|
LỘT
TRẦN HUYỀN
THOẠI HỒ
CHÍ MINH (Bài 1)
1.-
HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI CHA
Theo sách Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, của
nhà xuất bản Sự thật (Hà Nội), Hồ Chí Minh "sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, nguồn gốc
nông dân. Cụ thân sinh ra
Người [họ Hồ] là Nguyễn
Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929) ...đỗ phó bảng và sống
thanh bạch bằng nghề dạy học. Ðối
với các con, cụ giáo dục ý thức lao động và cho học tập
để hiểu "đạo lý làm người".
Sau khi đỗ phó bảng, bị bọn thống trị thúc ép nhiều lần,
cụ ra làm quan, nhưng thường tỏ thái độ tiêu cực, không hợp
tác với chúng. Cụ thường nói: "Quan trường thị nô lệ
trung chi nô lệ, hựu nô lệ", nghĩa là "Quan trường
là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn".
Vốn có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường
chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp, cho nên sau
một thời gian rất ngắn, cụ bị chúng cách chức.
Cụ vào Nam bộ làm nghề thầy thuốc, sống cuộc đời
thanh bạch, cho đến lúc từ trần."(1)
Ông Nguyễn Sinh Sắc quả thật đã đỗ phó bảng năm
1901 (tân sửu) cùng một lần với Nguyễn Ðình Hiến, Phan Chu
Trinh.(2) Tuy nhiên, Nguyễn
Sinh Sắc không hề bị "bọn
thống trị thúc ép nhiều lần" sau khi đỗ phó bảng mới
chịu ra làm quan. Ông Sắc
đã xin đi làm quan ngay sau khi đỗ cử nhân và trước khi đỗ
phó bảng. Nguyên vào năm
1894, Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An.
Năm sau (1895), ông Sắc vào Huế thi hội bị hỏng, đã xin
đi làm hành tẩu bộ Hộ. Ba
năm sau, ông hỏng kỳ thi hội một lần nữa vào năm 1898.(3) Trước khi dự kỳ thi hội năm 1901, ông Sắc còn
tham dự hội đồng giám khảo chấm thi kỳ thi hương tại Bình
Ðịnh năm 1897 và Thanh Hóa năm 1900.(4)
Sau khi đỗ phó bảng trong kỳ thi hội và thi đình năm
1901, ông làm thừa biện bộ Lễ từ 1902 đến 1909, rồi đi tri
huyện Bình Khê (Bình Ðịnh) tháng 5 năm đó.
Từ thừa biện đi tri huyện là thăng
chức chứ không phải xuống chức.(5).
Nguyễn Sinh Sắc bị sa thải chứ không phải bị cách chức.(6)
Lý do sa thải cũng không phải vì "vốn
có tinh thần yêu nước, khảng khái, cụ thường chống đối
bọn quan trên và bọn thực dân Pháp ".
Ông bị sa thải vì đã hành xử tàn bạo với dân chúng.
Trong một cơn say rượu, Nguyễn Sinh Sắc đã dùng roi mây
trừng phạt và đánh chết một người tù vào tháng 1-1910.
Gia đình người nầy kiện lên cấp trên. Dù tri huyện Nguyễn Sinh Sắc đã chối cãi rằng
không phải vì trận đòn của ông mà người kia chết, ông vẫn
bị triều đình ra sắc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh 100 trượng.
Hình phạt nầy được chuyển đổi qua hạ bốn cấp quan lại
và sa thải.(7) Lý do chuyển
đổi hình phạt để Nguyễn Sinh Sắc khỏi bị đánh đòn có lẽ
nhắm giữ thể diện của một quan chức triều đình, và nhất
là vị nầy lại là người có học vị cao.
Ông Sắc nghiện rượu từ khi còn ở Huế.
Chị của Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), vào
Huế thăm cha năm 1906. "Bà
không thể chịu đựng lâu ngày thái độ cộc cằn thô lỗ của
cha bà, nay đã mắc phải tật nghiện rượu và thường hay đánh
đập bà ".(8) Do đó,
năm sau bà bỏ Huế ra Nghệ An trở lại, mà không sống với
cha. Phải
chăng câu: "Quan trường thị nô
lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ " (Quan trường là nô
lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn) là do những
cán bộ cộng sản bịa ra, rồi gán cho ông Nguyễn Sinh Sắc để
đả kích chế độ quân chủ? Hay
phải chăng vì bị đuổi ra khỏi ngành quan lại nên Nguyễn Sinh
Sắc mới bất mãn và thốt lên câu:
"Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ
" (Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại
càng nô lệ hơn). Nếu
không, Nguyễn Sinh Sắc hăng hái xin đi làm quan làm gì, và sau
nầy con ông, Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) còn gởi thư đến
viên Khâm sứ Pháp tại Huế xin cho ông một chức quan nhỏ nữa.
Ngày
26-2-1911, Nguyễn Sinh Sắc xuống tàu từ Ðà Nẵng vào Sài Gòn.
Ông ở lại Sài Gòn một thời gian, dạy chữ Nho cho nhà
báo Diệp Văn Kỳ,(9) rồi đi Lộc Ninh làm giám thị đồn điền.
Từ đó, ông không bao giờ trở ra Nghệ An.
Ông sống lang thang ở miền Nam bằng nghề đông y, và
nghề viết liễn đối cho dân chúng.
Gần cuối đời, ông đến định cư tại làng Hội Hòa
An, Sa Ðec, và từ trần ngày 29-11-1929.(10)
Khi Nguyễn Sinh Sắc bị bãi chức và sống lang thang nghèo
khổ ở miền Nam, con ông ta là Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí
Minh, ra nước ngoài năm 1911, đã viết thư từ New York ngày
15-12-1912 cho viên khâm sứ Pháp tại Huế tha thiết "... cầu
mong Ngài [chỉ khâm sứ Pháp] vui lòng cho cha tôi [cha của Thành tức ông Sắc]
được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc
huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan
tâm cao quý của Ngài..."(11)
Vậy huyền thoại về người cha của Hồ Chí Minh là một
người yêu nước, chống đối chính quyền Pháp nên bị cách
chức, là chuyện hoàn toàn bịa đặt do Ban Nghiên cứu Lịch
sử trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam đưa ra nhắm là tăng
giá trị cho lãnh tụ của họ.
Tưởng cũng nên thêm ở đây một phát hiện của ông
Trần Quốc Vượng, sử gia Hà Nội hiện nay.
Trong sách Trong cõi của Trần
Quốc Vượng, có bài "Lời truyền miệng dân gian về nỗi
bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền
dã)". Phần cuối của bài
nầy cho biết rằng ông Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân của Hồ Chí
Minh, không phải là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm.
Trước khi đám cưới, bà vợ của ông Nguyễn Sinh Nhậm
đã có mang với cử nhân Hồ Sĩ Tạo, cho nên ông Nguyễn
Sinh Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ của ông Nguyễn
Sinh Sắc mà thôi. Ông Trần
Quốc Vượng viết: "Nguyễn Ái
Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích
thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ
Nguyễn Sinh Nhậm". (12) 2.-
HUYỀN THOẠI RA ÐI TÌM ÐƯỜNG CỨU NƯỚC
Tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam đều viết rằng
ngày 5-6-1911, thanh niên Nguyễn Tất Thành đã xuống tàu Amiral
Latouche-Tréville để ra đi
tìm đường cứu nước. Sau
đây là lời trong sách Lịch sử
Việt Nam của nhà cầm
quyền cộng sản Hà Nội:
"Sự thất bại của các phong trào Ðông Du, Ðông Kinh Nghĩa
Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế
ở các tỉnh Trung Kỳ mà Người [Hồ Chí Minh]
từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học Huế, đã thôi
thúc Người [HCM] hướng về
các nước Tây Âu, mong muốn được đến "tìm xem những
gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái".
Sau khi rời Huế vào Phan
Thiết ... ...Ðược ít lâu, lấy tên là Văn Ba, Người [HCM] xin làm phụ
bếp trên chiếc tàu thủy Ðô đốc La Tusơ Tơrêvin (La Touche
Tréville), thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp, để đi ra
nước ngoài "xem nước Pháp và các nước khác làm như
thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào"..."(13)
Sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp của
nhà xuất bản Sự Thật giải thích sự ra đi của Hồ Chí Minh
cũng gần giống như thế: "... Ít
lâu sau, Hồ Chủ tịch vào Sài Gòn.
Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa cũng chẳng khác gì
Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ
nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột,
đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục.
Ðiều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang các nước
Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà
trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về "giúp
đỡ đồng bào" đánh đuổi thực dân Pháp.
Ý định ấy của Người [HCM]
đã dẫn Người từng bước đi tới tìm một phương hướng
mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta."(14)
Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,
cũng do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn
tác giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh
nói về lý do ra đi như sau:"...Tôi
muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác.
Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp
đồng bào chúng ta..."(15)
Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh.
Ông dùng một tên khác viết sách tự ca tụng mình.
Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, đã có nhiều người
viết sách về hoạt động của mình, đôi khi để tự khen mình,
hoặc để biện hộ cho những việc làm của mình, nhưng họ đề
tên thật, chịu trách nhiệm về những điều họ viết.
Hồ Chí Minh dùng một tên
khác tự ca tụng mình là một sáng kiến kỳ lạ chưa một người
tự trọng nào dám nghĩ đến.
Như thế, qua các sách của nhà cầm quyền cộng sản và
qua chính những lời viết của Hồ Chí Minh, ông ta đi ra nước
ngoài nhắm mục đích tìm đường cứu nước, nhưng trong thời
gian gần đây, nhiều tác giả đã tìm được những chứng
liệu cụ thể cho thấy rằng Hồ Chí Minh ra đi không phải để tìm
đường cứu nước, mà chỉ vì lý do kinh tế gia đình.
Trong bài "Từ mộng làm quan đến đường cách mạng
Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Ðịa", hai tác giả Nguyễn Thế
Anh và Vũ Ngự Chiêu đã phổ biến ảnh sao (photocopy) hai lá
thư của Nguyễn Tất Thành đề ngày 15-9-1911 gởi cho tổng thống
Pháp và bộ trưởng bộ Thuộc Ðịa Pháp, xin hai ông ban ân
huệ cho Thành được đặc cách vào học Trường Thuộc Ðịa
Paris, nơi đào tạo quan lại cho các thuộc địa Pháp trong đó
có Ðông Dương. Phần chính
trong nội dung của hai lá thư nầy hoàn toàn giống nhau.
Ðó là: "Tôi xin trân
trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân
được nhận vào học nội trú Trường Thuộc Ðịa.
Tôi hiện đang làm công trong công ty Chargeurs Réunis để
sinh sống (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).
Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất
khao khát học hỏi. Tôi
ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng
bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được ích
lợi của nền học vấn..."(16)
Hai lá đơn trên đều bị bác, Nguyễn Tất Thành tiếp tục
hành nghề trên các tàu biển. Ngày
15-12-1912, từ New York, Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Thành gởi đến viên
khâm sứ Pháp tại Huế một lá thư rất thống thiết xin một
đặc ân là ban cho cha là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc nhỏ
như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có điều kiện sinh
sống.
Hai lá đơn trên cùng với lá thư gởi năn nỉ viên khâm
sứ Pháp tại Huế cho thấy lúc mới ra đi, Nguyễn Tất Thành
chỉ nhắm mục đích sinh nhai. Vì sinh kế gia đình, lúc đó Nguyễn Tất Thành
sẵn sàng thỏa hiệp với người Pháp để kiếm một chức
quan cho cá nhân ông (bằng cách xin vào học Trường Thuộc
Ðịa), hoặc cho phụ thân ông. TRẦN
GIA PHỤNG
CHÚ
THÍCH : 1.
Ban Nghiên cứu Lịch sử
đảng trung ương (BNCLSÐ), Chủ tịch
Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in 2.
Cao Xuân Dục, Quốc triều đăng
khoa lục, bản dịch của Lê Mạnh Liêu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục,
Sài Gòn, 1962, tt. 234-240. 3.
Trần Quốc Vượng, Trong cõi,
Nxb. Trăm Hoa, California, 1993, tr. 257 4.
Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l
' Indochine au Vietnam [Hồ Chí Minh, từ Ðông Dương đến Việt
Nam] , Nxb. Gallimard, Paris, 1990. tt. 131-132. 5.
Bình Khê nằm về phía tây huyện Tuy Phước. (Bình Khê là
quê của bà Bùi Thị Xuân, thi sĩ Quách Tấn).
Thừa biện là một chức quan nhỏ ở một bộ, thừa hành
một nhiệm vụ nào đó do cấp trên giao phó trong một thời
gian. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn,
Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1996, tr. 229)
Phan Chu Trinh đỗ phó bảng xong làm thừa biện bộ Lễ.
Hoàng Diệu đỗ phó bảng xong làm hàn lâm viện kiểm
thảo cũng là một chức quan nhỏ, lo việc biên duyệt sách vở
cho Hàn lâm viện, rồi mới được bổ tri huyện Tuy Phước, Bình
Ðịnh. 6.
Cách chức là không được giữ chức vụ cũ, hạ thấp
chức vụ và công việc, nhưng vẫn còn được làm quan.
Ở đây, ông Nguyễn Sinh Sắc chẳng những bị hạ chức
mà còn bị đuổi không cho làm quan nữa, tức sa thải ra khỏi
ngành quan lại. 7.
Daniel Hémery, sđd. tr. 133. Theo Thành Tín, tức Bùi Tín, nạn nhân của
Nguyễn Sinh Sắc là một nông dân tên Tạ Ðức Quang. (Thành Tín,
Mặt thật, Hồi ký chính trị của Bùi Tín, Nxb. Saigon
Press, California, 1993, tr. 95.) 8.
Daniel Hémery, sđd. tr. 133. Nguyên văn: "...elle
ne put supporter longtemps les brutalités de son père qui avait contracté
des habitudes d' ivrognerie et la frappait très souvent..."
Thành Tín, trong sđd.
tr. 95 viết: "Ông Nguyễn Sinh
Huy vốn nghiện rượu rất nặng khi còn ở Huế, bà Thanh kể
rằng hồi ấy cứ lên cơn thèm rượu và say rượu là bà bị
ông bố đánh bằng tay và bằng roi rất tàn nhẫn." 9.
Diệp Văn Kỳ (1895-1945): Ông là con của Diệp Văn Cương
và Công Nữ Thiện Niệm. Bà
nầy là em vua Dục Ðức (1883) và cô của vua Thành Thái (trị
vì 1889-1907). Ông giỏi Nho học,
Tây học, đã du học Pháp, đỗ cử nhân luật.
Khi về Sài Gòn, ông sang tờ Ðông
Pháp Thời Báo, rồi xuất bản tờ Thần
Chung. Tờ nầy bị đình bản năm 1932.
Ông mất tại Trảng Bàng năm 1945. 10.
Daniel Hémery, sđd. tr. 134. Theo các tài liệu cộng sản Việt Nam, ông Sắc
từ trần và chôn ở Cao Lãnh. Theo
tổ chức hành chánh hiện nay ở Việt Nam, Cao Lãnh và Sa Ðéc
là hai thị xã nằm gần nhau trong tỉnh Ðồng Tháp.
Nghề viết liễn đối: ngày trước, khi trong nhà có việc
vui hay buồn như đám cưới, đám ma..., người ta thường tặng
những câu liễn đối bằng chữ Nho, mang nội dung chúc mừng
hay chia buồn chủ nhà. Muốn
viết hay, người viết phải có trình độ Nho học cao. 11.
Thành Tín [tức Bùi Tín], Mặt
thật, sđd. tr. 95-96.
Lê Văn Tiến, nguyệt san Thế
Kỷ 21, Garden Grove, California, số 116, tháng 12-1998 tt. 52-53.
Thư ngày 15-12-1912 của Paul Tất Thành viết bằng chữ Pháp
từ New York. 12.
Trần Quốc Vượng, sđd.
tr. 258. Trần Quốc Vượng còn
thêm rằng chính ông Hồ Sĩ Tạo đã vận động cho Nguyễn Sinh
Sắc vào học trường Quốc tử giám ở kinh đô Huế. (sđd.
tr. 256) 13.
Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, và một số tác giả, Lịch
sử Việt Nam, tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1985, tr.
145. Sách nầy viết sai chữ
"La Touche Tréville". Ðúng
ra là "Latouche-Tréville". Chữ
"Người" với chữ N (hoa) trong nguyên bản.
Chúng tôi giữ nguyên cách viết trong bộ Lịch
sử Việt Nam. 14.
BNCLSÐ, sđd. tr. 15. 15.
Trần Dân Tiên, Những mẩu
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Sự Thật,
Hà Nội 1976, tr. 13. 16.
Ðăng trên nguyệt san Ðường
Mới số 1, Paris, 1983, từ trang 8 đến trang 25. |