III Phản Ứng của Thế Giới
Cao
Trào Quốc Tế
Cứu Trợ Thuyền Nhân
Vai trò chủ chốt của đảng Cộng Sản
Việt Nam trong kế hoạch xuất cảng các kiện
hàng người đã thu hút sự phản đối
của thế giới, nhưng chính thảm trạng
giết hại thuyền nhân của hải tặc song song
với chính sách ngược đãi dân tị nạn
của các chính quyền lân bang nhằm đối đầu
với âm mưu tầm lợi của Hà Nội trên
sự tủi nhục của dân tộc đã đánh
thức lương tâm của nhân loại. Nỗ lực
xua đuổi ghe tị nạn bằng bạo lực súng
đạn của các quốc gia láng diềng cùng nhiều
cuộc tấn công thuyền nhân đẩm máu của
hải tặc dã man là những hành động tàn
nhẫn vô tiền khoáng hậu, và đã khiến
nhiều cộng đồng nhân dân trên toàn thế
giới động lòng trắc ẩn. Kết quả là
sự hình thành của một phong trào cứu giúp tị
nạn vĩ đại nhất nhì trong lịch sử nhân
loại do chính các công dân bình thường nhất
bảo trợ.
Những thuyền nhân may mắn vượt thoát
đến được bờ bến tự do ngay sau
hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông Dương
I đã được đón tiếp tương đối
niềm nở do ảnh hưởng bao trùm của phong trào
quốc tế cứu giúp dân tị nạn đầy năng
động và nhiệt tâm này. Cho đến cuối
thế kỷ 20, trong số 796.310 thuyền nhân và 42.928
bộ nhân vượt biên thành công, trên 720.000 người
đã được tái định cư khắp nơi
trên toàn thế giới từ Á Châu, Phi Châu, Úc Châu cho
đến Mỹ Châu, Âu Châu và kể cả Trung Ðông.
Sáu quốc gia đón nhận phần lớn dân
tị nạn Việt Nam là Anh, Ðức, Gia Nã Ðại, Hoa
Kỳ, Pháp và Úc.
Tại Úc quốc, mặc dầu nhóm thiên tả cùng thành
phần bảo thủ chống đối việc thâu
nhận thuyền nhân, 104.048 dân tị nạn Việt Nam
đã được đón tiếp và cấp quy chế
thường trú nhân. Trong những ngày đầu khi đặt
chân lên quê hương mới, những người tị
nạn tạm lưu tại các trung tâm di trú trước
khi được đưa đi định cư ở các
tỉnh khác. Thuyền nhân hội
nhập rất nhanh vào môi trường sống mới, và
đa số đã sẳn sàng chấp nhận làm tất
cả các công việc nhỏ mọn để tìm cách sinh
kế bất kể khả năng cũng như thành
tựu của họ trong quá khứ.
Chỉ trong vòng một con giáp,
cộng đồng tị nạn Việt Nam tại Úc
đã gầy dựng được thế đứng
vững chãi trong xã hội mới và tạo được
ảnh hưởng quan trọng trên thương trường
cũng như chính trường.
Tại Tân Tây Lan, dư luận hoàn toàn ủng hộ chương
trình cứu giúp thuyền nhân. Tổ chức nhà thờ cũng
như các hội bảo trợ đã đóng một vai trò
quan trọng trong việc vận động chính quyền
cũng như quyên góp tài chánh để định
cư dân tị nạn Việt Nam. Trong số ân nhân bác ái,
hai anh em Hugo và Bill Manson đã tích cực đóng góp
rất nhiều trong nỗ lực phổ biến thảm
trạng thuyền nhân trong cộng đồng nhân dân Tân
Tây Lan. Cặp ký giả truyền hình Hugo và Bill Manson đã
gởi thư thỉnh nguyện đến 230 cơ quan chính
quyền địa phương để yêu cầu
họ giúp bảo trợ cho 3.200 thuyền nhân hay 1
thuyền nhân cho mỗi 1.000 công dân. Hơn một nửa
cơ quan chính quyền địa phương trả
lời, và trong số đó 80% chấp nhận đề
nghị đầy thử thách này. Kết quả cuối
cùng đã vượt quá dự tính ban đầu;
khoảng 4.371 thuyền nhân được đón tiếp
đến định cư tại Tân Tây Lan trong những
tháng sau đó.
Tại Pháp quốc nơi 18.468 dân vượt biên
Việt Nam chọn làm quê hương mới, cộng đồng
nhân dân địa phương đã hăng hái cứu
trợ thuyền nhân. Trong những ngày đầu khi
mới đặt chân lên đất Pháp, dân tị
nạn được tạm lưu tại một trong ba
trung tâm của tổ chức France Terre d'Asile. Họ
được khám sức khỏe và phỏng vấn
nhằm thẩm định nhu cầu định cư.
Những người có sẳn thân nhân tại Pháp có
thể tự tầm nghiệp và tìm kiếm nơi lưu
trú riêng với sự giúp đỡ của gia đình.
Những cá nhân khác được chuyển dần
dần về các trung tâm tỉnh để học thêm Pháp
ngữ cũng như phong tục địa phương trước
khi trực tiếp gia nhập vào xã hội mới. Mặc
dầu dân Pháp có thành kiến nặng nề với người
di dân, đặc biệt là các nhóm đến từ châu
Phi, họ đã tỏ vẻ rất sốt sắng trong chương
trình bảo trợ thuyền nhân. Ðề nghị trợ giúp
dân tị nạn Việt Nam từ khắp các tỉnh thành
trên toàn cõi Pháp quốc gia tăng ở mức độ
bình phương; nhiều gia đình người Pháp đã
xin đón nhận thuyền nhân và bảo bọc họ
trong khi họ chờ đợi sự giúp đỡ
của cơ quan chính quyền địa phương.
Tại Anh quốc nơi 17.677 thuyền nhân định
cư, chính sách cứng rắn ban đầu của Luân
Ðôn thay đổi sau khi Bộ Trưởng Ngoại Giao
Carrington viếng thăm các trại tị nạn ở
Hồng Kông và Ðông Nam Á. Trong khi giới truyền thông tích
cực kêu gọi chính quyền thâu nhận dân tị
nạn Ðông Dương, dư luận Anh đã nhiệt lòng
ủng hộ chương trình định cư thuyền
nhân. Một nhân viên
của Ủy Ban Cứu Trợ Tị Nạn (Council for Aid
to Refugees) tên Jeanne Townsend nhận xét rằng dân Anh dễ dàng
chấp nhận thuyền nhân bởi vì:
'Họ (thuyền nhân) thân thiện với dân Anh. Họ không khó hiểu như các nhóm Á châu khác mà dư luận biết và họ không có những điều cấm kỵ tôn giáo và xã hội như dân Ấn Ðộ và nhiều người châu Phi. Họ thích nhậu nhẹt, thích tiệc tùng và là một dân tộc thích xã giao. Dân tộc Anh ưa thích bất cứ ai dám cỡi ngựa hay lèo láy tàu buồm và họ nể phục sự can đảm của dân tộc Việt Nam. Phản ứng (tại Anh) là một nỗi xúc động. Người Việt chứng tỏ họ là những người làm vườn đáng kể, (họ) mua cây cỏ ở bất cứ nơi nào họ định cư, và sự kiện này khiến dân Anh thích họ. Tôi không cho họ là những thiên thần. Họ có những vấn đề của họ: kỳ vọng của họ khá cao.'[81]
Thụy Ðiển có lẽ là một trong các quốc gia có
một chương trình định cư thuyền nhân hoàn
mỹ nhất. Vào ngày 5-12-1978, Vua Carl XVI Gustaf phát biểu
là ông mong muốn giúp đỡ dân tị nạn Việt
Nam mặc dầu ông không có thực quyền trong khuôn
khổ hiến pháp quốc gia. Khi tình trạng sinh tồn
của thuyền nhân xuống dốc thê thảm tại
Ðông Nam Á, chính quyền Thụy Ðiển cảm thấy có
trách nhiệm phải đóng góp vào nỗ lực chung
của cộng đồng thế giới nhằm cứu
trợ dân tị nạn Ðông Dương mặc dầu
Stockholm rất thân thiện với Hà Nội; kết
quả là 5.589 thuyền nhân đã được giúp
đỡ định cư tại Thụy Ðiển trong các
tháng sau đó. Trong khi những người tị nạn
lớn tuổi được học hỏi ngôn ngữ
địa phương cũng như nghề nghiệp
mới, trẻ em Việt Nam được trực
tiếp gia nhập hệ thống giáo dục quốc gia -
một trong những hệ thống giáo dục tốt
nhất trên thế giới. Song song qua các đường
dây ngoại giao, Stockholm cũng đã yêu cầu Hà Nội
chấm dứt kế hoạch buôn lậu lương dân.
Tại Hoa Kỳ, tòa Bạch -c quyết định ngày
31-10-1975 là ngày cuối cùng cho dân tị nạn Ðông Dương
tại các quốc gia Ðông Nam Á được thuyên
chuyển vào hệ thống định cư của Hoa
Thịnh Ðốn, và giai đoạn đầu của chương
trình định cư tị nạn chính thức chấm
dứt vào ngày 31-12-1975. Vào ngày 5-5-1976, chương trình
Expanded Parole (Lưu Xá) được khai sinh để thâu
nhận thêm 11.000 dân tị nạn Cam Bốt, Lào và
Việt Nam đang còn kẹt tại một số trại
tạm trú. Chương trình này - vốn là sản
phẩm của chính sách phản ứng tùy nhu cầu
thiếu chủ trương rõ ràng đối với
cuộc khủng hoảng tị nạn Ðông Dương -
được tiếp tục cho đến năm 1980 khi
Luật Tị Nạn được phê chuẩn và thi hành
nhằm quy định số lượng dân tị nạn
được thâu nhận vào Hoa Kỳ hàng năm.[82]
Luật Tị Nạn 1980 tổ chức Phòng Ðịnh
Cư Tị Nạn (Office of Refugee Resettlement) trong Bộ
Dịch Vụ Sức Khỏe và Nhân Phục (Department of
Health and Human Services) với nhiệm vụ giúp đỡ dân
tị nạn mới đặt chân đến Hoa Kỳ.
Sau hội nghị quốc tế về tị nạn Ðông
Dương I, Tổng Thống Carter ra lệnh cho Ðệ
Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ tìm kiếm và cứu
vớt thuyền nhân đang gặp hoạn nạn trên
biển.[83] Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết vào ngày
5-9-1979 để cắt đứt toàn bộ viện
trợ trực tiếp hay gián tiếp cho CHXHCN Việt Nam và
tăng thêm $207 triệu Mỹ-kim cho ngân quỹ cứu
trợ dân tị nạn tại Ðông Nam Á. Trong những ngày
tháng đầu của chương trình định cư
thuyền nhân, một số nhân viên chính phủ lo
ngại là sự hiện diện của dân tị nạn
có thể tạo ảnh hưởng xấu cho thị trường
nhân dụng địa phương.
May mắn là dư luận Hoa Kỳ vào đầu niên
kỷ 1980 đã hăng hái ủng hộ chương trình
thâu nhận thuyền nhân bởi vì (1) hải trình kinh hoàng
của dân tị nạn Việt Nam được hệ
thống truyền hình phổ biến thẳng vào phòng khách
của mỗi gia đình Hoa Kỳ với các hình ảnh
sống thực cho nên đã đánh thức lòng trắc
ẩn của nhiều người, và (2) tinh thần làm
việc tích cực của đại đa số
thuyền nhân cũng như thành quả học tập
khả quan của lớp trẻ đã giúp tạo
được nhiều ấn tượng tốt đẹp
đối với cộng đồng nhân dân địa phương.
Trên bình diện tổng quát, đa số thuyền nhân
mới đến Hoa Kỳ đã tận tụy làm
việc để xây dựng cuộc sống vững
chắc trong xã hội mới khiến ngay cả Liên Ðoàn
Lao Ðộng Hoa Kỳ (American Federation of Labor - Congress of
Industrial Organizations [AFL-CIO]) phải lên tiếng ủng
hộ nỗ lực định cư dân tị nạn Ðông
Dương và phủ nhận huyền thoại 'dân tị
nạn cướp đoạt việc làm của người
địa phương' như sau:
'Không có một tổ chức nào lo lắng về vấn
nạn thất nghiệp hơn tổ chức AFL-CIO. Nhưng
vấn nạn đó khó có thể bị ảnh hưởng
bởi số người Ðông Dương mà chúng ta đề
cập đến - khoảng 25.000 người mỗi năm
- hay ngay cả 50.000 dân tị nạn chính trị mà chính
phủ dự trù thâu nhận hàng năm. Trong mọi trường
hợp, những người tị nạn này không giành
giựt việc làm của công nhân thép, công nhân kim
loại, thợ buôn hàng, nhân viên chính phủ, thợ
ống nước, thợ trải thảm, nông dân và các
công nhân khác. Hành động miêu tả những người
tị nạn chính trị này - những người
giống như tổ tiên di cư của chúng ta trước
đây chấp nhận các việc làm mà không ai trong xã
hội muốn đụng vào - như một mối đe
dọa cho thị trường việc làm, tương
tự như tình trạng giao thương quốc tế
bất bình đẳng, mức tiền lời quá cao và chính
sách kinh tế sai lạc, chỉ là một trò khỉ khôi
hài.'[84]
Những công dân Hoa Kỳ bình thường và các tổ
chức bất vụ lợi đã đóng một vai trò
quan trọng trong chương trình bảo trợ thuyền
nhân. Một số tổ chức có những đóng góp to
lớn đáng kể là the U.S. Catholic Conference, Lutheran
Immigration and Resettlement Service, Church World Services, International
Rescue Committee, United Hebrew Immigration and Assistance Service, và the
American Council of National Services. Qua cơ chế bao quát Hội
Ðồng Các Tổ Chức Thiện Nguyện Hoa Kỳ (the
American Council of Voluntary Agencies), những cơ quan này đã
giúp đỡ các thuyền nhân mới đến về
nhiều mặt từ gia cư, thực phẩm cho đến
việc huấn ngữ, giới thiệu về phong tục
cũng như đời sống mới, v.v. Chính phủ Hoa Kỳ đã đóng góp vào
ngân quỹ của các cơ quan này $500 Mỹ kim cho mỗi
thuyền nhân mà họ bảo trợ.
Song song với nỗ lực của các tổ chức
trên, nhân dân Hoa Kỳ và dân tị nạn Việt Nam
mới định cư cũng hoạt động tích
cực trong chương trình bảo trợ thuyền nhân.
Phong trào bảo lãnh người tị nạn bộc pháp
mạnh trên toàn cõi quốc gia, đặc biệt là
từ cộng đồng dân Ðông Dương mới định
cư. Thống kê cho biết là trong những năm đầu
của làn sóng vượt biên, 46% tổng số thuyền
nhân đến Hoa Kỳ nhờ vào sự bảo trợ
của gia đình hay bạn bè Việt Nam. Vào cuối
thế kỷ 20, 388.238 thuyền nhân và 22.568 bộ nhân
đã được thâu nhận vào Hoa Kỳ, và họ
đã thành công trong nỗ
lực xây dựng một cộng đồng
kinh tế và chính trị tương đối
vững chãi.
Tại Gia Nã Ðại - nơi ẩn náo của
những người không nhà (a haven for the homeless) - cộng
đồng nhân dân địa phương đã sốt
sắng ủng hộ chương trình định cư dân
tị nạn Việt Nam. Nhiều
tổ chức tôn giáo cũng như tư nhân đã tích
cực vận động cho việc tài trợ và thâu
nhận thuyền nhân.[85] Khi
chính phủ Gia Nã Ðại đưa ra mục tiêu thâu
nhận 8.000 người trong năm 1979 và hy vọng là các
tổ chức tư nhân có thể bảo lãnh thêm 4.000, các
tổ chức nhân dân khắp nơi đã đi xa hơn
và thách thức Ottawa thâu nhận thêm 2 người tị
nạn cho mỗi đầu người mà họ có
thể bảo trợ thêm trên mức 4.000.
Chính phủ Gia Nã Ðại đã phản ứng
bằng cách nâng tổng số người tị nạn
được thâu nhận vào Canada từ 12.000 lên mức
21.000 người và hứa là sẽ nhận thêm 1 người
tị nạn cho mỗi đầu người mà các
tổ chức tư nhân có thể bảo trợ thêm trên
mức 4.000.
Ban đầu ai cũng nghĩ là phải tốn ít
nhất 18 tháng mới có thể tổ chức được
mạng lưới dân sự song song với các phương
tiện sẳn có của chính phủ để nhận lãnh
21.000 dân tị nạn Ðông Dương, nhưng chỉ
trong vòng 4 tháng sau là mạng lưới bảo lãnh tị
nạn của nhân dân cùng cơ chế di trú của chính
quyền đã bảo trợ quá mức 21.000 người.
Phản ứng phi thường này của nhân dân Gia Nã Ðại
đối với thảm trạng thuyền nhân khiến
Ottawa quyết định tăng số lượng người
tị nạn được thâu nhận vào Canada lên đến
mức 50.000 người; cuối
cùng gần 100.000 thuyền nhân và bộ nhân Việt Nam
đã được tái định cư tại Gia Nã Ðại
trong chương trình bảo trợ tị nạn Ðông Dương.
Kinh nghiệm của Gia Nã Ðại là một kinh
nghiệm kỳ diệu hiếm có khi cả hai khối chính
quyền và nhân dân cùng hy sinh không tính toán lợi hại
và đã bắt tay làm việc với nhau một cách
hiệu quả vì lý do nhân đạo cao thượng
nhằm trợ giúp dân tị nạn Ðông Dương.
Nỗ lực đặc biệt phi thường của Gia
Nã Ðại trong phong trào quốc tế cứu trợ
thuyền nhân đã được Bảo Tàng Viện Văn
Minh nổi tiếng tại Ottawa ca ngợi qua cuộc
triển lãm đặc sắc bắt đầu từ tháng
10-1998 mang chủ đề Vietnamese Canadians: Boat People No Longer
(Dân Gia Nã Ðại gốc Việt: Một Thời Thuyền
Nhân). Cuộc triển lãm
này được tổ chức để đánh dấu
kỷ niệm 50 năm ngày ký kết Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền và tôn vinh tinh thần bác ái của nhân
dân Gia Nã Ðại cũng như sự đóng góp quý giá
của thuyền nhân vào xã hội mới. Song song với
phim ảnh tị nạn, một mô hình tàu tị nạn
khá lớn đã được đóng theo ký ức
của thuyền nhân để trình bày hải trình khó khăn
của thuyền nhân từ lúc vượt biên cho đến
ngày đặt chân lên Gia Nã Ðại. Trong ngày khai mạc
cuộc triển lãm với sự chứng kiến của
Toàn Quyền Roméo LeBlanc, đại diện Anh Hoàng,[86]
nhiều đồng bào hiện diện đã rớm
lệ khi nhìn lại được một số hình
ảnh về quá khứ thuyền nhân đầy thăng
trầm của họ.
Phụ Chú:
80 Tại Pháp, chỉ 1/3 dân tị nạn
Việt Nam biết nói chút ít tiếng Pháp.
81 'They have endeared themselves to the British peoplẹ
They are not nearly as inscrutable as Asians are believed to be and they do not
have the same religious and social taboos as Indians and many Africans. They
like a drink, love parties and are an outgoing peoplẹ The English are
dotty about anyone who rides a horse or sails a boat and they have admired the
courage of the Vietnamese peoplẹ It has been an emotional reaction. The
Vietnamese are proving to be remarkable gardeners, buying plants and trees
wherever they settle, and this endears them to the British peoplẹ I don't
say they are angels. They have their problems: their expectations are rather
high.'
82 Một nửa số lượng 50.000 người
tị nạn được nhập cư hàng năm này
được dành cho dân tị nạn Ðông Dương
trong các năm đầu của làn sóng thuyền nhân.
83 Không như tin đồn thất thiệt
ở CHXHCN Việt Nam, chính sách của Hoa Thịnh Ðốn
trước tháng 7-1979 là tuyệt đối không gởi tàu
đi cứu vớt thuyền nhân Việt Nam. Trong lúc
thực hiện các tác vụ, chiến hạm Hoa Kỳ
trong vùng chỉ được phép giúp đỡ ghe
tị nạn nằm trong tình trạng nguy cấp.
84 'No organization is more
concerned about the problem of unemployment than the AFL-CIỌ
But that problem will hardly be affected by the number of Indochinese we
are talking about - an estimated 25,000 a year - or even by the 50,000 political
refugees the Administration proposes to admit annuallỵ
In any case, these refugees do not take jobs away from steelworkers,
metal workers, retail clerks, public employees, plumbers, carpenters, farm
workers or any others. To portray these political refugees - who like our immigrant
ancestors take jobs no one else in our society seems to want - as a threat to
our jobs, in the same class with unfair international trade, excessive interest
rates and misguided government economic policy, is a travestý
85 Một trong các
nỗ lực nhân đạo vĩ đại của nhân dân
Gia Nã Ðại đáng kể là chương trình bảo
trợ thuyền nhân phi chính phủ mang tên Operation Lifeline
được khai sinh ở Toronto và bắt đầu
hoạt động từ ngày 24-6-1979. Chỉ trong vòng hai
tuần lễ sau khoảng 60 chi nhánh Operation Lifeline đã
hiện diện khắp nơi và tích cực vận động
tài lực cũng như nhân lực nhằm bảo trợ
dân tị nạn Ðông Dương.
86 Gia Nã Ðại nằm trong Khối Thịnh Vượng
Anh và vẫn tiếp tục tôn Anh Hoàng như nhà lãnh
đạo quốc gia.