| Những ngày
cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa - kỳ 2
Nguoi Viet - Friday, November 19, 2004 |
|
Tình hình trước Hiệp Ðịnh Ba Lê LTS.- Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hòa” là một
hồi ký của một cựu tướng lãnh cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng
Cao Văn Viên - nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng, được viết bằng Anh ngữ và được dịch
ra Việt ngữ. Nhân 30 Tháng Tư sắp tới, chúng tôi xin đăng tải lại tài liệu
này. (Tiếp theo - kỳ 2) Sau khi họp và duyệt lại những chi tiết của cuộc hòa đàm với
Kissinger ở Hoa Thịnh Ðốn, tổng thống Nixon gởi một điện tín cho Hà Nội, thông
báo nếu Bắc Việt không trở lại thương nghị một cách nghiêm chỉnh, Hoa Kỳ sẽ giội
bom trở lại trong vòng 72 tiếng. Khi không thấy Bắc Việt trả lời, Hoa Kỳ giội
bom trở lại trên toàn lãnh thổ của Bắc Việt. Không chịu nổi cuộc giội bom khủng
khiếp - Hoa Kỳ dùng cuộc giội bom như muốn nói ý định quyết liệt của mình trong
vấn đề thương lượng - Bắc Việt thương lượng trở lại. Theo ý tôi, Bắc Việt đã bị
bắt buộc trở lại bàn hội nghị. Hoa Kỳ ngưng cuộc giội bom khủng khiếp đó vào
ngày 30 tháng 12 năm 1972. Tám ngày sau, ngày 8 tháng 1, năm 1973, Kissinger gặp Lê Ðức Thọ.
Lần nói chuyện này khả quan hơn. Hai bên duyệt xét lại bản sơ thảo của hiệp định
từng điểm một. Vào ngày 14 tháng 1, Kissinger báo cáo với tổng thống Nixon về
những tiến triển khả quan của cuộc họp. Ngày hôm sau, Hoa Kỳ ra lệnh tất cả các
đơn vị Hoa Kỳ ngưng tấn công Bắc Việt. Ngày 16 tháng 1, chuẩn tướng Haig đến Sài Gòn. Chính phủ Việt Nam
Cộng Hòa vẫn còn đòi hỏi sửa đổi một vài quy tắc trong bản hiệp định. Nhưng vào
ngày 19 tháng 1, Hoa Kỳ thông báo chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bản hiệp định
không còn thay đổi được nữa. Bản hiệp định sẽ được thảo duyệt lần cuối vào ngày
23 tháng 1, và bốn bên sẽ chánh thức ký vào ngày 27 tháng 1 tại Ba Lê. Hiệp định
sẽ có hiệu lực vào lúc 8 giờ sáng, ngày 28 tháng 1 năm 1973, giờ Sài Gòn. Ðược
biết thêm, vào ngày 21 tháng 1, tổng thống Nixon có gởi cho tổng thống Thiệu một
lá thư, hăm dọa Việt Nam Cộng Hòa là nếu Việt Nam Cộng Hòa từ chối hiệp định,
Hoa Kỳ sẽ ký một mình, và khi chuyện đó xảy ra, Hoa Kỳ sẽ cắt tất cả ngân khoản
viện trợ. Nếu Việt Nam Cộng Hòa đồng ý ký bản hiệp định thì (1) tổng thống Hoa
Kỳ sẽ hết lòng can thiệp với quốc hội Hoa Kỳ để tiếp tục viện trợ cho Việt Nam
Cộng Hòa và (2) chính phủ Hoa Kỳ hứa sẽ phản ứng quyết liệt trong trường hợp
cộng sản Bắc Việt vi phạm hiệp định. Sau nhiều buổi họp với hội đồng an ninh
quốc gia và thảo luận với nhiều nhân vật có tiếng nói ở quốc hội và các cơ quan
hành chánh, tổng thống Thiệu viết cho tổng thống Nixon một lá thư đồng chấp nhận
hiệp định Paris. Trong thư tổng thống Thiệu đề nghị một cuộc họp mặt giữa Hoa Kỳ
và Việt Nam sau khi hiệp định Paris được ký kết. Như những gì đã xảy ra ở hội nghị Bình Nhưỡng giữa Ðồng Minh và Bắc
Hàn, trong cuộc chiến tranh Ðại Hàn hai mươi năm về trước: cộng sản dùng bàn hội
nghị như là một nơi để tuyên truyền; trong khi tiếp tục kế hoạch của họ ở chiến
trường. Chiến thuật “đả đả, đàm đàm” là một chiến thuật vừa đánh vừa đàm cố hữu
của cộng sản. Khi đối đầu với cộng sản, kiên nhẫn và cương quyết trong các đòi
hỏi là một tất yếu. Phải sử dụng áp lực quân sự như một phương tiện để lấy được
thế chính trị. Nói một cách khách quan, Hiệp định Paris không hoàn hảo: Hoa Kỳ
hoàn tất rút quân ra khỏi Việt Nam và lấy lại tù binh. Cộng sản Bắc Việt giữ
nguyên vị trí đóng quân của họ; và Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại (hoạt động) như
một quốc gia với một chính phủ của mình 18. Phản ứng của Việt Nam Cộng
Hòa Ðối diện với một hiệp ước bất tương xứng - một hiệp ước chỉ tương
xứng và hoàn hảo khi bên ta thắng và bắt phía kia đầu hàng - Việt Nam Cộng Hòa
tìm một kế hoạch để sinh tồn. Bây giờ phải có kế hoạch chính trị quân sự để
đương đầu với một tình hình mới. Việt Nam Cộng Hòa đoán được CSBV sẽ làm gì dựa
vào những kinh nghiệm học được từ hiệp định Geneve 1954, và từ tài liệu tịch thu
của cộng sản, Bộ Tổng Tham Mưu khởi sự một kế hoạch có mật hiệu là Trần Hưng Ðạo
II. Kế hoạch đưa ra những dự trù cho mọi hoàn cảnh khi cộng sản tấn công. Kế
hoạch được dẫn giải cho tất cả các đơn vị của quân lực. Nhờ kế hoạch Trần Hưng
Ðạo II miền Nam không bị bất ngờ trong những kế hoạch chống lại những âm mưu
chiếm đất giành dân của cộng sản. Về bình diện chính trị, chính phủ thực hiện một kế hoạch 5 năm nhắm
vào phát triển nông thôn. Một đảng chính trị có tên là Dân Chủ ra đời để chuẩn
bị đối chọi ảnh hưởng chính trị với cộng sản. Ða số cấp lãnh đạo đảng Dân Chủ là
nhân viên cao cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ðến giữa năm 1973 một phần
của cơ sở chính quyền được tái phối trí. Ðể cơ động hóa và giải thích rõ ràng
đường lối của chính phủ, một kế hoạch khác được mệnh danh là cách mạng hành
chánh được phát động. Cho đến giữa năm 1973, mười lăm ngàn nhân viên các cấp
hành chánh hoàn tất cuộc huấn luyện 19. Cao Văn Viên CHÚ THÍCH: (1) Lần đầu tiên trong cuộc chiến, Bộ Tổng Tham Mưu
không còn quân tổng trừ bị khi hai sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến hành quân ở
Vùng I. Tình trạng trên được cải thiện sau 1972 (Xem tiểu mục tổ chức quân lực
Việt Nam Cộng Hòa ở Chương 4) (chú thích của tác giả) (2) Theo Larry Berman trong No Peace, No Honor, trang 23, phái đoàn
Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đến Paris ngày 9 tháng 5, và nói chuyện với Bắc Việt
lần đầu vào ngày 13 tháng 5, 1968 (chú thích của dịch
giả) (3) Cùng ngày, tổng thống Thiệu đọc một diễn văn
trước quốc hội nói đến lập trường sáu điểm này. Ðọc Ðoàn Thêm, 1969: Việc Từng
Ngày, trang 119. (4) Trên thực tế Hoa Kỳ đã bắt đầu giảm thiểu số
quân có mặt tại Việt Nam từ tháng 7, 1969. Khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng
8, 1969, Hoa Kỳ “tái phối trí” 25 ngàn quân. Xem Jeffrey Clarke, Advice and
Support: the Final Years, Phụ Bản C, trang 524 (chú thích của dịch
giả) (5) Bộ Tư Lệnh MACV biết điểm tụ quân và kế hoạch
tấn công của Bắc Việt từ tháng 1, 1972. Ðại tướng Abrams và Tổng Tham Mưu Trưởng
Liên Quân, Ðô đốc Thomas Moore, xin lệnh của Nixon và Henry Kissinger dùng B-52
phá hủy các điểm tập trung quân và xe tăng của địch, nhưng bị từ chối ba lần.
Nixon và Kissinger muốn cho Bắc Việt tấn công trước rồi mới phản ứng. Ðọc Lewis
Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America's
Last Years in Vietnam (Harvest Books: New York, 1999), trang 307 - 321; Dale
Andradé, Trial by Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle
(Hippocrene Books: New York, 1995) trang 24 - 30; Philip B. Davison, Vietnam at
War: The History 1946 - 1975 (Oxford University Press: Oxford, 1988) trang 669;
Ngô Quang Trưởng, The Easter Offensive of 1972 (Center of Military: Washington,
D.C., 1980), trang 9 - 14. Hai tác giả Lewis Sorley và trung tướng Philip
Davison là sĩ quan tình báo cao cấp của CIA và MACV (chú thích của dịch
giả) (6) Tác giả Cao Văn Viên muốn nói đến hai trung gian
người Pháp tên Hertbert Marcovich và Raymond Aubrac, mà Kissinger nhờ đi Hà Nội
để nhắn đề nghị của tổng thống Johnson với Hồ Chí Minh vào cuối tháng 7, 1967.
Marcovich là bạn của Kissinger; Aubrac là bạn của Marcovich; Aubrac quen thân
với Hồ Chí Minh từ năm 1946. Kissinger liên lạc với Aubrac qua Marcovich. Sau
lần liên lạc ở Hà Nội, tất cả các liên lạc về sau xảy ra ở Ba Lê giữa Mai Văn Bộ
và Aubrac. Xem David Kraslow và Stuart H. Loory, The Secret for Peace in Vietnam
(Vintage Books: New York 1968), trang 219 - 224. Cộng sản Việt Nam viết về những
hội họp bí mật này trong, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Tiếp xúc bí mật Việt Nam
- Hoa Kỳ trước hội nghị Paris (Hà Nội: Quân Ðội Nhân Dân, 2000) (chú thích của
dịch giả) (7) Tất cả chi tiết về những lần nói chuyện bí mật
giữa Henry A. Kissinger và Lê Ðức Thọ được trích theo quyển Kissinger (Boston -
Toronto: Little, Brown and Co., 1974) của Bernard Kalb và Marvin Kalb (ghi chú
của tác giả) (8) Kissinger, trang 183 - 184 (ghi chú của tác
giả) (9) Trong lần mật đàm ngày 12 tháng 7, 1971, Lê Ðức
Thọ năn nỉ Hoa Kỳ phải thay chính phủ Nguyễn Văn Thiệu bằng một chính phủ khác
trong kỳ bầu cử tháng 10 năm 1971. Có lúc Lê Ðức Thọ nhắn với Kissinger là
“...có nhiều cách để thay Thiệu nếu quý ông muốn hạ bệ hắn [Thiệu]”. Kissinger
hiểu Lê Ðức Thọ muốn nói đến chuyện ám sát. Xem Larry Berman, sách đã dẫn, trang
106 - 109; Trong The Palace File của Nguyễn Tiến Hưng và Jerrol L. Schecter,
trang 80 - 81 cũng có bàn đến chuyện ám sát đó (chú thích của dịch
giả) (10) Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 354 (chú thích
của tác giả) (11) Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 359, 361 (chú
thích của tác giả) (12) William H. Sullivan là phó trưởng đoàn Hoa Kỳ ở
Hội Nghị Geneva về Lào năm 1962; đại sứ ở Lào từ năm 1964 đến 1969. George
Alrich là phó thứ trưởng phòng pháp lý Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Hai người này đến
Ba Lê để duyệt lại những quy tắc của bản hiệp định (chú thích của tác
giả) (13) Mười lăm giờ [ba giờ chiều] ngày 17 tháng 10
năm 1972, tổng thống Thiệu ra lệnh đem tài liệu nói trên về Sài Gòn. Ba chuyến
phi cơ L-19 thay phiên nhau đem tài liệu về đến Sài Gòn lúc nửa đêm. Sáng hôm
sau tổng thống Thiệu đưa cho Kissinger tài liệu đó. Nội dung cho thấy các đơn vị
cộng sản sẽ chuẩn bị thực hiện chiến dịch “Chiếm Ðất Giành Dân”, bắt đầu vào
ngày 22 tháng 10, 1972 (chú thích của tác giả) (14) Sách của Marvin Kalb và Bernard Kalb ghi 26 điểm cần được thay
đổi (sách đã dẫn, trang 368), sách của Larry Berman ghi là 64 điểm (sách đã dẫn,
trang 164 - 165) (chú thích của dịch giả) (15) Trong năm 1972, Hoa Kỳ viện trợ cho quân đội
Việt Nam Cộng Hòa hai lần trong kế hoạch mang tên ENHANCE và ENHANCE PLUS. Kế
hoạch ENHANCE bắt đầu vào tháng 5, 1972 sau khi cộng sản tấn công trận “Mùa Hè
Ðỏ Lửa”, kế hoạch ENHANCE PLUS bắt đầu vào tháng 10, 1972. Chương trình quân
viện sau cùng này vừa thay thế số chiến cụ bị mất trong trận vừa qua, vừa tiếp
viện để lấy lòng Việt Nam Cộng Hòa trước khi hiệp định Ba Lê có hiệu lực. Từ
ngày 23 tháng 10 cho đến 12 tháng 12, 1972, Hoa Kỳ đưa sang năm ngàn tấn vũ khí.
Xem Jeffrey J. Clarke, Advice and Support: The Final Years, trang 452 - 453 (chú
thích của dịch giả) (16) Theo Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 393, 400
(chú thích của tác giả) (17) Kalb và Kalb, sách đã dẫn, trang 410 - 411 (chú thích của tác
giả) (18) Thông thường, các hiệp định đình chiến đòi hỏi
hai phe tham chiến tập trung vào hai vùng riêng biệt, ngăn cách bởi một khu phi
quân sự hay một ranh giới rõ rệt. Khuyết điểm quan trọng nhất của hiệp định Ba
Lê đã đưa đến hậu quả tai hại sau này là việc không đề cập đến, và không bắt
buộc quân đội Bắc Việt rút ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy hiệp định
Ba Lê có thể so sánh như một sợi dây thòng lọng Việt Nam Cộng Hòa phải mang vào
cổ, chờ ngày bị siết chặt cho đến chết. Dựa theo một số tài liệu được giải mật
gần đây, tác giả Larry Berman, trong No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and
the Betrayal in Vietnam, đã viết rất rõ về thực chất và ý nghĩa của hiệp định Ba
Lê. Theo tác giả Berman, vào ngày kỷ niệm năm thứ 25 ngày ký hiệp định Ba Lê,
Kissinger tuyên bố là, không có một pháp lý nào ràng buộc lời hứa của Nixon đối
với Việt Nam Cộng Hòa trong hiệp định. Tác giả Kenneth B. Young (qua bản dịch
Việt ngữ của Nguyễn Vạn Hùng) viết về sự nhận xét của đại sứ Ellsworth Bunker
đối với Kissinger: “Sự hiểu biết của ông ta [Kissinger] về Việt Nam bị ảnh hưởng
bởi một số chánh khách Pháp, nên ông ta coi thường người Việt quốc gia và có
nhiều cảm tình với cộng sản. Do đó Kissinger đã nhượng bộ nhiều trong cuộc mật
đàm với Bắc Việt (chú thích của tác giả) (19) Không biết đó là một dự tính hay một trùng hợp,
sau khi Việt Nam Cộng Hòa thực hiện được một số kế hoạch trong 90 ngày (X Plus
90) sau khi ký hiệp định, đại sứ Ellsworth Bunker kết thúc vai trò đại sứ của
ông ở Sài Gòn. Trong tờ tường trình thứ 69 cho tổng thống, ông ghi lại nhiều chi
tiết về những cố gắng của Việt Nam Cộng Hòa trong gần sáu tháng của năm 1973.
Xem tường trình cuối cùng của Bunker cho tổng thống Nixon (Bunker bắt đầu viết
từ 3 tháng 5, 1967 cho đến ngày cuối là 5 tháng 5, 1973, qua hai thời tổng thống
Johnson và Nixon) trong The Bunker Papers (University of California, Berkeley:
1990) trang 852. (Chú thích của dịch giả). |
|
|
Nguoi-viet Online http://www.nguoi-viet.com/ |