Cuộc Chiến Việt Nam Và Hai Quan Niệm Xây Dựng Xã Hội

Tại Hội Luận Quốc Tế Chiến Tranh Việt Nam Và Âu Châu 1963-73 

Bùi Diễm

Paris 24 và 25 tháng 1, 2003

Kính thưa quý đồng nghiệp,

Kính thưa quý ông bà,

Tôi hân hạnh được dịp có mặt tại đây cùng với quý vị tham dự Hội Nghị Quốc Tế “Chiến tranh Việt Nam và Âu Châu” và xin cảm tạ Ban Tổ Chức đã có nhã ý mời tôi.

 Ba mươi năm sau Hiệp Định Paris, tôi tin rằng chúng ta có đủ khoảng cách thời gian để đóng góp ý kiến cho lịch sử cuộc chiến đã tàn phá xứ sở của tôi trong nhiều thập niên thế kỷ trước. Kết quả của sự đóng góp này, tôi mong như vậy, sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn những gì đã xẩy ra và, nếu có thể, đem lại một vài bài học hữu ích cho tương lai. Hội nghị này là một sáng kiến đáng khen của Hiệp Hội Ngoại Giao và Chiến Lược và Trung Tâm Lịch Sử Âu Châu vào Thế Kỷ 20 (Association Diplomatie et Stratégie và Centre d’Histoire de l’Europe du Vingtième Siècle).

Tôi được mời tham dự nhóm thảo luận tập trung vào đề tài “cuộc chiến Hoa Kỳ”. Tôi có một số ý kiến về đề tài này và tôi sẽ trình bầy sau. Tuy nhiên vì hội nghị được tổ chức vừa để kỷ niệm 30 năm ngày ký kết Hiệp Định Paris vừa để duyệt lại vai trò của Âu Châu trong những năm chiến tranh tại Việt Nam, tôi không thể không nhắc lại bầu không khí đặc biệt đáng nhớ của những ngày tháng 5, năm 1968, tại Paris.

Paris, tháng 5, 1968

Lúc đó, tiết trời mùa Xuân, người ta chờ đón hy vọng hòa bình sau những năm dài chinh chiến và tàn phá. Người ta còn mừng về việc chọn Paris làm nơi gặp gỡ để các phe liên hệ đàm phán. Quả vậy, trong các phủ bộ Âu Châu, cũng như ở mọi nơi khác, người ta đồng ý là Âu Châu và nhất là Pháp, vì là thành phần trung lập trong cuộc chiến này, thích hợp nhất trong vai trò chủ nhà cho hội nghị. Người ta còn mong, vì có nhiều liên hệ với cả hai phe, Pháp có thể kín đáo giúp cho việc thương thuyết.

Tuy nhiên, do sự trùng hợp không may của nhiều yếu tố lịch sử, khi các cuộc đàm phán đầu tiên giữa các phái đoàn Hoa Kỳ và Bắc Việt khởi sự thì nước Pháp lúc đó lại đang ở trong một tình trạng khủng hoảng. Đường phố Paris bốc cháy vì các cuộc biểu tình của sinh viên và những kẻ sách động mà nay người ta gọi là “thế hệ sáu-tám”. Hàng rào được dựng khắp nơi trong khu Latinh (tập trung nhiều Đại Học và là nơi sinh viên biểu tình dữ dội nhất), nước Pháp như bị tê liệt và người ta tự hỏi phải chăng đây là khởi đầu của một cuộc cách mạng. Vào thời điểm đó, nhiệm sở của tôi ở tại Mỹ nên hàng tuần tôi phải làm con thoi giữa hai thủ đô Washington và Paris, nhưng vì hoàn cảnh quá bất thường nên máy bay đưa tôi từ New York phải đáp xuống phi trường quân sự Brétigny thay vì Orly, và nhiều lần tôi đã phải đi đường bộ lên Bruxelles để có máy bay trở về Mỹ.

Nếu tôi có gợi lại những kỷ niệm ấy thì cũng chỉ để nhắc lại bầu không khí đặc biệt vào thời điểm hòa đàm. Hơn nữa, biểu tình không phải là hiện tượng chỉ xẩy ra ở Pháp, sự xáo trộn cũng mãnh liệt không kém trong giới sinh viên và sách động ở khắp Âu Châu, đặc biệt ở Đức và ở Mỹ trong số những người chống lại chiến tranh Việt Nam. Thực ra, đó là một hiện tượng xã hội, sự phản kháng của một thế hệ chống lại cái xã hội đã nuôi nấng họ. Việc chống lại chiến tranh Việt Nam có thể có nội dung chính trị, nhưng khung cảnh chung là một cuộc khủng hoảng xã hội chẳng dính dấp gì tới Việt Nam và Việt Nam nhiều khi chỉ là một cái cớ. Vào thời điểm đó chúng ta còn ở rất xa sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết và huyền thoại Cộng Sản nên nếu các vụ biểu tình có mầu sắc thiên tả ở Âu Châu và ở khắp các nơi khác, thì điều đó cũng chẳng làm ai ngạc nhiên vì người ta cứ tưởng lầm đấy là trào lưu của thời đại.

Những nỗ lực trung gian của Âu Châu

Cuộc hòa đàm về Việt Nam đã khởi sự trong bầu không khí đặc biệt như vậy. Dư luận coi đây là một nỗ lực cụ thể để tìm giải pháp cho cuộc chiến đang xẩy ra mà không biết rằng trong hậu trường, và nhiều lần, đã có những trung gian muốn dàn xếp việc tiếp xúc giữa các đối phương. Những nỗ lực môi giới của Âu Châu cho việc này kể ra thì rất nhiều, chúng ta đều biết cả và nhóm thảo luận thứ tư của hội nghị này sẽ có thời giờ tìm hiểu sự việc trong chi tiết. Tôi chỉ xin nhắc theo trí nhớ ở đây vài ba trường hợp mà tôi có theo dõi như một sự ca ngợi những nỗ lực hòa bình của Âu Châu.

Năm 1966, trong khi chiến cuộc bùng nổ và lan tràn thì Ba Lan qua người đại diện của mình trong Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế (ICC) cùng với người đại diện của Ý tại Sài Gòn đã tìm cách làm cho quan điểm của các phe liên hệ bớt khoảng cách. Ở cấp cao hơn, đầu năm 1967, Thủ Tướng Anh Harold Wilson và Thủ Tướng Liên Xô Alexis Kosygin cũng cố gắng tổ chức một hội nghị hòa bình. Về phần Pháp thì từ năm 1965 nước Pháp đã kín đáo giúp đỡ sự gặp gỡ giữa người đại diện của Hà Nội là ông Mai Văn Bộ với nhà ngoại giao Mỹ, ông Edmond Guillion. Cũng trong tinh thần ấy và có thể với sự đồng ý mặc nhiên của bộ Ngoại Giao Pháp, hai người Pháp là các ông Aubrac và Marcovich đồng ý cộng tác với giáo sư Kissinger (đại diện bán chính thức của Mỹ thời đó) để chuyển một thông điệp của Washington tới nhà cầm quyền Hà Nội. Không kể tới những nỗ lực kém quan trọng hơn, như của Thụy Điển, dù không đem lại kết quả cụ thể, tất cả đều phản ảnh sự quan tâm rất lớn của Âu Châu đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Và nếu hội nghị ngày hôm nay có muốn duyệt lại vai trò của Âu Châu trong nỗ lực đem lại hòa bình cho Việt Nam thì cũng là điều công bằng.

Chiến tranh “Hoa Kỳ”

Trong những năm từ thập niên 60, 70 và về sau này, những thành phần thiên tả hay chống Mỹ và đa số báo chí quốc tế thường gọi chiến tranh Việt Nam là “cuộc chiến của Mỹ” (“american war”). Sự can thiệp ồ ạt của Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhất là từ năm 1966, có thể giải thích cách gọi như vậy là không xa sự thực. Quả thật, ai có thể phủ nhận được sự hiện diện của nửa triệu lính Mỹ tại miền Nam Việt Nam ? Nhưng dù sự hiện diện đó là hiển nhiên, đối với tôi (và nhiều sử gia độc lập mà tôi được biết) điều đó không phải là nguyên nhân sâu xa và duy nhất của cuộc chiến. Nếu ngược dòng thời gian, trở lại Hiệp Định Genève năm 1954 kết thúc cuộc chiến đầu tiên tại Việt Nam (được gọi là chiến tranh Đông Dương) và phân chia lãnh thổ Việt Nam thành hai vùng bằng vĩ tuyến 17, người ta có thể dễ thấy là mối quan tâm của Hoa Kỳ đối với Việt Nam thật là giới hạn. Chỉ sau khi bản hiệp định này được ký kết, mối quan tâm đó mới gia tăng với sự thành lập của Minh Ước Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO hay là South East Asia Treaty Organisation). Và mối quan tâm này lớn mạnh hơn cùng với sự căng thẳng của chiến tranh lạnh, nhất là sau chiến tranh Cao Ly, sau những vọng động đáng ngại tại Trung Quốc của Mao Trạch Đông và đặc biệt sau khi khối Cộng Sản Quốc Tế công khai hỗ trợ chế độ Bắc Việt.

Hai nước Việt Nam

Dĩ nhiên, Hiệp Định Genève 1954 công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam như một quốc gia, một dân tộc. Nhưng hiệp định này cũng chia Việt Nam thành hai vùng và có những quy định về cơ chế quốc gia tại mỗi vùng. Phần mình, chính quyền Sài Gòn nắm giữ mọi thẩm quyền lãnh đạo quốc gia ở miền Nam cũng như chính quyền Hà Nội ở miền Bắc. Như vậy, có hai nước Việt Nam được quốc tế chính thức hẳn hoi công nhận, Việt Nam Cộng Hòa được thế giới tự do công nhận tại miền Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được các nước Cộng Sản công nhận tại miền Bắc. Cũng cần nhắc lại ở đây là trước khi có Hiệp Định Genève chia đôi đất nước thì Quốc Gia Việt Nam đã được 35 nước công nhận và tháng 9 năm 1952, mặc dầu Liên Xô dùng quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã biểu quyết với 40 phiếu thuận, 5 phiếu chống và 12 phiếu trắng, một quyết nghị chấp nhận Quốc Gia Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Sau Hiệp Định Genève, Quốc Gia Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập ở miền Nam.

Sự phân chia trong lịch sử

Nếu xét đến nguyện vọng của người dân Việt Nam luôn luôn mong muốn nước nhà được thống nhất thì Hiệp Định Genève phân chia đất nước làm đôi chỉ là một trường hợp giai đoạn, không ai muốn nhưng đành phải chịu vì hoàn cảnh lịch sử và quốc tế lúc đó. Nếu có thể tự an ủi thì người ta nhớ lại thời phân chia Nam Bắc ở vĩ tuyến 18 của Việt Nam trong hơn hai thế kỷ và chỉ được Hoàng Đế Gia Long thống nhất trở lại vào đầu thế kỷ 19. Ngoài ra việc phân chia cũng không phải là trường hợp duy nhất nếu người ta thấy những tiền lệ là hai nước Đông và Tây Đức hoặc hai nước Nam và Bắc Hàn. Vì vậy, sau Hiệp Định Genève nước Việt Nam ở miền Nam đành chấp nhận thực tế và mong rằng tình trạng hai nước độc lập như vậy sẽ được duy trì cho tới khi có hoàn cảnh thống nhất hòa bình như đã từng có trong quá khứ.

Sự can thiệp của ngoại bang

Tuy nhiên, tình trạng hai quốc gia biệt lập này không kéo dài. Xung đột giữa hai bên bắt đầu rất sớm, vào những năm đầu thập niên 60 thì còn âm ỉ nhưng sau đó thì trở thành chiến tranh công khai. Chính trong khung cảnh đặc biệt đó của Việt Nam, với chiến tranh lạnh gia tăng cường độ mà Hoa Kỳ đã can thiệp vào miền Nam thuận theo chính sách be bờ (containment policy) ngăn chặn làn sóng Cộng Sản của họ. Trường hợp này không khác trường hợp các nước trong khối Cộng Sản thuận theo chủ trương bành trướng và liên đới đối với các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã giúp miền Bắc. Nếu có khác chăng nữa thì người ta thấy tại miền Nam một sự can thiệp ồ ạt, công khai và hầu như dưới mọi hình thức trong khi đó thì tại miền Bắc sự can thiệp đã được ngụy trang khéo léo. Quả vậy, sự kiện có hơn 200 trăm ngàn lính Trung Cộng tại miền Bắc trong thời chiến chỉ được thế giới biết rất trễ sau khi chiến tranh kết thúc.

Tôi không hề có ý bênh vực lề lối can thiệp như vậy của Hoa Kỳ, ngược lại là khác, vì trong những năm làm việc tại Mỹ, tôi đã có cơ hội nhận thấy sự vận hành của chính trị Hoa Kỳ với rất nhiều vụng về, mâu thuẫn và lầm lẫn. Nhưng trong hoàn cảnh của Việt Nam mà bảo rằng Hoa Kỳ có tham vọng bành trướng lãnh thổ hay quyền lực này khác, để từ đó đi tới kết luận là chiến tranh Việt Nam bắt nguồn từ sự can thiệp của Mỹ thì quả là đi quá xa trong sự phi lý.

Nhân đây, nếu coi sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam là cản trở nền độc lập và thống nhất của Việt Nam thì tôi xin được nhắc lại rằng vào tháng 10 năm 1966, tại một hội nghị quốc tế ở thủ đô Manila của Phi Luật Tân, quy tụ 7 nước đồng minh của miền Nam Việt Nam, phái đoàn Việt Nam đã cương quyết yêu cầu ghi vào bản thông cáo chung một điều khoản minh danh khẳng định là mọi quân đội ngoại quốc, và trước tiên là quân đội Mỹ, phải rút khỏi Việt Nam 6 tháng sau khi chiến tranh chấm dứt và lời yêu cầu này đã được hội nghị chấp thuận. Ngoài ra, nếu coi Hiệp Định Paris năm 1973 như một văn kiện có giá trị cưỡng hành đối với các phe liên hệ thì tài liệu đó đã giải quyết dứt khoát vấn đề quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, nghĩa là “chiến tranh Hoa Kỳ” hết, không còn là chiến tranh của Mỹ nữa thì một câu hỏi đương nhiên phải được đặt ra: tại sao chiến tranh lại còn tiếp diễn 2 năm nữa ?

Một cuộc xung đột ý thức hệ

Vì tính chất ồn ào, vũ bão của nó, sự can thiệp của Hoa Kỳ thực ra đã làm lệch lạc bản chất của cuộc chiến ở Việt Nam và che lấp một trong những nguyên nhân chính của cuộc chiến. Thật vậy, nếu mọi người Việt đều mơ ước độc lập ngay từ đầu thế kỷ trước, ngay trong thời kỳ chính quyền thực dân Pháp còn kiểm soát toàn cõi Việt Nam, người ta đã thấy có những khác biệt sâu xa giữa các nhà ái quốc và các nhóm chính trị về phương thức đấu tranh chống thực dân và về tương lai của Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam muốn xây dựng một xã hội theo kiểu Mác-Lênin (đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, cải cách ruộng đất v.v..) trong khi các đảng phái quốc gia , dù còn mơ hồ trong nguyện ước, vẫn muốn xây dựng một xã hội tôn trọng tự do của con người. Một đằng thì là sự đơn giản của mô hình toàn trị (mà mãi về sau người ta mới nhìn ra tính thô bạo của nó) và đằng kia thì là những thí nghiệm có tính cách đa diện, đa nguyên mà người ta lên án là kém hữu hiệu. Vì vậy, từ nguyên thủy, yếu tố chính ở đây là một sự xung đột về tư tưởng, về ý thức hệ, nhất là khi các tổ chức yêu nước phải tiến hành đấu tranh biệt lập và bí mật để tránh sự dòm ngó và đàn áp của thực dân Pháp. Hai biến cố khả dĩ phản ảnh rất rõ hai khuynh hướng này đã xẩy ra cùng vào một thời điểm, năm 1930, đó là cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng và vụ Xô Viết Nghệ Tĩnh của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Theo dòng thời gian, sự xung đột về ý thức hệ này đã biến thành bạo động nhất là sau khi đảng Cộng Sản cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945. Và nếu trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, đảng Cộng Sản có ngụy tạo trở thành Hội Nghiên Cứu Mác Xít, rồi sau đó đổi tên thành đảng Lao Động và chính quyền do đảng này chi phối nói đến một chính phủ liên hiệp quốc gia thì mục đích cũng chỉ là để huy động quần chúng hơn là do thực tâm muốn cộng tác với các lực lượng khác trong phong trào kháng Pháp giành độc lập. Thế rồi, giải pháp Bảo Đại ra đời. Mối rạn nứt Quốc Cộng ngày càng đào sâu và trở thành hiển nhiên với việc Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Bây giờ là một hoàn cảnh pháp lý, có đặc tính quốc tế hơn là quốc nội, chi phối quan hệ đôi bên, mỗi bên có một lối sinh hoạt riêng, với chế độ chính trị riêng. Và hoàn cảnh này cũng được các nước trong khối Cộng Sản công nhận vì tháng Giêng năm 1957, chính Liên Xô đã đề nghị Liên Hiệp Quốc đón nhận hai miền Nam, Bắc vào Liên Hiệp Quốc như hai quốc gia biệt lập và độc lập.

Nhưng còn vấn đề thống nhất

Dĩ nhiên còn vấn đề thống nhất, một vấn đề mà chính quyền hai bên quan niệm khác nhau. Trong khi miền Nam muốn giữ nguyên trạng tạm thời để có thời giờ hàn gắn chiến tranh, tái thiết xứ sở lần đầu tiên được độc lập (với sự trao trả miễn cưỡng của người Pháp) và vì vậy mơ ước một giải pháp thống nhất ôn hòa trong tương lai, thì miền Bắc bị ám ảnh bởi tham vọng đặt hệ thống Cộng Sản trên toàn xứ sở đòi thống nhất bằng mọi giá, kể cả với giá của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Nói một cách khác thì một bên là viễn ảnh thống nhất có tính cách thụ động, một bên là phản ứng đấu tranh quyết liệt vì mù quáng tin vào chủ trương cách mạng và “nghĩa vụ quốc tế” của những người Cộng Sản. Chiến tranh giữa hai miền do đó chỉ còn là điều tất yếu, có hay không có sự can thiệp của ngoại bang.

Sự thể đã thực tế xẩy ra đúng như vậy, trong sự ngậm ngùi của cả dân tộc.

Trong khuôn khổ hội nghị này và vì thời gian có giới hạn, tôi không nói hết được những thống khổ, tang tóc và tàn phá mà dân tộc Việt Nam ở cả hai miền đã phải chịu đựng trong chiến tranh và sau chiến tranh. Cả trăm cuốn sách và những phân tách được xuất bản đã nói nhiều đến điều này. Nhưng với khoảng cách thời gian tại hội nghị này, tôi xin được trình bầy một vài quan điểm của riêng tôi về hồ sơ chiến tranh Việt Nam.

Hiệp Ðịnh Paris

Trước hết về bản Hiệp Định Paris, thì người ta đã thấy rõ ràng là hiệp định đó không mang lại hòa bình, trái lại nó là sự tiếp diễn của chiến tranh. Miền Bắc đã được những gì họ muốn: quân đội Mỹ hoàn toàn triệt thoái khỏi miền Nam, mặc nhiên họ được duy trì quân đội của họ ở miền Nam và Hoa kỳ chẳng được gì ngoại trừ việc mang về tù binh như một phần thưởng nghèo nàn. Một tác giả Hoa Kỳ, Larry Berman, có tham dự hội nghị này, trong cuốn sách mới xuất bản của ông, Không hòa bình, Chẳng danh dự (No Peace, No Honour) đánh giá hiệp định này là Hoa Kỳ đã phản bội Việt Nam vì chiến tranh vẫn tiếp tục sau khi văn kiện được ký kết.

Nhân đây, phải nói rằng tôi không có ý khơi lại một cuộc tranh luận về trách nhiệm của các phe liên hệ trong cuộc chiến, một cuộc tranh luận mà tôi cho là vô ích khi chiến tranh đã kết thúc gần 30 năm rồi. Từ đó nước đã chẩy qua cầu và nhiều thế hệ trẻ ngày nay không còn nhớ hay biết rằng đã có một cuộc chiến xẩy ra. Nhưng chúng ta phải ghi nhận rằng, trong khuôn khổ cuộc chiến tranh lạnh, cuộc chiến ở Việt Nam là sự đụng độ giữa hai chủ trương Cộng Sản và Quốc Gia, giữa độc tài toàn trị và tự do dân chủ.

Như con người, mỗi quốc gia có một số phận riêng. Số phận của Việt Nam là ngay sau Thế Chiến Hai, lợi dụng thời cơ, đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp được chính quyền năm 1945 tại miền Bắc và tiến hành việc chống Pháp cho tới Hiệp Định Genéve 1954. Sau đó trong hơn 20 năm là một nỗ lực tấn công miền Nam một cách tàn bạo dưới chiêu bài thống nhất, với kết cuộc là sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975. Đảng Cộng Sản do đó phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về những gì xẩy ra trên đất nước trong hơn một nửa thế kỷ ở miền Bắc và hơn một phần tư thế kỷ đảng này nắm trọn quyền cai trị ở cả hai miền. Ở đây, có lẽ cũng phải nói thêm rằng, say men chiến thắng, những người Cộng Sản thường hay khoe thành tích đuổi cả thực dân Pháp lẫn đế quốc Mỹ và là “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, nhưng chỉ ít lâu sau chiến thắng người ta đã thấy sự thật bẽ bàng và một chuỗi dài thất vọng. Sau khi thắng trận, trong cả một thập niên đảng Cộng Sản đã mang ra áp dụng toàn bộ chủ thuyết Mác-Lênin trên toàn quốc, xâm lăng Căm Bốt để hoàn tất “nghĩa vụ quốc tế” và tự cô lập mình, với kết quả là đưa đất nước vào cuộc khủng hoảng, đẩy người dân vào cảnh nghèo đói. Trong khi đó thì trên bình diện quốc tế, lịch sử đã chuyển động ngoài sự dự đoán của nhiều người: Trung Quốc thoát khỏi cơn mê cuồng của Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản, tiến hành cải cách ngay từ cuối năm 1978, và năm sau cho người anh em xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội một bài học đẫm máu, rồi sự sụp đổ của các chế độ Cộng Sản Đông Âu và sau cùng là sự tan rã của Liên Bang Xô Viết. Cùng một lúc, cả thế giới bừng tỉnh, mô thức Cộng Sản như một mẫu mực không thích hợp cho thời đại mới, nghĩa là hoàn toàn bị phá sản như Đặng Tiểu Bình rồi sau này Gorbachev đã lần lượt phải công nhận.

Thắng thành bại, Bại thành thắng

Sau Hiệp Định Paris năm 1973 và sự chiến thắng theo kiểu Pyrrhus, chiếm để rồi bại, đảng Cộng Sản Việt Nam, vì những lầm lẫn của mình, đã đưa đất nước vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cuối thập niên 80. Đứng bên bờ vực thẳm, đảng mới tìm cách đi ngược đường trở lại. Từ vài năm nay người ta thường nói tới một số tiến bộ của Việt Nam trên đường đổi mới, làm cho người dân nhờ đó được dễ thở hơn trước, nhưng người ta lại quên rằng những tiến bộ đó chính đã xuất phát từ những biện pháp tự do mà đảng Cộng Sản đã lên án và ra tay xóa bỏ. Trước những sự thật của thế giới ngày nay, đảng Cộng Sản Việt Nam có ý thức được chăng rằng cái dự án xây dựng xã hội của họ đã lỗi thời và trở thành vô giá trị ? Những người Việt Nam không Cộng Sản, ở trong nước cũng như ở ngoài nước thiết tha mong mỏi là sự thể hiển nhiên này sớm được công nhận. Họ không cần khẳng định hay biện bạch rằng chủ trương của họ: dân chủ chính trị, tự do kinh tế và nhân quyền được tôn trọng, có giá trị hơn chủ trương Cộng Sản. Họ chỉ muốn những điều kiện căn bản đó được thực hiện vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã từng bị nhiều đau khổ trong quá khứ và xứng đáng được một tương lai tốt đẹp hơn.

Bùi Diễm