Khi Hiểu Được Bản Chất Độc Tài
Len Duong - Nguyễn Thành Nam
Cuộc thăm dò dư luận Mỹ sau bài nói chuyện của TT Bush trên đài truyền hình gởi đến dân chúng vào ngày 7 tháng 10 vừa qua cho hay rằng 60% dân chúng Mỹ ủng hộ cuộc chiến đánh Iraq, tuy nhiên con số này sẽ ít hơn nếu Mỹ đơn phương thực hiện mà không có sự hậu thuẫn của LHQ. Thứ năm 10/10/2002 vừa qua, Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết mới, với số phiếu 299 thuận và 133 chống, trao quyền cho tổng thống dùng giải pháp quân sự nếu cần, để bắt buộc Iraq thi hành các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, nhất là trong việc giải giới vũ khí có khả năng huỷ diệt quy mô. Thượng viện sau đó đã thông qua nghị quyết này với số phiếu 77 thuận và 23 chống. Đây là thắng lợi to lớn của TT Bush. Thông điệp của TT Bush rất rõ sau khi Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết: Hoặc là Iraq tuân thủ (các nghị quyết của LHQ và việc giải giới), hoặc Iraq sẽ bị bắt buộc phải tuân thủ. Trong nhiều tháng qua, các nhân vật cao cấp nhất của Mỹ đã liên tục lên án Iraq và đòi "thay đổi chế độ", vì theo Mỹ, chế độ này không thể tin tưởng được.
Dù có nhiều khuynh hướng không tán thành chủ trương quân sự của Mỹ (như Pháp, Nga, Trung Quốc v.v.) nhưng có lẽ không ai phủ nhận rằng còn Saddam Hussein và còn các chế độ độc tài thì mối hiểm hoạ vẫn còn treo lơ lửng, nhất là lên trên chính những người dân, nói đúng hơn là nạn nhân của các chế độ độc tài này.
Nói đến Mỹ, Iraq và những diễn biến chính trị quan trọng của thế giới hiện nay, chúng ta không thể không liên hệ những việc tương tự đã và đang xảy ra trên quê hương Việt Nam trong thế kỷ qua. Những vấn đề dù có những lý do và hoàn cảnh khác nhau nhưng tựu chung, đó là vấn đề con người, chiến tranh và những giải pháp thích hợp nhất để giảm thiểu những đổ vỡ xảy ra.
Cuộc chiến tranh chống Pháp của toàn dân Việt Nam đã chịu đựng nhiều gian nan, thử thách và đau thương mà không bút mực nào có thể tả xiết. Sau cuộc tổng nổi dậy bất thành của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày 10 tháng 2 năm 1930, dù bị Thực Dân Pháp đàn áp và khủng bố rất tàn nhẫn, người dân Việt Nam vẫn cương quyết đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhiều tổ chức đã hình thành để đáp ứng nhu cầu đấu tranh ngày một lan rộng, trong đó phải kể đến Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Dân Chính Đảng v.v. và có cả Đảng Cộng Sản Đông Dương do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Sau nhiều lần nỗ lực hợp tác với nhau, các đảng phái quốc gia nhận thấy rằng cộng sản không những không có thiện chí hợp tác để giải quyết vấn đề của đất nước, mà còn dùng đủ mọi cách trí trá để giành ảnh hưởng, kể cả bán đứng các nhà cách mạng yêu nước như cụ Phan Bội Châu, hay thủ tiêu các lãnh đạo tôn giáo và đảng phái quốc gia khác khi có điều kiện.
9 năm kháng chiến chống pháp, các đảng phái quốc gia vừa phải đối đầu với thực dân Pháp, vừa phải chống đỡ những cuộc tấn công tiêu diệt của cộng sản. Sau năm 1954, qua nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu và sống với cộng sản, các lãnh tụ quốc gia tại miền Nam Việt Nam đều thấy ít nhất 3 đặc điểm của cộng sản: Một là họ rất trí trá nên không thể nào tin tưởng được; Hai là họ trở cờ rất nhanh và không bao giờ thành thật hợp tác; Ba là họ rất thiếu tình người, tính nhân bản, nên mới có khẩu hiệu "thà giết lầm còn hơn bỏ sót" hay "cứu cánh biện minh cho phương tiện". Dù biết như vậy nhưng chính quyền miền Nam, từ thời Đệ Nhất đến Đệ Nhị Cộng Hoà, gần như bó tay trước những vi phạm trắng trợn trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị. Cộng sản đã coi thường Hiệp Định Geneve, Hiệp Định Paris, tội ác chiến tranh như Tết Mậu Thân hay Mùa Hè Đỏ Lửa. Sau năm 1975, cộng sản Việt Nam lại tiếp tục ký kết vào các công ước quốc tế về nhân quyền và các quyền dân sự và chính trị, nhưng rồi họ lại tiếp tục vi phạm và chà đạp lên các bản hiệp ước đó, ngay cả cho đến ngày hôm nay. Các bản báo cáo mới đây nhất của Hội Ân Xá Quốc Tế, Tổ Chức Quan Sát Nhân Quyền Quốc Tế, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới, Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả v.v. đã đang và sẽ tiếp tục nói về thực trạng Việt Nam.
Có nhiều người, kể cả giới trẻ, rất thắc mắc là tại sao gần một thập niên qua, chúng ta có chính nghĩa nhưng vẫn thất bại? Tại sao các lãnh tụ quốc gia và các nhà tranh đấu cho Việt Nam biết được bản chất cộng sản nhưng lại bó tay trước sự huỷ hoại tàn khốc về mặt văn hoá, dân trí và dân khí mà cộng sản gây ra cho đất nước và dân tộc? Có cách nào cứu vãn tình trạng bi đát của Việt Nam hiện nay không?
Khi chưa tìm ra được câu trả lời, nhiều người tỏ vẻ thất vọng vì không thấy được kết quả mình đóng góp, không thấy được ánh sáng trên con đường lý tưởng mình đeo đuổi, và vì thế nên bỏ cuộc.
Có một thành phần khác muốn giải quyết Việt Nam bằng giải pháp quân sự. Nhưng nếu người Việt Nam không cầm súng để chiến đấu và đánh đuổi những bóng đen trên quê hương mình thì ai cầm súng dùm cho chúng ta? Nếu chúng ta có khả năng quân sự như Mỹ thì đâu còn gì để nói và bài toán cho Việt Nam có lẽ đã khác rồi. Nhưng giải pháp quân sự chỉ là biện pháp tạm thời, càng kéo dài càng tiêu hao lực lượng, kéo dài nỗi khổ đau của chiến tranh, không ích lợi gì cho người dân. Từ xa xưa, cha ông ta mỗi khi kết thúc cuộc chiến chống quân Nguyên, quân Minh hay quân Thanh, đều dùng giải pháp ngoại giao (chính trị) và mong muốn hoà bình để xây dựng lại đất nước và phục hồi đời sống bình thường cho dân chúng. Chỉ có thời kỳ dưới chế độ cộng sản (sau năm 1954 ở miền Bắc và sau năm 1975 cho toàn Việt Nam) mới có chủ trương gieo mầm hận thù (chính sách tập trung cải tạo v.v.) và tiếp tục đeo đuổi cuộc chiến nhuộm đỏ Đông Nam Á, làm tay sai cho cộng sản quốc tế.
Có những người và những tổ chức, có lẽ vẫn tin vào thiện chí của cộng sản, nên kêu gọi họ trở về với dân tộc, "hoà giải hoà hợp" để cùng nhau xây dựng lại đất nước. Chỉ tiếc rằng cộng sản không có thiện chí gì cả, bắt nhốt hết những ai dám nói khác đảng và chỉ trích đảng là thiếu dân chủ. Không biết khi nào cộng sản sẽ chịu nhường bộ để ngồi xuống và cùng với mọi thành phần khác của dân tộc để chia sẻ việc điều hành đất nước, trừ khi cán cân quyền lực lúc đó "ngang ngửa"!
Cũng có những người và tổ chức khác, vì quá thấu hiểu bản chất cộng sản - thiện chí và hợp tác là hai vấn đề cộng sản không có được - nên vẫn cương quyết đấu tranh: một mặt là nỗ lực thông tin cho đồng bào ở trong nước những sự thật đang xảy ra trên quê hương vì thiếu sự thông tin, hỗ trợ cho các nhà đấu tranh ở trong nước; mặt thứ hai là nỗ lực vận động thế giới để lên án những đàn áp và vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, giảm thiểu các biện pháp kèm kẹp khắc khe trước đây; mặt thứ ba là ra sức đào tạo một thế hệ trẻ, hiểu biết, quan tâm và sẵn sàng gánh vác trách nhiệm của cha anh để cùng với tiềm năng của cộng đồng người Việt ỏ hải ngoại, đóng góp hữu hiệu cho công cuộc đấu tranh và khi có điều kiện có thể về để xây dựng lại đất nước.
Chỉ khi nào hiểu rõ được bản chất của kẻ độc tài thì mới có thể đánh giá đúng mức và có những biện pháp đúng đắn và thích hợp để giải quyết nạn độc tài đó. Trước năm 1975, Tổng thống Nguyên Văn Thiệu đã tuyên bố một câu đi vào lịch sử: "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm". Mới đây, phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng Mỹ Victoria Clarke, nói rằng trường hợp Iraq là "nhìn những gì Saddam Hussein và làm, không phải những gì ông ta nói". Trong trường hợp của Việt Nam cũng không khác gì mấy, vì dù có những thay đổi vá víu để cộng sản có thể tiếp tục duy trì chế độ bằng cách nới lỏng sợi dây thòng lọng cổ, nhưng họ vẫn chủ trương độc quyền mọi thứ, từ văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội đến giáo dục v.v. Mới đây diễn viên Việt Nam ông Đơn Dương, người đóng chung vai với Mel Gibson, tài tử nổi tiếng của Hollywood trong phim We Were Soldiers, đã bị báo chí và chính quyền cộng sản Việt Nam kết tội phản quốc, tịch thu hộ chiếu, có thể ở tù, không được xuất ngoại và không được đóng phim trong vòng 5 năm tới. Sự đàn áp của nhà cầm quyền CSVN lên những nhà đối kháng và đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam trong thời gian qua, trong đó có rất nhiều người là những đảng viên kỳ cựu hay là công thần của họ (như cựu Trung Tướng Trần Độ) cho ta thấy rõ bản chất của CS. Các nhà đối kháng ở trong nước ngày nay đã thấy rõ bản chất của chế độ và ngày càng có nhiều người và nhiều đảng viên của họ nhập cuộc lên tiếng chống lại cái chế độ mà đã làm quá nhiều sai lầm trong hơn nửa thế kỷ qua.
Vẫn phải có những nỗ lực, nhất là từ các vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, để lôi kéo những con người làm nên tội lỗi trở về với chính nghĩa, với dân tộc, nhất là những người lãnh đạo ĐCSVN hiện nay. Nhưng mong đợi ở thiện chí của họ là điều hão huyền, nếu không muốn nói là ảo tưởng, thiếu thực tế. Kẻ độc tài rất sợ ánh sáng, sợ sự thật, sợ những thông tin trung thực, sợ những người hiểu biết và sợ những người can đảm. Nói cách khác, họ sợ tinh thần Bi Trí Dũng. Vì thế lòng yêu nước thương người mà người Việt chúng ta không thiếu, trí tuệ của khối người Việt ở trong và ngoài nước rất dồi dào, và lòng dũng cảm mà tinh thần bất khuất của tiền nhân để lại, là sức mạnh của người Việt hôm nay để đối đầu với nạn độc tài và những thử thách trước mặt. Một khi chúng ta hiểu được bản chất của kẻ độc tài và hiểu được sức mạnh của chính mình thì chià khoá đem lại tự do và dân chủ hoá cho Việt Nam đang nằm trong tay của dân tộc chúng ta.
Nguyễn Thành Nam
Tháng 10 năm 2002