MÙA XUÂN ÐEN TỐI
Cái Tết Việt
Cái di sản sinh
hoạt văn hóa tư tưởng ấy bắt đầu từ thuở Hùng Vương cho đến tận những năm đầu của
thập niên 50, có ai nghĩ và nhớ lại rằng cái Tết đã bị cố tình phá bỏ, chà đạp
tàn bạo bởi ông Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản chóp bu cầm quyền ở xung quanh
ông ta. Có thể nói rằng, hơn bốn ngàn năm lịch sử của Việt Nam, chưa có một
triều đại nào, một tập đoàn cầm quyền nào - là người Việt Nam - đề ra đường lối
phá hoại các di sản văn hóa, kiến trúc, sinh hoạt tư tưởng... của dân tộc Việt Nam
như ông Hồ chí Minh và tay chân thân tín. Cố tình xóa bỏ cái Tết truyền thống
của dân tộc để thay vào cái “Tết” thành lập đảng (cộng sản) 3-2 và “Tết” độc
lập 2-9, nhưng ông Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế ông ta đã thất bại thảm hại,
tuy rằng việc thực thi chính sách “phản dân hại nước” đó có làm tổn thương sâu
đậm đến cả cơ sở vật chất lẫn ý thức xã hội về truyền thống của dân tộc ta. Khái
niệm cách mạng - thực ra là tiến bộ
và tốt đẹp - đã bị ông Hồ chí Minh và những kẻ thừa kế ông ta lạm dụng làm bình
phong che đậy những chính sách và những hành động vừa lạc hậu vừa tàn bạo, gây
nhiều hậu quả tai hại nghiêm trọng và lâu dài cho đất nước và dân tộc Việt Nam,
còn hơn cả quân xâm lược ngoại bang.
Tết cổ truyền
của Việt Nam bị ông Hồ chí Minh và các đệ tử của ông ta đặt trong phạm trù “hủ
tục lạc hậu”, cần phải “cách mạng” lại.
Nỗi khát
khao ÐỘC LẬP, TỰ DO của nhân dân Việt Nam những năm trước 1945 cộng với sự thiếu thông
tin và những thủ đoạn tuyên truyền bịp bợm của những người cộng sản Việt Nam do
ông Hồ chí Minh lèo lái và đào tạo là những yếu tố hợp thành với những yếu tố
khác nữa, đưa đến sự thành công của ông Hồ chí Minh trong việc giành được cái
ghế chủ tịch nước của Việt Nam dưới chế độ cộng hòa.
Cái tên Hồ chí
Minh, trong những năm đầu của thập niên bốn mươi, được gắn liền vơí các huyền
thoại. “Hình như” Hồ chí Minh là Nguyễn ái Quốc. “Nghe nói” Hồ chí Minh là một
nhà nho yêu nước, được cụ Phan bội Châu “kính nể”. “Lại nghe nói” Hồ chí Minh
là hậu duệ của Quang Trung Nguyễn Huệ (nguyên là họ Hồ), gốc gác xa xưa là giòng
dõi vua Nghiêu bên Tàu, có chí lớn là đánh đuổi giặc Pháp giành lại độc lập cho
Việt Nam, đồng thời cũng sẽ nối chí của Quang Trung là lấy lại đất cũ của Việt
Nam là lưỡng Quảng (Quảng Ðông và Quảng Tây). “Nghe nói” cụ Hồ chí Minh mỗi mắt
có hai con ngươi giống công tử Trùng Nhĩ
bên Tàu, làm nên nghiệp bá - tức Tấn văn Công thời Ðông Chu. Những huyền thoại
đó lan từ miền núi xuống đồng bằng; từ nông thôn về thành thị và cuối cùng nó
không còn là huyền thoại nữa mà được coi như “sơ yếu lý lịch” của ông Hồ chí
Minh. Chẳng thế mà cuối tháng 8-1945, khi ông Hồ chí Minh từ Thái- nguyên về
Hà-nội, các thành viên là cộng sản trong Việt Minh ở huyện Gia-lâm đã tổ chức
đón như đón Vua: cũng hương án khói
nhang nghi ngút, cờ quạt, chiêng, trống, quan viên, bô lão trong làng, xã của
huyện mặc áo thụng qùy lễ vọng hai bên đường.
Chính phủ Liên
hiệp mà ông Hồ chí Minh là chủ tịch; cụ Nguyễn hải Thần là phó chủ tịch; cố vấn
chính phủ là cựu hoàng Bảo Ðại và các thành viên của chính phủ còn bao gồm
những nhân sỹ trí thức yêu nước như cụ Huỳnh thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi bằng
Ðoàn, Nguyễn văn Tố... là đặc trưng của nền dân chủ sơ khai của nước Việt Nam
độc lập của những năm 1945-46... Cho nên ông Hồ chí Minh vẫn còn khoác áo của
một “người Việt Nam yêu nước và... dân chủ”. khi nói với đám đông, bao giờ ông
Hồ chí Minh cũng lễ phép “kính thưa các cụ phụ lão...” và xưng là “tôi”. Những “hiện
tượng tiêu cực” lúc đó trong xã hội Việt Nam mới giành được độc lập, ông Hồ chí
Minh đều “chân thành” nhận lỗi về phần chính phủ và cá nhân ông ta. Ngày Tết
dân tộc, ông Hồ chí Minh tặng quà cho các cụ già nhiều tuổi và các cháu nhỏ theo
đúng truyền thống dân tộc là “kính trên nhường dưới”. Quan điểm, hành vi lúc ấy
của ông Hồ chí Minh đã đoàn kết được nhân dân Việt Nam, đã được nhân dân Việt
Nam bao gồm các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo... “hòa thuận, hòa giải, hòa hợp”
để bảo vệ và xây dựng đất nước. Ðáng tiếc là nhân dân Việt Nam đã bị lừa. Ông Hồ
chí Minh và những người cộng sản cầm quyền xung quanh ông ta đã lừa bịp nhân dân
Việt Nam, cho đến nay là thế hệ thứ ba !
Chẳng khác gì
chuyện hồ ly tinh chín đuôi, mượn xác hiền nữ Tô đát Kỷ để lọt vào cung của Trụ
vương. Và, khi đã nắm được trọn quyền lực thì bắt đầu ra oai tác quái, hãm hại
trung thần, giết hại lương dân. Ông Hồ chí Minh cũng vậy. Phải chờ đến khi Trung
cộng làm chủ lục địa Trung hoa vào năm 1949, dựa vào Trung cộng, ông ta trở mặt
tiêu diệt những lực lượng đã “hòa thuận,
hòa hợp và hòa giải” với ông ta và bắt đầu từng bước một xóa bỏ nên dân chủ
sơ khởi của Việt Nam, xóa bỏ mọi tính truyền thống của dân tộc Việt Nam, xây
dựng một chế độ chính trị toàn chế kiểu Anax của thời trung cổ - trong đó vua
cũng đồng thời là thủ lãnh tôn giáo, kinh tế và quân sự; và nhà độc tài tồn tại
nhờ vào giới tướng lãnh có đặc quyền cũng như tầng lớp thư lại (tức cán bộ).
Phương pháp
cố hữu của ông Hồ chí Minh là nêu lên những khẩu hiệu hợp lý để che đậy những
hành động phi lý, bất nhân. Trong cái Tết dân tộc cũng vậy, ông ta hô hào “tiết
kiệm, lành mạnh hóa”, cái đó là đúng, bởi đất nước đang có chiến tranh và sau chiến
tranh, đất nước còn nghèo nàn, cần phải tiết kiệm cũng như cần phải xóa bỏ nạn
cờ bạc, hút thuốc phiện, xiết nợ... trong dịp Tết. Nhưng, bên cạnh những cái
“hợp lý” đó thì ông ta ngăn cản, hạn chế việc xã giao, thăm hỏi trong gia đình,
lối xóm; việc cúng lễ tổ tiên, lễ đền, lễ chùa v.v... đồng thời ông ta cho lồng
vào những lệ mới của ngày Tết đó là lập bàn thờ Tổ quốc vơí cờ đỏ sao vàng và cờ
búa liềm để thờ ảnh ông ta và một số nhân vật cộng sản quốc tế như Marx, Engels,
Lénine, Staline, Mao trạch đông. Và, những buổi trước đây nghe kể về phả hệ, về
truyền thống gia đình, làng xã... thì nay
thành nghe về tiểu sử Hồ chí Minh và những nhân vật cộng sản quốc tế, về lịch
sử đảng cộng sản Nga và công ơn của “Ðảng” và của “Bác” đã đem “cơm no, áo ấm
và độc lập, tự do, hạnh phúc” cho nhân dân Việt Nam. Thanh thiếu niên được dạy
những điệu múa tập thể của Nga-xô và Trung-cộng và hát những bài ca ngợi hai
nước “đàn anh” đó với các lãnh tụ cộng sản của họ.
Ðể “cách mạng”
lại Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam - bị xếp là hủ tục lạc hậu - ông Hồ chí
Minh dựa vào tầng lớp thanh thiếu niên. Những người cộng sản làm công tác thanh
thiếu niên tích cực “vô văn hóa” tầng lớp công dân tý hon này. Bằng những
chuyện kể miệng, họ làm cho các em “không sợ ma” nhưng cũng không tin vào “hồn”
của tổ tiên, sự linh thiêng của thần, Phật, thành hoàng của làng, xã. Cho nên,
vào dịp Tết dưới chính quyền “Hồ chính Minh” đã xảy ra những vụ vặn đầu Thành
hoàng; “ỉa” lên bệ thờ đền, chùa; ăn vụng đồ cúng trên bàn thờ tổ tiên; đào bia
ở các mộ. Thanh thiếu niên chỉ tụ họp hát “son, đố, mì”, hát bài “quốc tế ca”,
“ca ngợi Hồ chủ tịch”, “ca ngợi đảng lao động Việt Nam”. Những câu ru con ngàn
đời :
“Công cha như núi
Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra...”
bị đổi thành :
“Công “Bác” như
núi Thái sơn
Nghĩa “Ðảng” như nước
trong nguồn chảy ra”.
Câu đối Tết thì một vế ca ngợi ông Hồ chí Minh, một
vế ca ngợi đảng cộng sản. Trong chùa, ngang hàng với Quan âm Bồ tát là ảnh Hồ
chí Minh, ở đền cũng vậy. Ở làng, xã đều có cổng chào với ảnh Hồ chí Minh và một
vài ảnh các nhân vật cộng sản quốc tế và cờ búa liềm. Họ còn tổ chức lễ rước
ảnh Hồ chí Minh, tổ chức đêm văn nghệ diễn kịch mà nội dung là đả kích việc thờ
cúng tổ tiên, thần Phật, Thành hoàng, vua bếp... và kết thúc bằng màn thiếu nhi
đánh trống ếch, rước ảnh “Bác Hồ”. Cấu trúc gia đình bị phá bỏ bởi mâu thuẫn
giữa cha mẹ và con cái. Tín ngưỡng ngàn đời của làng xã bị thay bằng sự sùng
bái cá nhân ông Hồ chí Minh. Thậm chí những địa danh mang dấu tích của lịch sử,
của văn hóa cũng bị đổi tên như Phong vực, Ðồng lương thành Vạn Thắng; như Cổ
liêu thành Xuân Thủy v.v... là tên của tay chân thân tín của ông Hồ chí Minh
vẫn còn đang sống sờ sờ ra đó. Ðình làng - một dạng câu lạc bộ sinh hoạt văn
hóa của nông thôn xưa - bị biến thành trụ sở ủy ban hoặc công an xã, làm kho
tàng mà cũng có khi là trại giam của địa phương. Bài vị, tượng thờ, cờ xí bị
xếp xó hoặc vứt bỏ, thay vào đó là bàn thờ Tổ quốc của địa phương, cũng đèn nến,
lư hương để “thờ sống” ảnh Hồ chí Minh và xung quanh đền là các “lãnh tụ” của
“nước bạn” như Mao trạch Ðông, Chu Ðức, Chu ân Lai, Kim nhật Thành, Phác chánh
Aí, Malenkov, Vorochilov, Bulganine, Molotov...
Trong tay ông
Hồ chí Minh, ngày Tết truyền thống càng tăng thêm bất hòa trong gia đình, lối
xóm; là dịp để soi mói nhau; là thời điểm cho con cái bộc lộ mạnh mẽ tính “cách
mạng” của mình bằng cách cản trở việc thờ cúng tổ tiên. Cha mẹ lo bàn thờ tổ
còn con cái lo bàn thờ sống ông Hồ chí Minh. Có chính quyền cộng sản hỗ trợ nên
đương nhiên phần thắng bao giờ cũng về phiá con cái. Ðã có nhiều gia đình con
cái ngang nhiên đập phá bàn thờ tổ tiên... và những đứa “mất dạy” đó được chính
quyền của ông Hồ chí Minh biểu dương là “cách mạng tiến bộ”. Một chứng minh rõ
ràng nhất là ngay đầu năm 1975, ở khu Bảy-gian thuộc phố Phan Chu Trinh Hà-nội,
con đánh cha thâm tím mặt mũi, nhưng khi đưa ra đồn công an Phan chu Trinh
(thuộc khu Hoàn kiếm), người con còn được tuyên dương là tiến bộ vì đã dám đánh
“thế lực lạc hậu” dù đó là cha đẻ !!! (Người bị đánh là ông Vinh, có vợ cả và
các con lớn ở Pháp).
Dựa vào Trung
cộng, ông Hồ chí Minh đánh thẳng thực dân Pháp trong chiến dịch biên giới 1950.
Theo đúng tinh thần “chính quyền được đẻ từ họng súng”, cuối năm 1951 ông Hồ
chí Minh cho ra khỏi lồng giấy con qủy đỏ “Ðảng Lao động Việt Nam”, công cụ thực
hiện những tư tưởng “phản dân hại nước” của ông ta. Năm 1952, ông Hồ chí Minh
cho giết đại tá Trần Dụ Châu, chủ nhiệm quân nhu, mục đích chính là thị uy với
mọi loại cán bộ cả quân sự lẫn dân sự. Cũng với mục đích đó, trong hội nghị quân
sự, ông Hồ chí Minh đã “bạt tai” đại tá Phùng thế Tài - được coi là loại du
đãng đầu bò nhất trong binh lính của ông Hồ chí Minh - và trấn áp trung tướng Nguyễn
Sơn (khi ở quân đội Trung cộng đeo lon
đại tướng). Ra vẻ nghiêm khắc như vậy, nhưng chính ông ta lại “tha bỗng” cho
Bút Tre, trưởng ty thông tin Phú thọ, tác giả đơn bướm :
“Trên rừng con khỉ
đánh đu
Thằng Bô-la-éc mút
cu cụ Hồ
vì xét cho cùng, Bút Tre vẫn là “đề cao” Hồ chí Minh. (Sau
này khi hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phú Thọ, Bút Tre còn được vào tỉnh ủy giữ
chức phó ban tuyên huấn tỉnh ủy).
Rồi tiếp theo
là “chỉnh quân”, “chỉnh đảng”, “cải cách ruộng đất”... người dân bị giết và bị
tù vô tội vạ... Thế là cái khởi thủy người dân đi theo ông Hồ chí Minh vì ông
ta là thành viên của chính phủ liên hiệp; vì muốn đánh thực dân Pháp cứu nước,
chắc chắn không phải “mê” chủ nghĩa xã hội, vì có ai biết nó là cái quái thai
gì đâu... thì nay “phải theo” ông ta vì bị tước hết tài sản, bị lôi ra khỏi tổ
ấm cộng đồng làng xã để bị xếp vào các phạm trù mơ hồ “nhân dân” hoặc “phản
động”, nghĩa là “vì sợ” mà đi theo.
Sau 1954, Tết
Nguyên đán ở miền Bắc thật là u ám. Người không có của để ăn Tết chiếm đại bộ
phận dân chúng mà ngay người nào còn có chút tiền, vàng, cũng không dám ăn vì
sợ hàng xóm và con cái, họ hàng tố giác. Nhà nước của ông Hồ chí Minh quản lý
chặt chẽ mọi sinh hoạt của nhân dân bằng chính sách quản lý hộ khẩu và chế độ
tem phiếu lương thực, thực phẩm, tiền lương v.v... Ở các thành phố lớn như Hà-nội,
Hải phòng, Nam định, ông Hồ chí Minh còn có “sáng kiến” xâm nhập hợp pháp mọi
gia đình “công dân” để “khám xét” gầm giường, bàn thờ, tủ, hòm... bằng cách đẻ
ra “tổ vệ sinh đường phố” để đến tất cả mọi hộ “diệt gián” mà thành phần gồm :
đại diện thanh niên, y tế tiểu khu và công an quản lý đường phố. Trứơc Tết vài
ngày, toàn thành phố được lệnh “tổng vệ sinh” và đương nhiên thông qua “tổ vệ
sinh đường phố” có thành viên là công an, chính quyền Hồ chí Minh cho “khám nhà”
toàn dân định kỳ (chưa kể đột xuất). Có thể nói là nhiều gia đình quá sợ hãi
phải “dẹp” bàn thờ tổ tiên và hầu hết mọi nhà đều phải lập “bàn thờ tổ quốc thờ
sống Hồ chí Minh” để khỏi bị cơ quan an ninh “hỏi thăm sức khỏe”.
Các trụ sở tiểu
khu đều được trang hoàng cờ hoa, bàn thờ tổ quốc thờ Hồ chí Minh; ngoài cửa và
bên trong trụ sở đều dán các câu đối do Nhà xuất bản Phổ thông in ấn và phát
hành. Tất nhiên nội dung là ca ngợi Hồ chí Minh và đảng của ông ta. Trên bàn
thờ Hồ chí Minh cũng lư hương, cây nến, cành đào, bánh chưng, trái cây, mứt...
nghi ngút suốt ba ngày Tết. Kinh phí do DÂN
đóng góp. Trụ sở được công an đường phố và tự vệ canh gác... cùng với đội cứu
hỏa nhân dân và tổ chữ Thập đỏ đề phòng cháy nhà và... ỉa chảy.
Tết Nguyên đán
được ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta tổ chức cho nhân dân thật là... chu đáo...
thật là...khỏe... thật là... lành mạnh và thật là... công bằng và v.v...
Chu đáo bởi
vì trước Tết, nhà ai cũng được “tổ vệ sinh đường phố” có thành viên là công an
đến mở giúp các hòm, tủ, gậm giường, xó bếp... để phun thuốc diệt gián cũng như
kê dọn lại nhà cửa cho gọn gàng, ngăn nắp.
Chu đáo bởi
vì ngay từ trước Tết cả hơn tháng trời, các thành phần trong tiểu khu bị coi là
“phức tạp” như nhân viên, binh lính, sỹ quan trong chế độ Bảo Ðại; các tư sản, tiểu
thương, tiểu chủ... bị cải tạo tại chỗ; các trẻ em hư hỏng; những người chưa có
công ăn việc làm rõ ràng v.v... đều “được” cho đi các trại cải tạo. Số nào được
coi là “căn nhẹ” hơn thì bị tạm giam trước Tết vài ngày và sau Tết vài ngày thả
ra. Số nhẹ hơn nữa thì bị gọi lên đồn công an để “răn đe”. Ðã thế, suốt tháng
củ mật, tự vệ, dân phòng có công an đường phố lãnh đạo, ngày đến tuần tra, canh
gác. Công an và phụ trách thanh thiếu nhi ngày nào cũng “hỏi vui” các em về
tình hình bố, mẹ, họ hàng các em “làm ăn” ra sao, có thành kính và nhiệt tình
trang hoàng “bàn thờ tổ quốc” của gia đình không; có “lạc hậu mê tín” cúng kiến
người đã chết không; có “kiếm chác” được cái gì, ở đâu, bằng cách nào, những
tiêu chuẩn Tết ngoài các thứ Nhà nước qui định cho từng đối tượng không.
Chu đáo bởi
đêm giao thừa, đại diện các hộ đến trụ sở tiểu khu để cùng lễ sống “Bác Hồ”,
chúc “Bác” sống lâu để lãnh đạo toàn dân đến ấm no, hạnh phúc như vẫn ghi trên
tiêu đề các công văn, hôn thú, khai sinh, khai tử, lệnh khám nhà và bắt giam
v.v..., và cũng hưá qua quyết tâm thư là quyết phấn đấu vì “sự nghiệp” của
“Bác” cho đến... hơi thở cuối cùng. Rồi mọi người, thành kính nghe “Bác” chúc
Tết đồng bào qua loa truyền thanh và nghe thơ của “Bác”. Ðây là lần thứ hai
nghe lại, vì bài này viết đọc trong dịp năm mới dương lịch, đã thành “tài liệu
học tập” trong cơ quan và tổ dân phố; thành “kim chỉ nam” cho các bài báo - cả báo
tường ở cơ quan, khu phố - trích dẫn, chứng minh, ca ngợi chế độ của Hồ chí
Minh. Còn bài thơ và bài nói đã được in trên giấy hoa có hình chim rồng,
phượng; được bán đến từng hộ dân phố, cơ quan trường học để dán mừng Tết. Những
Hoài Thanh, Xuân Diệu, Cù huy Cận, Tố Hữu... đã đi ca ngợi khắp nơi về lời hay,
ý sâu của bài thơ và nó đã được đưa vào học đường các cấp - kể cả nhà trẻ !
Dưới chính quyền
Hồ chí Minh, Tết Nguyên đán được qui định nghỉ hai ngày rưỡi : chiều Ba Mươi,
ngày Mùng Một và Mùng Hai Tết.
Hầu hết người
dân đều làm việc trong các cơ quan nhà nước, hoặc hợp tác xã, hoặc tổ hợp tác -
hai loại sau cũng do cơ quan chức năng của nhà nước tương ứng ngành nghề quản
lý. Cho nên cái Tết khỏe vì : sáng
Ba Mươi, tất cả phải làm tổng vệ sinh ở cơ quan cho gọn sạch rồi niêm phong
phòng ốc, tài liệu, giao cho bộ phận bảo vệ có tự vệ cơ quan phối hợp canh gác;
chiều Ba Mươi làm tổng vệ ở sinh gia đình và vĩa hè, đường phố (các gia đình bị
lưu ý được chiếu cố cho tổ vệ sinh đường phố có công an đi theo đến “giúp đỡ”
làm vệ sinh từ xó tủ đến gậm giường); sáng Mùng Một, tất cả phải ra ngoại thành
bằng phương tiện tự túc để hưởng ứng “Tết trồng cây” do ông Hồ chí Minh đưa ra
“sáng kiến”; chiều Mùng Một về đến nhà tắm giặt sạch sẽ đất bùn; tối Mùng Một
lễ Tết các chức sắc ở tiểu khu và khu phố; ngày Mùng Hai “cuống cuồng” đưa vợ
con đi lễ Tết các “thủ trưởng” cơ quan với tốc độ : đi bộ... 5 cây số/giờ; xe
đạp... 12 cây số/giờ. Thật là khỏe !
Ông Hồ chí Minh
đã “lành mạnh” hóa ngày Tết của nhân dân Việt Nam. Cấm hái lộc vì như vậy là phá
hoại “tài sản của nhân dân”; cấm “xuất hành”, cỗ lớn cúng tổ tiên vì như vậy là
lạc hậu, mê tín (nhẹ hơn phản động chút chút); trẻ em không có lỳ xỳ vì bố mẹ
đào đâu ra tiền. Họ hàng, bè bạn chúc mừng miệng vì không có “tiêu chuẩn” mời
nhau ăn uống. Các đền bị dẹp từ lâu. Ở Hà-nội chỉ còn đền Ngọc Sơn và đền Quan
Thánh được mở cửa mấy ngày Tết, nhưng không cho thắp nhang, đốt vàng, xoa chân “Ðức
Ông”. Mọi người chỉ đến xem như một di tích lịch sử. Không được xin xăm và bói
toán. Không cờ bạc, rượu chè, trảy hội. Không ăn mặc “nhố nhăng”; cán bộ mặc
đại cán, nhân dân áo ngắn, hầu hết mặc áo bông màu xanh công nhân hoặc màu cỏ
uá bên ngoài. Ra đường, nếu không nhìn mặt thì già trẻ, trai gái trông đều lẫn
lộn cả. Các vườn đào Nhật tân, vườn hoa Ngọc Hà bị “cải tạo” trồng hoa màu để
tăng thêm lương thực và cây công nghiệp (y hệt cảnh Sài-gòn sau tháng 4-1975 :
những vĩa hè cỏ ở đường Gia Long... bị trồng khoai mì; sân bay Tân sơn Nhất bị
trồng sả...); chỉ lưu lại số ít do công ty công viên (quốc doanh) quản lý lấy
hoa, cây cảnh... phục vụ các cơ quan của đảng (cộng sản), chính phủ và các sứ
quán. Trẻ em thì có bóng bay là dụng cụ chống sinh đẻ do ủy ban dân số của Liên
hiệp quốc “viện trợ” đem ra nhuộm và “thổi miệng”, vừa tiết kiệm vừa “bền”. Người
lớn thì có sách, truyện bán dịp Tết như : tuyển tập Lê-nin, tư bản của Kác-Mác;
phép biện chứng của tự nhiên của Engels, Nhật ký trong tù của Hồ chí Minh; thơ
của Tố Hữu; truyện Thượng cam lĩnh của Tàu; các tiểu thuyết của Nga từ Boris
Polévoi đến Tolstoi; từ Korjevnikov đến Solokhov, Erengbourg v.v... Ngoài ra có
các phim về “đấu tranh giai cấp” của cả Nga và Tàu. Các sân khấu ca nhạc hát ca
ngợi “Ðảng và Bác” với các điệu vũ dân gian nhưng thấy có bóng dáng “Ba Tàu” và
“con Gấu Nga”. Có lẽ cái thú “êm dịu” nhất là xem cây cảnh và chọi chim ở sân
đền Quan Thánh mà cười được thực lòng vì cái “ngây ngô” của cán bộ văn hóa Hà-nội
có giám đốc là Nguyễn Bắc, người có sáng kiến quét vôi trắng toàn bộ Tháp Rùa
cũng như đánh bắt rùa ở Hồ Gươm lên ăn thịt (con nặng 80 kg thì ăn hết cả thịt
lẫn mu; con nặng 120kg thì ăn thịt còn cái mai đem “triển lãm” ở Văn Miếu). Năm
nào cũng được nghe cán bộ văn hóa “a-lô” trong ngày chọi chim - không biết có
cố tình không - :”Các cụ muốn chọi chim xin xếp theo hai hàng. Bên phải tôi là
các cụ “chim to”; bền trái tôi là các cụ “chim nhỏ”. Ðề nghị trật tự canh chừng
không cho ai được sờ, mó làm chim các cụ sợ !”
Hà-nội thanh
lịch khi vào tay ông Hồ chí Minh thì ngày Tết được lành mạnh hóa như vậy đấy và
được tô hồng là “Tết văn hóa” trái với xưa kia là hủ lậu, mê tín, dị đoan và
lãng phí !!!
Dưới chính quyền
Hồ chí Minh, công dân Việt Nam bị phân làm 13 loại. Mọi hưởng thụ văn hóa và
vật chật... đều có ranh giới rõ ràng. Ông Hồ chí Minh và tay chân luôn khoe ầm
ỹ rằng ở Việt Nam (miền Bắc) có khung lương “tiến bộ” và “công bằng” nhất thế
giới !(?) Bởi vì lương chủ tịch nước - là Hồ chí Minh - có 270 đồng và lương
khởi điểm của nhân viên ở bậc 1 là 36 đồng. Nghĩa là sự chênh lệch giữa người
cao nhất với người thấp nhất là 7,5 lần. Có điều ông Hô chí Minh và tay chân
không chịu thật thà khai báo những sự thực phũ phàng là có sự qui định của ban
tổ chức trung ương đảng (cộng sản) với từng đối tượng như các ủy viên ban bí
thư lên đến ủy viên bộ chính trị thì hưởng theo chế độ cộng sản chủ nghĩa (mặc
dù Việt Nam lúc đó mới là chế độ dân chủ cộng hòa)- cần gì có nấy cho cả bản
thân lẫn gia đình vợ con. Từ ủy viên trung ương trở xuống (cả dự khuyết) cho
đến các bộ trưởng, thứ trưởng (cả ngoài đảng cộng sản) đều có sổ cung cấp đặc
biệt ở cửa hàng bù giá Tôn Ðản; thí dụ cửa hàng thu mua gà của các hợp tác xã nông
nghiệp, các nông trường quốc doanh với giá 2 đồng 4 một ki-lô nhưng bán lại cho
đối tượng có tiêu chuẩn vào mua với giá 7 hào một ki-lô, rẻ hơn giá thu mua 3,5
lần, chưa kể tiền vận chuyển, hư hao, lương công nhân viên của cửa hàng v.v...
vì công quỹ phải bù lỗ. Cán bộ trung cao - từ vụ trưởng, cục trưởng, chuyên
viên 2 trở lên - có sổ mua hàng ở Cửa hàng phố Nhà thờ và Vân hồ (Hà-nội). Các
loại khác mua theo tem phiếu qui định cho từng đối tượng, do thương nghiệp địa
phương bán thu tem. Ðiều cần lưu ý là thành phần này - loại tem phiếu - tuy ai
cũng có tem phiếu qui định có vẻ công bằng lắm, nhưng không phải ai cũng “có quyền”
mua hàng. Bởi vì, tỷ dụ có 10 người được chế độ tem thịt là lạng rưỡi/tháng,
nhưng thương nghiệp chỉ có đủ thịt bán thu tem cho 6 người, thế là 4 người còn
lại, về danh nghĩa cũng được nhận đủ tem phiếu như “thiên hạ”, nhưng thực tế
không có thịt mà mua. Kết quả là hoặc vứt tem đi vì quá hạn hoặc bằng lòng mua
thay thế bằng đậu phụ (3 lạng/tháng), được gấp đôi đúng như công thức 7kg lá
khoai mì bổ dưỡng tương đương 1kg thịt bò.
Cho nên hàng
hóa phục vụ Tết Nguyên đán dưới chế độ Hồ chí Minh cũng phân phối như trên. Người
dân Hà-nội đã uất ức nói rằng :
“Tôn Ðản là chợ
Vua, Quan
Vân Hồ* là chợ trung
gian, nịnh thần
Bắc Qua là chợ
nhân dân
Hàng Bè là chợ
công nhân anh hùng.”
Nghĩa là trong
khi hàng quan lại đỏ mua gà ở cửa hàng cung cấp bù giá Tôn Ðản có 7 hào một
ki-lô; ở Vân Hồ hoặc ở phố Nhà Thờ cửa hàng cung cấp cho cán bộ trung cao 1 đồng
50 một ki-lô; người dân thường phải mua ở chợ Bắc Qua với giá thị trường tự do
7 đồng một ki-lô, và, công nhân ra chợ Hàng Bè để mua chân gà, đầu, cổ, cánh -
đồ phế thải của gà làm cung cấp cho chuyên gia Nga-xô và Trung-cộng (cần lưu ý
rằng Hồ chí Minh và tay chân vẫn phỉnh phờ rằng giai cấp công nhân là giai cấp
lãnh đạo cách mạng).
Hàng Tết phân
phối cho nhân dân, công nhân và cán bộ đảng viên thường, theo sổ hộ tịch gia
đình, phân loại theo hộ độc thân; 2-3 người; 4-6 người; 7 người trở lên; không
phân biệt nam nữ, già trẻ lớn bé . Người đi mua phải mang phiếu mua hàng Tết
với sổ hộ tịch và tùy theo cách phân loại hộ nói trên mà được gói to hay nhỏ,
ít hay nhiều. Thường mỗi gói đều có : một cái “gọi là” bánh chưng, vì được gói
xô bồ gạo lẫn cả tẻ, đậu lẫn sạn, miếng thịt lợn bằng cái vảy mũi cả bì lẫn lông,
có khi còn chưa chín rền; một gói trà; một hoặc hai bao thuốc lá; một dúm hạt
dưa; một gói mứt lẫn lộn bí và lạc; một muỗng cà phê bột ngọt và cuối cùng, hộ
đông người có thêm một bánh pháo (phần lớn đốt không thèm nổ) và một chai rượu
quốc doanh. Cái công bằng ở đây là dù già hay trẻ, dù nam hay nữ, tiêu chuẩn
đều tính như nhau, nghĩa là đưá bé vừa đẻ cũng có phần thuốc lá và trà cũng như
cụ già không còn cái răng nào cũng có tiêu chuẩn mấy viên mứt lạc ! Ðúng là, úm
ba la, chúng ta đều có !
Chút bố thí
như vậy mà trước và sau Tết, báo, đài ra rả kể ơn của “Ðảng và Bác” với nhân
dân như Trời, Biển ! Những người được ăn Tết Nguyên đán trứơc khi có chính
quyền Hồ chí Minh thì biết nhưng không dám nói còn trẻ em ra đời và lớn lên
thời kỳ Hồ chí Minh cầm quyền thì tin là thật và vui mừng vì cả năm chỉ có vài
lần gia đình được mua “bột ngọt” ! (dù chỉ là một muỗng cà-phê).
Tuy túi hàng
Tết khiêm tốn như thế, tuy lòng thèm khát âm thầm của bao đêm ngày, nhưng rất
nhiều gia đình nhân dân, cán bộ, đảng viên thường, không có tiền để mua. Và, số
khá lớn chạy vay được tiền mua túi hàng Tết thì cũng phải giành các thứ như trà,
thuốc lá, mứt, bánh chưng để biếu các “thủ trưởng” lớn nhỏ ở cơ quan, các chức
sắc ở khu phố, nhất là công an đường phố. Phần lớn ăn Tết tinh thần. Ðấy là sự
Công Bằng lớn nhất và cao thượng nhất mà ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta đem
lại cho người dân !!!
Cả cuộc đời
ông Hồ chí Minh sống bằng nghề làm gián điệp : là nhân viên KGB của Nga theo
rõi hoạt động của đảng cộng sản Tàu do Mao trạch Ðông lãnh đạo; hợp tác với
phản gián Trung cộng để theo rõi quân Tưởng giơí Thạch; là gián điệp của Trương
phát Khuê để giám sát các hoạt động của người Việt Nam yêu nước ở bên Tàu; cộng
tác vơí cơ quan OSS (tiền thân CIA) của Mỹ chống Nhật; cộng tác với Phòng Nhì của thực dân Pháp để hãm hại những người Việt
Nam yêu nước khác quan điểm của ông ta (như cụ Phan bội Châu, ông Hồ tùng Mậu, trung
tướng Nguyễn Bình), cho nên ông Hồ chí Minh có tai, mũi và mắt tinh và thính
hơn các đệ tử rất nhiều. Ông ta đóng kịch giỏi đến nỗi - cho đến nay - nhiều
người vẫn cho rằng ông ta là tốt, các sai lầm đều do tay chân như Trường Chinh,
Lê Duẩn... mà ra, kể cả những nạn nhân ông ta cũng nghĩ vậy. Cho nên, ngày Tết,
ông Hồ chí Minh đột ngột đến thăm gia đình ông Bùi Hưng Gia, nhà tư sản ở phố
Hàng Trống (Hà-nội) đã quyên góp trong tuần lễ vàng cho chính phủ Liên hiệp một
trăm ki-lô vàng. Nhưng thăm thì thăm, gia đình ông Bùi hưng Gia vẫn bị đóng nhãn
tư sản, cả tầng lầu căn nhà của gia đình bị “mượn” cho cán bộ đảng viên ở và
cửa hàng bị “công tư hợp doanh” theo kiểu Việt Nam thường nói là “buôn chung vơí
đức Ông”. Ông ta cũng tự động đến chúc Tết, cho kẹo một gia đình “có công với
cách mạng chống Pháp” ở con hẻm phố Khâm Thiên mà đêm giao thừa mấy mẹ con gầy
ốm đang ôm nhau trong căn nhà xiêu vẹo như chuồng lợn, lối vào đầy bùn hôi thối
ở cống thành phố hỏng chảy ra, cơm chiều chưa có và cũng chẳng có tiền mua túi
hàng Tết theo tiêu chuẩn tem phiếu ! Ông
Hồ chí Minh rơm rớm nước mắt... cá sấu. Những ngày sau đó và cả nhiều năm sau, đó vẫn
là “đề tài” sáng tác của lũ văn nô ở cái hợp tác xã 51 Trần Hưng Ðạo (Hà-nội). Còn
cái gia đình nghèo khổ “có công với cách mạng chống Pháp” đó vẫn cứ nghèo mạt
rệp, bị “Bác và Ðảng” quên ngay từ lúc giao thừa. Cả nước vẫn đói khổ và ngày càng
đói khổ trong lúc các cơ sở phục vụ riêng cho quan lại đỏ chóp bu mọc lên như
nấm : bệnh viện Việt-Xô; cửa hàng cung cấp đặc biệt ở Hàng Trống, ở Tôn Ðản;
khu nghỉ mát ở Tam Ðảo, Bãi Cháy, Ðồ Sơn, Khu Quảng Bá, Trà Cổ... tiêu chuẩn
nghỉ hè cả gia đình (3 đời) sang Hắc Hải (Nga-xô), sang Tàu (Liễu-châu), Ðộng
đính Hồ v.v... và v.v...
Mở đầu bằng
Hồ chí Minh cho đến nay là các Ðỗ Mười, Võ chí Công, Võ văn Kiệt... với “đổi mới”,
chưa bao giờ đại biểu quốc hội (bù nhìn) chứ chưa nói đến người dân thường được
phép biết ngân sách Nhà nước đã chi bao nhiêu cho các thứ xa xỉ của giới quan
lại đỏ chóp bu và đảng của họ !
Tham vọng của
ông Hồ chí Minh và đệ tử là muốn xóa bỏ lịch sử và truyền thống dân tộc của Việt
Nam. Hy vọng vài đời sau, các thế hệ trẻ chẳng còn hiểu gì về quá khứ mà cứ
tưởng những cái đang có là do công ơn “Bác và Ðảng”. Ðiều này được thể hiện qua
bài viết về lịch sử Việt Nam của Trần huy Liệu - Viện trưởng Viện sử của chế độ
Hồ chí Minh - rằng “Lịch sử Việt Nam bắt đầu từ khi có đảng (1930)” và “Hồ chủ
tịch là người sáng lập ra nước Việt Nam”. Chỉ vì được ông Hồ chí Minh thuận cho
Trần huy Liệu vào Huế giết cha con ông Phạm Quỳnh, cướp con dâu ông Phạm Quỳnh
về làm thiếp mà cái ông “sẹo đầu sẹo cổ” này bẻ cong ngòi bút, cũng như đồng
nghiệp Phạm huy Thông của ông ta và các môn đồ Trần quốc Vượng, Phan huy Lê, Hà
văn Tấn, đồng tác giả bộ thông sử Việt Nam hiện nay.
Cái láu cá kiểu
hồ ly tinh của ông Hồ chí Minh và cái mặt trơ trán bóng của mấy “học giảø” coi
thẻ cung cấp đặc biệt là “lý tưởng” cuộc đời cũng không qua được ý trời. Bởi ý trời là lòng dân.
Dù phủ nhận,
dù cố tình phá bỏ, nhưng luật cung cầu trong kinh tế vẫn tồn tại và phát huy
tác dụng ngoài ý muốn của ông Hồ chí Minh và tay chân.
Nền kinh tế
có kế hoạch (ngoan cố, duy ý chí) của ông Hồ chí Minh bị chính tay chân có nhiều
quyền lợi nhất của ông ta phá vỡ. Nhân dân bị thiếu hàng hóa thiết yếu tạo ra
thị trường “chui” và các gia đình quan lại đỏ có nhiều đặc quyền đặc lợi thành
thương nhân “lủi”. Và bên cạnh kinh tế quốc doanh, có kinh tế “quốc lủi” ra đời
và cái công cụ chuyên chính của chế độ (công an, quân đội, thuế vụ...) đã nhiệt
tình và cổ vũ, dấn thân cho kinh tế quốc lủi, cho sự hóa thân của quốc doanh
thành quốc lủi, cả thương nghiệp lẫn thủ công nghiệp.
Cán bộ, mậu
dịch viên của ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, kể cả ở khu vực cung cấp đặc
biệt, phần lớn làm việc hai mang : một làm cho “quốc doanh”, một làm cho “quốc
lủi”. Các bà mệnh phụ đỏ lãnh đạo “quốc lủi” trong khi chồng lãnh đạo “quốc
doanh”. Nổi bật lên là “Chị Tư”, phu nhân của phó thủ tướng Nguyễn duy Trinh,
ủy viên bộ chính trị trong dịch vụ buôn vàng, kim cương, hàng viện trợ (của cả
Ðông phương, Tây phương, Liên hiệp Quốc); vợ phó giám đốc Sở Công an Hà-nội, Lê
Nghĩa, cầm đầu khu chợ trời Chùa Vua; khu mua bán trao tay ở suốt từ Hàng Ðào
cho đến Hàng Giấy, chợ Ðồng Xuân ra ô Quan Chưởng, ga Ðầu Cầu... Ðặng thị Kỳ,
phu nhân của tướng Văn tiến Dũng thì buôn các hàng viện trợ quân sự; bà vợ cả
tây lai của bộ trưởng Hoàng minh Giám thì mở xưởng sản xuất đồ nhựa và các ấn
phẩm ở ngay tòa vi-la trước bệnh viện St. Paul cũng như đỡ đầu cả về vốn lẫn
“chính trị” (tức là ô dù) cho các hộ sản xuất chui đồ nhựa; thứ trưởng Lê Ðông của
bộ nội thương và giám đốc Sở thương nghiệp Hà-nội, Nguyễn trí Tuyển thì cung
cấp cho chợ trời các mặt hàng quí hiếm, trong vụ này có liên quan đến cả thường
vụ thành ủy Hà-nội. Nguyễn đức Lạc và bí thư trung ương đảng Nguyễn văn Trân;
dịch vụ đĩ điếm, thuốc phiện và cờ bạc thì có bàn tay quản lý của Dương Thông ở
cơ quan an ninh. Thậm chí có nơi hình thành cả khu “tứ khoái” cho cấp trên về kiểm tra và dân “phe phẩy”
có tiền đến hưởng thụ như ở Hải Hưng do chính bí thư tỉnh ủy Nguyễn qúy Quỳnh chỉ
đạo, hoặc ở Quảng Bình do “tiểu vương” là bí thư tỉnh ủy Nguyễn tư Thoan. Ðến
nỗi ngành nghỉ mát cũng bị “quốc lủi” hóa, như trường hợp vợ chồng một chủ nhà
in lậu (bị chế độ liệt là phản động) cũng nghỉ hè ở khu cho bộ chính trị ở Tam
Ðảo, nằm nhay cạnh phòng của Trường Chinh và do Trường Chinh phát hiện !
Trên đây chỉ
tạm nêu lên vài dẫn chứng cụ thể. Chỉ có thể hiểu rằng hầu hết bọn quan lại đỏ
ở ngành nào đều là “chủ” của kinh tế “quốc lủi” nơi đó. Như hiện nay ở miền Nam
Việt Nam vậy, cũng vẫn là quan lại đỏ đầu ngành làm trò vượt rào : Võ văn Kiệt
đỡ đầu cho Ba Thi; Lâm văn Thê (đã chết) đỡ đầu cho nhóm Kiên Giang; Nguyễn
vĩnh Nghiệp đỡ đầu cho rể là Tô mạnh Thắng; Cao đăng Chiếm, Trần Quyết đỡ đầu
cho nhóm Mười Vân, Hai Hiệp ở Ðồng Nai; Mai chí Thọ đỡ đầu cho Triệu bỉnh
Thiệt; Nguyên văn Linh (nguyên tổng bí thư) đỡ đầu cho công ty hải sản Tây Nam
và Việt kiều Tuyết (đen) buôn xe hơi bãi rác ở Mỹ về; Ðỗ Mười đỡ đầu cho Sea
Prodex và ngành lương thực của Nguyễn công Tạn v.v... để các nhóm đó tham ô thoải
mái, cưỡi trên dư luận.
Vì thế, Tết
Nguyên đán ở Việt Nam (phía Bắc) chỉ vài năm bị ảnh hưởng phá hoại của Hồ chí
Minh, rồi sau đó luật cung cầu trong kinh tế cũng như lý tưởng “vinh thân phì
da” của quan lại đỏ đã làm cho kinh tế “quốc lủi” lấn át kinh tế quốc doanh và
nó đã đem lại cho ngày Tết Nguyên đán dần dần truyền thống cũ về ăn uống, lễ
nghi, nhưng cái phần tinh thần cao đẹp thì đã bị mất. Ngày Tết trở thành ngày
phô trương giàu sang, quyền uy của tầng lớp có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Còn đa
số nhân dân vẫn là nạn nhân của cả quan lại đỏ lẫn cá mập “quốc lủi”.
Dù sao đó cũng
là biểu hiện thất bại chua chát của “tư tưởng Hồ chí Minh” và nhũng mầm chiến thắng
của nhân dân Việt Nam sẽ cùng các mùa xuân nở rộ.
Nhớ lại những
mùa xuân đen tối để thấy hết sự hiểm sâu, tai họa của ông Hồ chí Minh và tay
chân.
Năm nay, chính
quyền cộng sản ở Việt Nam đang mời chào các Việt kiều “yêu nước” về ăn Tết quê
hương. Họ o bế Việt kiều “yêu nước” còn hơn là các thương binh và con em gia
đình liệt sỹ của họ. Tại sao ? Vì Việt kiều “yêu nước” có ngoại tệ mạnh và là
hình ảnh nổi bật của bức tranh “đổi mới” cũng như “hòa giải và hòa hợp”, nhưng
ngoại tệ mạnh vẫn là lý do chủ chốt. Và cái cầu quê hương sẽ giúp giới quan lại
đỏ tìm được từ Việt kiều “yêu nước” đường giây “quốc lủi” để chuyển được các
thứ mà quan lại đỏ đã vơ vét của nhân dân ra nước ngoài, đề phòng... cho số
phận đen tối ở trong nước của họ, vừa gửi ngân hàng, vừa đầu tư ra “nước ngoài”,
gây vốn cho quỹ hoạt động lỡ có ngày “Ðảng” phải rút vào bí mật.
Trong con mắt
của những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam hiện nay, thì hình ảnh của người
Việt Nam nhảy từ bức tranh “phản động” sang “yêu nước” là một thủ đoạn chính
trị. Và, đến một lúc nào đó lại từ “yêu nước” trở về “phản động”. Cần nhớ rằng
đảng cộng sản Việt Nam độc quyền nắm chính quyền là nguyên nhân chính gây ra
cho người Việt Nam phải bỏ quê hương đi lưu vong xứ người. Cho nên những người
cộng sản cầm quyền không chỉ đưa ra chính sách “hòa hợp, hòa giải” lúc này để
tạm thời xoa dịu cơn phẫn nộ của trong nước và ngoài nước về tội ác của họ. Ðiều
quan trọng là họ phải tỏ ra trung thực muốn hòa hợp hòa giải vì quyền lợi của
dân tộc và đất nước Việt Nam. Cho nên biểu hiện thành thật cụ thể nhất là họ
phải làm việc tự phê bình bằng văn bản (như tổng bí thư Nguyễn văn Cừ của họ trong
cuốn “Tự chỉ trích” trước 1940) về các vấn đề kinh tế, ngoại giao, văn hóa xã
hội v.v... qui rõ trách nhiệm, xin lỗi và phục hồi quyền lợi mọi mặt những nạn
nhân của họ; công bố rõ ngân sách phải chi cho đảng của họ từ lúc nắm chính
quyền cho đến nay; truy tố những kẻ gây nhiều tác hại cho nhân dân và đất nước.
Không thể chỉ nhận xét lập lờ nước đôi công tội và “huề cả làng”.
Ai đã đi tù
vì đấu tranh cho dân chủ, tự do cho Việt Nam ở các trại tù cộng sản đều nhớ rằng
chính quyền cộng sản đã khẳng định :”Chỉ có thành thật khai báo, thấy được sai
lầm thì mới có phương hướng và quyết tâm sửa chữa những sai lầm đó.” Vậy mong
rằng những người cộng sản cầm quyền hãy “thành thật khai báo” trước nhân dân và
công luận đi. Ðấy là biểu hiện đầu tiên của thái độ thực sự muốn “đổi mới” và
muốn “hòa hợp, hòa giải”.
Những người
Việt Nam ở nước ngoài đừng bao giờ quên gốc. Ðừng bao giờ đánh mất đi niềm tự
hào là người Việt Nam. Ðừng bao giờ quên bài học “hoà hợp hòa giải” của nhũng
năm 1945 và 1975.
Ðể mùa xuân
làm sống mãi cái Tết truyền thống Việt Nam, vừa tao nhã, vừa nhân ái. Và mỗi
lần Tết đến, đừng bao giờ quên nhắc lại những mùa xuân đen tối của dân ta trong
tay ông Hồ chí Minh và đảng của ông ta. Vì, chỉ có :
“Ôn cố mới tri tân”
* Có chỗ đọc là Nhà Thờ, tức phố Nhà Thờ. Cả hai nơi đều
có cửa hàng cung cấp cho cán bộ trung cao của cộng sản.