III Phản Ứng của Thế Giới

Hậu Quả Di Hại của Kế Hoạch Buôn Lậu Lương dân  

 

Vào tháng 12-1978, tàu Huey Fong cập bến Hồng Kông
với một kiện hàng gồm 3.318 người do đảng CSVN xuất cảng.
(Hong Kong Government Information Services)  

           Chiến lược buôn lậu lương dân của Hà Nội đã gây ra nhiều ảnh hưởng tác hại cho chương trình cứu trợ và định cư thuyền nhân bắt đầu với sự phản đối của các chính quyền quan tâm rồi dự định 'bắn khi trông thấy' (shoot on sight) của Mã Lai đối với dân tị nạn Việt Nam vào tháng 6-1979.[40]  Vào những năm đầu của làn sóng thuyền nhân, như đã trình bày trong các phần trước, chính quyền Kuala Lumpur đối xử tương đối nhân đạo với người Việt vượt biên tìm tự do. Dân Mã Lai cũng tận tình giúp đỡ thuyền nhân bằng cách cung cấp thực phẩm và nơi tạm trú trong khi chờ đợi quyết định của cơ quan hữu trách địa phương.

            Trước khi Hà Nội tiến hành kế hoạch mại dân vào giữa năm 1978, chính quyền Mã Lai ít khi xua đuổi thuyền nhân; và ngay cả khi ghe tị nạn còn tốt được hướng dẫn đến quốc gia khác, các người trên ghe thường được tiếp tế thêm gạo, nước ngọt cũng như nhu yếu liệu và dầu máy cần thiết. Vào tháng 3-1978, Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri Ghazali tường trình trước Quốc Hội rằng chính phủ Mã Lai tiếp tục đón nhận thuyền nhân vì lý do nhân đạo mặc dầu không công nhận tư cách tị nạn của họ. Theo ông ta thì chỉ có những người trốn tránh một cuộc chiến đang diễn ra mới có thể được xem là dân tị nạn;[41] và CHXHCN Việt Nam lúc đó không còn chiến tranh. Nhờ vào chính sách nhân đạo của Mã Lai mà hàng chục ngàn thuyền nhân đã được cho phép tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định cư tại đệ tam quốc gia.

            Vào cuối năm 1978 khi trực diện với kế hoạch buôn lậu lương dân của Hà Nội, chính quyền Kuala Lumpur lập tức thay đổi chính sách vì lo ngại phải đối đầu với một cuộc đổ bộ của Hoa kiều do đảng Cộng Sản Việt Nam bảo trợ.  Kiện hàng người Việt gốc Hoa do tàu Hai Hong đưa đến hải phận Mã Lai vào tháng 11-1978 đã khiến nhiều lãnh tụ chính trị lo âu. Tại Quốc Hội, các ý kiến chỉ trích chủ trương nhân đạo của chính quyền - đặc biệt là từ đảng đối lập Partai Islam - bùng nổ mạnh vì có thêm yếu tố mới. Thay vì lo đối đầu với số lượng ghe mỏng manh của thuyền nhân Việt Nam cập bờ Mã Lai một cách rời rạc, giới lãnh đạo quốc gia bắt đầu lo lắng trước cuộc đổ bộ của Hoa kiều trên những chiếc tàu khổng lồ do Hà Nội và đám gian thương quốc tế tổ chức.

            Chính quyền Kuala Lumpur cuối cùng đã đi đến quyết định ngăn cấm tất cả ghe thuyền từ Việt Nam cập bến và ra lệnh cho lực lượng biên phòng kéo dân tị nạn ra hải phận quốc tế. Chính sách xua đuổi này đã khiến nhiều thuyền nhân áp dụng phương pháp đục lủng ghe rồi lội vào bờ với hy vọng đặt chính quyền Mã Lai trong cảnh 'chẳng đặng đừng' phải chấp nhận cho họ được tạm lưu. Chiến thuật  'nhảy bãi' liều lĩnh của những thuyền nhân tuyệt vọng đã dẫn đến nhiều cái chết đầy thương tâm của trẻ em, phụ nữ và quý cụ cao niên yếu sức cũng như thanh niên không biết bơi. Vào các tháng đầu khi chính sách mới được thi hành, vài ngàn 'dân nhảy bãi' (beach people) đã được cho phép lưu trú trong khi chờ đợi cơ hội tái định cư. Tuy nhiên trong các tháng sau đó, Kuala Lumpur đe dọa chấm dứt chương trình tạm lưu dân tị nạn Việt Nam và sẽ tiến hành việc tống khứ 76.000 thuyền nhân hiện đang trú ngụ trên đất Mã Lai.

            Vào ngày 15-1-1979, Thủ Tướng Hussein Onn tuyên bố là Mã Lai chấm dứt chính sách nhân đạo và lập tức thực hiện chính sách be bờ để ngăn chận làn sóng thuyền nhân. Vào tháng 2 năm đó, ông ta phát biểu: 'Chúng tôi đã thông báo cho Liên Hiệp Quốc và các quốc gia khác về vấn đề này bởi vì chúng tôi không còn đủ chỗ trong các trại trên đảo của chúng tôi..  vì thế chúng tôi phải xua đuổi họ đi nơi khác nếu họ muốn cập bờ.'[42] Giữa tháng 2 và tháng 6-1979, khoảng 50% hay hơn 5.000 dân nhảy bãi Việt Nam đã bị lính Mã Lai dùng súng ép lên ghe và kéo ra hải phận quốc tế.

            Một lực lượng đặc biệt, the VII (Vietnamese Illegal Immigrants), được Kuala Lumpur tổ chức để tìm cách ngăn cản ghe tị nạn xâm nhập hải phận quốc gia cũng như giải quyết số thuyền nhân đang còn kẹt tại các trại tạm lưu. Dân đánh cá Mã Lai được yêu cầu sơn một vòng tròn có chữ P chính giữa trên mui tàu để phân biệt với ghe của thuyền nhân. 

            Vào ngày 31-3-1979, tàu tuần tiểu Rrenchong kéo ghe tị nạn MH-3012 ra hải phận quốc tế. Vận tốc nhanh của tàu tuần tiểu đã làm ghe tị nạn lật và dẫn đến cái chết của 115 nạn nhân vô tội. Một bản điều tra của Liên Hiệp Quốc tường trình: 'Ghe Việt Nam ở trong một tình trạng tệ hại, máy bơm nước bị hư và máy ghe không chạy. Nước ngọt không có (trên ghe)..  một em bé được sinh trên ghe trong lúc đó..  Sĩ quan hải quân (Mã Lai) từng lên ghe đều biết tất cả các dữ kiện này.' 

            Trong khoảng thời gian ba tháng từ tháng 3 đến tháng 5-1979, Kuala Lumpur đã dùng bạo lực để xua đuổi hơn 26.000 thuyền nhân trên 186 ghe.[43]  Vào tháng 6-1979, Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri Ghazali Shafie tuyên bố rằng khoảng 40.000 thuyền nhân trên 267 ghe tị nạn đã bị Mã Lai tống xuất ra hải phận quốc tế và cho biết là Kuala Lumpur thành lập 100 điểm kiểm soát trên biển cũng như bổ xung thêm tàu chiến và biệt phái 2.000 quân vào nổ lực ngăn chặn làn sóng tị nạn Việt nam. May mắn cho các thuyền nhân bất hạnh bị Mã Lai xua đuổi là Nam Dương vẫn tiếp tục cho ghe của họ cập bờ, nếu không thì nhân loại phải chứng kiến một cuộc sát nhân tập thể rùng rợn trên biển.

            Dân Mã Lai cũng đã góp phần trong nỗ lực ngăn cản làn sóng thuyền nhân khi Kuala Lumpur thay đổi chính sách. Ðiển hình là tại Kuala Trengganu vào ngày 22-11-1978, dân địa phương cực đoan đã đẩy một ghe tị nạn ra khỏi bờ khiến ghe bị lật và gần 200 thuyền nhân trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em bị chết đuối. Mã Lai không phải chỉ là quốc gia duy nhất tiến hành chính sách ngăn chận làn sóng tị nạn; Thái Lan, Nam Dương và Singapore đã dàn lực lượng hải quân để đề phòng tàu chở các kiện hàng người Hoa của Hà Nội xâm nhập hải phận quốc gia, và dĩ nhiên là ghe tị nạn Việt Nam cũng bị xua đuổi khi đến gần hải giới của các nước này.

            Sự hiện diện của Hoa kiều trên các tàu sắt do Hà Nội bảo trợ bị dư luận tại nhiều quốc gia Ðông Nam Á lên án, nhưng hiếm nơi nào có tinh thần bài Hoa rõ ràng cũng như mạnh mẽ bằng ở Nam Dương. Cũng như Mã Lai, chính sách đối xử với thuyền nhân của Jakarta từ năm 1975 đến 1978 tương đối ôn hòa và bao dung. Dân tị nạn Việt Nam được phép cập bờ và lưu lại tại các trại tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định cư. 

            Nhưng khi Hà Nội hợp tác với lũ gian thương quốc tế để thực hiện kế hoạch buôn lậu lương dân, chủ trương bao dung của Jakarta thay đổi hoàn toàn bởi vì chính quyền Nam Dương rất nhạy cảm về lá bài Hoa kiều. Lịch sử của quốc gia này từng ghi lại một cuộc đảo chánh bất thành do Trung cộng khuyến khích vào năm 1965; và hàng chục ngàn Hoa kiều địa phương đã mất mạng trong cuộc xung đột đẩm máu đó. Trong năm 1978, phản ứng phẫn nộ của Bắc Kinh đối với chính sách bài thương của Hà Nội vốn ảnh hưởng nhiều người Việt gốc Hoa đã khiến cho giới lãnh đạo Jakarta trở nên lo lắng; trong nhãn quan của họ, phản ứng của Trung cộng là một trái bom nổ chậm có thể đưa đến việc dàn quân can thiệp vào nội bộ các quốc gia lân bang nơi có nhiều Hoa kiều sinh sống.

            Vào tháng 6-1979, chính sách của Nam Dương đối với thuyền nhân Việt Nam bất đầu cứng rắn hơn.  Bộ Trưởng Quốc Phòng Mohammed Jusuf phát biểu: 'Chúng tôi không cho phép thêm người tị nạn nào đổ bộ lên đất nước chúng tôi.'[44]  Chiến dịch Lightning Bolt được tiến hành nhằm ngăn cản các kiện hàng Hoa kiều của Hà Nội cũng như ghe tị nạn Việt Nam xâm nhập hải phận quốc gia. Tuy vậy, mặc dầu giới lãnh đạo Jakarta đưa ra nhiều tuyên bố cứng rắn trên diễn đàn quốc tế, nhưng trong thực tế họ vẫn tiếp tục bảo bọc thuyền nhân Việt Nam và cho phép ghe tị nạn bị các quốc gia khác xua đuổi cập bờ; chính nhờ vào chính sách mềm dẻo và nhân đạo này mà  hàng chục ngàn người Việt đã không bị mất mạng sau khi ghe của họ bị tàu hải quân lân bang kéo ra biển.

            Vào thời điểm 1975 tại Thái Lan, chính quyền Bangkok quyết định không chấp nhận cho bất cứ người tị nạn nào nhập biên. Dân tìm tự do đến từ Việt Nam cũng như Cam Bốt được cơ quan sở tại giúp đỡ sơ sài rồi tống xuất ra khỏi biên thùy nếu không có quốc gia nào cho họ định cư.  Bộ Nội Vụ Thái cho tổ chức Trung Tâm Hành Ðộng cho Người Mất Ðất Sống (Operations Centre for Displaced Persons) để theo dõi tình hình phát triển của làn sóng tị nạn Ðông Dương nhằm đưa ra kế hoạch đối phó kịp thời.

            Vào tháng 3-1978, Thủ Tướng Kriangsak công bố một chính sách mới đối với dân tị nạn Ðông Dương. Vì lý do nhân đạo, Bangkok bắt đầu chấp nhận cho những người ra đi tìm tự do được tạm trú trong khi chờ đợi cơ hội định cư tại đệ tam quốc gia. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng sau đó, khi đối diện với các kiện hàng người của Hà Nội, Bangkok lập tức đình chỉ chánh sách nhân đạo. Chính quyền Thái Lan lên tiếng hăm dọa là sẽ đóng cửa các trại tị nạn và tống khứ toàn bộ thuyền nhân đang tạm cư ra khỏi biên thùy quốc gia.

            Ðể châm thêm dầu vào ngọn lửa đang thiêu đốt lòng nhân đạo đối với dân tị nạn, Phó Tổng Thư Ký Cục An Ninh Quốc Gia Prasong Soonsiri tuyên bố rằng 10% thuyền nhân là tình báo của Hà Nội mặc dầu không đưa ra được bất cứ bằng chứng cụ thể nào.[45] Vào tháng 10-1978, Thủ Tướng Kriangsak phát biểu trên báo Bangkok Post: 'Nếu ghe nào cần sửa chửa thì có thể được phép, nhưng ghe cũng như dân tị nạn phải rời ngay sau khi việc sửa chửa hoàn tất,'[46] và không ghe tị nạn nào được phép cập bờ.[47] Lực lượng hải quân Thái bắt đầu hợp tác với lực lượng hải quân Mã Lai để tổ chức các cuộc hành quân song phương  nhằm ngăn chận làn sóng thuyền nhân xâm nhập hải phận quốc gia.

            Phi Luật Tân cũng bắt đầu cứng rắn hơn đối với dân tị nạn khi phải đối đầu với kế hoạch buôn lậu lương dân của Hà Nội. Thuyền nhân chỉ được phép cập bến nếu có quốc gia bảo đảm cho họ được định cư. Bộ Trưởng Ngoại Giao Carlos Romulo nhấn mạnh: 'Chúng tôi không muốn (nhận) thêm dân tị nạn. Tình hình mỗi lúc mỗi tệ hại hơn.'[48] Vào tháng 4-1979, Manila chính thức chấm dứt chính sách nhân đạo đối với thuyền nhân Việt Nam.

            Vào giai đoạn 1975, chính quyền Tân Gia Ba chấp nhận cho 200 dân tị nạn Việt Nam được định cư; nhưng khi đối đầu với làn sóng thuyền nhân, chính quyền sở tại áp dụng sách lược bế quan tỏa cảng. Thủ Tướng Lý Quang Diệu tuyên bố một cách lạnh lùng rằng: 'Con tim của quý vị phải chai đá, nếu không thì quý vị sẽ mất máu đến chết;'[49] vì vậy cho nên không ghe tị nạn nào có thể vào được hải phận Singapore.  Chính sách mới của Tân Gia Ba không cho phép thuyền nhân cập bờ ngoại trừ họ được tàu ngoại quốc cứu vớt và được quốc gia thứ ba bảo đảm việc tái định cư cũng như CUTNLHQ phải tài trợ chi phí sinh hoạt của họ trong thời gian họ cư trú ở Tân Gia Ba. Vào đầu tháng 10-1979, thêm một điều kiện khó khăn nữa được chính quyền Singapore ban hành là tổng số dân tị nạn Việt Nam tạm lưu trong quốc gia không thể hơn 1.000 người và họ phải ra đi định cư trong vòng 90 ngày; nếu thời hạn định cư thuyền nhân bị vi phạm, các chính quyền đã hứa bảo đảm cho họ sẽ bị chế tài nặng nề.[50] Chính sách này đã bị Cao Ủy Tị Nạn LHQ cũng như nhiều quốc gia Tây phương phản đối vì từ lâu công pháp quốc tế công nhận và đề cao trách nhiệm cứu giúp nạn nhân trên biển;[51] trách nhiệm cao thượng này cũng liên quan đến nguyên tắc bất khả hồi (non-refoulement) được Công Ước liên quan đến Tư Cách Tị Nạn năm 1951 (1951 UN Convention relating to the Status of Refugees) xác định:

            'Không quốc gia nào (đã ký kết Công Ước) được trục xuất hay hồi hương dưới mọi hình thức một người tị nạn về biên cương nơi mà mạng sống hay sự tự do của người đó có thể bị đe dọa bởi vì lý do nhân chủng, tôn giáo, sắc tộc, tư cách thành viên trong một tổ chức xã hội hay quan điểm chính trị.' (Ðiều 33)[52]

            Chính sách của Tân Gia Ba vì vậy vô hình chung đã trừng phạt những thuyền trưởng có lương tâm sẵn sàng cứu trợ thuyền nhân đang đối chọi với tử thần một cách tuyệt vọng trên biển. Thương thuyền ngoại quốc bắt đầu tránh né ghe tị nạn bởi vì thủy thủ đoàn lo ngại phải chọn lựa giữa việc cứu người cấp bách và cái giá đắt đỏ mà họ sẽ trả cho hành động trắc ẩn này; theo tin tức của giới hàng hải tại Singapore vào giữa năm 1979, một số thương nhân đã ra lệnh cho thuyền trưởng của họ không được trợ giúp thuyền nhân Việt Nam bởi vì hải trình có thể bị đình trệ và cái giá phải trả cho việc nhập biên dân tị nạn trở nên quá tốn kém.[53] Lực lượng hải quân của Tân Gia Ba cũng được lệnh phải ngăn chận không cho ghe tị nạn vào hải phận quốc gia bằng mọi cách. Vào tháng 2-1979, ghe Việt Nam số SB-001 đã bị tàu hải quân Singapore chận lại và xua đuổi về hướng Mã Lai; hai thuyền nhân đã mất mạng trong vụ này khi chiếc ghe tị nạn mong manh va chạm tàu sắt của hải quân.

            Vào ngày 17-2-1979, Bộ Trưởng Ngoại Giao Sinnathamby Rajaratnam minh bạch hóa chính sách của Tân Gia Ba đối với thảm trạng thuyền nhân như sau:

            'Làn sóng thuyền nhân đặt thế giới phi cộng sản, kể cả các quốc gia ASEAN, vào một tình trạng luân lý khó xử. Chúng ta có thể phản ứng vì lý do nhân đạo và luân lý để chấp nhận và định cư những người tuyệt vọng này. Nhưng làm như vậy thì chúng ta không những chỉ khuyến khích những kẻ có trách nhiệm (đảng Cộng Sản Việt Nam) xua đuổi thêm nhiều dân tị nạn ra đi mà còn vô hình chung chứng minh là chính sách vô nhân đạo lại đem đến phần lời hậu hỉ. Vả lại không chỉ vậy, các quốc gia có chính sách nhân đạo còn phải bao thầu hàng loạt vấn nạn chính trị, xã hội và kinh tế khó kham nổi tất nhiên xuất hiện bởi vì sự thâu nhận bất thình lình hàng trăm ngàn ngoại nhân.'[54]

            Sự hợp tác giữa đảng Cộng Sản Việt Nam và mạng lưới Hoa kiều bất lương ở nước ngoài để 'buôn lậu khổ cảnh con người' khiến các chính quyền lân bang bắt đầu đối xử với thuyền nhân bằng thái độ thù nghịch. Thái độ cởi mở trong chính sách của các quốc gia lân cận vốn từng chấp nhận cho dân tị Việt Nam tạm cư đã biến mất và được thay thế bằng chủ trương cứng rắn hơn và đôi khi rất bất nhân.  Thảm trạng của thuyền nhân trên biển cũng như tại đất liền đã khiến Cao Ủy Tị Nạn LHQ - dưới áp lực của Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN - tổ chức Cuộc Họp Tham Khảo giữa các Chính Quyền Quan Tâm đến Dân Tị Nạn và Người Mất Ðất Sống ở Ðông Nam Á (Consultative Meeting with Interested Governments on Refugees and Displaced Persons in Southeast Asia) vào hai ngày 11 và 12-12-1978 tại Geneva, Thụy Sĩ.  Ba mươi tám quốc gia đã cử phái đoàn đại diện đến tham dự, nhưng Cuộc Họp Tham Khảo này không đem đến được một kết quả cụ thể nào.

            Ðại diện CUTNLHQ Dale DeHaan phân tích vấn đề là: 'không thể có giải pháp nhân đạo hay lâu dài nếu các chính quyền không chịu thi hành chính sách cho (dân tị nạn) tạm lưu dựa theo các nguyên tắc nhân đạo được quốc tế công nhận..  (và) sự tạm cư tùy thuộc vào những hứa hẹn tái định cư (dân tị nạn) tại đệ tam quốc gia cũng như khả năng tránh được vấn nạn thặng dư (residual problems) trong vùng.' [55] Bất kể nhận định này, Cuộc Họp Tham Khảo không đưa ra được một phương pháp nào khả dĩ có thể giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Trong khi đại diện của Hà Nội là Võ Văn Sung tiếp tục khăn khăn phủ nhận vai trò tích cực của đảng Cộng Sản Việt Nam trong chiến dịch buôn lậu lương dân, một vài đệ tam quốc gia đóng góp thêm được $12 triệu Mỹ-kim cho các hoạt động nhân đạo của CUTNLHQ và hứa nhận thêm 5.000 dân tị nạn Ðông Dương; theo phái đoàn Mã Lai, các đóng góp ít ỏi này chỉ là 'một giọt nước nhỏ vào đại dương' (a drop in the ocean).

            Ðối diện với sự thất bại của cơ chế Cao Ủy Tị Nạn trong Cuộc Họp Tham Khảo vào tháng 12-1978 cũng như chứng kiến thảm trạng thuyền nhân ngày một tồi tệ hơn, Liên Hiệp Quốc quyết định tổ chức một hội nghị quốc tế vào tháng 7-1979 với hy vọng có thể giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Tổng Thư Ký LHQ Kurt Waldheim khẩn cầu tất cả các quốc gia, ngoại trừ Lào và Cam Bốt,[56] cử phái đoàn bộ trưởng đến tham dự hội nghị quốc tế này với văn phong nghiêm trọng như sau:

'Mặc dầu nhiều nơi khác trên thế giới hiện cũng đang đối đầu với vấn đề tị nạn khó khăn, tầm vóc nguy cấp của cuộc khủng hoảng tại Ðông Nam Á đòi hỏi sự lưu tâm đặc biệt ngay lập tức.'[57]

Phụ Chú:

40  Vào ngày 16-6-1979, báo chí tường thuật là Phó Thủ Tướng Mahathir bin Mohamad của Mã Lai đã tuyên bố rằng chính phủ có thể ban hành luật 'bắn khi trông thấý ('shoot-on-sight') để ngăn chận làn sóng thuyền nhân Việt Nam.

41  Bất cứ ai biết sơ về công pháp quốc tế cũng có thể thấy định nghĩa về 'người tị nạn' của Bộ Trưởng Nội Vụ Tan Sri Ghazali rất nông cạn. Xin tham khảo phần Ðịnh Nghĩa Phức Tạp về Tư Cách Tị Nạn trong Chương IV.

42  'We have already given notice to the United Nations and other countries on this as we do not have any more space on our island camps.. so we will chase them away if they try to land.' 'Government to step up sea patrols to prevent refugee influx,' FBIS APA 25, 5 February 1979, at p.2 (from Hong Kong, Agence France-Presse, 5 February 1979).  

43  Tháng 3-979: 5.088 đồng bào trên 29 ghe; Tháng 4-1979:  7.412 đồng bào trên 71 ghe; Tháng 5-1979: 13.462 đồng bào trên 86 ghẹ

44  'We are not going to allow any more refugee to land in our countrý

45  Bangkok có mưu đồ nhập luôn của những Việt kiều ở Thái lâu năm trong bài toán thuyền nhân để tống xuất họ ra khỏi nước bởi vì Thái Lan luôn luôn nghi ngờ lòng trung thành của ho

46 'If any boat needs repairs this will be permitted, but it will have to leave with the refugees as soon as repairs are completed..'

47  Cuối cùng Thái Lan đưa ra chính sách giới hạn số lượng thuyền nhân được ra đi định cư và gây nhiều khó khăn cho họ nhằm làm nản lòng dân vượt biên.

48 'We don't want anymore refugees. The situation is getting worse every timé Minster opposed to more Vietnamese refugees. FBIS APA 069, 9 April 1979, at p.P1 (from Hong Kong, Agence France-Presse, 6 April  1979).

49 'You’ve got to grow callouses on your heart or you just bleed to death.'

50   Song song,  bất cứ thương thuyền nào cứu vớt thuyền nhân mà chưa tìm được quốc gia nhận họ đều bị đòi hỏi phải đóng tiền thế chân cho mỗi đầu người tị nạn là $10.000 đô-la Singapore (khoảng $4.665 Mỹ kim lúc đó) trước khi được phép nhập cảng.

51 The 1910 Brussels International Assistance and Salvage at Sea Convention, the 1958 Convention on the High Seas, and the 1960 London International Convention for the Safety of Life at Seạ  See also J. Pagash, 'The Dilemma of the Sea Refugee: Rescue Without Refuge,' 18 Harvard Int'l L.J. 577.

52  'No Contracting State shall expel or return (refouler) a refugee in any manner whatsoever to the frontiers of territories where his life or freedom would be threatened on account of his race, religion, nationality, membership of a particular social group or political opinion.'  (Art. 33)

53  Tàu bè của Nhật thường từ chối không chịu giúp thuyền nhân đang gặp nguy hiểm trên biển  bởi vì Tokyo không chịu cho đồng bào tị nạn định cư trong các năm đầu của làn sóng vượt biên.   Các quốc gia tạm lưu khác thường đòi hỏi những thương thuyền đã vớt dân tị nạn phải tìm được chỗ định cư cho họ trước khi chịu nhận họ vào trại tị nạn.

54  'The flow of boat people poses the non-communist world, including the ASEAN countries, with a moral dilemmạ We could respond on humanitarian and moral grounds by accepting and resettling these desperate peoplẹ But by doing so we would not only be encouraging those responsible to force even more refugees to flee but also unwittingly demonstrate that a policy of inhumanity does pay dividends. Not only that, but those countries which give way to their humanitarian instincts would sađle themselves with unmanageable political, social and economic problems that the suđen absorption of hundreds of thousands of alien peoples must inevitably bring in its waké

55 'There can be no humane or durable solutions unless governments grant at least temporary asylum in accordance with internationally accepted humanitarian principles.. (and) temporary asylum depended on commitments for resettlement in third countries and the avoidance of residual problems in the areá 'Consultative Meeting with Interested Governments on Refugees and Displaced Persons in Southeast Asiá Summing-Up by UNHCR (UNHCR Deputy High Commissioner Dale DeHaan), Paragraph 5(i).

56 Chính phủ Lào và Cam Bốt đã không được Liên Hiệp Quốc mời tham dự hội nghị này mặc dầu vấn đề tị nạn Ðông Dương liên quan trực tiếp  đến hai quốc gia nàỵ Lý do đơn giản là Liên Hiệp Quốc không muốn làm phật lòng hai thế lực đàng sau là Bắc Kinh (ủng hộ Khờ Me Ðỏ) và Hà Nội (ủng hộ Lào cộng)  bởi vì hội nghị này chắc chắn sẽ thất bại nếu không có sự hiện diện của Trung Quốc và CHXHCN Việt Nam. Sự kiện này cho thấy vai trò con chốt của chính phủ Lào và Cam Bốt trên bàn cờ tị nạn Ðông Dương mặc dầu đề tài thảo luận liên quan trực tiếp đến quốc sự của cả hai nước.

57 'Although there are very many serious refugee problems in other parts of the world, the alarming proportions of the crisis in Southeast Asia require immediate and special attention.'  

Trở lại phần Mục Lục