III  Phản Ứng của Thế Giới

Hội Nghị Quốc Tế Về Tị Nạn Ðông Dương I  



Nhiều lãnh tụ tôn giáo và xã hội như Mother Theresa
đã lên tiếng kêu gọi thế giới cứu trợ thuyền nhân Việt Nam.
          

            Du trình thảm khốc của thuyền nhân Việt Nam đã gợi lại nhiều kinh nghiệm cai đắng của dân tị nạn Do Thái trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến; và giới truyền thông quốc tế bắt đầu tường thuật về hải trình kinh hoàng của  dân tị nạn vốn đã trở thành nạn nhân của hỏa lò sát nhân Châu Á (Asian holocaust) trong nhãn quan của các phân tích viên ngoại quốc. Nhiều tổ chức nhân đạo trên thế giới lên tiếng kêu gọi các lãnh tụ chính trị phải lập tức hành động để cứu vớt và định cư thuyền nhân nhằm tránh tạo điều kiện cho một hỏa lò sát nhân tái diễn.

            Trong khi Hồng Y Cooke của New York đại diện 100 triệu tín hữu Kitô và DoThái yêu cầu Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc giúp đỡ dân tị nạn Việt Nam, Chủ Tịch Commission on the Holocaust là Elie Wiesel bày tỏ sự bất bình khi '.. thấy người (tị nạn) lênh đênh trên biển mà không quốc gia nào chịu chào đón họ cập bờ. Chúng tôi cảm thấy kinh khiếp vì quy lượng (người được nhận định cư) gạt bỏ phụ nữ và trẻ em khi biết rằng chính sách này có thể trở thành bản án tử hình.'[58] Nhiều lãnh tụ chính trị Hoa Kỳ như Thượng Nghị Sĩ Dole, Boschwiz, Hayakawa, và Dân Biểu McCloskey đã lên tiếng bày tỏ sự quan tâm của họ đối với thái độ lãnh đạm của Hoa Thịnh Ðốn về thảm trạng thuyền nhân. Dân Biểu Stephen Solarz đã kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ thâu nhận thêm nhiều thuyền nhân như sau:

            'Vấn đề có lẽ hoàn mỹ hơn nếu chính quyền (XHCN) Việt Nam không phải là chính quyền của Việt Nam và có loại chính sách tạo điều kiện cho những người này ở lại, nhưng sự việc là như vậy, và chúng ta phải giải quyết các hệ quả hiện hữu. Vào niên kỷ 1930 có người có thể lên tiếng là Ðức Quốc Xã nên thay đổi chính sách để thích hợp với nhu cầu của người Do Thái ở Ðức để họ khỏi phải ra đi, nhưng tình hình thực tế cho thấy Ðức Quốc Xã đã không thay đổi chính sách, và câu hỏi chánh đáng duy nhất (là).. chúng ta có nên mở cửa chào đón những người cố gắng trốn đi trong tuyệt vọng (hay không).'[59]

            Dưới sức ép của dư luận, tòa Bạch Ốc dần dần nhận thức được nhu cầu đóng vai trò tiên phong trong nỗ lực giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Hoa Thịnh Ðốn ý thức được là uy danh lãnh đạo có cái giá của nó: ngoại trừ chính quyền Hoa Kỳ đóng vai trò tích cực và năng động trong chương trình cứu trợ và định cư thuyền nhân, Hoa Thịnh Ðốn không thể sử dụng ảnh hưởng quốc gia để kêu gọi sự cộng tác của các chính quyền khác nhằm giải quyết cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương và những vấn nạn nhân đạo khác trong tương lai. Chính quyền Carter bắt đầu lưu ý đến chính sách trừng phạt Hà Nội về tệ nạn vi phạm nhân quyền[60] và tích cực vận động sự hợp tác của cộng đồng thế giới để giải quyết thảm kịch tị nạn tại Ðông Nam Á.

            Trong mùa Xuân 1979, vì lo sợ chủ trương phản ứng tiêu cực sẽ tạo điều kiện cho một hoả lò sát nhân khác xảy ra trên biển, Hoa Kỳ chính thức hóa vai trò lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn trong nỗ lực cứu trợ thuyền nhân Việt Nam.  Trong lời cảnh giác Quốc Hội Hoa Kỳ về nguy cơ 'một núi lửa sắp bùng nổ' ('the volcano is about to blow') ở Ðông Nam Á, Chủ Tịch Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế Leo Cherne đã trình bày nhu cầu cần thiết về vai trò lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn trong nỗ lực giải quyết cơn khủng hoảng nhân đạo này như sau:

            'Bất kể sự cố gắng của chúng ta và một vài quốc gia khác - đáng để là Pháp, Úc, và Gia Nã Ðại - phản ứng của thế giới thiếu sót một cách đáng buồn. Cần thiết ở đây, và là chủ điểm của vấn đề.. rõ ràng là sự lãnh đạo. Tổng Thống và Quốc Hội cần phải xác định quyết tâm của quốc gia nhằm giải quyết cơn khủng hoảng nhân sinh hiện tại và kêu gọi cả thế giới làm việc với chúng ta.. Chúng tôi chắc chắn sẽ vận động hết sức cho một phản ứng có ý nghĩa của Hoa Kỳ đối với cơn khủng hoảng này. Quốc gia này đã từng làm trong quá khứ, và không có lý do gì mà chúng ta không thể hành động ngay bây giờ.'[61]

            Nhằm gầy dựng sự ủng hộ của thế giới cho nỗ lực cứu trợ thuyền nhân Việt Nam, Tổng Thống Carter tuyên bố kế hoạch gia tăng gấp đôi số lượng tị nạn Ðông Dương được Hoa Kỳ thâu nhận lên 14.000 người mỗi tháng. Ðể đáp lại lời yêu cầu của T.T. Carter tại Hội Nghị Thượng Ðỉnh Kinh Tế ở Tokyo, Nhật Bản đồng ý chịu trách nhiệm tài trợ toàn bộ ngân sách của CUTNLHQ trong tài khoảng 1979 cũng như chi phí điều hành các trại tị nạn Ðông Nam Á.

            Chính sách bất nhân của Hà Nội đối với thuyền nhân khiến tổ chức Bảy Cường Quốc Kỹ Nghệ gồm Anh, Ðức, Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Nhật, Pháp và Ý đã phải ra thông cáo đặc biệt[62] trong Hội Nghị Thượng Ðỉnh tại Tokyo vào tháng 6-1979 nhằm xác định cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương là 'một vấn nạn nhân đạo mang tầm vóc lịch sử' (a humanitarian problem of historical proportions) và hứa là sẽ gia tăng sự đóng góp tùy theo khả năng quốc gia cho quỹ cứu trợ và định cư dân tị nạn. Tại Hội Nghị Ngoại Trưởng ASEAN vào tháng 2-1979, trong khi Ngoại Trưởng Carlos Romulo của Phi Luật Tân so sánh chính sách trục xuất nhân dân của đảng Cộng Sản Việt Nam giống như chính sách cô lập hóa và hoả thiêu dân Do Thái của Ðức Quốc Xã,[63] Ngoại Trưởng Sinnathamby Rajaratnam của Tân Gia Ba phát biểu rằng kế hoạch buôn người bất nhân của Hà Nội là 'phương pháp của một thằng nghèo sử dụng biển cả thay vì tù ga (để giết người).'[64]

            Vào ngày 20-7-1979, sáu mươi lăm quốc gia kể cả CHXHCN Việt Nam tham dự một hội nghị quốc tế vĩ đại tại Geneva dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc để tìm kiếm một giải pháp cho cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương. Trong nhãn quan của Bộ Trưởng Di Trú và Nhân Chủng Úc Ðại Lợi là Michael MacKellar, các chính quyền 'một lần nữa được yêu cầu thẩm định một trong các thảm kịch bất nhân nhưng không cần thiết trong lịch trình đau thương của nhân loại.'[65]  Các đại diện quốc gia tại hội nghị quốc tế này đã xác định tầm quan trọng của khổ cảnh tị nạn Ðông Dương như sau:

            'Rất nhiều vấn đề bị đặt trong tình trạng hiểm nghèo: các quy tắc luật pháp cũng như phương hướng hành dụng, tương lai của vô số thường dân và giá trị cao thượng của nhân mạng, sự quả quyết và khả năng phản ứng đồng loạt cũng như cương quyết của cộng đồng quốc tế..'[66]

            Kết quả thất bại của Hội Nghị Evian vào năm 1933 vì các quốc gia không giải quyết được bài toán tái định cư dân tị nạn Do Thái - vốn đã bị Hitler giết hại sau đó - vẫn còn ám ảnh trí nhớ của nhiều thành viên tham dự hội nghị đầu tiên về tị nạn Ðông Dương vào năm 1979. Cộng đồng thế giới hy vọng có thể sử dụng cơ hội gặp gỡ này để kêu gọi thêm sự giúp đỡ tái định cư thuyền nhân và tạo áp lực để Hà Nội chấm dứt kế hoạch buôn dân cũng như tôn trọng nhân quyền, kể cả quyền tự do di cư vốn được Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bảo đảm.

            Một điểm son bên lề hội nghị này là buổi biểu tình khổng lồ của cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại đã làm cho phái đoàn Hà Nội do Thứ Trưởng Ngoại Giao Phan Hiền trở nên lúng túng. Một tấm biển khổng lồ bằng tiếng Pháp đã được trương lên để minh định 'TOUT LE PEUPLE VIETNAMIEN CONTRE LA CLIQUE DE HANOI' (Toàn thể nhân dân Việt Nam chống lại bè lũ Hà Nội). Phái đoàn cộng sản phải yêu cầu cảnh sát địa phương năn nỉ những người tị nạn đang biểu tình đừng trưng biểu ngữ đó lên trước hàng trăm ống kính quốc tế và hăm he là sẽ không tham dự hội nghị này.[67]

            Cuộc Họp về Dân Tị Nạn và Người Mất Ðất Sống ở Ðông Nam Á (the Meeting on Refugees and Displaced Persons in South East Asia) - hội nghị lớn nhất trong lịch sử nhân loại về vấn đề tị nạn[68] với sự hiện diện của 65 phái đoàn đại diện nhiều quốc gia cùng quan sát viên của nhiều chính phủ, cơ quan quan tâm song song với các tổ chức phi chính phủ - lật tẩy chính sách vô nhân đạo của Hà Nội đối với thuyền nhân Việt Nam. Hội nghị quốc tế này đã thành công tương đối giới hạn trong nỗ lực tạo áp lực khiến Hà Nội phải đình chỉ kế hoạch buôn lậu lương dân cũng như giảm thiểu các trở ngại di trú nhằm tạo điều kiện cho công dân Việt Nam được đoàn tụ với gia đình và thân nhân tại hải ngoại. Trong buổi họp báo sau khi hội nghị kết thúc, Tổng Thư Ký LHQ Kurt Waldheim tuyên bố:

            'Chính quyền CHXHCN Việt Nam đã cho phép tôi thông báo cho quý vị biết là trong một khoảng thời gian hữu lý họ sẽ cố gắng ngăn chận các cuộc ly hương bất hợp pháp.  Trong khi đó chính quyền Việt Nam sẽ hợp tác với Cao Ủy Tị Nạn LHQ để phát triển chương trình 7 điểm được trù hoạch nhằm đưa các vụ ly hương vào các đường hướng  an toàn và trật tự.'[69]

            Như đã bàn trước đây, Hà Nội luôn luôn phủ nhận vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam trong kế hoạch xuất cảng các kiện hàng người để cưỡng chiếm tài vật và quý kim. Vài tháng trước hội nghị quốc tế kỳ I về tị nạn Ðông Dương, chính quyền Hà Nội đã cố gắng tạo sắc thái trong sạch cho đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm xa lánh vụ 'buôn lậu khổ cảnh con người;' một thí dụ điển hình của nỗ lực tuyệt vọng này liên quan đến tàu hàng hải Nikitas F của Hy Lạp. Thủy thủ đoàn Nikitas F đã bị truy tố về tội giúp người Việt vượt biên sau khi tàu đưa 11.400 tấn lúa mì đến cảng Sài Gòn vào ngày 26-5-1979. Họ bị kết án về tội giấu 69 người Việt dự định ly hương trái phép trên tàu và sau đó bị phạt trên $10.000 Mỹ kim. Thuyền trưởng Samothrakitis Komniwos đã khai với cơ quan an ninh Hồng Kông là chính thủy thủ đoàn của ông đã phát hiện ra 69 người trốn trong phòng hải cụ và nhờ công an Việt Nam giúp đỡ để yêu cầu họ rời khỏi tàu, nhưng trớ trêu thay là các thủy thủ lại bị truy tố và chế tài ngay sau đó. Thật ra đây chỉ là một cố gắng tuyệt vọng của Hà Nội nhằm che mắt thế giới bởi vì nếu tàu Nikitas F đến Việt Nam để buôn người thì không có lý do gì mà chỉ nhận vỏn vẹn có 69 hành khách; và một điểm khác không kém phần quan trọng là tàu Nikitas F đã được phép rời cảng Sài Gòn mặc dầu thuyền trưởng và các thủy thủ bị kết tội đã từ chối không chịu trả cho chính quyền Hà Nội một cắc nào trong khối tiền phạt hơn $10.000 Mỹ kim.

            Sau hội nghị quốc tế kỳ I về tị nạn Ðông Dương, để chứng tỏ quyết tâm tôn trọng giao ước với cộng đồng quốc tế, Hà Nội ra lệnh xử bắn một số dân vượt biên bị bắt lại, trong đó có cựu quân nhân miền Nam tên Trần Minh Châu bị hành quyết vào ngày 6-8-1979 về tội tổ chức đánh cắp tàu đánh cá quốc doanh để vượt biên. Án lệnh tử hình nặng nề này chỉ nhằm phô trương hợm hỉnh trò hề che mắt thế giới, và ông Trần Minh Châu không may mắn đã trở thành một trong nhiều nạn nhân tế thần của đảng Cộng Sản Việt Nam trong khi các bộ óc đằng sau kế hoạch buôn người vĩ đại lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc vẫn tiếp tục thăng quan tiến chức. Ðể khoe khoang với cộng đồng quốc tế về nỗ lực 'cố gắng ngăn chận các cuộc ly hương bất hợp pháp,' Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch phóng đại với phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ do Nghị Sĩ Benjamin Rosenthal dẫn đầu viếng thăm CHXHCN Việt Nam vào tháng 8-1979 là Hà Nội đã truy tố ít nhất 4.000 vụ vượt biên trái phép (nghĩa là do dân tự ý tổ chức 'đi chui' một cách bí mật) trong vòng 7 tháng đầu năm 1979 (thời điểm cao độ của chiến dịch buôn dân của đảng CSVN);  tức là theo Nguyễn Cơ Thạch, khoảng vài chục ngàn 'dân đi chui' đã bị cầm tù nếu chúng ta chỉ khiêm tốn phỏng tính là đa số các vụ vượt biên bí mật do đồng bào tự tổ chức khó kéo theo quá vài chục người.

            Vào khoảng tháng 8-1979, Hà Nội tạm thời đình chỉ kế hoạch buôn dân do đảng Cộng Sản Việt Nam trực tiếp điều khiển; và số lượng người ra đi theo diện 'bán chính thức' tiết giảm rõ rệt. Trong số 201.189 thuyền nhân ly hương vào năm 1979, 160.000 người đi trước hội nghị quốc tế kỳ I về tị nạn Ðông Dương; từ tháng 8 đến tháng 12-1979, tổng số dân vượt biên thành công giảm 75% xuống còn khoảng 41.000 người. Một nhân viên đặc trách tị nạn tại Mã Lai đã phát biểu trong năm 1980: 'Hiện tại chúng tôi lại thấy các cuộc vượt biên bí mật như đã xảy ra trước đây từ năm 1975.' [70] Vào thời điểm này, ký giả Barry Wain cũng nhận xét rằng: 'Nỗ lực phỏng vấn sâu rộng cho thấy là các chuyến mới đến là dân vượt biên thật sự.  Họ đa số là người Việt đến từ miền Nam..' [71] Tại Hồng Kông, 98% thuyền nhân đến sau năm 1979 là người Việt, thay vì Hoa kiều. 

            Lời kêu gọi trật tự hóa và an toàn hóa sự ra đi của dân tị nạn Việt Nam do Bộ Trưởng Ngoại Giao Thụy Ðiển Hans Blix đưa ra đã được cộng đồng thế giới hoan nghinh,[72] và Hà Nội hứa là sẽ thực hiện các điều khoản của 'Thỏa Hiệp Thư' (Memorandum of Understanding) đã ký kết với CUTNLHQ vào ngày 30-5-1979. Thỏa Hiệp Thư 30-5-1979 kêu gọi sự giúp đỡ của Cao Ủy Tị Nạn LHQ trong việc tiến hành chính sách di dân mới của Hà Nội được công bố vào ngày 12-1-1979 và hợp thức hóa bởi một nghị quyết của Bộ Chính Trị vào ngày 14-3-1979. Công dân Việt Nam bắt đầu được phép xin di cư ra nước ngoài theo diện tầm nghiệp hay đoàn tụ gia đình. Chương Trình Ra Ði Trật Tự (Orderly Departure Program hay ODP) ra đời với mục tiêu - trên lý thuyết - tạo cơ hội cho dân tị nạn Việt Nam ly hương an toàn và ngăn chận âm mưu buôn người của đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm tầm lợi lâu dài trên sự tủi nhục của đồng bào.[73]

Mặc dầu trên lý thuyết, Chương Trình Ra Ði Trật Tự đưa ra một số mục tiêu cao cả khả trọng, nhưng khi chương trình ODP được áp dụng trong thực tế đã tạo ra nhiều khó khăn nan giải cho thành phần tị nạn thực sự bởi vì chỉ có những người được Hà Nội chấp thuận mới 'hội đủ tiêu chuẩn' rời khỏi Việt Nam, tức là quyết định cuối cùng về giấy phép xuất cảnh nằm trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam cho nên chính sách tầm lợi trên sự tủi nhục của nhân dân vẫn tiếp tục đem thêm lợi nhuận về cho đảng.[74] Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch từng phát biểu là đa số dân tị nạn 'vốn người ở miền Nam, đặc biệt ra đi từ thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 1975, chúng tôi (đảng Cộng Sản Việt Nam) ngăn cấm không cho họ ra đi. Chúng tôi bị phương Tây chỉ trích. Chúng tôi đã nghĩ lại. Chúng tôi quyết định cho họ quyền tự do ra đi. Bây giờ (phương Tây) lại nói là chúng tôi xuất cảng dân tị nạn. Vì vậy bây giờ họ phải xin đi. Và chúng tôi sẽ cho phép họ đi.'[75]  Dĩ nhiên là dân tị nạn thật sự không nên nộp đơn xin phép di cư bởi vì bất cứ ai bộc lộ lý do xin xuất cảnh vì nhu cầu tị nạn cộng sản sẽ bị công an đàn áp hoặc còng tay đưa thẳng vào trại cải tạo. Song song, các quốc gia đón nhận di dân Việt Nam dĩ nhiên trước hết phải lưu tâm đến nhu cầu đoàn tụ gia đình của công dân và thường trú nhân của họ hơn là thành phần khác, kể cả dân tị nạn thật sự.

            Một vấn đề pháp lý khác cũng quan trọng không kém đó là tư cách của những người ra đi theo đường dây ODP: họ là thành phần di cư hay dân tị nạn? Cộng đồng quốc tế cần lưu ý đến việc bảo vệ dân tị nạn thật sự, nhưng bao nhiêu người tị nạn thật sự có thể xuất cảnh theo chương trình ODP vốn dần dần biến dạng thành một chương trình bảo lãnh thân nhân di cư hay xuất cảnh tầm nghiệp?

            Kinh nghiệm thăng trầm của Hoa Kỳ đối với chương trình ODP là một thí dụ điển hình về các khó khăn cụ thể trong thực tế vì đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục âm mưu tầm lợi lâu dài trên tiến trình di cư của nhân dân. Trong những ngày đầu của chương trình Ra Ði Trật Tự, Hà Nội giao cho Hoa Thịnh Ðốn hai danh sách bao gồm khoảng 30.000 người được công an Bộ Nội Vụ phê chuẩn cho xuất cảnh nhưng ngoài tên họ, hai hồ sơ này không cung cấp một chi tiết nhỏ nào về gia tịch hay quá khứ của những cá nhân này. Dĩ nhiên là Hoa Thịnh Ðốn phải từ chối không nhận những người có tên trong hai danh sách đó; một nhân viên di trú Hoa Kỳ còn châm biếm thêm là 30.000 tên được liệt kê trong đó tương tự như bản danh mục 'Who's Who in Chợ Lớn.' Trong năm 1979, Hoa Thịnh Ðốn thông báo cho Hà Nội biết danh tính của 5.000 người được chấp thuận cho di cư sang Hoa Kỳ, nhưng chỉ có 228 người được Bộ Nội Vụ cấp visa xuất cảnh để ra đi. Khi bị hỏi tại sao chính quyền Hà Nội quá chậm trễ trong việc thực hiện chương trình ODP, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã đổ thừa cho sự trì trệ của bộ máy thư lại CHXHCN Việt Nam.[76]

            Trong trường hợp liên quan đến Gia Nã Ðại, Hà Nội đòi hỏi Ottawa phải thâu nhận một di dân Việt Nam do đảng CSVN đề nghị để đánh đổi một visa xuất cảnh mà Bộ Nội Vụ cung cấp cho mỗi người được phép ra đi theo diện đoàn tụ gia đình. Song song với yêu cầu này là lời hăm dọa của Hà Nội qua Giám Ðốc Ngoại Giao Vụ Vũ Khoan vốn đã công khai tuyên bố rằng nếu đề nghị này không được chấp thuận thì đảng CSVN sẳn sàng xuất cảng thêm nhiều kiện hàng người sang các quốc gia lân bang. Như đã bàn ở phần trên, chương trình ODP mở thêm một cơ hội mới cho đảng Cộng Sản Việt Nam tầm lợi trên sự tủi nhục của nhân dân, và cuộc buôn lậu lương dân của Hà Nội vẫn được tiếp tục dưới một bình phong mới được chính cộng đồng quốc tế hoạch định và hoan nghinh.

            Vào tháng 1-1981, Hà Nội tự ý đình chỉ chương trình ODP. Bảy tháng sau đó, chương trình này được hồi sinh sau khi một số thỏa ước mới được ký kết giữa Hà Nội và các quốc gia liên hệ.[77] Chương trình Ra Ði Trật Tự thật sự thất bại vì không đưa ra được một giải pháp hữu hiệu và lâu dài cho cơn khủng hoảng tị nạn Việt Nam mà cộng đồng quốc tế đã hy vọng cũng như không tạo được ảnh hưởng đối với phong trào vượt biên bí mật do chính nhân dân tự tổ chức bởi vì những người tị nạn này không bao giờ có thể thoát khỏi gộng kềm đàn áp của đảng CSVN qua ngã ODP. Trong khi đó chương trình Ra Ði Trật Tự lại tạo ra nhiều cơ hội cho đảng Cộng Sản Việt Nam thâu thêm vàng và tiền hối lộ trong việc buôn bán visa xuất cảnh. Một hệ thống giấy tờ phức tạp và một mạng lưới 'cò giấy tờ' đi cửa sau đã được tổ chức để bòn rút tài vật của những gia đình được bảo lãnh di cư. Tất cả những người chuẩn bị ra đi theo chương trình ODP lập tức bị đuổi việc và phải sống bám vào nguồn tài trợ của thân nhân ở nước ngoài; và sinh viên tốt nghiệp đại học bị yêu cầu phải hoàn trả chi phí đào tạo cho đảng CSVN trước khi được cấp visa xuất cảnh.

            Theo lời kể của bà Thu Vân ở Montreal, Gia Nã Ðại, gia đình của bà bao gồm 7 người bị bắt phải đóng $5.000 Mỹ kim cho Bộ Nội Vụ lúc nộp đơn xin di cư sang Canada trong khi lợi tức hàng năm của mỗi người Việt Nam thấp hơn $200 Mỹ kim; ba năm sau, họ còn phải đóng thêm $3.000 Mỹ kim nữa cho bộ hồ sơ mới trước khi được cấp giấy phép ly hương. Gia đình của ông Bành Quý ở New York đã trả giá cao hơn nữa; gia đình 8 người của ông phải đóng $25.000 Mỹ kim cho Bộ Nội Vụ để được đi theo diện ODP. Ðây chỉ là hai trường hợp điển hình của tệ nạn hối lộ trắng trợn nhưng rất phổ thông liên quan đến chương trình Ra Ði Trật Tự ở CHXHCN Việt Nam; tuy vậy miễn là tệ nạn này nằm bên trong biên thùy Việt Nam và không ảnh hưởng đến quốc gia lân bang thì các chính quyền ngoại quốc vốn đã sẳn thiếu thốn lòng nhân đạo không cần quan tâm.

            Một trong các mục tiêu của chương trình Ra Ði Trật Tự là bài trừ kế hoạch buôn người của Hà Nội, nhưng trên thực tế thì chương trình ODP chỉ giảm bớt chứ không hoàn toàn thủ tiêu được âm mưu đen tối của đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm tầm lợi lâu dài trên sự tủi nhục của thuyền nhân. Sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương năm 1979, kế hoạch buôn lậu lương dân đã được Hà Nội tiếp tục âm thầm thực hiện ít nhất là trong vòng một con giáp nữa. Ðiển hình là vào tháng 11-1987, một tàu Hải Quân Cộng Sản Việt Nam đã tháp tùng một ghe vượt biên từ Cà Mau ra Rạch Giá để lấy người ở Phụng Hiệp và sau đó ra khơi.  Hai công an và bốn sĩ quan hải quân cao cấp trực tiếp hiện diện trên ghe vượt biên để bảo đảm sự an toàn của chuyến đi; sau khi ghe ra đến hải phận quốc tế, nhóm công an và sĩ quan cộng sản chuyển qua tàu hải quân tháp tùng để trở về Việt Nam. Mỗi người trong số 182 hành khách trên ghe trả từ 4 đến 5 cây vàng để tham gia chuyến đi do hải quân và công an Hà Nội tổ chức; và sau 2 ngày và 3 đêm vượt biển, họ đã đến được Mã Lai an toàn.[78]

            Chương trình Ra Ði Trật Tự vốn được 65 phái đoàn quốc gia tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương năm 1979 tán thành không những đã thất bại trong mục tiêu tạo cơ hội cho dân tị nạn Việt Nam ra đi trong vòng an toàn và ngăn chận kế hoạch buôn lậu lương dân của Hà Nội mà còn vi phạm trầm trọng điều khoản 13 của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ('mọi người có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả đất nước của mình, và quyền trở về nguyên quán')[79] bởi vì chương trình ODP chính thức cho phép đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quyền kiểm soát 'quyền rời khỏi' đất nước của nhân dân. Các tiến triển liên quan đến thảm trạng thuyền nhân sau này cho thấy là những người Việt tị nạn thật sự phải chịu nhiều gian truân hơn trong khi chương trình ODP và một số thỏa ước quốc tế không đủ khả năng để bảo vệ họ một cách hữu hiệu.

            Kết quả quan trọng nhất của hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I có lẽ là sự thành công khả quan của hội nghị trong nỗ lực đánh thức lương tâm nhân loại về thảm trạng thuyền nhân cũng như du trình kinh hãi của các nhóm tị nạn khác. Thảm trạng thuyền nhân chính thức được quốc tế hóa và thu hút được sự lưu tâm của nhiều chính quyền cũng như lòng trắc ẩn của đa số cộng đồng các dân tộc trên toàn thế giới. Một số kết quả cụ thể khác của hội nghị có thể được liệt kê như sau:

  Số lượng định cư tại đệ tam quốc gia tăng lên 260.000 người từ 125.000 người trước đó.

  Nguồn tài trợ cho ngân quỹ tị nạn Ðông Dương tăng lên đến $190 triệu Mỹ kim.

  Các quốc gia thỏa thuận là sẽ hợp tác trong nỗ lực cứu giúp thuyền nhân bị hoạn nạn trên biển.

  Một ngân quỹ $25 triệu Mỹ kim được trù hoạch để tái định cư dân tị nạn Ðông Dương tại các quốc gia đang phát triển.

  Phi Luật Tân tình nguyện cung cấp địa điểm cho một trung tâm tiến hành thủ tục tái định cư cho khoảng 50.000 dân tị nạn.  (Vào tháng 12-1980, trung tâm chuyển tiếp Galang Regional Processing Center đã mở cửa, song song với trại tị nạn Galang, ở Nam Dương để đón nhận thuyền nhân từ Tân Gia Ba và Thái Lan.)

  Hà Nội vô hình chung xác nhận vai trò chủ chốt của đảng Cộng Sản Việt Nam trong kế hoạch buôn lậu lương dân và đồng ý chấm dứt việc xuất cảng hàng-vận nhân cũng như chấp thuận cho công dân Việt Nam được ra đi an toàn trong khuôn khổ ODP.

            Ðối diện thực trạng mới với các điều kiện thuận tiện và sự bùng nổ của phong trào bảo trợ thuyền nhân Việt Nam trên toàn thế giới, các quốc gia lân bang bắt đầu thi hành các điều kiện cam kết tại hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương I  ('Within the framework of the over-all solutions envisaged, Governments of the port of call must allow the disembarkation of all those rescued.') Mã Lai chấm dứt chính sách xua đuổi ghe tị nạn và tiếp tục cho thuyền nhân được cập bợ Thái Lan cũng bãi bỏ chính sách ngăn chận dân tị nạn Việt Nam nhập cự Chương trình cứu trợ thuyền nhân trên biển được hồi sanh trong luồng sinh khí mới năng động và hăng hái hơn với sự tham dự sốt sắng của nhiều tàu do các tổ chức phi chính phủ tài trợ lẫn các chiến thuyền của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỵ

            Mặc dầu sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương năm 1979 thế giới chứng kiến được một giai đoạn cứu trợ thuyền nhân tương đối hoàn mỹ, kết luận khách quan dựa trên sự phân tích tổng quát cho thấy hội nghị lịch sử này đã hoàn toàn thất bại trong nỗ lực tìm kiếm một giải pháp lâu dài cho cơn khủng hoảng tị nạn Ðông Dương.  Nguyên nhân chính gây ra thảm trạng thuyền nhân không được giải quyết thỏa đáng, và chính quyền Hà Nội đã không bị áp lực ngoại giao khuyến dụ để tôn trọng sự tự do của nhân dân cũng như tất cả các phương tiện sinh kế và lý tưởng phi cộng sản. Vì vậy cho nên làn sóng thuyền nhân vẫn tiếp tục thêm gần 20 năm nữa và luôn luôn đặt các chính quyền lân bang trong tình trạng báo động, đặc biệt khi số lượng dân tị nạn Ðông Dương được nhận định cư tại đệ tam quốc gia sa sút trầm trọng trong những năm sau nàỵ 

Phụ Chú:

58  Chair of the Commission on the Holocaust Elie Wiesel expressed outrage '.. at the sight of people set adrift with no country willing to welcome them ashorẹ We are horrified at the imposition of quotas which exclude women and children in the full knowledge that such a policy of exclusion can be a sentence of death.'  New York Times, 25 June 1979.

59  'It would be nice if the government of (Socialist) Vietnam were not the government of Vietnam and it had the kinds of policies which enabled these people to remain, but it is what it is, and we have got to deal with the subsequent realities.  In the 1930's somebody might have said that Nazi Germany should change its policies to accommodate the needs of the Jewish people in Germany so that they would not want to leave, but the reality of the situation was that the Nazis were not about to change their policy, and the only real question (is).. whether we were going to open our doors to the people who were desperate to get out.' Indochinese Refugees, House Committee on Foreign Affairs, Subcommittee on Asian and Pacific Affairs, 22 May 1979.

60  Thị Trường Chung Châu Âu đã quyết định đinh chỉ tài trợ kinh tế cho Hà Nội và sử dụng nguồn tài chánh đó vào việc cứu trợ thuyền nhân. Vào ngày 5-9-1979, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua dự luật ngăn cấm tất cả các nguồn tài trợ cho CHXHCN Việt Nam và chấp thuận thêm ngân khoản $207 triệu Mỹ kim nhằm giúp đỡ dân tị nạn Ðông Dương.

61  'Despite our efforts and those of a few other countries - notably France, Australia, and Canada - the world's response is grievously inadequatẹ What is needed, and this clearly comes to the nub of the problem.. is clearly leadership.. The President and the Congress must clearly enunciate a national commitment to resolve this present human crisis and call on the rest of the free world to work with us..  We certainly will press as hard as we can for a meaningful American response to that crisis.  This nation has done it in the past, there is no reason why we cannot do it now.'  Indochinese Refugees, House Committee on Foreign Affairs, Subcommittee on Asian and Pacific Affairs, 22 May 1979.

62  'Special statement of the Tokyo Summit on Indochinese refugees.'

63  'Another form of inhumanity, equal in scope and similarly heinous' to the holocaust.'

64  'A poor man's alternative to the gas chambers is the open seá

65  'We are again called to consider one of the most inhuman and unnecessary tragedies in the calendar of human suffering.'

66 'Much is at stake: fundamental principles of law and of conduct, the future of countless people and the sanctity of human life, the will and capacity of the international community to respond in union and in full measuré

67  Một vụ phản đối tương tự cũng đã xảy ra ở Gia Nã Ðại khi cộng đồng tị nạn Việt Nam dựng tượng 'Bà mẹ và đứa con tị nạn' tại thủ đô Ottawa vào ngày 22-8-1996 để 'tưởng niệm những đồng bào đã mất mạng trên đường đi tìm tự dó Sứ quán Hà Nội yêu cầu chính quyền bản xứ ra lệnh cấm cản việc dựng tượng và đe dọa là sự việc sẽ tạo ảnh hưởng xấu cho quan hệ giữa hai quốc gia, nhưng Ottawa từ chối bởi vì là Canada là một đất nước dân chủ cho nên quyền tự do ngôn luận của công dân phải được bảo vệ tuyệt đốị

68  Hội nghị cũng đánh dấu lần đầu tiên chính quyền Liên Sô và chính quyền các nước cộng sản Ðông Âu tham dự một cuộc thảo luận quốc tế về vấn đề tị nạn.

69  'As a result of my consultations, the government of Socialist Republic of Vietnam has authorized me to inform you that for a reasonable period of time it will make every effort to stop illegal departures. In the meantime, the government of Vietnam will cooperate with the UNHCR in expanding the present seven-point program designed to bring departures into orderly and safe channels.'

70'All wére seeing at present is the same sort of clandestine departure that has been going on since 1975.'

71  'Intensive interviewing confirmed that the new arrivals were genuine escapees.  They were overwhelmingly ethnic Vietnamese from the southern part of the countrý   The Refused:  The Agony of the Indochina Refugees, Barry Wain, Supra, at p. 227.

72  'The present dangerous and inhuman exodus should be substituted by orderly departures.  We appeal to the government of Vietnam to pursue this line of action..'

73   Một trong vài chương trình Ra Ði Trật Tự còn hoạt động cho đến năm 1999 là chương trình của Hoa Thịnh Ðốn. Văn phòng ODP của Hoa Kỳ trên đường Pasteur ở Sài Gòn, bây giờ là thành phố HCM, chỉ chính thức đóng cửa vào ngày 30-9-1999. Chương trình Ra Ði Trật Tự của Hoa Kỳ chú trọng vào các hồ sơ đoàn tụ gia đình, định cư con lai (the 1988 Amerasian Homecoming Act) và một số cựu tù nhân cộng sản (the Humanitarian Operation có lẽ là một trong vài chương trình hiếm có đã cứu trợ được một số đồng bào tị nạn đáng kể).  Ngoại trừ trong vài trường hợp đặc biệt, đa số những đồng bào quốc nội muốn xin tị nạn với lý do chánh đáng vẫn bị bỏ rơi vì không có cơ hội gặp phái đoàn Hoa Kỳ.

74   Vai trò chủ động tầm lợi của Hà Nội trong chương trình ODP được thể hiện rõ ràng qua sự bất lực của các chính quyền nước ngoài trong tiến trình duyệt xét thủ tục định cư cho người Việt ở quốc nộị Tòa Ðại Sứ Gia Nã Ðại ở Thái Lan có sẵn cả mẫu thư trả lời cho thân nhân đứng đơn bảo lãnh ở Gia Nã Ðại với một đoạn văn tiêu cực như sau:  'Tình trạng hồ sơ: (1) Chưa được chính quyền Việt Nam cho phỏng vấn..  Tòa Ðại Sứ Gia Nã Ðại không thể liên lạc với đương sự cho đến khi tên của đương sự có trong danh sách phỏng vấn của Việt Nam.'  ('The status of the case is:  (x) 1. Not yet presented by the Vietnamese authorities for interview..  The Canadian Embassy has no access to any applicant until his name appears on the Vietnamese interview list.')

75  Most refugees 'are from the south, from Ho Chi Minh City in particular. In 1975, we forbade them to go out. We were criticized by the west. We thought it over. We decided to give them the freedom to gọ Now (the west) say we are exporting refugees. So now we say that they must ask to gọ And we will allow them to gó  Asiaweek, 15 June 1979.

76  'Minutes of Discussion with Nguyen Co Thach, Secretary of State for Foreign affairs, Office of the Premier, and Members of Congressional Delegation, Hanoi, August 9, 1979,'  as recorded in US Congress, House Committee on Foreign Affairs, 'The Indochinese Refugee Situation,' August 1979, Report of a Study Mission of the US House of Representatives, 2-11 August 1979, 96th Congress, 1st session, 16 September 1979, at pp.63-78.

77  Trong 5 năm đầu, chương trình ODP đưa ra danh sách khoảng 1 triệu người cần được thẩm vấn nhưng chính quyền Hà Nội đã phản ứng rất chậm chạp trong việc tiến hành các hồ sơ nàỵ  Sự định cư của đồng bào chỉ bắt đầu gia tăng từ năm 1981 với số người ra đi là  9.815. Vào tháng 1-1986, Hà Nội tự động đình chỉ chương trình ra đi trong vòng trật tự rồi lại cho hồi sinh một tháng sau đọ

78   Phỏng vấn anh Nguyễn Dung tại Lloyd Duong Attorneys Atrium vào ngày 20-4-1999. Anh Nguyễn được Canada nhận cho định cư vào năm 1989.

79 'Everyone has the right to leave any country, including his own, and to return to his country’  

Trở lại phần Mục Lục