở Nam Dương. Cũng như Mã
Lai, chính sách đối xử với thuyền nhân của
Jakarta từ năm 1975 đến 1978 tương đối
ôn hòa và bao dung. Dân tị nạn Việt Nam được
phép cập bờ và lưu lại tại các trại
tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định
cư.
Nhưng khi Hà Nội hợp tác với lũ gian thương
quốc tế để thực hiện kế hoạch buôn
lậu lương dân, chủ trương bao dung của
Jakarta thay đổi hoàn toàn bởi vì chính quyền Nam Dương
rất nhạy cảm về lá bài Hoa kiều. Lịch
sử của quốc gia này từng ghi lại một
cuộc đảo chánh bất thành do Trung cộng
khuyến khích vào năm 1965; và hàng chục ngàn Hoa
kiều địa phương đã mất mạng trong
cuộc xung đột đẩm máu đó. Trong năm
1978, phản ứng phẫn nộ của Bắc Kinh đối
với chính sách bài thương của Hà Nội vốn
ảnh hưởng nhiều người Việt gốc Hoa
đã khiến cho giới lãnh đạo Jakarta trở nên
lo lắng; trong nhãn quan của họ, phản ứng
của Trung cộng là một trái bom nổ chậm có
thể đưa đến việc dàn quân can thiệp vào
nội bộ các quốc gia lân bang nơi có nhiều Hoa
kiều sinh sống.
Vào tháng 6-1979, chính sách của Nam Dương đối
với thuyền nhân Việt Nam bất đầu cứng
rắn hơn. Bộ Trưởng
Quốc Phòng Mohammed Jusuf phát biểu: 'Chúng tôi không cho phép
thêm người tị nạn nào đổ bộ lên
đất nước chúng tôi.'[44]
Chiến dịch Lightning Bolt được tiến hành
nhằm ngăn cản các kiện hàng Hoa kiều của Hà
Nội cũng như ghe tị nạn Việt Nam xâm
nhập hải phận quốc gia. Tuy vậy, mặc
dầu giới lãnh đạo Jakarta đưa ra nhiều
tuyên bố cứng rắn trên diễn đàn quốc
tế, nhưng trong thực tế họ vẫn tiếp
tục bảo bọc thuyền nhân Việt Nam và cho phép
ghe tị nạn bị các quốc gia khác xua đuổi
cập bờ; chính nhờ vào chính sách mềm dẻo và
nhân đạo này mà hàng
chục ngàn người Việt đã không bị mất
mạng sau khi ghe của họ bị tàu hải quân lân
bang kéo ra biển.
Vào thời điểm 1975 tại Thái Lan, chính
quyền Bangkok quyết định không chấp nhận cho
bất cứ người tị nạn nào nhập biên. Dân
tìm tự do đến từ Việt Nam cũng như Cam
Bốt được cơ quan sở tại giúp đỡ
sơ sài rồi tống xuất ra khỏi biên thùy nếu
không có quốc gia nào cho họ định cư.
Bộ Nội Vụ Thái cho tổ chức Trung Tâm Hành
Ðộng cho Người Mất Ðất Sống (Operations
Centre for Displaced Persons) để theo dõi tình hình phát
triển của làn sóng tị nạn Ðông Dương
nhằm đưa ra kế hoạch đối phó kịp
thời.
Vào tháng 3-1978, Thủ Tướng Kriangsak công bố
một chính sách mới đối với dân tị
nạn Ðông Dương. Vì lý do nhân đạo, Bangkok
bắt đầu chấp nhận cho những người
ra đi tìm tự do được tạm trú trong khi
chờ đợi cơ hội định cư tại
đệ tam quốc gia. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng
sau đó, khi đối diện với các kiện hàng người
của Hà Nội, Bangkok lập tức đình chỉ chánh
sách nhân đạo. Chính quyền Thái Lan lên tiếng hăm
dọa là sẽ đóng cửa các trại tị nạn và
tống khứ toàn bộ thuyền nhân đang tạm cư
ra khỏi biên thùy quốc gia.
Ðể châm thêm dầu vào ngọn lửa đang thiêu
đốt lòng nhân đạo đối với dân tị
nạn, Phó Tổng Thư Ký Cục An Ninh Quốc Gia Prasong
Soonsiri tuyên bố rằng 10% thuyền nhân là tình báo
của Hà Nội mặc dầu không đưa ra được
bất cứ bằng chứng cụ thể nào.[45] Vào tháng
10-1978, Thủ Tướng Kriangsak phát biểu trên báo
Bangkok Post: 'Nếu ghe nào cần sửa chửa thì có
thể được phép, nhưng ghe cũng như dân
tị nạn phải rời ngay sau khi việc sửa
chửa hoàn tất,'[46] và không ghe tị nạn nào
được phép cập bờ.[47] Lực lượng
hải quân Thái bắt đầu hợp tác với
lực lượng hải quân Mã Lai để tổ
chức các cuộc hành quân song phương nhằm ngăn chận làn sóng thuyền nhân
xâm nhập hải phận quốc gia.
Phi Luật Tân cũng bắt đầu cứng
rắn hơn đối với dân tị nạn khi
phải đối đầu với kế hoạch buôn
lậu lương dân của Hà Nội. Thuyền nhân
chỉ được phép cập bến nếu có
quốc gia bảo đảm cho họ được định
cư. Bộ Trưởng Ngoại Giao Carlos Romulo nhấn
mạnh: 'Chúng tôi không muốn (nhận) thêm dân tị
nạn. Tình hình mỗi lúc mỗi tệ hại hơn.'[48]
Vào tháng 4-1979, Manila chính thức chấm dứt chính sách
nhân đạo đối với thuyền nhân Việt Nam.
Vào giai đoạn 1975, chính quyền Tân Gia Ba chấp
nhận cho 200 dân tị nạn Việt Nam được
định cư; nhưng khi đối đầu với
làn sóng thuyền nhân, chính quyền sở tại áp
dụng sách lược bế quan tỏa cảng. Thủ Tướng
Lý Quang Diệu tuyên bố một cách lạnh lùng rằng:
'Con tim của quý vị phải chai đá, nếu không thì
quý vị sẽ mất máu đến chết;'[49] vì
vậy cho nên không ghe tị nạn nào có thể vào
được hải phận Singapore.
Chính sách mới của Tân Gia Ba không cho phép
thuyền nhân cập bờ ngoại trừ họ
được tàu ngoại quốc cứu vớt và
được quốc gia thứ ba bảo đảm
việc tái định cư cũng như CUTNLHQ phải tài
trợ chi phí sinh hoạt của họ trong thời gian
họ cư trú ở Tân Gia Ba. Vào đầu tháng 10-1979,
thêm một điều kiện khó khăn nữa được
chính quyền Singapore ban hành là tổng số dân tị
nạn Việt Nam tạm lưu trong quốc gia không
thể hơn 1.000 người và họ phải ra đi
định cư trong vòng 90 ngày; nếu thời hạn
định cư thuyền nhân bị vi phạm, các chính
quyền đã hứa bảo đảm cho họ sẽ
bị chế tài nặng nề.[50] Chính sách này đã
bị Cao Ủy Tị Nạn LHQ cũng như nhiều
quốc gia Tây phương phản đối vì từ lâu
công pháp quốc tế công nhận và đề cao trách
nhiệm cứu giúp nạn nhân trên biển;[51] trách
nhiệm cao thượng này cũng liên quan đến nguyên
tắc bất khả hồi (non-refoulement) được Công
Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm
1951 (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) xác
định:
'Không quốc gia nào (đã ký kết Công Ước)
được trục xuất hay hồi hương dưới
mọi hình thức một người tị nạn
về biên cương nơi mà mạng sống hay sự
tự do của người đó có thể bị đe
dọa bởi vì lý do nhân chủng, tôn giáo, sắc
tộc, tư cách thành viên trong một tổ chức xã
hội hay quan điểm chính trị.' (Ðiều 33)[52]
Chính sách của Tân Gia Ba vì
vậy vô hình chung đã trừng phạt những
thuyền trưởng có lương tâm sẵn sàng
cứu trợ thuyền nhân đang đối chọi
với tử thần một cách tuyệt vọng trên
biển. Thương thuyền ngoại quốc bắt
đầu tránh né ghe tị nạn bởi vì thủy
thủ đoàn lo ngại phải chọn lựa giữa
việc cứu người cấp bách và cái giá đắt
đỏ mà họ sẽ trả cho hành động
trắc ẩn này; theo tin tức của giới hàng
hải tại Singapore vào giữa năm 1979, một số
thương nhân đã ra lệnh cho thuyền trưởng
của họ không được trợ giúp thuyền nhân
Việt Nam bởi vì hải trình có thể bị đình
trệ và cái giá phải trả cho việc nhập biên dân
tị nạn trở nên quá tốn kém.[53] Lực lượng
hải quân của Tân Gia Ba cũng được lệnh
phải ngăn chận không cho ghe tị nạn vào hải
phận quốc gia bằng mọi cách. Vào tháng 2-1979, ghe
Việt Nam số SB-001 đã bị tàu hải quân Singapore
chận lại và xua đuổi về hướng Mã Lai;
hai thuyền nhân đã mất mạng trong vụ này khi
chiếc ghe tị nạn mong manh va chạm tàu sắt
của hải quân.
Vào ngày 17-2-1979, Bộ Trưởng
Ngoại Giao Sinnathamby Rajaratnam minh bạch hóa chính sách
của Tân Gia Ba đối với thảm trạng
thuyền nhân như sau:
'Làn sóng thuyền nhân đặt thế giới phi
cộng sản, kể cả các quốc gia ASEAN, vào
một tình trạng luân lý khó xử. Chúng ta có thể
phản ứng vì lý do nhân đạo và luân lý để
chấp nhận và định cư những người
tuyệt vọng này. Nhưng làm như vậy thì chúng ta
không những chỉ khuyến khích những kẻ có trách
nhiệm (đảng Cộng Sản Việt Nam) xua đuổi
thêm nhiều dân tị nạn ra đi mà còn vô hình chung
chứng minh là chính sách vô nhân đạo lại đem
đến phần lời hậu hỉ. Vả lại không
chỉ vậy, các quốc gia có chính sách nhân đạo còn
phải bao thầu hàng loạt vấn nạn chính trị,
xã hội và kinh tế khó kham nổi tất nhiên xuất
hiện bởi vì sự thâu nhận bất thình lình hàng
trăm ngàn ngoại nhân.'[54]
Sự hợp tác giữa đảng Cộng Sản
Việt Nam và mạng lưới Hoa kiều bất lương
ở nước ngoài để 'buôn lậu khổ
cảnh con người' khiến các chính quyền lân bang
bắt đầu đối
xử với thuyền nhân bằng thái độ thù
nghịch. Thái độ cởi mở trong chính sách
của các quốc gia lân cận vốn từng chấp
nhận cho dân tị Việt Nam tạm cư đã
biến mất và được thay thế bằng
chủ trương cứng rắn hơn và đôi khi
rất bất nhân. Thảm
trạng của thuyền nhân trên biển cũng như
tại đất liền đã khiến Cao Ủy Tị
Nạn LHQ - dưới áp lực của Hoa Kỳ và các
quốc gia ASEAN - tổ chức Cuộc Họp Tham Khảo
giữa các Chính Quyền Quan Tâm đến Dân Tị
Nạn và Người Mất Ðất Sống ở Ðông
Nam Á (Consultative Meeting with Interested Governments on Refugees and
Displaced Persons in Southeast Asia) vào hai ngày 11 và 12-12-1978 tại
Geneva, Thụy Sĩ. Ba mươi
tám quốc gia đã cử phái đoàn đại diện
đến tham dự, nhưng Cuộc Họp Tham Khảo này
không đem đến được một kết
quả cụ thể nào.
Ðại diện CUTNLHQ Dale DeHaan phân tích vấn đề
là: 'không thể có giải pháp nhân đạo hay lâu dài
nếu các chính quyền không chịu thi hành chính sách cho (dân
tị nạn) tạm lưu dựa theo các nguyên tắc nhân
đạo được quốc tế công nhận..
(và) sự tạm cư tùy thuộc vào những
hứa hẹn tái định cư (dân tị nạn)
tại đệ tam quốc gia cũng như khả năng
tránh được vấn nạn thặng dư (residual
problems) trong vùng.' [55] Bất kể nhận định này,
Cuộc Họp Tham Khảo không đưa ra được
một phương pháp nào khả dĩ có thể giải
quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương.
Trong khi đại diện của Hà Nội là Võ Văn
Sung tiếp tục khăn khăn phủ nhận vai trò tích
cực của đảng Cộng Sản Việt Nam trong
chiến dịch buôn lậu lương dân, một vài
đệ tam quốc gia đóng góp thêm được $12
triệu Mỹ-kim cho các hoạt động nhân đạo
của CUTNLHQ và hứa nhận thêm 5.000 dân tị nạn
Ðông Dương; theo phái đoàn Mã Lai, các đóng góp ít
ỏi này chỉ là 'một giọt nước nhỏ vào
đại dương' (a drop in the ocean).
Ðối diện với sự thất bại của cơ
chế Cao Ủy Tị Nạn trong Cuộc Họp Tham
Khảo vào tháng 12-1978 cũng như chứng kiến
thảm trạng thuyền nhân ngày một tồi tệ hơn,
Liên Hiệp Quốc quyết định tổ chức
một hội nghị quốc tế vào tháng 7-1979 với
hy vọng có thể giải quyết cơn khủng
hoảng tị nạn Ðông Dương. Tổng Thư Ký
LHQ Kurt Waldheim khẩn cầu tất cả các quốc gia,
ngoại trừ Lào và Cam Bốt,[56] cử phái đoàn
bộ trưởng đến tham
dự hội nghị quốc tế này với văn phong
nghiêm trọng như sau:
'Mặc dầu nhiều nơi khác trên thế giới hiện cũng đang đối đầu với vấn đề tị nạn khó khăn, tầm vóc nguy cấp của cuộc khủng hoảng tại Ðông Nam Á đòi hỏi sự lưu tâm đặc biệt ngay lập tức.'[57]
Phụ Chú:
40 Vào ngày 16-6-1979, báo chí tường thuật
là Phó Thủ Tướng Mahathir bin Mohamad của Mã Lai
đã tuyên bố rằng chính phủ có thể ban hành
luật 'bắn khi trông thấý ('shoot-on-sight') để ngăn
chận làn sóng thuyền nhân Việt Nam.
41 Bất cứ ai biết sơ về công pháp
quốc tế cũng có thể thấy định nghĩa
về 'người tị nạn' của Bộ Trưởng
Nội Vụ Tan Sri Ghazali rất nông cạn. Xin tham
khảo phần Ðịnh Nghĩa Phức Tạp về Tư
Cách Tị Nạn trong Chương IV.
42 'We have already given notice to the United Nations and other
countries on this as we do not have any more space on our island camps.. so we
will chase them away if they try to land.' 'Government to step up sea patrols to
prevent refugee influx,' FBIS APA 25, 5 February 1979, at p.2 (from Hong Kong,
Agence France-Presse, 5 February 1979).
43 Tháng 3-979: 5.088 đồng bào trên 29 ghe; Tháng
4-1979: 7.412 đồng bào
trên 71 ghe; Tháng 5-1979: 13.462 đồng bào trên 86 ghẹ
44 'We are not going to allow any more refugee to land in our
countrý
45 Bangkok có mưu đồ nhập luôn của
những Việt kiều ở Thái lâu năm trong bài toán
thuyền nhân để tống xuất họ ra khỏi nước
bởi vì Thái Lan luôn luôn nghi ngờ lòng trung thành của
ho
46 'If any boat needs repairs
this will be permitted, but it will have to leave with the refugees as soon as
repairs are completed..'
47 Cuối cùng Thái Lan đưa ra chính sách
giới hạn số lượng thuyền nhân được
ra đi định cư và gây nhiều khó khăn cho
họ nhằm làm nản lòng dân vượt biên.
48 'We don't want anymore
refugees. The situation is getting worse every timé Minster opposed to more
Vietnamese refugees. FBIS APA 069, 9 April 1979, at p.P1 (from Hong Kong, Agence
France-Presse, 6 April 1979).
49 'You’ve got to grow
callouses on your heart or you just bleed to death.'
50 Song song, bất
cứ thương thuyền nào cứu vớt thuyền nhân
mà chưa tìm được quốc gia nhận họ
đều bị đòi hỏi phải đóng tiền
thế chân cho mỗi đầu người tị nạn
là $10.000 đô-la Singapore (khoảng $4.665 Mỹ kim lúc đó)
trước khi được phép nhập cảng.
51 The 1910 Brussels
International Assistance and Salvage at Sea Convention, the 1958 Convention on
the High Seas, and the 1960 London International Convention for the Safety of
Life at Seạ See also J.
Pagash, 'The Dilemma of the Sea Refugee: Rescue Without Refuge,' 18 Harvard
Int'l L.J. 577.
52 'No Contracting State shall expel or return (refouler) a
refugee in any manner whatsoever to the frontiers of territories where his life
or freedom would be threatened on account of his race, religion, nationality,
membership of a particular social group or political opinion.'
(Art. 33)
53 Tàu bè của Nhật thường từ
chối không chịu giúp thuyền nhân đang gặp nguy
hiểm trên biển bởi
vì Tokyo không chịu cho đồng bào tị nạn định
cư trong các năm đầu của làn sóng vượt
biên. Các quốc gia
tạm lưu khác thường đòi hỏi những thương
thuyền đã vớt dân tị nạn phải tìm
được chỗ định cư cho họ trước
khi chịu nhận họ vào trại tị nạn.
54 'The flow of boat people poses the non-communist world,
including the ASEAN countries, with a moral dilemmạ We could respond on
humanitarian and moral grounds by accepting and resettling these desperate
peoplẹ But by doing so we would not only be encouraging those responsible
to force even more refugees to flee but also unwittingly demonstrate that a
policy of inhumanity does pay dividends. Not only that, but those countries
which give way to their humanitarian instincts would sađle themselves with
unmanageable political, social and economic problems that the suđen
absorption of hundreds of thousands of alien peoples must inevitably bring in
its waké
55 'There can be no humane or
durable solutions unless governments grant at least temporary asylum in
accordance with internationally accepted humanitarian principles.. (and)
temporary asylum depended on commitments for resettlement in third countries and
the avoidance of residual problems in the areá 'Consultative Meeting with
Interested Governments on Refugees and Displaced Persons in Southeast Asiá
Summing-Up by UNHCR (UNHCR Deputy High Commissioner Dale DeHaan), Paragraph
5(i).
56 Chính phủ Lào và
Cam Bốt đã không được Liên Hiệp Quốc
mời tham dự hội nghị này mặc dầu vấn
đề tị nạn Ðông Dương liên quan trực
tiếp đến hai
quốc gia nàỵ Lý do đơn giản là Liên Hiệp
Quốc không muốn làm phật lòng hai thế lực
đàng sau là Bắc Kinh (ủng hộ Khờ Me Ðỏ) và
Hà Nội (ủng hộ Lào cộng)
bởi vì hội nghị này chắc chắn sẽ
thất bại nếu không có sự hiện diện
của Trung Quốc và CHXHCN Việt Nam. Sự kiện này
cho thấy vai trò con chốt của chính phủ Lào và Cam
Bốt trên bàn cờ tị nạn Ðông Dương
mặc dầu đề tài thảo luận liên quan
trực tiếp đến quốc sự của cả hai
nước.
57 'Although there are very
many serious refugee problems in other parts of the world, the alarming
proportions of the crisis in Southeast Asia require immediate and special
attention.'